Hỏi/Ðáp Lịch Tìm Kiếm Bài Trong Ngày Ðánh Dấu Ðã Ðọc
Welcome
Trang Ðầu
Ghi Danh
Hỏi/Ðáp
Login Form
Nhà tài trợ
Công cụ
Thống kê
  • Ðề tài: 15,068
  • Bài gởi: 153,362
  • Thành viên: 4,737
  • Số người đang xem: 156
  • Xin cùng nhau chào đón lightstarvp là thành viên mới nhất.
Liên kết website
Go Back   chân thuyên > VĂN HOÁ VIỆT CỔ > CÁC BÀI NGHIÊN CỨU VỀ VĂN HOÁ VIỆT CỔ

Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
Old 14-05-2007   #1
thichmactien
Hội viên
 
thichmactien's Avatar
 
Tham gia ngày: Oct 2005
Nơi Cư Ngụ: Vietnam
Bài gởi: 7.916
Thanks: 12
Thanked 422 Times in 253 Posts
Blog Entries: 5
Cội nguồn Việt tộc




Xin tiếp tuc giới thiệu với mọi người quan tâm những bài viết và nghiên cứu về cội nguồn Việt tộc mà TMT sư tầm được từ nhiều nguồn khác nhau để cùng tham khảo.
__________________
Tôi có một ham muốn tột bậc là...không ham muốn gì

Tại sao mệnh Thủy thành Hỏa hay Hỏa thành Thủy? vào đây khắc rõ
thichmactien is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 14-05-2007   #2
thichmactien
Hội viên
 
thichmactien's Avatar
 
Tham gia ngày: Oct 2005
Nơi Cư Ngụ: Vietnam
Bài gởi: 7.916
Thanks: 12
Thanked 422 Times in 253 Posts
Blog Entries: 5
Giới thiệu tác phẩm “CỘI NGUỒN VIỆT TỘC” của PHẠM TRẦN ANH




Giới thiệu tác phẩm “CỘI NGUỒN VIỆT TỘC” của PHẠM TRẦN ANH
Thanh Văn
( Bài này Doremon xin phép được bỏ qua một số đoạn liên quan đến chính trị để tập trung nói về yếu tố lịch sử của dân tộc )


Đã từ lâu tôi thường thắc mắc về một chi tiết trong cổ sử của Việt Nam về giai đoạn các vua Hùng dựng nước. Theo truyền thuyết Việt tộc là hậu duệ của Viêm Đế Thần Nông, cháu ba đời của Viêm Đế là Đế Minh, sinh ra Đế Nghi. Đế Minh đi xuống phương Nam tuần tra, đến vùng Ngũ Lĩnh, nằm vế phương Nam nước Trung Hoa, kết hôn cùng tiên nữ, sinh ra Lộc Tục, là người có thánh đức.

Đế Minh muốn truyền ngôi vua cho, nhưng Lôc Tục lại nhường cho anh, nên Đế Minh để cho con trưởng là Đế Nghi làm vua phương Bắc (tức là nước Trung Hoa, phía Bắc sông Hoàng hà). Cho con thứ là Lộc Tục làm vua phương Nam. Lúc đó là vào năm Nhâm Tuất (2879TCN).

Lộc Tục xưng đế hiệu là Kinh Dương Vương, lấy họ là Hồng Bàng và đặt tên nước là Xích Qũy. Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình Quân là Long Nữ, sinh ra Sùng Lãm. Sùng Lãm kế nghiệp cha lên làm vua xưng là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy con gái của Đế Lai là Âu Cơ. Sinh được trăm trứng và trăm trứng đó nở ra trăm người con trai. Đây là tổ của bách Việt.

Một hôm Lạc Long Quân bảo nàng Âu Cơ rằng ta vốn là giống Rồng, nàng là giống Tiên, thủy hỏa khắc nhau, chung hợp thật khó. Nên sau đó hai người chia tay nhau mỗi người dẫn theo 50 người con. Cha dẫn 50 con xuống phía biển, mẹ dẫn 50 con về núi. Lạc Long Quân phong cho người con trưởng (không rõ tên húy) lên nối ngôi, xưng là Hùng Vương, đặt tên nước là Văn Lang v..v.. Hùng Vương truyền được 18 đời, tất cả đều lấy hiệu là Hùng Vương, cho đến năm Qúy Mão (258TCN) thì nước Văn Lang của vua Hùng bị vua nước Thục la Thục Phán chiếm được. Thục Phán lên ngôi xưng la An Dương Vương và đổi quốc hiệu là Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê và xây Loa Thành theo hình trôn ốc.

Tính từ năm 2879TCN đến năm 258TCN cả thẩy là 2622 năm. Chi tiết này không những riêng cá nhân tôi thắc mắc vì tính từ Kinh Dương Vương đến vua Hùng thứ 18 có 20 đời vua mà thời gian trị vì những hơn 2600 năm thì thật là một điều khó tin. Các sử gia từ Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên, Ngô Thì Sĩ và gần đây Trần Trọng Kim, Phạm Văn Sơn và mới nhất là sử gia Trần Gia Phụng. Tất cả đều không ai tin các chi tiết về thời gian trị vì của 20 đời vua vào thời Hồng Bàng là đúng. Thậm chí nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn với kiến thức về sử Việt Nam khá giới hạn, trong một video do Thúy Nga Paris sản xuất trước đây đã dám tuyên bố rằng thời Hồng Bàng “chắc” chỉ chừng 800 năm mà thôi.

Đề tài nghiên cứu về Việt tộc không phải chỉ là đề tài dành riêng cho các sử gia. Các nhà nghiên cứu về văn hoá như giáo sư Nguyễn Xuân Khoan, tức nhà báo Thiện Nhân Chủ bút Tập San TV-Victoria hiện sống và làm việc ở thành phố Melbourne Tiểu bang Victoria của Úc, nhà nghiên cứu văn hóa Cung Đình Thanh, người chủ trương tủ sách Việt học và tập san Tư Tưởng ở Úc, hiện sống tại Sydney cũng thường chú ý. Nhà nghiên cứu Nguyên Nguyên cũng sống ở Úc, và còn nhiều nhà nghiên cứu khác ở Pháp, Mỹ và Canada và nhất là ngay trong nước Việt Nam cũng đều chú ý.

