View Full Version : Lạc Thư Minh Triết
ganda
10-08-2007, 05:02 PM
Lạc Thư Minh Triết
Kim Định.
Tựa
Tập này tiếp nối quyển Nhân Bản nhằm trình bày mấy nét căn cơ thiết cận đến cứu cánh con người. Đối với những sinh viên đã đọc các sách khác trong bộ An Vi thì không có chi khó cả. Còn với những người mới gặp quyển này lần đầu thì có thể bỏ qua hai bài đầu vì có phần khó.
Bài 1 đặt vị trí quyển sách và bổ túc cho quyển Việt Lý Tố Nguyên nên không đến nỗi khó mấy. Bài II bổ túc cho quyển Chữ Thời trong những chương bàn về “cơ cấu thời gian với sự vật” về tam tài và “nguyên lý cũ, nhất là về nền triết lý bằng động từ. Đấy là những vấn đề rất tế vi, tế vi đến nỗi cả hai ngàn năm mà bao thế hệ triết gia không nhận ra. Nhưng câu nói “sai một li đi một dặm” lại đúng hơn hết trong triết học. Triết học chính tông không cần nói nhiều, viết nhiều nhưng quan yếu hơn hết là nhận ra một vài cái lẽ vì đó như trong chữ Etre và Avoir, như trong triết bằng động từ... Vì chính mấy cái tế vi đó cầm giềng một cuộc tiến hoá nhân loại. Đấy là những nét tế vi mà có nhận ra được mới trông cứu chữa được nền văn hoá nước nhà. Vì văn hoá ở đây không còn là văn chương văn nghệ nữa mà chính là vận hệ của nước, của nhà của cả thân tâm người học.
I
Gia Phả
Lạc Thư là sách của dân Lạc Việt! Nói câu trên chỉ là lặp lại một điều đã viết rồi trong Việt Lý Tố Nguyên, khi chứng minh dân Việt là tác giả hầu hết kinh điển của Nho giáo. Sở dĩ hôm nay nói lại điều ấy là cốt để đi vào chi tiết thuộc Lạc Thư xem có đúng với lời nói khái quát trên kia chăng.
Thoạt nhìn vào các vật biểu của nước nhà ta có cảm tưởng gặp một sự lộn xộn :
nào nước nào non
nào sông nào núi
nào tiên nào rồng
nào chim nào thú
nào vũ nào lân v.v...
Lung tung lắm.Nhưng khi tìm cách sắp loại thì ta thấy các vật biểu đó ăn khớp với nhau. Chẳng hạn nếu lấy hai chữ tiên rồng làm cứ thì ta biết rằng rồng quen ở dưới nước, khi bay lên trời thì cũng cỡi mây (long vân) mà mây cũng là nước; còn tiên thì quen ở trên núi, và quen bay nên đi với chim hay là vũ tức lông chim. Do đó mà vật biểu nước ta tuy nhiều nhưng qui về hai mối và ngày nay khi người ta nói “đứng lên đáp lời sông núi” hay là “đi theo tiếng gọi nước non” thì chúng ta vẫn vận hành trong quan niệm lưỡng thê của tiền nhân. Và thế là khi ta bảo rằng Lạc Thư là sách của Lạc Việt thì chỉ là nói lên một điều đã hàm chứa sẵn trong dạng tự chữ Lạc Dạng thức đó cũng chỉ là âm dương nhưng được chẻ nhỏ ra và thân cận hoá để đạt mục tiêu đua cái phi thường vào trong những cái thường thường. Phi thường là Đạo: “nhất âm nhất dương chi vi đạo”. Tuy nhiên hai chữ âm dương quá mung lung nên được Lạc Thư thân cận hoá bằng những cặp đôi gần gũi quen thuộc hơn như nước với lửa, núi với sông, sơn với thủy, mẹ với cha, tiên với rồng... Ta biết rồng quen ở dưới nước vì thế mà có Lạc Long Quân
( 貉 龍 君 ) ở Thủy phủ và có sách Lạc Thư viết với bộ thủy. ( 洛 龍 君 )
Bạn bảo rằng suy luận như thế không ổn vì chữ Lạc Thư
viết với bộ thủy, còn Lạc Long Quân viết với bộ trãi thì ăn nhằm chi? Thưa rằng có ăn nhằm lắm miễn đừng bỏ qua mấy việc sau: trước hết là đã có nhiều cuộc cải cách văn tự, chẳng hạn từ chữ Kết thằng hoặc theo lối Chân Chim của Việt Nho, rồi đến chữ Khoa đẩu nét viết Con Quăng đời Chu mà ta có thể gọi là Hoa Việt Nho (1) sau cùng mới đến chữ lệ của Nhà Tần Hán như ta thấy ngày nay. Vì thế khó có thể căn cứ vào bộ mà suy luận, nhất là khi ta biết chữ đồng âm hay được thay cho nhau rất nhiều thí dụ từ Lạc Trãi ra Lạc Mộc
( 格 龍 君 ) rồi ra dạng tự với Lạc Việt, Lạc Dân, Lạc Tướng trong sách Quảng Châu ký và An Nam chí lược. Còn 2 sách Lĩnh Nam trích quái và Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sỹ Liên viết với bộ Trãi, trong khi sử ký của Tư Mã Thiên và Hậu hán Thư lại viết với bộ Mã. ( 駱 龍 君 )
Xét về nền móng thì như nhau vì đều nói lên yếu tố âm, nhưng nếu xét về vòng ngoài thì ta nhận ra ẩn ý của người viết. Tư Mã Thiên cũng như Hậu Hán Thư theo óc Hán tộc thì phải viết với bộ Mã vì theo Kinh Dịch thì Mã là tẫn mã chỉ phương nam đối với Long phi tại thiên thuộc phương bắc, nên viết bộ Mã là ổn vì đời Tư Mã Thiên thì Lạc Dân ở mãi phương nam trong vùng Bắc Việt. Con nếu viết với bộ Trãi là gây cớ cho người Việt nhớ lại Lạc Long Quân, một dòng vua đã có lúc chiếm cứ từ vùng Lạc Nam tới vùng Động Đỉnh Hồ, nên viết với bộ Trãi là mặc nhiên chấp nhận bờ cõi của nước Văn Lang xa xưa, như thế có thể đánh thức tâm hồn dân Việt trong việc đòi lại đất đai từ miền Lạc Nam, Lạc ấp, Lạc Dương thì thêm phiền. Vì thế để có thể viết với bộ Trãi thì phải là Trần Thế Pháp hay người cùng tham dự vào ký ức tập thể của một dân tộc đã lâu đời gắn bó với Rồng.
Rồng là vật biến hoá vô thường nên cũng là một thứ Xà, “thần xà” và vì thế trong bộ Mẫu tự chữ Lạc viết với bộ Trãi. Chữ Trãi chỉ vật có lưng dài hoặc những vật bò sát đất nên dùng để viết Lạc Long Quân. Chữ Trãi dùng để chỉ con kỳ lân một thứ hiêu có sừng thường gọi là thần vì tính trung thực chỉ thích húc vào những ai không ngay thẳng và gọi là giải trãi (Danses 141) (xúc bất trực giả). Vì thế được ông Cao Dao dùng để phân xử trong những vụ tố tụng hồ nghi không thể tìm ra manh mối theo lối thông thường. Sách Tiền Hán Thư (ch.57.ap.9v) khi nói đến con lân thì viết là giải trãi. Chữ trãi có hai lối viết nhưng ý thì như nhau.
Và thế là chúng ta hiểu tại sao phải là người Việt mới dám viết Lạc với bộ Trãi, hoặc khi viết với bộ chuy ( 雒 龍 君 ) là chim thì là nhớ tới mẹ Âu Cơ tiên nữ thường đi với chim. Huống chi chữ Lạc ban đầu là chỉ sông nên ngay mạn Hoàng Hà đã có 2 sông Lạc một ở Hà Nam đi với hai sông Y và Giản một nửa ở Tần đi với 2 sông Vị Kinh (xem Maspéro 7). Vì nó chỉ là một biểu hiện rất phổ biến, không cần phải ở phía Bắc nước Tàu, cho nên Lạc chỉ là “các nước”. Còn nếu bạn bắt rằng tiên tổ Việt phải đã ở trên bờ sông Lạc mới có quyền nhân Lạc Thư là của Lạc Việt thì tôi hỏi tại sao bạn dám quả quyết rằng trong tiền nhân ta lại không có một số đã sinh sống trong vùng Lạc Nam, Lạc ấp, Lạc Dương. Vả lại trong vùng Trường Giang cũng có sông Lạc (gọi là Tang Lạc) thì đã chắc gì ai mượn tên ai.
Bải rằng thiếu sử liệu chỉ là lý rất đuối vì là lý chứng tiêu cực, đã vậy không hẳn là thiếu, thí dụ “Tấn thư thiên văn chi” cho là phận dã nước Việt là hai sao Ngưu và Nữ tức là ở mạn Bắc rồi (3) nơi ấy có ấp Thường gần núi Hằng, có lẽ vì vậy mà có truyện Việt Thường cống chim trĩ (lại chim). Chúng ta biết theo Nguyệt lệnh thì biểu tượng phương Nam là Vũ chỉ cánh chim, đối với Tây là Mao (lông thú). Lại nữa theo bảng thập nhị bát tú thì chòm sao Phương Nam là Chu Tước (gồm bảy sao: tỉnh, quỉ, liễu, tinh, trương, dực, chẩn) nên cống chim trĩ phải hiểu theo huyền sử, trong đó lúc đầu “nước non” chưa phân li. Sơn Tinh và Thủy Tinh còn bồ với nhau nên Lạc long Quan vẫn lấy Âu Cơ thuộc núi, lửa. Tuy nhiên đấy cũng là giai đoạn sửa soạn cho nước non phân li. Vì thế Lạc long Quân tuy ở dưới nước mà đã giết Ngư Tinh (thủy tộc) và do kinh nghiệm ấy mà nói với Âu Cơ rằng: “ta là rồng sinh trưởng ở thủy tộc, nàng là giống tiên sinh ra trên đất (núi, lửa). Thủy, hoả “tương khắc” khó mà ở cùng nhau trường cửu. Nhưng dù có “đăng sơn nhập thủy” thì vẫn “hữu sự tương văn”. Sau đó Âu Cơ đưa 50 con lên ở “Phong Châu” sách viết rằng: “Âu Cơ dữ ngũ thập nam cư vu Phong Châu kim viết Bạch Hạc, tự suy tôn kỳ hùng trưởng chi vương”. Thực là rõ ràng: chữ Phong viết với bộ Sơn, còn Hạc là chim vốn đi với tiên với mẹ, phiền có câu (bây giờ là huyện Bạch Hạc) cái câu trong ngoặc này làm hại huyền sử bằng cách sử ký hoá, rồi người sau tin cắm mũi vào huyện Bạch Hạc ở Phú Thọ. Thế là để trụt hết ý nghĩa thâm sâu.
Con cả làm vua hiệu là Hùng Vương. Hùng là con chim đực, nghĩa là quyền cai trị chuyển sang tay đàn ông nhưng còn giữ phong thái của mẫu hệ đó là chưa truyền quyền theo cha con mà còn là truyền theo huynh đệ và như vậy quyền mẹ vẫn còn lớn, nên có thể nói là trong nước Văn Lang cồng bà vẫn khua inh ỏi ít ra một nửa bộ chuy của chữ hùng. Thế nghĩa là núi và chim vẫn quấn quít lấy những trang huyền sử nước nhà mà ta có thể chia ra làm ba giai đoạn với bóng mẹ hiền là:
Thái Sơn với bóng Nữ Oa.
Lĩnh Nam với Vu Tiên.
Phong Châu với Âu Cơ.
Đấy là những thời hoàng kim của nền Minh triết Lạc Việt. Trong cả ba giai đoạn các bà còn to quyền nên dầu ông và bà có ở hai nơi non nước khác nhau.
“Trí giả nhạo thủy (Lạc Long Quân)
Nhân giả nhạo sơn (Âu Cơ)
Nhưng vì vẫn nghe nhau (tương văn) nên trí giả lạc, phân giả thọ” L.N.V12 1.
Cả hai non nước chưa có gì là xung khắc như về sau đã xẩy ra. Mãi cho tới giai đoạn Mỵ Châu và Trọng Thủy thì vợ đầy tình thương (Mỵ) (4) mà chồng đầy trí xảo (ngư tinh) thì tuy có ở chung với nhau cũng chỉ còn có hai cái xác chết. Và chỉ còn để lại một biểu hiện rất bí ẩn đến độ con cháu không biết đọc ra. Nói khác tự cuối giai đoạn Cổ Loa trở đi thì cặp uyên ương nằm chết trong Việt Tỉnh. Tỉnh là ngôi sao đầu trong chòm sao chu tước án phương Nam, hai ngôi cuối là chẩn và dực. Nói nước Việt nằm ở phận dã sao chẩn, dực hay là Tỉnh, Quỉ cũng là một chòm, chòm phương Nam. Vì thế tiền nhân đã dùng chữ tỉnh làm gốc để biến ra Lạc Thư/
9 - 4 7
| |
3 - 5 - 2
| |
8 1 - 6
rồi Lạc Thư biến ra Hồng Phạm:
4 9 2
3 5 7
8 1 6
Hồng Phạm được khải thị từ sông Lạc (Hà xuất đồ. Lạc xuất thư) cho vua Đại Vũ nhà Hạ. Đại Vũ là họ máu của Si Vưu. Chữ Vũ với Si cùng họ Trung Dung với mầu cờ đỏ quẻ li. Vì thế vua là nhà Hạ, vì mùa Hạ cùng với Phương Nam là một. Sau này Hồng Phạm (tức Lạc Thư) truyền sang nhà Thương Ân cũng là cùng dòng tộc với Việt Nam. (xem Việt điện u linh) nên đã được chôn với Bảo Ngọc ở miền Nam ít ra cái ruột. Còn cái vỏ ngoài thì được một triết gia Việt là Cơ Tử truyền cho nhà Chu, nhà Chu giữ được một thời nên trở thành thịnh đạt: “úc úc hồ văn tai”! ở thời Xuân rồi tan rã ra ở thời Thu để lịm đi hẳn ở thời chiến quốc và thời chiến quốc chấm dứt bằng sự thống ngự của nhà Tần từ Tây Bắc đến đàn áp văn hoá nông nghiệp. Điều đó được huyền sử ghi bằng hình ảnh Mỵ Châu bị sát hại. May trong cuộc tan rã đó có một người ở nước Trâu tên Khổng Tử thuật lại Đạo xưa trong một số kinh điển. Đó sẽ là trung tâm học hỏi cho hai ngàn năm Hán học. Vì Hán học đổ trút tâm ý vào việc chú sớ huấn hỗ, trích cú tầm chương thành ra đánh mất vi ngôn đại nghĩa nên huyền sử cho bài học đó là cái hang và nói hiện nay cái hang còn ở núi Trâu Sơn”, hiểu rằng Kinh Điển do một hiền triết ở Trâu Sơn san định, nhưng vì người sau học các nộ lệ nên không ai tìm được ý nghĩa, nói bóng là không được con rắn cõng lên khỏi hang, nên trải qua bao đời gào thét chữ kiểu nô Nho, tiểu Nho mà không hiểu được Đại Đạo. Còn về phía Việt Nam thì huyền sử chép “Việt Tỉnh bị bỏ hoang phế” chẳng còn ai đủ sức kín được nước tự giếng lên: bởi sự đào vào tâm linh không đủ sâu, hoặc vì đánh đứt sợi dây truyền thống nên không đạt được chữ Tương nằm trong các cặp nước non, sông núi,
nước lửa,
tiên rồng,
bố cái...
