PDA

View Full Version : Bồ Tát Hạnh


Tịnh Ngọc
03-03-2005, 03:03 AM
Ngài Quan-Thế-Âm Bồ-Tát , Nam-Tông và Bắc-Tông

Khải Chính Phạm Kim Thư

I. Ngài Quan-Thế-Âm Bồ-Tát

Trước khi trình bày về ý-nghĩa của Ngài Quan-Thế-Âm Bồ-Tát, tôi xin nói về từ “Quan” và “Quán.” Theo nghĩa kinh-điển nhà Phật, hai chữ này có đồng nghĩa là xem xét điều lầm-lỗi quấy bậy để trừ bỏ đi. Chính vì thế mà người ta có thể nói là “Quan-Thế-Âm” hay “Quán-Thế-Âm” cũng được.

Theo các sách Phật học, người ta thường nói: Quan-Âm Bồ-Tát có nghĩa là Đức Bồ-Tát Quan-Âm, một vị Đại Bồ-Tát trong Phật-Giáo Đại-Thừa. Bồ-Tát Quan-Âm còn được gọi là Quan Thế-Âm Bồ-Tát, Quan-Âm, Quan-Tự-Đại, Từ-Tâm Bất-Sát. Đây là những danh-hiệu của các vị Bồ-Tát thường cứu khổ chúng-sinh.

“Bồ-Tát” có nghĩa là người tu-hành gần đến bậc Phật và thuờng cứu-độ cho khắp cả mọi người. Tiếng “Bồ-Tát” là do tiếng Phạn “Bồ-Đề Tát-Đóa (Bodhi Sattva). “Bồ-Đề” có nghĩa là “chánh-giác,” “Tát-Đóa” có nghĩa là “chúng sinh.”

“Quan-Thế-Âm” có nghĩa là nghe xét các âm-thanh của các chúng-sanh trong Pháp-Giới hầu có sức thần-thông mà cứu vớt họ.

Ngài “Bồ-Tát Quan-Âm” hay “Quan-Thế-Âm Bồ-Tát” thường được người Đạo Phật ở Viễn-Đông tôn trọng ngài theo hình một bà. Người Đạo Phật ở Tây-Tạng lại tôn-trọng ngài theo hình một ông. Ngài Quan-Thế-Âm Bồ-Tát có mười một cái mặt, ngàn tay, ngàn mắt, và 108 hồng-danh (“hồng-danh” là danh-tiếng to lớn, tên tuổi oai-hùng mà mọi người đều kính-trọng. Đây là danh-hiệu của Phật đồng-nghĩa với Phật- danh hay Phật-hiệu). Ngài Quan-Thế-Aâm Bồ-Tát ngự tại đền Potala tại Lhassa ở Tây-Tạng (Tibet). Đã có tác-phẩm như Kinh Diệu-Pháp Liên-Hoa xưng tụng công-đức và lòng từ-bi cứu thế của ngài. Chính vì thế mà hễ ai thờ ngài, cầu nguyện, và niệm tưởng ngài thì được ngài ban phước đức, chở che, và cứu-trợ trong lúc bị tai nạn hay nguy-hiểm. Khi người nào chiêm-ngưỡng lễ bái ngài Quan-Thế-Aâm Bồ-Tát thì thế nào cũng được thỏa-nguyện.

II. Nam-Tông và Bắc-Tông

Đạo Phật Thiền-Tông và Đạo Phật trên thế giới phân chia ra hai tông: Nam-Tông và Bắc-Tông.

1. Nam-Tông

Nam-Tông có nghĩa là Tông Miền Nam hay giáo-phái miền Nam đối với Bắc-Tông.

Nam-Tông là giáo-phái do Lục-Tổ Huệ-Năng lãnh-đạo và được lan-truyền về Miền Nam nước Trung-Hoa. Nam-Tông còn được kêu là Tổ-Sư Thiền có sở-trường về phép Đốn-Giáo (Phép Đốn-Giáo có nghĩa là dạy cho thành-tựu tức-khắc, dạy cho bằng giáo-pháp vắn-tắt đại-thừa).

Nam-Tông cũng được kêu là Tiểu-Thừa lan truyền trong các xứ miền Nam như: Tích-Lan, Miến-Điện, Cao-Miên, Xiêm, và Lào (Lèo). Kinh Phật trong Nam-Tông viết bằng chữ Ba-Lỵ. Chữ “Ba-Lỵ” (Pali) là loại chữ của kinh phương Nam, nhất là miền Tích-Lan (Ceylan). Những kinh Phật Tiểu-Thừa miền Nam thì được chép và đọc bằng chữ Ba-Lỵ và tiếng Ba-Lỵ.

Nam-Tông có sở-trường dạy Phật-Tử tu học cho đắc quả La-Hán. “La-Hán” còn được gọi là “A-La-Hán” có nghĩa là bậc tu-hành đắc-đạo trong Đạo Phật vì đã xuất-gia và dứt tuyệt các phiền-não ở trong lòng. Vậy cho nên “Quả La-Hán” có nghĩa là dẹp được phiền-não; dứt sạch các lỗi-lầm; đạt tới sức mạnh huyền-vi, tư-tưởng tự-do, tâm-trí tự-tại, hiểu-biết tất-cả sự việc một cách hoàn-mỹ, làm chủ tư-tưởng của mình, và có đủ phép thần-thông.

2. Bắc-Tông

Bắc-Tông là Tông Miền-Bắc hay giáo-phái Miền Bắc do Thần-Tú Đại-Sư lãnh-đạo rất thịnh-hóa ở miền Bắc. Bắc-Tông còn được gọi là Như-Lai Thiền và sở-trường về phép Tiệm-Giáo. “Tiệm-Giáo” có nghĩa là Pháp môn dạy lần-lần, tức là chậm-rãi hay từ-từ.

Bắc-Tông cũng được kêu là Đại-Thừa và được phổ biến ở các nước miền Bắc như: Tàu, Nhật (Nhựt), Tây-Tạng, Mông-Cổ, Cao-Ly, Việt-Nam, v.v. để cho mọi nhà sư tu học theo kinh chánh bằng ngôn-ngữ cổ của nước Ấn-Độ gọi là Bắc-Phạn (Sanscrit/ Sanskrit).

Bắc-Tông chuyên dạy người tu học để đạt được Quả Bồ-Tát và Quả Phật. Quả Bồ-Tát và Quả Phật có nghĩa là sự thành-tựu của Đấng Bồ-Tát và Đức Phật. Khi người ta lo tu-hành để tự-giác giác-tha, cứu-độ chúng-sinh, truyền đạo và thuyết-pháp giúp đời, và bố-thí giúp chúng-sinh thì về sau được kết “Quả Bồ-Tát.” Nhưng người lo tu-hành về bố-thí, trì-giới, nhẫn-nhục, tinh-tấn, thiền-định, và trí-huệ thì đạt được quả cao hơn hết là “Quả Phật.”


http://img.photobucket.com/albums/v604/barbiemodel/Quan%20Am%20Bo%20Tat/QuanAm24.jpg

Tịnh Ngọc
03-03-2005, 03:11 AM
QUÁN ÂM DIỆU PHÁP

Thích Giác Nhàn biên soạn

Một niệm Quán Âm dứt niệm sầu,
Ngân vang Bồ Tát hết khổ đau.
Tâm hồn thanh tịnh không còn vọng,
Tu niệm Quán Âm thật nhiệm màu.

NAM MÔ QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT.


Trong mỗi năm nhiều chùa thường làm lễ kỷ niệm Đức Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. Nhằm ba ngày âm lịch.

1-Ngày 19 – 2

2-Ngày 19 – 6

3-Ngày 19 – 9

Vậy giờ đây xin lần lược trình bày về ý nghĩa danh hiệu, sự tích, hạnh nguyện, ảnh hưởng lý do cảm ứng và lợi ích xưng niệm hồng danh của Ngài để hiểu rõ thêm về đức tánh Đại Bi và công đức thù thắng của Bồ Tát Quán Thế Âm mà chư Phật tử thường thành kính xưng niệm.

I. Ý NGHĨA DANH HIỆU

Cũng như phần nhiều danh hiệu của chư Bồ Tát khác. Danh hiệu Đại Bi Quán Thế Âm là danh hiệu của Bồ Tát hằng cứu khổ, danh hiệu này do nghiệp nhân tu hành và hạnh nguyện độ sanh mà thành tựu.

1. ĐẠI BI.

Là lòng thương cứu khổ không bờ bến, thương người như thương mình, cứu người như cứu mình một cách bình đẳng, vô tư sáng suốt không bị thời gian chi phối, không bị không gian ngăn cách, không phân biệt giống nòi, người hay vật, không phân biệt giàu sang hay nghèo hèn, không phân biệt trí tuệ hay ngu si và không phân biệt người ân hay kẻ oán.

2. QUÁN.

Nghĩa là quán sát, xem xét

3. THẾ.

Nghĩa là tiếng tăm trong thế gian

4. BỒ TÁT.

Nói cho đủ là Bồ Đế Tát đỏa tức là giác hữu tình, nghĩa là bậc hữu tình đã giác ngộ và trở lại giác ngộ các loài hữu tình khác.

Vậy Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát là vị Đại Bồ Tát có lòng thương rộng lớn, thường quán sát tiếng kêu cầu đau khổ của chúng sanh trong thế gian mà thị hiện cứu độ.

Bồ Tát Quán Thế Âm không giong ruổi theo âm thanh động tịnh bên ngoài như phàm phu. Trái lại Ngài dùng trí huệ thanh tịnh quán sát cái tự tánh bên trong mà chứng được bản thể vũ trụ. Do đó Ngài chúng được “ Nhĩ căn viên thông” mà khắp trong hoàn vũ không có âm thanh nào mà ngài không nghe, không có tâm niệm nào mà Ngài không thông và không có tiếng tăm nào mà Ngài không hiểu.

Kinh “Ngũ Bách Danh” cho biết Đức Quán Thế Âm Bồ Tát có tất cả 500 danh hiệu đều là hoá thân của Ngài. Vì chứng được lục căn hỗ dụng (nghĩa là sáu căn có thể thay thế lẫn nhau, như mắt có thể nghe, tai có thể thấy và lưỡi có thể ngửi.vv)

Phổ Đà Lạc già thường nhập định,
Tuỳ duyên phó cảm mị bất châu.
Tầm thinh cứu khổ độ quần mê,
Thị tắt danh vi Quán Tự Tại

Tạm dịch.

Trên núi Phổ Đà Thường nhập định,
Tuỳ duyên ứng hiện khắp gần xa.
Tầm thinh cứu khổ độ quần mê,
Vậy nên gọi là Quán Tự Tại.


http://img.photobucket.com/albums/v604/barbiemodel/Quan%20Am%20Bo%20Tat/QuanAm23.jpg

Tịnh Ngọc
03-03-2005, 03:14 AM
II. SỰ TÍCH

Về sự tích của Bồ Tát Quán Thế Âm thì nhiều kinh sách tường thuật tiền thân của Ngài như sau.

Nguyên Ngài là một vị Cổ Phật vì nguyện lực Đại Bi mà thị hiện làm Bồ Tát trải qua vô lượng vô số kiếp để cứu độ chúng sanh đâu thương trong biển khổ trầm luân.

Trong kinh Lăng Nghiêm chính Ngài cũng nói: “Tôi nhớ về vô số kiếp như các sông hằng về trước, có đức Phật ra đời hiệu là Quán Thế Âm Như Lai. Lúc bấy giờ tôi phát Bồ Đế tâm trước đại hội, Như Lai liền dạy tôi nên từ tam học “Văn, Tư, Tu” mà chứng nhập “chánh định” Sau cùng đức QuánThế Âm Như lai khen ngợi tôi khéo chứng được pháp môn”Viên Thông” và thụ ký cho tôi tên là Quán Thế Âm, vì tôi nghe tiếng trong mười phương được thông suốt.

Kinh “ Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm” ghi rằng: “Thuở đời quá khứ, từ vô lượng kiếp nhẫn lại đay, Quán Thế Â m Bồ Tát đã thành Phật hiệu là Chánh Pháp Minh Như Lai, nhưng vì nguyện lực đại bi nên hiện thân Bồ Tát tu tập không biết bao nhiêu pháp môn Đà La Ni để tiêu tai giải ách và tăng trưởng phúc huệ cho chúng sanh. Lúc đức Thiên Quang Vương Tịnh Trụ Như Lai ra đời có thuyết chú Đại Bi, Đức Quán Thế Âm nhờ nghe thần chú mà đương ở bậc sơ địa Bồ Tát, vượt chứng lên Bát địa Bồ Tát, thân tâm hoan hỷ,phát nguyện rộng lớn thọ trì thần chú, độ thoát chúng sanh, nhơn từ đó tự thân sanh ra ngàn tay ngàn mắt. Vì thế chú Đại Bi mà chúng ta hằng ngày trì tụng có tên là “Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni”

Kinh Bi Hoa thuật rằng: Hằng hà sa số kiếp về trước. Ngài là Thái Tử Bất Thuấn ( có nơi nói là Bất Huyến) con Vua Vô Tránh Niệm. Thời ấy có Đức Bảo Tạng Như Lai tại thế, vua và Thái Tử nghe Phật thuyết pháp am hiểu giáo lý cao siêu hoan hỷ phát nguyện tu hành. Sau vua Vô Tránh Niệm thành Phật A Di Đà và Thái Tử Thành Bồ Tát Quán Thế Âm ở cõi Cực Lạc.

Theo kinh Quán Thế Âm Bồ Tát thụ ký, thì vô lượng kiếp sau khi Phật A Di Đà nhập diệt, cõi Cực Lạc sẽ đổi tên là “Nhất Thiết Chân Bửu Sở Thành Tựu” càng thêm tốt đẹp hơn trước. Và Quán Thế Âm Bồ Tát sẽ thành Phật hiệu là “Biết Xuất Thế Quang Minh Công Đức Sơn Vương Như Lai”

Lại nữa, trong kinh Quán Âm tam muội Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy rằng: Bồ Tát Quán Thế Âm là một vị Cổ Phật và xưa kia chính Đức Thế Tôn đã từng làm đệ tử của vị Cổ Phật ấy.

Vài đoạn lịch sử trên chi là một phần nhỏ trong kinh sách. Ngoài ra còn nhiều truyền thuyết đã nói về sự tích của Ngài được chuyền bá phổ cập trong nhân gian, như truyện:

Quán Âm Thị Kính
Quán Âm Diệu Thiện. vv.


http://img.photobucket.com/albums/v604/barbiemodel/Quan%20Am%20Bo%20Tat/QuanAm22.jpg

Tịnh Ngọc
03-03-2005, 03:31 AM
III- HẠNH NGUYỆN

Đức Quán Thế Âm Bồ Tát là một vị Phật bổ xứ. Ngài se thay thế đức Phật A Di Đà ở thế giới Cực Lạc. Cũng như Bồ Tát Di Lặc sẽ thay thế Đức Phật Thích Ca giáo hoá chúng sanh trong cõi Ta Bà về tương lai.

Bồ Tát Quán Thế Âm tượng trưnh cho đức tánh Đại Bi , cũng như:

* Bồ Tát Di Lặc tượng trưng cho đức tánh Đại Từ.

* Bồ Tát Văn Thù tượng trưng cho đức tánh Đại Trí,

* Bồ Tát Phổ Hiền tượng trưng cho đức tánh Đại Hạnh,

* Bồ Tát Thế Chí tượng trương cho đức tánh Đại Hùng.

Tất cả hạnh nguyện của Đức Quán Thế Âm đều xuất phát ở lòng Đại Bi là một thể có hai dụng:

1-Độ thoát chúng sanh khổ não

2-Phát sanh trí giác Bồ Đề.

Ngài là một pháp thân đại sĩ đã nhập thể Đại Bi, Ngài là hiện thân của Đại Bi, Ngài là vị Đại Bi giáo chủ, phát nguyên rộng lớn phước tướng trang nghiêm như bốn câu kệ sau đã tán duơng.

Khể thủ Quán Âm Đại Bi chú
Nguyện lực hồng thâm tướng hoả thâm
Thiên tý trang nghiêm phổ hộ trì
Thiên nhãn Quang Minh biến quán chiếu

Tạm dịch:

Kính lạy Đức Đại Bi Quán Âm
Nguyện lực hồng thâm tướng hảo thân
Ngàn tay trang nghiêm khắp hộ trì
Ngàn mắt sáng ngời khắp soi xét

Do nhân tu pháp “Nhĩ Căn Viên thông” Đức Quán Thế Âm nhập thể Chân Như chứng được chân tâm thanh tịnh sáng suốt viên mãn khắp mười phương thế giới, nên được hai món công đức thù thắng:

1. Trên hiệp với đức từ độ sanh của chư Phật,

2. Dưới hiệp với lòng bi ngưỡng mộ của chúng sanh trong sáu đường

Nhờ chứng được đồng thể với chư phật, Ngài hiện ra 32 ứng hoá thân để tuỳ thuận theo chúng sanh mà hoá độ.

Nhờ chứng được đồng thể với chứng sanh, mà Ngài ban cho muôn loài 14 món vô uý (tức là 14 món không sợ hãi).

Ngoài ra đứcQuán Thế Âm Bồ Tát còn được 4 món bất tư nghì vô tát diệu lực (tức là bốn đức màu vô tát diệu lực không thể nghĩ bàn)

1- Hiện nhiều đầu, nhiều tay và nhiều mắt để cứu độ chúng sanh, khiến cho đặng tự tại.

2- Hiện hình nói thần chú để bố thí không sợ.

3- Khiến chúng sanh bỏ tâm tham lam mà bố thí cúng dường

4- Khiến chúng sanh cầu chi được nấy(vợ con, trường thọ, chánh định, Niết Bàn).

Nguyên Ngài là một vị Cổ Phật hiệu Chánh Pháp Minh Như Lai, nhưng vì thương sót chúng sanh chìm đấm trong bể khổ, nên Ngài dùng phương tiện hiện thân thành Bồ Tát, thệ nguyện rộng lớn độ tận chúng sanh khắp mười phương thế giới, từ địa ngục lên cung trời, từ Ta Bà sang Cực lạc, từ Cực Lạc sang thế giới Tịnh Lưu Ly. Đâu đâu cũng có hoá thân của Ngài dưới mọi hình tướng cứu độ muôn loài.