Nay đọc trong tác phẩm Cội Nguồn Việt Tộc của Phạm Trần Anh do Trần Thục Vũ và Phạm Trần Hào xuất bản ở California Hoa Kỳ năm 2004. thắc mắc trên của tôi đã được giải toả. Lý luận và dẫn chứng của Phạm Trần Anh đầy tính thuyết phục và hợp lý khiến sau khi đọc xong phần trình bầy về chi tiết này trong tác phẩm ghi trên tôi tự cảm thấy nhẹ nhõm vì bao lâu nay vẫn ấm ức về chi tiết “khó tin” trong truyền thuyết về giai đoạn dưng nước của các vua Hùng.

Bây giờ xin sơ lươc trình bầy về tác phẩm của Phạm Trân Anh trước sau đó sẽ viết rõ hơn về chi tiết nêu trên.

( ... )

Cội Nguồn Việt Tộc là cuốn sách dầy 388 trang, in trên giấy trắng mịn, bìa in mầu đen, chính giữa là một hình vuông mầu vàng bên trong có hình mặt trống dồng Ngọc Lũ với hai mầu đỏ và vàng. Tên Sách in trên đầu trang bìa và tên tác gỉa in khá nhỏ ngay dưới ô vuông mầu vàng có hình mặt trống đồng. Dưới cùng là mấy chữ Việt Nam 2004. .... .

Về nội dung, sau các phần Giới thiệu dẫn nhập dưới hình thức một lá thư của Trần Thục Vũ gửi Phạm Trần Anh, phần giới thiệu tác phẩm của Trần Công Hàm cựu sinh viên tốt nghiệp khóa 8 ban Đốc Sự HV/QGHC, tức nhà văn Anh Thái Phượng, phần dẫn luận của nhà văn Hải Triều (hiện sống ở Canada) là 12 chương sách gồm :

1/ Huyền thoại Rồng tiên.
2/ Thời đại Hùng Vương.
3/ Quốc gia Văn Lang.
4/ Hiện thực lịch sử của quốc gia Văn Lang.
5/ Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng.
6/ Nguồn gốc tiếng Việt cổ.
7/ Nguồn gốc Việt tộc.
8/ Nguồn gốc dân tộc trong thư tịch cổ.
9/ Chủng tính Malaynesien của Việt tộc.
10/ Từ Malaynesien của Bách Việt.
11/ Đồng bào thiểu số của Việt tộc.
12/ Nguồn gốc Bách Việt của thổ dân châu Mỹ-Úc.

Chót hến là bài sử thi :”Rồng Tiên truyền thuyết sử thi” của Phạm Trần Anh.

Trong sách cũng có in vài bản đồ Trung Quốc thời cổ đại và một số hình chụp các cổ tự của Việt tộc, cả sơ đồ thành Cổ loa ở cuối sách.

Xuyên suốt 12 chương sách tác giả đã dẫn giải và minh chứng cho người đọc thấy rằng Việt tộc là một dân tộc xuất phát từ các hải đảo thuộc Châu Đại Dương ở phương Nam theo thời gian di chuyển dần lên phía Bắc, lập nghiệp ở phía Nam sông Hoàng Hà bên Tầu. Sau đó bị người Hán tộc dịnh cư ở phía Bắc sông Hoàng Hà đánh đuổi phải di chuyển dần xuống phía Nam.
Bằng những dẫn chứng về các khoa khảo cổ học, ngôn ngữ học, khoa khảo tiển sử học với các dẫn chứng bằng các tài liệu của viện Viễn Đông Bác Cổ, các khảo cứu của các nhà bác học như G. Coedès, nguyên Viện Trưởng Viễn Đông Bác Cổ (1962). Valois và G. Olivier. Các tài liệu của các học gỉa như Nguyễn Hiến Lê, nhà khảo cứu ngôn ngữ Bình Nguyên Lộc. Các nhà khảo cổ học Nguyễn Đình Khoa và Nguyễn Lân Cường (hiện ở trong nước) và nhiều nhà bác học và khảo cứu Trung Hoa và các quốc gia khác. Rồi với kết quả khảo cứu của các nhà khảo cổ học bằng phương pháp dùng Carbon C14 cũng như phương pháp đo chỉ số sọ của Việt tộc so sánh với Hán Tộc và các chủng tộc khác, Phạm Trần Anh đã chứng minh được rõ ràng nguồn gốc Việt tộc là chủng tộc lâu đời nhất xuất hiện ở vùng đất phía Nam Trung Hoa (phiá Nam sông Hoàng Hà và sau cùng do sự tấn công và lấn chiếm của Hán tộc, một tộc du mục xuất phát từ các vùng phía Bắc sông Hoàng hà, đã phải lui dần vế phương Nam và định cư tại châu thổ Bắc Việt ngày nay). Nguồn gốc của Việt tộc rõ ràng hoàn toàn khác hẳn Hán tộc là sắc dân du mục từ phương Bắc tràn xuống xây dựng nên nuớc Trung Hoa ngày nay. Việt tộc cũng là một sắc dân có ngôn ngữ, chữ viết từ thời cổ đại, có một nền văn minh khá cao, có một nền nông nghiệp trồng lúa nước rất sớm và văn minh, đã để lại các di sản như trống đồng, thuyền mũi cong, các nông cụ như lưỡi cầy bằng đồng v..v..
( ... )
Bây giờ xin đề cập đến chi tiết mà tôi cho là lý thú nhất là việc Phạm Trần Anh đã chứng minh được giai đoạn hơn 2600 năm của thời Hồng Bàng là “chính xác” và ĐÚNG:

