Hỏi/Ðáp Lịch Tìm Kiếm Bài Trong Ngày Ðánh Dấu Ðã Ðọc
Welcome
Trang Ðầu
Ghi Danh
Hỏi/Ðáp
Login Form
Nhà tài trợ
Công cụ
Thống kê
  • Ðề tài: 15,059
  • Bài gởi: 153,495
  • Thành viên: 4,743
  • Số người đang xem: 215
  • Xin cùng nhau chào đón Longidea là thành viên mới nhất.
Liên kết website
Go Back   chân thuyên > ĐÔNG PHƯƠNG DỰ ĐOÁN HỌC > TỬ BÌNH

Ðề tài đã khoá
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
Old 11-05-2005   #11
TNTD
Hội Viên
 
TNTD's Avatar
 
Tham gia ngày: Aug 2004
Bài gởi: 1.249
Thanks: 1
Thanked 81 Times in 59 Posts
- Thiên xá: Căn cứ theo mùa sinh và can chi ngày sinh , sao này có ảnh hưởng giải tai hoạ , tù ngục.
Sinh mùa xuân gặp ngày Mậu Dần
Sinh mùa hạ gặp ngày Giáp Ngọ
Sinh mùa thu gặp ngày Mậu Thân
SInh mùa đông gặp ngày Giáp Tý.

- Hoa cái: Về ý nghĩa Hoa cái như chiếc lọng che bên cạnh Hoàng Đế. Tuy là cất tinh nhưng mạng gặp Hoa cái tuy được quý hiển nhưng thường cô đơn, các vị tăng ni thường gặp cách này. Cách an dựa theo chi của ngày sinh.
Dần Ngọ Tuất tại Tuất
Tỵ Dậu Sửu tại Sửu
Thân Tý Thìn tại Thìn
Hợi Mão Mùi tại Mùi

- Thập can học đường: Sao này chủ thông minh, đậu cao. Nếu phạm Không vong, khó hiển đạt, thường làm nhà giáo.
Người hành Kim gặp Tỵ lấy Tân Tỵ làm chính
Người hành Mộc gặp Hợi lấy Kỷ Hợi làm chính
Người hành Thuỷ gặp Thân lấy Giáp Thân làm chính
Người hành Thổ gặp Thân lấy Mậu Thân làm chính
Người hành Hoả gặp Dần lấy Bính Dần làm chính.

- Thập can thực lộc: Thực thần là con do ta sinh ra như Giáp Mộc sinh Bính Hoả, nếu được sinh vượng thì vóc người đẫy đà, tính thích ăn uống.
Giáp lấy Bính làm Thực
Ất lấy Đinh làm thực
Đinh lấy Kỷ làm thực
Mậu lấy Canh làm thực
Kỷ lấy Tân làm thực
Tân lấy Quý làm thực
Canh lấy Nhâm làm thực
Quý lấy Ất làm thực. (Chẳng thấy Bính đâu, CÂ kiểm tra hộ)

- Kim Dư lộc: Gặp Kim Dư lộc có lợi về tiền tài thê thiếp. An Kim Dư Lộc trước thập can Lộc 2 cung. Thí dụ Giáp an Lộc tại Dần thời Kim Dư Lộc tại Thìn

- Củng Lộc: Củng lộc chỉ đóng tại bốn vị trí.
Người sinh ngày Mậu Thìn, Tứ trụ có Bính NGọ, hoặc sinh ngày Bính Ngọ trong tứ trụ có Mậu Thìn.
Người sinh ngày Đinh Tỵ trong tứ trụ có Kỷ Mùi, hoặc sinh ngày Kỷ Mùi trong tứ trụ có Đinh Tỵ.
(củng có nghĩa là khoanh tay).

- Giao lộc: người sinh ngày Giáp Thân, trong tứ trụ có Canh Dần, gọi là Giao Lộc vì Canh gặp Lộc tại Thân, Giáp gặp Lộc tại Dần, hai bên hỗ tương giao hoán.

- Ám Lộc: Người sinh ngày Giáp gặp chữ Hợi vì Giáp gặp Lộc tại Dần, mà Dần hợp với Hợi, Hợi là ám lộc, sinh ngày Ất gặp chữ Tuất vì Ất gặp Lộc tại Mão mà Tuất hợp với Mão, Tuất là Ám lộc.

- Giáp Lộc: Người sinh ngày Giáp gặp Sửu Mão, vì Giáp có Lộc tại Dần, trước là Mão, sau là Sửu. Người sinh ngày Ất gặp Dần Thìn, vì Ất Lộc tại Mão, trước là Thìn sau là Dần.

- Viên Thành: Viên Thành chủ về thê thiếp nếu hợp với Mã, thời vợ dâm dục. An Viên Thành dựa trên sao Trường Sinh của Can. Thí dụ sinh ngày Giáp, Trường Sinh an ở Hợi, tức Viên Thành ở Hợi.

- Đế toạ: An Đế toạ căn cứ vào nạp âm của giờ sinh. Thí dụ sinh giờ Giáp Tý, nạp âm là Kim, Kim vượng ở Dậu, an Đế toạ ở chữ Dậu. Sao Đế Toạ gặp Hư (Hư là đối cung của Tuần không, cung âm) thời con bất hiếu.

- Lục giáp không vong: còn có tên là Thiên Trung Sát (như Tuần không trong Tử vi).
Tuần giáp Tý Không vong ở Tuất Hợi
Tuần giáp Tuất Không vong ở Thân Dậu
Tuần giáp Thân Không vong ở Ngọ Mùi
Tuần giáp Ngọ không vong ở Thìn Tỵ
Tuần giáp Thìn Không vong ở Dần Mão
Tuần giáp Dần Không vong ở Tý Sửu.
Về ý nghĩa: Giáp Tý thuộc Kim đi đến Thân Dậu là đủ 10 can, dư Tuất Hợi chưa có Thiên can để phối hợp, đó là Không vong. Dương là Không, Âm là Vong, Tuất là Không, Hợi là Vong. Cung xung đối Thìn là Cô, Tỵ là Hư.
Về tác dụng: Hoả Không tắc phát, Thuỷ Không tắc thoát, Kim Không tắc hưởng, Mộc Không tắc chiết, Thổ Không tắc hãm.

- Triệt lộ không vong:
Giáp Kỷ: Triệt Thân Dậu
Ất Canh: Triệt Ngọ Mùi
Bính Tân: Triệt Thìn Tỵ
Đinh Nhâm: Triệt Dần Mão
Mậu Quý : Triệt Tý Sửu.

Về ý nghĩa: Triệt lộ là chặn đường, ví như người đang di trên lộ gặp sông nước ngăn chặn, vì gặp Nhâm Quý là Thuỷ. Thí dụ : lấy 12 cung Địa bàn làm cố định, từ Tý ta khởi Giáp theo chiều thuận, cứ Nhâm Quý đến đâu là Triệt ở đó, đếm lần hết 5 vòng sẽ gặp 5 chữ Triệt. Riêng Tuất Hợi không có Triệt vì đến Tý Sửu là hết chu kỳ 60.
Về Tử bình lấy ngày giờ là cơ sở để an Triệt
Thí dụ ngày Giáp gặp giờ Hợi - Tuất, tức là giờ sinh gặp Triệt, bị coi là chính phạm và rất trở ngại cho việc cầu danh cầu lộc.

