Hỏi/Ðáp Lịch Tìm Kiếm Bài Trong Ngày Ðánh Dấu Ðã Ðọc
Welcome
Trang Ðầu
Ghi Danh
Hỏi/Ðáp
Login Form
Nhà tài trợ
Công cụ
Thống kê
  • Ðề tài: 15,051
  • Bài gởi: 153,345
  • Thành viên: 4,740
  • Số người đang xem: 92
  • Xin cùng nhau chào đón Tiểu Phật là thành viên mới nhất.
Liên kết website
Go Back   chân thuyên > ĐÔNG PHƯƠNG DỰ ĐOÁN HỌC > BÀI VIẾT SƯU TẦM - CHỌN LỌC

Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
Old 09-04-2008   #1
thichmactien
Hội viên
 
thichmactien's Avatar
 
Tham gia ngày: Oct 2005
Nơi Cư Ngụ: Vietnam
Bài gởi: 7.897
Thanks: 12
Thanked 409 Times in 245 Posts
Blog Entries: 5
Chọn số may mắn




Con người chỉ là một sản phẩm của vũ trụ, cùng tồn tại với tất cả các sự vật hiện tượng khác. Con người có vận mệnh, có lúc thịnh có lúc suy tuỳ thuộc và sự chi phối, tác động của vũ trụ, của thiên nhiên. Phong Thuỷ của nhà ở không phải lúc nào cũng bất biến mà giống như con người, nó cũng có vận mệnh, có lúc thịnh có lúc suy.

Phần lớn khi nghiên cứu về Phong Thuỷ, người ta thường chú ý đến việc chọn đất, chọn hướng, vị trí thuận lợi để xây nhà, an táng mộ phần. Khi đă chọn được môi trường, vị trí, hướng phù hợp là có thể yên tâm sinh sống hưởng phúc. Quan niệm đó không hoàn toàn đúng, bởi vì đất đai nhà ở cũng có vận, có lúc thịnh có lúc suy không bao giờ cố định. Bởi vậy các môn khoa học thần bí đều lấy Kinh Dịch là gốc, mà nguyên lý của Dịch là luôn vận động thay đổi không ngừng. Chính vì vậy việc tìm hiểu và ứng dụng trạch vận là một điều hết sức cần thiết.

Địa lý Trạch Vận lấy Cổ Dịch Huyền Không Học làm cơ sở các suy luận. Huyền Không học là một môn địa lý bí truyền có từ rất lâu đời nhưng không được biết đến nhiều như Địa Lý Bát Trạch. Theo các sách cổ ghi chép lại thì Huyền Không Học ban đầu do Quách Phác đời nhà Tấn phát minh ra, sau được các nhà Phong Thuỷ Học như Dương Quân Tùng đời Đường, Tưởng Đại Hồng đời Minh, cuối cùng là Thẩm Trúc Nhung nhà Thanh hoàn thiện lại toàn bộ học thuyết.

Huyền Không Học lấy Dịch Học làm cơ sở, nguyên lý của nó là vạn vật biến dịch không ngừng theo nguyên lý "Cùng tắc biến, biến tắc thông". Ngoài ra không thể không áp dụng nguyên lý Âm Dương - Ngũ Hành làm cơ chế suy luận. Huyền Không Học lấy Hậu Thiên Bát Quái, tức sự phân bố bát quái do vua Văn Vương phát minh làm cơ sở, kết hợp với Lạc Thư.

Lạc Thư xuất hiện vào thời vua Đại Vũ, tương truyền khi trị thuỷ trên sông Hoàng Hà, vua Đại Vũ thấy rùa thần xuất hiện trên lưng có các đốm đen trắng. Vua Đại Vũ căn cứ vào đó vẽ ra ma phương bậc 3 bao gồm 9 con số phân bố trong 1 hình vuông 3x3 phản ánh kết cấu của vũ trụ với Quả Đất là trung tâm :

4

9

2

3

5

7

8

1

6


Kết hợp với Hậu Thiên Bát Quái phân bố 8 quẻ như sau :

Tốn

Ly

Khôn

Chấn




Đoài

Cấn

Khảm

Càn



Hình thành nên 8 sao tương ứng với 8 quẻ, mỗi sao mang 1 số đại diện. Cụ thể như sau:
  1. Nhất Bạch Thuỷ Tinh : Quẻ Khảm, ứng với phương Chính Bắc, hành thuỷ, đại diện cho trung nam.
  2. Nhị Hắc Thổ Tinh : Quẻ Khôn, ứng với phương Tây Nam, hành thổ, đại diện cho mẹ.
  3. Tam Bích Mộc Tinh : Quẻ Chấn, ứng với phương Chính Đông, hành mộc, đại diện cho trưởng nam.
  4. Tứ Lục Mộc Tinh : Quẻ Tốn, ứng với phương Đông Nam, hành mộc, đại diện cho trưởng nữ.
  5. Ngũ Hoàng Thổ Tinh : Vô Định, ứng với trung tâm, hành thổ.
  6. Lục Bạch Kim Tinh : Quẻ Càn, ứng với phương Tây Bắc, hành kim, đại diện cho cha.
  7. Thất Xích Kim Tinh : Quẻ Đoài, ứng với phương Chính Tây, hành kim, đại diện cho thiếu nữ.
  8. Bát Bạch Thổ Tinh : Quẻ Cấn, ứng với phương Đông Bắc, hành thổ, đại diện cho thiếu nam.
  9. Cửu Tử Hoả Tinh : Quẻ Ly, ứng với phương Chính Nam, hành hoả, đại diện cho trung nữ.
Đây đại diện cho vũ trụ ở trạng thái ban đầu mới sinh ra, tức trạng thái tĩnh chưa có vận động.

Cùng với thời gian, 9 vì sao trên không đứng yên mà vận động theo những quỹ đạo khác nhau. Có 2 dạng bay là bay thuận và bay nghịch tuỳ theo bối cảnh, sự vật là dương thì bay thuận và bối cảnh, sự vật là âm thì bay nghịch. Mỗi vì sao có một quy tắc bay riêng là 9 bước xác định thuận hay nghịch, vậy 9 vì sao có 9x9 = 81 bước (hằng số vũ trụ ?) gọi là Lường Thiên Xích (thước đo trời). Có thể thấy Huyền Không Học thật vĩ đại, nó dường như muốn ôm trọn tất thảy các quy luật biến hoá của vũ trụ vào 81 bước biến hoá đơn giản nhưng rất kỳ diệu.

Tinh bàn bao giờ cũng lấy Thiên Tâm làm chuẩn, sau đó căn cứ vào Thiên Tâm để an các sao theo chiều thuận hoặc nghịch.

Ví dụ khi Ngũ Hoàng nhập giữa thì ta có 2 Tinh bàn sau:

Bay thuận : Phản ánh sự vận động của vũ trụ, của các Khí theo chiều thuận theo thứ tự : Ngũ - Lục - Thất - Bát - Cửu - Nhất - Nhị - Tam - Tứ - Ngũ

4

9

2

3

5

7

8

1

6


Bay nghịch : Phản ánh sự vận động của vũ trụ, của các Khí theo chiều nghịch theo thứ tự : Ngũ - Tứ - Tam - Nhị - Nhất - Cửu - Bát - Thất - Lục - Ngũ :

6

1

8

7

5

3

2

9

4


Tinh bàn chính là biểu hiện sự vận hành của Khí trên trái đất và sự chi phối của các sao trong vũ trụ đến trái đất. Sau đây là bảng các vận khác nhau, mỗi vận có một sao nhập cung giữa.

Thuợng Nguyên

Vận 1 : Nhất nhập giữa

1864 - 1883

Vận 2 : Nhị nhập giữa

1884 - 1903

Vận 3 : Tam nhập giữa

1904 - 1923

Trung Nguyên

Vận 4 : Tứ nhập giữa

1924 - 1943

Vận 5 : Ngũ nhập giữa

1944 - 1963

Vận 6 : Lục nhập giữa

1964 - 1983

Hạ Nguyên

Vận 7 : Thất nhập giữa

1984 - 2003

Vận 8 : Bát nhập giữa

2004 - 2023

Vận 9 : Cửu nhập giữa

2024 - 2043



Mỗi 20 năm ở bảng trên lại có một sao quản năm nhập cung giữa, ví dụ năm 2003 là sao Lục Bạch nhập cung giữa, năm 2004 là sao Ngũ Hoàng nhập cũng giữa. Tương tự mỗi tháng, mỗi ngày, mỗi giờ khí vận lại do một sao nhất định quản. Sao đó được gọi là sao đương lệnh hoặc là sao quản. Sao đương lệnh có khí mạnh nhất, nguyên khí của nó có tác động rơ nhất, khống chế toàn bộ tinh bàn.

Ví dụ chúng ta đang ở thời kỳ 2004-1023 do sao Bát Bạch quản. Những gì thuộc cung Cấn tức phương Đông Bắc sẽ vượng lên, thiếu nam trở nên hoạt bát và tài cán hơn, người trung niên và người cao tuổi yếu đi, sức chi phối giảm sút trong gia đình và xã hội.

Ý nghĩa các con số và các sao :

+ Nhất Bạch Thuỷ Tinh : gọi là sao Văn Xương chủ công danh, thi cử. Nếu Nhất Bạch sinh vượng thì vượng đinh, vượng tài, công danh hiển đạt, thi cử đắc lợi, tốt cho công danh sự nghiệp.
Nếu Nhất Bạch suy tử thì bị hoạ về tửu sắc, bệnh máu huyết, bệnh thận, tử cung.

+ Nhị Hắc Thổ Tinh : gọi là sao Bệnh Phù. Khi nó sinh vượng thì gia đạo an khang, phát về vơ cách.
Nếu Nhị Hắc suy tử thì phát sinh bệnh tật, tai hoạ kiện tụng, hoả hoạn, phụ nữ dễ thành quả phụ. Mắc bệnh về bụng, bệnh ngoài da.

