Chính Ấn
10-02-2005, 10:22 PM
Bài của bạn Oak_HN đăng trên tử vi lý số :
Luận về Can Biến Hóa
Can hợp Hóa thành chỉ xãy ra với điều kiện. Sau đây là những điều kiện cần có đễ
cho Can hợp biến Hóa thành:
1) Các Can hợp chỉ khi nào đứng sát bên nhau trong tứ trụ.
2) Nếu Can tháng và Can năm hợp, mà có Hóa ra Hành hợp hay không phải cần xét Chi của tháng sinh. Nếu Chi tháng là gốc rể (ngay cả các Can tàng trong Chi), tức là đồng hành với hành Hóa của 2 Can trên thì có Hóa. Ngược lại thì không.
Thí dụ: Tân Dậu Bính Tý Quý Dậu Ất Mão
Bính hợp Tân hóa Thủy vì Chi tháng là Tý có Quý Thủy. Như vậy tứ trụ mới là:
Quý Dậu Quý Tý Quý Dậu Ất Mão (Chỉ dùng cho luận đoán)
3) Khi một Can biến hóa, hành mới của Can là Can tàng trong Chi tháng. Như thí dụ (2) trên, Can năm và Can tháng biến thành Quý (Quý tàng trong Chi tháng Tý).
4) Địa Chi có hợp hóa được hay không, là do hai Địa Chi kề sát bên nhau. Hơn nửa Thiên Can phải lộ ra hành mà Địa Chi hợp Hóa thì sự hợp đó mới có Hóa. Thí dụ:
Mão hợp với Tuất hóa Hõa; Thiên Can lộ ra Bính, Đinh thì sự hợp có hóa. Phải lấy hành Can lộ trên để luận đoán. Luận về Nhật Nguyên Biến Hóa
Can ngày biến hóa đòi hỏi phải trong những trường hợp đặc biệt dưới đây:
1) Can ngày hợp chỉ với Can giờ hoặc Can tháng (Các trụ kế bên trụ ngày)
2) Hành mới biến thành phải có gốc rể trong Chi tháng.
3) Nếu Hành của Can ngày cũng lộ ở Can giờ, Can tháng, Can năm, thì không hóa.
4) Quan Sát của Hành mới biến hóa không thể lộ trên các trụ của tứ trụ, Chi của tứ trụ và ngay cả Can tàng trong Chi.
5) Hành mới biến hóa phải có Ấn trong tứ trụ.
- Ất Canh hợp hóa Kim: phải có Chi tháng là Sửu, Tị, Dậu, Thân; Không thể có Hỏa trong tứ trụ.
- Giáp Kỹ hợp hóa Thổ: Phải có Chi tháng là Sửu, Thìn, Mùi, Tuất; Không thể có Mộc trong tứ trụ
- Bính Tân hợp hóa Thủy: phải có Chi tháng là Tý, Hợi, Thìn, Thân; không thể có Thổ,Tuất, Mùi trong tứ trụ.
- Đinh Nhâm hợp hóa Mộc: phải có chi tháng là Dần, Mão, Mùi, Hợi; không thể có Kim trong tứ trụ.
- Mậu Quý hợp hóa Hỏa: phải có Chi tháng là Dần, Tị, Ngọ, Tuất; Không thể có Thủy trong tứ trụ.
Cách Cục Đặc Biệt
Trong Tử Bình có hai loại tứ trụ: bình thường và đặc biệt. Loại đặc biệt " Dựa Theo" khi Nhật Nguyên quá nhược không thể điều hòa đến trạng thái cân bằng. Nhật Nguyên phải dựa theo một hành mạnh nhất trong tứ trụ. Phải có đầy đủ điều kiện cần thiết mới có thể gọi là Tứ trụ “Dựa Theo". 3 loại thông dụng là Dựa Theo Quan, Sát; Dựa Theo Tài; Dựa Theo Thực, Thương. Dưới đây là những điều kiện đòi hỏi:
1) Nhật Nguyên không có gốc, rể trong Trụ Giờ, Tháng, Năm. Gốc, Rể là khi hành của Can Ngày được tìm thấy trong các Chi của tứ trụ. Nếu thấy trong hành chính của Chi thì gọi là Rể, Gốc chính. Nếu hành tàng trong Chi thì gọi là Rể, Gốc phụ.
