PDA

View Full Version : Giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt.


ganda
13-08-2007, 01:14 PM
Phạm Văn đồng

Giữ gìn sự trong sáng của một ngôn ngữ, chuẩn hóa nó, phát triển nó - đây là một chủ đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn, cho nên trước hết cần thiết phải có cái nhìn rộng và sâu về vai trò của ngôn ngữ đối với xã hội, đối với con người, đối với sự phát triển của các dân tộc theo hướng đi lên.

I. Tầm quan trọng của ngôn ngữ đối với lịch sử loài người và lịch sử các dân tộc.
Nhìn vào quá trình phát triển lịch sử của loài người, chúng ta thấy rất rõ vai trò và tác dụng của ngôn ngữ. Trước hết là lao động, sau đó đồng thời với lao động và ngôn ngữ - đó là hai động lực chủ yếu trong sự phát triển của loài người nguyên thủy. Cùng với sự phát triển của tư duy, của ý thức, ngôn ngữ đã góp phần hoàn thiện con người, phân biệt con người với con vật. Dần dần, loài người xây dựng nên các cộng đồng chung về ngôn ngữ từ thấp lên cao về mặt tổ chức xã hội như thị tộc, bộ lạc, dân tộc. Về sau này, khi đã xuất hiện quốc gia, thì ý thức về một quốc gia thống nhất bao giờ cũng gắn bó với ý thức về một ngôn ngữ quốc gia chung. Lịch sử dân tộc Việt Nam ta, kể từ thời dựng nước được thế giới biết đến qua nền văn hóa Đông Sơn rực rỡ với hiện vật tiêu biểu trống đồng, trải qua hàng năm cho đến ngày nay, nếu xét riêng về mặt ngôi ngữ thì có thể nói rằng đó là lịch sử người Việt Nam, cùng nhau xây dựng, thống nhất và phổ biến tiếng Việt trong cương vị ngôn ngữ dùng chung trên toàn lãnh thổ đất nước ta.
Khi nhận diện một dân tộc, ngôn ngữ thường được coi là một trong những tiêu chuẩn chính (bên cạnh các tiêu chuẩn khác như tính cộng đồng lãnh thổ, ý thức tự giác dân tộc, các đặc điểm chung về tâm lý, văn hóa, kinh tế...) Ngôn ngữ góp phần làm nên bản sắc của một dân tộc, phân biệt dân tộc này với dân tộc khác. Trong suốt lịch sử lâu dài đấu tranh vì chủ quyền dân tộc, vì độc lập tự do của đất nước, chúng ta có thể hình dung dân tộc Việt Nam ta đã phấn đấu gian khổ như thế nào để thoát được hiểm họa diệt chủng về ngôn ngữ và văn hóa, để bảo vệ và phát triển được tiếng Việt, như Bác Hồ nói, "Thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc".
Trong các mặt đời sống của một dân tộc, của một đất nước thì ngôn ngữ gắn bó mật thiết hơn cả với văn hóa. Ngôn ngữ là một trong những nhân tố hợp thành quan trọng, góp phần làm nên cái nền tảng về giá trị, bản sắc, tinh hoa của nền văn hóa dân tộc; bởi lẽ nó liên quan đến ý thức xã hội, ứng xử và giao tiếp xã hội, cũng như các kết quả hoạt động vật chất và tinh thần của con người trong xã hội. Chính tiếng Việt, ở mặt nội dung ý nghĩa của nó, là nơi ghi lại, nơi phản ánh chủ yếu những tri thức, kinh nghiệm, những suy nghĩ, quan niệm v.v... từ ngàn đời của cha ông ta về mọi mặt của đời sống dân tộc, về tự nhiên và xã hội, về vũ trụ và con người. Cùng với quá trình hình thành và phát triển nền văn hóa Việt Nam, tiếng Việt cũng hình thành và phát triển, ngày nay đã trở thành một ngôn ngữ giàu và đẹp, phong phú và độc đáo; đó là một công cụ rất có hiệu lực trong việc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Điều quan trọng nhất là mỗi chúng ta có ý thức sâu sắc về sự giàu đẹp của tiếng Việt, có tình cảm của người Việt Nam ta biết yêu và quý tiếng nói của dân tộc, nói rộng ra thì đó là ý thức và tình cảm đối với văn hóa dân tộc mình, đối với đất nước mình, nhân dân mình.
Ngôn ngữ nào cũng có hai chức năng chủ yếu, là phương tiện quan trọng nhất trong sự giao thiệp giữa người với người và là phương tiện, là công cụ của tư duy. Trên thế giới, có nhà ngôn ngữ học đã ví ngôn ngữ như là một thứ chất kết dính hết sức đặc biệt, hết sức quan trọng, vì ở đâu cũng thấy có mặt nó, trong kinh tế, trong văn hóa, trong xã hội, trong mọi mặt vật chất, tinh thần của cuộc sống con người, bình thường và quen thuộc như nước ta uống, như không khí ta thở vậy. Vì thế, muốn xây dựng và phát triển con người, xây dựng và phát triển xã hội, xây dựng và phát triển đất nước, chúng ta không thể không phát triển tiếng Việt, công cụ giao tiếp, công cụ tư duy, công cụ phát triển của con người Việt Nam, đất nước Việt Nam. Tại Hội nghị khoa học "Gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ ngữ" họp ngày 29-10-1979 ở Hà Nội, tôi đã nhấn mạnh vai trò và tác dụng của công việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt và chuẩn hóa nó, để phục vụ sự phát triển trí tuệ con người Việt Nam, sự phát triển sự nghiệp xã hội chủ nghĩa trên đất nước ta. Tôi nghĩ rằng đó chính là lý do sâu xa vì sao chúng ta cần phải có sự quan tâm đầy đủ đến tiếng Việt, đặc biệt là hiện nay, ở thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.
Tôi dừng lại ở đây là chỗ thích hợp nhất để trình bày một quan điểm rất quan trọng về quan hệ giữa tư duy và ngôn ngữ. Chúng ta còn nhớ Các Mác và Ph.Ăng-ghen, sau khi phác họa học thuyết vĩ đại của mình là duy vật lịch sử và duy vật biện chứng, đã có một câu nói mà tôi cần trích nguyên văn: "Khi hiện thực đã được trình bày như đích thực nó như vậy (bởi các khoa học, và các khoa học ấy chứng minh duy vật biện chứng lịch sử), thì triết học không còn chỗ nào để tồn tại nữa". Ăng-ghen nói rõ thêm: "Khi khoa học tự nhiên và khoa học lịch sử đã thấm nhuần biện chứng thì tất cả các món hàng triết học cũ trở thành đồ thừa, trừ lý luận về tư duy (tức là duy vật biện chứng lịch sử - P.V.Đ)".
ở đây chúng ta phải thấy một cách sâu sắc nhất và phong phú nhất sự liên quan mật thiết giữa ngôn ngữ và tư duy hoặc ngược lại giữa tư duy và ngôn ngữ, bởi cái này là nhân tố của cái kia hoặc ngược lại. Đó là hai cái đòn xeo quý báu không ngừng nâng cao hiểu biết của con người trong quá trình đi lên giải quyết các vấn đề của cuộc sống trên mọi lĩnh vực, từ gần đến xa, từ thấp đến cao, từ đời này đến đời khác. Trong thời đại ngày nay, thời đại của sự phát triển như vũ bão của các ngành khoa học: khoa học kỹ thuật và khoa học xã hội, sự phát triển tư duy có liên quan đến sự phát triển của toàn cầu hóa cuộc sống mọi con người, mọi dân tộc, thì chúng ta càng thấy tầm quan trọng của ngôn ngữ và tư duy. Chỉ có đặt vấn đề như vậy thì đề tài của bàI viết này mới có đầy đủ tầm vóc, chiều sâu và chiều rộng của nó, xứng đáng với giá trị của nó. ở đây tôi chỉ gợi mở quan điểm để mở rộng chân trời của vấn đề, từ đó có thể có sự nhận thức mới, gắn liền với tìm tòi mới, hiểu biết mới của biết bao người trong lĩnh vực ngôn ngữ và tư duy của Việt Nam.

II. ý nghĩa và nội dung của công việc giữ gìn sự trong sáng tiếng Việt. Ngôn ngữ phát sinh và phát triển cùng với xã hội loài người, nhưng không phải theo một con đường thẳng tuột, mà trải qua những khúc khuỷu, quanh co. Sự phát triển của các ngôn ngữ trên thế giới đều có tính quy luật chung là từ từ, liên tục, không bùng nổ, không nhảy vọt. Những biến đổi của ngôn ngữ thường diễn ra khi nhanh khi chậm và không đều ở các mặt ngữ âm, từ vựng - ngữ nghĩa, ngữ pháp, trong đó năng động, mạnh mẽ nhất là bộ phận từ ngữ. Ngày nay công nghệ tin học có khả năng xử lý văn bản, dịch máy, phân tích và tổng hợp lời nói, nhận dạng tiếng nói và chữ viết... càng góp phần thúc đẩy ngôn ngữ phát triển.
Trong quá trình phát triển lâu dài, không có một ngôn ngữ nào trên thế giới lại không có sự tiếp xúc, vay mượn với ngôn ngữ khác, cho dù đó là những ngôn ngữ rất lâu đời, rất phát triển như những thứ tiếng của các nước lớn ở châu Âu, châu á, châu Mỹ và khi vay mượn thì bên cạnh cái đúng, cái cần thiết, không tránh khỏi có những cái không hợp lý, thiếu cân nhắc, đôi khi sống sượng... Vì thế, mọi ngôn ngữ đều cần có sự tác động tích cực của con người, của xã hội, của Nhà nước, để bảo vệ và phát huy sự trong sáng vốn có cũa ngôn ngữ đó, trước những hiện tượng vay mượn ồ ạt ngôn ngữ nước ngoài. Tiếng Việt cũng không nằm ngoài quy luật chung ấy.
Khi nói đến việc gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt thì trước hết cần thấy rằng đó là một công việc bình thường, tự nhiên và thường xuyên, lâu dài trong suốt cả quá trình phát triển của tiếng Việt từ trước tới nay và từ nay về sau, nhằm bảo vệ và phát huy cái bản sắc, cái tinh hoa của tiếng Việt, không để cho mất đi một cái gì vô cùng quý báu khiến cho tiếng Việt là tiếng Việt.
Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới cho thấy ngôn ngữ nào cũng trải qua những thời kỳ nổi bật lên nhiệm vụ giữ gìn sự trong sáng của nó. Như ở Nga, sau Cách mạng Tháng mười vĩ đại, Lê-nin đã kêu gọi mọi người không được "làm hỏng tiếng Nga", "tuyên chiến với việc dùng những từ nước ngoài không cần thiết".
ở ta, từ những năm 50, trong cuốn Sửa đổi lối làm việc, Bác Hồ đã nói đến các thứ "bệnh" ngôn ngữ mà chúng ta thường hay nhắc như: bệnh "sáo", nghĩa là nói và viết theo một cái khuôn mẫu hoàn toàn như nhau bất kể về việc gì, ở cấp nào, cơ quan nào; bệnh "ba hoa", "nói dài, nói dại, nói dai", còn nội dung thì rỗng tuyếch, "ba voi không được bát nước xáo"; bệnh "vẽ rắn thêm chân"; bệnh "nói chữ". Sau này Bác cũng nhiều lần nhấn mạnh "Khuyết điểm nặng nhất là dùng chữ nước ngoài quá nhiều, và nhiều khi dùng không đúng". Bác thường xuyên nhắc nhở "Tiếng nào sẵn có thì dùng tiếng ta" và đồng thời chỉ rõ "Có những chữ ta không sẵn có và khó dịch đúng thì cần phải mượn chữ nước ngoài".
Năm 1966, tại cuộc họp mặt về vấn đề giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt (ngày 7 và 10.2), tôi đã nêu ra ba khâu cần phải làm để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, giữ gìn sự giàu đẹp của nó, và hơn thế nữa làm cho nó ngày càng thêm giàu và đẹp. Đó là: giữ gìn và phát triển vốn chữ của tiếng ta; nói và viết đúng phép tắc của tiếng ta; giữ gìn bản sắc, phong cách của tiếng ta trong mọi thể văn (văn học, chính trị, khoa học, kỹ thuật...); đồng thời phải có những đổi mới, phát triển, làm cho tiếng ta ngày thêm giàu trên cơ sở vốn cũ của tiếng ta.
Nếu giữ gìn sự trong sáng của một ngôn ngữ là một yêu cầu lâu dài, thì từng giai đoạn lại có yêu cầu phải chuẩn hóa nó, tức là xác định cái đúng và những quy tắc vồ phát âm, chính tả, dùng từ, đặt câu v.v... của ngôn ngữ đó, được xã hội chấp nhận.
Hiện nay, tiếng Việt của chúng ta đang ở giai đoạn phát triển mạnh mẽ, phản ánh những thay đổi to lớn của đất nước trong sự nghiệp đổi mới mọi mặt kinh tế, văn hóa, xã hội, nhất là về phượng diện khoa học và công nghệ; vì thế chuẩn hóa nó là một nhiệm vụ quan trọng và bức xúc để tiếng Việt có thể phục vụ tốt hơn nữa công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Sự phát triển không ngừng của ngôn ngữ là phức tạp; một mặt, đời sống của nó gắn với xã hội, nhưng mặt khác, nó cũng sống đời sống bên trong riêng của nó.
Một ngôn ngữ được đánh giá là phát triển khi mà càng ngày có càng mở rộng và phân biệt các phong cách ngôn ngữ khác nhau (như phong cách khoa học, phong cách chính luận, phong cách hành chính sự vụ, phong cách nghệ thuật v.v...) cũng như các chức năng giao tiếp khác nhau trong các phạm vi sử dụng như: trong gia đình, làng xóm; trong các hoạt động sản xuất, thương mại, dịch vụ; trong hệ thống giáo dục; trên các phương tiện thông tin đại chúng; trong hành chính Nhà nước; trong quan hệ ngoại giao v.v... Đặc biệt là ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đã tạo điều kiện để ngôn ngữ có bước phát triển mới về chất và làm cho ngôn ngữ có những năng lực mới chưa từng có trước đây.
Một ngôn ngữ được đánh giá là phát triển khi nó ngày càng có tính chất trí tuệ hóa và quốc tế hóa. Điều này rất quan trọng khi ta đặt tiếng Việt trong bối cảnh thời đại ngày nay: thời đại của thông tin, của trí tuệ; thời đại của hội nhập khu vực, hội nhập toàn cầu, và do đó, tiếng Việt phải có những chuẩn bị, những thay đổi, để có đủ thế và lực giao lưu, tiếp xúc với các ngôn ngữ khác trên thế giới mà khưng sợ bị tổn thương đến giá trị, bản sắc, đến sự giàu đẹp của nó.
Chính là trong tinh thần đó mà tôi đã nhiều lần chỉ ra sự cần thiết phải nhìn thấy khả năng phát triển phong phú của tiếng Việt, nhấn mạnh yêu cầu giữ gìn sự trong sáng và cả yêu cầu phát triển, nhìn về tương lai. Cho nên, ở thời điểm hiện nay, trước thềm thế kỷ XXI, cần có nhận thức phù hợp về nội dung của công việc gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt là: giữ gìn cho tiếng Việt luôn luôn trong sáng trong quá trình phát triển mạnh mẽ của nó.

III. Thực trạng hiện nay và những giải pháp
Thực tế hơn nửa thế kỷ qua, từ 1945 đến nay, đã cho thấy, về cơ bản, sự phát triển của tiếng Việt là lành mạnh, đúng hướng, phù hợp với những biến đổi của đời sống chính trị, kinh tế-xã hội và văn hóa của đất nước.
Những năm gần đây, đặc biệt từ sau 1975, trong tiếng Việt, bên cạnh những điều mới mẻ và tốt đẹp, có thể thấy không ít những hiện tượng thiếu trong sáng, thiếu chuẩn mực, biểu hiện tập trung ở những mặt sau đây:
a. Trong nhà trường, học sinh, sinh viên nói, viết tiếng Việt còn sai nhiều về chính tả, về cách dùng từ ngữ, về ngữ pháp. Đây là một điều mà chúng ta không thể chấp nhận được, bởi vì việc giữ gìn sự trong sáng tiếng Việt của chúng ta cốt yếu là nhằm vào trường học, phải làm sao cho học sinh, sinh viên nói tốt và viết tốt tiếng Việt. Tôi muốn lưu ý rằng không phải chỉ có con em người Việt (Kinh), mà cả con em đồng bào các dân tộc thiểu số cũng phải được dạy và học tiếng Việt một cách nghiêm chỉnh để các em có thể nói, viết tiếng Việt cho đúng chuẩn của nó.
b. Trong đời sống xã hội, có thể nhận định chung rằng: một mặt, khá phổ biến là tình trạng chính tả chữ viết (như viết "i" ngắn "y" dài, viết hoa các danh từ riêng) không thống nhất, cách dùng từ ngữ sai. Mặt khác, đáng lo ngại hơn là tình trạng sử dụng từ ngữ nước ngoài pha vào tiếng Việt hiện nay rất tùy tiện và lạm dụng đến mức báo động. Tôi muốn nhấn mạnh đây là một thói hư, tật xấu đang ngang nhiên lan tràn ở nước ta, đã thành một xu thế dùng tiếng nước ngoài, nhất là tiếng Anh, thay cho tiếng Việt, gây biết bao chê trách mà ai nấy đều phê phán lúc nói chuyện hay lúc viết trên báo chí về nguy cơ này. Một điều tôi cần nói ở đây là: báo chí tuy đã có người viết bài không tiếc những lời phẫn nộ đích đáng đối với xu thế hư hỏng này, nhưng sau đó có người viết bài khác lại theo ngay cái vết mòn hầu như dễ làm cho người ta sa ngã ấy. Cũng cần phải lên án một cách nghiêm khắc hiện tượng xấu ở các thành phố lớn như thủ đô Hà Nội, bộ mặt của cả nước, cho phép các loại quảng cáo, các biển hiệu cửa hàng, công ty, khách sạn... bằng chữ nước ngoài, thậm chí không cần chữ Việt. Phải chăng là không có ai làm chủ để chăm lo cho bộ mặt cực kỳ quan trọng của thành phố; hay là do ý thức, do trách nhiệm, do trình độ của những người quản lý nó?
Bây giờ tôi nói mấy điểm về biện pháp để bảo vệ và phát triển tiếng Việt. Trước khi nói đến biện pháp, tôi nghĩ phải thấy được nguyên nhân từ phía chúng ta, vì nói đến giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ, chuẩn hóa nó, phát triển nó - là nói đến tác động tích cực của con người vào quá trình phát triển của ngôn ngữ.
Nói đến con người ở đây, trước hết là mỗi người Việt Nam chúng ta, những người dùng tiếng Việt; các nhà giáo, các nhà văn, nhà báo, các nhà ngôn ngữ học, và rất quan trọng là vai trò lãnh đạo, hoạch định các chính sách về ngôn ngữ của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Trong tiếng Việt bây giờ có những biểu hiện không tốt, thiếu trong sáng, sai chuẩn mực, trước hết là do chúng đã coi nhẹ, thậm chí buông lỏng, thả nổi công việc quan trọng này. Chúng ta đã không đầu tư thích đáng trí tuệ, công sức và tiền của để nghiên cứu lý luận và điều tra thực tế về những vấn đề liên quan đến việc bảo vệ và phát huy bản sắc, tinh hoa của tiếng Việt. Việc tổ chức thực hiện nhìn chung cũng chưa tốt. Nhưng ở đây quan trọng nhất vẫn là nhận thức, là tình yêu, là lòng quý trọng và thái độ đối với tiếng mẹ đẻ của chúng ta. Mỗi người chúng ta phải có nghĩa vụ và trách nhiệm bảo vệ và phát huy sự trong sáng của nó, không thể tùy tiện, càng không thể để mất gốc, để tiếng Việt bị hoen ố, ô nhiễm.
Về biện pháp thì hiện nay có hai phạm vi quan trọng nhất là nhà trường và xã hội. ở đây cần có những biện pháp đồng bộ, thiết thực. Cụ thể là cần phải:
Chấn chỉnh việc dạy và học tiếng Việt ở nhà trường phổ thông và đại học; cũng như việc sử dụng tiếng Việt trên sách báo, truyền thanh, truyền hình, thông tin điện tử;
Tăng cường việc biên soạn các sách công cụ về tiếng Việt, nhất là sách Ngữ pháp và Từ điển;
Đẩy mạnh nghiên cứu lý luận về chuẩn hóa, về phát triển ngôn ngữ;
Tập trung điều tra khảo sát đời sống ngôn ngữ tiếng Việt hiện nay, nhất là chiều hướng phát triển từ 1975 đến nay.
Riêng đối với Nhà nước thì cần có càng sớm càng tốt một Hội đồng quốc gia về ngôn ngữ, để chăm lo về tiếngViệt, các tiếng dân tộc thiểu số, cũng như về công việc giảng dạy và sử dụng tiếng nước ngoài trên đất nước ta.
Trên đây, tôi đã nêu ra một số suy nghĩ về những vấn đề theo tôi là quan trọng, cần được chú trọng công việc giữ gìn sự trong sáng và phát triển tiếng Việt. Để kết thúc một cách có ý nghĩa bài viết "Trở lại vấn đề: Vì sự trong sáng và phát triển của tiếngViệt", tôi muốn liên hệ nó với tình hình hiện nay của nước ta. Tiếng Việt của chúng ta có hai đặc tính rất quý là giàu và đẹp, tự bản thân nó là trong sáng; tiếng Việt sẽ gàu và đẹp hơn nữa nếu chúng ta cố gắng làm tốt việc giữ gìn nó, sử dụng nó và phát triển nó. Với giá trị bản sắc, tinh hoa của nó, tiếng Việt sẽ góp phần đáng kể vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, tiến lên xây dựng từng bước chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, chính công cuộc đổi mới toàn diện mà chúng ta đang tiến hành, nói rộng ra là toàn bộ sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa của chúng ta, sẽ tác động trở lại, làm cho tiếng Việt ngày càng phát triển hơn, vậy nghĩa là có mối quan hệ rất khăng khít giữa sự trong sáng của tiếng việt, giữa vai trò và tác dụng của nó trong đời sống xã hội với sự tiến lên của đất nước ta trong thế kỷ tới. Chúng ta cần thấy rõ điều đó để phấn đấu thực hiện cho được một nhiệm vụ cao quý và thiêng liêng là bảo vệ sự trong sáng và phát triển tiếng nói của dân tộc Việt Nam ta.

1. Về các từ "đế chế" và "đế quốc"
Có người dùng những từ ngữ "nước đế quốc", "Chủ nghĩa đế quốc" thay cho từ "đế chế La Mã"; Thí dụ: "Đế quốc La Mã" thay cho từ "đế chế La Mã". Tất nhiên, những từ này đều có chung gốc ngôn ngữ là chữ "đế", nhưng nếu đi sâu vào tìm hiểu về thời điểm lịch sử của chúng, về sự hình thành của chúng, về tính chất và tác dụng của chúng. Thì rất dễ thấy những khác nhau cực kỳ to lớn và sâu xa, không thể nhầm lẫn được. Phải nói là: "đế chế Lã Mã", "đế chế ốttôman", "đế chế Nga", "đế chế Trung Hoa". Có nước như nước Anh vừa là đế chế, vừa là đế quốc.

2. Về các từ "đảng viên" và "quần chúng"
Trước đây khá thông thường bây giờ có ít hơn nhưng vẫn còn nhiều người nói và viết như sau: A là đảng viên; còn B, C, Đ là quần chúng, ý muốn nói rằng người nào không phải đảng viên thì là quần chúng. Tuy nhiên nói như thế có nghĩa là coi quần chúng là dưới đảng viên, hạ thấp vị trí chính trị, ý nghĩa và tác dụng của quần chúng là đông người, nói một người là quần chúng thì không đúng. Phải nói: A là đảng viên; còn B, C, Đ là người ngoài Đảng.

3. Về từ "tên"
Trước đây nhiều người hay dùng, nay có ít hơn, nhưng vẫn còn người dùng từ này với ý nghĩa miệt thị, đặt trước tên riêng của các nhân vật phản động, đối tượng của cách mạng hay những kẻ làm việc xấu xa; thí dụ: tên Hitle. Đáng lẽ chỉ nên gọi Hitle là "Hitle", mà như thế nó vẫn cứ là Hitle với tất cả tội ác của nó trong lịch sử nước Đức và lịch sử của loài người. Lúc tôi viết những cuốn sách đầu tiên về Chủ tịch Hồ Chí Minh, tối viết tên Bác mà không kèm theo chức danh cao quý gì (cũng như chúng ta từ lâu đã quen dùng cách xưng gọi "Các Mác", "Ăng-ghen", "Lê-nin") thì có những đồng chí bày tỏ với tôi tâm trạng nghẹn ngào, khó chịu. Đến ngày nay, nếu nói: Hồ Chí Minh là một vĩ nhân trong lịch sử nước ta và lịch sử thế giới, thì cũng còn có người chưa yên tâm, chưa thoải mái lắm.

4. Về từ "chính xác"
Về từ này người ta không nói và viết một cách không hợp lý, không biết đâu là chuẩn mực, hằng ngày ở đâu cũng nghe từ này với ý nghĩa cơ bản là "đúng", "trúng"... Vừa qua, nhân sinh nhật bác sĩ Phạm Ngọc Thạch do Bộ Y tế tổ chức, trong bài viết của mình tôi có kể lại lối tiếp xúc người bệnh của Phạm Ngọc Thạch. Khi vào Viện lao khám bệnh, Phạm Ngọc Thạch áp tai mình vào ngực người bệnh để nghe chứ không dùng ống nghe, và tôi có viết rằng Phạm Ngọc Thạch làm như vậy để nghe được "thực" hơn. ở đây chữ "thực" tôi dùng có ý nghĩa là trong trường hợp nào đó và trong chừng mực nào đó thì máy móc không "thực" bằng tai của người thầy thuốc. Đối với người thầy thuốc thì "thực" là quan trọng. Nhưng sau đó người ta sửa từ "thực" thay bằng từ "chính xác". Tôi có biết điều này, tuy nhiên tôi không đề nghị đổi lại, mà để hôm nay mới nói; tôi nghĩ viết và nói cho đúng, cho sáng không phải chuyện dễ dàng.

5. Về các từ "lớn" và "vĩ đại"
Nhiều người nói và viết một cách lẫn lộn, không có sự phân biệt hai từ này. Người ta có thể nói và viết: "nhà văn lớn", "nhà khoa học lớn"; bởi lẽ những người đó có trình độ và có cống hiến quan trọng trong nghề nghiệp của mình. Nhưng ở đây nếu dùng từ "vĩ đại" để đánh giá thì không đúng, không phù hợp, vì từ "vĩ đại" chỉ dùng cho một số ít người có cuộc đời và đức độ rất cao đẹp, có trí tuệ, tài năng và những cống hiến có giá trị và tầm cỡ to lớn, đáng kính phục.
6. Về cách ghép từ
Đây là một hướng làm giàu cho vốn từ tiếng Việt mà theo ý tôi nó rất thú vị như: "nuôi trồng", "xây lắp", "truy quét", "sao chụp"... Tuy nhiên không thể tùy tiện muốn ghép thế nào cũng được. Ví dụ: tiếng ta có các từ ngữ "y sĩ", "bác sĩ", "khám bệnh", "chữa bệnh"; nhưng có người lại muốn gán ghép thành: "y, bác sĩ", "khám, chữa bệnh" (hoặc trong các lĩnh vực khác như "chiến thuật", "kỹ thuật"), "kỹ thuật" thành "chiến, kỹ thuật". Mọi người có thể kể ra nhiều ví dụ khác về cách nói, cách viết rất sai như thế. điều này thường gây khó khăn cho người nước ngoài học tiếng Việt; lúc gặp những từ ngữ ghép lại như vừa nói họ phải tra từ điển, nhưng không có cuốn từ điển nào về tiếng Việt có những từ ngữ như vậy.
Tóm lại, ở đây tôi muốn đề cập một vấn đề chung là từ ngữ, hoặc một số từ ngữ nào đó có cách dùng thông thường của nó, cách dùng đúng chuẩn của nó, gắn với lịch sử của nó, với bối cảnh xã hội của nó, không thể tùy tiện vượt qua theo ý riêng của mình.

ganda
13-08-2007, 01:26 PM
Thưa mọi người.
Tiếng Việt là một bộ phận quan trọng cấu thành nên Văn Hiến Việt, nói như Hồ Chí Minh là "thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc", nên theo thiển ý của tôi, chúng ta hãy cùng chỉnh sửa cho nhau và cố gắng dùng đúng ngữ nghĩa góp phần giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt.
Nếu mọi người đồng ý, chúng ta hãy cùng nhau viết lên đây những từ chúng ta hay dùng chưa đúng để cùng nhau sửa đổi.
Tất nhiên sẽ có rất nhiều khó khăn vì có nhiều từ đúng hay sai phải mất nhiều thời gian tìm hiểu, nhưng cũng có rất nhiều từ thông dụng mà chúng ta dùng chưa đúng.

Hãy cùng nhau, chúng ta góp phần giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt !

ganda
13-08-2007, 02:59 PM
Thưa mọi người.
Xin được nêu mấy từ trước đây tôi hay dùng sai.

1.Tối ưu 最 優 : Tốt nhất. cực tốt
- tối 最: (Phó) Nhất, hơn cả, cùng tột.
- ưu 優 : (Tính) Tốt đẹp, hơn, trội

*Dùng chưa đúng: "Tối" + "nhất". VD: tối ưu nhất, tối thiểu nhất, tối tân nhất...

2. bao biện 包辦:Nắm hết công việc mà làm.

*Dùng chưa đúng: hay dùng với nghĩa biện bạch 辨白 (Đưa lí lẽ để làm sáng tỏ vấn đề, Minh oan cho mình.), biện minh 辨明 (Biện biệt trình bày cho rõ ràng)

3.Cứu cánh 究竟: cuối cùng, kết quả

- cứu 究 : Cùng cực, kết cục
- cánh 竟: (Phó) Cuối cùng, rốt cuộc

* Dùng chưa đúng: Hay dùng với nghĩa như là giải pháp cuối cùng cho một vấn đề gì đó, cứu tinh ...

4. Yếu điểm: điểm, vấn đề quan trọng
- yếu 要 : (Tính) Quan trọng, cần thiết

* Dùng chưa đúng: hay dùng với nghĩa tương tụ điểm yếu, nhược điểm...

TB: Thưa mọi người, quả thật tôi không muốn cho mấy từ "lằng nhằng giun dế" của Tàu vào, nhưng đây là vấn đề lịch sử và hơn nữa nhiều từ không biết "hắn" mượn của ta hay ta mượn của "hắn" nên phải cho cả lên, như thế mới hiểu rõ nghía của từ.
Mong các bạn thông cảm và tìm thêm nhiều từ nữa.

thichmactien
13-08-2007, 05:32 PM
Tôi thì lại có một ý nghĩ khác. Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt là tránh lai tạp tiếng Việt. Viết sai ngữ pháp, chính tả đã là không hay mà dùng từ lai tạp thì lại càng làm cho tiếng Việt giống như một món lẩu Thái. Tôi cứ tâm đắc mãi khi nghe đài Tiếng nói Việt Nam cách đây cả gần 20 năm trong chương trình Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt (phát vào lúc 7h sáng hàng ngày thì phải) có kể lại chuyện bác Hồ đã nhất quyết không dùng từ gốc Hán: Hồng thập tự, Không tặc mà chuyển sang tiếng Việt là Chữ thập đỏ và Giặc lái.

Thiên Sứ
13-08-2007, 06:27 PM
Có một học giả cho rằng:
Từ Việt phần lớn do tiếng Hán mà ra. Xin lỗi thậm chí suy luận rằng ngay cả từ "L..." chỉ bộ phận sinh dục nữ cũng là từ gốc Hán, do gốc từ chữ "Luân" mà ra, Bên tuvilyso.com còn có người giới thiệu bài viết của ông Lê Văn Khôi, được coi là giáo sư Pháp cho rằng, dân Việt thời mới lập quốc chỉ có khoảng 200 từ và dân Hán có khoảng 5000 từ, và kết luận: Tiếng Việt có gốc Hán.
Thiên Sứ tôi đặt vấn đề: Nếu quả dân Việt phải căn cứ vào tiếng Hán mới có ngôn từ của mình, thì ai là người san định từ Hán sang từ Việt và phổ biến trong ngôn ngữ Việt, khi mà âm Hán và Việt hoàn toàn khác nhau trong cách phát âm một từ tương đương? Thí dụ như ngay hệ số đếm đến 10. Từ Hán - Bắc Kinh đọc là:
Y = Nhất/ Một; Ơ = Nhị/ Hai; San = Tam/ Ba; Ủ = Ngũ/ Năm; Liu = Lục/ Sáu; Tơ = Thất/ Bày..
Nếu người Việt nguyên thủy nghèo ngôn ngữ và lệ thuộc vào tiếng Hán thì ai là người san đinh và qui ước "Y" là "Nhất" tương đương với "một trong tiếng Viêt và phổ biến trong cộng đồng người Việt? Tại sao người Việt - nếu quả thật là không có ngôn ngữ diễn đạt và trong sự dô hộ trải hàng ngàn năm đó - lại không dùng ngay ngôn ngữ Hán làm ngôn ngữ của mình , mà lại mất công có một sự chuyển ngữ lớn lao mất thì giờ quá vậy? Để sáng tạo chữ viết cho một dân tộc, thực tế chỉ cần một nhóm người có thể làm được. Để đồng hóa ngôn ngữ của một dân tộc lạc hậu bằng ngôn ngữ của dân tộc khác là điều đã xảy ra. Nhưng để chuyển ngữ cho cả một dân tộc thì trong lịch sử thế giới chưa hề ghi nhận và Thiên Sứ thách tất cả ngân quỹ quốc gia hiện đại và sự tập trung các học giả quốc tế nào có thể làm được việc này. Trong lịch sử cũng không có tiền lệ. Chưa kể khi hoàn tất nó phải được phổ biến trong văn hóa dân tộc đó. Bởi vậy, cái luận điệu nô lệ cho rằng tiếng Việt có gốc Hán chỉ là xuất phát từ một tri thức hẹp và không có khả năng suy luận. Đừng thấy cái bằng giáo sư hàn lâm viện Pháp , mà vội cho rằng người đó phải đúng. Kể cả nguyên cái viện hàn lâm khoa học Pháp cũng đã sai khi cấp bằng tiến sĩ cho Lưu Tử Hoa, khi người này dùng Kinh Dịch chứng minh rằng: Có hành tinh thứ 10 trong hệ mặt trời.
Tiếng Việt là tiếng Việt, hoàn toàn không liên quan gì đến văn tự Hán cả. Cho nên, anh chị em không cần thiết phải chú thích chữ Hán bên cạnh tiếng Việt, như Ganda đã làm và đề nghị.
Thiên Sứ

ganda
13-08-2007, 06:38 PM
Bạn nói hoàn toàn đúng, từ nào có tiếng Việt tương, ta nên dùng từ đó, từ nào không có ta mới phải nhập. VD nên dùng "quần áo" thay "y phục", "lịch sử Việt" thay cho "Việt sử", "người bệnh" thay cho "bệnh nhân"....
Nhưng tiếc rằng giờ đây chúng ta nhập quá nhiều: fan hâm mộ (?), liveshow, gameshow, videoclip, shopping, test, xì tin, teen, ....
Bên cạnh đó lại có xu hướng Ngoại hóa những từ đã được Việt hóa-mà những từ này đã đc coi là tiếng Việt như : (đệm) mút, ăng ten......
Và theo trào lưu mới có thêm những từ như: trùi ui (trời ơi), prồ (bồ)...
Những vấn đề đó quá rộng và tôi chỉ mốn bàn đến nội dung trong trang web của ta. Chúng ta hãy giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt trong trang web của chúng ta trước đã.

Thiên Sứ
13-08-2007, 07:07 PM
Việc Việt hóa các từ ngoại là vấn đề có tính tất yếu trong giao lưu văn hóa . Bởi những sản phẩm có xuất xứ từ một nền văn hóa khác du nhập vào văn hóa Việt thì tất yếu nó phải được Việt hóa. Tôi đã nhiều lần khẳng định rằng: Chỉ có ngôn ngữ cao cấp mới có khả năng chuyển ngữ ngôn ngữ thấp hơn ra tiếng của nó. Tiếng Việt là một ngôn ngữ cao cấp, bởi vậy nó mới có khả năng Việt hóa các ngôn ngữ khác. Việt hóa một ngôn ngữ khác là một quá trính lựa chọn tự nhiên và phải mang tính phổ biến, chứ không thể ngay một lúc được. Chúng ta cũng không thể ép buộc những ngôn ngữ gần giống tiếng lóng trong giao tiếp hiện đại phải bỏ để gọi là trong sáng tiếng Việt. Đấy chỉ là một cách hiểu nhầm , giữa những ngôn ngữ nghiêm túc trong giao tiếp có tính nghi lễ và ngôn ngữ thoải mái trong giao tiếp trong cuộc sống bình thường. Không nên nhầm lẫn để coi đó là không trong sáng tiếng Việt.
Tính không trong sáng trong tiếng Việt chính là chỗ coi tiếng Việt có nguồn gốc du nhập từ ngôn ngữ khác, chính là chỗ chú thích ngôn ngữ khác bên cạnh tiếng Việt, làm tiếng Việt bị cảm giác u tối.
Thí dụ như chính đoạn sau đây làm tiếng Việt không trong sáng:
1.Tối ưu 最 優 : Tốt nhất. cực tốt
- tối 最: (Phó) Nhất, hơn cả, cùng tột.
- ưu 優 : (Tính) Tốt đẹp, hơn, trội

*Dùng chưa đúng: "Tối" + "nhất". VD: tối ưu nhất, tối thiểu nhất, tối tân nhất...

2. bao biện 包辦:Nắm hết công việc mà làm.

*Dùng chưa đúng: hay dùng với nghĩa biện bạch 辨白 (Đưa lí lẽ để làm sáng tỏ vấn đề, Minh oan cho mình.), biện minh 辨明 (Biện biệt trình bày cho rõ ràng)

3.Cứu cánh 究竟: cuối cùng, kết quả

- cứu 究 : Cùng cực, kết cục
- cánh 竟: (Phó) Cuối cùng, rốt cuộc

* Dùng chưa đúng: Hay dùng với nghĩa như là giải pháp cuối cùng cho một vấn đề gì đó, cứu tinh ...

4. Yếu điểm: điểm, vấn đề quan trọng
- yếu 要 : (Tính) Quan trọng, cần thiết

* Dùng chưa đúng: hay dùng với nghĩa tương tụ điểm yếu, nhược điểm...

Tiếng "trùi ui" dù thế nào vẫn gọi là tiếng Việt chứ đâu phải tiếng Ấn Độ mà bảo nó làm tối tiếng Việt? Người Việt vẫn hiểu người kia muốn nói gì mà? Theo tôi, chúng ta không lầm lẫn giữa tính nghiêm túc khi sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp và vấn đề trong sáng tiếng Việt.
Thiên Sứ

ganda
13-08-2007, 07:10 PM
Thưa chú Thiên sứ.
Chú đọc bài của cháu thấy có từ nào nói tiếng Việt nghèo nàn và phần lớn có gốc Hán chưa, hay đấy là suy luận của chú.
Những từ ở đây cháu nêu ra với mong muốn là không dùng thì thôi, đã dùng thì phải dùng cho đúng những từ mà ta không thay thế được trong hoàn cảnh nào đó.
Cháu không đề nghị viết tiếng Hán bên cạnh, chẳng qua từ điển như thế thì chép lại để tăng phần rõ ràng (cháu cũng chẳng biết một chữ tiếng Hán nào). Cháu chỉ muốn giải thích cho hành động chép nguyên từ điển lên của mình. Đây đơn thuần chỉ là từ nguyên tiếng Việt, từ Hán Việt cũng là từ Việt, chúng ta đã nhập khẩu và Việt hóa.
Còn nói Tiếng Việt là tiếng Việt, hoàn toàn không liên quan gì đến văn tự Hán cả theo thiển ý cháu, đấy chỉ là ý kiến riêng của chú. Đây là sự giao lưu văn hóa, họ mượn của ta, ta mượn của họ, hơn nũa sự lệ thuộc hơn 2000 năm đã nói lên vấn đề có liên quan hay không. Bên cạnh đó, chữ Nôm cũng là chữ tượng hình có mối liên hệ chặt chẽ với chữ Hán cũng sẽ khẳng định cho câu trả lời đó.
Tất cả những vấn đề đó quá lớn so với khả năng chúng ta nên cháu không muốn múa "rìu qua mắt thợ"
Cháu xin khẳng định lại là chỉ mong muốn trang web của chúng ta ít lỗi tiếng Việt hơn. Chúng ta cùng sửa lỗi cho nhau. Vậy thôi.

ganda
13-08-2007, 07:24 PM
Thưa mọi người.
Xin được nêu mấy từ trước đây tôi hay dùng sai.

1.Tối ưu 最 優 : Tốt nhất. cực tốt
- tối 最: (Phó) Nhất, hơn cả, cùng tột.
- ưu 優 : (Tính) Tốt đẹp, hơn, trội

*Dùng chưa đúng: "Tối" + "nhất". VD: tối ưu nhất, tối thiểu nhất, tối tân nhất...

2. bao biện 包辦:Nắm hết công việc mà làm.

*Dùng chưa đúng: hay dùng với nghĩa biện bạch 辨白 (Đưa lí lẽ để làm sáng tỏ vấn đề, Minh oan cho mình.), biện minh 辨明 (Biện biệt trình bày cho rõ ràng)

3.Cứu cánh 究竟: cuối cùng, kết quả

- cứu 究 : Cùng cực, kết cục
- cánh 竟: (Phó) Cuối cùng, rốt cuộc

* Dùng chưa đúng: Hay dùng với nghĩa như là giải pháp cuối cùng cho một vấn đề gì đó, cứu tinh ...

4. Yếu điểm: điểm, vấn đề quan trọng
- yếu 要 : (Tính) Quan trọng, cần thiết

* Dùng chưa đúng: hay dùng với nghĩa tương tụ điểm yếu, nhược điểm...



Đoạn này mà làm tối đi Tiếng Việt là lỗi của ông Thiểu Chửu.
Có lẽ ông ta phải đến đây học lại ngôn ngữ của chú.

Thiên Sứ
13-08-2007, 07:27 PM
Ganda ạ.
Thực tại việc chứng minh cho một nền văn hiến Việt 5000 năm đã cho tôi thấy rằng:
Có rất nhiều người tâm huyết với văn hóa Việt và họ giỏi. Nhưng do phương pháp sai lầm đã khiến cho những việc làm của họ phản bội lại chính họ. Ngoài những người nhân danh khoa học phủ nhận lịch sử Việt trải gần 5000 năm văn hiến thì chính ngay những người có quan điểm phản biện cũng có những sai lầm tự phản biện mình. "Nhiệt tình cộng sư dốt nát thành phá hoại", hình như chính Lê Nin nói câu đó thì phải. Việc Ganda vô tình - theo Ganda nói - chú thích tiếng Hán bên cạnh tiếng Việt, chính là làm cảm giác tiếng Việt không trong sáng theo chính đề tài topic của Ganda đưa lên. Tiếng Việt không liên quan gì đến văn tự Hán cả. Điều này hoàn toàn chính xác. Từ Việt và từ Hán có thể có liên quan. Nhưng tiếng Việt thì không.
Tôi thấy Ganda lên tiếng về sự trong sáng tiếng Việt mà lại đưa một văn bản tiếng hán bên cạnh thì thật là khó hiểu. Rồi lại kêu gọi làm trong sáng tiếng Việt khi chính Ganda cho rằng đây là vấn đề to lớn nằm ngoài khả năng của Ganda, nên tôi phải lên tiếng . Tôi không có tranh luận với Ganda.
Thiên Sứ

Thiên Sứ
13-08-2007, 07:31 PM
Ganda viết câu này có ý nghĩa gì:

Đoạn này mà làm tối đi Tiếng Việt là lỗi của ông Thiểu Chửu.
Có lẽ ông ta phải đến đây học lại ngôn ngữ của chú.

