Hỏi/Ðáp Lịch Tìm Kiếm Bài Trong Ngày Ðánh Dấu Ðã Ðọc
Welcome
Trang Ðầu
Ghi Danh
Hỏi/Ðáp
Login Form
Nhà tài trợ
Công cụ
Thống kê
  • Ðề tài: 15,064
  • Bài gởi: 153,517
  • Thành viên: 4,745
  • Số người đang xem: 231
  • Xin cùng nhau chào đón abcde2011 là thành viên mới nhất.
Liên kết website
Go Back   chân thuyên > ĐÔNG PHƯƠNG DỰ ĐOÁN HỌC > LỊCH - THIÊN VĂN - THÁI ẤT > Thái Ất Thần Kinh

Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
Old 09-02-2006   #1
KARAJAN
Hội viên
 
Tham gia ngày: May 2005
Bài gởi: 334
Thanks: 0
Thanked 8 Times in 7 Posts
Sấm Trạng Trình




Để phục vụ cho môn Thái Ất, tôi đăng lên đây toàn bộ bài sấm của Trạng Trình.
Sấm được viết cách đây 500 năm, cụ Trạng Trình đã dùng môn Thái Ất để tiên đoán sự việc đúng đến nhiệm màu 500 năm sau đó. Tài tiên tri của cụ quả thật là một không hai, trên thế giới chắc chẳng có ai sánh bằng. Và qua đó cũng để các bạn thấy sự diệu kỳ của bộ môn Thái Ất , nắm được nó có thể lường xét việc của quỷ thần trời đất chứ không riêng gì số mệnh của con người.

Vận lành mừng gặp tiết lành
Thấy trong quốc ngữ lập thành nên câu
Một câu là một nhiệm màu
Anh hùng gẫm được mới hầu giá cao

Trải vì sao mây che Thái Ất
Thủa cung tay xe nhật phù lên
Việt Nam khởi tổ xây nên
Lạc Long ra trị đương quyền một phương
Thịnh suy bỉ thới lẽ thường
Một thời lại một nhiễu nhương nên lề

Ðến Ðinh Hoàng nối ngôi cửu ngủ
Mở bản đồ rủ áo chấp tay
Ngự đao phút chốc đổi thay
Thập bát tử rày quyền đã nổi lên
Ðông a âm vị nhi thuyền
Nam phương kỳ mộc bỗng liền lại sinh

Chấn cung hiện nhật quang minh
Sóng lay khôn chống trường thành bền cho
Ðoài cung vẻ rạng trăng thu
Ra tay mở lấy đế đô vạn toàn

Sang cửu thiên ám vầng hồng nhật
Dưới lẫn trên năng vẫn uống quen
Sửa sang muôn việc cầm quyền
Ngồi không ai dể khẳng nhìn giúp cho

Kìa liệt vương khí hư đồ ủng
Mặc cường hầu ong ỏng tranh khôn
Trời sinh ra những kẻ gian
Mặt khôn đổi phép, mặc ngoan tham tài

Áo vàng ấm áp đà hay
Khi sui đấp núi khi say xây thành
Lấy đạt điền làm công thiên hạ
Ðược mấy năm đất lở giếng mòn

Con yết ạch ạch tranh khôn
Vô già mở hội mộng tôn làm chùa
Cơ trời xem đã mê đồ
Ðã đô lại muốn mở đô cho người

Ấy lòng trời xuôi lòng bất nhẫn
Suốt vạn dân cừu giận oán than
Dưới trên dốc chí lo toan
Những đua bán nước bán quan làm giàu

Thống rủ nhau làm mồi phú quí
Mấy trung thần có chí an dân
Ðua nhau làm sự bất nhân
Ðã tuần bốn bể lại tuần đầu non

Dư đồ chia xẻ càn khôn
Mối giềng man mác khiếp mòn lòng nhau
Vội sang giàu giết người lấy của
Sự có chăng mặc nọ ai đôi

Việc làm thất chính tơi bời
Minh ra bổng lại thất thôi bấy giờ
Xem tượng trời đã giơ ra trước
Còn hung hăng bạc ngược quá xưa

Cuồn phong cả sớm liền trưa
Ðã đờn cửu khúc còn thơ thi đề
Ấy Tần Vương ngu mê chẳng biết
Ðể vạn dân dê lại giết dê
Luôn năm chật vật đi về
Âm binh ở giữa nào hề biết đâu

Thấy nội thành tiếng kêu ong ỏng
Cũng một lòng trời chống khác nào
Xem người dường vững chiêm bao
Nào đâu còn muốn ước ao thái bình

Một góc thành làm tâm chứng quỷ
Ðua một lòng ích kỷ hại nhân
Bốn phương rời rỡ hồng trần
Làng khua mỏ cá lãng phân điếm tuần

Tiếc là những xuất dân làm bạo
Khua dục loài thỏ cáo tranh nhau
Nhân danh trọn hết đâu đâu
Bấy giờ thiên hạ âu sầu càng ghê

Hùm già lạc dấu khôn về
Mèo non chi chí tìm về cố hương
Chân dê móng khởi tiêu tường
Nghi nhau ai dễ sửa sang một mình

Nội thành ong ỏng hư kinh
Ðầu khỉ tin sứ chèo thành lại sang
Bở mồ hôi Bắc giang tái mã
Giửa hai xuân bỗng phá tổ long
Quốc trung kinh dụng cáo không
Giữa năm giả lai kiểm hung mùa màng

Gà đâu sớm gáy bên tường
Chẳng yêu thì cũng bất tường chẳng không
Thủy binh cờ phất vầng hồng
Bộ binh tấp nập như ong kéo hàng
Ðứng hiên ngang đố ai biết trước
Ấy Bắc binh sang việc gì chăng ?
Ai còn khoe trí khoe năng
Cấm kia bắt nọ tưng bừng đôi nơi
Chưa từng thấy đời này sự lạ
Bổng khiến người giá họa cho dân
Muốn bình sao chẳng lấy nhân
Muốn yên sao chẳng dục dân ruộng cày

Ðã nên si Hoàn Linh đời Hán
Ðúc tiền ra bán tước cho dân
Xun xoe những rắp cậy quân
Chẳng ngờ thiên đạo xây dần đã công

Máy hoá công nắm tay dễ ngỏ
Lòng báo thù ai dễ đã nguôi
Thung thăng tưởng thấy đạo trời
Phù Lê diệt Mạc nghỉ dời quân ra
Cát lầm bốn bể can qua
Nguyễn thì chẳng được sẽ ra lại về
Quân hùng binh nhuệ đầy khe
Kẻ xưng cứu nước kẻ khoe trị đời