Bàn về thời Hồng Bàng Phạm Trần Anh cho rằng các sử gia Hán tộc với quan niệm “Đại thống nhất”, tự cho mình là trung tâm của thế giới, cái rốn của nhân loại, Hán tộc là tộc ưu việt, nên trong kinh thi có câu :”Huệ thử Trung Quốc, dĩ tuy tứ phương”. Đó là chủ trương bành trướng của Hán tộc ”dĩ hạ biến di”, nghĩa là lấy cái cao thượng của Đại Hán để cải hoá man di. Chính vì vậy họ miệt thị các dân tộc khác, chủ trương tiêu diệt văn tự của các dân tộc khác. Âm mưu nô dịch văn hoá rồi tiến tới đồng hoá. Lợi dụng Hán tự là loại văn tự duy nhất của Hán tộc, các sử gia Trung Quốc từ cổ đại đến nay, thường tìm cách xuyên tạc, bóp méo sự thật, sửa đổi lịch sử của các dân tộc bị Hán tộc đàn áp hoặc đô hộ cho phù hợp với sử quan Đại Hán, mục đích để đánh đổ lòng tự hào của các dân tộc khác cho dễ bề đồng hoá và thống trị.

Theo Nguyễn Khắc Thuần thì tài liệu mang tên “Hùng Triều Ngọc Phả” cho biết họ Hồng Bàng truyền được 18 đời gồm :

1- Hùng Vương tức Lộc Tục.
2- Hùng Hiền tức Sùng Lãm.
3- HÙng Lân.
4- Hùng Việp.
5- Hùng Hy.
6- Hùng Huy.
7- Hùng Chiêu.
8- Hùng Vĩ.
9- Hùng Định.
10- Hùng Hy (chữ Hy này viết khác với chữ Hy ở đời thứ 5).
11- Hùng Trinh.
12- Hùng Võ.
13- Hùng Việt.
14- Hùng Anh.
15- Hùng Triều.
16- Hùng Tạo.
17- Hùng Nghị.
18- Hùng Duệ.

Từ trước đến nay “chúng ta” thường nghĩ rằng “đời” vua Hùng là giai đoạn sinh sống của một vị vua thuộc họ Hồng Bàng, cho nên với 18 đời vua mà thời gian kéo dài đến 2622 năm thì có vẻ rất vô lý.

Gần đây công trình nghiên cứu của Trần Huy Bá về Hùng Vương và sự tích “Hùng Triều Ngọc Phả” do Nguyễn Như Đỗ sống vào thời nhà Lê ghi rõ ràng như sau:”Thời đại Hùng Vương kéo dài 2622 năm gồm 47 đời vua”. Theo Hùng Vương Ngọc Phả thì chữ Đời vua dùng trong tài liệu này phải hiểu là chữ “thế” trong Hán tự không phải là một đời người mà là “một dòng gồm nhiều đời”. Riêng thế (hay đời) tức là chi Hùng Vương thứ 18, chi cuối cùng của thời đại Hùng Vương đã gồm 3 đời vua trị vì suốt 150 năm (?). Hiện nay ở Đình Tây Đằng, huyện Ba Vì, tỉnh Vĩnh Phú, còn bài vị “Tam Vị Quốc Chúa”. thờ 3 vị vua cuối cùng thuộc thế (tức đời hay chi) Hùng Vương thứ 18 này. Thế này chấm dứt vào năm 258TCN, tức là vào cuối đời nhà Chu bên Tầu.

Theo sự tích Ngọc Phả thì mỗi dòng vua được gọi là một “CHI”. Mỗi chi gồm nhiều đời vua và được xếp theo thứ tự bát quái và thập can như sau:

Càn, Khảm, Chấn Cấn, Khốn Ly, Khôn, Đoài và Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỳ, Canh,Tân, Nhâm, Qúy. Cũng theo sự tích Ngọc Phả này thì thời Hùng Vương gồm cả thảy 47 đời vua theo thứ tự như sau:


1/ Chi Càn: Kinh Dương Vương.
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên chép như sau:”Kinh Dương Vương là vị vua đầu tiên của nước Đại Việt ta, cùng với Đế Nghi ở phương Bắc lên ngôi năm 2879TCN”. Kinh Dương Vương húy là Lộc Tục, sinh năm Nhâm Ngọ (2919TCN), lên ngôi năm 41 tuổi, trị vì 86 năm từ năm Nhâm Tuất (2879TCN) đến năm Đinh Hợi (2794TCN).


2/ Chi Khảm: Lạc Long Quân.
Lạc Long Quân húy Sùng Lãm, tức Hùng Hiền Vương, sinh năm Bính Thìn (2825TCN), lên ngôi năm 33 tuổi. Chi này kéo dài 269 năm, từ năm Mậu Tý (2793TCN) đến năm Bính Thìn (2525TCN). Thời kỳ này được truyện cổ tích về họ Hồng Bàng Truyền Kỳ gọi là huyền sử Rồng Tiên. Tài liệu không ghi rõ là có mấy đời vua của chi này.

3/ Chi Cấn: Hùng Quốc Vương.
Hùng Quốc Vương húy Hùng Lân, thế này trị vì từ năm Đinh Tỵ (2524TCN) đến năm Bính Tuất (2253TCN), kéo dài 271 năm. Thời kỳ này chính là thời kỳ ở bên Tầu Hoàng Đế diệt Xuy Vưu, Du Võng mà cổ sử của Trung Hoa cho là khởi nguyên của dân tộc Hán. Tài liệu không ghi rõ là có mấy vị vua trong chi này.

4/ Chi Chấn: Hùng Hoa Vương.
Hùng Hoa Vương tức Hùng Bửu Lang. Lên ngôi năm Đinh Hợi (2254TCN) chi này trị vì suốt 342 năm, tức là đến năm 1712TCN, tài liệu cũng không ghi rõ gồm mấy vị vua.