+ Tam Bích Mộc Tinh : gọi là sao Lộc Tồn. Khi nó sinh vượng thì an khang, phú quư.
Khi Tam Bích suy tử thì sinh ra thị phi, kiện tụng, cướp bóc, đạo tặc. Bệnh về gan, máu huyết, bệnh ở chân.

+ Tứ Lục Mộc Tinh : gọi là sao Văn Khúc. Khi nó sinh vượng thì phát về thi cử, công danh, đỗ đạt, văn chương nổi danh thiên hạ.
Nếu nó suy tử thì hoạ tửu sắc, bệnh tật hoặc sảy thai.

+ Ngũ Hoàng Thổ Tinh : gọi là sao Chính Quan. Ngũ Hoàng là ngôi vua, ngôi tôn quý nên nó chỉ có thể đóng ở Trung Tâm là tốt. Nếu nó nhập vào cung nào thì giáng hoạ cho cung đó. Nhẹ thì mang tai hoạ ốm đau, bệnh tật, nặng thì hao người tốn của, phá gia bại sản.

+ Lục Bạch Kim Tinh : gọi là sao Vũ Khúc. Khi sinh vượng thì sao này rất tốt, chủ phát tài phát quan, công danh hiển đạt, tài lộc đầy đủ.
Khi suy tử thì mắc bệnh đau đầu, bị thương tích, tai hoạ trong quan trường.

+ Thất Xích Kim Tinh : gọi là sao Phá Quân. Khi sinh vượng thì vượng đinh vượng tài, phát về vơ chức.
Khi suy tử thì sao này là giặc cướp, dễ mắc nạn cướp bóc, binh đao, bệnh hô hấp, hoả hoạn, hình ngục.

+ Bát Bạch Thổ Tinh : gọi là sao Tả Phụ. Khi sinh vượng thì công danh phú quư.
Nếu suy tử thì bị bệnh ở miệng, bệnh tay chân xương cốt.

+ Cửu Tử Hoả Tinh : gọi là sao Hữu Bật. Khi sinh vượng thì thi cử đỗ đạt, sự nghiệp hiển vinh.
Nếu suy tử thì dễ bị hoả hoạn, đau mắt, bệnh huyết, tim mạch.
S.T
__________________
Tôi có một ham muốn tột bậc là...không ham muốn gì

Tại sao mệnh Thủy thành Hỏa hay Hỏa thành Thủy? vào đây khắc rõ
thichmactien is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 09-04-2008   #2
thichmactien
Hội viên
 
thichmactien's Avatar
 
Tham gia ngày: Oct 2005
Nơi Cư Ngụ: Vietnam
Bài gởi: 7.897
Thanks: 12
Thanked 409 Times in 245 Posts
Blog Entries: 5
Giới thiệu về các con số Theo Thuật số Phương Đông, vạn vật tồn tại và phát triển chi phối bởi quy luật Âm Dương và Ngũ Hành. Quy luật Âm Dương chúng ta tạm hiểu đó là sự tương hỗ và tồn tại của nguồn năng lượng hình thành nên thể chất và lý tính của mọi vật. Ngũ Hành là quy luật ức chế và kích thích sự vật vận động và phát triển.

Các con số đứng riêng rẽ hình thành nên những ý nghĩa khác nhau bao hàm sự tốt xấu, may mắn hay tai hoạ. Khi kết hợp với nhau nó cũng mang một ý nghĩa khác bao hàm sự tốt xấu nhưng lúc này ý nghĩa của từng con số không còn cứng nhắc mà mang sắc thái bổ trợ , tác dụng lẫn nhau hình thành nên tính chất tốt xấu cho cả dãy số.

Ví dụ: Số 1 tượng là sao Nhất Bạch thuộc hành Thuỷ, theo Hậu Thiên bát Quái thì tượng của nó tượng trưng cho quẻ Khảm chủ về công danh nghề nghiệp, tượng trưng cho trí tuệ, sự nhất quán, sự phát triển và danh tiếng. Số 8 theo Hậu Thiên bát Quái thì tượng của nó là sao Bát Bạch thuộc hành Thổ, tượng trưng cho quẻ Cấn chủ về kiến thức, sự thông minh, tiền bạc và lợi ích do sự ổn định mang lại. Ở vận này thì 2 số này đều vượng khí tức là tốt lành bởi hàm chứa những năng lượng vận động tích cực. Khi xét riêng rẽ phải căn cứ vào ý nghĩa hậu Thiên của từng con số, đó chính là chín sao của Huyền Không Đại quái.

Khi kết hợp lại thì có thể là 18 hoặc 81 ta sẽ đi vào phân tích xem hai số trên ý nghĩa thế nào :

- Số 81: số 8 kết hợp với số 1 đi sau tượng trưng cho sự vận động thuận lý (tiến), như vậy hàm chứa sự tốt lành. Chia số trên thành hai nửa thì nửa trước là 8 , theo đồ hình Tiên Thiên Bát Quái tượng quẻ Khôn; nửa sau là 1 , theo đồ hình Tiên Thiên Bát Quái tượng quẻ Càn. Khôn ở trên càn ở dưới hai quẻ kết hợp với nhau thành quẻ kép Địa Thiên Thái (|||::: 泰) chỉ thời vận hanh thông, vạn vật được khai mở phát triển, phúc lành đang đến. Về Ngũ Hành đó là sự tương sinh bởi Khôn Thổ sinh cho Càn Kim. Bởi vậy số 81 là số rất tốt lành về mọi mặt. Người phương Đông luôn tôn thờ số này và trong khoa học hiện đại cũng chỉ ra đó là con số vũ trụ ứng với nhiều đại lượng đo đếm trong vũ trụ. Số này có 8 là số Âm, 1 là số Dương như vậy hàm nghĩa Âm Dương cân bằng, bởi vận vật chỉ phải triển khi ở thế Âm Dương cân bằng, nếu mất cân bằng thì sẽ có xu hướng tiêu cực. Ví dụ, biển xe là 1357 là số toàn Dương nên không thể tốt được.

- Số 18: Với luận lư tương tự như trên thì số này Càn 1 ở trên, Khôn 8 ở dưới nên tượng quẻ là Thiên Địa Bỉ (:::||| 否) chỉ thời vận đă suy vi, sự thịnh vượng nhường chỗ cho sự khó khăn suy thoái bởi theo triết lý Đông Phương, mọi vận là vô thường, vận động hết thịnh lại đến suy luôn luôn thay đổi.

- Trong 1 dăy số thì ngũ hành của dăy luôn được xem xét là ngũ hành chủ đạo chi phối dăy số đó bởi trong một dăy có thể tồn tại nhiều loại ngũ hành, chúng khắc chế lẫn nhau. Ngũ hành chủ đạo luôn là số cuối hoặc nếu có nhiều số cùng tồn tại thì lấy ngũ hành số đó làm chuẩn. Ví dụ 81 thuộc Thuỷ, 18 thuộc Thổ.

Các nguyên lư xem xét cho một dăy số đẹp hay xấu :

- Phải có nhiều số vượng khí như 1,8,9,0 bới các số này trong vận 8 là sinh khí, tiến khí, vượng khí sẽ đem lại nhiều may mắn tốt lành.
- Phải có sự tương sinh về ngũ hành tránh sự tương khắc, ví dụ 3388 là sự tương khắc vì 3 Bích Mộc khắc 8 Bạch Thổ.
- Ngũ hành của dãy số phải tương sinh cho mệnh người sử dụng. Ví dụ số 0915349988 ngũ hành thuộc Thổ sinh trợ cho người mệnh Thổ, Kim
- Âm dương phải cân bằng nghĩa là phải có cả số Dương, số Âm (chẵn, lẻ) hoặc lư tưởng nhất là hai loại có số lượng bằng nhau.
- Ý nghĩa quẻ kép Bát Quái kết hợp lại phải tốt lành tránh những quẻ xấu như quẻ Thiên Địa Bĩ
- Các số vận hành nên theo chiều thuận lý, theo quan niệm thông thường ta gọi là số tiến, tránh số ngược , Ví dụ : 8876.

Trong vũ trụ nói chung và trái đất nói riêng, hai khí Âm Dương vận động hình thành nên vạn vật hay thế giới vật chất được hình thành nên từ hai khí Âm và Dương. Người xưa phân chia một cách tương đối thế giới vật chất thành 5 loại vật chất biểu kiến, gọi là Ngũ Hành bao gồm : Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ.
Học thuyết Ngũ Hành là một trong những học thuyết cơ bản nhất của nền văn hoá thần bí Trung Hoa. Học thuyết Ngũ Hành được sáng tạo và vận dụng thể hiện một cách đầy đủ nhất và rõ ràng nhất trong tác phẩm Hoàng Đế Nội Kinh Tố Vấn. Một tác phẩm về Y Học Cổ Đại đă dùng học thuyết Ngũ Hành để vận dụng vào việc chữa bệnh. Tác phẩm này đă ra đời cách đây khoảng 3000 năm trước công nguyên. Như vậy, có thể nói học thuyết này được hình thành trước cả sự ra đời của Kinh Dịch.

Nội dung cơ bản của Học thuyết Ngũ Hành là mối liên hệ biện chứng duy vật giữa các sự vật hiện tượng trong giới tự nhiên. Năm loại vật chất này vận động, chuyển hoá và tác động lẫn nhau h́nh thành nên thế giới tự nhiên, xă hội và tư duy. Ngũ Hành vừa có tác động thúc đẩy, vừa có tác động ức chế lẫn nhau hình thành nên một vũ trụ luôn luôn vận động theo h́nh xuáy trôn ốc giống như quan điểm vật chất luôn vận động trong triết học Mác-Lênin. Nó có ứng dụng rộng răi trên mọi lĩnh vực khoa học và đời sống.

Đặc tính ngũ hành được khái quát như sau :
+ Mộc : Là cây cỏ, gỗ nói chung, có tính chất sinh sôi, dài thẳng. Khí của Mộc làm cho vạn vật được tươi tốt.
+ Hoả : Là lửa, ánh sáng, có tính chất nóng hướng lên trên. Khí của Hoả làm cho vạn vật sinh trưởng, dồi dào.
+ Thổ : Là đất đai, có tính chất nuôi lớn, hoá dục. Khí của Thổ làm cho vạn vật được đầy đủ hình thể.
+ Kim : Là kim loại, có tính chất yên tĩnh, thu tàng. Khí của Kim làm cho vạn vật kết quả.
+ Thuỷ : Là nước, có tính chất hàn lạnh hướng xuống. Làm cho vạn vật tĩnh lặng, bế tàng.

