Hỏi/Ðáp Lịch Tìm Kiếm Bài Trong Ngày Ðánh Dấu Ðã Ðọc
Welcome
Trang Ðầu
Ghi Danh
Hỏi/Ðáp
Login Form
Nhà tài trợ
Công cụ
Thống kê
  • Ðề tài: 15,064
  • Bài gởi: 153,514
  • Thành viên: 4,745
  • Số người đang xem: 125
  • Xin cùng nhau chào đón abcde2011 là thành viên mới nhất.
Liên kết website
Go Back   chân thuyên > ĐÔNG PHƯƠNG DỰ ĐOÁN HỌC > ĐỊA LÝ PHONG THUỶ > Chuyên mục nghiên cứu

Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
Old 25-07-2006   #1
dienbatn
Hội viên
 
Tham gia ngày: Aug 2004
Nơi Cư Ngụ: Vietnam
Bài gởi: 891
Thanks: 0
Thanked 13 Times in 13 Posts
Những Giai Thoại Về đặt Mộ Phần




NHỮNG GIAI THOẠI VỀ ĐẶT MỘ PHẦN
Nguồn TUVILYSO VÀ THUVIENVIETNAM - dienbatn giới thiệu .

MẢ TÁNG TREO

Từ Lương Đường đến Lương Ngọc

" Nhật Nguyệt Linh Khí tụ,
" Ngũ Phụng triều dương lai,
" Thập Bát Tiến Sĩ, Tam Tể Tướng,
" Tử Tôn vinh hiển, mãn cân đai."

của Quán Trung Lang


Đồng bào Bắc Việt nói chung và bà con tỉnh Đông nói riêng, hẳn không mấy ai không biết, hay nghe nói đến một lần, về ngôi mả Vũ Hồn, một ngôi mả mà hài cốt không chôn sâu dưới ba thước đất như vạn, triệu mộ phần khác, mà lại được táng treo theo một phương pháp rất quái dị, thuộc địa phận làng Lương Đường.

Làng Lương Đường ở phủ Bình Giang tỉnh Hải Dương, vốn là một đất Văn học, từng là nơi chôn nhau cắt rún của nhiều vị danh sĩ, mà sự nghiệp về văn chương đã thành bất tử, như ông Phạm Quý Thích ngày xưa và Phạm Quỳnh gần đây.

Theo lời các vị bô lão thuật lại thì hình như sau một nạn lụt nặng nề, hai chữ Lương Đường, đã được đổi lại là Lương Ngọc.

Điểm đặc biệt đáng lưu ý là dân cư làng này mỗi khi di cư đến lập nghiệp ở đâu, phần nhiều đều thành lập được một làng Lương Ngọc phụ, quy tụ những bà con thân thích, có xây dựng đình riêng để thờ vọng thần hoàng, như ở Hà Nội có đình Lương Ngọc tọa lạc tại phố Hàng Bông (ngoài cửa cho một tiệm bazar mướn), ở Bắc Ninh cũng có một làng Lương Ngọc nữa...

Những làng Lương Ngọc phụ, hết thảy đều được tổ chức như ở xã chính : cũng có hội đồng Hương Chính, cũng có ngôi thứ chốn đình trung để hàng năm cứ đến ngày hội hè, cúng lể ở xã chính, các nơi phụ, cũng cử hành cuộc tế lể rất trọng thể, rồi cử một phái đoàn về tham dự cuộc tế lể ở xã chính tại tỉnh Hải Dương.

Trước hiệp định Giơ-neo, ngôi mả táng treo vẫn còn nguyên vẹn chiếm một khu vực khá rộng, cây cối um tùm, dây leo chằng chịt, trông xa giống hệt một khu rừng nhỏ.

Vẫn theo lời truyền tụng của những ông già bà cả sở tại mà giai thoại từng được phổ biến sâu rộng, hầu như một câu chuyện thần kỳ, làm đầu đề sôi nổi, lý thú trong những lúc trà dư tửu hậu của mọi người, thì kiểu đất có ngôi mộ táng treo là kiểu đất Ngũ Phụng triều Dương, do một thầy địa lý chính tông từ Trung Quốc qua đây tìm được, định dùng để an táng hài cốt tổ phụ, nhưng vì nhiều lẽ huyền bí, dị kỳ, nhà phong thủy tàu không làm chủ được ngôi đất quý, buộc lòng phải nhường lại nơi quý địa cho Vũ Hồn, hy vọng được "ăn có" với họ Vũ một phần nào sự phước trạch kết phát.

Tất cả những sự bí ẩn của ngôi mả táng treo, đều tóm tắt trong mấy câu tổng kết của nhà Phong thủy Trung Hoa, lưu lại cho gia đình họ Vũ, trước khi lão đem một đứa con họ Vũ về Tàu :

" Nhật Nguyệt linh khí tụ,
" Ngũ Phụng triều dương lai,
" Thập Bát Tiến Sĩ, Tam Tể Tướng,
" Tử Tôn vinh hiển, mãn cân đai. !"

Những lời tổng kết trên, còn được ghi rõ trong cuốn gia phả của dòng họ Vũ Hồn (chỉ có con cháu thuộc về dòng họ chính của Vũ Hồn, mới có gia phả ghi chú rõ ràng sự linh ứng của ngôi mả táng treo, các ngành họ Vũ khác, mặc dầu vẫn có liên hệ với ngành Vũ Hồn nhưng không được biên chép đầy đủ.)
LONG MẠCH TỪ DÃY THẬP VẠN ĐẠI SƠN...
Một người Trung Hoa họ Vương, nguyên quán tại tỉnh Triết Giang, được thụ hưởng một nền học vấn chân truyền về môn phong thủy, vì ông cha y từng đặc biệt nghiên cứu khoa học thần bí ấy từ ba đời trước.

Nghe đồn ở miền Thập Vạn Đại Sơn có nhiều kiểu đất đế vương hay phát công hầu, khanh tướng, họ Vương liền thu xếp hành trang mạo hiểm đi đến tận nơi, lang thang suốt một năm trời ròng rả, vất vả, gian lao, nhiều lúc tưởng như nguy hiểm tới tính mạng, mới tìm được một " tổ sơn " rất quý : chỗ phát sinh một long mạch, mà nếu đo kiêm được chính huyệt, nhất định sẽ nắm được sự kết phát trong tay.
Lần theo sự vận hành, di chuyển của mạch đất, họ Vương đến phủ Bình Giang, tỉnh Đông vào một ngày cuối mùa thu về đời vua Trần Nhân Tôn.

Thấy long mạch vận chuyển đến phương Nam, rồi kết tụ ở vùng Lương Đường, họ Vương mừng rỡ như người sắp chết đuối bỗng vớ được mảnh gổ trôi giữa dòng sông, vội đi tìm chỗ tạm trú, ý muốn ở lại lâu ngày, để dò tìm kiếm cho ra chính huyệt, vì tuy biết long mạch kết tụ ở đất Lương Đường, nhưng cả một vùng đồng ruộng, gò, đống mênh mông, bát ngát, mà mới chỉ quan sát sơ qua, họ Vương biết sao được huyệt chính ở chỗ nào, mặc dầu y là nhà phong thủy chính tông rất tinh thông về môn địa lý ?

Vốn là người học thức, lanh lợi, bặt thiệp, họ Vương mua sắm ít lể vật, tìm vào chỗ mấy bô lão, hương chức trong làng, để ngỏ ý muốn xin ở lại đất này để sinh cơ lập nghiệp.

Các quan chức dịch, chức sắc sở tại vui vẻ chấp thuận ngay lời yêu cầu của chú khách.

Một ông cựu phó Tổng còn tỏ ý sốt sắng hứa cho họ Vương ở nhờ thửa đất còn thừa ngay tại phía sau nhà ông ta, chỉ cách ngôi chợ trong làng có ít bước, rất tiện lợi cho sự đi lại, buôn bán.

Họ Vương chỉ cần tốn ít tiền, mua tre, nứa, làm sơ sài một căn nhà lá, là đã có thể ở tạm được, để lấy chỗ buôn bán, sinh sống hàng ngày rất dễ dàng.

Họ vương hớn hở, ưng thuận liền, hai ba lần cảm tạ ông phó tổng, rồi sau đấy, lại đưa ngay tiền nhờ ông phó tổng lo liệu giúp việc đắp nền, làm nhà, viện cớ : y lạ lùng, bở ngở, ông phó tổng đã thương thì xin thương cho trọn vẹn, mai sau, nếu có cơ ăn nên làm ra, y sẽ không dám quên công ơn trời biển ấy.

Đồng tiền đã có sức vạn năng !

Chỉ ba hôm sau, trên nền đất của ông phó Tổng cựu, đã mọc lên một căn nhà tuy nhỏ hẹp, nhưng xinh xắn, gọn gàng.

Và, đến phiên chợ sau, căn nhà đó, lại biến thành tiệm thuốc bắc Quảng An Đường, do họ Vương làm chủ.
Nhờ đức tính cần mẩn, siêng năng, học vấn uyên bác, thầy lang họ Vương, chẳng mấy chốc đã mua chuộc được cảm tình của dân cư sở tại, và luôn cả bà con mấy làng tổng kế cận.

Nhất là từ khi, nhờ thuốc của " Chú Chệt gầy", một số người mắc chứng nan trị, hay vào loại thập tử nhất sinh, được chửa khỏi, thì họ Vương đã nghiểm nhiên là một danh y, nổi tiếng như cồn ở khắp phố Bình Giang.
Nhưng có điều lạ, là thấy lang chỉ tiếp các con bệnh từ sáng sớm cho đến tối mịt, còn từ lúc đỏ đèn trở đi, thì dù con bệnh có khẩn cầu, nài ép đến đâu, thầy lang cũng đóng chặt cửa, không chịu đi mà cũng chẳng chịu mở cửa bao giờ !

Lúc đầu, nhiều người bất bình trước thái độ mà họ cho là kiêu căng, cậy mình " mát tay", được "thánh cho ăn lộc" lại lên mặt hợm hỉnh, cố tình làm khó dễ con bệnh.

Có người đa nghi hơn, còn cho sự bế môn, trục khách ấy, hẳn đã bao hàm một hành động gì bí mật khả nghi.

Nhưng lâu dần rồi cũng quen, không ai còn bàn ra tán vào, thì thầm, dị nghị nữa, mà người nọ còn bảo cho người kia biết rõ ràng về giờ khắc "Chú chệt gầy" bốc thuốc, chẩn mạch, để người nhà hay các bệnh nhân ở xa khỏi phải tốn công đi lại, chầu chực, đợi chờ vô ích. !

Dân cư quanh vùng, không một ai ngờ rằng : đêm nào thầy lang họ Vương cũng chờ cho thiên hạ, đâu đó đắm chìm vào giấc ngủ say sưa, mới lặng lẻ, khoác bộ y phục dạ hành ra đi, bước chân nhẹ nhàng nhưng chắc nịch và nhanh nhẹn dị thường, không gây ra một tiếng động nhỏ nào khả dỉ làm kinh động mọi người, nhất là những đàn chó rất thính tai và tinh mắt.

Như một khách dạ hành mô tả trong những cuốn tiểu thuyết kiếm hiệp Trung Hoa, họ Vương thoăn thoắt bước nhanh trên con đường đất gồ ghề, mặc dầu màn đêm bao trùm khắp nơi, tối đen như mực, không nghe qua một tiếng động nhỏ nào, ngoài tiếng gió vi vu xào xạc và côn trùng rên rỉ ở các hồ ao.

Tiến thẳng ra cổng Đông, thầy địa lý Tàu đi tuốt sang con đường lớn trước mặt, rồi rẻ luôn xuống cánh đồng Lương Ngọc, lần bước theo những bờ ruộng khập khểnh tới gần một trống canh mới ngừng chân giữa một vùng gò đống mấp mô, mà trước đấy, hắn đã nhiều lần qua lại, nhớ kỹ cả địa hình, địa thế khắp chung quanh.

Tìm một gò đất cao nhất, họ Vương đưa mắt nhìn bốn phía, nhận xét được rõ ràng cả từ lùm cây bụi rậm, cũng như hình thể các thửa ruộng trước mặt, vì họ Vương vốn là một võ sỹ, am hiểu hết các môn nội ngoại công phu, tinh thục quyền cước và đặc biệt hơn hết còn luyện được cặp mắt cực kỳ sáng suốt có thể nhìn vào bóng đêm mà vẫn phân biệt được rành mạch các đồ vật nhỏ nhất như giữa ban ngày.

Họ Vương gật đầu lẩm bẩm nói một mình :

- Quả thật không uổng công lao dầm mưa giải nắng, lặn lội gió sương từ ngót một năm trời nay gian khổ. Đúng là kiểu đất Ngũ Phụng Triều Dương mà tổ sơn đã phát nguồn từ Thập Vạn Đại Sơn, không ngờ long mạch vận chuyển nhiều khe, băng ngang qua hàng trăm ngàn dãi đồi núi trập trùng, quanh co mãi mới chịu ngừng lại kết tụ tại đây, để dành cho dòng họ Vương hưởng thụ.
Nhìn năm gò đất, tuy nằm rải rác khắp cả cánh đồng, nhưng hết thảy đều hướng đầu vào chiếc gò cao nhất về sống lưng, y mừng thầm, lấy chiếc la kinh bọc kỹ trong chiếc khăn gói nhỏ đeo trên vai, ra xem phương hướng.

Khi đã phân biệt được rõ ràng vị trí nơi mình đứng, họ Vương mới dùng tróc long làm phép hô thần...

Trời đất đang đắm chìm trong cảnh tỉnh mịch âm u, giữa tấm màn đêm bao la vô tận, chợt nổi lên một trận gió ào ào, làm lúa ruộng cùng một lúc chuyển động rào rào, như những tiếng reo hò của trăm vạn quân hùng tráng.

Rồi chớp giật lia lịa, tỏa ánh sáng xanh lè rợn người, như báo hiệu một cơn mưa dử dội.

Thầy địa lý sửng sốt trước hiện tượng lạ lùng ấy, vì suốt từ ban ngày tới bây giờ, bầu trời không có một triệu chứng gì bất thường, khả dĩ gọi được là có điềm mưa to, gió lớn.

Nhất là từ lúc chập tối, họ Vương có ý riêng, đã chăm chú xem thiên tượng, thấy nền trời xanh ngắt, cao vòi vọi, từng đám mây xám nhạt, lững lơ bay lượn, trông đẹp mắt lạ lùng.
Vậy mà chỉ phút chốc, cảnh trời quang mây tạnh bỗng biến mất để nhường chỗ cho gió giăng chớp giật, hung hãn dữ dội như sắp nổi cơn giông tố phủ phàng.
Còn đang kinh nghi với những ý nghĩ bâng khuâng, lo lắng ấy, thì một tiếng sét lỡ đất, lỡ đất long trời bỗng nổ lên ngay trước mặt, tia lữa văng tung toé như ánh điện quang, làm họ Vương hoảng hốt nhắm nghiền mắt lại, đưa cả hai tay lên bịt chặt lấy lổ tai rồi cứ thế băng mình chạy vội vào tạm trú trong một cái quán hoang của nông dân sở tại dựng nên, để lấy chỗ nghỉ chân những buổi trưa hè nóng bức, vì y yên trí là với gió giăng, chớp giật, sấm rền như thế, thì thế nào mà trời chẳng đổ mưa đến nơi, nếu không mang chân tìm nơi ẩn náo, thì tránh sao cho khỏi bị tắm nước mưa bất tử ?
Nhưng họ Vương kinh ngạc xiết bao khi thấy sau tiếng sét kinh tâm táng đởm ấy, cảnh vật lại trở về với bức màn đêm triền miên yên tỉnh cơ hồ như không có gì khác lại xảy ra hết !
Bầu trời lại cao vòi vọi, như buổi chiều tà, mây xanh kết tụ thành những hình thù quái dị vẫn lờ lững nhẹ nhàng bay theo luồng gió nhẹ nhàng vi vu mát rượi !
Hàng ngày, hàng vạn ánh sao khuya lấp lánh trên nền trời cao vút, chứng tỏ một cách hùng hồn cho cảnh trời tươi đẹp, khiến cho họ Vương, trong một phút hoài nghi, đã tưởng là mình vừa trải qua một cơn ác mộng, chứ trời ấy, mây ấy thì làm sao mà lại có thể phát sinh được cảnh chớp giật, gió văng, sấm rền làm như bầu trời sắp sụp vậy.
Nghĩ thế rồi, thầy địa lý vội cấu thử tay mình để xem mình tỉnh hay mê ?
Nhưng rõ ràng là y cảm thấy đau nhói, khi tự bấm mạnh hai móng tay vào da thịt.
Vậy thì tại sao lại có những hiện tượng quái dị kia ?
Một ý nghĩ hải hùng thoáng loé lên trong trí óc, khiến cho y giật mình, hoảng hốt, không cần suy luận lôi thôi gì hơn nữa, vội cắm đầu, cắm cổ chạy nhanh về phía chiếc gò cao, nơi hắn vừa đặt tróc long để hô thần.
Họ Vương hồi họp trống ngực đập liên thanh, rồn rập như người đang chờ đợi một sự phán quyết dứt khoát cho số mạng của mình, nên dù bị vấp ngã luôn mấy lần, vì những hố rảnh sẽ ngang sẽ dọc trên các bờ ruộng, hắn cũng không cần lưu ý rới, cứ mãi miết chạy bay về phía gò cao.
Mười trượng... rồi tám trượng... họ Vương vẫn chạy nhanh vùn vụt, nhưng khi còn cách gò đất chừng năm trượng hắn bỗng đứng khựng lại, thở giốc, há hốc miệng muốn kêu mà không thành tiếng, cứ giương mắt nhìn trợn trừng nhìn sững về phía đặt tróc long lúc trước, da mặt nhợt nhạt như người đang chơi vơi trên một chiếc thuyền con ở giữa trùng dương trong một cơn gió bảo ghê ghớm kinh hồn.
dienbatn is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 25-07-2006   #2
dienbatn
Hội viên
 
