Hỏi/Ðáp Lịch Tìm Kiếm Bài Trong Ngày Ðánh Dấu Ðã Ðọc
Welcome
Trang Ðầu
Ghi Danh
Hỏi/Ðáp
Login Form
Nhà tài trợ
Công cụ
Thống kê
  • Ðề tài: 15,068
  • Bài gởi: 153,362
  • Thành viên: 4,737
  • Số người đang xem: 166
  • Xin cùng nhau chào đón lightstarvp là thành viên mới nhất.
Liên kết website
Go Back   chân thuyên > VĂN HOÁ VIỆT CỔ > CÁC BÀI NGHIÊN CỨU VỀ VĂN HOÁ VIỆT CỔ

Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
Old 07-07-2007   #1
bcbc
Hội viên
 
bcbc's Avatar
 
Tham gia ngày: Jan 2006
Bài gởi: 7.346
Thanks: 2
Thanked 152 Times in 139 Posts
Blog Entries: 18
Tranh dân gian Đông Hồ




Tranh dân gian Đông Hồ





Tranh dân gian góp phần không nhỏ vào việc lưu giữ các vốn văn hoá cổ xưa của dân tộc, làm cho đời sống tinh thần của người Việt Nam thêm phong phú và đa dạng. Trong các dòng tranh dân gian, tranh Đông hồ khá gần gũi với đại đa số dân chúng Việt Nam, nhắc tới hầu như ai cũng đều biết. Tranh gần gũi vì nó gắn với làng quê, ngõ xõm, với cuộc sống lao động của người nông dân bình dị, chất phác và hình ảnh của nó đã đi vào thơ, văn:



“Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong

Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”

Không phải tự nhiên mà tranh Đông Hồ được nhà thơ Hoàng Cầm nhắc đến đầy tự hào và kiêu hãnh trong bài thơ “Bên kia sông Đuống” như một đặc sản nghệ thuật của vùng quê Kinh Bắc. Cái làm nên nét đặc sắc độc đáo của tranh Đông Hồ chính là chất liệu làm tranh, được chế biến thủ công từ các nguyên liệu có sẵn trong thiên nhiên: Giấy làm từ cây dó, màu đỏ từ gạch non, màu vàng từ hoa điệp vàng, màu đen từ lá tre đốt, màu trắng được nghiền từ vỏ sò, ốc…


Trên cơ sở những màu sắc cơ bản ấy người dân đã tạo thêm nhiều màu sắc khác nhau từ việc trộn lẫn các màu. Để hoàn thành một sản phẩm, không kể khâu khắc tranh trên bản gỗ, có sẵn giấy và màu, người làm tranh phải rất công phu, cẩn thận trong từng giai đoạn: sơn hồ lên giấy, phơi giấy cho khô hồ, quết điệp rồi lại phơi giấy cho khô lớp điệp, khi in tranh phải in từng màu lần lượt, nếu có 5 màu thì 5 lần in, mỗi lần in là một lần phơi…

Cứ thế, dưới ánh sáng mặt trời lấp lánh từng hình ảnh, đường nét của cảnh sắc thiên nhiên, nếp sinh hoạt của người dân, những hình ảnh của cuộc sống thường ngày ... như “bừng” sáng trên giấy dó. Mọi giai đoạn đều thật công phu nên đòi hỏi người làm tranh luôn cẩn trọng, cầu kì, chú ý đến từng chi tiết nhỏ để có được một bức tranh đẹp.


Trước kia tranh được bán ra chủ yếu phục vụ cho dịp Tết Nguyên Đán, người dân nông thôn mua tranh về dán trên tường, hết năm lại lột bỏ, dùng tranh mới.


Tranh Đông Hồ xuất xứ từ làng Đông Hồ (xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Làng Mái là tên gọi dân gian xưa kia của làng tranh Đông Hồ bây giờ. Vào thế kỷ XVI tranh Đông Hồ xuất hiện nhưng không ai thống kê hết được có bao nhiêu mẫu tranh mà chỉ biết gồm có 5 loại là: Tranh thờ, Tranh lịch sử, Tranh chúc tụng, Tranh sinh hoạt và Truyện tranh. Từ cuối thế kỷ XIX đến 1944 là thời kì cực thịnh của làng tranh. Lúc ấy, trong làng có 17 dòng họ thì tất cả đều làm tranh.


Đến hẹn lại lên, cứ khoảng tháng 7, tháng 8 hàng năm là cả làng đã tất bật để chuẩn bị cho mùa tranh Tết, khắp làng rực rỡ sắc màu của giấy điệp, không một mảnh đất trống nào không được người dân làng Hồ tận dụng để phơi giấy: từ sân nhà, sân đình, ven các ngõ xóm, đường làng, dọc theo triền đê cho đến các nóc nhà, nóc bếp….Không khí trong làng rộn rạo từ sáng đến tối suốt mấy tháng liền như thế.