2) Gốc, Rể phụ có thể tàng trong Chi Giờ, Ngày, Năm. Nhưng không thể tàng trong Chi Tháng.
3) Can Nhật Nguyên không thể trong thời kỳ Lâm Quan (Lộc), Đế Vượng của chu kỳ của bãng Trường Sinh.
4) Chỉ có một Hành trong tứ trụ là mạnh nhất, ưu thế nhất. Hành này phải lộ trên Thiên Can và trong thời kỳ Lâm Quan, Đế Vượng.
5) Hành Chính của bất cứ trụ trong tứ trụ không thể là Ấn của Nhật Nguyên. Nếu Ấn của Nhật Nguyên tàng trong Chi (không phải là hành chính) thì có thể được. Nếu Ấn lộ ở Thiên Can thì cũng có thể được, nhưng Can đó không thể có Gốc, Rể trong Chi kễ cả là hành chính hay là tàng ẩn trong Chi.
6) Hành ưu thế, mạnh nhất không thể có Quan Sát của Hành, bất cứ nơi nào trong tứ trụ.
7) Đặc biệt chú ý đến Tam Hội Cục, Tam Hợp Cục. Có thể tạo nên sự vượng của Nhật Nguyên, như thế không còn là "Dựa Theo" nữa.
8) Nếu Thổ là hành vượng nhất, mạnh nhất thì tháng sinh phải là Hỏa hoặc Thổ.
Cách Cục Đặc Biệt (tiếp)
I. Dựa Theo Quan, Sát: có 2 loại Thật và Giã Tạo.
1) Dựa Theo Quan Sát Thật
- Quan Sát là hành vượng nhất trong tứ trụ.
- Quan Sát ở trong chu kỳ Lâm Quan, Đế Vượng.
- Thương Thực không thể có lộ trên Thiên Can và hành chính của Chi trong tứ trụ.
- Nhật Nguyên không thể trong chu kỳ Lâm Quan, Đế Vượng và không thể có gốc, Rể chính. Gốc, Rể phụ có thể tàng trong các Chi khác trong trụ ngoại trừ Chi Tháng.
- Một Tỷ hoặc Kiếp có thể lộ trên Thiên Can, nhưng không thể có bất cứ Gốc, Rể.
- Nếu Thiên Can không lộ Tỹ, Kiếp; Gốc, Rể phụ có thể tàng trong Chi Giờ, Ngày, Năm.
- Hành, vận có lợi cho Nhật Nguyên là Quan Sát.
- Thương Thực không có lợi trừ phi có Tài hiện diện. Vì Thương Thực chế Quan, Sát.
Khi Tài hiện diện sẻ chế Thực Thương.
- Vận Tài sinh Quan Sát cho nên cũng có lợi cho Nhật Nguyên.
- Vận Ấn và Tỹ Kiếp cũng có lợi cho Nhật Nguyên.
2) Dựa Theo Quan Sát Giã tạo
Cũng tương tự như Dựa Theo Quan Sát thật. Chỉ khác biệt là Nhật Nguyên trong thời kỳ Trường Sinh, Đế Vượng hoặc Mộ. Loại này rất thiếu cân bằng, mong manh. Trong vận tốt, thành công lớn có thể đạt được. Lúc vận xấu cuộc đời xuống dốc thật thê thãm.
II. Dựa Theo Thực Thương
- Thực Thương là hành mạnh nhất, ưu thế nhất.
- Thực Thương trong chu kỳ Lâm Quan, Đế Vượng.
- Phải có tối thiểu một Thực Thương lộ trên Thiên Can.
