Hỏi/Ðáp Lịch Tìm Kiếm Bài Trong Ngày Ðánh Dấu Ðã Ðọc
Welcome
Trang Ðầu
Ghi Danh
Hỏi/Ðáp
Login Form
Nhà tài trợ
Công cụ
Thống kê
  • Ðề tài: 15,064
  • Bài gởi: 153,514
  • Thành viên: 4,745
  • Số người đang xem: 163
  • Xin cùng nhau chào đón abcde2011 là thành viên mới nhất.
Liên kết website
Go Back   chân thuyên > TÍN NGƯỠNG - TÔN GIÁO > TÔN GIÁO > Đạo Phật

Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
Old 27-10-2007   #1
nguyenle
Hội viên
 
nguyenle's Avatar
 
Tham gia ngày: Sep 2007
Bài gởi: 432
Thanks: 10
Thanked 14 Times in 13 Posts
Blog Entries: 2
Kiến trúc Thiền viện và Thiền phái Trúc lâm




Bàn về kiến trúc Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên
KTS. Nguyễn Tiến Hiệp
Trong bài diễn văn khai mạc lễ đặt đá xây dựng Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên, Thiền sư Thích Thanh Từ, Viện trưởng Thiền viện Trúc Lâm Đà lạt, người có ảnh hưởng lớn nhất đến việc xây dựng các Thiền viện Trúc Lâm ở Việt Nam trong đó có Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên và là người mang tâm nguyện lớn lao làm sống lại tinh thần Thiền phái Trúc Lâm của dân tộc, đã nói:
"…Ngày nay, Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên được hình thành trên phế tích của một nền chùa cổ có tên là Thiên Ân Thiền Tự. Đây cũng là nhân duyên của Thiền phái Trúc Lâm với chốn Tổ ở Tây Thiên. Ngoài chức năng trùng hưng lại một trung tâm Phật giáo Việt Nam thời Hùng Vương, góp phần tôn tạo cảnh quan cho khu di tích danh thắng Tây Thiên, Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên còn là nơi tạo tiền đề cho những công trình nghiên cứu, khai quật kế tiếp sau này nhằm làm sáng tỏ giá trị của Phật giáo Tây Thiên, cái nôi của Phật giáo Việt Nam. Qua đó Thiền phái Trúc Lâm đã cùng với Giáo Hội góp phần phát huy và bảo tồn bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam. Đây là duyên cớ khiến chúng tôi quan tâm đến danh thắng Tây Thiên và cho tiến hành xây dựng Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên.
Hiện nay, trong khi còn chờ đợi những phát hiện mới về khảo cổ học ở Tây Thiên, theo chúng tôi, qua các nguồn sử liệu và lịch sử phát triển của dân tộc, có thể nói - Tây Thiên là chiếc nôi của Phật giáo Việt Nam, Phật giáo được truyền từ Ấn Độ vào nước ta thời Hùng Vương, khoảng năm 300 TCN, và đoàn hoằng Pháp của vua A-Dục (Asoka) do ngài Sona và Uttara dẫn đầu là những người đầu tiên đem Phật giáo vào nước Văn Lang thời Vua Hùng.
Vào thời Hùng Vương lãnh thổ nước ta còn nhỏ bé, riêng chỉ có khu vực Tây Thiên Tam Đảo này mới có núi non liên hoàn, rừng thâm u rậm rạp, có suối chảy, thác cao, cảnh trí u nhã, thanh tịnh, thích hợp cho người tu Thiền, tìm cầu giác ngộ giải thoát, cho nên các Thiền sư về đây ẩn tu, dựng lập các Thiền Tự. Danh tự Tây Thiên, nghĩa đen là Trời Tây, trong kinh Phật, từ ngữ Tây Thiên hay Tây Trúc được dùng để chỉ cho nước Ấn Độ, nơi phát sinh ra đạo Phật. Do đó việc đặt tên Tây Thiên có ý nghĩa để chỉ nơi khởi nguồn đạo Phật ở Việt Nam. Các nhà sư Ấn Độ sang nước ta truyền đạo, khi đến vùng Vĩnh Phúc gần kinh đô Văn Lang, dân cư đông, lại thấy cảnh cảnh trí đẹp giống như "cảnh Phật" ở bên Ấn Độ, nên các Ngài dừng chân tại đây để hành đạo, sau đó đạo hạnh của các Ngài lan tỏa khắp các nơi trong và ngoài nước.
Thiền học Việt Nam khởi nguồn từ Ngài Khương Tăng Hội vào khoảng thế kỷ thứ 3 tại trung tâm Luy Lâu, Ngài không chỉ là sáng tổ của Thiền học Việt Nam, mà còn là người đem Thiền học truyền sang Trung Quốc. Cha Ngài là người nước Khương Cư (Sogdiane) mẹ người Việt, Ngài được sinh ra và học đạo tại Việt Nam, sau đó có thời gian ngài đi sang giáo hoá ở Trung Quốc.
Đến thế kỷ thứ 6, dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi từ Trung Quốc truyền sang nước ta bằng đường bộ, đến thế kỷ thứ 9 dòng Thiền Vô Ngôn Thông được truyền sang nước ta rồi thế kỷ thứ 11 nước ta có thêm Thiền phái Thảo Đường, cả 3 dòng Thiền này đều từ Trung Quốc truyền vào nước ta. Mãi đến thế kỷ thứ 13, sau khi vị Hoàng đế anh hùng của dân tộc là vua Trần Nhân Tông xuất gia tu hành ở Yên Tử, giác ngộ đạo Phật (hoằng dương được Phật Pháp) rồi dung hợp 3 phái Thiền trên thành Thiền phái Trúc Lâm, mang bản sắc văn hoá của dân tộc Đại Việt, từ đó chúng ta mới có dòng Thiền Việt Nam đầu tiên. Với tài tổ chức về hành chính của một đấng minh quân, Ngài thống nhất Phật giáo, thành lập giáo hội, rồi Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam đầu tiên ra đời. Tinh thần Thiền Tông thời Trần là một tư tưởng đạo đức lớn của ông cha ta, nếu ông cha ta không khéo léo giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc và sống đời đạo đức thì có lẽ dân tộc ta có thể bị tiêu diệt hay bị đồng hoá theo quy luật khắc nhiệt của Tạo hoá rồi.
Do nhận thức được giá trị sâu sắc về tư tưởng đạo đức và đường lối tu hành của Thiền phái Trúc Lâm, chúng tôi về đây để cùng Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam thắp sáng ngọn đèn chánh pháp tại chốn tổ Tây Thiên, xây dựng lại chiếc nôi của Phật giáo Việt Nam đã có từ thời đầu dựng nước, để khẳng định với Thế Giới rằng: Đạo Phật vào Việt Nam trước thế kỷ thứ 2 (sớm hơn Trung Quốc), dân tộc ta từ thời các vua Hùng đã sớm biết tu Thiền, giác ngộ đạo Phật. Việt xây dựng lại chiếc nôi của đạo Phật tại Tây Thiên còn là để đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng lành mạnh cho nhân dân và Phật tử hành hương về đất tổ trong thiên niên kỷ mới này.
Về mặt kiến trúc, Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên sẽ mang dấu ấn của thời đại chúng ta, mang dấu ấn của ngôi chùa Việt Nam ở thiên niên kỷ mới này, chứ không phải là ngôi chùa ở thế kỷ 16 hay 17, để phản ánh trình độ văn hoá kiến trúc đương đại cho các thế hệ mai sau.
Về mặt cảnh quan, Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên sẽ là một điểm thăm quan du lịch mới cho nhân dân và Phật tử cả nước về du lịch văn hoá tâm linh, hành hương hay dã ngoại. Là nơi lưu giữ những cổ vật của Phật giáo tại Tây Thiên, để giới thiệu về sự phát triển của Phật giáo Việt Nam từ thời vua Hùng dựng nước cho đến ngày nay, qua đó giáo dục lòng yêu nước và niềm tự hào của dân tộc."
Như vậy, so với các nước Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên…, Phật giáo được truyền vào Việt Nam rất sớm. Tuy nhiên cho đến ngày nay, việc xác định nguồn gốc đầu tiên khai sinh Phật giáo Việt Nam vẫn còn là một nghi vấn chưa có sử liệu nào chính thức ghi lại một cách cụ thể. Chúng ta đều biết Phật giáo đã đồng hành cùng dân tộc trong suốt bề dày lịch sử, từ thời dựng nước đến nay. Việc xây dựng Thiền Viện Trúc Lâm Tây Thiên, một công trình Phật giáo to đẹp và khang trang, tại nơi đất tổ là mối lương duyên của trời đất, giúp người dân Việt Nam trở lại với nguồn cội để hiểu được các giá trị đích thực của lịch sử. Việt Nam đúng là nơi Giao Chỉ, phải hiểu Giao Chỉ theo ý nghĩa là nơi giao lưu hai nền văn hoá Ấn Độ và Trung Hoa, chứ không phải theo cách giải thích Giao Chỉ là hai ngón chân to quẹo lại với nhau như một thứ tật nguyền. Đã đến lúc chúng ta cần phải làm rõ, nêu bật bản chất cao quý của người Việt Nam, từ thời cổ đã là một dân tộc cởi mở, như ngày nay chúng ta nói: Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên Thế Giới.