Phổ môn thị hiện khắp,
Cứu khổ tầm thinh độ thế gian.
Một niệm từ bi năng thuyết pháp,
Vớt người thoát khỏi chốn mê tân.
Tuỳ cơ cảm ứng thân hình hoá,
Tứ hải chúng sanh đặng độ an.
Ách nạn khổ nguy thường cứu giải,
Đời đời chẳn vướng tám tai nàn.

Hình tượng của Ngài thường thờ hoá thân phụ nữ. Biểu hiện lòng từ bi quảng đại của Ngài đối với chúng sanh mẹ hiền thương con vậy. Khi thấy Ngài một tay cầm nhành dương liễu, một tay bưng bình cam lồ, đó là hình ảnh tượng trưng Bồ Tát luôn luôn tế độ quần sanh rẩy nước cam lồ dặp tắt lửa hiền não, đem lại an lạc cho muôn loài.

Pháp Bồ Tát cao siêu huyền diệu
Quán Thế Âm diệu lực hoá thân
Nhành dương quét sạch phược trần
Tịnh bình cam lộ giải tan não phiền.

Khi chiêm ngưỡng hình ảnh đức Quán Thế Âm Bồ Tát ngồi nhập định nơi pháp toà tại rừng trúc núi Phổ Đà, hình ảnh ấy cho biết rằng tuy tuỳ duyên thuyết pháp để hoá độ chúng sanh nhưng Ngài vẫn không rời Pháp toà chánh định.

Lại có thấy Bồ Tát đi trên hoa sen giữa biển cả ba đào, hình tượng ấy biểu hiện biển đời đau khổ đầy sống gió, nhưng Ngài vẫn tự tại luôn luôn và hoan hỷ cứu vớt muôn loài, không bao giờ từ bỏ một chúng sanh nào trong hiểm nghèo.

Trí tuệ rộng sâu đại biện tài
Ngự toà sen báu tuyệt trần ai
Hào quang chiếu phá muôn ngàn bệnh
Cam lồ tiêu trừ vạn kiếp tai

Bi tâm của Ngài rộng lớn vô cùng, phương tiện của Ngài thiện sảo vô tận. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni không ngớt tán thán hạnh nguyện của Bồ Tát Quán Thế Âm trong phẩm phổ môn của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa một bộ kinh đại thừa cao siêu bật nhất nói về Nhất thừa thật tướng lý nghĩa nhiệm màu, khai quyền hiển thật, thể dụng viên dung, tánh tướng dung nhiếp.


http://img.photobucket.com/albums/v604/barbiemodel/Quan%20Am%20Bo%20Tat/QuanAm21.jpg

Tịnh Ngọc
03-03-2005, 03:34 AM
IV- ẢNH HƯỞNG.

Hạnh nguyện của Bồ Tát Quán Thế Âm cao cả vô cùng, bi tâm của đấng từ mẫu cứu khổ rộng lớn vô tận, cho nên hầu hết các nước Phật Giáo điều tôn thờ hình tượng tranh ảnh của Ngài và tán dương công đức thù tắng của Ngài.

Riêng tại Việt Nam, một nước mà tư tưỏng đã thắm nhuần Phật giáo trên 2000 năm nay, triết lý nhà Phật đã in sâu vào trí não, đã ăn đậm vào tâm hồn tổ tiên chúng ta qua biết bao nhiêu thế hệ cho nên ngày nay, mặt dầu sanh vào thời mạt pháp nhưng chúng ta cũng gặp được chánh pháp đó là một phần lớn nhờ hồng ân Tam Bảo, nhưng cũng một phần nào thừa hưởng quí bấu của tổ tiên trong huyết quản.

Thâ1m nhuần tư tưởng nhà Phật tức thấm nhuần tư tưỏng từ bi mà Bồ Tát Quán Thế Âm, là tượng trưng hùng hồn cho đức tánh cao đẹp ấy.

Chúng ta chiêm ngưõng hình tượng của Ngài thì cảm thấy

1.Bầu không khí ấm áp an lành

2.Ánh sáng Đại Bi toả chiếu khắp thân hình

3.Tâm hồn hiền lành êm dịu, lòng càng thương người mến vật.

4.Niềm an ủi vỗ về như trẻ thơ bên cạnh mẹ hiền

5.Tánh tình bạo dạn hơn, lòng trở nên vững chắc thêm, không sợ tà ma ác quỷ, không sợ tai nạn nguy biến.

6.Ý chí cương quyết, tinh tấn tu niệm, lòng càng tin tưởng vào Phật pháp màu nhiệm đem lại an lạc cho muôn loài.

Ngoài ra ảnh hưởng của Quán Thế Âm Bồ Tát không phải là ít.

Nhìn qua nền văn hoá dân tộc Việt Nam không biết bao nhiêu truyện tích, thi ca, nhạc kịch, phim ảnh, hội hoạ.vv… đều nhất tề ca ngợi hạnh nguyện hồng thâm và tán dương oai lực thần thông quảng đại của Ngài.

Các tác phẩm ấy tuy không diễn đạt hoàn toàn đầy đủ tinh thần đại bi nhưng cũng biểu lộ một phần nào lòng ngưỡng mộ đức mẹ hiền cứu khổ.

http://img.photobucket.com/albums/v604/barbiemodel/Quan%20Am%20Bo%20Tat/QuanAm20.jpg

Tịnh Ngọc
03-03-2005, 03:41 AM
V. LÝ DO CẢM ỨNG.

Tại sao có lòng ngưỡng mộ đặt biệt như thế? Chẳng qua ngoài uy đức lẫy lừng của Quán Thế Âm Bồ Tát và lý do cảm ứng hiển nhiên không thể trối cải được.

Bi tâm của Bồ Tát luôn luôn hưởng ứng với khổ tâm của chúng sanh đang kêu cầu, vì có cảm tất có ứng theo luật”đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” nghĩa là những vật cùng một thứ tiếng thì ứng nhau (cũng như một con gà gáy thì cả bày gà đều gáy theo) những vật cùng một khí thì tìm nhau ( như nam châm hút sắt.vv.)

Vậy mỗi khi chúng sanh lâm nạn mà niệm danh hiệu của Ngài cầu cứu thì Bồ Tát liền hiện thân cứu độ.

Sự hiện thân của Ngài chỉ là một công dụng của Đại Bi.

Vậy cho nên khi người nào chuyên tâm niệm danh hiệu của Ngài tức là người ấy đã chuyên chú niệm đức tánh từ bi của họ. Đồng thời tin tưởng của họ cũng đã nhập vào đức tánh từ bi của Ngài giao cảm với đức tánh từ bi của người ấy.

Ví như hai luồng ánh sáng tương tiếp giao hoà với nhau thì ánh sáng toả khắp rộng ra giữa không gian.

Nói cách khác khi tâm tánh của chúng ta đã thanh tịnh một phút nào đó tức thì lúc đó chúng ta cảm nhận được ánh sáng từ quang của Ngài chiếu vào tâm tánh của chúng ta vậy. Như biển lặng sống ngừng thì in rõ nền trời xanh vào lòng biển cả, nước hồ thu trong thì ánh trăng thanh chiếu rọi vào.

Trăng kia vẫn bình yên và thản nhiên chiếu, nhưng nước đục thì không thấy trăng, chứ không phải trăng không soi đến hồ nước đục. Trời xanh vẫn hiển hiện vào lòng biển cả, nhưng biển cả sống dồi thì sao thấy được trời xanh quang đãng ấy.

Lòng từ bi Ngài không bỏ một ai, nhưng vì ai đó sống lòng còn giao động, tâm tánh còn thiên tà không tin tưởng Tam Bảo, không xưng niệm đấng từ bi, Người ấy không thấy đức từ bi, không thoát được khổ luỵ, bị tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến nhận chìm xuống biển khổ.

Để làm sáng tỏ thêm lý do cảm ứng xin dẫn ra một thí dụ nữa. Những làn sóng trên không gian thường chuyển đưa tin tức do các đài phát thanh phát ra giữa vũ trụ, những ai có máy thu thanh tốt và đài phát thanh mạnh thì bất cứ ở đâu cũng nhận được tin tức. Máy thu thanh là nhân, đài phát thanh là duyên, đầy đủ nhân duyên thì tin tức phát hiện.

Ở đây lòng khẩn xưng niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát là nhân, Bi nguyện độ sanh của Ngài là duyên. Nhân duyên gặp gỡ tức thì cảm ứng đạo giao khó nghĩ bàn, hoặc mộng thấy Ngài hiện thân chỉ bảo, hoặc thấy hào quang Ngài chiếu sáng, hoặc thấy các điềm lành khác như chuyển hoạ thành phước, tật bệnh tiêu trừ, tai nạn qua khỏi.vv… Chỉ có người chí tâm thành kính, xưng niệm danh hiệu mới cảm thấy rõ sự cảm ứng ấy, cũng như chỉ những máy thu thanh tốt mới bắt được tin tức rõ ràng. Hơn nữa người nào thường làm việc phước thiện không tham lam mà bố thí, không giận giữ mà nhẫn nhục, không ghen ghét mà tuỳ hỷ, không hẹp hoài mà bao dung hay thương sót kẻ đau khổ, cứu giáp kẻ lâm nạn người đó là hình ảnh của từ bi, của Bồ Tát, của Phật Đà, người đó thường hưởng được phước lạc và cầu nguyện gì cũng được mãn nguyện. Trái lại người nào tư tưởng tà vậy, ngôn ngữ bất chánh, cử chỉ hung tợn, có tật chấp nê, có tánh đố kỵ, hay nghét kẻ hơn mình, thường khinh rẻ kẻ bần cùng, hất hủi kẻ tàn tật, người đó là hình ảnh của tàn bạo của Dạ Xoa, của La Sát, người ấy thường chịu quả báo đau khổ, và lúc lâm nạn không gặp ai cứu vớt.

Vậy muốn thoát khổ được vui thiết tưởng đừng gây nghiệp ác, mà tạo nghiệp lành, phải bỏ lối sống vị kỷ, nếp sống hẹp hòi, nẻo sống thiển cận mà tập sống vị tha, sống rộng, sống sâu, sống với bác ái, sống với từ bi và sống theo gương đức Quán Thế Âm Bồ Tát.


http://img.photobucket.com/albums/v604/barbiemodel/Quan%20Am%20Bo%20Tat/QuanAm19.jpg

Tịnh Ngọc
03-03-2005, 03:56 AM
VI- LỢI ÍCH XƯNG NIỆM.

Bồ Tát Quán Thế Âm xưa kia là một vị Cổ Phật đã tu vô lượng kiếp để tế độ quần sanh. Vì muốn cứu vớt muôn loài trằm luân trong biển khổ, Ngài không ngại hoà quang đồng trần, hạ mình torng tam đồ lục đạo.

Ngài hoan hỷ thị hiện Bồ Tát thực hành đại nguyện, đại bi tầm thanh cứu khổ, độ thoát chúng sanh khắp trong hoàn vũ, nơi nào có người đau khổ, nơi đó có Ngài hiện thân cứu độ. Ai thành tâm xưng niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát thì.

1- Thoát khỏi tam tai bát nạn.

2- Xa lìa tam độc (tham, sân, si)

3- Các điều nguyện cầu điều được mãn nguyện.

Xưng niệm danh hiệu của Ngài là un đúc hạt giống từ vào tâm địa chúng ta và cũng là một phương pháp khai thát những năng lực tìm tàng trong thân tâm của chúng ta ra cứu khổ trừ mê, diệt tai nạn và ban vui cho muôn loài. Nghĩa là giờ phút nào hướng về từ bi, tức là giờ phúc ấy dẹp tan ma quân tàn ác làm hại chúng ta. Nên trọn đời cứ nhất tâm cuơng quyết xưng niệm danh hiệu”Nam Mô QuánThế Âm Bồ Tát” thì trọn đời diệt sạch đau khổ sẽ được an vui hoàn toàn.

Vì vậy xưng niệm danh hiệu Ngài có nhiều lơiï ích thực tế. Cũng như hạt giống từ bi một khi đã được gieo và tâm địa, danh hiệu của Ngài đã lọt vào tai thì kiếp kiếp nó thành giống Bồ đề, hiện tại nó là một năng lực tiêu trừ nghiệp chướng phúc đức càng cao như thuỷ triều dâng lên vô tận, tội lỗi tiêu trừ như sương mai tan rã dưới ánh bình minh.

Phẩm Phổ Môn dạy rằng: “Người thọ trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát cho đến lễ bái cúng dường Ngài một thời được phúc đức bằng kẻ thọ trì danh hiệu 62 ức hằng hà sa Bồ Tát và trọn đời cúng dường các thức ăn uống, áo quần, gường ghế, thuốc thang, phước đức ấy trãi qua trăm ngàn vạn ức kiếp không bao giờ cùng tận.

Vì thọ trì danh hiệu Ngài được vô lượng vô biên phước đức lợi ích như trên, nên đức Phật Thích Ca khuyên chúng ta thường xuyên niệm danh hiệu “ Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát”, xưng niệm danh hiệu Ngài tức tưởng nhớ đức tánh từ bi, hỷ cả, vô ngã, vị tha, tán dương hạnh nguyện cứu khổ và thần phúc oai linh thâm diệu của đức Quán Thế Âm Bồ tát.

Công đức của Ngài vô lượng, thần thông của Ngài vô cùng, trí tuệ của Ngài vô biên, thì công đức phước báu của người xưng niệm danh hiệu Ngài cũng vô tận.

Hơn nữa, Khi xưng niệm danh hiệu của Bồ Tát Quán Thế Âm có được 10 điều lợi ích như sau.

1.Ngày đêm thường được các vị đại lực thần tướng của các cõi trời ẩn mình ủng hộ

2.Thường được Đức Quán Thế Âm Bồ Tát và các vị Bồ Tát khác hộ trì.

3. Đức Quán Thế Âm Bồ Tát thưòng phóng ánh quang minh mà nhiếp thọ người niệm danh hiệu Ngài.

4. Hết thẩy các loài ác quỉ, rắn độc, thuốc độc, không thể hại đuợc người nhất tâm xưng niệm danh hiệu Ngài.

5. Không mắc phải các nạn nước, lửa, đao, binh, hoạch tử, lao ngục.

6. Những tôi lỗi đã làm từ trước được tiêu trừ.

7. Đêm nằm chiêm bao không thấy các điều dữ, thường thấy Phật và Bồ Tát, hào quang hoa sen.

8.Tâm thường được vui mừng và làm việt gì cũng đuợc kiết lợi.

9.Thường được mọi người thương mến và cung kính cúng dường.

10. Lúc gần thác lòng không sợ hãi, chánh niệm hiện tiền, tự mình thấy phật và Bồ Tát phóng quang tiếp dẫn vãng sanh Tây Phương Cực Lạc.


http://img.photobucket.com/albums/v604/barbiemodel/Quan%20Am%20Bo%20Tat/QuanAm18.jpg

Tịnh Ngọc
03-03-2005, 03:59 AM
VII- KẾT LUẬN

Qua những sơ lược trình bày ở đoạn trên người Phật tử phải làm gì để ghi ơn đức Quán Thế Âm Bồ Tát.

Ngoài việc dâng hương hoa ngào ngạt lẫn với hương lòng thành kính, tụng kinh phẩm phổ môn, trì chú đại bi và nhất là thành khẩn niệm danh hiệu “ Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát” để ôn lại ý nghĩa hồng danh lừng lẫy, sự tích vẻ vang và hạnh nguyện cao đẹp của “Đại Sĩ Thí Vô Uý” đồng thời biểu lộ lòng tri ân vô tận đối với đấng từ mẫu cứu khổ.

Sự biết ơn ấy sẽ giúp chúng ta noi gương theo Ngài để phát lòng Đại Bi, gieo rắc tình thương khắp trong quần sanh. Sự biết ơn ấy sẽ đưa chúng ta đến gần Ngài hơn, hầu mong được Bồ Tát từ bi gia hộ cho chúng ta trên bước đường tu tập đầy trong gai chướng ngại. Sự biết ơn ấy là chìa khoá mở rộng tâm hồn giúp chúng ta khai thác những công năng trong thân tâm đem ra ứng dụng để cứu độ nhân thế.

Vậy hãy nên thành tâm khẩn cầu Ngài rưới nước cam lộ, rửa sạch mọi oán thù, chiếu hào quang rọi sáng mọi tâm hồn, ngõ hầu đưa thế giới đến hoà bình, chúng sanh đế an lạc

Quán Âm Đại Sĩ, phổ hiệu viên thông.
Thập nhị đại nguyện thệ hoàng thâm.
Khổ hải phiếm từ phong
Phổ tế tâm dung, sát sát hiện vô cùng.

Tạm dịch:

Kính lạy Đại Sĩ Quán Thế Âm
Viên thông lừng lẫy, tiếng tăm xa gần
Mười hai nguyện lớn vô ngần
Mênh mông biển khổ thổi cơn gió lành
Một lòng độ khắp quần sanh
Nơi nơi ứng hiện cảm linh khôn cùng.


http://img.photobucket.com/albums/v604/barbiemodel/Quan%20Am%20Bo%20Tat/QuanAm17.jpg

Tịnh Ngọc
15-03-2005, 05:49 AM
Quan Thế Âm Bồ Tát

HT Thích Trí Quảng

Quán Thế Âm Bồ Tát, một vị Đại sĩ vạn năng, thân thương của loài người ở Ta Bà mà bất cứ đệ tử nào của đức Phật cũng đều hướng tâm kính lễ, cầu nguyện Ngài, tại sao Bồ Tát Quan Âm đạt được quả đức như vậy?

Đức Phật nhắc đến công đức của Quan Âm rất nhiều, nhưng có thể nói ba bộ Kinh: Bát Nhã, Đại Bi và Pháp Hoa gồm đủ nhân, hạnh, quả, đức của Quan Âm. Kinh Bát Nhã nói về nhân địa tu hành, Kinh Đại Bi nói về sự cứu độ và Kinh Pháp Hoa chỉ rõ năng lực bất tư nghì của Ngài.