- Tứ đại Không vong:Trong lục thập hoa giáp có lục giáp, trừ Giáp Thìn và Giáp Tuất có đủ ngũ hành, còn Giáp Dần Thân Tý Ngọ không đủ ngũ hành nên gọi là Tứ đại Không vong.
Thí dụ:
Tý Ngọ: Ngân Đăng giá bích câu (thiếu hành Thuỷ)
Tuất Thìn: Yên Mãn Tự Chung Lâu (có đủ ngũ hành)
Dần Thân: Hán Địa Siêu Sài thấp (thiếu hành Kim).
Vì thế nếu ngày sinh thuộc Tuần Giáp Tý, Giáp Ngọ thiếu Thuỷ, nếu mạng chủ gặp Thuỷ gọi là chính phạm và số không được thọ, vận trình gặp hành Thuỷ cũng không tốt. Số nhan hồi gặp chính phạm nên yểu tử.
TNTD is offline  
Old 12-05-2005   #12
TNTD
Hội Viên
 
TNTD's Avatar
 
Tham gia ngày: Aug 2004
Bài gởi: 1.249
Thanks: 1
Thanked 81 Times in 59 Posts
- Thập ác đại bại: Ngày sinh nhằm những ngày sau đây thuộc thập ác đại bại (10 ngày).
Giáp Thìn, Kỷ Tỵ, Nhâm Thân, Bính Thân, ĐInh Hợi.
Canh Thìn, Mậu Tuất, QUý Hợi, Tân Tỵ, Ất Sửu.
Về ý nghĩa: Thập ác có nghĩa là hung dữ, đại bại là sợ kẻ địch. Trong lục iáp có 10 ngày lộc gặp Không vong, 10 ngày đó đều là đại bại, nếu gặp nhằm ngày sinh là chính phạm, còn năm tháng giờ không hề gì. Nếu có cát thần phù trợ bớt xấu. Nhữngngày trên đều phạm vào "Lộc nhập không vong". Thí dụ Giáp Thìn , Ất Tỵ, giáp gặp Lộc tại Dần, Ất gặp Lộc tại Mão, vậy mà Tuần giáp Thì gặp Tuần không tại Dần Mão, Lộc gặp Không vong là Vô lộc, vì thế coi như đại bại.
- Tứ phế nhật: Mùa xuân ngày Canh Thân (Kim tù tử)
Mùa Hạ ngày Nhâm Tý (Thủy tù tử)
Mùa Thu ngày Giáp Dần (Mộc tù tử)
Mùa Đông ngày Bính Ngọ (Hỏa tù tử).
Về ý nghĩa : Canh và Thân đều thuộc hành Kim, sinh vào mùa xuâ, Kim lâm vào các vị trí tuyệt, thai, dưỡng (Hưu tù), Kim trở thành vô dụng, nên gọi là phế nhật. Những ngày khác cũng suy diễn theo đó. Nếu trong Mệnh phạm phải thời mọi việc lao tâm khó thành công.
- Thiên địa chuyển sát:
+ Thiên chuyển:
Xuân ngày Ất Mão, Hạ ngày Bính Ngọ
Thu ngày Tân Dậu, Đông ngày Nhâm Tý.
+ Địa chuyển:
Xuân ngày Tân Mão, Hạ ngày Mậu Ngọ
Thu ngày Quý Dậu, Đông ngày Bính Tý.
Ý nghĩa : Sự vật đi tới cực điểm thì trở ngược lại, đó là nghĩa chữ CHUYỂN: can chi cùng vượng là thiên chuyển, như mùa xuân can Ất, chi Mão đều thuộc hành Mộc làm vượng địa, cực vượng tắc suy, nên có chiều hướng xấu đang chờ đợi. Can chi nạp âm đồng hành với mùa hạ là địa chuyển , như Tân Mão nạp âm là Mộc, Tân Mão là thời điểm cực vượng của mùa xuân, cực vượng tắc suy. Những ngày khác cũng suy diễn theo nguyên lý trên.
Những ngày này rất kỵ, nếu mệnh gặp phải thường không được thọ.
- Thiên la Địa võng:
Thìn là Thiên la, Tuất là Địa võng. Hai cung này là vị trí của Khôi, Cương (Hà Khôi và Thiên Cương là ác thần) vì thế Thiên Ất Quý nhân không đóng tại hai cung đó (Thiên Ất quý nhân là Khôi Việt trong Tử vi).
Đời xưa lấy Tuất Hợi làm Thiên la, Thìn Tỵ làm Địa võng. Nếu người mạng Hỏa gặp Tuất Hợi coi như gặp Thiên la (Hỏa mộ ở Tuất, tuyệt ở Hợi) người mạng Thổ và Thủy gặp Thìn Tỵ coi như gặp Địa võng (Thủy Thổ mộ ở Thìn, tuyệt ở Tỵ). Thiên la Địa võng đều có tính chất mờ tối, thiếu cương quyết. Còn người mạng Kim và Mộc không ảnh hưởng.
Đàn ông thì kỵ Thiên la, đàn bà thì kỵ Địa võng. Gặp 2 sao này thời mọi việc hay trắc trở, nếu bị nhiều ác sat xâm phạm rất nguy hiểm đên tính mệnh.
- Dương nhận:- Đối cung là Phi nhận. Thí dụ Dương nhận đóng ở cung Mão, Phi nhận ở Dậu.
Theo Nhất Hạnh Thiền sư, Dương nhận trùng trùng lại gặp Lộc thời giàu sang tột bực. Kình dương ở thượng giới là thần chiến tranh, Mệnh gặp phải là người ưa chiến đấu, đối với hạng thường dân phần lớn làm nghề đồ tể.
Cách an như sau:
----------+----+----+----+----+----+----+----+----+----+----+
Can ngày-+Giáp+ Ất +Bính+Đinh+Mậu+ Kỷ +Canh+Tân+Nhâm+ Quý+
SAo------+----+----+----+----+----+----+----+----+----+----+
Dương N -+Mão+Thìn+Ngọ + Mùi+Ngọ +Mùi + Dậu+Tuất+Tý + Sửu+
Phi N-----+Dậu+Tuất+Tý + Sửu+ Tý +Sửu +Mão+Thìn+ Ngọ+ Mùi +
----------------------------------------------------------------

Dương là cứng cỏi , nhận là mũi nhọn, chủ hình, lộc quá vượng cần phải ức chế, công thành phải lo thoái, nếu ngoan cố mà tiến lên tất nhiên gặp họa. Tước lộc có nhận ý nói thái cực tất bĩ.
TNTD is offline  
Old 13-05-2005   #13
TNTD
Hội Viên
 
TNTD's Avatar
 
Tham gia ngày: Aug 2004
Bài gởi: 1.249
Thanks: 1
Thanked 81 Times in 59 Posts
Phương pháp khởi đại vận:

Đại vận và vận trình đi qua trong cuộc đời và tương tự như mỗi đại hạn trong tử vi, mỗi đại vận gồm 10 năm và có một ảnh hưởng rất lớn đến sự thịnh suy, mệnh xấu nhưng vận tốt đó là thời kỳ may mắn của cuộc đời.
Phương pháp khởi đại vận tương đối tỷ mỷ và cũng phân biệt Dương nam, Âm nữ hoặc Dương nữ, Âm nam để lấy đại vận theo chiều thuận nghịch và căn bản thời gian là theo tiết mà định năm tháng.
- Dương nam Âm nữ thời tính thuận đến tiết sắp tới
- Dương nữ Âm nam thời tính ngược lại tiết vừa qua.
Thí dụ: sinh sau tiết lập hạ 2 ngày Dương nam Âm nữ tính theo chiều thuận đến tiết Mang Chủng.
Âm nam dương nữ tính ngược trở lại đến tiết Lập hạ.
Sau khi đếm được số ngày và giờ , theo phép tính sau đây để tính số tuổi hành vận: 3 ngày tính thành 1 năm, 1 ngày làm 120 ngày và 1 giờ âm lịch là 10 ngày. Cách ghi vận trình như sau:
Vận ghi ở phần dưới của tứ trụ, ghi số tuổi, mỗi lần cộng thêm thành 10 năm. SAu đây là một số thí dụ để độc giả dễ hiểu hơn:
Trường hợp 1:
Nam mệnh sinh giờ giờ Hợi, ngày 10 tháng 2 năm Mậu Dần. Sinh năm Mậu Dần tất nhiên là Dương nam
Tra vạn niên lịch, tiết thanh minh khởi sự vào giờ Dậu ngày 05 tháng 3 năm Mậu Dần. Như vậy phải tìm quãng thời gian cách biệt từ giờ sinh tức giờ Hợi ngày 10 tháng 2 đến giờ Dậu ngày 05 tháng 3 là bao nhiêu ngày và giờ.
- Số ngày cách biệt từ giờ Hợi ngày 10/2 đến giờ Hợi ngày 5/3 đếm được 24 ngày.
- Số giờ cách biệt từ giờ Hợi đến giờ Dậu (chỉ tính đến Thân) là 10 giờ.
Theo phép chia 3 ngày là 1 năm 24 : 3 = 8 năm
Theo phép chia 10 giờ, 1 giờ = 10 ngày: 10x10=100 ngày.
Vậy số này sau 8 năm, 3 tháng, 10 ngày mới nhập vận.
Vậy tuổi Mậu Dần trên phải cộng ngày tháng sinh với 8 năm 3 tháng 10 ngày, từ ngày đó mới nhập vận.
Năm Mậu Dần tháng 2 ngày 10
cộng 8 năm 3th 10 ngày
_______________________________
Năm Bính Tuất 5 tháng 20 ngày.
Vậy kể từ ngày 20/5/Bính Tuất, tuổi Mậu Dần nói trên mới vào Đại Vận. Còn từ 1 đến 8 tuổi sẽ tính theo tiểu vận và có phương pháp riêng.
Cách ghi can chi của vận trình thời căn cứ theo can chi tháng sinh, dương nam âm nữ ghi can chi theo chiều thuận, âm nam dương nữ ghi can chi theo chiều nghịch. Số Mậu Dần trên sẽ ghi như sau:

Giờ ____________Ngày____________Tháng______________N ăm
Tân____________Nhâm____________Ất_____________ ____Mậu
Hợi_____________Dần_____________Mão__________ ______Dần

68_______58_______48_____38______28______18_______ 8
Nhâm___Tân_____Canh_____Kỷ_____Mậu_____Đinh _____Bính
Tuất____Dần_____Thân____Mùi_____Ngọ_____T ______Thìn.

Can tháng sinh là ẤT vậy ghi kế tiếp chữ Bính Đinh theo chiều thuận, Chi là Mão ghi kế tiếp chữ Thìn Tỵ.

Trường hợp II

Nam Mện sinh giờ Hợi ngày 9 tháng 2 năm ĐInh Sửu.
Sinh năm ĐInh Sửu là Âm nam
Tra vạn niên lịch thấy tiết Kinh Trập khởi sự vào giờ Thìn ngày 24 tháng 1, (âm nam dương nữ tìm tíêt vừa qua). Như vậy phải tìm quãng thời gian cách biệt từ ngày giờ sinh trở ngược lại tiết vừa qua. Từ giờ Hợi ngày 9/2 trở lui giờ Thìn ngày 24 tháng 1 được 15 ngày 8 giờ.
Theo phép chia 3 ngày là 1 năm 15 : 3 = 5 năm
Theo phép chia 10 giờ, 1 giờ = 10 ngày: 10x8=80 ngày.
Vậy số này sau 5 năm 2 tháng 20 ngày mới nhập vận

Năm Đinh Sửu tháng 2 ngày 9
cộng 5 năm 2th 20 ngày
_______________________________
Năm Nhâm Ngọ 4 tháng 22 ngày.
Vậy kể từ ngày 22/4/Nhâm Ngọ, số này mới bước vào đại vận. Số ĐInh Sửu sẽ ghi vận trình như sau:

Giờ ____________Ngày____________Tháng______________N ăm
Tân____________Đinh____________Quý_____________ ____Đinh
Hợi_____________Mùi_____________Mão___________ _____Sửu

65_______55_______45_____35______25______15_______ 5
Bính_____Đinh_____Mậu_____Kỷ_____Canh_____T n_____Nhâm
Thân____Dậu_____Tuất____Hợi_______Tý _____Sửu______Dần.

Can tháng sinh là Quý vậy tính theo chiều nghịch: Nhâm Tân... chi của tháng sinh là Mão, tính theo chiều ngược Dần Sửu... trường hợp này áp dụng cho Âm nam.
TNTD is offline  
Old 16-05-2005   #14
TNTD
Hội Viên
 
TNTD's Avatar
 
Tham gia ngày: Aug 2004
Bài gởi: 1.249
Thanks: 1
Thanked 81 Times in 59 Posts
- Phương pháp khởi Tiểu vận:
Cách tính tiểu vận tương đối đơn giản, không phân biệt Âm nam Dương Nữ mà chỉ căn cứ vào nam nữ mà thôi.
Cứ trai thời khởi từ Bính Dần: Thí dụ tuổi Đinh Sửu ở trên: 1 tuổi = Bính Dần, 2 tuổi = Đinh Mão, 3 tuổi = Mậu Thìn, 4 tuổi = Kỷ Tỵ, 5 tuổi = Canh Thân. SAu 5 tuổi thì vào đại vận.
Gái thời 1 tuổi khởi là Nhâm Thân. Thí dụ: tuổi Đinh Sửu ở trên là nữ : 1 tuổi = Nhâm Thân, 2 tuổi = Tân Mùi, 3 tuổi = Canh Ngọ, 4 tuổi = Kỷ Tỵ, 5 tuổi = Mậu Thìn. (tính ngược chiều).

Khảo luận về Tiết Khí

Trong môn Lý học Tử Bình, tiết khí là thời điểm vô cùng quan trọng và là nền tảng của năm tháng ngày giờ để an số. Theo năm tháng thường dùng cứ ngày mồng một kể là đầu tháng hoặc đầu năm. Nhưng Tử bình căn cứ vào tiết khí, thí dụ ngày 5 tháng 1 mới lập xuâN, kể từ ngày đó mới coi là tháng giêng, trước ngày đó coi thuộc tháng 12 năm trước.
Mỗi năm chia ra làm 24 tiết khí (12 tiết + 12 khí)

__________________________________________________ ________
Tiết khí----------------Tiết---------------------Khí-----------------
Tháng
__________________________________________________ ________
Tháng 1 ----------Lập xuân-------------------Vũ Thuỷ-------------
Tháng 2 ----------Kim Trập-------------------Xuân Phân----------
Tháng 3 ----------Thanh Minh----------------Cốc Vũ--------------
Tháng 4 ----------Lập hạ --------------------Tiểu Mãn -----------
Tháng 5 ----------Mạng chủng----------------Hạ CHí--------------
Tháng 6 ----------Tiêu Thử ------------------Đại Thử-------------
Tháng 7 ----------Lập thu --------------------Xử Thử------------
Tháng 8 ----------Bạch Lộ --------------------Thu phân ----------
Tháng 9 ----------Hàn Lộ ---------------------Sương giáng -------
Tháng 10 ---------Lập đông -------------------Tiểu Tuyết --------
Tháng 11 ---------Đản tuyết (???)--------------Đông chí ---------
Tháng 12 ---------(???????) --------------------Đại hàn ----------
__________________________________________________ ________

Phương pháp tìm tứ quý:

Sau đây là bài khẩu quyết tìm ra Tứ quý tức 4 ngày Lập xuân - hạ - thu - đông:
Kim tuế yếu tự lai niêu xuân
Đản gia ngũ nhật tam thời thần
Lập xuân tam nhật tiêu phùng thu
Cách ngạn thoái vị hạ cách lâm
Tái quá tam triêu đông hựu đáo
Lục lang hựu khứ đả xuân ngưu.
Theo khẩu quyết trên muốn biết hai ngày lập xuân lập thu năm tới thời phải căn cứ vào ngày lập xuân của năm đã qua.
- Tìm ngày lập xuân của năm sắp tới: Đản gia ngũ nhập tam thời thần là thêm vào ngày lập xuân năm vừa qua 5 ngày 3 giờ. Nên chú ý , 5 ngày đây không có nghĩa là thêm theo cách tính thông thường như 1 thêm 5, mà là thêm vào hàng can chi. Thí dụ ngày lập xuân năm trước là Giáp Tý thì thêm 5 can chi vào tức là ngày Kỷ Tỵ.
Thí dụ: Năm Gia Tĩnh thứ 19 tức là năm Mậu Thân lập xuân vào ngày Giáp Tý giừo Ngọ (17-12 ÂL), muốn biết ngày lập xuân của năm Gia Tĩnh thứ 20 , cứ việc thêm 5 ngày 3 giờ. Vậy sẽ lập xuân vào ngày Kỷ Tỵ, giờ Dậu, Ngày Kỷ Tỵ nhằm ngày 28/12 ÂL giờ Dậu lập xuân.
- Lập thu: Lập xuân tam nhật tiêu phùng thu. Muốn tìm ngày lập thu thời thêm vào 3 ngày sau ngày Lập xuân năm trước.
Thí dụ: Ngày lập xuân là Giáp Tý vậy lập thu là Đinh Mão giừo Sửu.
- Lập hạ: Cách ngạn thoái vị hạ cách lâm: căn cứ vào ngày lập thu của năm hiện hành để tìm ngày lập hạ. Lập thu vào ngày Đinh Mão, cách quan có nghĩa là Thiên can để nguyên và lấy cung xung đối của chi là Dậu, hợp thành Đinh Dậu lùi lại 2 cung tức là ẤT Mùi là ngày lập hạ. Vậy lập hạ nhằm vào ngày Ất Mùi, giờ Dậu (20/3 ÂL).
- Lập đông: Tái quá tạm triêu đông hựu đáo: Căn cứ vào ngày lập hạ thêm 3 ngày theo can chi vậy là ngày Mậu Tuất giờ Tỵ là ngày lập đông (26/9 ÂL).
Chú thích: Việc tìm ra ngày tứ quý áp dụng công thức trên tương đối dễ dàng, nhưng việc ấn định vào giờ nào, khẩu quyết quá tóm tắt mà thiếu phần giải thích, câu cuối cùng là Lục lang hựu khứ đả xuân ngưu. Vậy chỉ có thể suy diễn, lục là sáu, mà Tỵ đứng vào hàng số 6 của 12 chi, còn chữ xuân ngưu có lẽ là giờ Sửu. ĐIều dự đoán này không có gì chắc chắn nếu để nghiên cứu và sưu tầm ở những sách khác.
TNTD is offline  
Old 16-05-2005   #15
TNTD
Hội Viên
 
TNTD's Avatar
 
Tham gia ngày: Aug 2004
Bài gởi: 1.249
Thanks: 1
Thanked 81 Times in 59 Posts
Phương pháp tìm năm nhuận:

Tìm tháng nhuận của 47 năm trước, cộng thêm vào 2 tháng.
Thí dụ:
Năm 1909 (Kỷ Dậu) có tháng 2 nhuận.
Năm 1955 (Ất Mùi) có tháng 3 nhuận.
Tính từ năm 1909 đến năm 1955 (lấy cả số đầu lẫn sô cuối) thành 47.
Tính tháng 3 và tháng 3 nhuận, cách sau 2 tháng.
_________

Tất cả những dữ liệu trên đây không ít thì nhiều đều liên quan đến môn lý học Tử bình, tuy nhiên chỉ là bước đầu và có tính cách khám phá. Đến đây ta chỉ mới tam an được 1 lá số. Nhưng chưa có những yếu tố để giải đoán và sẽ được trình bày trong phần kế tiếp.
Theo nhận xét của dịch giả, nội dung cuốn sách này nặng về phần giải đoán, nhẹ về phần chỉ dẫn cách thức lập 1 lá số, vì thế trước khi đi sâu vào chi tiết, độc giả nên nghiên cứu cuối Tử bình thuyết minh cuả Đỗ ĐÌnh Tuân, khi độc giả đọc sang cuốn này dễ dàng nắm vững hơn.

___________

Khảo luận về lý do tại sao lấy Nhật nguên làm chủ.

Tôi (tác giả) thường nghiên cứu những điều ghi chép trong đường thư thấy có ông Lý Hư Trung thường dùng can chi của năm tháng ngày giờ sinh của một người để xác định số mệnh sang hèn, giàu nghèo, thọ yểu. Đến đời Tống, thuyết của Tử Bình ra đời , lúc đó mới lấy Nhật can (ngày sinh) làm chủ. Năm sinh coi như gốc, tháng là cành (nguyên chữ là miêu = mầm mống, nhưng xin dịch là cành cho dễ hiểu hơn) ngày là hoa, giờ là quả. Rồi từ đó sẽ căn cứ vào các yếu tố sinh, vượng, tử, tuyệt, lưu, tù, chế hoá để phán định hoạ phú quý của kiếp người. Nguyên lý do đó rất rõ ràng không có gì đáng hoài nghi.

Trước hết QUAN có phân ra âm và dương, chia ra Quan và Sát như Giáp Ất gặp Canh Tân.
Giáp gặp Canh là Sát vì Dương gặp Dương, gặp Tân là Quan vì dương gặp Âm, Ất Mộc gặp Canh Kim là Quan, gặp Tân là Sát.
Tài cũng phân ra âm dương, chia ra Chính tài và Thiên, như Giáp ẤT gặp Mậu Kỷ. Dương gặp âm là Chính tài, âm gặp âm hoặc dương gặp dương là Thiên tài.
ẤN cũng phân ra âm dương, chia ra Chính Ấn và Thiên Ấn như Giáp ẤT gặp Nhâm Quý. Dương gặp Âm như Giáp gặp Quý hoặc Ất gặp Nhâm là Ấn Thị (Chính Ấn) Ất gặp Quý là Thiên Ấn.
Thực Thương cũng phân ra ÂM dương chia ta Thực Thần và Thương quan. Giáp Ất gặp Bính ĐInh. Giáp gặp Bính là Thực thần, gặp ĐInh là Thương quan. Ất gặp Đinh là Thực thần, gặp Bính là Thương quan.
Tỷ kiếp là đồng khí cũng phân ra âm dương chia ra Tỷ và Kiếp (Kiếp tài và Dương nhận) như Giáp Ất gặp Giáp ẤT, dương gặp dương là Dương nhận, âm gặp dương là Kiếp tài.
Nói chúng mọi sự giàu nghèo sang hèn thọ yểu đều tuỳ thuộc vào 5 yếu tố trên, trừ khi lập sai cách cục thì số sẽ sai.
Lấy nhật nguyên làm chủ vậy nhật nguyệt coi như bản thân, lấy niên canlàm tổ phụ niên chi làm tổ mẫu, nguyệt can làm cha, nguyệt can làm mẹ đồng thời cũng là anh chị em. Nhật can là bản thân, nhật chi là thê thiếp, can giờ là con trai, chi giờ là con gái.
Ngày là chủ, năm là gốc, tháng là đề cương, giờ là phụ tá. Lấy nhật nguyên làm chủ nên cần phải xem kỹ lưỡng xem ngày sinh ở vị trí nào, hoặc thân vượng hay suy. Sau đó xem xét địa chi thuộc cách cục nào, thuộc Kim Mộc Thuỷ Hoả hay Thổ. Xem xét ngũ hành của chi thuộc tháng nào, xem hành nào vượng, hành nào suy.
Thí dụ như sinh ngày Giáp Tý, thấy trong Tứ trụ có chữ Thân, thời coi đó là bản (???) Thuỷ cục vì Thân Tý Thìn hợp hành thuỷ cục, nếu có đủ Thân Tý Thìn là được toàn cục. Sau đó lại xem trong tứ trụ có chữ nào hình xung, phá, hại nhật nguyên hay dụng thần thời chữ đó cần được khắc chế, không nên được phù trợ.