Tham gia ngày: Aug 2004
Nơi Cư Ngụ: Vietnam
Bài gởi: 891
Thanks: 0
Thanked 13 Times in 13 Posts
Trước mắt hắn chiếc tróc long bị tiếng sét vừa rồi đánh trúng, bật tung mỗi nơi một mảng, mảnh vuông lụa đỏ dùng lót tróc long cũng bị cháy xém quá mất nửa nằm trơ trỏng bên chiếc khăn gói và các thứ dụng cụ cần thiết để nghiên cứu về môn địa lý bọc ở bên trong đều bị bắn ra vương vãi mỗi nơi một ít, dính đất nham nhở chẳng ra hình tính chi hết.
Thật là chuyện vô cùng quái dị, lần thứ nhất mới xãy ra cho họ Vương sau mấy chục năm trời theo đuổi môn phong thủy thần kỳ !
Nếu hắn không được chứng kiến cảnh sét đánh lòe lửa ngay trước mặt, thì hắn tin làm sao được sự tan tành, đổ vở hiện thời, qua những mảnh vụn của chiếc tróc long, địa bàn, trừ vuông lụa bị cháy giở, tất cả các thứ đều như có một bàn tay bí mật nào đó đã dùng búa to đập nát, phá hủy tơi bời.
Họ Vương về được tiệm thuốc thì trống canh đã điểm năm tiếng khô khan.
Hắn cố làm vẻ thản nhiên, đi nằm nghỉ một lát cho đở mệt để lấy sức tiếp khách như không có việc gì xãy ra hết.
Nhưng trên nét mặt dày dạn phong trần của hắn, vẫn in hằn vẻ ưu tư, thờ thẩn, chứng tỏ tâm trí hắn đang hoang mang đến cực độ, trước những hiện tượng vừa xảy ra đêm hồi khuya.
Tuy chưa biết đích xác sự trở ngại sẽ đến mức độ nào, nhà phong thủy giàu kinh nghiệm cũng có thể mường tượng được rằng : ngôi đất qúy Ngũ Phụng triều dương kia, còn bao trùm nhiều sự bí ẩn, dị kỳ, mà có lẽ trong các loại sách vở khảo cứu về môn địa lý, chưa hề được ghi chép rỏ ràng, mặc dầu từ khi theo phụ thân học khoa phong thủy, họ Vương đã được nhìn thấy tận mắt, hay đọc qua cổ văn nhiều kiểu đất lạ lùng đòi hỏi những phương pháp mai táng nhiêu khê, những bùa phép quái đản !
Linh tính như báo trước cho hắn biết là còn gặp lắm sự thất bại chua cay trong mưu toan an táng hài cốt tổ phụ hắn trong kiểu đất hiếm có giữa cánh đồng làng Lương Đường, vì thông thường, nếu không có điều gì trở ngại, thì với tài ba thông suốt cổ kim, với khả năng phong phú về môn địa lý, họ Vương đã có thể dùng tróc long tìm hiểu tường tận sự chuyển vận của long mạch dưới lòng đất và hô thần để được biết thêm các phương pháp cần thiết cho công việc mai táng hài cốt sau này, ngay từ đêm hôm qua chứ có đâu lại bị cản trỡ một cách kinh khủng, bất ngờ đến thế ?
GIỮA THANH THIÊN BẠCH NHẬT, THẦY ĐỊA LÝ TÀU GẶP DỊ NHÂN
Tiết lộ danh tinh Vũ Hồn.
" Vũ Hồn vi chủ,
" Ngũ Phụng Triều Dương,
" Hà Nhân chiếm cứ,
" Tất hữu tai ương "
Đã có sự ngang trái ấy, thì hy vọng mai táng được trôi chảy ngôi mả tổ trong khu đất đặc biệt kia, quả thực là mỏng manh, hồi hộp vô cùng!
Mười phần hẳn không chắc gì được một !
Niềm lo âu, thắc mắc ấy, đã không cho phép họ Vương ngồi yên trên ghế lang y, để đóng vai trò cứu nhân, độ thế, như cái bề ngoài hắn đã cố ý tạo ra, từ khi mới đặt chân đến vùng này, hầu dễ dàng hoạt động cho công cuộc tìm đất !
Vả lại, sự kiên nhẩn, chịu đựng của người ta, cũng chỉ có chừng đó !
Họ Vương, dù là khách giang hồ, từng in gót giầy trên khắp các ngả đường, từ Thiểm Tây qua Vân Nam, Cao bằng, Lạng Sơn đến tỉnh Đông Hải Dương, cũng vẫn mang nặng những tham vọng, mong ước thông thường của thiên hạ.
Vì vậy, chỉ chịu đựng một cách rất miển cưỡng được từ sáng sớm cho đến cuối giờ Tỵ, hôm ấy, lần tiễn chân một sản phụ đến bắt mạch, xin điều trị cho chứng bệnh đau ruột của bà ta đã mắc phải, từ khi hạ sanh đứa con trai mới được ba tháng đang bồng trên tay, thì họ Vương cảm thấy nóng lòng nóng dạ, bồn chồn thần trí, hoảng hốt tâm can, ngồi đứng không yên chỗ, cứ thở ngắn, than dài dường như gặp phải một điều gì cực kỳ khó giải quyết lắm ! Trước hắn còn cố nén, ngồi lỳ trên ghế để bắt mạch kê đơn cho bệnh nhân, sau không kiên nhẫn được nữa, hắn phải đứng vùng dậy, sửa soạn y phục ra đi.
Đi đâu ?? Họ Vương không biết mà hắn cũng không cần biết đến làm gì !
Sự thực, hắn chỉ muốn ra khõi căn nhà đang ở, để cầu mong những ngoại cảnh làm vơi trong khoảnh khắc nỗi ưu tư, khiến cho hắn tạm thời lãng quên được những sự kỳ dị vừa xãy ra đêm trước.
Ôm mối tâm sự mông lung, họ Vương thả bước trên đường làng, mà ý nghĩ gửi tận nơi đâu, bất giác ngâm nho nhỏ mấy câu thơ :
" Nhật Nguyệt Linh Khí tụ,
" Ngũ Phụng triều dương lai,
" Thập Bát Tiến Sĩ, Tam Tể Tướng,
" Tử Tôn vinh hiển, mãn cân đai."
Chợt mây đen kéo đến mịch trời, gió thổi ào ào, báo hiệu một cơn mưa rào sắp đổ xuống.
Thầy địa lý cuống quít chạy vội vào một ngôi miếu cô hồn ở giữa cánh đồng. Trên bệ gạch, chỉ có trơ trỏng một bình nhang xây liền với chiếc bệ, bốn bề mạng nhện giăng mắc, tạo cho ba gian miếu một quang cảnh hoang vắng, thê lương, âm u, lạnh lẽo, như đã từ lâu, không có ai đến cúng lễ !
Bên ngoài gió vẫn rít lên từng cơn dữ dội, làm những chiếc lá bàng nối tiếp nhau, rơi rào rào xuống trước miếu.
Mưa đã bắt đầu nặng hạt.
Họ Vương cảm thấy lạnh buốt, toàn thân như có nước thấm vào da thịt, làm cho hắn rùng mình luôn mấy cái liền, phải nép người vào phía sau bệ thờ. Một lúc sau, mõi chân và rét quá, hắn đành ngồi bệt xuống nền gạch, co hai gối lên, để tỳ cầm vào như muốn che cho người đỡ lạnh.
Quang cảnh lúc đó thật buồn nãn. Trong miếu hoang tàn đến rợn tóc gáy !
Bên ngoài mưa mỗi lúc một thêm tầm tả, chớp giật sấm nổ đùng đùng.
Họ Vương cảm thấy thân thể nhẹ bỗng, thần trí lâng lâng như đang bay bỗng ở giữa không trung.
Thoáng cái đã đến một vùng thành quách nguy nga, cung điện vàng son lộng lẫy.
Thầy địa lý còn hoang mang, chưa biết đây là nơi nào, thì bỗng thấy cửa giữa mở toang, hắn vội tiến vào với giáng điệu bâng khuâng, sợ hãi.
Kỳ dị làm sao, quang cảnh ở phía trong lại giống hệt cánh đồng làng Lương Đường mà mới đêm trước, hắn đã dùng phép hô thần, nhưng lại bị thổ thần phá hủy tan nát.
Đưa tay lên dụi mắt mấy lượt để cố nhìn ra chung quanh, thì quả nhiên là hắn không nhận định sai lầm một chút nào hết : đây kia rõ ràng là năm thửa ruộng, nàm thoai thoải như những con Phượng Hoàng thu mình, chầu cả vào một gò đất ở ngang giữa cánh đồng nơi mà hắn tin chắc là chỗ kết tụ long mạch của kiểu đất Ngũ Phụng triều dương.
Lão chưa kịp quan sát kỷ lưỡng hơn nữa ở hai bên tả, hữu thì trên gò đất, bỗng hiện lên một đám mây ngũ sắc, thấp thoáng ẩn hiện ánh hào quang, mà lạ lùng thay giữa đám mây ngũ sắc, bay lượn lơ lững ở ngay giữa nơi mà hắn cho là chánh huyệt bỗng nổi bật lên những dòng chữ son đỏ chói :
" Vũ Hồn vi chủ,
" Ngũ Phụng Triều Dương,
" Hà Nhân chiếm cứ,
" Tất hữu tai ương !"
Thế rồi, những tia chớp ngoằn ngoèo, xanh lè, chợt lại tung ra liên tiếp, sấm sét ầm ầm, mà kỳ dị làm sao, lại chỉ như nhắm vào chính giữa huyệt chiếu thẳng xuống, không sai chệch một ly.
Họ Vương ngây mặt, theo dõi những hiện tượng quái đản đó một lúc lâu, đang muốn liều mạng đến gần để nhìn cho rõ, bỗng một luồng chớp từ phía xa phóng mạnh tới, xẹt ngang mặt hắn, khiến hắn nhắm vội mắt lại, nghiêng hẳn đầu qua bên trái, đến lúc mở mắt ra, thì cả quang cảnh kỳ ảo biến đâu hết.
Giật mình, họ Vương cố trấn tỉnh nhìn quanh, thì thấy vẫn đang ngồi co ro trong hoang miếu gió bên ngoài từng cơn, vẫn thổi vào xào xạc, ray rứt, hòa cùng tiếng mưa rơi tầm tả, tạo cho khu miếu hoang một vẻ buồn tê tái, lạnh lẽo, mơ hồ !
Thầy địa lý bâng khuâng tự hỏi : những cảnh mình vừa được chứng kiến là mộng hay thực.
Bảo là mộng, thì sao những địa hình, địa thế lại hiển hiện theo đúng như sự an bài của Tạo Hóa trên cánh đồng làng Lương Ngọc, giống như đúc chung một khuôn vậy ! Chính họ Vương, người đã từng tha thiết vơi khu đất quý ấy, người đã tốn phí bao nhiêu tâm huyết lẫn công phu mới theo dõi được sự vận chuyển long mạch rất phức tạp, kỳ công, từ dãy Thập Vạn Đại Sơn, xuyên qua biên giới đến các tỉnh miền Thượng Du Bắc Việt và giờ đây kết tụ ở miền Hải Dương, nhưng thực ra, cũng vẫn chưa "nhập tâm" được toàn bộ địa hình, địa thế kiểu đất Ngũ Phụng triều dương, vậy thì không thể nào nói được là một cơn mộng mị hảo huyền do ảnh hưởng của sự tưởng tượng quá phong phú trong trí não, tâm tư của thầy địa lý tạo ra, khiến cho lúc ngồi rỗi, mơ màng nhớ đến kiểu đất quý, nhà phong thủy lại có dịp mơ màng ra hình dung khu linh địa ấy !
Nhưng nếu đã không phải là ảo mộng, thì đó phải là sự thực, một sự thực do một mảnh lực huyền bí kỳ ảo bày ra để cảnh cáo thầy địa lý.
Bất giác, họ Vương nhớ lại tất cả mấy dòng chữ lấp lánh hào quang ẩn hiện trong đám mây ngũ sắc bay lơ lững trên khu chánh huyệt :
" Vũ Hồn vi chủ,
" Ngũ Phụng Triều Dương,
" Hà Nhân chiếm cứ,
" Tất hữu tai ương !"
Nhà phong thủy lim dim cặp mắt mơ màng nghĩ đến lúc bị lật đổ tróc long, rồi thở dài, lẩm bẩm :
- Những hiện tượng quái dị đêm qua, cùng những việc vừa xảy ra trước mắt, nửa như thực, nửa như mơ, đều chỉ nhằm một dụng ý : khuyên ta không nên nghĩ đến kiểu đất Ngũ Phụng triều dương nữa. Nếu không chịu tuân theo ý trời, cứ cố tình cưỡng lại, thì sớm muộn, thế nào cũng phải chịu tai hoạ !
Hắn nghiến răng, chua chát nói tiếp :
- Hừ, tai họa ? Trong đời làm thầy địa lý, mình đã phải chịu bao nhiêu tai họa, mỗi khi tìm được một kiểu đất đẹp, mà mộ chủ, lại không phải là nhà có đầy đủ phước trạch để hưởng thụ ân sủng của Thượng Đế ?
Nhưng dù sao, đó chỉ là những kiểu đất thường, sự kết phát chỉ hời hợt, mong manh, không lấy gì làm huy hoàng, vĩnh cữu.
Vã lại, đấy toàn là việc thiên hạ, do mình nhẹ dạ, nhận lời giúp đỡ cho người khác, không phải vì tư lợi, mà thực ra, chính là có cơ hội học hỏi thêm, thu thập kinh nghiệm thêm, để khi có căn bản chắc chắn về môn học cao siêu, huyền bí đó, sẽ tự tìm lấy cho nhà mình một ngôi đất quí, có thể đem lại được sự kết phát hoàn toàn về cả các thứ phúc, lộc, thọ.
Trải bao vất vả, phong sương, gian lao, nguy hiểm, mình mới đến được đây và khám phá được kiểu đất quý báu đáng gọi được là hãn hữu trên thế gian.
Nhà phong thủy chợt ngừng bặt, đưa ký ức trở về với giấc mộng để cố nhớ lại cả bốn dòng chữ hiện hình, giữa đám mây ngũ sắc rồi lại thở dài, lẩm bẩm thêm :
- Thập bát Tiến Sĩ, Tam Tể Tướng ! Kết phát nhiều đến thế, thì nhất định là đại quý rồi ! Là được hưởng phúc lộc lâu dài lắm rồi ! Quả thật không còn ngôi đất nào tốt đẹp hơn thế nữa ?
So với những kiểu đất đế vương thì nó có kém thật đấy !
Nhưng để bù lại sự phú quý, Thượng Đế đã cho con cháu mộ chủ được hưởng phúc lâu dài !
Coi đi, kéo lại, mình có thể nói được rằng : đó cũng không kém gì kiểu đất đế vương đâu ?
Vậy mà, đau đớn thay, hắn lại không hô được thần, kiểm soát được hướng chuyển vận của long mạch. Trong đêm trước, và mới đây, giữa lúc vào miếu tránh mưa, lại còn mơ màng, nữa tỉnh, nữa mê, được chứng kiến những hiện tượng dị kỳ, huyền ảo, không hiểu có phải do Thần linh, Thổ địa linh thiêng, cố tình an bài, bố trí, để cảnh cáo cho họ Vương, gián tiếp mách bảo cho họ Vương biết rằng ngôi đất quý ở cánh đồng làng Lương Đường, đã được Thượng Đế dành riêng cho Vũ Hồn, không ai được phép tranh giành, chiếm đoạt. Ai cố ý làm trái ý Trời, sẽ bị Thần linh nghiêm phạt.
Nhưng Vũ Hồn là ai ?
Đấy mới là điều thắc mắc mà họ Vương đã mang nặng trong tâm khảm từ sau khi vào miếu Cô Hồn tránh mưa !
Trời đã ngớt mưa. Những đám mây đen bao phủ không trung, phút chốc tan biến gần hết, chỉ còn vương vấn lại mấy áng bạch vân, lờ mờ như sương khói mơ hồ, bay theo luồng gió từ phía Đông Nam tới, và chỉ mấy phút sau, cũng tản mác dần, trả lại vẽ quang đảng cho bầu trời.
Thầy địa lý vùng đứng lên, sửa soạn lại y phục, thong thả bước ra cửa miếu, vừa đi vừa bâng khuâng nghĩ đến những hiện tượng mới xãy ra, mà hắn không biết là mộng hay thực.
Họ Vương luôn mồm lẩm bẩm :
- Vũ Hồn vi chủ, Vũ Hồn vi chủ !
- Hừ, Thế là nghĩa lý gì ? Chẳng lẽ khu đất này lại thuộc về quyền sở hữu của Vũ Hồn sao ? Mà Vũ Hồn là ai mới được chứ ?
Thật là rắc rối, khó hiểu vô cùng.
Hắn đang vò đầu, bứt tai, đăm chiêu, khổ sỡ, thì chợt có tiếng chân chạy huỳnh huỵch, từ phía xa vọng lại, mỗi lúc một gần, khiến hắn giật mình, đứng khựng lại, ngơ ngác nhìn quanh, hồi họp ngó chừng...
Rồi... tiếng chân người rõ hẳn... Từ khúc quẹo đằng đầu đường, một bóng đen chợt ló hình qua một bụi khúc tần rậm rạp, giây tơ hồng chằng chịt còn ướt đẩm nước mưa, lóng lánh như những hạt kim cương.
Bóng người rõ dần, rõ dần, hướng thẳng vào cửa miếu bước nhanh.
Họ Vương vội đứng nép mình, tựa lưng vào khuôn cửa gổ mọt, sẳn sàng như người thủ thế, sẳn sàng chờ đợi đối phó với những sự bất ngờ.
Người mới xuất hiện là một nông dân thuần túy, qua lớp áo quần lam lũ, dày cộm, dính đầy bùn đất, mặt mày tuy đen sạm, in hằn dấu vết dày dạn phong sương nhưng hai mắt trợn trừng, sáng quắc, lại long lanh như hai tia chớp có mảnh lực, làm nổi gai óc những người đứng trước mặt.
Họ Vương hoảng hốt, vừa muốn quay gót, tránh mặt bỏ vào trong miếu, thì người nông dân lực lưỡng lạ mặt đã bước lẹ đến bên cạnh, nhìn thẳng vào giữa mặt nhà phong thủy, gằn giọng, tiếng nói sang sảng như chuông đồng :
- Ngũ Phụng triều dương của Vũ Hồn, nghe chưa ? Thượng Đế đã dành cho họ Vũ ngôi mả ấy ! Không một ai được quyền xâm phạm tới ! Nhà ngươi nên tìm Vũ Hồn, rồi giúp họ Vũ thì thế nào cũng được hưởng chung phước trạch !
Dứt lời, người nông dân lạ mặt, quay ngoắt mình về lối cũ đi thẳng...
Thầy địa lý toan chạy theo, nhưng hai chân cứng nhắc, không nhút nhít. Hắn hốt hoảng gọi thất thanh liền mấy tiếng, nhưng kỳ lạ làm sao, hắn chỉ ú ớ trong cổ họng, chứ không làm sao nói được thành tiếng rõ ràng như thường nhật, đành cứ đứng tựa lưng vào khung cửa gổ, mặt ngơ ngác nhìn theo bóng dáng người nông dân lạ mặt, khuất dần quá bụi khúc tần rậm rạp ngay chỗ khúc quẹo vào đường làng.
Với tâm trí bàng hoàng; họ Vương đứng nguyên như thế tới một khắc đồng hồ, cho đến lúc bóng dáng người nông dân khuất hẳn sau lùm cây, hắn mới cất nhắc được chân tay, liền hốt hoảng chạy theo người lạ mặt, nhưng bốn bề vắng ngắt, trên con đường đất chạy từ miếu Cô hồn vào trong làng, chẳng có một ai hết.
Họ Vương lo sợ như kẻ mất hồn, bước thấp, bước cao trở về tiệm, lòng hoang mang trăm mối nghi ngờ thắc mắc...
Vì thế, họ Vương thường phải vắng nhà luôn. Việc trông nom săn sóc cửa nhà, hoàn toàn được trao phó cho người vợ họ Trần và Vũ Hồn đảm nhiệm.
Bà chủ tiệm thuốc Bắc là một thiếu phụ nhan sắc khá diểm kiều, bản chất lại thông minh lanh lợi, nàng sở dĩ phải kết hôn với họ Vương chỉ là vì nhà nàng quá nghèo túng, khổ sở, không trả nợ mấy món nợ quan trọng đã đến kỳ hạn phải bồi hoàn cả gốc lẫn lãi. Hơn nữa, thân mẫu nàng lại mắc phải một chứng bệnh hiểm nghèo, gần đất xa trời mà trong nhà quá bê bối, không đủ sức tìm thầy, chạy thuốc.
dienbatn is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 25-07-2006   #3
dienbatn
Hội viên
 
Tham gia ngày: Aug 2004
Nơi Cư Ngụ: Vietnam
Bài gởi: 891
Thanks: 0
Thanked 13 Times in 13 Posts
Vì vậy, khi được họ Vương tình nguyện điều trị giúp, lại hứa trao tặng một số tiền lớn làm sính lể, cha mẹ nàng liền nhận lời gả cho họ Vương, vừa để đền ơn cứu mạng của họ Vương vừa để lấy chỗ nương nhờ về mai hậu.
Mối tình chồng vợ giữa cô gái họ Trần và thầy lang họ Vương, bởi thế, chỉ có bề ngoài chứ không nồng nàn, thắm thiết chan chứa yêu đương như những đôi uyên ương mới xây dựng tổ ấm gia đình khác.
Ví dù cho họ Vương có tử tế, rộng lượng đến đâu, trước mặt Trần thị, thầy lang cũng chỉ là người ngoại chủng, ngôn ngữ bất đồng, mà theo quan niệm hôn nhân của thời đại phong kiến thì con gái những gia đình nền nếp không bao giờ chịu lấy chồng Tàu, chồng Chệt !
Đấy là chưa nói đến số tuổi quá chênh lệch, giữa đôi bên : họ Vương đã ngoại tứ tuần, trong lúc cô gái họ Trần mới có 19 cái xuân xanh, khiến cho sau hôn lễ, mỗi khi có dịp phải đi sóng đôi với chồng ra ngoài đường những trẻ con quanh vùng, thường vỗ tay reo hò, chế diễu, hát nheo nhéo câu ca dao :
" Tiếc thay con ngựa bạch lại thắng giây cương bằng thừng,
" Tiếc cho con người thế ấy lại nâng lưng ông cụ già !
" Lạy chú, chú bỏ con ra,
" Ra đường ai biết rằng cha hay chồng,
" Nói ra đau đớn trong lòng,
" Ấy cái nợ truyền kiếp, há phải là chồng em đâu ? "
Lúc đầu tiên, cô gái họ Trần, từ địa vị một thiếu nữ bần hàn, quần nâu, áo vải, chân lấm tay bùn, quanh năm vật lộn với luống cày, đổi bát mồ hôi mới kiếm nổi miếng cơm, nên khi được họ Vương cưới về làm vợ, nàng rất thỏa mản, vì ngoài sự sung sướng về vật chất, nàng còn báo hiếu được cho cha mẹ, nhờ số tiền dẫn cưới khá quan trọng của ông chủ tiệm thuốc Bắc để cha mẹ nàng có thể thanh tóan hết các món nợ nần, bê bối từ mấy năm nay.
Nhưng sau lể vu quy chỉ chừng một tháng, mỗi khi ra ngồi ngoài quầy tủ thuốc, nhất là những dịp có việc phải đi với chồng ra đường, thiên hạ hiếu kỳ, tệ hơn hết là những trẻ con trong làng, đã vỗ tay reo hò, chạy theo chế riễu nàng thậm tệ, khiến cho nàng tủi thẹn vô cùng.
Lòng tủi thẹn mỗi ngày một nặng nề đưa dần đến sự chán ghét người bạn gối chăn khác dòng giống.
Do đấy, cô gái họ Trần thường chỉ thích chuyện trò với anh quản gia Vũ Hồn mà nàng tin rằng dù sao, cũng vẫn là người đồng hương, cùng chung một tiếng nói với nàng, thì hẳn là phải biết kính trọng nàng hơn hẳn là chú Chệt, lúc nào cũng ngô nghê như Chú Tàu nghe kèn, chẳng xứng đáng một chút nào với áng nhan sắc diểm kiều, duyên dáng của nàng, từ xưa tới nay, vẫn nổi tiếng là một thôn nữ xinh đẹp nhất phủ Bình Giang !
Trước Vũ Hồn còn sợ hải, dè dặt, không dám suồng sả, đùa cợt với cô chủ trẻ tuổi, mặc dầu cô chủ cứ luôn luôn tỏ ra vô cùng dể dãi.
Nhưng chỉ ít lâu sau đấy, nhằm một buổi tối, nhân cơ hội họ Vương phải đi coi mạch cho một bệnh nhân ở trên Sặt, đường xá xa xôi, bắt buộc thầy lang phải ngủ lại nhà con bệnh đến sáng hôm sau mới có thể về được, nên cô chủ trẻ tuổi đã sai Vũ Hồn đóng kín cổng ngỏ, ngay từ lúc sẩm tối, viện cớ là nhà vắng người, bà chủ cần phải đề phòng những sự bất trắc bất ngờ.
Bề ngoài thì thế, nhưng sự thực bên trong lại khác hẳn !
Đó là một điều tính toán rất kỷ, chín chắn của một thiếu phụ, trời cho nhan sắc mặn mà, khôn ngoan tháo vát, nhưng trớ trêu, lại sinh trưởng nhằm cảnh gia đình nghèo khổ, túng thiếu, đến nổi một đoá hoa mơn mởn sắc hương, phải lọt vào tay một chú Chệt đáng tuổi cha, ông, khiến cho cô gái hẩm hiu duyên số ấy, dù được sống trong nhung gấm, vàng son, tha hồ ăn ngon, mặc đẹp, kẻ hạ người hầu, cũng cảm thấy tủi buồn, đau khổ, suốt ngày đêm rầu rỉ, thở vắn, than dài.
Không những thế, họ Vương thường viện cớ bận rộn, săn sóc bệnh nhân, để có khi vắng mặt đến ba, bốn ngày đêm liên tiếp, làm cho tình gối chăn lạnh nhạt, so với vẻ quyến luyến keo sơn của những cặp vợ chồng mới cưới khác, thì quả thực là cách biệt nhau một vực, một trời.
Tính tình chú Chệt chủ tiệm thuốc lại mỗi lúc một thêm khó khăn, khắc khổ. Đối với cô gái họ Trần chú không mấy khi cười nói, tỏ vẽ yêu thương, đi vắng thì không sao, êm thắm cửa nhà, mà cứ về đến tiệm là thế nào chú Chệt cũng la lối om sòm, phiền trách vợ, rày mắng người giúp việc, chẳng lúc nào ngớt tiếng.
Sức chịu đựng của thiếu phụ họ Trần chỉ có chừng !
Nàng không thể chôn vùi mãi tuổi xuân tràn trề nhựa sống của những ngày mới vu quy vào chốn sầu thành vô tận, bên cạnh một người chồng ngoại chủng, khắc khổ như một nhà truyền đạo, lạnh nhạt như một kẻ tu hành.
Đã đến lúc nàng phải đi tìm một nguồn an ủi khác, kẻo nay lần mai lữa, năm tháng cứ vùn vụt trôi qua, chôn vùi một kiếp hồng nhan đang tha thiết yêu đời, dưới hố sâu hờn tủi của kẻ vị vong, có chồng mang tiếng phòng không trọn đời. !
L.T.G. (Lời tác giả) Trước khi viết về ngôi mả táng treo, chúng tôi đã cố gắng đi dò hỏi những vị bô lão nguyên quán ở vùng Hải Dương Bắc Việt để mong tìm hiểu rõ ràng hơn, chính xác hơn những chi tiết bao quanh ngôi mả, có thể gọi được là kỳ lạ, độc nhất vô nhị ở Việt Nam, mà sự kết phát chẳng những đã lâu dài, lại còn hiển hách, bất cứ dưới thời đại nào !
Nhưng qua những lời truyền tụng hay chiếu theo một vài tài liệu đã sưu tầm được, thì chúng tôi chỉ thấy hoang mang không biết đâu là sư thực, vì có người nói thế này, lại có người bảo thế khác, tam sao thất bản, khiến cho chúng tôi, càng cảm thấy thất vọng, đành chỉ còn biết : lựa chọn những giả thuyết gần sự thực hơn hết, có lý hơn hết, để nêu ra, với hy vọng ấy, mong chờ sự chỉ giáo của qúy vị cao minh, nhất là những bậc lão thành ở tỉnh Đông.
Thì sự mong chờ của chúng tôi quả đã không đến nổi thất vọng ! Mới đây chúng tôi có tiếp được bức thơ của một vị lão thành, tự nhận là dòng họ Vũ ( rất tiếc là Vũ Lão tiên sinh lại không muốn cho chúng tôi nêu rõ quý tính cao danh và địa chỉ, nên ở đây chúng tôi phải chiều ý Vũ lão tiên sinh, mong bạn đọc thân mến, lượng tình thông cảm) đã cho chúng tôi biết thêm nhiều chi tiết quý giá, mạc dù chúng tôi vẫn còn một vài nghi vấn, muốn được hầu truyên cùng Vũ Lão tiên sinh trong một kỳ sau.