Từ thuở nhỏ, tôi có niềm tin mãnh liệt với Bồ Tát Quan Âm. Khi xuất gia được phước duyên hậu cần cố HòaThượng Thiện Hoa. Tôi thấy sáng nào Ngài cũng tụng Đại Bi, Phổ Môn và kết thúc Bát Nhã.

Hòa Thượng dạy tôi rằng tụng như vậy nhằm tin nhân hạnh của Quan Âm, để lập hạnh tu nhân theo Ngài. Nhờ lời dạy đó, tôi suy nghĩ và thực hành pháp tu giống vậy, và đạt được nhiều kết quả mầu nhiệm, không thể nghĩ bàn.

Nhưng nếu tu sai chúng ta chỉ cung kính, van xin, nhưng tâm niệm, hành động ác độc, chắc chắn không được Ngài che chở, còn chuốc lấy quả báo cũng không lường được. Tu nhân giống Quan Âm, có hạnh đồng với Ngài, dù không cầu, Ngài cũng gia bị. Điều này dễ hiểu, như thực tế. Tôi tu Pháp Hoa,người nào phát tâm tu Pháp Hoa, có tâm nguyện, ý chí hành đạo như tôi, tôi sẵn lòng giúp đỡ ngay, không đợi họ cầu xin.

Nhân địa tu hành của Quan Thế Âm thể hiện rõ nét qua kinh Bát Nhã, thu gọn lại là Bát Nhã tâm kinh. Kinh dạy rằng: Bồ Tát Quan Âm quán chiếu ngũ uẩn giai không, tức phá ý thức chấp hữu của ngũ uẩn, không cố chấp, nhưng tùy duyên hóa độ, không phải phá bỏ tất cả. Có người tu thường ưa lý luận ngũ uẩn giai không, đến khi có vấn đề là họ sân si không ai bằng. "Không" của họ chỉ là không trên đầu môi chót lưỡi, tâm còn đầy rẫy phiền não. Tu như vậy Quan Âm không cứu được. Quan Âm chỉ đến với ta tong lúc vô tâm, thí dụ như khi tâm của Đường Huyền Trang hoàn toàn lắng yên, đồng với đức Quan Âm, thì Ngài xuất hiện, trao cho tích trượng và y Như Lai, để vững tiến và thoát được tai ách trên đường thỉnh kinh. Vô tâm mới được Phật, Bồ Tát giúp đỡ, còn tham cầu chỉ tương ứng với ma quỷ, bị chúng nhiếp trì, lạc vào đường tà, tội lỗi.

Từ quán chiếu ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách, đó là khởi đầu và cũng là chung cuộc của Bát Nhã, thấy ngũ uẩn không, rời chấp trước, tâm lắng yên, trí tuệ phát sanh là Bát Nhã. Như vậy, Quan Âm khởi tu Tâm kinh và chứng Bát Nhã đó là nhân hạnh của Ngài. Ngày nay, chúng ta muốn tu nhân hạnh của Quan Âm, tất yếu phải thực hiện pháp đó trước tiên. Chúng ta dùng vô số phương tiện như tụng kinh, lễ sám, niệm Phật, trì chú, nghe pháp, tham thiền... để trụ tâm. Tâm đứng yên thì huệ phát sanh, dùng trí tuệ ấy quán sát trần thế, thấy rõ khổ vui của từng người, thấy được ngũ uẩn luôn biến động, không thực.

http://img.photobucket.com/albums/v604/barbiemodel/Quan%20Am%20Bo%20Tat/QuanAm16.jpg


Từ đó, dưới mắt người tu, cuộc đời không khác gì cái sân khấu lớn, ta là diễn viên đang đóng từng vai khác nhau trong mỗi kiếp, nhưng chơn tâm vẫn một màu thanh tịnh. Đạt đến đỉnh cao ấy, chứng đắc đại Bát Nhã, thấy được con người thực từ chân lý xuất hiện trên cuộc đời và từ cuộc đời trở về Tịch Quang chơn cảnh. Đó là dấu vết đi về của Bồ Tát Quan Âm, chúng ta lần theo đó sẽ gặp Ngài, nói khác, chúng ta nhập đạo qua cửa Bát Nhã, tâm định tĩnh, trí tuệ phát sanh. Tùy theo trí tuệ lớn hay nhỏ, mà từng bước, ta thấy được Quan Âm khác nhau, không đạt được kết quả này, công phu tu tập chỉ là dã tràng xe cát.

Từ Bát Nhã Tâm kinh, chúng ta tiến tu, gặp Bồ Tát Quan Âm tỏa sáng tâm đại bi.Ngài có lòng thương người bao la, nhất là người đau khổ, hoạn nạn, hễ khóc than, kêu cứu là Ngài đến liền, nghĩa là tấm chân tình của chúng ta đạt đến cao độ, truyền đến tâm từ của Ngài. Bồ Tát nhận được tín hiệu khổ đau ấy, tức khắc xuất hiện giúp đỡ, từ đó, chúng ta có thêm hạnh đức của Quan Âm trong kinh Đại Bi. Lẽ sống của Bồ Tát Quan Âm được kết hợp bằng trí tuệ và từ bi. Mà không có mãnh đất nào tốt để Ngài gieo trồng hạnh đức bi trí cho bằng cõi Ta bà, nơi phức tạp nhất, phiền lu?hất, khổ đau nhất, với đầy đủ loại hình chúng sanh, chúng sanh nghiệp, chúng sanh phiền não. Trên tinh thần ấy, một trong 12 lời nguyện của Quan Âm là trụ Ta Bà u minh giới, tầm thinh cứu khổ nguyện. Vì tâm đại bi, Quan Âm đến Ta Bà, tìm người khổ đau cứu vớt và ta cũng cứu người, nên đồng hạnh với Ngài, chúng ta sẽ gặp Ngài ngay. Ta cứu người, Quan Âm cứu ta.

Khi hạnh nguyện phần nào giống Quan Âm, chúng ta được sống gần Ngài, đồng hành với Ngài, chúng ta quan sát xem Ngài làm gì để tập làm theo. Năng lực bất tư nghì của Quan Âm. được Phật dạy rõ trong phẩm Phổ Môn, kinh Pháp Hoa.

Trọn Phổ Môn thị hiện, nổi bật tinh thần vị tha vô ngã của Bồ Tát Quan Âm. Nơi nào cần cứu, Ngài xuất hiện giúp đỡ, không vì quyền lợi riêng, nhưng vì quyền lợi số đông. Học hạnh Phổ Môn của Quan Âm chúng ta chỉ đến đáp ứng yêu cầu cho người không đến nhờ vả.

Trên tinh thần vô ngã, Bồ Tát Quan Âm thị hiện tùy lúc tùy chỗ, tùy yêu cầu dưới nhiều dạng hình khác nhau, thiên xứ hữu cầu thiên xứ ứng, kinh ghi là 33 ứng hiện thân. Về điểm này, nhiều người thường lầm tưởng rằng Quan Âm từ trong hư không hiện ra ở một chỗ nào đó để cứu chúng ta và rủ nhau đến đó cầu nguyện, cúng dường. Điều đó không đúng với chánh pháp. Chúng ta không cần tìm chỗ có Quan Âm hiện, vì chúng ta biết rõ Ngài hiện được tất cả mọi nơi. Tuy nhiên, người có niềm tin, lòng thành, mới thấy Ngài. Giáo sư Suzuki cụ thể hóa bằng ví dụ đài truyền hình tải âm thanh và hình ảnh khắp nơi, nhưng chỗ nào có máy tivi, mới bắt được hình ảnh, âm thanh, và nhiều khi máy còn bị nhiễu sóng, phải có antenne, hình mới rõ.

Niềm tin, lòng thành ví như máy truyền hình là điều kiện để Quan Âm hiện. Chúng ta thấy rõ Ngài hay không, còn tuỳ ở sự chi phối của nghiệp lực, ví như máy bị nhiểu sóng nhiều, ít. Vì vậy, có người thấy Phật, Bồ Tát lờ mờ hay có lúc thấy, lúc không. Trên bước đường tu, hạn chế nhiễu sóng, tức hạn chế nghiệp của chúng ta, tâm lắng yên, phiền não ít, mới có thể diện kiến Phật, Bồ Tát . Người nhiều tham vọng, lắm phiền muộn, khó bước vào thế giới thánh thiện. Hạn chế tính toán phiền não, để tâm hồn thanh thản và thân thể khoẻ mạnh, cầu nguyện nhất định kết quả. Khi cơ thể khoẻ âm hồn trong sáng, giống như máy tốt, có thể tiếp nhận lực Quan Âm. Lực Ngài truyền vô thân người nào , người đó biến thành Quan Âm.

Nếu là người nữ có tánh hiền hậu, hay giúp đỡ kẻ hoạn nạn, người đó được coi là hiện thân của Quan Âm. Trên thực tế có Ỷ Lan thứ phi hết lòng chăm sóc, thương yêu dân nên được dân Việt Nam tôn sùng là Phật Bà Quan Âm. Nếu người đó là vị tu hành, có tình thương rộng lớn, che chở giáo dưỡng người như cố HòaThượng Khánh Hòa, Hòa Thượng Trí Thủ... người ta nghĩ các vị này là Bồ Tát Quan Âm hiện thân Tỳ kheo. Nói chung, năng lực bất tư nghì của Bồ Tát Quan Âm được cụ thể hóa thành 32 ứng hiện thân (cộng thêm một thân chính của Ngài là 33), từ hiện thân Phật cho đến thân bình thường nhất trên cuộc đời, như thân trẻ con. Một ông Vua nhân từ, một thầy thuốc cứu người, một bà phi giỏi, dịu hiền, một nông dân chất phác, một ông quan thanh liêm, một dũng sĩ can thiệp những chuyện bất công, một anh công nhân hiền lành tốt bụng, một người giàu có hay làm việc nghĩa... đều là Quan Âm. Tất cả nhữn hình ảnh tốt lành, đạo đức, tài giỏi đều gợi cho người nghĩ đến hạnh Quan Âm. Ta không tìm Ngài trong hư không, nhưng tìm trong hạnh của những người tu.

Người có tâm niệm từ bi, việc làm giúp đời như Quan Âm thì Quan Âm hiện hữu nơi họ. Hội đủ điều kiện để tiếp nhận gia trì lực của Ngài không đơn giản và giữ cho lực Quan Âm tồn tại trong ta lâu dài lạ càng khó hơn. Vì vậy, đánh mất lực gia bị của Quan Âm thì lại rất dễ, chỉ một niệm tâm vọng tưởng điên đảo khởi lên, tất cả những gì siêu tuyệt của ta tức thì tan thành mây khói, chẳng khác gì cúp điện, hình chẳng thể có được.

Tóm lại, kỹ niệm ngày vía Bồ Tát Quan Âm, chúng ta cung kính đảnh lễ Ngài, lưu giữ hình ảnh thánh thiện Ngài trong tâm ta, thể hiện thành lời nói vui đẹp lòng người và việc làm mang an lạc, giải thoát cho người.


http://img.photobucket.com/albums/v604/barbiemodel/Quan%20Am%20Bo%20Tat/QuanAm15.jpg

Tịnh Ngọc
16-07-2005, 12:16 AM
SỰ TÍCH QUAN THẾ ÂM


Hôm nay tôi cống hiến quí độc giả tìm hiểu về sự tích, lịch sử Bồ Tát Quan Thế Âm mà mọi người dân Việt, nhất là trong giới Phật tử thường mỗi khi gặp nạn thì hay niệm danh hiệu của ngài "Quan Thê Âm Bồ Tát cứu khổ cứu nạn", nhưng thực tế ít ai hiểu rõ về chân lý, sự tích, xuất xứ từ đâu, nguồn gốc của Quan Thế Âm như thế nào. Do đó, tôi mới cố gắng đi sưu tầm, tham khảo các kinh sách để cụ thể hoá ra bài này hầu góp phần trong nền văn hoá Phật Giáo và phổ biến đến quí độc giả bốn phương am tường. (Nếu có gì thiếu sót, kính xin quí chư Tăng, Ni cao minh, quí thiện trí thức niệm tình thứ lỗi và xin cung cấp thêm tư liệu cho được phong phú hơn).

*******

Quan Thế Âm tiếng Phạn là “Avalokitesvara” dịch sang tiếng Hán là Quan Thế Âm hay Quán Tự Tại …Danh hiệu Quan Thế Âm, nghĩa là quan sát tiếng kêu than của chúng sanh trong thế gian để độ cho họ thoát khổ. Theo Kinh Bi Hoa thì ở vào đời quá khứ có đức Phật ra đời hiệu là Bảo Tạng Như Lai. thời đó có vua Chuyển Luân Thanh Vương là Vô Chánh Niệm. Vua có quan đại thần là Bảo Hải, phụ thân của đức Bảo Tạng khi chưa xuất gia đối trước Đức Phật Bảo Tạng phát ra 48 đại nguyện. Do đó, Đức Bảo Tạng thụ ký cho Vua (khi đó đã là Pháp Tạng Tỳ Kheo) sau này thành Phật hiệu là A Di Đà ở vào thế giới cực lạc.

Vua Chuyển Luân có nhiều con. Con cả là Thái Tử Bất Tuấn cũng do ngài Bảo Hải khuyến tiến. Thái Tử cũng đi xuất gia theo cha và đối trước Đức Bảo Tạng Như Lai phát ra bảo nguyện đại bi thương xót, cứu độ tất cả các loài chúng sanh bị khổ não. vì vậy Đức Bảo Tạng thụ ký cho Thái Tử thành Bồ Tát hiệu là Quan Thế Âm, còn Bảo Haỉ là tiền thân của Đức Thích Ca Mầu Ni. Đức Bảo Tạng thụ ký cho Thái Tử rằng: "Vì lòng đại bi Ông muốn quán niệm cho tất cả chúng sanh được cùng về cõi an lạc (cực lạc). Vậy từ nay đặt tên cho Ông là Quan Thê Âm….

Bồ Tát Quan Thế Âm là hiện thân của Từ Bi, Ngài phát đại nguyện thực hiện từ bi cùng tận trong đời vị lai, nếu chúng sinh còn đau khổ. Vì chỉ có từ bi mới giải trừ đau khổ, cũng như chỉ có trí tuệ mới diệt được ngu si. Do đó, Bồ Tát Quan Thế Âm thiết lập tâm đại từ, đại bi mà thực hiện đại thệ nguyện độ sanh của Ngài.

TỪ là đem niềm vui đến cho kẻ khác. Chữ Từ như người ta thường nói: Từ thiện, từ ái, từ mẫu, từ tâm. Từ tâm đối với ác tâm, sân tâm, ích kỷ tâm….BI là phương châm, là cách thức hành động để cứu khổ. Từ là lòng yêu thương, Bi là ra tay giải quyết và dấn thân nỗ lực làm việc để cứu giúp thực tế. Tóm lại Tu Bi: Thương yêu chúng sinh, mang lại cho họ niềm an lạc vui sướng gọi là Từ (maritrya, maitri). Đồng cảm nỗi khổ và thương xót chúng sinh, trừ bỏ nỗi khổ cho họ gọi là Bi.

Quán Thế Âm xưa kia Ngài đã thành Phật hiệu là "Chánh Pháp Minh Như Lai". Ngài thị hiện làm Bồ Tát vì muốn đảm đương công tác cứu khổ ban vui cho chúng sanh. Đức Bồ Tát quán thấy Phật và chúng sanh đồng chung một bản thể, đồng chung một giác tánh duy nhất, nhưng Phật đã giác ngộ mà chúng sanh thì còn mê.

http://img.photobucket.com/albums/v604/barbiemodel/Quan%20Am%20Bo%20Tat/QuanAm14.jpg


Do đó, Đức Quan Thế Âm tức là một vị Phật tương lai sẽ bổ vào ngôi của Đức Phật A Di Đà, thì ngài cùng với ngài Đại Thế Chí (kiếp xưa là em ngài, con thứ vua Chuyển Luân cũng cùng Ngài đồng thời được Đức Bảo Tạng thụ ký) giúp việc giáo hoá độ sanh cho Đức Phật A Di Đà và 2 Ngài cũng ứng thân xuống sa bà trợ giáo cho Đức Thích Ca Mâu Ni.

Theo Kinh Thủ Lăng Nghiêm có chép lời Ngài bạch với Đức Thếâ Tôn rằng:

"Con nhớ cách đây vô số hằng hà sa kiếp về trước có Đức Phật ra đời hiệu là Quan Thế Âm, từ Đức Phật kia dạy con, do nghe, nghĩ và tu mà vào Tam Ma Đề" Do đó nên biết: Ngài đã phát tâm Bồ Đề từ đời Đức Phật Quan Thế Âm trong vô số hằng hà sa kiếp về trước do nghe Phật truyền pháp, Ngài đã nhận định pháp tu viên thông về nhĩ căn là hơn tất cả, do ngài khó chứng viên thông ở nhĩ căn nên được Đức Phật thụ ký cho ngài danh hiệu Quán Thế Âm, một danh hiệu mà chúng sanh ở mười phương cung kính chấp trì, nhất là trong những lúc nguy hiểm, đau khổ.

Ngoài ra, Kinh Quán Âm Tam Muội nói: "Xưa kia Ngài Quán Thế Âm đã thành Phật hiệu là "Chính Pháp Minh Như Lai". Tiền thân Đức Thích Ca hồi ấy đã từng ở dưới pháp toà, sung vào trong số đệ tử khổ hạnh để gần gũi". Ngày nay Đức Thích Ca thành Phật, thời Ngài trở lại làm đệ tử để gần gũi lại:" Một Đức Phật ra đời thì hàng ngàn Đức Phật phù trì".

Trong Kinh Đại Bi Tâm Đà Na Ni thì chép lời Ngài bạch Phật rằng: "Bạch Đức Thế Tôn ! con nhớ vô lượng ức kiêp trước có Đức Phật ra đời hiệu là Thiên Quan Vương tĩnh trụ Như Lai" Đức Phật ấy vì thương đến con và tất cả chúng sanh nên nói ra môn Đại Bi Tâm Đà La Ni. Ngài lại dùng cánh tay sắc vàng xoa đầu con mà bảo:"Thiện Nam Tử ! Ông nên trụ trì tâm chú này và vì khắp tất cả chúng sanh trong cõi trược ở đời vị lai mà làm cho họ được sự lợi ích yên vui lớn." Lúc đó con mới ở ngôi Sơ Địa, vừa nghe xong thần chú này liền vượt lên chứng đại Bát Địa".