5/ Chi Tốn: Hùng Huy Vương húy Bảo Lang sinh năm 2030TCN, lên ngôi năm 59 tuổi. Chi này kéo dài 200 năm tới năm 1771TCN. Không ghi rõ có mấy vị vua của chi này.

6/ Chi Ly: Hùng Hồn Vương.
Hùng Hồn Vương húy Long Tiên Lang, sinh năm 1740TCN, chi này gồm 2 đời vua kéo dài 81 năm đến năm 1690TCN.

7/ Chi Khôn: Hùng Chiêu Vương.
Hùng Chiêu Vương húy Quốc Lang, sinh năm 1502TCN, lên ngôi năm 12 tuổi. Chi này gồm 5 đời vua kéo dài 200 năm từ năm 1690TCN đến năm 1490TCN.

8/ Chi Đoài: Hùng Vĩ Vương.
Hùng Vĩ Vương húy Văn Lang, sinh năm 1466TCN, lên ngôi năm 31 tuổi. Chi này gồm 5 đời vua cả thảy là 100 năm, từ năm 1435TCN đến năm 1335TCN.

9/ Chi Giáp: Hùng Định Vương.
Hùng Định Vương húy Chân Nhân Lang, sinh năm 1381TCN, lên ngôi năm 45 tuổi. Chi này gồm 3 đời vua kéo dài được 80 năm từ năm 1336TCN đến năm 1256TCN.

10/ Chi Ất:Hùng Uy Vương.
Hùng Uy Vương húy Hoàng Long Lang, sinh năm 1294TCN, lên ngôi năm 37 tuổi, chi này gồm 3 đời vua kéo dài được 90 năm, từ năm 1257TCN đến năm 1167TCN.

11/ Chi Bính: Hùng Trinh Vương.
Hùng Trinh Vương húy Hưng Đức Lang, sinh năm 1218TCN, lên ngôi năm 51 tuổi. Chi này gồm 4 đời vua kéo dài 107 năm, từ năm 1168TCN dến năm 1061TCN.

12/ Chi Đinh: Hùng Vũ Vương.
Hùng Vũ Vương húy Đức Hiền Lang, sinh năm 1114TCN, lên ngôi năm 52 tuổi, chi này có 3 đời vua, kéo dài 96 năm từ năm 1062TCN đến năm 966TCN.

13/ Chi Mậu: Hùng Việt Vương.
Hùng Việt Vương húy Tuấn Lang, sinh năm 990TCN, lên ngôi năm 23 tuổi, chi này có 5 đời vua kéo dài 105 năm từ năm 967TCN đến năm 862TCN.

14/ Chi Kỷ: Hùng Anh Vương.
Hùng Anh Vương húy Viên Lang, sinh năm 905TCN, lên ngôi năm 42 tuổi, chi này có 4 đời vua kéo dài từ năm 863TCN đến năm 779TCN tức là 89 năm.

15/ Chi Canh: Hùng Triệu Vương.
Hùng Triệu Vương húy Chiêu Lang, sinh năm 745TCN, lên ngôi năm 35 tuổi, chi này gồm 3 đời vua kéo dài từ năm 780TCN đến năm 686TCN tức là được 94 năm.

16/ Chi Tân: Hùng Tạo Vương.
Hùng Tạo Vương húy Đúc Quân Lang, sinh năm 740TCN lên ngôi năm 53 tuổi, chi này có 3 đời vua kéo dài từ năm 687TCN đến năm 595TCN, tức là được 92 năm

17/ Chi Nhâm: Hùng Nghi Vương.
Hùng Nghi Vương húy Bảo Quang Lang, sinh năm 605TCN, lên ngôi năm 9 tuổi, chi này có 4 đời vua kéo dài từ năm 596TCN đến năm 336TCN tức là được 160 năm.

18/ Chi Qúy: Hùng Duệ Vương.
Hùng Duệ Vương húy Huệ Vương, sinh năm 350TCN lên ngôi năm 14 tuổi, chi này có 3 đời vua kéo dài từ năm 337TCN đến năm 258TCN tức là được 79 năm.(Không phải 150 năm)

Theo sự tính toán của người viết bài này thì chi cuối cùng này chi kéo dài 79 năm chứ không phải 150 năm và các chi từ chi Khôn tức là từ chi thứ 7 của thời Hùng Vương cho đến hết chi cuối cùng thứ 18, năm sinh và theo như sách của Pham Trần Anh ghi năm lên ngôi tính ra không phù hợp. Do đó trong bài viết này tôi đã ghi lại cho đúng. Tôi không rõ là tài liệu “Hùng Triều Ngọc Phả” mà Trần Huy Bá có được có ghi rõ ràng năm các vị vua đầu các chi lên ngôi hay không, và có ghi khi lên ngôi đã bao nhiêu tuổi như Pham Trần Anh ghi trong sách của anh hay không. Tôi đoán rằng có thể có, nhưng ghi theo âm lịch tức là tên năm chỉ gồm hai chữ, một của “thập can” và một của “thập nhị chi”, do đó đã khiến xảy ra sự kiện tính ra năm theo Tây Lịch không chính xác.

Dù sao đây là một phát giác vô cùng quan trọng đã giải toả được khúc mắc về sự kiện 18 “đời” vua Hùng mà chiếm đến 2622 năm như từ lâu nay các sử gia vẫn đổ cho truyền thuyết để “tạm” chấp nhận sự kiện “vô lý” này.

Sau hết tôi nghĩ rằng tác phẩm của Phạm Trần Anh là một tác phẩm sưu khảo rất có giá trị không những vế mặt lịch sử và văn hóa, mà còn là một tài liệu vô cùng qúy gía để chứng minh nguồn gốc của Việt tộc. Tuy nhiên do có những sai sót về thời gian ghi trên, thiết tưởng có hai sự kiện cần được các nhà nghiên cứu và thưc hiên nhất là tác gỉa cần làm là:

1/ Tìm cách xác nhân về thời gian trị vì và lên ngôi của các vua Hùng, cũng như tìm thêm tài liệu để xác minh những thiếu sót về các chi không rõ có bao nhiêu đời vua.