- Ấn không được lộ ở Thiên Can; không được trong hành chính của Các Chi.
- Tỹ Kiếp với Gốc, Rể phụ thì có thể được.
- Tài có thể được tàng, lộ trong trụ.
- Nhật Nguyên có thể trong bất cứ chu kỳ nào trong chu kỳ Sinh Vượng.
- Vận Thực Thương, Tài và Tỹ Kiếp là có lợi cho Nhật Nguyên.
- Vận Ấn và Quan Sát bất lợi cho Nhật Nguyên.
III. Dựa Theo Tài
- Nhật Nguyên không thể trong chu kỳ Lâm Quan, Đế Vượng và không thể có Gốc, Rể.
- Tài là hành mạnh nhất và trong chu kỳ Lâm Quan, Đế Vượng.
- Phải có tối thiểu một Tài lộ trên Thiên Can.
- Chi phải tam hợp, tam hội cục Tài.
- Tỹ Kiếp không thể có bất cứ nơi nào trong tứ trụ.
- Vận Tài và Thực Thương là có lợi cho Nhật Nguyên.
- Vận Quan Sát thì trung hòa, có xấu có tốt.
- Vận Ấn, Tỹ Kiếp là xấu.
Cách Cục Đặc Biệt (tiếp theo)
Nhật Nguyên quá cường vượng không thể cân bằng được, trong trường hợp này Nhật
Nguyên là ưu thế
1) Mộc
- Âm Mộc hoặc Dương Mộc là Can Ngày.
- Sinh trong tháng Hợi, Dần, Mão, Thìn hoặc Mùi (tàng Ất)
- Chi phải tam hợp cục Hợi Mão Mùi hoặc tam hội cục Dần Mão Thìn.
- Không thể có Kim lộ trên Thiên Can hoặc Chi Thân, Dậu trong Chi.
- Vận tốt là Mộc, Thũy, Hõa.
- Vận xấu là Kim, Thổ (trừ phi có Hỏa hiện diện).
2) Hõa
- Âm Hõa hoặc Dương Hõa là Can Ngày.
- Sinh trong tháng Dần, Tị, Ngọ, Mùi, Tuất.
- Chi hợp thành tam hợp Dần Ngọ Tuất hoặc tam hội Tị Ngọ Mùi.
- Hành Thũy không thể lộ trên Thiên Can. Chi không thể là Hợi, Tý.
- Vận tốt là Hõa, Mộc, Thổ.
- Vận xấu là Thũy và Kim (trừ phi có Thổ cho hành Kim thì trung hòa)
3) Thổ
- Nhật Nguyên là Can Thổ (Âm, Dương).
- Sinh trong tháng Thổ (Thìn Tuất Sữu Mùi)
- Các Chi trong trụ là Thìn Tuất Sữu Mùi.
- Không thể có Mộc lộ ở Thiên Can.
- Vận tốt là Thỗ, Hõa, Kim.
- Vận xấu là Mộc, Thũy (trừ phi có Kim đồng hành với Thũy là trung hoà)
4) Kim
- Nhật Nguyên là Kim
- Sinh trong tháng Tị, Thân, Dậu, Tuất, Sữu.
- Chi hợp thành tam hợp Tị Dậu Sữu hoặc tam hội Thân Dậu Tuất.
- Hành Hõa không thễ lộ trên Thiên Can. Chi không thể là Ngọ hay Mùi.
- Vận tốt là Kim, Thổ, Thũy.
- Vận xấu là Hõa, Mộc (trừ phi có Thũy đồng hành thì trung hòa).
5) Thũy
- Nhật Nguyên là Thũy.
- Sinh trong tháng Thân, Hợi, Tý, Sữu, Thìn. (tam hội hoặc tam cục)
- Chi hợp thành tam hợp Thân Tý Thìn, hoặc tam hội Hợi Tý Sữu.
- Hành Thỗ không thể lộ trên Thiên Can. Chi không thể là Mùi hoặc Tuất.
- Vận tốt là Kim, Thũy, Mộc.