Mật tông thì theo trong Kinh Đại Bản Như Ý nói có 8 vị đại Quan Âm là:

1) Viên Mãn Ý, Nguyệt Minh Vương Bồ Tát.

2) Bạch Y Tự Tại.

3) Cát La Sát Nữ.

4) Tứ Diện Quán Âm.

5) Mã Đầu La Sát.

6) Tỳ Cầu Chi.

7) Đại Thế Chí.

8) Đà La Quan Âm (Quán Âm Chuẩn Đề).

Ngài có đức uy thần công đức và lòng từ bi rất lớn. Ngài vốn không phải là nữ tướng, nhưng vì ngài thường cứu khổ cứu nạn cho chúng sinh (mà phụ nữ thường nhiều khổ nạn hơn so với nam giới) cho nên giới phụ nữ đặc biệt tín ngưỡng về Ngài. Nên chúng sanh mới tưởng tượng ra Ngài là nữ tướng để tiện hoá độ cho phụ nữ. Theo Kinh A-Di-Đà nói: Người sanh về cõi cực lạc tuy chưa chứng quả Thánh, vẫn không có tướng nam, tướng nữ. Kinh A Hàm nói người nữ có 5 chướng không thể thành Phật…..Thế mà Bồ Tát Quan Thế Âm lại hiện thân người Nư ư?

Bồ Tát Quan Thế Âm hiện thân của Đức Từ Bi, muốn nói lên tình Mẹ thương con, Mẹ đối với con là tình thương chân thành, tha thiết nhất không có tình thương nào sánh bằng. Cho nên, Đức Quan Thế Âm hiện thân là một người mẹ hiền của nhân loại, hay của tất cả chúng sinh.

Căn cứ theo hình tướng đã thể hiện và đức tính Quan Thế Âm đã cứu khổ cứu nạn cho chúng sinh, nhân loại được thoát khổ đau ở sa bà này to lớn biết chừng nào !

Chân như đạo Phật rất mầu
Tâm trung chữ hiếu niệm đầu chữ nhân
Hiếu là độ được song thân
Nhân là cứu vớt trầm luân muôn loài
Tinh thông nghìn mắt nghìn tay
Cũng trong một điểm linh đài hóa ra
Xem trong biển nước nam ta
Phổ môn có Đức Phật Bà Quan Âm.

Cho nên, Phật Tử chúng ta dù tu theo pháp môn nào: Mật Tông, Tịnh Độ hay Thiền Tông cũng phải thường xuyên niệm hồng danh của Ngài. Ngài gia hộ, độ trì cho mới thoát khỏi tai nạn, khổ ách mỗi khi đến với mọi người chúng ta đều phải niệm "Nam Mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quan Thế Âm Bồ Tát" thì được giải thoát, tai qua nạn khỏi và sự nghiệp tu hành mới mau chóng thành tựu theo sở cầu như nguyện.

Tuệ Minh Đạo


http://img.photobucket.com/albums/v604/barbiemodel/Quan%20Am%20Bo%20Tat/QuanAm13.jpg

Tịnh Ngọc
16-07-2005, 12:23 AM
Lý Tưởng Bồ tát : Một tia sáng trong bóng tối của thời đại chúng ta

Lama Anagarika Govinda
---o0o---

Bài này là chương IV trích từ quyển Living Buddhism for the West do Maurice Walshe dịch từ tiếng Đức (Buddhismus fur das Abendland), NXB Shambala, Mỹ, 1991, trang 72-93.

--- o0o ---

Lời giới thiệu: Tác giả Lama Anagarika Govinda

Lama Anagarika Govinda là tu sĩ Phật giáo, học giả, giáo sư Phật học, và họa sĩ người Đức. Thế danh của ông là Ernst Hoffman. Ông sinh năm 1898 ở Waldheim (Đức) và mất 1985 ở California (Mỹ). Ông tu theo đạo Phật lúc 18 tuổi. Năm 30 tuổi ông sang Tích Lan và Miến Điện học đạo rồi sau đó thực hành Mật giáo Tây tạng. Ông sống ở Darjeeling, dưới chân dãy núi Hy Mã Lạp Sơn trong nhiều năm, dạy ở Đại học Patna và Shantiniketan, vùng Tây Bengal, Ấn Độ (Đại học do văn hào Ấn Độ Rabindranath Tagore thành lập), dạy Phật học tại nhiều đại học ở châu Âu, Á, Phi, và Mỹ, và thành lập đạo tràng Arya Maitreya Mandala tại Ấn Độ, Đức và Mỹ. Ông sang Mỹ hành đạo từ năm 1967. Ông được xem như một trong những người có công lớn đưa Phật giáo vào phương Tây và là nhịp cầu hiện đại nối liền văn hóa Đông Tây.

Ông để lại nhiều tác phẩm Phật học có giá trị và đựơc dịch ra nhiều thứ tiếng. Tác phẩm chính của ông là Nền tảng Mật giáo Tây Tạng (Foundations of Tibetan Mysticism, NXB Samuel Weiser, Mỹ, 1969), Thái độ tâm lý trong triết học Phật giáo nguyên thủy (The Psychological Attitude of Early Buddhist Pholosophy, NXB Rider, Anh, 1969), Con đường mây trắng (The Way of the White Clouds, NXB Shambala, Mỹ, 1988, được Tiến sĩ Nguyễn Tường Bách dịch từ tiếng Đức sang tiếng Việt, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 1999), Cấu trúc nội tại của Kinh Dịch (The Inner Structure of The I Ching, NXB Weatherhill, Mỹ, 1981), Biểu tượng tâm lý và vũ trụ của các bảo tháp Phật giáo (Psycho-cosmic Symbolism of the Buddhist Stupa, NXB Dharma, Mỹ, 1976), Thiền định sáng tạo và tâm thức đa diện (Creative Meditation and Multi-Dimensional Consciousness, NXB Quest, Mỹ, 1979), Suy tưởng Phật giáo (Buddhist Reflections, NXB Samuel Weiser, Mỹ, 1991), Đạo Phật đi vào cuộc sống phương Tây (Living Buddhism for the West, NXB Shambala, Mỹ, 1990).

---o0o---
http://img.photobucket.com/albums/v604/barbiemodel/Quan%20Am%20Bo%20Tat/QuanAm12.jpg

Tịnh Ngọc
16-07-2005, 12:25 AM
Lý tưởng khác với chủ nghĩa giáo điều ở chỗ nó không khép kín. Lý tưởng thúc đẩy và khuyến khích sự tự do quyết định của cá nhân, và do đó, khác với chủ nghĩa giáo điều, nó không cần sự biện hộ của tư liệu lịch sử hay lý luận. Lý tưởng có sức thuyết phục trực tiếp vì nó luôn tạo niềm cảm hứng mới mẽ cho con người và giúp con người định hướng một cách sáng tạo cho tương lai. Nhờ chính điều này mà lý tưởng có giá trị ngay trong hiện tại và cho chính cuộc sống hiện tại.

Lý tưởng Bồ tát cũng thế. Nó đã có ảnh hưởng lớn trên đời sống, tư tưởng và hành động của người Phật tử trong suốt hơn hai ngàn năm nay, mà không cần sự biện minh của triết học kinh viện, chủ thuyết giáo điều hay các dữ kiện lịch sử tôn giáo. Lý do chính là vì nó là sự thể hiện thường trực của một nội tâm có sức mạnh chuyển hóa và kêu gọi con người thực hiện mục tiêu cao cả mà Đức Phật đã soi sáng cho chúng ta bằng chính tấm gương cuộc đời Ngài.

Đây không phải là con đường giản dị và dễ dàng. Bất cứ ai bắt đầu đi trên con đường này sẽ cảm thấy trách nhiệm ngày càng lớn và tự thân người đó sẽ dần dần vượt ra khỏi cái thế giới an toàn, nhỏ bé, và dễ nhận biết của những tình cảm vui buồn cá nhân để cống hiến tất cả năng lực của mình cho hoạt động vì lợi ích tất cả chúng sanh. Đây không phải là chỗ trú yên tĩnh cho những ai muốn thoát ly cuộc đời. Ở đây, vấn đề mấu chốt là làm sao chủ động "đi qua" cuộc đời nầy. Nói khác đi, con đường này không đưa chúng ta "ra khỏi cuộc đời" mà "đi xuyên và vượt qua bên kia cuộc đời." Những ai đi trên con đường này đều cảm thấy nội tâm tràn đầy hạnh phúc khi họ bắt đầu cảm nhận là họ đã hòa nhập làm một với tất cả muôn loài. Và như thế, ngày hôm nay và mãi về sau, lý tưởng Bồ Tát luôn kêu gọi những tình cảm sâu kín nhất từ trong trái tim của mỗi người chúng ta. Nó thắp lên trong lòng chúng ta ngọn lửa hiến dâng vì một mục đích cao cả và vĩ đại, chúng ta sẵn sàng làm bất cứ hy sinh nào mà vẫn không cảm thấy đó "là" một sự hy sinh.

Ngày xưa khi đức Phật còn sống bên cạnh các đệ tử của Ngài cuộc đời Ngài là sự thể hiện sống động của lý tưởng Bồ Tát. Nên lúc đó không có nhu cầu đặt ra những lý thuyết hay triển khai những ý kiến và quan niệm về bản chất của Bồ Tát Đạo. Nhưng sau khi Thế Tôn nhập diệt, lần đầu tiên trong đời, các đệ tử của Ngài mới cảm nhận được toàn bộ sự vĩ đại của Ngài, giống như chúng ta chỉ có thể thấy được toàn bộ bề cao và chiều rộng của một ngọn núi khi chúng ta đứng nhìn nó từ một khoảng cách không gian nào đó. Cũng tương tự như thế từ một khoảng cách thời gian nào đó nhìn về Đức Phật hình ảnh đức Phật đã ngày càng hiện rõ hơn trong trái tim của những người con Phật. Hình ảnh ấy mỗi lúc một hoàn chỉnh hơn, để rồi cuối cùng Đức Phật đã được cảm nhận hoàn toàn như thật rằng: Ngài là chính là người mà qua tấm gương của cuộc đời ngài đã chỉ ra con đường mà mỗi Phật tử chân chánh phải đi—đó là con đường lý tưởng Bồ Tát nhằm phục vụ tất cả chúng sanh, con đường dẫn chúng ta đến một mục đích cao thượng--mục đích của sự giác ngộ toàn thiện mà thực chất là một sự tỉnh thức vĩ đại.


http://img.photobucket.com/albums/v604/barbiemodel/Quan%20Am%20Bo%20Tat/QuanAm11.jpg

Tịnh Ngọc
16-07-2005, 12:27 AM
Cho nên, mặc dù sách vở viết về Bồ Tát đạo ra đời tương đối muộn, lý tưởng Bồ Tát không phải là "phát minh" của những thế kỷ sau khi Phật nhập Niết Bàn (parinirvana). Trái lại, nó là một trong những tư tưởng then chốt của Phật giáo Nguyên thủy. Điều này được thể hiện rõ ràng qua các Chuyện Tiền Thân Đức Phật (Jàtakas) thuộc truyền thống xưa nhất của Phật giáo và những chuyện này rõ ràng đã có ảnh hưởng rất lớn trên toàn thể văn hóa Phật giáo qua hàng mấy ngàn năm trên toàn Châu Á, trong văn chương, hội họa và điêu khắc ở các vùng Nam, Trung và Đông Á. Để chứng minh điều này, chúng ta chỉ cần nêu lên vài thí dụ như các bích họa và tượng điêu khắc ở hang động Ajanta và những chạm trỗ kỳ diệu của thánh tích Borobudur.

***(Ajanta là một làng ở tỉnh Maharashtra, miền trung Ấn Độ, nổi tiếng với 29 hang động trong một khe suối sâu. Đây là một tu viện và đền thờ Phật giáo đuợc xây vào thế kỷ thứ II sau công nguyên với những bích họa, tường và tuợng điêu khắc đẹp nổi tiếng thế giới. Borobudur là di tích Phật giáo ở Java (Nam Dương), xây khoảng thế kỷ thứ VII sau công nguyên. Trên một ngọn đồi thấp gần Jogjakarta, Borobudur có hơn 3 km tường đá bao quanh theo hình bậc thang, được chạm trổ tuyệt đẹp theo các chuyện trong kinh điển Phật giáo, nhất là Kinh Hoa Nghiêm. Trên đỉnh là một bảo tháp lớn với các tháp nhỏ bao quanh, mỗi tháp chứa một tượng Phật bên trong. Từ trên nhìn xuống, Borobudur giống như một Mandala vĩ đại. Ajanta và Borobudur được cơ quan Liên Hiệp Quốc UNESCO xếp hạng là Di sản văn hóa thế giới.)

Là Phật tử, chúng ta không nhất thiết phải tin vào những chuyện tái sinh này, mặc dù trong các bài thuyết giảng, Đức Phật có đề cập đến tiền kiếp của Ngài. Với tinh thần này, chúng ta không xem Phật giáo là một giáo điều. Nhưng qua những chuyện tiền thân này, chúng ta thấy rõ ràng và sống động cái lý tưởng nền tảng của Đạo Phật: Đó là tinh thần vô ngã, sẵn sàng hy sinh bản thân mình vì lòng từ bi, và dẹp bỏ quyền lợi riêng của mình vì lợi ích của người khác. Đây là con đường mà Đức Phật, qua tấm gương sinh động của đời Ngài, đã vạch ra, và qua những bài giảng về giáo lý và phương pháp thiền định, đã truyền đạt cho các đệ tử của Ngài.

Rồi trên mảnh đất Ấn, trong những thế kỷ đầu sau thời đức Phật, những tính khí khác nhau va những tâm lý quá hướng nội hoặc quá hướng ngoại trong hàng đệ tử Phật đã làm nẩy sinh những khác biệt trong sự đánh giá và diễn giải một số lời giảng dạy của Đức Phật. Từ đó, những con đường thể hiện Đạo Phật khác nhau đã ra đời và dẫn tới sự tranh luận giữa lý tưởng A La Hán (Arahat) và lý tưởng Bồ tát. Sự phát triển của cuộc tranh luận này về sau đã dẫn đến niềm tin cho rằng Hệ phái Phật giáo nguyên thủy, đã từng bị biệt lập tại Tích Lan trong nhiều thế kỷ, đem mục tiêu cao nhất của quá trình tu tập là thực hiện (và cùng với Hệ phái nầy là toàn bộ truyền thống kinh tạng Pali) lý tưởng A La Hán, giống như mười tám trường phái "Tiểu thừa" mà thực chất đã biến mất từ lâu trong lịch sử Phật giáo. Tuy nhiên chính trong hệ kinh tạng Pàli, chúng ta đã tìm thấy một trong những lời phát nguyện xưa nhất của Bồ tát như sau:


http://img.photobucket.com/albums/v604/barbiemodel/Quan%20Am%20Bo%20Tat/QuanAm10.jpg

Tịnh Ngọc
16-07-2005, 12:29 AM
Qua việc thành tựu tất cả hạnh Ba la mật: trì giới, xuất gia (từ bỏ các dục, kiết sử…), trí tuệ và các hạnh còn lại (như bố thí, tinh tấn, nhẫn nhục, chân thật, quyết tâm, tâm từ và tâm xả), qua việc thực hành rốt ráo nhất các hạnh Ba la mật này, xin cho con đạt đến quả vị Phật tối thượng.

***(Bản Pali: Sila-nekkhamma-pannadim, puretva sabba-paramim, parami-sikkham patva, Buddho hessam anuttaro. Trưởng lão Anagarika Dharmapala, nguòi sáng lập Hội Đại Bồ Đề (Maha Bodhi Society) ở Tích Lan năm 1891, đã cho chư tăng của Hội tụng niệm lời phát nguyện này trong các thời công phu (puja) mỗi ngày (tác giả chú thích). Mục đích chính của Hội Đại Bồ Đề là khôi phục lại thách tích Bodh Gaya và Đạo Phật ở Ấn Độ.)


Lời phát nguyện của vị Bồ tát trên đây cho thấy chúng ta không thể hiểu một cách đơn giản là Phật giáo Nguyên thủy là một bộ phận của Phật giáo Tiểu thừa: Vì rằng khi có sự phân biệt về ý thức hệ giữa Phật giáo Tiểu thừa và Đại thừa, Phật giáo Nguyên Thủy đã biến mất từ lâu trên đại lục Ấn, ngoại trừ một nhóm nhỏ biệt lập gần Amaràvatì ở phía Nam. Cũng trong nội dung nầy, chúng ta nên ghi nhận thêm một sự kiện là "tất cả" các hệ phái Phật giáo đều công nhận giá trị thật sự của hệ thống kinh tạng Pali. Dĩ nhiên Phật giáo Nguyên thủy là một trong những hệ phái xưa nhất và nhờ sự kiện nó bị biệt lập tại Tích Lan trong một thời gian dài, nó đã bảo lưu được toàn bộ hệ thống kinh sách hơn bất kỳ trường phái nào. Tuy nhiên chúng ta sẽ sai lầm nếu cho rằng chỉ những kinh sách thuộc hệ Pali mới là "lời nói thật sự của Đức Phật” và rằng Đức Phật là người nói tiếng Pali. Sự thật là, Đức Phật nói tiếng Ma-kiệt-đà (Màgadhì), một ngôn ngữ thuộc miền bắc Ấn Độ, ngôn ngữ ấy về sau được dịch sang tiếng Phạn và Pali, lúc đầu dưới dạng truyền khẩu, và sau đó, qua nhiều lần được xét duyệt tại các kỳ kết tập kinh điển, được viết lại thành văn (khoảng 90 năm trước công nguyên).