Đã có nhiều ý kiến khác nhau về kiến trúc của Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên. Thiết nghĩ việc đưa ra những quan điểm thậm chí tranh cãi là rất cần thiết, bởi lẽ chỉ có thực tiễn mới kiểm nghiệm được chân lý, chỉ qua thời gian mới có thể khẳng định được giá trị của một công trình kiến trúc. Có rất nhiều công trình kiến trúc bị người đương thời coi là không phù hợp nhưng qua thời gian nó đã thực sự trở thành những di sản văn hoá vật chất của các thế hệ kế sau. Người nghệ sĩ sáng tạo ra nghệ thuật là để trường tồn cùng với thời gian, một công trình kiến trúc sẽ sống mãi khi nó phản ánh đúng các giá trị văn hoá, lịch sử.
Trên tạp chí Kiến trúc (của hội kiến trúc sư Việt Nam) số 11, năm 2005 có đăng một bài viết của tác giả Trần Thị Thu Hà nhan đề: vài suy nghĩ về Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên. Tác giả có viết: "Hình ảnh ăn sâu vào tiềm thức của người dân Việt, nhất là nông dân miền Bắc là ngôi chùa "hoà" vào thiên nhiên. Cây cỏ không làm nhoè đi kiến trúc, mà làm cho cảnh quan kiến trúc, trời đất hoà vào trong một thể thống nhất… Với những gì được biết trước đây về ngôi chùa Việt truyền thống và vẻ đẹp khó cưỡng lại được của Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên hiện tại, phải rất lâu tôi mới định tâm để hiểu được vì sao một số nhà nghiên cứu văn hoá dân gian và một bộ phận nông dân bản địa cho rằng Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên xa lạ với chốn tu hành. Nhìn từ chân núi lên, Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên đồ sộ, án hơn là ẩn mình trong thiên nhiên, là một công trình kiến trúc mới, kết cấu chắc khoẻ, như muốn vươn trội lên thiên nhiên, ẩn thức tâm linh trong chùa Việt quen thuộc không còn ở đây, công trình đã không xuôi theo dòng chảy tâm linh quen thuộc… Việc điểm xuyết những ngôi chùa mới như Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên càng làm tăng thêm sự tín tâm ngày càng nhiều của kẻ hành hương. Song không vì thế mà nhân rộng mô hình này, dẫu không dễ dàng, song rất nên thận trọng."
Đây chỉ là một ý kiến, chưa phải là một công trình nghiên cứu sâu sắc, nhưng nó đã gợi ra những vấn đề cần phải làm sáng tỏ: Thứ nhất Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên có kế thừa bản sắc văn hoá truyền thống của kiến trúc Phật giáo Việt Nam qua các thời đại hay không, thứ hai công trình có xứng đáng với tầm vóc là nơi tôn vinh các giá trị trong sáng của Phật giáo không, cuối cùng công trình có phản ánh trung thực trình độ văn minh của xã hội hiện tại hay không? Cần phải có các công trình nghiên cứu thật sâu sắc để giải đáp các câu hỏi trên, không chỉ giải đáp cho thế hệ hôm nay mà còn giải đáp cho các thế hệ mai sau. Đã có nhiều nghiên cứu như vậy, trong đó, đáng chú ý nhất phải kể đến nghiên cứu của những người đã xây dựng nên công trình này, các Thiền sư Trúc Lâm, họ đã góp phần đưa ra những lý giải sâu sắc về một ngôi chùa của thế kỷ 21, ngôi chùa đó không phải là sự lặp lại hình thức quen thuộc của các ngôi chùa thời trước, mà là một công trình tôn giáo tiêu biểu của thế hệ hôm nay nhằm hướng về các giá trị trong sáng, vượt trước khoa học, của đạo Phật. Họ không chỉ mang tâm nguyện làm sống lại tinh thần Thiền phái Trúc Lâm của dân tộc, khôi phục lại chốn Tổ điêu tàn đã bị lãng quên, mà còn giúp nhân dân tránh khỏi sự u mê tín ngưỡng, thần thánh hoá đức Phật. Nếu hiểu được Phật ở ngay trong tâm ta, tin tâm mình là Phật, Phật Pháp tuỳ duyên mà sinh ra, tuỳ duyên mà mất đi chứ không phải do chủ ý của con người. Đức Phật không phải là đấng quyền năng, không ban phúc giáng hoạ cho ai. Đức Phật muốn cứu khổ cho nhân loại, cứu độ muôn loài, Ngài chỉ cho con người con đường tu hành đi đến giác ngộ giải thoát, khi có tuệ giác ngộ rồi cần phải có hạnh nguyện lớn để vượt qua mọi thử thách gian lao, chiến thắng chính bản thân mình, cứu độ cho chúng sinh. Đạo Phật nói: "chiến thắng vạn binh không bằng chiến thắng chính mình, chiến thắng chính mình là một chiến công oanh liệt nhất". Vì vậy việc đi chùa để cầu xin Phật, cầu xin đấng quyền năng ở ngoài tâm mình, trong khi không biết tự soi xét vào chính bản tâm mình là việc làm trái với đạo Phật, là ngoại đạo, Phật dạy: "ngoài tâm mà cầu Phật là ngoại đạo". Ngôi chùa mà tạo ra cảm giác thần bí, linh thiêng thì dễ hướng người dân đến việc mê tín, lãng quên mất bản tâm của mình, không nghe theo lời dạy của đạo Phật mà chỉ biết trông mong vào những sức mạnh siêu nhiên thần bí, đấy là sự trở lại của tín ngưỡng thần quyền thời trung cổ, hoàn toàn đi ngược lại với khoa học. Nhà khoa học vật lý vĩ đại Albert Einstein đã từng nói: "Phật giáo không cần phải xét duyệt lại nhằm cập nhật hoá với những khám phá khoa học mới đây, Phật giáo không cần phải bỏ quan điểm của mình để theo khoa học, vì Phật giáo không những đã bao gồm cả khoa học, mà còn vượt trước cả khoa học". Ngôi chùa phải là nơi ta tự soi vào chính bản thân mình, vừa rộng lớn lại vừa gần gũi với con người, hài hòa với thiên nhiên, không gian bên trong phải rộng rãi, cao ráo và thoáng mát để thiên nhiên có thể tràn ngập vào trong nhà, người tu Thiền khi ngồi tụng kinh, hành Thiền hay nghe giảng Pháp đều thấy dễ chịu và không bị phân tâm. Vậy những ngôi chùa mà hình ảnh đã ăn sâu vào tâm thức của người Việt, thậm chí quen thuộc đến nỗi người ta quên đi cả ý nghĩa tư tưởng chứa đựng trong đó, có thực sự là nơi phù hợp với chốn tu hành và là nơi con người tìm về với bản tâm "Thiện" trong mình. Chỉ khi nào chúng ta gạt bỏ việc mê tín và tín ngưỡng thần quyền, một lòng hướng Phật thì mới có thể đưa ra câu trả lời cho riêng mình.
Thiền sư Thích Kiến Nguyệt, người đã thay mặt Thiền sư Viện trưởng Thích Thanh Từ chủ chì thiết kế và thi công xây dựng Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên, qua những nghiên cứu của mình đã góp phần giúp chúng ta hiểu rõ thêm về kiến trúc ngôi chùa Việt Nam trong thiên niên kỷ mới. Ông nói: "nếu như một di tích ở thời xa xưa nay là phế tích, chỉ còn nền chùa, hay một vài tấm vách đứng trơ vơ cùng cây cỏ hoang vu, thì chúng ta nên xây dựng lại như thế nào? Nên mang dấu ấn kiến trúc của ngôi chùa cổ ở thế kỷ 16 – 17 hay mang dấu ấn kiến trúc của thời đại chúng ta hôm nay? Theo chúng tôi, ngôi chùa là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của Phật giáo, trước hết nó phải thể hiện được tinh thần giáo lý của đạo Phật, sau đó đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng của tín đồ ở thời đại đó. Về kiến trúc nó phải mang bản sắc văn hoá dân tộc, có tính kế thừa và phát huy theo tiến trình phát triển xã hội ở từng thời điểm." Vậy thì thế nào mới là một ngôi chùa mang bản sắc văn hoá dân tộc, mang bản sắc kiến trúc mỹ thuật truyền thống, ông nói tiếp: "thời Nguyễn khi trùng tu tôn tạo lại những ngôi chùa cổ thời Lý Trần, họ không xây dựng theo kiểu kiến trúc Lý Trần mà xây dựng theo kiến trúc thời nhà Nguyễn, và có phải ngôi chùa thời Lê Nguyễn mới là bản sắc văn hoá dân tộc, có