Nên Lạc Thư chỉ con là mấy con số chết chẳng ai hiểu 3,5,9 là cái chi chi nữa. nhưng nếu đào sâu xuống giếng thì sẽ nhận ra 3 là con số của Tam Miêu (Miêu Việt) đó chỉ tam tài là cái nền móng lớn lao cho mối ương quan uyên nguyên giữa trời, đất, người. 5 là ngũ hành tức luật tương sinh “giá sắc”, là con số của Nữ Oa, mẹ của Viêm Việt, còn 9 là con số tương thấu tương nhập, tận cùng của cửu lý, cửu long, “nam thất nữ cửu” nên là những con số của dòng mẹ nông nghiệp. Ai cũng biết trong tay Nữ Oa là cái Qui hay số 5. Còn Phục Hi là cái Củ hay số 4. Cả hai là số sinh. Bây giờ phải thêm một số nữa cho ra số thành thì 4 đi với 3 = 7 (4)
4 đi với 5 = 9
Vậy cho nên văn hoá phương Nam là văn hoá nền Mẹ (nữ cửu) và những cái tết Thanh minh (3,5) Đoan ngọ (5,5) và Trùng cửu (9.9) Trung Thu (15/8) đều là những tết thuộc văn minh mẹ sẽ bàn sau trong quyển triết lý Cái Đình. Đó là nền văn minh của phương Nam, của Lạc Thư, nó đã là một thứ quê hương tinh thần tổ tiên luôn luôn hướng tới những chữ “Lạc thổ, lạc quốc, lạc giao” khi bị văn minh du mục phương bắc khuynh đảo. Bài Thạc thử trong Quốc Phong thường được hiểu là tiếng dân chỉ trích nhà cầm quyền áp hiếp, nhưng còn có thể hiểu rộng về văn minh Bắc Phương đàn áp văn hoá phương Nam
Thạc thử! Thạc thử!
Vô thực ngã miêu
Tam tuế
quán nhữ
Mạc ngã khẳng lao
Thệ tương khứ nhữ
Thích bỉ lạc giao
Lạc giao, Lạc giao
Thùy chi vĩnh hào!
Chuột to (chỉ người phương Bắc, vì Bắc thuộc cung tí là chuột) đừng ăn mạ ta, chữ Miêu lại chỉ dân “Hữu Miêu”. Tam tuế quán nhữ: đã ba năm ta phải đối phó với ngươi. Ba năm nay được hiểu là lâu năm, cũng biểu thị bằng ba vòng con giáp 3x60=180 năm. Ta biết Hồng Bàng Thị có mặc trước Hoàng Đế của Hoa Tộc 182 năm! Tức là đã lâu đời khai sơn phá thạch để có thể cấy cày... Vậy mà mày chẳng có kể tới công lai đó (mạc ngã khẳng lao) thế thì chúng tao phải bỏ mày mà đi (thệ tương khứ nhữ) đến một miền an vui kia = “thích bỉ lạc giao”
Ôi lạc giao!
Ôi dân Lạc giao!
Vì ai mày phải than gào?
Thưa vì chuột phương Bắc nên phải bỏ quê cũ là Lạc ấp để Nam tiến, lập ra miền Lạc Việt mới. Tưởng vậy đã được an vui (lạc) ai dè nó còn cho Trọng Thủy xuống khiến cho đầu Mỵ Nương bị lưỡi gươm oan nghiệt xía vào. Thế là tự đấy cũng mất luôn cả Lạc giao, vì đã mất cả ý thức về đạo lý của Lạc Thư. Thế là tiếng khóc than của đoàn người Lạc Việt kéo dài hơn hai ngàn năm, cho tới nay lại thêm cái đoàn chuột chù từ Tây Bắc tràn đến làm cho tiếng bi ai trở nền trầm thống vô cùng.
Hôm nay chúng ta trở lại tìm hiểu cái cơ cấu của Lạc Thư, hòng mở ra được một cuộc phục hưng trung thực. Đó sẽ là điều được thử làm trong khoá giảng này. Nhưng trước hết cần phải tìm hiểu khái quát về Lạc Thư. Và câu hỏi đầu tiên là tại sao lại gọi Lạc Thư là sách mẹ?
Thưa gọi là sách mẹ để đối lại với Hà Đồ là sách của Bố. Bố đi theo vòng ngoài phải chịu điều kiện của thời không, hết sáng mới đến trưa, hết Đông mới đến Tây, có nghĩa là đi theo lối lần từng bước gọi là diễn dịch, là luận lý hay biện chứng. Còn mẹ Nữ Oa lại cắm cái qui tròn chi lối biết trực thị, trực giác là cái biết riêng của phụ nữ có sự mẫn tiệp tâm linh và tế nhị hơn đàn ông vì thế mới có câu “Lạc Thư hình vuông mà dung tròn” Điều đó được biểu thị trong hình Lạc Thư sau:
Hình thể Lạc Thư vuông nhưng lại dụng tròn.
Hình thể Hà Đồ tròn nhưng lại dụng vuông =
“Hà đồ thể viên nhi dụng phương
Lạc Thư thể phương nhi dụng viên”
Vì là vuông nên bánh chưng chính ra là bánh đất, nhưng có truyền thuyết cho là tự đời bà Trưng đã đổi tên là bánh Trưng, Bà Trưng là mẹ vuông (âm) nhưng lại dung tròn. Tròn là chu tri, tức là cái nhìn trực giác. Vì thế từ thập tự nhai (tức số 5 của Nữ Oa nghi mẫu) toả ra các số chung quanh trực tiếp mà không có hai vòng trung gian như ở hà Đồ. (Xem Dịch Kinh lình thể tr.148...)
Chính vì trực giác như thế nên tinh hoa của Lạc Thư là nhìn ra trời ở ngay trong đất, bởi vậy ở Lạc Thư số đất (số chẵn) chen lấn với số trời (số lẻ). Điều ấy có nghĩa là nhìn thấy đạo ngay trong đời khỏi tìm đâu xa, nói khác nhìn thấy cái phi thường ngay trong những cái thường thường. Chính vì thế mà đàn bà ưa thích cái gì cụ thể, riêng tư vì do khả năng nhìn thấy trong cái riêng tư có cái phổ biến, nhìn ra được cái vô biên, trong cái hữu hạn. Chính bởi đó mà Lạc dân có thể hãnh diện là dân tộc duy nhất trong thế giới mà không có triết học. Sở dĩ không có triết học là điểm đáng hãnh diện, vì triết học đã được thâu nhập vào đời sống nên gọi là giao lạc, giao chỉ theo nghĩa là hai chỉ giao nhau: chỉ trời giao thoa với chỉ đất, chỉ phi thường giao thoa với chỉ thường thường, nói khác là triết học được hiện thực vào đời sống, nến không còn triết học đứng riêng bên ngoài đời sống. Muốn thấy triết Việt thì đừng tìm trong sách nhưng phải tìm trong những lối sống, thí dụ trong lối tính tuổi của Tây thì không hàm ngụ triết nhưng trong lối tính tuổi ta thí dụ tôi sinh năm Giáp Dần thì Giáp là Thiên can hay phi thường nằm trong Dần chỉ cái thường thường. Nhờ thế mà bên Việt Nam triết học đã được hiện thực vào đời sống trước dăm ngàn năm sớm hơn những nơi chỉ biết tìm cái phi thường ở cái phi thường, nên thiếu hiệu nghiệm. Vì phi thường không thường xảy ra nên mới gọi là phi thường, nên khi tìm cái phi thường trong cái phi thường là chạy theo ảo tưởng. Muốn tránh ảo tưởng phải biết tìm đạo ngay trong đời, tìm phi thường ngay trong những cái thường thường gần gũi, có vậy mới hiệu nghiệm. Ta có thể đem ra tang chứng là chính trong đất Giao Chỉ đã thấm nhuần Minh triết Lạc Thư mà con người được giải phóng khỏi ách nô lệ nhiều ngàn năm trước các nền văn minh khác, các làng xã được cai trị theo lối dân chủ từ ngày khai quốc và có thể gọi là ước trị. Đó là những đề tài mà sự đi vào chi tiết sẽ vượt giới hạn bài này. ở đây chúng ta chỉ đi vào cơ cấu nền tảng để xem sự giao thoa cũng gọi là nhập thể của Lạc Thư được hiện thực như thế nào.
Chúng ta thấy tiền nhân đã hiện thực theo lối tam tầng là thiên, địa, nhân đại để như sau:
Thiên thời: Khuôn theo Lạc Thư và lúc ấy gọi là nguyệt lệnh với nhà Minh đường cũng gọi là nhà làm lịch. Nhà Minh Đường có hai kiểu một kiểu 5 căn nói lên rõ thập tự nhai:
một kiểu 9 căn nói lên tính chất cửu là số mẹ (nam thất nữ cửu)
Lợi dùng khung Lạc Thư. a) lớn thì để vẽ bản đồ cửu châu (xem Việt Lý tr. 76) b) nhỏ thì để thiết lập chế độ tỉnh điền tức là cơ sở cho giải pháp bình sản công điền về sau, nó đã mở màn cho sự hiện thực công bằng xã hội lâu đời trước hơn các nơi bo bo ôm quan niệm tuyệt đối về tài sản.
Nhân hoà gồm những nguyên lý giúp con người sống với nhau cho hoà hợp. Các nguyên lý đó được phân phối ra 9 ô của Lạc Thư và lúc ấy gọi là Hồng Phạm nghĩa là cái mẫu mực lớn lao và mẫu đó gọi là ngũ hoàng cực, hay là tâm linh: mọi hành vi con người tư nhân cũng như công dân trong xã hội không thể ra ngoài tâm linh. Đó chính là cái dạng thức đang thiếu cho các xã hội hiện đại. Muốn cho cái Hồng Phạm ăn sâu vào tâm thức mọi người dân trong nước thì cần phải lấy việc huấn linh làm quan trọng. Huấn linh là dậy cho con người biết đời sống tâm linh. Vì thế các trường xưa đều rập theo mẫu Lạc Thư là tròn bao bọc vuông như Lạc Thư (thể phương nhi dụng viên). Vì thế các trường đã dùng ngay lối kiến trúc tròn vuông để nói lên điều đó, tức là tâm linh giao thoa với lý trí. Lý trí thường biểu thị bằng nhà vuông. Còn tâm linh bằng ao nước tròn như trường Bích Ung đời nhà Chu (Lễ ký Couvreur t.I. 280-281) trong đó dậy ca vũ, các cụ già được dự lễ dậy bắn tên và dự tiệc. Khi ngồi ăn tiệc thì xếp hạng theo tuổi tác, Trường của Chư Hầu gọi là Phán Thủy hay là Phán Cung vì ao chỉ là bán nguyệt. Bích Ung của Văn Vương có liên hệ với Linh Đài là thứ nhà có khả năng kéo được Linh Đức cũng là thứ nhà có ao chung quanh. Kinh thi gọi ao này là Chiêu hữu hay là Hàm trì. Rất có thể nhà trường “Bích Ung” cùng các hình thái đi kèm là lặp lại một dạng thức lâu đời hơn gọi là Động Đình Hồ tức là đình vuông xây ở giữa hồ nước tròn (nước chỉ Đông) trên đó có ca vũ bài “Hàm trì” mà Trang Tử nhắc tới trong Nam Hoa chân kinh (ch. 14C). Vì đấy cũng là trường dạy nền Minh triết Lạc Việt, vì Lạc dân khác du mục ở chỗ trọng văn đức hơn võ lực, nên trọng tuổi già, vì tuổi đại diện cho kinh nghiệm từng trải, bởi thế những giáo chức trong các trường Bích Ung bao giờ cũng phải là người già. Và trong các môn dạy thì bao giờ cũng có vũ chỉ sự biến dịch lưu linh và nhạc để chỉ sự hoà giao giữa người với thiên địa. Trang Tử viết:
Âm
Phù chí nhạc giả
Tiên ứng chi dĩ nhơn sự
Thuận chi dĩ thiên lý
Hành chi dĩ ngũ đức
ứng chi dĩ tự nhiên (địa)
Nhiên hậu điều lý tứ thời
Thái Hoà vạn vật:
Nghĩa
Này nhạc mà tới cùng tột, thì
Trước ứng với việc người
Thuận với lý trời
Vận hành theo ngũ đức
tự nhiên, tự nội
Rồi sau điều lý tứ thời
để hoà hợp vạn vật .
