Hỏi/Ðáp Lịch Tìm Kiếm Bài Trong Ngày Ðánh Dấu Ðã Ðọc
Welcome
Trang Ðầu
Ghi Danh
Hỏi/Ðáp
Login Form
Nhà tài trợ
Công cụ
Thống kê
  • Ðề tài: 15,061
  • Bài gởi: 153,500
  • Thành viên: 4,743
  • Số người đang xem: 115
  • Xin cùng nhau chào đón Longidea là thành viên mới nhất.
Liên kết website
Go Back   chân thuyên > ĐẤT NƯỚC - CON NGƯỜI > LỊCH SỬ

Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
Old 26-08-2009   #1
Vietlyso.com
 
Tham gia ngày: Nov 2005
Bài gởi: 294
Thanks: 0
Thanked 85 Times in 19 Posts
Rồng Việt Nam qua các thời đại




Sau loạt bài về Lăng Ba Vành, nhà nghiên cứu Trần Viết Điền lại tiếp tục gửi tới đọc giả của diễn đàn Việt Lý Số loạt bài về mô tip Rồng Việt nam qua những giai đoạn lịch sử. Ban Điều Hành sẽ tuần tự đăng tải đầy đủ loạt bài của nhà nghiên cứu Trần Viết Điền để bạn đọc tham khảo và chân thành cảm ơn tác giả đã dầy công nghiên cứu để có những cống hiến thiết thực đối với diễn đàn!
__________________
Đại diện của diễn đàn Việt Lý Số.
Vietlyso.com is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 26-08-2009   #2
Vietlyso.com
 
Tham gia ngày: Nov 2005
Bài gởi: 294
Thanks: 0
Thanked 85 Times in 19 Posts
ĐẶC TRƯNG MÔTIP RỒNG THỜI TÂY SƠN VÀ VIỆC GIÁM ĐỊNH MÔTIP RỒNG Ở LĂNG BA VÀNH
Lịch sử mỹ thuật cung cấp thông tin về rồng thời Tây Sơn chưa dồi dào. Chẳng qua thời Tây Sơn quá ngắn, bị triều Nguyễn Gia Long coi là ngụy triều nên các công trình kiến trúc, các tác phẩm điêu khắc trên gỗ, đá, sành sứ… thuộc về cung đình triều Tây Sơn phần lớn bị tiêu hủy, không còn lưu giữ đáng kể để nghiên cứu mỹ thuật thời Tây sơn một cách toàn diện, đầy đủ, trong đó có môtip rồng, giao… Tuy nhiên, nhờ một số chuông đồng, bia đá thời Tây Sơn còn lưu giữ trong dân gian, được các nhà nghiên cứu phát hiện, các cơ quan hữu trách lưu giữ bản dập để nghiên cứu. Gần đây tiến sĩ Đinh Khắc Thuân tổng hợp, nghiên cứu và giới thiệu chuông đồng bia đá thời Tây Sơn, chúng ta mới có tư liệu để tham khảo. Chắc chắn mỹ thuật thời Tây Sơn có kế thừa mỹ thuật thời Hậu Lê, mỹ thuật thời Nguyễn Đàng Trong nhưng vẫn có nét riêng biệt. Phan Huy Ích, trọng thần của Tây Sơn, khi nguyên chú bài thơ Đăng văn miếu ký kiến từng cho biết triều Tây Sơn có đúc chuông đỉnh theo kiểu thức mới. Có tác giả nhờ đồng tiền Cảnh Thịnh, một mặt khắc chạm môtip “ngư long hý thủy”, cũng rút vài nét về rồng Tây Sơn nhưng chưa làm rõ đặc trưng. Thế thì nghiên cứu để tìm thêm những đặc trưng của môtip rồng, giao long, hồi văn, mẫu viền… thời Tây Sơn nhờ chuông đồng, bia đá là việc nên làm. Phần lớn chuông đồng, bia đá đều có ghi niên đại nên khá thuận lợi trong nghiên cứu. Ngoài ra còn một nguồn tư liệu không thể bỏ qua, dẫu ít nhưng thuộc về cung đình Tây Sơn, có ghi niên đại và có tạo tác rồng, giao long… như sắc phong, ấn triện, uynh thành lăng mộ, bệ đá, đá táng cắm cờ, xà gỗ…, sẽ giúp chúng ta nghiên cứu để bổ sung đặc trưng của môtip rồng, hồi văn hóa long… thời Tây Sơn vậy. Sau khi có thêm những đặc trưng của môtip rồng thời Tây Sơn chúng tôi thử giám định những môtip trang trí ở lăng Ba Vành.
Bài nghiên cứu của chúng tôi gồm:
Phần A - Tổng quan một số ý kiến của các nhà nghiên cứu về rồng Việt nói chung và môtip rồng thời Tây Sơn nói riêng.
I.Tượng ý hình rồng (Trần Phong Lưu)
II.Đặc trưng rồng thời Lý, thời Trần, thời Lê, thời Nguyễn (Chu Quang Trứ, Lê Thượng Luyến).
III.Về môtip rồng thời Tây Sơn (Đinh Khắc Thuân).
IV.Rồng thời Tây Sơn có đầu: sư tử/lân (web “Du lịch Việt Nam”).
Phần B - Nghiên cứu để tìm thêm đặc trưng của môtip rồng thời Tây Sơn.
I.Cặp giao, cặp rồng ở quai chuông, uynh thành lăng mộ, mặt bia đá, ấn, bệ đá:
1.Cặp rồng ở quai chuông Tây Sơn.
2.Uynh thành mộ ông nội của Tây Sơn tam kiệt.
3.Mộ ông nội của Tây Sơn tam kiệt có cặp rồng ở mặt bia đá.
4.Cặp rồng cách điệu trên ngự dụng chi ấn của vua Quang Trung.
5.Cặp rồng ở bệ đá cắm cờ của đàn Phương Trạch.
II.Con rồng đơn trên các sắc phong thời Tây Sơn.
III.Hồi văn hóa long thời Tây Sơn.
IV.Mặt nả hay lá lật có cặp rồng.
V.Rồng trên gỗ.
VI.Con số 3 thường gặp trong mỹ thuật kiến trúc thời Tây Sơn.
Phần C - Vận dụng kết quả nghiên cứu để giám định môtip rồng, giao long, ở lăng Ba Vành.
I.Mặt nả, hồi văn hóa long và rồng ở lăng Ba Vành thuộc về thời Tây Sơn.
II.“Cửu hồi đường” trong bài “Khâm vãng Đan Dương lăng” của Ngô Thì Nhậm có nghĩa gì?
A.Tổng quan một số ý kiến của các nhà nghiên cứu về môtip rồng Việt nói chung và môtip rồng thời Tây Sơn nói riêng
Để tiện nghiên cứu bổ sung nét riêng của môtip rồng Tây Sơn trước hết xin tổng quan một số tư liệu về rồng, giao long mà các nhà nghiên cứu từng công bố trước đây.
I.“Vị thế” rồng thời phong kiến
“Vị thế” rồng thời phong kiến được nhà nghiên cứu Trần Phong Lưu đúc kết trong bài “Tượng ý hình rồng”, đăng trên báo Độc Lập số 2/1988:
Xưa kia, Rồng còn là biểu tượng của nhà vua; quan quân, dân chúng không thể nói thẳng đến con người nhà vua mà gọi là mình Rồng, mặt Rồng, Long thể, Long nhan, và nơi vua trú ngụ là điện Rồng, giường vua nằm là Long sàng, xe vua đi là Long xa. Vua sẽ ngự đến thềm Rồng, bệ Rồng, ngồi trên ngai Rồng để bàn định việc trị quốc an dân với bá quan đang chầu hầu nơi sân Rồng, văn quan võ tướng đứng hai bên trước hai hàng cột chạm nổi hình Rồng uốn khúc quấn quanh cột, sơn son thiếp vàng cực kỳ tráng lệ. Nói chung, tượng ý hình Rồng thuở đó còn thuộc độc quyền sử dụng của nhà vua trong việc trang trí các cung điện hay chạm khắc trên các vật dụng. Các nhà dân giả, cho đến dinh thự các thượng quan, ngay cả các vương phủ hoàng thân quốc thích và cả các chùa đền miếu mạo mà không do vua sáng lập hay được chọn làm nơi vua chúa lui về ẩn tu đều không dám chạm vẽ hình Rồng.
II.Đặc trưng của rồng qua các thời
Đặc trưng của rồng qua các thời được nhà nghiên cứu Nguyễn Thượng Luyến dẫn từ sách Mỹ thuật Lý Trần-Mỹ thuật Phật giáo của tác giả Chu Quang Trứ:
Rồng thời Lý: “Mào, mũi và bờm là những thành phần cơ thể được cấu tạo rất sinh động, bằng những nét độc đáo và được mang theo một ý thức nhất định: Mào thoát ra từ môi đến đường sống quyện với răng nanh, xoắn xuýt, rung rinh bốc lên như ngọn lửa; bờm ở sau gáy cuồn cuộn bốc lên nhiều đợt từ cổ họng, cùng với túm râu ở hàm dưới đều uốn lượn nhịp nhàng như làn sóng và bay lướt tựa lá cờ đuôi nheo được gió, mũi cấu tạo bằng những đường cong xếp chồng nhau phập phồng gây ra ấn tượng về nguồn nước...”.
Rồng thời Trần: “Thành phần cấu tạo của đầu rồng không chặt chẽ như trước: Văn dạng xoắn ốc đôi không thể vắng ở bất cứ con rồng nào thời Lý, thì nay mất dần, bờm và râu kém nhịp nhàng, mào không linh lợi, dần mọc thêm cái tai và cặp sừng cùng kiểu với cái mũi biến dạng đều thuộc về loại thú bốn chân”.
Rồng thời LêĐầu to, bờm tóc thô dày, mũi lớn, nhiều sợi ria, tai thú, sừng vặn xoắn ốc rồi chẻ chạc, chân gân guốc xòe rộng các ngón”. Rồng đời Cảnh Hưng (1740-1786) “Thể hiện yếu ớt, mảnh khảnh, đi vào công thức cân đối khô khan kết hợp với chạm nông, nên hình bẹt và cứng, lại bị biến dạng rắc rối. Râu rồng thường bố trí đều đặn, đuôi cong xoắn lại hình xoáy ốc”.
Rồng nhà Nguyễn “Gượng gạo, ngơ ngác, chắp vá, vụn vặt, cố làm ra vẻ nghiêm chỉnh mà không đường hoàng được, bộ mặt trở thành gớm ghiếc, đe dọa... thường xuất hiện với phượng, lân, rùa để hợp thành bộ “Tứ linh”.
(còn tiếp)
__________________
Đại diện của diễn đàn Việt Lý Số.
Vietlyso.com is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 26-08-2009   #3
haiconchim
Hội viên
 