chắc gì kiến trúc đó không chịu ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa? Bây giờ chúng ta xây dựng mới trên nền di tích có nên xây theo kiểu kiến trúc thời Lê Nguyễn hay xây theo kiến trúc ngôi chùa Việt Nam ở thế kỷ 21 này?... Nhiều chùa hiện nay gắn hoa văn trang trí thường hay bắt trước chùa khác mà không tìm hiểu ý nghĩa có đúng theo giáo lý nhà Phật không. Có những hoa văn đẹp mang ý nghĩa của Phật giáo sao chúng ta không dùng như: bánh xe Pháp, đặt ở nơi thờ Phật, vân mây tượng trưng cho sự vô thường, không sinh không diệt của các Pháp, hoa sen và lá bồ đề biểu trưng cho sự giác ngộ, giải thoát…" Như vậy, bản sắc văn hoá của dân tộc biểu hiện trong kiến trúc các ngôi chùa cổ ở Việt Nam không phải hoàn toàn là những thứ ta nhìn thấy, không phải tường mái hay cửa mà là không gian tồn chứa trong nó, không gian dành cho sự sống trong đó (không gian của sự vĩnh hằng, siêu thoát). Ông phân tích: "những ngôi chùa cổ hiện nay chỉ thích hợp với Phật giáo ở thời kỳ thần học. Ngôi chùa chia làm nhiều gian, nhiều cột, nhiều bàn thờ, nhiều cốt tượng, mái thấp, tối om om, khói nhang nghi ngút thích hợp với chốn thần quyền linh thiêng. Trong khung cảnh "linh thiêng thần bí" đó người Phật tử đến chùa dễ quên mất bản tâm mình, thường hướng ngoại, cúng vái cầu xin Đức Phật, Bồ Tát, Chư Thần. Những ngôi chùa như vậy là nơi nuôi dưỡng "dung túng" cho việc mê tín (sự u mê tín ngưỡng), trái với giáo lý của nhà Phật, trái với khoa học. Có vị sư tổ đã dạy: thờ cốt tượng không bằng thờ kinh sách, thờ kinh sách không bằng thờ thầy dạy đạo, thờ thầy dạy đạo không bằng thờ chính bản tâm mình. Với mỗi ngôi chùa, trong Chính điện thờ một tượng Phật, hai bên thờ hai vị Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi và Bồ Tát Phổ Hiển là đủ."
Lịch sử Việt Nam đã chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi văn hoá Trung Hoa, từ hệ tư tưởng xã hội đến nghệ thuật truyền thống. Đã có thời gian ở Việt Nam Phật giáo trở thành hệ tư tưởng thống trị (trở thành Quốc đạo), nhưng sau do trào lưu du nhập, đạo Lão và đạo Khổng (Lão giáo và Nho giáo) dần chiếm vị trí cao hơn, thu hẹp dần ảnh hưởng của đạo Phật, trong một thời gian dài của lịch sử cho đến tận ngày nay, các chùa chiền, đình đền, miếu mạo là một biểu hiện rõ nét nhất của sự du nhập đó, một sự hoà hợp của ba hệ tư tưởng lớn: Phật giáo, Lão giáo và Nho giáo (tam hợp). Chính điều này đã dẫn đến việc "bắt trước" ở trên, sự pha trộn nếu không biết chọn lọc sẽ dẫn đến một mớ hỗn độn. Ngày nay nếu không tinh ý và có hiểu biết nhất định về lịch sử thì chúng ta khó có thể phân biệt được giữa chùa, đình và đền. Ở đâu ta cũng thấy lặp lại các hoa văn trang trí, vào bên trong thì luôn thấy có nhiều bàn thờ và nhiều cốt tượng, khói hương nghi ngút, khung cảnh thần bí.
Tất cả những thứ ta nhìn thấy đó không phải là bản sắc văn hoá của dân tộc, bản sắc văn hoá là những giá trị tồn tại trong tiềm thức của con người, được lưu truyền và chảy chung cùng dòng chảy lịch sử. Văn hoá là những giá trị còn đứng vững trước những thử thách khắc nhiệt của thời gian, đó còn là một nền tảng cho sự phát triển xã hội trong tương lai. Ta không thể cảm nhận được văn hoá qua các giác quan thông thường, bởi lẽ văn hoá đã ẩn sâu trong từng mạch máu, từng tế bào của con người, giống như hòn đá nằm dưới suối, khi nước chảy qua chỉ để lại các bọt sủi. Xã hội vẫn phát triển và con người tiếp tục sáng tạo ra các giá trị văn hoá vật chất và tinh thần, đối với những công trình kiến trúc có hình thức mới mẻ, chúng ta không nên có thái độ phê phán, phủ nhận, bởi vì rất có thể, đó chính là sự thăng hoa của các giá trị văn hoá ẩn sâu trong tiềm thức, là sự sáng tạo nghệ thuật phục vụ con người và sẽ trở thành di sản cho các thế hệ mai sau . Dân tộc Việt Nam đã đứng vững trước những thử thách khắc nhiệt nhất của lịch sử là do biết giữ gìn bản sắc văn hoá, biết kế thừa và phát huy, biết tiếp thu các tinh hoa văn hoá của nhân loại. Bản sắc "riêng" của chúng ta chính là sự hoà hợp của các dòng văn hoá lớn trong tâm hồn người Việt. Giao Chỉ là nơi giao lưu của các nền văn minh, đây là hàm ý sâu xa mà tổ tiên đã nhắc nhở con cháu.
Ngày nay, khi quan sát các ngôi chùa ở Việt Nam ta thấy phần lớn giống với kiến trúc chùa chiền bên Trung Quốc, có chăng chỉ là sự khác nhau về kích thước của các kết cấu, chúng ta sao chép lại sao cho phù hợp với kích thước của con người và cảnh quan thiên nhiên Việt Nam, chứ không có sự sáng tạo nào đáng kể. Các ngôi chùa ở miền Bắc đa phần là thấp nhỏ, kích thước trải dài theo chiền ngang, ẩn mình vào thiên nhiên, còn các ngôi chùa trong miền Nam thì sử dụng vật liệu xây dựng mới, kết cấu chắc khoẻ, vươn mình ra khỏi thiên nhiên. Những tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã ảnh hưởng đến việc xây dựng các ngôi chùa sau này, tạo ra những hình thức mới mẻ, mang lại cho con người những không gian sinh hoạt tâm linh phong phú hơn. Không thể nói dòng chảy tâm linh của người Việt đã thay đổi, mà phải hiểu cuộc sống tâm linh của người xưa đã hoà cùng thế giới quan khoa học của thời nay. Đạo Phật không gì khác chính là thế giới tự nhiên của ý thức con người, gắn bó chặt chẽ với thế giới tự nhiên lớn, đó là một thiên nhiên của con người bên trong thiên nhiên lớn, là thế giới của nội tâm, của trí tuệ được giác ngộ giải thoát. Xã hội loài người sinh ra từ tự nhiên và quay trở lại quyết định sự tồn tại của tự nhiên. Những sản phẩm do con người tạo ra có thể thân thiện hoặc không thân thiện với tự nhiên, nhưng trong sâu thẳm ý thức con người vẫn tồn tại một thế giới tự nhiên được sinh ra từ tự nhiên lớn, bản tâm con người luôn hướng về thiên nhiên, nơi cội nguồn của cái Thiện. Kiến trúc sư Frank Lloyd Wright, một trong những gương mặt sáng giá nhất của kiến trúc hiện đại thế giới, bậc thầy của kiến trúc hiện đại thế kỷ 20, đã nói: "kinh thánh của tôi là thiên nhiên".
Ngôi chùa là nơi sinh hoạt tín ngưỡng Phật giáo vì vậy phải rộng thoáng như một hội trường. Không thể nói rằng kiến trúc ngôi chùa Việt Nam trong thế kỷ 21, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc, phải là kiến trúc phong cảnh, giống như hình ảnh quen thuộc của các ngôi chùa cổ ở Việt Nam, ngôi chùa đó có thể là một hình thức hoàn toàn mới mẻ, sử dụng vật liệu mới, kết cấu chắc khoẻ vươn lên cao và ra xa, đó là sản phẩm của con người không thể lẫn với thiên nhiên nhưng hài hòa với thiên nhiên. Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên là một quần thể kiến trúc gồm nhiều công trình lớn, các công trình chính như cổng tam quan, lầu chuông, lầu trống, chánh điện, nhà tổ…, và các công trình phục vụ khách thăm quan như nhà khách, nhà trưng bầy… Ngoài ra còn quy hoạch xây dựng khu nội viện gồm: tăng đường (nơi chư tăng ở), thiền đường (nơi toạ thiền), trai đường và các thất chuyên tu. Đồng thời còn có thư viện xây hình bát giác trên đồi, đỉnh đồi của thư viện là một tượng Phật cao 35m. Toàn bộ diện tích của Thiền Viện là 4,5ha, rừng ngoại vi rộng 50ha, quy mô hoành tráng tương xứng với ý nghĩa lịch sử của nó.
Còn tiếp!
__________________
rjie
THẦN QUY LONG MÃ