Mỗi năm, chợ tranh chỉ nhộn nhịp và tấp nập nhất vào tháng Chạp, họp 5 phiên vào các ngày 6, 11,16, 21 và 26. Bà con, du khách thập phương đổ về mua tranh đông vui, tấp nập.


Hàng nghìn, hàng triệu bức tranh các loại được mang ra xếp gọn lại bán cho những lái buôn, hoặc bán lẻ cho các gia đình mua về làm tranh treo tết để mang phú quý, vinh hoa cho nhà mình.

Sau phiên chợ tranh cuối cùng (26/12 âm lịch) những gia đình nào còn lại tranh đều bọc kín đem cất đi chờ đến mùa tranh năm sau lại mang ra chợ tranh bán. Đến chợ tranh làng Hồ không chỉ có khách buôn và mua tranh, mà có cả những người hâm mộ nghệ thuật tranh dân gian thích thăm thú, xem tranh và đi trảy hội mùa xuân.

thay đổi nội dung bởi: bcbc, 16-08-2007 lúc 06:23 AM.
bcbc is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 13-07-2007   #2
bcbc
Hội viên
 
bcbc's Avatar
 
Tham gia ngày: Jan 2006
Bài gởi: 7.346
Thanks: 2
Thanked 152 Times in 139 Posts
Blog Entries: 18
Tranh dân gian Đông Hồ




Tranh dân gian Đông Hồ



Trạng Chuột ơn vua cưới vợ làng,
Kiệu son lộng lẫy lọng hoa vàng !
Nàng dâu xứ chuột chân đi đất,
Ngón nhỏ bùn non vẫn dính chân !
(Đám cưới chuột)


Tranh Đông Hồ có được sức sống lâu bền và có sức cuốn hút đặc biệt với nhiều thế hệ con người Việt Nam cũng như du khách nước ngoài cũng bởi những đề tài trên tranh phản ánh đậm chất cuộc sống mộc mạc, giản dị, gần gũi gắn liền với văn hoá người Việt.



Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế đã giải thích về ý nghĩa của việc dùng màu sắc sao cho phù hợp với mỗi đề tài khác nhau: nền màu đỏ cho tranh đánh ghen để lột tả được cái nóng giận bực bội ngột ngạt của không khí lúc đó, nền màu vàng cho cảnh vui tươi tràn ngập sắc xuân trên các bức tranh ngày tết, nền màu hồng nhạt cho tranh làng quê yên bình …

“Thôi thôi một giận làm lành
Chị đừng tức giận cho nhục lòng ta”…
( Đánh Ghen)



Đôi khi những bức tranh Đông Hồ còn được những nghệ nhân trang trí kèm theo những từ chỉ dẫn hoặc những tứ thơ tình tứ, lãng mạn,


“Trong như ngọc, trắng như ngà
Đây chèo đấy hứng cho vừa lòng nhau”
(Hứng Dừa)



Cứ bóc tách từng lớp nang văn hoá hiện trên mỗi bức tranh Đông Hồ cũng đủ cho chúng ta thấy vốn liếng văn hoá Việt thuần khiết và trong sáng, đa dạng và vô cùng độc đáo.


Các nghệ nhân Đông Hồ đã chuyển hóa những lời hay - ý đẹp, những kinh nghiệm đúc rút trong cuộc sống từ ngàn đời để lại vào tranh dân gian với những cách thể hiện rất riêng:

bcbc is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 16-08-2007   #3
bcbc
Hội viên
 
bcbc's Avatar
 
Tham gia ngày: Jan 2006
Bài gởi: 7.346
Thanks: 2
Thanked 152 Times in 139 Posts
Blog Entries: 18
Tranh dân gian Đông Hồ



Những ai đã yêu thích tranh Đông Hồ hẳn rất quen thuộc với các tranh gà: Gà mẹ con, gà đại cát, gà dạ xướng, kê cúc. Chẳng hạn bức "Gà thủ hùng".


Theo sử sách xưa kể lại, vào khoảng năm 1915 cụ Chánh Hoàn gả con gái cho một anh Phán, Cụ Đám Giác ( tên thật là Nguyễn Thể Thức (1882 - 1943) là một nghệ nhân sáng tác nổi tiếng của Đông Hồ. Ngoài tranh về cuộc sống ở nông thôn cụ còn vẽ nhiều tranh truyện tranh phong cảnh, tranh tố nữ...)đã mừng đám cưới bằng một mẫu tranh mới: một gia đình gà gồm gà trống, gà mái và đàn con.