Thiên Sứ

dungkq
13-08-2007, 07:37 PM
Đoạn này có lẽ sư phụ Thiên Sứ lại hỉu nhầm phát biểu vui vẻ của bạn ganda rồi -hihi-.
Thư giãn chút:
- Có ai chú thích được từ : CỤ TỈ này thì dungkq sẽ hậu 1 quả tạ là 1 quẻ bói Mai Hoa -hihi-

thichmactien
13-08-2007, 10:47 PM
Từ Cụ Tỉ là chỉ tính chất cụ thể, tỉ mỉ đến hàng tỷ nên thành Cụ tỉ http://www.vietlyso.com/forums/images/smilies/21.gif
Đề nghị sư cụ cho 1 quẻ Mai hoa đê :sad:

dungkq
13-08-2007, 11:46 PM
Từ Cụ Tỉ là chỉ tính chất cụ thể, tỉ mỉ đến hàng tỷ nên thành Cụ tỉ http://www.vietlyso.com/forums/images/smilies/21.gif
Đề nghị sư cụ cho 1 quẻ Mai hoa đê :sad:Sai rồi -^_^-

hahung
14-08-2007, 12:54 AM
Lâu lâu HH bận không vào được VLS, hôm nay vào đây thấy mọi người tranh luận vui vẻ quá, HH cũng xin chen ngang đôi câu.
Cũng xin được dẫn lại ví dụ mà TMT trích dẫn:
- hồng thập tự <> chữ thập đỏ : tại sao không thay nốt chữ "thập"
- không tặc <> giặc lái : nếu chỉ theo nguyên nghĩa thì từ giặc lái không thể hiện đầy đủ ý nghĩa của "giặc lái máy bay", và việc thu gọn có tính tượng trưng
Vì vậy theo HH hiểu ý nghĩa lời dạy của Bác Hồ ở đây là ở chỗ nên Việt hóa những cụm từ ngoại quốc nếu có thể để mọi người, ở mọi trình độ đều có thể hiểu được dễ dàng. Điều này mang tính nhân văn sâu sắc, xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
Nhưng để ý rằng Bác chỉ cố gắng thực hiện cách dùng từ đó trong các bài nói, bài viết dành cho quảng đại quần chúng, còn trong các áng văn chương, trong các tư liệu không mang tính phổ biến, Người luôn sử dụng những từ sát nghĩa nhất, chính xác nhất, không câu nệ đến xuất xứ. Ngay cả cách gọi Bác Hồ ta cũng thấy rằng không phải là cách xưng hô thuần Việt theo thông lệ, nhưng điều này có lý do và mọi người tôn trọng, không coi đó là làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt.
Bài viết của bác Phạm Văn Đồng, nếu theo cách phân tích của bạn Ganda thì cũng rất nhiều từ thường gặp trong các văn bản chữ Hán. Phải chăng bản thân bài viết đó đã không trong sáng? HH không nghĩ vậy. Theo HH hiểu, ý của bác Đồng ở đây là: phải dùng từ cho sát nghĩa, biểu đạt chính xác nhất nội dung cần chuyển tải. Đó là sự trong sáng.
HH ủng hộ việc sử dụng những từ nguyên nghĩa hoặc chuyển nghĩa chính xác trong các bài viết mang tính chuyên môn cao. Ganda có thể cho là HH phản động, nhưng HH ủng hộ việc giảng dạy các môn khoa học bằng tiếng Anh trong giảng đường đại học. Đây là xu thế chung của thế giới, vận động ngược với xu thế chung của thời đại sẽ luôn là điều bất lợi. Ai đã từng phải trải nghiệm cuộc sống xa tổ quốc mới thấy hiểu thêm một ngôn ngữ thông dụng hữu ích như thế nào. Ngôn ngữ là một trong số các rào cản với khả năng cạnh tranh của người Việt trên trường quốc tế.
Theo quan điểm của HH, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt không phải là tuân thủ một cách máy móc việc sử dụng một vốn từ hạn chế được xác định là thuần Việt, mà ngược lại cần phải mở rộng vốn từ tiếng Việt bằng cách thu nạp, chuyển ngữ có chọn lọc từ các ngôn ngữ khác khi mà tiếng Việt thuần túy gặp khó khăn (phức tạp khi thể hiện, hoặc biểu đạt không đầy đủ). Văn học, nghệ thuật, báo chí, phát thanh, truyền hình là các lĩnh vực cần sử dụng từ ngữ hết sức thận trọng và chính xác, vì đó là các kênh thông tin mang tính định hướng về ngôn ngữ. Mặc dù rất ủng hộ việc phổ biến và sử dụng rộng rãi tiếng Anh trong xã hội, HH lại rất phản đối việc dùng tiếng lóng, những cụm từ thiếu thẩm mỹ. Ngôn ngữ nào cũng có phân biệt giữ từ ngữ hàn lâm văn học, từ ngữ giao tiếp đời thường, và từ lóng, thô tục. Chúng ta cần thu nạp tinh hoa để đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội, nhưng vẫn giữ được sự trong sáng của ngôn từ. TRONG và SÁNG. Đó là trách nhiệm vô cùng to lớn của giới văn nghệ sĩ và báo chí.
Hà Hùng

hahung
14-08-2007, 01:15 AM
Còn nói Tiếng Việt là tiếng Việt, hoàn toàn không liên quan gì đến văn tự Hán cả theo thiển ý cháu, đấy chỉ là ý kiến riêng của chú.
Ganda à, đấy không phải là ý kiến riêng của chú Thiên Sứ đâu. Hà Hùng và nhiều người khác cũng đồng ý với ý kiến này đấy. Sự hình thành của tiếng Việt có sự giao thoa với nhiều ngôn ngữ khác, trong đó có tiếng Hán, điều này thì đúng. Nhưng tiếng Việt không phụ thuộc vào văn tự Hán.

Cái mà mọi người vẫn gọi là chữ Hán hiện nay, thực chất là sự tổng hợp cách thể hiện ý nghĩa của ngôn từ theo phương pháp tượng hình, khác với phương pháp tượng thanh mà nhiều ngôn ngữ khác đang dùng. Cũng nhờ dựa trên nguyên lý tượng hình mọi người có thể có thể đọc và hiểu cùng 1 văn bản viết bằng lối viết chữ này, mặc dù họ đọc văn bản đó hoàn toàn khác nhau và không thể giao tiếp qua lời nói. Điều này là khá phổ biến ở Trung Quốc trước đây, cho nên chính phủ Trung Quốc mới đặt ra Phổ Thông Hoa để làm chuẩn chung cho giao tiếp.

Ví dụ thế này, với quy ước 1 nét gạch có ý nghĩa là 1 đơn vị, người Việt đọc là "nhất", hay "một", người Bắc kinh đọc là "i", người Anh đọc là "one". Nói với nhau thì không ai hiểu ai, nhưng vạch 1 gạch ra là mọi người đều hiểu. Điển hình phổ biến mọi người đều hiểu là bộ số Latinh quen thuộc. Nhưng điều này không có nghĩa là hệ đếm của các dân tộc trên thế giới xuất phát từ tiếng La tinh phải không nào.

Như vậy là tiếng Việt không phụ thuộc vào văn tự Hán, mà chỉ mượn cách thể hiện trong một giai đoạn lịch sử mà thôi.

Hà Hùng

hahung
14-08-2007, 01:24 AM
Đoạn này có lẽ sư phụ Thiên Sứ lại hỉu nhầm phát biểu vui vẻ của bạn ganda rồi -hihi-.
Thư giãn chút:
- Có ai chú thích được từ : CỤ TỈ này thì dungkq sẽ hậu 1 quả tạ là 1 quẻ bói Mai Hoa -hihi-
Đầy đủ thêm một chút nữa phải là "cụ tỉ âm ti", không phải đơn thuần là "cụ thể" + "tỉ mỉ". Lan man một hồi rồi phải vận đến thuyết luân hồi của đạo Phật, không khéo lại phải nhờ học thuyết DungKQ ấy nhể-^_^-

Thái-Âm
14-08-2007, 05:27 AM
Anh Hà Hùng nói hay lắm--g--
@ xếp: Cụ tỉ : Chẳng hạn như...
được quẻ hoa mai chưa vậy?

dungkq
14-08-2007, 07:49 AM
Anh Hà Hùng nói hay lắm--g--
@ xếp: Cụ tỉ : Chẳng hạn như...
được quẻ hoa mai chưa vậy?E rằng lần này lại phải tự bói cho mình rồi :sad:

ganda
14-08-2007, 08:39 AM
Thưa chú Thiên Sứ.
Việc cháu đưa thêm chữ Hán bên cạnh là cố ý không phải vô tình nhằm
1. Nếu có người hiểu được thì biết đấy là "nói có sách"
2. Để phân biệt rõ nghĩa của từ. Tại sao chúng ta dùng sai? vì chúng ta không hiểu nghĩa của từ đó: tối là gì, biện này khác biện kia ra sao, sao cứu này mà không phải là cứu kia...

Đọc câu này chúng ta thấy rất rõ: "Công Vinh là cứu cánh cho đội tuyển Việt Nam", câu này nếu được viết "Công Vinh là kết quả cho đội tuyển Việt Nam" thì sẽ thấy ngay sự buồn cười. Ở đây tác giả chắc muốn dùng từ "cứu tinh", nhưng do không hiểu (do không để ý) nên tặc lưỡi "cứu" nào chả là "cứu", chắc giống nhau cả thôi nên mới có câu cuời mà khóc như thế.
Câu tượng tự như thế trong trang Web của chúng ta không hiếm.

Cháu nói việc đi tìm từ nguyên tiếng Việt là một việc khó nằm ngoài khả năng của chúng ta (những người đang tranh luận ở đây) là đúng. Đây là vấn đề rất rộng, lại trải qua nhiều biến cố lịch sử, nhiều từ tranh luận không ngã ngũ, ai cũng có lý. Như vậy chúng ta sẽ chỉ cố chỉnh sửa những từ dễ mà ta có thể hiểu được.
Chú muốn tranh luận cũng không sao, có gì vui hơn đựoc làm những gì mình muốn.

ganda
14-08-2007, 09:02 AM
Bạn Hahung viết
Theo quan điểm của HH, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt không phải là tuân thủ một cách máy móc việc sử dụng một vốn từ hạn chế được xác định là thuần Việt, mà ngược lại cần phải mở rộng vốn từ tiếng Việt bằng cách thu nạp, chuyển ngữ có chọn lọc từ các ngôn ngữ khác khi mà tiếng Việt thuần túy gặp khó khăn (phức tạp khi thể hiện, hoặc biểu đạt không đầy đủ).
Tôi đồng ý với bạn điều này. Sự giao lưu văn hóa khiến chúng ta phải nhập thêm nhiều từ từ nước ngoài mà chúng ta không có từ tương đương. Không chỉ Việt Nam mới có hiện tượng này, nước nào cũng thế. Như trong tiếng anh từ Yin, Yang nhập từ Tàu, zen nhập từ Nhật, trong tiếng Pháp từ godautre, congai ...nhập từ Việt Nam. Vấn đề ở đây nêu ra là gì: chúng ta phải dùng cho đúng ngữ nghĩa của từ, không nên dẽ dãi khi dùng từ, đó là một trong những cách góp phần làm trong sáng Tiếng Việt.
HH thân
Câu Tiếng Việt hoàn toàn không liên quan gì đến văn tự Hán cả và câu tiếng Việt không phụ thuộc vào văn tự Hán khác hẳn nhau đấy chứ.
Nói thêm một chút: dân tộc ta hơn 100 năm trước vẫn phải viết bằng cái thứ tiếng hoàn toàn không liên quan này. Vậy là chưa xa lắm phải không bạn?
Chúc vui vẻ.

thichmactien
14-08-2007, 11:06 AM
À, xin chen ngang anh Ganda một chút để nói về cái từ Cụ Tỉ, và sẽ thấy tiếng Việt cũng rất phong phú.

Số là thế này, có một hôm, cũng lâu rồi, tôi mới hỏi bố tôi là tại sao lại gọi là Bộ Đội nhỉ?.

Ông cụ phán ngay một câu xanh rờn: "có gì đâu, đó là viết tóm lại của đoàn quân đi bộ đội mũ "

Tôi nghe giải thích cũng phì cười, nhưng thấy cũng rất có lý. Vì tôi cũng chưa thấy ai giải thích tại sao lại có từ là Bộ đội. Nên từ đó trở đi tôi hay có thói quen giải thích từ theo kiểu này và thấy hợp lý và thú vị. Có thể đấy là một cách để chúng ta tạo ra sự phong phú của ngôn ngữ Việt. Tuy nhiên cũng không nên thái quá để tóm từ Cô đọng và súc tích thành Cô Súc hay Ngoan ngoãn và cố gằng để thành Ngoan Cố --v--

Quay trở lại từ Cụ tỉ, tôi nghĩ khi thêm từ âm ti thì nó là Củ tỉ âm ti chứ không phải là Cụ tỉ -^_^-

Doremon360
14-08-2007, 11:29 AM
Chữ viết cổ nhất hiện nay được tìm thấy tại TQ là những mai rùa ở làng Giả Hồ (nằm ở phía nam sông Hoàng Hà - Hà Nam) niên đại 6400.BC
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/c/c0/China-Henan.png
http://dongtac.net/local/cache-vignettes/L134xH150/arton15-dabb8.png
Nên nhớ đến tận 2600 BC, Hiên Viên Hoàng đế từ thảo nguyên Thiểm Tây, Cam Túc đưa quân tràn xuống chiếm đất của Bách Việt.
http://farm2.static.flickr.com/1266/844909619_f6005da694_o.jpg

Như vậy những di vật khảo cổ có niên đại hơn 3000.BC trên vùng đất Trung Hoa ngày nay là thuộc các dân tộc trong đại tộc Bách Việt.
Kim tự tháp Yonaguni là một bằng chứng hùng hồn nữa cho văn minh tồn tại từ kỷ băng hà trên lục địa châu Á :
http://farm2.static.flickr.com/1284/728487464_ed8563ad7d.jpg
http://farm2.static.flickr.com/1357/575806397_394f293650.jpg
Đừng lẫn lộn biên giới chính trị được thoả thuận giữa các nhà nước (bằng đàm phán hoặc vũ lực), và vùng văn minh của các dân tộc.

ganda
14-08-2007, 11:31 AM
À, xin chen ngang anh Ganda một chút để nói về cái từ Cụ Tỉ, và sẽ thấy tiếng Việt cũng rất phong phú.

Số là thế này, có một hôm, cũng lâu rồi, tôi mới hỏi bố tôi là tại sao lại gọi là Bộ Đội nhỉ?.

Ông cụ phán ngay một câu xanh rờn: "có gì đâu, đó là viết tóm lại của đoàn quân đi bộ đội mũ "

Tôi nghe giải thích cũng phì cười, nhưng thấy cũng rất có lý. Vì tôi cũng chưa thấy ai giải thích tại sao lại có từ là Bộ đội. Nên từ đó trở đi tôi hay có thói quen giải thích từ theo kiểu này và thấy hợp lý và thú vị. Có thể đấy là một cách để chúng ta tạo ra sự phong phú của ngôn ngữ Việt. Tuy nhiên cũng không nên thái quá để tóm từ Cô đọng và súc tích thành Cô Súc hay Ngoan ngoãn và cố gằng để thành Ngoan Cố --v--

Quay trở lại từ Cụ tỉ, tôi nghĩ khi thêm từ âm ti thì nó là Củ tỉ âm ti chứ không phải là Cụ tỉ -^_^-

Vâng
Bác giải thích rất hóm hỉnh nhưng đúng
Bộ đúng là đi bộ thật, và Bộ đội có nghĩa gốc là quân bộ binh, nhưng chúng ta quen dùng với nghĩa là Lính, hay người lính
Cụ tỉ thì tôi chưa biết, phải xem thêm.

Thiên Sứ
14-08-2007, 01:31 PM
Người ta hay nhầm lẫn giữa tính văn hóa trong ngôn ngữ ứng xử với sự trong sáng của tiếng Việt.Tiếng lóng, tiếng địa phương, đều không phải làm cho tiếng Việt mmất đi sự trong sáng. Thí dụ như câu sau đây tôi nghe được ở Cổ Nhuế: "Co di an co, nhơ lây phan, lây gio ve nhơ". Đây không phải là nguyên nhân của tiếng Việt không trong sáng. Tiếng địa phương họ thế mà! Nếu bây giờ một người dân Cổ Nhuế vào mạng mà viết đúng ngôn ngữ của họ thi sao nhỉ?
Nhưng như thế này thì có thể coi như làm không trong sáng tiếng Việt, hoặc không biết tiếng hết Việt: "Cái này tôi không biết tiếng Việt gọi là gì, nhưng tiếng Anh nó gọi là....(Một câu tiếng Anh)...điều này có nghĩa là..(Giải thích từ tiếng Anh)....". Bởi vậy, tôi hiểu sự trong sáng của tiếng Việt là phát âm đúng tiếng Việt, diễn tả bằng tiếng Việt và người Việt hiểu được.
Có một thời gian tôi làm biên tập cho một tập san du lịch, quảng cáo tiếng Anh (Mặc dù tôi chẳng biết tiếng Anh). Tôi thấy tất cả những bài viết tiếng Anh dịch ra tiếng Việt đều dễ dàng. Còn tiếng Việt địch ra tiếng Anh rất khó. Tôi phải sửa lại câu chữ tiếng Việt thì mới dịch ra tiếng Anh được. Điều này chứng tỏ rằng: Ông cha ta từ ngàn xưa đã có một nền văn minh phát triển, nên có những vốn từ phong phú và tiếng Anh không dễ kiếm từ tương đương.Chỉ có ngôn ngữ cao cấp, mới có thể dịch một cách dễ dàng ra tiếng của dân tộc khác. Còn những ngôn ngữ thấp kém thì sẽ khó khăn khi dịch một ngôn ngữ cao cấp hơn ra tiếng ngôn ngữ đó.
Thiên Sứ

ganda
14-08-2007, 02:10 PM
Tiếng Việt S.O.S.
Dương Tường

Trong một bài trả lời phỏng vấn của báo Thể thao-Văn hoá, Giáo sư Cao Xuân Hạo nói nhiều về tình trạng đáng báo động hiện nay trong viết và nói tiếng Việt. Ðây là một vấn đề mà Cao Xuân Hạo luôn trở đi trở lại trong những bài viết của mình như một điều canh cánh bên lòng. Chia sẻ mối ưu tâm đó của ông, tôi muốn được góp thêm một số suy nghĩ dưới đây.

1. Trong những lần gặp gỡ ít ỏi gần đây, hoặc khi tôi có việc vào Thành phố Hồ Chí Minh, hoặc khi Hạo ra Hà Nội họp, nguy cơ suy đồi của tiếng mẹ đẻ luôn là một đề tài trao đổi giữa hai chúng tôi. Hiện tượng viết sai, nói sai tiếng Việt phổ biến một cách đáng sợ. Làm sao không lo lắng khi mà trong khẩu ngữ hằng ngày cũng như trên sách báo và các phương tiện truyền thông đại chúng, những lỗi thô thiển về mọi mặt - từ ngữ chính tả, ngữ pháp... - luôn luôn chọc vào tai, vào mắt ta? Dù mở đài truyền thanh, truyền hình, hay giở hú hoạ một tờ báo nào đó, bạn đều có thể gặp những cách hành văn đại loại như: Với thành tích đó, đã đưa Công ty lên hàng đầu các cơ sở xuất khẩu, hay: Qua kết quả thực nghiệm, đã chứng minh sự đúng đắn của lý thuyết trên... Những câu cú què quặt, những lời dịch ngược nghĩa, ngô ngọng, tây không ra tây, ta không ra ta, đặc biệt là những chữ dùng sai, tràn lan và thường xuyên như cơm bữa. Xin dẫn một vài thí dụ:

Nhạc sĩ Trần Tiến có một bài hát có cái tên khoa trương „Hà Nội những năm 2000“. Có điều lạ là không ai thấy thế là chướng. Những năm 2000 là gì? Là cả một khoảng thời gian từ năm 2000 đến năm 2999, là cả nghìn năm, là cả thiên niên kỷ thứ ba đấy. Không lẽ nhạc sĩ muốn Hà Nội vẫn cứ nguyên như những gì được gói gọn trong bài hát của mình?

Cũng liên quan đến niên đại, người ta rất hay dùng cụm từ vô nghĩa sau Công nguyên nhất là trong những tài liệu lịch sử, chẳng hạn: cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng kéo dài từ năm 40 đến năm 43 sau Công nguyên, nhà Lý rời đô đến Thăng Long năm 1010 sau Công nguyên... Tôi nói vô nghĩa là vì đến nay ta vẫn ở trong Công nguyên chứ chưa có bao giờ là sau Công nguyên cả. Công nguyên là kỷ nguyên Thiên Chúa giáo lấy thời điểm Chúa Jêxu ra đời làm mốc khởi đầu. Mốc đó tiếng La-tinh gọi là Anno Domini (Năm của Chúa). Trước cái mốc đó thì có thể nói là “trước Công nguyên”, nhưng từ đó trở đi thì nằm trong Công nguyên và Công nguyên chưa hề chấm dứt nên không thể nói “sau Công nguyên” được. Nếu muốn dùng chữ sau thì phải nói là “sau Thiên Chúa giáng sinh”.

Một từ nữa bị dùng sai rất phổ biến, trong cả viết lẫn nói, là Thánh A-La. Trong Hồi giáo, A-La là Ðấng Tối Cao tương ứng với Chúa Trời trong Thiên Chúa giáo. Thánh là người vì đức hạnh tôn giáo hoặc vì công trạng, kỳ tích lớn lao mà được tôn xưng và thờ phụng đời đời. Thánh thì có muôn vàn, nhưng Chúa chỉ có một. Vì vậy không thể gọi là Thánh A-La được.


2. Khuynh hướng lấy châu Âu làm chuẩn mực mà Giáo sư Cao Xuân Hạo gọi là „dĩ Âu vi trung’’ (eurocentrisme) quả đã gây tác hại trong việc xây dựng ngữ pháp tiếng Việt. Người ta máy móc dựa vào mô hình mệnh đề của châu Âu, nhất là của Pháp, chủ từ + động từ + bổ từ để viết những câu ngô nghê kiểu như: Tôi đã gửi các tài liệu cho ông, ngày mai ông sẽ nhận được chúng. Trong tiếng Việt, nói cũng như viết, bổ từ thường được tinh lược, để hiểu ngầm. Tôi đã gửi tài liệu cho ông, ngày mai ông sẽ nhận được, chỉ vậy là đủ, không cần phải các để chỉ số nhiều và chúng để bổ nghĩa cho động từ nhận. Người Việt nói (và viết): Lùa vịt ra đồng, chứ không Lùa những con vịt ra đồng, hoặc: Hắn rút một điếu thuốc châm lửa hút, chứ không Hắn rút một điếu thuốc, châm lửa nó và hút nó. Có lẽ cũng nên nhớ lại rằng trước kia, khi chưa tiếp xúc với văn minh, văn hoá và ngôn ngữ Pháp, rồi chịu ảnh hưởng của tiếng Pháp, trong tiếng Việt, cái đại từ nhân xưng số nhiều chúng hiếm khi được dùng hoặc nếu có, thì thường chỉ dùng cho người và loài vật, chứ không cho đồ vật. Và nhiều khi đại từ nó được dùng cho cả số ít lẫn số nhiều. Ta hãy cùng cụ Tú Xương nghe thiên hạ chúc nhau:

Lẳng lặng mà nghe nó chúc con
Sinh năm đẻ bảy được vuông tròn
Phố phường chật hẹp người đông đúc
Bồng bế nhau lên nó ở non...

Xin lưu ý: nó chứ không chúng, mặc dù rõ ràng đó là số nhiều.


3. Có một điều nghịch lý là sau khi thống nhất nước nhà, hàng loạt từ địa phương ở miền Nam tràn ra miền Bắc, dần dần lấn lướt, thậm chí thay thế những từ đã chuẩn hoá từ nhiều đời. Lợn lành chữa thành lợn què, đang trương biển Công ty gạch hoa, lại sửa thành Công ty gạch bông, đang thiếp mời lại sửa thành thiệp mời, đang kem cốc lại sửa thành kem ly. Trên thực đơn các cửa hàng ăn, các chữ rang và rán biến mất, nhất loạt thay thế bằng chữ chiên: cơm chiên thay vì cơm rang; cá chiên, đậu chiên, khoai tây chiên thay vì cá rán, đậu rán, khoai tây rán... Trong ngôn ngữ mọi nước, tiếng dùng ở thủ đô thường được coi là chuẩn mực, không thể đem tiếng địa phương thay thế. Hiện tượng này nếu diễn ra theo chiều ngược lại, đem những từ miền Bắc thay thế lối nói quen thuộc của miền Nam, cũng là vô lối, không chấp nhận được.


4. Cuối cùng, xin tạm nêu dưới đây một số từ dùng sai thường gặp trong khẩu ngữ hằng ngày cũng như trên sách báo:

Cứu cánh: Cứu cánh, nghĩa là mục đích tối hậu, hợp với phương tiện thành một cặp khái niệm. Bởi có từ tố “cứu” trong đó nên rất nhiều người, kể cả một số người viết chuyên nghiệp, dùng từ này với nghĩa cứu giúp, giải cứu.

Ðảo ngũ: Từ này vốn không có, mà do đọc sai từ đào ngũ, nghĩa là bỏ trốn khỏi quân đội trong khi đang tại ngũ. Cho đến nay, vẫn còn nhiều người, kể cả các phát thanh viên trên đài, mắc lỗi thô thiển này.

Thực sự - thực thụ: Thực sự có nghĩa là đích thị như vậy, không phải là giả; còn thực thụ nghĩa là đã chính thức nhận cương vị, nhiệm vụ hay chức trách của mình, không còn là tạm thời nữa. Một giám đốc thực thụ là một giám đốc đã chính thức nhậm chức. Không ít người thường dùng từ thực thụ theo nghĩa thực sự.

Ðảo - ốc đảo: Ðảo là một khoảng đất đá nhô lên giữa một vùng nước rộng lớn hơn (sông, hồ hoặc biển), còn ốc đảo là một khoảng có cây và nước ở giữa sa mạc. Hai từ hoàn toàn khác nhau về cả nghĩa cụ thể lẫn hàm ý, nhưng rất nhiều người thường dùng ốc đảo với nghĩa là đảo. Thậm chí, Ðài Truyền hình Việt Nam có lần phát một vở kịch (tôi không nhớ tên vì mở đài giữa chừng) với cốt truyện diễn ra trên một hòn đảo, nhưng suốt các màn, lớp, các nhân vật đều gọi đảo là ốc đảo?

Quyền - thẩm quyền: Quyền là những gì có thể đòi hỏi hoặc được phép hưởng (lợi ích vật chất và tinh thần) theo quy định của pháp luật hay quy ước đạo lý, còn thẩm quyền là tư cách về chuyên môn để xem xét nhận định, đánh giá. Rất nhiều người đã dùng từ thẩm quyền ở những chỗ lẽ ra phải dùng từ quyền.

Sưu tầm - sưu tập: Sưu tầm là tìm kiếm, thu thập và tập hợp lại một cách có hệ thống. Các bộ sưu tập là kết quả của công việc đó. Cách nói đúng là: nhà sưu tầm và bộ sưu tập, thí dụ: Nhà sưu tầm X nổi tiếng với những bộ sưu tập quý hiếm. Nhưng gần đây, trên sách báo, thuần thấy gọi là nhà sưu tập như thể chữ nhà sưu tầm chưa bao giờ tồn tại vậy.

Răn đe hay ngăn đe? Về điểm này, cần phải giải thích một chút về từ nguyên: cặp từ này mới chỉ xuất hiện vào giữa thập kỷ 1960 khi Mỹ đẩy mạnh cuộc chiến tranh không quân phá hoại miền Bắc. Giới quân sự Mỹ gọi hành động này là deterrence response, tức là đánh phủ đầu để cảnh cáo và ngăn chặn việc miền Bắc đưa quân vào miền Nam. Cánh biên dịch chúng tôi (hồi đó tôi là cán bộ biên dịch ở Ủy ban điều tra tội ác chiến tranh của đế quốc Mỹ ở Việt Nam) bàn với nhau, tham khảo cả ý kiến của Giáo sư Ðặng Chấn Liêu, một chuyên gia hàng đầu về tiếng Anh, và cuối cùng thống nhất dịch là phản ứng ngăn đe (hàm ý vừa ngăn chặn vừa đe dọa). Vậy là từ ngăn đe có trước, rồi sau đó người ta đọc chệch thành răn đe và viết rập theo như thế luôn. Ðời sống ngôn ngữ có những phát triển thật bất ngờ: về sau, bất cứ khi nào tôi viết ngăn đe, người ta đều sửa thành “răn đe”! Tôi tò mò giở Ðại từ điển tiếng Việt của Bộ Giáo dục và Ðào tạo và Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hoá Việt Nam ra tra: hỡi ôi, trong đó chỉ có từ mục răn đe mà không có ngăn đe!

Ðiệu nghệ hay diệu nghệ? Hiển nhiên, điệu nghệ là do đọc chệch từ diệu nghệ mà ra. Diệu nghệ là từ Hán-Việt, trong đó diệu (cũng là thành tố của các từ tuyệt diệu, huyền diệu, diệu kỳ, diệu kế...) nghĩa là hay, giỏi, khéo, tài và nghệ nghĩa là nghề. Diệu nghệ là giỏi nghề, có kỹ thuật tài tình. Còn điệu nghệ là một ghép nối giữa một thành tố thuần Việt (điệu) với một thành tố Hán (nghệ), tựa như “very giỏi” vậy. Vậy mà khốn thay, thiên hạ hầu như chỉ một mực nói và viết điệu nghệ thay vì diệu nghệ! Một lần nữa, tôi giở Đại từ điển tiếng Việt để kiểm tra và một lần nữa tôi lại sửng sốt và thất vọng đến ngao ngán: không hề có từ mục diệu nghệ mà chỉ có điệu nghệ mà thôi! Song tôi cũng có một an ủi: tất cả các Từ điển Việt-Anh của Giáo sư Bùi Phụng đều có từ mục diệu nghệ và không có điệu nghệ.

Khi mà một bộ sách tra cứu như Ðại từ điển tiếng Việt do các cơ quan có thẩm quyền như Bộ Giáo dục và Ðào tạo và Trung Tâm Ngôn ngữ và Văn hoá xuất bản, cũng mắc những sai sót sơ đẳng đến thế thì rành là chỉ còn nước phát tín hiệu S.O.S. thôi! Thiết tưởng, có nói người ta đang tàn sát tiếng Việt cũng không ngoa.

2/2002

-----------------------
Nguồn: e-cadao.com

ganda
14-08-2007, 03:26 PM
Tìm Hiểu Tiếng Việt

Trần Ngọc Dụng

Giảng Viên Việt ngữ/UCR/CCC/SAC

E-Mail: tranngocdung@khoahoc.net

6 tháng 1 năm 2005


Mục đích của bài sưu tầm mang tính chất phiếm luận này là nêu lên sự khác biệt giữa những từ ngữ gốc Hán của người Việt chính thống và từ-ngữ của người Hán.

Chúng ta không nên dùng từ-ngữ „danh từ Hán-Việt“ vì như vậy là phiến diện và không chính xác. Bài viết này không có ý tranh luận với bất cứ vị học giả nào nhưng ngược lại chỉ nêu những nhận xét về ngôn ngữ Việt Nam đang được sử dụng hàng ngày để cống hiến quý vị.



Duyên Cớ

Trước hết tại sao gọi chữ Tàu là chữ Hán. Xin lưu ý, chữ Tàu hiện đại và chữ Hán, hay còn gọi là chữ Nho, có một vài sự khác nhau nhỏ cần nắm vững để khỏi nhầm lẫn:

Chữ Hán, theo Sử Ký Tư Mã Thiên, một sử gia trứ danh đời Hán (khoảng 130-90 ttl) trong lịch sử nước Tàu dưới quyền cai trị của Hán Vũ Đế (dòng dõi Lưu Bang, 140 - 85 ttl) là thời kỳ vàng son nhất của lịch sử nước Tàu cổ đại.

Trong suốt thời gian trên 50 năm, Hán Vũ Đế bành trướng được lãnh thổ rộng nhất: phía tây bao trùm cả Tân Cương, Trung Á; phía đông gồm cả bán đảo Triều Tiên, đến Hán Thành (Seoul); phía nam gồm bắc phần nước Việt, tạo nên một cuộc thái bình mà các nhà sử học Tây phương gọi là Thái Bình Hán quốc (Pax Sinica), rộng lớn hơn cả Thái Bình La Mã (Pax Romana).

Với uy thế của Hán Vũ Đế mạnh mẽ như vậy nên năm 111 ttl dẹp Nam Việt do Triệu Đà gầy dựng và lấn chiếm luôn cả nước Việt chúng ta. Từ đó người Hán đặt ách thống trị lên toàn cõi đất Việt. Bởi có ảnh hưởng rộng lớn đó mà người ngoại quốc cũng gọi người Tàu là người Hán, và văn tự của người Tàu được gọi là chữ Hán. Họ dùng Sino- để chỉ những gì liên quan đến người Tàu, như Sino-Viet, Sino-Tibetan, Sinology.

Còn chữ Tàu là sao? Nói nôm na là ngôn ngữ đang sử dụng tại Trung Cộng, Hồng-kông, Đài Loan hiện nay (tiếng Anh gọi là modern Chinese). Ở đây chúng tôi muốn nói đến tiếng Tàu tại Trung Cộng vì tại đây họ dùng quan thoại (thứ tiếng do các quan nói chuyện với nhau). Chỉ cần so sánh hai câu dưới đây là thấy ngay sự khác biệt giữa từ ngữ gốc Hán và tiếng Tàu.

A: Che'n sen sung. Nì hào ma? (Trần tiên sinh. ông có khoẻ không?)

B: Pủ à. Wò pủ hào à. (Không khoẻ lắm. Ngã bất hảo à.)



Trong câu trả lời của Trần tiên sinh, chữ pủ hào tức là bất hảo, nghĩa là không khoẻ.

Cha ông mình nói: “Đó là thành phần bất hảo.” Trong câu này có 4 từ-ngữ gốc Hán: thành, phần, bất, hảo. Bất hảo trong câu này nghĩa là xấu xa, có hại cho kẻ khác, cho làng xã. Trong một xã mà có vài thành phần bất hảo này thì dân làng sẽ chịu lắm cảnh ăn cắp, ăn cướp, hiếp đáp phụ nữ, vv.

Từ đó chúng ta thấy người Tàu và người Việt dùng chung một từ-ngữ mà hai ý nghĩa khác nhau. Thí dụ người Hán nói tiểu tâm nghĩa là “tánh cẩn thận hay chú ý đến những chi tiết nhỏ nhặt” trong khi người Việt chỉ dùng để nói về người “có tánh nhỏ mọn, chi li, tâm địa hẹp hòi” là một trong những tánh xấu thường thấy trong một số người. Người Việt nói mã thượng để chỉ người có “chí khí anh hùng”, như một đấng anh hùng mã thượng (người anh hùng không giết người ngã ngựa) trong khi nghĩa Hán mã thượng là “tức thì” như Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi, dục khách giang hồ mã thượng thôi ...(một ly rượu uống với nhau rồi hãy nhanh chân mà đi). Anh chị em trong nhà hoà thuận với nhau thì người Hán nói anh em hoà hảo. Người mình không bố trí bàn ghế trong nhà mà sắp đặt, trong khi người Hán dùng an bài để sắp đặt công việc. Người mình dùng an bài như một sự chấp nhận số mạng đã được định trước.

Gần đây trong kế hoạch xây dựng hoà bình ở Trung Đông, Hoa Kỳ nói đến cái roadmap thì các báo Việt dùng từ-ngữ lộ đồ, trong khi các báo Hoa thì nói là lộ tuyến đồ. Theo thiển ý của chúng tôi nên dịch roadmap là kế hoạch hay kế sách. Có người còn dùng cả lộ trình thì hơi quá trật. Vì lộ trình nghĩa là những nơi sẽ phải đi qua rõ ràng, có ngày giờ hẳn hoi và có thể thực hiện được trong một thời gian định trước. Trong khi roadmap thì kế hoạch có tính cách dự liệu nhằm đạt đến một mục đích mà thời gian và phương thức có thể thay đổi hoặc không thể thực hiện được ngay vì còn phải tuỳ thuộc vào hoàn cảnh thực tế và thiện chí của mỗi bên. (Nên nhớ chữ roadmap có hai nghĩa, đây là nghĩa thứ hai)



Người Việt có Ngôn Ngữ riêng không?

Theo sử liệu, tiếng Việt trước thời Bắc thuộc “có hình quăn queo” như giun (trùn) bò (1) , và “ngay từ thời Đào Đường (khoảng thiên niên kỷ thứ II trước tây lịch), người Việt đã có lối chữ riêng, trông như đàn nòng nọc.” (2)

Ngoài ra, trong Hoá Quan Phong, Vương Duy Trinh - một nho sĩ trong thế kỷ 19 - cũng nói đến thứ chữ cổ của người Việt có hình dạng giống như chữ cổ của người Mường vùng Thanh Hoá.

Thế nhưng chưa ai tìm thấy được một di tích nào để chứng minh các điều vừa nêu trên đây là đúng. Vì sao? Bởi vì người Việt bị người Hán xâm chiếm và cai trị gần một nghìn hai trăm năm (207ttl - 938stl (3) ). Trong thời gian này có hai sự kiện diễn ra: một mặt người Hán tìm mọi cách xóa sạch ngôn ngữ và văn hóa người Việt, mặt khác áp đặt lên người Việt ngôn ngữ và văn hóa của họ.

Đây là một thí dụ về tiếng Việt cổ của chúng ta (Trích từ Tìm về Bản Sắc Văn Hoá Việt Nam, Trần Ngọc Thêm, 1997, tr.96)

http://www.khoahoc.net/photo/timhieutiengviet-1.gif



Ảnh hưởng của chữ Hán đối với tiếng Việt

Trải qua một thời gian dài bị nô lệ như vậy, tiếng Hán được sử dụng như là “quốc ngữ” để làm phương tiện ghi chép trong mọi lãnh vực sinh hoạt xã hội: sử liệu, văn chương, văn thư hành chánh, thi cử, vv... , tạo thành một giai tầng thay thế hoàn toàn cái gì của người Việt đã có từ trước. Người Việt phải học lịch sử và văn học của người Hán, nhiều đến nỗi cho đến ngày nay đa số người Việt biết rành rẽ về lịch sử và điển tích của người Hán nhiều hơn lịch sử và điển tích của chính nước mình.

Nhưng may thay, Việt Nam là một nước nông nghiệp, tuy nghèo nhưng sống định cư, và có truyền thống “phép vua thua lệ làng.” Dân làng là những người quanh năm chỉ biết có mảnh vườn và thửa ruộng, họ không cần thuộc Tứ Thư, Ngũ Kinh, không biết làm thơ Đường. Họ chiếm đa số và thuộc về giai tầng thấp kém trong xã hội. Nhờ vậy mà cái khuôn thước ngàn đời vẫn được giai tầng này lưu giữ cho chúng ta sử dụng ngày nay. Còn cái giai tầng do người Hán áp đặt và được tiếp tay bởi chính quyền đương thời không thẩm thấu hoàn toàn xuống tất cả làng mạc Việt Nam, nơi mà tiếng Việt và nếp sống Việt vẫn còn được bảo tồn mãi mãi.

Do đó trong suốt thời gian bị đô hộ đó cha ông người Việt chúng ta đã thu thập từ người Hán những kiến thức về mọi lãnh vực, mà ngôn ngữ đóng vai trò rất quan trọng, sau đó chọn lọc và sử dụng chữ Hán “theo tinh thần tiếng Việt” để trở thành tài sản riêng của người Việt.



Tinh thần sáng tạo

Khi hai giai tầng xã hội cùng tồn tại song song như vậy, luôn luôn có sự tác động và ảnh hưởng lẫn nhau. Giai tầng thượng lưu tìm cách phổ biến cái học thuật mới du nhập được vào đại đa số dân chúng thì ngược lại trong dân chúng cũng có những người vươn lên qua con đường khoa bảng cũng mang theo bên mình ước vọng muốn chứng tỏ cho giai tầng trên thấy cái tiềm năng của mình. Những người này là những sĩ phu yêu nước khi ly loạn, và là những tiếng nói rất mạnh mẽ đại diện cho giai tầng thấp hơn. Nhu cầu chữ viết cho tiếng Việt thuần túy (chữ Nôm) nảy sinh. Do nỗ lực của hai giai tầng nhằm tạo ảnh hưởng cho nhau vô hình trung tiếng Việt trở nên phong phú lạ thường!



Chữ Nôm

Chữ Nôm, một biến cách của chữ Nam, là cách gọi nôm na chỉ ngôn ngữ Việt Nam được nói bởi người Việt, tuy không còn chữ viết riêng mà phải dùng chữ viết của người để diễn tả. Ngày xưa thì mượn cách viết của người Hán, ngày nay thì mượn cách viết của người Tây phương. Đây quả là nỗi buồn vạn thuở!

Theo kết cấu có thể được chia ra làm ba loại chính: loại thứ nhất là âm Việt hóa và nghĩa của tiếng Hán, loại thứ hai gồm âm và nghĩa hoàn toàn của người Việt bằng cách ghép hai hay nhiều chữ Hán lại với nhau và loại thứ ba, âm Hán được Việt hóa nhưng nghĩa khác với nghĩa chữ Hán.

Về loại một - âm Việt hóa với nghĩa tiếng Hán: Số lượng từ-ngữ thuộc loại này chiếm gần 70 phần trăm (4) trong tổng số tự-vựng tiếng Việt.

Thí dụ: tâm (tim), tiểu (nhỏ), đại (lớn), quốc (nước), gia (nhà), thảo mộc (cỏ cây; mình nói 'cây cỏ') sanh tử (sống chết), khoái lạc (chữ khoái còn có nghĩa mới là nhanh. Trong chiến thuật ngày trước có tứ khoái nhất mãn: 4 nhanh 1 chậm. Đó là chuyển quân nhanh, tấn công nhanh, thanh toán chiến trường nhanh, rút nhanh nhưng chuẩn bị trận đánh phải thật chậm - tức phải nghiên cứu thật kỹ càng), vv.



Loại thứ hai - âm và nghĩa hoàn toàn của người Việt. Đây chính là nhu cầu của giai tầng thứ hai trong xã hội Việt Nam cần đến. Để diễn tả được những từ-ngữ Việt thuần túy, người Việt đã dùng hai chữ Hán ghép vào với nhau - một chữ để chỉ âm và một chữ chỉ nghĩa, hoặc dùng chữ Hán có thêm dấu thanh giọng.

Thí dụ: trăm '100' - gồm hai chữ bách nghĩa là '100' và lâm chỉ âm đọc,

dòng gồm bộ thủy chỉ 'nước' và chữ dụng nghĩa 'dùng' làm âm đọc,

dạy là do hai chữ khẩu 'miệng' + đại 'lớn'

năm (trong năm tháng) do hai chữ năm (số 5) và niên 'năm'

đến (chí + đán); chí chỉ nghĩa đến và đán tượng trưng cho âm đọc

trời do hai chữ Hán thiên 'trời' + thượng 'trên', vv…



Loại thứ ba - âm Hán được Việt hóa nhưng nghĩa khác với người Hán. Hiện tượng này dường như là một hình thức dịch mà lý thuyết gia về dịch thuật như Roman Jackopson, J. Catpord gọi là transmutation translation. Chẳng hạn như Bissiger Hund! Có nghĩa là đen là Chó Cắn! Tiếng Anh thì dịch thành Beware of dog! 'Coi Chừng Chó'. Cả hai cách chó cắn và coi chừng chó đều không phù hợp với cách hiểu của tiếng Việt mình. Phải nói Coi Chừng Chó Dữ! mới đúng.

Ngoài việc vay mượn chữ Hán làm chữ viết riêng của mình người Việt luôn luôn tìm cách thoát khỏi “bàn tay thống trị” của ngoại bang một cách có ý thức. Người Việt thường tìm cách nói trại những chữ Hán để cốt sao cho lột tả tinh thần Việt Nam trong mỗi lời nói. Chẳng hạn như tiếng Hán nói diễu hành thì người Việt nói diễn hành, phản ánh thành phản ảnh, thục huyền thành tục huyền, vv.

Nhân tiện đây chúng tôi xin phép được giải thích tại sao người ta gọi mẹ ghẻ. Rất nhiều người khi được hỏi đến chữ này đều cười và trả lời, có lẽ bà đó bị ghẻ! Mẹ ghẻ thường phải trẻ và đẹp hơn mẹ ruột cớ làm sao có ghẻ được. Thưa không phải vậy. Môt số từ ngữ gốc Hán có âm đầu là [k] thì trở thành [g] như can (trong can đảm = gan mật), khương = gừng; các = gác. Do đó mẹ ghẻ là do chữ kế mẫu mà ra. Trong quá trình Việt hoá, có lẽ người ta đã dùng mẹ kế trước. Sau đó chữ kế > ghế là giai đoạn hai. Và sau cùng, cùng với cảm tính không đẹp về tánh tình của bà mẹ này nên dần dà biến ghế > ghẻ.

Hiện tượng này gọi là sự biến âm. Ngôn ngữ nào cũng nằm trong qui luật này. Thử đọc câu dưới đây mới thấy sự khác biệt giữa tiếng Anh thời trung cổ:

Loverd, we aren boÞe Þine, Þine cherles, Þone hine.

Và tiếng Anh ngày nay là:

Lord, we are both yours, your humble people, your servants.

Hoặc chữ lord như trong landlord, great lord of banking là do hai chữ loaf 'bánh mì' và ward 'phòng chứa' > loafward, loaf-keeper 'người giữ chìa khoá kho bánh mì'. Thời cổ chữ này viết là hl!fweard > loverd, qua thời gian > lord.

Chữ your hoặc yours cũng vậy. Từ xưa cho đến khoảng vài trăm năm trước người Anh có chữ thou 'mày' và you 'quý vị'. Chữ thou ngôi thứ hai số ít thì dùng với thee như trong I love thee, and thou love me. Cũng như nói thou art 'mày là'. Thế nhưng ngày nay đều dùng chung you are nguyên dành cho ngôi thứ hai số nhiều. Thời xưa viết là "ower > thy, thine > your.