Bài “Hàm trì” hát trên địa vực Động đỉnh Hồ tức là trên đất Việt cũng như bài ca lâu đời nhất do ba người múa hoặc nhiều đợt ba người (chỉ Tam Miêu. Khi múa thì tay cầm đuôi bò, là tỏ mối quan hệ với Thần Nông ông tổ của Lạc Việt, có họ Khương, chữ Khương viết với bộ Dương (nên nói đầu bò). Xin nhắc lại là có rất nhiều sử gia đã ghi nhận sự đứt quãng của hai dòng lịch sử xảy ra lối 200 trước kỷ nguyên: Trước đó là đời sống đầy ca vũ, múa nhảy, còn sau đó là sự im dần tiếng hát tiếng ca. Đời Khổng Tử còn đàn ca hát múa, đến sau dần thì “xướng ca vô loài” người ca nhi không được thi cử... Đấy là dấu tỏ óc du mục đã làm ngạt thở tinh thần nông nghiệp của Lạc Thư. Huyền sử gọi đó là Mỵ Châu bị sát hại!. Vì thế hôm nay đi tìm lại gia phả chúng ta chỉ còn có những vết âm u như ẩn như hiện. Liệu có còn tìm ra những người đủ sức hú cho hồn Lạc Thư sống trở lại được chăng?
----------
Nguồn anviettoancau.net
ganda
10-08-2007, 05:09 PM
II
Trí tri tại cách vật
1.- Tại sao không cách vật
Khi con người hành sử ở đời, hay điều lý sự vật thì bao giờ cũng nương theo quan niệm nó có về sự vật. Nếu sự vật được quan niệm như bản chất im lìm đặc sệt thì thái độ nó sẽ cứng nhắc, còn quan niệm sự vật như mối tương quan, như tác động v.v... thì thái độ hẳn sẽ mềm dẻo hơn. Vậy vật là gì? Người dưới phố hay coi triết là lẩn thẩn vì hỏi vật là gì đang khi tự em bé cũng biết xe là xe, bánh là bánh = vật nào ra vật ấy minh bạch rành rọt lắm rồi. Tại sao lại còn phải hỏi vật là gì. Và cái biết tối hậu của Triết là biết được vật là gì “trí tri tại cách vật”. Nói thế có nghĩa là đối với triết nhân thì cái vật mọi người cho là biết đó mới chỉ là vòng ngoài xài đỡ cho đời sống thông tục, nhưng chưa là “vật” chính thực, cũng vì thế cái biết đó chưa là biết. Triết nhân chỉ cho là đạt được cái biết chân thực gọi là Trí tri khi nào đạt được vật gọi là “cách vật”. Chữ cách có nghĩa là đến tận nơi không còn gì ngăn choán ở giữa, khi nào vượt được cái ngăn chia thì gọi là “cách vật”. Chữ cách có nghĩa là đến tận nơi không còn gì ngăn choán ở giữa, khi nào vượt được cái ngăn chia thì gọi là “cách vật” mà nhà phật kêu là “Như lai” hay là “bản lai diện mục”. Phật giáo mang ấn tích của triết Âu Tây ngành Aryen, nên còn chú ý tới mắt xem, tuy nội dung đã nói đến “bản lai” nghĩa là có như thế đó thì đối diện với nó như thế, xem thấy nó như thế. Nho triết thì dùng chữ cách là tới tận nơi: không nói diện hay mục, cũng không nói gì khác làm chủ từ cho động tự cách: không mắt, không tai; nhưng nếu xem đồng văn thì ta có thể thêm chữ Thể là toàn bộ. Nhưng Thể cùng cực là Vô Thể nên chỉ còn là động từ cách, mà không ai hay cái chi cách. Không mắt, không tai...
Như vậy bây giờ ta thử quan sát xem tại sao con người không thể cách vật. Nói khác, cái gì được giăng lên ngăn trở con người cách vật. Nhưng trước hết cần hỏi có thực sự con người bị ngăn cách khỏi vật chăng? Cần phải thiết định sự kiện đó trước đã rồi mới tìm ra cái căn do sau. Minh triết bảo cho ta hay là sự vật hết thảy đều là phân cực và luôn luôn động đích chứ không phải là cái gì độc khối im lìm như giác quan ghi nhận. Đó là một điều khó tin nhưng ngày nay đã được kiện chứng do nhiều khoa học: như từ học, điện học và cuối cùng là vi thể. Tất cả đều minh chứng rằng sự vật chẳng qua chỉ là một lượng sóng, một thứ trường có đối cực. Vì thế ngày này không còn thể hồ nghi tính chất lưỡng cực của sự vật nữa, và do đó triết học cũng phải công nhận, chẳng hạn Heidegger gọi đó là nét gấp đôi (pli en deux). Không cần nói thì ai cũng nhận ra là quan niệm gấp đôi này khác hẳn với quan niệm độc khối, một chiều do tai mắt cung cấp. Quả thế ai cũng chỉ thấy sự vật là đơn thuần, gỗ là gỗ, lửa là lửa, kim khí là kim khí chứ không thấy như nền Minh Triết chỉ thị là vật có phân cực, có nét gấp đôi. Vậy là chúng ta phải nhận rằng sự vật là lưỡng cực, có lưỡng nhất tính, thế mà chúng ta lại chỉ thấy sự vật như độc khối im lìm, thì phải chịu là có cái chi đó ngăn cấm không cho ta thấy sự vật chung như là chúng có và như thế kể là xong điểm thứ nhất; quả có sự ngăn cách người với vật, nên vật có đối cực mà con người lại chỉ thấy chúng độc khối im lìm.
Bây giờ ta cứu xét đến điểm thứ hai là hỏi tại sao con người lại không đạt tới quan niệm sự vật như lưỡng cực? Ta nói rằng con người dưới phố thấy sự vật có một chiều thì là sự tất nhiên của đại chúng ít học, nhưng tại sao triết gia lại cũng chỉ thấy sự vật có một chiều, và lúc ấy ta hấy rằng không phải hết mọi nền triết đều thấy sự vật một chiều nhưng xét đại cương ta có thể nói Việt triết đã thấy sự vật là lưỡng cực, còn Tây triết cho là độc khối, và tất nhiên là chúng ta nghiêng về Việt triết. Nhưng đã gọi là triết thì phải triệt, nên cần tìm hiểu thấu đáo căn do tại sao triết Tây lại chỉ thấy sự vật có một chiều. Nói khác cần tìm hiểu xem triết Tây khác triết Việt dựa trên nguyên lý tối hậu nào mà lại nhìn khác triết Việt như thế, và lúc đó chúng ta sẽ nhận ra là vì nó dựa trên nguyên lý đồng nhất. Đó là nguyên lý chi phối toàn bộ triết học lý niệm qua trung gian của một vài nguyên lý cấm mâu thuẫn (principe de non contradiction) hoặc triệt tam hay căn nguyên. Ba nguyên lý sau này chẳng những đã không thay đổi được chút nào nguyên lý đồng nhất mà còn làm nổi bật lên tất cả những đặc tính của nó. Đặc tính đầu tiên là nó không thể chấp nhận cái gì khác nó: lửa là lửa chứ không thể chấp nhận nước, nên đi đến diệt tam v.v... Ta cũng gọi là nhị nguyên. Nhị nguyên thuyết là con đẻ của nguyên lý đồng nhất vì nó bắt chọn một bỏ một. Vì A=A không còn liên hệ chi tới B. Bởi vậy có thể coi chính liên danh nguyên lý đồng nhất phải chịu trách nhiệm trọn vẹn về sự con người thời nay mất ý thức về nét gấp đôi, hay là lưỡng cực tính của sự vật và vì thế triết không cách được vật, tức không thấy thẳng vật hoặc chỉ thấy vật kiểu lũ đông thấy sự vật độc khối thì triết học gia cũng thấy y như thế không thêm được chi cả. Thí dụ sự cấm mâu thuẫn là tất nhiên trong cõi hiện tượng vì lửa đi sao được với nước mà chả cấm mâu thuẫn, cho nên đưa đến diệt tam v.v... Nói đúng hơn thì triết học có thêm vào một hai yếu tố như khoa danh lý là ghép kiến thiết những ý niệm thành tư tưởng và tư tưởng thành hệ thống mà ta quen gọi tắt là ý hệ. Nhưng vì ý hệ cũng vâng theo nguyên lý đồng nhất nên sự thêm của triết học thay vì có lợi thì có hại: thay vì giải phóng thì lại trói chân tâm thức ở lại vòng ngoài. Và do lẽ đó ta có thể gọi 4 nguyên lý trên là những đô tuỳ cơ sẵn khiêng quan tài các triết học nào vâng theo nó ra nghĩa địa. Cuộc đưa ma này kéo dài qua suốt dòng sự mệnh Tay Âu: chúng ta chỉ cần liếc qua lại thì liền nhận ra.
2.- Tiến trình sa đoạ của triết Tây
Khởi đầu lịch sử triết học chúng ta thấy ví hai ngành lớn một bên chủ trương vạn vật biến động của Héraclite bên kia là vạn vật im lìm của Empédocle. Một bên là trở thành (devenir) bên này là hữu thể (Être). Ta có thể nói là hai quan niệm này giống triết Đông vì đây có thể hiểu như chữ Thể uyên nguyên của dịch lý nên nói Thể mà chính là vô thể. “Thái cực nhi vô cực: Thái cực mà vô cực”, nên vẫn có nét gấp đôi căn để (giữa hữu và vô) và do đó có biến dịch, nên rất có thể cả hai hiền triết trên chỉ nói về một điều, khác nhau chăng là về chỗ nhấn, còn cả hai (Héraclite và Empédocle) đều quan niệm Être như là động từ uyên nguyên, mà ta có thể dịch là “Tinh Thể” miễn hiểu Thể là Linh Thể, là cái căn cơ huyền linh của thiên nhiên vạn vật, y như nghĩa chữ vật trong Kinh Dịch cùng một nghĩa với đạo biến dịch, nên có nhiều tầng “đạo lý biến động cố viết hào. Hào hữu đẳng cố viết vật” h.t.x nghĩa là chữ vật cũng như Đạo, cũng như Hào nên rất rộng và sẽ biến tán ra nhiều nghĩa phó sản. Chính vì thế mà về sau Platon đã hiểu Tinh thể (Être) theo nghĩa Eidos là lý giới hay nguyên nhân đệ nhất, tức là một nghĩa đã xa lìa tiềm lực của động tự uyên nguyên để đốc ra một hiện diện trước chúng ta như một vật thể (étant) nên trở thành đối tượng suy tư nghiên cứu mà không còn là động tự uyên nguyên mà ta có thể cảm nghiệm, có thể sống, cho nên đấy là một bước sa đoạ chí tử khiến con người không còn thấy kinh nghiệm Tinh thể như một nét gấp đôi. Nói khác Sein (Être) đã biến ra vật thể (Seiende): từ hữu thể (Sein) đoạ lạc ra vật thể. Từ Être ra étant và từ đấy siêu hình thay vì sống tức thể nghiệm (tâm linh) thì lại chuyên suy luận về những ý niệm vật thể (lý trí) gây nên một thứ hư vô, một sự trống rỗng tinh thần vì thiếu tâm là thiếu linh. Bởi thể triết học chỉ còn xoay quanh những vật thể cá biệt mà không sao tiếp cận được với dòng sống sinh sinh linh lực cộng thông nữa. Tóm lại lịch sử triết Tây có thể coi như là một cuộc sa đoạ của tinh thần chìm dần xuống vật chất mà biểu hiệu nằm trong sự hiểu sai tiếng Sein (Etre): từ Tinh thể lưu linh doạ lạc ra vật thể ứ đọng, và vì thế đưa đến vật hoá tất cả sự vật nhất là con người (chosifier tout). Con người bị vật hoá trọn vẹn. Trong thực tế điều đó có nghĩa là con người bị giam cầm và tùng phục trọn vẹn 4 nguyên lý thuộc loại đồng nhất, không khác chi sự vật, nghĩa là thiếu hẳn nguyên lý chiều dọc tâm linh, nên quả là vong thân, tức quên đi mất cái phần tinh ba nhất của mình cũng là nét tư riêng độc đáo hơn hết của con người.
3.- Duy nhân cố vượt tình trạng vong thân
Đấy là điều đã được cảm thấy lờ mờ tự thời Phục Hưng nên từ đấy đã có những cố gắng phục hồi quyền làm người. Jean Jacques Rousseau (1772-1778) đã đề trên đầu quyển Confessions “tôi duy nhất cảm thấy tâm hồn tôi, và tôi biết con người tôi không giống như người khác. Nếu tôi không hơn họ thì ít ra tôi khác họ” (Moi seul, je sens mon coeur et je connais les hommes. Je ne suis pas comme aucun de ceux qui existent. Si je ne veux pas mieux, au moins, je suis autre). Những tư tưởng đề cao cá nhân này sẽ là bó đuốc soi đường cho nền tư tưởng Pháp quốc, và cuộc cách mạng Pháp 1789 đã nêu cao cá nhân là cùng đích tự thân “l’individu était une fin en soi” và Hegel đã ngây ngô đón chào cuộc cách mạng đó bằng câu “thiên đàng sắp được khiêng xuống dưới đất rồi” = Le ciel allait se trouver transporté sur la terre”. Đấy là những tư tưởng cách mạng đã dẫn đạo nền triết học mới nhằm đưa con người ra khỏi cảnh vong thân để dẫn đến chỗ cùng cực hạnh phúc.
Cho tới một buổi sáng kia khi thức dậy thì người ta mới nhận ra trên mặt đất không thấy thiên đàng đâu cả mà chỉ hấy la liệt những trại giam vĩ đại ngay cả trên mảnh đất Âu Châu (vài trăm triệu dân màu không đáng nói) ở đó người ta dùng người thay cho chuột bạch, hoặc thiêu từng ngàn người trong những lò khí hoặc để cho chết cái chết kéo dài bằng sự giam đói được duy trì cả nhiều năm.