Ngũ Hành tuân theo những quy luận vận động nhất định, có hai quan hệ giữa các Hành, đó là quan hệ tương sinh và tương khắc, tiêu biểu cho quá trình thúc đẩy, chuyển hoá và ức chế lẫn nhau của vật chất.

Tương sinh có nghĩa là cùng bồi bổ, thúc đẩy, trợ giúp cho nhau : Mộc sinh Hoả, Hoả sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thuỷ, Thuỷ sinh Mộc.
Ta có thể hiểu một cách đơn giản về quy luật Ngũ Hành tương sinh như sau : Cây cỏ khi bị đốt cháy sinh ra lửa, như vậy là Mộc sinh Hoả. Hoả khi bị đốt cháy sẽ biến thành tro, tro lại trở về thành đất. Như vậy là Hoả sinh Thổ. Đất đai nuôi dưỡng trong mình nó những quặng kim loại. Như vậy là Thổ sinh Kim. Kim loại khi bị nung chảy thì biến thành nước phản ảnh quy luật Kim sinh Thuỷ. Thuỷ là nước lại tưới nuôi dưỡng cây, đó là Thuỷ sinh Mộc.

Tương khắc là chế ngự khống chế lẫn nhau: Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thuỷ, Thuỷ khắc Hỏa, Hoả khắc Kim, Kim khắc Mộc.
Ta có thể hiểu một cách đơn giản về quy luật Ngũ Hành tương khắc như sau : Cây cỏ sống dựa vào đất, hút hết màu mỡ và tinh tuý của đất để phát triển phản ánh quy luật Mộc khắc Thổ. Đất dùng để ngăn đê, đắp đập chống lại nước. Như vậy là Thổ khắc Thuỷ. Nước dùng để dập tắt lửa phản ánh quy luật Thuỷ khắc Hoả. Lửa nấu chảy kim loại nên Hoả khắc Kim. Kim loại lại chế ra dụng cụ chặt cây cối nên Kim khắc Mộc.

Ngoài ra còn một số yếu tố khác mà những người am tường về Âm Dương Ngũ hành mới quán xét được mà trong phạm vi trang web này chúng tôi chỉ giới thiệu đại cương để bạn đọc nắm vững cơ bản.Trên đây chỉ là những mô tả rất đơn giản, thực tế Ngũ Hành tượng trưng cho năm loại vật chất trong vũ trụ, những quy luật tương sinh tương khắc phản ánh quá tŕnh tương tác của thế giới vật chất. Mặc dù thế giới vật chất vốn bao la, vô cùng vô tận nhưng người xưa lại có thể phân chia và phát hiện ra những quy luật chi phối, điều đó quả là kỳ diệu.

(st)
__________________
Tôi có một ham muốn tột bậc là...không ham muốn gì

Tại sao mệnh Thủy thành Hỏa hay Hỏa thành Thủy? vào đây khắc rõ
thichmactien is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 09-04-2008   #3
thichmactien
Hội viên
 
thichmactien's Avatar
 
Tham gia ngày: Oct 2005
Nơi Cư Ngụ: Vietnam
Bài gởi: 7.897
Thanks: 12
Thanked 409 Times in 245 Posts
Blog Entries: 5
Đôi điều về chữ số và số điện thoại




Chị Công Nam Phương là một trong những người làm nên diện mạo tờ TXTV từ những số đầu tiên. Dù hiện nay công tác tại cơ quan khác nhưng chị vẫn chăm chút cho tờ TXTV như một phần công việc của mình. Xin giới thiệu một bài viết rất thú vị của chị.
Từ thuở loài ngưới phát minh ra con số, có lẽ công năng của số không cần phải bàn cãi nhiều. Trong thời hiện đại, con số đã có thêm vào những tính năng hoàn toàn mới mà có lẽ trước đây chỉ 1 thế kỷ, không ai có thể tưởng tượng được. Bỏ qua việc số có mặt trong việc số hoá, tạo nên thời đại thông tin số, đưa loài người đến gần những giấc mơ mà trước đây chỉ vài trăm hoặc thậm chí vài chục năm, không ai lại không cho rằng đó là việc ảo tưởng, viễn tưởng…, phạm vi bài viết này chỉ nói lên tính chất mỹ thuật, một tính năng hoàn toàn mới của các con số.

Tại sao lại là Mỹ thuật? Bạn đọc chắc hẳn nghĩ rằng làm gì có tính Mỹ thuật ở đây, hoặc nếu cho là có, thì cũng nghĩ rằng đó là việc chẳng lấy gì làm quan trọng. Người viết ra bài này cũng nghĩ vậy, dù suốt bao nhiêu năm học đường, làm bạn với những con số… Tuy vậy, trong thế giới số hoá hiện nay, làm quen nhiều với việc GIẢI QUYẾT KHÂU OAI bằng những con số, tự dưng, phản xạ có điều kiện thành hình… Mỗi lần đi đâu, nhìn gì, tự dưng thói quen (chúng ta gọi là Thói quen nghề nghiệp) khởi phát, và không khỏi soi mói, cộng trừ, nhìn xem tiến hay lùi, gánh xuôi hay gánh ngược… Có một số con số, chúng ta nhìn là biết ngay đó là dãy số của các Đại gia, hay Chính trị gia hay Cán bộ cấp cao hoặc dân phe, dân số, dân lô, dân đề…


Phàm là việc gì liên quan đến sự xấu đẹp, lập tức có sự định giá ngay. Để kiểm chứng thông tin này, chúng ta hãy đến ngay các phòng đăng ký Biển số xe… Để có một biển số xe 10 nút (Saigon thì 9 nút) chỉ cho xe gắn máy, không phải số lặp, số tiến, hay số gánh… lập tức chúng ta phải trả một giá khá chóng mặt. Giá này sẽ gia tăng vùn vụt nếu đó là biển xe ô tô. Và nếu là số tiến đều, số gánh, hay có bộ 88, 99 ở đuôi.. thậm chí có khi còn phải chồng tiền, chờ vài tháng… Đi trên đường, thoáng nhìn biển xe tư nhân, nếu thấy biển số liên quan đến những hàng số 7979, 9779, 8668, 8686, 6868 hay tứ quý 6, 8, 9… chắc chắn đó sẽ là những biển số gắn với những con xe đang hoặc đã từng đẹp long lanh và giá cả của những biển số này thì chỉ có dân SÀNH số mới biết được.

Chỉ với 4 con số, dân làm ăn và Đại gia đã làm nghiêng ngửa giới kinh doanh biển số, thì chắc hẳn bạn đọc đã hình dung được, với 10 con số của ngành Thông tin di động, thị trường sẽ tạo sóng như thế nào.

Tương tự như việc đếm số lặp của biển số, với những con số điện thoại di động, các số tứ quý là số luôn đắt khách. Dân kinh doanh số cũng rất ưa thích và săn lùng các số có liên quan đến tứ quý 3, 6, 8, 9. Đặc cách vì bắt buộc số điện thoại có 7 số được lựa chọn (3 số đầu là định danh cố định của các nhà cung cấp), nên hầu như những chuyên viên săn lùng số đội giá của các số đầu nhỏ, đuôi tứ quý, không có số 4 trong dãy số lên giá rất cao. Có thể lấy ví dụ như 333 8888 hay 333 6666, 333 9999 - với trường hợp này, vì số 3 là tam tài, lại lặp 3, đuôi đều là tứ quý lộc, phát, tài… nên có thể nói, vào tay chuyên viên bán số, giá không thể biết thế nào mà lần được.

Dân lùng số còn yêu thích các số tiến đều, tiến gánh. Trong 1 triệu số, chỉ có vài chục số tứ quý, và tứ quý đẹp khá hiếm. Nhưng với những số tiến kiểu như 123 4567 hay 345 6789, có thể nói đó là hàng độc nhất vô nhị, không giống ai, chả sợ lẫn với ai. Có dạo qua thị trường số, chỉ cần hô 1 dãy số di động, người ta sẽ nói ngay cho bạn biết chủ nhân là ai… và Đại gia nào, đang lùng số nào.

Bạn sẽ hỏi, thế ngoài số Tứ quý, số tiến.. như thế nào với dân sành số điện thoại, con số đó sẽ là số đẹp? Câu trả lời được dân định nghĩa số định nghĩa như sau:
a. Dân buôn bán: Nhiều số Thần Tài. Và Thần Tài của dân buôn bán là 79. Số chuẩn của Thần Tài là 7979, biến tướng cấp I của loại số này là 7799 (tiến), cấp 2 sẽ là 7997 (gánh số đầu đuôi), cấp 3 mới là 9779, 9977, cuối cùng thì méo mó có hơn không – tiêu chuẩn là gánh – và sẽ căn theo 2 số còn lại của đầu số bên kia. Ví dụ như đầu số là 330 xxxx, nếu không có cặp thần tài thì lấy tạm 2 cặp số sau để gánh: 330 7933 hoặc 330 9733
b. Cùng cấp với Thần Tài là Lộc Phát và Xin Giàu (xin Lộc) đại diện là 68 và 58
Với các Đại gia Chợ Lớn xưa, liên quan đến gốc Tàu, thì hai con số 68 và 58 đều là số họ rất ưa chuộng. Phát âm na ná như Lộc Phát, hai con số 68 được giới SÀNH số mê thích kinh khủng. Họ cũng đội giá những con số với đầu nhỏ, hoặc đầu giống nhau với đuôi là 6868, 8686, 8668, 6886, 6688, 8866 theo thứ tự giảm dần lên giá kinh người. Không giống với những số khác, những con số không cân xứng kiểu 6888, dù tiến, lại không được đội giá lên ngất ngưởng như cặp Lộc Phát hoặc Ta Giàu 58 này. Sau sự kiện một con số Ta Nhất định Giàu, Ta Giàu, Ta Giàu mãi của Trung Quốc được đội giá lên cao nhất thể giới (135 533 5858), cặp số 5858 và 5888 của hệ thống các số Mobile Việt Nam lên ngôi. Với mức giá cả chục triệu, những số lặp và có đuôi Thần Tài đang làm đau đầu các nhà quản lý Điện thoại vì sự tranh chấp
c. Không giống với quan niệm về số của người Tàu, và số tiến, số lặp tứ quý, cặp ba hay cặp đôi của các Quan Chức.. với những người thích các con số dễ nhớ như năm sinh, hơi lặp lặp… cũng nhiều lúc bị CHĂN, do tình trạng cố tình làm sốt số của Đại lý.