- Vận xấu là Thỗ, Hõa.
Luận về Can Biến Hóa
Can hợp Hóa thành chỉ xãy ra với điều kiện. Sau đây là những điều kiện cần có đễ
cho Can hợp biến Hóa thành:
1) Các Can hợp chỉ khi nào đứng sát bên nhau trong tứ trụ.
2) Nếu Can tháng và Can năm hợp, mà có Hóa ra Hành hợp hay không phải cần xét Chi của tháng sinh. Nếu Chi tháng là gốc rể (ngay cả các Can tàng trong Chi), tức là đồng hành với hành Hóa của 2 Can trên thì có Hóa. Ngược lại thì không.
Thí dụ: Tân Dậu Bính Tý Quý Dậu Ất Mão
Bính hợp Tân hóa Thủy vì Chi tháng là Tý có Quý Thủy. Như vậy tứ trụ mới là:
Quý Dậu Quý Tý Quý Dậu Ất Mão (Chỉ dùng cho luận đoán)
3) Khi một Can biến hóa, hành mới của Can là Can tàng trong Chi tháng. Như thí dụ (2) trên, Can năm và Can tháng biến thành Quý (Quý tàng trong Chi tháng Tý).
4) Địa Chi có hợp hóa được hay không, là do hai Địa Chi kề sát bên nhau. Hơn nửa Thiên Can phải lộ ra hành mà Địa Chi hợp Hóa thì sự hợp đó mới có Hóa. Thí dụ:
Mão hợp với Tuất hóa Hõa; Thiên Can lộ ra Bính, Đinh thì sự hợp có hóa. Phải lấy hành Can lộ trên để luận đoán. Luận về Nhật Nguyên Biến Hóa
Can ngày biến hóa đòi hỏi phải trong những trường hợp đặc biệt dưới đây:
1) Can ngày hợp chỉ với Can giờ hoặc Can tháng (Các trụ kế bên trụ ngày)
2) Hành mới biến thành phải có gốc rể trong Chi tháng.
3) Nếu Hành của Can ngày cũng lộ ở Can giờ, Can tháng, Can năm, thì không hóa.
4) Quan Sát của Hành mới biến hóa không thể lộ trên các trụ của tứ trụ, Chi của tứ trụ và ngay cả Can tàng trong Chi.
5) Hành mới biến hóa phải có Ấn trong tứ trụ.
- Ất Canh hợp hóa Kim: phải có Chi tháng là Sửu, Tị, Dậu, Thân; Không thể có Hỏa trong tứ trụ.
- Giáp Kỹ hợp hóa Thổ: Phải có Chi tháng là Sửu, Thìn, Mùi, Tuất; Không thể có Mộc trong tứ trụ
- Bính Tân hợp hóa Thủy: phải có Chi tháng là Tý, Hợi, Thìn, Thân; không thể có Thổ,Tuất, Mùi trong tứ trụ.
- Đinh Nhâm hợp hóa Mộc: phải có chi tháng là Dần, Mão, Mùi, Hợi; không thể có Kim trong tứ trụ.
- Mậu Quý hợp hóa Hỏa: phải có Chi tháng là Dần, Tị, Ngọ, Tuất; Không thể có Thủy trong tứ trụ.
Cách Cục Đặc Biệt
Trong Tử Bình có hai loại tứ trụ: bình thường và đặc biệt. Loại đặc biệt " Dựa Theo" khi Nhật Nguyên quá nhược không thể điều hòa đến trạng thái cân bằng. Nhật Nguyên phải dựa theo một hành mạnh nhất trong tứ trụ. Phải có đầy đủ điều kiện cần thiết mới có thể gọi là Tứ trụ “Dựa Theo". 3 loại thông dụng là Dựa Theo Quan, Sát; Dựa Theo Tài; Dựa Theo Thực, Thương. Dưới đây là những điều kiện đòi hỏi:
1) Nhật Nguyên không có gốc, rể trong Trụ Giờ, Tháng, Năm. Gốc, Rể là khi hành của Can Ngày được tìm thấy trong các Chi của tứ trụ. Nếu thấy trong hành chính của Chi thì gọi là Rể, Gốc chính. Nếu hành tàng trong Chi thì gọi là Rể, Gốc phụ.