Rõ rệt là một sự chà đạp con người hơn cả các đời trước. Và truy căn ra thì cũng do triết học nếu không trực tiếp chấp nhận sự giết người như cộng sản thì cũng do thất bại. Và sự thất bại đó nằm trong hai chữ “duy nhân” (anthropocentrisme) tức là lấy con người hiện thân làm trung điểm. Như thế là làm mất trọn vẹn chiều kích tâm linh là yếu tố đem lại cho con người giá trị và nhân phẩm vì nó liên hệ với vũ trụ. Và như vậy các triết học đời mới tự Descartes tới Hegel vẫn còn để con người tron trạng huống bị vật hoá như xưa.
4.- Sự phản kháng của hiện sinh
Trước sự thất bại ấy lại nổ lên một trào lưu triết học mới căn cứ trên hai động từ là (Être) và có (Avoir). Hai động từ này được kêu là “động từ trợ giúp” verbes auxiliaires vì nó giúp “chia” mọi động từ khác. Ai đã học tiếng Pháp đều biết thế: nhưng gọi là trợ giúp đã là sa đoạ, lẽ ra phải gọi là nền tảng. Vì đó là hai cột trụ chống dỡ vũ trụ ngôn ngữ: Etre chỉ trỏ tác động lưu nội (Verbe intransitif) thuộc tâm linh, còn Avoir chỉ tác động hướng vào sự vật để chiếm đoạt nên là cái gì hiện tượng bên ngoài mình. Một ngôn ngữ trung thực cũng phải có nét ngang hiện tượng (Avoir) và nét dọc tâm linh, (Être) và lẽ ra tâm linh phải bao trùm hiện tượng: lẽ ra Etre phải bao trùm Avoir như ta đã nói “mẹ tròn con vuông” nhưng đàng này thì Avoir đã bao trùm Être, nên tất cả các “thời” đều có Avoir, thời dĩ vãng là J’ai été, j’avais été: tương lai thì j’aurais été... thế mà khuynh hướng triết lại đặt nặng trên dĩ vãng vì là triết lý yếu tính, mà yếu tính là cái đã xong rồi, cho nên toàn thể triết đặt trên Avoir, đến nỗi Être cũng bị mang tính chất của Avoir để biến thành étant. “Ego sun qui sum” đoạ ra “ego sun ens summum” tức Thượng Đế bị bản chế hoá. Nói khác linh thể đốc ra bản thể, siêu hình đoạ ra một thứ lý giới mà con người phải có (phải Avoir). Phải có siêu hình, có đạo, vì nó ở xa, nó không còn ở trong con người đặng làm kỳ trung, nhưng nó đã đoạ ra tha trung của các thứ Avoir để trở lại tha hoá con người và hạ con người xuống hàng sự vật: Chosisme. Đấy là điểm đã đạp mạnh vào trí não của những người gây nên phong trào triết mới gọi là hiện sinh. Hiện sinh dịch bởi chữ Exister là một cách thế có bật ra khỏi = EK-sixter hiểu là bật ra khỏi cái khối lù lù Avoir của sự vật. Con người có biết sống bật ra khỏi khối lù lù im lìm mới trông lấy lại quyền làm người. Hiện sinh nói thế thì rất đúng, nhưng hiềm nỗi là sai. Vì đây không phải là biến dịch có động có tĩnh kiểu Dịch Lý nhưng là động đậy om sòm như người xưa đập nong nia để cứu gấu khỏi ăn trăng, thì các triết học gia mới cũng đánh trống Exister để cứu mặt trăng Être, đưa chúng ta vào giai đoạn hiện sinh để cứu gỡ con người, vì Exister khác Être (ít ra Être đã sa đoạ là yêu tinh) ở chỗ nhận thức ra sự tồn hữu cuả mình như một tác động tinh truyền, như một biến dịch không ngừng nghĩ “un incessant devenir” hầu sống bật ra khỏi lũ động vô thức, để tiến lên con đường nhận thức lại mình. Tự mình chọn lấy mình. Hễ ý thức được như vậy là con người mới hiện sinh thực sự, nghĩa là mình mới dám là mình, không còn để mình lẫn trong lũ đông. Từ đây chỉ biết có mình “Je ne voudrais ne tenir que de moi même” (Sartre: đã đặt vào miệng Danici trong quyển L’âge de la raison). Hiện sinh thành công đến đâu? Thưa thành công đưa đến một quan niệm bi đát u sầu về cuộc đời, coi con người như một hiện thân của phi lý làm nản chi tất cả “Tất cả mọi người sinh ra không có lý do và kéo dài kiếp sống tình cờ”. (Tout existant mait sans raison, se prolonger par rencontre. La Nausée) và như thế thì hiện sinh cũng thất bại. Thế là ta nhận ra rằng kiểu này hay kiểu khác triết học đã thất bại trong cả ba đợt.
Đợt đầu của Platon, Aristote vì để Tính thể đoạ ra vật thể, nên con người bị vật hoá.
Đợt hai của Descartes, Kant, Hegel đã tránh cho con người khỏi vật hoá bằng đưa con người đến tột đỉnh là trở nên Thượng Đế, nhưng đó chỉ là tột đỉnh của lý trí nên dù có là một Thượng Đế nhưng là Thượng Đế vong thân không ơn ích cho con người thực là cá nhân có xương có thịt nên cá nhân vẫn phải hi sinh cho nhà nước, y như những vật bất động một chiều.
Đợt ba tránh bất động bằng một cuộc động cỡn: động cuống cuồng hay động phản kháng. Tất cả vẫn chưa thành nhân dịch mà Kinh dịch kêu là “Thành vụ”. Muốn “Thành vụ” thì phải trở về học Dịch vì “Phù! Dịch khai vật thành vụ” = Vì chỉ có Dịch mới khai mở sự vật ra cho thấy có nét gấp đôi gọi là lưỡng nghi. nhờ vậy mà có thể thành vụ và thành nhân.
5.- Phù Dịch khai vật
“Ôi! chỉ có Dịch mới khai được vật” mới “cách vật” nên mới thành ra vụ, nghĩa là tri tri hay là đạt đến việc hiểu biết được đường hướng mà con người phải đi, đường đó cũng gọi là Đạo. Chữ đạo kép bởi bộ xước và thủ, ý nói “đạo là đi trở lại cùng nguyên thuỷ. “Nguyên thủy phản chung”, hoặc tuần hoàn hay là đi một vòng trở lại nơi đã phát xuất. Như vậy khai vật có nghĩa là khai đạo, còn thành vụ là “thành tinh tồn tồn”.
Để đào sâu chúng ta hãy tìm hiểu chữ vật trog đồng văn của nó, hệ từ hạ truyện rằng:
“Đạo hữu biến động cố viết hào,
Hào hữu đẳng cố viết vật
Vật tương tạp cố viết văn
Văn bất đương cố cát hung sinh yên” h.t.x
Sót câu : Cố viết vật , vật tương tạp ( tiếp chữ thứ 10 )
故 曰 物 物 柤 卡
Theo câu trên thì vật là hào, mà hào là đạo biến động. Bởi biến động nên có đẳng loại, và sự pha độ các loại gọi là văn, văn mà trúng độ thì cát, không đúng độ là hung. Đọc kỹ câu trên chúng ta nhận ra ba luật vũ trụ nằm gọn bên trong:
Một là luật biến động (đạo hữu biến động)
Hai là luật loại tụ (hữu đẳng)
Ba là luật giá sắc: sinh ra cát hung
Đó là ba luật tắc căn bổn phổ biến cũng gọi là “thiên tắc” àm cốt tủy của Kinh Dịch, với Lạc Thư là một có nghiên cứu thấu đạo mới gọi khai vật (cách vật. Vật có khai thì vụ mới thành “Phù! Dịch khai vật thành vụ” chúng ta sẽ nghiên cứu trong chương sau.
ganda
11-08-2007, 03:28 PM
III
Ba luật lớn trong vũ trụ
Vũ trụ quan Dịch Kinh xoay vần theo những luật tắc bất dịch gọi là “thiên tắc” Thiên tắc có nhiều nhưng có thể rút gọn vào ba luật lớn. Ba luật đó là biến động, loại tụ và giá sắc.
1.- Luật biến động
1) Muôn vật trên đời biến động không một vật nào ngơi nghỉ. Luật biến động là luật phổ biến, vì nó làm nên cơ cấu sự vật. Sự vật có là có do sự động. Không có động thì không có vật, mỗi vật đều là sự động, hay là một cuộc chạy vòng tròn để lại trở điểm phát xuất, nên ta gọi là tuần hoàn. Động theo vòng tròn là thế cách của luật biến động nên nó cũng có tầm phổ biến như vậy. Muôn vật trong vũ trụ không vật nào ra ngoài luật đó từ mặt trời mặt trăng mọc bên Đông lặn về bên Tây để rồi lại mọc lên bên Đông. Nước biển bốc thành hơi, hơi tụ lại thành mây làm mưa xuống lại chảy ra biển để rồi lại bốc lên. Máu trong tim chảy ra nuôi thân xác rồi lại trở về trái tim để đi ra nữa. Tất cả đều đi theo vòng tròn. Chính sự động tuần hoàn này làm nên sự sự vật , vậy mọi sự vật chẳng qua là những hình thái động xoáy ốc khác nhau. Bỏ sự động đi thì trên trời dưới đất không còn gì nữa cả. Không có vật nào thoát ra khỏi luật này. Chúng ta thấy sự thực theo luật biến động này đi trái ngược với giác quan cho sự vật là bất động, đông đặc, ù lì. Chính vì thế mà con người khó theo đúng được đạo nên còn cần bàn nhiều về luật này, ở đây chỉ xin rút ra một kết luận trực tiếp là.
2) Mọi vật có là có trong một dạng thức động: những hình thức đó qui dịch do sự mau chậm của sự động, những động vật hiện ra hình tích khả giác là những vật động chậm lên giác quan “thấy”: Giác quan cũng cùng một sự tiếp nhịp với chúng nên tưởng là chúng im lìm kì thực là chúng biến động không ngừng nghỉ, vật động càng chậm thì càng cứng chắc, càng động mau thì càng nhẹ xốp... Cây sắt được phóng đi rất mau bằng sức mau của ánh sáng thì sẽ trở thành ánh sáng. Vì thế mà có nhiều đợt chất thể, nhưng cho tiện thì ta chỉ thâu vào hai loại một là tinh khí hai là khí chất. Khí chất ở trong tầm với của giác quan, có thể tiếp xúc bằng xem, nghe, sờ, mó, cảm, ngửi, đo đếm. Nếu vượt tầm giác quan thì ta gọi là tinh khí, mà con người chỉ có thể tiếp súc bằng một nhậy cảm của tâm tình.
3) Những hình thái làm bằng tinh khí sẽ gọi là Tượng. Tượng là một hình thái quá tế vi. Khi ta có một ý nghĩ thì ý nghĩ đó liền làm nẩy ra một tượng, nếu nó ở đợt lý trí giác quan thì ta sẽ gọi là ý tượng, nếu nó thuộc đợt tâm linh thì ta sẽ gọi là linh tượng , linh tượng lẫn ý tượng đều tuân theo luật chung là biến động theo vòng tròn, rồi nó lại nguyên thủy tới nơi phá xuất của nó.
4) Đó là đại để mấy ý niệm cần thiết về luật đầu tiên là biến dịch và đó là luật phổ biến, gọi được là tiết nhịp uyên nguyên, vì thế muốn hoà nhịp với tiết nhịp đó cần con người phải biến dịch theo, nghĩa là phải tự động, phải “tự cường tự lực” phải biến động trong mọi việc: thân xác cũng như tâm trí, ngừng nghỉ là ứ trệ là trái luật thiên nhiên và sẽ bị đẩy đi như một yếu tố làm rối loạn tiết điệu của vũ trụ. Khi có sự hoà hợp với tiết điệu thì ta gọi được là “ sự hội thông” miễn hiểu chữ sự theo nghĩa biến động của dịch “thông biến chi vị sự” H.T.V “sự chính là việc biến thông là sự động” Gọi là luật phổ biến vì nó thâu nhập mọi việc: hễ không động là ứ trệ. Xác thân thiếu vận động trở nên yếu nhược: cơ năng nào không vận dụng tới sẽ thoái bộ. Tâm trí cũng thế thiếu luyện tập suy tư tìm hiểu cũng sẽ trở nên trí độn. Muốn sống mạnh phải tự cường cả trên mọi phương diện vật chất lẫn tinh thần.
2.- Loại tụ
Luật thứ hai rất quan trọng gi là Loại tụ, nói rộng là “các tùng kì loại”. Mỗi loại đi theo với loại của nó. Luật này cũng trình bày bằng câu:
“đồng thanh tương ứng”
“đồng khí lương cầu”
hoặc
“thủy lưu thấp, hoả tựu táo”: nước chảy về chỗ thấp, lửa đi đến chỗ nóng.
hoặc
“vân tòng long, phong tòng hổ” Mây theo rồng, gió theo hổ.
Đó là những phương thức bày tỏ luật loại tu “loi dé affinites”: các giống loại như nhau thì tìm nhau, hội tụ với nhau. Có muôn vàn loại, nhưng chia ra được hai loại lớn và chỉ thị bằng hai chữ Thiên, Địa với câu nói “thiên cao địa ti” trời cao đất thấp. Đó là bày tỏ theo lối tĩnh , còn theo lối động là:
“Bổn hồ thiên giả thân thượng”
Bổn hồ địa giả thân hạ. Tắc các tòng kì loại dã “ Vật nào xuất bởi trời thì đi với trời, vật bởi đất thì đi với đất, mỗi vật theo loại của mình”. Hai chữ thiên địa ở đây là hai danh từ rất tổng quát chỉ hai loại Thiên Địa, nhưng không có giới hạn rõ rệt vì nó ăn ngoắm với nhau. Nhưng ta có thể quan niệm rằng càng lên thì càng nhẹ, càng sáng, càng trong càng mở rộng.... càng xuống thì càng nặng, càng trọc, càng tối, càng thu hẹp... Theo như được biểu thị trong lược đồ thái cực sau:
Khi quan niệm theo án đồ trên thì dễ có được một ý tưởng khá rõ về sự vật có hai bình diện, và một ý thức sâu đậm về nét gấp đôi mà ta có thể tính tự dưới trở lên: càng ở dưới càng nặng nề, tối tăm, được biểu thị trong hình thái cực đồ vì càng đi xuống thì hình càng rậm rạp, tối tăm, lạnh lẽo, từ 2 ra 4 xuống 8, rồi 16, 32, 64 v.v... Ngược lại càng đi vào (hay đi lên) là càng gần sự mở rộng, sáng láng, nóng nảy, 8 ô dồn lại còn có 4 rồi 4 thành 2...
