PDA

View Full Version : CẦu CƠ


DaoKy
08-02-2005, 11:26 AM
Lời nói đầu

Lich su viec "Cau Co" chac co tu thoi thuong co tu khi loai nguoi biet rang minh qua be nho truoc vu tru vu thien nhien, be nho truoc nhung thien tai dia ach, the la ho bat dau tim hieu cai gi nam phia sau nhung con dia chan, dong to, lu lut. Sau ca doi tim hieu va ho duc ket thanh nhung kinh nghiem song, cung co the ho co nang khieu nghe hieu duoc y muon cua cac dang thieng lieng hoac Quy Than. The la ho bat dau co sung tin nhung vi Quy Than co the ban phuc hay giang hoa cho ho, nhung nguoi nay tro thanh Tien Tri cho dan Bo Lac,( cung nhu Thanh MOISE cua dan Do Thai da nghe duoc loi noi cua Chua Troi va loi cua ong noi ra do la y muon cua Chua Troi ). Cac ban biet cac vi Tien Tri duoc dan B:L xem nhu nhung nha Quy Toc va ton sung nhu mot toc truong.
O Viet Nam chung ta trong thoi Hung Vuong tuc cach nay gan 5.000 nam cung co nhung vi nhu the, nen trong cac dong chi Hung Vuong deu phai hoc hanh cac mon nhu : Kinh Diec, Huyen Thuat,Y thuat.v.v... Den cac vi Tu Te trong nhung ngoi den tho thoi Hung Vuong biet viec Dong Thiep vao coi Am de tim hieu va lien he cac vong hon nguoi qua co,( do su hoai niem den nguoi da chet ), hien tuong nay den nay o VN van con mot so ong ba dong bong ma nguoi doi cho la me tin di doan.
Nhu vay la nhan loai da co y thuc ve mot the gioi chua the nao thay hoac chung minh bang khoa hoc hien nay, nhung lai co that . Con nguoi muon tim hieu va lien he voi the gioi ay bang tam linh qua nhung cuoc thieng giao bang Cau Co hay dung "Dong Tu" tiep dien de biet duoc y cua cac dang thieng lieng .
Vao the ky 18 tai nuoc PHAP da xuat hien mot Ton Giao "Cau Co" goi la Thân Linh Hoc sau nay doi ten la Thong Thien Hoc nhung bai vo kinh dien cua giao hoi nay con truyen cho den nay hon mot tram may muoi nam.


