Hỏi/Ðáp Lịch Tìm Kiếm Bài Trong Ngày Ðánh Dấu Ðã Ðọc
Welcome
Trang Ðầu
Ghi Danh
Hỏi/Ðáp
Login Form
Nhà tài trợ
Công cụ
Thống kê
  • Ðề tài: 15,062
  • Bài gởi: 153,511
  • Thành viên: 4,745
  • Số người đang xem: 239
  • Xin cùng nhau chào đón abcde2011 là thành viên mới nhất.
Liên kết website
Go Back   chân thuyên > TÍN NGƯỠNG - TÔN GIÁO > TÔN GIÁO > Đạo Phật

Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
Old 21-01-2005   #1
Tịnh Ngọc
Kiểm Soát
 
Tham gia ngày: Aug 2004
Bài gởi: 2.384
Thanks: 0
Thanked 6 Times in 5 Posts
Về Chữ Vạn - Trước Ngực Tượng Phật




Pháp Như Lý Nhược Tam

Mỗi khi chúng ta có dịp đến lễ viếng chùa chiền, chiêm ngưỡng kim thân chư Phật, Bồ Tát, thường thì ngay trên bệ thờ giữa chánh điện tôn trí một pho tượng đấng Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni Phật, hoặc tam tôn tam thế Phật, bằng đủ mọi chất liệu đồng, gỗ, ciment, thạch cao.... tượng ngồi hoặc đứng, dáng thế uy nghi, từ bi viên mãn, và chúng ta rất dễ dàng trông thấy một dấu ấn trước ngực kim thân Phật, được người đời gọi là dấu chữ Vạn, biểu trưng cho thụy tướng của đấng Giác ngộ. Nhưng có tượng thì chữ vạn (*) quay phía trái thuận theo chiều kim đồng hồ, còn những tượng cổ xưa tại Việt Nam (còn rất ít) hoặc tượng trong một số chùa Trung Quốc đa phần dấu chữ vạn (*) quay phía phải ngược chiều kim đồng hồ. Vấn đề này sẽ có không ít người trong chúng ta không khỏi thắc mắc, muốn hiểu rõ ràng hơn.

Thử tìm hiểu xem, vấn đề này (dấu chữ vạn nhà Phật) có liên quan gì đến phù hiệu chữ "vạn" (*) của đảng Quốc xã nước Đức thời Hít-le? Thực ra, nếu chúng ta nhận xét kỹ sẽ thấy rõ nét khác nhau của hai hình chữ "vạn" này, hình chữ "vạn" của Phật giáo hướng quay về bên phải, ngược chiều kim đồng hồ, đó là một hình vẽ có từ xa xưa, trong tư tưởng Đông phương tượng trưng cho mặt trời và lửa, biểu ý tập trung sự rực rỡ kiết tường; các nhà tạo tượng Phật Trung Quốc thế kỷ 6, 7 đem áp dụng hình "*" này trang sức trên ngực tượng đức Thích Tôn, biểu trưng cho "thụy tướng" của đức Phật, dấu hình "*" này được truyền nhập từ Ấn Độ, tiếng Phạn là "Thất lỵ mạt tha lạc" tức Kiết tường hải vân tướng (Svastika = kiết tường). Ngài Cưu Ma La Thập thời Diêu Tần và ngài Tam Tạng Huyền Trang đời Đường đều dịch là chữ "Đức", và thời Bắc ngụy ngài Bồ Đề Lưu Chi thì dịch là chữ "vạn" hàm nghĩa là "công đức viên mãn". Như vậy dấu "*" trang sức này nó chất chứa ý niệm "tướng" hơn là "tự" (chữ), chúng ta có thể coi đó là "Kiết tường hải vân tướng" hoặc "Công đức viên mãn tướng" (một trong 32 tướng tốt của đức Phật, theo truyền thống kinh tạng), hay là tướng "*" (Đức, vạn), hình quay hướng bên phải ngược chiều kim đồng hồ, nó ứng hợp với dấu tướng "Bạch hào" giữa hai hàng mi đức Phật, chòm lông trắng (Bạch hào) này cũng cuộn tròn về phía phải, ngoài ra trong nghi thức lễ sám của Phật giáo: nhiễu Phật, nhiễu pháp cũng đều hướng về phía phải nhiễu hành" (theo Trung Quốc Phật tượng nghệ thuật, Nhà XB Trung Quốc Thế giới ngữ, 1993).