Với luật loại tụ này chúng ta thấy luật biến động đã kép lên một đợt: ở luật I mọi vật đều động theo vòng tròn, ở đây cũng thế nhưng vì có hai loại nên có hai vòng khác nhau: một vòng thiên cũng gọi là vòng đại diễn; một vòng địa cũng gọi là vòng tiểu diễn. Vòng nào cũng chia ra 4 chặng, 4 chặng của vòng thiên gọi là nguyên, hanh, lợi, trinh, 4 chặng của vòng địa là thành, thịnh suy, huỷ. Sự khác biệt nổi rõ lên ở hai đợt sau cùng: một bên là lợi, trinh, bên kia là suy hủy. Một bên còn lại, một bên suy hủy. Suy hủy vì nó lệ thuộc những cái thô đại, hiện hình nên theo trọn vẹn luật thời không. Con lợi trinh thì đi theo những cái tế vi, bất tử. Thí dụ khi con người chết thì chỉ có cơ quan, tế bào tan rã, nhưng khí năng vi thể vẫn còn nên nó khác vòng ngoài. Thế mà hai vòng đó vận hành đồng thời trong con người chúng ta nên rất khó phân biệt. Con người thế tục chỉ còn biết có vòng ngoài, nên đánh mất nét gấp đôi, nghĩa là mất ý thức về vòng trong. Để giúp vào việc nhận thức lại vòng trong này hãy thử dùng vài thí dụ rất cụ thể. Thí dụ cụ thể nhất có lẽ là cơ quan sinh dục vì nó là nơi tận cùng của hai vòng cách rõ rệt. “Suy huỷ” là nước tiểu, “lợi trinh” là tinh trùng có thể thành con người khác. Trong khi tiểu tiện con người tống ra ngoài một thức cặn bã đã làm xong một vòng hoạt động của nó, còn khi giao hợp thì tinh trùng lại là những nguyên tố tham dự vào vòng sinh sinh. Vì thế khi giao hợp con người dễ có cảm giác lâng lâng như được nhổ bật ra khỏi những hạn chế bé nhỏ cá nhận để hoà hợp trong vũ trụ bao la. Thí dụ cụ thể này đưa đến những công tác tinh thần và vật chất. Những sản phẩm của nghệ thuật của triết còn sống mãi, trong khi những chinh phục vật chất đã tan lìa. Tuy nhiên trong thực tế 2 vòng thẩm thấu vào nhau khó phân biệt. Chính sự thẩm thấu của hai vòng đại diễn (cũng gọi là vòng sinh) và tiểu diễn (cũng gọi là vòng thành) làm nên con người lưỡng thê nghĩa là có hai đời sống: đời sống miên viễn của đại ngã tâm linh và đời sống sinh huỷ của tiểu ngã cá biệt. Cần làm thế nào để giữ được thế quân bình giữa hai vòng đại diễn và tiểu diễn. Hễ giữ được thì gọi là thái hoà, tức sự bình quân chất lượng giữa thiên và địa. Chúng ta biết địa ở đây là những gì đã hiện ra hình tích làm đối tượng cho giác quan, nơi qui tụ mọi dữ kiện do giác quan thu lượm. Vậy mà lý trí lệ thuộc óc não, là những cơ năng vật chất nên ta gọi nó là cơ năng thuộc địa: cái gì phát xuất do nó sẽ phát triển theo vòng địa là thành, thịnh, suy, hủy. Sở dĩ như vậy vì càng xuống càng kép nét, càng trở nên trí tuệ nặng nề, nên nếu xuống quá độ thì sẽ không theo kịp đà biến dịch của vũ trụ Càn Khôn, mà chỉ còn biết chạy theo bộ chỉ huy của vòng tiểu diễn lý trí, nên gọi là nhị nguyên. Thí dụ rõ nhất về nhị nguyên là quan niệm của Descartes về linh hồn và thể xác, cho rằng hai đàng vận hành song song không liên hệ chi với nhau, xác thân chuyển vận như cái máy có thể tháo rời ra từng bánh xe với những hoạt động rõ rệt. Chúng ta biết rằng sự rõ rệt chính xác là thuộc về địa vị những vật đã hiện ra hình tích có mốc giới phân minh cái nọ phân biệt hẳn với cái kia. Nên khi đề cao sự minh hiển khách quan kiểu Descartes là đã ló ổ phục kích của lý trí vốn thích những xác định và ghét những gì u linh. Đây cũng là hậu quả của quan niệm im lìm về sự vật, nên không chịu “tự cường bất tức” để đưa ánh sáng tâm linh vào vùng địa lý hiện tượng. Theo loại tu thì:
“Đồng thanh tương ứng
Dị khí tương thù”
Nếu không tinh tấn tự cường thì một hai tia sáng lẻ loi của tâm linh xuất hiện liền bị lý trí xua đuổi vì thuộc “dị khí” nên nó tương thù. Nó chỉ đón nhận có “đồng thanh lý trí” với nó. và vì thế nó đưa con người vào vòng lý trí ròng, chỉ còn có “đồng đồng vãng lai” tức vận hành trong cõi duy, cõi đồng nhất đánh mất nét gấp đôi. Đó là cái vòng đeo cổ những triết học nhị nguyên. Muốn thoát hì con người phải biết cách vun tưới hạt giống tâm linh để nó mạnh lên và kéo những luồng sáng tâm linh đến với mình đặng trở nên mạnh mẽ, không bị lý trí tống cổ ra ngoài, nhưng làm chủ tình thế bằng tăng cường vòng đại diễn tâm linh để bao trùm lấy vòng tiểu diễn lý trí, đặng làm nên nhất thể vâng theo nhất luật. Đây là truyện khó nên Kinh Dịch chỉ có nói tới vòng này vì vòng ngoài ai cũng chạy theo rồi nên ai cũng biết vì nó hiện hình ra trước giác quan. Còn vòng trong vi tế vì vượt giác quan nên dễ bị chối đi hay quên lãng và dầu sao cũng khó biết, vì vậy Kinh Dịch chỉ chuyên bàn về vòng số sinh, vì hễ xuôi trên là xuôi dưới, vì tổng hành dinh của con người chính là ở vòng đại diễn này, còn lý trí chỉ là tổng hành dinh cấp tiểu diễn nằm trong vòng đại diễn. Vì lẽ đó Kinh Dịch đề cao tâm linh. Khi người ta lãng quên tâm linh, hoặc chuyên chăm cho lý trí nảy nở đến độ lấn át toàn vẹn tâm linh thì là duy trí nên thiếu biến thông, và đó là tình trạng thông thường. Con người hầu hết là duy vật. Không phải chỉ có cộng sản mới duy vật, tuy có thuộc những thứ duy vật khác nhau nhưng bản chất vẫn là sấp một: không còn là “đồng dị vãng lai” mà chỉ còn là “đồng đồng vãng lai” hay nói theo luận lý vẫn là “luật đồng nhất” ròng, đánh mất trọn vẹn nét gấp đôi nên cũng mất luôn thái hoà, không còn thể biến hoá. Quẻ Thái ở cung “song ngư’ nếu giữ đúng luật thái hoà thì cá chép sẽ hoá long: song ngư mới biến hoá ra lưỡng long chầu nguyệt. Sao không chầu Nhật Dương mà lại chầu Nguyệt Âm? Cần đặt ra câu hỏi này để lộ mặt nạ một sự xuyên tạc của Hán Nho đực rựa đã dựa vào câu “thiên cao địa ti” và “nâng dương hạ âm” v.v... để hạ đàn bà lấy cớ đàn bà là âm, là khôn, là địa... Đấy là xuyên tạc, vì trong khi nói “thiên cao địa ti” là nói trong tiên thiên thì thiên chỉ tâm linh còn địa chỉ lý trí. Vậy không có nghĩa là hạ đàn bà nâng đàn ông. Nhưng ngược lại là khác vì Thái Hoà thì không có phân ranh kiểu nhị nguyên A=A; nhưng trong âm có căn dương, trong con trai có nhiều chất âm, trong con gái có nhiều chất dương: “Dương quái đa âm, âm quái đa dương” h.t.4 thí dụ trưởng nam là quẻ chấn thì 1 dương 2 âm còn trưởng nữ là quẻ đoài thì 1 âm 2 dương.
Như vậy thì trong nữ có nhiều tâm linh hơn nam, nên cái Qui là tâm linh lại nằm trong tay Nữ Oa chứ không trong tay Phục Hi chỉ có cái Củ thuộc địa, dùng để đo đếm. Bởi lẽ có đàn bà luôn luôn được dùng để biểu thị nền Minh triết. Vì Minh triết phát xuất từ nông nghiệp giàu tính chất mẹ nên về sau gọi là Âu Cơ, rồi đến Mỵ Nương và Mỵ Châu. Mỵ với Mễ đều chỉ Minh triết nông nghiệp là một, nên khi Mỵ Châu bị giết thì cũng là lúc nền Minh triết Việt Mễ bị đàn áp trước Hán học đực rựa và tất nhiên nó đàn áp luôn đàn bà. Và cái luật tam tòng tiên thiên chỉ sự tuân theo ba luật vũ trụ là biến dịch, loại tu, giá sắc dốc ra tòng ba cái đực rựa là:
“Tại gia tòng phụ
Xuất giá tòng phu
Phụ tử tông tử”
Thế là trật khỏi đường rầy tiến hoá: tòng ba đực là ba địa, tòng ba cái củ (địa) còn chi nữa là cái qui (thiên)! Hán học nhi dĩ hĩ.
Bi phù!
3.- Luật thứ ba là giá sắc
Đây là luật tối quan trọng nên Lạc Thư đặt nó ở trung cung hành Thổ với câu “Thổ viên giá sắc” Cốt ý để người học chú ý đặc biệt, nhưng trong thực tế người ta vẫn quên luôn mặc dầu tuân theo những chỉ thị của luật đó trên bình diện hình nhi hạ mà quên hình nhi thượng, mà thực tế ra thì hai đợt y như nhau theo luật nhất thể; “thiên nhân tương dữ ” Muốn diễn tả hai chữ giá sắc ra tiếng thông thường thì là gieo gặt. Đây là một luật rất phong phú mà ta có thể gồm vào những câu sau:
Thứ nhất là gieo gặt
Thứ hai là ai gieo tất gặt
Thứ ba là gieo gì gặt ấy
Thứ bốn là gieo một gặt trăm v.v...
Đó toàn là những sự thực hiển nhiên trước mắt, đến nỗi không ai thèm chú ý đến nữa. Vì thế cũng quên luôn rằng nó hiệu nghiệm trong khắp vũ trụ hoàn trên mọi phương diện, nên bất kỳ ở đâu cũng phải chú ý tới để chọn giống, vì nó quan trọng cả trăm lần. Ngạn ngữ nói: “gieo gió thì gặt bão”. Câu nói tuyệt hay vì diễn tả được hai ý niệm then chốt của luật giá sắc một là gieo gì gặt nấy: gieo gió gặt gió, hai là gặt được gấp bội: gieo gió gặp bão. Bão là gió đã được tăng cường gấp trăm lần. Chúng ta cần giải thích ý niệm hai này trên bình diện đại diễn của linh tượng. ở đây nó cũng vận hành theo hai luật biến dịch và loại tụ đã nói ở trên.
Vậy trước hết theo luật biến dịch hễ cái gì có là có trong dạng thức, trong mô hình: thí dụ khi ta làm một cử động bất kỳ nào dù chỉ là một ý nghĩ thoáng qua thì liền tạo thành (nguyên) một mô hình đầy chuyển động tính, nên toả ra chung quanh một trường để hoặc bị thu hút bởi những ý nghĩ tương tự, hoặc nếu nó mạnh hơn hì sẽ lôi cuốn các ý nghĩ khác đồng loại mà nó gặp được trên con đường tuần hoàn (luật 1) để cùng với nó tăng thêm (hanh) và do đó lại kéo thêm nhiều ý tưởng khác để gia tăng thêm nữa hầu hướng đến chỗ gặt vào gấp trăm, nhờ đó biến thành điều lợi (lợi hay hại tùy nghi). Nếu ý nghĩ ban đầu do tâm linh thì nó sẽ kéo theo những ý nghĩ loại tâm linh. Nếu ý nghĩ do lý trí thì nó sẽ kéo theo những ý nghĩ thuộc lý trí. Và cứ như thế càng đi thì càng trở nên mạnh mẽ, để có thể trở thành một trường, một bầu khí và bao quanh người phát xuất cũng như những người cũng cùng loại ý tưởng đó, tiếng Tây quen nói “une ideé en I’air” là vô tình ám chỉ điều đó. Điều này ta đã có thể kiểm soát phần nào thí dụ nhiều khi ta có một ý tưởng như người khác: đôi khi nói lên rồi ta mới biết nhưng ít khi nói ra nên ta tưởng là ít có, mà thực ra nó có rất nhiều phát minh được phát hiện cùng một thời ở nhiều nơi... thì chính là do luật loại tu giá sắc này. Chính trong ý này mà Mạnh Tử nói về khí hạo nhiên được nuôi dưỡng thì tràn ngập trời đất. “Kỳ vi khí dã, chí đại chí cương. Dĩ trực dưỡng nhi vô hại, tắc hồ thiên địa chi gian” (Mạnh II). Khi bầu khí này đã đạt độ mạnh đủ thì nó làm thành tác động. Vì thế nhiều việc tuy ta không đích thân làm mà vẫn mang trách nhiệm vì đã hoặc phát khởi ý nghĩ đầu tiên hoặc tham dự vào những ý nghĩ tương tự. Suy nghĩ điều trên ta mới hiểu lý do tại sao tiên hiền đặt nặng thành ý: Vì nó là đầu dây mối nhợ cho những việc rất hệ trọng. Thế nên cần phải giữ ý cho thuần thành. Để được vậy cần vươn tới đợt Tâm Linh.