Bằng ngôn ngữ ước lệ, các con gà được cách điệu hóa, chúng sống động mà không cần giống thực. Gà mái có bố cục theo đường xoắn ốc - tạo nên sự nũng nịu. Gà trống được đặt trong một hình thang, đáy lớn nằm trên - tạo nên tư thế chủ gia đình, che chở cho gà mái và đàn con. Bức tranh gợi không khí hạnh phúc, đầm ấm trong một gia đình. Trên tranh có dòng chữ nôm "Lắm con nhiều cháu, giống cánh giống lông" một lời chúc thật sâu sắc! Bức tranh này được xây dựng từ câu phương ngôn: "Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh".
bcbc is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 16-08-2007   #4
ganda
Hội viên
 
ganda's Avatar
 
Tham gia ngày: Jul 2007
Bài gởi: 196
Thanks: 0
Thanked 9 Times in 4 Posts
Hình Tượng Con Lợn Trong Tranh Tết Dân Gian đông Hồ




HÌNH TƯỢNG CON LỢN TRONG TRANH TẾT DÂN GIAN ĐÔNG HỒ



Mỗi dòng tranh Dân gian ngoài điểm chung giống nhau, lại có những điểm khác nhau. Sự khác nhau đó chính là tô đậm sự phong phú kho tàng Nghệ thuật Tranh Dân gian Truyền thống (có khởi điểm từ cuối thế kỷ XVI) - cách ngày nay ngót năm trăm năm lịch sử.

Tranh Dân gian từ xưa sáng tạo và được bán trong những ngày giáp tết, dân chúng mua về treo, dán trong nhà đón Tết năm mới, vì vậy còn được gọi là tranh Tết.

Mỗi dòng tranh Dân gian ngoài điểm chung giống nhau, lại có những điểm khác nhau. Sự khác nhau đó chính là tô đậm sự phong phú kho tàng Nghệ thuật Tranh Dân gian Truyền thống (có khởi điểm từ cuối thế kỷ XVI) - cách ngày nay ngót năm trăm năm lịch sử.

Các dòng Tranh Dân gian như: Tranh thờ làng Sình (Lại Ân - Huế), Tranh Kim Hoàng : (Kim Bảng - Hoàng Bảng xứ Đoài - Hà Tây) ván gỗ khắc, chủ yếu là bản nét đen giữ hình, in trên giấy hồng điều; màu sử dụng chủ yếu là màu bột pha keo và tô vẽ thêm bằng tay. Dòng Tranh Hàng Trống: ván khắc cũng chỉ làm bản khắc nét đen, in trên giấy trắng, rồi kết hợp dùng màu nước, màu phẩm để tô vờn, vẽ thêm bằng tay. Dòng tranh Dân gian Đông Hồ kinh Bắc có những nét độc đáo và có khác là: ngoài bản nét đen chủ đạo, còn được khắc các bản gỗ in màu (Tức là tranh mẫu có bao nhiêu màu thì có bấy nhiêu bản gỗ khắc in màu đi cùng). Đặc biệt là màu sử dụng in tranh chỉ dùng các loại màu chế từ các sản vật có trong tự nhiên. Các màu chính (còn gọi là màu thuốc cái) như: Đen: (Than lá Tre già, qua công đoạn đốt, ngâm, xay nhuyễn và lọc); Vàng: chế từ hoa Hoè; Xanh: chế từ lá Tràm; Đỏ: chế từ hoa Hiên; Nâu đỏ: chế từ son đá mềm được mài; giã nhỏ và dây kỹ và ngâm nhiễn; Trắng: chế từ vỏ Sò, vỏ Điệp được làm ải, xay nhỏ và ủ...) chổi quét điệp bằng bó lá thông, hồ Nếp làm chất kết dính... Tranh Dân gian Đông Hồ không dùng tay vẽ thêm như các dòng tranh khác, mà đều thông qua chất liệu gỗ (khắc và in) cùng với chất liệu màu chế từ sản vật tự nhiên, đã cho một cảm mỹ tạo hình, về vẻ đẹp của chất liệu, độc đáo của dòng tranh này.