Bấy giờ càng khốn than ôi
Quỉ ma trật vật biết trời là đâu ?
Thương những kẻ ăn rau ăn giới
Gặp nước bung con cái ẩn đâu

Báo thù ấy chẳng sai đâu
Tìm non có rẩy chừng sau mới toàn
Xin những kẻ hai lòng sự chúa
Thấy đâu hơn thì phụ thửa ân
Cho nên phải báo trầm luân
Ai khôn mới được bảo thân đời này

Nói cho hay khảm cung rồng dấy
Chí anh hùng xem lấy mới ngoan
Chử Rằng lục thất nguyệt gian
Ai mà nghĩ được mới gan anh tài

Hễ nhân kiến đã dời đất cũ
Thì phụ nguyên mới chổ binh ra
Bốn phương chẳng động can qua
Quần hùng các xứ điều hoà làm tôi
Bấy giờ mở rộng qui khôi
Thần châu thu cả mọi nơi vạn toàn

Lại nói sự Hoàng Giang sinh thánh
Hoàng phúc xưa đã định tây phong
Làu làu thế giới sáng trong
Lồ lộ mặt rồng đầu có chử vương
Rỏ sinh tài lạ khác thường
Thuấn Nghiêu là chí Cao Quang là tài

Xem ý trời có lòng đãi thánh
Dốc sinh hiền điều đỉnh nội mai
Chọn đầu thai những vì sao cả
Dùng ở tay phụ tá vương gia
Bắc phương chính khí sinh ra
Có ông Bạch sĩ điều hoà hôm mai
Song thiên nhật rạng sáng soi
Thánh nhân chẳng biết thì coi cho tường

Ðời này thánh kế vị vương
Ðủ no đạo đức văn chương trong mình
Uy nghi trạng mạo khác hình
Thác cư một gốc kim tinh phương đoài
Cùng nhau khuya sớm dưỡng nuôi
Chờ cơ sẽ mới ra tài cứu dân
Binh thơ mấy quyển kinh luân
Thiên văn địa lý nhân luân càng mầu

Ở đâu đó anh hùng hẳn biết
Xem sắc mây đã biết thành long
Thánh nhân cư có thụy cung
Quân thần đã định gìn lòng chớ tham

Lại dặn đấng tú nam chí cả
Chớ vội vàng tất tả chạy rong
Học cho biết lý kiết hung
Biết phương hướng bội chớ dùng làm chi
Hễ trời sinh xuống phải thì
Bất kỳ chi ngộ màng gì tưởng trông

Kìa những kẻ vội lòng phú quí
Xem trong mình một thí đều không
Ví dù có gặp ngư ông
Lưới chài đâu sẵn nên công mà hòng

Xin khuyên đấng thời trung quân tử
Lòng trung nghi ai nhớ cho tinh
Âm dương cơ ngẩu ngô sinh
Thái nhâm thái ất trong mình cho hay

Văn thì luyện nguyên bài quyết thắng
Khen Tử Phòng cũng đấng Khổng Minh
Võ thông yên thủy thần kinh
Ðược vào trận chiến mới càng biến cơ
Chớ vật vờ quen loài ong kiến
Biết ray tay miệng biếng nói không
Ngỏ hay gặp hội mây rồng
Công danh sáng chói chép trong vân đài
Bấy giờ phỉ sức chí trai
Lọ là cho phải ngược xuôi nhọc mình

Nặng lòng thật có vĩ kinh
Cao tay mới gẩm biết tình năm nao
Trên trời có mấy vì sao
Ðủ nho biền tướng anh hào đôi nơi
Nước Nam thường có thánh tài
Ai khôn xem lấy hôm mai mới tường

So mấy lời để tàng kim quỉ
Chờ hậu mai có chí sẽ cho
Trước là biết nẽo tôn phò
Sau là cao chí biết lo mặc lòng
Xem đoài cung đến thời bất tạo
Thấy vĩ tinh liệu rạo cho mau
Nguôi lòng tham tước tham giàu
Tìm nơi tam hiểm mới hầu bảo thân
Trẻ con mang mệnh tướng quân
Ngỡ oai đã dấy ngỡ nhân đã nhường

Ai lấy gương vua U thủa trước
Loạn ru vì tham ngược bất nhân
Ðoài phương ong khởi lần lần
Muôn sinh ba cốc cầm binh dấy loàn

Man mác một đỉnh Hoành Sơn
Thừa cơ liền mới nổi cơn phục thù
Ấy là những binh thù Thái Thái
Lòng trời xui ai nấy biết ru ?
Phá điền dầu khỉ cuối thu
Tái binh mới động thập thò liền sang
Lọ chẳng thường trong năm khôn xiết
Vẽ lại thêm hung kiệt mất mùa
Lưu tinh hiện trước đôi thu
Bấy giờ thiên hạ mây mù đủ năm

Xem thấy nhũng sương săm tuyết lạnh
Loài bất bình tranh mạnh hung hăng
Thành câu cá, lửa tưng bừng
Kẻ ngàn Ðông Hải người rừng Bắc Lâm

Chiến trường chốn chốn cát lầm
Kẻ nằm đầy đất kẻ trầm đầy sông
Sang thu chín huyết hồng tứ giả
Noi đàng dê tranh phá đôi nơi
Ðua nhau đồ thán quần lê
Bấy giờ thiên hạ không bề tựa nương

Kẻ thì phải thủa hung hoang
Kẻ thì binh hỏa chiến trường chết oan
Kẻ thì mắc thủa hung tàn
Kẻ thì bận của bổng toan khốn mình

Muông vương dựng ổ cắn tranh
Ðiều thì làm chước xuất binh thủ thành
Bời bời đua mạnh tranh giành
Ra đâu đánh đấy dem binh sớm ngày

Bể thanh cá phải ẩn cây
Ðất bằng nổi sấm cát bay mịt mù
Nào ai đã dễ nhìn U
Thủy chiến bộ chiến mặc dù đòi cơn

Cây bay lá lửa đôi ngàn
Một làng còn mấy chim đàn bay ra
Bốn phương cùng có can qua
Làm sao cho biết nơi hào bảo thân

Ðoài phương thực có chân nhân
Quần tiên khởi nghĩa chẳng phân hại người
Tìm cho được chốn được nơi
Thái nguyên một giãi lần chơi trú đình