2) Gốc, Rể phụ có thể tàng trong Chi Giờ, Ngày, Năm. Nhưng không thể tàng trong Chi Tháng.
3) Can Nhật Nguyên không thể trong thời kỳ Lâm Quan (Lộc), Đế Vượng của chu kỳ của bãng Trường Sinh.
4) Chỉ có một Hành trong tứ trụ là mạnh nhất, ưu thế nhất. Hành này phải lộ trên Thiên Can và trong thời kỳ Lâm Quan, Đế Vượng.
5) Hành Chính của bất cứ trụ trong tứ trụ không thể là Ấn của Nhật Nguyên. Nếu Ấn của Nhật Nguyên tàng trong Chi (không phải là hành chính) thì có thể được. Nếu Ấn lộ ở Thiên Can thì cũng có thể được, nhưng Can đó không thể có Gốc, Rể trong Chi kễ cả là hành chính hay là tàng ẩn trong Chi.
6) Hành ưu thế, mạnh nhất không thể có Quan Sát của Hành, bất cứ nơi nào trong tứ trụ.
7) Đặc biệt chú ý đến Tam Hội Cục, Tam Hợp Cục. Có thể tạo nên sự vượng của Nhật Nguyên, như thế không còn là "Dựa Theo" nữa.
8) Nếu Thổ là hành vượng nhất, mạnh nhất thì tháng sinh phải là Hỏa hoặc Thổ.
Cách Cục Đặc Biệt (tiếp)
I. Dựa Theo Quan, Sát: có 2 loại Thật và Giã Tạo.
1) Dựa Theo Quan Sát Thật
- Quan Sát là hành vượng nhất trong tứ trụ.
- Quan Sát ở trong chu kỳ Lâm Quan, Đế Vượng.
- Thương Thực không thể có lộ trên Thiên Can và hành chính của Chi trong tứ trụ.
- Nhật Nguyên không thể trong chu kỳ Lâm Quan, Đế Vượng và không thể có gốc, Rể chính. Gốc, Rể phụ có thể tàng trong các Chi khác trong trụ ngoại trừ Chi Tháng.
- Một Tỷ hoặc Kiếp có thể lộ trên Thiên Can, nhưng không thể có bất cứ Gốc, Rể.
- Nếu Thiên Can không lộ Tỹ, Kiếp; Gốc, Rể phụ có thể tàng trong Chi Giờ, Ngày, Năm.
- Hành, vận có lợi cho Nhật Nguyên là Quan Sát.
- Thương Thực không có lợi trừ phi có Tài hiện diện. Vì Thương Thực chế Quan, Sát.
Khi Tài hiện diện sẻ chế Thực Thương.
- Vận Tài sinh Quan Sát cho nên cũng có lợi cho Nhật Nguyên.
- Vận Ấn và Tỹ Kiếp cũng có lợi cho Nhật Nguyên.
2) Dựa Theo Quan Sát Giã tạo
Cũng tương tự như Dựa Theo Quan Sát thật. Chỉ khác biệt là Nhật Nguyên trong thời kỳ Trường Sinh, Đế Vượng hoặc Mộ. Loại này rất thiếu cân bằng, mong manh. Trong vận tốt, thành công lớn có thể đạt được. Lúc vận xấu cuộc đời xuống dốc thật thê thãm.
II. Dựa Theo Thực Thương
- Thực Thương là hành mạnh nhất, ưu thế nhất.
- Thực Thương trong chu kỳ Lâm Quan, Đế Vượng.
- Phải có tối thiểu một Thực Thương lộ trên Thiên Can.
- Ấn không được lộ ở Thiên Can; không được trong hành chính của Các Chi.