haiconchim's Avatar
 
Tham gia ngày: Mar 2008
Bài gởi: 756
Thanks: 30
Thanked 206 Times in 170 Posts
Nếu bài này không hợp lý về vị trí, xin admin cứ chuyển ra vị trí khác.

Để nghiên cứu về con Rồng - một con vật mà chưa ai được nhìn thấy - thì phải bắt đầu từ những thông tin từ xa nhất mà ta có thể có được. Rồng thời Lý , Trần, Lê...vẫn là con rồng gần đây thôi. Rất ít người biết trong bảo tàng của chúng ta đang có hình ảnh một con rồng rất là xa xưa.

Một dân tộc sẽ lấy một con vật làm linh vật cho đất nước mình khi con vật đó có sức mạnh, có ảnh hưởng nhiều tới đời sống của họ. Đó chính là tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, thể hiện tư duy của người vùng đó về phương thức sản xuất. Giống như người dân ở vùng biển thì lấy con cái voi làm con vật linh thiêng, người dân ở vùng thảo nguyên thì lấy con chim đại bàng, con hổ...
Có thể nói hình dưới đây là hình cổ xưa nhất về hình ảnh một con "Rồng" thật sự của dân tộc chúng ta. Nó đơn sơ, giản dị và rất gần với cuộc sống đời thường hàng ngày của con người.

(Trống đồng Hòa Bình)

Người Việt chúng ta là người vùng sông nước, do vậy đương nhiên họ sẽ lấy những con vật mà họ nhìn thấy, con vật đó phải có sự ảnh hưởng, sức mạnh. Trong hình trên, trong là con Rồng, ngoài là con chim Lạc (Nên nhớ chỉ duy nhất linh vật của dân tộc ta là có 1 đôi). Các bạn có thể thấy con rồng đó rất giống một con vật mãnh mẽ dưới nước - con cá sấu . Đây mới chính là con vật thủy tổ của Rồng mà cha ông ta đã khắc họa lên trống đồng từ mấy ngàn năm trước. Khi bọn Tàu đô hộ Việt nam mới vẽ thêm chân cho con rồng của chúng ta và nó biến thành hình dạng như bây giờ, làm cho mọi người không ai biết con rồng là con gì nữa, làm cho người dân nước ta quên mất chúng ta đã có một rồng trong quá khứ và nó vẫn còn nằm im trong bảo tàng
__________________
"Chớ lo lắng cho ngày mai, vì ngày mai sẽ tự lo lắng cho ngày mai"
haiconchim is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 01-09-2009   #4
Vietlyso.com
 
Tham gia ngày: Nov 2005
Bài gởi: 294
Thanks: 0
Thanked 85 Times in 19 Posts
Xin được dẫn những hình ảnh về rồng mà các báo điện tử đã đăng tải để có cơ sở nghiên cứu:





Hình 1: Chiếc đầu rồng này được nhân dân xã Gia Viễn, huyện Gia Phương, tỉnh Ninh Bình tìm thấy tại quê hương của vua Đinh Tiên Hoàng.(Báo Thể thao Văn hóa)



Hình 2: Hình vẽ môtip rồng thời Lý



Hình 3: Đầu rồng bằng đất nung thời Lý



Hình 4: Rồng thời Lý trên mẩu đồ sứ



Hình 5: Hình vẽ rồng thời Trần



Hình 6: Đầu rồng đất nung thời Trần



Hình7: Đầu rồng đất nung thời Trần



Hình 8: Hình vẽ rồng thời Lê



Hình 9: Rồng đá điện Kính Thiên thời Lê



Hình 10: Hình vẽ rồng thời Mạc



Hình 11: Rồng thời Mạc trên bình gốm Chu Đậu



Hình 12: Hình vẽ rồng thời Nguyễn



Hình 13: Rồng đá thời Nguyễn
__________________
Đại diện của diễn đàn Việt Lý Số.
Vietlyso.com is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 01-09-2009   #5
Vietlyso.com
 
Tham gia ngày: Nov 2005
Bài gởi: 294
Thanks: 0
Thanked 85 Times in 19 Posts
III .Đặc trưng môtip rồng thời Tây Sơn trên bia đá:

Tiến sĩ Đinh Khắc Thuân từng nghiên cứu hằng trăm bản dập các mặt bia dân gian, tạo tác thời Tây Sơn, ông đúc kết: “Trước hết nói về hình rồng. Rồng trên bia Tây Sơn được thể hiện với hai dạng chính: cách điệu và tả thực. Trong đó cách điệu là phổ biến, gồm cách điệu lá và cách điệu mây. Hình rồng cách điệu này đã xuất hiện ở giai đoạn cuối Lê; và tồn tại ở một số loại bia thời Nguyễn. Tuy nhiên trên bia Tây Sơn, hình rồng cách điệu thường giản đơn, không rối rắm. Các chi tiết phụ của rồng như mào, chân, đuôi được cách điệu bởi những ngọn lá hoặc những áng mây. Đuôi rồng thường là một tàu lá chẻ đôi uốn cong về hai phía. Rồng tả thực mang dáng dấp rồng yên ngựa thân dài uốn nhiều khúc tựa hình rồng trang trí trên bia và đồ gốm Mạc


Hình 14: Một bản dập bia thời Tây Sơn


IV .Rồng Tây Sơn có đầu sư tử/lân:

Web “Du lịch Việt Nam” có giới thiệu về rồng:
Rồng - Ðầu sư tử/ Lân:
Con rồng đời Lê tuy vẫn kế thừa hình tướng của rồng thời Lý - Trần, nhưng cũng đã du nhập ngoại dạng của rồng phương Bắc: dữ, uy nghi. Thời Tây Sơn phục hồi hình dạng của rồng đời Trần và Lê Sơ: thân rồng đẹp, mềm mại và cái đầu dũng mãnh. Ðầu rồng này giống như hình rồng trên đồng tiền Cảnh Thịnh (1792-1802): đầu sư tử/ lân.”


Hình15:Hình vẽ rồng trên tiền Cảnh Thịnh






Hình 16: Rồng thời Tây Sơn trên đồng tiền Cảnh Thịnh



Qua các ý kiến nêu trên, có thể nêu một số đặc trưng về môtip rồng Tây Sơn:
·Rồng thời Tây Sơn nghiêng về cách điệu hơn là tả thực, cách điệu lá và cách điệu mây.
·Rồng thời Tây Sơn kế thừa và phát triển rồng thời Trần và Lê sơ.
·Thân rồng tả thực mềm mại, uốn lượn nhưng có đầu dũng mãnh của đầu sư tử/lân.
·Rồng cách điệu có mào, sừng, chân, đuôi được cách điệu bằng những ngọn lá hay áng mây. Đặc biệt đuôi rồng là tàu lá chẻ đôi uốn cong về hai phía.
Tư liệu thuộc cung đình Tây sơn quá hiếm nên các ý kiến nói trên về môtip rồng Tây Sơn cũng chưa nhiều, bởi vậy việc tìm kiếm thêm tư liệu để nghiên cứu bổ sung những nét riêng cho môtip rồng của Tây Sơn là việc cần làm.
(còn tiếp)
__________________
Đại diện của diễn đàn Việt Lý Số.
Vietlyso.com is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 04-09-2009   #6
Vietlyso.com
 
Tham gia ngày: Nov 2005
Bài gởi: 294
Thanks: 0
Thanked 85 Times in 19 Posts
B.Thử tìm thêm một số đặc trưng của môtip rồng thời Tây Sơn:

Ngoài chuông đồng, mặt bia chúng tôi nghiên cứu thêm sắc phong, ấn triện, uynh thành lăng mộ, mặt nả, bệ đá… để tìm thêm nét riêng của môtip rồng thời Tây Sơn và những môtip có liên quan.
I.Cặp giao, cặp rồng ở quai chuông, mặt bia đá, uynh mộ,ấn triện, bệ đá:

1.Cặp rồng làm quai chuông:

Theo Tiến sĩ Đinh Khắc Thuân thì các chuông đồng thời Tây Sơn có một đặc điểm là quai chuông không chỉ là con rồng đơn uốn thành mà là một cặp rồng có đuôi đính vào nhau... Tất nhiên quai chuông kiểu này cũng xuất hiện vào thời cuối Lê đầu Nguyễn, ví dụ ở tổ đình Thuyền Tôn (Huế) có chuông cổ đúc năm Cảnh Hưng thứ 8 (hình 22) với quai chuông là cặp rồng. Dẫu cặp rồng có đủ hai đầu rồng nhưng hai đuôi biến mất, cách điệu bằng hình cái núm, vì thế trông quai chuông như một con rồng có hai đầu. Môtip này khác môtip cặp rồng ở quai chuông Tây Sơn. Thật vậy cặp rồng ở quai chuông Tây Sơn với hai đuôi rõ ràng, đính vào nhau. Quan sát quai chuông của 8 chuông đồng thời Tây Sơn ở 8 bức ảnh chụp: chuông La Chữ đúc năm Quang Trung thứ 4 [1791] (Hình 24), chuông chùa Phổ Minh đúc năm Cảnh Thịnh thứ 6 [1798] (hình 25), chuông chùa Vạn Phúc đúc năm Cảnh Thịnh năm thứ 6 [1798] (Hình 26), chuông Hạ Lang (Thừa Thiên Huế) đúc năm Cảnh Thịnh thứ 7 [1799] (Hình27), chuông Tĩnh Lâu đúc năm Cảnh Thịnh thứ 7 [1799] (Hình 28), chuông Cảnh Dương đúc năm Cảnh Thịnh thứ 9 [1801] (Hình29), chuông Tân Dậu đúc năm Bảo Hưng nguyên niên [1801](Hình30) thì thấy quai chuông với hai con rồng có hai đuôi rõ ràng và đính vào nhau như nói ở trên. Quai chuông những thế kỷ 9, 10 cũng có hai đầu như đầu rắn, tiền thân của giao, rồng về sau (hình 16, hình 17). Phải chăng quai chuông ở hình 17, hình 18 là hai con bồ lao, linh vật thích âm to, một dạng rồng con. Trừ ngoại lệ, nhìn chung quai chuông thời Tây Sơn có xu hướng làm rõ hai con rồng đủ đầu và đuôi, chân có khuỷu vuông. Còn quai chuông thời cuối Lê đầu Nguyễn lại có xu hướng giản lược hai đuôi, như một con rồng hai đầu, khuỷu chân bớt vuông, thậm chí bả chân và cẳng chân hợp nhau góc nhọn.
Trong bài Di sản văn hóa chuông đồng Bắc Giang có đoạn viết về dáng chuông và quai chuông: “Trên đất Bắc Giang những quả chuông cổ đã được phát hiện vào thời Tây Sơn chiếm số nhiều, một số quả chuông tiêu biểu như: chuông chùa Cò xã Mỹ Thái đúc năm Cảnh Thịnh thứ 6-1798, chuông chùa Đoan Minh đúc năm 1793 xã Vân Hà, chuông chùa Trung Đồng đúc năm 1793 xã Vân Trung, huyện Việt Yên… Về tạo dáng, chuông có hình dạng: miệng loe, lòng rỗng, thân cao, vai lát, trên đỉnh có quai treo được tạo bởi một hoặc hai rồng chính và bốn rồng con chụm dính vào nhau. Nếu quai chuông chỉ là một con rồng thì tạo phần đầu và phần đuôi rồng được làm cân đối, có điểm chốt treo trên móc vào giữa lưng rồng, còn quai được làm bởi hai con rồng, hình rồng đấu lưng vào nhau, hai đầu toạ hai bên núm treo ở chính giữa hai thân rồng. Chuông thời Nguyễn phát triển phong phú về loại hình gồm nhiều kích cỡ, thời kỳ này kiểu dáng chuông phát triển theo chiều dài nên nhìn hơi gầy so với thời kỳ trước, chuông thường tạo đứng nên cảm giác hơi cứng, quai chuông thường làm thành hai con rồng ngoắc đuôi vào nhau…”.
Để minh họa, chúng tôi trích dẫn các ảnh chuông đồng tiêu biểu, mà các nhà nghiên cứu đã công bố trên các báo điện tử:


Hình 17: Chuông đúc năm 798 (Bắc thuộc) với quai chuông như rắn hai đầu (viện KC)






Hình 18: Chuông đồng thời Ngô (948) với quai chuông có hai đầu cù (viện KC)




Hình 19: Chuông chùa Bình được đúc vào năm 1295 thời Trần (Ảnh Đinh Khắc Thuân)




Hình 20: Quả chuông được đúc thời Lê ở Linh Vân tự (Vinh –Nghệ An).
(giaodiemonline-Quốc Cường)




Hình 21: Chuông chùa Thiên Mụ đúc thời chùa Nguyễn Phúc Chu




Hình 22: Quai chuông thời Lê (chuông đúc năm Giáp Dần [1734]) (www.baotuyenquang)

Hình 23: Chuông đồng Thuyền Tôn, đúc năm Cảnh Hưng thứ 8.




Hình 24: Chuông đồng La Chữ, đúc năm Quang Trung thứ 4 [1791].




Hình 25: Chuông chùa Phổ Minh (Nam Định) đúc năm Cảnh Thịnh thứ 6(1798) (www.vietnamtourist.com)





Hình 26: Chuông đồng Vạn Phúc đúc năm Cảnh Thịnh thứ 7 [1799]
(Tuổi trẻ online).








Hình 27: Chuông đồng Hạ Lang (Thừa Thiên Huế), đúc năm Cảnh Thịnh thứ 7[1799]. (BTVHDG Huế)




Hình 28: Quả chuông chùaTĩnh Lâu đúc năm Cảnh Thịnh thứ 7 [1799] (Ảnh Lê Bích)









Hình 29: Chuông Cảnh Dương đúc năm Cảnh Thịnh thứ 9 (1801) (Giác ngộ online)




Hình 30: Chuông đồng Tân Dậu đúc năm Bảo Hưng nguyên niên[1801].



Hình 31: Chuông đúc năm Gia Long thứ 14.
(www.thientam.vn)


Hình 32: Chuông đúc năm 1822 tôn trí ở Ngọ Môn Huế (ảnh vnphoto.net)

Tóm lại quai chuông thời Tây Sơn có xu hướng làm rõ hai con rồng với khuỷu chân vuông, tức “bả chân” và “cẳng chân” hợp nhau góc vuông. Còn quai chuông thời cuối Lê đầu Nguyễn trông như con rồng hai đầu, có khuỷu chân không vuông, thậm chí “bả chân”và “cẳng chân” hợp nhau một góc nhọn.
(còn tiếp)
__________________
Đại diện của diễn đàn Việt Lý Số.
Vietlyso.com is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 25-09-2009   #7
Vietlyso.com
 
Tham gia ngày: Nov 2005
Bài gởi: 294
Thanks: 0
Thanked 85 Times in 19 Posts
2.Cặp rồng ở uynh thành lăng mộ

Trên đây là phần nghiên cứu cặp rồng ở quai chuông đồng, thứ đến hãy nghiên cứu cặp rồng, hay cặp giao long làm uynh thành những ngôi mộ cổ của thời cuối Lê đầu Nguyễn và của thời Tây Sơn.
Trong B.A.V.H tập XV, 1928 với bài nghiên cứu “Lăng mộ của người An Nam trong vùng phụ cận Huế” L. Cadiere đã công bố hơn 300 ngôi mộ cổ, phần lớn thuộc về thời cuối Lê đầu Nguyễn. Đặc biệt có hai ngôi mộ cổ, với kiến trúc khác thường, bia bị đục phá, uynh thành trong cùng được đắp thành hai con cù hoặc hai giao long. Cù là dạng rồng con, còn giao long là dạng rồng con hóa rồng hoặc ngược lại (quan điểm của Cadiere). Thời cuối Lê đầu Nguyễn bao gồm thời Tây Sơn, lịch sử mỹ thuật chắc chắn có đột biến. Thật vậy, dẫu thời gian Tây Sơn xưng đế ở Phú Xuân quá ngắn, 1789 đến 1801, nhưng vua Cảnh Thịnh và một số đại thần có phụ mẫu qua đời ở Phú Xuân, ắt có xây dựng hoặc tôn tạo mộ phần cho thân nhân ở phụ cận thành Phú Xuân. Và dĩ nhiên khi triều Gia Long xếp Tây Sơn vào loại “ngụy triều” thì các đại quan của “ngụy triều” cũng bị ghép vào trọng tội. Thế thì thân nhân quá cố của họ phải chịu những hình thức trị tội như mộ bị quật, bia bị đục,… Mộ phần thân nhân của vua con triều Tây Sơn trở nên hoang phế vì con cháu hoặc bị giết, hoặc bị lưu đày hoặc đi trốn….
Sau đây là phần công bố của Cadiere về hai ngôi mộ độc đáo, bia bị đục:
101 Làng Phú Xuân, thôn Trường Giang – Đồ bản B.
Phụ bản XV – XVI: A- Mộ liếp hình chữ nhật, có hai cấp; B-Bia với ghế bia (Pb. XVII) không may văn khắc bị đục xóa hoàn toàn; F-Uynh thành nội, dạng kiều ngựa, hình thuẫn, 11m10 đi sâu vào trong; chiều rộng 9m10 với bình phong hậu; H- Bình phong bên phải; G- Bình phong bên trái; I- Trước ba bình phong, là ba ghế để đồ cúng; mặt trong của tường được trang trí, trên toàn nửa sau những hình vẽ đắp nổi mà chúng tôi sẽ miêu tả chi tiết sau này; những cột trụ ở cửa vào uynh thành nội được cấu tạo hai con cù lớn mà chỉ cái đầu cù là được đắp từ đầu C, D (Pb XVIII- XIX); phần còn lại của thân thể được cách điệu hóa với những khúc cuộn; J- Uynh thành ngoại, hình chữ nhật, chiều sâu vào trong được 16m60 và chiều rộng được 13m10. Kiểu uynh thành hình thuẫn – chữ nhật ấy gọi là kiểu phương viên (“ vuông tròn”)…”. Nhờ khảo tả của Cadiere và hình vẽ minh họa mới biết có một cặp cù với hai đầu, còn những phần khác của cù đã cách điệu:


Hình 33: Hình vẽ ngôi mộ số 101 có hai con cù.


Hình 34: Bình đồ ngôi mộ số 101.


Và cũng trong bài viết trên, Cadiere lại khảo tả ngôi mộ thứ 173 cùng với hình vẽ minh họa:
Làng Phú Xuân, thôn Phước Quả. Đồ bản B.
Phụ bản LIV- LV: A-Liếp mộ có 2 tầng; B- Kỷ hương; E- Uynh thành kiều ngựa rộng 5m80, hơi cao hơn ở phía bình phong hậu, với hai cái đầu con giao long, tạo thành cột trụ của cửa ra vào; C, D – Nữ tường có góc vuông, bao quanh sân bái đình.”