Bốn bề núi đá riểu quanh
Một đường tiểu mạch nương mình dấy an
Hễ Ðông Nam nhiều phen tàn tạc
Tránh cho xa kẻo mắc đao binh

Bắc kinh mới thật đế kinh
Dấu thân chưa dễ dấu danh được nào
Chim hồng vỗ cánh bay cao
Tìm cho được chốn mới vào thần kinh

Ai dễ cứu con thơ sa giếng
Ðưa một lòng tranh tiếng dục nhau
Vạn dân chịu thủa u sầu
Kể dư đôi ngủ mới hầu khoan cho
Cấy cày thu đãi thời mùa
Bấy giờ phá ruộng lọ chờ mượn ai
Nhân ra cận duyệt viễn lai
Chẳng phiền binh nhọc chẳng nài lương thêm

Xem tượng trời biết đường đời trị
Gẩm về sau họ Lý xưa nên
Giòng nhà để lấy dấu truyền
Gẩm xem bốn báu còn in đời đời
Thần qui cơ nổ ở trời
Ðể làm thần khí thủa nơi trị trường

Lại nói sự Hoàng Giang sinh thánh
Sông Bảo Giang thiên định ai hay
Lục thất cho biết ngày dài
Phụ nguyên ấy thực ở đầy tào khê
Có thầy nhân thập đi về
Tả phụ hửu trì cây cỏ làm binh
Giốc hết sức sửa sang vương nghiệp
Giúp vạn dân cho đẹp lòng trời
Ra tay điều chỉnh hộ may
Bấy giờ mới biết rằng tài yên dân
Lọ là phải nhọc kéo quân
Thấy nhân ai chẳng mến nhân tìm về

Năm giáp tý vẽ khuê đã rạng
Lộ Ngũ tinh trinh tượng thái hanh
Ân trên vũ khí vân hành
Kẻ thơ ký tuý kẻ canh xuân đài
Bản đồ chảng sót cho ai
Nghìn năm lại lấy hội nơi vẹn toàn
Vững nền vương cha truyền con nối
Dõi muôn đời một mối xa thư
Bể kình tâm lặng bằng tờ
Trăng thanh ai chẳng ơn nhờ gió xuân
Âu vàng khỏe đặt vững chân
Càng bền thế nước vạn xuân lâu dài

Vừa năm nhâm tý xuân đầu
Thanh nhàn ngồi tựa hương câu nghĩ đời

Quyển vàng mở thấy sấm trời
Từ Ðinh đổi đời chí lục thất gian
Một thời có một tôi ngoan
Giúp trong việc nước gặp an thái bình

Luận chung một tập kim thời
Tướng quyền tử sĩ nam nhi học đòi
Trượng phu có chí thời coi
Những câu nhiệm nhặt đáng đôi nhành vàng

Tài nầy nên đấng vẻ vang
Biết chừng đời trị biết đường đời suy
Kể từ nhân đoản mà đi
Số chưa gặp thì biết hoà chép ra

Tiếc thay hiền sĩ bao già
Ước bằng Bành Tổ ắt là Thái Công
Thử cho tay giúp ra dùng
Tài này so cùng tài trước xem sao

Trên trời kể chín tầng cao
Tay nghe bằng một ti hào biết hay
Hiềm vì sinh phải thời này
Rấp thù mở nước tiếc thay chưng đời

Hợp đà thay thánh nghìn tài
Giáng sinh rủi kiếp quỉ ma nhà trời
Nói ra thì lậu sự đời
Trái tai phải lụy tài trai khôn luần

Nói ra am chúa bội quân
Ðương thời đời trị xoay vần được đâu
Chờ cho nhân đoản hết sau
Ðến chừng đời ấy thấy âu nhiễu nàn

Trời xui những kẻ ắt gian
Kiếp độc đạo thiết làm loàn có hay
Vua nào tôi ấy đã bày
Trên đầu bất chính dưới nay dấy loàn
Ðua nhau bội bạn nghịch vi
Ích gia phi kỷ dân thì khốn thay

Tiếc tài gẩm được thời hay
Ðã sao như vậy ra tay sẽ dùng
Tài trai có chí anh hùng
Muốn làm tướng súy lập công xưng đời

Khá xem nhiệm nhặt tội trời
Cơ mưu nhiệm nhặt mấy trai anh hùng
Ði tìm cho đến đế cung
Rấp phù xuất lực đế cung được toàn
Bảo nhau cương kỷ cho tường
Bốn phương cũng được cho yên trong ngoài
Chờ cho động đất chuyển trời
Bấy giờ thánh sẽ nên tay anh hùng
Còn bên thì náu chưa xong
Nhân lực cướp lấy thiên công những là
Ðời ấy những quỉ cùng ma
Chảng còn ở thật người ta đâu là
Trời cao đất rộng bao xa
Làm sao cho biết cửa nhà đế vương
Dù trai ai chửa biết tường
Nhất thổ thời sĩ Khảm Phương thuở này

Ý ra lục thất gian nay
Thời vận đã định thời nầy hưng vương
Trí xem nhiệm nhặt cho tường
Bảo Giang thánh xuất trung ương thuở nầy
Vua ngự thạch bàn xa thay
Ðại ngàn vắng vẻ những cây cùng rừng

Gà kêu vượn hót vang lừng
Ðường đi thỏ thẻ dặm chưn khôn dò
Nhân dân vắng mạt bằng tờ
Sơn lâm vào ở đổ nhờ khôn thay

Vua còn cuốc nguyệt cày mây
Phong điều vũ thuận thú rày an dân
Phong đăng hoà cốc chứa chang
Vua ở trên ngàn có ngũ sắc mây
Chính cung phương khảm vần mây
Thực thay thiên tử là nay trị đời

Anh hùng trí lượng thời coi
Công danh chẳng ngại tìm đòi ra đi
Tìm lên đến thạch bàn khê
Có đất sinh thánh bên kia cuối làng
Nhìn đi nhìn lại cho tường
Dường như chửa có sinh vương đâu là
Chảng tìm thì đến bình gia
Thánh chưa sinh thánh báo ca địa bình
Nhìn xem phong cảnh cũng xinh
Tả long triều lại có thành đợt vây
Hửu hổ uấn khúc giang này
Minh Ðường thất diệu trước bày mặt tai
Ở xa thấy một con voi
Cúi đầu quen bụi trông vời hồ sâu
Ấy điềm thiên tử về chầu
Tượng trưng đế thánh tô lâu trị đời