Vậy khi con người đi theo đường lý trí thì là gieo những hạt giống nặng, giống lạnh.... nên gặt những cái nặng nề, lạnh lẽo và nếu chất lý trí nhiều quá thì sẽ phá vỡ mất thế quân bình và trật ra khỏi hai đường rầy làm nên trục tiến hoá. Hai đường rầy này là thiên và địa mà con người phải tham dự cả hai ở một mức độ “bình quân chất lượng”. Có duy trì nổi mối bình quân mới giữ được cái đạo biến thông. Biến thông là sự trao đổi giữa hai vòng ngoài và trong hay là bình diện thể chất và tâm linh. Có biến thông mới là nhất thể sống động. ở trên đã nói rằng vòng đại diễn bao gồm vòng tiểu diễn, nên hễ đại diễn xuôi thì tiểu diễn cũng xuôi. Nếu vậy để cho chắc ăn thì ta nên gieo toàn chủng tử thiên chăng? Thưa rằng được lắm, nhưng vì con người là vật lưỡng thê nếu không gieo xuống đất thì gieo vào đâu? và nếu không gieo xuống đất thì làm sao biến động theo tuần hoàn: tức là trước khi trở lại phát xuất điểm nó phải đi hết một vòng của địa lẫn thiên. Chính cái vòng địa này có sống cho đầy đủ mới làm chín hoa quả do hạt gieo ra, vì theo luật giá sắc thì hạt gieo xuống có thối ra mới đâm bông và nở ra trăm hạt khác. Vậy thì trốn đời cũng lại là trải luật giá sắc là luật nền móng, nên phải hiện thực nó trong hết mọi chiều kích. Vì thế điều quan trọng là chúng ta phải nhận thức ra được tầm phổ biến của luật này: nó ăn sâu vào cõi tâm linh. Vì cõi này nằm bên ngoài tầm giác quan nên con người hay lơ đãng và vì đó nay mới gặt biết bao là bão do chính mình gieo ra, vô thức mà gieo ra. Ngày nay những khám phá mới của khoa học đã mở ra chân trời trên những thế giới vi trùng, luồng sóng điện, từ trường... là những cái trước kia người ta không ngờ đến là có, thì nay đã thành một thực thể thông thường. Hi vọng rằng nhờ đó người ta sẽ chú ý đến luật giá sắc để nó cũng phải trở nên một thực thể thông thường như vậy, để con người chỉ gieo những hạt giống tốt, những ý nghĩ yêu thương, công bình, kính trọng lẫn nhau, và cố tránh những ý nghĩ ghen ghét, oán hờn cừu địch, hận thù, vì không một cái gì trong trời đất dù chỉ là một ý nghĩ thoáng qua mà không nằm trong vòng ba luật của càn khôn đã trình bày ở trên. Nếu chúng ta suy nghĩ kỹ và tìm hiểu trên mọi sự vật chung quanh mình thì sẽ nhận ra tầm quan trọng của luật giá sắc.
Bây giờ bàn đến điểm chót của luật giá sắc là biết chờ đợi nuôi dưỡng những hạt giống tốt mình đã gieo ra: không nên “vật trợ trưởng” đừng có giúp cho nó mau mọc nhưng biết tùy thời, có thời gieo rồi thời gặt nghĩa là tin chắc vào luật giá sắc. Đã có giá tất có sắc. Nếu đã gieo hạt tâm linh thì tất chính mình sẽ gặt tâm linh: những chất cao cả, sáng láng, an vui, thanh thoát... toàn là những chất giúp cho tiến hoá mạnh.
Điều quan trọng là biết chờ đợi, chờ thời gặt. Đã có gieo thì sẽ có gặt. Vi thế mà có cả quẻ thứ 5 là Nhu trong Kinh Dịch mà Nho giáo đã đặc biệt chú ý bằng dùng tên quẻ Nhu để đặt cho Đạo là Nho: Nho là đem quẻ Nhu áp dụng cho con người, nên Nhu thêm bộ Nhơn thành ra chữ Nho. Điều quan trọng nhất trong quẻ Nhu là Hữu phu, nghĩa là tin vào khả năng tâm linh nơi con người. Đó là điều tối quan trọng cho sự tiến hoá, vì có tin như vậy thì mới đủ nhẫn nại cường kiện để đạt sự sáng láng hanh thông bền vững tốt lành. Đây là điều kiện để thành công trong mọi việc lớn mà việc lớn nhất của một đời người là tiến hoá. Lời kinh của quẻ Nhu nói “Nhu: hữu phu quang hanh trinh cát: lợi thiệp đại xuyên” : Quan trọng của đạo Nhu là hữu phu, tức tin tưởng vào khả thể vô biên của mình, thiếu đức tin đó thì một là chờ đợi một cách thụ động vô vọng, hai là không đủ dài hơi để chờ đợi. Chỉ những con người có chương trình dài hạn tin chắc vào khả năng của mình mới dễ nhịn nhục chờ đợi lâu dài. Vì lúc ấy không còn là chờ cho qua, nhưng là chờ đợi để mà vun tưới những hạt giống tốt mới được gieo ra và cần phải nuôi dưỡng, nên tượng quẻ Nhu gọi là “ẩm thực chi đạo” tượng viết: Vân thượng ư Thiên Nhu quân tử dĩ ẩm thực yến lạc. Nhu là đạo dậy nuôi dưỡng ăn uống hiểu theo cả vòng ngoài thuộc lam ăn, lẫn vòng trong thuộc làm người là nuôi dưỡng bằng tồn tâm dưỡng tính, dưỡng khí phách cho tới độ tròn đầy và luôn luôn tin tưởng vào kết quả tốt lành. Đó là ý của quẻ Nhu. Tượng quẻ Nhu là chờ đợi vì trên trời (quẻ càn) có nước (quẻ khảm) nên chữ Nhu viết với bộ văn và nhu có nghĩa là chờ vì sắp có mưa. “Vân thượng ư thiên” trên trời có mây tức sẽ có mưa. Có mưa sẽ là sẽ có gặt. Vì thế mà nói quẻ Nhu là tinh hoa của luật giá sắc. Giá sắc gồm thâu cả hai luật trước là biến dịch là loại tu. Cái lớn lao của Nho giáo nằm ở chỗ đó. Nho là áp dụng quẻ Nhu vào con người nên trong chương sau chúng ta sẽ đem ba luật trên giải minh qua đời sống con người.
ganda
13-08-2007, 09:30 AM
IV
Tinh khí vi vật
du hồn vi biến (H.T.IV)
精 氣 為 物
游 魂 為 變
1.- Những đợt tiến hoá
Câu trên diễn tả đầy đủ con người có tham dự địa như vật và thiên như hồn. Hồn là cốt cán nằm phần then chốt trong việc biến. Chữ biến đây bao hàm cả ba luật căn bản là:
Biến dịch
Loại Tụ
Giá sắc
Vi biến dịch nên cần phải du là đi xuyên qua. Xuyên qua những gì ? Muốn hiểu thấu đáo chúng ta cần hiểu quan niệm thái cực đồ về khá cạnh tiến hoá theo hình rút gọn như sau:
http://images5.pictiger.com/thumbs/b8/9abf5e9c6ecab99483d66eea8974bcb8.th.gif (http://server5.pictiger.com/img/1250536/picture-hosting/vctc.php)
Trong bản trên có 5 đợt. Mỗi đợt có thể chia 2 cánh: cánh ra (mục) và cánh vô (chiêu) cánh vào là tự thức, còn cánh ra là vô thức. Thí dụ tầng 2 là thần trở lại (chiêu) là thần tự thức, còn thần trở ra (mục) là thần tiềm thức. Tự thức sinh động trong vũ trụ sinh sinh, đã tự thức về mình; còn tiềm thức là tuy có thần nhưng còn ở trạng thái phôi thai hay là tiềm chế, cần được phát triển bằng đi xuyên qua cuộc tiến hoá tiểu diễn: thành, thịnh, suy, huỷ: nói nôm na là tiến tự bé thơ tới lớn rồi chím mùi v.v... Đó là tình trạng con người khi nhập xác thân, tuy là thần nhưng còn trong trạng thái tiềm thức nên cũng gọi là thần cơ hay thần chủng tử và chỉ có thể lấy lại tự thức bằng cách lớn lên, hay gọi là tiến hoá. Đó là lộ trình mà thần tự lúc phát xuất đều phải qua nhưng ở đoạn nào thì thần vẫn là thần, mà đặc tính của nó là tự nội, tự lực, tự cường. Nhưng ở đoạn khởi đầu phát xuất thì tính chất nội khởi tự quyết hầu như không có, và nó sẽ có đến độ đầy đủ nếu người ấy biết sống đúng chiều tiến hoá. Cứ nói chung ra thì sự tự tính này có mạnh nhất từ đợt thần trở lên, từ đợt thần trở xuống thì bớt dần và lúc đó sẽ hành động ít do tự tính tự nội nhưng là do mệnh lệnh bên ngoài dưới hình thức bản năng ít còn tự ý định đoạt.
Sau đợt thần thì đến đợt 2 là linh khí (hồn vía). Đợt linh khí có thể coi là phát xuất điểm của hồn con vật gọi là hồn khóm (âme groupe). Tại sao con vật cần hồn khóm, vì chúng thiếu chất tự cường của thần, nên cần nhiều “hồn” hợp lại để nương tựa nhau nên gọi là hồn khóm. Với con người thì đây là đợt có các loại vỏ hồn thần gọi là vía.
Bên dưới hồn khóm thì là phách thuộc đợt khí chất. Khí chất có thể chia hai tầng là tinh khí và chất khí. Tinh khí là tầng trên vật khí tầng dưới. Các vật tự đợt khí chất phát xuất thì phải trải qua cuộc tiểu diễn nghĩa là cuộc tiến hoá theo điều kiện của thời gian không gian. Thí dụ như con người phát xuất từ tầng thần tiềm thức thì phải đi xuyên qua các đợt 2,3,1 và khởi đầu việc đi trở lại nguồn từ đến 3 qua 2 rồi 1, như vậy là làm nên một vòng tròn (luật luân hoàn) chia ra làm 2 thời một thời ra một thời vào (nhất hạp nhất tịch). Thời ra đi từ 1 đến 4, là thời tiềm thức. Thời trở vào là từ 4 trở về 1 là thời tự thức, còn vật cũng phải tiến hoá theo vòng tròn như con người nhưng vòng của nó nhỏ hơn, thí dụ phát xuất từ đợt 2 thì cũng tận cùng ở đợt 2, nên thiếu thần tức thiếu độc lập tính nên chúng cần hồn khóm. Con người được định nghĩa như là “thiên địa chi đức” thì trong câu “tinh khí vi vật” chỉ cái đức của địa. Con câu “du hồn vi biến” chỉ cái đức của thiên. Du hồn kết hợp với tinh khí làm nên con người. Nói kiểu thông thường thì tinh khí là xác thân còn du hồn là hồn linh. Tuy hồn linh là tinh thần nhưng phải tuân theo luật biến dịch: nhất hạp nhất tịch: một đi vào thế giới vật chất, một nữa cùng với vật chất thăng hoa đi vào thế giới thần linh.