Khảo luận về Nguyệt lệnh

Năm là gốc, nếu cột năm có quan tinh, Ấn thụ là cách sớm có công danh do tổ tiên để lại (như chức ẩm tử). Nếu quan tinh Ấn thụ xuất hiện ở cột tháng thời là người thông minhkhảng khái, kiến thức hơn người giờ là phụ tá, nếu có Quan Ấn là người thao lược. Nếu các cột năm tháng ngày có cát thần thời giờ có ý nghĩa phù trợ, nếu cột năm tháng ngày gặp hung thần, giờ sẽ có khả năng chế phục.
Tóm lại: Nguyệt lệnh có Dụng thần, số được nhờ cha mẹ. Năm có Dụng thần, được nhờ tổ tiên, giờ có Dụng thần được nhờ con cái.

Luận về sinh vượng:

Thông thường người ta vẫn lấy Kim sinh ở Tỵ, Mộc sinh ở Hợi, Thuỷ sinh ở Thân, Hoả sinh ở Dần. Thổ đóng ở trung ương, sinh nhờ vào Mẹ. Thí dụ: Mậu là dương thổ dựa vào Mẹ là Tỵ Hoả, Kỷ là Âm Thổ phải dựa vào Mẹ là Ngọ Hoả. Ngoài ra Thổ còn vượng vào Tứ Quý, mỗi quý gồm 18 ngày, cộng chung là 72 ngày, thời gian tương đương với 4 hành khác.
- Mùa xuân, tháng Thìn: Thổ vượng từ 13 đến 30 tháng 3
- Mùa Hạ, tháng Mùi: Thổ vượng từ 13 đến 30 tháng 6
- Mùa Thu, tháng Tuất: Thổ vượng từ 13 đến 30 tháng 9
- Mùa Đông, tháng Sửu: Thổ vượng từ 13 đến 30 tháng 12.
Tính chung mỗi hành vượng 72 ngày gồm 5 hành, hợp đủ 360 ngày.
TNTD is offline  
Old 17-05-2005   #16
TNTD
Hội Viên
 
TNTD's Avatar
 
Tham gia ngày: Aug 2004
Bài gởi: 1.249
Thanks: 1
Thanked 81 Times in 59 Posts
Luận về ngũ hành sinh vượng suy tuyệt cát hung

Theo quan điểm của các nhà chuyên luận về Âm Dương: sinh và vượng đều theo quy luật Âm tử Dương sinh hay Dương tử Âm sinh. Thí dụ: Giáp (Dương Mộc) sinh ở Hợi và tử ở Ngọ, còn ẤT (ÂM Mộc) lại sinh ở Ngọ và tử ở Hợi. Các hành khác cũng do theo quy luật đó. Tuy nhiên, nghiên cứu Tử bình cần phải dè dặt, nếu chỉ hoàn toàn dựa vào sinh vượng để quyết đoán rất dễ sai lầm.
Thí dụ: Bính Hoả tuyệt ở Hợi, theo lẽ sinh vượng tất nhiên là xấu. Nhưng xét kỹ trong Hợi có Giáp Mộc mà Mộc là Ấn thụ của Bính Hoả (tuyệt xứ phùng sinh). Vì thế sinh ngày Bính gặp giờ Hợi lại thường là quý cách. MẬu Thổ gặp vượng ở Tỵ và gặp lộc ở đó, ai cũng cho là quý cách. Nhưng xét kỹ, trong vị trí sinh của Kim là làm hại cho Quan tinh (Thổ lấy Mộc làm Quan, mà Kim khắc Mộc) vì thế sinh ngày Mậu nhằm giờ Tỵ thương công danh không hiển đạt.
Qua 2 thí dụ trên, chớ vội lấy sinh vượng là tốt mà suy bại là xấu.

Luận về ngũ hành mộ khố tài Ấn:
Người sinh ngày Bính thời lấy Thìn là Khố quan (mộ khố ở đây có nghĩa chung là kho tàng). Lý do là sinh ngày Bính lấy Nhâm , Quý làm Quan tinh, mà Thuỷ và Thổ đều mộ khố ở Thìn.
Vì thế trong các cột năm, tháng, giờ rất cần có nước, hoặc có các chữ Hợi Mão Mùi Dần như vậy công danh mới hiển đạt. Nếu thiếu Mộc, Bính Hoả không được phù trợ và bị Thìn Thổ (tiết khí của Hoả) cướp quan tinh của Bính và khó có công danh.

Luận về quan sát hỗn tạp:
Quan tinh rất cần được thuần nhất. Như Giáp Mộc lấy Tân làm quan, nếu cột năm có Tân, cột tháng có Dậu, cột giờ cũng là Dậu. Tuy có nhiều quan tinh vẫn tốt vì là thuần nhất. Trái lại trong trụ có cả Canh Thân, Tân Dậu, như vậy có cả quan lẫn sát gọi là quan sát hỗn tạp, thương sát bản thân, trong trường hợp này rất cần Hoả để chế phục.

Luận về sinh khắc chế hoá của Ngũ hành:
- Kim vượng gặp Hoả mới thành đồ dùng; Hoả vượng gặp Thuỷ mới nên công việc. Thuỷ vượng gặp Thổ mới thành ao hồ, Thổ vượng gặp Mộc, khí mới tỏ thông; Mộc vượng gặp Kim mới thành giường cột.
Ở đây, Mệnh vượng mà được quan sát nhập cách tất nhiên là làm đến công hầu khanh tướng.
- Kim nhờ Thổ sinh, thổ nhiều Kim bị vùi; Thổ nhờ Hoả sinh, Hoả nhiều Thổ cháy khô; Hoả nhờ Mộc sinh, Mộc nhiều Hoả tắt; Mộc nhờ Thuỷ sinh, Thuỷ nhiều Mộc trôi; Thuỷ nhờ Kim sinh, Kim nhiều Thuỷ trọc.
Thân nhược mà Ấn thụ quá vượng và trùng điệp tất thân mang hại.
- Kim sinh ra Thuỷ, Thuỷ nhiều thời Kim chìm; Thuỷ sinh ra Mộc, Mộc nhiều thì Thuỷ rút; Mộc sinh ra Hoả, Hoả nhiều thì Mộc tiêu; Hoả sinh ra Thổ, Thổ nhiều thì lửa bị vùi; Thổ sinh ra Kim, Kim nhiều thì Thổ mất.
Trường hợp này Thân nhược mà gặp nhiều Thương quan, Thực thần qúa vượng nên thân bị hại, nếu có tỷ thì không đáng ngại.
- Kim khắc Mộc, nhưng Mộc cứng thì Kim khuyết; Mộc khắc Thổ, Thổ nhiều Mộc gãy; Thổ khắc Thuỷ, nước nhiều thì Thổ trôi; Thuỷ khắc Hoả, Hoả nhiều nước bốc hơi; Hoả khắc Kim, Kim nhiều lửa tắt.
Trường hợp này là thân nhược mà gặp tài quá vượng nên thân bị hại, nếu thân được vượng, tài nhập cách thì giàu lớn.
- Kim suy gặp Hoả tất bị chảy tan; Hoả nhược gặp Thuỷ thời tắt ngấm; Thuỷ nhược gặp Thổ thời bế tắc; Thổ suy gặp Mộc thời bị khuyết hãm; Mộc nhược gặp Kim tất bị chặt gãy.
Trường hợp này là thân nhược gặp quan sat hỗn tạp và quá vượng tất nhiên thân bị tàn khuyết nghèo hèn.
- Kim mạnh gặp Thuỷ mới giảm được mũi nhọn; Thuỷ mạnh gặp Mộc mới giảm được thế; Mộc mạnh gặp Hoả mới giảm sức mạnh; Hoả mạnh gặp Thổ mới bớt sức mạnh; Thổ mạnh gặp Kim mới ngăn được hoạ.
Đây là trường hợp thân nhược gặp quỷ phải được vật khác hoá giải. Thí dụ sinh ngày Giáp bị Kim (quan) khắc hại, nếu trên cột giờ có Nhâm Quý là Thuỷ hoặc Thân Tý Thìn (Thuỷ cặc) để làm cho Kim bị tiết khí, bớt gây áp lực với bảnthân là Giáp Mộc.
TNTD is offline  
Old 18-05-2005   #17
TNTD
Hội Viên
 