Tranh Dân gian Đông Hồ xưa kia có những đề tài gần như riêng về chủng loại (về sau các dòng tranh có giao thoa với nhau, nên có mở rộng thêm). Các loại như: Đề tài Lịch sử: thường gắn với các nhân vật như các tranh: Hai bà Trưng, Bà Triệu, Đinh Tiên Hoàng cờ lau tập trận, Trần Hưng Đạo chiến thắng quân Nguyên... Đề tài sinh hoạt như các tranh: Đấu vật, Đánh đu, Hội làng, Hứng dừa, Đánh ghen, Chăn trâu -thổi sáo, Chăn trâu - thả diều... Các tích văn học, hoặc dân gian: Kiều, Thạch Sanh, hoặc 4 tố nữ với Cầm, Kỳ, Thi, Hoạ... Đặc biệt nổi bật là tranh các con vật như: các tranh Lợn: Lợn đàn, Lợn độc, Lợn ăn cây dáy. Các Tranh Gà: Gà đàn, Gà -Đại cát, Gà -Thư hùng, Gà trống - nghinh xuân. Tranh các con vật khác như: Vịt, Trâu, Mèo, Rồng - Rước Rồng, Hổ - Ngũ Hổ, Chuột, Cá, Cóc. Đề tài tứ quý: Mai - Hạc (mùa Xuân), Phù dung - Chim Trĩ (mùa Hạ), Ngô Đồng - Chim Phượng (mùa Thu), Tùng - Chim Công (mùa Đông). Con vật khi là đề tài riêng, hoặc khi được nghệ nhân sáng tạo em bé với gia cầm như bức Vinh hoa, Phúc Lộc song toàn với (em bé ôm gà trống), (em bé ôm rùa), (em bé ôm cá); Hoặc đưa con vật vào tranh với lối ẩn dụ nhằm phản ánh nội dung xã hội con người như các tranh: Đám cưới chuột, Thày đồ Cóc...

Con Lợn gắn bó bao đời với con người. Con Lợn có truyền thuyết xa xưa, gắn với Lịch pháp, sử dụng thời khắc: năm, tháng, ngày, giờ vận vào con người (khi chào đời là giờ sinh). Trong 12 sinh tiêu, được tượng trưng bởi 12 con vật (còn gọi là 12 con giáp: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi) và với sự hành âm hoặc dương kết hợp của từng mỗi con vật đó để phân tích cá tính, tiên đoán vận mạng của mỗi con người, đã được tích hợp kinh nghiệm từ ngàn xưa tổng kết lại. Con Lợn gọi là Hợi, trong 12 con giáp nó được xếp ở vị trí cuối cùng.

Làng có nghề làm tranh, con Lợn vào tranh dân gian Đông Hồ, gọi là Tranh Lợn. Ngày tết mua tranh dân gian: Tranh Lợn, Tranh Gà... về treo cùng là thưởng thức cái đẹp tạo hình, còn biểu hiện ước muốn năm mới tăng gia sản xuất được sung túc, đời sống no đủ. Tranh lợn đã đi vào đời sống thẩm mỹ dân gian tự bao đời.

Về Đông Hồ tìm hiểu nghệ thuật tranh lợn, thấy số lượng ván khắc mẫu tranh lợn chỉ đếm trên đầu ngón tay. Ngày nay ta còn thấy có ba loại bản khắc tranh mẫu để in ra các Tranh Lợn bán trong dịp Tết, đó là:

1. Tranh Lợn đàn (thể hiện Lợn mẹ và đàn con vây bên cạnh).

2. Tranh Lợn độc (thể hiện một con Lợn đang ăn bên bồn).

3. Tranh Lợn ăn cây Dáy (thể hiện con Lợn đang ngoạm nhai cây Dáy)

Nghệ thuật Tranh Lợn dân gian Đông Hồ: Với cả ba loại tranh mẫu (khắc-in) về tranh Lợn đều có phong cách nhất quán, hoà đồng và nổi bật trong dòng tranh dân gian Đông Hồ. Đặc điểm chung của các con Lợn trong tranh dân gian Đông Hồ đều là: hình tượng Lợn béo, thể hiện theo dáng trông nghiêng. Nghệ nhân sáng tác theo chiều này nhằm bộc lộ toàn bộ hình - dáng béo tốt của con Lợn. Trên thân mình Lợn đều có hai xoáy Âm - Dương. Hai xoáy âm - dương này nằm phía trên ngang mình Lợn, vị trí (gần vai và mông) phía trên của 2 chân (trước và sau), thu hút sự chuyển động, làm cho ta càng có cảm giác như thấy con Lợn có dáng sinh động. Nó vừa là cái đẹp hữu hình, vừa là ẩn chứa quan niệm về ngũ hành.