Trước khi thuật lại đầy đủ những chi tiết bổ ích ấy để cống hiến quý vị độc giả thân mến, chúng tôi xin chân thành cảm tạ thịnh tình chiếu cố của Vũ Lão tiên sinh, đã không quản công phu, sốt sắng giúp đở cho chúng tôi, có những tài liệu dồi dào để hoàn thành công cuộc biên khảo này.

Một lần nữa xin Vũ Lão tiên sinh nhận cho ở đây lời cảm tạ thành thực của chúng tôi.
Trong một bài trước, chúng tôi có nói đến làng Lương Đường, sau được đổi thành Lương Ngọc.
Nay được biết đó chỉ là tên hợp nhất của hai làng Lương Đường và Ngọc Cục, cũng thuộc địa phận phủ Bình Giang, tỉnh Hải Dương Bắc Việt.
Còn ngôi mả táng treo thì thuộc phạm vi làng Vạn Nhuế, huyện Nam Sách, cũng trong địa giới tỉnh Hải Dương.
Theo gia phả của họ Vũ, được đặt ở ngôi thờ tại đình làng Vạn Nhuế, thì lai lịch của ông tổ được ghi chép như sau : " Vũ Hồn , An Nam Đô Hộ Sứ ", và cũng chính Vũ Hồn đã tự tìm lấy được kiểu đất : " Cửu Thập Bát tú triều dương" lúc đang đảm nhiệm trọng trách An nam Đô Hộ Sứ (chúng tôi sẽ có dịp thảo luận về nghi vấn này trong một số báo sau ).
Kiểu đất có ngôi mả treo gồm tới 98 (cửu thập bát tú) cái gò nhỏ nằm rải rác bao quanh một cái gò lớn, ở chính giữa (gò thứ 99) mà trên đỉnh gò là mả Vũ Hồn.
Điểm đặc biệt là phong cảnh quang đảng của khu vực " Cửu thập bát tú triều dương", vì ngoài 99 cái gò, tuyệt nhiên không còn có cây cối chi khác.
Vẫn theo gia phả của họ Vũ đã ghi chép, thì sau khi khám phá được kiểu đất tuyệt đẹp, cực kỳ quý báu đó, Vũ Hồn liền trở về Trung Quốc, xin triều đình cho phép mình được đem họ hàng con cháu, di cư sang An Nam lập nghiệp.Chính do đấy, mà hài cốt của Vũ Hồn, sau lúc ông từ trần, mới được an táng tại làng Vạn Nhuế.
Trước khi tìm được kiểu đất để dành cho việc mai hậu, Vũ Hồn còn tìm được một khu đất khác, dùng làm nơi sinh cư lập nghiệp cho bà con trong họ, theo mình từ Trung Quốc qua. Nơi đó là làng Khả Mộ, sau được cải lại là Mộ Trạch, thuộc tổng Tuyền Cử, huyện Năng An, phủ Bình Giang, tỉnh Hải Dương.
Địa hình địa thế làng Mộ Trạch cũng đặc biệt vô cùng, thu gọn trong một khu vực vuông vắn như được cắt sén, gọn gàng, không hề có chỗ nào lồi lõm hay khúc khuỷu.
Dân làng hết thảy đều là họ Vũ, con cháu của Vũ Hồn.
Ngoài ra không có một dòng họ nào khác tới cư ngụ hay tá túc cả. Ngay tại hai bên cổng ngôi đình thờ ông tổ Vũ Hồn vẫn còn có đôi câu đối :
" Vi tử tôn lập vạn thế cơ, Khanh, Tướng, Công vô trị loạn."
" Dữ Thiên Địa dồng nhất, nguyên khí, Hoàng, Vương, Đế, Bá hữu Long ô "
dịch nôm là : Vì con cháu, lập nên cơ sở vạn năm Khanh, Tướng, Công Hầu vì thời bình hay thời loạn cũng đều có; Cùng với nguyên khí của Trời Đất, Hoàng, Vương, Đế, Bá ở thời thịnh hay suy cũng vẫn có.
Đồng thời, gia phả cũng còn ghi lại : lúc Cao Biền đuổi quân Nam Chiêu, khi đi ngang qua làng Mộ Trạch, họ Cao vốn là tay thông kim bác cổ, có chân tài, thực học về môn phong thủy, lúc ấy cũng phải ngẩn ngơ trước kiểu đất quý báu, hiếm có kia, rồi gò cương ngựa, rơ roi mà khen ngợi rằng : " Tiến Sĩ sào ! " (Cái tổ của các vị Tiến Sĩ).
Vì vậy tại cổng Đông làng Mộ Trạch, người ta mới thấy có tấm bia, khắc ba chữ " Tiến Sĩ sào" để kỷ niệm lời ca ngợi một kiểu đất văn học tuyệt vời do chính một người thông hiểu địa lý như Cao Biền đã phải thốt ra.
Có lẽ cũng vì địa hình địa thế đẹp đẻ tuyệt vời của làng Mộ Trạch, và căn cứ vào lời khen ngợi "Tiến Sĩ sào" do tự miệng một nhà phong thủy kỳ tài như Cao Biền thốt ra mà số người thành đạt ở làng Mộ Trạch lại có rất nhiều, chứ không phải " Thập Bát Tiến Sĩ, tam Tể Tướng" như chúng tôi từng đề cập đến trong một kỳ trước.
Ngoài một số đông sĩ tử thi đậu cao khoa, làng Mộ Trạch còn có nhiều người làm đến Công Hầu, Khanh Tướng.
Vì thế trong gia phả, mới thấy ghi chú " Thập Bát Quận Công, tam Tể Tướng". Nhưng danh tính các vị quận công hiển đạt trong dòng họ Vũ cho đến bây giờ, vẫn chưa ai tra cứu được, mặc dầu tại Văn Miếu Hà Nội còn có những danh bia Tiến Sĩ ghi danh tính những Ông Nghè ở dưới triều Lê, Nguyễn.
Muốn minh chứng sự khác biệt giữa hai làng Luơng Đường và Mộ Trạch chỉ cách nhau co trên dưới ba cây số ngàn, Vũ Lão Tiên Sinh đã cho chúng tôi biết thêm : trong gia phả của dòng họ Vũ còn thấy ghi rằng :
" Mộ Trạch quan, thiên hạ an,
" Lương Đường quan, thiên hạ loạn ..."
Như thế đủ rõ hai làng không liên hệ chi với nhau hết.
Về ngôi mả táng treo, Vũ Lão Tiên Sinh cũng không cho là lạ lùng chi hết, mà đó chỉ là một cái huyệt, được đào rộng ra, bốn góc trồng bốn cây cột, đầu cột có giây xích liên lạc với nhau, hài cốt đặt trong tiểu và để trên các giây xích ấy, xong rồi cho đổ đất lấp kín như các ngôi mộ khác.
VẪN CÒN NHIỀU NGHI VẤN
Với mục đích tôn trọng dư luận, chúng tôi đã trích đăng tất cả những tài liệu liên quan đến ngôi mả táng treo, do chính một bậc lão thành trong dòng họ Vũ, hiện diện ở miền Nam, nay đích thân viết cho chúng tôi, để đính chính những chi tiết chúng tôi từng đưa ra từ mấy số trước, mà Vũ Lão Tiên Sinh cho là quá hoang đường !
Sự thực, tài liệu sưu tầm của chúng tôi nếu có bị sai lạc, lầm lẩn, thì đó cũng không phải là lổi sơ sót của chúng tôi, vì chúng tôi cũng chỉ làm công việc của một người tường thuật lại những lời truyền tụng trong dân gian về ngôi mả táng treo, mà qua sự kết phát hiển hách lâu dài đã thành một giai thoại rất phô thông của quảng đại quần chúng.
Sự suy luận của chúng tôi không phải là vô căn cứ, vỉ đồng bào Bắc Việt nào, trước đây, không đã có hơn một lần, được nghe "thiên hạ đồn" về ngôi mả táng treo, cùng sự lựa chọn đứa con bé sinh đôi, nặng đồng cân hơn đứa con lớn, để đem về Trung Quốc của thầy địa lý Tàu, sau khi nhường kiểu đất quý cho Vũ Hồn - vì tự biết nhà mình bạc phước vân vân và vân vân.
Sau khi đăng tải đầy đủ những chi tiết về ngôi mả táng treo, do chính một vị lão thành, trong dòng họ Vũ đưa ra, chúng tôi xin nêu ra đây những nghi vấn đã khiến cho chúng tôi phải thắc mắc khá nhiều qua những tài liệu nói trên.
Căn cứ vào tài liệu ghi trong gia phả của họ Vũ thì Vũ Hồn là một vị đại thần Trung Quốc, không biết rõ đời nào, được bổ nhiệm làm An nam Đô Hộ Sứ, qua đây tìm được kiểu đất "Cửu Thập Bát Tú Triều Dương", có thể phát được tới "Thập Bát Quận Công, tam Tể Tướng, nên đã về Tàu, xin Triều đình cho phép mình được đem họ hàng qua lập nghiệp tại Mộ Trạch, một địa điểm cũng vô cùng đặc biệt về phong thủy, đến nổi nhà phong thủy chính tông cừ khôi là Cao Biền từ đời nhà Đường, được cử qua An nam làm Đô Hộ Sứ khi đuổi giặc Nam Chiếu, về qua làng Mộ trạch, thấy phong cảnh kỳ tú, địa thế vuông vắn, đã phải nghi ngờ trước kiểu đất Văn Học, tuyệt vời, mà gò cương chỉ roi ngựa, khen là "Tiến Sĩ sào" !
Theo những lời ghi chú trên, thì ta có thể tin tưởng được rằng : Vũ Hồn sanh vào đời nhà Đường bên Tàu, vì sau khi chinh phục được nước ta, năm Kỷ mảo, vua Cao Tôn nhà Đường, mới chia xứ Giao Châu thành 12 Châu, 59 huyện và thiết lập An Nam Đô Hộ Phủ.
Nước ta được gọi là An Nam, bắt đầu từ đây.
Trong gia phả của họ Vũ, có ghi " Vũ Hồn An Nam Đô Hộ Sứ." thì lời phỏng đoán của chúng tôi trên đây, hẳn không quá xa sự thực ?
Tuy nhiên, chúng tôi vẫn còn thắc mắc, vì qua những tài liệu lịch sử còn sót lại, chúng tôi đã cố sức dò kiếm, mà trong số quan lại nhà Đường được phái sang An Nam, tuyệt nhiên không có vị nào là họ Vũ hết !
Kể từ đời Lý Uyên, vị vua dựng lên nghiệp nhà Đường xưng hiệu là Cao Tổ Hoàng Đế, trong sử cũng chỉ thấy chép : vị quan được nhà vua cử sang cai trị Giao Châu là Đại Tổng Quản Khâu Hoa.
Sau đấy là Quang Sở Khách, Dương Tư Húc, Trương Bá Nghi, Cao Chánh Biện, Triệu Vương, Cao Biền v...v...
Không có một viên quan tàu nào họ Vũ, nhất là chức Đô Hộ Sứ cả !
Ngoài nghi vấn trên, chúng tôi còn không khỏi ngạc nhiên, về đoạn nói về Cao Biền.
Như ai nấy đều biết, không những qua lời nhân dân truyền tụng từ cửa miệng người này qua cửa miệng người khác, mà còn được ghi chép trên nhiều tài liệu giấy trắng, mực đen khác về Cao Biền thì nhà chính trị kiêm quân sự Trung Hoa này, còn có biệt tài về môn phong thủy, học được dị thuật hú gió, gọi mưa, mới nghe cứ như chuyện phong thần vậy !
Về tài năng và sự nghiệp của Cao Biền thì chính sử gia, kiêm học giả Trần Trọng Kim, đã viết trong cuốn V.N. sử Lược như dưới đây :
Mùa thu năm Giáp Thân (864) Vua nhà Đường sai tướng Cao Biền sang đánh quân Nam Chiếu ở Giao Châu.
Cao Biền vốn là danh tướng của nhà Đường văn vỏ toàn tài, rất được quân sĩ mến phục. Năm Ất Dậu (865) Cao Biền cùng quan Giám quân Lý Duy Chu đem quân sang đóng ở Hải Môn. Nhưng họ Lý không ưa Cao Biền, thường tìm mưu hãm hại.
Hai người bàn định tiến binh, Cao Biền dẫn 500 quân đi trước hẹn họ Lý đi sau tiếp ứng. Nhưng họ Lý không chịu xuất binh, Cao Biền vẫn thắng được quân giặc trong lúc chúng đang gặt lúa không kịp đề phòng.
Sau đấy nhờ có tướng Vi Trọng Tề vâng mệnh vua Đường, đem 7000 quân sang tiếp viện cho Cao Biền, nên Cao Biền lại thắng luôn mấy trận nữa, khiến cho quân Nam Chiếu hoảng sợ, chỉ lo giữ gìn thế thủ, chư không dám tấn công như trước nữa.
Cao Biền thấy thế liền viết biểu gửi vể Tàu báo tin. Nhưng sứ giả về đến Hải Môn, lại bị Lý Duy Chu bắt giữ, không cho họ Cao Biền liên lạc với Triều Đình.
Vua Đường trông đợi mải, không thấy tin tức gì của Cao Biền, phải sai sứ giả sang hỏi, thì Lý Duy Chu lại tâu dối rằng : Cao Biền án binh ở Phong Châu không chịu giao binh cùng quân giặc.
Vua Đường nghe tin ấy, nổi giận lập tức, hạ chiếu sai Vương An Quyền sang làm tướng đánh Cao Biền và triệu họ Cao về triều hỏi tội.
Ngay tháng ấy, Cao Biền phá tan được quân Nam Chiếu rồi lại tiến binh vây hãm La Thành, đã được hơn mười ngày, sắp hạ thành, bỗng nhận được tin Vương An Quyền và Lý Duy Chu sẽ sang thay mình thì biết ngay mưu kế hiểm độc của bọn gian thần, liền trao phó binh quyền cho Vi Trọng Tề rồi cùng mấy tên gia nhân thân hành đi suốt đêm về triều.
Nhưng trước đó, Cao Biền cũng đã sai người bí mật lén về kinh đô dâng biểu, trần tấu về tình trạng ở phương Nam, và nhân mạnh luôn cả sự đố kỵ của họ Lý để xin nhà vua minh xét...
Vua Đường xem biểu, biết rõ sự tình cả mừng, vội xuống chiếu thăng chức cho Cao Biền và sai họ Cao trở lại phương Nam, tiếp tục cầm binh chinh phạt Nam Chiếu.
Chẳng bao lâu binh Đường đã dẹp yên quân giặc.
Đất Giao Châu lại bị nội thuộc nhà Đường, sau 10 năm bị quân Nam Chiếu phá lại.
Vua Đường phong cho Cao Biền làm Tiết Độ sứ và đổi đất An Nam làm Tỉnh Hải...
Cao Biền trị dân có phép tắc nên ai cũng kính trọng mến phục.
Vì vậy, nhiều người tôn là Cao Vương, Cao Biền đắp lại thành Đại La ở bờ sông Tô Lịch...
Sử chép rằng Cao Biền thường dùng phép phù thủy, khiến thiên lôi phá hủy những thác gềnh ở các sông ngòi trong xứ, để cho thuyền bè đi lại dể dàng.
Tục truyền rằng : Cao Biền thấy ở bên Giao Châu ta lắm đất đế vương thường cứ cưỡi diều giấy đi yểm đất, phá hủy những chỗ sơn thủy đẹp và triệt hạ mất nhiều long mạch...
Ngoài tài liệu của Trần tiên sinh, trong dân gian còn đồn đải rằng : họ Cao thường đi khắp núi cao rừng rậm, ngõ hẽm, hang cùng, thấy nơi nào địa thế kỳ khu, phong cảnh xinh đẹp, khả dỉ nghi được là chỗ quy tụ những long mạch kết phát, là tìm cách trấn yểm, phá hủy cho kỳ được.
Đó không phải là ý riêng của Cao Biền, mà chính là y đã vâng mật chiếu của triều đình : dùng mọi phương pháp yểm trừ những huyệt đế vương, cũng như những kiểu đất kết phát khác, để mong cũng cố nền móng đô hộ lâu dài trên đất nước này.
Với trọng trách ấy, một người có căn bản vững chắc về môn phong thủy như Cao Biền, một danh tướng kiêm chính trị gia lổi lạc, đã từng xây được thành Đại La lại đào cả sông Tô Lịch để cắt đứt long mạch của chốn cố đô, thì bao giờ y lại chịu bỏ qua kiểu đất " Cửu Thập Bát Tú triều dương" và luông cả khu quý địa làng Mộ Trạch ?
Bảo rằng Vũ Hồn đã tìm thấy được ngôi đất đặc biệt đó, từ trước ngày Cao Biền được vua Đường cử sang nhậm chức Đô Hộ Sứ ở An Nam, chúng tôi e rằng giả thuyết đó cũng không được vững lắm, vì ngoài lý do không có một viên quan nhà Đường nào họ Vũ, ta còn phải kể đến những sự phiền toái, phức tạp của công cuộc di cư những con cháu trong dòng họ Vũ qua lập nghiệp ở làng Mộ Trạch, mà sau khi tìm được địa diểm hợp ý, Vũ Hồn đã về Tàu, xin phép triều đình cho đem họ hàng qua đây, lập riêng thành một kiểu giang sơn quy tụ toàn người trong họ Vũ.
Sự kiện đó có đúng không ? Nếu đúng, thì thời gian Vũ Hồn được cử làm Đô Hộ Sứ ở An Nam là năm nào, mà vị đại thần Trung Quốc ấy lại có thể tìm được đất, di cư đem con cháu qua lập nghiệp, phát đạt hiển hách làm được cả đền thờ, viết được cả câu đối, ghi nhớ công ơn người khai sáng, để khi Cao Biền có dịp đi qua, chỉ còn biết ngẫn ngơ, trước kiểu đất văn học tuyệt vời đó !
Nếu bảo rằng Vũ Hồn sang An Nam sau Cao Biền, thì giả thuyết ấy e rằng không đúng !
Vì cái chức An Nam Đô Hộ Sứ chỉ được đặt ra về đời Vua Cao Tôn nhà Đường, đồng thời với danh từ An Nam Đo Hộ Phủ.
Nhưng đến khi Cao Biền đánh thắng được quân Nam Chiếu, nước ta trở lại nội thuộc nhà Đường, thì vua Đường lại đổi An Nam làm Tỉnh Hải và phong cho Cao Biền làm Tiết Độ Sứ.
Do đấy mà chúng tôi tin rằng ngôi Mả Táng Treo chỉ có thể được an táng từ trước ngày Cao Biền qua nước ta, căn cứ vào số quan Trung Quốc "Thiên Triều" phải qua đây, trong những thời kỳ nước ta bị Bắc thuộc, không đời nào còn thấy có chức An Nam Đô Hộ Sứ nữa !
Tóm lại chúng tôi không tin rằng : ngôi mả táng treo, được táng sau thời Cao Biền đem binh sang đánh quân Nam Chiếu, vì một lẽ dể hiểu : nếu được thấy kiểu đất ấy thì một người tinh thông phong thủy như họ Cao, có đâu lại chịu bỏ qua, nhường chốn cát địa cho người khác hưởng thụ.
Nhưng ngôi mộ nếu đã không được táng trong thời kỳ Cao Biền sang bình định nước ta, thì mả ấy được táng từ đời nào ? trước đấy hay sau đấy.
Điều đáng cho ta thắc mắc nhiều hơn hết là cái chức An Nam Đô Hộ Sứ của Vũ Hồn, vì như chúng tôi đã trình bày trong kỳ trước : Xứ Giao Châu chỉ được đổi tên là An Nam từ đời Vua Cao Tôn Nhà Đường cũng như chức vị Đô Hộ Sứ, chỉ được đặt trong thời gian ít năm gần đây, cho đến khi Cao Biền dẹp tan quân Nam Chiếu, dâng biểu về triều báo tiệp, thì vua Đường lập tức đổi An Nam là Tỉnh Hải, và đặt ra chức Tiết Độ Sứ để cai trị nước ta.
Nếu bảo khu đất "Cửu Thập bát Tú triều dương" và làng Mộ Trạch, còn là những vùng hoang địa cho đến khi Cao Biền đi qua thì thật là vô lý !
Một nhà phong thủy kỳ tài lỗi lạc như Cao Biền, lại mang nặng chiếu mạng của vua Đường : phải triệt hạ trấn yểm cho kỳ hết, những kiểu đất trong những miền sơn thủy kỳ khu, quy tụ long mạch đế vương, hay công hầu, khanh tướng, thì có bao giờ lại chịu bỏ qua một kiểu đất văn học tuyệt vời như nơi có ngôi mả táng treo của Vũ Hồn và nơi quy tụ con cháu dòng họ Vũ tức là làng Khả Mộ, mà theo tài liệu ghi chú trong gia phả họ Vũ, sau được đổi tên là làng Mộ Trạch. Nhất định Cao Biền không thể nào giữ thái độ thản nhiên, bất động như thế được.
Một là nhà địa lý tài ba ấy phải chiếm đoạt lấy, để an táng hài cốt tổ phụ, nhất là vào hoàn cảnh của họ Cao lúc đó, đang bị kẻ thù âm mưu hãm hại, tìm đủ cách sàm tấu với triều đình thì một nhân vật lổi lạc văn võ song toàn, trí mưu gồm đủ như Cao Biền, rất có thể xưng hùng một cõi bằng cách tạo lập riêng biệt cho mình một sự nghiệp, bắt đầu bằng ngôi mả "Cửu Thập bát Tú", và sau đó, dùng làng Mộ Trạch để quy tụ con cháu làm vây cánh, há không phải là mưu kế vạn toàn sao ?
Hai là, nếu Cao Biền không muốn hoạt động cho sự tư lợi của mình, thì chiếu theo chiếu mạng của nhà vua, nhà phong thủy đó cũng phải phá huỷ kiểu đất, triệt hạ long mạch, để không cho một ai, lợi dụng khu cát địa ấy, ngóc đầu lên được ?
Vậy mà cả hai giải pháp trên, đều không được Cao Biền xử dụng, thì đủ hiểu vùng đất đai kỳ tú đó đã có chủ từ lâu, hoặc giả Cao Biền không hề được đặt chân đến vùng Lương Đường, Ngọc Cục một lần nào hết !
Đặt giả thuyết là ngôi mả táng treo được an táng từ khi bắt đầu có chức Đô Hộ Sứ và xứ Giao Châu được mang tên là xứ An Nam, nghĩa là vào đời vua Cao Tôn nhà Đường bên Tàu.
Đồng thời ta cũng cứ tạm tin Vũ Hồn là quan Đô Hộ Sứ đầu tiên do nhà Đường bổ nhiệm sang cai trị đất An Nam, theo như lời ghi chú trong gia phả họ Vũ mà tài liệu còn được đặt thờ trên ngai, mặc dầu trong sử sách, chúng tôi đã tốn công tra cứu, không hề thấy một viên quan văn võ, lớn nhỏ nào của nhà Đường, được phái qua đất An nam, mang họ Vũ, chứ đừng nói là chức Đô Hộ Sứ, một chức vụ nếu chúng tôi không lầm, không thua kém gì chức Thái Thú về trước, hay chức Tiết Độ sứ sau này, cũng do nhà Đường đặt ra.
Nếu tạm tin là có quan Đô Hộ Sứ Vũ Hồn, từ bên Tàu qua cai trị đất này, rồi đặt thêm một câu hỏi phụ : họ Vũ đóng doanh trại ở đâu mà lại có thể tìm được kiểu đất " Cửu Thập bát Tú triều dương" và làng Mộ Trạch để có thể sau đấy, về triều đình xin phép nhà vua cho di cư con cháu qua An nam lập nghiệp ?
Thời gian tìm kiếm được đất, trở về Tàu, rồi lại qua An Nam, theo sự chuyển vận ngày xưa, đường lối giao thông không thuận tiện, nào qua suối băng rừng, nào trèo non, vượt bể liệu mất bao nhiêu ngày tháng ?
Đó là chưa kể đến những sự trở ngại khác, rất có thể xãy ra, về phương diện chính trị, cho một viên quan nhận mệnh vua đi trấn nhậm phương xa chưa làm được điều gì đặc biệt đã lại về triều xin đem con cháu qua lập nghiệp ở nơi mình đang cai trị, thì há không sợ nhà vua nghi ngờ, và các bạn đồng liêu dị nghị rồi tìm cách ngăn cản sao ?
Ai cũng biết rằng cái nghề làm quan ỡ bên Tàu, một khi được bổ đi trấn nhậm các vùng bị nội thuộc là có một cơ hội làm giàu chắc chắn, tha hồ mà vơ vét, đục khoét, làm mưa, làm gió với đám dân đen bản xứ !
Vậy thì trước miếng mồi ngon béo bở ấy, các triều thần văn vỏ nhà Đường, đâu có dại gì mà để cho Vũ Hồn được độc quyền hưởng thụ ?
Mà không những chỉ hưởng thụ một mình, Vũ Hồn lại còn về đem con cháu, họ hàng qua An nam lập nghiệp, một cách quá dể dàng, khiến cho giờ đây, khi đọc đến đoạn này, người ta đã phải bâng khuâng tự hỏi : Trong thời đại phong kiến cực thịnh, vấn đề di dân lại thực hiện nhanh chóng đến thế sao ?
Nếu tính cộng tất cả thời gian từ lúc Vũ Hồn sang An Nam làm Đô Hộ Sứ, cho đến khi tìm được đất về Tàu, xin nhà vua đem con cháu qua thành lập làng Mộ Trạch, rồi lại tiếp tục cai trị dân An Nam, cho đến lúc chết để được mai táng trong kiểu đất Cửu Thập Bát Tú triều dương, thì thời gian tổng cộng đó là mấy năm ?, mà đến khi Cao Biền qua đấy, mọi việc đã đâu vào đấy cả rồi, nghĩa là đã có ngôi mả táng treo và làng Mộ Trạch đàng hoàng rồi, khiến cho Cao Biền đành chỉ còn nhìn kiểu đất mà tỏ ý tiếc hận.
Qua mấy kỳ vừa rồi, chúng tôi đã trình bày những nghi vấn về thời gian chính xác, của ngôi mả táng treo, và tin rằng, nếu Vũ Hồn có quả là người Trung Hoa thật sự, được làm quan tới chức Đô Hộ Sứ, thì ngôi mả ấy phải được táng trong khoảng thời gian từ năm quan Đô Hộ Sứ Khâu Hòa được bổ qua đấy đến năm quan Đô Hộ Sứ (sau là Tiết Độ Sứ) Cao Biền đem quân sang đánh quân Nam Chiếu, mặc dầu trong số các quan lại nhà Đường (xin nhắc lại thêm một lần nữa) đặt chân lên đất An nam , không hề có một ai mang họ Vũ hết, kể cả các quan lớn, nhỏ văn, võ !
dienbatn is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 25-07-2006   #4
dienbatn
Hội viên
 