Như vậy việc sưu tầm kinh điển đã được nhiều hệ phái Phật giáo khác nhau thực hiện cùng lúc và tiếp tục tồn tại song song nhau. Phần lớn các bộ kinh được sưu tập hiện nay chỉ còn lại những mảng lẻ tẻ, đa phần được dịch ra Tạng ngữ hoặc Hán ngữ. Ngay cả những người ủng hộ Phật giáo Đại thừa nhiệt thành nhất cũng chưa bao giờ nghi ngờ tính xác thực của kinh tạng Pàli và sự thành tâm của những người theo hệ này. Nhưng những người theo Phật giáo Đại thừa và các học phái khác bác bỏ ý kiến cho là chỉ có kinh tạng Pàli mới là nguồn tài liệu xác thực duy nhất của Phật âm. Điều này cho thấy rõ rằng, các đệ tử nghiêm túc khác của đức Thế Tôn thời ấy cũng đã ghi chép và bảo lưu các mặt khác nhau của lời Phật dạy. Điều này đã được chính truyền thống Phật giáo Nguyên thủy công nhận, thể hiện ở việc họ ghi nhận sự hiện diện của trưởng lão Phú Lâu Na (sthavira Purana) cùng 500 vị Tỳ kheo tại Kỳ kết tập kinh điển lần thứ nhất sau khi các Thượng tọa đã biên tập và đúc kết lời giảng của Đức Phật thành kinh sách. Tại Đại hội, sau khi được nghe qua kết quả việc kết tập các kinh điển và được Đại hội kêu gọi sự đồng ý, Trưởng Lão Phú Lâu Na khen là việc kết tập kinh điển đã được tiến hành rất tốt nhưng ngài cho biết là ngài vẫn thích "ghi nhớ lại những lời dạy mà bản thân ngài được nghe từ chính kim khẩu của đức Thế Tôn" hơn. Phát biểu xong, Ngài cùng với các vị Tỳ kheo rời Đại hội.


http://img.photobucket.com/albums/v604/barbiemodel/Quan%20Am%20Bo%20Tat/QuanAm9.jpg

Tịnh Ngọc
16-07-2005, 12:29 AM
Tinh thần tự do trong việc ghi nhận và bảo tồn lời giảng dạy của Đức Phật cũng đã được Tổ Huệ Năng (Tổ thứ sáu của dòng Thiền Trung Quốc) xác nhận khi ngài tuyên bố: "Những kinh sách Đại thừa, Tiểu thừa và mười hai bộ kinh đã được kết tập để thích hợp với tính khí và nhu cầu khác nhau của nhiều người."

Vì thế những người có khuynh hướng suy luận trừu trượng và triết học đã đi vào việc nghiên cứu Luận tạng (Abhidharma). Những vị khác, với đầu óc ít triết lý hơn, thích những vấn đề đạo đức được nêu trong các Kinh (Sutras), trong khi những ai quan tâm đến nếp sống tu viện thì quay về với Luật tạng (Vinaya). Nhưng những ai rung cảm sâu sắc với con người của Đức Phật thì tập trung quán tưởng cuộc đời và công phu tu tập đến chỗ toàn thiện xuất chúng của Đức Thế Tôn và xem những chuyện tiền thân là những tác phẩm thể hiện hoàn hảo nhất lý tưởng của họ.

Trên quan điểm lịch sử tôn giáo, chúng ta cần lưu ý rằng cái mà các hệ phái Phật giáo gọi là ‘Tạng thứ ba’ (Abhidharma Pitaka hay Luận tạng), cùng với những bài kinh khác thật ra chỉ là bản tóm tắt giáo lý Phật một cách hệ thống được thực hiện sau khi Phật nhập diệt (parinirvana). Các pháp thiền trong Luận tạng được biên soạn một cách hệ thống kèm theo các định nghĩa và phân loại các trạng thái tâm lý là công trình triết học kinh viện mà về mặt lý luận và nhất quán đều dựa trên cơ sở của những lời Phật dạy.

Cũng giống như thế, chính bản thân Đức Phật không chế đặt ra Lý tưởng Bồ tát. Lý tưởng Bồ Tát đã được những vị chọn đi theo con đường của Đức Thế tôn xiển dương, chủ yếu không phải vì những lời thuyết giảng mà vì chính cuộc đời mẫu mực của Đức Phật—một cuộc đời thể hiện đúng chánh Pháp. Kiên trì với lý tưởng này, các vị tu hạnh Bồ tát lấy nếp sinh hoạt thường ngày, quá trình tu tập phát triển tâm linh, và những hoạt động hy sinh vì lợi ích chúng sanh của Đức Thế Tôn làm lý tưởng và ngôi sao dẫn đường cho cuộc đời và việc tu tập của họ. Còn gì thuyết phục người đệ tử Phật hùng hồn hơn, giữa những cuộc tranh luận của các quan điểm và dư luận trái ngược nhau, là chính cuộc đời mẫu mực của Đức Phật? Ngay cả những lúc thời thế thay đổi, người đời có thể diễn dịch lời dạy của Đức Phật theo những cách khác nhau, nhưng tấm gương cuộc đời của Đức Phật vẫn là thứ ngôn ngữ vượt thời gian mà ngày nào con người còn sống trên trái đất này, ở bất cứ thời đại nào, cũng có thể hiểu được. Điều này giải thích sự thành công đáng ngạc nhiên của tác phẩm Ánh Sáng Á Châu (The Light of Asia) của Ngài Edwin Arnold (1879)--tác phẩm đã thuyết phục nhiều người hướng về đạo Phật hơn là những bài dịch các bản kinh gốc thật chính xác về ngữ học hay những bài luận văn về triết học tôn giáo, mặc dù những tác phẩm này rất có giá trị và cần thiết.


http://img.photobucket.com/albums/v604/barbiemodel/Quan%20Am%20Bo%20Tat/QuanAm8.jpg

Tịnh Ngọc
16-07-2005, 12:30 AM
Sự kiện nầy cho chúng ta thấy rõ là đối với nhân loại, nhân cách của Đức Phật và những biểu tượng sâu sắc, mang tính lịch sử hoặc thần thoại, về cuộc đời Ngài mà nội dung chính là sự tu tập và phát triển tâm linh có một giá trị vô cùng to lớn, to lớn hơn cả mọi hệ thống triết học dựa trên lời Ngài dạy hay phương pháp phân loại trừu tượng của văn học A tỳ đàm (Abhidhamma). Vì có sự diễn đạt nào tế nhị và sâu sắc hơn về tinh thần vị tha, giáo lý Vô ngã, Tứ đế, Bát thánh đạo, Duyên Khởi, và con đường giải thoát và giác ngộ toàn thiện hơn cuộc đời của Đức Phật, một cuộc đời bao gồm cả tầm cao và chiều sâu của vũ trụ? Phải chăng toàn bộ cuộc đời và hoạt động của Ngài là sự thể hiện sống động cái cốt lỏi của đại nguyện Bồ tát: ‘Xin cho con thành tựu giác ngộ vô thượng vì lợi ích của tất cả chúng sanh’?

Như một họa sĩ chọn các bậc thầy lớn trong ngành hội họa làm mẫu mực để noi theo mặc dù người này chưa biết khi nào mình sẽ thành đạt như các bậc thầy mình, những ai tìm cầu sự phát triển tâm linh đều phải hướng đến một mô hình lý tưởng cao nhất dựa trên sự hiểu biết của họ, và điều này sẽ giúp họ nỗ lực và phấn đấu hơn để thực hiện lý tưởng của họ. Không ai biết trước được khả năng sáng tạo của mỗi con người. Nhưng chắc chắn sự tinh tấn mãnh liệt và sức mạnh của lòng tận tụy vì lý tưởng sẽ quyết định năng lực sáng tạo nầy để rồi những ai muốn tìm cầu mục tiêu tối thượng nhất với toàn bộ năng lực tâm linh của mình sẽ tìm thấy ở chính bản thân họ sức mạnh vĩ đại nhất và cùng với việc này, những mặt giới hạn của họ sẽ dần tan đi trong khoảng không vô tận.

Đối với người đã chọn con đường này, vấn đề có hay không một vị Phật xuất hiện trong kiếp (kalpa) này không là điều quan trọng.

***(Kiếp được dịch từ Phạn ngữ Kalpa, tiếng Anh là Eon, có nghĩa là một khoảng thòi gian dài không thể nghĩ bàn được của thế giới từ lúc thành lập đến lúc bị hủy diệt. Một Kalpa có 4 giai đoạn: hủy diệt, hỗn loạn, tái lập, và trưởng thành. Kalpa có thể dài hay ngắn. Trong văn chương Phật học, thông thưòng một Kalpa ngắn là 16.8 triệu năm. Kalpa dài là 1,347 triệu năm.)


http://img.photobucket.com/albums/v604/barbiemodel/Quan%20Am%20Bo%20Tat/QuanAm7.jpg

Tịnh Ngọc
16-07-2005, 12:31 AM
Người ấy sẽ và phải luôn hành động với tâm niệm là công phu tu tập của họ sẽ giúp cho vị Phật tương lai ra đời. Có một điều quan trọng hơn cả tất cả những suy đoán về việc có bao nhiêu đức Phật xuất hiện trong một kiếp và đã được mọi trường phái Phật giáo chấp nhận. Đó là quan niệm cho rằng các bậc giác ngộ xuất hiện theo một chu kỳ ẩn tàng trong vũ trụ. Điều này có nghĩa là cho dù sự xuất hiện của bậc Chánh Đẳng Giác (samyak-sambuddha) rất hiếm khi xảy ra, nhưng ‘chủng tử’, tiềm lực và xu hướng dẫn đến sự hiển lộ của "tâm thức giác ngộ" (bodhicitta hay bồ đề tâm) là tiềm tàng khắp trong vũ trụ và, do đó, tiềm tàng trong từng chúng sanh và chỉ chờ dịp để được đánh thức mà thôi.

Khi nguyên tắc căn bản này đã được công nhận, vấn đề biểu số không còn quan trọng nữa. Chẳng hạn, các trường phái Phật giáo thuộc hệ Bắc tông (dù các trường phái nầy cho rằng các chư Phật thể hiện những khuôn mẫu lý tưỏng và đức hạnh tâm linh khác nhau cùng ra đời trong một kiếp) không bác bỏ sự tồn tại của vô số chư Phật và Bồ tát khác, và họ chỉ nhấn mạnh khả năng bừng ngộ của tất cả muôn loài ở tất cả các mức độ phát triển tâm linh khác nhau. Vì trong một cảnh giới mà thời gian và không gian không còn tác dụng, tất cả những quan niệm mang tính giáo điều hoặc dựa trên các con số đều không còn ý nghĩa nữa. Nói một cách tích cực hơn, điều này có nghĩa là: Thế giới tâm linh không có giới hạn nào khác ngoài những giới hạn mà chính nó tự tạo ra.

Hiểu như thế thì trong truyền thống Đại Thừa, sự ra đời của vô số chư Phật và Bồ tát chỉ là sự diễn đạt ý niệm cho rằng sự chứng ngộ có thể thành tựu ở bất cứ lúc nào và tại bất cứ nơi nào, và nó không tùy thuộc vào thiên tượng, điều kiện địa phương hoặc một số hoàn cảnh đặc biệt nào đó. Từ đó, chúng ta suy ra rằng, trong Phật giáo, không có hiện tượng phép mầu hiểu theo nghĩa là một thách thức hay một sự phá vỡ trật tự đang có trong cuộc sống. Cái mà chúng ta gọi là "những phép mầu thật ra chỉ là những biểu hiện đột xuất từ một trạng thái tâm thức trong chúng ta. Phép mầu không phải là những biến cố đặc biệt của thế giới tự nhiên mà là những trạng thái tâm thức đặc biệt. Đó là lý do vì sao đức Phật gọi sự chuyển hóa tâm là "sự chuyển hướng trong vùng sâu thẳm nhất của tâm thức" chúng ta – nghĩa là, sự chuyển hướng từ một thái độ chấp ngã sang thái độ vô ngã – và chỉ có sự chuyển hướng nầy mới thật sự xứng đáng mang tên là mầu nhiệm


http://img.photobucket.com/albums/v604/barbiemodel/Quan%20Am%20Bo%20Tat/QuanAm6.jpg

Tịnh Ngọc
16-07-2005, 12:32 AM
Sự mầu nhiệm này sẽ đến khi chúng ta bắt đầu ý thức về khả năng giác ngộ ở chính mình và khi tâm thức giác ngộ bắt đầu chỉ đạo cuộc đời chúng ta. Tâm Bồ đề, một khi lóe lên trong ta, sẽ đem lại cho đời ta một ý nghĩa mới và một định hướng không gì lay chuyển được trên đường tiến đến mục tiêu vĩ đại. Sự thay đổi cơ bản trong thái độ tinh thần và tình cảm nầy là sự kiện quan trọng duy nhất. So với điều này, mọi cố gắng để "thống kê" số người có khả năng thành tựu quả vị giác ngộ trong thời hạn nào đó chỉ là những hý luận, cũng giống như một số người hời hợt nhân danh "khoa học" phê phán lý tưởng Bồ Tát đã cố gắng tìm cách xác định thời gian cần thiết để con người có thể thành tưụ quả vị giác ngộ.

Sự phi lý của cố gắng trên đã được đề cập đến trong kinh Lăng già (Lankavatara Sutra) trong một đối thoại sâu sắc giữa đức Phật và ngài Đại Tuệ (Mahamati).

***(Xin xem thêm T.D. Suzuki, Nghiên cưú Kinh Lăng Già (Tỳ Kheo Thích Chơn Thiện và Cư Sĩ Trần Tuấn Mẫn dịch sang tiếng Việt), Giáo hội Phật Giáo Việt Nam xuất bản, TP Hồ Chi Minh, 1992)


Như phần lớn những người hoài nghi đương thời, ngài Đại Tuệ thắc mắc không biết làm thế nào và khi nào ngài sẽ được giải thoát và muốn biết ngay bây giờ khả năng đạt đến Niết Bàn của một vị Bồ Tát. Ngài thỉnh cầu "Xin Thế Tôn chỉ dạy cho chúng con, làm thế nào để các vị Bồ tát chắc chắn thành tựu quả Niết Bàn?" Phật trả lời, "Này Đại Tuệ, cái chắc chắn này thì không phải là cái chắc chắn dựa trên con số hay logic, cái chắc chắn này không đến từ tư duy mà đến từ tâm thức. Cái chắc chắn [đạt đến Niết bàn] của vị Bồ Tát đến từ sự hiển bày của trí tuệ xuất hiện khi các triền cái tham độc được trừ khử, khi các phiền não chướng ngại được quét sang một bên, khi tấm lòng vô ngã vị tha được mở rộng một cách trong sáng và đón nhận trong kiên trì."

Câu cuối của đoạn trích trên cho thấy khá rõ ràng là Bồ Tát Đạo không khác chút nào với Bát Chánh Đạo của Đức Phật và do đó, không có chỗ cho những tư tưởng xằng bậy như "việc kềm giử tham dục một cách ý thức" mà các người chống đối lý tưởng Bồ Tát thường vu khống. Nuôi dưỡng trí tuệ sâu dày qua việc thiền định, chế ngự và khắc phục tham dục qua việc giử gìn giới luật, khai sáng hiểu biết qua việc học tập, đạt đến trạng thái vô ngã (nairatmya) qua tấm lòng vị tha và tâm tỉnh giác – đây là những chỗ dựa trụ cốt của lý tưởng Bồ Tát.


http://img.photobucket.com/albums/v604/barbiemodel/Quan%20Am%20Bo%20Tat/QuanAm5.jpg

Tịnh Ngọc
16-07-2005, 12:32 AM
Tư tưởng cho rằng ta phải tự độ trước rồi mới có thể độ người khác là một sự thật chỉ đúng một nửa và đầy nguy hại. Cuộc sống luôn cho chúng ta thấy là chúng ta không thể nào tự giúp mình nếu cùng lúc chúng ta không giúp người khác, vì không phải sự thành công hay kết quả thấy được bên ngoài mà chính cái động lực, thái độ nội tâm, nhu cầu và tinh thần sẵn sàng giúp người mới là quan trọng. Chỉ với tấm lòng sẵn sàng giúp người thôi cũng đủ để phá vỡ bức tường ngăn cách chúng ta với người khác và giải thoát chúng ta khỏi sự cô đơn vốn là nét nổi bật của thời đại chúng ta và giúp chúng ta vượt lên trên chính mình.

Người nào hiểu được lý tưởng Bồ Tát rồi sẽ bị thôi thúc bởi tinh thần sẵn sàng giúp đở và hổ trợ người khác trên lộ trình của họ và giảng dạy người khác về Bồ tát đạo—với trình độ hiểu biết lúc đó của mình. Nhiều nhà phê bình đại diện cho tư tưởng chính thống đã phản đối điều nầy cho dù họ đã quen thuộc với kinh tạng Pali (Đại Phẩm Kinh Mahavagga 1.23) với câu chuyện về sự bừng ngộ của ngài Xá Lợi Phất (Sariputta) qua lời chỉ dạy giản dị mộc mạc của ngài Mã Thắng(Assaji), người vừa mới được Đức Phật nhận làm đệ tử. Và phải chăng có những trường hợp trong đó người đang học đạo vẫn có thể hướng dẫn những người mới vào đạo còn gặp nhiều khó khăn tốt hơn cả những người nghĩ rằng mình biết tất cả và vì vậy, đã mất đi khả năng tiếp nhận và lĩnh hội cái mới? Người mới bắt đầu học đạo thường ý thức những giới hạn của mình, và vì thế, trong khi truyền đạt kiến thức, họ tự hạn chế ở những gì họ hiểu rõ hay những kinh nghiệm chứng ngộ của riêng họ. Người ấy muốn chia xẻ niềm vui và hạnh phúc đã thành tựu với những người khác mà không chút kiêu ngạo hay tự đắc.