Một hiện tượng nữa trong sự phát triển của ngôn ngữ là sự kết từ (coinage). Người ta dùng hay hai ba chữ kết lại với nhau thành từ-ngữ mới ngắn gọn hơn. Tiếng Việt chúng ta có

bọn mày > bay bằng này > bấy đằng nào > đâu

bằng nào > bao bằng ấy lâu > bấy lâu đằng nọ > đó

chưa có > chửa

dai như chão rách > dai nhách hai mươi > hăm ba mươi > băm



Ở miền Trung và miền Nam còn có cách nói cũng theo lối kết từ trên đây:

bà ấy > bả ông ấy > ổng anh ấy > ảnh

bên ấy > bển chị ấy > chỉ cha ấy > chả

chừng ấy > chửng dì ấy > dỉ đằng ấy > đẳng

hôm ấy đến nay > hổm rày ngoài ấy > ngoải trong ấy > trỏng

vậy đó > vẩy hồi nãy giờ > hỗi giờ (nhớ chữ này viết dấu ngã)

Ngày trước khi từ giã nhau người Anh thường nói God be with you. Vậy mà ngày nay chúng ta chỉ nghe Goodbye. Xét về nghĩa, Goodbye làm sao đầy đủ bằng God be with you. Thế nhưng hiện nay người ta cũng bắt đầu bỏ luôn chữ Good, chỉ còn lại Bye mà thôi.



Bảo đảm hay đảm bảo?

Về những từ-ngữ gốc Hán xa xưa mà cha ông ta đã từng dùng qua nhưng cảm thấy không phù hợp nữa nên đã thay đổi cho phù hợp với tinh thần Việt Nam. Phải chăng đây cũng là một cách chứng tỏ tinh thần độc lập của người Việt, ngay cả về ngôn ngữ? Đáng kể nhất là những từ-ngữ viết theo “kiểu Hán” nghĩa là tiếng chính đứng sau và được bổ nghĩa bằng tiếng phụ đứng trước.

Tưởng cũng nên nhắc lại là cấu trúc tiếng Việt là tiền vị thể (head initial) tức là tiếng chính đứng trước rồi mới đến các tiếng bổ nghĩa theo sau. Trong khi đó tiếng Hán (hay tiếng Tàu hiện đại) là hậu vị thể (head final), tức tiếng chính đứng sau, các tiếng bổ nghĩa đứng trước giống như tiếng Anh. Người Tàu nói the White House = toà Bạch Ốc (từ gốc Hán).

Chữ Việt nói người đẹp thì chữ Hán phải là mỹ nhân. Ngay cả bản thân một từ-ngữ ghép mà cả hai tiếng được ghép với nhau đều là Việt, Hán cũng theo tinh thần đó. Ví dụ như người ta nói triển khai, người mình nói khai triển. Tại sao? Nghĩa của từng chữ cho thấy nên theo thứ tự nào: khai 'nở ra', triển 'mở ra'. Ngày trước khi gửi thư cho nhau người Hán dùng chữ triển khai hoặc triển khán đề ngoài bì thư có ý nói 'hãy mở ra mà xem'. Người Việt dùng ngược lại khai triển vì theo khái niệm của văn hoá thảo mộc, một hạt mầm phải trương nước nở ra bên trong trước rồi mới làm cho cái vỏ ngoài mở ra để từ đó phát triển. Người Tàu nói đảm bảo thì người Việt nói bảo đảm cũng thuộc tính chất này. Nên nhớ nền văn minh Việt Nam là văn minh thảo mộc định canh, lấy nước làm trọng nên nước ngoài nghĩa thuỷ còn có nghĩa là quốc.

Khi đổi sang tiếng Việt cũng vậy. Người Tàu nói ẩm thực, người mình nói ăn uống. Thảo mộc > cây cỏ (thảo: cỏ; mộc: cây). Từ đó có những chữ mà theo kết cấu tiếng Việt chúng ta vẫn dùng một cách “vô lý dễ thương” như chữ cứu vãn (cứu: 'cứu mạng, cứu thoát'; vãn: 'kéo vào bờ'). Từ đó cứu vãn hiểu theo cách Việt Nam là 'cứu mạng sống trước rồi mới kéo vào bờ sau'. Lẽ ra nên đổi thành vãn cứu như trong vãn hồi trật tự mới phải. Nhưng vì ai cũng dùng quen rồi nên vẫn cảm thấy thoải mái.

Ngoài việc đổi thứ tự của từ-ngữ theo tinh thần Việt Nam, trong kho tàng tự vựng tiếng Việt, sự đọc trại từ âm nguyên thuỷ gốc Hán xảy ra rất nhiều. Hãy xem các từ-ngữ này, mặc dầu còn mang đậm nét gốc Hán, vẫn được dùng theo cách nói Việt Nam:

Gốc Hán đọc là - Việt đọc là - Gốc Hán đọc là - Việt đọc là

để kháng - - đề kháng - - thống kế - - thống kê

phong thanh - - phong phanh - - thù hận - - thù hằn

pháp tắc - - phép tắc - - an uỷ - - an ủi

châu bảo - - châu báu - - sai khiển - - sai khiến

bất kế - - bất kể - - vô cố - - vô cớ

phụ hoà - - phụ hoạ - - tự hồ - - tựa hồ

thời cục - - thời cuộc - - đại bằng - - đại bàng

khẩu trao - - khẩu trang - - tinh giản - - tinh giảm



Về cấu trúc câu, chữ Hán viết hơi ngược với cách nói với người Việt và thường lặp lại chữ trong cùng một câu: Thí dụ:

Kinh Dương Vương chi tử à - con của vua Kinh Dương

Bách mẫu chi điền, thất phu canh nhi à - Kẻ ngu dốt này cày 100 mẫu ruộng.

Thiên nhân chi nặc nặc bất như nhất sĩ chi ngạc ngạc. à Những lời vâng dạ của ngàn người không bằng lời nói cương trực của một kẻ sĩ. (Sách Sử Ký -Thương quân truyện; theo Văn Sách chữ Hán của cụ Phạm Tất Đắc, nxb Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1996, tr. 86)

Một điểm nữa có lẽ không kém phần quan trọng. Đó là người Việt biết “tương kế tựu kế” để đánh lạc hướng kẻ thù: mượn chữ của người mà dùng theo lối mình để người ta không hiểu mình. Do đó mới có sự xuất hiện của chữ Nôm

Đố quý vị bạn Mỹ nào hiểu được câu tiếng Anh này nếu được viết như sau:

Ay đông uân tu gâu uých hơa bi cơ xờ ay đông uân may uay tu thinh dát si i may gơn phren.(5)

Bài sau chúng tôi sẽ bàn về chữ với nghĩa trong tiếng Việt.



Trần Ngọc Dung



(1) Sách Thánh Tôn di thảo chép: „Vua Lê Thánh Tôn nằm mộng thấy có người thiếu phụ đời Lý Cao Tông dâng thư bày tỏ nỗi oan ức để xin được cứu xét. Thư viết bằng thứ chữ ngoằn nghoèo như giun bò. Sau đó nhà vua lại được thần nhân mách bảo đó là chữ viết cổ xưa của dân Việt mình.“ (Phỏng theo Cơ Sở Ngữ Văn Hán Nôm, Lê Trí Viễn chủ biên, nxb Giáo Dục, 1984 trang 22.)

(2)sách Tiền Hán thư, một cổ sử của Trung Hoa viết từ thời Đông Hán. Sách dã dẫn (1)

(3)trước tây lịch, sau tây lịch

(4)Tìm Về Cội Nguồn Chữ Hán, Lý Lạc Nghị & Jim Walters, nxb Thế Giới, Hà Nội, 1998:ix

(5) I don't want to go with her because I don't want my wife to think that she is my girlfriend.

hahung
14-08-2007, 04:35 PM
Người ta hay nhầm lẫn giữa tính văn hóa trong ngôn ngữ ứng xử với sự trong sáng của tiếng Việt.Tiếng lóng, tiếng địa phương, đều không phải làm cho tiếng Việt mmất đi sự trong sáng. Thí dụ như câu sau đây tôi nghe được ở Cổ Nhuế: "Co di an co, nhơ lây phan, lây gio ve nhơ". Đây không phải là nguyên nhân của tiếng Việt không trong sáng. Tiếng địa phương họ thế mà! Nếu bây giờ một người dân Cổ Nhuế vào mạng mà viết đúng ngôn ngữ của họ thi sao nhỉ?
Nhưng như thế này thì có thể coi như làm không trong sáng tiếng Việt, hoặc không biết tiếng hết Việt: "Cái này tôi không biết tiếng Việt gọi là gì, nhưng tiếng Anh nó gọi là....(Một câu tiếng Anh)...điều này có nghĩa là..(Giải thích từ tiếng Anh)....". Bởi vậy, tôi hiểu sự trong sáng của tiếng Việt là phát âm đúng tiếng Việt, diễn tả bằng tiếng Việt và người Việt hiểu được.
Có một thời gian tôi làm biên tập cho một tập san du lịch, quảng cáo tiếng Anh (Mặc dù tôi chẳng biết tiếng Anh). Tôi thấy tất cả những bài viết tiếng Anh dịch ra tiếng Việt đều dễ dàng. Còn tiếng Việt địch ra tiếng Anh rất khó. Tôi phải sửa lại câu chữ tiếng Việt thì mới dịch ra tiếng Anh được. Điều này chứng tỏ rằng: Ông cha ta từ ngàn xưa đã có một nền văn minh phát triển, nên có những vốn từ phong phú và tiếng Anh không dễ kiếm từ tương đương.Chỉ có ngôn ngữ cao cấp, mới có thể dịch một cách dễ dàng ra tiếng của dân tộc khác. Còn những ngôn ngữ thấp kém thì sẽ khó khăn khi dịch một ngôn ngữ cao cấp hơn ra tiếng ngôn ngữ đó.
Thiên Sứ

Tiếng địa phương mang bản sắc văn hóa của địa phương, không thể coi là làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt được. Ngược lại, dùng đúng tiếng địa phương trong những bài viết mang tính địa phương chính là giữ gìn sự trong sáng đó. Ví dụ cùng với ý nghĩa gọi "mẹ", nhưng mỗi địa phương quen dùng những từ khác nhau như "má", "u", "bầm",... nên khi viết những bài mang tính địa phương thì phải tôn trọng tiếng địa phương. Điều này Hà Hùng hoàn toàn nhất trí với chú Thiên Sứ.

Tuy nhiên tiếng lóng thì hơi khác một chút. Như chú Thiên Sứ nói là văn hóa trong ngôn ngữ ứng xử đó. Ví dụ có lần Hà Hùng nghe người ta nói chuyện với nhau "sáng nay mụ béo bị 'nổ' mất đôi thể thao" (bị mất trộm đôi giày thể thao đang bày bán), hay "tao vừa 'thăn' được 'ông già' mấy 'chai'" (xin/ăn trộm được của bố mấy trăm ngàn đồng). Ở mức độ nào đó, trong ngữ cảnh có thể hiểu được, nhưng về tính văn hóa thì cách nói như vậy không làm đẹp thêm cho tiếng Việt. Tất nhiên ở dạng phóng sự, truyện ký, trích dẫn thì có thể giữ nguyên để đảm bảo tính trung thực, nhưng cách dùng từ ngữ như vậy không mang tính đại diện.

Có những từ như "vé" (để chỉ tờ US$100) thì cũng phổ biến tới mức gần như coi là đã Việt hóa rồi, tuy chưa được chính thức công nhận (vì không phải ở đâu cũng có điều kiện tiếp xúc).

Hà Hùng

hahung
14-08-2007, 04:37 PM
Quay trở lại từ Cụ tỉ, tôi nghĩ khi thêm từ âm ti thì nó là Củ tỉ âm ti chứ không phải là Cụ tỉ -^_^-
Đúng rồi, phải là "Củ tỉ âm ti"

dungkq
14-08-2007, 11:23 PM
Đúng rồi, phải là "Củ tỉ âm ti"
Vẫn gần đúng -hihi- Còn ai nữa không nhỉ :sad:

hạt gạo làng
14-08-2007, 11:39 PM
hay là " Cu Tị ẩm ti" -hihi--hihi--hihi-

thichmactien
14-08-2007, 11:55 PM
Cụ là chính, là trực tiếp. Tỉ là ví dụ, so sánh. Khi gom hai từ này lại có nghĩa là Ví dụ là

dungkq
15-08-2007, 12:11 AM
Chúa ơi, mong người hãy nặn thêm một nhà ngôn ngữ học ngoài dungkq nữa đi --v--

bảo bình
15-08-2007, 12:41 AM
Theo BB, thực ra cụm từ này là "củ tỉ âm ti", tức là chuyện xưa chuyện nay, chuyện từ tám hoánh tới bây giờ. Chỉ ước đoán vậy thôi, vì cụm từ này nay gần như thất truyền ít ai sử dụng. Hôm đi chùa Hương thấy hai bà cụ già nói chuyện với nhau:"Ối giời, con ranh con ấy thì củ tỉ âm ty cái quái gì mà qua mắt nó!". Có lẽ cái cụm từ này trước đây khá là thông dụng và hẳn là xuất xứ từ miền Bắc.

bảo bình
15-08-2007, 01:27 AM
Theo BB, thực ra cụm từ này là "củ tỉ âm ti", tức là chuyện xưa chuyện nay, chuyện từ tám hoánh tới bây giờ..
Bổ sung thêm chút: "chuyện xưa chuyện nay, chuyện tám hoánh tới bây giờ, chuyện trên trời dưới biển". Có nhiều cụm từ tiếng Việt chỉ hiểu nghĩa chung là thế thôi, chứ phân tích tách bạch theo từng từ thì ... chịu. Ví dụ như: củ mỉ cù mì, tẩm ngẩm tầm ngầm, chí cha chí chát, lủ kha lủ khủ.... Nhiều vô kể. Kho tàng ngôn ngữ ông bà ta để lại quả là phong phú.
"Phong ba bão táp không bằng cú pháp Việt Nam"

Thái-Âm
15-08-2007, 05:36 AM
Có vẻ như chị BB giật được giải rồi. Từ này đúng là từ rất cổ. Hình như đã đọc đâu đó trong các tác phẩm văn học thời trước như của Ngô Tất Tố hay Nguyễn Công Hoan.

dungkq
15-08-2007, 08:33 AM
trí tưởng tượng của mọi người phong phú quá -hihi-

Thiên Sứ
15-08-2007, 08:59 AM
3. Có một điều nghịch lý là sau khi thống nhất nước nhà, hàng loạt từ địa phương ở miền Nam tràn ra miền Bắc, dần dần lấn lướt, thậm chí thay thế những từ đã chuẩn hoá từ nhiều đời. Lợn lành chữa thành lợn què, đang trương biển Công ty gạch hoa, lại sửa thành Công ty gạch bông, đang thiếp mời lại sửa thành thiệp mời, đang kem cốc lại sửa thành kem ly. Trên thực đơn các cửa hàng ăn, các chữ rang và rán biến mất, nhất loạt thay thế bằng chữ chiên: cơm chiên thay vì cơm rang; cá chiên, đậu chiên, khoai tây chiên thay vì cá rán, đậu rán, khoai tây rán... Trong ngôn ngữ mọi nước, tiếng dùng ở thủ đô thường được coi là chuẩn mực, không thể đem tiếng địa phương thay thế. Hiện tượng này nếu diễn ra theo chiều ngược lại, đem những từ miền Bắc thay thế lối nói quen thuộc của miền Nam, cũng là vô lối, không chấp nhận được.
- Chuẩn mực ngôn ngữ Việt dùng trong các văn bản chính thức và sự trong sáng của tiếng Việt - bao gồm cả tiếng địa phương - là hai vấn đề khác nhau. Nếu cứ coi tiếng Thủ Đô mới là chuẩn mực thì vấn đề "lày" cần coi "nại". Do hiện "lay" tình trạng phổ biến ở Hà "lội" "nà" cứ "lói" tiếng "lào" ra tiếng "ý". Chưa hết. Cách đây khoảng hơn 100 năm, thủ đô Việt Nam dưới thời nhà Nguyễn là "Huể". Nếu cứ theo cái chuẩn mực này thì bi vờ cả "lước" lói tiếng Huể gần hết rùi. Híc.
Thật là buồn! Nhưng thôi. Có lẽ Thiên Sứ tui cũng chẳng có thời gian mà bàn mấy chiện cao xa này.
Sư Thiến

ganda
15-08-2007, 09:23 AM
Tôi mới được tìm bài này xin đăng lên đây để tham khảo:
Xin mọi người lưu ý, những bài đăng trên đây tôi trung thành với nội dung bài viết của tác giả. Có thể có một vài điểm nào đó mọi người không đồng ý (tất nhiên), nhưng sẽ có những điều có giá trị. Khi chúng ta đưa ra ý kiến của mình khác với mọi người, chúng ta đã bị phản đối như thế nào, tại sao chúng ta lại lặp lại hành động đó, chúng ta nếu như thế có khác gì họ không?. Hãy bình tĩnh nhìn nhận sự khác biệt.
-----------------------------

Tiếng Việt là chủ thể làm nên ngôn ngữ Trung Hoa?

"1/ Tổ tiên người Việt không phải từ cao nguyên Thiên Sơn xuống mà từ Trung Đông theo con đường phía nam đến Việt Nam khoảng 60 –70.000 năm trước. Từ đây hai đại chủng Mongoloid và Australoid hoà huyết để sinh ra những chủng người Đông Nam Á. Khoảng 40.000 năm trước, người Đông Nam Á đi lên khai phá vùng đất từ sông Dương Tử tới Hoàng Hà. Tại đây người Đông Nam Á Bách Việt xây dựng nền văn minh lúa nước phát triển. Khoảng 2600 năm TCN, người Hán Mông Cổ từ tây bắc tràn xuống, chiếm đất của người Bách Việt. Một bộ phận người Lạc Việt lui xuống phía nam sông Dương Tử và trở về Việt Nam xây dựng nhà nước Văn Lang. Những người trở về đem nguồn gene mới làm biến đổi di truyền của người Việt Indonesien, Melanesien tại chỗ đồng thời cũng du nhập những yếu tố văn hoá phương bắc trong đó có từ vựng Hán vào cộng đồng.

2/ Một bộ phận quan trọng người Việt ở lại sống chung với lực lượng chiếm đóng, góp vật chất cũng như văn hoá vật thể và phi vật thể xây dựng văn minh Trung Hoa. Trong đó tiếng Việt góp phần quan trọng hình thành ngôn ngữ Hán. Quá trình như sau: cùng với việc người Việt và người Hán hoà huyết tạo ra chủng Mongoloid phương Nam, tiếng Việt cũng hoà nhập cùng tiếng Hán trở thành ngôn ngữ của cộng đồng cư dân mới. Ban đầu từ vựng được ký âm bằng chữ Khoa đẩu của người Việt. Khi chế ra chữ vuông, tất cả từ vựng được ghi bằng chữ vuông. Chữ Việt hoàn toàn bị biến mất trong chữ Hán. Trong quá trình hoà nhập ngôn ngữ đó, cách nói, ngữ pháp tiếng Việt tồn tại khá lâu dài, để lại nhiều bằng chứng trong thư tịch.

3/ Từ thực tế như vậy, việc cho rằng tiếng Việt mượn đến 70% từ tiếng Hán là sai lầm về lịch sử và văn hoá cần bác bỏ. Việc dựa vào những bộ từ điển lớn của Trung Quốc để phân định chữ này gốc Hán hay gốc Việt là thiếu chuẩn mực về phương pháp luận. Nếu cần một phương pháp luận xác dịnh từ Hán hay Việt thì đó là xét theo nguồn gốc nông nghiệp hay du mục của nó. Tuy nhiên kết quả tìm được cũng chỉ tương đối. Hơn nữa, với lịch sử hình thành ngôn ngữ Trung Hoa và ngôn ngữ Việt như vừa trình bày, thiết tưởng việc truy tìm những từ thuần Việt không thật có ý nghĩa nữa. Điều có thể tin chắc: tiếng Việt là chủ thể làm nên ngôn ngữ Trung Hoa." (Theo Hà Văn Thùy 6-2006)

nguồn: wingchun.iblog.com
(Xin lỗi tác giả tôi đã mạn phép đặt tiêu đề)

ganda
15-08-2007, 09:30 AM
Xin lỗi
Tôi mới tìm được chư không phải đựoc tìm.

thichmactien
15-08-2007, 10:40 AM
Theo BB, thực ra cụm từ này là "củ tỉ âm ti", tức là chuyện xưa chuyện nay, chuyện từ tám hoánh tới bây giờ. Chỉ ước đoán vậy thôi, vì cụm từ này nay gần như thất truyền ít ai sử dụng. Hôm đi chùa Hương thấy hai bà cụ già nói chuyện với nhau:"Ối giời, con ranh con ấy thì củ tỉ âm ty cái quái gì mà qua mắt nó!". Có lẽ cái cụm từ này trước đây khá là thông dụng và hẳn là xuất xứ từ miền Bắc.
Hiện tại có 3 phương án: Cụ tỉ, Củ tỉ âm ti và Củ tỉ.

Theo suy nghĩ của TMT thì cả 2 cụm từ Củ tỉ âm ti và Củ tỉ đều không phải là văn viết chính thống mà là văn nói, văn giao tiếp của một số địa phương. Có thể đã được một vài nhà văn đưa vào tác phẩm dưới hình thức là những mẩu đối thoại của các nhân vật trong tác phẩm. Cũng không phải là từ cổ, chỉ là từ địa phương nhưng đã ít được sử dụng. Riêng cụm từ Cụ tỉ, có lẽ được sử dụng mới hơn, và được đọc trẹo hay đã bị sử dụng và hiểu theo nghĩa khác với nghĩa của 2 cụm từ kia.

Củ tỉ có nghĩa là Cùng kiệt, Kiệt quệ (từ thông tục)

Củ có có nghĩa là Chết, Đánh (từ thông tục)

Nên TMT suy luận từ Củ tỉ âm ti có nghĩa là một sự tận cùng, không còn giới hạn để lùi và có thể suy ra trong ngữ cảnh câu nói chị BB đưa ra là cô gái kia là người hay để ý, chuyện gì cũng nghe ngóng và biết -^_^-

Còn từ được hỏi có lẽ phải là Củ tỉ thay vì Cụ tỉ -^_^-

ganda
15-08-2007, 11:30 AM
Hiện tại có 3 phương án: Cụ tỉ, Củ tỉ âm ti và Củ tỉ.

Theo suy nghĩ của TMT thì cả 2 cụm từ Củ tỉ âm ti và Củ tỉ đều không phải là văn viết chính thống mà là văn nói, văn giao tiếp của một số địa phương. Có thể đã được một vài nhà văn đưa vào tác phẩm dưới hình thức là những mẩu đối thoại của các nhân vật trong tác phẩm. Cũng không phải là từ cổ, chỉ là từ địa phương nhưng đã ít được sử dụng. Riêng cụm từ Cụ tỉ, có lẽ được sử dụng mới hơn, và được đọc trẹo hay đã bị sử dụng và hiểu theo nghĩa khác với nghĩa của 2 cụm từ kia.

Củ tỉ có nghĩa là Cùng kiệt, Kiệt quệ (từ thông tục)

Củ có có nghĩa là Chết, Đánh (từ thông tục)

Nên TMT suy luận từ Củ tỉ âm ti có nghĩa là một sự tận cùng, không còn giới hạn để lùi và có thể suy ra trong ngữ cảnh câu nói chị BB đưa ra là cô gái kia là người hay để ý, chuyện gì cũng nghe ngóng và biết -^_^-

Còn từ được hỏi có lẽ phải là Củ tỉ thay vì Cụ tỉ -^_^-

Tôi cũng đồng ý với chị(?) thichmactien.
Có lẽ đúng phải là Củ Tỉ và một quyển từ điển Tiếng Pháp (tôi không biết Tiếng Pháp nên không biết hiêu có đúng không) có nghĩa là đáy, cuối cùng. Tôi không tìm thấy từ này trong từ điển Tiếng Việt, có lẽ lâu quá nên thất lạc chăng?

thichmactien
15-08-2007, 12:30 PM
Từ điển tiếng Việt cũng có từ Củ tỉ nhưng không phổ biến lắm, còn từ Cụ tỉ thì không hề thấy.

Luytuy
15-08-2007, 07:45 PM
@
Đọc như thế nào cho đúng tíeng Việt nhỉ .--nd-- = -vk-

Thiên Sứ
15-08-2007, 07:47 PM
Hi. Thì tiếng việt đọc là a còng.
Thiên Sứ

Luytuy
15-08-2007, 07:48 PM
Chúa ơi, mong người hãy nặn thêm một nhà ngôn ngữ học ngoài dungkq nữa đi --v--
Cụ tỉ = nhiều các cụ quá ...! -clap-
Khỏe ko Dũng ơi ?

thichmactien
15-08-2007, 07:55 PM
Hì hì nói thế thì phải dịch là Cụ tỉ là chị của Cụ muội và Cụ đệ http://www.vietlyso.com/forums/images/smilies/24.gif

Luytuy
15-08-2007, 08:17 PM
-^_^-Cháu chào Chú !
Có người đọc là a móc , chú ạ .

- Chuẩn mực ngôn ngữ Việt dùng trong các văn bản chính thức và sự trong sáng của tiếng Việt - bao gồm cả tiếng địa phương - là hai vấn đề khác nhau. Nếu cứ coi tiếng Thủ Đô mới là chuẩn mực thì vấn đề "lày" cần coi "nại". Do hiện "lay" tình trạng phổ biến ở Hà "lội" "nà" cứ "lói" tiếng "lào" ra tiếng "ý". Chưa hết. Cách đây khoảng hơn 100 năm, thủ đô Việt Nam dưới thời nhà Nguyễn là "Huể". Nếu cứ theo cái chuẩn mực này thì bi vờ cả "lước" lói tiếng Huể gần hết rùi. Híc.
Thật là buồn! Nhưng thôi. Có lẽ Thiên Sứ tui cũng chẳng có thời gian mà bàn mấy chiện cao xa này.
Sư Thiến
Cách đây vài năm , có một số ý kiến cho rằng phát thanh viên của các đài phát thanh và truyền hình địa phương phải phát âm theo "chuẩn Hà Nội " Và xảy ra tranh cãi . Có ý kiến cho rằng như vậy là miễn cưỡng , ko còn tính chất xã hội theo tính địa phương . Và đến bây giờ tất cả " Vũ như Cẩn ".
- Ngôn ngữ mạng : Nếu ko có sự phù hợp chắc ko tồn tại . Chí it ở đây cũng cho thấy có sự sáng tạo , sự thích nghi về tốc độ .... tin học và sự vui vẻ -hihi-. Từ điển ngôn ngữ nhân loại (này) đã và đang cập nhật nhiều từ mới để thích nghi với tốc độ phát triển của khoa học kỹ thuật , văn hóa .... giống như @ đấy thui . Sử dụng ngôn ngữ mạng ( trong bối cảnh phù hợp ) đâu có làm tiếng Việt tối đi . Có thể lúc này là để cho " Zui Zẻ " lúc sau lại là sự trong vắt ko biết chừng . Các cụ ta ngày xưa có hình thức nói trại , đấy là nét văn hóa đấy chứ .
- Chúng ta đang " lăn tăn " về sự " tinh vi " của ngôn ngữ .!!!! -^_^-
Đúng là hậu sinh khả ....nộ .
_!__!__!_

Thiên Sứ
15-08-2007, 08:45 PM
Hi. Luytuy thân mến . Có một số từ hiện nay chúng ta đang dùng là tiếng lóng của các cụ ngày xưa đấy. Hình như mấy ông học "giả" không phân biệt giữa tính chuẩn mực trong văn bản chính thức của nhà nước với tính trong sáng của tiếng Việt. Gọi là "a còng" hay "a mốc" thì cũng là phát âm theo tiếng Việt. Hay như "xà phòng", "xà bông" thì cũng là nói theo tiếng Việt chứ có phải tiếng Hàn Quốc đâu mà bảo là không trong sáng? Trước đây, có một vị giáo sư, mỗi lần lên nói chuyện, cứ đá mấy câu tiếng Tây vào, làm mấy thằng ngồi ở dưới, không biết tiếng Tây, chẳng hiểu cha nội này nói gì. Vậy mà chẳng thấy cha nội nào bảo vị giáo sư này làm mờ tiếng Việt cả, mà cứ khen nức khen nở là kiến thức uyên bác ( Híc! Không uyên bác sao biết tiếng Tây). Lấy tiếng Hanội làm chuẩn mực hành chính thì đúng rồi. Nhưng bây giờ bảo tôi - dân Hanội chính cống phải "lói" tiếng Hà "lội" thì phải tập "lói nại" đã. Giữa tính chuẩn mực hành chính, tính văn hóa trong ngôn ngữ và sự trong sáng của tiếng Việt là những vấn đề khác nhau. Ra đường gặp hai con mẹ bán cá chửi nhau bằng tiếng Việt là tiếng Việt không trong sáng à? Ơ! Thế từ nay tất cả những ai muốn chửi nhau thì phải dùng tiếng Ma Rốc à.
Híc.
Sư Thiến.

vinhvinh
15-08-2007, 09:36 PM
Cụ tỷ đơn giản là có một cụ tên là Tỷ , củ tỷ thì chắc là một loại củ ở đâu đó. Hihi..
Bác Thiên Sứ nhầm tiếng Hà Nội với tiếng Nam Định , Hải Phòng, Hà Tây, Hải Dương rồi ạ , tiếng Hà Nội gốc không ngọng một chút nào , bác xem phim tài liệu cũ đen trắng sẽ thấy ( ví dụ mấy phim về Hà Nội đánh B52 Mĩ , hay phim về 30/4 gì đó) , đó là giọng Hà Nội gốc , rất tròn và ngọt ngào.

Thiên Sứ
15-08-2007, 10:00 PM
Hi. Hà nội gốc thì không ngọng. Hoàn toàn khoa học, rất logic. Hi. Chú là dân Hanoi chính cống, xin làm chứng điều này. Vào cái thời của chú thì hiện tượng "lói" ngọng hầu như không phổ biến lắm, Nhưng bắt đầu từ năm chú lớn lên, có mấy em Hanoi "lói" ngọng, trở thành mốt "ngây thơ, dễ thương" . Tức là khoảng 40 năm trước. Nhiều anh Hanoi, chết mê vchết mệt, thế là mốt nói ngọng thành phổ biến . Thế hệ sau lớn lên, bắt trước thế hệ trước .,..tiếp tục "lói" ngọng. Cái "lạn lói tiếng lào ra tiếng ý" đến mức con gái chú cũng "lói" ngọng "nuôn". Nó đẻ ra ở Hanội và trước đây mẹ nó cũng ko nói ngọng. Chú về gặp nó phải tập mãi, nó mới nói lại bình thường. Lâu lâu lại nói ngọng, Chú cau mặt thì nó cười nói với chú: "Tất cả thợ may của con đều nói ngọng, nên con quen, chỉ có ba ra thì con mới không nói ngọng thôi".
Hic! Hết ý luôn.
Cũng may, chưa phải hết dân Hanoi đều nói như vậy. Đây là trường hợp phát âm sai với quy ước văn tự, chứ chú không cho là làm u tối tiếng Việt. Bởi vì, nếu nó trở thành ngôn ngữ phổ biến, thì người ta phải quy ước lại cách phát âm những từ liên quan đến "n" và "l" mà thôi. Và lúc ây, một nhà văn sẽ viết như thế này:
"Làng ngồi trên bờ ruông, ở rìa nàng và nghĩ về những kỷ liệm. Làng buồn cho duyên phận nỡ nàng mà lước mắt rưng rưng".
Hi.
Sư Thiến.

bảo bình
15-08-2007, 11:32 PM
Năm ngoái ra HN, BB được một trận chết cười. Đưa cho cậu taxi 1 tờ giấy ghi địa chỉ hàng bán.. cháo lòng. Cậu ta đưa mấy chị em tới đúng số nhà tên đường, rất nhiệt tình chạy vào hỏi giúp (vì thấy bên ngoài không có biểu hiện gì là một hàng bán cháo).
Được 1 lúc, cậu ta nhăn nhó chạy ra: " Em chịu thôi, người ta giả nhời nà ở đây không có cháo nòng mà chỉ có in tờ lét".
Cuối cùng cũng mò ra cái quán ăn nhỏ xíu xiu trong lòng chợ, vừa ngồi xuống lại nghe 1 ông mãnh hoa chân múa tay với cô nàng đi chung:" Anh ý à! Anh sợ quái gì thằng lào. Anh đã không "chơi" thì thôi, mà oánh thì oánh thẳng vào cơ quan đầu lão của chúng ló chứ! Mịe, thế chúng mới phải vái anh cả lón"
Kể câu chuyện này góp vui, không có ý trêu ghẹo ai cả, hic hic. Quả tình giọng nói địa phương tuy chẳng ...chuẩn theo từ điển nhưng đôi lúc nghe cũng có duyên.

hahung
15-08-2007, 11:47 PM
Giữa tính chuẩn mực hành chính, tính văn hóa trong ngôn ngữ và sự trong sáng của tiếng Việt là những vấn đề khác nhau. Ra đường gặp hai con mẹ bán cá chửi nhau bằng tiếng Việt là tiếng Việt không trong sáng à? Ơ! Thế từ nay tất cả những ai muốn chửi nhau thì phải dùng tiếng Ma Rốc à.
Híc.
Sư Thiến.

Chửi cũng là một nghệ thuật đấy ạ. Đã từng có nhiều bài chửi được sưu tầm và biên tập. Chửi làm sao cho thật thâm thúy, lại thành vần như thơ như ca, nghe thì vẫn thấy vui tai nhưng mà càng ngẫm thì càng thấy đắng, đấy là cả một nghệ thuật. Về mặt ngôn ngữ thì vẫn trong sáng như thường.

hoa moc lan
16-08-2007, 12:19 AM
Anh dungkq ơi, HML thường thấy người ta khi đề cập đến từ cụ tỉ thì mở ngoặc chú thích ngay bên cạnh nó là cụ thể + tỉ mỉ, giống như là một cách ... nói tắt vậy. Nếu không phải thì chắc phải tìm tòi thêm thôi.

hahung
16-08-2007, 12:23 AM
Năm ngoái ra HN, BB được một trận chết cười. Đưa cho cậu taxi 1 tờ giấy ghi địa chỉ hàng bán.. cháo lòng. Cậu ta đưa mấy chị em tới đúng số nhà tên đường, rất nhiệt tình chạy vào hỏi giúp (vì thấy bên ngoài không có biểu hiện gì là một hàng bán cháo).
Được 1 lúc, cậu ta nhăn nhó chạy ra: " Em chịu thôi, người ta giả nhời nà ở đây không có cháo nòng mà chỉ có in tờ lét".
Cuối cùng cũng mò ra cái quán ăn nhỏ xíu xiu trong lòng chợ, vừa ngồi xuống lại nghe 1 ông mãnh hoa chân múa tay với cô nàng đi chung:" Anh ý à! Anh sợ quái gì thằng lào. Anh đã không "chơi" thì thôi, mà oánh thì oánh thẳng vào cơ quan đầu lão của chúng ló chứ! Mịe, thế chúng mới phải vái anh cả lón"
Kể câu chuyện này góp vui, không có ý trêu ghẹo ai cả, hic hic. Quả tình giọng nói địa phương tuy chẳng ...chuẩn theo từ điển nhưng đôi lúc nghe cũng có duyên.

Nói thế cũng oan cho cái danh người Hà nội. Người Hà nội gốc bây giờ không biết còn được mấy phần, trong số đó không biết bao nhiêu người còn giữ được cái gốc Hà nội. HH có đứa bạn, người Hà nội gốc, bố mẹ gia giáo, bản thân nó cũng biết rất rõ nói thế nào là đúng, thế nào là sai, nhưng mà nó vẫn cứ thích nói ngọng. Ở nhà sợ bố mẹ mắng thì nói đúng lắm, ra đường là lại thích nói trẹo cho hòa đồng. Bây giờ ở HN dân tứ xứ tụ về là chính, mang theo cả lời ăn tiếng nói, sự pha tạp trong ngôn từ là tất yếu. Việc dùng lẫn lộn "lờ" với "nờ" khá thường gặp hiện nay. Không dám phán quyết lấy tiếng địa phương nào làm chuẩn, nhưng cái gì đã có quy ước thì thiển nghĩ ta cũng nên theo cho thống nhất, dùng lẫn lộn thì đâu còn trong sáng được nữa.

Còn về phát âm thì HH suy nghĩ thế này, âm chuẩn là âm mà các thanh âm khi phát ra có thể được phân biệt rõ ràng, phát âm và chữ viết thống nhất với nhau. Tuyển chọn các phát thanh viên dù ở trung ương hay địa phương đều tuân theo nguyên tắc này, nên giọng đọc của phát thanh viên bao giờ cũng dễ nghe, dù là đài địa phương. Đây cũng là nguyên tắc mà HH đang dạy đứa con lớn đang học tiểu học. Khi đọc chính tả cho con chép phải cố gắng phát âm thật chuẩn. Dưới góc độ này thì cách phát âm của người miền Bắc nói chung gần với chuẩn hơn, đặc biệt là phát âm của người Hà nội gốc. Tuy vậy phát âm của người Hà nội có một điểm không chính xác là không phân biệt rõ "x" và "s", "ch" và "tr". Điểm này thì khu vực Nghệ an phát âm rõ hơn. Nhưng phát âm của người dân Bắc trung bộ nói chung (từ Thanh hóa trở vào đến Quảng trị) lại khó phân biệt thanh "hỏi" và "ngã", dẫn đến hay có sự nhầm lẫn trong các trường hợp này. HH thích nghe những giọng đọc tròn trịa, rõ ràng.

HH không chuyên sâu về ngôn ngữ, chỉ nhận xét một chút vậy thôi, hy vọng là không làm ai khó chịu.

hahung
16-08-2007, 12:35 AM
"Củ tỉ âm ti" đôi khi được dùng ngược lại là "âm ti củ tỉ". Theo HH hiểu thì cụm từ này có xuất xứ từ quan niệm về Tam giới, tiền kiếp. Nghĩa thông thường được hiểu là chỉ những sự kiện từ rất xa trong quá khứ, nghĩa bóng là hiểu rõ mọi việc từ cổ chí kim đến từng chi tiết nhỏ.

DungKQ: không phải vì ham quẻ của DungKQ đâu nhưng thấy mọi người bàn luận nhiều thì HH cũng chen ngang vài câu thôi, DungKQ khỏi bận tâm. Khi nào vui vẻ thì chia sẻ cùng với mọi người.

dungkq
16-08-2007, 01:18 AM
Cụ tỉ = nhiều các cụ quá ...! -clap-
Khỏe ko Dũng ơi ?
Cảm ơn anh, emm khỏe như voi --nn--. Đáp án của anh hình như vẫn chưa chính xác -hihi-

dungkq
16-08-2007, 01:19 AM
"Củ tỉ âm ti" đôi khi được dùng ngược lại là "âm ti củ tỉ". Theo HH hiểu thì cụm từ này có xuất xứ từ quan niệm về Tam giới, tiền kiếp. Nghĩa thông thường được hiểu là chỉ những sự kiện từ rất xa trong quá khứ, nghĩa bóng là hiểu rõ mọi việc từ cổ chí kim đến từng chi tiết nhỏ.

DungKQ: không phải vì ham quẻ của DungKQ đâu nhưng thấy mọi người bàn luận nhiều thì HH cũng chen ngang vài câu thôi, DungKQ khỏi bận tâm. Khi nào vui vẻ thì chia sẻ cùng với mọi người.
Thư giãn cho vui và có khí thế thôi chứ nếu có cảm hứng thì 100 quẻ Mai Hoa anh hahung nhờ dungkq này cũng luận đuợc mà --domi--

dungkq
16-08-2007, 08:59 AM
Giải thích được câu này chắc phải đẳng cấp Giáo sư :sad:, nếu không bạn nào giải thích được thì xin phép quý vị, dungkq sẽ tự phong cho mình là GS ngôn ngữ học rồi tự giải thích lấy vậy -hihi-

thichmactien
16-08-2007, 09:59 AM
Hi hi vui nhờ, thế này thì là tự phịa ra rồi. Thế thì ai đoán cũng chả đúng http://www.vietlyso.com/forums/images/smilies/105.gif

vinhvinh
17-08-2007, 03:52 AM
Chị ơi , cụm từ này có thật đấy . Vài hôm nữa vinhvinh sẽ giải.

dungkq
17-08-2007, 08:25 AM
Chị ơi , cụm từ này có thật đấy . Vài hôm nữa vinhvinh sẽ giải.
đúng, phải có lòng tin chứ nhỉ, dungkq nói cụ tỉ thì tất phải có cụ tỉ , dù sao thì cuối cùng vẫn xuất hiện một nhân tài vinhvinh -hihi-

Thiên Sứ
17-08-2007, 09:15 AM
Bảo Bình viết:

Được 1 lúc, cậu ta nhăn nhó chạy ra: " Em chịu thôi, người ta giả nhời nà ở đây không có cháo nòng mà chỉ có in tờ lét".


--v--
Vấn đề nà nàm thế lào để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt? Ý tưởng thì rất đáng hoan nghênh. Nhưng nàm thế lào thì nại nà chuyện khác. Híc!
Sư Thiến

ganda
17-08-2007, 01:33 PM
Thưa mọi người.
Vấn đề này (giũ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt) thật phức tạp và đây là sự đóng góp chung của mọi người. Làm thế nào ư? đó là tùy thộc vào mỗi người. Chúng ta cùng tìm hiêu sự đúng sai của từ ngữ, câu văn trong các bài viết của chúng ta. Các bài viết của chúng ta là những nghiên cứu nên điều đó theo thiển ý của tôi cũng có tầm quan trọng nhất định.
Nếu chúng ta dùng đúng từ ngữ và ngữ pháp, câu văn chúng ta giản dị và rõ ràng sẽ làm cho trang web của chúng ta đc tôn trọng hơn, và cũng giúp cho người đọc hiểu thêm đôi chút (vì chúng ta cũng chỉ làm dc chừng đó) về những điều nên và không nên trong khi dùng ngôn ngữ của chúng ta.
Tôi xin trích đánh giá của chú Trịnh Phong khi nói về ông Đỗ Kiên Cường thay những gì tôi muốn nói: tôi ngờ rằng ông này không phải người sâu sắc, nếu không đã không dùng từ "cốt tử", nôm na mách qué là "chỉ cốt được chết". Cụ Đỗ Mười đã ghép hai từ "vấn đề cốt tủy" và "vấn đề sinh tử" thành một từ mới khá éo le là "vấn đề cốt tử". Các nhà khoa học dễ tính đã tiếp thu từ này hàng vài chục năm nay.

ganda
17-08-2007, 02:34 PM
Xin tham khảo:
Tại sao người ta lại ghép tên con chim (có cánh, đẻ trứng) với tên con chuột (có vú, đẻ con) thành tiếng đôi “chim chuột” để chỉ chuyện trai gái ve vãn, tán tỉnh nhau?
AN CHI: Hai con vật hữu quan, một con thuộc lớp chim, một con thuộc lớp có vú, tất nhiên không thể "tình tự" với nhau được. Đó là xét về sinh vật học. Còn xét về từ nguyên thì chim chuột cũng không phải là một tổ hợp được tạo ra theo qui tắc cấu tạo từ ghép đẳng lập của tiếng Việt. Nó chỉ là kết quả của một sự dịch nghĩa từ các thành tố của một địa danh Trung Hoa: Điểu Thử Đồng Huyệt (= Chim Chuột Cùng Hang), cũng gọi tắt là Điểu Thử (= Chim Chuột).

Đó là tên một ngọn núi trong dãy Tần Lĩnh, nằm ở phía Tây huyện Vị Nguyên, huyện Lan Châu, tỉnh Cam Túc. Núi này có tên như thế là vì dân chúng ở địa phương đã quan sát được hiện tượng chim chuột ở cùng một hang. Giống chim đó có tên là đồ hoặc mộc nhi chu còn giống chuột đó có tên là đột hoặc ngột nhi thử. Sách Cam Túc ghi chép: “Đất Lương Châu có con ngột nhi thử, giống như con chuột, có con chim tên là mộc nhi chu, giống như con sẻ, thường cùng con ngột nhi thử ở chung một hang. Đó chính là (chim) đồ (chuột) đột nhưng chỉ là tên xưa tên nay khác nhau mà thôi”. Vậy con mộc nhi chu, tức con chim đồ, chỉ là kẻ sống nhờ ở hang của con ngột nhi thử, tức con chuột đột. Giữa chúng không thể có quan hệ “tình cảm” hoặc “tính dục” đựợc.

Nhưng cháu mười hai đời của Khổng Tử là Khổng An Quốc, khi chú giải Kinh thư, đã giảng bốn tiếng Điểu Thử Đồng Huyệt như sau: “Chim (và) chuột cùng nhau làm (con) trống (con) mái (Chúng tôi nhấn mạnh – AC) cùng chung hang sống ở núi này, (vì vậy) mới có tên núi là Chim Chuột”. Từ xưa, đã có nhiều người cực lực bác bỏ cách giải thích này của họ Khổng, chẳng hạn như Đỗ Ngạn Đạt và Trương Án đều quả quyết rằng đó không phải là chuyện đực cái hoặc trống mái giữa chim và chuột.