Mặc dầu vậy, cho tới ngày nay người ta cũng vẫn quen gọi tướng "*" là chữ "vạn", có thể thông tục này có từ năm trường thọ thứ 2 triều Võ Hậu Tắc Thiên (CN 693) đời Đường, bà chiếu chỉ khâm định dấu "*" đọc là chữ "vạn" (mười ngàn) dùng là biểu ý của "Vạn đức kiết tường", hình vẽ quay về bên phải "*" là chính, quay về bên trái "*" là sai, đến nay đã thành truyền thống? Và phải chăng chính từ hình chữ "vạn" này mà nảy sinh sự liên quan đến phù hiệu chữ "vạn" của đảng Quốc Xã Đức Hít-le? Tại sao? Theo thiển kiến đó là do ngộ nhận hình "*" này là chữ "vạn"? Vì nó cũng mường tượng vơí chữ "vạn "Phật giáo, cách gọi của dân một số nước có hấp thụ nên văn hóa Trung Hoa, và tại Việt Nam thời kỳ thế chiến thứ hai bùng nổ, quân Đức hoành hành tại Âu châu, lúc ấy người viết còn nhớ như in cái câu "lá cờ chữ vạn của phát xít Đức". Như vậy thời bấy giờ người ta đã đồng hóa hai chữ "vạn" như nhau, bởi không biện biệt tận tường sự khác nhau của hai chữ vạn "*" nên nảy sinh vấn đề. Ở đây người viết muốn nói đến cái sự lầm lẫn lộn vàng thau này dẫn đến ngày nay tại Việt Nam có không ít tượng Phật với thụy tướng "*" quay phía trái.

Thật ra ở phương Tây người ta gọi đảng huy của Đức Quốc xã là chữ "thập ngoặc" (coix brisée), Đảng Quốc xã Hít-le dùng 2 chữ "S", chữ đầu của hai từ "State" (quốc gia) và "Social" (xã hội) đặt tréo nhau "*" làm đảng huy với màu đen trên nền trắng, màu của tang tóc chết chóc (theo Tây phương) và nó cũng xuất hiện từ thập niên 30, 40 của thế kỷ 20 này thôi, còn hình "*" mới đúng là chữ "vạn" (theo văn hóa Ấn Độ và Trung Hoa), thụy tướng của đấng Giác ngộ mà các nhà tạo tượng Phật Trung Quốc áp dụng trang sức trước ngực tượng kim thân Đức Phật, thông thường họ úng màu vàng kim cho biểu tượng này. Chúng ta cũng nên biết màu vàng kim là màu tôn quý của người Ấn Độ và Trung Hoa, có nghĩa là đoan trang và mang đến vinh hoa kiết tường. Biểu tượng thụy tướng đức Phật xuất hiện trong các tự viện Phật giáo trên ngàn năm nay, như vậy vấn đề đã sáng tỏ, Phật giáo đồ chúng ta nên chấn chỉnh lại sự lẫn lộn đã tạo ra một số tượng Phật không ít tại các chùa chiền ngày nay. Dấu thụy tướng trên kim thân đức Phật lẫn lộn với dấu hiệu "thập ác bất xã, tai ương nhân loại" của phát xít Đức.
Tịnh Ngọc is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 26-01-2005   #2
Tịnh Ngọc
Kiểm Soát
 
Tham gia ngày: Aug 2004
Bài gởi: 2.384
Thanks: 0
Thanked 6 Times in 5 Posts
NAMO AMITABHA








NGUYỆN ĐEM CÔNG ĐỨC NÀY
HƯỚNG VỀ KHẮP TẤT CẢ
ĐỆ TỬ VÀ CHÚNG SANH
ĐỀU TRỌN THÀNH PHẬT ĐẠO
Tịnh Ngọc is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 26-01-2005   #3
Chính Ấn
Ô hô tiên sinh
 
Chính Ấn's Avatar
 
Tham gia ngày: Jul 2004
Bài gởi: 4.841
Thanks: 33
Thanked 263 Times in 187 Posts
Blog Entries: 15
Cảm ơn chị Tịnh Ngọc, hình ảnh đẹp quá. Nhìn hoài không chán.
Chính Ấn is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 26-01-2005   #4
Tịnh Ngọc
Kiểm Soát
 
Tham gia ngày: Aug 2004
Bài gởi: 2.384
Thanks: 0
Thanked 6 Times in 5 Posts
TƯỢNG PHẬT A DI ĐÀ
(Buddha Amita)


DANH HIỆU.


Đức Phật A Di Đà là vị giáo chủ ở cõi Cực-lạc phương tây A Di Đà có nghĩa vô lượng quang, vô lượng thọ. Nghĩa là hào quang và tuổi thọ của Ngài không thể lường được.