TNTD's Avatar
 
Tham gia ngày: Aug 2004
Bài gởi: 1.249
Thanks: 1
Thanked 81 Times in 59 Posts
Luận về Nhị chí âm dương tương sinh:

Sau đông chí khí dương bắt đầu sinh; sau hạ chí, khí âm bắt đầu sinh.
Trong một năm có phân ra ngũ hành phối hợp với khí hậu của 12 tháng, đều tuỳ theo vượng tướng để xác định dụng thần. Trong ngũ hành phân ra hai vế âm dương. Trong một năm, khí có sinh có vượng. Thí dụ Đông chí nhất dương sinh, thời Mộc chịu ảnh hưởng đáng kể, người sinh nhằm can ngày Giáp , Ất, nếu sinh trước khí đông chí, lúc này khí dương chưa động, mộc còn ở vào thế tử tuyệt rất là bất lợi. Sau đông chí, bắt đầu có khí dương, Mộc nương vào khí ấm áp của dương nên Mệnh được thọ và giàu sang. Tuy nhiên cần được dụng thần nhập cách.
Trường hợp thứ 2 như người sinh thuộc Bính Đinh, nếu sinh trước Đông chí, gặp Thuỷ tất nhiên Hoả bị diệt; nhưng sau Đông chí, không sợ Thuỷ lắm, vì Bính Đinh nương nhờ Mộc vượng không sợ bị diệt.
Hạ chí tức là nhất âm sinh, theo lẽ Kim sinh Thuỷ mà luận. Trước Hạ chí Kim suy nhược, sau hạ chí nhất âm sinh, Hoả tù, Kim vượng , Thuỷ sinh.

Tử bình sử yếu ca:

Đây là bài thơ tóm tắt những điều cốt yếu trong việc giải đoán. Vì là một thơ có vần có điệu giúp cho người học dễ nhớ, vì thế dịch giả xin phiên âm, những câu nào có gạch dưới là nguyên văn, những chữ không có gạch dưới là lời giải thích.
Tạo hoá tiêu tu tường nhật chủ, tạo quan toạ ấn suy vượng thư: Nghiên cứu số cần phải xem xét kỹ nhật chủ, coi xem là toạ quan hay toạ ấn tuỳ theo sinh vượng mà dùng. Nhật chủ tức là ngày sinh, còn nhật thần là can chi của ngày sinh, thí dụ sinh ngày Giáp Tý (Nhật thần). CÒn toạ quan, toạ ấn có ý nghĩa như sau:
Sinh ngày Giáp Tý vào tháng Thân, Giáp Mộc sinh tháng Kim là suy nhược, Phải dùng Quý Thuỷ làm Dụng Thận, vì Thuỷ sinh Mộc nên gọi là toạ ấn. Toạ quan cũng một ý tương tự.

Thiên thời nguyệt lệnh hiệu đề cương, nguyên hữu nguyên vô vượng trùng cử: Trong tứ trụ, nguyệt lệnh giữ một vai trò tối quan trọng, tuỳ theo vượng tướng mà lấy dụng thần. Đề cương còn có ý nghĩa là những vật chứa trong nguyệt chi, thí dụ trong thân có chứa Canh, Mậu, Nhâm, cần phải xem xét tính chất vượng tướng của ngũ hành mà dùng.

Đại để quan tinh yếu thuần tuý, chính thiên tạp loạn phản vô tình:
Đã dùng quan tinh, rất sợ bị xung phá, nếu bị xung phá gọi là vô tình. Hơn nưũa đã dùng quan tinh cần được thuần tuý, nếu trong tứ trụ có cả quan lẫn sát, cả chính lẫn thiên gọi là tạp loạn hay hỗn tạp không tốt.

Lộ quan tàng sát phương vi phúc, lộ sát tàng quan thị hoạ thai:
Trong tứ trụ nếu lộ quan mới là phúc, còn lộ sát thường gây hoạ. Quan lộ thường hiển đạt thanh cao, trái lại sát lộ thường hung bạo, làm việc nóng nảy.

SÁt quan câu lộ tương hà nghĩ, hỗn tạp tài quan thư tài nghị:
Nếu lộ cả sát lẫn quan, thời sát cần được khắc chế để khỏi làm hại quan, nếu gặp tài sinh sát thời biến thành hoạ. Ví như kẻ tiểu nhân chèn ép người quân tử không thể hành đạo.

Quan vượng phạ quan kỵ hình xung, quan khinh kiến tài vi phúc lợi:
Quan đã vượng lại gặp quan là không tốt , là cách lưỡng quan tương ngộ, lưỡng hổ tranh cường, vận trình gặp quan, gặp xung tất bất lợi. Nếu quan suy mà gặp tài lấy tài làm lộc (tài sinh quan) tất là may mắn.

Niên thượng thương quan tối khả hiềm, trùng phạ thương quan bất khả quyên:
Ở cột năm gặp thương quan chủ khắc tổ hoặc làm tổn hại tổ nghiệp, cột tháng và giờ có thương quan hay bị tai hoạ.

Thương quan dụng tài nãi vi phúc, tài tuyệt quan suy phúc diệc nhiên:
Thương quan, là người ham của , quan vượng nếu không có tài thường gây hoạ.

Tham hợp vong quan vinh bất túc, tham hợp vong sát vi kỷ phúc:
Quan tượng trưng cho thiện nhân quân tử, nếu bị can chi trong tứ trụ hay vận trình hợp thời bị trói buộc, khó thi thố khả năng, trái lại, sát vốn là kẻ tiểu nhân hung bạo, nếu gặp hợp lại hoá tốt và được việc.

Kham pha thân nhược pha tài đạ, cánh lịch quan hương hoạ tương trục:
Như Giáp Thân hay Giáp Tuất gặp Mậu Kỷ là nhiều tài và thân nhược (vì sinh ngày Giáp gặp tuyệt ở Thân và dưỡng ở Tuất là thân nhược). Vì vậy suy nhược nên không thể cai quản nhiều tài. Nếu vận trình đến quan , gặp hai quan tranh dành tất nhiên mắc hoạ.
TNTD is offline  
Old 19-05-2005   #18
TNTD
Hội Viên
 
TNTD's Avatar
 
Tham gia ngày: Aug 2004
Bài gởi: 1.249
Thanks: 1
Thanked 81 Times in 59 Posts
Tài đa thân nhược thực thần lai, thực thần hội sát tất vi tai:

Tài nhiều, ta phải chế khắc, hao tổn sinh lực trong khi thân ta đã suy nhược, lại gặp thực thần thiết khí, sinh con phải hao phí sức lực, vì thế thân gặp tai hoạ.

Hội thiên hợp địa hữu hình khắc, cách nghi đạt sĩ tế suy tường:

Xem số phải vận dụng tinh thần phối hợp can chi hình khắc, kể sĩ cần phải đắn đo suy xét cho kỹ càng.