Hình35: Hình vẽ phối cảnh ngôi mộ số 173 chỉ một uynh thành là 2 giao long.


Hình 36: Bình đồ ngôi mộ số 173.
Giao long ở đây thuộc loại rồng con hay cù dậy, hai đuôi đã được cách điệu mây. Chân trước mỗi con giao long đã biến thành nữ tường, bẻ góc thước thợ hai lần.
Hai ngôi mộ cổ với uynh thành trong là giao long nói trên thuộc loại hiếm ở Huế. Cả hai ngôi mộ nói trên đều bị đục bia, không biết chủ nhân. Tuy nhiên có thể đoán định hai ngôi mộ trên có chủ nhân là bậc quyền quí, mộ được xây vào khoảng cuối Lê đầu Nguyễn.
Một vấn đề cần thảo luận: Mộ các bậc quyền quí của triều Tây Sơn theo kiểu thức nào? Do lăng mộ triều Tây Sơn bị quật phá, nếu còn thì không nguyên vẹn, vì thế gặp nhiều vấn nạn khi nghiên cứu kiểu thức tạo tác rồng, cù, giao long của lăng mộ Tây Sơn. Phải chăng hai ngôi mộ bia bị đục, do Cadierre công bố nói trên (các hình 33, 34, 35, 36), cùng với bốn ngôi mộ cổ ở Vân Quỉ, Hải Tân, Quảng Trị (hình 37) là những ngôi mộ mà chủ nhân là phụ mẫu của các đại quan triều Tây Sơn ở Phú Xuân?


Hình 37:Một ngôi mộ ở Quảng Trị, chủ nhân sống thời chúa Nguyễn nhưng khả năng con cháu làm quan lớn triều Tây Sơn, xây mộ cho thân nhân vào thời Tây Sơn (NP Bảo Đàn)
Thường các dòng họ rất lo lắng vấn đề mồ mả, với quan niệm “sống nhà thác mồ”. Vì tin thuật phong thủy và vì hiếu sự người ta không bỏ bê mồ mả cha ông. Những ngôi mộ bề thế nêu trên, cùng kiểu thức kiến trúc thuộc vào thời cuối Lê đầu Nguyễn, uynh trong được tạo tác thành cặp giao long, lại bị đục bia, nhất là bị bỏ hoang phế thì có khả năng chúng được xây dựng vào thời Tây Sơn. Thật vậy chỉ có những dòng họ thuộc vào hàng danh gia vọng tộc mới có điều kiện xây mộ cho cha mẹ, ông bà khá bề thế, trang trí cù, giao long, một cách tôn quí hơn cả lăng mộ các chúa Nguyễn. Và phải có người trong họ phạm trọng tội với triều Nguyễn, bị án tru di tam tộc thì lăng mộ tổ tiên của họ mới lâm vào tình trạng như trên. Khi các chúa Nguyễn Đàng Trong vẫn còn dùng niên hiệu vua Lê, các chúa Nguyễn vẫn giữ một nguyên tắc khi xây lăng cho các chúa: không dùng kiểu thức uynh thành trong là một cặp giao long hay một cặp cù. Vậy không thể có một dòng họ các đại quan của thời chúa Nguyễn Đàng Trong, dám xây lăng mộ cho các người thân với uynh trong là cặp giao long hay cặp cù. Chỉ có dòng họ Nguyễn ở ấp Tây Sơn, cùng các đại thần triều Tây Sơn trị vì ở Phú Xuân, mới làm được điều đó. Tất nhiên vì thời Tây sơn quá ngắn, nên số lăng mộ, có uynh trong là cặp cù hay cặp giao long, không thể nhiều. Chỉ khi triều Nguyễn đã suy tàn, dân thường của thế kỷ 20, 21 mới tự do trang trí mộ người thân bằng các dạng môtip cù, giao long, rồng. Còn những ngôi mộ cổ của các vì công hầu của thời chúa Nguyễn và vua Nguyễn không bao giờ xây uynh trong thành cặp giao long. Bậc đại công thần như Nguyễn Văn Thành khi sửa mộ mẹ có dùng môtip nghê liền bị ghép vào tội “sửa mộ mẹ quá phép”!
Với nhận định trên, khi phát hiện mộ cổ thì ít nhiều đã có một số tiêu chí để giám định thời kỳ xây dựng mộ. Một thực tế phổ biến là thường các dòng họ dựng bia trước, về sau có điều kiện người ta mới tôn tạo lăng mộ lớn và bề thế hơn. Niên đại bia chưa đủ khẳng định niên đại xây dựng lăng mộ.
__________________
Đại diện của diễn đàn Việt Lý Số.
Vietlyso.com is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 26-09-2009   #8
Vietlyso.com
 
Tham gia ngày: Nov 2005
Bài gởi: 294
Thanks: 0
Thanked 85 Times in 19 Posts
Năm 2006, ở Bình Định phát hiện ngôi mộ của Hiển Tổ khảo (ông nội) của Tây Sơn tam kiệt. Nhà nghiên cứu Huỳnh Văn Mỹ viết bài giới thiệu trên báo Tuổi Trẻ, có ảnh chụp một phần các uynh thành của ngôi mộ (hình 38). Sau đó nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn có đăng bài Lăng mộ cổ của dòng họ Nguyễn Tây Sơn trên báo Bình Định, ông viết về mộ ông nội của Tây Sơn tam kiệt:
Hiện trạng tấm bia vừa trình bày cho phép chúng ta xác định đây là tấm bia do bàn tay con người đem chôn một cách cố ý. Vậy vấn đề tiếp theo cần phải tìm hiểu là ngôi mộ của bia này ở đâu.
Nhìn sang bên cạnh, cách chỗ chôn bia chừng 15m có một ngôi mộ cổ. Mộ nằm hướng Bắc-Nam, đầu quay về núi, thuộc địa phận xóm Phú Thọ Chính, khuôn viên mộ nằm trên một gò cao khá rộng, chung quanh là ruộng lúa, hình dáng mộ "thượng đầu qui, hạ đầu thành", làm bằng vôi "bồi ghè", thân dài 1,60m. Có thành nội, thành ngoại, giữa hai thành cách nhau 60cm, cách mộ chừng bốn năm mét còn dấu vết một vòng thành thứ ba, trước mộ chừng ba mét có hai trụ biểu cao 1m, hai búp sen trên trụ biểu bị vỡ nham nhở.
Chính giữa chân mộ còn dấu vết chỗ cắm bia đã bị gỡ tự bao giờ chỉ còn lại khoảng trống lõm”.


Hình 38: Anh Mai Văn Châu bên nấm mộ cổ được nhiều người cho là mộ ông nội củaTây Sơn tam kiệt ở đồng Lăng, làng Phú Lạc - Ảnh: H.V.MỸ.
Do tính đăng đối ở kiến trúc lăng mộ nói chung nên có thể nhận thấy trong ảnh ở hình 38, ngôi mộ Tây Sơn có 3 uynh thành, đặc biệt uynh thành trong là một cặp giao long, theo môtip cá sấu mọc sừng hay cù dậy. Và tất nhiên ngôi mộ này cũng chung số phận với các ngôi mộ nêu trên.
Ngày 11-12-2008 ở Thừa thiên Huế phát hiện một ngôi mộ cổ thời chúa Nguyễn, nhiều báo đăng tin, xin trích một đoạn tin của Tin.247.com:
“Ngôi mộ có vòng thành được xây theo hình vòng cung dày 0,4m. Phần lớn của ngôi mộ đang bị cát lấp, tuy nhiên, trong quá trình thăm dò những công nhân của Công ty khai thác khoán sản Thừa Thiên Huế đã làm xuất lộ một số chi tiết như đầu rồng, tấm bình phong hậu cùng nhiều hán tự và hoạ tiết trang trí như thường gặp trên các công trình kiến trúc, mỹ thuật thời chúa Nguyễn.
Từ những chữ “Đinh Mùi mạnh hạ niên cát nhật phụng lập” và hoạ tiết trên tấm bình phong, cán bộ bảo tàng lịch sử cách mạng tỉnh cho rằng: Ngôi mộ được lập vào ngày tốt tháng tư năm Đinh Mùi, có thể vào thời các chúa Nguyễn”.