2/ Tác phẩm cần được in lại với công tác “biên tập” kỹ lưỡng hơn để xứng đáng với một công trình biên khảo công phu của tác giả.

Thanh Văn

Nguồn từ Blog của bạn Doremon
__________________
Tôi có một ham muốn tột bậc là...không ham muốn gì

Tại sao mệnh Thủy thành Hỏa hay Hỏa thành Thủy? vào đây khắc rõ
thichmactien is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 14-05-2007   #3
thichmactien
Hội viên
 
thichmactien's Avatar
 
Tham gia ngày: Oct 2005
Nơi Cư Ngụ: Vietnam
Bài gởi: 7.916
Thanks: 12
Thanked 422 Times in 253 Posts
Blog Entries: 5
Hằng năm vào dịp mồng mười tháng ba âm lịch, hàng triệu lượt đồng bào từ khắp mọi miền trong cả nước về Đền Hùng trẩy hội, thắp hương thơm thành kính lễ Tổ tiên, tưởng nhớ công đức to lớn của các Vua Hùng dựng nước.

Theo sử cũ và truyền thuyết để lại, nước Văn Lang ta lúc bấy giờ có 15 bộ lạc Lạc Việt sinh sống chủ yếu ở miền trung du và đồng bằng châu thổ sông Hồng. Hàng chục bộ lạc Âu Việt sinh sống ở vùng Việt Bắc. Do nhu cầu trị thủy, chống giặc ngoại xâm và do việc trao đổi kinh tế, văn hóa ngày càng được đẩy mạnh, giữa các bộ lạc gần gũi nhau về huyết thống có xu hướng tập hợp và thống nhất với nhau. Trong số các bộ lạc Lạc Việt, có bộ lạc Văn Lang là hùng mạnh hơn cả, lãnh thổ của bộ lạc này trải dài từ chân núi Ba Vì tới sườn Tam Đảo. Thủ lĩnh của bộ lạc Văn Lang đã giữ vai trò lịch sử là người đứng ra thống nhất các bộ lạc Lạc Việt dựng nên nước Văn Lang.

Hùng Vương với Quốc hiệu là Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu (nay là xã Hy Cương, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ), chia nước ra là 15 bộ (vốn là 15 bộ lạc trước đó) là:

1. Văn Lang (Bạch Hạc, Phú Thọ)
2. Chu Diên (Sơn Tây)
3. Phúc Lộc (Sơn Tây)
4. Tân Hưng (Hưng Hoá - Tuyên Quang)
5. Vũ Định (Thái Nguyên - Cao Bằng)
6. Vũ Ninh (Bắc Ninh)
7. Lục Hải (Lạng Sơn)
8. Ninh Hải (Quảng Yên)
9. Dương Tuyền (Hải Dương)
10. Giao Chỉ (Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình)
11. Cửu Chân (Thanh Hoá)
12. Hoài Hoan (Nghệ An)
13. Cửu Đức (Hà Tĩnh)
14. Việt Thường (Quảng Bình, Quảng Trị)
15. Bình Văn.

Đứng đầu nước Văn Lang là Hùng Vương. Ngôi Hùng Vương cha truyền con nối. Hùng Vương đồng thời là người chỉ huy quân sự, chủ trì các nghi lễ tôn giáo. Dưới Hùng Vương và giúp việc cho Hùng Vương có các lạc hầu, lạc tướng. Lạc tướng (trước đó là tù trưởng) còn trực tiếp cai quản công việc của các bộ. Kế tục nhà nước Văn Lang là Quốc gia Âu Lạc, ra đời đầu thế kỷ thứ III trước công nguyên do Thục Phán thay thế Hùng Vương đứng đầu Nhà nước gọi là Thục An Dương Vương. Năm 179 trước công nguyên, Âu Lạc rơi vào ách đô hộ của nhà Triệu, thời đại Hùng Vương kết thúc. Nhà nước Văn Lang của các Vua Hùng là nhà nước phôi thai đầu tiên của Việt Nam, còn rất đơn giản, mặc dù mới hình thành nhưng đã cố kết được lòng người. Hùng Vương là thủ lĩnh của Việt Nam thời kỳ bắt đầu dựng nước. Lãnh thổ sinh trưởng đầu tiên của tổ tiên là miền Bắc Việt Nam. Thời kỳ Hùng Vương là một giai đoạn rất quan trọng trong lịch sử dân tộc ta. Chính thời kỳ này đã xây dựng nên một nền tảng của dân tộc Việt Nam, nền tảng văn hoá Việt Nam và truyền thống yêu nước Việt Nam. Từ khối đoàn kết của toàn thể thành viên của một làng, nhân dân nước Văn Lang, nước Âu Lạc đã tiến đến khối đoàn kết toàn bộ nhân dân cả nước để một lòng đấu tranh chống thiên tai, địch hoạ, bảo vệ giống nòi, non sông, đất nước với tinh thần thượng võ và chiến thuật chiến tranh nhân dân chống ngoại xâm còn lưu truyền mãi đến muôn đời sau.