Tuy nhiên nhà nho Việt Nam thì lại tin tưởng ở nhà chú giải họ Khổng. Khổng Tử là Đức Thánh thì Khổng An Quốc cháu ngài cũng phải là một quyền uy. Bậc quyền uy này đã giảng rằng “điểu thử đồng huyệt” là chuyện trống mái giữa chim và chuột thì việc nhà nho Việt Nam dịch hai tiếng điểu thử thành chim chuột để chỉ chuyện tán tỉnh, ve vãn giữa trai và gái cũng là điều rất tự nhiên.

Chuyện Đông chuyện Tây.

Thiên Sứ
17-08-2007, 03:14 PM
Anh Chi viết:

Tuy nhiên nhà nho Việt Nam thì lại tin tưởng ở nhà chú giải họ Khổng. Khổng Tử là Đức Thánh thì Khổng An Quốc cháu ngài cũng phải là một quyền uy. Bậc quyền uy này đã giảng rằng “điểu thử đồng huyệt” là chuyện trống mái giữa chim và chuột thì việc nhà nho Việt Nam dịch hai tiếng điểu thử thành chim chuột để chỉ chuyện tán tỉnh, ve vãn giữa trai và gái cũng là điều rất tự nhiên.

Đâu chỉ các nhà Nho Việt tin vào sự chú giải của Không An Quốc đâu, các nhà nho Tàu cũng tin như sấm, khi Khổng An Quốc bảo rằng:
Hà Đồ là do con Long Mã hiện ra trên sông Hoàng Hà, trên lưng có vòng xoắn, Vua Phục Hy căn cứ vào đấy làm ra Hà Đồ.
Híc.
Người Việt dùng hình tượng chim chuột để chỉ việc trai gái bốn cái lăng nhăng, đâu phải như cách giải của Tàu mà An Chi phát biểu vậy?
Thật ngán ngẩm!
Bởi zdậy! Hổng bít nàm thế lào để giữ gìn sự trong sáng tiếng Việt. Khi nhưng học giả như An Chi, nhìn đâu cũng thấy cái gốc Tàu của ngôn ngữ Việt.
Sư Thiến.

ganda
17-08-2007, 06:27 PM
Tại sao có người lại cho rằng câu "Mũi dại lái phải chịu đòn" đúng ra phải là "Mũi vạy lái phải chịu đòn"?
AN CHI: Hình thức gốc và đúng là Mũi vạy lái phải chịu đòn. Câu tục ngữ này bắt nguồn từ đặc điểm của nghề ghe thuyền. Mũi vạy là mũi lệch, mũi không đi đúng hướng cần thiết, có thể do nước xoáy hoặc nước xiết. Trong điều kiện này người cầm lái đương nhiên phải vất vả và phải vững tay vì anh ta là người chịu đòn. Chịu đòn ngon lành thì thuyền sẽ ngon lành vượt qua dòng nước xiết hoặc cơn nước xoáy. Chịu đòn kém cỏi thì thuyền sẽ chông chênh, thậm chí có thể bị lật. Vậy chịu đòn là gì? Là dùng sức của mình mà ghì cây đòn lái cho vững, không để cho cái bánh lái bị dòng nước làm chao đảo, quặt quẹo gây nguy hiểm cho con thuyền. Câu tục ngữ muốn nói đến vai trò và tráchnhiệm của người chỉ huy trong tình thế khó khăn, nguy hiểm. Từ nguyên dân gian đã biến nó thành "Mũi dại lái phải chịu đòn" đưa đến cách hiểu hiện nay rằng dại là từ trái nghĩa với khôn còn chịu đòn là bị đánh bằng roi vọt. Tuy nhiên, cái nghĩa ví von của câu này thì lại không khác lắm so với cái nghĩa của câu gốc.

Chuyện Đông chuyện Tây.

_________________
TB: Tôi đăng lên đây để mọi người tham khảo, ai có cách giải thích khác thì xin cũng đưa lên để mọi người cùng thưởng thức.

ganda
17-08-2007, 06:33 PM
Hai tiếng cù là trong "dầu cù là" xuất xứ từ đâu? Có phải tên một loại cây nào không?

AN CHI: Có người đã liên hệ hai tiếng cù là này với hai tiếng Cù Là là tên mà người xưa ở miệt dưới đã dùng để gọi nước Miến Điện. Số là trước đây có một loại dầu cù là mang nhãn hiệu Mac Phsu, sản xuất tại Miến Điện, được ông già bà cả trong Nam ưa chuộng. Người ta cho rằng vì thứ đầu này được sản xuất tại nước Cù Là (=Miến Điện) nên nó mới được gọi là dầu cù là (=dầu sản xuất tại nước Cù Là). Sau khi hai tiếng cù là trở thành thông dụng trong phương ngữ Nam Bộ thì ngữ danh từ dầu cù là được dùng rộng rãi để chỉ tất cả các loại dầu cao, bất kể chúng được sản xuất tại nước nào, đương nhiên là kể cả tại nước Tàu. Còn chính người Tàu thì lại gọi dầu cù là là vạn kim du (tiếng Quảng Đông: màn cắm y du) bắt nguồn từ nhãn hiệu của một thứ dầu cù là là hiệu Vạn Kim. Hiện chúng tôi chưa tìm được tên của một loại cây nào gọi là cây "cù là".

Chuyện Đông chuyện Tây.

vinhvinh
18-08-2007, 01:48 AM
Anh dungkq quá khen , em đã giải được đâu . Em lên google search bằng ngôn ngữ tiếng Việt chính xác cụm từ " cu ti am ti" thì được 2 kết quả , một kết quả ở blog của một bạn , em có hỏi nhưng bạn ấy chưa reply. Kết quả khác ở diễn đàn du học sinh Nhật . Gộp hai kết quả này lại em vẫn không thể luận ra cái cụm từ trên nó nghĩa là gì. Hihi.
Còn từ " bộ đội" của chị thích mắc tiền , thì bộ đúng là đi bộ ( bộ binh) còn đội là đội ngũ , chứ không phải đội mũ như ba chị giải thích. lol

thichmactien
18-08-2007, 08:46 AM
Anh dungkq quá khen , em đã giải được đâu . Em lên google search bằng ngôn ngữ tiếng Việt chính xác cụm từ " cu ti am ti" thì được 2 kết quả , một kết quả ở blog của một bạn , em có hỏi nhưng bạn ấy chưa reply. Kết quả khác ở diễn đàn du học sinh Nhật . Gộp hai kết quả này lại em vẫn không thể luận ra cái cụm từ trên nó nghĩa là gì. Hihi.
Còn từ " bộ đội" của chị thích mắc tiền , thì bộ đúng là đi bộ ( bộ binh) còn đội là đội ngũ , chứ không phải đội mũ như ba chị giải thích. lol
--v----v-- bạn này cũng dễ ngây quá nhỉ (dễ tin và ngây thơ http://www.vietlyso.com/forums/images/smilies/04.gif), bạn nghĩ tôi tin đấy là giải thích chính thống của từ bộ đội thật à --v--
Đó là một giải thích nhanh, hóm hỉnh và nghe khá hợp lý còn đúng hay không thì chắc chắn còn phải hậu xét.

ganda
18-08-2007, 11:35 AM
Cơ sở xác định nguồn gốc tiếng Việt(qua 2 bài báo của A.G. Haudricourt) *

1. Về phương pháp xác định nguồn gốc ngôn ngữ
Trong lịch sử, có những ngôn ngữ mà vì một lí do nào đó đã bị chia tách ra thành nhiều ngôn ngữ khác nhau. Ngôn ngữ bị chia tách đó thường được gọi là ngôn ngữ mẹ hay ngôn ngữ cơ sở. Như vậy, về nguyên tắc, có thể tìm tòi ngược dòng thời gian lịch sử của những ngôn ngữ được giả định là vốn cùng “sinh ra” từ một ngôn ngữ mẹ, để quy chúng vào những nhóm, những chi, những ngành, những dòng... khác nhau, tuỳ theo mức độ thân thuộc nhiều hay ít.

Đối với mỗi ngôn ngữ, ba mặt ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp cũng như các tiểu hệ thống của nó biến đổi không đồng đều, có những mặt, những yếu tố... được bảo toàn rất lâu dài; nhưng cũng có những yếu tố đã biến đổi với những mức độ khác nhau. “Hầu như trong mỗi từ hoặc mỗi hình thức của từ lúc nào cũng có một cái gì đó mới và một cái gì đó cũ”.

Sự biến đổi ngữ âm (điều cần tìm kiếm đầu tiên trong khi nghiên cứu quan hệ cội nguồn của ngôn ngữ) không phải là những biến đổi hỗn loạn mà thường có lí do, có quy luật và theo hệ thống.

Và có một điểm đáng chú ý, được coi là tiền đề quan trọng trong việc phân loại các ngôn ngữ theo quan hệ cội nguồn, là tính võ đoán trong quan hệ ngữ âm với ý nghĩa. Bởi thế, ta có quyền giả định rằng: những từ gần gũi nhau về âm thanh có liên quan hoặc gắn bó với nhau ở ý nghĩa thường luôn luôn bắt nguồn từ cùng một gốc nào đó.

Nếu như phương pháp so sánh loại hình giúp quy các ngôn ngữ vào những loại hình khác nhau, hay phương pháp so sánh đối chiếu phát hiện những tương đồng và khác biệt chủ yếu trên diện đồng đại ở một hay nhiều bình diện, bộ phận của ngôn ngữ, thì để phát hiện ra sự thân thuộc giữa các ngôn ngữ về mặt cội nguồn người ta dùng phương pháp so sánh–lịch sử. Có thể nói, phương pháp so sánh–lịch sử từ việc so sánh, tìm ra các quy luật tương ứng về ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp để rồi qua đấy xác định xác định nguồn gốc của một ngôn ngữ, hay quan hệ thân thuộc giữa các ngôn ngữ về mặt nguồn gốc.

2. Về các ý kiến khác nhau trong việc xác định nguồn gốc tiếng Việt
Hiện nay, quan điểm xếp tiếng Việt vào họ Nam Á (được nêu ra từ năm 1856) được nhiều người chấp nhận và được coi là có cơ sở khoa học nhất. Tuy nhiên, có những ý kiến khác không xếp tiếng Việt vào họ ngôn ngữ này.

Ý kiến trước tiên phải kể đến là ý kiến của Taberd (1838): “tiếng Việt chỉ là một nhánh bị thoái hoá của tiếng Hán”. Cơ sở để Taberd đưa ra ý kiến này là trong vốn từ của tiếng Việt hiện nay thì từ vựng có nguồn gốc Hán chiếm đa số. Tuy nhiên, mặc dù có tới 75% từ vựng tiếng Việt có gốc Hán nhưng đại đa số những từ đó đều là những từ văn hoá (những từ thể hiện trình độ phát triển của xã hội). Do đó, chúng phải là những từ vay mượn, chứ không phải là những từ mang tính nguồn gốc. Và theo Maspéro (1912): Bất cứ từ Hán nào vào tiếng Việt đều phải chịu sự chi phối của cơ cấu tiếng Việt.

Loại ý kiến thứ hai là những ý kiến xếp tiếng Việt vào họ ngôn ngữ Nam Đảo. Đó là ý kiến của Bình Nguyên Lộc với hai cuốn Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam (Sài Gòn, 1972) và Lột trần Việt ngữ (Sài Gòn, 1973), và gần đây là ý kiến của tác giả Hồ Lê (1996). Cơ sở của những ý kiến này là sự tương ứng từ vựng giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ khác nhau trong họ Nam Đảo. Tuy nhiên, phải nói ngay rằng, đây là những tương ứng chưa phải là những tương ứng mang tính hệ thống và do đó khả năng vay mượn là rất lớn. Khả năng này còn được đẩy lên cao hơn nữa khi mà, như chúng ta đã biết, sự cư trú đan xen giữa những cư dân Nam Á và cư dân Nam Đảo là có thực và diễn ra trong một khoảng thời gian dài. Cần phải nói thêm rằng, tác giả Bình Nguyên Lộc đã cho rằng “có 40% từ Mã Lai trong vốn từ của tiếng Việt”, tuy nhiên “trong hai cuốn sách của ông chỉ thấy kể có khoảng dăm chục từ” (1)... Do vậy, có thể nói, việc nêu vấn đề tiếng Việt có quan hệ họ hàng với các ngôn ngữ Nam Đảo chỉ mang tính giả thiết và trong tình hình như vậy có thể nói giả thiết ấy chưa được chứng minh.

Ý kiến thứ ba, đáng chú ý hơn cả, cho rằng tiếng Việt là một ngôn ngữ thuộc họ ngôn ngữ Thái. Cần phải nói ngay rằng, trong số những ý kiến không xếp tiếng Việt vào họ ngôn ngữ Nam Á thì cách lí giải cho ý kiến này có vai trò quan trọng nhất. Ý kiến này được Henry Maspéro đề xuất vào đầu thế kỉ 20, và trong một thời gian dài, nó đã chi phối quan niệm về phân loại nguồn gốc ngôn ngữ của các nhà ngôn ngữ trên thế giới. Bằng phương pháp so sánh-lịch sử, với lập luận chặt chẽ, tỉ mỉ về các khía cạnh từ vựng cơ bản, ngữ pháp và thanh điệu, Maspéro đã làm những nhà nghiên cứu đương thời không có cách gì bác bỏ được. Cụ thể là:

- Về từ vựng: giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ Thái cũng như với các ngôn ngữ Mon-Khmer đều có sự tương ứng;

- Về ngữ pháp: tiếng Việt gần với tiếng Thái và khác rất xa với các ngôn ngữ Mon-Khmer hiện nay bởi các tiếng Mon-Khmer có cơ sở sơ sài về hình thái học trong khi đó tiếng Việt là một ngôn ngữ không có giá trị hình thái học.

- Về thanh điệu: với Maspéro, thanh điệu tiếng Việt là một vấn đề quan trọng vì tiếng Việt hiện nay là một ngôn ngữ cũng có thanh điệu như các ngôn ngữ Thái và Hán. Trong khi đó, cho đến nay, các ngôn ngữ Mon-Khmer vẫn là các ngôn ngữ không có thanh điệu.

Tuy nhiên, những luận điểm của Maspéro không phải là không có hạn chế và những hạn chế đó sau này đã được A.G. Haudricourt chỉ ra một cách thuyết phục.

3. Về cơ sở để xác định nguồn gốc tiếng Việt qua hai bài báo của A.G. Haudricourt
3.1. Lập luận của A.G. Haudricourt trong việc chứng minh nguồn gốc Nam Á của tiếng Việt
Trong hai năm 1953 và 1954, A.G. Haudricourt đã lần lượt công bố hai bài báo quan trọng:

- Về nguồn gốc Nam Á của tiếng Việt

- Về nguồn gốc các thanh trong tiếng Việt

Với hai bài báo này, ông đề nghị phải xếp tiếng Việt vào họ ngôn ngữ Nam Á, chứ không phải là họ Thái như H. Maspéro đã đề nghị. Cần phải nói ngay rằng, A.G. Haudricourt không phải là người đầu tiên nêu ra quan điểm xếp tiếng Việt vào họ ngôn ngữ Nam Á. Mà, như đã trình bày ở trên, quan điểm này đã được đề xuất từ năm 1856, và hiện nay, đây là quan điểm nhận được nhiều sự đồng tình nhất bởi cơ sở khoa học của nó. Trong số những ý kiến ủng hộ đó, có thể coi lập luận của Haudricourt là đầy đủ nhất và là những lí lẽ đại diện cho cách phân loại này. Hơn thế nữa, qua lập luận của Haudricourt chúng ta còn có thể rút ra được những cơ sở để xác định nguồn gốc tiếng Việt.

Thứ nhất, về vấn đề từ vựng. Sau khi tiến hành khảo sát lại nhóm từ chỉ các bộ phận cơ thể trong tiếng Việt mà Maspéro đã dẫn ra để làm chứng cứ trong công trình so sánh của ông, Haudricourt đã chỉ ra rằng nhóm từ ấy về cơ bản là những từ thuộc về Mon-Khmer, chứ không phải là vừa gốc Thái vừa gốc Mon-Khmer như Maspéro đã chỉ ra. Vì vậy, trên phương diện từ vựng, quan hệ giữa tiếng Việt và các ngôn ngữ Thái là quan hệ vay mượn.

Thứ hai, về vấn đề ngữ pháp, cụ thể là vấn đề cấu tạo từ bằng phương thức phụ tố. Hiện nay người ta vẫn nhận thấy dấu vết của phương thức này. Ví dụ điển hình là cặp từ giết – chết:

kchết xát hoá > giết

Ngoài ra, còn có một số cặp từ khác: cọc-nọc, kẹp-nẹp, con-non…

Qua những cặp từ như vậy, chúng ta có thể chứng minh chúng là hệ quả của phương thức cấu tạo từ bằng phụ tố còn lưu giữ trong các ngôn ngữ Mon-Khmer. Tuy nhiên, điểm lập luận này, đối với Haudricourt, không phải là quan trọng nhất.

Điểm quan trọng ở đây chính là vấn đề thanh điệu. Haudricourt cho rằng, việc hiện nay tiếng Việt có hệ thống thanh điệu giống như tiếng Thái còn các ngôn ngữ Mon-Khmer không thanh điệu chưa nói lên điều gì về nguồn gốc. Bởi hệ thống thanh điệu có thể xuất hiện, có thể mất đi trong lịch sử của một ngôn ngữ. Hơn nữa, theo V.B. Kasevich, ở một số ngôn ngữ ở Đông Nam Á và Tây Phi tuy chúng đều có thanh điệu và thậm chí có những điểm giống nhau đến kì lạ về ngữ pháp nhưng “tuyệt đối rõ ràng là những ngôn ngữ này không phải là họ hàng” (tr.198).

Theo Haudricourt, thanh điệu tiếng Việt là một hiện tượng mới có, nói cách khác, trước đây tiếng Việt cũng là một ngôn ngữ không có thanh điệu và hiện nay nó là một ngôn ngữ có thanh điệu giống như các ngôn ngữ Thái. Chính vì điều này mà Haudricourt đã chứng minh được rằng, về nguồn gốc, tiếng Việt tương tự như các ngôn ngữ Mon-Khmer:

- Giữa thanh điệu và phụ âm đầu có liên quan chặt chẽ đến nhau theo hướng các phụ âm đầu tắc vô thanh tương ứng với một thanh có âm vực cao, còn những phụ âm đầu hữu thanh thì tương ứng với thanh điệu có âm vực thấp.

- Thanh điệu tiếng Việt có sự tương ứng với cách kết thúc âm tiết:

+ Hai thanh ngang-huyền: âm tiết mở;

+ Hai thanh hỏi-ngã: âm cuối xát;

+ Hai thanh sắc-nặng: âm cuối tắc yết hầu.

Và cuối cùng, dựa trên kết quả phục nguyên, Haudricourt đã đưa ra sơ đồ về nguồn gốc các thanh trong tiếng Việt như sau:

Sơ đồ về nguồn gốc các thanh trong tiếng Việt

Đầu công nguyên- Thế kỉ thứ VI -Thế kỉ XII --Ngày nay
-(không thanh)-- - (ba thanh) - -(sáu thanh)

pa ------------------pa ----------pa ----------ba
sla, hla --------------hla ---------la ------------la
ba ------------------ba ----------pà ----------bà
la -------------------la -----------là -----------là
pas, pah ------------pà -----------pả--------- bả
slas, hlah -----------hlà ------------ả--------- lả
bas, bah ------------bà ------------pã ---------bã
las, lah --------------là------------- lã ---------lã
pax, pa? ------------pá --------------pá --------bá
slax, ba? -----------hlá -------------lá ---------lá
bax, ba? ------------bá -------------pạ-------- bạ
lax, la? --------------lá -------------lạ ---------lạ

Từ những lí lẽ trên, A.G. Haudricourt đã khẳng định: “tốt nhất là chỉ nên xếp tiếng Việt là thành viên của nhánh Mon-Khmer thuộc họ Nam Á ở khu vực Đông Nam Á hiện nay”.

3.2. Cơ sở xác định nguồn gốc tiếng Việt
Chúng ta có thể nhận thấy tiếng Việt đã được các nhà nghiên cứu xếp vào nhiều họ ngôn ngữ khác nhau. Điều này cho thấy các ngôn ngữ trong khu vực, trong quá trình phát triển, có sự tiếp xúc và vay mượn của nhau rất nhiều. Cho nên, khi xác định nguồn gốc tiếng Việt không thể không tính đến yếu tố Thái, yếu tố Nam Đảo và đặc biệt là yếu tố Hán trong tiếng Việt.

Tuy nhiên chúng ta cần phải thấy rằng, hai vấn đề cơ bản và quan trọng nhất, vừa là phương pháp, vừa là cơ sở trong việc xác định nguồn gốc tiếng Việt, là vấn đề từ vựng cơ bản và vấn đề những biến đổi có quy luật của ngữ âm, cụ thể ở đây là quy luật hình thành thanh điệu. Tuy nhiên, việc nhận diện đâu là từ vựng cơ bản và việc xác định đâu là những từ mang tính nguồn gốc, đâu là những từ vay mượn là công việc không đơn giản. Và bất kì việc làm chủ quan, thiếu cẩn trọng hay nhầm lẫn nào cũng chắc chắn sẽ đưa ra những kết luận lệch lạc, sai lầm
---------------------------
nguồn: ngonngu.net

ganda
18-08-2007, 03:57 PM
Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp
(Phần 1)

Nguyễn Cung Thông

01 tháng 06 năm 2006

1. Giới thiệu tổng quát


Tìm hiểu về gốc của tên mười hai con giáp là một cơ hội để ta tìm về cội nguồn tiếng Việt. Tên 12 con giáp là Tý/Tử, Sửu, Dần, Mão/Mẹo, Thìn/Thần, Tỵ, Ngọ, Mùi/Vị, Thân/Khôi, Dậu, Tuất, Hợi. Thoạt nhìn thì thập nhị chi trên có vẻ bắt nguồn từ Trung Quốc (hay Trung Hoa, tắt là TH) vì là những từ Hán Việt (HV).Khi phân tách các tiếng Việt, và thấy có những khác lạ hay có một khuynh hướng tổng quát chung nào đó thì những dạng này cần được so sánh với những từ khác với nguồn gốc không phải là Việt, Thí dụ như trong các từ liên hệ đến xe hơi chẳng hạn, ta thấy các dạng như pan (xe bị pan), phanh (thắng), láp, két nước (tử két), đèn pha, máy bơm xăng, ống bơm, xăng, hòn (viên) bi, bị giơ (lỏng), cái van, dây cáp (điện), dây xên, con vít, sạc điện …v…v... không kể các từ đa âm khác như bugi, táp-lô, rô-đa, mỏ-lét, rờ-le, bù-loong … So với tiếng Pháp và tiếng Anh hiện nay (không khác gì nhiều trong vòng trăm năm nay)



Tiếng Việt - Pháp - Anh



Pan -- panne (bị hư) - out of order

Pha - phare (đèn trước) - headlight

Bi -- - bille (viên đạn) - ball

Giơ - - jeu (lỏng) - loose, worn out

Sạc - - charge (thêm điện cho đủ) - charge

Van - - valve - -- - valve

Vít - - vis - -----screw

Két - - caisse (tủ, bình chứa) - tank

Cáp - - cable (dây điện) - cable

Xăng - essence - --- gas, petrol

Bơm - - pompe - --- pump

…v…v…



Rõ ràng là các từ trên tương ứng với tiếng Pháp rất chặc chẽ so với tiếng Anh, hay một ngoại ngữ nào khác - người viết dùng tiếng Anh và Pháp để so sánh vì lịch sử cận đại cho thấy nhiều liên quan giữa nước Pháp, nước Mỹ với VN. Ngoài ra, kỹ thuật chế tạo, lắp ráp và bảo trì xe hơi (ô tô) là từ các nước Âu Châu trên. Nếu mở rộng đề tài ra thì ta có các tiếng Pháp khác nhập vào tiếng Việt như bót/bốt (đồn cảnh sát), ông cẩm (commissaire), nhà ga (trạm xe lửa), lô, ký (kilogramme), xạc (sacrer, bị mắng), cuốc (xe cuốc, course, xe đua), cúp (coupe), cà-lem, kem (crème) ..v..v.. Phần lớn các từ mượn từ tiếng Pháp có phạm trù giới hạn và thường là thuật ngữ. Cách viết văn (cú pháp) và thành lập chữ của bị ảnh hưởng phần nào qua giao lưu văn hoá với Pháp : như cách dùng bàn giấy, giết thời gian … Trong các bài sau, người viết sẽ chú trọng đến sự so sánh các từ, các biến âm và phạm trù ngữ nghĩa của chúng. Giao lưu văn hoá với Pháp xẩy ra chỉ gần đây (hai trăm năm trở lại và càng ngày càng ít đi từ thời kỳ thuộc địa), thành ra các dạng biến âm rất dễ tra ra, cũng như từ phạm trù nghĩa giới hạn của chúng. Trở lại với tên 12 con giáp, thời kỳ giao lưu văn hoá với TH đã xẩy ra rất lâu (ít nhất đã hơn hai ngàn năm, so với hai trăm năm) và từng đợt chất chồng lên nhau, thêm vào đó là các tài liệu rất mơ hồ và thường hàm ý là tên 12 con giáp là của TH (một tiền đề không ai dám tranh cãi hay tìm ra ngọn ngành một cách rõ ràng và khoa học). Các tài liệu lại thường viết bằng chữ Hán, thêm và tiền đề (hầu như là một ‘công lý’ không ai chối cãi đuợc ?) về nguồn gốc TH hợp với cách viết chủ quan và đầy tự ái dân tộc của một số tác giả TH càng làm vấn đề trở nên phức tạp hơn nữa. Nhìn lại bảng so sánh một số tiếng Việt trong lãnh vực kỹ thuật (xe hơi) như trên, dù ai có tự ái dân tộc lớn đến đâu cũng không thể chối cãi quá trình mượn từ tiếng Pháp vào tiếng Việt, thêm vào đó là các tài liệu sách vở trong vòng hai thế kỷ qua dễ cho chúng ta kiểm lại kết luận này. Thực ra, sự vay mượn qua lại là một hiện tượng rất tự nhiên của ngôn ngữ loài người, chính sự thuần nhất (pure) ngôn ngữ mới là hiếm có hay là ngoại lệ ! Cũng như hiện tượng thuần chủng (pure race) vậy – cũng chính cách nhìn hạn hẹp từ sự thuần chủng mà đã xẩy ra bao nhiêu tai hoạ như Đức Quốc Xã với giống Aryen, chính sách White Policy hay nước Úc cho ‘người da trắng’ chẳng hạn ….– và cũng chính thái độ ù lỳ không chấp nhận ‘mình vay của người’ mà nhiều sai lầm đã xẩy ra, ngay cả cho một số công trình nghiên cứu trong quá khứ. Tiếng Nhật và tiếng Đại Hàn có nhiều từ gốc Hán, tiếng Anh/Pháp cũng đầy các từ gốc La-Tinh, Hi-Lạp … chẳng nước nào có ‘mặc cảm chữ nghĩa’ đâu ? Với các cảnh giác trên thì ai là chủ nhân của tên 12 con giáp ?



2. Vài nhận xét sơ khởi về tên 12 con giáp



2.1 Tên 12 con giáp đọc như tiếng HV, theo giọng Bắc Kinh (BK) và bằng cách ghi theo Phiên Âm (pinyin) là zĭ, chŏu, yín, măo, chén, sì, wǔ, wèi, shēn, yŏu, xū, hài hoàn toàn không liên hệ đến cách gọi (tên) 12 con thú trong tiếng TH hiện nay – ngay cả giọng Quảng Đông (QĐ) ..v..v.. Khi phục hồi âm TH thời Thượng Cổ (Archaic Chinese) thì vẫn không tương đồng với các cách gọi tên thú vật thời trước. Như vậy nếu có một dân tộc nào đó dùng tên 12 con thú tương tự như tên 12 con giáp thì dân tộc đó phải có liên hệ rất khắn khít với nguồn gốc tên 12 con giáp này. Cũng như khi so sánh các từ về xe hơi phần trên, ta có thể đi dến kết luận là tiếng Pháp đã cho tiếng Việt mượn trong thời kỳ giao lưu văn hoá cận đại1. Nhưng người viết không đi sâu thêm nữa để tìm hiểu các danh từ tiếng Pháp trên có nguồn gốc ở đâu. Xin nhắc lại ở đây là các bài này viết về nguồn gốc tên 12 con giáp, còn nguồn gốc 12 con giáp ở đâu ra không nằm trong phạm vi các phần sau.



2.2 Tại sao TH dùng con thỏ thay cho con mèo (biểu tượng của chi Mão/Mẹo) ? Xem cách viết chữ miêu (con mèo, giọng BK là māo) bằng bộ trỉ hợp với miêu (mầm mống, hài thanh) so với thỏ là chữ tượng hình – hay thố HV, giọng BK là tù viết bằng bộ nhân cho thấy sự quan trọng của thỏ đối với văn hoá TH. Hầu như chỉ có dân Việt mới dùng mèo cho chi Mão : nguyên âm e hay iê là các dạng cổ hơn của a như kẻ/giả, vẽ/hoạ, xe/xa, khoe/khoa, hè/hạ, chè/trà, keo/giao, beo/báo…. Nhờ sự khác biệt này mà ta bắt đầu thấy mối dây liên hệ của tiếng Việt với 12 con giáp. Mèo hiện diện trong đời sống dân Việt thường xuyên hơn. Còn chi Ngọ liên hệ đến ngựa hầu như không cần giải thích nhiều, so với mã HV (mă BK, giọng BK hiện nay không còn âm ng- nữa mà đã bị môi hoá thành w- và m-). Các dạng Mão/Mẹo/mèo và Ngọ/ngựa dễ cho ta nhận ra sự liên hệ giữa tên 12 con giáp với tiếng Việt hiện nay. Thời tiền Hán, tiếng Việt ta không có nhiều thanh điệu (tone) như bây giờ, nên sự khác biệt về thanh điệu không có gì lạ. Như trong khẩu ngữ ta ta có cách dùng “chờ một tý” cũng như “chờ một chút”, “đưa chút tiền” cũng như “đưa tý tiền” … vào thời tiền Hán, các câu trên đọc như giọng Huế hay người Hòn bây giờ (ít thanh điệu hơn so với giọng Hà Nội) thì ta thấy ngay chút hay *chụt/chuột chính là các dạng của tý vậy. Biến âm t-ch (phụ âm đầu) của tý/tử HV -chuột còn thấy qua các liên hệ như ty/tư HV là chủ, tỷ-chia, tứ-cho, từ-chữ, tự-chùa, tỷ-chị, tựu-chầu (tụ lại), tốt-chết, từ-chợ, thị-chợ, thố-chua, thù-chuốc, thục-chuộc, thúc-chú….Thành ra, ta có sơ khởi là ba chi Mão/Mẹo, Ngọ và Tý có liên hệ với mèo, ngựa và chuột trong tiếng Việt hiện đại. Các phần sau sẽ phân tách chi tiết hơn về sự tương quan giữa tên các chi và các tên thú vật trong tiếng Việt.

2.3 Nếu quả thật tên 12 con giáp TH bắt nguồn từ tiếng Việt (Cổ), thì kết quả này còn phù hợp với các kết quả trước đây như triết gia Kim Định đã cố gắng chứng minh văn hoá TH xuất phát từ văn hoá Việt (SàiGòn vào thập niên 1970, như cuốn “Việt Lý Tố Nguyên”), tác giả Nguyễn Hoài Nhân (bên Pháp vào thập niên 1980, như trong các bộ “VietNam en image” ghi nhận các bằng chứng về khảo cổ và ngôn ngữ để đi đến kết luận : người Việt Cổ là người cho, người TH là người nhận), tác giả Lê Mạnh Thát qua cuốn “Lịch Sử Âm Nhạc Việt Nam - từ thời Hùng Vương đến thời kỳ Lý Nam Đế” đưa ra các dữ kiện chứng tỏ rằng Việt Ca (Lưu Hướng ghi lại trong Thuyết Uyển) có nguồn gốc Việt Nam (VN), tác giả Nguyễn Thiếu Dũng cũng bắt đầu đặt lại vấn đề nguồn gốc Kinh Dịch (từ tộc Việt) trong những năm gần đây … Cho thấy chiều vay mượn là từ phương Nam vào thời thượng cổ, chứ không phải là từ Bắc xuống Nam (cũng như các nước chung quanh) vào các đời Hán, Đường lúc văn hoá TH cực thịnh,. Tuy nhiên không tác giả nào đề cập đến nguồn gốc tên 12 con giáp, và rất ít dùng cấu trúc của chữ Hán, Hán Cổ cùng các biến âm trong cách lý giải.

Để thấy rõ hơn các liên hệ của tên thú vật và tàn tích trong tiếng Hán Cổ, chúng ta hãy xem một số từ chỉ con vật thông thường như cóc, voi … và cấu trúc của tiếng Hán cho thấy tàn tích của tiếng Việt mà đã từ từ mất đi trong ngôn ngữ TH hiện nay. Hi vọng từ đó khi tập trung nhìn vào các tương quan của tên 12 con giáp thì các liên hệ sẽ được rõ ràng hơn, nhất là qua sự so sánh các ngôn ngữ láng giềng với tiếng TH, HV, tiếng Việt.



2.4 Muốn tìm hiểu ngọn ngành trên phương diện so sánh các ngôn ngữ, ngày nay ta không đến nỗi phải đi tới những nơi xa xôi (du học) nữa, nhất là về đề tài 12 con giáp. Các tài liệu thông tin, mạng Internet, sách vở được ấn hành nhiều hơn và cởi mở hơn. Thêm vào đó là chánh phủ địa phương có vẻ như càng ngày càng mở mang và thành thật hơn, không độc đoán và che dấu hay ‘bóp méo’ các dữ kiện khảo cổ, ngôn ngữ như xưa. Cách đây hơn 50 năm, Phan Khôi - một nhà nghiên cứu văn hoá VN rất nhiệt thành – đã phải lên tiếng “… người VN chúng ta về sau phải sang TH ở lâu mà nghiên cứu, may ra tìm được các dấu vết tương quan của dân tộc ta với dân tộc TH từ đời thượng cổ…” (trang 34, “Việt Ngữ nghiên cứu” Phan Khôi, bài viết năm 1954, in lại – NXB Đà Nẵng, 1997). Đương nhiên là các kết quả của so sánh ngôn ngữ phải phù hợp với những kết quả từ ngành khảo cổ, lịch sử và di truyền (DNA)… để tăng mức độ chính xác.



3. Tiếng Việt và tiếng Hán Cổ (hay tiếng Hán và tiếng Việt Cổ)



3.1 Cóc là loài vật vừa ở trên cạn vừa ở dưới nước (gọi là amphibian) hiện diện trong các ngôn ngữ Đông Nam Á như ku-óc, cóc (tiếng Mường), ka kọc (Nùng), róc (Lào : lụt róc, kăn kắk, khăn khắk : cóc), khàng khók (Thái), king kuok (Khme), a-rok (Chàm), kok, kokke, khog (Mundari, Birhor, Hor…ngữ hệ Munda), cơưk (Hmong) ..v..v.. Trong vốn từ TH hiên nay, còn một chữ rất hiếm là cúc HV viết bằng bộ trùng hợp với chữ cúc hài thanh (HT, cúc nghĩa là nắm, túm) - giọng BK bây giờ là jú, qú. Để chỉ con cóc, tiếng TH có các từ thiềm HV (chán, zhān BK) viết bằng bộ trùng (cũng có nghĩa là bóng đen trên mặt trăng, tiếng ghép HV thiềm thừ là con cóc); thừ HV (shú, chú, yú BK) viết bằng bộ trùng hợp với chữ dư HT; ma HV (má, mò BK viết bằng bộ trùng, còn là một loại ếch); Ba/pha/bì HV (bŏ, pí BK viết bằng bộ trùng hợp với chữ bì HT - từ này ít dùng với tần số dùng là 10 trên 365398752 cho thấy một cách phân biệt cóc và nhái qua lớp da sần)… Trái cóc có vỏ như da cóc … Theo người viết thì cóc2 có thể là một từ tượng thanh (con cóc có tiếng kêu đặc biệt ‘cọc… cọc”) với âm yết hầu k-, và do đó một số ngôn ngữ khác không liên hệ gì đến tiếng Việt hay Nam Á như ngôn ngữ của Easter Island ở Nam Thái Bình Dương cũng gọi cóc là kok, tiếng Inđônesia là kodok, katak, tiếng Kơho là kit trô …



3.2 Voi là một từ đáng chú ý : có nhiều cách viết chữ Nôm, như bộ khuyển hợp với chữ vi HV (hài thanh, Đại Nam Quốc Âm Tự Vị/ĐNQATV), bộ khuyển hợp với chữ bôi (cái chén, HT cho thấy liên hệ b-v), bộ khuyển hợp vớI chữ bút … Các chữ voi này rất xa lạ với người TH, . Tiếng TH hiện nay có tượng HV, giọng BK bây giờ là xiàng, giọng QĐ jeung6 liên hệ đến giống tiếng Việt, viết bằng bộ nhân hợp với chữ tượng HT. Chữ tượng có cách viết cổ giống như hình con voi nhưng lại dựng đứng lên để theo chiều từ trên xuống dưới và để tiết kiệm diện tích viết chữ. Tượng còn dùng để chỉ bức tượng trong tiếng Việt so với tiếng TH bây giờ phải dùng các từ ghép như diāoxiàng BK (điêu tượng, tượng được khắc), sùxiàng (tố tượng, tượng được nặn hay đắp thành). Ông hay bà quản tượng là người coi (kiểm soát) voi hay là mahout, là tiếng Ấn Độ/Hindi mahaut gốc tiếng Phạn là mahamatrah. Con tượng còn là con voi trong bàn cờ tướng. Một điểm đáng chú ý là chỉ có voi là loài vật khác trong các loại lợn được viết bằng bộ thỉ (con lợn) thứ 152. Dự là từ HV đã từng có nghĩa là con voi - chữ này viết bằng bộ thỉ, thật ra là chữ dư hợp với chữ tượng - hiện thời có các nghĩa như vui vẻ (nghĩa bây giờ hơi khác hơn và thiên về an nhàn), thoải mái, du ngoạn (hàm ý vui vẻ), do dự, dự bị, một trong chín châu (Cửu Châu) của TH thời xưa (bao gồm tỉnh Hà nam, do đó Dự cũng là tên cổ của Hà Nam3), gạt gẫm … và rất ít tự điển ghi nhận nghĩa cổ của dự là voi4. Theo người viết, vui là âm cổ cũng như một dạng khác là voi. Liên hệ u-o (vui-voi) còn thấy trong các cách dùng tương đương như tùng-tòng (thông), chùm-chòm, vũ-võ, trụi-trọi, dung-dong, phù-phò, hụi-hội, tui-tôi, thúi-thối … do đó ta có cơ sở giải thích liên hệ dự-vui-voi. Voi từ chữ dự (có chữ tượng) hợp lý hơn là từ chữ vi (bộ trảo) theo Vương Lực (xem phụ chú 4). Các dữ kiện hỗ trợ cho liên hệ dự-vui còn thấy qua các chữ HV như du (yú BK, viết bằng bộ sước) có nghĩa là đi chơi, vui vẻ; du HV (yú BK viết bằng bộ tâm) có nghĩa là yên vui … Các cách viết khác nhau để ghi lại âm ‘vui’ cho thấy lý luận dự-vui thêm phần chính xác (nhớ rằng chữ viết có sau tiếng nói).



3.3 Vụ HV viết bằng bộ điểu, giọng BK bây giờ là wù, mù, giọng QĐ mou6, muk6, Hẹ mu6, vu6 … nghĩa là một loài vịt. Chữ này không thông dụng trong vốn từ TH hiện đại với tần số dùng là 105 trên 368707021 so với các chữ khác như áp HV (yā BK), nga HV (é BK, ngo4 QĐ – ngan, ngỗng là các dạng cổ), nhạn HV (yàn BK, ngaan6 QĐ) … Theo Thuyết Văn (TV), chữ ngan đồng nghĩa với nhạn. Biến âm u-i của vụ-vịt không thường gặp nhưng còn tàn tích trong các cách dùng bút-viết, thụ-chịu, nhu-diệu, đinh-chuồn … Để ý phụ âm tắt –t ở sau nguyên âm thường mất đi trong giọng BK (phương Bắc) nhưng vẫn còn duy trì trong tiếng Việt, giọng QĐ, Hẹ …



3.4 Đinh viết bằng bộ trùng với chữ đinh HT, giọng BK bây giờ là dīng, chēng, chéng, ding1, cing1 QĐ, Hẹ den1 …có nghĩa là con chuồn chuồn. Chữ này rất ít dùng với tần số dùng là 14 trên 430747376. So với các chữ khác thường gặp trong vốn từ TH hiện nay như tinh HV (dīng, tīng BK), đình HV hay tinh đình, linh HV (líng BK viết bằng bộ trùng hợp với chữ linh/lệnh HT, để ý linh HV viết bằng bộ kim hợp với chữ linh/lệnh là chuông)… Nếu ta để ý biến âm đ-tl/tr-ch (xem bài viết riêng về biến âm này cùng tác giả) như độn-trốn-chuồn, đồn/đốn-truân-chiên, đồn-trôn, điền-trần, đục-trọc, đoàn-tròn, động-trọng-chuộng, đồng-tròng (con ngươi), đản-trần …v..v.. thì có thể giải thích được liên hệ đinh-*chuôn (biến âm i-u nói ở phần 3.3), hay dạng chuồn (thanh huyền có thể do ảnh hưởng của phụ âm mũi –n). Tiếng Mường cũng có dạng chuồn chuồn, tiếng Zhuang là chi-chuồn.



Như vậy thì tiếng Việt vẫn còn tàn tích trong tiếng TH, tuy nhiên các cách dùng từ ‘phương Nam’ từ từ mất dần đi5, có thể là do các tiếng phương Bắc thay vào (giai cấp thống trị), hoặc không hợp với hệ thống âm điệu của Hán tộc hay sự cố tình bôi xoá ?

Tóm tắt bài này là trong tiếng TH có những từ Việt (Cổ) nhưng rất ít dùng, tuy nhiên trường hợp của tên 12 con giáp rất đặc biệt : được dùng trong việc ghi lại thời gian, không gian, bói toán, cúng kiến … rất phổ thông trong văn hoá và tín ngưỡng dân gian, chúng gắn liền với lịch sử tư tưởng của TH và VN, đóng một vai trò quan trọng trong văn hoá dân tộc. Do đó, chúng là những từ hoá thạch (fossilised) gắn bó với câu ca dao



‘Trăm năm bia đá thì mòn

Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ’

4. Phụ chú



(1) Bảng so sánh trên cho thấy liên hệ giữa tiếng Pháp và Anh như sạc tiếng Pháp và tiếng Anh giống y như nhau, gốc tiếng Pháp Cổ (Old French) là chargier (chất đồ lên, tải), liên hệ đến tiếng La Tinh carrus (chiếc xe) do đó ta có các dạng tiếng Anh như car/xe, carry/chở, chariot/xe … và nếu truy tầm thêm nguồn gốc các chữ trên thì sẽ thấy nhiều tương quan của nhóm (dòng, ngữ hệ) La Mã, họ Ấn Âu (Indo-European) phản ánh qua lịch sử và quá trình phát triển văn hoá của Hi Lạp, Ý, Pháp v..v.. Điều này ra ngoài mục đích của bảng so sánh cốt là cho thấy các tiếng mượn từ tiếng Pháp mà thôi.



(2) Tác giả Lê Gia trong “Tiếng Nói Nôm Na” (NXB Văn Nghệ Thành Phố HCM, 1999) thì giải thích cóc là từ hốc, cốc mà ra “loài vật dơ dáy, bẩn thỉu, tối ngày ngồi trong hang trong hốc” (trang 1451).



(3) Tỉnh Hà Nam vẫn còn một số hoạt động như cỡi voi cho du khách.



