phapvan
09-08-2007, 10:05 PM
23 BÀI THƠ TỨ TUYỆT
Thiền sư Chân Đạo Chánh Thống
Hòa thượng Thích Bích Phong (1901-1968)
1
Vượt thành leo núi quá gay go
Để lại gia tài biết mấy kho
Con cháu nào ngờ đồ khốn kiếp
Đứa giành xe nhỏ đứa xe to
2
Công ơn của Phật nói không rồi
Mà kẻ tu hành bạc quá vôi
Nợ chúng còn nhiều đồ khó tưởng
Đài sen chín phẩm phóc lên ngồi
3
Chơi leo muốn hỏi bác Văn Thù
Tu luyện làm sao mới thiệt tu
Biết cảnh Nhứt chơn không kém Phật
Mắc vòng Tam giới cực hơn tù
4
Cái sự tu hành cũng muốn thu
Đi đâu họ cũng bảo thầy tu
Đã tu âu hẳn đành tu trót
Cuộc thế mà chi béo lại bù
5
Phật la Tổ mắng đã ê chề
Trăm kiếp ngàn đời vẫn cứ mê
Giở bộ Tòan thư mà ngó thử
Thái Hư ngài lại bảo a lê
6
Kiếp người tính lại có bao lăm
Văn tự làm chi rút ruột tằm
Nói ngược nói xuôi trăm vạn ngả
Như như hai chữ nói không nhằm
7
Đúc mãi chưa thành một chữ tu
Bao giờ cho ngộ trí Văn Thù
Vay đi trả lại còn mang nợ
Ba cõi còn mang một kiếp tù
8
Nợ trần hết trả, trả rồi vay
Sáu đạo vào ra rạn mặt mày
Sắm sửa hương hoa lên nịnh Phật
Nào ngờ ông Phật cũng khoanh tay
9
Hôm qua ông Phật mắng tôi rằng
Chẳng biết tu hành chỉ biết ăn
Âu phải liệu hồn chừa láu mép
Kiếp sau thiên hạ khỏi kêu thằng
10
Cái nghề làm Phật khó thì thôi
Mắc nợ quần sanh biết mấy rồi
Mà khối vô minh còn giữ chặt
Không thành ông Táo cũng ông Vôi
11
Họ xuân mình cũng muốn chơi xuân
Ngót sáu mươi năm xuân chán rồi
Tết đến vẫn còn xuân bận bịu
Bốn mùa thay đổi mãi không thôi
12
HỎI CÁC BÀ VÃI TRONG BAN LÀM BÁNH
Nương náu cùng nhau chốn cửa Không
Chị em nào có quản gì không
Lợi tha phải gắng nghề làm bánh
Bánh vẽ đừng làm có đặng không
13
VÔ ĐỀ
Cửa Phật vào ra để kiếm ăn
Mang chuông cắp mõ chạy lăng xăng
Tam thân Tứ trí đành không biết
Thợ Tụng Thầy tu cũng một thằng
14
Trong chốn thiến môn có một ông
Đến già còn giữ tánh chơi ngông
Văn chương đã xé quăng vào giỏ
Giành lợi còn đem đổ xuống sông
15
Này ông Di Lặc chướng thì thôi
Suốt sáng quanh năm mãi cứ ngồi
Hỳ, xả, Từ, Bi đầy một bụng
Không cho tôi với lại cười tôi
16
Xuân về thử hái một cành mai
Thành kính đem dâng trước Phật đài
Nhụy trắng hoa vàng sương vẫn đượm
Hiện trăm ngàn vạn bóng Như Lai
17
Vứa rồi chư Phật nhóm cùng nhau
Khiến đức Quan Âm mau vé tàu
Đến núi ngũ hành đều một chuếyn
Không nên kẻ trước với người sau
18
Việt Nam Phật giáo họ làm chi
Bàn bạc trong ngày đến bữa ni
Bánh, chuối, xôi, chè nhờ kẻ khác
Còn ngành văn hóa có ông Quy
19
A lô, a lô
Giáo hội tin cho Phật giáo đồ
Trong núi ngũ hành làm Phật sự
Tăng, Ni, đạo, tục kéo nhau vô
20
Cái ông sơ Tổ mặt đen sỳ
Đông độ tuôn ra chẳng nói gì
Sấp mặt xây lưng trên núi Thiếu
Cho ông Nhị Tổ cụt tay đi
21
Đương ngồi thiền định lúc canh ba
Ma Phật cùng nhau đến một nhà
Kẻ nói thế này người thế nọ
Chi bằng đừng Phật cũng đừng Ma
22
Ông Phật sao mà chẳng biết suy
Gọi hàng Hỷ Xả với Từ Bi
Đã rằng vật ấy tôi không thiếu
Nhập cảng mà Ông có lợi chi
23
Mũ len, tràng thụng cũnh như ai
Phê phẩy cho ra cái giạng Ngài
Sống mấy trăm năm mà dả dối
Cột đồng, giầng sắt khó kêu nài.