TIỀN THÂN.


Thời đức Phật Thế Tự Tại Vương, có vị quốc vương tên Kiều Thi Ca nghe Phật thuyết pháp liền bỏ ngôi vua xuất gia làm Tỳ-kheo hiệu là Pháp Tạng. Một hôm, Ngài đảnh lễ Phật cầu xin chứng minh cho Ngài phát 48 lời nguyện. Do nguyện lực ấy, sau này Ngài thành Phật hiệu A Di Đà ở cõi Cực-lạc. (Kinh Đại A Di Đà) Lại, một thuở xa xưa ở cõi San Đề Lam có ông vua tên Vô Tránh Niệm. Do đại thần Bảo Hải khuyến tiến, nhà vua gặp đức Phật Bảo Tạng, thành tâm cúng dường, quy y thọ giáo. Nhà vua phát nguyện sau này thành Phật sẽ làm giáo chủ một cõi cực kỳ trang nghiêm thanh tịnh để giáo hóa chúng sanh. Đức Phật Bảo Tạng thọ ký cho Ngài sau này sẽ thành Phật hiệu A Di Đà, cõi nước tên Cực-lạc ở phương Tây. Hiện giờ Ngài đã thành Phật và đang thuyết pháp tại đó. (Kinh Bi Hoa)


HẠNH NGUYỆN.


Đức Phật A Di Đà xưa phát 48 lời nguyện lớn, trong đó có lời nguyện sẵn sàng tiếp dẫn chúng sanh nào niệm danh hiệu của Ngài. Dù người ấy chỉ niệm mười câu danh hiệu Ngài, Ngài cũng tiếp dẫn vãng sanh về cõi Cực-lạc.


BIỂU TƯỚNG.


Đức Phật A Di Đà thường thờ có hai tượng: Tượng ngồi kiết già trên tòa sen, tay kiết định ấn, tương tự tượng Thích Ca. Tượng đứng trên hoa sen lơ lửng trong hư không, bên dưới là bể cả sóng dậy chập chồng, mắt Ngài nhìn xuống, tay mặt đưa lên ngang vai, tay trái duỗi xuống như sẵn sàng chờ đợi tiếp cứu những người đang trầm mịch. Tượng ấy gọi là tượng Di Đà phóng quang.


THÂM Ý.


Chúng ta cần tìm hiểu ý nghĩa tượng phóng quang này. Theo trong mật giáo giải thích: tay mặt Phật đưa lên biểu thị tứ thánh (Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát, Phật), tay trái duỗi xuống biểu thị lục phàm (Thiên, nhơn, A-tu-la, súc sanh, ngạ quỉ, địa ngục). Nghĩa là Ngài sẵn sàng tiếp độ lục phàm đưa lên quả vị tứ thánh. Ý nghĩa hình tượng này, chúng ta thấy rõ hơn, qua bốn câu kệ tán dương Ngài:


Ái hà thiên xích lãng,
Khổ hải vạn trùng ba;
Dục thoát luân hồi lộ,
Tảo cấp niệm Di Đà.


Tạm dịch:


Sông ái sóng ngàn thước,
Bể khổ dậy muôn trùng;
Kiếp luân hồi muốn thoát,
Sớm gấp niệm Di Đà.


Chúng ta là những chúng sanh đang đắm chìm trong sông ái, nước mắt đau thương thống khổ tràn trề như bể cả. Đức Phật Di Đà đang đứng chực trong hư không, đã duỗi cánh tay vàng chờ đợi cứu vớt chúng ta. Nhưng chúng ta có chịu ngoi đầu lên khỏi dòng sông ái, đưa tay cho Ngài cứu vớt hay không? Hay cứ mãi lặn hụp trong sông mê bể ái, để đức Phật mãi đợi chờ mà không có một sự đáp ứng nào? Cánh tay vàng kia cứ duỗi thẳng đợi chờ, mà đàn con dại này mãi say mê lội đuổi bắt những hòn bọt, lặn mò bóng trăng. Để rồi bị sóng cuốn nước trôi càng ngày càng ra khơi, khiến người mẹ hiền kia đã lạc giọng kêu gọi.