Song thiên nhật nguyệt sáng soi
Sinh đặng chúa ấy là ngôi chẳng cầu
Ðến đời thịnh vượng còn lâu
Ðành đến tam hợp chia nhau sẽ làm
Khuyên cho Ðông Bắc Tây Nam
Muốn làm tướng súy thì xem trông này


Thiên sinh thiên tử ư hỏa thôn
Một nhà họ Nguyễn phúc sinh tôn
Tiền sinh cha mẹ đà cách trở
Hậu sinh thiên tử Bảo Giang môn

Kìa cơn gió thổi lá rung cây
Rung Bắc sang Nam Ðông tới Tây
Tan tác kiến kiều an đất nước
Xác xơ cổ thụ sạch am mây
Sơn lâm nổi sóng mù thao cát
Hưng địa tràng giang hóa nước đầy
Một gió một yên ai sùng bái
Cha con người Vĩnh Bảo cho hay
Con mùng búng tít con quay
Vù vù chong chóng gió bay trên đài
Nhà cha cửa đóng then cài
Ầm ầm sấm động hỏi người đông lân
Tiếc tám lạng thương nửa cân
Biết rằng ai có du phần như ai
Bắt tay nằm nghỉ dông dài
Thương người có một lo hai phận mình

Canh niên tân phá
Tuất hợi phục sinh
Nhị Ngũ dư bình
Long hổ xà đầu khởi chiến tranh
Can qua tứ xứ loạn đao binh
Mã đề dương cước anh hùng tận
Thân dậu niên lai kiến thái bình

Non đoài vắng vẻ bấy nhiêu lâu
Có một đàn xà đánh lộn nhau
Vượn nọ leo cành cho sỉ bóng
Lợn kia làm quái phải sai đầu
Chuột nọ lăm le mong cản tổ
Ngựa kia đủng đỉnh bước về tàu
Hùm ở trên rừng gầm mới dậy
Tìm về quê củ bắt ngựa tàu

Cửu cửu kiền khôn dĩ định
Thanh minh thời tiết hoa tàn
Trực đáo dương đầu mã vĩ
Hồ binh bát vạn nhập trường an

Bảo Giang thiên tử xuất
Bất chiến tự nhiên thành
Lê dân bảo bảo noản
Tứ hải lạc âu ca
Dục đức thánh nhân hương
Qua kiều cư Bắc phương

Danh vi Nguyễn gia tử
Kim tịch sinh ngưu lang
Thượng đại nhân bất nhân
Thánh ất dĩ vong ân
Bạch hổ kim đai ấn
Thất thập cổ lai xuân
Bắc hữu kim thành tráng
Nam tạc ngọc bích thành
Hỏa thôn đa khuyển phệ
Mục giả dục nhân canh
Phú quí hồng trần mộng
Bần cùng bạch phát sinh
Anh hùng vương kiếm kích
Manh cổ đổ thái bình

Nam Việt hửu Ngưu tinh
Quá thất thân thủy sinh
Ðiạ giới sĩ vị bạch
Thủy trầm nhi bắc kinh
Kỷ mã xu dương tẩu
Phù kê thăng đại minh
Trư thử giai phong khởi
Thìn mão xuất thái bình
Phân phân tùng Bắc khởi
Nhiểu nhiểu xuất Ðông chinh
Bảo sơn thiên tử xuất
Bất chiến tự nhiên thành
Thủy trung tàng bảo cái
Hứa cập thánh nhân hương
Mộc hạ châm châm khẩu
Danh thế xuất nan lương
Danh vi Nguyễn gia tử
Tinh bản tại ngưu lang
Mại dử lê viện dưỡng
Khởi nguyệt bộ đại giang
Hoặc kiều tam lộng ngạn
Hoặc ngụ kim lăng cương
Thiên dử thần thực thụy
Thụy trình ngũ sắc quang
Kim kê khai lựu điệp
Hoàng cái xuất quí phương
Nhân nghĩa thùy vi địch
Ðạo đức thực dữ đương
Tộ truyền nhị thập ngủ
Vận khải ngủ viên trường
Vận đáo dương hầu ách
Chấn đoài cương bất trường
Quần gian đạo danh tự
Bách tính khổ tai ương
Can qua tranh đấu khởi
Phạm địch tánh hung hoang
Ma vương sát đại quỉ
Hoàng thiên tru ma vương
Kiền khôn phú tai vô lương
Ðào viên đỉnh phát quần dương tranh hùng
Cơ nhị ngủ thư hùng vị quyết
Ðảo Hoàn Sơn tam liệt ngũ phân
Ta hồ vô phụ vô quân
Ðào viên tán lạc ngô dân thủ thành

Ðoài phương phước điạ giáng linh
Cửu trùng thụy ứng long thành ngủ vân
Phá điền thiên tử giáng trần
Dũng sĩ nhược hai mưu thần như lâm
Trần công nai thị phúc tâm
Giang hồ tử sĩ đào tiềm xuất du
Tướng thần hệ xuất y chu
Thứ kỵ phục kiến Ðường ngu thi hành
Hiệu xưng thiên hạ thái bình
Ðông Tây vô sự Nam thành quốc gia .




--- Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm ---
__________________
"Für mich fängt das Paradies an, wenn ich in den Saal komme "
KARAJAN is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
The Following 2 Users Say Thank You to KARAJAN For This Useful Post:
Old 09-02-2006   #2
Châu Anh
Khách
 
Bài gởi: n/a
Đúng là một tài liệu quý. Hoan hô bác Karajan!
  Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 09-02-2006   #3
KARAJAN
Hội viên
 
Tham gia ngày: May 2005
Bài gởi: 334
Thanks: 0
Thanked 8 Times in 7 Posts
Cảm ơn Châu Anh quan tâm
Sấm Trạng đọc rất khó hiểu, phải ngẫm nghĩ và phái biết dùng cả Thái Ất để chiêm nghiệm sẽ thấy Trạng thật sự muốn nói về ai, về cái gì.
Bài sấm Trạng Trình là một tài liệu rất quý để chúng ta có thể tự hào rằng Dịch Lý nước Nam có cụ Trạng thật khiến Phương Bắc phải cúi đầu khâm phục.