Tham gia ngày: Aug 2004
Nơi Cư Ngụ: Vietnam
Bài gởi: 891
Thanks: 0
Thanked 13 Times in 13 Posts
Vả lại, nếu tài liệu được ghi trong gia phả của họ Vũ là đúng, thì Vũ Hồn đã xuất chinh làm quan to từ trước khi thấy kiểu đất Cửu Thập bát Tú triều dương và vùng Khả Mộ, nghĩa là họ Vũ vẫn là một thế gia lệnh tộc ở Trung Quốc từ lâu rồi, chứ đâu phải do kiểu đất Cửu Thập bát Tú triều dương đem lại được sự kết phát, tạo ra cho Vũ Hồn cái địa vị vinh quang, hiển hách ấy ?
Vậy thì những linh khí nhật nguyệt, kết tụ thành kiểu đất đặc biệt, có một không hai ở dưới gầm trời này, há chẳng bị giảm mất một phần nào sự hiệu nghiệm ư ?
Rút kinh nghiệm của những kiểu đất quý báu từ xưa tới nay, mà sự kết phát kỳ dị, qua những hiện tượng lạ lùng, có khi gần như hoang đường, quái đản, đã được phổ biến sâu rộng trong dân gian, khiến cho những giai thoại ấy được truyền tụng, thông thường không kém gì những câu ca dao tục ngữ, hoặc do tự chúng tôi sưu tầm được, thì những kiểu đất đặc biệt, phần nhiều điều đem lại sự kết phát rất bất ngờ, huyền diệu : từ dây rơm, áo vải đến mũ mảng, cân đai, từ hàn sĩ, không có đất cắm dùi, đến ông Nghè, ông Bảng nghênh ngang, võng lọng chớ ít khi thấy một kiểu đất quý đem lại sự kết phát cho một gia đình, đang được kết phát như trường hợp của quan An Nam Đô Hộ Sứ Vũ Hồn lúc mới được bổ nhiệm qua đây.
Hơn thế nữa, các Cụ nhà ta trước kia, mỗi khi có cơ hội đề cập đến chuyện mồ mả, đất cát, thường bao giờ cũng đem câu : "Tiên tích đức, hậu tầm long" ra, để khuyên bảo con cháu, không phải dụng ý khuyến thiện : cần phải tu nhân, tích đức, làm điều lành, tránh điều dữ trước đi, rồi sau mới có thể nghĩ đến truyện tìm thầy địa lý để nhờ kiếm cho một kiểu đất kết phát !
Ở đời, ai cũng biết đồng tiền có sức mạnh vô biên !
Vì đồng tiền, người ta có thể thay đen, đổi trắng, vẻ phấn bôi son mặc sức mua danh, bán lợi theo ý muốn của mình !
Nhưng riêng về việc mồ mả, đất cát thì đồng tiền quả thật không tạo được nổi một mảy may ảnh hưởng nào dù cho những nhà đại phú giàu có vào loại Thạch Sùng, Vương Khải ngày xưa, cũng đành tâm bó tay chịu phép, không thể ỷ mình dư vàng ngọc, dư tiền bạc, để mà tha hồ mượn thầy địa lý tìm những kiểu đất quý báu, hầu hy vọng một sớm, một chiều, từ địa vị phú hộ, nhảy lên quan lớn, muốn chém giết ai tùy thích !
************************************************** ****
Lão còn phân trần rành rẻ cho mọi người khỏi nghi ngờ thắc mắc :
- Sở dĩ lão muốn dùng kiểu đất có một không hai ở dưới gầm trời này, để an táng hài cốt họ Vũ, mà không chiếm đoạt lấy cho riêng mình, là vì lão đã biết chắc rằng tổ tiên họ Vũ rất dày âm công, phước trạch, nên Trời Phật mới dành riêng kiểu đất ấy cho họ Vũ, không một ai được phép xâm phạm.
Vả lại, Vũ Nghĩa là con trai thứ của Vũ Hồn, từ nay đã mang họ Vương, là con nuôi của lão, thì nhiều ít, dù muốn, dù không, sau này vận mạng của nó cũng phải liên hệ với mộ phần thân phụ nó.
Như vậy, lão dù có tặng họ Vũ kiểu đất đặc biệt song nghĩ cho cùng không thiệt thòi gì, vì chính con nuôi lão (Vũ Nghĩa) cũng được hưởng thụ một phần phước trạch của ngôi mả kết phát.
Trần thị vui vẻ bằng lòng. Họ Vương chọn ngày cải táng xong xuôi, rồi đem Vũ Nghĩa, nay đổi là Vương Nghĩa về Tàu !
Trần thị nhắn tin mời thân phụ nàng qua chơi để tiếp đải họ Vương, hầu tránh những lời dị nghị của dân làng, vì dù đã có hai con với Vũ Hồn, lại thêm mang vòng khăn tang trên đầu với chuổi ngày buồn tẻ của kiếp sống vị vong, người trong thôn xóm cũng vẫn không quên mối tình duyên ngắn ngủi giữa nàng với thầy lang họ Vương năm trước.
Đêm hôm ấy, nhân bàn đến chuyện cải táng Vũ Hồn, họ Vương vui miệng, đã thú thật các việc đã qua : từ khi lão theo dõi long mạch cho đến lúc tìm thấy huyệt quý, nhưng thử đi, thử lại nhiều lần, lão đành khoanh tay khuất phục số mạng, không sao cưỡng nổi mệnh trời, vì qua bao nhiêu hiện tượng quái đản, dị kỳ, lão tự biết, nhà mình bạc phước, chưa đủ âm công hưởng thụ kiểu đất kết phát hiển hách đó, mà Thượng Đế đã dành riêng cho Vũ Hồn.
Lão cũng không dấu những sự hiển linh ghê ghớm, khi bị sét đánh trúng tróc long, một mảnh lực huyền ảo nào đó đã phá tan luôn cả bùa phép, ngăn cản không cho lão hô thần, chiêu tập âm binh, và sau đấy, còn báo mộng cho lão biết lòng trời, chỉ ban kiểu đất cho họ Vũ, ai cố tình chiếm đoạt nhất định sẽ gặp tai họa.
Nghe lão thuật chuyện người nông dân xuất hiện, giữa một cơn mưa gió, gió mưa tầm tả, lúc lão phải vào tạm trú trong miếu cô hồn, để mách bảo rành mạch cho lão biết đích xác danh tánh người được hưởng thụ phước trạch của thánh thần, cả hai cha con Trần thị cùng ngơ ngác nhìn nhau nhu dò hỏi, nhưng cả hai đều không biết người nông dân kỳ dị ấy là ai, mặc dù họ Vương đã phác tả lại rõ ràng tỷ mỷ nét mặt và giáng điệu của người nông dân lạ lùng đó.
Cả hai cha con cùng một lượt, điểm danh dân làng ở từng thôn, từng xóm, xem có ai vào cở tuổi ấy, có tầm vóc người và nét mặt như thầy lang vừa phác tả.
Song họ chỉ thất vọng, ngao ngán nhìn nhau, lắc đầu, vẻ băn khoăn in hằn trên hai khuôn mặt một già, một trẻ !
Thấy thế, họ Vương chỉ còn biết kết luận mơ hồ : đó có lẻ là thổ thần hiển linh, chứ nếu là người ở trong vùng thì cha con họ Trần, vốn là dân sở tại, lẻ tất nhiên phải biết chứ có lý đâu lại chẳng có thể nào đoán ra được là ai ?
Họ Vương thuật tiếp đến sự dò hỏi cố tìm cho kỳ được Vũ Hồn.
Lão thú thật: Khi chưa tìm thấy họ Vũ , thâm tâm lão vẫn hoài nghi, không tin chắc sự hiển linh của thổ thần mách bảo, cũng như sự tiết lộ dị kỳ của người nông dân ở miếu Cô hồn. Nhưng đến khi tìm được Vũ Hồn, mướn được họ Vũ về làm quản gia cho tiệm thuốc, nhất là sau nhiều cuộc dò xét kín đáo, biết được rõ ràng về lai lịch, gốc tích cùng nền tảng âm công, tu nhân tích đức của tổ tiên họ Vũ thì lão mới thật sự giật mình, hoảng kinh hồn vía trước lẻ trời huyền bí, và bàn tay an bài kỳ diệu của Hóa Công. Nhờ đấy, lão mới tự nguyện, khấn vái cùng thánh thần, xin tuân theo mệnh trời, nhường kiểu đất quý đã tìm được cho Vũ Hồn, mà chỉ xin ghé hưởng một phần phước trạch.
Qua bao nhiêu đêm thao thức không ngũ, lão suy tính kỷ lưỡng, để tìm cơ mưu thực hiện ý định trên. Mãi sau mới suy nghĩ được cách mượn giống, nghỉa là cố sức gầy dựng cho Vũ Hồn sớm thành gia thất, rồi xin một đứa con họ Vũ đem về Tàu làm con nuôi cho mang họ Vương chính thức. Như vậy, vừa nên tình, nên nghĩa, lại vừa tạo được phước trạch cho riêng họ Lão mà vẫn không trái với lòng trời.
*** HẾT ***
dienbatn is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 25-07-2006   #5
dienbatn
Hội viên
 
Tham gia ngày: Aug 2004
Nơi Cư Ngụ: Vietnam
Bài gởi: 891
Thanks: 0
Thanked 13 Times in 13 Posts
Mộ Trạch: Làng Tiến Sĩ