Các bạn có đọc trong Thánh Kinh Cựu Ước có đoạn nói về Ô.Moise đã nghe được và dẫn dắt dân tộc Do Thái làm theo ý của Thiên Chúa? Đó là giai đoạn nhân loại được "Thiên Giao", từ đó mãi về sau này cũng có các đồng tử ( là những người mở được năng khiếu đặc biệt) tiếp được các nguồn điển minh triết dạy dổ nhân loại hướng tiến hoá tâm linh . Ở châu Âu đúng như lời của Ban Ngọc_ Phong,nhưng không phải là truyển dẫn mà họ tự học hiểu theo cách "mặc nhiên" của Thiên Tính (vì thời xa xưa đâu có ai có phương tiện đi truyền bá như thế đâu ?). Trong thế kỷ XX vào năm 1898 tại Mỹ có một Cựu Thủy thủ tên Morgan Roberton ông ta đã mô tả một cảnh đắm 1 chiếc tàu khổng lồ (Titanic), cho mãi đến ngày 10-04-1912 thì mới xảy ra tai nạn đắm con tàu Titanic.
Linh Mục Aristochele vị Linh Mục này tiên đoán vụ mưu sát TT.Reagan, thảm hoạ nhà máy điện hạt nhân Chernobyl nước Nga.v.v...
Tại Pháp nhà tiên tri lừng danh Mischel Nostradamus đã mở năng khiếu thấu thị tiên tri những vấn đề thời cuộc toàn cầu bằng những tác phẩm thơ nổi tiếng của ông cho mãi đến nay mới giải mã một phần nào.
Ngay cả Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm ở VN. vào thế kỷ 16 cũng là người mở được giác quan đặc biệt Ông đã có những tác phẫm tiên tri cho thời thế .
Thời Hùng Vương cách đây gần 5000 năm, dân tộc Việt nhiều người có năng khiếu như thế, các vua Hùng cũng biết Ảo Thuật, Huyền Thuật, Việt Dịch.Nên trong sử ký TQ có đề cập đến ". . .Thời vua Trang Vương nhà Chu : "... ở đất phía nam đất "Kinh Diệc" (Kinh Việt) có vị Tù Trưởng Bách Việt dùng ảo thuật thu phục rất nhiều Bộ Lạc quy tụ về cùng rồi tự xưng là Hùng Vương..." Ngoài các vua Hùng còn có các Thầy Tư tế trong các ngôi thờ các vị Tiên Vương,Ông Bà,các vị Thần Thiêng liêng và Nhân Thần. Trong các nghi thức cúng tế họ thường dùng Đồng tử đi thiếp để liên hệ với cõi Âm.
Như thế chúng ta thấy rằng khả năng của con người có thể nhìn thấy tương lai bằng tâm linh của chính mình nên gần đây ở Châu Âu có một môn học gọi là "Tương Lai Học". Nhưng làm sao con người nhận được những thông tin như thế ?
Thưa các bạn ! Hiện tượng thu được các thông tin từ vũ trụ từ cầu nối bằng chiều không gian "X"? đó là chiều không gian liên kết. Chúng ta luôn bị giới hạn trong ba chiều không, thời gian, nên việc tiếp nhận câu thông các nguồn thông tin tín hiệu vũ trụ mới khó khăn, cũng có nghĩa là chúng ta không thể đơn thuần chỉ làm một chiếu máy thu sóng mang thông tin vũ trụ, trừ trường hợp những người có chức năng thuần chỉ làm mỗi một việc là thu nhận tín hiệu từ vũ trụ như "Đồng tử" chẳng hạn. Trên một cơ sở vĩnh cửu ba thời: Tương lai, Quá khứ, Hiện tại nên chúng ta rút ra kết luận : - Chúng ta tồn tại luôn và "bất tử" thẩm thấu vào các chiều của thời gian bằng một tập hợp "Trường & Chất" ? cho dù hiện nay có nhiều ý hệ phản bác không công nhận việc có "Linh hồn". Ta cũng hiểu được rằng con người và vật chất là toàn đồ năng lượng của vũ trụ hiện tại , việc "TỤ" là tích kết thành hình thể, khi "TÁN" là giải toả năng lượng, sự vật đều có quan hệ hổ tương lẫn nhau như thế giới bản tính Vật Lý gồm : " Sóng và Hạt " khi chúng ta còn đang sống sinh hoạt tức là chúng ta đang liên kết giửa " Trường Và Chất" với vũ trụ. cũng có nghĩa là chúng ta mang hai tính chất chủ thể và khách thể - Chủ thể là phần tâm linh, còn khách thể là phần vật chất thể xác vậy! Nên một người sau khi rời bỏ thế giới hiện tại thì phần Chủ thể rời bỏ Khách thể mà trở về hội nhập lại với tổng thể Đại Linh Hồn vũ trụ ( Một sự hội nhập nhưng chưa thuần hoà tan)
Tóm lại việc "cầu cơ" là nối cầu thông công cùng thế giới vô hình là một chuyện có thật linh ứng vô cùng nên nó rất có lợi nhưng cũng rất có hại. Như vậy "bộ máy thời gian trong Bộ Đầu" của chúng ta có khả năng viễn du trong chiều khộng gian "X" ( Tâm Linh )