(4) Theo tác giả Nguyễn Văn Tu trong “Từ và vốn từ - tiếng Việt hiện đại” (NXB Đại Học và Trung Học Chuyên Nghiệp, Hà Nội 1976) thì voi có nguồn gốc là chữ vi “…theo sự nghiên cứu của ngành Cổ Văn Tự, vi là chữ tượng. Theo tiếng Việt thiên đọc là vi còn tượng đọc là voi…” (trang 266) - trích dẫn từ kết luận của nhà ngữ học TH Vương Lực trong các cuốn “Hán Việt Ngữ nghiên cứu” và “Hán ngữ sử luận văn tập” (khoảng 1958). Sau gần 3 thập niên, tác giả Lê Đình Khẩn cũng lặp lại điều này trong cuốn “Từ vựng gốc Hán trong tiếng Việt” (NXB Đại Học Quốc Gia Thành Phố HCM, 2002), tuy nhiên tác giả có bàn thêm là thời thượng cổ “…không chắc là âm đọc theo chữ nào trong hai chữ đồng nghĩa ấy …” (trang 59). Khi tra cách viết và khắc của chữ vi (Cổ Văn) ta thấy hình hai con khỉ trên hình con voi tuy hình vẽ không rõ ràng lắm, theo ‘Tại Tuyến Hán Điển’ trên mạng Internet, và ‘Chinese Characters’ của L. Wieger - cả hai tài liệu này đều ghi vi là ‘khỉ cái’. Để ý cách đọc vi HV là wèi BK, Hẹ wui3, wuị, wi3, wi5 … Còn theo Từ Nguyên thì nghĩa cổ nhất của dự là “tượng chi đại giả - kiến Thuyết Văn” . Voi giữ một địa vị đặc biệt trong lịch sử VN : nào là chuyện bà Triệu cỡi voi chống ngoại xâm, nào là những khi được triều cống cho TH, nào là các hình phạt cho voi xé xác, voi giày … và hiện diện trong ca dao thành ngữ như “khoẻ như voi”, “muỗi đốt chân voi”, “chỉ buộc chân voi”, “được voi đòi tiên”, “trăm voi không được bát nước xáo”, ”có con gái lớn trong nhà như cỡi đầu voi dữ”, “trời sinh voi trời sinh cỏ”…v…v.. Hiếm lắm ta mới thấy vài thành ngữ có voi trong văn hoá TH như “tượng trợ ngọc bôi” (đũa bằng ngà voi và chén bằng ngọc, chỉ cuộc sống giàu sang) hay “tượng xỉ phần thân” (voi chết chỉ vì muốn lấy ngà, của cải đem đến nguy hiểm).



(5) Khuynh hướng mất dần các vết tích của ngôn ngữ phương Nam (thời Bách Việt về sau) đồng thời với khuynh hướng bành trướng của lãnh thổ TH và các đợt di dân cùng pha trộn với dân bản địa trên lưu vực sông Hồng. Các vết tích của tiếng Việt như voi, vịt, cóc, chuồn chuồn …trong tiếng TH chứng tỏ phần nào nhận định tổng quát này


_________________________
Nguồn khoahoc.net
Đã được tác giả đồng ý.

ganda
20-08-2007, 02:34 PM
Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp
(phần 2)

Nguyễn Cung Thông

15 tháng 06 năm 2006



1. Tổng quát



Từ phần 1, với một cách phân tích đơn giản ta thấy là 12 con giáp liên hệ đến cách gọi tên con vật trong tiếng Việt qua 3 chi Mão/Mẹo/mèo, Ngọ/ngựa và Tý/Tử/chuột. Các phần đầu 1, 2 có mục đích là giới thiệu tổng quát về tên 12 con giáp và đặt nền tảng cho các phần sau chi tiết hơn (phần 3 về sau bàn về tên mỗi con giáp). Người viết cố tránh dùng các thuật ngữ để cho dễ đọc và dễ cảm nhận hơn. Tiếng chuông cảnh tỉnh mọi người về nguồn gốc phi-Trung-Hoa của tên con giáp thật ra đã được giống lên từ những công trình khảo cứu ngôn ngữ học của vùng Đông Nam Á từ thập niên 1930, bởi các tác giả nước ngoài, đáng lẽ phải từ các nghiên cứu khảo cổ hay lịch sử và văn hoá dân gian của dân địa phương mới ‘hợp lý’ và ‘hợp tình’. Nhưng có thể vì những cuộc chiến tranh tàn khốc trong khu vực này trong cả thế kỷ qua nên không cho ra bao nhiêu kết quả chính xác. Thêm vào đó là lịch sử rất lâu đời của vùng Đông Nam Á, cùng với nhiều đợt giao lưu văn hoá qua đường biển cũng như trong đất liền, làm cho quá trình nghiên cứu không được mấy dễ dàng. Điều đầu tiên là lập bảng so sánh tên 12 con giáp của các ngôn ngữ trong vùng như sau. Để ý một nước có thể dùng nhiều bảng con giáp1 (VN có ít nhất là 3 bảng) và sự thay đổi nghĩa của một số chi như rồng trở nên con naga (ảnh hưởng của Ấn Giáo, một loài vật huyền thoại nửa voi nửa rắn, có khi nửa người nửa rắn, nửa người nửa tiên…), gà trở thành con chim (theo Tây Tạng, gà thuộc vào loài chim – gà là con vật duy nhất có cánh trong 12 con thú), sự phân biệt giống đực hay cái (gà trống, dê đực …) thay vì tổng quát, có cả sâu bọ2, heo thành voi theo một cách ghi 12 con giáp của Thái Lan, bị ảnh hưởng tiếng Phạn Nam/Pali. Pali hay tiếng Phạn Nam (phía Nam) có gốc là tiếng Phạn Cổ (classical Sanscrit) nhưng đơn giản hơn, các kinh điển của Phật Giáo đầu tiên được chép bằng tiếng Pali và truyền từ Sri Lanka đến Miến Điện (Myanmar), Thái Lan, Kampuchia, Việt Nam (phần nhỏ) … thuộc phái Tiểu Thừa (Theravada) so với phái Đại Thừa (Mahayana) truyền từ TH qua. Các ngôn ngữ dân tộc thiểu số được dùng để so sánh hầu tìm ra các dây liên hệ như tiếng Saek đang có hiểm hoạ diệt vong, thuộc dòng Thái-Kadai và chỉ dùng trong vài làng bên Lào và Thái Lan. Tiếng Yay cũng giống như tiếng Dioi cùng thuộc dòng Thái. Tiếng Ahom đã từng hiện diện ở Assam, bây giờ không còn nữa và chỉ dùng trong các hoạt động tôn giáo địa phương. Dân tộc Ahom có gốc từ tỉnh Vân Nam, di dân xuống miền Đông Nam Á Châu và Bắc Miến Điện.



2. Bảng so sánh các tên 12 con giáp Á Châu



Việt (bảng 1)- Việt (bảng 2)- Việt (bảng 3)- Hán (Bắc Kinh)- Quảng Đông

Tý/Tí/Tử------ Thử (D)------- Chuột--------- Zĭ------------- zi2/ci2

Sửu----------- Ngưu/Ngâu---- Trâu---------- Chŏu---------- Cau2

Dần----------- Hổ/Hùm-------- Cọp---------- Yín------------ Yan4

Mão/Mẹo------ Thố/Thỏ------- Mèo---------- Măo----------- Mau3

Thìn/Thần----- Long---------- Rồng--------- Chén----------- San4

Tỵ/Tị---------- Xà------------ Rắn---------- Sì--------------- zi6

Ngọ----------- Mã------------ Ngựa-------- Wŭ-------------- ng2/ng5

Mùi/Vị-------- Dương----------- Dê---------- Wèi------------- Mei6

Thân---------- Khôi (khọn)----- Khỉ---------- Shēn------------ San1

Dậu----------- Kê------------- Gà----------- Yŏu------------- Jau5

Tuất---------- Khuyển (Cẩu)-- Chó (Cầy)----- Xū-------------- Seot1

HợI------------ Trư----------- Heo (Lợn)----- Hài-------------- Hoi6




Nhật (on)-- Nhật (kun)-- Đại Hàn-- Pali/Thái-- Khme

Ne- --------Shi---- ------Ja--------Musika--- Jut

Ushi------ --Chu--------- Chug----- Pasu----- Chiu

Tora-------- In---------- In--- Vyaggha/saddula- Kha1

U---------- Bo---------- Myo--------- Sasa----- Thoh

Tatsu------ Shin--------- Sin------- Mahoraga---- Rong

Mi---------- Shi---------- Sa-------- Sappa------ Msang

Uma-------- Go--------- O--------- Turanga------ Mami

Hitsuji------- Bi---------- Mi---------- Aja-------- Mame

Saru------- Shin--------- Sin-------- Makkata------ Vok

Tori = con chim- Yu------ Yu--------- Kukkuta----- Raka

Inu--------- Jutsu-------- Sul-------- Kukkura------ Ca

I------------ Gai---------- Hal---- Kunjara=con voi--- Kur


Tiếng Saek cổ- Tiếng Saek mới- Thái/Xiêm (A)- Lào- Đài-Loan


Tii6- Suat5- Chuat3- Tiao- Chi2


Thriw3- Sa6luu1- Chaluu5- Pao- Thiu2


Rin4- Khaan1 Khaan5- Gni- In5


Meew3- Tho4- Tho2- Mao- mo (tiếng Ngô)


Sin4- Ma6long4- Maroong1- Si- Sin5


Tii5- Ma6seng1 -Maseng5- Sao- Chi7


Ngo5- Mamia4- Mamia1- Sa-nga- Ngou2


Muy4- Mame4- Mame2- Moth- Bi7


Thrin4- Vok5- Wook3- Sanh- Sin1


Raw3- La6kaa1- Rakaa1- Hao- Yu


Tut4- Cho1- Cho1- Zet- Sut1


Hơỵ- Kun6- Kun1- Khao- Hai7


Mường (A)- Tiếng Dioi- Tây Tạng- Ahom (B)- Tên tháng (C)


Tí- ---------Chaeu3- --Dschiwa- -Cheu- -----Shigar (Sygar)


Khéu (tlu/klu)- Piaou3- -Lan------- Plau------ Kuman (Imén)


Rân----------- Ngien2--Tag------- Ngi-------- Ugur


Mêo----------Maou3---- Yo------- Mao------- Taushan


Sin (hông/ròn)- Chi2----- Drug----- Shi---------- Samar


Tê (sin/san)---- Seu3---- Dru------ Sheu-------- Dilan


Ngo ---------- Sa3------- Ta------- Shi-nga----- Tuki (Tykha)


Mùi (bê)------- Fat1------ Lug------- Mut--------- Téké


Thân (vok)----- San4------ Dre------- Shan-------- Bichin, Michin


Râu (ka)------- Thou3----- Dscha (con chim)- Rao--- Taguk


Tât (cho)------ Seưt1------ Kyi-------- Mit--------- It


Hơi (kui/kun/kul)- Kaeu3----- Pag-------- Keu-------- Shushma


(A) thoạt xem tên 12 con giáp bằng tiếng Thái (tên gọi chính thức/formal names) ta thấy rất gần với nghĩa chúng qua tiếng Việt ! Thí dụ như tý/tí/tử là chuat3 hay chuat3 (3 nghĩa là falling tone, thanh điệu thứ 3 đi xuống gần như dấu huyền tiếng Việt, trong phần này không ghi thanh điệu cho đơn giản) - dạng chuat3 rất gần với chuột tiếng Việt – tuy nhiên, chuat lại không có nghĩa con chuột trong tiếng Thái (mà là nuu). Điều này cho thấy rằng tiếng Thái đã mượn từ các tên tiếng Việt, cũng như các dạng khan (kễnh, cọp – năm cọp chính thức gọi là bpee khan nhưng thông thường hơn là bpe seuua), roong1 (rồng – năm rồng chính thức gọi là bpee ma roong1 hay thông thường hơn là bpee nguu yai, nguu là con rắn), rakaa1 (gà – năm gà chính thức gọi là bpe rakaa1 nhưng thông thường hơn là bpee gai) …v..v.. Chính các tên gọi của Thái là chiếc cầu nối giữa tiếng Việt, Cổ Việt, Mường, Hán Việt : cũng như Cha luu5 là một dạng khác của k-lu (biến âm k-ch/gi- như Bắc Kinh/Beijing, kông/klông/giang đã ghi lại nhiều lần trong các bài viết trước – xem bài “Nguồn gốc nhóm từ sông Cửu Long” cùng tác giả), klu hay tlu (Mường) chính là tru/trâu tiếng Việt, kbây, krobây (Khme)…. Trâu, bò không có dạng này trong tiếng Thái hiện tại, năm sửu chính thức gọi là bpe cha luu5 so với cách gọi bình dân là bpee wuaa, wuaa hay khoh chỉ con trâu, bò … Còn biến âm kl-s còn thấy khi so sánh tiếng Mường và Việt : klu-sửu (trâu), klong-sông, khláng-sáng3 (Mường Poọng, khlau/krau-sau (Mường Hung), khlt/klăt-sắt, kru-sâu (Mường Uý Lô) …. Có khi âm –l- mất hẳn để cho các dạng khang-sang, khao-sao4 …Trở lại với các cách gọi tên 12 con giáp trong cùng một ngôn ngữ, cách gọi chính thức được người viết xếp vào loại ‘bác học’ (BH) vì cần phải học mới biết rõ ràng so với cách gọi ‘bình dân’ (BD) qua các tên con thú. Sự phân hoá thành ra ít nhất hai loại văn chương BH và BD không chỉ xẩy ra qua khung cửa của tên 12 con giáp, nhưng còn làm cho vốn từ Hán Việt và Việt thêm phong phú.



(B) theo bài “A note on the origin of the Chinese duodenary cycle” của Jerry Norman đăng trong cuốn “Linguistics of the Sino-Tibetan area – the state of the art” 1985, bài này ghi lại và bàn thêm về các dữ kiện từ bài “L’origine du cycle des douzes animaux au Cambodge” viết từ năm 1935 bởi George Coedès.



(C) Theo tài liệu đăng trên mạng Internet của Wikipedia, chủ đề Chinese Astrology – tên các tháng của dân tộc Hung (Hunnish) hay dân tộc Thổ-Bungari (Turkic Bulgarian) có nhiều trùng hợp với tên 12 con giáp – có lẽ đây là các dân tộc ở xa TH nhất trên phương diện địa lý mà vẫn dùng hệ thống này (so với Nhật, Lào, Thái Lan, Viêt Nam…) và có thể qua con đường buôn bán tơ lụa (the Silk Road). Tiếng Hung hay Thổ-Bungari không liên hệ gì đến tiếng TH hay ngữ hệ Hán-Tạng. Các tên tháng theo thứ tự có nghĩa là con chuột, trâu, cọp … đến con heo rừng cũng như thứ tự và tên 12 con giáp TH.



(D) Người viết chưa từng thấy bảng tiếng Việt này – cho tới khi đọc cuốn “Encyclopaedia of Asian Civilisation” – NXB Louis Frédéric (1984), Éditions Jean-Michel Place. Chú ý các từ thử HV dùng để gọi chuột, khôi để gọi Thân…



(E) Theo tác giả William G. Boltz trong bài viết “The Old Chinese Terrestrial rames in Saek” (in trong cuốn “Studies in the Historical Phonology of Asian Languages” chủ biên William G. Boltz và Michael C. Shapiro, NXB John Benjamin, 1991) thì các ngôn ngữ Lu và Pu-Yi (đều thuộc dòng Thái) có các dữ kiện sau (tóm tắt lại với các số đứng sau chỉ thanh điệu)



Tên Tý --Sửu --Dần --Mão--Thìn--Tỵ -- Ngọ --Mùi --Thân


Lu tsai3 -- pau3 -- ji2 -- mau3 -- si1 -- sai3 -- sa-nga4 -- met6 -- san1
Pu-Yi tsai3…-- pau3 -- jin2…. --mau4 --tsi2 -- si3 -- sa4/tsa3… -- vat8 -- san1




Tên Dậu -- Tuất -- Hợi


Lu hrau1 -- set5 -- kai4
Pu-Yi ju4/zu4… -- sat7/sut7… -- kai4/ka4..




3. Các giả thuyết dựa trên ngôn ngữ học



Nguồn gốc tên 12 con giáp đã được nhiều học giả ngoại quốc nghiên cứu : George Coèdes (1935) sau khi so sánh tên 12 con giáp5 của Xiêm và Kampuchia đã đi đến kết luận là chúng có nguồn gốc tiếng Mường Cổ. Ộng đã viết nhiều về các ảnh hưởng của nền văn minh Ấn Độ trong vùng Đông Nam Á, tuy nhiên không đưa ra một liên hệ gì về tên 12 con giáp với Ấn Độ. Học giả TH Li Fang-Kuei (1945) chuyên khảo về tiếng Thái6 đã phân tách thập can và thập nhị chi qua các ngôn ngữ Thái và đưa ra nhận định rằng tiếng Thái vẫn còn duy trì một số phụ âm Hán Cổ như pl-, zng-, sm- tuy không nhất quyết xác định được nguồn gốc tên 12 con giáp từ đâu ra. Sau đó là các công trình của học giả Paul K. Benedict, vào năm 1967 ông đề nghị thập nhị chi có nguồn gốc Nam-Thái (Austro-Thai)7 trong bài viết về Văn Hoá và Ngôn Ngữ Nam-Á, và dựa trên các liên hệ của âm ngựa (Ngọ), chó (Tuất) và heo (Hợi). Năm 1975, ông viết cuốn “Austro-Thai Language and Culture” khai triển các ý từ những năm trước. Ông đưa ra các dữ kiện của các ngôn ngữ địa phương để đi đến kết luận rằng tiếng TH đã mượn một số tiếng Nam-Thái như trứng, gà, ngựa, yên (ngựa), cỡi ngựa, voi, ngà, lợn (heo), thỏ, trâu bò … nuôi lấy thịt, ong, mật, gạo, mía, muối …v…v… và điều đáng chú ý và oái ăm là sau đó, các ngôn ngữ vùng Đông Nam Á đã phải mượn lại các từ ngữ mà mình cho TH mượn trước kia ! Thí dụ như các từ trà, giấy … Cũng theo Benedict thì có những tính chất đặc thù bắt nguồn từ văn hoá Nam-Thái như phép tính 12 con giáp mà nhiều người tưởng là của TH. Ông ghi nhận rằng chữ ngựa trong tiếng Lê (Li, dân bản xứ đảo Hải Nam) là nga/ka và là một bằng chứng là mã và ngựa có liên hệ, sau khi so sánh và đề nghị dạng âm cổ phục hồi của ngựa trong tiếng Inđônêsia và Mã lai là *t’anga, tác giả đề nghị âm cổ Nam-Thái là *sanga. Cuối cùng kết luận bằng cách đưa ra một giả thuyết rằng có thể một ngôn ngữ cổ Nam-Thái đã từng hiện diện trong vùng Đông Nam Á, mà ông gọi là AT-x và đã cho TH mượn nhiều từ căn bản. Tác giả Jerry Norman (1985) cũng dựa vào các dữ kiện từ tiếng Thái, Hán Việt, Việt và TH, Mường để chứng minh rằng tên 12 con giáp có nguồn gốc từ phương Nam (Austroasiatic, Nam Á). Ngoài 3 từ Ngọ, Tuất, Hợi, Norman8 còn liên hệ 4 từ Sửu, Thìn, Mùi, Dậu với các tiếng phương Nam – bài viết trên thật ra là từ một bài viết cùng với tác giả Mei Tsu-Lin (1976) về các từ TH có nguồn gốc phương Nam. Các tác giả đã đi đến một kết luận là chủ nhân tên 12 con giáp có thể đã ở khu vực bờ biển Đông Nam TH, và có thể là các nước Ngô hay Việt thời xưa. Gần đây hơn, trong bài viết về 12 con giáp của William G. Boltz9 (1991), ông ghi lại một số bảng so sánh gồm có các tiếng Saek, trích từ tài liệu của giáo sư William Gedney (1982). Sau khi phân tích các dữ kiện, tác giả kết luận rằng bảng 12 con giáp của tiếng Saek Cổ (mà Gedney chép lại) là vay mượn từ TH, có lẽ khoảng 200 hay 600 năm sau Công Nguyên (SCN), và 12 con giáp VN có lẽ mượn sau đó nữa (thời kỳ Late Middle Chinese). Từ năm 2000, người viết10 đã cho ra các bài (kết hợp từ nhiều năm trước) bàn về tên 12 con giáp để cho thấy nguồn gốc VN. Các tác giả trước đây không ai đề nghị nguồn gốc VN của 12 con giáp, có lẽ gần nhất là tiếng Mường Cổ mà thôi. Thêm vào đó là những học giả ‘có uy tín’ trong nước như Trần Trọng Kim, Đào Duy Anh, Hoàng Xuân Hãn … cũng như các học giả TH đều viết nhiều về văn hoá VN nhưng đều hàm ý nguồn gốc TH của 12 con giáp, tuy không ai dựa trên dữ kiện ngôn ngữ học cả và đa số dựa trên tài liệu lịch sử và văn chương cổ điển. Ngôn Ngữ Học nói chung, và Âm Ngữ Học Lịch Sử (Historical Phonology) nói riêng là những ngành học khá mới mẻ ở VN và TH. Như đã viết ở phần 1, ta đã thiết lập liên hệ Mão/Mẹo/mèo, Ngọ/ngựa và Tý/Tử/chuột. Dựa vào cách cấu tạo chữ Hán, cũng như kết quả mà các tác giả phần trên đã dầy công nghiên cứu, ta có thể khám phá thêm một số chi tiết mà các vị trên chưa biết tới, có lẽ vì không biết đến tiếng Việt Cổ chăng ? Thí dụ như chi thứ 9 là Thân có liên hệ gì đến con khỉ VN ? Nếu ta xem cách viết chữ Thân viết bằng bộ điền với nét giữa dài hơn, giọng BK bây giờ là shēn (viết theo pinyin), được phục hồi âm cổ với dạng *khrin (Li Fang-Kuei 1971, William Boltz 1991), hay dạng *hljin (William Baxter11 1992 - để ý phụ âm r và l dễ hoán chuyển cho nhau). Nếu xem cách viết chữ khôn (một trong bát quái, một căn bản của Kinh Dịch có từ thời Thượng Cổ) thì ta thấy bộ thổ hợp với chữ Thân hài thanh (HT). Đây là liên hệ trực tiếp giữa Thân và khôn, tuy nhiên tiếng Việt Cổ có chữ khọn là con khỉ12 (theo “Đại Nam Quốc Âm Tự Vị”/ ĐNQATV, Huỳnh Tịnh Của, 1895 - lặp lại trong cuốn “Từ Điển Từ Việt Cổ”, Nguyễn Ngọc San, Đinh Văn Thiện 2001). Thành ra Thân chính là khỉ, tiếng Việt Cổ, dầu rằng biến âm th-kh rất hiếm13 vì âm thanh thay đổi qua hơn hai ngàn năm từ một gốc chung, sau đó lại gặp nhau trong tiếng Việt - so với liên hệ rất thường gặp từ tiếng TH qua tiếng Việt như sh-th của shuĭ BK/thuỷ HV (nước), shén/thần, shèn/thận (- trọng), shěn/thẩm (biết), shàn/thiện, shí/thập, shì/thích, shù/thụ (cây)…phản ánh quá trình tiếng TH nhập vào tiếng Việt thời Đường Tống một cách có hệ thống hơn. Tàn tích của biến âm th-kh còn thấy trong tiếng Việt như khoá/toả, khâu/thêu, khắp/tạp … Còn Dần có dính líu gì đến cọp ? Dần HV viết bằng bộ miên, giọng BK bây giờ là yín, jan4 QĐ, Hẹ là jin2, rin2 – xem cách viết cổ thì thấy hình mái nhà (bộ miên) với một người ở trong đang dâng lễ vật bằng hai tay đưa lên (hàm ý cung kính). Thật ra nghĩa thông dụng của dần trong tiếng TH hiện đại là kính trọng. Các âm tương ứng với yín BK bây giờ trong tiếng Việt thường là d- như yín (dâm), yíng (doanh), yóu (du), yòu (dụ) … tuy nhiên có những trường hợp yín BK tương ứng với âm ngạc sau (postpalatal) như yín/ngân (bạc), yín/ngâm (vịnh) … và yínyín là tiếng chó sủa (so với tiếng Việt ‘gấu gấu’) ..và đôi lúc mất hẳng âm đầu đi như yìn/ẩn, yīn/âm (lặng im) : âm viết bằng bộ khẩu hợp với chữ âm (thanh) HT hay bộ nạch (bệnh) cho thấy tiếng Việt còn duy trì dạng cổ hơn, đó là câm với âm ngạc sau k- , so với một cách đọc QĐ là ngam1- các dạng tương đương khác đáng chú ý là khản, khàn, khan. Các biến âm trên xẩy ra trong một thời gian rất dài, tuy nhiên khác với âm d- HV nhập vào tiếng Việt một cách có hệ thống hơn. Với cùng một nghĩa (dần,kính,cẩn), và dựa trên tàn tích của âm ngạc sau trong tiếng Việt (chứ không phải tiếng HV) cho ta đến một dạng âm cổ phục hồi của Dần là *kan, dạng này phù hợp với các dạng14 bây giờ của Dần trong tiếng saek, Thái, Khme … Nhưng liên hệ trong tiếng Việt và HV còn có a-e hay a-ê như hạ-hè, trà-che, hoạ-vẹ … và phá-bể, giá-kệ/kê, gà-kê … Thành ra *kan có thể là *kên hay *kênh. Dạng phục hồi *kênh tương ứng với tiếng Việt Cổ kễnh chính là con cọp, như vậy ta có liên hệ giữa tên con giáp Dần và tên con cọp. Câu ca dao sau nói lên phần nào vai trò con mèo (Mão/Mẹo) và kễnh trong văn hoá dân gian



“Mèo tha miếng thịt xôn xao
Kễnh tha con lợn thì nào thấy chi”



Ý tứ và cách dùng các con vật như mèo và kễnh như trong ca dao của VN trên thật là xa lạ với văn hoá TH. Qua các phân tách sơ khởi trên - và chỉ qua 6 liên hệ Mão/Mẹo/mèo, Ngọ/ngựa, Tý/Tử/chuột, Thân/khọn (khỉ), Dần/kễnh (cọp), Sửu/tlu (trâu) – ta thấy tên các con giáp càng gần gũi với tộc Việt hơn. Các lý giải phần sau sẽ cho thấy rõ hơn nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp sau khi đã tháo gỡ các lớp bụi thời gian cũng như cạo đi các lớp son phấn vô tình hay cố ý mà người xưa để lại trong ngôn ngữ.



4. Phụ chú



(1) Ta thường nghe nói tuổi chuột, tuổi con chuột hay tuổi Tý … các cách nói này đều cùng nghĩa là năm sinh vào năm con chuột (năm Tý). Thành ra có thể có nhiều bảng cùng chỉ 12 con giáp trong ngôn ngữ, từ tiếng HV đến tiếng ‘thuần Việt’ cho thấy sự phân cực thành văn chương BH so với BD…v…v… Lê Quý Đôn (1726-1784) trong “Vân Đài Loại Ngữ” (người viết có hai bản dịch : Trần Văn Giáp, NXB Văn Hoá Thông Tin 2006 và bản của các tác giả Phạm Vũ, Lê Hiền do Nhà Sách Tự Lực in) cũng không đề cập đến mèo mà ghi Tý là thỏ, điều này cho thấy hoàn cảnh phức tạp khi dùng tài liệu TH, nhiều khi không hợp với cách dùng thông thường của đa số quần chúng (văn chương BD). Trong cuốn tự điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes (1651) ra đời trước “Vân Đài Loại Ngữ” khoảng hai trăm năm, tác giả đã ghi nhận giờ mẹo là giờ mèo (con mèo). Nhìn bảng so sánh trên qua tiếng Saek Cổ và hiện đại, ta thấy Mão/Mẹo hiện diện trong ngôn ngữ cổ hơn, như thỏ (nhập từ tiếng TH) bắt đầu có mặt trong tiếng Xiêm . Trên phương diện tín ngưỡng dân gian, có người tin rằng có những tuổi hợp và khắc nhau (tạo ra bao nhiêu tình duyên ngang trái) kết hợp thành nhiều trường phái ‘bói toán’, chỉ làm tên 12 con giáp ở sau ‘hậu trường’ trở nên ‘bất tử’ mà thôi.



(2) Theo tác giả Thường Tuấn (Đại Học Thượng Hải) trong cuốn “Văn Hoá về 12 con giáp”, NXB Tổng Hợp Thành Phố HCM, 2005 thì 12 con giáp đã có trước đời Hán, nhưng từ các dân tộc thiểu số. Như cuốn “Nhật Thư” của Tần Trúc Giản được khai quật vào năm 1975 ở Hố Bắc cho thấy 12 con giáp đã lưu truyền từ thời kỳ Tiên Tần và dùng để bói toán. 12 con giáp gồm có chuột, trâu, cọp, thỏ (khuyết), sâu bọ, hươu …



(3) Theo “An Nam Dịch Ngữ” Vương Lộc giới thiệu và chú giải, NXB Đà Nẵng, Trung Tâm Từ Điển Học - Hà Nội – Đà Nẵng 1995.



(4) Theo “Từ Điển Mường-Việt” Nguyễn Văn Khang (chủ biên), Bùi chỉ, Hoàng Văn Hoành (2002) – NXB Văn Hoá Dân Tộc – Hà Nội.



(5) “L’Origine du cycle des douzes animaux au Cambodge” tác giả George Coèdes viết trong Toung pao XXXI (1935), trang 315-329. Ông có nhiều khảo cứu về ảnh hưởng văn hoá Ấn Độ trên vùng Đông nam Á như qua bài “Inventaires des Inscriptions du Champa” từ nă m 1908 (BEFEO VIII) và cuốn “The Making of South East Asia” (tựa đề nguyên thuỷ là “Les Peuples de la Péninsule Indochinoise” Paris 1962) dịch ra tiếng Anh bởi giáo sư H. M. Right, University of California Press 1966.



(6) “Some Old Chinese loan words in the Tai languages” bài viết của giáo sư Li Fang-Kuei trong bộ ‘Harvard Journal of Asiatic Studies’ 8:333-342 (1945)



(7) “Austro-Thai Language and Culture” (1975) tác giả Paul K. Benedict bổ túc bài viết từ năm 1967 thành sách đề nghị họ (ngữ hệ) Nam-Thái trong vùng Đông Nam Á đã cho văn hoá TH mượn nhiều từ mà ít người biết đến.



(8) “A note on the origin of the Chinese duodenary cycle” bài viết của Jerry Norman (1985) trong cuốn ‘Linguistics of the Sino-Tibetan area – the state of the art’ (Pacific Linguistics, Series C – No. 87). Một học giả chuyên về tiếng Hán Cổ, đã từng viết cuốn “Chinese” khá phổ thông (NXB Cambridge University Press, 1988)



(9) Xem ghi chú (C) phần 2 bên trên.



(10) “Tiếng Việt Tuyệt Vời – âm m trong tiếng Việt” Nguyễn Cung Thông (1996) xuất bản ở Melbourne (Úc). Cuốn sách ghi lại hiện tượng m chỉ các bộ phận trên mặt con người thường bắt đầu bằng âm môi m : mắt-mặt-má-môi-miệng-mồm-mõm-mụn-mí .mi, mày, mép … Tiếng Mường cũng có hiện tượng m y như tiếng Việt, thêm vào đó là các từ chỉ người Mường như mường, mol cho thấy một liên hệ đặc biệt đến âm m. Hiện tượng m là một cánh cửa hé mở cho thấy tiếng Việt có thể thuộc vào họ Môn-Khme gồm có nhánh Việt-Mường. Vị trí của tiếng Việt Cổ và ngữ hệ là một yếu tố quan trọng để tìm về nguốn gốc tên 12 con giáp, nhớ rằng cách đây trên 2000 năm tiếng Việt (Cổ) rất khác tiếng Việt hiện đại. Ngoài ra, đầu năm 2006 ở SàiGòn, người viết cho ra lò cuốn “Nguồn Gốc tên 12 con giáp – và các liên hệ Việt, Hán Việt với ngôn ngữ láng giềng qua tiếng nói - Tập 1” được phát hành rất giới hạn. Cuốn này là tập hợp nhiều bài viết trong nhiều năm trước và làm căn bản cho các bài viết này.



(11) “A Handbook of Old Chinese Phonology” tác giả William H. Baxter, NXB Mouton De Gruyter (1992).Tác giả dùng các vần trong Kinh Thi để phục hồi âm Hán Cổ. Các cuốn “Middle Chinese : a study in Historical Phonology” (1984) và “Lexicon of reconstructed pronunciation in early Middle Chinese, late Middle Chinese and early Mandarin” (1991) của Edwin G. Pulleyblank dùng làm tài liệu chính cho sự so sánh và phục hồi âm cổ tiếng Hán. Truyền thống phục hồi âm cổ dựa vào âm vận của Kinh Thi, Thiết Vận … bắt đầu khởi sắc từ các công trình nghiên cứu về âm Hán Cổ của Bernhard Karlgren từ năm 1915 (bài viết ‘Études sur la phonologie chinoise’ cũng là Luận án Tiến Sĩ của ông tại đại học Uppsala dựa vào “Thiết Vận” để phục hồi âm Hán Cổ) đến 1974 (bài ‘The book of Odes : Chinese text, transcription and translation”), nhưng có lẽ nổi tiếng nhất là cuốn “Grammata serica recensa” (1957). Để ý rằng các học giả trên đều đến từ nước ngoài TH như Baxter (Mỹ), Pulleyblank (Canada), Karlgren (Thuỵ Sĩ) … Có lẽ là người “phương xa” và với cách nhìn khách quan, khoa học hơn nên kiến thức về tiếng Hán Cổ gia tăng rất nhanh so với quá khứ.



(12) ĐNQATV (1895) ghi ‘làm tuồng mặt con khọn’, ‘làm con khọn (làm chẳng nên sự gì)’. Tự điển Việt-Hoa-Pháp (1937) của Gustav Hue cũng còn ghi nhận nghĩa này. Chữ Thân thường được dùng làm thành phần HT trong cách thành lập chữ Hán như hợp với bộ nhân nghĩa là suy rộng ra, hợp với bộ khẩu là rên la … thường đọc là shēn BK, nhưng hợp với bộ thổ thì lại đọc là kūn BK (khôn), hợp với bộ đại là yăn BK (yểm HV) và hợp với bộ vũ cho ra chữ diàn BK (điện HV).



(13) Tương quan giữa các từ HV như thân-cận-gần, thận-cẩn (thận trọng, cẩn trọng, cẩn trọng), thiên-kiên, thì-thị-kỷ … tuy cách viết khác nhau nhưng đọc giống và nghĩa cũng gần nhau – có thể là tàn tích của liên hệ th-k/kh HV hay sh-kh BK thời Tiên Tần trước khi các chữ viết được thống nhất. Có thể chúng có cùng gốc nhưng vì sự phát triển của ngôn ngữ và biên gìới (thêm các tiếng địa phương) nên mang những dạng khác nhau để phù hợp với các chức năng mới. Ta thấy một khuynh hướng tương tự khi so sánh tiếng Mường và tiếng Việt : khầng-sừng, khảu-sáu, khay-say, khàinh-sườn, khã-sữa, không-sông …(sđd). Nếu tiếng Mường bắt đầu tách khỏi tiếng Việt sớm nhất từ thời Hán thì phù hợp với tương quan shēn-kūn BK đã nói ở trên trong tiếng Hán Cổ.



(14) Dần có thể coi như tương đương với kính (jìng BK) như cách viết cổ cho thấy – thành ra *kinh có thể là một dạng âm cổ phục hồi – và cũng liên hệ đến kễnh như trên. Jìng BK viết bằng bộ khuyển hợp với chữ cánh HT, là kính HV, nghĩa là một loài hổ dữ tợn đến nỗi ăn thịt mẹ nó sau khi sinh ra ! Theo người viết, kính có thể liên hệ đến kễnh. Ngoài ra, trong tiếng TH hiện nay có một chữ rất hiếm viết bằng bộ hổ hợp với chữ khứ (đã qua, đi), giọng BK bây giờ là kǎn, hǎn, QĐ ham2 … có nghĩa là loài hổ trắng, hổ giận dữ, tiếng hổ gầm … Có thể là tàn tích của khan/kan hay kễnh. Một chữ cũng rất hiếm là khư viết bằng bộ khẩu hợp với chữ khứ nghĩa là ngáp, qū BK, keoi1 QĐ và Hẹ ki1, kiap7 …cho thấy tàn tích các âm ngạc sau còn được duy trì trong tiếng địa phương (Nam TH). Như đã nói trong bài viết trước (phần 1), các từ có nguồn gốc phương Nam không được dùng và trở nên đào thải trong vốn từ TH hiện đại. Một trong những cách nghiên cứu về nguồn gốc tên 12 con giáp là tìm ra những từ Hán Cổ hiếm hay rất ít khi dùng để xác định âm và nghĩa gốc khi so sánh với các ngôn ngữ phương Nam.

Oan Thố/ thỏ Miễn Miễn Miễn

(từ bỏ) (gắng) (thỏ con)
冤 兔 免 勉 女勉



(5) Nguồn gốc oan trái của tên 12 con giáp


Sau khi đã lượt qua các tương ứng giữa tên Hán-Việt/HV của 12 con giáp và tên gọi các con thú trong tiếng Việt, ta thấy một liên hệ rất rõ nét. Đây thật là một sự khám phá bất ngờ so với đa số quan niệm từ trườc đến giờ (qua bao ngàn năm) và từ Đông sang Tây rằng tên 12 con giáp có nguồn gốc TH. Nguồn gốc oan trái này lại thêm oái ăm khi chính nguồn gốc chữ oan HV cho ta một cách chứng minh về chủ nhân của tên 12 con giáp. Như đã viết nhiều lần, tên 12 con giáp của VN khác với TH và dĩ nhiên các nước Á Châu khác (bị ảnh hưởng của TH) ở chỗ chi Mão/Mẹo chỉ con mèo chứ không phải con thỏ. Điều này được xác định rõ ràng từ thời Vương Sung (sinh năm 27- chết năm 97 đời Hán, thiên Thiên Sinh Luận của “Luận Hành” ) liên tục cho đến nay. Như vậy nếu ta có thể chứng minh rằng chi Mão/Mẹo đã từng chỉ con mèo, thì bài ‘toán đố nguồn gốc tên 12 con giáp’ đã có được một lời giải rồi, không cần phải so sánh và khôi phục từng âm cổ cùng phân tách các chữ viết thời thượng cổ. Chữ Oan HV viết bằng bộ mịch (bao trùm lấy) hợp với chữ thố ở dưới, giọng Bắc Kinh/BK bây giờ là yuān là một dạng của wan (‘quan’ đọc theo giọng Nam, hay oan). Có hai cách giải thích về cách cấu tạo chữ oan : thứ nhất là nắp đậy biểu thị sự giới hạn đi lại của con thỏ do đó hàm ý oan trái cho con thỏ bị giam lại. Cách thứ hai dựa vào sự viết giống nhau giữa chữ thố và chữ miễn – hai chữ này không có sự phát biệt trong văn tự cổ thời Xuân Thu (770-476 TCN, theo cuốn “Ngữ Lâm Thú Thoại” Triệu Bá Bình, Thời Học Đưòng chủ biên 2005, NXB Văn Hoá Thông Tin). Chữ thố có thêm một nét (dấu phẩy) để chỉ cái đuôi con thỏ. Hai chữ bây giờ chỉ khác nhau có một nét nhỏ nhưng đọc và nghĩa khác nhau rất nhiều. Tuy nhiên, chữ thố trong bia khắc thời Hán và chữ miễn trong đề tự khắc hoạ ở nhà thờ Vũ Lương thời Đông Hán đều nói “Thần phục kiếm từ, dĩ thố kỳ tử” (dĩ miễn kỳ tử hay dĩ miễn kỳ tử là khích lệ con cái, sđd). Miễn HV hay vấn HV (biến âm m-v) đọc là miăn, wèn BK bây giờ so với min5, man6 Quảng Đông/QĐ. Thành ra miễn và thố không những cùng cách viết mà cùng âm đọc giống nhau thời Xuân Thu, hay người xưa đã dùng âm đọc miễn để biểu thị chữ oan (thành phần hài thanh/HT). Do đó oan là bị nắp đậy và nhận oan khuất, chịu oan vậy. Theo người viết thì miễn còn là một dạng cổ của mãn – trong vốn từ hiện tại của tiếng TH không còn dùng nữa, mà tiếng Việt (Cổ) nghĩa là con mèo. Nghĩa này được ghi trong tự điển Việt-Hoa-Pháp (Gustave Hue, 1937) và Việt Nam Tự Điển (1954). Thật ra có những chữ rất hiếm như man viết bằng bộ khuyển hợp với chữ man HT (tần số dùng là 9 trên 171894734) hay bộ trĩ hợp với chữ man HT … đều đọc là man, đều có nghĩa là con mèo hoang (lynx, theo Wieger trong “Chinese Characters”). Thành ra, man hay mãn đã từng hiện diện trong tiếng TH và có nghĩa là con mèo., và thố đã từng đọc giống như vậy. Tại sao thố lại đọc giống như mèo (miễn ở trên, hay miêu HV bây giờ) ? Có thể là hình dạng và thể chất giống nhau nên khi khắc hay viết rất khó phân biệt chăng ? Nhất là thời Xuân Thu khi chữ viết TH còn lộn xộn và có nhiều chữ tượng hình hơn lúc nào hết ? Đến thời Tần Thuỷ Hoàng (221-207 TCN) thì thừa tướng Lý Tư mới bắt đầu thống nhất các cách viết. Biến âm -iê- và –a- ít thấy như trường hợp miên-man còn tàn tích trong các từ kiền-can, miên-man-mên (như Cao Miên là Cao Man/Cao Mên), triều-trào, hiệp-hạp-hợp, kiêu-cao, yên-an, hiếu-háo, di-dái, dị-dài, phi-bay, chỉ-giấy, vi-vây … đây là khuynh hướng biến nguyên âm trước (front vowels) thành những nguyên âm sau (back vowels) và mở rộng/tròn miệng hơn. Phụ âm mũi ở cuối –n của mãn đã mất đi để ta có Mão/Mẹo/mèo : khuynh hướng đơn giản hoá này (contraction) thường gặp trong tiếng Việt và tiếng TH như chun/chui, miến/mì, bác/bá, hùm/hổ, anh ấy/ảnh … wàn/mò BK (muôn/vạn/man), màn/mò BK (màn che) míng/mì BK (u ám, tối), shăn/xiàn/xiá BK (Thiểm, tỉnh Thiểm tây) …v..v.. Ngay chữ mội HV (nghĩa là dơ bẩn) viết bằng bộ thuỷ hợp với chữ miễn HT còn có thể đọc là miễn - giọng BK bây giờ là měi, mán, măn, màn so với giọng QĐ mui5 … cho thấy khuynh hướng rút gọn âm cuối. Do đó ta có thể giải thích liên hệ mãn/Mão/Mẹo/mèo. Còn thanh điệu thì phức tạp hơn, nhưng để ý một chữ đã hiện diện rất lâu đời trong tiếng Việt là mộ, mồ, mô và mã HV (mù, mú BK) : bốn thanh điệu cho thấy chuỗi dài thời gian đã trải qua cũng như bốn thanh điệu của mãn/Mão/Mẹo/mèo và meo (tiếng kêu của con mèo), so với ngấm/ngẫm/ngầm/ngâm và ngậm (hàn, hàn BK hàm HV). Một điểm đáng chú ý là một cách ghi âm miễn, miện, mãn/vãn (hay miăn BK) là dùng chữ miễn (tránh khỏi) trong cách thành lập các chữ Hán, thì dụ như miễn (chữ miễn hợp với chữ lực nghĩa là khuyên cố gắng), vãn (bộ thủ hợp với chữ miễn, nghĩa là kéo lại - biến âm m-v), vãn (bộ nhật hợp với chữ miễn, nghĩa là buổi chiều) …. Còn thố (tù BK) không thấy dùng làm thành phần HT trong vốn từ TH hiện đại trừ cỏ thỏ ti (thỏ ti tử) viết bằng bộ thảo hợp với chữ thỏ dùng làm thuốc. Miễn viết bằng bộ nữ hợp với chữ miễn (gắng) là một chữ rất hiếm thấy, nghĩa là thỏ con, đây là một gạch nối giữa miễn và thỏ được thấy trong cách viết cổ. Ngoài ra một chữ Hán rất hiếm nữa viết bằng bộ khẩu hợp với chữ diện (mián BK, HT) cũng tương đương với chữ miễn viết bằng bộ khẩu hợp với chữ miễn HT cho thấy cách đọc chữ miễn thời xưa. Thỏ rất gần gũi với tộc Hán, khác với mèo (xem bài viết riêng về chi Mão/Mẹo cùng tác giả) trong văn hoá dân gian của tộc Việt : cả hai con đều mang vài đặc tính tiêu cực phản ánh qua ca dao tục ngữ như “ăn như mèo ngửi”, “nhát như thỏ đế” … chứ không tao nhã như “ngọc thỏ” (con thỏ ngọc chỉ mặt trăng), hay “..mang giầy thỏ, chạy được nhanh..” trong văn hoá TH.