"Làng Mộ Trạch thì nặng bằng một nửa thiên hạ" (Vua Tự Đức)
Đó là làng Mộ Trạch, xã Tân Hồng huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Một làng nhỏ có tới 36 tiến sĩ, nếu kể cả ba vị do các cơ sở khoa học Trung ương và tỉnh phát hiện nhưng các cụ của làng còn đang đối chiếu với ngọc phả hương thôn và tộc phả các dòng họ thì là 39. Dường như hỏi bất cừ người dân trưởng thành nào trong huyện về làng tiến sĩ là được chỉ tới nơi đây. Vào làng hỏi bất cứ công dân trưởng thành nào cũng được kể cho nghe về xuất xứ tên gọi cũng như người khai sinh ra bờ tre ngõ lối của làng!
Kể rằng:
Vũ Công Huy là quan chức đời Đường đã sáu mươi tuổi vẫn không con cái. Quá buồn chán, Vũ Công Huy cáo từ quan và xin phép vua Đường cho du hành về phương Nam. Thấy đất Thanh Lâm nay là vùng Nam Sách, Hải Dương có nhiều gò đống rất đẹp và linh thiêng ngài bèn đem hài cốt cha sang mai táng. Rồi Vũ Công Huy gặp một người con gái nết na, thuỳ mị, xinh xắn nhất vùng tên là Nguyễn Thị Đức bèn lấy làm vợ. Họ đưa nhau trở về Trung Quốc. Năm 804 vợ chồng sinh hạ một người con trai tuấn tú đặt tên là Vũ Hồn. Năm bảy tuổi Vũ Hồn đã đọc thông viết thạo. Năm mười hai tuổi học đâu nhớ đấy. Năm mười tám tuổi thi đình đỗ cao, được bổ làm quan, rồi được vua Đường phong chức Đô Ngự xứ ở quận Giao Châu tức Việt Nam ta lúc đó còn đang trong thời kỳ Bắc thuộc.Đô Ngự xứ Vũ Hồn đi kinh lý thấy vùng đất Bách nhạn hồi sào ở vùng Bình Giang ngày nay, cho rằng nơi đây mến mộ lòng người, dân chúng có thể phát về đường khoa cử bèn lập ấp đem mẹ từ phương Bắc sang nuôi dưỡng và gọi vùng đất này là Khả Mộ. Tên có từ ngày ấy. Dần dần lưu truyền đời con đời cháu đọc chệch đi nên làng mang tên Mộ Trạch như ngày nay.
Mẹ mất. Vũ Hồn đưa về mai táng ở thôn Kiêt Đặc thuộc vùng núi Phượng Hoàng, Chí Linh bây giờ. Ngày 23 tháng Chạp năm Quý Dậu (853) Vũ Hồn 49 tuổi không bệnh mà hoá. Dân chúng khiêng đi mai táng gặp buổi chiều mưa giông sấm sét dữ dội mãi lâu không ngớt đành bỏ về. Sáng hôm sau trời quang mây tạnh họ ra để tiếp tục công việc thì không thấy thi xác đâu cả. Như là đã biến thành thần và bay vút lên trời. Dân chúng bèn bẩm tâu lên các quan cai trị. Vua Đường cho người về xem xét thấy đúng bèn ra sắc phong Dương Cảnh thành hoàng - Lâu đài cý sĩ. Nhân dân nhớ ơn rước bài vị của vua Đường ban chiếu cùng hương hồn ông vào đình ngự lẫm ngôi vị thành hoàng của làng.
Con đường đèn sách
Xứ Đông ngàỵ xưa bao cả vùng đất rộng lớn gồm Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng... sự nghiệp giáo dục phát triển mạnh vào thời Lê và truyền thống học tập đỗ đạt của con em xứ Đông ngày càng được phát huy, số người đỗ đạt từ thi hương đến thi hội ngàỵ càng nhiều. Hiện nay 82 bia tiến sĩ còn lại ở Văn Miếu, Hà Nội, ta dễ dàng tìm thấy phần khá lớn khoa bảng thành đạt thời xưa xuất thân từ xứ Đông và đặc biệt người làng Mộ Trạch có trên 18 văn bia.
Xét trên phạm vi đơn vị huyện của xứ Đông, mật độ tiến sĩ tập trung khá cao ở Văn Giang, Ân Thi, Chí Linh, Thanh Lâm, Đường An, nhưng trong phạm vi một làng xóm thì Mộ Trạch là điếm sáng rực rỡ mãi mãi toá ánh hào quang từ ngàn xưa cho tới hôm nay. Làng Mộ Trạch nhỏ bé tới tận năm 1945 mới có xấp xỉ1000 nhân khẩu và hôm nay có hơn 700 hộ với 2800 nhân khẩu. Ấy vậy mà dưới những năm tháng u tịch của mười thế kỷ trước đã lần lượt xuất hiện tới 36 vị tiến sĩ, chưa kể đến cử nhân, tú tài, đứng vào bậc nhất cả nước về trình độ học vấn. Đặc biệt có những khoa thi, những kỳ thi, sĩ tử ra đi từ làng Mộ Trạch đã giành thành tựu vẻ vang xứng danh tổ tiên dòng tộc. Ngọc phả của làng cũng như trên bia số 18 tại Văn Miếu - Hà Nội còn ghi rõ khoa thi năm Bính Thân, niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ tư (1656) dưới thời Lê Thần Tôn và Trịnh Tráng có tới 3000 người dự mà chỉ được chọn đỗ sáu thì đệ tam giáp làng Mộ Trạch là Vũ Trác Lạc, Vũ Đãng Long, và Vũ Công Lượng, nghĩa là chiếm tới một nửa những con người thành đạt của cả thiên hạ. Tiếp đến là khoa thi Kỷ Hợi năm 1659 Mộ Trạch lại có tới bốn người đỗ tiến sĩ là Vũ Cầu Hối, Vũ Công Đạo, Vũ Duy Hải và Lê Công Triều.
Hầu hết danh sĩ làng Mộ Trạch đều để lại những tác phẩm văn học có giá trị cho đời sau: Lê Cánh Tuân có Vạn ngôn thư và 12 bài trong Toàn Việt thi lục. Lê Thiếu Đình có Tiệt trại thi tập. Vũ Hữu có Đại thành toàn pháp. Vũ Quỳnh có Đại Việt thông giám và Lĩnh nam trích quái. Vũ Cán có Tùng niên thi tập và Tứ lục bi lâm. Lê Nại có Việt sử thông giám. Vũ Phương Đề có Công dư tiếp ký 43 tập. Vũ Huy Tấn có Văn tế quân Thanh... và nhiều người có công với nước hoặc tài trí đặc biệt hơn người được dân gian lưu danh muôn thuở như: Vũ Nạp, phó tướng của Trần Quốc Bảo đã thay mặt chủ tướng khi Trần Quốc Bảo tử trận, xông pha giữa mũi tên hòn đạn, chỉ huy quân sĩ phá tan thế trận của giặc Nguyên trên sông Bạch Đằng bắt sống tướng giặt là Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp. Sau này ông được vua nhà Trần ban cho bài vị Đồng Giang hầu Vũ tướng công. Hai con trai ông là Vũ Nghiên Tá và Vũ Hán Bi cùng đỗ Thái học sinh khoa Giáp Thìn (1304) triều vua Trần Anh Tôn. Rồi Lê Thiêu Dĩnh, Lê Thúc Hiển và con trai là Lê Cảnh Tuân đã vào tận xứ Thanh phò tá Lê Lợi góp phần diệt tan giặc Minh được liệt vào hàng danh sĩ công thần nhà Lê. Rồi trạng ăn Lê Đỉnh, trạng chạy Vũ Cương Trực, trạng vật Vũ Phong, trạng cờ Vũ Huyên và trạng toán Vũ Hữu. Mỗi ông trạng đều có danh tính thật trong sử sách của làng cùng với công trạng kiệt xuất và sự thêu dệt do lòng ngưỡng mộ tôn kính đời đời.
Làng Mộ Trạch nghèo. Dân từ ngàn xưa thuần nông cầy cấy, dệt vải, nhưng vẫn hết sức chăm lo đèn sách. Các bậc già nhất của làng kể lại là làng có quán khảo văn. Hàng năm, trước khi sĩ tử trảy hội thi hương hay thi đình do Nhà nước tổ chức đều phải qua kỳ thi làng ở quán khảo văn. Tại đây các môn sinh chẳng những nâng mình lên trong tầm hiểu biết mà còn làm quen tới cách thức, thể lệ. Những quán văn ấy của thời xa xưa chắc chắn bằng tranh tre nứa lá không thể tồn tại đến ngày nay những nó được ghi mãi trong lòng người truyền tụng từ đời này qua đời khác. Chẳng phải ngẫu nhiên mà Đức Dực Tôn Anh Hoàng Đế Tự Đức vốn thông minh hay chữ đã phải thốt lên Mộ Trạch nhất gia bán thiên hạ tức là riêng làng Mộ Trạch tài năng bằng một nửa thiên hạ.
Gia phả họ Vũ của làng còn ghi một giai thoại: Lại bộ tả thị lang Nguyễn Văn Phong lục vấn rằng người làng Mộ Trạch có tý xảo thần thế gì đó mới nhiều người đỗ đến thế. Kỳ thi hương năm Canh Trị thứ tý (1666) ông xin về xứ Đông làm đề điệu (chủ khảo). Ông cho đào mỗi thí sinh một hố, trên đắp liếp, người thì ngồi trong đó làm bài. Ông chọn những câu văn hóc hiểm làm đề thi, lại truyền cho hai ban sơ khảo và phúc khảo chỉ được chọn những quyển nào viết chữ rõ ràng, không dập xoá, sửa chữa. Quan trường chấm bài xong, tuyển được ba mươi quyển hợp cách trình quan đê điệu chấm lại. Nguyễn Văn Phong chỉ lựa được sáu quyển, còn đánh trượt. Sau khi xếp thứ bậc rồi khớp phách để yết bảng, thì người đỗ đầu là Vũ Văn Hiên, 18 tuổi, đậu ngay giải nguyên. Người thứ hai lã Vũ Bật Lại. Người thứ ba là Vũ Chấn, đều ra đi từ làng Mộ Trạch. Ba người kia là của khắp thiên hạ.
Mộ Trạch xưa nhiều người làm quan là vậy nhưng không giàu. Người dân mang hết nghị lực cho sự nghiệp học hành của con em mình. Chữ thánh hiền được nâng niu quý trọng. Đàn ông tiêu biểu của làng là làm quan hoặc làm nghề dạy học. Thầy đồ Chằm (tên nôm làng Mộ Trạch) nổi tiếng về tài nãng và trọng nhân cách, là thầy dạy dỗ từ bước đi đầu tiên của bao cử nhân, tiến sĩ. Dân gian quanh vùng có câu: Tiền làng Đọc. Thóc làng Nhữ. Chữ làng Chằm. Làng Đọc có nghề nhuộm cổ truyền mỗi năm thu hàng bồ tiền của thiên hạ. Làng Nhữ ruộng nhiều và tốt lắm thóc nhất vùng. Còn làng Chằm, như ta đã biết, nổi tiếng hay chữ, nhiều người đỗ đạt cao và thầy đồ học sâu hiểu rộng. Tại các cuộc thi thử hay quán khảo văn của làng, các bậc đại nho nghiêm khắc với bài vở và phong độ của những người ôm chữ thánh hiền là các môn sinh. Khuyến khích nhau hoc hành chuyên cần, nghiêm túc, có hệ thống đã trở thành nếp sống văn hoá mang truyền thống đặc sắc và là nguyên nhân quan trọng bậc nhất tạo sự thành đạt cho các môn sinh làng Mộ Trạch.
Nơi an toạ của các vị thần
Đó là đình! Giữa vùng địch hậu Liên khu Ba suốt thời kháng chiến chống Pháp thật hiếm thấy còn có ngôi đình đồ sộ với đây đủ tiền cung, hậu cung, các hoành phi câu đối, vững vàng hàng cột lim vòng tay người ôm mới xuể trên từng trụ đá. Đình thờ thần hoàng Vũ Hồn có công lập ra làng Khả Mộ và đem chữ thánh hiền từ phương Bắc về tận nơi đây. Tới triều Lê Mạt các cuộc khởi nghĩa nổi lên khắp nơi trong đó có cuộc khởi nghĩa vang dội của quận He Nguyễn Hữu Cầu. Đình bị tàn phá. Bà Nhữ Thị Nhuận là người rất có tâm huyết với dân, với nước, thấy vậy liền bỏ tiền ra tu chỉnh ngôi đình. Bà là người tài ba lỗi lạc thương nước thương dân nên khi có giặc cướp nổi lên ở trấn Nghệ An vua liền cử bà vào dẹp giặc. Đội quân của bà toàn nữ. Giặc cướp trông thấy cờ hiệu nữ tướng Nhữ Thị Nhuận thì lần lượt tan rã hoặc bỏ vũ khí đầu hàng. Bà còn đùng cây quế chữa bệnh cho dân nghèo nên được vua phong Quận quế phu nhân và được dân phong là hậu thần có bia ở cạnh đình.
Đình làng Mô Trạch có tới 12 sắc phong của các triều vua và hiện nay vẫn còn giữ được tám. Đình được Nhà nước ta công nhận di tích văn hoá ngày 2 tháng 4 năm 1991.
Thăm đình làng Mộ Trạch sau khi ghi nhận những bản sắc văn hoá của kiến trúc ta dễ chú ý tới những tên tuổi đã vĩnh hằng tồn tại qua năm tháng. Danh sách 36 tiến sĩ được treo trang trọng. Tiếp đến là danh sách năm vị tiến sĩ có công bảo vệ Tổ quốc. Đó là cụ Vũ Nạp như đã đề cập tới. Tiếp đến là Lê Thiêu Dĩnh tham gia khởi nghĩa Lam Sơn dưới cờ nghĩa của Lê Lợi và Nguyễn Trãi. Ông trở thành công thần nhà Lê và từng được cử cầm đầu đoàn sứ bộ sang Trung Quốc. Người thứ ba là cụ Vũ Dự dưới thời Lê Trịnh đã cùng Cường quốc công Nguyễn Xí năm 1459 trừ bọn gian thần Phạm Bàn, Phạm Đôn đưa vua Lê Thánh Tôn lên ngôi mở đầu thời kỳ Hồng Đức phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Thời Lê trung hưng có cụ Vũ Trác Oánh lãnh đạo nông dân Hải Dương nổi lên chống tham quan ô lại. Người thứ năm là cụ Vũ Tấn, đỗ phó bảng năm Ất Mùi 1778 từng phụng mệnh vua Quang Trung đi sứ nhà Thanh.
Dân Mộ Trạch say sưa kể lịch sử ngôi đình - một di tích lịch sử văn hoá đồng thời ai ai cũng có thể kể về năm tiến sĩ biệt tài được phong trạng. Trạng ăn: Lê Nại, Trạng cờ: Vũ Huyên, Trạng Vật: Vũ Phong, Trạng Toán: Vũ Hữu, Trạng chạy: Vũ Cương Trực.
Con đường hôm nay
Chúng tôi về thăm làng Mộ Trạch vào buổi chiều một ngày cuối năm. Ai cũng bận rộn. Bí thư Đảng uỷ xã Vũ Xuân Đoàn, trưởng thôn Vũ Huy Tuệ, phó Chủ tịch hội Cựu chiến binh Vũ Quốc Ái, cùng nhiều cán bộ và bà con thôn xóm vừa kế chuyện vừa đưa chúng tôi đi thăm đình, thăm miếu.
Làng hôm nay có 13 dòng họ nhưng dòng họ Vũ đông hơn cả và thành đạt hơn cả. Một ngàn năm trôi qua chi nhánh của họVũ toả đi khắp nơi, đỗ cao thành đạt khắp nơi, nhưng đâu đâu cũng nhớ về tổ tiên Vũ Hồn một thời khẩn hoang lập làng, lập xóm. Sử sách còn ghi lại thuỷ tổ họ Đặng Vũ ở làng Hành Thiện, Nam Định là Đặng Vũ Thiên Thế do làm con nuôi họ Đặng mà được mang họ như vậy. Và khi Vũ Hồn được vua Đường cử sang làm Đô hộ xứ Giao Châu ông cũng để lại một chi ở vùng Phúc Kiến, Trung Quốc. Khi ông Đặng Quốc Kiều con cháu họ Đặng Vũ, Nam Định tham gia Việt Nam Quang phục hội theo tìm cụ Phan Bội Châu ở Nhật Bản đúng lúc Chính phủ Nhật trục xuất sinh viên Việt Nam. Ông Kiều chạy sang Trung Quốc và đến Phúc Kiến tìm lai lịch con cháu Vũ Hồn tại nơi đâỵ. Bà con họ Vũ đã tiếp đón ông vô cùng niềm nở, vui mừng vì đã trên ngàn năm, con cháu dòng tộc họ Vũ ở hai chi, một chi Trung Quốc, một chi Việt Nam, mới gặp lại nhau. Biết ông còn tiếp tục sang Xiêm La (Thái Lan) hoạt động Cách mạng họ đã giúp ông khoản tiền lớn để đi đường và bố trí giúp ông vào làm bồi cho một gia đình người Âu tại Vọng Các (Băng Cốc).
Đời sống dân làng đổi thay nhanh chóng. Người đói không có và tỷ lệ gia đình nghèo chỉ còn năm phần trăm. Con cháu làng Mộ Trạch nay toả khắp nơi trong nước và ngoài nước làm ăn và khá nhiều người thành đạt. Dân Mộ Trạch có truyền thống lấy ngày 8 tháng Giêng Âm lịch hàng năm làm hội làng. Ngày hội làng vừa qua có chương trình độc đáo gọi là tôn vinh tiến sĩ. Những tiến sĩ thời nay! Những người có học hàm học vị và cả những người có thành tựu lớn lao trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội và kinh tế. Người ta nhắc đến những tên tuổi như tiến sĩ Vật lý nguyên tử ở Nhật Bản Vũ Khắc Thịnh, Giáo sý tiến sĩ Vũ Tuyên Hoàng, nhà giáo Vũ Đình Liên, cụ Vũ Đình Hoè từng làm Bộ trưởng Bộ Tư pháp dưới thời Cụ Hồ, tiến sĩ Vũ Phương Nghi ở Pháp gửi thư về có đoạn viết: Có thể nói, nhờ lòng tự hào về làng Mộ Trạch mà tôi đã phấn đấu vươn lên mọi khó khăn để đạt bằng tiến sĩ văn học ở Paris.
Chúng tôi tới làng Mộ Trạch đúng vào dịp đài truyền hình vừa làm đoạn phim phóng sự về anh thương binh Vũ Hồng Quang. Anh bị cụt tay trái, cụt bốn ngón của bàn tay phải và nhiều vết khác trên mình với loại thương tật một trên bốn. Hoàn cảnh gia đình khó khăn nhưng anh Quang đã gắng hết sức nuôi nấng con cái trưởng thành. Ba con đều tốt nghiệp đại học, hai con tốt nghiệp cao đẳng và gần đây con gái Vũ Thị Đào của anh đã bay sang Pháp làm luận án tiến sĩ. Ngày nay ở làng Mộ Trạch chẳng ai ngây thơ làm việc xây lại Quán khảo văn hay Kỳ Anh Hội lão nhưng nhà nào cũng có chỗ học cho con cái, cũng động viên thế hệ trẻ noi theo truyền thống cha ông mà nắm lấy tri thức phục vụ cho đất nước, làm vẻ vang cho gia đình, họ tộc và thôn xóm. Đặc biệt họ Vũ ở Mộ Trạch xưa và nay đều chiếm đầu bảng về học hành đỗ đạt. Họ Vũ có nhiều nhà thờ. Nhưng chỉ có một nhà thờ được lấy tên là Thế Khoa Đường do vua Lê phong tặng vì có ba người nối dõi liên tiếp đều là con trưởng thi đỗ tiến sĩ. Con cháu họ Vũ nói riêng và con em làng Mộ Trạch nói chung đang say sưa lao động xây dựng thôn xóm, xây dựng cuộc sống, và gắng hết mình học hành để vươn lên tầm cao mới của trí tuệ.
dienbatn is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 25-07-2006   #6
dienbatn
Hội viên
 
Tham gia ngày: Aug 2004
Nơi Cư Ngụ: Vietnam
Bài gởi: 891
Thanks: 0
Thanked 13 Times in 13 Posts
BÀI THỨ HAI : Kiểu đất HUYNH ĐỆ ĐỒNG KHOA

" Đông Kim có mả cao sang,
Đồng khoa huynh đệ vẻ vang một nhà.
Tiếc cho tay Hổ vòng qua,
Dâm bôn gây nạn, trăm hoa điên cuồng " !

Những bà con ở vùng Thường Tín, Vân Đình, Phú Xuyên, Thanh Trì (tỉnh Hà Đông ) hẳn không mấy ai không biết họ Cừ, một dòng họ liên tiếp có người làm quan to, đã được bốn đời.
Điểm đặc biệt được mọi người lưu ý hơn hết là trong số những người làm quan to họ Cừ, đời nào cũng có hai anh em thuộc hai chi trên dưới cùng đậu cao, cùng làm lớn ngang nhau, nếu anh đổ tiến sĩ, thì em cũng phải đậu phó bảng hay Thám Hoa, anh giữ chức Thượng Thư, thì em cũng ngồi trên ghế
Tổng Đốc, Tuần Phủ ?
Đến đây, chúng tôi tưởng cần nói thêm : hiện thời con cháu trong họ này, hiện có mặt khá nhiều ở miền Nam, và vẫn còn hưởng thụ sự kết phát như ông cha thuở trước, nên muốn tránh những điều hiểu lầm đáng tiếc, chúng tôi tưởng nên đổi lại danh tánh các nhân vật se được đề cập trong thiên sưu tầm biên khảo này, mặc dầu đây là những tài liệu xác thật trăm phần trăm mà bất cứ ai ở Hà Đông, cũng còn nhớ rõ.
" Đông Kim có mả cao sang,
Đồng khoa huynh đệ vẻ vang một nhà.
Tiếc cho tay Hổ vòng qua,
Dâm bôn gây nạn, trăm hoa điên cuồng " !



NẠN "NẶC NÔ" VỚI LỐI ĐÒI NỢ QUÁI GỞ !

Làng K.H. phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông nằm vào giữa khoảng con đường hàng tỉnh nối liền bờ đê sông Hồng Hà với quốc lộ số 1, vốn là một làng không lấy gì làm trù phú cho lắm, với môt số dân định chừng trên bốn trăm người có thẻ thuế thân (từ 18 trở lên).
Dân làng hầu hết đều sống về nông nghiệp. Một thiểu số không đáng kể, làm nghề buôn báb trâu bò, gà heo. Trong làng từ trước không có một công nghệ chi, nên dân chúng chỉ gồm toàn là những gia đình trung tiểu nông mà phần lớn phải vất vả đi cày thuê, cấy mướn, mới kiếm được đủ cơm ăn, áo mặc hàng ngày.
Họ Cừ chiếm tới hai phần ba nhân số trong làng, được chia ra làm nhiều chi khác nhau : Chi Giáp, chi Ất, chi Bính, chi Đinh.
Chi Giáp của họ Cừ gồm toàn những Hương Lý, Kỳ hào, nghĩa là những người có máu mặt hơn hết tất cả ở trong làng.
Hai chi Bính, Đinh cũng bình thường. Duy có chi Ất là nghèo khổ : người trong chi này quanh năm, suốt tháng chỉ biết gồng thuê, gánh mướn, chân lấm, tay bùn, vất vả, gian nan lắm, mới trả xong được món nợ hình hài cơm áo !
Hàng ngày vì phải vật lộn gay go, cùng sanh kế, nên người trong chi Ất của họ Cừ cam chịu phận đàn em, lép vế, không dám tranh dành ngôi thứ, chức vị chi với những bà con đồng tông trong chi Giáp !
Vã lại, tiền bạc đâu để lo liệu khi mà một góc chiếu ngồi ở chốn đình trung, có thể được trị giá bằng cả một sản nghiệp đại phú gia : nhà ngói, cây mít, ruộng cấy, trâu cày, thóc lúa đầy kho, bạc vàng chật tủ ?
Biết rõ phận mình, những người trong chi Ất họ Cừ chỉ biết cặm cụi làm ăn, chăm lo bổn phận cùng đinh, để khõi mang lụy vào thân, vì nếu không may phạm vào lệ làng, thì với kiếp nghèo hèn, thấp cổ bé miệng, họ còn biết kêu oan vào đâu cho được ?
Ông Xã Thuật trưởng chi Ất dòng họ Cừ, vốn là một nông dân chất phác, nhưng nghèo khổ, túng thiếu quá, nhất là sau khi lấy vợ, sanh hạ được hai đứa con trai, cái gia đình bé nhỏ này, lại càng lâm vào cảnh thiếu trước, hụt sau, phải vay công lãnh nợ, sống lần hồi, bằng cách giặt gấu, vá vai cho qua ngày, đoạn tháng !
Nhưng chỉ tới vụ mùa năm ấy, thấy ông Xã không chịu trả nợ, mấy nhà phú hộ chủ nợ, liền hối thúc và thuê "nặc nô" đến xách nhiểu, rất cơ cực, tàn ác, bằng đủ mọi phương pháp thâm hiểm, trắng trợn đến cùng độ.
Trong thời phong kiến, bất cứ ở địa phương nào, nhất là ở những tỉnh thành, phủ huyện lỵ, thường có một bọn du thủ du thực, gồm cả nam lẫn nữ, trạc tuổi từ mười tám, đến năm mươi, không cứ phải to lớn, khỏe mạnh, mà chỉ cần lỳ lợm, chây lưỡi, thô bĩ, tàn bạo, nếu biết thêm chút ít quyền cước, võ nghệ, thì càng tốt, để làm nghề " đòi nợ mướn " cho những người giàu có, chuyên môn cho vay lãi " một vốn bốn lời " !
ÁC BÁ CƯỜNG HÀO SAU LŨY TRE XANH
Những nhà phú hộ, tiền nhiều, bạc lắm, lại có máu tham lam chảy trong huyết quản, không bao giờ chịu để cho mớ vàng bạc nằm yên, không sinh sôi nẩy nỡ, ở trong các rương, tráp, năm bảy lần then khóa kỹ càng, mà luôn luôn tìm cách sanh lợi, làm cho tiền bạc sanh đẻ mỗi ngày một nhiều hơn, bằng cách mua rẻ bán đắt những ruông vườn, nhà đất, mua thóc non, từ lúc cây lúa mới bén rễ trong ruông mạ, chờ đến khi lúa trổ bông, chín vàng, vừa được gặt về, phơi cho khô ráo xong xuôi đâu vào đấy, là chủ nợ cho gia nhân đến gánh về... trừ nợ !
Theo thời giá thuở bấy giờ, nếu mỗi phương thóc bán được năm quan tiền, thì với lối mua lúa non, lấy thóc gạo của các nhà phú hộ, họ chỉ phài trả mỗi phương chừng trên dưới một quan tiền !
Người nông dân nghèo túng, quanh năm sống theo lối giặt gấu vá vai, từ việc to đến việc nhỏ, từ giỗ tết, ma chay, cưới xin đến áo quần, thuốc men, đồ ăn, thức uống, nhất nhất cái gì cũng phải trông vào hạt lúa ngày mùa !
Vì vậy, trong thời gian tháng ba, ngày tám, bà con nông dân, dù không muốn cũng phải bất đắc dĩ phải đi vay non, vay già thóc ăn và tiền xài của những nhà phú hộ !
Thóc vay thì tính theo giá rẻ mạt gấp ba gấp bốn giá thị trường, nếu các nông dân muốn trả nợ số thóc vay khi trước bằng tiền.
Còn nếu trả bằng lúa gặt được, thì cứ mỗi phương lúa cho vay lúc tháng ba ngày tám, con nợ phải trả gấp ba, hay gấp bốn lần tùy theo sự điều đình " nhất vi tam " hay " nhất vi tứ " giữa đôi bên đương sự.
Còn tiền mặt, thì thôi, các chủ nợ tha hồ "cạo da" bọn người nghèo khó đến tận tủy, xương, phế phủ, khiến cho nhiều người bị mất cửa, mất nhà, ruộng vườn bị tịch thâu, vợ con phải lìa bỏ quê hương, dấn bước đau thương " tha phương cầu thực ", sau khi số nợ vay trước cứ sinh sôi nẩy nở, mẹ đẻ con, con đẻ cháu, để sau mỗi kỳ hạn, không thể thanh tóan trọn vẹn được cả vốn lẫn lời, con nợ lại bắt buộc phải ký giấy nhận vay số tiền mới, mà chủ nợ đã cẩn thận công chung cả tiền lời với tiền vốn vào với nhau thành một món nợ to hơn số tiền họ đã cho bà con vay lúc đầu gấp bội !
Cứ đà ấy tiến mãi, nên chỉ trong vài ba năm, một món nợ chừng năm bảy chục quan, chắng mấy chốc đã nhảy vọt lên tới mấy trăm quan, để " khi giải kết đến điều ", con nợ đành chỉ còn biết gán nhà, gán ruộng, bán đất, bán vườn cho chủ nợ, rồi bồng bế, giắt dìu vọ con đi nơi khác sinh sống cho đoạn tháng qua ngày.
Trước khi nhận lãnh kết quả đau thương, bi đát ấy, bà con mắc nợ còn phải chịu bao nỗi cực hình của bọn " nặc nô " do các nhà phú hộ mướn đến hành hạ, làm tình làm tội bà con mắc nợ, để hy vọng có thể đòi được đồng nào hay đồng ấy, vì có bao giờ họ chịu mất nợ đâu, khi các con nợ đã chịu ký giấy vay tiền, với sự đảm bảo của mấy bức văn tự ruộng vườn, mà chủ nợ đã nắm chắc trong tay từ lúc trao tiền cho con nợ !
Theo thông lệ thuở bấy giò, bọn nặc nô tuy không được lãnh tiền công, nhưng lại được chia một phần nhỏ, số tiền đòi được, nên vì vậy, lũ chó săn mới chẳng chút nương tay, cố dùng đủ mọi biện pháp trắng trợn, bạo ngược để bắt con nợ phải " lòi tiền " ra cho chúng !
NHƯNG ĐỜI NÀO CŨNG CÓ NGƯỜI ĐIÊN VÀ DÂM LOẠN