Âm và Dương là hai đối tượng Đồng Hành, đối tượng Dương có khí cực mạnh hơn đối tượng Âm.
Một là Thái Cực Thổ, Hai là Âm Thổ và Dương Thổ, Ba là sự tương tác Âm Thổ và Dương Thổ, Tất cả là Tứ Tượng, Bát quái, 64 quẻ.
nguyenle is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 27-10-2007   #2
nguyenle
Hội viên
 
nguyenle's Avatar
 
Tham gia ngày: Sep 2007
Bài gởi: 432
Thanks: 10
Thanked 14 Times in 13 Posts
Blog Entries: 2
Bàn về kiến trúc Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên





Có lẽ là duyên trời hội ngộ, Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên có sự đóng góp của các làng nghề truyền thống nổi tiếng Việt Nam. Các chi tiết trang trí, tạc tượng, hoành phi, câu đối, cửa võng, phù điêu, sân vườn, cây cảnh đều mang dấu ấn của nền mỹ thuật Việt Nam đương đại. Các tượng Phật, Bồ Tát, và Tổ của Thiền phái Trúc Lâm đều được làm bằng đá sa thạch, do làng nghề đá Non Nước Đà Nẵng thực hiện, làng nghề đá Ninh Bình thực hiện các câu đối ở cổng Tam quan và đỉnh hương đặt trước Chính điện bằng đá Thanh Hoá. Về mộc, làng nghề Hà Tây nổi tiến về đục chạm hoành phi câu đối, cửa võng, tủ thờ nên được chọn để đóng bàn thờ Phật, bàn thờ Bồ Tát và hoành phi, cửa võng, hoa văn trên các cánh cửa, câu đối trong Chính điện. Làng nghề Đồng Kỵ Bắc Ninh nổi tiếng về nghề gỗ được giao cho đóng bàn thờ và bức hoành phi trong nhà thờ Tổ. Về thợ hồ, thì sử dụng thợ ở tại địa phương, một số thợ ở Hà Nội, Nam Định, Bắc Ninh, tham gia làm các mái đao, lợp ngói, trang trí hoa văn. Phần phù điêu do nhà điêu khắc Lương Xuân Thanh ở đê Yên Phụ Hà Nội thực hiện bức lịch sử Đức Phật, còn lại là do nghệ nhân Trịnh Thịch ở Phủ Lý thực hiện. Lò đúc Huế từ xưa đến nay nổi tiếng về nghề đúc chuông được chọn để đúc chuông Gia trì đường kính 9 tay và đúc đại hồng chung nặng 2 tấn, còn nghệ nhân từ Nha Trang thì làm mỏ chùa đường kính 10 tay. Về trống, nhờ đủ duyên nên mua được khúc gỗ mít rừng ở Gia Lai có đường kính 1,5m để làm trống có tang liền, sau đó nhờ các nghệ nhân ở Long Khánh chuyên làm trống cho Thiền viện Trúc Lâm thực hiện.
Thiết nghĩ, chúng ta nên có nhiều cuộc tranh luận hơn nữa, góp phần làm sáng tỏ giá trị văn hoá lịch sử của Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên trong thời đại ngày nay, một thời đại mà các sự kiện diễn ra quá nhanh chóng, thật giả khó lường. Bên cạnh những thành tựu đáng mừng là những nỗi lo âu, không phải chỉ với những nghịch lý xuất hiện ngày càng nhiều trong mối quan hệ giữa người với người, mà ngay cả trong mối quan hệ giữa người với tự nhiên, gây ra những thảm hoạ ô nhiễm môi trường, suy thoái tài nguyên thiên nhiên, huỷ diệt giống loài… Con người đang làm cho Trái Đất "nóng lên", và đến một lúc nào đấy, sự nổi giận của Trái Đất sẽ biến thành dòng nham thạch hung dữ, cuốn băng đi tất cả, khi đó con người buộc phải "tĩnh tâm" nhìn lại chính mình, lòng hướng về cõi Phật. Tôi đã nói ra và linh hồn tôi được cứu rỗi.
KTS. Nguyễn Tiến Hiệp
Trung tâm Quy hoạch - Kiến trúc
Công ty cổ phần tư vấn công nghệ thiết bị và kiểm định xây dựng (Coninco)
Số 4 Tôn Thất Tùng – Hà Nội. ĐT: 0904138178
Link:
http://www.quangduc.com/vietnam/59ki...entruclam.html
__________________
rjie
THẦN QUY LONG MÃ