Hình 39: Hoa văn trang trí



Hình 40: Đầu rồng



Hình 41: Những ký tự còn lại trên tấm bình phong hậu
Thế kỷ 18 có hai năm Đinh Mùi: Đinh Mùi [1727], Đinh Mùi [1787]. Ngôi mộ này phụng lập năm 1727 hay 1787?
Nếu phụng lập năm 1727, là năm chúa Nguyễn Phúc Chu mới nối ngôi được 3 năm, không dùng uynh thành giao long (xem hình 42) khi xây lăng Trường Thanh cho thân phụ là chúa Nguyễn Phúc Chu, như lăng các chúa đời trước. Thử hỏi thời chúa Nguyễn, một đại quan nào đó dám làm uynh thành lăng mộ cho phụ mẫu với uynh trong là cặp giao long chầu quanh nấm mộ hay không?

Hình 42: Lăng Trường Thanh của chúa Nguyễn Phúc Chu, không có uynh thành là cặp giao long.
Nếu ngôi mộ này được dựng năm 1786 thì có khả năng hơn. Thật vậy, năm 1787, chỉ một năm sau khi Nguyễn Huệ thanh toán tập đoàn phong kiến họ Trịnh, đế quyền vua Lê đã phai mờ, con rồng cung đình không còn quyền sở hữu của nhà vua mà nó đã đi vào dân gian với biến hóa kiểu “giao long”. Ngôi mộ này có khả năng do một vị quan lớn của Tây Sơn xây cho phụ mẫu và khi vua Gia Long trở lại Phú Xuân thì ngôi mộ tất nhiên phải thành hoang phế và bị vùi dưới cát mà thôi.

3.Cặp rồng trên trán bia:


Cặp rồng hay cặp giao long còn xuất hiện trên trán bia theo kiểu lưỡng long tranh châu, lưỡng long triều nguyệt… Mỗi con rồng khắc trên trán bia theo cách tả thực hoặc cách điệu. Trán bia thời Lý với thân rồng uốn lượn kiểu “tam ba cửu chiết” rõ ràng (hình 43). Trán bia thời Trần chụp được ở Yên Tử, không được rõ, vẫn thấy kế thừa rồng thời Lý nhưng có vẻ phóng khoáng hơn (hình 43). Cặp rồng thời Lê sơ trên trán bia Vĩnh Lăng lại tuân thủ nguyên tắc “tam ba cửu chiết” và uy nghi. Sang thời hậu Lê, nhất là thời Trịnh Nguyễn phân tranh thì cặp rồng đã nghiêng về cách điệu kiểu mây hóa hoặc lá hóa (hình 45, hình 46).




Hình 43: Trán bia thời Lý ở chùa Quỳnh Lâm (Ảnh Võ văn Tường)






Hình 44: Trán bia đời Trần ở Yên Tử (phusaonline)





Hình 45: Trán bia Vĩnh Lăng có cặp rồng thời Lê sơ
(vẫn mang phong cách rồng thời Lý-Trần)





Hình 46: Trán bia chùa Thiên Mụ, do chúa Nguyễn Phúc Chu dựng năm 1715, có cặp rồng thời chúa Nguyễn.





Hình 47: Trán bia ở trước chùa Vạn Phước với cặp rồng cách điệu bằng lá có khả năng do chúa Nguyễn Phúc Chu dựng ở miếu lễ Lê Thánh Tông vào thời kỳ chấn hưng Đàng Trong để xin phong vương.
Còn cặp rồng trên trán bia Tây Sơn được tiến sĩ Đinh Khắc Thuân đúc kết:
Các hình trang trí, chủ yếu được khắc trên trán bia loại bia dẹt và trên diềm bia các loại khác Đề tài trang trí trên trán bia gồm: mặt nguyệt, mặt nguyệt - rồng, mặt nguyệt - phượng, mặt nguyệt - hoa mây, hổ phù... Trong đó đề tài mặt nguyệt - rồng là chủ yếu (73/118 chiếc. Chiếm 65%. Sau đó là đề tài mặt nguyệt - hoa mây (27 chiếc). Đề tài trang trí trên diểm bia gồm: dây leo hoa lá, hoa chanh, hoa văn hình học, động vật, sóng nước, án thư... Trong đó chủ yếu là các đề tài về lá.




Hình 48: Một bản dập bia có rồng lá (nguoihatinh.net).




Hình 49: Một trán bia có cặp rồng cách điệu được vẽ lại trong L’art de Hue.
Tuy nhiên trán bia với cặp rồng tả thực hay cách điệu nói trên chỉ là môtip trang trí trên bia dân gian, còn bia của các vua, hoàng hậu nhà Tây Sơn không tìm thấy. Thật may mắn, năm 2006 Bình Định đã phát hiện tấm bia của ngôi mộ ông nội của Tây Sơn tam kiệt. Vua Thái Đức Nguyễn Nhạc dựng bia này, nên việc phát hiện tấm bia giúp các nhà nghiên cứu có thông tin về việc tạo tác bia mộ của cung đình Tây Sơn.
Bia của ngôi mộ nói trên cũng có 2 cặp rồng được chạm nổi trên trán bia. Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn viết: “Bia làm bằng một tảng đá lớn, chiều dài (cao) 125 cm, chiều ngang (rộng) 68,5 cm. Độ dày (gáy) 13 cm. Đường diềm (viền chung quanh) 10 cm. Chân bia có mộng cắm vào đế riêng, mộng cắm đo được: 20-45-13cm. Chung quanh đường viền chạm nổi bốn con rồng nối đuôi nhau, rồng 5 móng, đầu hai con rồng phía trên châu vào mặt trời ở giữa, thường gọi là "long tranh châu” hoặc "triều châu”. Riêng phần đáy diềm thì chạm nổi "thủy ba" (lượn sóng).”.
Như vậy thời cuối Lê đầu Nguyễn, đế quyền của nhà Lê thực sự đã mất, các dòng họ Trịnh ở Đàng Ngoài, họ Nguyễn Đàng Trong và tiếp đến là họ Nguyễn Tây Sơn đã nổi lên cát cứ, con rồng không còn thuộc về cung đình nhà Lê mà đã xuất hiện ở bia mộ của các họ khác dưới dạng cách điệu. Riêng triều Tây Sơn đã xưng đế nên bia mộ của họ Nguyễn Tây Sơn không những dùng cặp giao long ở uynh thành trong của lăng mộ mà còn dùng cặp rồng trên trán bia nữa. Ngoài ra đường viền của bia cũng chạm nổi rồng năm móng nối đuôi nhau.
__________________
Đại diện của diễn đàn Việt Lý Số.
Vietlyso.com is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 29-09-2009   #9
Vietlyso.com
 