Tường giải định chân luận: Lấy ngày sinh làm chủ ví như bày tôi thi hành lệnh của vua, pháp vận bốn mùa theo lẽ âm dương cương nhu, nội ngoại bĩ thái.
Chú giải: Lấy ngày sinh làm chủ ví như bày tôi thi hành lệnh của vua, bốn trụ phải suy tôn ngày sinh làm chủ pháp vận bốn mù có nghĩa là ngày luận lưu trong bốn mùa xuân hạ thu đông. Thí dụ: tháng mạnh đông, Mộc vượng hoả sinh, ý nói Mộc sinh ra Hoả. Tháng Mạnh hạ Hoả vượng Thổ sinh, ý nói Hoả sinh ra Thổ. Tháng Mạnh thu Kim vượng Thuỷ sinh, ý nói Kim sinh ra Thuỷ. Tháng mạnh đông, Thuỷ vượng Mộc sinh, ý nói Thuỷ sinh cho Mộc. Riêng Thổ vượng vào 4 quý tức là 4 tháng Thìn Tuất Sửu Mùi. Về Âm dương cương nhu, ÂM có cương có nhu và dương cũng có cương có nhu. Nguyệt lệnh hữu khí là cương, vô khí là nhu. Thế nào là nội ngoại bĩ thái? Tức là nói đến năm tháng ngày giờ vậy. Tam nguyên phối hợp Thiên can địa chi. Ngoại có nghĩa là thiên can địa chi lộ ra ngoài, nội là ám tàng ở bên trong, bĩ là bế tắc, thái là thông suốt. Tóm lại đại ý câu này là khuyên phải xét kỹ lưỡng sự phối hợp của thiên can địa chi cả 2 mặt xuất lộ và ẩn tàng để xác định là hanh thông hay bế tắc.

Trong chu kỳ một năm có 12 tháng, ngày có 12 giờ , tích tụ giờ thành ngày và ngày thành năm. Vì thế ngày và năm là chủ của âm dương. Năm là chính triều, ngày là tòng triều, ví như bày tôi triều mệnh quân vương. Bày tôi đã vâng mệnh vua thời tự mình phải tuỳ tiện mà thi hành sứ mạng. Bày tôi chấp hành lệnh vua thời bản thân đã bao hàm ý nghĩa sang hèn, lành dữ. Vì lẽ đó mới lấy ngày sinh làm chủ yếu, vì ngày có sứ mệnh truyền bá pháp luật ra bốn mùa. Thật vậy, khí trời đất toả ra bốn mùa thể hiện qua ngũ hành trong 4 mùa xuân ha thu đông. Khí xuân ấm áp, Mộc vượng được 72 ngày, nắng hè oi ức, Hoả vượng 72 ngày, khí thu mát mẻ, Kim vượng 72 ngày, trời đông lạnh lẽo, Thuỷ vượng 72 ngày. CÒn lại là Tứ quý, mỗi quý vượng 18 ngày, 4 quý cộng chung là 72 ngày. Vậy năm khí thuộc 5 hành kết hợp đủ 360 ngày và tạo thành tuế công.

Phú có câu: Ngũ hành, âm dương phối hợp, trên dưới không thiên lệch đó mới thực là quý cách. Nếu trong tứ trụ âm dương thiếu quân bình là không tốt.
Ngày sinh thuộc hành Mộc dùng Kim làm quan nếu Kim sinh vào mùa thu hoặc có đới Thuỷ Hoả thời Kim đó thuộc cương, nếu Kim đó sinh vào mùa xuân hạ hoặc có đới Đính ĐInh, tất nhiên là Mộc cường mà Kim phải nhu. Nói chung âm dương thiếu quân bình, thiếu sự phối ngẫu, thời Kim, Mộc gặp quan sát , thê tài đều là triệu chức không lành và là cách nhân nghĩa câu vô, âm dương bất tế". Âm dương thiên lệch cũng gọi là "Tật" và do đó biết được là hữu tình hay vô tình.
Người thuật sĩ phải thấu triệt được lẽ cương nhu. Phú có câu: Trời đất ẩn tàng khí âm khí dương, mà Kim Mộc thời định rõ cương nhu. Khi xem xét số mạng luôn luôn phải lấy nhật can làm chủ mới xác định được hoạ phúc sang hèn. Nhật chi là NGOẠI, những gì ẩn tàng trong chi là NỘI.
Thí dụ sinh ngày Giáp: vậy Giáp Tý là Ấn tụu, Giáp Dần là Kiến Lộc, Giáp Thìn là Tài KHố, Giáp Ngọ là THực thương, Giáp Thân là quan quỷ, Giáp Tuất là Tài, nếu tháng sinh thuộc quan tính chính khí là mạng đại - quý.
Giáp lấy Tân , Dậu làm quan tinh, nếu có Đinh Hoả làm hại Tân quan tinh, trong trụ cần có Quý Thuỷ để chế phục Đinh Hoả, vì Quý Thuỷ là Ấn thụ của Giáp Mộc. Đại để đó là những nguyên lý cần định tốt xấu. Trong nguyên can có sẵn tài quan, vận lại gặp tài, quan là đến thời kỳ vinh hiển. Trái lại nguyên can không có tài quan thì dù vận gặp tài quan cũng không phát.

Tiến thoái tương khuynh:
Thế nào là tiến thoái tương khuynh, giả thử Tân Kim lấy Bính Hoả làm quan tinh, nếu sinh về mùa hạ thì công danh thuận lợi và thăn tiến. Nếu sinh vào tháng 8, thời quan tinh không thăng tiến nghĩa là thoái. Dụng thần là quan tinh nếu được vượng tướng thời vinh hiển, nếu hưu tù tử tuyệt thời khó hiển đạt.

Động tĩnh tương phạt:
Can thuộc trời, tính dộng. Chi thuộc đất tính tĩnh. Giáp đứng đầu thiên can, Tý đứng đầu địa chi, chấm dứt ở Hợi rồi chuyển sang Tý, tiếp tục luân lưu không ngừng, tuần hoàn qua 12 chi, mỗi động một tĩnh, một âm một dương cho đến Quý Hợi là chấm dứt một lục thập hoa giáp.

TNTD is offline  
Old 20-05-2005   #19
TNTD
Hội Viên
 
TNTD's Avatar
 
Tham gia ngày: Aug 2004
Bài gởi: 1.249
Thanks: 1
Thanked 81 Times in 59 Posts
Th­ư cố hanh, xuất nhập chi hoãn cấp:

Cố là bềm hanh là thông. Muốn biết sang hèn, lành dữ trước hết phải coi ngày sinh xem thân căn có kiên cố hay không. Sau đó xem tài quan trong tứ trụ nếu không bị phá hại, tự nhiên sẽ được hanh thông.

Thế nào là xuất nhập, tức là vận hành vào ra vậy. Như trường hợp Dương nam Âm nữ ra khỏi Tuất đi vào Hợi. Nam mện sinh nhằm ngày Nhâm hoặc Quý. Vận hành gặp Tuất, đó là nơi quy tụ của Hoả và Thổ nên Tài và Quan đều tốt. Khi vận ra khỏi Tuất vào Hợi, đó là vị trí tử tuyệt của Tài, Quan dù thân có lâm vượng địa cũng bị coi là hung vận.

Trong tứ trụ có Tài,Quan mà không bị hưu tù, vận đến tài quan thời mọi việc đều thành tựu mau chóng (cấp). Nếu tứ trụ không có tài quan, nhật can lại vô khí, khi vận hành đến nơi tài vượng thời kết quả trái lại, tài lại bị thoái thán. Vì thế vận may dù đến mà biến phúc thành hoạ, tai hoạ đến rất mau chóng và nếu có được vunh hiển thời lại chậm trễ.



Cầu tế phục tán liễu chi cự vi:

Tế là tiến, phục là thoái, ý nói công danh tiến thoái. Tán là tan, liễu là tụ, ý nói tài bạch tụ tán. Cự là nhiều, vi là ít, ý nói số mệnh sang hèn, hoạ phúc.