Âm và Dương là hai đối tượng Đồng Hành, đối tượng Dương có khí cực mạnh hơn đối tượng Âm.
Một là Thái Cực Thổ, Hai là Âm Thổ và Dương Thổ, Ba là sự tương tác Âm Thổ và Dương Thổ, Tất cả là Tứ Tượng, Bát quái, 64 quẻ.
nguyenle is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 27-10-2007   #3
nguyenle
Hội viên
 
nguyenle's Avatar
 
Tham gia ngày: Sep 2007
Bài gởi: 432
Thanks: 10
Thanked 14 Times in 13 Posts
Blog Entries: 2
Bổ xung hình ảnh




Dong chảy kiến trúc ngôi chùa Việt Nam.
__________________
rjie
THẦN QUY LONG MÃ

Âm và Dương là hai đối tượng Đồng Hành, đối tượng Dương có khí cực mạnh hơn đối tượng Âm.
Một là Thái Cực Thổ, Hai là Âm Thổ và Dương Thổ, Ba là sự tương tác Âm Thổ và Dương Thổ, Tất cả là Tứ Tượng, Bát quái, 64 quẻ.
nguyenle is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 28-10-2007   #4
Thiên Sứ
Hội viên chân thuyên
 
Thiên Sứ's Avatar
 
Tham gia ngày: Jul 2005
Bài gởi: 9.703
Thanks: 2
Thanked 244 Times in 126 Posts
Bài viết cũng hay. Có ý thức về tinh thần dân tộc. Nhưng kiến thức về thời Hùng Vương chắp vá. Một nửa mang màu sắc của học giả Lê Mạnh Thác đã chứng minh Phật giáo du nhập vào Việt Nam vào thế kỷ thứ III trước Công Nguyên, một nửa ảnh hưởng của tư tưởng "Thời Hùng Vương chỉ là một liên minh gồm 15 bô lạc tồn tại ở vùng châu thổ sông Hồng với những người dân ở trần đóng khố". Bởi vậy, kết luận chắp vá về kiến trúc.
Thiên Sứ
Thiên Sứ is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 28-10-2007   #5
nguyenle
Hội viên
 
nguyenle's Avatar
 
Tham gia ngày: Sep 2007
Bài gởi: 432
Thanks: 10
Thanked 14 Times in 13 Posts
Blog Entries: 2
Nhận định của chú Thiên Sứ cũng rất đúng. Nhưng nói về kiến trúc thiền viện ở miền Bắc thì cũng có nhiều yếu tố chi phối, cháu có thể liệt kê một số yếu tố như sau:
-Về mô hình chung, tức là qui hoạch tổng quan cho một ngôi Thiền viện thì trước hết phải nói đến giấc mộng của Viện trưởng của Hệ thống thiền viện. Hòa thượng Viện trưởng đã có một giấc mộng về mô hình thiền viện. Trong đợt khánh thành Thiền viện Trúc lầm Phụng hoàng, Hòa thượng Viện trưởng mới tiết lộ điều này. Đó là một giấc mộng của Hòa thượng thấy mô hình thiền viện và thấy được nói chuyện với một vị Tổ sự thiền Trung hoa.
-Cơ bản quy hoạch kiến trúc thiền viện thì chia ra 2 khu, đó là nội viện và ngoại viện. Nội viện là nơi yên tĩnh để chuyên tu cho các thiền sinh. Ngoại viện là nơi dành cho khách thăm quan, du lịch và đến tập tu. Một điểm riêng chỉ có ở Thiền viện Trúc lâm Phụng hoàng là có hai khu nội viện riêng biệt, đó là nội viện Tăng và nội viện Ni. Còn tất cả các thiện viện khác trong hệ thống thiền viện thì chỉ có Thiền viện Tăng, hoặc Thiền viện Ni.
-Khi tinh thần khôi phục Thiền phái Trúc lâm từ Đà lạt về đến Yên tử thì kiến trúc thiền viện được nhiều ban ngành liên quan quan tâm và đòi quyền thiết kế để cho phù hợp với văn hoá, kiến trúc từng miền. Tuy nhiên về cơ bản, kiến trúc thiền viện miền Bắc vẫn phải theo mô hình chung của hệ thống thiền viện thiền phái Trúc lâm.
-Ngoài yếu tố như đã nêu, thì một yếu tố không kém phần quan trọng là khoảng thời gian thi công. Phải xong trong khoảng thời gian 3 hoặc 4 tháng, vì nhiều lý do.
-Sau cùng là sự đóng góp trí tuệ của các ngành liên quan, công sức của các làng nghề, và công sức của các đạo tràng, các phật tử. Đặc biệt, có phật tử đóng góp tiền của cá nhân lên tới 12 tỉ đồng.
-Như vậy, kiến trúc thiền viện Thiền phái Trúc lâm miền Bắc, về cơ bản là hoàn thành xây dựng ở bước đầu để đi vào hoạt động. Tiếp đó, trong khoảng thời gian có thể là trên dưới 10 năm, vừa truyền bá tinh thần Khôi phục thiền tông đời Trần vừa tiếp tục xây dựng các công trình theo mô hình cơ bản như ở Thiền viện Trúc lâm Phụng hoàng.
__________________
rjie
THẦN QUY LONG MÃ

Âm và Dương là hai đối tượng Đồng Hành, đối tượng Dương có khí cực mạnh hơn đối tượng Âm.
Một là Thái Cực Thổ, Hai là Âm Thổ và Dương Thổ, Ba là sự tương tác Âm Thổ và Dương Thổ, Tất cả là Tứ Tượng, Bát quái, 64 quẻ.
nguyenle is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 12-11-2007   #6
nguyenle
Hội viên
 
nguyenle's Avatar
 
Tham gia ngày: Sep 2007
Bài gởi: 432
Thanks: 10
Thanked 14 Times in 13 Posts
Blog Entries: 2
Thanh Qui Hệ Thống Thiền Viện Trúc Lâm





H.T. THÍCH THANH TỪ
GIỚI THIỆU BẢN THANH QUI
Phật dạy ba môn học là văn tuệ, tưtuệ và tu tuệ. Văn tuệ là nghe hay học được nơi Thầy, nơi thiện hữu tri thức. Nhờ học chúng ta mới hiểu biết được những điều cao quí do Phật dạy còn ghi chép trong Tam tạng giáo điển. Song chúng ta chỉ hiểu biết qua lời giảng dạy của Thầy thì chưa thấm nhuần giáo lý nơi tự tâm chúng ta. Cần phải có tư tuệ, là sự tư duy suy ngẫm những lời dạy của Phật cho tường tận thấu suốt thì chúng ta mới am tường mới thẩm thấu được. Tuy nhiên sau khi am tường lời dạy của Phật rồi, chúng ta còn phải ứng dụng lời dạy ấy vào đời sống hàng ngày của chúng ta là tu tuệ. Như người bệnh trước phải nhờ thầy thuốc xem mạch, giải thích chứng bệnh cho bệnh nhân hiểu, kế đó bệnh nhân phải suy gẫm lời giải thích của thầy thuốc có đúng bệnh của mình hay không ? Sau khi biết đúng phải mua thuốc về uống thì bệnh mới lành. Dù thầy thuốc xem mạch nói đúng, bệnh nhân suy gẫm hợp lý, mà không chịu mua thuốc về uống thì bệnh nhân không bao giờ được mạnh. Cũng thế, có văn, tư mà không tu thì chúng ta không khi nào hết khổ. Mục đích của bản Thanh Qui này là nhằm tạo điều kiện cho Tăng, Ni sau khi có văn, tư rồi thực hiện tu cho có kết quả tốt.
Sự tu của chúng ta thể hiện qua ý nghĩ, lời nói, hành động một cách cụ thể bằng pháp Lục hòa. Ðồng thời phải buông bỏ hết những nghiệp chướng quá khứ và hiện tại. Chúng ta phải giữ mười giới làm căn bản. Ðể được thích nghi với nếp sống Thiền Viện và vui vẻ với huynh đệ, chúng ta phải tuân giữ những điều phụ của Nội Qui. Muốn cho sự tu hành được thăng tiến, chúng ta mỗi đêm phải thành tâm sám hối cho tội lỗi nhiều kiếp và đời này đều trong sạch.
Trọng tâm của Thiền Viện là tu Thiền. Tất cả Thiền sinh ở đây lấy Thiền làm mạng sống. Vì thế, trong bốn oai nghi Thiền sinh lúc nào cũng tỉnh giác, song thực hiện trọn vẹn hơn là những giờ tọa thiền. Thiền mà Thiền Viện tu tập là Thiền Tông qua sự đúc kết của Tổ Huệ Khả, Tổ Huệ Năng và Tổ Trúc Lâm. Do đó bản Thanh Qui này ra đời để áp dụng chung cho các Thiền Viện.