Kinh chép:


Các đức Như Lai trong mười phương nhớ thương chúng sanh như mẹ nhớ con. Nếu con trốn mẹ thì cái nhớ ấy cũng không ích gì. Nếu con nhớ mẹ như mẹ nhớ con thì mẹ và con trong đời này, trong các đời sau quyết không xa nhau. Nếu tâm chúng sanh nhớ Phật niệm Phật thì trong hiện tại và ở tương lai nhất định thấy Phật, cách Phật không xa... (Kinh Lăng Nghiêm, chương Đại Thế Chí niệm Phật).
Hai người cùng hướng mặt về nhau mà đi, dù điểm phát xuất cách xa thế mấy, nhưng cũng được gặp nhau. Nếu hai người trở lưng mà đi, dù khi khởi hành họ ở bên cạnh nhau, song càng đi họ càng xa nhau. Đức Phật luôn luôn hướng về chúng ta, nếu chúng ta cứ né trốn Ngài thì làm sao gặp được Phật. Đáng lý chúng ta có cảm thì Phật mới ứng song ở đây đức Phật sẵn sàng ứng, mà chúng ta không chịu cảm, thật đúng câu Phật quở: "các ông là người mê muội đáng thương".
Người phát tâm tu Tịnh độ tin chắc đức Phật đang chờ đợi tiếp đón chúng ta về cõi Cực-lạc (tín), gắng công niệm Phật (hạnh), mong mỏi được sanh về cõi Phật (nguyện). Có đủ ba yếu tố này nhất định sẽ vãng sanh về Cực-lạc.
Hình ảnh đức Phật A Di Đà là hình ảnh mong chờ đón tiếp. Chúng ta phải sớm thức tỉnh nhận chân sự khổ đau, trong khi đang đắm chìm trong bể ái, để quay về với đức Từ bi. Phật là hiện thân cứu khổ, chúng ta là thực thể khổ đau. Một ngày nào chúng ta không còn đau khổ, ngày ấy đức Phật sẽ không còn duỗi tay chờ đợi cứu vớt chúng sanh.


Tịnh Ngọc is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 27-01-2005   #5
dungkq
Kiểm Soát Chung
 
Tham gia ngày: Jul 2004
Bài gởi: 10.224
Thanks: 34
Thanked 1.760 Times in 1.039 Posts
sao cái tai của Phật lại to thế hỉ? có ai biết tị sao hông..:D...nói cho tui biết với....
__________________
Thiên nhất sinh thuỷ.
dungkq is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 29-01-2005   #6
a
Hội viên
 
Tham gia ngày: Aug 2004
Bài gởi: 267
Thanks: 0
Thanked 3 Times in 3 Posts
Nhìn vào tai ( đặc biệt là thùy châu), biết được Phúc . Theo thời gian, Tai của chúng ta cũng sẽ có sự thay đổi :p, a tự nghiệm thấy thế hihihi
a is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 29-01-2005   #7
a
Hội viên
 
Tham gia ngày: Aug 2004
Bài gởi: 267
Thanks: 0
Thanked 3 Times in 3 Posts
cám ơn Tinh Ngoc đã gửi bài này.Thân ái :D
a is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 29-01-2005   #8
dungkq
Kiểm Soát Chung
 
Tham gia ngày: Jul 2004
Bài gởi: 10.224
Thanks: 34
Thanked 1.760 Times in 1.039 Posts
Trích:
Nguyên văn bởi a
Nhìn vào tai ( đặc biệt là thùy châu), biết được Phúc . Theo thời gian, Tai của chúng ta cũng sẽ có sự thay đổi :p, a tự nghiệm thấy thế hihihi
hi...hi...:D ..cảm ơn a nhé, vậy mà nhìn tai của Phật tự nhiên tui lại liên tưởng đến chuyện cổ tích Cô gái quàng khăn đỏ mới kỳ chứ........tệ quá...tệ quá...
__________________
Thiên nhất sinh thuỷ.
dungkq is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 29-01-2005   #9
Tịnh Ngọc
Kiểm Soát
 
Tham gia ngày: Aug 2004
Bài gởi: 2.384
Thanks: 0
Thanked 6 Times in 5 Posts
Trích:
Nguyên văn bởi dungkq
hi...hi...:D ..cảm ơn a nhé, vậy mà nhìn tai của Phật tự nhiên tui lại liên tưởng đến chuyện cổ tích Cô gái quàng khăn đỏ mới kỳ chứ........tệ quá...tệ quá...
Tại sao Dũng lại liên tưởng đến điều đó vậy ??? A Di Đà Phật. Thiện tai ! Thiện tai !
Tịnh Ngọc is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Trả lời


Ðang đọc: 1 (0 thành viên và 1 khách)
 
Ðiều Chỉnh
Xếp Bài

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn
Bạn không được quyền gởi bài
Bạn không được quyền gởi trả lời
Bạn không được quyền gởi kèm file
Bạn không được quyền sửa bài

vB code đang Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt
Chuyển đến