Biết những con số kiểu như 1970 … 1983 là những con số của các cậu các cô đã đi làm, ổn định, có mức thu nhập… Những con số kiểu này nhanh chóng bị Đại lý găm ngay khi có dải sổ mới. Họ cũng không buông tha cho những con số kiểu 7070, 7171.. 8080, 8181, 8282. 8383 và nếu có hỏi, chắc rằng sẽ bị HÉT giá không dưới vài trăm ngàn

Buồn vui với những con số, đôi lúc đối soát hợp đồng của khách hàng… tôi mủm mỉm cười vì không hiểu sao, ngày xưa, tôi từng chỉ thích những con số tròn trịa hoặc thật mảnh mai như số 0 và số 7. Số mà dễ nhớ kiểu như BA NĂM KHÔNG CHÍN hay NĂM NĂM KHÔNG TẮM hoặc vui vui như HAI NĂM BA CHÁU, sao chả thấy ai chọn. Hoặc giả, những con số thật sự chả quên được như bản cửu chương, sao hiếm người chọn thế. Cả trăm ngàn hợp đồng may ra có vài còn số của bản cửu chương được thiên hạ ưa thích, do bất đắc dĩ yêu số 8 số 9 hoặc vì là số lộc mà lại có lộc đuôi kiểu SÁU SÁU BA SÁU, hoặc CHÍN CHÍN TÁM MỐT, ăn gian thì CHÍN CHÍN TÁM HAI, CHÍN CHÍN TÁM BA. Dải số 338 88xx là số rất được ưa chuộng, nhưng cấm có thấy ai lấy bản cửu chương để lấy số 338 8864 dù các con số ăn gian được dùng ngay tắp lự kiểu như 8865, 8867. 8868, 8869

Thấy khách hàng yêu thích, dành giật đăng ký số, tôi buồn cười vì không hiểu sao ngày đăng ký điện thoại, tôi đã thật ngốc nghếch. Được lựa chọn rất nhiều số, do là bạn thân của NHÀ ĐÀI, tôi cũng hú hoạ lấy đại một cái SIM sẵn số, để đỡ phải Set SIM… Ngố thật… Bây giờ nhìn số điện thoại của mình, 10 số thì cả 10 xộc xệch, chẳng giống nhau… tiến lùi lộn tùng phèo mới thấy, đúng là Cờ đến tay mà không biết Phất, thật là…



S Fone là hãng di động đàn em, sinh muộn, nắm bắt hơn đôi chút thị hiếu của khách, nên đã đưa ra những dải số với 3 số đầu thật HOÀNH TRÁNG nhằm ưu tiên khách hàng theo phương châm có số dễ nhớ, phục vụ một thị trường đông đảo người tiêu dùng đã biết LÀM ĐỎM bằng số, giải quyết khâu oai… Nhiều người từng hỏi, tại sao lại chọn 095 33x xxxx? 33x phục vụ tam tài và dãy số tiến… nhưng tại sao lại là 095 mà không phải 093 hay 094, hoặc 099 hoặc 098??? Câu trả lời là 95 đại diện cho 2 chữ Cửu Ngũ… Tìm ra lời giải đáp có lẽ là lượng đông đảo khách hàng Trung Quốc và Hàn Quốc hoà mạng CDMA tại Việt Nam từ những ngày đầu.

Ngồi cạnh Tổ Bán Hàng Trực Tiếp, tôi thỉnh thoảng phải bật cười vì cách Tiếp thị của các nhân viên. “Chị ơi, số này đẹp quá còn gì 333 9985 và 9986. Dãy số Tam Tài này ở Hà Nội, hãng khác làm gì có, chỉ có ở S Fone thôi. 99 85 và 86 cạnh nhau, lại là số Tài và số lộc đấy. Chị không quyết định ngay, ngày mai là Đại lý nó găm mất, muốn có lại phải thêm tiền…”

“Chị ơi, số này hợp phong thuỷ quá còn gì… Chị mạng Kim, hành hợp số 4 lấy 33 44 564 là tiến, lại gánh đều chị ạ…”

Thực ra, họ không sai vì sau chính sách tính cước 10s, dưới 10s không mất tiền, họ đã rất bận. Giờ kiến thức về “số” của khách đã tăng, nên phải bận cả chọn số bên cạnh công việc bán hàng. Chọn được 1 con số với những khách hàng dễ tính thì không khó, chỉ hợp nhãn khách là được. Nhưng với những khách chả biết về số, mà lại thích số đẹp thì thật oái oăm. Với việc tính cước 1 vùng trên toàn quốc, thông tin nhắn SMS, giảm cước thuê bao tới mức chắc rằng điện thoại di động còn rẻ hơn cố định, số lượng khách hàng vọt lên kinh người thì tình trạng số ĐẸP ĐẸP, kiểu dễ nhớ không còn là hiển nhiên, và tai tôi đã quen với những tư vấn lủng củng mà cũng dễ thương, dễ thông cảm này.

Tổ chính sách lại đang băn khoản về việc mở thêm dải số mới cho khách hàng. Việc đau đầu tìm thêm 1 triệu số mới cho mỗi vùng (Hà Nội & Hồ Chí Minh) với 3 số đầu HOÀNH TRÁNG, thuận tiện làm ăn, hợp phong thuỷ với khách lại đang được bàn cãi… Số sẽ được mở như thể nào nhỉ???


BÀI 2

Số “âm dương ngũ hành”: Cơn sốt mới trên thị trường simcard

Vận dụng “âm dương ngũ hành” để chọn số điện thoại là một phát kiến mới nhất trên thị trường simcard. Ông chủ của phát kiến này là Nguyễn Thế Dũng, Phó Giám đốc Công ty phát triển CNC Huy Hoàng, đại lý ủy quyền cấp 1 của Viettel mobile. Tấm phông đỏ chữ vàng “chọn số theo âm dương ngũ hành” che khuất cả mặt tiền cửa hàng 119 Chùa Bộc, thật sự gây chú ý và tò mò cho nhiều người đi đường. Trong tờ rơi giới thiệu về số theo âm dương ngũ hành, anh Dũng viết: “Theo thuyết âm dương ngũ hành thì mọi vật sinh ra đều có một bản mệnh phụ thuộc vào sự tương tác của qui luật tương sinh, tương khắc và được phân biệt rõ ràng thông qua sự định vị của 5 cặp số có vị trí tiên thiên... Bảng Hà Đồ chia 10 số đếm thành 2 loại số đối xứng nhau... Ngũ hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ khi tương tác với nhau cũng phải theo cơ chế hai chiều đối xứng là Âm và Dương, tức là cơ chế tương sinh và tương khắc. Đây là tinh thần căn bản của thuyết Ngũ hành. Theo đó, cứ hai Hành đứng kề cận nhau thì sinh cho nhau, luân chuyển mãi không ngừng, các Hành cách nhau thì khắc chế nhau, và cứ thế mà luân lưu mãi biểu thị cho triết lý cao siêu của sự thay đổi, dịch chuyển của vũ trụ tự nhiên...”.

Sau hai lần hẹn, chúng tôi cũng gặp được anh Dũng. Bình tĩnh, tự tin và... khá bí ẩn, anh Dũng nêu những vấn đề liên quan đến âm dương ngũ hành, số theo ngũ hành: “Mọi sự vật, hiện tượng đều có thể quy về âm dương ngũ hành để phân chia, sinh khắc, tốt xấu... và bản mệnh tương tác với các yếu tố khác mà thành ra hiện tượng. Nay tôi dựa vào Quy tắc của Lý đố đông phương (mà cụ thể là tử bình) để nêu ra các quy tắc chọn số, ai cũng cần có niềm tin, nhưng niềm tin phải dựa vào hiểu biết một cách khoa học. Tôi chỉ đưa ra cho vui thôi, nhưng qua sự chiêm nghiệm của các bạn, sẽ thấy đúng hay sai, hợp lý hay không...”.

Theo đó, việc phân chia số theo âm dương ngũ hành theo thập can như sau: số 1=Giáp=Dương mộc; số 2 =Ất=Âm mộc; số 3=Bính=Dương hỏa; số 4=Đinh=Âm hỏa; số 5=Mậu=Dương thổ; số 6=Kỷ=Âm thổ; số 7=Canh=Dương kim; số 8=Tân=Âm kim; số 9=Nhâm=Dương thủy; số 0 (hoặc có thể gọi là số 10)=Quý=Âm thủy. Trong đó số 0 là gốc, là số tận cùng nhưng “cùng tất biến” nên 0 là gốc của mọi dãy số cho tất các hệ thống viễn thông nói chung. Gọi đi quốc tế ta phải bấm 00 trước hết để quy về gốc rồi mới quay đến các số khác là ngọn, trong mạng di động đang nói, ta sẽ không tính tới số 0 này trừ khi nó tạo thành dạng sánh đôi như 090 của MobiFone.