Ngày mồng 08 / 02 / Kỷ Mão.
( 25 / 03 / 1999 )H.T. THÍCH THANH TỪ

nguyenle giới thiệu.Còn tiếp

__________________
rjie
THẦN QUY LONG MÃ

Âm và Dương là hai đối tượng Đồng Hành, đối tượng Dương có khí cực mạnh hơn đối tượng Âm.
Một là Thái Cực Thổ, Hai là Âm Thổ và Dương Thổ, Ba là sự tương tác Âm Thổ và Dương Thổ, Tất cả là Tứ Tượng, Bát quái, 64 quẻ.
nguyenle is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 12-11-2007   #7
nguyenle
Hội viên
 
nguyenle's Avatar
 
Tham gia ngày: Sep 2007
Bài gởi: 432
Thanks: 10
Thanked 14 Times in 13 Posts
Blog Entries: 2
NỘI DUNG THANH QUI-Phần I




I. LỜI MỞ ĐẦU

Với tinh thần Trúc Lâm Ðại Ðầu-đà, Thiền sinh tại Thiền Viện phải đủ ba đức tính: Dứt khoát, kiên quyết và đạm bạc.

1- Tính dứt khoát là, Ðời ra đời Ðạo ra đạo, tu phải đến nơi đến chốn; không thể có thái độ lưng chừng, mà phải quyết chí tu đến sáng đạo mới được.

2- Tính kiên quyết là, dù khó khăn chướng ngại do ngoại cảnh hay bản thân tạo ra, đều khẳng định vượt qua. Cương quyết thực hiện kỳ được giải thoát viên mãn mới thôi.

3- Tính đạm bạc là, cuộc sống đạm bạc giản dị, không chấp nhận mọi thụ hưởng xa hoa. Bản chất thanh đạm là đời sống của Thiền sinh ở các Thiền viện.

II. LỤC HOÀ
Lục hòa là chất keo gắn chặt lâu bền các Thiền sinh chung sống tu hành tại Thiền Viện. Lục hòa cũng là nền tảng vững chắc của đoàn thể Tăng.
1- Thân hòa đồng trụ: Về phần thân, lao động, tu hành, ăn mặc, ngủ nghỉ, Thiền sinh phải hòa đồng nhau.

2- Khẩu hòa vô tránh: Về phần miệng, nói bàn, tranh luận đều trong tinh thần hòa nhã, trọng đạo đức, không được lớn tiếng tranh hơn và dùng lời nặng nhẹ nhau.

3- Ý hòa đồng duyệt: Thiền sinh phải tâm ý vui hòa, không có ý ngang ngạnh, chống đối, thù hằn nhau.

4- Kiến hòa đồng giải: Thiền sinh có mọi kiến giải sai biệt trong lúc hạ thủ công phu hay trong khi học giáo lý, đều đem ra trao đổi giải bày một cách thông cảm và vui vẻ với nhau.

5- Giới hòa đồng tu: Về giới luật, Thiền sinh phải giữ mười giới làm căn bản và sống đúng nội qui của Thiền Viện, cố gắng gìn giữ thanh tịnh như nhau.

6- Lợi hòa đồng quân: Tất cả tài sản và phẩm vật trong Thiền Viện là của chung, của các Thiền sinh hiện có mặt, không ai có quyền giữ riêng hay thụ hưởng nhiều hơn.


III. GIỚI LUẬT
Giới luật là nền tảng đạo đức, cũng là gốc của cây thiền định và hoa quả trí tuệ.
A. GIỚI CĂN BẢN
Thiền sinh tại Thiền Viện giữ mười giới làm trọng tâm.
1- Không sát sanh: Từ con người cho đến loài vật, Thiền sinh không được giết hại, xúi bảo người giết hại, hoặc thấy người giết hại sanh tâm vui mừng.

2- Không trộm cắp: Tiền bạc, vật dụng, thức ãn uống… của người, nếu người không cho, Thiền sinh không được tự tiện lấy, nếu lấy thành trộm cắp.

3- Không dâm dục: Thiền sinh không thực hành dâm dục, không tạo phương tiện dâm dục và không khởi tâm nghĩ tưởng về dâm dục.

4- Không nói dối: Thiền sinh không nói sai sự thật, không nói lời ác ðộc hung dử, không nói lời gây chia rẻ thù hằn nhau, không nói lời phù phiếm vô nghĩa.

5- Không uống rượu: Thiền sinh không uống các thứ rượu mạnh và nhẹ, không hút thuốc và các thứ ghiền khác.

6- Không đeo tràng hoa và ướp nước hoa: Thiền sinh không dùng mọi thứ trang sức làm cho thân này sang ðẹp.

7- Không ca múa hát xướng: Những trò vui có tánh cách ðùa cợt loạn tâm, Thiền sinh ðều không được tự làm, nghe, xem người khác làm.

8- Không nằm ngồi giường tòa to và sang trọng: Thiền sinh chấp nhận một ðời sống ðạm bạc, nên không nằm ngồi giường ghế to lớn sang trọng.

9- Không giử tiền bạc vàng ngọc: Thiền sinh chấp nhận ðời sống không có tài sản riêng, chỉ có những vật dụng cần thiết do Thiền Viện sắm cho, nên không cần giữ tiền bạc, v.v…

10- Không ãn phi thời: Thiền sinh chấp nhận ðời sống tam thường bất túc ðể tinh tấn tu hành, nên phải giữ giới không ãn phi thời, trừ trường hợp lao ðộng nặng nhọc thì châm chước.
B. GIỚI THƯỢNG THỪA

Thiền Sư Pháp Loa dạy:
Trong hai mươi bốn giờ, ngoài dứt các duyên, trong tâm không dấy động. Tâm không dấy động nên cảnh đến vẫn an nhàn. Mắt không vì cảnh khởi phân biệt, thức không vì pháp trần mà dính mắc. Ra vào không giao thiệp gọi là ngăn dừng. Tuy gọi ngăn dừng mà chẳng phải ngăn dừng. Nên biết tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng lại như thế.
Ðây gọi là giới Ðại thừa, gọi là giới Vô thượng, cũng gọi là giới Vô đẳng đẳng. Tịnh giới này dù Tiểu tăng cho đến Ðại tăng đều phải gìn giữ.
C. QUI CHẾ PHỤ

Những qui chế phụ này giúp Thiền sinh dành trọn thời giờ trong việc tu hành và tránh khỏi những lỗi nhỏ hoặc vô tình hay cố ý.
1- Thiền sinh hạn chế tối thiểu sự đi lại, trừ trường hợp bệnh nặng phải đi trị bệnh, hoặc Thầy Bổn Sư bệnh nặng hay tịch, cha mẹ bệnh nặng hay chết và vài trường hợp đặc biệt khác.

2- Ðể giữ giới thứ chín, Thiền sinh được thân nhân hay thí chủ ủng hộ tiền bạc, hoặc đi đâu về tiền còn dư đều phải gửi Thủ Bổn giữ để phòng khi bệnh hoạn.

3- Thân nhân đến thăm, Thiền sinh chỉ tiếp khách tối đa 30 phút tại nhà khách. Nếu thân nhân còn ở lại, đều do Tri Khách sắp đặt mọi việc.