Tóm tắt các dữ kiện ngôn ngữ trên ta thấy thỏ có thể được dùng để thay cho mèo thời Tiên Tần để gần với dân tộc Hán hơn, rồi càng ngày 12 con giáp càng được dùng trong các hoạt động bói toán và tín ngưỡng, chiếm một địa vị quan trọng trong các nền văn hoá Á Đông – xa hẳn với tên các loài cầm thú đã tạo ra chúng. Điều này là một hiện tượng rất tự nhiên của ngôn ngữ cho thấy tính chất quy ước của con người khi sống chung với nhau. Chính vì tiếng Việt còn duy trì con mèo cho chi Mão/Mẹo (qua khẩu ngữ) mà ta có thể lập luận rằng nguồn gốc tên 12 con giáp chính là từ tiếng Việt Cổ, ít nhất là vào thời Tiên Tần. Các cách viết chỉ là những ký hiệu ghi nhận lại âm đọc thời bấy giờ mà thôi. Không biết có phải Tàu mượn thẳng từ tiếng Việt Cổ qua giao lưu văn hoá với nhóm Bách Việt, khi nhóm Bách Việt còn hùng mạnh, nhớ là tộc Việt thuộc vào nhóm Bách Việt cũng như các nhóm Hẹ, Tiều … đã phải di chuyển đến các miền biển vì áp lực phương Bắc quá mạnh; Hay là qua các quan lại gốc Việt làm việc trong triều đình TH thời đó đã cố ý “gài” các chữ Việt Cổ để cho hậu thế học hỏi ? Có một điều dễ nhận ra là các từ Việt Cổ trong TH càng ngày càng bị đào thải (như đã viết từ phần trước), cũng như một số từ bị đổi làm cho việc nhận ra tên cổ của 12 con giáp trở nên rất khó khăn. Thêm vào đó là số lượng tài liệu viết bằng chữ Hán rất phong phú, hợp với ảnh hưởng quan trọng của các triều đại Hán, Đường - khi văn hoá Bách Việt đã chìm sâu vào dĩ vãng và văn hoá TH trở nên nổi bật – và chính các thời đại này mà 12 con giáp bắt đầu du nhập vào các nườc chung quanh TH. Quá trình giao lưu văn hoá (trong đó có cách tính năm, tuổi, bói toán, phong thuỷ, thập nhị chi và thập can…) hầu như một chiều này làm cho ta cứ tưởng rằng tên 12 con giáp là từ tiếng TH chứ không phải tiếng Việt, thật là một điều oan trái vậy.

Doremon360
21-08-2007, 12:03 AM
(^_^) Cám ơn Ganda đã sưu tầm bài viết này !!!

ganda
21-08-2007, 01:23 PM
Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp
(phần 3)


Nguyễn Cung Thông

24 tháng 08 năm 2006



1. Giới thiệu tổng quát


Từ các bài viết trước (phần 1, 2 – xem lưu trữ tháng 6/2006 trên khoahoc.net) ta đã thấy một số liên hệ sơ lược của tên 12 con giáp như Tý/Tử/chuột, Ngọ/ngựa, Mão/Mẹo/mèo, Dần/*kian/kễnh (cọp), Thân/Khon/khọn (khỉ), Sửu/*ch-lư/klu/tlu (trâu). Phần này sẽ tóm tắt các tương quan còn lại giữa tên 12 con giáp và tên gọi các con vật trong tiếng Việt, Việt Cổ. Một lần nữa, nguời viết sẽ tránh dùng các thuật ngữ để bài viết dễ đọc và dễ cảm thông hơn. Với những tài liệu bằng chữ Hán, Nôm, Việt và ngoại ngữ hầu như đều hàm ý rằng nguồn gốc Trung Hoa (TH) của tên 12 con giáp, nên vấn đề đặt lại nguồn gốc không dễ dàng cũng như vượt qua bức tường rất cao và dày của ‘định kiến’ này qua bao ngàn năm. Chúng ta hãy xem vài vết tích của tiếng Việt trong tiếng Hán (Cổ) để thấy khuynh hướng biến dần đi của vốn từ phương Nam trong tiếng TH hiện đại qua các tên chỉ loài vật như ong, bướm …v..v… Nhắc lại rằng trong Phần 1 chúng ta đã duyệt qua tiếng cóc, voi, vịt, chuồn (chuồn) đã từng hiện diện trong tiếng TH dù rằng ít thấy. Từ khuynh hướng gọi tên các động vật, hi vọng chúng ta sẽ thấy rõ hơn tại sao tên 12 con giáp lại rất gần gũi với tộc Việt chứ không phải của TH như từ trước đến nay như mọi người đều lầm tưởng ! Ý thức được rằng sự thay đổi một định kiến đã nằm sâu trong xương tuỷ chúng ta từ bao ngàn năm nay thật là khó khăn, tuy vậy sự thật vẫn cần phải được đưa ra ánh sáng để các cuộc nghiên cứu trong tương lai có thể kiểm nghiệm một cách nghiêm túc, khách quan và theo đúng phong cách của khoa học hiện đại. Các bài viết 1, 2 và 3 chỉ tóm tắt rất sơ lược quan hệ tên 12 con giáp, những bài viết sau sẽ chi tiết hơn và phân tích từng tên mỗi con để thấy rõ nét các mối dây liên hệ đến tộc Việt. Phiên âm giọng Bắc Kinh theo lối Phiên Âm (pinyin) thường gặp hiện nay.



2. Tiếng Việt và tiếng Hán Cổ (hay tiếng Hán Cổ trong tiếng Việt)


2.1 Ong là động vật có nhiều gắn bó với văn hoá VN qua các thành ngữ như “nuôi ong tay áo” và ‘chạy như ong vỡ tổ”… cho thấy tâm lý con người. Danh từ ong được dùng 8 lần trong truyện Kiều so với bướm (7 lần)



“Tiếc thay một đoá trà mi

Con ong đã tỏ (mở) đường đi lối về” (câu 845-846, Kiều)



Ong viết bằng chữ Nôm thường gặp là bộ trùng hợp với chữ phùng (gặp) hài thanh (HT), chữ này cũng chính là phong Hán Việt (HV) nghĩa là con ong - giọng Bắc Kinh (BK) bây giờ là feng1, Quảng Đông (QĐ) là fung1, Hẹ là fung1, bung1 … cho thấy tương quan ong-phong rất đặc biệt, có thể là cùng một gốc như qua các tương quan ông-công, ung-muống. Ông (bà) HV viết bằng bộ vũ hợp với chữ công, giọng BK bây giờ là weng1, weng3 so với jung1 QĐ, wung1, vung1 Hẹ và ong1 (Ngô), ang1 (Minnan/Đài Loan). Ngôn ngữ TH hiện nay không có nhiều tiếng bắt đầu bằng nguyên âm a, e, i/y, o/ơ, u … như tiếng Việt – các âm đầu này thường bị môi hoá hay ngạc hoá thành các dạng wu-, wo-, ya-, yu- … và biến đổi nhiều hơn để trở thành vo-, vu- (âm Hán thời Trung Cổ còn âm đầu v-) và fo-, fu- hay mo-, mu- … Thí dụ như úng HV (cái vò, hũ) viết bằng bộ ngoã (ngói) hay phữu (đồ sành) hợp với chữ ung HT, giọng BK bây giờ là weng4, yong1, yong2, yong3 so với giọng QĐ ung3, ngung3, ong3 và Hẹ là wung5, vung5 – so với ong1 (Ngô) và ang3 (Minnan). Có khi môi hoá để trở thành âm môi môi (phụ âm m) như ung HV, weng4/yong1 BK, ung3/ngung3 QĐ, wung5/jung1/rung1 Hẹ … mà tiếng Việt là rau muống. Thật ra chữ ong viết bằng ông HT là một chữ hiếm trong vốn từ TH hiện nay, tần số dùng1 là 21 trên 237243358, viết bằng bộ trùng hợp với chữ ông HT, giọng BK bây giờ là weng1, weng3 so với jung1 QĐ và vung1 Hẹ nghĩa là con ong vò vẽ. Chữ này đã có từ lâu, ít nhất là thời Hán khi Hứa Thận ghi lại trong Thuyết Văn Giải Tự là “…ông, trùng tại ngư mã bì giả…”. Khuynh hướng hiện nay dùng điệp từ (từ ghép) của tiếng TH làm nguồn gốc của phong (con ong) khó được nhận ra : như mìfeng1 (mật phong, nghĩa là con ong) hay huàngfeng1 (hoàng phong), măfeng1 (mã phong) chỉ con ong vò vẽ. Thường thì các từ HV như phòng, phóng, phụng, phủ, phi, Phật … có âm cổ hơn còn duy trì trong tiếng Việt là buồng, buông, bưng, búa, bay, Bụt … rất khác với liên hệ phong-ong. Một số tác giả như Lê Ngọc Trụ (“Tầm Nguyên Tự Điển VN” 1993) cho rằng ong có gốc là phong, nhưng ngược lại có một số tác giả khác lại cho rằng phong HV (feng1 BK) có gốc là ong (như theo Paul Benedict2 trong “Austro-Thai Language and Culture” 1975).



2.2 Bướm thường thấy qua từ láy ‘bươm bướm’ hay với nghĩa rộng hơn trong cách dùng ‘bay bướm’. Chữ Nôm viết bướm bằng bộ khẩu hoặc bộ trùng hợp với chữ biếm, hay bộ trùng hợp với chữ phạp (viết ngắn đi). So với tiếng Mường Thạch Bi là pươm, pướm (theo từ điển Mường-Việt, NXB Văn Hoá Dân Tộc, Nguyễn Văn Khang chủ biên, Hà Nội 2002), pung khamu (tiếng Môn), pung paq3 (Danaw), pungpaq (Riang), paipyang (Thái), pam pam (Khamu) … Trong vốn từ TH hiện nay có chữ péng BK, bang1 QĐ viết bằng bộ trùng hợp với chữ bằng HT (thành ra có thể đọc là bằng, bồng), theo người viết thì chữ này là tàn tích của âm bướm rất hiếm thấy so với các chữ dié BK (điệp HV), hú BK (hồ HV) hay chữ ghép hồ điệp đều có nghĩa là con bướm. Tuy nhiên, cũng trong vốn từ TH hiện nay ta còn thấy péng BK hay pung4 QĐ, pung2 Hẹ viết bằng bộ trúc hợp với chữ phùng HT có nghĩa là cái màn che, cái buồm. Cái buồm tiếng HV là phàm, hay fán BK với phụ âm đầu b- chính là âm cổ3 của phụ âm f- (ph-) còn được duy trì trong tiếng Việt. Như vậy có liên hệ gì giữa hai từ bướm và buồm tiếng Việt ? Tiếng Việt có đặc điểm là âm thanh gợi nhiều hình ảnh như âm –ong cho thấy một hìng dáng cong cong, vòng, móng, tròng, lòng thòng, lòng vòng … Theo người viết thì cánh buồm xưa kia có hình cánh bướm và đây là mối dây liên hệ - so với cách dùng con diều (điêu HV, giọng BK là yáo, yào) có hình cánh con diều hâu vậy. Bướm là động vật có trước, sau đó các tàu bè mới dựa vào hình dạng cánh bướm mà làm ra *bườm hay buồm - với thanh huyền để cho khác biệt. Cách dùng thanh điệu để chỉ hai việc khác biệt nhưng lại có những điểm giống nhau thường gặp trong tiếng Hán Cổ mà vết tích còn trong tiếng HV và Việt như đo (động từ) và độ (cũng dùng làm danh từ), hành (làm, động từ) và hạnh (danh từ), truyền và truyện, phân và phần … so với đấy và đây, ngày hôm kia và ngày hôm kỉa/kìa, trôi/trổi/trồi/trội …v…v…



Tóm lại trong tiếng TH hiện nay còn một số tiếng Việt Cổ và càng ngày càng mất dần đi có thể vì hệ thống âm điệu khác nhau hay có thể vì khuynh hướng cố tình đào thải các tiếng phương Nam của các chế độ phong kiến phương Bắc chăng ? Trường hợp của tên 12 con giáp rất đặc biệt : chúng đã làm nền tảng văn hoá và tín ngưỡng dân gian qua bao triều đại, và gốc rễ có quá nhiều thành ra không thế lực nào có thể cắt đứt hay bóp méo được nền văn hoá bình dân này4.



3. Tên các con giáp còn lại



3.1 Thìn/Thần HV, giọng BK bây giờ là chén – âm này có thể tương ứng với các âm trần, trầm, thần HV. Ngoài ra, âm chén BK đã từng có âm họng sau (velar) kh- theo Thuyết Văn Giải Tự - hay thần đọc như là *khân, điều này được Jerry Norman ghi nhận trong bài “ A note on the origin of the Chinese duodenary cycle’ (trong cuốn “Linguistics of the Sino-Tibetan area” 1985). Phụ âm đầu kh- tương ứng với các dạng chỉ con trăn như tiếng Việt, tiếng Môn (klan, klon), Chrâu, Kơho (klăn) … Thêm vào đó là cách viết rất hiếm của chữ giao bằng bộ trùng hợp với chữ thìn bên phải có nghĩa là ‘.. hình dáng như con rắn nhưng lớn hơn và có sừng như rồng..” (Khang Hi Tự Điển, theo Norman). Các dữ kiện này có thể giải thích phần nào con vật tượng trưng cho chi này là rồng. Tuy nhiên, theo người viết nếu phục hồi âm cổ của Thìn/Thần là *tsri(a)n thì ta có thể hiểu được các dạng sau này như Thìn/Thần, tlan (âm r chuyển thành l) và trăn, lươn (âm ts- mất đi), rắn, trình (loài cá giống con lươn), rồng/long (nguyên âm o thay cho a như nôm/nam, vốn/bản…) và khuynh hướng đơn âm hoá để cho ra các dạng từ ghép như tlăn > thằn lằn, *tlian > thuồng luồng … Các loài vật này đều có hìng cong vòng như con rồng5. Tiếng Thái gọi năm Thìn là bpee ma rohng cho thấy vết tích của dạng rồng trong các ngôn ngữ phương Nam.



3.2 Tỵ/Tị HV, giọng BK bây giờ là sì so với zi6 QĐ, Hẹ là ze5, cih5, si5, su5… Trong cách viết/khắc cổ TH của tên 12 con giáp thì Tỵ và Hợi là các chữ tượng hình cho thấy rõ nguồn gốc loài vật, nếu không kể các chữ khác ghi lại hình cây, đồ vật…. Cũng như chữ (Hán) của tên 12 con giáp6 thường được dùng làm thành phần HT trong quá trình thành lập chữ mới, trừ Tuất ít được dùng. Như vậy là ta có 10 trên 12 tên con vật là loại chữ HT, hay khoảng 83 % so với hơn 90 % chữ Hán hiện đại là loại HT (có tác giả cho rằng tỷ số HT có thể đến 97 %). Loại chữ tượng hình càng ngày càng ít đi và càng khó nhận ra hình dạng nguyên thuỷ (qua các đợt chỉnh lý và đơn giản hoá). Chữ Tỵ còn được dùng để chỉ ngày lễ Thượng Tỵ cầu mát vào đầu tháng Ba của nước Trịnh, điều này cho thấy tên 12 con giáp có thể đã hiện diện từ thời Xuân Thu (770-476 Trước Công Nguyên/TCN). Âm cổ phục hồi của Tỵ là *zji? theo William Baxter (“A Handbook of Old Chinese Phonology” 1992), theo người viết liên hệ đến rít hay rết tiếng Việt. Kasit (tiếng Mường Ruc) nghĩa là con rít (rết, rệt) cho thấy dạng âm cổ *sit, so với giọng BK thì phụ âm cuối –t thường mất đi như guó BK (quốc HV, còn duy trì âm cuối –c), lì BK (lực HV), fó BK (Phật HV), shí BK (thập HV, mười), qi1 BK (thất HV, bảy), zhí BK (chất HV) … Còn phụ âm đầu s- thường biến thành t- khi nhập vào tiếng Việt cũng như các chữ khác như sài BK (tái HV, cửa ải), sàn BK (tán HV), shàn BK (thiện HV), shàng BK (thương HV), suí BK (tuỳ HV), sì BK (tự HV, chùa), sòng BK (tụng HV, kiện) … Như vậy sì BK (Tỵ HV) có cơ sở giải thích theo dạng rít Việt, thêm vào đó là tương ứng s-r khi ta so sánh tiếng Mường và Việt (như răng có âm cổ là *săng, theo Vương Lộc trong “An Nam Dịch Ngữ - giới thiệu và chú giải” 1995), và liên hệ đồng đại trong tiếng Việt như siết-riết, sít-rít, sầu-rầu, sờ-rờ, xà-rà, súc-rút, sầm-rầm, xẻo-rẻo…. Tiếng Việt còn có cách dùng rắn rít cho thấy hai loài vật này rất gần với nhau, là những loài sống trong hang hốc, bò sát và có thể rất độc hại. Thành ra Tỵ có thể đã từng là rít cũng không khó hiểu cho lắm; Các di tích tìm thấy từ thời Tiên Tần còn cho thấy sâu bọ cũng từng là tên của các con giáp (theo Thường Tuấn trong “Văn hoá 12 con giáp” 2005). Tiếng Thái bây giờ gọi năm Tỵ là bpee ma seng cho thấy dạng seng hay *săng (rắn).



3.3 Tuất HV so với giọng BK bây giờ là xu1, seot1 QĐ được tượng trưng bằng con chó. Để ý Tý/Tí/Tử liên hệ đến chuột với biến âm t-ch thì Tuất cũng có thể liên hệ đến chó (qua phụ âm đầu). Tiếng Hán có chữ chúc/túc HV rất hiếm1 viết bằng bộ khuyển hợp với chữ túc HT (chân, cẳng) nghĩa là con chó nổi tiếng - giọng BK bây giờ là què, hú, qiăo, răn so với zoek3, coek3 QĐ cok7, sit7 Hẹ … Chữ này là một tàn tích của Tuất hàm nghĩa chó trong vốn từ TH hiện đại. So sánh các từ chỉ chó như chọ (tiếng Mường), cho (Sakai, Boloven), chuô (Kháng), txo (Danaw), xoq1 (Wa), choq (Sơđăng), axu, chuak, chook (Môn), xo (Kơho, Stiêng, Chơro), achoq (Chứt), xor (Savana), cho (Laqven, Biat) …v..v… cho thấy tiếng Môn còn duy trì dạng chuak (hay tuất). Tiếng Thái bây giờ gọi năm Tuất là bpee jaaw (năm chó).

3.4 Mùi/Vị HV – cách dùng thông thường của Mùi cho thấy dạng âm cổ hơn so với Vị HV gần với giọng BK bây giờ là wèi, giọng QĐ là mei6, Hẹ là mui5, mui6, mui3, vui5, wui5, Ngô là vi6, Minnan (Đài Loan) là bi7 … Các phương ngữ TH cho thấy rõ các biến âm b-v, m-v, w-v … cũng hiện diện trong tiếng HV và Việt. Liên hệ m-v còn thấy trong các cặp muôn-vạn, múa-vũ, mùa-vụ, mựa-vô, mù-vụ, muộn-vãn … Các dạng âm cổ phục hồi theo Jerry Norman hay các tác giả trước đây như *mjôdh đều không giải thích được mối liên hệ đến dê, nhưng dựa vào cặp mùi-vị, ta có thể khôi phục một dạng cổ là *mvji(e), để ý nhóm phụ âm mv- đọc như và giọng Nam (tiếng Việt), và từ đó ta có một dạng nữa là dê. Ngoài ra, nếu để ý tiếng kêu đặc thù của loài dê là ‘be be’ hay mị HV, mie1, mi3, măi BK có nhiều cách viết khác nhau như dùng bộ khẩu, bộ dương (dê) cho thấy Mùi/Vị có thể có nguồn gốc tượng thanh – hay bắt chước tiếng kêu con vật cũng như chim cu, con quạ (ác), con mèo … cũng là một hiện tượng tự nhiên mà thôi. Tiếng Thái gọi năm Nùi là bpea ma mae tương đồng với dạng âm cổ *mvji trên.



3.5 Dậu HV so với giọng BK bây giờ là you3, jau5 QĐ … cũng chính là bộ thủ thứ 164 trong 214 bộ căn bản. Dậu và Tý (bộ thủ thứ 39) là hai chữ được dùng làm bộ thủ trong 12 chữ viết tên con giáp - điều này cho thấy sự quan trọng của các chữ và nghĩa này trong văn hoá TH. Nếu Tý hay Tử có nghĩa là con phản ánh liên hệ gia đình huyết tộc thì dậu biểu tượng cho rượu chè, một hoạt động căn bản của xã hội nông nghiệp. Tuy nhiên cả hai từ này đã bị ‘Hoa hoá’ quá lâu như trên nên chẳng thấy dính líu gì đến các loài vật ! Nhưng hình ảnh và các hoạt động con người từ từ lấn chiếm dần tên 12 con vật tổ (totem) này. Trong vốn từ TH hiện đại có chữ dậu HV, you3 BK viết bằng bộ điểu hợp với chữ hữu bên trái (rất hiếm) nghĩa là một loại chim giống loại trĩ, mà có thể coi như là loại gà (theo “VN Tự Điển” 1954), để ý rằng hai chữ trĩ và kê (gà) đều viết bằng bộ chuy (chim đuôi ngắn, bộ thủ thứ 171 trong 214 bộ). Theo người viết, đây là sợi dây gắn liền dậu và gà mà ta vẫn còn thấy vết tích trong chữ cổ (hiếm) TH. Thêm vào đó, một cách giải thích khác theo tác giả Jerry Norman (sđd, 1985) dựa trên kết quả nghiên cứu của André Haudricourt (1965) rằng các phụ âm v, d, g của tiếng Mường và Việt có thể là vết tích của các tiền tố cổ



Tiếng Việt - gà - gạo - vải

Mường - ka - kao - pai
Ruc -- rơka - rơko - kupal

Arem -- lak - -

May -- - - rơko - kơpai



Từ đó, Norman đưa ra dạng âm cổ phục hồi của gà là *rơka hay *ruka. Theo người viết thì quá trình mất tiền tố này cũng giống như dạng kasit cho ra *sit hay rít đã nói ở phần Tý trên. Tác giả Hồ Lê cũng ghi nhận gà là từ Nam Á (Austroasiatic) trong bài viết “Từ Nam Á trong tiếng Việt” (trong cuốn “Tiếng Việt trong nhà trường phổ thông và các ngôn ngữ dân tộc” NXB Khoa Học Xã Hội – Hà Nội 2002). Tiếng Thái gọi năm Dậu là bpe gai (năm kê hay gà) hay là bpee ra gaa (năm gà) phù hợp với các dạng Mường.



3.6 Hợi HV so với giọng BK bây giờ là hài, QĐ là hoi6. Âm cổ phục hồI có dạng *goi/kui - liên hệ của hợi và heo có thể thấy được qua tiếng Mường củi/kun/kul : phụ âm đầu h-k cùng vị trí phát âm nên dễ hoán chuyển cho nhau như hữu-có, hồ-cò (hồ cầm là đàn cò), Hùng-khun (vua/thủ lãnh dân Mường), Hán-khan (lãnh tụ), hộ-cửa, hơi-khói/khí, hầu-khỉ, hoá-của … Đại Nam Quốc Âm Tự Vị (Huỳnh Tịnh Của, 1895) còn ghi là “..cá cúi : thứ cá biển nhiều mỡ như heo, cũng gọi là heo biển; Heo cúi : tiếng đôi nghĩa là con heo..” (trang 201). Gỏi có thể đã từng làm bằng thịt heo, nhưng nghĩa đã mở rộng để chỉ cá, tôm, gà … trộn với rau. Theo Jerry Norman (sđd) thì gỏi có nghĩa là heo (tiếng Việt Cổ) ?? Không những Hợi liên hệ đến heo/lợn qua tiếng Mường hay Việt Cổ nhưng tàn tích có thể hiện diện trong vốn từ TH hiện đại. Có vài chữ mà theo người viết là các dạng khác nhau của Hợi hay *hị và *hệ (so sánh với các biến âm thi/thơ/thư, kỳ/cờ, thị/chợ, li/rời, di/dời, vị/bởi, ti/tơ, bị/bới/búi…). Chữ hê/hề/hệ với giọng BK bây giờ là xi1, hei1, sik1 QĐ viết bằng bộ khuyển hợp với chữ hí/hô/huy HT có nghĩa là con heo - chữ này rất ít thấy1 (hiếm). Một chữ nữa thường gặp hơn là hí HV so với giọng BK bây giờ là hei1, héi viết bằng bộ thỉ hợp với chữ hi HT – cũng chỉ con heo/lợn nhưng không thông dụng bằng các chữ khác như trư, thỉ, trề, ba … Vết tích của liên hệ hợi-cúi còn thấy trong chữ hui1 BK (hay hôi/huy/khôi HV) viết bằng bộ thỉ hợp với chữ thổ1 bên phải nghĩa là con heo. Tiếng Thái bây giờ gọi năm Hợi là bpee goon - để ý dạng cun là con heo của tiếng Mường – cho thấy tiếng Thái vẫn còn duy trì một số tiếng Việt Cổ và là một dây nối quan trọng để hiểu rõ hơn nguồn gốc tên 12 con giáp.



Như vậy là ta đã xem qua tên 12 con giáp, thoạt nhìn thì các từ HV Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi có vẻ như có gốc Tàu – nhưng tra kỹ ra thì thấy rõ những mối dây liên hệ với các ngôn ngữ phương Nam - đặc biệt nhất là tiếng Việt và Việt Cổ qua tiếng Mường và họ Môn-Khme. Điều này càng dễ hiểu nếu ta nhìn rộng ra các tên loài vật vẫn còn tàn tích trong vốn từ TH hiện đại, tuy càng ngày chúng càng bị đào thải vì hệ thống âm thanh không phù hợp hay vì các đợt ‘chỉnh lý’, ‘đơn giản hoá’ chữ viết cùng khuynh hướng cố tình bôi xoá ảnh hưởng từ phương Nam khi nền văn hoá này khởi sắc trước thời Tần. Với ảnh hưởng quan trọng của nền văn hoá TH từ đời Hán và sau đó từ đời Đường, Tống… với sức ép của nhóm thống trị từ phương Bắc tràn xuống, các tên 12 con vật tổ đã từ từ thay thế bằng hình ảnh con người, mang nặng màu sắc văn hoá TH hơn. Từ tính chất cụ thể của các loài vật láng giềng, 12 con giáp đã trở nên trừu tượng và còn ảnh hưởng đến vận mạng con người nữa (bói toán). Tuy nhiên, cái vỏ hào nhoáng của chữ Hán, Hán Việt không thể thay đổi được nền văn hoá bình dân (khẩu ngữ), trong đó dân ta vẫn khư khư coi mèo là biểu tượng của chi Mão ! Chính vì thế mà ta phải đặt lại vấn đề nguồn gốc của tên 12 con giáp, đúng theo tinh thần của người trước gói ghém trong câu



“Trăm năm bia đá thì mòn

“Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”



4. Phụ chú và phê bình thêm



(1) dữ kiện về tần số dùng của các chữ Hán hiện đại dựa vào tài liệu trên mạng Internet www.chinalanguage.com/cgi-bin/dict.php. Các chữ hiếm có tần số dùng rất thấp, thường rất ít gặp trong các tự điển hiện đại.



(2) Ong có âm cổ phục hồi hệ Nam Thái (Austro-Thai) theo Benedict là *bluung không phù hợp với các dạng QĐ, Hẹ, Việt. Nếu xem các cấu tạo chữ Hán, ta thấy ông thường đuợc dùng làm thành phần HT. Chữ này lại được viết bằng bộ vũ hợp với chữ công cho thấy dạng âm cổ ô- hay hô-, kô- … Xem qua các ngôn ngữ láng giềng ta thấy tiếng East Mnông có ?uong (? chỉ âm bật thanh quản/glottal stop) để chỉ con ong, so với ?ong (tiếng Mường, Bahna, Stiêng, Chrau, Kơho, Sơđăng) theo Paul Sidwell trong cuốn “Proto South Bahnaric” (2000). Sidwell ghi nhận âm cổ phục hồi của tiếng tiền Katuic (Proto-Katuic) là *hang, tiếng tiền Waic là *?ong, *anh, tiếng tiền Chàm là *hong so với huing (tiếng Môn), wong/wol (Riang), ong (Wa), on (Paluang), hong (Besisi), cong (Semang, một dạng Bahna). Các tương quan trên, nhất là từ các ngôn ngữ không có nhiều giao lưu với TH, cho thấy feng1 BK (phong HV) rất có thể là từ mượn từ các dân tộc ở phương Nam từ Thượng Cổ. Tiếng Thái có chữ pheungF đọc như phương tiếng Việt, có thể là ảnh hưởng của tiếng TH Trung Cổ - cùng thời với sự xâm nhập và phát triển có hệ thống của tiếng HV thời Đường Tống.



(3) Biến âm b-ph/f rất thường gặp trong ngôn ngữ như qua định luật Grimm trong họ Ấn Âu... Trên phương diện lịch đại ta thấy các cặp từ bỏ-phế, bài-phé, buồng-phòng, buông-phóng, bộ-pho, búa-phủ, bổ/bửa-phẩu/phẫu, bể-phá, bè-phái, bay-phi, bưng-phụng, buồn-phiền, buồm-phàm, bún-phấn, buộc-phọc, bèo-phiêu, bào-phao, Bụt-Phật … ngay cả trên phương diện đồng đại ta thấy bỏng-phỏng, bình-bịch hay bành-bạch, phành phạch … tuy không phổ thông cho lắm. Như vậy thì b- dẫn đến ph- hay ngược lại ? Nếu xem chữ Bụt (từ tiếng Phạn Budh-) để cho ra chữ Phật HV so với chữ Bụt đi thẳng vào tiếng Việt thì rõ ràng là b- đã hiện diện trước ph- . Ngoài ra khi dùng từ ghép trong tiếng Việt thì chữ có trước thường đi trước như buồn-phiền, bè-phái, bỏ-phế….. Thêm vào đó là các âm mạnh (strong sound) như b- có khuynh hướng trở thành âm yếu như p-, ph/f- hay âm vang trở thành âm điếc : hiện tượng này gọi là nhược hoá (lenition hay weakening).



(4) Thật ra thì đã có những hoạt động thay đổi hoặc ‘chỉnh lý’ các tên như người viết đã từng nêu lên trong bài viết (phần 2) : mãn (mèo) hay miễn thay bằng thố (thỏ), nhưng dân Việt vẫn khăng khăng giữ tên gọi Mão để chỉ con mèo chứ không dùng thỏ. May thay, chính văn hoá truyền khẩu lại duy trì được nghĩa nguyên thuỷ, chứ nếu dựa vào chữ Hán sau nhiều đợt ‘chỉnh lý’ thì có thể không truy được ngọn ngành cho thoả đáng !



(5) Tác giả Trần Ngọc Thêm trong cuốn “Cơ sở văn hoá VN” NXB Giáo Dục – Thành Phố HCM (1999) đã ghi nhận rồng xuất phát từ vùng Đông Nam Á và ảnh hưởng đến văn hoá TH (trang 135). Điều này phù hợp với dạng âm cổ phục hồi *tsri(a)n để cho ra các tiếng khác như trăn, rắn, rồng, lươn, thuồng luồng, thằn lằn …



(6) qua khung cửa rất nhỏ của tên và cách viết 12 con giáp, ta có thể tìm thấy nhiều dữ kiện đặc biệt của tiếng TH, tiếng HV, Việt … và qua các cách viết cổ của chúng, ta có thể tìm lại được phần nào nền văn hoá cổ đại của phương Đông như sự ‘kính nể’ các loài vật tín ngưỡng thờ các loài vật, dùng chúng làm totem ..v..v..


5. Đính chính và bổ túc


5.1 Vì phải tranh thủ thời gian để đánh các bài viết này, nên người viết không thể nào tránh được một số lỗi thông thường như bỏ dấu sai, thiếu/lộn nét, quá tóm tắt, ý mơ hồ … Thí dụ như trong phần 2 dòng 7 trang 1, gióng lên viết là ‘giống lên’; Trang 2 dòng 1 ‘on’ và ‘kun’ đổi cho nhau ..v..v… Khi đọc lại bài đánh thì trễ quá, bài đã lên mạng !


5.2 Đáng lẽ phải chêm một số chữ Hán để cho rõ nghĩa cho các bài viết này, nhưng vì đa số chữ Hán dùng trong bài viết là loại chữ hiếm không dễ dán vào, người viết vẫn còn đang tìm loại fonts cổ điển và thích hợp để giải quyết vấn nạn này. Tuy nhiên, hi vọng bằng cách ghi lại bộ thủ và thành phần HT, mức độ sai trái sẽ giảm thiểu tối đa.


5.3 Quý độc giả muốn trao đổi thêm ý kiến để chúng ta cùng học hỏi thêm, xin liên lạc với Ban Biên Tập của khoahoc.net hay người viết qua địa chỉ email nguyencungthong@yahoo.com, mong rằng “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao’ trong biển học vô cùng vậy.

ganda
28-08-2007, 07:02 PM
Sự Phát Triển Nghĩa và Tính Đa Nghĩa của Từ Công Cụ trong Tiếng Việt Hiện Đại
Bùi Khánh Thế
(buikhanhthe@hotmail.com)
Hochiminh University of Foreign Language and Information Technology, Vietnam


________________________________________
Tóm tắt

Bài viết này giới thiệu khái quát bức tranh toàn cảnh về tập hợp ngôn ngữ ở Việt Nam (THNN-VN) và cho thấy tập hợp các ngôn ngữ ấy được hình thành như thế nào. Mặt khác bài viết cũng nhấn mạnh quá trình hình thành ấy phản ánh các hình thái tiếp xúc ngôn ngữ diễn ra trên lãnh thổ Việt Nam ngày nay, bao gồm sự tiếp xúc giữa các thứ tiếng bản địa, có những mối liên hệ gần gũi nhau về nhiều mặt, và sự tiếp xúc ngoại hướng giữa các thứ tiếng bản địa với những ngoại ngữ khác.
Tiếp theo bài viết sẽ đề cập đến những biến đổi của các thứ tiếng trong THNN-VN mà tiếng Việt sẽ được tập trung chú ý, trong tiến trình phát triển của lịch sử - xã hội Việt Nam và qua sự tiếp xúc giao lưu văn hoá và ngôn ngữ.
Cũng như mọi nơi khác trên thế giới, sự TXNN ở Việt Nam xuất phát từ nhu cầu giao lưu (giao lưu văn hoá, kinh tế, mở rộng hoặc bảo vệ không gian sinh tồn, v.v) của các cộng đồng người nói những thứ tiếng khác nhau. Khi sự giao lưu mở rộng, việc nắm bắt ngôn ngữ không phải tiếng mẹ đẻ bằng con đường trực tiếp mô phỏng không đủ để đáp ứng nhu cầu. Vì vậy ở Việt Nam trong sự đa dạng của tình hình TXNN đã sớm hình thành lĩnh vực dạy học ngôn ngữ thứ hai. Phần cuối của bài viết sẽ điểm lại vắn tắt thực tế đó.

1 Giới thiệu


Lớp từ công cụ là lĩnh vực cần được đặc biệt quan tâm khi dạy-học tiếng Việt như ngoại ngữ. Lớp từ này trong tiếng Việt bao gồm ba nhóm: phó từ, tình thái từ và kết từ.

Nếu thực từ (notional words) là vật liệu thì kết từ (link words) là chất dính gắn kết các vật liệu lại để tạo thành kiến trúc câu. Việc dạy-học thực từ dựa trên nghĩa khái niệm, được qui chiếu vào các sự vật, sự kiện, sự tình hiện thực; còn việc dạy-học từ công cụ lại phải tuỳ thuộc vào chức năng của chúng trong khi tạo mối liên kết giữa các thực từ. Loại nghĩa này thường là trừu tượng, khó nắm bắt hơn nghĩa khái niệm.

Bài viết này nhằm bàn về các vấn đề liên quan đến kết từ, và trong chừng mục nhất định đi tìm câu trả lời thoả đáng cho câu hỏi “Như thế nào là nghĩa của kết từ, cũng như sụ phát triển nghĩa và tính đa nghĩa của kết từ?”. Hai kết từ ‘mà, bởi’ sẽ được phân tích để làm rõ quá trình đó trong tiếng Việt.

2 Những giới thuyết cần yếu


2.1 Sự phân loại vốn từ


Sự phân loại đầu tiên ở bậc từ vựng của bất kỳ ngôn ngữ nào cũng chia toàn bộ vốn từ ra thành hai khối lớn: từ định danh và từ công cụ. Tùy theo loại hình của từng ngôn ngữ mà tiêu chí của sự phân loại này có thể khác nhau về chi tiết, nhưng bao giờ cũng có điểm chung cơ bản là nghĩa. Những nét riêng có thể là hình thái - đối với các ngôn ngữ biến hình-, có thể là khả năng kết hợp đối với các ngôn ngữ đơn lập-, cũng có thể là đặc trưng ngữ âm, chẳng hạn có trọng âm hay không trong cả ngữ lưu…

Từ định danh ở đây được xem là tương ứng với từ từ vựng, thường được gọi là thực từ. Nghĩa của những từ thuộc khối này được nhận diện qua sự qui chiếu với một cái gì đó: sự kiện, sự vật, hành động, đặc trưng, thuộc tính, sự tình … “Một cái gì đó”, phần lớn là thực, dù cũng có trường hợp là phi thực, chẳng hạn thằng Cuội, bà tiên, hóa phép, âm phủ. Tuy nhiên những cái phi thực này trong sự hình dung của cộng đồng chủ nhân ngôn ngữ là thực hoặc “như là thực”.

Từ công cụ trong sự phân loại này về mặt thuật ngữ có thể xem tương ứng với hư từ, từ trống nghĩa (empty words, mots vides, leere Wưrter trong tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức, nhất là služebnye slova trong tiếng Nga). Là vế đối ứng với từ định danh, từ công cụ trong tiếng Việt bao gồm những từ như đã, đang, sẽ; bởi, mà, với, vẫn; à, ư, nhỉ, nhé. Những từ trong khối này tuy không có nghĩa quy chiếu như từ định danh, nhưng không thể xem là trống nghĩa. Bởi vì, nghĩa còn là “đặc trưng chung cho các tình huống khi một từ nào đó được nói lên thì tạo nên một sự phản ứng ở người nghe, và là tổng thể chức năng của các đơn vị ngôn ngữ” (Akhmanova O.S., 1966). Theo cách quan niệm như vậy, ngoài nghĩa ở các từ định danh còn có nghĩa của các từ công cụ. Trong tiếng Việt đó là nghĩa ngữ pháp, nghĩa quan hệ, nghĩa tình thái.

2.2 Sự phát triển nghĩa và tính đa nghĩa của từ


Sự phát triển nghĩa và tính đa nghĩa của từ có quan hệ chặt chẽ với nhau. Phát triển nghĩa của từ là một trong những phương thức đáp ứng tiến trình thường xuyên biến đổi của cuộc sống hiện thực, với những sự vật hiện tượng mới xuất hiện, nhu cầu diễn đạt mới nảy sinh. So với phương thức cấu tạo từ mới, phương thức phát triển nghĩa của từ có hai ưu điểm: (1) phương thức này có thể giúp cho vốn từ một ngôn ngữ giảm bớt sự cồng kềnh vì không nhất thiết lúc nào cũng phải bổ sung thêm các đơn vị mới cho hệ thống; (2) sự phát triển nghĩa của từ dựa trên nguyên tắc liên tưởng có thể góp phần vào quá trình rèn luyện phương thức tư duy của người nói, ví dụ như từ mũi. Từ này trong Từ điển An Nam – Lusitan – Latinh, Alexandre de Rhôdes (1651) chỉ có duy nhất một nghĩa, với 11 ví dụ đều liên quan đến bộ phận bên ngoài của cơ quan khứu giác, có vị trí ở giữa mặt và tương ứng với các từ nariz, nafus trong tiếng Bồ Đào Nha và Latinh (Bản dịch, tr.490). Gần 2 thế kỷ rưỡi sau trong Đại Nam Quốc Âm tự vị (Huỳnh Tịnh Paulus Của [HTPC]. 1895) mũi có 2 nghĩa “cái đầu lỗ thở, giô ra trên mặt (…); cái chi nhọn ló ra ngoài” với 30 ví dụ về nghĩa 1 và 20 ví dụ về nghĩa 2, trong đó gồm cả hai ví dụ mang tính thành ngữ, nay vẫn đang thường dùng (mũi đạn hay mũi súng và mũi dại lái chịu đòn). Gần một thế kỷ sau, từ mũi trong Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê [H.P]. chủ biên, 1988) được phát triển thành 8 nghĩa. Ngoài 4 nghĩa là sự chi tiết hóa 2 nghĩa vốn có trong Đại Nam Quốc Âm tự vị, còn có 4 nghĩa khác là sự phát triển các nghĩa gốc, như: “3. Chất nhầy giống như nước mũi …, 7. Bộ phận lực lượng có nhiệm vụ tiến công theo một hướng nhất định.” Đến thời điểm này từ mũi trong vốn từ cơ bản đã phát triển thành từ đa nghĩa.

Quan điểm về nghĩa trong ngữ nghĩa học (semantics) hiện đại, chúng ta đều biết, không chỉ dừng lại ở đây, mà còn được mở rộng ra cả phạm vi của ngữ đoạn (syntagms), ngữ cú (clauses) và câu (sentences) hay trên câu. Nhưng phần này của bài viết trước hết chỉ tập trung trong phạm vi nghĩa của từ.

2.3 Nghĩa của từ


“Nghĩa của từ liên quan đến nhiều nhân tố chứ không phải chỉ với sự vật mà nó qui chiếu, bởi vì không phải mọi ngôn từ đều có vật qui chiếu trong thế giới hiện thực, và các ngôn từ được dùng thay cho vật qui chiếu tương đương trong câu có thể làm biến đổi nghĩa trong câu nói chung” (Language Files, p.223). Quan điểm này cho phép ta rút ra mấy hệ luận sau:
a. Tìm hiểu nghĩa của từ, người nghiên cứu cần vượt ra ngoài khuôn khổ của mối liên hệ giữa từ và “cái gì đó” mà nó qui chiếu. Hệ luận này minh chứng thêm cho quan niệm được nêu trong bài viết này ở mục 2.1.
b. Cần xác định những nhân tố gì có liên quan, chi phối nghĩa của từ.
c. Sự biến đổi nghĩa trong câu có quan hệ gì đến sự biến đổi nghĩa của từ và nó có dẫn đến sự phát triển nghĩa của từ hay không? Hệ luận này sẽ được khai thác trong bài viết để làm sáng tỏ vấn đề nghĩa của khối từ công cụ.

3 Sự phát triển nghĩa và tính đa nghĩa của từ công cụ


3.1 Sơ đồ vốn từ tiếng Việt


Những điều thảo luận ở 2.1. được trình bày thành sơ đồ dưới đây:

http://images3.pictiger.com/thumbs/b9/83138753e4a57227447bf40e3a94dab9.th.jpg (http://server3.pictiger.com/img/1253944/picture-hosting/tiengviet.php)


Sơ đồ 1: Sơ đồ vốn từ tiếng Việt

Chú thích
1. Bài viết này tập trung bàn về khối lượng từ công cụ. Vì vậy về khối lượng từ định danh (có ngữ nghĩa từ vựng, nghĩa qui chiếu) chỉ nêu lên các ký hiệu qui ước ____ , hoặc khả năng có thể tồn tại -----.
2. Khối từ công cụ trong sơ đồ này gồm ba nhóm Phó từ (PT), tình thái từ (Th.T) và kết từ (KT).
3. Cách gọi phó từ ở đây chỉ mang tính chất ước lệ và được xem như một thuật ngữ để tạm xếp nhóm, tiện cho sự phân loại: Đó là những từ như đã, đang, sẽ; cũng, vẫn … Gọi ước lệ và tạm, vì xung quanh nhóm này đã từng bàn và đang còn nhiều vấn đề để bàn từ tên gọi cho đến tác dụng ngữ nghĩa. Nhưng đó không phải là đối tượng thảo luận của bài viết này và có thể đề cập đến trong một dịp khác.
4. Nhóm từ tình thái có vai trò quan trọng trong việc tổ chức nghĩa, là linh hồn của câu nói. Từ tình thái trong tiếng Việt đã được bàn đến khá nhiều, nhất là được khảo sát kỹ trong các luận án tiến sĩ .
5. Đối tượng trong khối từ công cụ mà bài viết này khảo sát để thảo luận về sự phát triển nghĩa và tính đa nghĩa là nhóm kết từ.

Có thể xem nội dung khái niệm của từng tên gọi là nghĩa tổng quát của toàn nhóm. Phó từ bổ sung ngữ nghĩa cho nghĩa từ vựng cụ thể của từ mà nó phụ thêm vào về cấu trúc. Ví dụ: sinh viên làm bài => các sinh viên đang làm bài: Tình thái từ bổ sung nghĩa tình thái cho toàn câu nói. Kết từ bổ sung nghĩa kết hợp, nghĩa quan hệ giữa các thành phần trong một ngữ đoạn (syntagm), giữa các ngữ đoạn, hay giữa các tiểu cú (clause).


3.2 Nghĩa của kết từ


Như vậy nghĩa khái quát của kết từ là nghĩa kết hợp, nghĩa quan hệ. Trên nền ngữ nghĩa khái quát ấy, mỗi kết từ có (một hay một số) nghĩa chi tiết về quan hệ: quan hệ sở hữu, quan hệ vị trí v.v…. Chính nhờ dựa vào nghĩa chi tiết như vậy nên các nhà từ điển học mới có thể biên soạn Từ điển công cụ… (Đỗ Thanh [Đ.T.].1988), Từ điển kết từ… (W.J.Ball, 1989)

Về mặt nguồn gốc, một số kết từ thuộc lớp từ vốn có từ xa xưa, thuộc cội nguồn tiếng Việt. Một số kết từ rõ ràng là được mượn từ tiếng Hán như do, tại, vì, v.v.. Những từ này tuy có gốc tiếng Hán nhưng từ lâu đã nhập vào, đã được dùng trong tiếng Việt, và ngữ nghĩa của chúng phần lớn đều biến đổi ít nhiều để thích nghi với cấu trúc ngữ nghĩa một khi chúng hoạt động với tư cách là kết từ của tiếng Việt. Đó cũng là một lĩnh vực cần được nghiên cứu cẩn thận vì chắc chắn sẽ cung cấp cho ta nhiều hiểu biết hữu ích, nhưng không thuộc phạm vi nghiên cứu của bài này. Đối tượng thảo luận ở đây là nhóm kết từ có cội nguồn trong tiếng Việt và hai từ bởi, mà được chọn như trường hợp điển hình.