Chính kẻ viết thiên sưu tầm này, đã được chứng kiến một cảnh thương tâm do lũ nặc nô gây ra cho một người hàng xóm, bị thiếu nợ ba trăm quan tiền, cả vốn lẫn lời của Ông Lý Chín ở làng Giang Tảo (Tuy làng này ở huyện Thanh Trì, nhưng lại chỉ cách xa làng K.H. của họ Cừ có hơn 2 cây số )
Thảm cảnh từ trên năm mươi năm nay, dù bánh xe thơi gian, đã cuốn theo với bao nhiêu biến chuyễn thăng trầm, mỗi lúc nhớ tới, vẫn hiện ra trước mắt tôi với đầy đủ chi tiết đau thương như mới xãy ra chừng vài ba tháng vậy !
Hôm ấy, vào một buổi trưa hè oi bức, nhà bác Trương bỗng có một người đàn ông lạ mặt, từ ngoài ngõ từ từ đi vào, chẳng thèm chào hỏi ai, cứ tiến thẳng đến bộ ghế ngựa gổ, lại co chân ngồi xếp vòng tròn, kéo chiếc điếu lại gần, rít một hơi thuốc lào, đoạn ngửa cổ lên mái nhà, thở khói rất khoan khoái thản nhiên như chính hắn là chủ nhà vậy.
Bác Trương trai đi cày mướn vắng.
Bác Trương gái bận cho gà ăn ở phía vườn sau.
Thằng Cu Tý lên tám tuổi, đang lấy đất nện phác chơi ở giữa sân, thấy khách lạ vào nhà, định ra hỏi, nhưng thoáng nhận thấy vẻ lầm lỳ, nhất là cặp mắt đỏ ngầu, lúc nào cũng gườm gườm như muốn ăn tươi nuốt sống nó nên bất giác nó đâm ra sợ hãi, đứng ngây mặt nhìn sửng khách lạ, không dám hỏi han chi hết.
Nó đang lấm lét, nhìn mấy vết sẹo sâu hoắm trên ngực người đàn ông, mà chiếc áo cánh nâu năm thân, mở phanh cả hàng nút phía trước như trễ hẳn qua sau lưng làm nổi bật hẳn màu da đen sạm của hắn có lởm chởm một chòm lông phất phơ nằm ngay dưới ngực, thì một giọng ồ ồ... bỗng cất lên gay gắt, khiến nó giật mình ngơ ngác :
- Thằng kia ! Bố Mẹ mày đâu ? Muốn sống gọi ra đây ông bảo...
- Thằng Cu Tý hoảng sợ, mặt mày tái mét, hấp tấp chạy ra vườn, miệng gọi mẹ om sòm.
Bác Trương gái đang cho gà ăn, thấy Cu Tý gọi giật giọng, vội ngừng tay, ngoảnh vào trong nhà hỏi lớn :
- Cái gì đấy, cu Tý ? Có ai hỏi hay sao, mà mày hốt hoảng như thế, hở Cu ?
Thằng Tý vừa thở, vừa đưa tay áo lên quệt mồ hôi trán, lắp bắp trả lời :
- Có...có... ông nào vào nhà, đang ngồi hút... hút thuốc trên phản đấy bu ạ ! Trông sợ sợ là...
Bác Trương gái ngạc nhiên, vội ngừng tay, ngẩng đầu lên nhìn con :
- Ai vào mà mày lại không biết mặt thế, hở Cu ?
Thấy nét mặt ngây ngô, ngơ ngác của thằng Tý, bác vứt mạnh chiếc rỗ đựng ngô cho gà ăn, xuống sân, đưa tay vuốt nhanh mấy sợi tóc loà xòa trên trán, rồi tất tả đi thẳng vào trong nhà.
Bác nhăn mặt, nhíu mày, lắc đầu luôn mấy cái, kèm theo những tiến thở dài thườn thượt, khi thấy khách chính là tên "nặc nô" khét tiếng của ông Lý Chín ở làng Giang Tảo, một hung thần từng làm điêu đứng, nhục nhả nhiều con nợ quanh mấy vùng Thanh Trì, Thượng Phúc, đến nổi thiên hạ không một ai cần biết rõ tên hắn là gì, mà chỉ căn cứ vào giáng điệu hung bạo, tính nết hiểm độc của hắn, mà mệnh danh là... " chú Hắc sát ", vì chẳng những da mặt hắn đen thui, mà lúc nào cũng mang nặng... " sát khí đằng đằng " !
Tuy ngán ngẩm đến cực độ, bác Trương vẫn phải niềm nở chào hỏi :
- Kìa chú Hắc đến chơi bao giờ thế ?
Đoạn thiếm ngoảnh mặt xuống bếp gọi to :
- Cu Tý đâu ? Xách cho u ấm nước trà tươi lên đây, con !
Và quay qua phía khách, bác cố tình nhấn mạnh :
- Rõ không may, chẳng mấy khi được một hôm chú đến chơi, thì bố cháu lại đi vắng...
Tên nặc nô vẫn lầm lì, ngồi ngã người tựa lưng vào vách, lim dim cặp mắt xếch hung ác, lơ đảng nhìn ra sân, chậm rải lên tiếng :
- Ai rỗi hơi, rỗi sức mà chơi với bời ?
Bác ấy đi vắng, thì đọi bác ấy về chớ sao, Bác ấy có bán sới cái làng này đâu mà sợ ?
Đột nhiên, hắn ngồi ngay ngắn, sửa lại điệu bộ nghiêm chỉnh, vắt chân chữ ngũ một cách rất ngang tàng rồi đằng hắng một tiếng to, cất giọng oang oang như lệnh vỡ, hỏi giật giọng :
- Thế nào bác Trương ? Món tiền của ông Lý, tính đến tháng này, cả vốn lẫn lời là năm mươi tư quan chẳn ! Bác trả đi, để tôi còn về kẻo muộn !
Nói xong, hắn trợn mắt tròn xoe, nhìn chủ nhà trừng trừng, như sẳn sàng muốn ăn tươi, nuốt sống người mắc nợ.
Bác Trương gái giật bắn mình, ngơ ngác, vừa đưa tay áo lên quệt mồ hôi trên mặt, vừa hấp tấp hỏi vội :
Ấy chết ! Sao lại nhiều thế hở chú ? Bố cháu chỉ vay ông Lý có mười lăm quan, hồi tháng ba, dù có tíng cả lãi, cũng chẳng tới năm mươi tư quan đâu chú ạ ! Có lẽ chú nhầm lẫn thế nào đấy ?
Hắc sát gầm lên giận dữ.
- Hừ ! Nhầm lẫn ! Bộ nhà Bác muốn giởn mặt, định vỡ nợ đấy có phải không?
Vừa nói, hắn vừa đứng phắt dậy, sắn cao tay áo, để lộ ra những hình gươm, giáo xâm bằng chàm trên lớp da đen xạm, mắt gườm gườm, đỏ ngầu, răng nghiến vào nhau ken két...
Bác Trương sợ hải cuống quýt phân trần :
- Chúng tôi đâu dám thế ! Những lúc qua cầu, ngã ngựa, túng thiếu, cơ hàn, được ông Lý thương tình, cho vay đã là quý hóa lắm rồi ! Trọn đời chúng tôi lo báo đáp ơn sâu còn chẳng xong, có lẽ nào lại dám nghĩ truyện vô ân bạc ngãi ! Nếu chúng tôi có lòng dạ xấu xa ấy, thì Trời Phật nào còn cho chúng tôi mở mày, mở mặt ra được với thiên hạ nữa !
Đoạn chép miệng , bác nói thêm :
- Có điều, vừa hôm qua đây, bố cháu có nói cho tôi biết : là tháng trước mới viết lại văn tự, đem lãi cộng vào với gốc, trước sau nợ đúng ba chục quan, hẹn đến vụ mùa này sẽ trả hết, nên thấy chú tính năm mươi tư quan, tôi mới sốt ruột đấy chứ...
Tên nặc nô sừng sộ quát to :
- Nói dễ nghe quá nhỉ ! Bây giờ còn không trả được nữa là đến mùa, vốn lãi chồng chất lên nhau, thì nhà bác định bán cả đình làng đi để trả nợ à ?
Rõ thật là lý sự cùn ! Vay mười lăm quan từ " đời kiếp nghiệp lai " nào đến bây giờ, ông Lý mới đòi có năm mươi tư quan tiền mà cũng còn kêu ca, trì triệt ? Dễ thường các người chỉ muốn ăn không, khỏi phải trả vốn, trả lời gì mới là tử tế có phải không ?
Bác Trương đon đả, rót đầy bát nước trà tươi, hai tay đặt trước mặt khách :
- Mời chú sơi tạm bát nước trà tươi mới nấu ! Còn nợ nần bao nhiêu, bố cháu về, tôi nói lại, rồi sẽ ra tính toán với ông Lý sau...
Hắc sát đấm mạnh tay xuống phản, làm nước trong bát bắn tung toé ra chung quanh, quắc mắt hỏi sẳng :
- Thế nghĩa là bây giờ chưa có tiền ?
Bác Trương rụt rè :
- Vâng, trăm sự nhờ chú thương tình, liệu lời về thưa lại với ông Lý giúp cho cho vợ chồng tôi trong cơn túng ngặt này ! Thế nào, đến vụ mùa, bố cháu cũng xin tươm tất.
Tên nặc nô, vung mạnh cánh tay trước mặt chủ nhà gắt gỏng :
- Bác nói đến chó cũng chẳng nghe lọt tai, chứ đừng nói là cái thằng giang hồ, tứ chiếng đã từng đi ăn cơm hớt của khắp bốn phương trời nữa !
Tùy bác đấy, muốn làm thế nào cho có tiền để tôi về thì làm !... Mỗi chốc mà khất được sao ? Dễ thường kiến càng, kiến lữa chúng nó xúm nhau vào, tha tôi từ ngoài làng Giang Tảo vào đến đây, có phải thế không, hử bác Trương ?
Đoạn cười sằng sặc, một cách cực kỳ đểu cáng, hắn vỗ ngực nói tiếp :
- Cái thằng này, chưa hề chịu thua ai bao giờ nhé ! Nhất sanh làm người, ông chỉ biết có tiền ! Có tiền, thì vạn sự êm đẹp hết, mà nếu chỉ nói mồm xuông thì rồi sẽ biết tay ông ! Đầu râu phải múa, mà bà chúa cũng phải cười kìa... Con có hiểu không ?
Dứt lời, y nằm lăn kềnh ra giữa phản, gác một chân lên mép bàn thờ, rồi duổi thẳng cánh tay, đập chan chát xuống mặt phản :
- Ông truyền đời báo danh cho vợ chồng nhà mày, khôn hồn thì bảo nhau lo liệu tiền nong, để ông đi về cho sớm, chứ lúc ông ngũ dậy mà vẫn không có, thì lúc ấy, liệu hồn cả lò nhà mày đấy, biết chưa ?
Nói xong, y thản nhiên quay mặt vào vách, ngáy vang như sấm.
dienbatn is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 25-07-2006   #7
dienbatn
Hội viên
 
Tham gia ngày: Aug 2004
Nơi Cư Ngụ: Vietnam
Bài gởi: 891
Thanks: 0
Thanked 13 Times in 13 Posts
VAY MƯỜI LĂM QUAN TRẢ NĂM MƯƠI TƯ QUAN
Bác Trương gái thở dài não nuột, đau xót nhìn lũ con dại, đang ngơ ngác nép mình bên chiếc phên nứa, hết lấm lét trông khách lạ, lại sợ hải nhìn mẹ, mồm đứa nào cũng méo sệch, mắt rớm lệ, nhu cố đè nén cho khỏi bật ra tiếng khóc, sợ mẹ chúng đánh đòn.
Tuy còn thơ ngây bé dại, song linh tính chúng hình như cũng đoán được mối tai họa tày đình, đang thập thò trước ngưỡng cửa gia đình chúng, để phá tan niềm hạnh phúc tràn ngập dưới mái nhà tranh sơ sác, với tình nghĩa phu thê, phụ tử mặn nồng, thuận thảo, mặc dầu bác Trương vẫn phải luôn luôn lo lắng, soay sở quanh năm, giật gấu vá vai, bôn ba vất vả, không nề hà khổ cực, gian lao, mới kiếm được đủ mỗi ngày hai bửa cơm dưa, muối, cho mấy đứa con thơ dại.
- Tôi vừa ở ngoài đồng về, thấy u cháu nói lại là chú đòi món nợ cho ông Lý Giang Tảo, cả vốn lẫn lãi, tất cả năm mươi tư quan tiền, nên tôi mới bảo là có lẽ u cháu nghe lầm sao đó, chứ vừa tháng trước, tôi đã viết lại văn tự, trước sau chỉ còn thiếu ông Lý có ba mươi quan thôi chú ạ...
Tên nặc nô trề môi khinh bỉ, hăm hở, móc trong chiếc ví, khâu liền vào sợi dây nịt bằng da, to bản, lấy ra một mảnh giấy bản, đoạn mở rộng dơ trước mặt bác Trương hất hàm, hùng hổ :
- Hãy mở to mắt ra, mà xem giấy gi đây ? Có phải là năm mươi tư quan hay chỉ có ba mươi quan thôi hử ?
Bác Trương cuống quít :
- Chắc ông Lý nhiều công lắm việc, nên mới lầm lộn đấy chú ạ ! Chú cứ về hỏi bức văn tự tôi mới viết lại hồi tháng trước, là biết ngay số nợ đích xác là bao nhiêu ?...
Không chờ cho bác Trương nói hết lời, Hắc sát vùng vằng quát lớn :
- Mày nói đến chó nó nghe cũng không lọt ? Dễ thường mỗi chốc ông Lý lại phải đem văn tự ra trình cho mày kiểm soát đấy, có phải không ? Hừ ! Đồ bất nhân, bạc ác ! Chỉ biết lúc túng thiếu vợ chồng bảo nhau uống lưỡi lạy van, khom lưng cầu khẩn rồi đến khi xong việc, lại vỗ tuột ngay một cách rất ngon lành !
Được , đã thế ông sẽ cho mày biết tay...
Bác Trương gái từ lúc chồng về, vẫn đứng tựa cột run rẫy theo dõi cuộc đấu khẩu của hai người đàn ông, mồm không ngớt tiếng lầm rầm niệm Phật để cầu xin thánh thần che chở, khi thấy tên nặc nô làm đữ và đe doạ, vội đon đả nói :
- Thôi xin chú tha thứ cho bố cháu, vì vụng ăn, vụng nói, nên mới làm chú tức giận. Nhưng quả thực bố cháu chẳng có lòng dạ gì đâu, lúc nào cũng quý trọng chú lắm, rồi sau này trời cho còn có nhiều dịp gặp gỡ, giao dịch với nhau, chú sẽ hiểu tâm tính thực thà, nghĩ sao nói vậy của bố cháu, chứ không biết lèo lại, phù hoa như người ta đâu ?
Rồi, làm bộ vui vẻ, bác đon đả nói thêm :
- Chẳng mấy khi, chú vì công việc của vợ chông tôi, phải về tới đây, vậy trời cũng đã muộn, xin mời chú vui lòng ở nán lại chơi, sơi chén rươu nhạt với tượng cơm dưa muối với bố cháu thì quý hoá quá !
NHẤT TỘI NHÌ NỢ
Tên nặc nô "xì" một tiếng dài, cất giọng tàn nhẩn, trắng trợn :
- Mời với chào cóc khô gì ? Không ăn thì đến mẻ cũng chết ! Còn sống làm sao được để ngồi thúc nợ ? mà chẳng phải chỉ có một bữa bây giờ mà thôi đâu nhé ! Ngày nào chúng bây chưa thu xếp được đủ tiền trả nợ, là ngày ấy, ông vẫn còn phải ăn chực nằm chờ !...
Chứ chẳng lẽ lại vác "cái thân cụ" về xuông à ?
Cười hề hề cực kỳ khả ố, y tiếp thêm :
- Ở đời, có ai lại ngu ngốc như thế bao giờ ?
Nói xong, y thản nhiên nằm trên phản, ư ử ngâm mấy câu Kiều lẩy, dáng điệu vô cùng ngông ngênh, tự đắc.
Vợ chồng bác Trương ngao ngán nhìn nhau, lầm lủi đi xuống bếp.
Bác gái vừa đưa tay quệt nước mắt, vừa mếu máo hỏi chồng :
- Gạo hết từ bửa sáng đã phải vay của bà Trương Tư hai lon, định nấu luôn cả nồi cháo chiều nay, ăn trừ bửa. Bây giờ lấy gì mà làm cơm khách đây, hở bố ?
Đoạn thở dài áo nảo, bác nói thêm như rền rỉ :
- Trong nhà một đồng, một chử không có, mà lại còn phải thiết đải khách khứa nữa, thì có khổ thân tôi không hở trời ?
Bác Trương trai nhăn nhó, tắc lưỡi :
- Thì... ai biết đâu nông nổi này ? Thôi u nó chịu khó chạy lên nhà dì Hương Kiều, hỏi vay tạm mấy tiền, rồi ghé qua chợ, mua vài thứ đồ nhắm lăng nhăng với chút rượu về đây, mời nó ăn uống cho sớm để nó cút đi cho khuất mắt !...
Bác gái không làm sao được, đành phải thở dài, xách giỏ, uể oải bước ra ngoài cổng.
Nhưng khi bác gái hì hục nấu cơm xong, bưng mâm lên đặt ở giữa phản bên, rồi đánh thức tên nặc nô giậy, thì, vừa trông thấy đĩa đậu phụ trơ trỏng, nằm bên cạnh đĩa lòng heo với chén mắm tôm, Hắc sát nổi giận đùng đùng, mặt đỏ gay gắt, nghiến răng quát vang như sấm :
- Chúng bây muốn mời ông ăn, hay là định cho chó ăn mà lại bày những thứ này ra đây, hử ? Hừ ! Quân này giỏi thiệt ! Nó tưởng mình chết đói, đến ăn mày nhà nó đây mà !
Vừa nói, y vừa hất mạnh mâm cơm đổ lộn nhào xuống đất, rồi hầm hầm quăng luôn cả chiếc điếu, mấy cái bát sành uống nước ra sân, vỡ loãng soãng tan tành.
Vợ chồng bác Trương Thuật xanh mặt, trông nhau vừa căm hờn, vừa tủi nhục, mãi một lát sau, bác xã trai mới cất tiếng thiểu nảo, phân trần :
- Khổ lắm chú ơi ! Nếu chú hiểu được thực cảnh gia đình tôi, hẳn chú cũng không nở giận ghét tôi, mà có khi còn thương xót chúng tôi nữa là khác ! Ở đời ai không muốn hay ? Ai không muốn đẹp mày, đẹp mặt ? Khốn nổi, vợ chồng tôi lúc này túng thiếu quá, đến gạo ăn cũng phải xoay quanh từng bửa, thì chú bảo còn lấy đâu ra tiền bạc để mua gà, mua vịt ?
Phải thết khách đạm bạc thế này, là chúng tôi khổ tâm, tủi thẹn lắm, nhưng biết sao được bây giờ ? Cái khó nó bó cái khôn, hẳn chú cũng không lạ gì điều ấy ?
Thằng nặc nô trợn mắt, quơ tay múa lia lịa như muốn chặn ngang lời phân trần của chủ nhà, hằn học rít lên :
- Mặc kệ xác chúng mày ! Ông không cần biết đến nhà mày giàu hay kiết ?
- Ông chỉ biết : Ông đã về đây đòi nợ, thì chúng mày phải cung phụng ông, ông muốn gì phải có ngay tức khắc, không có không xong !
Giơ ngón tay điểm vào giữa mặt bác xã trai, hắn hăm dọa :
- Không chu biện đàng hoàng cho ông đủ mọi thứ cần dùng thì đầu râu phải múa, bà chúa phải cười nghe không ?
Đoạn hắn cười nham hiểm, nói tiếp :
- Muốn thoát tội, thì trả đủ tiền đi !
Lúc ấy, dù có lát ngàn vàng, ông cũng chẳng thèm ở thêm phút giây nào nữa !
Nói xong, nó lù lù đi đến gian giữa, nhảy tót lên bàn thờ, quơ tất cả bài vị, bát nhang, vứt lỏng chỏng vào một góc nhà, rồi ung dung nằm dài trên bàn thờ, đầu gối lên chiếc tam sơn, vẫn dùng bày rượu cúng trong những ngày giỗ tết, chân gác thẳng vào chiếc khám hắn vừa xê dịch từ giữa bàn thờ ra đấy.
Bác Trương Thuật đau nhói ruột gan, căm tức muốn trào máu họng, đến nổi mồ hôi toát cùng mình, chân tay bủn rủn, cơ hồ không còn đứng vững được nữa !
Bác đi luôn xuống bếp, gục đầu trên gối, nước mắt bất giác tuôn trào lai láng đã cực thân cho cảnh bần hàn, khốn quẩn, lại đau khổ về tội bất hiếu với tổ tiên.
Chợt có tiếng bác xã gái cất lên chua xót :
- Sự thể đã đến nước này, vậy bố nó tính sao ? tiền trả nợ không có, mà muốn khất lại thì phải đối xử thế nào, cho Nó mát dạ, hả lòng, lúc ấy mới mong Nó buông tha đi về chứ chọc cho Nó giận thêm, thì ai hơi sức đâu thi đua với hủi ! Bố nó còn lạ gì lối chây lười, "nằm vạ" của phường nặc nô nữa ?
Bác xã trai ngước cặp mắt đỏ hoe, còn in hằn ngấn lệ, nhìn vợ ái ngại !
Ai không biết thế, nhưng Nó làm quá hoắt như vậy, thì mình chịu sao cho nổi. Vừa rồi, tôi phải cố nén lắm, chứ lúc thấy Nó trèo lên bàn thờ, tôi chỉ muốn nhảy đến bóp cổ cho nó chết tươi, rồi muốn tù tội, chặt đầu hay tùng xẻo gì, tôi cũng vui lòng cam chịu !
Cứ nghĩ đến mấy đứa con, là tôi lại chẳng dám liều nữa ?
Bác xã gái vội hỏi :
- Gặp phải đứa sấp mày, sấp mặt, thì mình đành phải cắn răng nhịn nhục, cho nó êm cửa, êm nhà, chẳng lẽ mỗi lúc sinh sự để thưa kiện sao ? Có vô phúc mới phải đáo tụng đình chứ ?
Vậy muốn cho êm thắm, tôi tính cứ thịt quách con gà mái đẻ, cho Nó đánh chén một bửa thực no say, may ra nó vui lòng cho mình khất lại thêm một hạn nữa, thì phúc đức quá !...
Bác xã trai rối rít kêu lên, ngắt ngang lời vợ !
- Ấy...Ấy... không được ! Không thịt được con gà mái đó đâu ? Cả cửa nhà hiện thời, chỉ trông cậy vào một con gà mái đẻ, để làm vốn, cuối năm bán đi, mới có tiền mua gà trống đem ra lễ ngoài đình cho tôi "lên lão năm mươi", theo lệ làng, chứ giết thịt bây giờ thì lúc ấy định nhe răng cười trừ với dân làng à ?
Vã lại, nó đang ấp dỡ, làm thịt đi thì mất toi cả một đàn gà con, u nó tính lại coi, thiệt hay là lợi ?
Bác gái tắc lưỡi :
- Vẫn biết bố nó nói phải thật đấy, nhưng trong cơn túng ngặt này, ta cũng cần lo liệu sao cho chu đáo, kẻo để cho thằng nặc nô ấy, nó tức giận cũng nhục nhả, khổ cực lắm !
Vậy thôi, bố nó cứ nghe tôi, bằng lòng giết thịt con gà mái đi, kẻo muộn lắm rồi, nó ăn uống xong, không kịp về, phải ngủ lại đây một đêm nữa, thì nguy to mất ! mai biết lấy gì làm cơm sáng cho Nó ăn ?
Vã lại từ bây giờ đến tết, cũng còn sáu bảy tháng trời nữa, mình xoay sở rồi cũng phải cần được "gà lên lão" theo đúng lệ làng, bố nó đừng sợ !
dienbatn is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 25-07-2006   #8
dienbatn
Hội viên
 