(Tòan tập Chân Đạo Chánh Thống, dịch giả, sưu tập Lê Mạnh Thát – NXB TH TP.HCM 2004, Trang 319-323 – bài này thiền sư chép bằng tiếng Việt)
Thiền sư Chân Đạo Chánh Thống
Hòa thượng Thích Bích Phong (1901-1968)
1
Vượt thành leo núi quá gay go
Để lại gia tài biết mấy kho
Con cháu nào ngờ đồ khốn kiếp
Đứa giành xe nhỏ đứa xe to
2
Công ơn của Phật nói không rồi
Mà kẻ tu hành bạc quá vôi
Nợ chúng còn nhiều đồ khó tưởng
Đài sen chín phẩm phóc lên ngồi
3
Chơi leo muốn hỏi bác Văn Thù
Tu luyện làm sao mới thiệt tu
Biết cảnh Nhứt chơn không kém Phật
Mắc vòng Tam giới cực hơn tù
4
Cái sự tu hành cũng muốn thu
Đi đâu họ cũng bảo thầy tu
Đã tu âu hẳn đành tu trót
Cuộc thế mà chi béo lại bù
5
Phật la Tổ mắng đã ê chề
Trăm kiếp ngàn đời vẫn cứ mê
Giở bộ Tòan thư mà ngó thử
Thái Hư ngài lại bảo a lê
6
Kiếp người tính lại có bao lăm
Văn tự làm chi rút ruột tằm
Nói ngược nói xuôi trăm vạn ngả
Như như hai chữ nói không nhằm
7
Đúc mãi chưa thành một chữ tu
Bao giờ cho ngộ trí Văn Thù
Vay đi trả lại còn mang nợ
Ba cõi còn mang một kiếp tù
8
Nợ trần hết trả, trả rồi vay
Sáu đạo vào ra rạn mặt mày
Sắm sửa hương hoa lên nịnh Phật
Nào ngờ ông Phật cũng khoanh tay
9
Hôm qua ông Phật mắng tôi rằng
Chẳng biết tu hành chỉ biết ăn
Âu phải liệu hồn chừa láu mép
Kiếp sau thiên hạ khỏi kêu thằng
10
Cái nghề làm Phật khó thì thôi
Mắc nợ quần sanh biết mấy rồi
Mà khối vô minh còn giữ chặt
Không thành ông Táo cũng ông Vôi
11
Họ xuân mình cũng muốn chơi xuân
Ngót sáu mươi năm xuân chán rồi
Tết đến vẫn còn xuân bận bịu
Bốn mùa thay đổi mãi không thôi
12
HỎI CÁC BÀ VÃI TRONG BAN LÀM BÁNH
Nương náu cùng nhau chốn cửa Không
Chị em nào có quản gì không
Lợi tha phải gắng nghề làm bánh
Bánh vẽ đừng làm có đặng không
13
VÔ ĐỀ
Cửa Phật vào ra để kiếm ăn
Mang chuông cắp mõ chạy lăng xăng
Tam thân Tứ trí đành không biết
Thợ Tụng Thầy tu cũng một thằng
14
Trong chốn thiến môn có một ông
Đến già còn giữ tánh chơi ngông
Văn chương đã xé quăng vào giỏ
Giành lợi còn đem đổ xuống sông
15
Này ông Di Lặc chướng thì thôi
Suốt sáng quanh năm mãi cứ ngồi
Hỳ, xả, Từ, Bi đầy một bụng
Không cho tôi với lại cười tôi
16
Xuân về thử hái một cành mai
Thành kính đem dâng trước Phật đài
Nhụy trắng hoa vàng sương vẫn đượm
Hiện trăm ngàn vạn bóng Như Lai
17
Vứa rồi chư Phật nhóm cùng nhau
Khiến đức Quan Âm mau vé tàu
Đến núi ngũ hành đều một chuếyn
Không nên kẻ trước với người sau
18
Việt Nam Phật giáo họ làm chi
Bàn bạc trong ngày đến bữa ni
Bánh, chuối, xôi, chè nhờ kẻ khác
Còn ngành văn hóa có ông Quy
19
A lô, a lô
Giáo hội tin cho Phật giáo đồ
Trong núi ngũ hành làm Phật sự
Tăng, Ni, đạo, tục kéo nhau vô
20
Cái ông sơ Tổ mặt đen sỳ
Đông độ tuôn ra chẳng nói gì
Sấp mặt xây lưng trên núi Thiếu
Cho ông Nhị Tổ cụt tay đi
21
Đương ngồi thiền định lúc canh ba
Ma Phật cùng nhau đến một nhà
Kẻ nói thế này người thế nọ
Chi bằng đừng Phật cũng đừng Ma
22
Ông Phật sao mà chẳng biết suy
Gọi hàng Hỷ Xả với Từ Bi
Đã rằng vật ấy tôi không thiếu
Nhập cảng mà Ông có lợi chi
23
Mũ len, tràng thụng cũnh như ai
Phê phẩy cho ra cái giạng Ngài
Sống mấy trăm năm mà dả dối
Cột đồng, giầng sắt khó kêu nài.
(Tòan tập Chân Đạo Chánh Thống, dịch giả, sưu tập Lê Mạnh Thát – NXB TH TP.HCM 2004, Trang 319-323 – bài này thiền sư chép bằng tiếng Việt)