4- Nhận một trách nhiệm gì trong Viện, Thiền sinh phải tận tình làm cho được vuông tròn, không được làm cầm chừng lấy có.

5- Mọi thời khóa tu công cộng tại Thiền Viện, Thiền sinh không được vắng mặt hoặc trễ nải, trừ có trách nhiệm đặc biệt hoặc bệnh.

6- Giờ Thỉnh nguyện, Thiền sinh không được đến trễ và xuống sớm trừ có công tác cho chúng.

7- Khi lao tác chung hoặc riêng, Thiền sinh sẵn sàng tương trợ nhau, khi thấy huynh đệ làm công việc nặng nhọc hơn, hoặc trễ nải hơn, không được vô tình làm ngơ để mặc.

8- Phải tiết kiệm tài sản của Thiền Viện bằng mọi cách, không nên phung phí.

9- Không được đi đâu quá thời hạn đã xin phép. Nếu có việc bất ngờ xảy ra, phải gởi thơ hoặc điện thoại về xin phép thêm.

10- Thiền sinh nếu không muốn ở Thiền Viện, xin phép ra đi tự do không cần điều kiện gì cả. Không được ở đây mà có tâm hướng ngoại. Nếu đi rồi thì không được trở lại.
D. KẾT THÚC

Phần lục hòa và năm giới trước thuộc về chánh, Thiền sinh phạm một trong những giới chánh này tùy mức độ nặng nhẹ, nếu nặng thì tự xấu hổ xin rút lui khỏi Viện, nếu nhẹ tự xin sám hối với Ban lãnh đạo và toàn chúng.

Năm giới sau và Qui chế phụ là phần phụ, Thiền sinh nếu phạm thì tự thấy lỗi xin sám hối, hoặc Ban chức sự hay huynh đệ thấy nhắc cũng sẵn sàng sám hối. Song một lỗi mà Thiền sinh phạm nhiều lần cũng tự xấu hổ xin rút lui khỏi Thiền Viện.
IV. TỔ CHỨC

Còn tiếp!
__________________
rjie
THẦN QUY LONG MÃ

Âm và Dương là hai đối tượng Đồng Hành, đối tượng Dương có khí cực mạnh hơn đối tượng Âm.
Một là Thái Cực Thổ, Hai là Âm Thổ và Dương Thổ, Ba là sự tương tác Âm Thổ và Dương Thổ, Tất cả là Tứ Tượng, Bát quái, 64 quẻ.
nguyenle is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 12-11-2007   #8
nguyenle
Hội viên
 
nguyenle's Avatar
 
Tham gia ngày: Sep 2007
Bài gởi: 432
Thanks: 10
Thanked 14 Times in 13 Posts
Blog Entries: 2
Nội Dung Thanh Qui Phần I




IV.TỔ CHỨC
Tổ chức Thiền Viện là tổ chức chuyên tu Thiền thoe tông chỉ phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử ở Việt Nam. Để hướng dẫn và bảo vệ Thiền sinh tu hành được kết quả tốt, nên tổ chức những người có trách nhiệm chia làm hia ban: Ban lãnh đạo và Ban chức sự.
A.BAN LÃNH ĐẠO
1- Viện Trưởng:Chịu trách nhiệm hướng dẫn tu hành và quyết định xem xét tổng quát toàn bộ Thiền Viện.
2- Viện Phó: Thay thế Viện Trưởng khi vắng mặt hoặc đặc trách một trách nhiệm gì do Viện Trưởng giao phó.
3- Thư ký: Gìn giữ những văn kiện, thư từ quan trọng của Thiền Viện. Soạn thảo văn thư và liên lạc qua lại với Giáo Hội, Chánh quyền, Phật tử.
4- Thủ Bổn: Nhận giữ và chi ra cho các chức sự cần mua sắm cho chúng và Thiền Viện, với sự đồng ý của Ban lãnh đạo. Mỗi tháng phải báo cáo thu chi lên Viện Trưởng.
B.BAN CHỨC SỰ
1- Quản chúng: Có trách nhiệm sắp đặt việc tu hành của toàn chúng, chủ lễ các buổi lễ trong Thiền Viện, xem xét sự tu hành và đạo đức của chúng.
2- Phó quản chúng: Có trách nhiệm thay thế Quản chúng khi vắng mặt và nhận một công tác đặc biệt do Quản chúng giao.
3- Tri sự: Sắp đặt phân công nhân sự trong mọi công tác của Thiền Viện. Phân chia vật dụng cho chúng.
4- Tri khách: Tiếp xúc các Phật tử và sắp đặt nơi ăn ở cho khách. Nếu khách cần ở lại, hướng dẫn xin và trình giấy với Chánh quyền.
5- Tri khố: Mua sắm những thức ăn uống, sắp đặt cho Ban trị nhựt nấu nướng những thức ăn thích hợp với nhu cầu cần thiết cho chúng.
6- Hương đăng: Lau quét điện Phật, chưng cúng hoa quả và hướng dẫn Phật tử hành hương lễ Phật.
7- Trưởng ban vườn: Trồng cây và chăm sóc vườn cây cho tươi tốt, đồng thời biết thu hoạch quả đúng lúc, hoặc bán kịp thời.
8- Trưởng ban rẫy: Trồng rau đậu và các thứ cải cho chúng đủ ăn hàng ngày.
9- Trưởng ban hoa kiểng: Trồng trọt và trông coi săn sóc toàn bộ hoa kiểng trong Thiền Viện, dưới sự chỉ đạo của Ban lãnh đạo.
10- Ban khán bệnh: Ở nơi xa vắng, Ban khán bệnh rất cần thiết. Ban khán bệnh phải săn sóc bệnh của chúng từ lúc khởi đầu. Phật đã dạy săn sóc người bệnh là săn sóc Phật .
Ngoài ra, theo nhu cầu của mỗi Thiền Viện, mà việc phân ban có sai khác, tùy theo sự sắp xếp của Ban lãnh đạo.
V. THỜI KHOÁ TẠI CÁC THIỀN VIỆN
THIỀN VIỆN TRÚC LÂM

A- Hàng ngày :
- Sáng: 3g 30 : Ba hồi ba tiếng chuông thức.- Hô chuông tọa thiền.
5g 30 : Một hồi chuông xả thiền.
6g 15 : Ba tiếng bảng tiểu thực.
7g 30 : Ba tiếng kiểng công tác.
11g : Một hồi kiểng xả công tác.
12g : Ba tiếng bảng thọ trai.

- Chiều :
1g : Ba tiếng chuông nghỉ.
2g : Một hồi ba tiếng chuông thức.
2g 30 : Ba tiếng chuông tọa thiền.
4g 30 : Một hồi chuông xả thiền.
5g : Ba tiếng bảng tiểu thực.
6g : Ba tiếng chuông sám hối.
7g 30 : Ba tiếng chuông. - Hô chuông tọa thiền.
9g 30 : Một hồi chuông xả thiền.
10g : Ba tiếng chuông nghỉ.

B- Mỗi tháng:

a- Thỉnh nguyện : Ngày 13 và ngày 28 vào lúc 2g 30 chiều.
b- Tham vấn : Ngày 14 và ngày 29 vào lúc 8g sáng.

CÁC THIỀN VIỆN

A- Hàng ngày:
- Sáng:
3g : Ba hồi ba tiếng chuông thức. - Hô chuông tọa thiền.
5g : Một hồi chuông xả thiền.
5g 45 : Ba tiếng bảng tiểu thực.
6g 30 : Ba tiếng kiểng công tác.
10g : Một hồi kiểng xả công tác.
10g 45: Ba tiếng bảng thọ trai.
12g : Ba tiếng chuông nghỉ.

- Chiều:
1g : Một hồi ba tiếng chuông thức.
2g : Ba tiếng chuông học hoặc tọa thiền.
4g : Nghỉ học hoặc xả thiền.
5g : Một hồi chuông báo nghỉ công tác trong ngày - Tiểu thực.
6g 15 : Ba tiếng chuông sám hối.
7g 30 : Ba tiếng chuông - Hô chuông tọa thiền.
9g : Một hồi chuông xả thiền.
9g 30 : Ba tiếng chuông nghỉ.