2.- Lộ trình của hồn linh
Vì thế mà cần phải “du” là đi xuyên qua những gì? Theo Kinh Dịch thì hồn ở đợt thần, mà thần ở đợt âm dương “âm dương bất trắc chi vị thần” “Bất trắc” không đo lường được, chỉ đo lường được từ khi có hình thái và chỉ có hình thái ở đợt tứ tượng. Với tứ tượng chúng ta mới khởi đầu có ý niệm về một vật gì, vì có ý niệm bao nắm một hình thái nào đó, vậy nếu mới là âm dương bất trắc thì cùng với thần là một, vì “thần vô phương” nên cũng bất khả đo lường. Nhưng vì hồn đã nằm trong cuộc biến hoá nên phải xuyên qua các đợt để đi hết một vòng: từ âm dương bất trắc xuống đến đợt âm dương khả trắc là xác thân hay những vật hiện ra hình tích ở các đợt giữa biểu thị bằng 2 ô tứ tượng và bát quái. Những đợt đó trong con người sẽ gọi là via và phách. Theo luật loại tụ thì một loại chỉ có thể tác động trong một bình diện khi có những khí cụ cùng một loại với bình diện đó. Thí dụ muốn tác động trên bình diện hiện tượng thì phải có khí cụ cùng loại hiện tượng và xác thân. Theo luật “loại tụ” này thì mỗi khi hồn đi qua đợt nào thì cần phải mặc cái vỏ làm bằng chất của bình diện ấy. Vậy khi hồn khơi cuộc du hành trong cõi biến hoá thì đợt đầu tiên phải bước vào là đợt từ vựng ở đây hồn mặc cái vỏ ngoài là vía. Vía thuộc loại linh khí bên trên tinh khí của phách sẽ nói dưới. Linh khí cũng có nhiều độ thì vía cũng thế nhưng trong thực hiện chúng ta chỉ cần một chữ vía để chỉ chung cho các vỏ khác nhau trong đợt trung gian này. Ta chỉ cần căn cứ vào luật loại tụ mà suy diễn ra rằng: có thể có nhiều vía làm như các vỏ khác nhau của hồn, càng đi sâu xuống thì vía càng trở nên dầy đặc hơn, để cuối cùng có thể kết hợp với phách. Vì thiên nhiên không nhảy vọt “Natura non facit saltus”. Tuy vậy cần bao nhiêu vía thì chúng ta chưa vội tìm hiểu vì bao giờ đạt tới đó mới đủ sức, hiện nay chúng ta hãy cố gắng cảm nghiệm được đợt phách liền với xác thân trứ hình. Vì thế phách là cái vỏ cuối cùng mà hồn phải mặc lấy để kết hợp với xác, hoặc nói lối khác phách là nhà tiền đường của xác để hồn vía bước vào nhà xác. Lúc nhập này được nhiều truyền thống cho là xảy ra vào quãng giữa kỳ thai nghén: ba bốn tháng sau khi có thai. Như thế phách đã thuộc vật chất nhưng ở đợt trên nên gọi là tinh khí và chính với tinh khí mà khởi đầu có vật. Các thú vật này cũng có hồn nhưng nhiều lắm là từ đợt vía trở xuống vì thế khác hẳn với con người nên nói con vật có hồn là nói theo nghĩa rộng, vì thế truyền thống tâm linh hay dùng chữ hồn khóm cho con vật. Xét về mặt vật chất thì con người cũng như con vật đều mặc một thứ vỏ (xác) tuy có hoàn bị hơn nhưng chất liệu là một, và có hai đợt là tinh khí và chất khí. Khởi đầu bằng tinh khí vượt giác quan nên không thấy trừ một số người có năng khiếu riêng đã có thể thấy phách như một bóng bao quanh người vì thế nhiều môn phái làm truyền ? kêu phách là double éthérique. Đó là một thứ xác nhưng làm bằng tinh khí nên con mắt thường không thấy, tuy nhiên vẫn có: khi một người cụt tay hay chân có lần cảm thấy như đau đớn hay nặng nề ở những phần tay chân đã mất, thì chính là tay chân của phách. Sau khi qua đời thì phách lìa khỏ xác và nếu cuộc tiến hoá của người đó đúng mức thì phách sẽ tan biến đi ít lâu sau. Khi ấy hồn sinh hoạt trên đợt vía (corps astral). Vía thuộc đợt tinh khí cũng gọi là đức, nên đức có nghĩa uyên nguyên là linh lực. Linh khí nằm ở giữa khí chất và thần. Bên trên thần là thiên hay thái cực. Vì thái cực cũng chính là vô cực nên ta không thể nào quan niệm nói nghĩ gì được cả nên gọi là vô thanh, vô xú, vô ảnh, vô hình. Bởi con người chúng ta chỉ phát xuất tự đợt thần. Thần thì trên giáp đợt dưới của thiên nên đủ ý thức và vì thế cũng bất biến, còn đợt dưới (thiên mệnh) biến hoá mới đạt bậc tự thức. Tự thức như vậy chỉ có trên nẻo về, nẻo sắc, còn nẻo đi ra gọi là nhất hạp hay là giá thì mới chỉ là hạt giống gieo ra, có thể gọi là cơ hay chủng tử.
3.- Luật liên đới căn cơ
Trong con người thường tuy đã có thần nhưng mới là thần ở trạng thái cơ hay chủng tử nên chưa có nhận thức. Vì nhận thức chỉ có được lần lần qua những kinh nghiệm sống trong xác thân. Sống càng sung mãn thì càng dễ nhận thức. Sống sung mãn bao gồm hai ý niệm một là sống đến cùng cực, hai là sống hết mọi kích thước người. Chính ý niệm sau là nền tảng cho luật liên đới căn cơ: theo đó mọi cơ năng phải phát triển đều đặn không được cái nọ lấn át cái kia: “vạn vật tịnh dục nhi bất tương hại” T.D. Vì thế luật này không cho phép đi quá đà trong khi hiện thực việc sống cùng cực: thí dụ lấy cớ sống cùng cực lý trí mà bỏ qua các cơ năng khác thì sẽ rơi vào duy lý nên cản trở việc sống tất cả mọi chiều kích của con người.
Đây là luật tối quan trọng nhưng thường bị hiểu lầm ngay ở những tôn giáo lớn. Người ta tưởng có thể siêu hoá bằng diệt trừ một số cơ năng hay là thân xác. Đấy là một lầm lẫn tai hại khởi xuất do sự hiểu sai đức điều độ, quả dục. Quả dục nhằm điều lý tất cả mọi dục, tức mọi nhu yếu của con người, nhưng khi hiểu sai thì biến quả dục ra các loại diệt dục, hãm mình, đánh xác... Hiện nay nhân loại đang nhận thức ra sự sai lầm đó, và đang cố công đi vào đường lối tiến hoá bằng cách phát triển đầy đủ mọi cơ năng, mọi chiều kích. Các chiều kích đó ta có thể tóm vào hai mối là sinh lý và tâm lý. Tâm có thể gồm ba chữ ý, tình, chí. Cả ba đều phải phát triển đều hoà. Vậy mà duy lý hay làm hại tình và nhất là chí, nên gây ra ứ trệ, vì theo luật liên đới uyên nguyên thì khi một cơ năng bị bỏ rơi không nảy nở thì nó ngăn trở sự nảy nở của các cơ năng khác. Vì thế nếu con người chỉ sống theo một chiều kích dù có sống đến tột chiều kích đó thì chưa gọi là sung mãn, muốn sung mãn phải sống tất cả mọi kích thước người, mà có sống sung mãn mới tiến hoá, hay là đạt cái tâm thức mà Kinh Dịch kêu là tự thức (quẻ kiền).
Chữ tự thức nói lên một chân lý nền tảng mà xưa nay ít người hiểu ra. Người ta thường lẫn ý thức với tự thức, cũng như đồng hoá hồn với lý trí suy tư “tôi suy tư vậy là có tôi” là một câu nói tai hại vì nó cắt hoạn con người mất phần tâm linh và trói ghì người vào mặt đất. Bởi vì chỉ có tâm mới đi với thần, với thiên, còn lý trí đi với đất với hiện tượng. Dùng lý trí ta mới có được ý thức. ý thức là nhận ra có mình, mình là một cá thể khác với tha nhân tha vật, có quyền lợi, có nghĩa vụ... như ta quen nói về trí thức, tuy nhiên đó mới là cá nhân thức. Chỉ đạt ý thức là khi nào nhận thấy chiều kích vũ trụ nơi mình (conscience cosmique) biết mình là thuộc tâm linh, cần phải hiện thực và khi hiện thực được thì như thần “chí thánh như thần”.
4.- Xác định tính chất hồn
Câu “chí thành như thần” giúp ta xác định tính chất của chữ hồn trong câu “du hồn vi biến”. Trên đã nói hồn phát xuất từ đợt thần là luận theo câu này. Và nhờ đó xác định nổi tính chất hồn vì chữ hồn còn lơ mơ đến nỗi người ta có thể bảo con thú vật cũng có hồn. Vậy có chi khác nhau chăng giữa hồn người và hồn vật? Ta sẽ tìm được câu trả lời nhờ câu “chí thành như thần”. Chí Thành là chỉ bước đạt thân hay là đợt cuối cùng của vòng tiến hoá tuần hoàn theo đó vật nào cũng trở lại nơi phát xuất điểm. Vì luật tuần hoàn nên bản chất của vật lúc đi ra cũng như lúc trở về. Nếu lúc trở về là thần thì lúc trở ra cũng là thần. Vậy thì hồn trong câu “du hồn vi biến” là thuộc đợt thần, chỉ khác nhau một ra một vào: ra gọi là xuất diễn: (évolution) cũng gọi là tiên hay giá; vào gọi là nhập diễn: (involution) cũng gọi là hậu hay sắc. Cái khác nhau là “tiên mê hậu đắc” (quẻ khôn) nghĩa là khi đi ra thì mê hay là vô thức còn lúc trở về thì là đắc hay là đã có nhận thức, nếu đạt cùng đường tiến hoá thì kêu là tự thức: Du hồn là đợt vô thức: con người sinh ra cũng vô thức và chỉ khởi đầu ý thức từ lối 12 đến 16 tuổi. Khi ấy hắn thấy mình đã “bị vất ra đó rồi” tức là đã đi được 1/3 đường tiến hoá mà không hay biết, vì thế gọi là vô thức. Bây giờ còn lại 2/3 phải đi cho xong. Nếu xong xuôi thì sẽ tiến dần đến tự thức ra khỏi cuộc tiểu diễn có sinh tử để nhập vào vũ trụ đại diễn sinh sinh bất tức. Khi con người chết ta quen gọi là “sinh thì ” tức là lúc sinh sinh vào cõi chỉ có sinh sinh đại ngã này, để hoàn thành chặng đường chót trong cuộc đi về “Thái Thất” tức là hiện thực trở lại mình là thần lớn tuổi, nghĩa là không còn là chủng tử thần nữa, vì lúc ấy đã chín mùi để tự thức trọn vẹn. Và đấy là cứu cánh của con người, tức là đạt thân cũng là đạt thần. Những điểm này thuộc cuộc đại diễn tâm linh vượt tầm lý trí suy luận nên khi người ta bám riết lý trí thì không nhận thấy, thành thử chỉ quan niệm sự vật im lìm trong thế đồng nhất. Và vì vậy dễ đánh mất chất thần trong quan niệm hồn thiêng; con người và hồn thiêng chỉ còn được quan niệm theo quan niệm đồng nhất, có khác với xác là khác về bậc chứ không về loại. Để được khác loại phải có thần, còn đây chỉ là khác bậc nghĩa là xác thì cụ thể, còn hồn thì trừu tượng, cả hai còn nằm trong tầm với của lý trí, và do đó đánh mất tính chất căn bản hơn hết của con người phát xuất tự thần.
5.- “Thần bất ỷ”
Bản chất của thần là “bất ỷ” = không cây dựa vào đâu cả. Chính vì không cậy dựa vào đâu nên nói “duy thần dã, cố bất tật ? nhi tốc, bất hành nhi chi: “ H.T.X “chỉ có thần mới không vội mà mau, không đi mà đến” là vì không lệ thuộc những điều kiện không gian và thời gian, vì thế quan niệm con người chỉ có xác và hồn như Descartes thì sẽ đánh mất thần tức là đánh mất tính chất tự lực tự cường, và dẫn đến chỗ bắt con người lệ thuộc vào ngoại lực quá đáng làm suy yếu tinh thần con người vô kể. vì lý do đó trong nền Triết lý Việt Nho hay nhấn mạnh đến chữ Tự: Tự cường, tự lực; Thành giả tự thành dã nhi đạo, tự đạo dã T.D.25. Còn rất nhiều câu khác, nhưng quan trọng hơn hết là chữ “tự tin” miễn hiểu được cách sâu xa tận gốc. Tự tin đây không chỉ nên hiểu theo đợt luân lý có nghĩa là tin vào khả năng của mình, nhưng còn phải hiểu đến cùng tột nghĩa siêu hình là tự mình đã đủ túc lý tồn tại, không phải qui chiếu vào cái chi khác như là cùng đích. Cái đó Kinh Dịch kêu là “hữu phu” “Hữu Phu” là cái đức tự tin đến bậc siêu hình này, nghĩa là con người đã là cứu cánh của mình, nói như Kant: con người là “finalité sans fin”. Con người là một thực thể tối vô ích, vì nó không dùng vào việc chi được cả, bởi chung cứu cánh của nó đã là nó rồi và nó chỉ đạt cứu cánh khi nó biết trở lại với nó, cứu cánh của người là người, là trở lại với nhân tính của mình, chỉ có thế thôi, chứ không thể trở thành khí cụ hữu ích cho cái chi cả, dù là cho quốc gia, cho nhà nước, cho đạo, trái lại Đạo cũng như nhà nước, quốc gia được thiết lập ra vì con người. Bởi vậy có thể nói là nó hoàn toàn vô ích cũng như hoàn toàn tự lập, đến nỗi một mình nó đủ là một hồn rồi.
6.- ý nghĩa sự độc lập và cô lập
Đấy là lý do sâu xa tại sao những con người chân nhân lại ưa thích sự độc lập tự chủ nhất là sự cô đơn. Vì chính cô đơn là những giờ phút giúp con người tìm lại cái cội nguồn chân thực của mình. Cội nguồn đó là thần. Vì thế mà cô đon được xưng tụng là cơ hội sáng tạo, là lúc giúp thắp nọn đuốc soi đường cho chúng nhân, là dịp xây dựng luồng tinh thần cho nhân loại, là vì cô đơn tạo điều kiện cho hồn xuất hiện nguyên hình như là chính nó là thế nghĩa là thần, và chỉ có khi nào thần tác động thì mới có sự sống, sự sáng, sự cao cả. Bởi thế ta thấy trong lịch sử loài người chưa có công trình lớn lao vĩ đại mà không được thai nghén trong cô đơn cũng như không có đại nhân chân thực nếu không được nuôi dưỡng trong cô đơn. Là vì chính cô đơn giúp cho con người tiếp xúc với tinh thần nơi mình, cái thần đó ẩn tàng trong thâm sâu và chỉ chịu nhô lên mặt ý thức ở những tâm hồn thanh thản vắng tiếng ồn ào của thế tục và những rộn rã của trần cấu. Vì thần cũng tuân luật loại tụ nên chỉ xuất hiện ở những tâm thức “đồng thanh đồng khí” nghĩa là tự tin, tự lập, bất ỷ. Khi có bầu khí đó thì thần xuất hiện kiểu của thần nghĩa là bằng những tia chớp loé sáng mà người xưa quen gọi là “trực giác” là “triệu văn đạo” hay linh hứng, thần hứng v.v... Đấy là những phút rất ngắn ngủi chỉ như tia chớp nhưng lại gây ra cả một bầu sáng nóng đầy chất sống, là những cái nền tảng cho văn hoá chân thật, văn hoá loại đó sẽ cải hoá, biến đổi con người và hướng lên tầng cao. Còn hiện nay văn hoá chỉ là văn học nghĩa là những kiến thức do lý trí, tưởng tượng sản ra thiếu chất sống, sáng, nóng, càng chồng chất lắm càng làm ngạt thở nhiều, vì bản chất của chúng thuộc về đất, thiếu chất tự chủ, nên cần phải chất nhiều để chúng dựa nhau. Đâm ra lấy lượng làm phẩm, đó là điều vô ích; chỉ làm cho con người gần với con vật.