Tuy nhiên, để chọn được số theo âm dương ngũ hành, khách hàng phải nói được ngày tháng năm sinh, từ đó tìm ra bản mệnh của mình. Tìm chọn số âm dương ngũ hành theo anh Dũng không có gì khó, vì mỗi mệnh lại ứng với một số nhất định, chứ không phải quan niệm theo kiểu 68 là lộc phát, 88 phát phát... “mỗi mệnh lại có những sự kết hợp khác nhau mà phải hiểu được quy luật của âm dương ngũ hành mới chọn đúng số. Ví dụ dãy số 77877 = hành Kim vượng hợp với mệnh Kim, Thủy đồng thời vì có dãy số sánh đôi nên duyên cầm sắt sẽ lâu bền. Giáp hợp kỷ hóa thổ: cặp số 1-6 Ất hợp Canh hóa Kim là 2-7, Bính hợp Tân hóa Thủy là 3-8, Đinh hợp Nhâm hóa Mộc là 4-9, Mậu hợp Quý hóa hỏa 5-0; Các dãy số 165, 166 là Giáp (1) hợp Kỷ (6) hóa Thổ (5,6). Nhưng 5 là Mậu dương Thổ hợp với mệnh Dương hơn do đó là 165 là cách hóa thổ hợp mệnh Dương thổ, Kim như Bính Thìn, Giáp Tý...

Nhiều người khác lại cho rằng, việc phát kiến chọn số theo “âm dương ngũ hành” chỉ là một “mẹo” kinh doanh của cửa hàng 119 Chùa Bộc, nhằm giành khách hàng, chia thị phần của những cửa hàng khác, và rộng hơn nữa là của những “ông chủ lớn” trên thị trường viễn thông di động ở Việt Nam. Nhưng dù mục đích gì thì những người phát kiến và triển khai việc chọn số theo âm dương ngũ hành đã làm được điều mà khách hàng cần: Tạo ra một dịch vụ cạnh tranh chất lượng thực, lành mạnh trong thị trường viễn thông di động ở Việt Nam.


Thủy tương ứng 1, 6
Mộc tương ứng 3,8
Hỏa tương ứng 2,7
Thổ tương ứng 5,10
Kim tương ứng 4,9

Các ngũ hành tương SINH được sắp xếp từ trên xuống dưới, tức là Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa......... cũng có nghĩa là Người mạng Thủy sẽ hợp với số 3,8; hoặc với 4,9 cũng được vì Kim sinh Thủy

Về nguyên tắc cân bằng âm dương: các số chẵn là dương, số lẻ là âm. Vì vậy nếu là 2 số âm dương đứng cạnh nhau và tránh tương khắc là tốt. Vd: 98 là số cân bằng âm dương, nhưng Kim khắc Mộc nên số này ko phải là tốt, nhưng ngược lại 89 thì Mộc lại ko khắc Kim (Mộc khắc Thổ cơ) nên số này lại thành đẹp.

Tất nhiên, chúng ta đừng nên cầu toàn quá, nếu đi vào chi tiết thì cũng chẳng có số nào đẹp hoàn hảo cả.

Mỗi người hãy chọn cho mình 1 con số ưa thích, và lấy nó là trọng điểm là được.


Vận dụng “âm dương ngũ hành” để chọn số điện thoại là một phát kiến mới nhất trên thị trường simcard. Ông chủ của phát kiến này là Nguyễn Thế Dũng, Phó Giám đốc Công ty phát triển CNC Huy Hoàng, đại lý ủy quyền cấp 1 của Viettel mobile. Tấm phông đỏ chữ vàng “chọn số theo âm dương ngũ hành” che khuất cả mặt tiền cửa hàng 119 Chùa Bộc, thật sự gây chú ý và tò mò cho nhiều người đi đường. Trong tờ rơi giới thiệu về số theo âm dương ngũ hành, anh Dũng viết: “Theo thuyết âm dương ngũ hành thì mọi vật sinh ra đều có một bản mệnh phụ thuộc vào sự tương tác của qui luật tương sinh, tương khắc và được phân biệt rõ ràng thông qua sự định vị của 5 cặp số có vị trí tiên thiên... Bảng Hà Đồ chia 10 số đếm thành 2 loại số đối xứng nhau... Ngũ hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ khi tương tác với nhau cũng phải theo cơ chế hai chiều đối xứng là Âm và Dương, tức là cơ chế tương sinh và tương khắc. Đây là tinh thần căn bản của thuyết Ngũ hành. Theo đó, cứ hai Hành đứng kề cận nhau thì sinh cho nhau, luân chuyển mãi không ngừng, các Hành cách nhau thì khắc chế nhau, và cứ thế mà luân lưu mãi biểu thị cho triết lý cao siêu của sự thay đổi, dịch chuyển của vũ trụ tự nhiên...”.

Theo đó, việc phân chia số theo âm dương ngũ hành theo thập can như sau: số 1=Giáp=Dương mộc; số 2 =Ất=Âm mộc; số 3=Bính=Dương hỏa; số 4=Đinh=Âm hỏa; số 5=Mậu=Dương thổ; số 6=Kỷ=Âm thổ; số 7=Canh=Dương kim; số 8=Tân=Âm kim; số 9=Nhâm=Dương thủy; số 0 (hoặc có thể gọi là số 10)=Quý=Âm thủy. Trong đó số 0 là gốc, là số tận cùng nhưng “cùng tất biến” nên 0 là gốc của mọi dãy số cho tất các hệ thống viễn thông nói chung. Gọi đi quốc tế ta phải bấm 00 trước hết để quy về gốc rồi mới quay đến các số khác là ngọn, trong mạng di động đang nói, ta sẽ không tính tới số 0 này trừ khi nó tạo thành dạng sánh đôi như 090 của MobiFone.

Tuy nhiên, để chọn được số theo âm dương ngũ hành, khách hàng phải nói được ngày tháng năm sinh, từ đó tìm ra bản mệnh của mình. Tìm chọn số âm dương ngũ hành theo anh Dũng không có gì khó, vì mỗi mệnh lại ứng với một số nhất định, chứ không phải quan niệm theo kiểu 68 là lộc phát, 88 phát phát... “mỗi mệnh lại có những sự kết hợp khác nhau mà phải hiểu được quy luật của âm dương ngũ hành mới chọn đúng số. Ví dụ dãy số 77877 = hành Kim vượng hợp với mệnh Kim, Thủy đồng thời vì có dãy số sánh đôi nên duyên cầm sắt sẽ lâu bền. Giáp hợp kỷ hóa thổ: cặp số 1-6 Ất hợp Canh hóa Kim là 2-7, Bính hợp Tân hóa Thủy là 3-8, Đinh hợp Nhâm hóa Mộc là 4-9, Mậu hợp Quý hóa hỏa 5-0; Các dãy số 165, 166 là Giáp (1) hợp Kỷ (6) hóa Thổ (5,6). Nhưng 5 là Mậu dương Thổ hợp với mệnh Dương hơn do đó là 165 là cách hóa thổ hợp mệnh Dương thổ, Kim như Bính Thìn, Giáp Tý...

Thuyết Âm Dương - Ngũ Hành xuất phát từ Kinh Dịch cổ. Nguồn gốc của thuyết này là từ một mô hình tối cổ về các con số gọi là Hà Đồ. Tương truyền do trời ban cho vua Phục Hy, một ông vua thần thoại của Trung Hoa, cách đây khoảng 4000 năm. Khi Ngài đi tuần thú Phương Nam, qua sông Hoàng Hà, bỗng thấy một con Long Mã hiện lên, trên lưng nó có những chấm đen trắng.

Khi về Ngài mới phỏng theo mà vẽ lại thành một bảng ký hiệu 10 số đếm bằng các chấm đen và trắng, xếp thành hai vòng trong và ngoài, theo đúng 4 phương: Nam, Bắc, Đông, Tây. Ở chính giữa là hai số 5 và 10. Ngài gọi là Hà Đồ, tức là bức đồ trên sông Hoàng Hà (chỉ là hình vẽ chứ không có chữ vì sự phát minh thuộc thời chưa có chữ viết).

Bảng Hà Đồ chia 10 số đếm thành 2 loại số đối xứng nhau:

Số Dương, số Cơ, số Trời: 1, 3, 5, 7, 9 (chấm trắng).

Số Âm, số Ngẫu, số Đất: 2, 4, 6, 8, 10 (chấm đen).

Số Sinh: 1, 2, 3, 4, 5.

Số Thành: 6, 7, 8, 9, 10.

Tuy nhiên, trong Hà Đồ không phải chỉ có Âm Dương, bởi vì chỉ riêng cơ chế Âm Dương thì không đủ giải thích mọi biến thiên phức tạp của vũ trụ. Trong đồ hình còn có cả nội dung tương tác của 10 số đếm, thông qua sự định vị 5 con số đầu tiên là 5 con số Sinh, đại diện cho 5 yếu tố vận động trong vũ trụ, đã được ghi rõ trong bài ca quyết:

Thiên nhất sinh Thủy, Địa lục thành chi.
Địa nhị sinh Hỏa, Thiên thất thành chi.
Thiên tam sinh Mộc, Địa bát thành chi.
Địa tứ sinh Kim, Thiên cửu thành chi.
Thiên ngũ sinh Thổ, Địa thập thành chi.


Nghĩa Là:

Số Trời 1 sinh Thủy, thành số Đất 6.
Số Đất 2 sinh Hỏa, thành số Trời 7.
Số Trời 3 sinh Mộc, thành số Đất 8.
Số Đất 4 sinh Kim, thành số Trời 9.
Số Trời 5 sinh Thổ, thành số Đất 10.


Như vậy Ngũ Hành đã được định cùng với 5 cặp số Sinh Thành ra chúng, có vị trí Tiên Thiên theo đúng các hướng của các cặp số:

1-6: Hành Thủy, phương Bắc.
2-7: Hành Hỏa, phương Nam.
3-8: Hành Mộc, phương Đông.
4-9: Hành Kim, phương Tây.
5-10: Hành Thổ, ở Trung Tâm.