Chia xẻ kiến thức và kinh nghiệm với niềm vui và ý thức hoàn toàn về những hiểu biết giới hạn của mình khác hẳn với sự sốt sắng và nồng nhiệt quá độ của những nguòi có tinh thần truyền đạo cho rằng tư tưởng mới của họ sẽ đem lại ‘lợi lạc’ cho cuộc đời. Nên việc nhắc nhở mọi người bình tĩnh và tiết chế trong khi truyền giáo là rất cần thiết. Chúng ta không nên bao giờ quên rằng chúng ta chỉ có thể phục vụ con người ngày càng nhiều hơn nếu trong từng phút từng giây chúng ta vận công tu tập, kết hợp thân khẩu y, và biến chúng thành một công cụ ngày càng hoàn thiện hơn giúp chúng ta mang lại hạnh phúc cho muôn loài và thành tựu quả vị Phật ‘để cứu độ tất cả chúng sanh còn chìm đắm đau khổ’. Để thành tựu mục đích cao thượng này, chúng ta nên xem việc hành trì Ba la mật

***(Ba la mật (Pàramità). Sự liệt kê theo tạng Pàli (Nguyên thủy) và tạng Đại thừa khác nhau. Trong tạng Pàli, các Ba la mật gồm: Bố thí, trì giới, xuất gia, trí tuệ, tinh tấn, nhẫn nhục, sự thật, quyết trạch, lòng từ và xả. Sáu Ba la mật đầu của Đại thừa về sau được tăng dần thành mười để tương ưng với các bước mà con đường Bồ tát vạch ra, đó là: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ và 4 Ba la mật sau: thiện xảo, cương quyết, lực, kiến thức.)


http://img.photobucket.com/albums/v604/barbiemodel/Quan%20Am%20Bo%20Tat/QuanAm4.jpg

Tịnh Ngọc
16-07-2005, 12:42 AM
là điều tiên quyết không thể thiếu trên bước đường hành Bồ tát hạnh. Những hạnh Ba la mật này không chỉ bao gồm việc tránh làm điều ác và bất thiện hoặc gieo trồng việc tốt và từ thiện, mà quan trọng hơn cả, là những hành động hy sinh đầy từ tâm và bi mẫn, được sinh ra và tôi luyện trong ngọn lửa khổ đau chung của muôn loài, nơi đó sự đau khổ của người khác được cảm nhận như chính nỗi khổ đau của riêng mình.

Vị bồ tát không ấp ủ tham vọng luôn chỉ dạy người khác bằng những lời thuyết giảng. Quan trọng hơn cả, vị ấy ao ước được dạy bằng chính tấm gương của cuộc đời mình. Và vì thế, trên đường tu tập, vị ấy không bao giờ quên được sự an lạc của những chúng sanh quanh mình, cố gắng thành thục tâm linh trên lộ trình tiến gần đến cứu cánh, và tạo nguồn cảm hứng để kêu gọi người khác cùng tu tập. Trên lộ trình này không có sự hy sinh vì lợi ích chúng sanh nào là vô ích, ngay cả nếu người khác bác bỏ hoặc lợi dụng sự hy sinh này. Bất cứ sự hy sinh nào, dù đó là việc xuất gia hay sự tự nguyện từ bỏ những lạc thú thế gian, cũng là một chiến thắng vượt qua bản thân mình, và do đó, là một hành động giải thoát. Bất kể tác động bên ngoài như thế nào, sự hy sinh đó đưa chúng ta đến gần mục tiêu giải thoát, và biến sự hiểu biết thuần lý của chúng ta về lý tưởng vô ngã (anatman) thành một loại tri thức sống động và một niềm tin vững chắc dựa trên kinh nghiệm tu chứng nội tại. Khi chúng ta càng vượt qua cái ngã hẹp hòi tầm thường của mình và phá toang bức tường ngục tù trong tâm do chính ta tự tạo, con người của chúng ta sẽ càng trong sáng và niềm tin thể hiện trong cuộc sống mẫu mực của chúng ta ngày sẽ càng vững mạnh. Chỉ bằng cách nầy, chúng ta mới giúp được người khác—Điều này hiệu quả hơn cả những công tác từ thiện, và hơn cả những lời nói đạo đức hay những bài giảng pháp.

Vị nào đó nghĩ rằng có thể đạt đến mục đích giải thoát nhanh hơn bằng cách trốn đời và tự mình cắt tuyệt mọi giao tiếp với đời, tự họ đã tước bỏ những dịp để được hy sinh, được thực hành sự đìều độ và tiết chế, được tập từ bỏ những của cải lợi lộc mà họ đã cật lực tạo ra, và tập từ chối những gì họ ham thích, hay tập tránh xa những cám dỗ trên đời. Từ bỏ cuộc đời thế tục hoàn toàn để sống cuộc đời xuất gia là quan điểm của những người gặp nhiều đau khổ trong cuộc sống và chỉ quan tâm đến nỗi khổ riêng của họ đến nỗi họ không thể cảm nhận được nỗi khổ đau lớn hơn của những người khác, và do đó, chỉ biết lo thoát khổ cho riêng họ mà thôi. Tuy nhiên, vẫn có những người thấy được sự đau khổ của những chúng sanh chung quanh họ, cảm nhận sâu sắc được sự đau khổ đó, và sẵn sàng chấp nhận tất cả đau đớn và khó khăn về phần mình để mang lại niềm an ủi cho những chúng sanh đang đau khỗ.


http://img.photobucket.com/albums/v604/barbiemodel/Quan%20Am%20Bo%20Tat/QuanAm3.jpg

Tịnh Ngọc
16-07-2005, 12:43 AM
Những người thuộc nhóm thứ nhất là những người chỉ thấy nỗi khổ của riêng họ và chỉ lo đi tìm sự giải thoát cho riêng họ. Họ bị kẹt và giam hãm trong bản ngã và trở thành cứng nhắc một cách ích kỷ. Họ cần khắc phục điều này vì, như lời Phật dạy, đây là nguồn gốc của tất cả sự đau khổ. Nếu chúng ta xuất phát từ quan điểm hạn hẹp này và hành trì những phương pháp quán sát thuần phân tích (để hiểu những đau khổ của riêng mình) thì tầm nhìn trong tâm thức chúng ta sẽ bị thu hẹp về một điểm duy nhất, đó là sự hiểu biết thuần lý và dựa trên bản ngã. Cuối cùng, chính tư duy hữu ngã nầy sẽ làm cho những gì đang xảy ra trong cuộc sống thành vô nghĩa và từ đó, trở thành hư vô. Chỉ khi nào sự quán sát mang tính phân tích này được bổ xung bằng cái nhìn trí tuệ xuyên thẳng vào bản chất sự vật nhằm dung nạp và hòa hợp tất cả, khi đó chúng ta mới thật sự tiến bộ về tâm linh.

***(Đây cũng chính là sự hiểu biết bằng trực giác tính duyên khởi và tùy thuộc lẫn nhau của các pháp.)


Vì vậy, người tu tập thiền định phải tập quán sát mọi việc từ một quan điểm chung mà không đưa vào cái bản ngã đã bị tách rời khỏi toàn bộ những sự kiện. Và chỉ bằng cách đó, người đó mới quán sát được tính tùy thuộc lẫn nhau (duyên khởi) của mọi hiện tượng. Chỉ khi thành tựu được điều này, cái bản ngã sẽ tự động không còn cứng nhắc và trở nên trong suốt, mà người đó không cần làm một cố gắng đặc biệt nào để tiêu hủy nó. Điều nầy khẳng định lại một sự thật. Đó là "thực tại" huyễn ảo của cái ngã. Cũng trên cùng quan điểm, nếu có ai đó cho là không có sự tồn tại tương đối của bản ngã, người đó thật ra đang tự lừa dối mình. Vì ngày nào mà tất cả hành động của chúng ta đều hướng về việc duy trì bản thân chúng ta, và ngày nào mà mỗi tư tưởng của chúng ta đều chỉ để chăm lo quyền lợi riêng của chúng ta, thì mọi cố gắng nhằm đả phá sự tồn tại của cái ngã là hoàn toàn vô ích. Có những hoàn cảnh mà trong đó chúng ta nên chân thành chấp nhận là mình vẫn còn cái ngã, hay đúng hơn, là vẫn còn bị cái ngã chi phối, giống như những nhà tư tưởng còn bị kẹt trong những thành kiến hay những suy nghĩ hoang tưởng của họ, và chúng ta chỉ thành thật mong là một ngày nào đó, chúng ta sẽ thoát ra khỏi những ràng buộc nầy.

Nhưng để đạt đến mục tiêu này, trước nhất chúng ta phải xác định cái nhìn của mình, nghĩa là chúng ta phải thấy thật rõ chúng ta trong quan hệ với vạn hữu. Cảnh quan như thật đó sẽ hiển bày ra trước mắt khi tâm chúng ta phủ trùm và vượt lên trên vạn hữu như Thế Tôn đã dạy qua các pháp thoại và qua chính cuộc đời mẫu mực và đầy sức truyền cảm của ngài. Ngày nào mà chúng ta còn mang cái nhìn hạn hẹp và giới hạn của cuộc sống hàng ngày, cuộc sống chúng ta sẽ không có ý nghĩa gì hết. Nhưng người mà có được cái nhìn bao trùm và xuyên suốt vạn hữu sẽ hiểu được cái vạn hữu phản ánh trong tâm các vị đã chứng đắc và sẽ tìm thấy ý nghĩa trong cuộc đời này. Nhưng cái biết ưu việt thù thắng nhất nầy không thể diễn đạt bằng ngôn ngữ bình thường của con người, ngoại trừ những danh hiệu như Chánh Đẳng Giác (Samyaksambodhi) hay Niết bàn mà đức Phật đã định nghĩa rất rõ là "không tham, sân và si," tương phản với lời giải thích trong Phạm thư của Ấn giáo, trong đó khái niệm toàn giác hay Niết bàn chỉ là một thực thể siêu hình và mờ ảo.


http://img.photobucket.com/albums/v604/barbiemodel/Quan%20Am%20Bo%20Tat/QuanAm2.jpg

Tịnh Ngọc
16-07-2005, 12:44 AM
Trong đạo Phật, chúng ta không bao giờ đặt câu hỏi "Cuộc đời này tự nó có ý nghĩa hay không?": Theo quan điểm Phật pháp, đây là một câu hỏi vô nghĩa. Điều quan trọng trong việc thực hành chánh Pháp là mỗi người chúng ta nên tạo cho cuộc đời mình một ý nghĩa riêng biệt. Như qua bàn tay của một nghệ nhân giàu cảm hứng, khối đất sét vô dụng có thể trở thành tác phẩm nghệ thuật vô giá, cũng vậy, chúng ta có thể làm tương tự để biến khối "đất sét" của cuộc đời mình thành một cái gì đó có giá trị, thay vì cứ than vãn là cuộc đời nầy không có giá trị gì hết. Cuộc sống và thế giới của chúng ta sẽ mang đúng cái "ý nghĩa" mà chúng ta gán cho chúng và gửi gắm vào trong đó.

"Con người cũng bất tử như lý tưởng của họ và con người cũng thật như chính năng lựơng mà họ dùng để phục vụ lý tưởng của họ.” Câu nói nầy của triết gia người Đức Keyserling đã vạch ra đúng hướng.

***(Herman Keyserling là triết gia Đức (1880-1946), nổi tiếng với tác phẩm Nhật ký du lịch của một triết gia (1911). Ông nhấn mạnh nhu cầu phục hưng đời sống tâm linh con người và xem nhẹ giá trị kinh viện trong triêt học phương Tây.)


Những vấn đề thuộc về giá trị và thực tại đều tùy thuộc vào thái độ và việc thực hiện sáng tạo những lý tưởng của chúng ta chứ không phải tùy vào cái"khách quan" [mà thật ra vẫn phải] dựa trên suy luận nào cả.

Do đó, nếu chúng ta tôn kính những bậc giác ngộ và xem mục tiêu giác ngộ là mục tiêu cao đẹp nhất của cuộc đời mình, chúng ta sẽ chủ động và đem hết năng lực của mình sống theo gương các bậc giác ngộ trên con đường Bồ Tát hạnh. Chúng ta sẽ ý thức ngay từ đầu là trên đường Bồ Tát hạnh, chúng ta sẽ không có cơ hội để chạy trốn hay tránh né các khó khăn và đau khổ. Con đường nầy đòi hỏi chúng ta dốc toàn bộ năng lực tâm linh của mình, và sẵn sàng nhận lãnh sự đau khổ của tất cả chúng sanh. Nhưng gánh vác đau khổ của chúng sanh ở đây không có nghĩa là chúng ta cam chịu khổ đau để được tiếng khen hay chịu kham khổ như một hình thức sám hối mà một số nhà tu khổ hạnh của một số tôn giáo đã làm và đang làm. Đây là một thái cực chúng ta cần phải tránh cũng như chúng ta cần phải tránh một thái cực khác trong đó con người chỉ biết lo cho hạnh phúc riêng của họ và chìm đắm trong dục lạc.

Ở đây chúng ta chỉ cần làm một việc. Đó là tập sống hòa nhập với tất cả chúng sinh (Khái niệm này đồng nghĩa với Thể nhập thực tại trong Thiền tông). Thái độ này không những giúp chúng ta tránh được bịnh chỉ xem sự đau khổ của mình là quan trọng và cứ bám víu vào nó (mà đìều này chỉ làm tăng trưởng bản ngã và bịnh tự ám ảnh của chúng ta mà thôi); Thái độ sống hòa nhập với tất cả chúng sanh còn giúp chúng ta khắc phục được tâm lý ngã mạn và làm nhẹ đi nỗi đau khổ của mình trước cái khổ đau của người khác. Bằng cách này một thời đức Phật đã chỉ dạy cho bà Kisà-Gotamì, người bị điên loạn vì không thể chấp nhận cái chết của đứa con duy nhất của bà. Để bà vượt qua khổ đau, đức Phật đã giúp bà thấy và kinh nghiệm rằng cái chết là kinh nghiệm chung, mà tất cả chúng sinh đều phải đi qua. Và qua đó, Ngài chỉ cho bà thấy là bà không phải là người duy nhất hứng chịu nỗi đau khổ nầy, và những ai có thể mở rộng tâm mình và chấp nhận nỗi đau đó, nỗi đau của người đó tự nó đã vơi đi một nửa nếu không phải là toàn bộ.


http://img.photobucket.com/albums/v604/barbiemodel/Quan%20Am%20Bo%20Tat/QuanAm31.jpg

Tịnh Ngọc
16-07-2005, 12:45 AM
Khi đức Phật dạy về sự diệt khổ, Ngài không hề nói đến việc ‘chạy trốn khổ đau’. Theo truyền thống Phật giáo, nếu trốn tránh khổ đau là mục đích của Đức Phật, thì Ngài có thể chọn con đường tắt đi đến giải thoát, nằm trong khả năng của Ngài trong thời Ngài là đức Phật Nhiên Đăng: Ngài không cần phải trãi qua vô số kiếp tái sanh đầy đau khổ. Nhưng với trí tuệ, Ngài biết rằng chỉ những ai đi qua sự thanh lọc của ngọn lửa khổ đau, vị ấy sẽ thành tựu quả vị giác ngộ cao nhất trên con đường phục vụ chúng sanh. Con đường của Ngài không phải để trốn tránh mà là để vượt qua và chinh phục khổ đau. Đây là lý do vì sao Ngài cũng như các đức Phật ra đời trước Ngài được mệnh danh là những "bậc chiến thắng" (jina).

Ngài và các bậc đi trước Ngài đã khắc phục khổ đau bằng cách anh dũng đối đầu với nó. Đối với người đang đi trên đường tiến đến quả vị toàn giác, sự đau khổ không còn là sự lo buồn cá nhân và trăn trở về hạnh phúc của riêng mình; sự đau khổ riêng của vị đó sẽ ngày càng trở thành sự đau khổ chung và thuộc về bản chất của tất cả chúng sanh. Chính trong tinh thần nầy mà tất cả những ai muốn đi theo con đường thánh thiện của đức Phật đều phát lời thệ nguyện Bồ Tát : ‘Với tất cả thành quả tâm linh được chứng đắc, con nguyện xoa dịu khổ đau cho tất cả chúng sinh hữu tình. Với tất cả thành quả tâm linh được chứng đắc trên cuộc đời, thể hiện qua thân, khẩu, ý, con xin quên mình, hiến dâng tất cả, nhằm mang lại sự an lạc và giải thoát cho tất cả chúng sanh. Niết Bàn là từ bỏ tất cả, và tâm con thành khẩn mong đạt đến Niết Bàn. Vì con phải từ bỏ tất cả, có phải tốt hơn chăng nếu con cống hiến tất cả cho tất cả chúng sinh? – Con xin hiến dâng cuộc đời mình cho hạnh phúc của tất cả chúng sanh. Hãy để họ phỉ báng con, ném đất cát dơ bẩn vào con, và biến con thành đối tượng chế nhạo của họ. Hãy để họ giết chết con theo ý của họ. Con đã hiến dâng thân xác của con cho họ, thì tại sao con phải lo âu về điều đó? Những người mắng chửi con, hãm hại con hay nhạo báng con – con mong tất cả đều sẽ đạt quả vị giác ngộ.’ (Sàntideva, Bodhicaryàvatàra ,Tác giả chú thích)


http://img.photobucket.com/albums/v604/barbiemodel/Quan%20Am%20Bo%20Tat/QuanAm32.jpg

Tịnh Ngọc
16-07-2005, 12:46 AM
Việc thực hiện lý tưởng Bồ Tát đòi hỏi chúng ta phải vượt qua tất cả giới hạn hẹp hòi riêng của mình và thừa nhận những thực tại vượt khỏi giới hạn cá nhân (và qua đó, thừa nhận những quyền năng vượt khỏi giới hạn cá nhân) trong tâm thức của chúng ta. Như thế những ai mong muốn thực hành bồ tát đạo, ngay từ lúc đầu cần phải có một thái độ– đó là thái độ thoát khỏi sự ràng buộc của bản ngã và hướng về cái chung phủ trùm vạn hữu. Những người chỉ tìm cầu sự giải thoát cho riêng mình hay muốn trốn tránh khổ đau bằng con đường ngắn nhất mà không quan tâm đến khổ đau của người đồng loại, tự họ đã tước lấy khỏi tầm tay của họ nhũng phương tiện cơ bản và cần thiết nhất để đạt đến mục tiêu giác ngộ. Chỉ cần từ bỏ được những hoạt động nhỏ nhiệm và tinh tế nhất của bản ngã và tu tập Tứ vô lượng tâm (brahmavihàras), Bồ Tát Đạo sẽ mở ra thêng thang trước mắt chúng ta.