Các con Lợn đều là béo tốt: Mặt Lợn to, tai lớn. Mắt có vành mi. Mõm Lợn nghiêng, nhưng Mũi lại gần như quay ra hướng chính diện, tạo dáng ngồ ngộ và động. Ngấn mõm đều có 3 ngấn, và không quên hai ngấn mép của con Lợn như đang ăn ngấu nghiến. Bàn chân Lợn có 3 móng, trông rất vững chân đế. Lưng Lợn với độ cong hơi võng, được thể hiện bằng một hoặc hai nét to bản. Nét của ngấn thủ (phần đầu lợn) với chân trước, vòng bụng và nét ngấn của bắp đùi sau là nét to dầy nối vào nét cong lượn của bụng Lợn. Hình dáng và đường nét to dầy đã tạo nên con lợn có dáng béo, khoẻ, vũng chãi, thể hiện ý tưởng ước muốn về phồn thịnh của tăng gia sản xuất, đời sống ấm no, hạnh phúc thanh bình. Riêng đuôi Lợn có những thay đổi linh hoạt, tạo cho mỗi loại tranh Lợn thêm phong phú. ở bức Lợn ăn cây Dáy đuôi Lợn xoay ra cong lên ở trên đùi sau. ở bức Lợn ăn ở bồn đuôi đặt trên ngấn khuỷ chân sau. Đuôi lợn ở bức Lợn đàn đuôi lại để thẳng xuống. Song các đuôi Lợn có điểm chung nhất là: lông cuối đuôi đều được cách điệu như một chiếc quạt hình lá đề, và đều quay ra phía trước. Trên các tranh Lợn nghệ nhân thể hiện đảo ngược điểm nhìn của lông đuôi và mũi Lợn, kể cả tai Lợn (đều theo hướng trông thẳng), trên toàn thân Lợn (là trông nghiêng), pha chút kiểu nghệ thuật bản năng nguyên thuỷ - vẽ: mặt nghiêng nhưng mắt lại cho quay ra phía trước), làm cho hình tượng trong tranh thêm sống động.

Với ba mẫu ván khắc: Tranh Lợn độc, thể hiện con lợn béo đang ăn bên bồn. Tranh Lợn ăn cây Dáy thể hiện con Lợn đang ngoạm cây Dáy để ăn. Tranh Lợn đàn, thể hiện đàn lợn con đang quây quần bên Lợn mẹ, mỗi con mỗi dáng vẻ: con muốn trèo lên lưng, con muốn rúc vào bụng mẹ, các con khác đang hướng vào mầm lá khoai để ăn... tất cả đều có bố cục khoẻ, giản dị, giàu chất trang trí cách điệu, mà đậm đà tính hiện thực. Chứa đựng ước muốn của người nông dân về tăng gia sản xuất, về cuộc sống sung túc, đông vui hoà thuận, hạnh phúc, con cháu đầy đàn. Đường nét trong tranh Lợn thiên về diễn nét to, đậm, giản dị mà cô đọng, chắc khoẻ, chân thực, biểu hiện tình cảm chân thật, đôn hậu với phong cách tạo hình đậm đà bản sắc dân tộc. Tranh khắc gỗ dân gian Đông Hồ đã đóng góp sắc thái phẩm chất tạo hình riêng, độc đáo. Nó còn là cầu nối giữa truyền thống và hiện đại trong dòng nguồn của Mỹ thuật Việt Nam.

Tự xa xưa Đông Hồ và nghề làm tranh đã có câu ca dao xứ sở:

"Hỡi cô thắt bao lưng xanh,

Có về làng Mái với anh thì về.

Làng Mái có lịch có lề,

Có ao tắm mát, có nghề làm tranh.

Nàng về nàng ở với anh,

Cùng nhau “Vẽ, khắc” in tranh Lợn, Gà”

Làng Mái cũng chính là làng Đông Hồ, một làng cổ nổi tiếng có nghề làm Vàng Mã, và nghề làm Tranh khắc gỗ Dân gian.

Những bức Tranh Lợn và những Tranh Gà mộc mạc hồn quê đã trở thành di sản nghệ thuật và nó không thể thiếu trong những ngày tết tự xa xưa, nhất là năm mới lại đúng vào năm Hợi. Nhà nhà đi sắm Tết không quên mua Tranh Lợn về trang hoàng, đón một năm mới an khang - thịnh vượng - hạnh phúc, chơi tranh thành nhu cầu trong đời sống tinh thần của nhân dân. Một nét đẹp văn hoá truyền thống lâu đời còn lưu lại đến ngày nay.

Nguyễn Văn Chiến
-----------------------
Nguồn: www.vietnamfineart.com.vn
__________________
Ganda
ganda is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 16-08-2007   #5
ganda
Hội viên
 
ganda's Avatar
 
Tham gia ngày: Jul 2007
Bài gởi: 196
Thanks: 0
Thanked 9 Times in 4 Posts
Tranh Đông Hồ “níu giữ” hồn dân tộc




Tranh Đông Hồ “níu giữ” hồn dân tộc



(Toquoc) - Nằm ấp mình bên bờ đê phía nam của dòng sông Đuống hiền hoà, nghiêng trôi một “dòng lấp lánh”, làng tranh Đông Hồ đã trải qua biết bao những thăng trầm để giữ cho “hồn dân tộc” mãi được “sáng bừng trên giấy điệp”.