Tham gia ngày: Aug 2004
Nơi Cư Ngụ: Vietnam
Bài gởi: 891
Thanks: 0
Thanked 13 Times in 13 Posts
Bác xã trai không biết trả lời thế nào, đành phải thở dài nín lặng.
Bác xã gái thấy chồng đã bằng lòng, liền ra vườn sau bắt gà, cắt tiết, hì hục một lúc lâu, mới nấu nướng xong các món, vội bưng mâm lên mời khách.
Hắc sát nhìn mâm cơm đầy ấp thịt và lòng gà, mùi lá chanh thái nhỏ tỏa ra rất ngon lành nên không đợi mời, y nhảy ngay xuống ngồi xà vào bên mâm, gật gù khoái trá, rồi bốc luôn một miếng cánh gà bỏ vào mồm, nhai ngấu nghiến.
Nhưng bỗng y châu mày, nhăn mặt, cầm cút rượu dằn mạnh xuống mâm :
- Thức nhắm tạm được ! Còn rượu ? Sao lại ít thế này ? Có mấy giọt dính dáng trong chai, thì đến xúc miệng cũng chẳng đủ, còn nói gì đến... chuyện nhâm nhi nữa ?
Chủ nhà đâu ? Muốn tốt, đi chạy thêm rượu về đây ...mau lên.
- Rồi lên giọng lè nhè, mặc dầu chưa có ma men trợ lực, y nhắc khéo :
- Phải viện cho kỳ được một chai bố mới đủ uống nghe không ?
Nói xong, y ung dung cầm cả cút rượu con, đưa lên mồm, ngửa cổ tu ừng ực từng ngụm lớn.
Vợ chồng bác Trương Thuật thì thầm bàn tán, không biết xoay đâu ra tiền mua rượu !
Cuối cùng, bác gái vào mở rương lấy cái áo the đen, may từ khi mới lấy chồng, mang ra tiệm " Chệt gù " gửi tạm, để lấy chai rượu, hẹn khi nào có tiền sẽ chuộc lại.
Tên nặc nô kể cả tay đũa, tay chén vừa nhồm nhoàm ăn uống, vừa lải nhải chửi bới bâng quơ, suốt từ lúc mặt trời xế bóng cho lúc quá nửa đêm, nó mới chịu lảo đảo đứng lên, vẫn như còn tiếc rẽ, nhìn lại chiếc mâm ngổn ngang bừa bải xương gà, không còn xót lại một miếng da nhỏ và cái chai trống trơn khô queo, nó cười hề hề khoái trá :
- Khá ! Thế mà cũng say đáo để !
Này chủ nhà, nghe ông bảo đây ! Từ giờ đến sáng mai, phải cố lo trả nợ cho ông Lý, biết chưa ? Đừng có để ông phải ăn chực nằm chờ đấy !
Nói xong, y loạng choạng vịn vào bức vách, cố lần đến bên bàn thờ, lẩy bẩy trèo lên, nằm dài và chỉ một lát sau, đã ngáy vang như sấm !
Vợ chồng bác xã ngao ngán đi thu dọn mâm bát, rồi xuống bếp ngồi bó gối, ủ rủ nhìn nhau, không biết xoay sở vào đâu, để có thể làm nổi một bửa cơm tưom tất, thết đải tên nặc nô sáng hôm sau, chứ đừng nói là trả nợ ông Lý Chín nữa.
Đêm khuya thanh vắng, bốn bề tối đen như mực.
Thỉnh thoảng đó đây, mới có tiếng chó sủa vang và tiếng côn trùng rên rỉ trong các ao hồ, mương rảnh.
Vợ chồng bác xã ngồi co ro trong bếp, cả hai cùng mang nặng nổi buồn phiền mông mênh man mác bâng khuâng lo sợ cho số kiếp hẩm hiu của đàn con thơ dại.
Bỗng trên nhà có tiến khua động, và liền đấy, lại có tiếng đổ vở loảng xoảng.
Bác xã gái vội cầm đèn bước mau lên nhà trên nhưng chợt đứng khựng lại ở ngưỡng cửa, sửng sốt gọi chồng rối rít :
- Bố nó ơi ! Lên mà xem ! Trời cao đất dày ôi ! Nhà tôi tội tình vì đâu, mà người ta cứ cố ý đày đọa khổ cực mãi như thế này.
Bác xã trai hoảng hốt, đứng vùng lên, vừa chạy vừa hấp tấp hỏi vợ :
- Cái gì thế ? cái gì mà u nó la hoảng thế hở ?
Nhưng khi tới bên bực cửa, bác cũng ngây mặt, đau đớn nhìn cảnh não lòng trước mắt : dưới ánh sáng yếu ớt, vàng khè của chiếc đèn dầu tràm, tên nặc nô đang nằm sấp người trên bàn thờ, thò đầu ra ngoài, ói mửa lênh láng khắp nhà.
Nào đã hết đâu ?
Tên nặc nô quái ác, sau đấy, còn lảo đảo đứng dậy, kéo bình nhan với đôi lọ cắm bông giấy lại gần, hầm hầm trút hết tro, chân nhang, và bỏ luôn hai cành hoa giả đi, để... phóng uế bừa bải, đầy tràn cả ba món đồ thờ, mà ngày thường vợ chồng, con cái bác xã, vẫn kính cẩn, nâng niu, không bao giờ dám đặt một vật chi kém tinh khiết ở gần bên.
Mùi tanh hôi bốc lên nồng nặc, khắp ba gian nhà tranh tiêu điều, sơ xác, khiến cho bác xã gái càng buồn phiền, ngao ngán, thở dài, não nuột, thẩn thờ một lúc lâu, mới uể oải bước vào quét dọn, lau chùi.
Tên nặc nô đã lại ngáy o... o... từ lúc nào, tiếp tục ngũ thêm một cách ngon lành.
CHẾT ĐƯỜNG KHÔNG NGỜ MẢ PHÁT
Dù bị tên nặc nô làm tình, làm tội : tác yêu, tác quái luôn ba ngày đêm liên tiếp, vợ chồng bác Trương Thuật cũng đành chịu bó tay, không sao trả được món nợ của ông Lý Chín.
Cuối năm ấy, bác xã trai phải bắt buộc viết văn tự khác, nhận vay tới tám mươi quan tiền của nhá phú hộ làng Giang Tảo, mặc dù lúc mới vay, bác chỉ được nhận có mười lăm quan của ông Lý Chín.
Đến vụ Chiêm năm sau bác cũng không trả nổi, và một lần nữa, lại phải viết văn tự khất nợ để tăng số tiền thắt cổ này lên tới trên một trăm quan.
Cứ đà ấy tiến dần mãi cho đến vụ gặt tháng 10 năm ấy, thì món nợ 15 quan, biến thành món tiền quan trọng, mà bác xã không còn có cách gì trả được cho chu đáo nữa.
Do đấy, ông Lý đã xin quan tịch thâu nhà đất của bác xã.
Vọ chồng, con cái bác xã Thuật, với hai bàn tay trắng, đành phải giắt díu nhau qua vùng Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, tính nương nhờ người em họ đang trông nom một cái ấp khá rộng của một vị hưu quan trong vùng.
Một gia đình với 5 mạng người lớn nhỏ, một sớm tinh sương về mùa Đông, phải lìa bỏ nơi chôn nhau cắt rún, bồng bế nhau ra bến đò Sâm-Thị, để vượt qua sông Nhị Hà, lên bến Mễ Tiên, đò không có, tiền cũng không, bác xã phải năn nĩ xin thiếu phụ chở đò, may gặp được người phúc hậu, chẳng những đã vui lòng, cho gia đìng bác quá giang, mà còn vồn vả hỏi thăm và sốt sắng chỉ đường tắt vào ấp cho vợ chồng bác khỏi phải đi xa.
Nhưng tiền đò dù không phải trả, vợ chồng con cái bác biết lấy gì độ nhật trong thời gian chưa tìm được thân nhân ?
Nhât là ba đứa con thơ dại, chỉ mới chậm cơm có một bửa, chúng cũng đã la khóc om sòm, đứa nào cũng nhăn nhó, không cất nổi bước đi nữa !
Thấy con đói khát quá, người mẹ hiền cảm thấy đau nhói tâm can, nên chẳng quản tủi nhục, sượng sùng, bác xã gái đưa chồng con vào nghỉ chân trong một quán vắng bên đường, rồi lẳng lặng tìm đến các thôn xóm chung quanh, xin cơm thừa, canh cặn, hy vọng ba đứa con sẽ được tạm no lòng trong cơn túng ngặt.
CHỈ MỘT CƠN BỆNH ĐÃ THÀNH NGƯỜI THIÊN CỔ
Mãi sẩm tối hôm ấy, bác mới xin được chừng hai bát cơm trộn ngô xay, với chút xíu muối vừng gói tất cả vào một tàu lá chuối tươi hí hởn đem về quán, thầm tính sẽ chia đều cho bốn bố con lót dạ ! Còn bác ? Bác tự nhủ : sẽ cắn răng cố nhịn thêm một ngày nữa, chờ khi gặp người em họ lúc bấy giờ sẽ ăn cũng...chẳng chết nào !
Rất thỏa mản với sự hy sinh cao cả ấy, bác nhanh nhẹn đi mau trên bờ ruộng gập gềnh, mong chóng về đến quán, cho chồng con đỡ đói khổ được giờ phút nào, hay giờ phút đó !
Còn cách chiếc quán vắng, chừng năm trượng, bác đã văng vẳng nghe thấy tiếng khóc đứt nối của con Thu, đứa con út của vợ chồng bác !
Bác hấp tấp chạy gần, đến nổi vấp ngã tới mấy lần mới về được đến nơi, và kinh ngạc xiết bao, khi thấy ba đứa trẻ, mỗi đứa nằm la khóc một nơi, mà bác xã trai cũng đang lăn lộn rên la trên mặt đất.
Hốt hoảng quăng gói cơm xuống cạnh thằng Tý, bác chạy vội về phía chồng, cúi xuống nhìn, bất giác rú lên một tiếng thất thanh, khi thấy bác trai mặt mày tái mét, mủi rải bê bét chung quanh mồm miệng, hai mắt lơ đờ, lim dim, tay ôm bụng lăn lộn, quằn quại, rên rỉ nho nhỏ trong cuống họng, như không còn đủ hơi thốt ra thành tiếng.
Ngồi bệt xuống đất, bác đặt tay lên trán chồng lo lắng hỏi :
- Bố nó làm sao thế ? Đau bụng à ?
Bác xã trai cố ngốc đầu dậy, nhăn nhó nói qua giọng hổn hển, gượng gạo :
- Tôi bị... đau bụng ! Vừa rồi mò ra ngoài đồng, không ngờ lại cảm, trở vào được trong quán là ói mửa, lạnh run người, ruột gan như bị cấu xé đau đớn vô cùng.
Bác xã gái chỉ biết luôn mồm kêu khổ !
Ngoài ra không còn xoay sở được cách gì cứu chửa chồng.
Mấy đứa trẻ, thấy mẹ về quăng cái gói dưới đất, liền nín khóc, chạy ùa tới, mở gói ra, rồi reo mừng tranh nhau bốc vội, bốc vàng những miếng cơm cháy, cho vào mồm, nhai ngon lành, trong chớp mắt, gói cơm chỉ còn trơ lá !
Bác trai vẫn rền rĩ, quằn quại, lăn từ phía vách này, qua phía vách khác, như cố vật lộn với cơn đau xé ruột xé gan.
Gian quán siêu vẹo, bốn phía trống trơn, không có cửa ngõ gì, nên gió đêm lùa vào, lúc nào cũng như vũ bảo, càng về khuya, càng lạnh lẽo, giá buốt hơn nhiều.
Cho đến quá canh tư, bác xã gái mỏi mệt quá dụa mình vào cột quán, ngũ thiếp đi lúc nào không biết.
Khi tỉnh dậy, bác chợt nhớ đến chồng, và cảnh ngộ bi đát của gia đình, vội đưa tay lần mò về phía chồng, muốn lay gọi.
Nhưng bốn bề yên lặng như tờ.
Trong quán tối om, như giữa đêm ba mươi tết !
Ngoài tiếng thở đều đều của bọn trẻ con, bác không còn nghe thấy chi khác hết, kể cả tiếng rên la của bác xã trai.
Linh tính như báo trước, một tai biến nặng nề, bác hốt hoảng quơ mạnh cả hai tay về phía chồng...
Bác kinh sợ, quỳ gối lết nhanh đến bên chồng, và kêu thét lên một tiếng hải hùng, khi nhận thấy, khắp thân thể bác xã trai giá lạnh như tiền, ngực không còn thoi thóp ma ghé tai sát tận mũi chồng, bác cũng không thấy một hơi thở nhẹ nào !
Bất giác bác khóc oà nức nở !
Ba đứa nhỏ đang ngũ say, thấy ồn ào, cũng choàng cả dậy một lượt, cất tiếng khóc theo khiến lòng dạ người đàn bà sa chân, lỡ bước, đã đau khổ, tủi nhục lại càng thêm bấn loạn, hoang mang.
Sáng hôm sau, những nông dân quanh đấy khi ra đồng, đi qua quán hoang, nghe thấy tiếng gào khóc thảm thấm thiết liền bảo nhau vào xem, và cũng xúc động, trước cảnh mấy mẹ con lăn lộn than khóc bên thi hài bác xã trai, nằm ngay đơ trên nền đất.
Nghe thiếu phụ kể lể hoàn cảnh éo le ngang trái của mấy mẹ con, các nông dân vội đưa mẹ con bác vào trong làng, đến trình bày tự sự với những hương chức kỳ hào, để nhờ họ đi báo quan huyện sở tại, và lo liệu giúp việc khâm liệm tống táng.
Trong thời đại phong kiến, mỗi khi có người xa lạ đến chết tại một địa phương nào đó, thì hương lý sở tại phải lên đồn, xuống phủ, khai báo lôi thôi, thủ tục rất phiền hà phức tạp.
Nhất là kẻ xấu số không có thân nhân, quyến thuộc nhìn nhận, hoạc có, mà gia đình người bất hạnh, lại nghèo túng, khốn quẩn đến cực độ, không sao đảm nhiệm được công việc tống táng ma chay, thì hương chức, kỳ hào sở tại thướng phải đốc xuất tuần tráng, đi các nhà, kêu gọi tình tương trợ, tương thân giữa người chung cùng một nòi giống, để kẻ ít, người nhiều góp gió thành bảo, lấy tiền mua hòm, mua vải khâm liệm cho người xấu số, rồi sai tuần đinh khiên đi chôn,đánh dấu cẩn thận, để phòng thân nhân đến tìm phần mộ.
Trong trường hợp, các nhà hào sản, hảo tâm quyên trợ không đủ số tiền chôn cất cho người chết đường, chết chợ được mồ yên mả đẹp, thỉ những hường lý, chức dịch có thể trích quỷ làng để làm việc từ thiện.
Do đấy nhiều nơi, bọn cường hào, ác bá, quanh năm suốt tháng, chỉ biết bám vào luỹ tre xanh, để cờ bạc, rượu chè, đã lợi dụng những thây ma vô thừa nhận, hoặc có thân nhân mà không may lại nghèo khổ quá, phài nhờ cậy dân làng chôn cất giùm, để "ăn đầu ăn cổ" ! Nếu chỉ có hết năm quan tổn phí, thì họ không ngần ngại khai tới mười quan để lấy món "tiền bổng" qua xác chết tạo ra, mà tụm năm, tụm ba, hợp tập nhau, say sưa, chè chén !
Ai sống, ai chết, mặc thiên hạ !

Bọn sâu mọt cứ ung dung ngồi yên hưởng lợi, chẳng cần biết đến sự đau khổ của bà con nghèo túng !

Những ông già, bà cả giờ đây, hẳn chưa bao giờ quên được " cảnh cười ra nước mắt" của một đám chết đường trong thời đại phong kiến !

Vì giữa tiếng khóc than chua xót, thảm thiết của mẹ goá, con côi, nghèo khổ, khốn quẩn, không sao chạy được tiền chôn chồng, chôn cha, phải nhờ sự giúp đở của làng xóm, thì mấy ông hương lý chức dịch, không một ai chịu "bỏ lở dịp may hiếm có ấy" đã thừa nước đục thả câu, đi quyên của các nhà từ thiện được bao nhiêu, họ lấy trích ra một món tiền chi tiêu vào vài ba bửa chén, gà, vịt chè, rượu, thuốc cho thỏa thích, còn lại mới bồi bác sắm sửa chôn cất cho người xấu số !