Tham gia ngày: Nov 2005
Bài gởi: 294
Thanks: 0
Thanked 85 Times in 19 Posts
4.Cặp rồng trên ngự dụng chi ấn của vua Quang Trung:

Ấn chương học Việt Nam đã hình thành trong đó có công trình lớn của tiến sĩ Nguyễn Công Việt. Rất nhiều ấn triện của các triều phong kiến ở nước ta và Trung Quốc được sưu tập công phu, nghiên cứu rất khoa học và đã công bố trên Diễn đàn lịch sử Việt Nam. Chúng tôi chỉ dựa vào những ấn triện có khắc cặp rồng mà tiến sĩ Nguyễn Công Việt đã công bố và ấn “Ngự dụng chi ấn” của vua Quang Trung (do BTDG Huế công bố) để nghiên cứu môtíp rồng nói chung và môtíp rồng Tây Sơn nói riêng.
Sau đây là các ấn có khắc cặp rồng:
Thời chúa Nguyễn Phúc Chu muốn chấn hưng Đàng Trong để xin Thanh Triều phong vương, cho đúc Kim Bảo “大越國阮主永鎭之寶” (Đại Việt quốc Nguyễn chúa vĩnh trấn chi bảo). Lại có dấu “協一主人”(Hiệp nhất chúa nhân), có cặp rồng cách điệu hình lá có đầu, sừng, thân, 4 chân và đuôi, thuộc thời cuối Lê đầu Nguyễn.




Hình 50: Dấu Đại việt quốc Nguyễn chúa vĩnh trấn chi bảo “大越國阮主永鎭之寶”



Hình 51: Dấu Hiệp nhất chúa nhân “協一主人”
Thời chúa Nguyễn lại có đúc Kim Bảo “守信天下文武權行”(Thủ tín thiên hạ văn vũ quyền hành), có khả năng Nguyễn Vương Nguyễn Phúc Ánh từng sử dụng ấn này để tập hợp lực lượng trong những năm tháng chống Tây Sơn. Kim Bảo này có khắc cặp rồng cách điệu bằng lá với đầu, đuôi, sừng, thân, 4 chân, vi, râu.



Hình 52: Dấu Thủ tín thiên hạ văn vũ quyền hành “守信天下文武權行”
Lại có Ngự dụng chi ấn của vua Quang Trung với cặp rồng cách điệu hình lá, cũng có đầu, đuôi, sừng, thân, 4 chân nhưng đặc biệt sừng có nhánh



Hình 53: Ngự dụng chi ấn của vua Quang Trung có cặp rồng cách điệu
Thời Minh Mạng có cặp rồng tả thực, trang trọng và phức tạp hơn, bao quanh hai dấu của Kim Bảo “Minh Mệnh thần hàn” và “ Thể thiên hành kiện”:



Hình 54: Dấu Minh Mệnh thần hàn xếp dưới dấu Thể thiên hành kiện
Thời Thiệu Trị có Kim Bảo “Hoan phụng ngũ đại đồng đường nhất thống Thiệu Trị chi bảo” với cặp rồng tả thực, có áng mây:



Hình 55: Hoan phụng ngũ đại đồng đường nhất thống Thiệu Trị chi bảo
Thời vua Tự Đức lại có Kim Bảo “ Tự Đức ngự lãm chi bảo” với cặp rồng tả thực khá rõ.



Hình 56: Tự Đức ngự lãm chi bảo
Ấn triện do vua chúa đúc, thuộc về cung đình, là loại di vật hiếm nhưng những môtip rồng mà nghệ nhân khắc trên ấn góp phần trong việc nghiên cứu bổ sung đặc trưng môtip rồng Tây Sơn. Thật vậy môtip rồng Tây Sơn nghiêng về cách điệu lá, sừng có nhánh tức là gạc, kiểu “cù dậy”. Dân ca Nam Trung Bộ có câu: “Ai từng con cù nó mọc sừng/Hóa thành cái gạc vẫy vùng mây mưa”. Cá sấu, tức cù, mọc sừng và khi sừng có nhánh thì hóa rồng đã trở thành “tâm thức” của nhân dân miền nam và nam trung bộ. Ở Bình Định có thắng tích nổi tiếng HẦM HÔ, có đoạn suối mà giữa dòng có khối đá trông như con cá sấu (xem hình 57).



Hình 57: Ở Hầm Hô có một khối đá giống như cá sấu nằm ngay giữa lòng sông, chắn dòng nước chảy xiết làm bọt tung trắng xóa nên gọi là Hòn Trào
II.Cặp rồng ở bệ, đá táng kê cột hay cắm cờ:

Nghiên cứu môtip rồng được khắc trên đá táng, bệ đá cắm cột cờ, sập đá để đặt kiệu trong những ngày tế lễ, cột đá chống… nhằm bổ sung những đặc trưng của môtip rồng thời Tây Sơn. Có khi rồng cũng được chạm khắc trên cột chống hàng hiên như kiến trúc cung điện triều Nguyễn. Đặc biệt cột đá chùa Dạm có chạm khắc cặp rồng (thời Lý), dẫu các nhà nghiên cứu chưa thống nhất chức năng của cột đá nhưng đã thống nhất cặp rồng với thân tròn, không vảy và uốn hình sin trên cột đá chùa Dạm là cặp rồng thời Lý.
Rõ ràng rồng thời Lý tạo tác trên đá thuộc dạng tả thực với thân tròn không vảy, uốn lượn như rắn, theo nguyên tắc “tam ba cửu chiết” (Lượn ba lần, cuộn chín khúc) (Các hình 58, 59, 60). Rồng đá thời Trần đã có khuynh hướng bớt tuân thủ nguyên tắc “tam ba cửu chiết”, bớt cuộn hơn (hình 64). Rồng đá thời Hồ hoàn toàn kế thừa rồng thời Trần (hình 65). Rồng đá thời Lê Sơ vẫn có khuynh hướng rồng tả thực như rồng đá thời Trần, nhưng đến thời Hậu Lê thì rồng đá đã có vảy rõ rệt, thân ngắn lại và không còn tuân thủ nguyên tắc “tam ba cửu chiết”, thậm chí có xu hướng cách điệu hơn là tả thực(hình 66). Rồng khắc đá Tây Sơn nghiêng về cách điệu hơn, theo kiểu lá hóa (hình 71).



Hình 58: Mặt trước dôi rồng ở chùa Dạm, Kinh Bắc
(Ảnh của blog.360.yahoo)



Hình 59: Mặt sau của đôi rồng ở chùa Dạm, Kinh Bắc
(Ảnh của Chu Minh Khôi)



Hình 60: Bệ đá hình rồng cuốn thời nhà Lý (báo Người Hà Nội)



Hình 61: Đấu kê chân tảng thời Lý (ảnh của Võ Văn Tường)


Hình 62:Đấu kê chân tảng thời Lý chạm rồng và dàn nhạc bát âm
(ảnh củaVõ Văn Tường)



Hình 63: Bệ đá thời Trần ở chùa Thầy (Tủ sách Khoa học VLOS)



Hình 64: Lan can đá chạm hình con sấu tại di tích lăng vua Trần Anh Tông, thôn Trại Lốc, xã An Sinh (Ảnh Nguyễn Trung Dũng)



Hình 65: Con rồng đá ở chính giữa thành, nơi có cung điện của Hồ Quý Ly xưa
(vietdu forum)
Những con rồng đá thời Lý Trần và Hồ, thân dài tròn và thân dài uốn lượng hình sin, không có vảy.