Hồi ức làng tranh - một thời thăng trầm


Làng Mái là tên gọi dân gian xưa kia của làng tranh Đông Hồ (Thuận Thành – Bắc Ninh) bây giờ. Vào thế kỷ XVI tranh Đông Hồ xuất hiện nhưng không ai thống kê hết được có bao nhiêu mẫu tranh mà chỉ biết gồm có 5 loại là: Tranh thờ, Tranh lịch sử, Tranh chúc tụng, Tranh sinh hoạt và Truyện tranh. Từ cuối thế kỷ XIX đến 1944 là thời kì cực thịnh của làng tranh. Lúc ấy, trong làng có 17 dòng họ thì tất thảy đều làm tranh. Đến hẹn lại lên, cứ khoảng tháng 7, tháng 8 hàng năm là cả làng đã tất bật để chuẩn bị cho mùa tranh Tết, khắp làng rực rỡ sắc màu của giấy điệp, không một mảnh đất trống nào không được người dân làng Hồ tận dụng để phơi giấy: từ sân nhà, sân đình, ven các ngõ xóm, đường làng, dọc theo triền đê cho đến các nóc nhà, nóc bếp….Không khí trong làng rộn rạo từ sáng đến tối suốt mấy tháng liền như thế.

Mỗi năm, chợ tranh chỉ nhộn nhịp và tấp nập nhất vào tháng Chạp, họp 5 phiên vào các ngày 6, 11,16, 21 và 26. Bà con, du khách thập phương đổ về mua tranh đông vui, tấp nập. Hàng nghìn, hàng triệu bức tranh các loại được mang ra xếp gọn lại bán cho những lái buôn, hoặc bán lẻ cho các gia đình mua về làm tranh treo tết để mang phú quý, vinh hoa cho nhà mình. Sau phiên chợ tranh cuối cùng (26/12 âm lịch) những gia đình nào còn lại tranh đều bọc kín đem cất đi chờ đến mùa tranh năm sau lại mang ra chợ tranh bán. Đến chợ tranh làng Hồ không chỉ có khách buôn và mua tranh, mà có cả những người hâm mộ nghệ thuật tranh dân gian thích thăm thú, xem tranh và đi trảy hội mùa xuân. Đó là thời kỳ hạnh phúc nhất của người dân làng tranh.

Trong những năm kháng chiến chống pháp, khi cả nước điêu linh, Đông Hồ cũng rơi vào cảnh đạn bom lay lắt, làng tranh bị giặc đốt phá tan hoang, người dân trong làng lo chạy loạn khắp nơi, các bản khắc tranh cũng bị thiêu cháy rụi. Nghề tranh từ đó cũng bị gián đoạn. Hoà bình lập lại (1954) làng tranh được khôi phục. Nhiều tổ hợp tác sản xuất tranh Đông Hồ được thành lập, đây cũng là thời điểm tranh Đông Hồ được xuất khẩu sang các nước XHCN đạt kết quả cao. Nhưng từ năm 1985- 1990, do tác động của nền kinh tế thị trường, nhu cầu thẩm mỹ của người dân thay đổi, việc xuất khẩu tranh gặp nhiều khó khăn. Người dân làng tranh chuyển dần sang làm hàng mã. Nghề làm tranh tồn tại yếu ớt, chỉ còn lẻ tẻ một vài gia đình bám trụ với nghề tranh như: gia đình ông Nguyễn Đăng Chế, gia đình ông Nguyễn Hữu Sam… Đến nay, nhờ công gìn giữ của các nghệ nhân ấy mà tranh dân gian này được khôi phục lại. Cùng với nhiều sáng tạo mới mẻ, tranh dân gian Đông Hồ lại chiếm được cảm tình của nhiều du khách trong và ngoài nước mỗi khi đặt chân đến mảnh đất văn vật hữu tình này.

Đậm chất dân gian của văn hoá Việt



“Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong

Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”

Không phải tự nhiên tranh Đông Hồ được nhà thơ Hoàng Cầm nhắc đến đầy tự hào và kiêu hãnh trong bài thơ “Bên kia sông Đuống” như một đặc sản nghệ thuật của vùng quê Kinh Bắc. Cái làm nên nét đặc sắc độc đáo của tranh Đông Hồ chính là chất liệu làm tranh, được chế biến thủ công từ các nguyên liệu có sẵn trong thiên nhiên: Giấy làm từ cây dó, màu đỏ từ gạch non, màu vàng từ hoa điệp vàng, màu đen từ lá tre đốt, màu trắng được nghiền từ vỏ sò, ốc… Trên cơ sở những màu sắc cơ bản ấy người dân đã tạo thêm nhiều màu sắc khác nhau từ việc trộn lẫn các màu. Để hoàn thành một sản phẩm, không kể khâu khắc tranh trên bản gỗ, có sẵn giấy và màu, người làm tranh phải rất công phu, cẩn thận trong từng giai đoạn: sơn hồ lên giấy, phơi giấy cho khô hồ, quết điệp rồi lại phơi giấy cho khô lớp điệp, khi in tranh phải in từng màu lần lượt, nếu có 5 màu thì 5 lần in, mỗi lần in là một lần phơi… Cứ thế, dưới ánh sáng mặt trời lấp lánh từng hình ảnh, đường nét của cảnh sắc thiên nhiên, nếp sinh hoạt của người dân, những hình ảnh của cuộc sống thường ngày ... như “bừng” sáng trên giấy dó. Mọi giai đoạn đều thật công phu nên đòi hỏi người làm tranh luôn cẩn trọng, cầu kì, chú ý đến từng chi tiết nhỏ để có được một bức tranh đẹp.