Ngũ Hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ khi tương tác lẫn nhau cũng phải theo cơ chế hai chiều đối xứng là Âm và Dương, tức cơ chế Tương Sinh và Tương Khắc. Đây là tinh thần căn bản của thuyết Ngũ Hành. Theo đó cứ hai Hành đứng kề cận nhau thì sinh cho nhau, luân chuyển mãi không ngừng, các Hành cách nhau thì khắc chế nhau, và cứ thế mà luân lưu mãi, biểu thị cho triết lý cao siêu của sự đổi thay, biến dịch của vũ trụ tự nhiên

Tác giả: Công Nam Phương
Bài đã đăng trên TXTV số 21, ra ngày 07/06/2004
__________________
Tôi có một ham muốn tột bậc là...không ham muốn gì

Tại sao mệnh Thủy thành Hỏa hay Hỏa thành Thủy? vào đây khắc rõ
thichmactien is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 09-04-2008   #4
thichmactien
Hội viên
 
thichmactien's Avatar
 
Tham gia ngày: Oct 2005
Nơi Cư Ngụ: Vietnam
Bài gởi: 7.897
Thanks: 12
Thanked 409 Times in 245 Posts
Blog Entries: 5
Các con số có phương pháp "lý luận" của nó nên gọi là lý số. Gốc của Khoa học phương đông là Lý Số, Kinh Dịch phát triển thành các môn khoa học dự đoán khác như Chọn ngày, Tử vi, tử bình, Hà lạc, bốc dịch... Nay thử bàn về lý của những con số trong số điện thoại di động của nước ta hiện nay xem sao.

-Hiện nay, người ta thường dựa vào âm tiết, cách phát âm của các số để quy số đẹp xấu, ví dụ 68 là lộc phát, 88 phát phát... Cách chọn số này phi khoa học và không có ích lợi gì. Chẳng hạn bẻ lộc đầu xuân, ta nên biết trong tiếng Hán chữ Lộc (tiền tài) khác hẳn chữ lộc (mầm non của cây, gỗ) thế nhưng vì tin sự trùng âm này mà ai cũng thích làm một việc vô bổ là bẻ mầm cây cối, tàn phá môi trường thiên nhiên, đây mới gọi là mê tín. Nếu thế thì Tử (chết) và tử (con) đồng âm, vậy năm nào muốn sinh con thì phải có chết chóc???
-Mọi sự vật hiện tượng trên đời đều có thể quy về âm dương ngũ hành để luận phân chia, sinh khắc, tốt xấu v.v...và bản mệnh tương tác với các yếu tố khác mà thành ra các hiện tượng. Nay tôi dựa vào Quy tắc của Lý số đông phương (mà cụ thể sẽ là tử bình) để nêu ra các quy tắc chọn số, ai không tin thì thôi, chả quan trọng gì. Tôi chỉ viết ra cho vui, nhưng qua sự chiêm nghiệm của các bạn sẽ thấy đúng hay sai, hợp lý hay không.

I) Phân chia các con số theo âm dương ngũ hành thập can:
- số 1= Giáp = Dương Mộc
- số 2= Ất = âm mộc
- số 3= Bính = Dương Hoả
- số 4= Đinh = âm hoả
- số 5= Mậu = Dương Thổ
- số 6= Kỷ = âm thổ
- số 7= Canh = Dương Kim
- số 8= Tân = âm Kim
- số 9= Nhâm = Dương Thuỷ
- số 0 (hoặc có thể gọi là số 10)= Quý = âm thuỷ

Trong đó số 0 là gốc, là số tận cùng nhưng "cùng tất biến" nên 0 là gốc của mọi dãy số cho tất cả hệ thống viễn thông nói chung. Gọi đi quốc tế ta phải bấm 00 trướt hết để quay về gốc rồi mới đi đến các số khác là ngọn, trong mạng di động đang nói, ta sẽ không tính tới số 0 này trừ phi nó tạo thành dạng sánh đôi như 090 của Mobiphone.

*Quy tắc sinh khắc ai cũng biết: Mộc-->Hoả-->Thổ-->Kim-->Thuỷ

-Liên tục thì tương sinh: Mộc sinh Hoả, Hoả sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thuỷ, Thuỷ lại sinh Mộc thành vòng tròn khép kín liên tục:
-Cách ngôi thì tương khắc: như trên Mộc cách Thổ 1 ngôi là Hoả nên Mộc khắc Thổ, tương tự Hoả khắc Kim, Thổ khắc Thuỷ, Kim khắc Mộc, Thủy khắc Hoả.

II) Áp dụng vào Luận đoán các mạng di động hiện nay:

Ta biết 1 số di động bất kỳ gồm 10 chữ số, 3 số đầu như 090, 091, 095, 098 gọi là dãy số đầu tiên (hoặc số gốc) tương ứng với tiềm năng và sự phát triển của mỗi mạng di động.

-VD1: Mạng Vinaphone: 091 = bỏ số 0 là số gốc còn 91= Nhâm- Giáp. Phân tích số 9 đầu là chỉ Sự may mắn, phúc đức, sự thuận lợi, còn số 1 (sau) là chỉ tài năng thực lực. Trước khi luận về các mạng di động, ta hãy tìm hiểu sơ qua cách thức tương tác giữa hai yếu tố kể trên:

+Nếu ta sinh năm Giáp Tí ta biết rằng: chữ Giáp (Dương Mộc) ở trước là chỉ phúc đức, may mắn, còn chữ Tí (Dương Thuỷ) ở sau chỉ Tài năng, thực lực, khả năng. Thuỷ sinh Mộc vậy chữ Giáp được tương sinh vượng nên người tuổi Giáp Tí gặp may mắn hơn là có thực lực.
+ Tuổi Giáp Thân: Thân (Kim) khắc Giáp (Mộc) người này tài năng làm hại tới sự may mắn, nói cách khác có tài năng thì thành ra kém may mắn đi. Xấu nói chung.
+Tuổi Giáp Dần: Dần (Mộc) gặp Giáp (Mộc) bình hoà nên sự may mắn hay phúc đức và năng lực, tài năng đều vượng. Cách này được coi tốt nhất.
+Tuổi Giáp Ngọ: Giáp (Mộc) sinh Ngọ (Hoả) nên người tuổi này có Nănglực hơn người nhưng may mắn thì kém đi (vì sinh vượng cho tài năng).

-Quay về các mạng di động ta có

1) Vinaphone: 091 = Nhâm (may mắn) + Giáp (tài năng), vì Nhâm sinh Giáp nên mạng này có thực lực vượt trội. Rõ ràng có thằng nào qua mặt được Vinaphone về vùng phủ sóng, số thuê bao có phải không. Nhưng vì may mắn bớt đi (sinh xuất bị tiêu hao) nên sẽ kém vui ở chỗ: hay bị người tiêu dùng ghét vì luôn nghẽn mạng. Đúng chưa? Ngoài ra luận thêm vì Giáp được tương sinh nên mạng này có ngũ hành chính là hành Mộc. Ngũ hành này sau sẽ được ứng dụng để nói nó có ích gì cho việc chọn mạng di động phù hợp với mỗi người.

2) Mobifone: 090 = (Quý) Nhâm Quý. Tài năng và thực lực tương đương, thằng này phát triển bình thường, không mặt nào trội yếu cả. Ngũ hành chính của nó là hành Thuỷ. Nói về tương sinh ngũ hành thì sau này Mobifone sẽ trợ giúp cho Vinafone phát triển thêm ít nhiều, cứ chờ xem. Ngoài ra còn quy tắc sánh đôi 090, sau này rảnh sẽ luận thêm.

3) Sfone: 095:= Nhâm - Mậu. Mậu phá Nhâm, chết rồi thằng này tài năng quá đâm ra bị nhiều cái không may. Rõ ràng mạng CDMA là mạng sử dụng công nghệ tân tiến hơn, vượt trội về tài năng, thế mà cứ chật vật bị thằng Vinaphone chèn ép đủ kiểu, rõ là tài năng hơn mà may mắn kém. Thậm chí Vinaphone còn coi thằng này là đối thủ tiềm năng trong tương lai. Ngũ hành của thằng này là Thổ (vì Mậu khắc thắng Nhâm). Vì ngũ hành của Sfone là Thổ nên thằng này bị Vinaphone (Mộc) khắc rất mạnh và e khó thắng nổi Vinaphone lắm. Ngoài ra sẽ chật vật đấu tránh với 2 thằng khác là hành Thuỷ như Mobifone hay Viettel. Tuy nhiên sẽ hợp với người mệnh Thổ đấy

4) Viettel: 098 = Nhâm – Tân: Tân (kim) sinh Nhâm (thuỷ) nên thằng này may mắn nhiều hơn, tài năng kém hơn về mặt lý thuyết. Chẳng phải đúng sao, nó ra đời sau mà hớt tay trên của thằng Vinaphone bao nhiêu nhờ dùng cùng một công nghệ mạng GSM. Biết bao thuê bao của 2 mạng Vinaphone và Mobiphone chuyển sang dùng Viettel nhờ giá rẻ... Ngũ hành chính của thằng này là Thuỷ (vì thuỷ được sinh vượng).

5) Thử bình về mạng 092 (CDMA Điện lực) xem nhé: 092= Nhâm Ất, thằng này Nhâm sinh Ất nên tài năng sẽ trội hơn sau này (thằng này dự kiến lên thẳng mạng CDMA 3G đấy). Tuy nhiên vì Dương sinh âm nên sức tương sinh không lớn lắm như thằng Vinaphone. Ngũ hành chính của mạng này là Mộc, chắc sẽ khắc thắng thằng Sfone sau này (nếu bắt đầu hoạt động).

Xem chừng bác Sfone long đong lật đật đây vì toàn bị khắc và khắc.


Chú ý rằng Đồng âm dương thì mức độ sinh khắc vượt hơn nhiều. Chẳng hạn Dương sinh Dương hoặc Âm sinh Âm thì tương sinh mạnh hơn như trường hợp Vinaphone 091= Nhâm- Giáp, Nhâm (Dương Thuỷ) sinh Giáp(Dương Mộc). Còn 098, 092 thì Dương sinh âm hay âm sinh Dương nên kém hơn nhiều.


Bây giờ sẽ nói tới chuyện những lý luận kia có ích gì cho chúng ta.