Hình 66: Cặp rồng đá thời Lê



Hình 67: Chiếc sập đá ở chùa Bối Khê, có từ thời Mạc (viet bao)



Hình 68: Phù điêu đá ở chùa Tháp Bút có cặp rồng (thời Lê) (Ảnh Võ Văn Tường)



Hình 69: “Ông rồng đá” phát hiện ở thôn Bảo Tháp (Bắc Ninh), có
khả năngtạo tác vào thời Lê để hoài tưởng nổi “oan khiên” của Lê Văn Thịnh thời Lý Nhân Tôn. (Ảnh Baomoi.com)
Tảng đá cắm cột cờ phát hiện ở “Đàn Phương Trạch” của Tây Sơn, trên đồi Hà Khê (hiện nay thành hậu viên của chùa Thiên Mụ), với 4 mặt bên được chạm 4 bức phù điêu giống nhau. Mỗi bức là cặp rồng chầu chữ thọ, thuộc loại rồng lá hóa, có đầu, có gạc (tức sừng có nhánh), có 4 chân, có đuôi chẻ thành hai nhánh quay về hai phía. Môtip rồng thời Tây Sơn có đặc trưng là cách điệu chân, gạc, lông, vi của rồng bằng một nét lớn lại có hai nét nhỏ đi kèm. Nghệ nhân cũng cố ý biểu đạt con số 3 một cách nghiêm ngặt. Tai, gạc, râu, vi, hai chân sau, đuôi đều 3 vân. Chỉ hai chân trước có 4 vân và một vân cuộn, biểu đạt rồng 5 móng (hình 71).




Hình 70: Tảng đá lớn có lổ cắm cờ, 4 mặt bên có 4 phù điêu, khắc cặp rồng vờn chữ thọ. Tảng đá này phát hiện ở Đàn Phương Trạch Tây Sơn.



Hình 71:Cặp rồng trên mỗi phù điêu ở mặt bên của tảng đá cắp cột cờ được tìm thấy ở “Đàn Phương Trạch” của Tây Sơn ở Huế.



Hình 72: Rồng ở bờ nóc điện Thái Hòa của triều Nguyễn.
__________________
Đại diện của diễn đàn Việt Lý Số.
Vietlyso.com is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 30-09-2009   #10
Vietlyso.com
 
Tham gia ngày: Nov 2005
Bài gởi: 294
Thanks: 0
Thanked 85 Times in 19 Posts
III.Con rồng đơn trên những sắc phong thời Tây Sơn

Sắc phong là cổ vật rất quí hiếm, là nguồn tư liệu lịch sử có giá trị trên nhiều mặt. Có hai loại sắc phong: sắc phong tước và sắc phong thần, do nhà vua các triều đại phong tặng cho các quan lại, quí tộc, các người có công… và các vị thần. Sắc phong được viết trên những giấy sắc đặc biệt, do các nghệ nhân giỏi thuộc các làng nghề truyền thống làm ra. Trên nền giấy sắc có vẽ hoặc in các hình long phụng, có các ấn triện…
Ở đây chúng tôi chỉ khai thác những đặc trưng của môtip rồng thời Tây Sơn thông qua con rồng đơn được nghệ nhân vẽ trên giấy sắc mà thôi.
Sắc phong thời Tây Sơn do các triều Quang Trung, Cảnh Thịnh còn lại rất hiếm. Riêng sắc phong triều Quang Trung được sưu tập và đã công bố chưa được 10 tờ. Ở Huế có nhà sưu tập cổ vật Lê Thiện Gia đang lưu giữ 2 tờ và anh đã cho phép chúng tôi chụp ảnh hai tờ sắc phong này. Ngoài ra chúng tôi trích dẫn hình ảnh một số sắc phong Quang Trung, Cảnh Thịnh khác để làm tư liệu nghiên cứu.



Hình 73: Sắc phong “ Quang Trung ngũ niên thất nguyệt…”
(Ảnh bảo tàng Bình Định)



Hình 74: Sắc phong “ Quang Trung ngũ niên tam nguyệt…”
(Lê Thiện Gia cung cấp)



Hình75: Sắc phong “ Quang Trung ngũ niên thất nguyệt…”
(Lê Thiện Gia cung cấp)



Hình76: Sắc phong Vua bà Đào Thánh Hồng Nương Lê Thị Yến
(Cảnh Thịnh tứ niên ngũ nguyệt thập nhị nhất nhật [1796]) (Hoàng Phương Thảo cung cấp)



Hình 77: Sắc phong thời Cảnh Thịnh



Hình 78: Sắc phong thời Cảnh Thịnh (battrang info)



Hình 79: Sắc phong thời Gia Long (Lê Thiện Gia cung cấp)



Hình 80: Sắc phong thời Minh Mạng
Nghiên cứu con rồng đơn trên nhừng tờ sắc phong Quang Trung, Cảnh Thịnh và những tờ sắc phong thời Lê, thời Nguyễn chúng tôi có những nhận xét bước đầu:
Con rồng được vẽ trên sắc phong Tây Sơn có đầu với mỏm, miệng, cằm, bờm, ria, răng nanh, thân, chân ngắn có 5 móng, đuôi xoáy tròn có lông tua đại thể như những con rồng thời Lê và thời Nguyễn. So sánh rồng đơn Tây Sơn với các rồng đơn của thời Lê, thời Nguyễn về vây, khoan bụng, nhúm lông ở khuỷu chân thì phát hiện một số điểm đặc trưng của môtip rồng Tây Sơn:
-Kiểu thức vẽ vi, vây trên thân rồng không phải răng cưa nhọn, một lớn, hai ba nhỏ, ở giữa răng cưa có sống, xu hướng bổ về phía sau so với hướng rồng vươn ra trước. Vây ở đây hình parabol, cứ một parabol cao thì có 3 parabol nhỏ… cứ thế tuần hoàn trên lưng rồng kiểu 1-3-1-3… một cách nghiêm ngặt không tùy hứng.
-Đặc biệt lông ở cằm, chân rồng cũng được vẽ không tùy hứng mà theo kiểu thức: cứ một lông dài uốn chữ S thì có hai lông ngắn e ắp sát nhau ở chân lông lớn. Ở khuỷu chân có lông như cờ đuôi nheo của môtip rồng thời Tây Sơn, khác môtip rồng thời Lê hay Nguyễn ở khuỷu chân có vây răng cưa chứ không phải lông.


Hình 81:Lông ở khuỷu chân của rồng được vẽ trên sắc phong của triều tây Sơn


Bụng rồng chia thành các khoang bởi 3 khuyên









Hình 82: Bụng rồng vẽ trên sắc phong Tây Sơn có các khoang, ngăn cách nhau bởi 3 khuyên.
Nghiên cứu các sắc phong thời Lê, thời Mạc, thời Nguyễn thì thấy bụng rồng không có các khoang được phân cách bởi 3 khuyên như rồng trên sắc phong Tây Sơn. Đây là một đặc trưng để phân biệt môtíp rồng thời Tây Sơn với rồng thời Lê hay thời Nguyễn.
__________________
Đại diện của diễn đàn Việt Lý Số.
Vietlyso.com is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Trả lời


Ðang đọc: 1 (0 thành viên và 1 khách)
 
Ðiều Chỉnh
Xếp Bài

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn
Bạn không được quyền gởi bài
Bạn không được quyền gởi trả lời
Bạn không được quyền gởi kèm file
Bạn không được quyền sửa bài

vB code đang Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Mở
Chuyển đến