Tranh Đông Hồ có được sức sống lâu bền và có sức cuốn hút đặc biệt với nhiều thế hệ con người Việt Nam cũng như du khách nước ngoài cũng bởi những đề tài trên tranh phản ánh đậm chất cuộc sống mộc mạc, giản dị, gần gũi gắn liền với văn hoá người Việt. Một vài tờ tranh bên cạnh mâm ngũ quả ngày Tết sẽ là thứ mà các bà, các chị không thể quên khi đi chợ trong những ngày áp Tết. Đó là thói quen, là tâm linh, tín ngưỡng gắn kết trong tư duy của mọi người dân Việt Nam. Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế đã giải thích cho chúng tôi hiểu thêm về ý nghĩa của việc dùng màu sắc sao cho phù hợpvới mỗi đề tài khác nhau: nền màu đỏ cho tranh đánh ghen để lột tả được cái nóng giận bực bội ngột ngạt của không khí lúc đó, nền màu vàng cho cảnh vui tươi tràn ngập sắc xuân trên các bức tranh ngày tết, nền màu hồng nhạt cho tranh làng quê yên bình …

Đôi khi những bức tranh Đông Hồ còn được những nghệ nhân trang trí kèm theo những từ chỉ dẫn hoặc những tứ thơ tình tứ, lãng mạn, như trên bức tranh Hứng Dừa là “Trong như ngọc, trắng như ngà / Đây chèo đấy hứng cho vừa lòng nhau; trên tranh Đánh ghen là “Thôi thôi một giận làm lành / Chị đừng tức giận cho nhục lòng ta”… Cứ bóc tách từng lớp nang văn hoá hiện trên mỗi bức tranh Đông Hồ cũng đủ cho chúng ta thấy vốn liếng văn hoá Việt thuần khiết và trong sáng, đa dạng và vô cùng độc đáo.

Tuy nhiên, điều đáng buồn là giờ đây tranh Đông Hồ không còn mang tính “thuần Việt” như thời xưa mà đang dần bị thương mại hoá. Đến với chợ tranh Đông Hồ bây giờ, người ta không còn được thấy cảnh tấp nập bán mua, cũng không còn cảnh người người, nhà nhà ưa chuộng tranh Đông Hồ như ngày xưa nữa. Các thế hệ sau cũng ít muốn học và theo nghề tranh truyền thống của cha ông vì quá vất vả mà lại ít lợi nhuận. Du khách đến làng tranh bây giờ vẫn thấy cảnh phơi giấy nhưng đó lại là giấy để làm hàng mã chứ không phải giấy dó in tranh...

Mặc dù gần đây đã có nhiều dự án khôi phục lại làng nghề, phát triển du lịch làng nghề truyền thống song làng tranh dân gian Đông Hồ vẫn chỉ đang tồn tại ở mức độ "phảng phất", chưa thực sự được quan tâm đầu tư để phát triển. Hi vọng trong tương lai gần, cùng với các làng nghề truyền thống khác trên cả nước, làng tranh Đông Hồ sẽ tìm lại được vị trí vốn có của mình và ngày càng phát triển, làm giàu thêm cho nền văn hoá đậm đà bản sắc của dân tộc Việt Nam./.
Trần Thảo – Út Huệ
-----------------------
Nguon: www.toquoc.gov.vn
__________________
Ganda
ganda is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 16-08-2007   #6
ganda
Hội viên
 
ganda's Avatar
 
Tham gia ngày: Jul 2007
Bài gởi: 196
Thanks: 0
Thanked 9 Times in 4 Posts
Một số bức tranh Đông Hồ


Công múa



Cưỡi rồng



Đám cưới chuột



Đánh ghen



Đấu vật
__________________
Ganda
ganda is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 16-08-2007   #7
ganda
Hội viên
 
ganda's Avatar
 
Tham gia ngày: Jul 2007
Bài gởi: 196
Thanks: 0
Thanked 9 Times in 4 Posts
Một số bức tranh Đông Hồ





Em bé và con cóc



Em bé và con rùa


Em bé và con gà


Gà trống
__________________
Ganda
ganda is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 16-08-2007   #8
ganda
Hội viên
 
ganda's Avatar
 
Tham gia ngày: Jul 2007
Bài gởi: 196
Thanks: 0
Thanked 9 Times in 4 Posts

Múa Lân


Múa rồng


Ruớc trống (?)