3.3 Sự phát triển nghĩa của kết từ


Xem xét sự phát triển nghĩa của những từ này, chúng tôi dựa vào nguồn ngữ liệu rút từ Quốc âm thi tập, Từ điển Việt-Bồ-La, Truyện Kiều, Đại Nam quốc âm tự vị và Từ điển tiếng Việt (1996).

3.3.1 Bởi

Từ bởi được dùng trong Quốc âm thi tập được dùng 15 lần (1, 10, 19, 23, 25, 138, 143, 145, 174, 185, 210, 221, 228-228 và 231). Ngữ nghĩa của từ được nhận diện qua các văn cảnh là quan hệ nguyên nhân.

Vd: “ Tranh cạnh làm hờn bởi tham” (174), hoặc một sắc thái tương tự như nhờ, từ, ví dụ: “ Đạo ta cậy bởi chân non khoẻ” (23).

Cũng trong Quốc âm thi tập, Nguyễn Trãi đã 22 lần dùng kết từ gốc Hán là vì, với nghĩa tương đương từ bởi. Như vậy, ở thời điểm thế kỷ XV, vì và bởi được dùng “phân phối bổ túc” cho nhau. Đáng chú ý là ở một số bài, có lẽ để nhấn mạnh, bởi được dùng ghép song song với vì :” Ưa mày vì bởi tiết mày thanh” (221), “Ít bởi vì hoa, ít bởi xuân” (228).

Từ điển Việt-Bồ-La trong bản dịch từ bởi, bởi đâu chỉ ghi một câu ví dụ: Do nơi nào. So sánh với bản chính thì thấy tương đương với: donde: ex quo loco. Trong Từ điển này có từ vì được ghi là ùi sự ấy (bởi đấy)… Ùi chưng (bởi vì). Ở bản gốc ta thấy: ùi: por amor. Ùi fự ấy: por iffo… ùi chưng porque: quoniam.

Trong Truyện Kiều, theo Đào Duy Anh, bởi được dùng 4 lần: Tại vì, do nguyên nhân gì. Ví dụ: Để sau nên thẹn cùng chàng bởi ai (520). Ở đây vì lại được dùng đến 31 lần với nghĩa là “bởi, bởi duyên cớ” 2 .

Đại Nam quốc âm tự vị ghi bởi3 = Nhơn vì, vì cớ gì, tại đâu, tại làm sao, nguyên cớ… Ở từ này có một loạt ví dụ, trong đó có hai kết cấu song song đáng chú ý: “bởi vì hay là vì bởi”.

Hiện nay, trong các từ điển tiếng Việt hiện đại, kết từ bởi không chỉ còn giữ lại các ngữ nghĩa vốn có như được trích dẫn trên đây mà còn có thêm ngữ nghĩa mới về quan hệ. Chẳng hạn trong Từ điển TCCTV có ví dụ: “Ngay từ cái nhìn đầu tiên, em đã cảm thấy xao xuyến và bị cuốn hút bởi chàng” (sđd, tr.14). Hẳn là để giải thích cách dùng khá mới này mà Từ điển TV có định nghĩa 2. Từ biểu thị điều sắp nói ra là người hoặc vật gây ra trong thái đã nói đến. Ví dụ: “Bị trói buộc bởi tập quán cũ”. Trên thực tế, những câu văn viết và cả lời nói theo cách dùng như thế hiện nay ta rất thường gặp. Ví dụ: “Định chế hiến định, pháp định lần hồi bị thay thế bởi các “định chế” phi luật pháp một cách “không kèn không trống”… (Tuổi trẻ chủ nhật, 10.4.2005). Sau đây là một số dẫn chứng khác: “ Nhìn qua cũng có thể nhận thấy ngôi nhà này được xây dựng bởi những công nhân có trình độ cao”. “Những chiết xuất thiên nhiên sẽ chỉ nuôi dưỡng tóc hiệu quả hơn khi chúng được hoạt hóa bởi khoa học tiên tiến”. (Quảng cáo dầu gội đầu Sunsilk). “Bạn sẽ được phỏng vấn trực tiếp bởi các chuyên gia về nhân sự của NetViet trong vòng 60 phút” (mục tuyển nhân sự của NetViet) (trích khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Võ Văn Thành Thân khóa 1998-2002: So sánh cấu trúc có từ bởi trong tiếng Việt với những cấu trúc tương đương trong tiếng Nhật).

3.3.2 Mà


Cũng như bởi. Đây cũng là một kết từ có nguồn gốc bản địa . Trong Quốc Âm thi tập mà xuất hiện ba lần:
“Người mà hết lụy ấy thần tiên” (174)
“Đòi phận mà yên 4 há sở cầu” (162)
“Tính từ gặp tiết lương thần 5,
Thiếu một hai mà no chín tuần” (195)

Ngữ nghĩa của mà trong hai câu trong các bài thơ 162 và 195 biểu thị cho ý có phần trái với điều được biểu hiện ở phần trước. Còn mà ở câu trong bài 74 được dùng để thay cho danh từ có vị trí ngay trước nó. Nói cách khác, mà ở câu này có thể được hình dung như một đại từ quan hệ.

Trong Từ điển Việt-Bồ-La, mà được giải thích: và, nếu, nhưng, để, bởi vì. Ngoài ra, còn có trường hợp mà được dùng với nghĩa tình thái trong thành ngữ như mà chớ: Không còn gì hơn nữa. Ví dụ: Có bao nhiêu mà chớ.

Mà xuất hiện 101 lần ở Truyện Kiều. Trong đó 48 lần “chỉ sự liên hệ, tỏ mục đích, hiệu quả, hậu quả hoặc để phản ứng”, 52 lần “để liên hệ hai mệnh đề”, 1 lần “có giá trị như đại từ liên hệ, có ý nghĩa nhấn mạnh. Ví dụ: “Người mà đến thế thì thôi” (câu 179). Ngoài ra, còn có những trường hợp mà được dùng trong thành ngữ mà nay ta vẫn còn gặp trong tiếng Việt hiện đại như mà chi, thế mà, đó mà, mà thôi.

Trong Đại Nam quốc âm tự vị, mà được giải thích: Tiếng trợ từ, chỉ nghĩa là cho được, chỉ nghĩa vặn lại, vả lại, nói chống, lẽ trước, hoặc buộc theo lẽ trước. Sách này cũng ghi các thành ngữ như trong Truyện Kiều. Còn từ mà là “tiếng trợ từ” thì thuộc nhóm từ tình thái hoặc bộ phận của từ láy. Các nghĩa khác cũng đều nằm trong phạm vi ngữ nghĩa quan hệ đã được biểu hiện trong Truyện Kiều. Trong Từ điển tiếng Việt, từ mà là kết từ có đến 7 nghĩa quan hệ6 .

So sánh với các dẫn liệu hoặc từ điển ở phần trên, các tác giả Từ điển tiếng Việt còn nêu chi tiết hơn và kèm theo 11 sắc thái nghĩa quan hệ đều có ví dụ minh họa. Trong số các sắc thái nghĩa chi tiết này có một vài nghĩa được bổ sung cho các dẫn hiệu trước. Ví dụ: Nghĩa gần giống nếu “Tôi mà có nói dối ai thì trời đánh chết cây khoai giữa đồng” (Ca dao); hay biểu thị quan hệ song song, có ý nghĩa bổ sung, thừa tiếp hai vế câu hoặc hai câu: “Anh ấy giỏi, mà vợ anh ấy cũng chẳng kém ai”

4 Kết Luận


Những điều được miêu tả, phân tích ở phần 3 cho phép ta rút ra một số kết luận sau:

4.1 Về sự phát triển nghĩa của từ


Bàn về sự phát triển nghĩa của từ, các sách về ngữ nghĩa học thường nói nhiều đến khối thực từ. Tuy nhiên, sự phát triển nghĩa của từ công cụ cũng là một hiện tượng ngôn ngữ học cần được quan tâm không kém. Sự phát triển nghĩa của thực từ đáp ứng nhu cầu định danh các sự vật, hiện tượng mới thường xuyên xuất hiện trong cuộc sống. Còn sự phát triển nghĩa của từ công cụ thì đáp ứng nhu cầu diễn đạt tinh tế, minh xác của tư duy trong lời nói. Có nhiều trường hợp ngữ nghĩa của từ rất khó diễn giải và ta chỉ có thể nắm bắt được qua ngữ cảnh. Không ít trường hợp ngữ cảnh này có thể được công thức hóa để người học luyện tập, tiến dần đến nắm chắc ngữ nghĩa. Chẳng hạn, ngữ nghĩa “từ biểu thị điều sắp nêu ra là người hoặc vật gây ra trạng thái đã nói đến”. Ví dụ: “Ta bị trói buộc bởi tập quán cũ” có thể công thức hóa thành:


CN + được/ bị + VN + Bởi + người/vật là tác tố


4.2 Về tính đa nghĩa của từ


Ở khối từ công cụ, tính đa nghĩa của từ cũng là hiện tượng phổ biến. Ta đều biết, từ công cụ là một trong những phương thức diễn đạt các ý nghĩa ngữ pháp, hay nói chung là ngữ nghĩa ngoài ngữ nghĩa từ vựng. Nhu cầu diễn đạt đòi hỏi phải dùng từ công cụ ngày càng tăng. Mà trong bất cứ ngôn ngữ nào lớp từ công cụ cũng có số lượng ít hơn nhiều so với lớp từ định danh, mặc dù tần suất sử dụng các đơn vị từ thuộc lớp từ này cao hơn định danh. Tuy nhu cầu về từ công cụ cho phép sự vay mượn. Ví dụ trong tiếng Việt có từ tại, do, vì v.v.. . trước đây được mượn từ tiếng Hán cổ điển. Nhưng cách bổ sung tối ưu hơn cả là: chuyển thực từ thành từ công cụ, ví dụ: các từ cho, để… và phát triển từ nghĩa của từ công cụ vốn có. Những điều giới thiệu về từ bởi, từ mà có thể được xem là trường hợp điển hình. Và đó là những kết từ đa nghĩa, cũng giống như một số từ tình thái đa nghĩa đã được một số luận án gần đây nói đến. Thực ra, tính đa nghĩa của kết từ không chỉ có ở tiếng Việt. Ta có thể gặp điều đó phổ biến trong tiếng Anh qua Từ điển kết từ trong diễn ngôn tiếng Anh của W. J. Ball chẳng hạn.

4.3 Ứng dụng trong việc dạy tiếng Việt như ngoại ngữ


Thực tiễn dạy và học tiếng, đặc biệt là dạy và học ngôn ngữ thứ hai, cho ta thấy việc nắm vững ngữ nghĩa và dùng đúng các nhóm từ công cụ là khó hơn nhiều so với dạy và học thực từ. Có thể nói: không nắm được ngữ nghĩa, cách sử dụng kết từ, từ công cụ nói chung, thì không thể nắm được ngữ nghĩa trọn vẹn của văn bản, ngôn bản, không hiểu được mối liên hệ lôgích của tư duy, thể hiện qua sản phẩm ngôn từ. Vì vậy khoa giáo học pháp dạy tiếng đòi hỏi một số biện pháp và thủ pháp nhất định để giúp cho việc dạy và học tốt hơn hiện tượng ngôn ngữ này. Có thể nêu lên đây một vài suy nghĩ bước đầu về điều này.

a. Trước hết cần có sách Từ điển từ công cụ tiếngViệt thật tốt cho người dạy và học. Tác giả Đỗ Thanh đã có bước khởi đầu rất hữu ích. Nay cần có những bổ sung chi tiết hơn cho loại sách này và khuyến khích người học dùng sách công cụ ấy7

b. Trong việc biên soạn sách học tiếng Việt như ngôn ngữ thứ 2 cần dành vị trí thích đáng cho các bài học và bài tập về kết từ và khối từ công cụ nói chung. Dĩ nhiên, hiểu kỹ và vận dụng thành thạo các nhóm trong khối từ này không thể đạt được ngày một ngày hai. Vì vậy người soạn sách và nhà sư phạm chắc hẳn sẽ phải qui hoạch từng giai đoạn, từng yêu cầu theo trình độ. Và mức cuối cùng là đọc hiểu rõ ngôn ngữ trong văn bản thuộc nhiều loại phong cách khác nhau, nhất là phong cách văn chương.

c. Các yêu cầu dạy và học vừa nêu tất yếu dẫn đến yêu cầu nghiên cứu. Thực ra các công trình viết về nhóm từ công cụ trong tiếng Việt tính đến nay không phải là ít. Nhưng việc nghiên cứu đối tượng này theo định hướng ứng dụng cho việc dạy tiếng Việt với tư cách là tiếng mẹ đẻ, là ngôn ngữ thứ hai chưa được quan tâm đúng mức. Đó là chưa nói đến những yêu cầu theo các nguyên tắc của ngôn ngữ học đối chiếu giữa tiếng Việt và tiếng bản ngữ của người học theo kiểu “Tại sao tiếng Việt phải nói đi ra …, trong khi tiếng Thái Lan nói ookpay (ra + đi) ?”. Ranh giới chuyển loại từ định danh sang từ công cụ lấy gì làm tiêu chí xác định? v.v.. vẫn chưa tìm ra các câu trả lời có sức thuyết phục. Thực ra, theo tôi nghĩ, đây không chỉ là vấn đề thuộc lĩnh vực ứng dụng, mà về một số mặt còn thuộc phạm vi lý thuyết, tiềm ẩn nhiều điều hứa hẹn.

Ghi chú


1 Theo chú thích trong Nguyễn Trãi toàn tập, 1976. NXB KHXH. Tiết: Đốt trúc. Ví với tiết tháo người quân tử. Tiết tháo của người quân tử thanh hư, trong sạch, vô tư.
2 Ngoài ra trong Truyện Kiều, Nguyễn Du còn dùng vì với nghĩa thực từ ba lần. Một lần với nghĩa giúp: “Họ Chung ra sức giúp vì” (691), hai lần với nghĩa “quý trọng, thương yêu, nể nang”. Vd: “Nặng lòng xót liễu vì hoa” (335).
3 Bản in lại năm 1974, từ bởi đánh sai dấu thành bỡi. Trong phần định nghĩa tự vị này còn có ghi nghĩa: “tiếng trợ từ” và vd: bỡi rỡi – rời rợt, không dính lấy nhau.
4 Nguyễn Trãi toàn tập chú thích Đòi phận mà yên = Đòi là theo, do chữ Hán Tùy phận nhi an.
5 Lương thần được chú thích là thời tiết tốt.
6 Các nghĩa ấy là: 1. Biểu thị điều sắp nêu ra là không phù hợp với điều vừa nói đến, có gì đó trái với lẽ thường. 2. Biểu thị điều sắp nêu ra là mặt khác, đối chiếu, bổ sung cho điều vừa nói đến. 3.Biểu thị điều sắp nêu ra là mục đích của việc vừa nói đến. 4. Biểu thị điều sắp nêu ra là kết quả, hậu quả của điều vừa nói đến.5. Biểu thị điều sắp nêu ra là giả thiết, nêu lên để từ đó rút ra một kết luận, một nhận định. 6 Biểu thị điều/ý sắp nêu ra là nội dung thuyết minh cho ý vừa nói đến. 7. Biểu thị điều sắp nêu ra thuyết minh đối tượng, sự vật sự việc vừa nói đến. Kèm theo mỗi nghĩa trong mục từ mà đều có ví dụ để minh họa.
7 Trong quá trình tự học và sử dụng tiếng Anh, người viết bài này đã được sự hỗ trợ rất lớn của cuốn Dictionary of Link Words in English Discourse, W.J.Ball, 1986, có thể nói đó là một trong những sách gối đầu giường của tôi khi học và làm việc với tiếng Anh.

Tài liệu tham khảo


Akhmanova, O.S. (1966). Slovar Lingvistitseskich Terminov. [Dictionary of Linguistic Terminology]. Moskva: Izdatelstvo Sovietskaza Encyclopedia.
Bondarko, A.V. (1978). Grammatitseskoe Znatsenie I smysl. [Meaning and Grammatical Meaning]. Lenigrad: Nauka published house.
Baldwin, T.R. (1994). Meaning: Philosophical Theory. In R.E. Asher (Ed. in Chief) Encyclopedia of Language and Lingiustics. Vol. 5 (pp.2046-2410). Oxford: Pergamon Press.
Ball, W.J. (1989). Dictionary of Link Words in English Discourse. Bashingstoke: MacMillan.
Cipollone, N., Keiser, S.H., & Vasishth, S. (Eds.) (1998). Language files: materials for an introduction to language and linguistics (7th ed.). Clumbus, OH: Ohio State University Press.
Đào, D. A. (1974). Từ điển truyện Kiều. Hà Nội: Nxb KHXH.
Đinh, V. Đ. (1986). Từ loại tiếng Việt. Hà Nội: Nxb ĐH & THCN.
Đỗ, T. (1998). Từ điển từ công cụ tiếng Việt. Hà Nội: Nxb Giáo dục.
Geeraerts, D. (1994). Polysemy. In R.E. Asher (Ed. in Chief) Encyclopedia of Language and Lingiustics. Vol. 6, (pp.3227–28). Oxford: Pergamon Press.
Hatch, E. M. & Brown, C. (1995). Vocabulary, Semantics and Language Education. Cambridge; New York: Cambridge Unversity Press.
Hoàng, P. (chủ biên) (1997). Từ điển tiếng Việt. Đà Nẵng: Nxb Đà Nẵng – Trung tâm từ điển học.
Huỳnh, T. C. (1895). Đại nam quốc âm tự vị. Saigon: Imprimerie REY, CURIOL & cie.
Hurford, J. R. & Heasley, B. (1983). Semantics: a Coursebook. Cambridge [Cambridgeshire]; New York: Cambridge University Press.
Hurford, J. R. & Heasley, B. (1992). Meaning Properties and Relationships. In W. Bright (Ed. in Chief), International Encyclopedia of Linguistics. Vol. 2, (pp. 406 – 408). New York: Oxford University Press.
Lyons, John,. (1977). Semantics. Vol. 1 & Vol. 2. Cambridge; New York: Cambridge University Press.
Lê, Đ. (1992). Ngữ nghĩa-ngữ dụng của hư từ: siêu ngôn ngữ và hư từ tiếng Việt. Ngôn ngữ, 2, tr. 45-51.
Nguyễn, A. Q. (1988). Hư từ trong tiếng Việt hiện đại. Hà Nội: Nxb KHXH.
Nguyễn, Đ. D. & Trần, T. C. T. (1982). Ngữ nghĩa một số từ hư: cũng, chính, cả, ngay. Ngôn ngữ, 2, tr. 60-67.
Nguyễn, T. C. (1975). Ngữ Pháp tiếng Việt: Tiếng – Từ ghép – Đoản ngữ. Hà Nội: Nxb ĐH & THCN..
de Rhôdes, A. (1651). Từ điển Annam – Lusitan – Latinh (Bản dịch tiếng Việt của Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt, Đỗ Quang Chính). Hanoi: Nxb KHXH, 1991.
Viện sử học (1976). Nguyễn Trãi toàn tập. Hanoi: Nxb KHXH.

ganda
29-09-2007, 06:02 PM
Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giápThìn/Thần – long/rồng (phần 8)
Nguyễn-Cung Thông (Úc), Thạch Sinh (Đức)

Thìn/Thần 辰 là chi thứ 5 trong 12 thập nhị chi, biểu tượng là con rồng hay long 龍 HV. Trong cách nhìn tổng thể của con người cổ đại, Thìn/Thần chỉ thời gian: năm, tháng (tháng Ba), giờ (từ 7 đến 9 giờ sáng) và phương hướng (Đông Đông Nam, ESE – East South East).
Dân tộc Việt luôn tự hào về nguồn gốc con rồng cháu tiên của mình nối liền với huyền thoại Âu Cơ - Lạc Long Quân, cho thấy sự gắn bó từ thời bình minh của văn hoá Việt Nam, cũng như địa vị ưu tú của rồng. Long/rồng còn liên quan đến nông 農 (đồng, ruộng) phản ánh hoạt động kinh tế căn bản của tổ tiên ta - thành ra một chữ rồng đã có bao nhiêu thông tin về nguồn gốc dân tộc - từ văn hoá ngôn ngữ đến kinh tế thời thành lập cộng đồng Việt tộc nguyên thuỷ.
Rồng là loài vật hư cấu duy nhất trong 12 con giáp rất gần gũi với dân ta, và có lẽ cũng đã trở thành truyền thuyết ngay khi 12 con giáp ra đời! Vì thế mà huyền thoại về rồng càng thêm sâu đậm và đa diện : từ ngôn ngữ đến truyền thuyết, lòng tin ... từ đông sang tây, hình ảnh rồng luôn luôn tiềm ẩn trong văn hoá dân gian. Điều này phản ánh qua rất nhiều dạng biến âm (và ngay cả hình dạng) của rồng qua các ngôn ngữ vùng Đông Nam Á – xem bảng so sánh cuối bài. Tình huống trở nên rất phức tạp khi người Trung Hoa/TH theo truyền thống ngàn đời cũng tin rằng mình là con cháu rồng tiên, đất đai là xứ rồng và vua là con rồng ... Viết về rồng trong văn hoá Á Đông cần ít nhất cả cuốn sách mới công bằng;
Nhưng trong giới hạn nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp, và giới hạn của phương pháp so sánh ngữ âm của ngôn ngữ, người viết sẽ cố gắng tóm tắt các dữ kiện để cho thấy tương quan mật thiết giữa con rồng người Việt và thập nhị chi; Chữ Hán, dùng để ký âm, đã đóng vai trò không nhỏ theo dòng thời gian và duy trì phần nào âm Cổ Việt.

1. Giới thiệu tổng quát

Thìn/Thần 辰 đã từng chỉ rồng như trong Tả Truyện, Hi Công Ngũ Niên có câu '...long vĩ phục Thìn...' 左傳 僖公五年: "龍尾伏辰", là đuôi rồng phục ở Thìn, tức là rồng làm tượng trưng cho ý gốc của chữ Thìn đó. Theo tác giả Axel Schuessler (University of Hawaii, 2007) cũng vậy: chữ Thìn chỉ loài rồng. Trong sách "ABC Etymological Dictionary of Old Chinese" p.184 tác giả cho biết: "chén 辰 ... The 5th of the Earthly Branches, identified with the dragon ... cf. shèn 蜃 some kind of a dragon" 25
Theo tự điển Khang Hy thì Thận 蜃 đó là con trai to lớn: 康熙字典: "車螯是大蛤 一名蜃 ... 蜃大者如車輪 島嶼". Điều đáng chú ý là: con trai khổng lồ (tridacna gigas) còn có cách gọi thông thường là: Ngũ trảo kham 五爪蚶. Điều đó cũng ăn khớp với mạch biến âm *khin/khân > thìn và thận (long) > kham > hến - ngoài ra Ngũ trảo nghĩa là 5 móng.
Rõ ràng vào đời Thượng Cổ, TH đã có chữ long 龍 để chỉ rồng nhưng lại dùng một chữ khác cho con Giáp tương ứng (ngoại lai) là Thìn/Thần 辰 - phần sau còn sẽ xác minh long/rồng cũng chính là từ Việt Cổ mà TH đã mượn; Vấn đề oái ăm là long lại nhập ngược vào tiếng Việt (tiếng Hán Việt) từ đời Đường Tống." Có nhiều tài liệu như trên gắn liền rồng với văn hoá TH từ thời Tần đến bây giờ. Còn tộc Việt ra sao?

1.1 Sơ lược về nguồn gốc con rồng cháu tiên qua ngôn ngữ
Từ xưa, ta đã có phong tục thờ cúng loài rắn (xem bài phần 7 - Tỵ/rắn) và xâm mình. Từ vua chúa đến thường dân đã có tục thích hình con rồng (thuồng luồng) vào bụng hay đùi cho đến đời vua Trần Anh Tôn1. Các đặc điểm như thờ rắn, huyền thoại về rồng là hai trong 25 đặc tính của đại tộc Bách Việt2. Thật ra thì tục xâm mình đã được ghi nhận trong "Sử Ký" của Tư Mã Thiên 司馬遷, 史記: 趙世家: "夫剪髮文身 錯臂左衽 甌越之民也".
Liên hệ đến loài rồng còn phản ánh qua tên Giao Chỉ - chữ giao 交 viết bằng bộ đầu, giọng Bắc Kinh / BK bây giờ là jiāo so với giọng Quảng Đông / QĐ gau1, Hẹ (Hakka) là kau1 cũng như giọng Minnan (Đài Loan) nghĩa là trao đổi, liền nhau ... dùng trong các địa danh như Giao Chỉ 交趾, Giao Châu 交州... Theo người viết giao là một cách ký âm để chỉ tên một dân tộc. Khi chữ giao hài thanh / HT hợp với bộ trùng3 蛟 hay bộ ngư 鮫 thì có nghĩa là con thuồng luồng (một loại rồng): vậy giao có liên hệ đến rồng - tổ tiên của tộc Việt. Âm cổ của giao là *kiêu/*keo (แกว) cũng chính là tên gọi người Việt của các dân tộc láng giềng như Thái, Lào ... cũng như các dân tộc thiểu số anh em4. Xem thêm phần dưới nhận xét của tác giả Jerry Norman về liên hệ Thìn/Thần với giao.
Giao 胶/膠 viết bằng bộ nhục hợp với chữ lựu 翏 (liù BK, bay cao) nghĩa là keo, chính là dạng âm cổ còn duy trì trong tiếng Việt hiên đại. Giảo 鉸 (jiăo BK) viết bằng bộ kim hợp với chữ giao là cắt hay dụng cụ cắt mà tiếng Việt còn duy trì dạng cổ là kéo... So sánh các tương quan già-cà 茄, giả-kẻ 者, giá-cả 賈, giá-kệ 架, giá-gả 嫁, giá-cấy 稼, giảm-kém 减, giản-kén 揀 (chọn), giải-cởi/cổi 解, giảo-cáo 狡, giái/giới-ghẻ 疥, giải-cua 蟹, giác-gạc/góc/còi 角 (xưa thường làm bằng sừng/giác trâu), giáp-kép/kẹp 夾, giang-gông 杠 (cùm) ...v.v... cho thấy rõ nét liên hệ gi-k.
Không phải ngẫu nhiên mà Sùng Lãm (con của vua Kinh dương, tức là Hùng Vương I) lấy tên là Lạc Long Quân, cũng như tộc Việt coi họ Hồng Bàng là thuỷ tổ: chữ Bàng 龐 viết bằng bộ long (con rồng), còn chữ Hồng 鴻 (洪) có các nghĩa lớn, nước lớn (nước rông), lụt lội... và con của vua Kinh dương - ông tổ của họ Hồng Bàng là Long Quân 龍君. Tóm lại, các dạng âm cổ và cách dùng Giao Chỉ, Giao Châu cũng như loài rồng cùng truyền thuyết đều cho thấy phần nào tương quan mật thiết của tộc Việt và rồng từ thời thượng cổ.
Tuy nhiên vẫn khó tách con rồng Viêt Nam và Trung Hoa/TH, nhất là khi huyền thoại TH đầy rẫy hình ảnh con rồng - nào là Hoàng Đế (vua đầu tiên theo huyền sử TH) khi băng hà trở thành rồng lên trời và do đó niềm tin (TH) mình là con cháu của rồng, nào là những đồ bằng ngọc mang hình Trư Long 豬龍 (rồng có đầu hình con heo) từ văn hoá Hồng Sơn 紅山 (thời đại đồ đá mới/neolithic) – thành ra ta phải đi sâu vào ngôn ngữ để tìm ra thêm các dữ kiện.

1.2 Liên hệ ngữ âm mở rộng của rồng/long
Long 龍 (Hán Việt/HV) tức là bộ thủ thứ 212 cho thấy địa vị quan trọng của rồng trong văn hoá TH nói riêng và văn hoá Đông phương nói chung.
Giọng BK bây giờ là: 龍 lóng/máng (聾 lóng, 壟 lŏng, 龐 páng, 龕 kān) - so với QĐ là lung2, lung4 và Hẹ liung2, liung3 - Minnan (Đài Loan) là leng5 - Đại Hàn 룡>용, 롱>농, 방 (r)yong, r/nong, bang và Nhật りゅう ryū/ryuu (竜), りょう ryō/ryou, ろう rō/rou11 (聾, 壟) ... Nhìn các vét khắc/viết trên giáp cốt văn, kim văn ở trang cuối ta thấy chữ long 龍 tượng hình - giống như một loài có đuôi dài ... thật là khác xa với hình dạng của chữ Thìn!
Tiếng Việt có nhiều từ phát âm ra gợi cho ta hình ảnh của đối tượng so với tiếng TH, chữ TH (dựa vào hình) – nói cách khác ta có thể nghe ra hình thay vì nhìn (mặt chữ) thấy hình. Chính chữ long cho thấy hình của con vật cong cong Tác giả Lê Văn Siêu trong cuốn "Nguồn gốc văn học Viêt Nam" (1956) đã ghi lại nhiều trường hợp về tiếng tượng hình. Đây là một trong những tính chất thường gặp của các ngôn ngữ vùng Đông Nam Á nói chung6. Những chữ có âm –ong/-ống thường diễn tả hình dạng không thẳng mà cong cong như long/rồng, lồng, còng (lưng), cồng, trái bóng (trái banh), bong bóng, chong chóng, ròng rọc, cái chòng (hình tròn), lòng vòng, thòng lòng, vòng, cầu vồng (mồng), phồng/phùng, nong (đồ đan hình tròn), nòng, ống, lòng (ruột), họng, gồng, bọng ...v.v... hay các biến âm của ong/ông là ung như ủng (phù), thủng, thúng (hình tròn), cung (cây), vung, thung lũng, trũng ...v.v...Từ cong trong tiếng Mường, Nùng cũng như tiếng Việt so với kong (Chàm), kong (Khme) ... Khi phát âm hai tiếng ròng rọc, người viết có thể hình dung ra ngay hình tượng tròn tròn của đối tượng, so với tiếng hoạt luân 滑輪 (huálún, hay 轆轤 lùlú BK, như là rọc rọc) hay puli, palăng ... Ngay trong tiếng TH bây giờ vẫn còn thấy những âm -ong tượng hình như 弓 gōng BK (công HV, cây cung), 虹 hóng BK (cầu vồng, mống), 龍 lóng BK (long HV, rồng), 籠 lóng BK (lồng, chuồng so với lung3 QĐ, lung1 Hẹ...), 壟 lŏng BK (gò mả, luống đất, đê, bờ ruộng), 洞 dòng BK (động HV, hang động, chỗ thủng), 癰/痈 yōng BK (ung, nhọt, mụn lớn)...
Tác giả Trần Ngọc Thêm7 còn đi xa hơn nữa khi đưa ra sự liên hệ của long/rồng với sông (hình dạng thường không thẳng) qua một dạng âm cổ của Đông Nam Á là *krong/krung. Ông dựa phần nào vào các công trình nghiên cứu của các học giả Nga như '...rồng là con vật đặc thù chung cho tất các dân tộc Việt và chính từ đây nó đã đi vào văn hoá TH...' hay '...hình tượng con rồng phát sinh từ Đông Nam Á đã thâm nhập đến những vùng xa xôi nhất của Âu Châu...' (trang 135, sđd).

1.3 Rồng trong văn hoá dân gian
Văn hoá cổ Trung Hoa/TH luôn mang hình ảnh rồng, cũng như ước mong của cha mẹ khi sinh con thì 'vọng tử thành long' : mong con trở thành 'rồng' hay thành công, nên người. Quá trình biến hoá loài rồng được truyền thuyết8 TH ghi rõ là '... con rắn nước (虺 huĭ BK, water snake) sau 500 năm trở thành giao 蛟, con giao sau 1000 năm trở thành con long 龍, con long sau 500 năm trở thành cầu long 虬/虯龍 (qiú BK, có sừng), cầu long sau 1000 năm trờ thành ứng long 應龍 (có cánh)...'. Ngay cả từ thời Đông Hán, tác giả Hứa Thận 許慎 đã viết về rồng trong Thuyết Văn Giải Tự 説文解字: "龍 鱗虫之長 能幽能明 能細能巨 能短能長 春分而登天 秋分而潛淵 ..." (rồng là loài động vật có vẩy, lúc ẩn lúc hiện, có thể nhỏ thể to, có khi ngắn có khi dài, mùa xuân thì bay lên trời, thu thì ngâm sâu dưới đầm ...) cho thấy rồng thời đó đã là con vật trong huyền thoại mà chẳng ai biết rõ hình dáng chúng ra sao. Liên hệ ngữ âm rắn rồng sẽ được phân tích chi tiết hơn trong phần sau. Ta hãy xem qua các thành ngữ Hán Việt để thấy hình ảnh con rồng tiềm ẩn trong văn hoá TH ra sao

Long phụ tiên mẫu 龍父仙母: cha rồng mẹ tiên
Long khẩu đoạt thực 龍口奪食: lấy thức ăn từ miệng rồng, hàm ý phải biết thời thế - lo gặt hái vụ mùa cho đúng lúc trước khi giông bão xẩy ra
Long tinh hổ mãnh 龍精虎猛: khôn như rồng, mạnh như hổ
Long mã tinh thần 龍馬精神: tinh thần mạnh như rồng và ngựa
Long tương hổ bộ 龍驤虎步: rồng đi, cọp bước – hàm ý tướng uy nghi
Ngư chất long văn 魚質龍文: cái vẻ là rồng nhưng chất (bên trong) thì là cá
Ngư long hỗn tạp 魚龍混雜: cá và rồng lẫn lộn (vàng thau lẫn lộn)
Long bàn hổ cứ 龍蟠虎踞: rồng nằm hổ ngồi, chỉ chỗ hiểm yếu
Long đầu xà vĩ 龍頭蛇尾: đầu rồng đuôi rắn, hàm ý trước thịnh sau suy
Đằng giao khởi phượng 騰蛟起鳳: ám chỉ các bậc nhân tài
Giao long đạt thuỷ 蛟龍達水: hàm ý có cơ hội thi thố tài năng
Thi cư nhi long kiến 屍居而龍見 (莊子): ở (khi lánh mặt) thì như thây người chết, khi ra mặt thì như rồng hiện

Hình ảnh rồng cũng phảng phất trong văn hoá Việt, dùng để ghi danh mục khoa bảng như học vị tiến sĩ – trong khi hổ tượng trưng cho học vị cử nhân. Rồng liên hệ đến vua từ thời Triệu Quang Phục (đời Lý, thế kỷ VI) rồi cứu Đinh Tiên Hoàng thoát nạn, và từ thời vua Lê Đại Hành qua bản mệnh của vua. Thời vua Lý dựng nghiệp, thủ đô ta thấy rồng bay lên nên gọi là Thăng Long, rồi các địa danh cũng mang hình ảnh rồng như (vịnh) Hạ Long, Bái Tử Long, Kim Long, núi Hàm Rồng, Long Tường, Long Khánh, Long Biên, Vĩnh Long .... Ngay cả trái cây cũng mang hình ảnh rồng như trái thanh long, long nhãn, cây xương rồng... Rồng cũng có mặt trong các quan hệ xã hội qua ca dao tục ngữ

'Làm trai lấy được vợ hiền
Như cầm đồng tiền mua được của ngon
Phận gái lấy được chồng khôn
Xem bằng cá vược vũ môn hoá rồng'

'Rồng đến nhà tôm'

'Trứng rồng lại nở ra rồng
Liu điu lại nở ra dòng liu điu'

'Rồng vàng tắm nước ao tù
Người khôn ở với người ngu bực mình'

'Rồng nằm bể cạn phơi râu
Mấy lời anh nói dấu đầu hở đuôi'

'Rồng đen lấy nước được mùa
Rồng trắng lấy nước thì vua đi cày'
(rồng đen có lẽ là trận cuồng phong/tornado xoáy và hút nước từ biển lên tạo thêm nước cho mưa. Rồng trắng có thể là các trận cuồng phong xẩy ra khi không có mây đen báo hiệu trời sắp mưa. Cơn bão gió xoáy (như khi rồng xuất hiện) gọi là 龍捲風 (lóngjuănfēng BK, long quyển HV, còn là: cơn lốc, trốc - tornado / giông! tố - hurricane) Thành ra dông (long > nhông – dông/giông) có thể là một dạng ngạc hoá của long giống như lăm-nhăm, lỡ-nhỡ, lú-nhú ... Đây là hình ảnh đầu tiên của thiên nhiên mà ta có thể tìm thấy qua chuỗi long-nhông-dông (bão). Có tác giả18 đưa ra giả thuyết rằng rồng liên hệ đến cầu vòng - đều là các hiện tượng trong bầu khí quyển khi trời chuyển mưa.

"Ăn như rồng cuốn, nói như rồng leo, làm như mèo mửa"

Và các câu nói như 'Đầu rồng, đuôi tôm; Rồng bay phượng múa; Vẽ rồng nên giun...' cho thấy hình ảnh mạnh mẽ, oai hùng và cao thượng của rồng. Thêm vào đó là các từ gắn với vua chúa, uy quyền như long nhan 龍顔 (mặt rồng, dung mạo vua), long phi 龍飛 (rồng bay lên trời, chỉ khi vua lên ngôi), thân thể của vua gọi là long thể, long bào 龍袍 (áo bào thêu rồng của vua mặc), long xa 龍車 (xe vua đi), vua băng hà 崩遐 (qua đời) là long ngự tân biên 龍御新邊 ... Trẻ em trai gái vẫn còn trò chơi rồng rắn lên mây cho thấy tư tưởng thiết tha của dân Việt với loài rồng vượt hẳn thời gian, không gian và tuổi tác.
Khác hẳn với phương đông, nơi mà rồng được thờ phụng và đứng đầu trong bốn con vật linh thiêng hay 'tứ linh': long, lân, quy (rùa), phượng' 四靈: 龍麟龜鳳 – con rồng phương tây tiêu biểu cho sức mạnh của ma quỷ và tà ác tối tăm, thường quấy nhiễu và phá hại con người. Các nhân vật như Hercules, St. Michael, St. George, St. Margaret, St. Samson... đã trở nên anh hùng và thần thánh khi giết được loài rồng hung dữ9.
Có lẽ vì biểu tượng tiêu cực đối với phương tây mà con gấu panda (đại hùng miêu) đã được chọn làm một trong 5 con vật lấy khước (mascots) cho Thế Vận Hội 2008 ở thành phố Bắc Kinh – ngoài ra rồng còn tượng trưng cho quyền uy nhà vua (quân chủ) nên cũng không phù hợp với chánh sách của nhà nước TH hiện tại. Một lần nữa, ta lại thấy rồng đã mang những tính chất chính trị thêm vào những khả năng phi thường của loài vật huyền thoại này.

2. Phụ âm đầu th- của Thìn/Thần

2.1 Thìn/Thần 辰 là các từ HV, giọng BK bây giờ là chén cũng là bộ thủ thứ 161, giọng QĐ là san4, Hẹ là sin2, shin2, shin3 so với Minnan sin5 ... đều cho thấy phụ âm đầu lưỡi. Như vậy Thìn/Thần liên hệ với hến trên phương diện âm thanh ra sao?
Phụ âm đầu ch- của chén BK thường tương ứng với tr-, ch- hay s/x- Việt:

Giọng BK -- Hán Việt -- QĐ -- Hẹ-- Việt
Chēn, tián -- 嗔 sân , điền -- can1, zan1-- chin1, tien1-- giận
Chēn -- 琛 thâm, sâm -- sam1, cam1-- chim2, cun1-- châu báu
Chēn -- 抻 thân -- san1 -- shin1,chun1 --kéo (dài ra)
Chén, zhèn -- 沉 (沈) trầm -- sam2, zam3-- chim2,sim3 --chìm, đắm
Chén -- 臣 thần -- san2, san4 --shin2, sin2-- bộ trưởng
Chén -- 辰 Thìn/Thần -- san4 -- shin3, sin2 --chi thứ 5
Chén -- 塵 trần -- can4 -- chin2 --bụi (bậm)
Chén -- 陳 Trần -- can4, zan6-- - --họ Trần
Chén, Shèn -- 諶 Thầm, Trầm --can4, zan4-- chin2, cin2 --họ ng. TH
Chèn -- 趁 (趂) sấn -- can3 -- chin5, zhin3 --nhân lúc
Chèn, chàn? -- 讖 sấm -- cam3 -- cam5, siam5 --tiên tri
Chén(g) --橙 chanh/tranh -- caang2 --chang2 --cam
Chèn(g), chēng -- 秤/稱 xứng, xưng -- cen2, cing3-- chin5 --xứng, xưng
... ... ... ... ...

Hến chữ Nôm10 viết bằng chữ hiến 獻 HV, hay bộ 虫+憲/獻 HV cho thấy các dạng này còn quá mới so với tuổi đời của tên 12 con giáp!
Trong vốn từ TH bây giờ có chữ 蜆 ít dùng11, tần số dùng là 36/432067182, đọc là hiển/hiện HV - viết bằng bộ 虫+見 kiến HT (xiăn BK)- nghĩa là con hến, so với hin2 (QĐ), phụ âm đầu x- rất gần với âm ch- BK cho thấy chúng có thể đã từng có một nguồn gốc chung là k- phản ánh qua cách đọc cổ hơn của kiến HT. Một chữ nữa là Kham 蚶 HV (hān BK), viết bằng bộ 虫+甘 cam HT, nghĩa là con sò: âm kham cho thấy một dạng khác của hến với phụ âm đầu k- (âm ngạc mềm). Tương tự như tương quan Thân-khọn, ta có thể thành lập một dạng âm cổ phục hồi của Thìn/Thần là *khin/khân. (Âm cổ này được người Tàu ghi lại (phiên âm) bằng chữ 辰 - về sau mới biến thành âm "Thìn"). Lại còn có chữ 龕 kham, khám HV (kān BK) - viết bằng bộ long 龍 cũng chính là thành phần HT ghi âm.
Các nhà Hán học trước đây cũng đã thấy liên hệ th-kh này, như học giả Jerry Norman12 đã từng ghi nhận là âm Thìn/Thần từng đọc là *khân qua nhiều dẫn chứng cho thấy phụ âm cuối lưỡi (âm ngạc hầu / velar) đã từng hiện diện. So sánh các dạng trăn, klan / klon (tiếng Môn viết /-nói), klăn (tiếng Chrâu) ... ông đưa ra nhận xét về chữ Thần/Thận 蜃, dựa vào Khang Hi Tự Điển, nghĩa là một loại giao, hình thù lớn hơn rắn và có sừng như con rồng 康熙字典: 又 '草本' 蜃 蛟之屬 其狀亦似蛇而大 有角如龍狀. Cùng với định nghĩa dựa vào Thuyết Văn là 'thìn [ý] nói thận của vạn vật' 說文: 辰者 言萬物之蜃也 ông đưa đến kết luận là có cơ sở để liên hệ Thận với loài rắn.
Dạng thượng cổ *mrjong5 / *brung giải thích được hai dạng 龍 lóng / máng BK, mahing là con rồng, tiếng Thà Vựng, và mă'rôông มะโรง tiếng Thái (chỉ năm con rồng) - cách dùng mống để chỉ cầu vồng25 (biến âm m-v như mùi-vị ...) cũng rất có thể là do âm cổ mrjong mà ra (tiếng Thái là รุ้ง rûng, hồng 虹 HV).
Chữ Mãng 蟒 (măng BK, mong5 Hẹ/QĐ) là con trăn cũng cho thấy phụ âm m- đầu: Long/Mang < *mrang < *kr(l)ang, còn tiếng Lôlô có chữ LANG là con rắn - thành ra MÃNG = TRĂN (boa, python) ... cho thấy thêm bằng chứng liên hệ phương Nam! Dạng thượng cổ mrjong lại không giải thích được âm kham/khám của chữ 龕 - cho ta thấy âm cổ (hơn nữa) của long/rồng cũng có thể là âm cuối lưỡi (ngạc mềm / hầu) k-. Có lẽ vì vậy mà Baxter đề nghị dạng *C-rjong mà C- không nhất thiết là k-/m-.
Quá trình đơn âm hoá *C-rjong cho ra dạng *ba-sang và cuối cùng là phá-tán (rắn: theo Nguyễn Tài Cẩn "Về tên gọi con rồng của người Việt", đăng trên báo Diễn Đàn 94 bên Pháp, sau đăng lại trong cuốn "Một số chứng tích về ngôn ngữ, văn tự và văn hoá" NXB Đại Học Quốc Gia 2001), một dạng ghi Nôm được ghi nhận trong cùng bài viết đó. Theo ông, có 3 trường hợp trong tiếng Việt xuất phát từ chữ 龍, đó là rồng (cổ nhất, vào thời Tây Hán, Đông Hán) sau đó đến thuồng luồng (sơ đến Trung Đường) và cuối cùng là long (cuối đời Đường).
Dạng Hán Thượng Cổ *djơn - được tác giả William G. Boltz13 phục hồi dựa vào kết quả của Li Fang-kuei 李方桂 (1971) và Edwin Pulleyblank (1984) - không có khả năng giải thích được các âm *klăn/tlăn/trăn và thằn lằn, thuồng luồng (đơn âm hoá) của tiếng Việt.