Trong thời kỳ bị thực dân Pháp thống trị, nhân dân 18 tỉnh, thành miền Bắc đã góp 6.000 đồng Đông Dương để đại tu Đền Hùng (từ 1918 đến 1922 thì hoàn thành) để có các công trình kiến trúc như hiện nay. Những năm sau Cách mạng Tháng Tám, Chính phủ Lâm thời đã cử Cụ Huỳnh Thúc Kháng, quyền Chủ tịch nước lên dự Giỗ Tổ năm đầu tiên (1946). Sau 9 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, mặc dù bận trăm công ngàn việc, Bác Hồ vẫn rất quan tâm đến việc giáo dục các thế hệ con cháu hướng về cội nguồn dân tộc. Trước khi về Hà Nội, Bác từ Thái Nguyên sang Đền Hùng nghỉ lại một đêm ở Đền Giếng, sáng ngày 19-9-1954, Bác gặp gỡ các chiến sĩ Đại đoàn 308 (Đại đoàn Quân Tiên phong) trước khi về tiếp quản Thủ đô Hà Nội, Bác Hồ đã căn dặn bộ đội phải ghi nhớ công lao của các Vua Hùng và trách nhiệm của thế hệ hôm nay trong công cuộc bảo vệ đất nước : "Vua Hùng là người có công dựng nước ta. Như vậy Vua Hùng chính là Ông Tổ của nước Việt Nam. Uống nước phải nhớ nguồn. Con cháu thì phải nhớ đến Tổ tiên. Ngày xưa, các Vua Hùng đã có công dựng nước. Ngày nay, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước! Đó mới chính là uống nước nhớ nguồn, mới là nhớ Tổ tiên vậy".

Do tính chất quan trọng của Khu di tích, năm 1963 Bộ Văn hóa đã xếp hạng Di tích Quốc gia, năm 1967 Chính phủ quyết định xếp hạng khu rừng Đền Hùng là Rừng cấm Quốc gia. Từ năm 1969, Ngày Hội Đền Hùng đã thu hút hàng triệu lượt người đến dự, rồi từ đó nhân dân quyên góp xây dựng công quán, Nhà nước đầu tư xây dựng Bảo tàng Hùng Vương, xây dựng cơ sở hạ tầng, tôn tạo khu di tích ngày càng khang trang khiến cho Đền Hùng và Giỗ Tổ Hùng Vương trở thành tâm thức, lẽ sống của người Việt Nam chúng ta.

Hội Đền Hùng là một lễ hội đặc biệt của dân tộc Việt Nam, người Việt về dự Giỗ Tổ tỏ lòng kính hiếu tôn trọng Tổ tiên, nhưng cũng để nhân thêm tình yêu thương con người, xứ sở, niềm tin vào cộng đồng của dân tộc Việt Nam.

Với lòng tôn kính các Vua Hùng, nhiều nơi trong cả nước đã lập đền thờ các Vua Hùng và vợ con các tướng lĩnh thời Hùng Vương.

Dưới bộ là các công xã nông thôn (bấy giờ có tên gọi là kẻ, chạ, chiềng) với người đứng đầu là các bộ chính (nghĩa là già làng). Theo ngọc phả Hùng Vương, có 18 chi Hùng Vương:

1. Chi Càn - Kinh Dương Vương, húy Lộc Tục, tôn dâng miếu hiệu là Hùng Dương - vị vua viễn tổ, 86 năm (từ 2879 - 2794 trước công nguyên).

2. Chi Khản - Lạc Long Quân, huý Sùng Lãm, thụy hiệu Hùng Hiền - vị vua cao tổ, 269 năm (từ 2793 - 2525 tr.CN).

3. Chi Cấn - Hùng Quốc Vương, huý Hùng Lân - vị vua mở nước, 282 năm (từ 2524 - 2253 tr.CN).

4. Chi Chấn - Hùng Hoa Vương, huý Bửu Long, 342 năm (từ 2252 - 1918 tr.CN).

5. Chi Tôn - Hùng Hy Vương, huý Bảo Lang, 200 năm (từ 1912 - 1713 tr.CN).

6. Chi Ly - Hùng Hồn Vương, huý Long Tiên Lang, 2 đời, 80 năm (từ 1712 - 1632 tr.CN).

7. Chi Khôn - Hùng Chiêu Vương, huý Quốc Lang, 5 đời, 200 năm (từ 1631 - 1432 tr.CN).

8. Chi Đoài - Hùng Vi Vương, huý Văn Lang, 5 đời, 80 năm (từ 1431 - 1332 tr.CN).

9. Chi Giáp - Hùng Định Vương, huý Châu Nhân Lang, 3 đời, 80 năm (từ 1331 - 1252 tr.CN).

10. Chi Ất - Hùng Uy Vương, huý Hoàng Long Lang, 3 đời, 90 năm (từ 1251 - 1162 tr.CN).

11. Chi Bính - Hùng Trinh Vương, huý Hưng Đức Lang, 4 đời, 107 năm (từ 1161 - 1055 tr.CN).

12. Chi Đinh - Hùng Vũ Vương, huý Đức Hiền Lang, 3 đời, 86 năm (từ 1054 - 969 tr.CN).

13. Chi Mậu - Hùng Việt Vương, huý Tuấn Lang, 5 đời, 195 năm (từ 968 - 854 tr.CN).

14. Chi Kỷ - Hùng Anh Vương, huý Viên Lang, 4 đời, 99 năm (từ 853 - 755 tr.CN).

15. Chi Canh - Hùng Triệu Vương, huý Cảnh Chiêu Lang, 3 đời, 94 năm (từ 754 - 661 tr.CN).

16. Chi Tân - Hùng Tạo Vương, huý Đức Quân Lang, 3 đời, 92 năm (từ 660 - 569 tr.CN).

17. Chi Nhâm - Hùng Nghi Vương, huý Bảo Quang Lang, 4 đời, 160 năm (từ 568 - 409 tr.CN).

18. Chi Quý - Hùng Duệ Vương, huý Huệ Lang, 150 năm (từ 408 - 258 tr.CN).

(Trích từ tài liệu Tuyên truyền của Ban Tư tưởng Văn hóa Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh
__________________
Tôi có một ham muốn tột bậc là...không ham muốn gì

Tại sao mệnh Thủy thành Hỏa hay Hỏa thành Thủy? vào đây khắc rõ
thichmactien is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 14-05-2007   #4
thichmactien
Hội viên
 
thichmactien's Avatar
 
Tham gia ngày: Oct 2005
Nơi Cư Ngụ: Vietnam
Bài gởi: 7.916
Thanks: 12
Thanked 422 Times in 253 Posts
Blog Entries: 5
Ngọc Phả Truyền Thư Của Từ đường Họ Nguyễn




Trích dịch: NGỌC PHẢ TRUYỀN THƯ CỦA TỪ ĐƯỜNG HỌ NGUYỄN (quyển thứ 2)

Năm Tân Mùi (971) niên hiệu Thái Bình, tháng Hai, ngày Tốt - Đinh Tiên Hoàng sai ta triệu tập 12 Sứ quân hợp nhất cùng tôn Đinh Bộ Lĩnh làm Vua (Thiên tử).