Có hay không một khả năng thật sự và khách quan để giải thoát toàn bộ thế gian nầy? Đây không phải là vấn đề cần bàn cải. Ngay cả trong suốt cuộc đời của Đức Phật, Ngài cũng đã không thành tựu được điều này. Nhưng tư tưởng mang tính chung nhất và siêu việt nhất của Ngài đã có tác động lâu dài khiến cho ngay ngày hôm nay nhân loại vẫn cảm nhận sự có mặt của Ngài và tiến trình giải thoát giác ngộ mà Ngài thuyết giảng cách đây 2,500 năm đã tiếp tục và sẽ tiếp tục tác động đến thế gian này cho đến ngày nào mà vẫn còn có người cần đến. Trong lãnh vực này, không phải vấn đề thành tựu hay chứng đắc là quan trọng mà điều quan trọng là thái độ tâm linh thấm nhuần lý tưởng Bồ tát, thể hiện ở việc mỗi cá nhân sống với tất cả kiến thức và năng lực của mình, mà không một chút dè dặt hay kiềm chế, trên đường đạt đến quả vị vô thượng. Người đó luôn luôn ý thức là mỗi một cố gắng của họ là phải nhằm đem lại an lạc cho tất cả chúng sanh. Và ngay cả lúc mà chúng ta đạt đến cảnh giới hỷ lạc cao nhất (trong thiền định), chúng ta cũng không ngừng làm việc vì lợi lạc tất cả chúng sanh, vẫn tiếp tục chia xẻ niềm vui và nỗi buồn của họ, và vạch ra con đường dẫn đến giải thoát cho họ.

Kinh tạng Phật giáo có ghi là ngay cả sự nhập diệt thầm lặng của một vị La hán cũng mang lại phước lành cho đời và điều này quả là đúng thật. Nhưng vì sao đức Phật đã từ giả cội cây Bồ đề [nơi Ngài đã chứng đắc] để trở lại với cuộc đời và tự nguyện đón nhận những phiền muộn, sống đời một tu sĩ khổ hạnh không nhà, nếu sự chứng đắc tâm linh tối thượng của Ngài tự nó cũng đủ để Ngài tận dụng tất cả khả năng phục vụ nhân loại? Phải chăng sự hy sinh vĩ đại và tối thượng này của Đức Phật cho thấy Niết bàn tự nó vẫn không được xem như là lý tưởng cao nhất trong đạo Phật?


http://img.photobucket.com/albums/v604/barbiemodel/Quan%20Am%20Bo%20Tat/QuanAm33.jpg

Tịnh Ngọc
16-07-2005, 12:46 AM
Khi thế giới tâm linh của đạo Phật càng phát triển với những thành quả về các mặt thực tiển, lý luận, và siêu hình của nó, dựa trên những nguyên tắc nền tảng của Phật pháp, thì tư tưởng Niết bàn càng lùi lại và nhường chỗ cho lý tưởng Bồ tát. Bởi vì Niết bàn là – nếu chúng ta đi xa hơn định nghĩa Niết bàn là sự tận diệt của tham, sân và si – một mục tiêu mà Phật giáo và các tôn giáo hướng đến sự giải thoát ở Ấn độ thời đó đều nhắm tới. Nhưng lý tưởng Bồ tát đã mang lại cho Phật giáo nét đặc trưng khác hẳn với các hệ phái Ấn giáo khác và đã giúp đạo Phật vẽ vang vượt xa khỏi biên cương Ấn quốc và trở thành một trong những sức mạnh văn hóa và tinh thần lớn nhất của loài người.

Sức mạnh của lý tưởng Bồ tát – sức mạnh đã chinh phục vùng đất trên thế giới mang tên Á Châu bằng con đường hòa bình chưa từng có trong lịch sử loài người—bắt nguồn ở sức mạnh tổng hợp của tâm từ và tâm bi mẫn vô biên dành cho vạn hữu và ý chí tầm cầu giác ngộ đã kêu gọi và thôi thúc khối óc và con tim của mỗi con người biết suy nghĩ độc lập. Trong bối cảnh này, cái kinh nghiệm mà chúng ta gọi là Niết Bàn chỉ là một bộ phận của quá trình tiến tới giác ngộ hoàn toàn, và vì thế nó nằm trong cái chung nhất của tất cả kinh nghiệm giác ngộ. Bởi vì bản chất của sự toàn giác (Samyak-sambodhi) không cho phép tính độc quyền, không phải là sự thành đạt và cũng không phải là sự chiếm hữu. Nó tỏa sáng vô biên và vô tận ở mọi phương, để tất cả chúng sanh đếu thọ hưởng ánh sáng và sự ấm áp của nó, giống như mặt trời tỏa sức sáng và ấm vô hạn tới tất cả những ai có thể thấy được ánh sáng, cảm nhận được độ ấm và tiếp thu được năng lực đem lại sự sống của mặt trời.

Giống như mặt trời tỏa sáng không phân biệt trên thế gian nhưng lại có tác động khác nhau trên từng con người tùy mức độ tiếp thu và cởi mở của mỗi người, tác năng diệu dụng của một đấng giác ngộ cũng thế. Mặc dù tâm của vị ấy dung nạp không phân biệt tất cả chúng sanh, nhưng vị ấy biết rằng không phải tất cả mọi người đềụ có thể được giải thoát cùng một lúc: Hạt giống giải thoát mà vị ấy gieo sẽ mang lại kết quả sớm hơn cho người này và muộn hơn cho người khác tùy theo sự tiếp nhận hay thuần thục của những chúng sanh khác nhau. Tuy nhiên, vì trong kinh nghiệm giải thoát không có khái niệm thời gian và không gian, nên sự thành tựu của một đấng giác ngộ cũng hàm chứa sự giải thoát của tất cả chúng sanh đang trụ trong kinh nghiệm toàn giác (samyak-sambhodi) Điều này bao gồm ý nghĩa là Phật tánh nằm trong tâm của tất cả chúng sanh và đây chính là con đường hành trì lời phát nguyện của Bồ tát.


http://img.photobucket.com/albums/v604/barbiemodel/Quan%20Am%20Bo%20Tat/66812a41.jpg

Tịnh Ngọc
20-07-2005, 12:51 AM
Nhưng đối với người chịu ảnh hưởng sâu sắc của bồ đề tâm, quyết tâm thệ nguyện và chọn con đường lý tưởng Bồ tát, hình ảnh của đức Phật sẽ là trọng tâm trong đời sống tôn giáo của vị ấy. Đối với vị này, hình ảnh này là hiện thân của mục đích cao thượng mà mỗi người đệ tử Phật có tránh nhiệm phải thực hiện.

Nơi đây, chúng ta sẽ không tìm thấy nội dung sâu thẵm của đạo Phật trong khuôn khổ phi thời gian và phi không gian của tư duy trừu tượng và cũng sẽ không tìm thấy đạo Phật như một giáo thuyết được thiêng liêng hóa từ ngàn xưa. Trái lại, chúng ta sẽ tìm thấy đạo Phật trong một mặt bằng cùng với nhịp độ phát triển và mở rộng về không gian và thời gian của nó. Đìều này có nghĩa là chúng ta sẽ tìm thấy đạo Phật trong sức sống ngày càng lớn mạnh về tư tưởng, tình cảm, và trong sự trực diện của nó đối với cuộc đời – nói ngắn gọn là chúng ta sẽ tìm thấy đạo Phật trong cái thể phổ biến nhất của nó. Ở đây chúng ta không quan tâm đến những điều mà các nhà biện tài triết học thường khuyến khích bàn cải như vấn đề thế giới này có thật hay không có thật, thế giới bên ngoài quan hệ với kinh nghiệm nội tâm như thế nào, hay có hay không một ‘cảnh giới’ giải thoát hay ‘vô dư Niết bàn’. Cái hệ quả duy nhất mà người đệ tử Phật trên con đường Bồ Tát hạnh có được là nhận ra được sự thật rằng những gì mà chúng ta tìm cầu để nắm bắt bằng trực giác qua các tên gọi như ‘Ba la mật’, ‘Giác ngộ’ hay ‘Phật tánh’… thật ra đã một thời, có một người thật sự thành tựu--Người đó là Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, và do đó, bất cứ ai cố gắng đạt đến cùng một mục tiêu cao thượng này ắt sẽ có ngày thành tựu.

Nhưng, như chúng ta đã thấy, con đường này không phải là một trong những con đường trốn đời, mà trái lại, nó là con đường vượt lên trên cuộc đời bằng cách phát huy sự hiểu biết và trí tuệ (prajna), thực hành từ tâm (maitri), chia xẻ sâu sắc nỗi đau khổ và niềm vui của người khác (karuna, mudita), đồng thời xả tâm đối với những bất hạnh và hạnh phúc riêng của mỗi người. Người chỉ đường và tấm gương để chúng ta noi theo trên con đường này chính là đức Phật. Cho nên, dù giáo chủ của các trường phái khác nhau có bàn cãi và tranh luận đến đâu đi nữa, còn gì chắc chắn đối với chúng ta hơn là việc noi theo tấm gương của Bậc Đại Giác? Từ cuộc đời mẫu mực của Ngài, chúng ta sẽ càng tin tưởng chắc chắn là chúng ta cũng phát tâm và cũng sẽ thành tựu giác ngộ vô thượng, nếu chúng ta biết phá vỡ những rào chắn chấp ngã cứng chắc do chính mình tạo dựng và qua đó, giải thoát chúng ta ra khỏi tất cả những sợ hãi. Tinh thần vô úy là đặc điểm nổi bật nhất của tất cả các vị Bồ Tát và những ai đang đi trên Bồ tát đạo. Đối với họ, cuộc sống không còn bị khủng bố đe dọa và nỗi đau khổ cũng không còn gay gắt. Thay vì nguyền rủa cuộc sống trần gian này hay lên án những "thíếu sót" của nó, họ đưa vào cuộc đời một ý nghĩa mới.

http://img.photobucket.com/albums/v604/barbiemodel/Quan%20Am%20Bo%20Tat/QuanAm35.jpg

Tịnh Ngọc
20-07-2005, 12:52 AM
Họ đã ý thức rằng lên án cuộc đời là xấu xa và từ bỏ nó, bác bỏ những khả năng vươn đến những lý tưởng cao đẹp của con người, trước khi con người có thể hiểu biết thấu đáo về cuộc đời, và trước khi con người có thể phát huy trọn vẹn những khả năng nhận thức cao nhất của mình và đạt đến sự khai ngộ, mà thực chất là hoa trái và là sự thành tựu cao nhất của cuộc sống, là một hành động không những kiêu mạn mà còn điên rồ nữa. Những ai đi ngược lại con đường này giống như người cắn vào một trái cây chưa chín. Họ quăng bỏ trái cây chưa chín đó rồi tuyên bố rằng tất cả các trái cây loại này là không thể ăn được, thay vì chờ đến ngày trái chín.

Một nguy hiểm khác cần lưu ý. Do diễn giải sai về giáo lý vô ngã, nhất là trong giới Phật tử ở phương Tây, cá tính thường bị xem như một chướng ngại trên đường hành Pháp, vì người ta thường đồng nghĩa sự phát triển của cá tính với sự chấp thủ bản ngã. Ngoài sự kiện đức Phật được các người đương thời tôn vinh là Mahàpurusa, nghĩa là một nhân vật vĩ đại, có cá tính riêng, không thể nhầm lẩn với ai hết, và đứng cao vượt lên trên những người cùng thời, các đại đệ tử và tín đồ lớn của Ngài - những người đã chứng đạt quả vị giác ngộ cao nhất, là những người đã phát huy cá tính của mình qua việc chứng ngộ nội tâm. Dưới mắt chúng ta, họ là những thể hiện độc đáo của kinh nghiệm tu chứng nội tại đầy sáng tạo.

Trên con đường Bồ tát hạnh, chúng ta phải tránh tất cả cực đoan và phụng hành giáo lý của bậc Đạo sư bằng cách đi theo Trung Đạo. Do đó, những người tìm cách đè nén những hoạt động và chức năng tự nhiên của các giác quan thay vì cố gắng sử dụng chúng đúng đắn cũng giống hệt như những người chìm đắm không biết kiềm chế trong nhục dục. Họ sẽ không thành tựu quả vị thánh được. Người chìm đắm trong nhục dục sống thấp hèn hơn con người, trong khi người sống ức chế tình cảm chỉ là gỗ đá. Sự thánh thiện chỉ dựa trên những đạo đức tiêu cực, trên sự tránh né hoặc ức chế, có thể tạo ấn tượng trên người khác rằng đây là một mẫu mực về sự tự tại và sức mạnh nội tâm. Nó có thể làm thân xác chúng ta tan biến đi, nhưng sẽ không đưa chúng ta đến bờ giác ngộ, vì nó là con đường dẫn đến sự chết và bế tắt về tâm linh. Đó là việc đánh đổi con đường thoát khổ bằng chính giá trị cuộc sống và tia sáng sống động nằm ngay trong tâm giác ngộ của mỗi người chúng ta.

Lúc chúng ta bắt đầu nhận ra tia sáng Bồ đề tâm này cũng là lúc chúng ta bắt đầu con đường Bồ tát hạnh. Con đường nầy giải thoát chúng ta khỏi khổ đau và những kềm kẹp của tự ngã và không buộc chúng ta phải khước từ cuộc sống. Trái lại chúng ta sẽ thoát ly khổ đau qua việc phục vụ người bạn sống bên cạnh chúng ta, cùng lúc với việc tu tập để thành tựu quả vị giác ngộ tối thượng, bởi vì khi tia sáng Bồ đề tâm bắt đầu chiếu rọi từ sâu thẳm tâm thức chúng ta, nó sẽ khai mở một quá trình giác ngộ bằng cách chuyển hóa những năng lực tiềm tàng và ẩn dấu bên trong chúng ta thành những năng lực sống động, thẩm thấu và xuyên suốt. Từ đó, cuộc đời chúng ta không còn là một cuộc chạy đua loanh quanh vô nghĩa. Nhưng để chúng ta có thể đi sâu vào và tiếp xúc với những tiềm lực đó, Đức Phật và các đại đệ tử của ngài đã chỉ con đường giúp chúng ta nhìn thấu chiều sâu của tâm thức mình. Trong quá trình thiền định, chúng ta sẽ hiểu ra rằng thế giới quan và sự hiểu biết của chúng ta về thế giới nầy chính là sản phẩm của tâm thức chúng ta. Điều này cho chúng ta thấy rằng thế giới mà chúng ta đang sống tùy thuộc vào điều kiện tâm lý và tinh thần cá biệt của mỗi người chúng ta; nói khác đi, chúng ta sống trong một thế giới mà chính chúng ta đang sáng tạo ra trong từng giây phút và vì thế, không ai khác hơn là chúng ta mới là người "xứng đáng" thừa hưởng cái thế giới mà mình đã tạo tác.


http://img.photobucket.com/albums/v604/barbiemodel/Quan%20Am%20Bo%20Tat/QuanAm36.jpg

Tịnh Ngọc
20-07-2005, 12:52 AM
Do đó, chúng ta không thể thoát ly khổ đau bằng cách chạy trốn khỏi thế giới này mà chỉ bằng con đường thanh lọc tâm thức và quay về với nội tâm của mình. Tuy nhiên, điều này chỉ thực hiện được nếu chúng ta hiểu được bản chất của tâm và những năng lực vận hành trong tâm mình. Rồi chúng ta sẽ nhận ra rằng cái tâm có khả năng nhận ra ánh sáng của các vì sao ở cách xa chúng ta hàng triệu năm ánh sáng cũng tuyệt vời như chính bản chất ánh sáng của các vì sao đó. Và chúng ta sẽ thấy rằng cái ánh sáng nằm ẩn sâu trong tâm thức chúng ta sẽ còn kỳ diệu và vĩ đại hơn nhiều! Đi xuyên qua chiều sâu của tâm thức để đánh thức cái tâm thăm thẳm ấy trong chúng ta-- Đây chính là mục đích của con đường tỉnh thức giải thoát và giác ngộ (bodhisattvamarga). Con đường xuyên qua tâm thức và trực chỉ Phật tánh trong mỗi người của chúng ta.

Nếu những nhóm người nào đó trong giới Phật giáo chính thống đến ngày hôm nay vẫn cho rằng phải trải qua mấy ngàn năm mới có một cá nhân đạt quả vị toàn giác, thì việc theo đuổi mục tiêu giải thoát nầy là hoàn toàn vô ích, và tư tưởng này chỉ là lời thú nhận về cái tâm linh nghèo nàn và giáo điều cứng nhắc của họ. Một tôn giáo mà chỉ hướng về một quá khứ hay tương lai xa vời nào đó không thể có giá trị cho cuộc sống hiện tại. Cũng vậy, giáo Pháp khi bị tách rời khỏi nhân cách sống động của đức Phật, sẽ không còn chất người và trở thành một hệ thống của những giá trị tiêu cực và ‘những trường hợp đặc biệt’ mang tính khoa học giả tạo. Trong một hệ thống như vậy, kinh nghiệm thiền định dễ trở thành một công việc thuần phân tích không lành mạnh và đầy nguy hiểm trong đó mỗi thực thể sống động bị mổ xẽ và chia cắt nát vụn hay trở thành chức năng là hợp thể của một cơ chế không còn cảm giác.