Thân
KARAJAN
__________________
"Für mich fängt das Paradies an, wenn ich in den Saal komme "
KARAJAN is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 09-02-2006   #4
Dala
 
Dala's Avatar
 
Tham gia ngày: Mar 2005
Nơi Cư Ngụ: Zürich
Bài gởi: 2.648
Thanks: 0
Thanked 14 Times in 13 Posts
Cài bài này y xì bài mà bác Karajan đăng mà, có gì khác đâu Blackrose...
để Dala xoá bớt đi nhé... ý Blackrose thế nào?

Thân mến
DALA
__________________
Chí làm trai nam bắc đông tây
Cho thỏa sức vẫy vùng trong bốn bể
Dala is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 09-02-2006   #5
Thiên Sứ
Hội viên chân thuyên
 
Thiên Sứ's Avatar
 
Tham gia ngày: Jul 2005
Bài gởi: 9.703
Thanks: 2
Thanked 244 Times in 126 Posts
Không giống nhau hoàn toàn đâu. Có sai lệch đôi câu đấy. Tam sao thất bổn mừ!
Thiên Sứ
Thiên Sứ is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 09-02-2006   #6
Empty
Hội viên
 
Empty's Avatar
 
Tham gia ngày: Jan 2006
Bài gởi: 55
Thanks: 0
Thanked 0 Times in 0 Posts
Trích:
Nguyên văn bởi KARAJAN
Sấm Trạng đọc rất khó hiểu, phải ngẫm nghĩ và phái biết dùng cả Thái Ất để chiêm nghiệm sẽ thấy Trạng thật sự muốn nói về ai, về cái gì.
KARAJAN
Anh Karajan có thể chỉ ra một chút gì đó không? thời hiện tại hoặc tương lai gần càng hay !
Empty is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 10-02-2006   #7
blackrose
Hội viên
 
Tham gia ngày: Sep 2005
Bài gởi: 65
Thanks: 0
Thanked 0 Times in 0 Posts
Trích:
Nguyên văn bởi Dala
Cài bài này y xì bài mà bác Karajan đăng mà, có gì khác đâu Blackrose...
để Dala xoá bớt đi nhé... ý Blackrose thế nào?

Thân mến
DALA
Hề hề Post chơi thôi mà, bóng trong chân U
Việt nam có Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm Tân hợi (1491-1585) thuộc đời vua Lê Thánh Tông Hồng Ðức thứ 22 tại thôn Trung An, làng Cổ an huyện Vĩnh Bảo Hải Dương. Thân phụ cụ Văn Ðình, thân mẫu con gái Hộ bộ thượng thư Nhữ văn Lân, được phong là Từ thục phu nhân. Bà giỏi văn chương và tài học về Lý số. Biết trước những gì có thể xảy ra và mộng lớn con cái nên danh phận không thể chờ thờị Sau nầy Nguyễn Du đã viết "xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều" Trạng Trình có người em cũng tài giỏi về lý số người đời gọi là Trạng Bùng Phùng Khắc Khoang cùng mẹ khác chạ Nguyễn Bỉnh Khiêm học giỏi tính toán biết nhà Lê trung hưng , nên chờ đúng số đến năm 44 tuổi thi đỗ Giải Nguyên đời nhà Mạc (1527-1592) làm việc bên cạnh Tả thị Lang, Ðông Các Ðại Học Sĩ, làm quan được 8 năm, ông dâng sớ hạch tội 18 lộng thần không được vua nghe cụ xin cáo quan năm 1542 về ở ẩn lập Am gọi Bạch Vân Am và hiệu Bạch Vân Cư Sĩ mở trường dạy học cạnh sông Hàn giang còn có tên Tuyết giang nên học trò gọi ông "Tuyết giang Phu tử " thơ mang triết lý của Thái Ất



"Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn người đến chốn lao xao"

Ngư ông bất ngộ Ðào Nguyên khách

Khởi thức hưng vong thế cổ kim hay

Nhàn trung hoa thảo túc Cung xuân

Tà dương độc lập đô vô sự



Lúc trẻ ông học với Lương Ðắc Bằng được truyền cho quyển Thái ất thần kinh từ đó ông tinh thông về Lý học,Tướng số ..Dù Nguyễn Bỉnh Khiên không còn làm quan nhưng vua Mạc Phúc Hải ( 562 -1546) phong cho ông tước Trình Nguyên Hầu vào năm Giáp thìn (1544), ngụ ý đề cao ông có công khơi nguồn nghành lý học, giống như (Trình Y Xuyên,Trình Minh Ðạo bên Trung Hoa). Sau đó được thăng chức Thương thư bộ Lại tước hiệu Trình quốc Công. Từ đó người đời gọi ông là Trạng Trình.

Nhờ học tính theo Thái ất, tiên đoán được biến cố trước và sau 500 năm. Người Trung Hoa khen Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm " An Nam lý học hữu Trình Tuyền"


Ông
về ở ẩn có nhiều thi giờ nghiên cứu về lý số với thiên tài "thần thông" có khả năng siêu quần, quán chúng về thấu thị, về thần giao cách cảm..


Th
ơ văn của ông còn lại hơn 100 bài trong bộ Bạch Vân Thi Tập, được dịch ra chữ quốc ngữ , thơ mang nặng tình người ông cùng người làng lập ra"trung tâm quán" cứu giúp người nghèo, khuyên người giàu biết điều nhân nghĩa


T
rạng Trình có 3 người vợ và 12 người con (7 trai 5 gái) các con trai đều có chức tước sau nầỵ Cụ mất năm 1585 hưởng thọ 94 tuổị


Theo tục truyền rằng Năm Bính ngọ (1546) Mạc Phúc Hải mất truyền ngôi lại cho con Mạc Phúc Nguyên mãi đến năm mậu thân (1548) vua Trang Tông mất, Trịnh Kiểm lập Thái tử tên Duy Huyên lên ngôi tức Trung Tông được 8 năm thì mất không có con nối nghiệp. Trinh Kiểm muốn làm vua nhưng còn sợ dư luận, nên sai người đến Hải Dương để hỏi ý khiến Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Cụ không nói gì chỉ bảo người giúp việc ngụ ý "năm nay mất mùa, thóc giống không tốt, chúng mày nên tìm giống cũ mà gieo mạ, gữi chùa thờ Phật thì ăn oản.. " Sau đó Trịnh Kiểm tìm con cháu họ Lê, lên làm vuạ


Vào giai đoạn nầy hoàn cảnh đổi thay tranh chấp, Nguyễn Hoàng sợ Trịnh Kiểm ám hại nên cho người đến Hải Dương hỏi Trạng Trình được cho biết "Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân" có nghĩa là từ núi đèo ngang ở Quảng Bình kia có thể yên thân được muôn đời .