Thấy bác xã Thuật gái vào trình bày cảnh cơ cực của gia đình và cái chết bất ngờ của chồng, các hương chức sở tại liền kéo nhau vào quán khám nghiệm làm biên bản trình quan, để xin chôn xác chết.
Một mặt, họ đến những nhà giàu có ở trong vùng để quyên tiền tống táng cho kẻ bất hạnh.

Trong lúc chờ quan huyện cho người tận nơi khám nghiệm tử thi, họ hợp tập tại nhà Tuần Tra chè chén lu bù.
Mãi trưa hôm sau, các thủ tục giấy tờ mới thật xong xuôi, bọn hương chức liền ủy thác cho viên Tuần Tra phải đi mua quan tài, sắm vải khâm liệm và sai người đi chôn xác chết.
Ở thôn quê, tuy dân làng có tinh thần tương thân, tương trợ rất sốt sắng, thành thực, nhưng đó là đối với bà con cùng sống chung trong vòng rào một luỹ tre xanh !
Còn riêng đối với những người chết đường, chết chợ, từ các phương trời xa lạ, bỗng nhiên đến chết tại làng xóm họ, thì họ chẳng nhúng tay vào khâm liệm, hay chôn cất, vì sợ "xúi quẩy" !
Do đó, một là các hương chức, lý dịch ở trong làng, phải dùng đến quyền ăn trên, ngồi trước, để cất cử, sai khiến bọn đàn em, hoặc tuần tráng đảm trách công việc bạc bẽo ấy.
Hai là nhà chức trách sở tại, phải trích một phần tiền công quỹ, hay tiền quyên được của các nhà hảo tâm, rồi mướn người chôn xác chết, chớ nếu không, có khi để đến mấy ngày, cũng chẳng có ai dám tình nguyện chôn vùi cho kẻ xấu số được mồ yên, mả đẹp.
dienbatn is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 25-07-2006   #9
dienbatn
Hội viên
 
Tham gia ngày: Aug 2004
Nơi Cư Ngụ: Vietnam
Bài gởi: 891
Thanks: 0
Thanked 13 Times in 13 Posts
MỘT KIỂU ĐẤT QUÝ CÓ CHIÊNG, TRỐNG, CỜ BIỂN...

Đã từ lâu, những ông già, bà cả trong mấy phủ huyện Kim Đông, Khoái Châu, Ân Thi, Mỹ Hạo, thường truyền tụng về một kiểu đất đế vương, mà theo đấy thì có đủ những hình thể kỳ dị :
" Tiền long phụng cổ,
Hậu cảnh đương chung,
Tả ngọa Thanh Long,
Hửu chầu Bạch Hổ,
Tinh kỳ rực rở
Kiếm Ấn đàng hoàng
Phúc trạch trời ban
Trăm năm hiển hách !"
Thiên hạ truyền tụng, nhập tâm những hình thế kỳ dị trên đây, không biết từ đời nào, để mỗi khi có dịp bàn luận đến môn địa lý, người ta lại đọc cho nhau nghe, với dụng ý cố tìm cho kỳ được khu đất quý kia.
Nhưng năm qua tháng lại, những câu đồng giao và kiểu đất đế vương, dù đã gần chìm sâu vào trong quên lãng của thời gian, mà thiên hạ vẫn không sao biết được đích xác nó ở chỗ nào ?
Người ta chỉ đồn đải là nó nằm trong địa phận mấy phủ huyện ở giữa tỉnh Hưng Yên.
Có thế thôi. Ngoài ra không ai biết gì hơn nữa !
Sau thấy mả bác Trương Thuật được mối đùn, trong số có một đêm mà bỗng to cao như gò đống lớn, thiên hạ mới yên trí là họ Cừ đã táng được đúng huyệt đế vương, úng vào những điềm trong đồng giao được truyền tụng. Sự thực nào có phải thế đâu ?
Mấy chú tuần đinh, đảm nhiệm công việc khâm liệm và mai táng bác xã, theo sự sai khiến của hương chức, kỳ hào trong làng, vì mải mê chè chén say sưa, mãi tới canh hai đêm ấy, mới chệnh choạng khiêng thi hài kẻ xấu số, được bó gọn trong một manh chiếu cũ ra đồng, nơi họ đã đào sẳn huyệt từ buổi trưa.
Nhưng vừa qua hết đường cái, rẽ xuống bãi tha ma được chừng năm trượng, trời bỗng nổi cơn giông tố ầm ầm, mưa như trút nước, sấm chớp liên hồi, khiến cho mấy chú tuần phiên hoảng sợ, trượt té lên, té xuống, trước họ còn bảo nhau cố gắng gượng khiêng xác chết tới huyệt, sau mưa gió mỗi lúc một dữ dội hơn, không còn trong rõ đường lối chi hết, họ đành phải đặt thi hài bác xã xuống một vũng trâu đầm, rồi lật đật ôm đầu, dầm mưa, chạy vội về nhà, định khi ngớt cơn bảo táp, sẽ lại trở ra chôn cất tử tế cho kẻ bất hạnh.
Không ngờ mưa gió suốt đêm không tạnh, mãi đến gần sáng, trời mới dịu dần, họ vôi rủ nhau đem cuốc xẻng ra bãi tha ma, định vùi dập cho người xấu số được mồ yên mả đẹp.
Song họ ngạc nhiên xiết bao, khi thấy vũng trâu đầm đêm trước, có đặt tạm thi hài bác xã Thuật, đã biến thành một gò đất cao, cỏ mọc xanh um, tươi tốt lạ lùng, không còn để lại một vết gì được gọi là một ngôi mả mới nữa.
Tin mối đùn trong có một đêm, khiến cho một vũng trâu đầm, biến thành một gò đất cao, được loan truyền rất nhanh chóng trong vùng, nên nội ngày ấy, khách hiếu kỳ đã rủ nhau đến xem ngôi mả kết phát, lũ lượt, nô nức như những người đi xem hội vậy.
Một thầy địa lý chính tông, sau khi quan sát kỷ lưỡng địa hình, địa thế nơi này, đã gật gù, khen ngợi, nói với mấy người bạn thân rằng :
- Đúng là mả thiên táng ! Nhà phong thủy chính tông, dù có chân tài, thực học đến đâu, khi thấy ngôi mả cũng không sao chê trách, sửa đổi vào đâu được.
Đây đúng là kiểu đất " huynh đệ đồng khoa ", minh đường đã có chiêng trống, phía sau lại có cờ biển, nhưng chỉ tiếc cho tay hổ đã đi nghịch có nhiều chỗ lồi lõm quanh co, thoạt thẳng, thoạt gảy không chừng nên về phần con gái, e rằng sẽ không được hưởng phúc trạch hoàn toàn như nam giới trong họ !
Tuy nhiên, đó cũng là một kiểu đất đặc biệt hiếm có lắm rồi, không phải dễ tìm kiếm được ở vùng này đâu ?
Sợ mọi người chưa hiểu rõ, thầy địa lý phải chỉ tay về phía trước mặt, nói thêm :
- Đứng ở chánh huyệt, nhìn ra minh đường, chúng ta hẳn thấy hai khoảnh đất vuông vắn, nằm "ấn" song song đằng kia, cách đây không xa lắm, đó là hai chiếc ấn, tượng trưng cho sự kết phát sau này của giòng họ Cừ : đời nào cũng có hai người đổ cao, làm lớn.
Đoạn, quơ tay hướng về phía hữu, nhà phong thủy tiếp lời :
- Chỉ tiếc cho dòng sông kia, đã chảy ngịch lại với chánh huyệt ! Chẳng những thế, gềnh đá, nằm chấn ngang ở giữa lòng sông, còn làm cho gió giội ngược lại. Đã "nghịch thủy " lại "phản phong" , thì sau này, nhất định con gái họ Cừ sẽ mắc phải nạn loạn dâm, việc tình duyên trắc trở, có khi còn phát điên cuồng nữa là khác !
Nếu đấy không phải là mả "Thiên Táng", mà lại do bàn tay người tìm kiếm án hướng, phân kim, thì với sự chân tài, thực học của nhà phong thủy chính tông,người ta có thể trấn yểm để làm giảm bớt sự nguy hại được ít nhiều.
Đoạn, chăm chú quan sát rất kỷ lưỡng ngôi mộ, thầy địa lý tỏ ý tiếc hận và tiên đoán :
- Vẫn hay là mả thiên táng, song có lẽ phước trạch họ Cừ còn đơn bạc, nên đường ấn không được rõ ràng cho lắm. Đồng thời những cờ biển ở phía sau, cũng như chiêng, trống nằm án trước minh đường, hầu hết đều chưa nổi bật hẳn lên và nếu nhìn kỷ, sẽ thấy không được cân đối rõ rệt.
Do đấy, sự kết phát chẳng những sẽ bị trì trệ, mà những người khai khoa trong họ sợ rằng không được hưởng thụ lâu bền phú quý !
Rồi, đăm đăm nhìn về phía tả, nhà phong thủy lầm bầm nói bâng quơ :
- Lạ lùng hơn nữa, bên tay long dường như có cả hình cung tiển, không chừng họ Cừ còn phát luôn cả văn lẫn võ, cũng nên !
Mấy người bạn cùng đi với thầy địa lý, tuy không ai nói ra, nhưng hết thảy đều hoài nghi lời quyết đoán ấy !
*** HẾT ***
dienbatn is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 25-07-2006   #10
dienbatn
Hội viên
 
Tham gia ngày: Aug 2004
Nơi Cư Ngụ: Vietnam
Bài gởi: 891
Thanks: 0
Thanked 13 Times in 13 Posts
BÀI THỨ BA : Kiểu đất PHỤNG-HOÀNG HÀM THƯ

"Ngũ bách niên chi tiền, mạch tại thượng,
Ngũ bách niên chi hậu, mạch tại hạ,
Vị thùy vô mục, quả vô mục dã"


TẬP GIA PHẢ VỚI TÁM NGÔI TỔ MỘ!
Họ Nguyễn ở làng Báo Văn là một danh gia, lệnh tộc, không biết phát tích từ đời nào, nhưng người quanh vùng vẫn thường đồn đãi với nhau rằng: từ trên một trăm năm nay, họ Nguyễn ở làng Báo Văn, chẳng đời nào là không có người làm quan to, hay đại hào phú, chủ nhân ông những ruộng vườn thẳng cánh cò bay, đất đai chồn chân, ngựa chạy.

Thiên hạ còn nói nhiều đến tám ngôi tổ mộ của họ Nguyễn táng song song ở giữa cánh đồng vùng Mông Sàng, Mông Phụ mà người ta tin chắc đó là những ngôi mả kết phát rất to tát, lâu dài.

Nhiều nhà phong thủy chính tông Hoa, Việt nghe thiên hạ đồn đãi, đều không ngại vất vả, tốn kém, tìm đến tận nơi quan sát khu vực có mộ phần tổ phụ họ Nguyễn.

Hết thảy đều đồng ý tán thưởng sự tinh tế của cổ nhân: người đã có cặp mắt tinh đời, chọn được thửa đất hiếm có ấy, vì theo sách địa lý, đó chính là kiểu đất Phụng-Hoàng Hàm Thư, mà tám ngôi tổ mộ đều nằm vào đúng giữa bụng chim thần.
Nhưng vào đầu mùa thu năm Ất Mùi (1775) một ông già đầu, râu, tóc bạc, quần vải, áo nâu, bề ngoài trông rất tiều tụy, lam lũ, tìm đến tận nhà quan Án sát họ Nguyễn ở làng Báo Văn, để trình bày về sự nhận xét riêng của lão về tám ngôi tổ mộ.

Hồi ấy quan Án Sát tuy đã cáo lão hồi hưu, song dinh thự vẫn có người canh gác cẩn mật, không kém gì lúc chủ nhân đang còn tại chức.

Tên gia nhân gác cửa, thấy khách lạ hình dung cổ quái, y phục rách vá tứ tung, thì có ý khinh rẻ, yên trí là khách lạ, nếu không định đến xin tiền quan Án, thì hẳn cũng chỉ tới cầu cạnh một ân huệ chi đó, chứ dáng điệu ấy, người ngợm ấy thì hỏi còn có gì đáng bàn chuyện quan trọng về đất cát mồ mả với chủ nhân hắn, vốn là một vị đường quan, danh tiếng ở Bắc Hà!

Nghĩ vậy rồi, hắn liền dơ tay xua đuổi ông già, một mặt khép chặt hai cánh cổng gỗ lim nặng nề, khinh khỉnh nhìn khách lạ, như nhìn một quái vật hiểm nguy, nhơ nhớp!

Khách lạ chỉ hơi nhíu mày, ngỡ ngàng về cách xử sự phũ phàng của tên gia nhân, nhưng chỉ thoáng qua một chút, lão lại bình thản, mỉm cười ung dung nói lớn:

- Chú em đừng nên khinh người, rẻ của quá như vậy? Lão đến đây với tất cả lòng thành khẩn, kính mến đức độ, uy danh của Cụ lớn nhà, chứ nào phải tới cầu xin ân huệ, tiền bạc chi đâu, mà chú em nỡ tâm xua đuổi cho đành?

Lão nói thiệt: chú em nếu muốn cho Cụ lớn nhà đời đời vinh hiển, kế thế công khanh, thì hãy kíp vào bảo với Cụ lớn cho lão được diện kiến, còn nếu không thì thôi, lão càng khỏi phải tốn công, nhọc sức...

Tên gia nhân vẫn không thay đổi ý định: cương quyết đóng chặt cổng dinh, và lớn tiếng quát mắng:

- Lão già vô lý quá! Khi không tới đây, bày đặt chuyện đất cát lôi thôi. Nếu không khôn hồn cút mau đi lỡ ra đến tai Cụ lớn thì lão chắc chắn sẽ bị ăn đòn nứt thịt!

Đang lúc hai người điều qua tiếng lại, thì Cụ lớn từ tư thất bước ra, thấy vậy, vội tiến thẳng đến gần tên gia nhân, hỏi vội:

- Chi đó bây! Nếu người ta lỡ độ đường thì đem ra chút ít tiền gạo, đãi người ta, chứ việc chi mà lớn tiếng vậy?

Khách lạ chưa kịp nói gì, thì tên gia nhân đã xun xoe tiến đến trước mặt quan Án, vái lạy, rồi tằng hắng liên tiếp mấy cái liền, mới rụt rè cất được tiếng:

- Bẩm Cụ lớn, lão già này không biết từ đâu tới đây, cứ nhất định một hai đòi vào yết kiến Cụ Lớn cho kỳ được, để trình bày đất cát mồ mả chi đó. Con đã đem tiền gạo cho lão và đuổi lão ra, nhưng lão ngang bướng lắm, cố tình muốn ăn vạ đấy ạ.

Quan Án Sát liếc nhanh cặp mắt sâu thẳm, sau lớp kiếng trắng, gọng bạc về phía khách lạ, bất giác phát sanh lòng kính phục con người bần hàn, lam lũ vô cùng, vì qua lớp y phục bẩn thỉu, vá rách, vị hưu quan ở làng Bác Văn đã như mường tượng thấy được một vẻ cao quý khác thường, ẩn hiện trên khuôn mặt già nua, cằn cỗi, mà bộ râu ba chòm bạc phơ, in hệt mớ cước trắng của khách lạ, đã làm nổi bật hơn nữa, nét phong sương của một kẻ giang hồ phiêu lãng!

Quan Án nguýt dài tên gia nhân lỗ mãng, dơ tay ra hiệu cho nó lui vào phía trong, đoạn thong thả đi ra cổng, đến bên lão già niềm nở nói:

- Lão trượng phu chớ chấp kẻ thất phu vô lễ, và xin mời vào chơi trong nhà cho tiện đàm đạo.

Khách lạ gật đầu, có ý thỏa mãn, ung dung xách khăn gói, kéo lê chiếc gậy trúc dài gần hai sải tay, đầu uốn cong thành hình một con cú đứng co một chân, cánh xoè rộng hẳn ra như muốn lấy đà tung bay, theo thế "Anh hùng độc lập", rồi thản nhiên đi ngang hàng với vị hưu quan, cùng bước qua một cái sân gạch Bát Tràng, rộng rãi, vuông vắn, để lên thềm đại sảnh.

Ngôi nhà chính của quan Án Sát hưu trí trông bề thế, cổ kính, như được xây cất từ mấy mươi đời trước bằng các thứ danh mộc, hầu hết đều chạm trổ cực kỳ công phu, tỷ mỉ do những thợ mộc tài hoa chuyên nghiệp ở các vùng Hà Nam, Ninh Bình đảm trách.

Tư thất kiến trúc theo lối Đông Phương cổ kính, tấm mái cong vút như sừng trâu, do mấy hàng cột lớn tay ôm, bóng lộn như gỗ mun, chống đỡ, được chia ra làm năm gian lớn, bài trí toàn đồ cổ ngoạn gia bảo, sập gụ, tủ chè, đỉnh đồng lớn, giá lọ bộ, chóe sứ, lọ Giang Tây, ánh vàng sơn rực rỡ từ những chiếc hoành phi, câu đối, sơn son thếp vàng, lộng lẫy tỏa ra, càng tăng thêm, màu sắc, huy hoàng, nguy nga, tráng lệ cho toà đại sảnh.

Quan Án Sát họ Nguyễn mời khách lạ ngồi trên chiếc cẩm đôn phủ nệm bọc gấm điều trước một án thư bằng gỗ gụ, dưới một cặp tán tía, lọng vàng, treo cao gần sát mái nhà.
Trên tường, một thanh bảo kiếm, chuôi ngà, vỏ bạc, nằm vắt chéo, giữa một đôi tay thước khảm xa cừ có tua đỏ dài lòng thòng, bên cạnh cái trống chầu sơn đỏ và đôi tù và làm bằng hai con ốc cực lớn, bóng lộn như sừng.

Quan Án Sát ngã người trên chiếc sập gỗ chân quỳ, tựa tay lên chồng gối xếp màu hoàng anh, mắt tuy lơ đãng nhìn ra ngoài sân, song kỳ thực, vẫn luôn luôn chăm chú theo dõi từng nét biến chuyển trên khuôn mặt nhăn nheo của người khách lạ, đoạn vừa vuốt râu, vừa vui vẻ hỏi người đối diện:

- Nghe bày trẻ nói: lão trượng có nhã ý đến chơi để bàn chuyện về môn phong thủy.

Hạ quan rất hoan nghênh và sẵn sàng kính cẩn nghe lời vàng ngọc.

Rất mong lão trượng đừng tiếc lời dạy bảo, thì không những may mắn cho hạ quan mà cả dòng họ Nguyễn ở làng Báo Văn cũng được đội ơn hà hải...

Khách lạ ngạo nghễ nói:

- Lão đi qua vùng này, tình cờ được thấy một khu đất cực quý ở ngay ngoài cánh đồng làng ta. Lão hỏi thăm, thì bà con quanh đấy chỉ cho lão coi tám ngôi cổ mộ, và bảo rằng đó là phần mộ của tổ phụ đại nhân.
Vì vậy lão mới tìm tới đây, không ngoài ý muốn, được hầu chuyện với đại nhân về môn phong thủy.

Quan Án Sát chặn ngang:

- Lão trượng nói sao?

Mấy ngôi mộ của dòng họ Nguyễn, táng tại cánh đồng xứ Cốt Đang, làng Báo Văn, cũng đã khá lâu ngày, không hề xảy ra sự nguy hại chi hết, sao giờ đây lão trượng lại có ý thắc mắc? Xin hãy vui lòng cho lão phu biết rõ lý do?

Khách lạ không trả lời thẳng câu hỏi của vị hưu quan, mà lại nói lãng qua chuyện khác:

- Trước khi bàn về mấy ngôi cổ mộ, lão muốn biết sơ qua ít điều thắc mắc: chẳng hay đạo nhân bình thường có chuyên khảo cứu về khoa địa lý không?

Quan Án sát nhìn khách lạ, như cố tìm hiểu xem trong sự hiếu kỳ của người đối thoại, có xen lẫn một dụng ý gí, khả dĩ gây được thiệt hại cho dòng họ Nguyễn nói chung, và cho bản thân quan Án Sát nói riêng.
Trên khuôn mặt dày dạn phong sương, đen cháy vì nắng mưa dầu giãi, đôi mắt sâu thăm thẳm nằm dưới lớp kiếng lão của khách lạ, vẫn luôn luôn tiết ra một tinh thần khẳng khái trung thực: nền tảng căn bản của tín đồ Khổng Mạnh, khiến cho bất cứ ai được tiếp xúc, dù chỉ mới là lần đầu tiên, cũng phải chân thành kính trọng, cảm mến, coi như bậc trưởng thượng trong gia đình.

Vốn nề nếp nho phong, trâm anh thế phiệt nên vị hưu quan nhận thấy ngay được nét tinh hoa đáng quý ấy trên gương mặt quắc thước của khách lạ.

Vì vậy, chẳng một chút ngại ngần, nghi kỵ, quan Án Sát sẳn sàng cởi mở ngay niềm tâm tư, ấp ủ thầm kín trong kẽ phổi, khe gan từ bao lâu nay, chưa có cơ hội nào thuận tiện, cũng như chưa gặp được bạn tri âm nào tâm đầu ý hiệp để giải tỏ can tràng:

- Ngay từ khi còn để chỏm, ngày ngày cắp sách đến tập làm văn tại trường Cụ Thám Hoa ở làng dưới, lão phu đã đặc biệt chú ý đến môn phong thủy, mỗi khi thấy người quanh vùng đem trầu rượu, lễ vật đến nhờ Cụ Thám Hoa tìm đất giúp.
dienbatn is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Trả lời


Ðang đọc: 1 (0 thành viên và 1 khách)
 
Ðiều Chỉnh
Xếp Bài

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn
Bạn không được quyền gởi bài
Bạn không được quyền gởi trả lời
Bạn không được quyền gởi kèm file
Bạn không được quyền sửa bài

vB code đang Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt
Chuyển đến