- Tỹ Kiếp với Gốc, Rể phụ thì có thể được.
- Tài có thể được tàng, lộ trong trụ.
- Nhật Nguyên có thể trong bất cứ chu kỳ nào trong chu kỳ Sinh Vượng.
- Vận Thực Thương, Tài và Tỹ Kiếp là có lợi cho Nhật Nguyên.
- Vận Ấn và Quan Sát bất lợi cho Nhật Nguyên.
III. Dựa Theo Tài
- Nhật Nguyên không thể trong chu kỳ Lâm Quan, Đế Vượng và không thể có Gốc, Rể.
- Tài là hành mạnh nhất và trong chu kỳ Lâm Quan, Đế Vượng.
- Phải có tối thiểu một Tài lộ trên Thiên Can.
- Chi phải tam hợp, tam hội cục Tài.
- Tỹ Kiếp không thể có bất cứ nơi nào trong tứ trụ.
- Vận Tài và Thực Thương là có lợi cho Nhật Nguyên.
- Vận Quan Sát thì trung hòa, có xấu có tốt.
- Vận Ấn, Tỹ Kiếp là xấu.
Cách Cục Đặc Biệt (tiếp theo)
Nhật Nguyên quá cường vượng không thể cân bằng được, trong trường hợp này Nhật
Nguyên là ưu thế
1) Mộc
- Âm Mộc hoặc Dương Mộc là Can Ngày.
- Sinh trong tháng Hợi, Dần, Mão, Thìn hoặc Mùi (tàng Ất)
- Chi phải tam hợp cục Hợi Mão Mùi hoặc tam hội cục Dần Mão Thìn.
- Không thể có Kim lộ trên Thiên Can hoặc Chi Thân, Dậu trong Chi.
- Vận tốt là Mộc, Thũy, Hõa.
- Vận xấu là Kim, Thổ (trừ phi có Hỏa hiện diện).
2) Hõa
- Âm Hõa hoặc Dương Hõa là Can Ngày.
- Sinh trong tháng Dần, Tị, Ngọ, Mùi, Tuất.
- Chi hợp thành tam hợp Dần Ngọ Tuất hoặc tam hội Tị Ngọ Mùi.
- Hành Thũy không thể lộ trên Thiên Can. Chi không thể là Hợi, Tý.
- Vận tốt là Hõa, Mộc, Thổ.
- Vận xấu là Thũy và Kim (trừ phi có Thổ cho hành Kim thì trung hòa)
3) Thổ
- Nhật Nguyên là Can Thổ (Âm, Dương).
- Sinh trong tháng Thổ (Thìn Tuất Sữu Mùi)
- Các Chi trong trụ là Thìn Tuất Sữu Mùi.
- Không thể có Mộc lộ ở Thiên Can.
- Vận tốt là Thỗ, Hõa, Kim.
- Vận xấu là Mộc, Thũy (trừ phi có Kim đồng hành với Thũy là trung hoà)
4) Kim
- Nhật Nguyên là Kim
- Sinh trong tháng Tị, Thân, Dậu, Tuất, Sữu.
- Chi hợp thành tam hợp Tị Dậu Sữu hoặc tam hội Thân Dậu Tuất.
- Hành Hõa không thễ lộ trên Thiên Can. Chi không thể là Ngọ hay Mùi.
- Vận tốt là Kim, Thổ, Thũy.
- Vận xấu là Hõa, Mộc (trừ phi có Thũy đồng hành thì trung hòa).
5) Thũy
- Nhật Nguyên là Thũy.
- Sinh trong tháng Thân, Hợi, Tý, Sữu, Thìn. (tam hội hoặc tam cục)
- Chi hợp thành tam hợp Thân Tý Thìn, hoặc tam hội Hợi Tý Sữu.
- Hành Thỗ không thể lộ trên Thiên Can. Chi không thể là Mùi hoặc Tuất.
- Vận tốt là Kim, Thũy, Mộc.
- Vận xấu là Thỗ, Hõa.