2.2 Khuynh hướng 'nghe ra hình' như đã đề cập bên trên (âm -ong chỉ hình cong) còn có thể hiện diện trong cách dùng trăn trở, trằn trọc, lăn (qua lăn lại), lăn lóc ... với nhận xét là các âm đầu lưỡi vang r/l gợi hình ảnh linh động (chuyển động) như rung, rụng, lung (lay), lùng (tìm kiếm) ... Tương quan giữa âm thanh và hình ảnh đã được nhiều học giả nghiên cứu6, người viết chỉ muốn đưa ra nhận xét về liên hệ các âm tr-, tl-, r-, l- với hình ảnh và đặc tính linh động của đối tượng – tương ứng với hoạt động của lưỡi (cong lên rồi hạ xuống, có khi rung hay lắp láy).

3. Nguyên âm i/â của Thìn/Thần

Nguyên âm i và a của Thìn/Thần cũng là âm cổ của 辰 chén BK bây giờ - xem bảng so sánh trong phần 2.2 – nguyên âm i hiện diện trong giọng Hẹ so với a của QĐ. Các dạng âm cổ phục hồi đều khá nhất trí về âm i nàỵ5,13 - nên dạng Hán Thượng Cổ của Thìn/Thần thường thấy là *krin, *thrin ...

4. Thanh điệu

Thanh thứ nhì (second tone, dương bình) giọng BK bây giờ liên hệ đến thanh huyền tiếng HV, hay thang ngang (cùng âm vực) như:

Giọng BK --Tiếng HV --- Giọng BK --Tiếng HV
Chén -- 辰 Thìn/Thần --- Mín -- 民 dân
Hé -- 荷 hà (sen) --- Mú -- 模 mô (khuôn đúc)
Huáng 黃 hoàng (vàng) Nán 南 nam (phương)
Táng 唐 đường Nú 奴 nô
Tóng 同 đồng (giống nhau) Róng 熔 dung (nóng chảy)
Tuán 團 đoàn ... ...
Xián 閑/閒 nhàn
... ...

5. Phụ âm cuối –n của Thìn/Thần

Phụ âm cuối –n của Thìn/Thần cũng hiện diện trong dạng BK chén. Bảng so sánh sau cho thấy liên hệ của âm đầu lưỡi/vang –n ở cuối chữ

Giọng BK Tiếng HV Giọng QĐ Giọng Hẹ Minnan
Tàn 歎 thán, than (-thở) taan3 tan5 than3
Măn 滿 mãn (đầy) mun2, mun6 man1, man2... boan2
Jìn 近 cận (gần) gan6, kan6 kiun1, kiun3 kin7
Yán, yàn... 言 ngôn (lời nói) jin4 ngien2/gnian3 gian5
Zhèn 陣 trận (-chiến) zan6, zan2 chin6/cin3 chun7
Hùn 混 hỗn (-loạn) wan6, gwan2 gun3/kun3... hun2
Gēn 根 căn (rễ) gan1 gen1/gien1 kin1
Diàn 電 điện din6 tien5, ten3 tian7
Àn, è 按 án, ấn (đè) on3, ngon3 on5 an2
... ... ... ... ...

6. Các nhận xét mở rộng về Thần/Thìn

6.1 Như đã thấy từ phần trên, dạng Thần/Thìn HV bây giờ (hay chén BK) có thể từng có âm cuối lưỡi k- và l-, hay kl- qua các dạng klan (tiếng Môn, Kơho...), trăn. Các tổ hợp phụ âm kl- hay gl- của tiếng Hán Cổ đã từng được tác giả Li Fang-kuei phục hồi sau khi so sánh các ngôn ngữ Thái14.
Theo người viết lân 麟 cũng là một dạng của long 龍, viết bằng bộ lộc hợp với chữ lân, giọng BK bây giờ là lín. Lân là loài thú hư cấu15 cũng như rồng, có lúc mang một sừng (unicorn, thường gặp trong các huyền thoại tây phương hơn), có lúc mình hươu chân ngựa, có lúc đầu rồng mình trâu, có lúc là hươu cao cổ ... Giống cái gọi là lân, giống đực gọi là kỳ 麒. Tục truyền khi kỳ lân 麒麟, loài 'thú nhân đức' theo Thiều Chửu, xuất hiện là có điềm lành, hay thánh nhân xuất hiện. Tục truyền rằng khi Khổng Tử viết kinh Xuân Thu nói đến chuyện bắt được con lân què ngoài đồng thì thôi không viết nữa, thành ra kinh Xuân Thu còn được gọi là Lân Kinh. Lân còn có nghĩa là ngón chân con kỳ lân, con cháu nhà vua hay tôn thất... Lân nhi là đứa con quý - cách dùng lân chỉ tính chất cao thượng, tốt chẳng khác gì cách dùng long – nhưng có lẽ vì long liên hệ đến vua chúa nên lân được dùng thay cho long để tránh đụng chạm :

'Điềm lành sớm ứng lân nhi một chàng' (Hoa Tiên)
'Loan rằng sử Mã, kinh Lân' (Lục Vân Tiên)

Múa lân là là phong tục thường thấy trong các ngày hội hè, nhất là tết ở Viêt Nam. Đây là một chứng tích cho thấy lân là biểu tượng tương đương với rồng; Ở TH có múa rồng, múa sư tử, múa phượng ... Mũi lân là mũi rộng (to), có lẽ chỉ mũi rồng/rộng chư có ai thấy hình thù con lân bao giờ?
Tại sao lại có hai chữ kỳ lân? Theo người viết thì các chữ này là các dạng đơn âm hoá của một dạng cổ hơn *klan mà đã được đề cập nhiều lần. Khuynh hướng tạo chữ bằng cách đơn âm hoá tổ hợp phụ âm kl- có thể giải thích tại sao ta có các dạng giao 蛟 (âm cổ là keo) và long, hay cầu 虯 (qiú BK, rồng có sừng) và long 蛟-/虯龍 cũng như kỳ và lân 麒麟. Đây là những chữ từ thời Thượng Cổ khi ngôn ngữ bắt đầu phát triển, tương tự như các liên hệ còn thấy trong vốn từ HV như khảm/lõm/hãm/hỏm 埳陷, kiểm/liễm/thiểm 臉 (má, mặt), khoã/loã 裸 (trần), khảo/lão 考老, các/khạc/lạc 各恪落, lộ/cò? 鷺, lũ/gù 僂, cũ 窶 còn đọc là lũ, ... v.v... Tương quan dạng cổ kl- với các dạng bắt đầu bằng k/c- và l- đáng được nghiên cứu sâu xa hơn thay vì chỉ được nhắc đến trong giới hạn của bài viết về chi thứ 5 này.
Quá trình đơn âm hoá cũng xẩy ra khi dùng tiếng Phạn trong thuật ngữ của Phật giáo : Phạn hay Phạm 梵 viết bằng bộ mộc 木 và chữ phàm 凡 HT có nguồn gốc là Brahma với âm r mất đi. Bà-La-Môn 婆羅門 vẫn còn duy trì âm r với từ gốc Phạn là Brahmana. Các dạng cổ Pha-Lang-Sa, Pháp-Lan-Tây đã trở thành Pháp chính là đơn âm hoá tiếng France. Các dạng phiên âm bây giờ có khuynh hướng duy trì các âm gốc thay vì chỉ có đơn âm như câu-lạc-bộ (từ âm club), cà-lem (từ âm crème, đơn âm hoá thành kem), xì-ke (từ âm scag tiếng Anh), xì-lô (từ âm slow) ...
Quá trình đơn âm hoá cũng giải thích được các dạng thằn lằn, thuồng luồng, xuông luống ... Nên ghi nhận 蠑 ở đây là một chữ Hán rất hiếm gặp11 (tần số dùng 65 trên 237243358) viết bằng bộ trùng 虫 hợp với chữ vinh 榮, giọng BK bây giờ là róng (蠑螈 róngyuán, con sa giông, một loại kỳ nhông).
Tổ hợp phụ âm kl-, tl- trên còn cho ra một dạng nữa là chằn/giằn, chằng do biến âm tl- > tr- và cuối cùng ngạc hoá thành ch-. Bà chằn (tiếng 'đàng Trong' theo Viêt Nam Tự Điển, 1954) nghĩa là yêu quái, con chằn tinh trong truyện Thạch Sanh. Chằng còn có nghĩa là trương ra và cho thấy mối liên hệ đến lươn, nương và rồng (xem bảng tóm tắt ở cuối trang). Ta còn thấy cách đọc *tlăng là trăng hay giăng/chăng ở Bắc Bộ.

6.2 Nếu lân là một dạng của rồng, thì ta không lấy làm lạ với dạng long HV (leng5 Minnan) so với tôn/tông, hay thấy ở một số phương ngữ Trung bộ (Thừa Thiên, Quảng Nam...) không phân biệt –n và -ng. Liên hệ long-rồng còn thấy qua bảng so sánh sau:

Tiếng HV Giọng BK Tiếng Đại Hàn Tiếng Nhật
Long / rồng 龍 lóng yong* ryuu/ryoo**
Luyện / rèn 鍊 liàn yon ren
Liên / liền / rền 連 lián yon ren
Li / lìa / rời 離 lí, lì li ri
Lân (rần rần) 轔 lín lin rin
Lực / sức / rất / rứt 力 lì ryok riki, ryaku
(Sâm / Lâm / rừng 森林 shēnlín samrim shinrin
...v.v... (*ngạc hoá l>j) (**mất phụ âm cuối -ng)

Vì là các phụ âm đầu lưỡi / răng hữu thanh nên r và l rất dễ hoán chuyển cho nhau như trên. Không những thế, lân 麟 còn liên hệ đến rắn mà vết tích là chữ liên 虫+連 HV, viết bằng bộ trùng hợp với chữ liên HT - giọng BK bây giờ là lián, Hẹ là lien2 – nghĩa là (a) con rắn (b) một loại thằn lằn màu đỏ ở Triết Giang... Để ý chữ Nôm viết rắn bằng bộ trùng hợp với chữ lận 虫+吝. Luận HV viết bằng bộ trùng hợp với chữ luận 蜦 HT, giọng BK là lún/lùn, nghĩa là bò sát (lăn, lượn) như con rắn ... và dĩ nhiên là con lươn với các từ trườn, lượn và lườn đều có liên hệ đến lân/lăn/rắn và dạng cổ hơn *klan/*tlan.

6.3 Một cách nhìn khác là xem các chữ mà long 龍 (rồng) được dùng làm thành phần HT. Đa số đều đọc là long, lồng... Một biến âm đáng chú ý là lung 聾 HV, viết bằng bộ nhĩ (lỗ tai) hợp với chữ long HT, nghĩa là điếc - giọng BK bây giờ là lóng, so với lung2, lung4 (QĐ) và lang5 (Minnan/Đài Loan), theo người viết có thể liên hệ đến lảng (tai). Theo truyền thuyết thì loài rồng không thính tai. (theo Vân Đài Loại Ngữ - của Lê Quý Đôn, bản dịch của Trần Văn Giáp (2006), và bản dịch của Pham Vũ, Lê Hiền (1972) - xuất xứ ở thiên Sinh Tiêu Luận trong Luận Hành của Vương Sung còn phải kiểm tra lại.)

6.4 Trở lại với chữ Thìn/Thần 辰, hay chén BK – đây là một cách đọc của chữ đông 羊+東 rất hiếm viết bằng bộ dương hợp với chữ đông (phương), giọng BK bây giờ là chén, dōng so với dung1 QĐ – nghĩa là con lân (unicorn) 山海經: "其狀如羊 一角一目 目在耳後". Có thể chữ này giải thích được phần nào mối dây liên hệ trực tiếp giữa cách gọi Thần/Thìn (chén BK) với tên con vật hư cấu rồng/lân như đã nói trên.
Không những thế, khi xem cách cấu tạo chữ long 龍 ta thấy bên phải là chữ phi 飛 viết tắt (飞), bên trái phía dưới là chữ nhục 月, và bên trên là chữ lập 立 tắt của chữ đồng 童 HT (說文解字: 從肉飛之形 童省聲): điều này cho phép ta thành lập một dạng cổ hơn là *klan/klon với biến âm kl/tl/tr-đ, xem bài viết riêng về liên hệ tl-/kl-/tr- và đ- như trần-đông-điền 陳/東/田, trọc-đục 濁, trọng-động 重/動 ... Cách viết giản thể 龙 bây giờ không cho ta nhiều dữ kiện như các cách viết xưa kia.

Ngoài ra, theo Tả Truyện thuật lại lời của Nguỵ quốc Sử quan Thái Mặc 蔡墨 rằng: 左傳: 昔有 飂叔安 ... 實甚好龍 ... 帝赐之姓曰董 氏曰豢龍 ...", vào thời xa xưa có một người tên là Liêu Thúc An 飂叔安, rất thích nuôi rồng nên về sau con cháu đời sau của ông được Thuấn đế ban cho họ (tính) Đổng 董 và thị Hoạn 豢 (nuôi dưỡng) Long – đây là nguồn gốc của họ Hoạn Long ở TH.
Trong trường hợp này ta thấy các âm Đổng và Long đã tương ứng từ thời Thượng Cổ. ...v.v...
Phụ âm đầu lưỡi đ- còn thấy trong tiếng Thái thôong ทุ่ง, rất có thể có liên quan đến chữ đồng (-ruộng).
Ngoài ra còn có cách đọc một chữ rất ít gặp là nông, viết bằng bộ thảo hợp với chữ Thần/Thìn 艹+辰 HT (康熙字典 玉篇: 古文農字) giọng BK bây giờ là chén so với san4 QĐ, nung2 (còn duy trì âm cổ nông)...
Chữ nông 農16 thường gặp hơn viết trong bộ điền hợp với chữ Thần/Thìn ... cho thấy Thần/Thìn đã từng liên hệ đến nông 農 hay lông/lung 龍, vì thế ta có thể thấy tương quan âm thanh của Thần/Thìn và long (rồng). Để ý cách phát âm l- thành n- ở một số địa phương như Hải Phòng ... cũng giống như giọng Hẹ (đọc nông là lung2 hay nung2) : các phương ngữ này đã duy trì cách đọc rất cổ của long-nông vậy.
Luống (cày) chữ Nôm viết bằng bộ thổ hợp với chữ long 壠, và chữ ruộng viết bằng bộ điền (宀)竜+田/+龍/弄 hợp với chữ long/lộng HT đều là các biến âm của long/nông.
Nùng 穠 HV viết bằng bộ hoà hợp với chữ nông HT, tiếng Việt là nồng có dạng âm Trung Cổ17 là *nruang cho thấy âm -r- (hay -l-) đã từng hiện diện, do đó ta cũng không ngạc nhiên khi thấy các dạng18 luống, ruộng liên quan đến nông.
Thật ra tương quan giữa con rồng và nông nghiệp cổ đại đã từng được nêu ra – như tác giả Zhou Chongfa 周崇發19, một nhà khảo cổ TH ở tỉnh Hồ Bắc – bác bỏ giả thuyết về rồng là một kết hợp của các con vật tổ từ các bộ lạc sơ khai (xem phần dưới). Nghề nông rất cần nước và chính vì thế mà các con vật sống dưới nước phải được tôn trọng như cá chép (lý 鯉 HV, carp), cá sấu ... vì thế khi thần thánh hoá con rồng để cầu mưa (vũ tế 雨祭) và phù hộ thì hình dạng rồng luôn kết hợp những đặc tính của các loài vật sống dưới nước này. Cũng theo tác giả Zhou Chongfa thì giả thuyết vật tổ không giải thích đuợc hoàn toàn nguồn gốc tượng hình và âm thanh của chữ long – đây cũng là những dữ kiện ngữ âm mà người viết đã cố gắng tóm tắt trong phần này.

6.5 Có lẽ cũng nên tìm hiểu nguồn gốc con rồng Á Châu ở đâu mà ra? Có nhiều giả thuyết20 đã được đề nghị
(a) con rồng là rắn, thành phần chính của các vật tổ (theo tác giả Văn Nhất Đa 聞一多, còn theo Tôn Tác Văn (?) thì con rồng là con rắn được thần bí hoá. Tác giả Hà Tinh Lượng 何星亮: "龍蛇是最早的虹神形象" sau khi phân tích tài liệu nghiên cứu khảo cổ học, lịch sử học và dân tộc học thì cho rằng hình dáng con rồng là rắn và trăn ... Thật ra ta không ngạc nhiên khi thấy hình ảnh của rắn và trăn trong con rồng vì các dữ kiện ngôn ngữ phục nguyên cũng đã cho thấy điều này - xem các dạng biến âm của rồng ở trang cuối phần này. Cho đến nay, giả thuyết này phổ thông và có sức thuyết phục nhất khi cho rằng rồng là kết hợp của các tôtem từ nhiều tộc khác nhau. Bộ tộc Hoa Hạ với tôtem là con rắn hùng mạnh nhất nên thêm vào hình rắn của mình các tôtem của các bộ tộc khác như đầu lợn, sừng dê, tai trâu, vẩy cá ... cuối cùng trở thành con rồng huyền thoại chẳng giống một con vật nào trong hiện tại.
(b) con rồng là con cá sấu, theo tác giả Vương Đại Hữu 王大有20 thì con rồng bắt nguồn từ con cá sấu 鱷 (鰐/鳄) tức là: 灣鰐 / 咸水鳄 crocodylus porosus // hay là: 揚子鰐 alligator sinensis) chứ không phải từ con rắn. Hình dạng của đầu rồng với bộ mặt rất thô (mắt lồi miệng rộng và da sần sùi) rất giống loài cá sấu. Theo người viết, năm ngón chân hay ba ngón chân cũng chính là đặc tính dễ nhận của loài cá sấu và rồng theo truyền thuyết.
(c) giả thuyết đầu rồng có nguồn gốc từ (đầu) heo "豬龍變化說", dựa vào xã hội nông nghiệp thời nguyên thuỷ, theo tác giả Tôn Thủ Đạo 孫守道 và Quách Đại Thuận 郭大順.20
(d) rồng là sấm chớp '龍源於閃電' theo tác giả Chu Thiên Thuận 朱天順 dựa vào hình 'dài và có bốn chân' – đây là cách giải thích đầu tiên dùng hiện tượng thiên nhiên. Khang hy tự điển dẫn sách Thuyết văn 說文 rằng: 辰 震也 Thìn [là] Sấm vậy. Sấm lại có liên hệ tự nhiên đến cơn giông-/ dông tố.
(e) rồng là cầu vòng/vồng "虹是龍的最直接的原型" – theo tác giả Hồ Xương Kiện 胡昌健 《论中国龙神的起源》 dựa vào hình dạng và màu sắc của cầu vòng.
(f) rồng vốn là cây thông/tùng, loài cây xanh tươi quanh năm phản ánh hình dạng và các thuộc tính giống như loài rồng theo tác giả Y Vinh Phương 尹榮方: "龍, 原是樹神的化身. 龍的原型是四季常青的松, 柏 (主要是松) 一類喬木."
(g) rồng tượng trưng cho nam giới, quẻ càn/kiền là quẻ long - rồng trong Chu dịch 周易 tượng trưng cho nam giới hay bộ phận sinh dục nam theo tác giả Phổ Học Vượng 普學旺20. Từ tục cúng tế bộ phận sinh dục nam thời xưa mà ta có nguồn gốc rồng.

Các giả thuyết trên có thể còn có thể tìm thấy trên cơ cấu ngữ âm, cũng là hướng đi chính của các bài viết về 'nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp'. (a) rồng là rắn; hàm chứa trong dạng cổ *kri(a)n để cho ra *ran (rắn) và *liang/lung (long)
(b) rồng là cá sấu; qua tiếng Mường khủ (thuồng luồng) – và khu (Mường) là sấu, khlu (tiếng Poọng) là rồng - tiếng Lolo (thuộc họ Hán-Tạng) có chữ lo là rồng. Đây có thể là kết quả của quá trình rút gọn âm cuối (apocope) mà ta còn thấy trong chuỗi miễn-mãn-mão-mèo, xem thêm chi tiết trong bài "Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp – Mão/Mẹo/mèo (phần 4)" . Nhóm từ HV đà long 鼉龍 (鼍 tuó BK, alligator sinensis), trư bà long 豬婆龍, 揚子鰐, 土龍, 鼉科 (=短吻鳄科 alligatoridae) đều có nghĩa là cá sấu21 rõ ràng nêu lên liên hệ giữa rồng và cá sấu trong ngôn ngữ TH. Cứ theo "Vân Đài Loại Ngữ" của Lê Quý Đôn, NXB Văn Hoá Thông Tin (Hà Nội, 2006) - Trần Văn Giáp biên dịch: '... Quí thuỷ ở trên trời là mưa, ở thân thể là tai; Nhâm thuỷ sinh ở thân, tử ở Mão, mộ ở Thìn, cho nên loài rồng 5 vuốt, tai nhỏ nghe kém...' – tuy là loài hư cấu nhưng vẫn có 5 móng như cá sấu – xem hình ảnh cá sấu ở cuối bài viết.
(d) rồng là sấm; Thần/Thìn 辰 có giọng BK bây giờ là chén, so với 震 zhèn, zhēn/shēn hay chấn HV là sấm22 viết bằng bộ vũ (mưa) hợp với chữ Thần/Thìn HT – cho thấy rất rõ liên hệ Thần-*tsan < sấm.
(e) rồng là cầu vồng; Tương quan của âm –ong và hình cong đã nói ở phần trên. Để ý thêm là 嚨 lóng BK viết bằng bộ khẩu hợp với chữ long là cuống họng; Cầu vồng hay mống, là hồng 虹 HV (hóng, jiàng BK) viết bằng bộ trùng hợp với chữ công HT cho thấy quá trình 'sinh vật hoá' một hiện tượng thiên nhiên.
(f) rồng là cây tùng (theo cuốn "Văn hoá về 12 con giáp" của Thường Tuấn 常峻: "中國生肖文化", bản dịch tiếng Việt, NXB Tổng Hợp - Thành Phố HCM - 2005); Đồng 童 là một thành phần của chữ long 龍 – các phụ âm đầu lưỡi đ-t dễ hoán chuyển cho nhau, do đó chuỗi tùng (thông) - đồng 童 có thể xẩy ra. Tùng viết bằng bộ mộc hợp với chữ công 松 HT, so với giọng BK bây giờ là sōng, sòng...

6.6 Một chữ Thần/Thìn 辰 đã cho ra bao nhiêu mối dây gắn liền dân tộc ta với hoạt động tinh thần qua các tục thờ rồng, rắn ... và hoạt động vật chất, hiện tượng thiên nhiên qua nghề nông, dông bão, sấm – cũng như khi xem cách viết chữ Thần/Thìn trên giáp cốt văn, kim văn ta thấy hình cái liềm làm bằng vỏ sò hay trai dùng để cắt (gặt) lúa. Tất cả các đặc tính văn hoá, xã hội và kinh tế truyền thống đều để lại rất nhiều dấu ấn trong ngôn ngữ như đã tóm tắt bên trên. Các dữ kiện này phù hợp với nhận xét của Edward Sapir23, sau được gọi là nguyên tắc tương đối của ngôn ngữ (principle of linguistic relativity) và giả thuyết Sapir-Whorf (Sapir-Whorf Hypothesis), cho thấy sự suy nghĩ và cảm nhận của con người có ảnh hưởng đến ngôn ngữ và ngược lại. Nói cách khác, hình ảnh của xã hội và môi trường sinh sống của một dân tộc có thể tìm thấy trong ngôn ngữ của một dân tộc.
Còn khi xem qua các truyền thuyết văn hoá dân gian thì các dữ kiện (huyền thoại kể lại) trở nên rất khó phân giải giữa các dân tộc – như ở Đại Hàn chẳng hạn, tục truyền mỗi con sông, mỗi cái hồ đều có một con rồng từng làm chủ ... - nhờ vào các dữ kiện ngôn ngữ mà ta có thể tìm thấy nguồn gốc về con rồng rõ ràng hơn; So sánh tiếng Đại Hàn ta thấy rồng là 용/룡 yong/ryong (từ long tiếng Hán), con rắn là 뱀 paem, thằn lằn là 도마뱀 to-ma-baem, cá chình (con "lươn") là 뱀장어 paem-jang-o ... rất khác biệt với dạng gốc *krin/tlan. Nhưng nông dân, người làm ruộng, thì tiếng Đại Hàn24 là 농부 nong-bu, 농민 nong-min (mượn từ tiếng TH) cũng như nông nghiệp là 농업 nong-ŏp ...v.v...
Tóm tắt phần này, và sau khi xem qua các dạng khác nhau của Thần/Thìn 辰 trong tiếng Việt, các ngôn ngữ láng giềng và tiếng Hán Cổ, ta có thể kết luận là Thần/Thìn từng đã chỉ loài rắn/trăn hay thần thánh hoá là lân/rồng/thuồng luồng... Ngoài ra, rồng còn có thể phản ánh các hiện tượng thiên nhiên như cầu vòng, sấm (sét) – tất cả các sinh vật hay hoạt động thiên nhiên liên hệ trực tiếp đến một nhu cầu rất quan trọng của nghề nông: đó là nước. Chỉ có một chữ thôi mà hàm chứa không biết bao nhiêu thông tin về nguồn gốc của tộc Việt. Các dữ kiện này càng ngày càng phai mờ khi văn hoá phương Bắc khởi sắc (thời Đường Tống) cũng như khi vốn từ phương Nam từ từ bị đào thải trong ngôn ngữ TH hiện đại. Khuynh hướng này trở nên rõ nét khi ta phân tích tên 12 con giáp, một đóng góp của tộc Việt vào văn hoá Á Đông thời cổ đại mà ít ai nhận ra.
Trong khi soạn lại bài này để lên mạng, người viết còn được thêm các dữ kiện từ tác giả Axel Schuessler25 cho thấy Thìn/Thận đã từng chỉ một loại rồng - trích từ Hán Thư (Thiên Văn Chí) 漢書 天文誌 (trang 184 - cuốn "ABC Etymological Dictionary of Old Chinese" cua Axel Schuessler, 2007) - cho thấy nguồn gốc phi-Trung Hoa rõ nét, vì lúc đó TH đã có chữ rồng (long) rồi mà tại sao lại dùng chữ Thần? Ngoài ra, Schuessler còn ghi nhận thêm rằng rất có thể long HV liên hệ đến các từ Nam Á như ròng, hông (rồng, tiếng Mường)...v.v...

7. Phụ chú và phê bình thêm
Đi ngược dòng thời gian, ta sẽ gặp nhiều huyền thoại về sự ra đời của loài người từ các nền văn hoá rất khác nhau – tuy nhiên có những điểm tương đồng rất thú vị như người đầu tiên ở TH là Bàn Cổ, Manu (theo Ấn Độ giáo), Adam (Cơ Đốc / Công giáo), Gayomart (thuộc giáo phái Zoroastrian) ...v.v... Loài rồng hư cấu cũng không thoát ra khỏi khuynh hướng trên trong chiều sâu của tiềm thức loài người. Carl Jung gọi sự tương đồng này là archetype (nguyên mẫu), giải thích được khả năng phi thường (tốt hay xấu) của loài rồng. Gần đây hơn, tác giả David E. Jones26, trong cuốn “An Instinct for Dragons”, đã đưa ra giả thuyết rằng rồng là mẫu số chung của các nền văn hoá dựa trên tâm lý sợ hãi các loài vật ăn thịt (predators) như diều hâu, cọp hay trăn ... chứ không phải từ di vật hoá thạch của loài khủng long (dinosaur fossils) ... tuy nhiên, đây không nằm trong phạm vi của phần này. Trong bảng liệt kê dạng biến âm của rồng/nhông/rắn/lươn ... ở trang cuối, các liên hệ được biểu thị bằng gạch nối liên tục hay không liên tục (vì không có nhiều dữ kiện hỗ trợ) nhưng hoàn toàn không có mũi tên vì không nhất thiết là dạng mới đã thay thế dạng cổ theo chiều lịch đại (diachronic).

(1) theo Ngô Sĩ Liên trong "Đại Việt Sử Ký Toàn Thư"; Dân đi đánh cá thường bị thuồng luồng làm hại (theo người viết thì là cá sấu như trình bày ở trên) – vua Hùng Vương sai lấy mực vẽ hình thuỷ quái vào mình và từ đấy Bách Việt có tục xâm mình.

(2) theo Joseph Needham trong các bộ sách "Science and civilisation in China – Introduction, History of Scientific Thought" – Cambridge (Anh Quốc, 1956). Các đặc tính khác của nhóm Bách Việt là văn minh trống đồng, trồng lúa nước, nhà làng...v.v...

(3) Giao 蛟 là loại rồng làm lụt lội (flood dragon) – không thấy trong chín con rồng (Cửu Long) thuộc huyền thoại văn hoá TH : chúng là Thần Long 神龍, Địa Long 地龍, Thiên Long 天龍, Ứng Long 應龍, Hoàng Long 黄龍, Bàn Long 蟠龍, Cầu Long 虯龍, Phục Tàng Long 伏藏龍, Long Vương 龍王. Thần Long (spirit dragon) coi quản thời tiết, luôn luôn phải được thờ phụng nếu không sẽ gieo tai hoạ. Địa Long (earth dragon) quản lý sông ngòi – mùa xuân ở trên trời và mùa đông ở dưới biển. Thiên Long (heaven dragon) là rồng cao cấp nhất, vua của các loài rồng. Ứng Long (winged dragon) là rồng có cánh hầu cận Hoàng Đế. Hoàng Long (yellow dragon) không sừng biểu tượng cho sự hiểu biết thông thái. Bàn Long (coiling dragon) trú ẩn ở các hồ nước. Cầu Long (horned dragon) có sừng và là loài rồng dũng mạnh nhất. Phục Tàng Long (dragon of hidden treasures) trông coi bảo vật dấu dưới đất. Long Vương chỉ các con rồng làm chúa bốn bể (đông tây nam bắc). Cửu Long là chín loài rồng tốt, so với giao 蛟 là loài rồng xấu mang đến nhiều tai hại, cũng như ly 螭 (chī BK, loài rồng không sừng). Điều này cho thấy lần nữa là giao không thuộc vào loài 'chính thống' và cát tường của phương Bắc, dĩ nhiên là giao có nguồn gốc ma n di từ phương Nam! Theo Tả truyện 左傳 (?) thì bộ lạc Thái Hạo 太皓/太昊/大皞 có 11 thị tộc rồng là: phi long 飛龍, tiềm long 潜龍, cư long 踞龍 , gián(g) long 降龍, thổ long 土龍, thuỷ long 水龍, thanh long 靑龍, xích long 赤龍, bạch long 白龍, hắc long 黑龍, hoàng long 黄龍. (những chữ Hán chỉ viết theo âm/nghĩa, chứ không phải theo nguyên bản! Lại còn có sách Trúc thư kỉ niên cho biết thị tộc Phục hy thì cũng thế (trừ Phi long là Trường long).
Cát Hồng 葛洪 (283-363) đời Tấn 晉 (265-420 SCN) còn ghi nhận trong 'Bão Phốc Tử - thiên Đăng Thiệp' 抱朴子 内篇 登涉: 辰曰 稱雨師也 龍也 là '...Thìn viết, xưng vũ sư dã, long dã...' : đây là văn bản rất xưa, nhưng sau Luận Hành của Vương Sung (đời Hán), cho thấy Thìn/Thần chính là rồng và là thần mưa.

(4) điều này cũng được tác giả Thái Văn Kiểm ghi nhận trong cuốn "Việt Nam Anh Hoa" – NXB Làng Văn (Canada, 2000) và học giả Nguyễn Bạt Tuỵ cũng nhắc đến.

(5) theo William Baxter trong "A Handbook of Old Chinese Phonology" – NXB Mouton de Gruyter (1992).
Một chi tiết đáng chú ý là mãng phục 蟒服 chỉ phẩm phục hình con trăn của các quan ngự triều - dưới y phục hình con rồng (cho vua) một cấp.

(6) như theo tác giả Arthur Grayson Crisfield trong luận án tiến sĩ "Sound symbolism and expressive words of Laos" (1973), các bài viết của giáo sư Robert Blust về cùng chủ đề cho các ngôn ngữ Đa Đảo (Polynesian) / Nam đảo (Austronesian). Gần đây hơn là luận án của bà Margaret Magnus về 'Âm nghĩa học' (Phonosemantics) với chủ đề "What's in a Word? Studies in Phonosemantics" (Đại Học Trondheim ở Na Uy, 2001) cũng như các bài viết của tác giả Robin Allott về nguồn gốc cơ học của ngôn ngữ (Motor theory of language) : tất cả các tài liệu này đều có thể tìm đọc dễ dàng trên mạng Internet.

(7) trong cuốn "Cơ sở văn hoá Việt Nam" của Trần Ngọc Thêm – tái bản lần thứ 2 - NXB Giáo Dục (Thành Phố HCM, 1999)

(8) trích từ cuốn "Myths of China and Japan" tác giả Donald A. MacKenzie – The Gresham Publishing Company Ltd. (London). Sách này được tái bản nhiều lần như vào năm năm 1994 (Senate, London) ... Tác giả lý luận rằng rồng và huyền thoại TH còn duy trì các vết tích Âu Châu 'They were inland people and did not invent boats; they did not originate the agricultural mode of life but adopted it...' - tạm dịch '...Họ (người TH) sống trong đất liền và không thể sáng chế ra thuyền bè; Họ không phát kiến đời sống nông nghiệp nhưng thâu nhận nó ...' (trang vi). Có lẽ gốc Tô Cách Lan (Scotland) và nghiên cứu nhiều về văn hoá Celtic nên Donald Mackenzie (1873-1936) nghiêng về nền văn hoá này nhiều, tuy nhiên có những nhận xét khách quan của ông đáng được suy nghĩ.
Vấn đề nguồn gốc phi-TH của rồng nói riêng, hay hệ thống can chi nói chung, đã được nhiều học giả ngoại quốc (phi-TH) nêu lên – thí dụ như kết quả nghiên cứu của Carl Bezold cho thấy hệ thống thiên văn Babylon nhập vào TH khoảng thế kỷ thứ 6 TCN, và giáo sư Terrien de Lacouperie "The languages of China before the Chinese" (bản chính bằng tiếng Pháp, 1886; bản tiếng Anh bởi tác giả Otto Zeller - Osnabruck 1969) đề nghị dân tộc thiểu số Bak (=百 Bách [Việt]) chính là đầu cầu đưa các kiến thức thiên văn và 12 con giáp vào Trung Nguyên (Theo cuốn "The languages of China before the Chinese" 1886, bản dịch tiếng Anh 1969) của Terrien De Lacouperie, thì "Vietnamese is the oldest Chinese dialect." Tác giả Rupert Gleadow đã tóm tắt các chi tiết trên trong cuốn “The Origin of the Zodiac” – NXB Dover (2003).

(9) theo "Brewer's Book of Myth and Legend" - chủ biên J. C. Cooper – NXB Helicon (Anh Quốc, 1992). Rồng phương đông dính liền với nước, khả năng gây/kiểm soát lụt lội so với rồng phương tây dính liền với lửa và khả năng gây hoả hoạn. Con rồng phương đông chỉ có một cái đầu so với rồng phương tây.

(10) theo "Tự điển chữ Nôm" của Nguyễn Quang Hồng, NXB Giáo Dục, 2006)

(11) theo tự điển trên mạng www.chinalanguage.com

(12) bài viết "A Note on the origin of the Chinese Duodenary Cycle" của Jerry Norman, đăng trong cuốn "Linguistics of the Sino-Tibetan area – the state of the art" – Pacific Linguistics, Series C Number 87 (1985)

(13) theo bài viết "The Old Chinese Terrestrial Rames in Saek" của tác giả William G. Boltz đăng trong cuốn "Studies in the Historical Phonology of asian Languages" – Current Issues in Linguistic Theory – 77 , NXB John Benjamins (1991)

(14) qua các bài viết của giáo sư Li Fang-kuei 李方桂 như "Some Old Chinese loan words in the Tai languages" (Harvard Journal of Asiatic Studies 8: 333-342, 1945), "Studies on Archaic Chinese" (Monumenta Serica 31:219-287, 1975) ... và cuốn "A Handbook of Comparative Tai" – NXB University of Hawaii (1977). Thật ra từ thời Henri Maspéro (1930) tổ hợp phụ âm kl-, gl- đã được ghi nhận cho âm Hán Thượng Cổ (như vào thời Chu, 1000 năm TCN). Tác giả R. A. D. Forrest cũng nhắc lại điều này trong cuốn "The Chinese Language" (1948). Các nhà Hán học về sau như Bernhard Karlgren, Li Fang-kuei, Nicholas Bodman, Jaxontov ... hầu như đều chấp nhận sự hiện diện của kl-, gl- ...

(15) kỳ lân 麒麟 (qílín BK) hay きりん kirin (Nhật) mang nhiều hình dạng khác biệt, đứng hạng nhì sau con rồng nhưng lại là loài vật huyền thoại số một (tốt nhất) ở Nhật Bản. Lân đứng sau rồng trong bốn loài vật linh thiêng (tứ linh) long, lân, quy, phượng.

(16) chữ nông 農 trên giáp cốt văn cho thấy hình vỏ sò/hến? (dùng làm dao) cắt (gặt) lúa, trên kim văn chữ điền 田 bắt đầu xuất hiện và nghĩa chăm sóc đất đai bắt đầu rõ nét. Chính vì âm long tương đương mà ta có thể giải thích một dạng khác của nông là *rông hay ruộng, hay nương từ ghép (kép) ruộng nương. Ta còn thấy chữ nổng là chỗ đất nổi cao như cái gò (Việt Nam Tự Điển, 1954) liên hệ đến lũng 壠/壟 HV, lŏng BK viết bằng (lũng 隴 bộ phụ là tên riêng, địa danh) bộ thổ hợp với chữ long HT (cái gò trên ruộng, cái mả...). Thành ra liên hệ l-n đã có từ thuở bình minh của ngôn ngữ Việt và TH - cho tới ngày nay thì mỗi phụ âm lại có chức năng riêng biệt như la-na, lâu-nâu, lem-nem ... Đây là sự phát triển tự nhiên của ngôn ngữ để thêm phần hữu hiệu trong quá trình truyền thông.

(17) theo Edwin Pulleyblank trong cuốn "Lexicon of reconstructed pronunciation in early Middle Chinese, late Middle Chinese, and early Mandarin", NXB University of British Columbia (UBC) – Vancouver (Canada, 1991).

(18) tiếng Quảng Trị còn phát âm roọng để chỉ ruộng – theo tác giả Trần Hữu Thuần, bài "Tiếng Quảng Trị" đăng trên mạng Talawas ngày 13/6/2007. Để ý thêm là tiếng Mường rồng (rồng), rõng là ruộng, lỏng là luống, đổng (lưng), hõng là nương, rẫy ... cho thấy liên hệ long-rồng-đồng-ruộng-hồng (cầu vòng) có thể hiện diện.

(19) theo bản tin đăng trên mạng People's Daily ngày 5/2/2001 chủ đề "Chinese Dragon originates from primitive agriculture : Archeologist" – xem thêm chi tiết ở địa chỉ mạng http://english.peopledaily.com.cn

(20) theo tác giả Thường Tuấn trong cuốn "Văn Hoá về 12 con giáp" - bản dịch tiếng Việt – NXB Tổng Hợp – Thành Phố HCM (2005)
- Cũng hãy so sánh các địa chỉ tiếng TH:
http://blog.roodo.com/gamy543/archives/cat_191349.html
http://wolfbbs.net/viewtopic.php?p=167923
http://philosophy.zsu.edu.cn/2/jdjsx/info_Print.asp?ArticleID=552

(21) cũng theo một bản báo cáo đăng trên Tân Hoa (Xinhua) và Asian Economic News vào ngày 1 tháng 5 năm 2000, thì ông Wang Dayou 王大友 - một nhà khảo cổ TH – đã tìm ra hình khắc con rồng từ vỏ sò (clam shell) có niên đại cách đây 6400 năm. Hình khắc này được khai quật từ một ngôi mộ cổ ở Puyang 濮陽市, thuộc tỉnh Hà Nam vào năm 1987. Sau hơn 10 năm nghiên cứu, ông Wang đã kết luận rằng hình khắc con rồng dựa vào hình một con cá sấu đang giận dữ - số móng chân của hai loài vật giống hệt như nhau. Các dữ kiện khảo cổ này củng cố thêm giả thuyết về con rồng chỉ là biểu tượng của loài cá sấu đã từng hiện diện trong lưu vực sông Hoàng Hà cách đây hơn 6000 năm.

(22) sấm (sét) là grôm (tiếng Chơro), grôum (Bahna), gram (Mã Lai), grơm (Chàm), khơm (Mường), krưm (Chứt), grà-hèum (Thái) ... tương ứng với 2 từ HV chấn 震 và lôi 雷. Liên hệ Việt-Mường sấm-khơm so với sớm-khởm, sông-không, sáu-khảu, sim-khim ... cho thấy một dạng cổ hơn *krơm hay *grơm thuộc họ Nam Á. Chấn còn là một quẻ trong bát quái cổ đại - chỉ phương đông, sấm ... dựa vào liên hệ jiāng-giang-*krong –sông với phụ âm đầu k- ngạc hoá (thành ji- hay ch-, zh-), ta có thể thành lập liên hệ zhèn-chén-chấn-*grơm-sấm. Các dạng rầm (và rầm rầm, rầm rập), sầm (biến âm r-s) cũng như rần rần (và rần rộ, tiếng HV là lân 轔) đều chỉ tiếng động lớn, và đương nhiên tiếng động lớn nhất là tiếng sấm hay trời gầm! Đây là hình ảnh thiên nhiên lồng trong tên 12 con giáp và cho thấy tiếng Việt đặc biệt có nhiều mối dây liên quan đến chúng từ thuở ban sơ. Ngoài ra, một chữ hiếm thấy là chēn BK, viết bằng bộ mộc hợp với chữ Thần/Thìn 木+辰 HT nghĩa là khoảng giữa hai cây cột, mái (chìa) ... so với gầm, lòng tiếng Việt. Zhèn, chēn BK viết bằng bộ mục hợp với chữ Thần/Thìn 目+辰 HT nghĩa là giận, trợn mắt (=sân 瞋 chēn BK)... Đây có thể là các vết tích ngôn ngữ phương Nam trong tiếng TH.

(23) Edard Sapir (1880-1939) là một nhà Nhân Loại – Ngôn Ngữ Học người Mỹ gốc Do Thái. Các công trình của ông về ảnh hưởng của xã hội, tư duy về môi trường sống (world view) và ngôn ngữ đã tạo ra nhiều tranh luận cũng như các nghiên cứu sâu xa hơn và đặc sắc hơn về văn hoá và ngôn ngữ. Một nhận xét của Sapir là tiếng Eskimo (môi trường quanh năm có tuyết) có nhiều từ chỉ tuyết: như tuyết đang rơi, tuyết ở dưới đất, mưa tuyết ... so với tiếng Việt (phương Nam, môi trường nóng) chẳng hạn - hầu như chỉ có một từ là tuyết nhập từ các ngôn ngữ ở phương Bắc (xứ lạnh có tuyết). Cứ xem các từ chỉ ngôn thứ (địa vị, ông, bà, ngài, thầy ...) trong xã hội Á Đông, các cách dùng chỉ liên hệ họ hàng (chú, bác, cô, dì ...) tương ứng với ảnh hưởng của tư tưởng Khổng Mạnh rất rõ nét. Benjamin Whorf, một học trò của Sapir, về sau khai triển thêm về các liên hệ ngôn ngữ và tư duy về môi trường - một kết quả cực đoan có thể là ‘ngôn ngữ xác định tư tưởng’ (language determines thought) gây ra nhiều chống đối, nhất là từ các học giả thuộc phái Universalist – cho rằng ngôn ngữ loài người có một phần giống nhau (universal grammar), hay còn độc lập với các ngôn ngữ nữa.

(24) các dữ kiện về tiếng Đại Hàn trích từ cuốn "NTC's Compact Korean and English Dictionary" – tác giả B. J. Jones và Gene S. Rhie – NXB National Textbook Company (Illinois, USA, 1995).

(25) theo tác giả Axel Schuessler, cuốn "ABC Etymological Dictionary of Old Chinese", NXB University of Hawaii (2007). Ông cũng nhận xét rồng (long HV) có thể liên hệ đến cầu vòng (mống) hay hồng HV. Xem thêm chú thích (18).

(26) David E. Jones, nhà Nhân Loại Học thuộc đại học Central Florida, tác giả cuốn “An Instinct for Dragons” – NXB Routledge, 2002. Giả thuyết của Jones cũng bị phản bác bởi tác giả Paul Jordan-Smith vì thiếu nhiều dữ kiện có sức thuyết phục cũng như các huyền thoại về loài rồng có thể mượn qua mượn lại từ các giao lưu văn hoá ...v.v...