1) Với ngũ hành nạp âm tuổi:

a) Tuổi Giáp Dần , ngũ hành nạp âm là Thuỷ. Nếu dùng Vinafone thì sẽ nhiều tiền vì nó, dùng Mobifone hoặc Viettel thì tốt hơn vì đồng hành Thuỷ, dùng Sfone thì không ổn (bị khắc).

b) Tuổi Bính Thìn, hành Thổ thì dùng Sfone lại là tốt nhất vì đồng hành Thổ, dùng Vinaphone thì kém may mắn, dùng Mobi hoặc Viettel thì bị vây hãm khó khăn (mình khắc nó thì mình cũng bị tù túng)

2) Với Can Chi Tuổi tách ra:

a) Tuổi Giáp Dần có 2 chữ Giáp mộc và Dần cũng Mộc, dùng Vina thì Mộc vượng quá, năng lực và may mắn đều có (nhưng sẽ tốn tiền theo quy tắc 1), dùng Mobi hoặc Viettel thì tốt vì được Thuỷ tương sinh cho cả can chi.


Các bạn có bao giờ tự hỏi, liệu các dãy số tứ quý, ngũ phúc, lục ... gì đó như 5555, 8888, 7777, có phải thực sự tốt không. Trước hết xin thưa nó đẹp vì dễ nhớ, còn tốt phải tuỳ mỗi người.

-5555= Mậu Mậu Mậu Mậu, toàn thổ, số này thổ cực vượng, nếu trong dãy 7 số còn lại có số 6 hoặc 3 thì là cách thổ cực vượng hợp với người mệnh thổ. Nhưng người Bính Thìn, Đinh Tỵ cẩn thận vì Bính Đinh là can Hoả sinh xuất quá nhiều cho dãy số nên khá mệt nhọc vì dãy số trên. Kiểu như hay bị người gọi vu vơ đến để trêu, nhắc máy nhiều hết hơi. Nhưng với Mệnh thổ thì khá hợp.

- Dãy 090 4555588 thì mạng gốc 090 hợp mệnh Thuỷ của bạn là điểm tốt đầu tiên. Thổ vượng 5555 nhưng may có hai số cuối 88 là Tân (hành Kim) làm tiêu hao bớt Thổ sinh cho mệnh Thuỷ của bạn nên khá tốt.

-Những dãy số liên tục kiểu như: 0912345678 thì thế nào: xin thưa, 12 sinh cho 34, 34 lại sinh cho 56, 56 lại sinh cho 78 vậy dãy số này cựcvượng ở hành Kim (78=Canh Tân), người mệnh thổ dùng nó thì mệt nhọc vì Thổ sinh Kim nhiều quá thành ra phản sinh , mệnh Kim dùng nó thì lạnh lùng (vì kim quá vượng), mệnh Hoả không tốt vì Hoả khắc Kim nhưng Kim vượng thành ra phản khắc Hoả bị thiệt hại vì Kim. Chỉ tốt nhất cho người mệnh Thuỷ hoặc người có hàng Can năm sinh là Nhâm Quý, nhưng chi năm sinh nên là Hợi Tí thì tốt nhất. Người mệnh Thuỷ sẽ được lợi lộc nhiều từ số này còn các mệnh khác đều gặp chuyện không hay vì nó. Bây giờ bạn cứ thử gọi xem chủ số thuê bao này có nhắc máy không, không vì hình như chủ của nó không khoái nó lắm.

- Tương Tự số 0988888888 cũng là cách Kim độc Vượng chỉ hợp mệnh Thuỷ là tốt nhất (không biết ông nào hôm nọ đấu giá được số này có biết không nhỉ?)


Có thời gian tôi mới luận tiếp về các quy tắc đối với những dãy số khác, nói chung khá phức tạp đấy Tôi khuyên ông Cốp nào định mở mạng di động mới thì nên chọn 097 (vì Nhâm-Canh thì Canh 7 sinh cho Nhâm 9) tuy kém thực lực nhưng sẽ may mắn. Tốt nhất là 094 vì để được lợi thế nhờ toàn những thằng hành Thuỷ (Mobi, Viettel) và Mộc (Vinaphone) hiện nay thì nên chọn 094 (Nhâm- đinh). Tại sao vì Nhâm hợp đinh hoá Mộc cách . Cách mộc này vượng mà tương hợp cả tài năng và may mắn (vì hợp là rất đẹp), trong số gốc lại có cả 3 hành Thuỷ Mộc Hoả tương sinh liên tục nên sẽ phát triển không ngừng về thực lực mà vẫn may mắn. Ngoài ra vì Mộc này được các thằng Thuỷ khác tương sinh nên liên tục phát triển và hớt tay trên kẻ địch. Tuy nhiên Mạng này nên dựa vào thằng Vinaphone không nên đối địch với nó vì nó cũng hành Mộc giúp mình rất nhiều.

(st)



__________________
Tôi có một ham muốn tột bậc là...không ham muốn gì

Tại sao mệnh Thủy thành Hỏa hay Hỏa thành Thủy? vào đây khắc rõ
thichmactien is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 09-04-2008   #5
thichmactien
Hội viên
 
thichmactien's Avatar
 
Tham gia ngày: Oct 2005
Nơi Cư Ngụ: Vietnam
Bài gởi: 7.897
Thanks: 12
Thanked 409 Times in 245 Posts
Blog Entries: 5
Số đứng trước: Số trời, số mệnh, số chẵn, số lẻ, số lượng, số nhân, số chia, số nhà, số xe, số đỏ... Số thứ tự, số tử vi, số đào hoa, số độc đắc.

Số đứng sau: Hằng hà sa số, tận cùng bằng số, đức năng thắng số... Mẫu số, tử số, căn số, phân số, trị số, tổng số, tần số, mã số, ẩn số, duyên số, cây số, gài số, sang số, bảng số, sai số, đáp số, quân số, tướng số, vô số, xổ số, mua số. Người ta mong nhất là trúng số nhưng lại ghét và sợ nhất hai chữ ''tới số'' hay ''xấu số'' hoặc ''tận số'' đến với mình.

Các vị cao niên thường nói: ''Giày dép còn có số, nói chi đến xe cộ hay con người!''.

Tại Úc, trong khoảng thời gian từ năm 1984 - 2003, người ta thường thấy nhiều xe mang bảng số lưu hành có các con số 7 như: 667, 767, 777. Bước qua năm 2004 đến nay, các bảng số 7 đều biến mất, thay vào đó có rất nhiều xe với các con số 8 như: 88, 838, 868 hay 888 trên bảng số. Nhiều đến nổi có người vào RTA xin bảng số có nhiều số 8 cũng không còn là tại sao?

Tại vì các con số 8 là số vượng khí của lưu niên vận 8. Do chỉ điểm của các nhà Thuật số nên nhiều người đăng bộ lấy các số 8 với niềm tin nhờ khí vận tốt lành mà cuộc đời họ được bình an và may mắn. Nhưng thật ra họ nghe không rõ nên đôi khi ứng dụng sai với lý của Thuật số. Để giải tỏa phần thắc mắc của quý độc giả, Vô Chiêu xin luận bàn về những con số tốt xấu theo Thuật số để quý vị nghiên cứu.

Trước hết xin được nhắc lại về Hà đồ và Lạc thư.

Hà đồ

Theo truyền thuyết, con Long Mã đội đồ bản xuất hiện trên sông Hoàng Hà, đồ bản này là do trời ban cho Phục Hi để trị vì thiên hạ. Trong đồ bản có 55 chấm đen trắng, người ta gọi là Hà Đồ.

Hà Đồ có hai vòng trong và ngoài với các con số chỉ bốn phương Đông Tây Nam Bắc: Đông bên trái, Tây bên phải, Nam ở trên và Bắc bên dưới. Số dương (thiên) gồm các con số lẻ có chấm tròn trắng như số: 1, 3, 5, 7, 9. Cộng được 25 gọi là số trời. Số âm (địa) là các con số chẵn có chấm tròn đen: 2, 4, 6, 8, 10. Cộng lại thành 30 gọi là số đất. Do số âm lớn hơn dương nên từ đó người ta luôn gọi là âm dương chớ không gọi dương âm.

Các con số chỉ bốn phương: Đông = 3; Tây = 4; Nam = 2, Bắc = 1 và Trung cung = 5.
- Phương Đông: 3 dương + 5 dương = 8 âm (chấm đen).
- Phương Tây: 4 âm + 5 dương = 9 dương (chấm trắng).
- Phương Nam: 2 âm + 5 dương = 7 dương (chấm trắng).
- Phương Bắc: 1 dương + 5 dương = 6 âm (chấm đen).
- Trung ương: 5 dương + 5 dương = 10 âm (chấm đen).

Vì thế nên người ta gọi các số 1, 2, 3, 4, 5 là số sinh và các số 6, 7, 8, 9, 10 là số thành (biến). Tổng cộng là 55.

Người xưa lý luận rằng, ở phương Bắc có nhiều mưa, lạnh lẽo nên thuộc hành Thủy. Phương Nam nhiều nắng nóng, thuộc hành Hỏa. Phương Đông ấm áp nên cây cối tươi tốt thuộc hành Mộc. Phương Tây mát mẻ hành Kim. Trung ương là đất nuôi dưỡng và cũng là nơi nhận lại tất cả nên nó thuộc hành Thổ. Do đó cặp số 1-6 là biểu thị số sinh và số thành của Thủy; cặp 2-7: Hỏa; cặp 3-8: Mộc và cặp 5-10: Thổ. Nhìn vào các con số trên người ta thấy nó hình thành trục tung Nam-Bắc, trục hoành Đông-Tây.

Lạc Thư

Tương truyền rằng vua Vũ nhân dịp đi du ngoạn trên sông Lạc Thủy (nhánh của Hoàng Hà) thấy rùa thần nổi lên ban cho kỳ thư trị thủy. Trên mai cụ rùa có nhiều chấm đen trắng, cho là điềm lành nên vua Vũ gọi kỳ thư này là Lạc Thư.

Lạc Thư gồm những chấm trắng đen cộng lại thành 45 như sau:
Số dương gồm những chấm trắng: 1, 3, 5, 7, 9 cộng thành 25 (giống Hà Đồ).
Số âm gồm chấm đen: 2, 4, 6, 8 cộng thành 20 (kém hơn Hà Đồ 10).