Con vật không có thần nên hồn chúng phai là hồn khóm ( âme groupe ). Hậu quả là cần phải có cả từng khóm mới đứng được, vì chúng không có túc lý tồn tại nơi mình nên nó phải qui chiếu vào tha vật tha nhân như khí cụ: nó sinh ra “để có ích cho”. Vậy dù gọi là hồn thì cũng là gọi gượng, vì chủng tử của chúng phải xuất nhiều lắm là tự đợt linh khí vô thức, sống trọn vẹn theo bản năng, tức vâng theo các luật tạo hoá cách vô thức không như con người. Nên nói “nhân linh ư vạn vật” là thế. Chữ linh trong câu này hiểu là thần, nhưng trong thực tế chưa là thần tự thức mới là thần vô thức.
Như trên đã nói mỗi tầng trên mở rộng mênh mông hơn tầng dưới nên mỗi khi một thực thể tham dự vào đợt trên thì cũng thông phần đó. Ta chỉ thể lấy sự di chuyển xác thân để hiểu phần nào sự di chuyển tâm thức. Các con vật vì chỉ tham dự vào vòng đại diễn linh khí cách vô thức (ở chỗ truyền chủng) nên cũng chỉ di động một vùng nhỏ thường là cố định, không biến hoá kiểu con người. Đến như cây cỏ thì hết luôn cả di chuyển và lệ thuộc trọn vẹn vào một nơi, đóng cọc xuống đó nên không có gì tự lập nữa. Nếu lấy sự thoát lệ thuộc này làm thước đo, thì biết con người vượt xa con vật cả một loại, và loại ấy ban cho con người khả năng tự ý tham dự vào cuộc đại diễn tức cuộc tiến hoá trên giai tầng linh khí và thần linh. Các con vật chỉ tham dự vào vòng đại diễn này cách vô thức ở truyền chủng còn thì chúng vô thần cũng như vô thức. Nói cụ thể là không có làm chủ được vận mạng của mình. không có tự do theo nghĩa tự mình quyết định. Cái đó là của riêng con người. Và bản tính con người là tự do. Vì tự do phát xuất tự thần. Mà “thần vô phương” nên là tự do không có lệ thuộc. Vì thế con người chỉ có thể đạt cứu cánh của mình do con đường tự do. Tức là do mình định đoạt. Đó là luật “loại tụ”. Luật này cho phép thâu nạp hay kết hợp với những gì cùng loại. Nếu bản gốc người là thần, là tự do, thì chỉ có thể nuôi dưỡng để lớn lên để tiến hoá bằng những yếu tố tự do, tự ý, tự chủ. Ngoại giả các yếu tố tự ngoài chỉ có thể làm nảy nở phần thể xác. Và như thế không giúp vào việc tiến hoá ít ra sau 20 tuổi. Vi chỉ từ quảng này thì con người mới đạt tuổi thành nhân, tức là đủ khả năng sống trọn vẹn người.
Đại để đó là quan niệm con người đặt nền móng trên Kinh Dịch: nó vừa tiến hoá vừa mở rộng và chúng ta sẽ hiểu hơn giá trị của nó trong khi đem nó làm tiêu chuẩn để thẩm định các định nghĩa con người được triết học đề ra.
7.- Hậu quả khi thiếu thần
Trên ta đã nói qua về con người được quan niệm như một con vật biết suy lý của Aristote hay Descarles, chúng đã dẫn đến chỗ vật hoá con người, tức bóc lột trọn vẹn mất phần Thần là tự quyết, tự chủ, mà chỉ là những vật thể.
ở đây chỉ cần thêm một định nghĩa quen thuộc trong thời mới coi con người như con vật có xã hội tính, chính trị tính hay kinh tế tính = animal sociale, politicum, economicum. Tất cả các quan niệm này đều lấy tùy làm chính, sẽ cần đến qui hướng con người vào xã hội, vào quốc gia nhà nước hay đảng, vào việc sản xuất. Như vậy là lấy quốc gia làm cứu cánh cho con người hoặc lấy năng xuất đảng hay gì khác đều là đánh mất trọn vẹn tinh hoa của người. Những quan niệm đó sẽ dẫn đến những lối giáo dục từng loạt (đồng nhất hoá) những lối tổ chức hướng vào đoàn lũ hoá mà không còn để cho con người những phút riêng tư: tất cả đều muốn thay thế hồn thần bằng hồn khóm. ở hồn khóm không có suy tư riêng lẻ, không cần chi tới cô đơn riêng biệt; Vì cô đơn riêng lẻ cần cho suy tư, thế mà nơi con vật đã có bản năng thay thế cho suy tư nên không cần cô đơn. Còn nơi con người bị đoàn lũ hoá thì đã có ủy ban suy tư hộ, còn tất cả dân chúng chỉ phải phục tùng thượng cấp: đấy chính là tước đoạt con người mất hồn thần để gia nhập vào hồn khóm. Tất cả các xã hội độc tài đều đi theo lối thay hồn thần bằng hồn khóm này. Theo luật loại tụ thì “dị khí tương thù ” nên quan niệm này thù ghét những lối suy tư riêng lẻ, những giờ khắc cô đơn để cho lòng nghe tiếng lòng. Tất cả đều bị bãi bỏ hết. Như vậy là chặn đường tiến hoá của con người. Vì những lý do đó nên các xã hội tâm linh, những nền giáo dục có tính chất giáo hoá đều phải tạo điều kiện thuận lợi nảy nở cho tinh thần. Đó là điều chúng ta nhận ra đã có thể chế trong xã hội ta xưa. Tuy sự thức thì còn rất nhiều khiếm khuyết nhưng ít ra đã có thể chế như 4 Lễ gọi là quan, hôn, tang, tế. Trong 4 lễ này thì quan đứng đầu vì nó nhằm giải phóng con người ra khỏi quyền uy của mẹ cha, hay tất cả những quyền bính khác. Đây là một lễ riêng biệt của văn hoá Việt Nho nó rất quan trọng nhưng cũng là một lễ đã trụt mất hầu hết ý nghĩa vì ít được các quyền bính nhìn nhận.
Gọi là riêng biệt Việt Nho ít ra trong vòng ba nền văn hoá Âu, Ấn, Viêm thì chỉ còn có Viêm Việt duy trì được ít ra hình thái. Lễ này là hậu quả của quan niệm hồn thần. Hồn thần khác với hôn khóm ở chỗ độc lập hùng cường, nhưng vì thần tiền thức nên mới khởi đầu phát triển tính chất của thần từ tuổi dậy thì. “Dậy thì” là giai đoạn của con người phát triển tạm đủ khía cạnh cá nhân (địa) và khởi đi vào giai đoạn nhân (nhân) được biểu lộ ra ngoài bằng khả năng truyền chủng, mà dấu hiệu là có kinh nguyệt ở trẻ nữ và xuất tinh ở trẻ nam. Những hiện tượng đó thuộc truyền sinh, có phạm vi rộng lớn hơn bảo sinh (cá nhân). Trên phương diện tinh thần là mở đầu cho sự trỗi dậy của óc phê bình. óc phê bình biểu lộ nhu yếu khẳng định sự độc lập và củng cố nhân cách biệt lập của mình, nó kéo theo sự muốn thoát li gia đình, giũ bỏ mọi quyền uy và dễ coi những lập trường và chủ trương là lề thói đi trước là cổ hủ, cần vượt qua vì thế cũng là tuổi dễ gây nên những va chạm với những ai muốn coi hắn như niên thiếu, và cư xử với hắn cách trịch thượng. Tất cả những thái độ đó bị người không hiểu cho la lố lăng, kiêu ngạo. Nhưng với ai hiểu được nhân tính con người thì không những chấp nhận mà còn coi đó như những báo hiệu tốt của một cuộc tiến hoá mà hồn thần bắt đầu công cuộc nhận thức ra bản chất của mình. Do lẽ đó những xã hội được thấm nhuần minh triết đã đặt ra những thể chế giúp cho sự nảy nở kia được gặp bầu khí thuận lợi và được hướng dẫn. Văn hoá Việt Nho đã thiết lập lễ gia quan trong ý đó. Vì lễ quan nhằm hứng con người ra khỏi sự ỷ lại, để bắt đầu cuộc sống độc lập, không còn chịu quyền uy nào, trong đó phải kể trước hết tới quyền uy của mẹ cha, Quyền uy này cần thiết cho đứa trẻ từ lúc ra đời tới chung quanh tuổi đôi mươi (có thể 15-20) sau đó nên làm lễ gia quan để trả lại quyền tự định đoạt cho con cái và cha mẹ rút vào địa vị cố vấn bạn hữu. Lễ gia quan như vậy là sự thoát li quyền uy, được tổ chức do chính những người đang nắm quyền uy hầu giải phóng người đến tuổi thành nhân thoát khỏi những ràng buộc tự ngoại không còn cần thiết nữa. Vì thế để cho lễ gia quan đạt được hết hậu quả mong muốn thì cần có sự tham dự của hết mọi người liên hệ tới trẻ thành nhân, như quân, sư, phụ.
Quân: về mặt chính quyền chỉ được phép đòi ở người dân những hi sinh tối hiểu để duy trì nước, không bao giờ được xen lấn vào những địa hạt tư riêng thuộc nhân. Chỉ có dân thuộc xã hội, còn nhân thì không, nên kêu là nhân chủ.
Phụ: hiểu là mẹ cha phải lo liệu cho con cái cả hai phương diện tinh thần lẫn vật chất, nhưng cũng chỉ đến tuổi gia quan là nên ngừng. Sau đó cần để cho có cái hiện thực đức tự cường tự lực, vì có vậy chúng mới dễ đạt cứu cánh của con người. Bởi thế ngay về đàng tài sản cha mẹ đừng quá lo để lại gia tài lớn cho con vì như thế là làm cho chúng mất dịp tự lực cánh sinh tức cũng là vô tình làm chậm bước tiến hoá của chúng, nên theo luật giá sắc những cha mẹ đó cũng sẽ phải chịu trách nhiệm. Vì thế những cha mẹ hiểu thấu đạo không nên lo lắng quá nhiều về việc gây gia tài để lại cho con cái: chỉ cần cho chúng một khởi điểm tàm tạm con chính chúng phải làm lấy: kể ngay từ những đồ dùng và trang trí trong nhà. Đấy là dịp cho con cái phát triển các tài năng: sống đầy đủ mọi chiều kích: trong đó có lý trí cần phải tài bồi bằng tự lực cách sinh. Con cái nên được giáo dục để chúng ý thức tầm quan trọng của chữ “tự cường” để sau này không những không phàn nàn về sự thiếu sản nghiệp cha me giối cho, mà còn coi đó như dịp may để phát triển óc tự cường tực lực.
Sư: xét về thầy thì trách nhiệm càng quan trọng hơn. Nhiệm vụ ông thầy là phải hướng dẫn đại cương còn để cho môn đệ phải tự tìm lấy đường lối riêng tư nhất là tự gây cho mình những trực giác rất cần thiết cho đời sống tâm linh. Đem những ý nghĩ toàn lý trí nhất là quá nhiều sự kiện về hiện tượng nhồi nhét vào đầu óc trẻ là một tội ác mà hiện nay hầu hết các chương trình giáo dục đều phạm. Đã biết luật giá sắc ai gieo nấy gặt mà lại không để thì giờ cho trẻ gieo, không giúp cho chúng gieo hạt giống tâm linh còn làm tê liệt khả năng gieo hạt giống tốt bằng chồng chất hạt lý trí, bằng bắt lệ thuộc vào sự kiện hiện tượng tức là lệ thuộc vào đất thì không thể đưa chúng đến chỗ biến hoá, nhưng làm ứ trệ, làm ngãng đường tiến hoá và lâm vào đủ loại bế tắc. Con người hiện đại đang bị khốn đốn, thì truy căn ra là do tất cả các ngành giáo dục, văn hoá đều toàn một chất địa (duy lý) thì làm sao không phá vỡ mất cái mối thái hoà, tức hoà với tiết điệu uyên nguyên của trời cùng đất. Thuận theo tiết điệu đó là quẻ khôn. Đi theo tự cường đó là quẻ Kiền, nên Kinh Dịch đã diễn tả cuộc tiến hoá bằng quẻ Kiền. Theo thuyết quái VII thì Kiền là tự cường tự lực: “kiền kiện dã” chữ kiền viết với bộ Nhân ý nói lên tính cách tự chủ tự lập tự cường như các câu giải nghĩa quẻ Kiền “ Chung nhật Kiền Kiền” và “quân tử dĩ cường bất tức”. Vì vậy lấy tượng Kiền là rồng. Rồng không lệ thuộc vào đâu cả: lúc lặn dưới nước, khi hiện lên ruộng, lúc bay trên trời. Thực là tự cường tự lập. Cần vâng theo luật loại tụ mà tích chứa những tư tưởng cao đẹp, những cử động rộng lượng nhân ái để sửa soạn môi trường thuận lợi cho sự thức dậy và bay lên của rồng tức là của thần. Đấy chính là ý của “nhật tân chi vị thịnh đức” trong Dịch.
Để tóm lại. Đây là một bài nhằm phác hoạ lộ trình tiến hoá của con người, xác định nơi phát xuất của nó là thần, hay là hồn thần để phân biệt với hồn khóm của con vật. Đặc tính của hồn thần là bất ỷ, là độc lập thường được biểu lộ ra vào lối chung quanh 20 tuổi. Do đó có lễ gia quan nhằm giúp vào việc phát triển đặc trưng của hồn thần là tự lập, tự do v.v... Tự do tự cường mới là điều cốt chính; còn lộ trình, xuất phát điểm, quá trình tiến hoá chỉ là những phương tiện suy tư nâng đỡ tâm hồn không nên quan trọng hoá.
vBulletin® v3.6.11, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.