Luận về tài bạch tụ hay tán, nếu trong tứ trụ tài bạch có khí, nhật can lại vượng thân vào đó có dương nhận, vận hành đến tài mà trong cục có nhiều tài tất nhiên là đại phát. Nếu nguyên cục có tài nhưng bị quan quỷ cướp mất , nhật chủ lại suy nhược thời dù vận hành đó đến tài cượng cũng không phát mà còn tổn tài thượng thê. Đó gọi là căn cơ thiển bạc, ít phúc vậy.

Khảo sát ngày sinh có 3 điểm chủ yếu (Thiên nguyên, địa nguyên, nhân nguyên). Can là Thiên nguyên, chi là địa nguyên, can ẩn trogn chi là nhân nguyên. Can chi được phân bố ra tứ trụ, lấy năm là gốc rễ, tháng là cành, ngày là hoa, giờ là quả. Ngoài ra trong tứ trụ lại được phân định: năm tượngt rưng cho tổ tiên nhờ đó biết được tông phái thịnh suy. Tháng là cha mẹ nhờ đó biết được song thân sang hèn hay giàu nghèo. Lấy ngày làm bản thân, nên phải xét kỹ nhật can phối hợp với bát tự xem nội, ngoại sinh khắc ra sao. Can yếu thời cần được phù trợ, can mạnh thời cần tiết giảm.

Quảng diễn: Đã lấy ngày làm chủ, tất nhiên phải xét kỹ xẻmtong năm tháng ngày giờ có quan, tài, ấn hay không, do đó biết được số mạng sang hèn. Xem năm tháng nếu có tài quan ấn tức là gốc cành đã có sẵn khí, sau đó mới xét dụng thần để xác định thời kỳ khai hoa kết quả. Trong kinh có câu: gốc có trước cành, quả sinh sau hoa.



Ngày là bản thân cần phối hợp với bát tự để nắm vững cách cục cát hung, cái gì có lợi thì dùng, bất lợi thì bỏ. Nhật can yếu thời phải nhờ cậy vào khí vượng, nếu mạnh thời kỵ khí vượng, vì lẽ thái quá trở thành bất cập đều không tốt, trong trường hợp này thường bị tổn tài thương thê. Vậy xét can chi phải xét kỹ gốc, cành, hoa, quả vì trong tứ trụ đã có những dữ kiện cho biết số mạng sang hèn, cao thấp...
Thí dụ: nguyên cục có sẵn tài quan, vận hành đến tài quan là thăng tiến phúc lập, nếu nguyên cục thiếu tài quan thì vận hành đến tài quan cũng không thăng tiến vì lẽ gốc rồi mới có cành , có hoa mới có quả. Xem số phải dựa trên cơ sở có sẵn để truy nguyên.
Ngoài ra năm còn là dữ kiện để giải đoán về căn cơ, điền trạch, tông phái. Nếu năm tháng ngày được hợp tất nhiên phú quý. Tháng sinh giờ sinh không hình hại năm sinh thời cơ nghiệp tổ tiên ngày càng rạng rõ không bị suy tàn và còn được hưởng phúc ấm tổ tiên. Trái lại thời không được như trên.
Tháng sinh là cung phụ mẫu, nếu nòng cốt tháng có tài quan tinh thịnh vượng không bị xung phá và nhật can là gặp sinh, dưỡng, thời người đó được hưởng phúc của cha mẹ để lại. Nếu nhật can lâm tử tuyệt thì dù có tự cờ (???) cha mẹ truyền cho cũng chẳng được lâu dài.
Nhật là bản thân tức là nhật can cần phải xét kỹ bản cung xem nhật can lâm vào địa phận cung nào, rồi xem tới năm tháng giờ thành cách cục gì, nếu gặp quý nhân Lộc , Mã, Không có phá hại, được vậy coi như Mệnh rất tốt.
Nếu vận hành lại gặp sinh vượng tất đại phát. Nhật can gặp tử tuyệt hưu bại, vận hành lại gặp hình hại xung phá thời tất găp tai hoạ. Nhật can suy cần nơi khí vượng.
TNTD is offline  
Old 25-05-2005   #20
TNTD
Hội Viên
 
TNTD's Avatar
 
Tham gia ngày: Aug 2004
Bài gởi: 1.249
Thanks: 1
Thanked 81 Times in 59 Posts
Thí dụ sinh nhằm ngày Nhâm QUý Tỵ Ngọ, Nhật càn lâm vào tử tuyệt và bị coi như thân fnhược. Nhâm Quý lấy Bính ĐInh làm tài tinh, lấy Mậu Kỷ làm quan tinh, gặp Tỵ Ngọ là Hoả ở vào vị trí lâm quan sinh vượng, nếu sinh nhằm trong 3 tháng mùa hạ thời có quan tinh kiêm lộc mã là rất tốt. Nếu người sinh ngày Nhâm Quý kể trên sinh vào mùa đông tất nhiên là Nhật can được vượng khí nhưng trọn đời khó giàu sang vì lẽ tài và quan đều lâm vào tử tuyệt, người nào gặp phải thường suốt đời vất vả bôn ba khó được hưởng phúc thanh nhàn, dù vượng cũng nay thành mai bại vì quan tướng bất thành, tài tướng không tốt.
Sinh ngày Canh Dần tức là thiên can gặp suy nhược, sách tam mệnh cho là Mệnh bạc nhược, gặp quan quỷ mới được quan vượng nên được tài quan quý hiển. Vì Canh Kim lấy Ất Mộc làm tài, Đinh Hoả làm quan, Dần là vị trí lâm quan của Giáp, sinh của Bính Hoả. Xét toàn bộ sinh vào mùa xuân, hạ là đại phúc. Nếu sinh nhằm mùa thu mùa đông thời tài quan lâm vào vị trí tử tuyệt hưu tù, vì thế mạng này thường gặp cảnh thiếu thốn, gia đạo tiêu điều, khắc thê, hại tử. Nhật can suy thời phải dựa vào vượng, nhật can vượng cần phải khắc chế.
Can cùng một hành là huynh đệ, như ẤT lấy Giáp làm anh, rất kỵ Canh, Giáp lấy Ất làm em, rất kỵ gặp Tân.
Đây cần nhấn mạnh chữ thương (hại) Tân nhiều thương Ất Mộc , Canh nhiều thương giáp Mộc, trường hợp này thường khắc anh em. SInh ngày Giáp lấy Ất làm em, trong trụ có Tân Kim khắc Ất Mộc tất nhiên không được nhờ cậy anh em. Sinh ngày ẤT lấy Giáp làm anh, nếu trong tứ trụ có Canh Kim khắc Giáp Mộc thời suốt đời khó được nhờ cậy anh em..
Hành nào bị can khắc là Thê tài, Thê tài nhiều mà can vượng thời được vừa ý, can suy thời trở thành hoạ.
Tài đa mà thân vượng tất nhiên có đủ khả năng đảm nhiệm đó là phúc. Tài đa mà thân nhược tức là thiếu khả năng chế ngự nên trở thành hoạ.
Can với chi cùng hành là tổn tài thương thê.
Can với chi cùng một hành như Giáp Dần, Ất MÃo.
Ngoài ra, nếu tam hợp địa chi cùng một cục cũng tổn tài thương thê. Trwongf hợp này, nguyệt lệnh khí vượng, cột năm và giờ không có tài quan lại không thành cách cục là nghèo thấu xương.
TNTD is offline  
Ðề tài đã khoá


Ðang đọc: 1 (0 thành viên và 1 khách)
 
Ðiều Chỉnh
Xếp Bài

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn
Bạn không được quyền gởi bài
Bạn không được quyền gởi trả lời
Bạn không được quyền gởi kèm file
Bạn không được quyền sửa bài

vB code đang Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Mở
Chuyển đến