Đến ngày 20 tháng Hai (cùng năm) Đinh Tiên Hoàng cùng các khanh tướng đến nhà Tổ Bách Việt (miếu Hùng Vương) làm lễ dâng hương để báo ơn công đức. Lại phong ta cùng người em là Nguyễn Bặc làm Quốc công, lập ra các Ban, trùng tu miếu, điện, cấp tỉnh điền(1) Ruộng nằm ở giữa là của nhà thờ, cho người cày cấy ở 8 thửa xung quanh làm, nộp sản phẩm cho nhà thờ để lo việc đèn nhang đời đời về sau.

Thiết nghĩ, thân cây có muôn cành lá, vốn bởi ở gốc, nước có ngàn dòng vạn nhánh, vốn bởi ở nguồn. Mọi vật còn như thế, huống chi người ta sinh ra, đều thừa kế từ Tổ tiên ngày trước. Nay tiên tổ ta, lấy đạo CẦN (siêng năng) mà vun gốc, lấy đạo KIỆM (chắt chiu) mà mở rộng nguồn, đời đời tích lũy đức NHÂN, vậy nên cháu con nhờ đó mà nối được.

Là con cháu, há chẳng nhớ về ngọn nguồn xa xưa, vậy nay lập thành gia phả, ghi lấy mồ mả tổ tiên ta ở nơi nào, giỗ ngày nào, cho đến các cành nhánh, thế thứ đều có ghi chép để cho con cháu mai sau nối dõi, mãi mãi noi gương.
*
CÁC ĐỜI TỔ SƯ, XỨ CỬU LIÊN HOA (2)

Tổ ta từ núi Tản Viên xuống dựng nghiệp, làm các nghề: Thầy thuốc, làm ruộng, trồng dâu, nung gạch ngói, rèn kim khí ở miền Tây. Giáo hoá chúng sinh ở Tây Phương Cực Lạc, mở nhà truyền kinh, có công mở nước, có đức che chở cho dân, cho nên đời sau tôn làm Tiên Phật để cúng thờ. Cả thế giới chịu ơn lớn, cùng tôn sư trọng đạo, xin làm đệ tử đều nhớ về Tổ ta, chiêm ngưỡng ở các đền (thờ Thần), các chùa (thờ Phật).

Từ núi Tản Viên đến Tây Phương Cực Lạc, Sài Sơn, Thổ Ngoã, Phụng Châu, Tiên Lữ đến tướng địa Phong Châu tạo thành đất tứ linh: Long, Ly, Quy, Phụng; tam đầu (Tam Đảo, Ba Vì); cửu vĩ (9 miếu ở Phong Châu, đó là Cửu Long) truyền đời mãi mãi.

Dáng Tứ Linh, Cửu Long tượng trưng cho địa thế. Tổ ta định đô từ Lôi Bằng đến Lôi Phong, Lôi Đỉnh. (Lôi Bằng, đời sơ khai định đô, Lôi Phong đời Kinh Dương Vương; Lôi Đỉnh thời Triệu Vũ Đế).

Buổi sơ khai, tên nước là Cực Lạc. Phật hiệu là Di Đà, sinh ra ở Hoà Bình, nơi ở là núi Tản Viên, hoá ở Tây Phương Cực Lạc, mộ ở chân núi. Kỵ ngày Một tháng Tư.

Đế Thiên (Phục Hy) mộ ở Chợ Giời, Sài Sơn (Quốc Oai, Sơn Tây). Kỵ ngày mồng Bốn tháng Tư(3). Địa Mẫu (Mẹ Đất) mộ ở Cực Lạc, bên cạnh chân núi. Kỵ ngày mồng Một tháng Tư. Mẹ Đất dạy dân chuyên nghề làm ruộng, trồng dâu và chăm lo cứu khổ chúng sinh. Đời sau truy tôn là Địa Mẫu Chân Tiên.

Đế Viêm là người mở ra con đường văn minh sớm nhất: đã biết dùng lửa luyện kim, nung gạch ngói, biết se sợi, bện dây may mặc, biết phân định âm dương, ngũ hành, vạch quẻ bát quái.

Đế Viêm bị một học trò tên là Hiên Viên làm phản, đuổi Đế Viêm ra ngoài. Vì tuổi già sức yếu, ngài mất ở trên đường sang Phương Bắc. Bà vợ mất ở núi Thổ Ngoã.

Đế Khôi, hiệu là Thần Nông mất ở Phụng Châu, sau cải táng đưa về Tỉnh Trung, Đình Sở, huyện Quốc Oai (núi Tiên Lữ, đất Cổ Pháp). Mộ cụ Ông, cụ Bà đều ở khu này. Ngày kỵ mồng 6 tháng Sáu, trong các đền thờ Thần gọi là lễ hạ điền. (Trên toàn cõi Đông Nam Á, các ngày lễ đầu năm, cuối vụ thượng điền, hạ điền, cơm mới) đều dâng hương làm lễ để nhớ ơn.

Hữu Sào, Toại Nhân(4) là bạn thân của Đế Viêm. Khi Hiên Viên mưu phản làm loạn, hai ông cất quân đánh đuổi Hiên Viên ra khỏi bờ cõi. Từ đó, Hiên Viên tự lập bên Bắc Quốc, xưng là Hoàng Đế, đóng đô ở Trường An, khởi nghiệp, giáo hoá dân sinh. Hiên Viên đã học nghề làm ruộng, trồng dâu, học văn tự, luyện kim, nung gạch ngói bên nước Nam của Phục Hy.