Một người đi trên con đường của Bồ tát sẽ tránh được nguy hiểm này mà không rơi vào cực đoan khác. Sống thể nhập thực tại, vị này sẽ nhận ra tính vô thường và duyên khởi của tất cả các hợp thể và sẽ không quay tâm lại với những đau khổ của cuộc sống. Vị ấy sẽ ý thức rằng sự già cỗi, bịnh tật và chết chóc là quy luật của cuộc sống và sẽ không tìm cách ức chế các hiện tượng này ngay trong tâm thức của mình. Vì lý do này mà các bậc thầy thuộc Kim cang thừa thưòng chọn các nhà mồ hoặc các nơi hỏa thiêu để thiền định. Họ làm điều này không phải để ghê tởm tránh xa mà để làm quen với tất cả khía cạnh của cuộc sống, trong đó sự vô thường phải được xem như một tiến trình tự nhiên và không bị những xúc động tình cảm bóp méo.


http://img.photobucket.com/albums/v604/barbiemodel/Quan%20Am%20Bo%20Tat/QuanAm30.jpg

Tịnh Ngọc
20-07-2005, 12:54 AM
Họ cũng tìm đến các nhà mồ và các giàn hỏa táng, nơi mà người đời thường kinh hãi hay ghê sợ xa lánh để không bị quấy rầy và có thể tập trung thiền định. Hơn thế nữa, đối với những đệ tử của họ, đây là nơi luyện tập để vượt qua những cảm giác ghê tởm và sợ hãi, đạt đến tâm xả bỏ và có cái nhìn như thật về cuộc đời. Kinh tạng dạy rằng chính đức Phật đã từng thổ lộ là trong suốt quá trình tu tập, Ngài thường chủ tâm tìm đến những nơi hẻo lánh và đầy nguy hiểm như vậy để tập khắc phục nỗi sợ hãi trong tâm. Việc lân la ở những nơi đầy chết chóc như vậy – cũng như việc quán niệm quá trình thối rửa của thi haì và các đối tượng gây kinh tởm và ghê sợ khác – chỉ có ý nghĩa nếu nó giúp người hành thiền khắc phục nỗi sợ hãi, nhìn thẳng vào sự thật đang hiện hữu và biết được thực chất của các hiện tượng với cái tâm không còn chút tham cầu hay sân hận.

Nhưng mục đích của sự quán niệm (các xác chết và đối tượng ghê tởm) nầy sẽ thất bại hoàn toàn nếu người quán chiếu không thể quét sạch những cảm giác ghê tởm, khiếp đảm và sợ hãi ra khỏi tâm mình. Dùng tình cảm ghê tởm để xua đuổi lòng tham dục chẳng khác nào xua đuổi quỷ Satan bằng ma Beelzebub.

***(Trong văn học tôn giáo phương Tây, Beelzebub là hoàng tử của thế giới ma quỷ. Trong tác phẩm nổi tiếng Thiên Đàng Bị Đánh Mất (Paradise Lost) của văn hào Anh John Milton (1608-1674), Beelzebub là một thiên thần phạm tội và trở thành ác quỷ, đứng hàng thứ nhì sau quỷ Satan)


Có thể ít ai trong chúng ta sợ hãi khi nhìn lá rơi hay những đóa hoa khô héo . Và niềm vui khi nhìn thấy muôn hoa đua nở không sút giảm dù chúng ta biết là hoa sẽ úa tàn. Tuy nhiên, nếu chúng ta biết là những lá hoa mềm mại nầy rồi sẽ bị hoại diệt, chúng ta sẽ càng yêu quý chúng hơn khi chúng đang đâm chồi nở nụ. Điều này cũng giống như cuộc đời vô thường nầy, mỗi phút phù du trôi qua đều mang trong nó một giá trị đặc biệt. Và chính vì lý do nầy mà theo học thuyết của Kim Cang thừa, mỗi người chúng ta có trách nhiệm biến thân xác hoại diệt của mình thành một nơi không gì có thể hủy hoại được-- Đó là ngôi chùa tâm linh trong mỗi người chúng ta.


http://img.photobucket.com/albums/v604/barbiemodel/Quan%20Am%20Bo%20Tat/QuanAm29.jpg

Tịnh Ngọc
20-07-2005, 12:56 AM
Trong Kim Cang thừa, quá trình chuyển hóa này được thực hiện bằng cách quán chiếu hình ảnh của các vị hiền thần và phẩn nộ thần mà Kim Cang Thừa gọi là các vị đại Bồ tát. Khi người quán chiếu càng đồng hóa mình với các vị đại Bồ Tát nầy, niềm hỷ lạc sẽ xuất hiện trong tâm của họ. Trong quá trình tập trung thiền định sáng tạo, người hành thiền tạo bên trong họ một vùng sức mạnh tâm linh có thề vượt khỏi tầm mức của một kinh nghiệm cá biệt, tác động vào ngoại cảnh và qua đó, tạo sự thay đổi trong chính bản thân của họ.

Khi hình ảnh của các vị đại bồ tát trở thành sống thật với chính chúng ta trong quá trình thiền định, chúng ta gọi các vị ấy là Bồ tát thiền định (Dhyani-bodhisattvas).

***(Bodhi là giác ngộ; sattva là bản chất hay thực thể; dhyana là thiền định. Dhyani-bodhisattvas là bản chất giác ngộ đạt được hay thấy được trong lúc hành thiền)


Mỗi vị trong số các Bồ tát như đức Quan Âm, Văn Thù hay Di Lặc là hiện thân cụ thể của một đức tính đặc biệt nào đó của lý tưởng Bồ Tát. Bởi vì cũng như con người, các cá nhân có thể có cùng lý tưởng và quan điểm nhưng cá tánh vẫn khác nhau, các vị bồ tát cũng thế. Dù các ngài đều là hiện thân của lòng từ, tâm bi, giàu tình nhân ái, có khả năng thấy cùng khắp, và biết tất cả, tuy nhiên, các ngài thể hiện tâm giác ngộ này bằng nhiều cách độc đáo khác nhau.

Tất cả các ngài đã kết hợp nhuần nhuyễn đến mức tuyệt hảo tâm đại bi (upaya) và trí tuệ Bát nhã (prajna),

***(Upaya là tình cảm dung nạp và san sẻ khổ đau với tất cả muôn loài)


nhưng các ngài khác nhau trong cách dụng công. Điểm chung của các ngài là khả năng thấy đưọc bản chất thống nhất của vạn thể. Khả năng nầy có được là nhờ các vị có thể đặt mình vào vị trí của ngưòi khác (Tha tâm thông). Bất cứ ai đã đi qua còn đường Bồ tát hạnh bằng cách quán chiếu và đồng hóa mình với các đức tánh Bồ tát, đó là người được giải thoát và tự do. Người đó không những chỉ 'thánh thiện' hay 'thoát khỏi phiền não chướng’ theo nghĩa tín ngưỡng thông thường chỉ là được cứu khổ -- họ chính là người đạt được quả vị toàn giác và tâm thức đã hòa vào bản thể tuyệt đối. Bước nhảy vọt vào vùng tâm thức giải thoát này có nghĩa là vị đó đã vượt qua mọi giới hạn cá nhân và đã chứng ngộ được những thực tại vượt khỏi tầm mức cá nhân trong tâm mình. Và vì kinh nghiệm chứng ngộ này là kinh nghiệm bao trùm và phổ quát nhất mà tâm thức con người có khả năng đạt đến, nó đòi hỏi chúng ta ngay từ đầu một thái độ cơ bản--Đó là mở rộng tâm vô biên của chúng ta đến với cái phổ quát tận cùng của cuộc sống.


http://img.photobucket.com/albums/v604/barbiemodel/Quan%20Am%20Bo%20Tat/QuanAm28.jpg

Tịnh Ngọc
20-07-2005, 12:57 AM
Một lần nữa chúng ta hãy cùng nhau nhớ lại bài pháp đầu tiên của Đức Phật tại vườn Lộc Uyển gần Vàràịasi, trong đó Ngài đã thuyết về Sự Giác Ngộ Tối Thượng (Anuttara samma-sambodhi, Hán dịch là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề) mà không nói về một Niết bàn trong nghĩa tiêu cực của nó tức là chỉ gồm sự đoạn diệt các lậu hoặc (Asravas) và khổ đau. Khái niệm Niết bàn khi được đề cập đến ở đây đều có nghĩa là hệ quả của Sự Giác Ngộ Tối Thượng nầy.

Chúng ta cũng phải ghi nhớ rằng những gì mà đức Phật đã giảng và diễn tả bằng lời chỉ là một phần nhỏ của những gì Ngài đã dạy qua nhân cách và tấm gương của Ngài. Mà ngay cả những lời dạy cùng với nhân cách vĩ đại ấy cũng chỉ phản ánh một phần nhỏ kinh nghiệm tâm linh của Ngài. Đức Phật rất cảnh giác về giới hạn của ngôn ngữ ngay từ lúc đầu khi ngài do dự không muốn tuyên bố giáo lý của mình và diễn đạt nó bằng lời. Bởi vì Ngài nhận định là những gì Ngài đã thấy là ‘thậm thâm, khó hiểu, khó nhận ra, không dễ nắm bắt bằng hiểu biết suông’. Và khi cuối cùng Ngài quyết định thuyết giảng chân lý vì lòng thương tưởng đối với một số ít người mà 'mắt còn dính chút bụi mờ’, Ngài đã thận trọng không nói về ‘những điều tối hậu nầy’.

Ngài đã từ chối trả lời những câu hỏi liên quan tới lãnh vực siêu hình trong nhận thức tâm linh, và cũng yên lặng về những vấn đề vượt ngoài tầm hiểu biết của con người. Ngài không làm bạn với loại tư duy suy đoán biện tài. Ngài chỉ giới hạn ở việc chỉ ra con đường chúng sanh có thể đi và con đường có khả năng giúp chúng sanh giải quyết tất cả vấn đề thuộc về thực chất. Ngài trình bày con đường này sao cho nó thích nghi với khả năng trí thức và tình cảm của người nghe. Ngài hướng dẫn học trò mình theo trình độ phát triển của từng người, và chỉ truyền lại những phần sâu sắc hơn của giáo Pháp và những lời chỉ dẫn hành thiền thâm diệu hơn cho một nhóm giới hạn gồm các đệ tử có trình độ cao hơn của Ngài.


http://img.photobucket.com/albums/v604/barbiemodel/Quan%20Am%20Bo%20Tat/QuanAm27.jpg

Tịnh Ngọc
20-07-2005, 12:57 AM
Những trường phái Phật giáo về sau nầy vẫn trung thành với nguyên tắc nầy. Họ điều chỉnh các phương pháp dạy giáo lý và thiền định sao cho hợp với nhu cầu của cá nhân và điều kiện phát triển lịch sử của thời đại. Và cũng giống như chính đức Phật đã hướng dẫn đệ tử của Ngài theo những cách khác nhau tùy theo sự trưởng thành về tâm linh của mỗi ngườiﬠdạy cho họ những cách hành trì khác nhau, những trường phái sau này đã dành những phần phức tạp hơn trong giáo lý và những bài tập thiền định tương ứng cho những ai đã phát triển được những kiến thức và thiện xảo cần thiết.

Những phương pháp hướng dẫn dạy dỗ cao cấp nầy về sau được gán tên là bí truyền hay giáo lý ‘mật’. Nhưng phương pháp tu tập nầy hoàn toàn không có ý định ngăn cản bất cứ ai đạt đến những trình độ nhận thức cao hơn. Ngược lại, phương pháp này chỉ nhằm mục đích tránh những hý luận vô ích và những suy đoán mò mẫm dễ đưa những người còn sơ cơ đến chỗ chỉ mong đạt đến những trạng thái chứng ngộ cao hơn bằng con đường thuần tri thức mà không chịu khó đi qua con đường tu tập thiền định. Vì sự mong mỏi đạt đến những kinh nghiệm tâm linh thuần trí thức có thể dễ dàng đưa hành giả thiếu kinh nghiệm đến chỗ cho rằng chỉ có hiểu biết thuần lý là cần thiết, và điều này sẽ ngăn chặn quá trình thiền định mà chỉ có kinh nghiệm thiền định nầy mới giải phóng được nguồn năng lực cần thiết đưa đến sự chuyển hóa trong tâm thức con người.

Ngày nay bất cứ ai mong cầu đi theo con đường Bồ tát hạnh phải theo dấu chân của đức Phật, tập giữ tâm mình luôn khai mở qua việc thực hành chánh niệm liên tục. Vị ấy phải tự mình rèn luyện, qua việc hướng tâm và quán tưởng về đạo (vtarka-vicara, tầm tứ), xem xét kỹ lưỡng và tìm hiểu đúng sai trong khi học pháp (dharmavicaya, trạch pháp), không chấp thủ (viveka), đạt được trí tuệ và hiểu biết bằng trực giác (Jnana và vidya, tuệ và minh), qua việc giử gìn giới luật dựa trên trách nhiệm cá nhân (sila, giới; paramitas, ba la mật; brahmaviharas, tứ vô lượng tâm), qua lòng tận tụy tôn kính và siêng năng lễ Phật (puja), thiền định (samatha, chỉ; vipasyana, quán; smrti, niệm; bhavana, quán tưởng; dhyana, thiền na; samadhi, định), để tránh bị lệch lạc, và tận lực công phu để đạt đến sự hợp nhất và chuyển hóa trong nội tâm hầu có một nhân sinh quan đủ rộng mở để có thể thấu đáo bao quát và toàn bộ về cuộc sống con người. Bằng cách phát triển bề sâu tâm thức, vị ấy sẽ có thể nhìn thẳng và sâu vào lòng của mọi hiện tượng, và trong cuộc sống, vị ấy có thể sử dụng và biến bất cứ hoạt động nào của thân tâm mình thành một bước tiến lên trên con đường giác ngộ.


http://img.photobucket.com/albums/v604/barbiemodel/Quan%20Am%20Bo%20Tat/QuanAm26.jpg

Tịnh Ngọc
20-07-2005, 01:00 AM
Trong giai đoạn đầu chuẩn bị cho lộ trình giác ngộ này mà cũng là giai đoạn khởi động các năng lực trí thức và tình cảm của hành giả, hành giả sẽ dùng tư duy lý luận sáng suốt của mình để điều chỉnh tâm và làm nền cho kinh nghiệm trực giác nẩy nở. Vị ấy sẽ biến năng lực tình cảm của mình thành sức mạnh của hành động toàn tâm hướng về mục tiêu giải thoát. Vị ấy sẽ làm chủ tâm ý bằng cách nắm vững những quy luật tư duy để rồi sau đó vượt qua biên giới của suy luận và tư duy, toàn tâm toàn ý tìm tới một trạng thái tâm thanh tịnh và tỉnh thức đối với tất cả chúng sinh đau khổ. Rồi một ngày nào đó, tâm bồ đề (bodhicitta) sẽ tự nhiên xuất hiện. Và rồi trong con người mà nhân cách đã đủ cao đẹp đó sẽ thình lình xuất hiện một con người mới với tâm ý duy nhất là làm sao giúp loài người "hoàn toàn" thoát khỏi đau khổ. Rồi tất cả những buồn phiền, dằn vặt và thống khổ riêng tư của người ấy dường như không còn quan trọng nữa. Tâm thức của vị ấy chỉ còn một ao ước duy nhất: làm sao cho tất cả chúng sanh này được giải thoát và hạnh phúc.

Kinh nghiệm tập trung hướng về một mục tiêu duy nhất -- mục tiêu giải thoát tất cả chúng sinh -- và buông bỏ tất cả những ước vọng khác sẽ tác động sâu sắc trên cuộc đời vị ấy. Ngay cả khi kinh nghiệm nầy trôi qua và tắt đi như âm thanh của tiếng chuông chỉ vang lên một lần, và khi tác động của nó trên cuộc đời nầy chìm sâu vào quên lãng, nó vẫn tiếp tục là nguồn năng lượng chỉ đạo và mang tính quyết định trong đời sống nội tâm của hành giả.

Nhưng chúng ta không thể cảm nhận được trạng thái "vô ngã" này chỉ thuần bằng cách chấp hành giới luật và phát nguyện, ngay cả khi chúng ta phát nguyện 18 lời nguyện căn bản và 44 lời nguyện phụ. Những công thức, quy ước, lời phát nguyện và nguyên tắc luôn là sản phẩm của thời mạc Pháp trong đó kinh nghiệm chứng ngộ nội tại không còn nữa, và để bù lại, con người thường dựa vào hình thức và nghi lễ. Và như thế, với mỗi nghi thức, chúng ta chỉ dựng thêm những bức tường dày hơn bao quanh cái nhà tù tự ngã được xây lên bằng khát vọng được sống an toàn và ổn định của chúng ta. Để rồi cuối cùng chúng ta sẽ không còn chỗ để vùng vẫy.

Nếu trong thế giới này có một chất liệu nào đó có khả năng chuẩn bị cho lộ trình của bồ đề tâm, thì chất liệu đó không gì khác hơn là sự mở rộng và đồng cảm đầy tình thương và hiểu biết với muôn loài, không phải để chiếm hữu hay mong cầu bất kỳ phần thưởng nào, dù là nhỏ nhiệm và vi tế, và càng không phải để ‘tạo ra phước đức’. Việc làm vị tha với tâm an tịnh vì lòng từ, tâm bi mẫn và chia xẻ niềm vui với tất cả chúng sanh – đây là chìa khóa duy nhất. Và bất cứ ai có thể yêu thương bất kỳ một chúng sanh nào mà không đòi hỏi hay có những ý đồ ích kỷ– người đó, qua tình thương đối với một chúng sanh, sẽ có khả năng thương yêu tất cả muôn loài, và qua đó, có thể phát Bồ đề tâm, hay nói đúng hơn, làm cho Bồ đề tâm nẩy mầm và hiển lộ. Và rồi có lẽ vị ấy sẽ thốt lên những lời tương tự như Bồ tát Santideva đã một lần thệ nguyện:

Con nguyện mang trên con gánh nặng của tất cả sự đau khổ.
Con quyết tâm mang lấy nó
Con sẽ không thối lui.
Con sẽ không chạy trốn hay run sợ
Con sẽ không nhường bước hay do dự.
Vì sao? Vì cứu độ tất cả chúng sanh là lời phát nguyện của con.

NAM MÔ ĐẠI TỪ ĐẠI BI CỨU KHỔ CỨU NẠN LINH CẢM QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT

http://img.photobucket.com/albums/v604/barbiemodel/Quan%20Am%20Bo%20Tat/QuanAm25.jpg

(Tổ dịch thuật Trúc Lâm)

thongtindangky
22-09-2005, 12:53 PM
http://www.dalatrose.com/forum/images/282005/282005102517.jpg



dalatrose.com

thongtindangky
22-09-2005, 12:59 PM
http://www.dalatrose.com/forum/images/282005/282005102011.jpg
..........

thongtindangky
22-09-2005, 01:00 PM
http://www.dalatrose.com/forum/images/282005/282005104016.jpg
..................

thongtindangky
22-09-2005, 01:04 PM
http://www.dalatrose.com/forum/images/282005/282005105219.jpg
Nam Mô A Di Đà Phật

thongtindangky
22-09-2005, 01:08 PM
http://www.dalatrose.com/forum/images/282005/28200510404.jpg

...............