Năm 1558 Nguyễn Hoàng vào trấn giữ đất Thuận Hóa mở đầu cho Triều đình nhà Nguyễn từ từ khai phá cho đến vùng đồng bằng sông Cửu Long ngày naỵ Ngoài ra rất nhiều lời sấm được lưu truyền qua dân gian nhiều lời bàn diễn giải khác nhau câu "Cẩu vĩ trư đầu, xuất thánh nhân" ứng nghiệm vào việc vua Gia Long thống nhất sơn hà vào năm Nhâm tuất ngày 02-05-1802.


N
ăm 1930 Việt Nam Quốc Dân Ðảng Nguyễn Thái Học lãnh đạo chống Tây thất bại bị Pháp ném bom tàn phá làng Bảo an có lời đồn trước Trạng Trình đã tiên đoán :


Kìa kìa gió thổi lá rung cây


Rung Bắc rung Nam rung tới Tây

Tan tác kiến kiều an đất nước

Xác xơ cổ thụ sạch am cây

Lâm giang nổi gió mù thao cát

ng địa tràn dâng hóa nước đầy

Một ngựa một yên ai sùng bái

Nhắn tin nhà vĩnh bảo cho hay "



hoặc



Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh

Can qua xứ xứ cởi đao binh

Mã đề dương cước anh hùng tận

Thân dậu niên lai kiến thái bình


Theo lời bàn của ông Ðoàn Văn Thông (California)Trạng Trình cùng thời với Nostradamus. Từ năm 2000 là Canh Thân chữ Long là Rồng chữ vĩ là đuôi nghiã là cuối năm Thìn Tị thì chiến tranh có lẽ đây là chiến tranh khủng bố, chiến tranh vùng Trung Ðông giữa Do Thái và Palestin. Iraq và đồng minh Anh Mỹ ?



Trích bài của tác giả

Nguyn Quý Ði
blackrose is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 10-02-2006   #8
khonglaai
Khách
 
Bài gởi: n/a
Anh KARAJAN thân mến!
Tôi đang định mở topic Nostradamus và Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm thì thấy anh đã mở ở đây rồi.
Xin lưu ý với các bạn: có rất nhiều khảo dị của bài sấm này. Và hiển nhiên rất nhiều bản có lồng những tư tưởng chính trị vào. Nhưng nếu tui nhớ không nhầm là chính ông Nguyễn Phúc Giác Hải tìm được trong thư khố quốc gia bản này. Bây giờ, bản này có vẻ được xem là chính gốc nhất. Nghiên cứu nó (cách nghiên cứu của tôi chứ không phải nghiên cứu theo Thái Ất. Vì tôi không biết Thái Ất.), tôi thấy 99% đây là bản chính gốc của cụ Trình Quốc Công (tuy có vẻ có nhiều từ nghi vấn đã bị sửa hay bị chép sai). Tuy nhiên cũng xin nói tiếp: nhiều trang web đã đăng lên bài sấm này có đánh số từng câu và cũng có những trang còn chia thành hai chương.
Vì là bài sấm nên tất cả các chi tiết, dù nhỏ nhặt nhất đều quý. Và đánh số câu và chia chương không phải là chuyện nhỏ. Tôi chưa thật sự hiểu lắm đánh số có ý nghĩa gì (với điều kiện bản gốc có đánh số chứ không phải do ai đó sau này thêm vào), nhưng thấy chia chương thì rất hợp với mạch logic của bài sấm.
Chương 1: từ câu đầu đến câu Càng bền thế nước vạn xuân lâu dài.
Chương 2: từ câu Vừa năm Nhâm Tý xuân đầu đến cuối.
Đấy là nói về bản Quốc Ngữ. Nhưng thời của cụ Nguyễn chưa có chữ quốc ngữ. Vậy cụ viết bằng chữ Hán hay chữ Nôm. Như thế bản gốc như thế nào? Ai đã dịch ra quốc ngữ? Nói chung cũng khá nhiều nghi vấn chứ không phải không.
Tôi xin ví dụ một nghi vấn mà chỉ thay một chữ thôi (các chữ dùng đều đồng âm) thì ý toàn câu khác hẳn. Đó là câu số 275:
Vững nền vương cha truyền con nối
Nếu thay chữ vững bằng các chữ vấn và vắng thì ta có thêm hai câu nữa. Luận nghĩa cả ba câu:
Vững nền vương cha truyền con nối:
Nói chung cho thấy quay lại chế độ Phong kiến. Liệu có đúng cho thời đại này. Trong khi dân ta chắc chán vua chán chúa lắm rồi. Nếu đúng thì liệu có phải Quân chủ lập hiến.
Vấn nền vương cha truyền con nối:
Câu này đặt nghi vấn về chế độ phong kiến. Có thể đặt vấn đề cho toàn quốc dân có trở lại vương quốc hay vẫn giữ nền cộng hòa.
Vắng nền vương cha truyền con nối:
Câu này cho thấy, hết rồi chế độ phong kiến.

Xin minh định lại cho quý vị rõ: tôi chỉ đặt ra giả thiết mà thôi. Và có khẳng định câu nào đúng với bản gốc của cụ Nguyễn là vô nghĩa. Vì chỉ cần người biết bản gốc này trình ra nguyên bản tiếng Hán hay NÔm thì rõ ngay. Tôi chỉ ví dụ vậy cho các bạn thấy sẽ có rất nhiều ý đồ khác nhau trong một câu khi chỉ cần đổi một chữ. Và xin nói là tôi đã đọc hết các bản có ba câu trên. Dĩ nhiên, tôi có ý kiến của tôi về câu này. Nhưng xin không đề cập ở đây.

Thân.
khonglaai
  Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 10-02-2006   #9
KARAJAN
Hội viên
 
Tham gia ngày: May 2005
Bài gởi: 334
Thanks: 0
Thanked 8 Times in 7 Posts
Anh Khonglaai thân mến
Không ngờ anh và tôi lại có cùng ý tưởng như vậy... anh có thể post thử 1 số Sấm của Nostradamus lên đây để anh em cùng so sánh và khám phá nó với sấm của Trạng Trình không?

Về bài sấm ký này, khi nào có thời gian tôi sẽ phân tích một số đoạn của nó bằng Thái Ất, hi vọng là cũng mua vui được vài trống canh.