Hữu Sào, Toại Nhân nhiếp chính giúp Thần Nông giữ nước, yên dân. Khi Thần Nông trưởng thành lên ngôi Thiên Tử, đóng đô ở Phụng Châu, Long Môn, Trầm Sơn (núi Trầm). Hai vị cáo tuổi già về quê ở Sào Vực, chợ Thổ Long, huyện Chương Mỹ, nuôi Quốc Mẫu Diệu Trinh nương và 3 vương tử văn võ toàn tài cùng giúp Thần Nông giữ yên muôn dân. Hai ông hoá ở nơi này.

Đế Tiết sinh ở Phụng Châu, hoá tại xã Thanh Lãm. Mộ tại Hoàng Anh Mộc. Kỵ ngày mồng 9 tháng Giêng. Các Hoàng hậu và Vương phi, mộ đều ở đây.Đế Thừa, huý Sở Minh công, sinh ở núi Sở (cho nên gọi là Sở Minh công) nối ngôi xưng Đế, hiệu là Đế Thừa, hoá ở núi Sở, Tiên La, châu Thuần Lãm. Các mộ của Hoàng Hậu, Hoàng Phi đều ở đây. Kỵ ngày mồng 1 tháng Sáu.Đế Minh (con trưởng của Đế Thừa), húy là Nguyễn Minh Khiết. Sinh ở tướng địa (đất quý) Tiên La, hoá ở Định Công (Hà Nội). Kỵ ngày 12 tháng Hai. Mộ ở chân núi Định Công. Hoàng Phi, mỹ nhân đều để mộ ở đây.

Đế Thừa (Sở Minh công) sinh được 3 con trai:

Thứ nhất là: Nguyễn Minh Khiết làm Đế Phương Nam.
Thứ hai là: Nguyễn Nghi Nhân là Đế Nghi, Phương Bắc.
Thứ ba là: Nguyễn Long Cảnh, còn gọi là Lý Lang Công. (tên khác là Ba Công, Long Đại Vương), hoá tại thôn Nguyệt Áng.

Đế Minh lấy Vụ Tiên nương (sinh ở Ngõ Hồ, hoá ở Phong Châu, mộ ở Nội Vũ, chùa Đại Bi, làng Ỷ La.

Đế Minh lấy thứ phi, hờ hững với Vụ Tiên nương nương. Bà cùng 8 người anh em đến động Tiên ở tỉnh Hoà Bình tu hành giáo hoá dân sinh. Khi Kinh Dương Vương trưởng thành lên nối ngôi, đón Thân mẫu về Phong Châu tu hành tại chùa Đại Lôi Âm. Ngày sinh mồng 8 tháng Tư, hoá ngày 15 tháng Bảy. Sau này Bà được tôn là Hương Vân Cái Bồ Tát, Sa Bà Giáo chủ có công sáng lập đạo hiệu Bà La Môn. Mộ ở Ỷ La, thành Đại La. Đạo Tiên tôn làm Thánh Mẫu đệ nhất tiên thiên.

Từ cổ đến nay chỉ có một nước. Nay phân là 3 nước, ắt phải có 3 vương, nên Kinh Dương Vương lấy 3 chữ Vương hợp lại thành chữ Quỷ, gọi tên nước là Xích Quỷ. Đời sau, gọi ba ông là Tam Toà Đức Chúa Ông, đạo tiên gọi là Phủ - Tam Phủ Công Đồng(5)


chú thích:

(1) Nguyên bản viết là "tỉnh điền". Có cách hiểu khác là ruộng cấy lấy hoa màu (hoa lợi) để cúng tế thì gọi là "tự điền", "tế điền".
2) Liên hoa: Nghĩa đen là hoa sen. Vậy nghĩa đen ở đây là chín toà sen.
(3) Cúng theo lệ vào mồng 4 tháng Tư. Tục lệ ở ta thường cúng giỗ vào trước ngày kỵ để tỏ lòng hiếu nghĩa.
- Theo truyền thuyết thì Đế Thiên (Phục Hy) thờ ở núi nơi có chùa Tây Phương ở thôn Yên(Yên thôn) xã Thạch xá, Thạch Thất, Hà Tây hiện nay. Cách đó vài trăm mét có đồi (núi) thuộc thôn Yên Lạc, xã Cần kiệm,Thạch Thất, Hà Tây, có chùa Cực Lạc, nơi thờ Địa Mẫu.
- Đế Viêm là Phục Hy: còn Đế Khôi, Thần Nông là một vị.
4)Theo các sách sử khác thì Hữu Sào và Toại Nhân chỉ là chuyện huyền thoại, không có thực.
5) Đạo Tiên hay gọi là đạo Nội, thờ tam toà Thánh Mẫu. Tam phủ gồm: Thiên phủ (trời), địa phủ và thuỷ phủ. Và sau thêm nhạc phủ (nhạc là núi rừng) đó là tín ngưỡng của người Việt cổ, tồn tại cho đến ngày nay.
Theo các sách sử khác thì Hữu Sào và Toại Nhân chỉ là chuyện huyền thoại, không có thực.

Nguồn từ website dòng họ Đỗ Việt Nam
__________________
Tôi có một ham muốn tột bậc là...không ham muốn gì

Tại sao mệnh Thủy thành Hỏa hay Hỏa thành Thủy? vào đây khắc rõ
thichmactien is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Trả lời


Ðang đọc: 1 (0 thành viên và 1 khách)
 
Ðiều Chỉnh
Xếp Bài

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn
Bạn không được quyền gởi bài
Bạn không được quyền gởi trả lời
Bạn không được quyền gởi kèm file
Bạn không được quyền sửa bài

vB code đang Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt
Chuyển đến