Cưỡi trâu thả diều


Con voi
__________________
Ganda

thay đổi nội dung bởi: ganda, 16-08-2007 lúc 12:00 PM.
ganda is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 16-08-2007   #9
Thiên Sứ
Hội viên chân thuyên
 
Thiên Sứ's Avatar
 
Tham gia ngày: Jul 2005
Bài gởi: 9.854
Thanks: 2
Thanked 244 Times in 126 Posts
Nhìn những bài nói về tranh dân gian Đông Hồ mà Thiên Sứ tôi không khỏi ngậm ngùi buồn. Bài nào cũng có ưu điểm là nhắc nhở đến hồn dân tộc, ca ngợi di sản văn hóa nói chung. Nhưng những kết l uận về tranh dân gian lại quá đơn giản khiến cho những giá trị đích thực của nó ngay người Việt cũng không cảm nhận được qua những bài viết trên.
Thậm chí làm giảm hẳn giá trị đích thực của nó. Những con người có tâm hướng về những giá trị văn hóa dân tộc mang tính cảm hoài về quá khứ cũng chỉ cảm nhận tranh dân gian qua sự hòa nhập về tâm linh nhiều hơn. Họ và cả tôi có lẽ cũng giống nhau về sự ngậm ngùi của một quá khứ mà ngày càng ít người lưu luyến đến nó. Vào năm 1998 tôi xem bộ phim "Sân Trăng" của đài THVN đã ứa nước mắt. Bây giờ nhìn lại n hững bài bình luận về t ranh dân gian lại càng k hông khỏi ngậm ngùi. Cụ thể như cái tranh ngay trên bài này , được chú thích là con voi. Thật là một điều buồn. Đây không phải chỉ là chú thích của người viết bài mà còn là chú thích của một nhà nghiên cứu tranh dân gian trong tác phẩm của ông ta, có tựa là "Tranh dân gian Việt Nam" - NX B Văn Hóa Dân Tộc- 1995, tranh thứ 20 trang 48 . Bức t ranh này được chú thích đỡ buồn hơn Hic! là : "Cưỡi voi" . Nhưng họ lại quên đi mất ngay trên bức tranh có một chữ triện r ất to. Đó là chữ "Trưng". Xin xem lại hình dưới đây:


Hình này mà ghi chú là "Con voi" thì hai người ngồi trên không được nhìn thấy giá trị của nó so với con vật. Nếu đề là "Cưỡi voi" như nhà học giả k hả kính đã trích dẫn ở trên thì thật là phụ lòng người sáng tạo ra bức tranh này từ trong cội nguồn văn hóa của dân tộc.
Tôi đã phân tích ý nghĩa của rất nhiều tranh dân gian Việt Nam trong cuốn "Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam" . Nhưng rất tiếc , cuốn sách này hân hạnh được vị trưởng phòng kinh doanh - công ty Phát hành sách Phương Nam phát biểu như sau: "Sách của anh viết lập luận k hông chặt chẽ nên chúng tôi không phát hành ".
Cùng chung số phận với cuốn này chính là cuốn "Tìm về cội nguồn Kinh Dịc h". Bây giờ lại thấy có người nhắc đến tranh dân g ian Việt Nam và ca ngợi chung chung theo kiểu " phải giữ gìn sức khỏe thì tốt" khiến tôi không k hỏi ngậm ngùi và có vài lời tâm sự.
X in miễn tranh luận.
Thiên Sứ
Thiên Sứ is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 16-08-2007   #10
ganda
Hội viên
 
ganda's Avatar
 
Tham gia ngày: Jul 2007
Bài gởi: 196
Thanks: 0
Thanked 9 Times in 4 Posts
Xin lỗi mọi người
Tôi tải tranh lên mà không chú ý - thật ra là không biết đó là chữ Trưng.
Nghe chú Thiên Sứ nói cũng thấy buồn lây.
Xin lỗi.
Cháu cảm ơn chú Thiên sứ.
__________________
Ganda
ganda is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Trả lời


Ðang đọc: 1 (0 thành viên và 1 khách)
 
Ðiều Chỉnh
Xếp Bài

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn
Bạn không được quyền gởi bài
Bạn không được quyền gởi trả lời
Bạn không được quyền gởi kèm file
Bạn không được quyền sửa bài

vB code đang Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt
Chuyển đến