Thân
KARAJAN
__________________
"Für mich fängt das Paradies an, wenn ich in den Saal komme "
KARAJAN is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 10-02-2006   #10
blackrose
Hội viên
 
Tham gia ngày: Sep 2005
Bài gởi: 65
Thanks: 0
Thanked 0 Times in 0 Posts
Post chơi thui, Dala thích Delete thi xoá thui, dù sao cũng là kiến thức của muôn nhà. Ai quan tâm đọc cho đỡ buồn.




TIÊN TRI VỀ NHÀ TÂY SƠN DẤY NGHIỆP .

Hai câu:

Chấn cung xuất nhất
Ðoài cung vẫn tinh


Nghĩa là:

Mặt trời xuất hiện ở phương Ðông
Sao sa ở phương Tây


Theo bát quái, có tám cung là: Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Ðoài . Chấn thuộc về phương Ðông . Theo kinh Dịch, cung Chấn thuộc về người trên . Ý muốn nói người anh cả của họ Nguyễn Tây Sơn là Nguyễn Nhạc sẽ dấy nghiệp. Sao sa ở phương tây: ý nói nhà Tây Sơn xuất hiện .

Hai câu:

Hà thời biện lại vi vương
Thử thời Bắc tận Nam trường xuất bôn


Nghĩa là:

Làm thế nào thời ấy tên biên lại làm vua,
Lúc ấy Bắc phải hết, Nam cũng chạy .


Hai câu trên đây ám chỉ Nguyễn Nhạc, tên biện lại ở huyện Vân Ðồn, tỉnh Qui Nhơn khởi nghĩa dấy binh tự xưng là Tây Sơn Vương . Nhà Tây Sơn nổi lên diệt chúa Trịnh ở phương Bắc, đuổi chúa Nguyễn ở phương Nam lập nên Ðế Nghiệp .

Sáu câu:

Bao giờ trúc mọc qua sông,
Mặt trời sẽ lại đỏ hồng non Tây .
Ðoài cung một sớm đổi thay,
Chấn cung sao cũng sa ngay chẳng còn .
Ðầu cha lộn xuống chân con,
Mười bốn năm tròn hết số thì thôi .


Những câu này ứng nghiệm việc Tôn Sĩ Nghị đem quân Thanh sang cướp nước Nam . Khi đến Thăng Long Thành, Sĩ Nghị cho quân bắc một chiếc cầu nổi bằng tre ngang sông Hồng Hà . Sau khi dẹp được giặc Thành một cách oai hùng ở trận Ðống Ða, Nguyễn Huệ xưng là Quang Trung Hoàng Ðế (hai câu 1-2) .

(Nhờ tài ngoại giao của Ngô Thời Nhiệm, Quang Trung được vua Nhà Thanh là Càn Long phong chức An Nam Quốc Vương, một vương hiệu chính thức được Trung hoa thừa nhận) .

Sau hai năm lên ngôi vua, Hoàng Ðế Quang Trung mất (Ðoài cung) ở câu 3 có nghĩa là phưong tây . Theo kinh Dịch, cung Ðoài là phần đuôi, ý nói người em của nhà Tây Sơn là Nguyễn Huệ mất) . Sau khi vua Quang Trung mất, năm sau Nguyễn Nhạc vì tức vua Cảnh Thịnh, tức Nguyễn Quang Toản (con vua Quang Trung) chiếm thành Qui Nhơn và biên tịch tài sản nên thổ huyết mà chết. (Chấn cung ở câu 4 ám chỉ Nguyễn Nhạc. Theo kinh Dịch cung Chấn là người trên, người anh của Tây Sơn) câu 5 ám chỉ tên của vua Quang Trung và vua Cảnh Thịnh. Theo phép chiết tự, chữ “Quang” của vua Quang Trung có chữ “Tiểu” ở trên mà chữ “Cảnh” của vua Cảnh Thịnh lại có chữ “Tiểu” ở dưới . Cho nên mới gọi là: Ðầu cha lộn xuống chân con . Câu 6 ám chỉ nhà Nguyễn Tây Sơn chỉ làm vua được 14 năm là dứt .



TIÊN TRI VỀ VIỆC PHONG HẦU CHO DÂN LÀNG VĨNH LẠI .

Hai câu:

Bao giờ ngựa đá qua sông,
Thì dân Vĩnh Lại quận công cả làng .


Nghĩa là:

Khi nào ngựa đá qua sông được, dân ở làng Vĩnh Lại đều đưọc phong Hầu .

Nguyên làng Vĩnh Lại là nơi quê nhà của Trạng Trình. Dân chúng ở Vĩnh Lại, thấy thiên hạ đồn đại ông là người tiên tri biết trước được mọi việc sẽ xẩy ra, liền yêu cầu ông đoán cho biết tương lai của dân chúng ở Vĩnh Lại. Trạng Trình chỉ nói xa nói gần mà không chịu nói rõ, viện cớ là: “Thiên cơ bất khả lậu” . Nhiều người không hài lòng cho rằng ông có thâm ý . Thấy vậy, ông liền cho đắp một con ngựa đá đặt ở bên bờ sông làng Vĩnh Lại . Lâu ngày đất cát bồi thành, giống in như con ngựa đá sang sông thật. Trạng Trình lại cho khắc vào mình ngựa hai câu sấm trên . Dân chúng ở Vĩnh Lại đọc được hai câu sấm truyền và thấy ngựa đá sang bờ sông Vĩnh Lại rất vui mừng, cho rằng hồng phúc đã đến cho dân làng . Và ngày ngày mong đợi sự ứng nghiệm .

Về sau, khi vua Lê Chiêu Thống lánh nạn Tây Sơn, trốn qua làng Vĩnh Lại, dân chúng đều một lòng ủng hộ nhà vua chống lại Tây Sơn. Vua Lê sẵn ấn tín đem theo mình, liền phong tước Hầu cho người cầm đầu nhóm dân làng . Tin ấy truyền ra, dân chúng tranh nhau xin nhà vua phong tước Hầu cho mình . Sợ dân chúng sinh lòng phản trắc có hại cho mình, nhà vua liền phong tước hầu cho tất cả dân làng . Vua Lê Chiêu Thống trú ngụ tại làng Vĩnh Lại một thời gian, nhận thấy không thể nhờ dân làng mà khôi phục nghiệp cả được, liền bỏ trốn sang Tầu với các thuộc hạ để cầu viện binh với vua nhà Thanh . Tướng Tây Sơn là Vũ Văn Nhậm nghe tin vua Lê trốn tại làng Vĩnh Lại đến bắt, nhưng chậm mất . Biết được dân làng Vĩnh Lại chống Tây Sơn nên được tước Hầu, liền hạ lịnh cho binh sĩ giết hại dân làng rất nhiều . Dân làng Vĩnh Lại vì khát vọng công danh nên thiệt mạng oan uổng.