B- Mỗi tháng:
Thỉnh nguyện ngày 15 hoặc 30. Tháng thiếu ngày 29.
VI. CHƯƠNG TRÌNH HỌC
Còn tiếp!
__________________
rjie
THẦN QUY LONG MÃ

Âm và Dương là hai đối tượng Đồng Hành, đối tượng Dương có khí cực mạnh hơn đối tượng Âm.
Một là Thái Cực Thổ, Hai là Âm Thổ và Dương Thổ, Ba là sự tương tác Âm Thổ và Dương Thổ, Tất cả là Tứ Tượng, Bát quái, 64 quẻ.
nguyenle is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 12-11-2007   #9
nguyenle
Hội viên
 
nguyenle's Avatar
 
Tham gia ngày: Sep 2007
Bài gởi: 432
Thanks: 10
Thanked 14 Times in 13 Posts
Blog Entries: 2
Nội Dung Thanh Qui Phần I




VII. Tuyển Sinh
A. THIỀN VIỆN TRÚC LÂM
1- Hạn tuổi: Thiền sinh xin vào Thiền Viện từ 18 đến 55 tuổi. Ngoại trừ Ban chức sự.
2- Trình độ: Phải có một trong ba điều kiện sau đây:
a- Tu học tại Thiền Viện ba năm trở lên.
b- Học xong Trường Trung cấp Phật học hoặc Cao Cấp Phật Học.
c- Nếu cư sĩ xin xuất gia nhập chúng, phải có trình độ văn hóa từ lớp 12 trở lên và đã nhiều năm nghiên cứu thực tập tu Thiền.
3- Người hâm mộ và quyết chí tu Thiền, khẳng định trong đời này phải sáng đạo mới được.
4- Không tật nguyền và bệnh truyền nhiễm.
5- Chấp nhận cuộc sống đạm bạc và Lục hòa.
6- Làm tờ cam kết không phạm Nội Qui của Thiền Viện.
B. CÁC THIỀN VIỆN
1- Hạn tuổi: Thiền sinh xin vào Thiền Viện từ 18 đến 55 tuổi.
2- Trình độ: Phải có một trong hai điều kiện sau đây:
a- Học xong Trường Trung cấp Phật học hoặc Cao Cấp Phật Học.
b- Nếu cư sĩ phải có trình độ văn hóa lớp 12 và đã nhiều năm nghiên cứu thực tập tu Thiền.
3- Người hâm mộ và quyết chí tu Thiền, khẳng định trong đời này phải sáng đạo mới được.
4- Không tật nguyền và bệnh truyền nhiễm.
5- Chấp nhận cuộc sống đạm bạc và Lục hòa.
6- Trước khi nhập chúng phải tập sự tại Thiền Viện từ một tới ba năm.
VIII. ĐIỀU LỆ DÀNH CHO KHÁCH
Khách đến Thiền Viện gồm có khách hành hương, tham quan và khách ở lại. Tất cả khách đều giữ nghiêm trang lịch sự khi đến Thiền Viện.
1- Khách hành hương và tham quan: Thiền Viện chia làm hai phần, Nội viện và Ngoại viện. Khách hành hương và tham quan chỉ ở phần Ngoại viện. Trừ khi khách muốn nghiên cứu về đường lối tu hành của Thiền Viện, phải nhờ Thầy Tri khách xin phép, sau đó mới được dẫn vào Nội viện.
2- Khách ở lại Thiền Viện ngắn hạn: Nếu khách đến thăm thân nhân hoặc đến nghiên cứu, chỉ được ở lại không quá bảy ngày.
3- Khách ở lại dài hạn: Một là khách ở lại thực tập tu dài hạn tại nhà khách. Hai là khách ở lại xin nhập thất. Hai hạng khách này được ở lại Thiền Viện không quá ba tháng. Trừ trường hợp tu hành khá đắc lực, muốn xin thêm thời gian tu học cho được mỹ mãn, phải do Hòa thượng Viện Trưởng quyết định.
4- Khách Ni và Phật tử nữ tuyệt đối không được ở lại đêm nhà khách Tăng và ngược lại cũng thế.
IX. KẾT LUẬN
Nội Qui này là một nhu cầu thiết yếu để bảo vệ sự an ổn tu hành của Thiền sinh ở Thiền Viện. Nội Qui giúp cho Thiền sinh sống hài hòa trong nề nếp đạo đức, khiến sự tu học dễ phát triển. Vì thế, mỗi tháng một lần Thỉnh nguyện đọc lại Nội Qui, để Thiền sinh ghi nhớ và tự kiểm điểm xem mình có phạm điều nào không. Vì tha thiết tu hành, các Thiền sinh cố nhớ, giữ cho được trọn vẹn.
Thanh Qui này đã được duyệt lại lần thứ nhất, với những điều khoản đã ghi và ấn định tại Thiền Viện Trúc Lâm ngày mồng 8 tháng 2 năm Kỷ Mão (25/03/ 1999), dưới sự chứng minh và Chủ tọa của Hòa thượng Viện Trưởng.
Về sau nếu có sự thêm bớt điều nào thì phải có một buổi họp trong Tông môn mới được thống nhất.
__________________
rjie
THẦN QUY LONG MÃ

Âm và Dương là hai đối tượng Đồng Hành, đối tượng Dương có khí cực mạnh hơn đối tượng Âm.
Một là Thái Cực Thổ, Hai là Âm Thổ và Dương Thổ, Ba là sự tương tác Âm Thổ và Dương Thổ, Tất cả là Tứ Tượng, Bát quái, 64 quẻ.
nguyenle is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 12-11-2007   #10
nguyenle
Hội viên
 
nguyenle's Avatar
 
Tham gia ngày: Sep 2007
Bài gởi: 432
Thanks: 10
Thanked 14 Times in 13 Posts
Blog Entries: 2
Nội Dung Thanh Qui Phần I




VI. CHƯƠNG TRÌNH HỌC
Chủ yếu của Thiền Tông là: Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật.
Thế mà chúng ta tu thiền lại nghe kinh học luận, có trái với chủ trương của Thiền Tông không ?
Vì Phật giáo Việt Nam thừa kế gia bảo Thiền Tông mà đã không khéo giữ gìn nên bị mất gốc.
Do đó các Thiền Viện mới chủ xướng Thiền Giáo đồng hành, nghĩa là vừa tu theo Thiền Tông vừa học kinh luận.
Hơn nữa hiện tình tu sĩ Việt Nam cũng có lắm người tu thiền, nhưng không có mấy người thực tu theo Thiên Tông chánh thống, nên họ dễ bị lạc lầm và sinh ra bệnh hoạn điên cuồng. Vì vậy, các Thiền Viện nếu không đem kinh luận của Phật, Tổ phối hợp chặt chẽ thì không sao tránh khỏi sự nghi ngờ lo sợ của đa số tu sĩ.
Đó là lý do căn bản Tăng Ni các Thiền Viện phải học kinh luận.
__________________
rjie
THẦN QUY LONG MÃ

Âm và Dương là hai đối tượng Đồng Hành, đối tượng Dương có khí cực mạnh hơn đối tượng Âm.
Một là Thái Cực Thổ, Hai là Âm Thổ và Dương Thổ, Ba là sự tương tác Âm Thổ và Dương Thổ, Tất cả là Tứ Tượng, Bát quái, 64 quẻ.
nguyenle is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Trả lời


Ðang đọc: 1 (0 thành viên và 1 khách)
 
Ðiều Chỉnh
Xếp Bài

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn
Bạn không được quyền gởi bài
Bạn không được quyền gởi trả lời
Bạn không được quyền gởi kèm file
Bạn không được quyền sửa bài

vB code đang Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt
Chuyển đến