Biểu tượng cho số dương hay âm của Lạc Thư đều như Hà Đồ, nhưng số có phần khác biệt: Số 5 ở giữa gọi Ngũ trung thuộc hành Thổ; số 3 ở phương Đông (Mộc); số 7 ở phương Tây (Kim); số 9 ở phương Nam (Hỏa); số 1 ở phương Bắc (Thủy). Số 2 ở Tây Nam (Thổ); số 4 ở Đông Nam (Mộc); số 6 ở Tây Bắc (Kim); số 8 ở Đông Bắc (Thổ). Nếu để Lạc Thư chồng lên Hậu thiên Bát quái chúng ta sẽ thấy có sự tương quan chặt chẽ ở các hướng.

Trên hình của Lạc Thư nhìn từ trái qua phải, từ trên xuống dưới, rồi cộng hàng ngang hay hàng dọc hoặc đường chéo đều bằng 15. Hình vuông này được gọi là ma phương (hình 10). Nó cũng đã được người Tây phương tìm thấy vào thời Trung cổ và sau này được nhà triết và toán học Pythagore công nhận là bản thể của vạn vật trong vũ trụ (vũ trụ luận).

Theo Hà Đồ

* Số 1 là Thiếu dương, là số khởi đầu cho việc sinh ra các số âm dương khác: 1 + 2 = 3; 1 + 3 = 4; 1 + 4 = 5; 1 + 6 = 7...
* Số 2 là Thiếu âm, là số sinh ra các số âm khác:
- Âm + âm = Âm. Như: 2 + 2 = 4; 2 + 4 = 6; 4 + 4 = 8...
* Số 3 là Thái dương do Thiếu dương 1 + Thiếu âm 2.
- Dương + dương = Âm. Như: 1 + 3 = 4; 3 + 3 = 6; 3 + 5 = 8...
* Số 4 là Thái âm do Thiếu dương 1 + Thái dương 3; hoặc hai Thiếu âm 2 + 2.
- Dương biến thành âm: 1 + 1 = 2; 1 + 3 = 4; 1 + 5 = 6; 1 + 7 = 8; 1 + 9 = 10. Dương động.
- Âm thì vẫn hoàn âm: 2 + 2 = 4; 2 + 4 = 6; 4 + 4 = 8; 8 + 2 = 10. Vì bất biến nên người ta bảo là âm tịnh.

Theo Lạc Thư

Số 5 của đất thuộc Thổ, là số để các số âm dương tiếp xúc với nó để biến:

- Lấy số dương: 1, 3, 5, 7, 9 cộng hay trừ 5 đều biến thành số âm, cho thấy dương sinh âm.
- Lấy số âm: 2, 4, 6, 8 cộng hay trừ 5 đều trở thành số dương, cho thấy âm sinh dương.

Nếu bỏ số 5 ở giữa, tổng cộng các số âm và dương đều bằng nhau. Các số dương ở bốn phương chính, các số âm ở bốn hướng phụ.

Xét luận các con số

Các nhà Thuật số xét các con số để luận tốt xấu:

Theo âm dương

Số dương gồm: 1, 3, 5, 7, 9. Số âm gồm: 0, 2, 4, 6, 8, 10.
Nếu các con số thuộc âm hoặc dương quân bình và có chiều hướng đi lên (thuận tiến) thì tốt, nó mang lại sự tốt lành cho người chủ hay người liên hệ. Còn ngược lại dãy số mà âm dương mất quân bình thì xấu và nếu như nó đã mất quân bình vừa đi xuống thì càng xấu hơn. Quân bình là các con số âm và số dương bằng nhau, một âm thì một dương, 2 âm thì 2 dương, tuy nhiên một hay hai số chênh lệch cũng không sao nếu là một chuỗi số. Xấu nhất là những chuỗi số thuần dương hay thuần âm (bất sinh).

Thí dụ:
Số thuần dương: 579, 1357...
Số thuần âm: 046, 6080...
Số âm dương cân bằng và đi lên như: 58, 5689... Tốt.
Số âm dương cân bằng và đi xuống như: 85, 9856... Không được tốt.
Số thuần dương đi lên: 35, 357, 1379... Xấu
Số thuần dương đi xuống 53, 753, 9731... Rất xấu.

Theo ngũ hành

Các nhà Thuật số tính ngũ hành của các con số theo Cửu tinh. Nhất bạch, nhị hắc, tam bích, tứ lục, ngũ hoàng, lục bạch, thất xích, bát bạch và cửu tử nên: Số 1 hành Thủy; số 0, 2, 5 và 8 hành Thổ; số 3 và 4 hành Mộc; số 6 và 7 hành Kim; số 9 hành Hỏa.

Ngũ hành của các con số cần phải tương sinh, hoặc đồng hành với ngũ hành của mạng chủ mới tốt. Còn như hành của mạng chủ bị hành của con số khắc thì xấu. Thường tính số cuối cùng, nếu trong chuỗi số có nhiều số giống nhau thì tính hành của các số đó cho chuỗi số.

- Số có hành là Kim thì tốt cho người mạng Thủy hoặc mạng Kim. Nó gây ảnh hưởng xấu cho người mạng Mộc, làm hao tổn cho người mạng Thổ: 16, 67, 276, 6267...
- Số hành Mộc, tốt cho người mạng Hỏa hoặc mạng Mộc. Nó gây ảnh hưởng xấu cho người mạng Thổ, làm hao tổn cho người mạng Thủy: 23, 34, 434, 9344, 03383...
- Số hành Thủy, tốt cho người mạng Mộc hay mạng Thủy, xấu cho người mạng Hỏa, làm tổn hao cho người mạng Kim: 21, 41, 411, 2581, 10581, 101681...
- Số hành Hỏa, tốt cho người mạng Hỏa hoặc mạng Thổ, xấu cho người mạng Kim, làm hao tổn cho người mạng Mộc: 29, 69, 499, 4389, 20599, 430899,
- Số hành Thổ, tốt cho người mạng Kim hoặc mạng Thổ, xấu cho người mạng Mộc, làm hao tổn cho người mạng Hỏa: 25, 58, 208, 2058, 25082, 802258...

Theo lưu niên vận

Các con số cần phải hợp với số tốt của lưu niên vận mới đặng tốt.

Một tam ngươn có 9 lưu niên vận, mỗi ngươn có 3 vận.

- Thượng ngươn: Vận 1 khởi đầu từ năm Giáp tý 1864 đến 1883. Vận 2 khởi từ năm Giáp Thân 1884-1903. Vận 3 khởi từ năm Giáp Thìn 1904-1923.
- Trung ngươn: Vận 4 khởi từ năm Giáp Tý 1924-1943. Vận 5 khởi từ năm Giáp Thân 1944-1963. Vận 6 khởi từ năm Giáp Thìn 1964-1983.
- Hạ ngươn: Vận 7 khởi từ năm Giáp Tý 1984-2003. Vận 8 khởi từ năm Giáp Thân 2004-2023. Vận 9 khởi từ năm Giáp Thìn 2024-2043. Sau đó bắt đầu lại từ vận 1 của Tam ngươn mới.

Năm 2003 thuộc vận 7 thì số 7 là số vượng khí, nhưng đến 2004 thì số 8 là số vượng khí, số 7 bị lỗi thời trở thành số xấu, mang nhiều bất lợi về mặt tài lộc, thị phi cho những ai gặp nó, nhất là về nữ giới.

Hiện tại đang ở vận 8, là vận tốt nhất nên được nhiều cát tinh chiếu, phát ra nhiều sự tốt lành cho: Số 2, 8: Vượng khí, rất tốt. Số 1, 3, 4, 6: Sinh khí, tốt. Số 0: Bình, tùy thuộc con số đứng sau nó. Các con số tốt này phải theo chiều hướng đi lên thì mới đạt được sự tốt đẹp nhất.

Không nên dùng đến số 5, 7, 9, vì số 5: Mặc dù có sinh khí nhưng không tốt. Số 7: Đã phát hết khí nên lỗi thời, xấu. Số 9: Bị suy khí, xấu.

Một số người nghĩ rằng chọn các số cộng lại thành số 9 thì sẽ gặp nhiều may mắn, nhưng họ đâu biết rằng họ đang làm sai nguyên tắc của Thuật số. Họ chọn các số: 009, 225, 117, 252, 711 hay 117... là những số xấu vì có cửu tử, thất xích, ngũ hoàng và các số 1 và 7 là số dương!

Nhìn vào các con số 88, 888 và 8888, nhiều người tưởng rằng càng nhiều số 8 thì càng tốt, nhưng thật ra nó là số thuần âm thiếu số dương nên không tốt. Muốn tốt cần phải có thêm số dương bên cạnh để âm dương hòa hợp và số phải đi lên: 81, 138, 388, 1388. Nếu mệnh chủ hành Thổ hay Kim thì các số này là số tốt đẹp. Nếu mệnh chủ hành Thủy thì nó trở nên xấu. Nếu mệnh chủ hành Hỏa thì không được tốt lành.

Tóm lại

- Những con số tốt đẹp là những con số mà âm dương hòa hợp, tương sinh cho ngũ hành của bản mệnh và được vượng khí trong lưu niên vận.
- Những con số xấu là những con số bị mất quân bình về âm dương, tương khắc với ngũ hành bản mệnh và bị suy khí theo lưu niên vận.

Thầy Vô Chiêu
__________________
Tôi có một ham muốn tột bậc là...không ham muốn gì

Tại sao mệnh Thủy thành Hỏa hay Hỏa thành Thủy? vào đây khắc rõ
thichmactien is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Những hội viên sau cảm ơn thichmactien vì bài viết hữu ích :
Trả lời


Ðang đọc: 1 (0 thành viên và 1 khách)
 
Ðiều Chỉnh
Xếp Bài

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn
Bạn không được quyền gởi bài
Bạn không được quyền gởi trả lời
Bạn không được quyền gởi kèm file
Bạn không được quyền sửa bài

vB code đang Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Mở
Chuyển đến