Tài tình của Sấm Trạng Trình

Sấm Trạng Trình được ghi lại 487 câu dự báo. Nhiều câu trong số đó được nghiệm ứng với các sự kiện diễn ra sau này.

Một số thí dụ:
"Khi nào Yên Xá bổ đôi.
Sông Hàn nối lại thì tôi lại về."

Năm 1991, làng Yên Xá tách đôi. Nhân dịp khánh thành cây cầu lớn bắc qua sông Hàn, bác Phạm Văn Đồng cùng một số lãnh đạo về dự. Nhân dịp đó, bác ghé ngôi nhà xưa của Trạng Trình nhân 500 năm ngày sinh. Lúc đó người ta mới ngớ ra và nhớ lại câu đồng dao trước kia, hóa ra Trạng Trình đã biết trước việc bác Phạm Văn Đồng đến thăm 500 năm sau và việc chia làng, bắc cầu.

Nguyễn Bỉnh Khiêm để lại những tác phẩm có giá trị như: Bạch Vân thi tập và Trình quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm thi tập. Đọc thơ ông là thấy cả một tấm lòng lo cho nước, thương dân: "Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc" (Lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ).

Chúa Nguyễn Hoàng hỏi Trạng, được phán "Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân". Nguyễn Hoàng xin vào trấn thủ Thuận Hóa phía nam dãy Hoành Sơn, mở ra nhà Nguyễn truyền nối lâu dài...

Họ Mạc khi thất thế được Trạng nói "Cao Bằng tuy thiểu, khả diên sổ thế" (Đất Cao Bằng tuy nhỏ, nhưng dung thân được vài đời). Quả nhiên, con cháu nhà Mạc chạy lên đó làm vua được gần 70 năm mới bị đánh bại.

"Cửu cửu càn khôn dĩ định.
Thanh minh thời tiết hoa tàn.
Trực đáo dương đầu mã vĩ.
Hồ binh bát vạn nhập Tràng An".

Càn khôn dĩ định - là số trời đã định, 9 lần 9 là 81 năm vào tiết thanh minh, đầu năm Dê (1955) cuối năm Ngựa (1954) tám vạn lính Cụ Hồ vào Tràng An (Hà Nội) giải phóng thủ đô, kết thúc nền đô hộ của Pháp kéo dài 81 năm. Đó là 10.10.1954.

Viện nghiên cứu Hán - Nôm còn lưu trữ bốn bản "sấm ký" và các giai thoại về ông đều xuất phát chủ yếu từ các "câu sấm" này. Năm 1556, vua Lê Trung Tông mất, không có con nối dõi. Thái sư Trịnh Kiểm muốn tự lập làm vua, nhưng còn ngại, bèn hỏi ý Trạng Trình. Đang bàn với người nhà về việc ruộng nương, ông nói bóng gió: "Năm nay mất mùa, giống lúa không được tốt, lấy lại giống cũ mà trồng’’. Rồi ông dẫn đi thăm chùa, gặp chú tiểu đang quét chùa, ông khen: "Giữ chùa thờ Phật thì ăn xôi ăn oản". Trịnh Kiểm hiểu ý, bỏ ý định soán ngôi, tìm cháu 5 đời của Lê Trừ (là anh ruột của vua Lê Lợi), lập lên làm vua, tức vua Lê Anh Tông.

Trạng Trình còn có một câu sấm rất đáng suy nghĩ:
"Hồng Lam ngũ bách niên thiên hạ.
Hưng tộ diêm trường ức vạn xuân."

Có nghĩa là: Đất Hồng Lam sau ta 500 năm sẽ là thời kỳ hưng thịnh ức vạn năm. Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm 1491, 500 năm sau là 1991, nước ta bước vào thời kỳ mới phát triển mới.

Trước khi mất, Nguyễn Bỉnh Khiêm để lại một phong thư, đặt trong một ống quyển gắn kín, dặn con cháu sau này nếu làm ăn sa sút, mang thư ấy đến gặp quan sở tại sẽ được cứu giúp.

Đến đời thứ bảy, người cháu là Thời Đương nghèo khốn, nhớ lời truyền đem phong thư đến gặp quan sở tại. Quan đang nằm võng đọc sách, lật đật chạy ra đón thư. Vừa ra khỏi nhà, cái xà rơi xuống đúng chỗ võng. Mở thư ra xem:
"Ngã cứu nhĩ thượng lương chi ách.
Nhĩ cứu ngã thất thế chi tôn"

(Ta cứu ngươi thoát khỏi ách xà rơi.
Ngươi nên cứu cháu bảy đời của ta).
Quan kinh ngạc, bèn giúp đỡ cháu bảy đời của Trạng tử tế.

Đến đời vua Minh Mệnh (1820-1840) trong dân gian lưu truyền một câu sấm:
"Gia Long nhị đại, Vĩnh Lại vi vương" (đời thứ hai Gia Long, người Vĩnh Lại làm vua). Vua căm giận sai Tổng đốc Hải Dương là Nguyễn Công Trứ đến phá đền thờ Trạng Trình. Khi quân lính tháo cây thượng lương, một cái hộp nhỏ giấu sẵn trong cây gỗ rơi xuống. Trong cái hộp có mảnh giấy ghi câu thơ của Trạng, cứ như đã biết trước mọi việc:
"Minh Mệnh thập tứ.
Thằng Trứ phá đền.
Phá đền thì lại làm đền.
Nào ai cướp nước tranh quyền gì ai".

Nguyễn Công Trứ vội ra lệnh dừng ngay việc phá đền, khẩn cấp tâu về triều đình, xin làm lại đền thờ Trạng Trình.

Sưu tầm.
blackrose is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Trả lời


Ðang đọc: 1 (0 thành viên và 1 khách)
 
Ðiều Chỉnh
Xếp Bài

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn
Bạn không được quyền gởi bài
Bạn không được quyền gởi trả lời
Bạn không được quyền gởi kèm file
Bạn không được quyền sửa bài

vB code đang Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Mở
Chuyển đến