CẦU CƠ

Daoky có dịp tham gia trong buổi Cầu Cơ ma, lúc đó cả bọn sử dụng một bộ đồ nghề như bàn cơ vẻ 24 chử cái và một miếng Cơ hình trái tim bằng ván sơn dỏ. Đến 17hoo cả bọn Daoky vào nghĩa địa hoang tìm một nơi sạch sẽ trải bàn cơ, bày lễ vật đốt nhang sì sụp khấn vái, sau đó cả ba đứa của mình đặt tay vào khoảng 5' sau thì cơ bắt đầu chạy. Lúc đầu Daoky còn nghi chắc mấy anh bạn mình đang chơi mình đây? Nhưng rồi sự viêc lạ lùng xảy ra làm cả ba đứa nhìn nhau như ngầm dò hỏi tất cả bấy giờ biết rằng đây là thật chứ không phải đùa, bất giác Daoky nghe có luồng ớn lạnh chạy từ đầu xuống xương sống, ngón trỏ tê rần

DaoKy
08-02-2005, 11:29 AM
... trong lúc cả ba đang phân vân lo lắng thì cơ chạy qua từng ô chử ghép thành chử "GIÁNG". Anh bạn Q. lớn tuổi của bọn mình bèn hỏi :
-Hồn nào nhập cơ hảy xưng tên họ, tuổi tác,chết vì nghiệp gì, đẳng cấp trong cõi Âm.
-Trần thị thuý Nhung,20 tuổi,xe đụng chết,vong hồn Quỷ.
Cơ chạy đến đây cả ba đứa nghe lạnh tóc gáy còn daoky thì cảm thấy có cái gì chạy rần rần ở vùng xương sống, cả bọn đè nén sự sợ hải hỏi tiếp :
-Vong hồn quê quán ở đâu ?
-Đà Nẳng.
-có lẻ thân xác chôn ở đây ?
-Không
-Vậy tại sao tá vô cơ ở đây được?
-Vì hạp điển.
-sao không ở quê hương mà đi lung tung chi vậy?
-Hồn không muốn thế , vì nghiệp lực nên hồn vất vơ nay đây mai đó, không cưởng lại được!
-vậy hồn hảy cho chúng tôi biết tên họ ba tụi tui?
-Biết chứ người thứ 1 tên Q, thứ 2 tên T, thứ 3 tên K !
Vong hồn nói trúng tên của bọn mình mới ớn chứ! Nhưng cả bọn chống chế lại bảo là nói chưa đúng.
-Khi ở dương gian nói xạo người ta tin vì không có gì kiểm chứng, người Âm giới đọc được suy nghĩ của các người đó!
-Khi nảy hồn nói là hạp điển là sao ?
-Thần khí các người ôn ấm lắm!
-Bộ cõi Âm lạnh lắm sao?
-Lạnh lẻo vì không có ánh sáng !
-vậy tối thui thì hốn đâu có thấy đường đi?
-Có ánh sáng lờ mờ như bây giờ vậy !
-Ở cõi Ậm có sinh hoạt như Dương gian ?
-Có, người nào ở Dương thế làm nghề gì thì ở đây theo nghiệp ấy sinh hoạt!
-Ở cõi Âm nghe nói có họp chợ mua bán ?
-Đã nói ở Dương thế làm gì thì xuống cõi Âm thì hồn cũng sinh hoạt như thế!
-Nghe nói cõi Âm cũng có Quỷ sứ hành hạ tội nhân ?
-Điều này hồn chưa biết, có lẻ họ bị nghiệp nặng nên giam giử hành hạ ở cõi sâu hơn.
Mãi hỏi lăng nhăng xem đồng hồ thì đã 20h00 rồi,cuộc cơ đàm với Quỷ kéo dài gần 3 giờ,trời bây giờ thì tối mịch thỉnh thoảng nghe tiếng cú rúc, tiếng sột soat trong những lùm cây đen kịt trước mặt, làm tăng vẻ không gian chết chóc ma quái lởn vởn bao trùm trong nghĩa trang daoky nghe lạnh lạnh cả người nồi gai ốc. daoky và 2 ông bạn không dám hỏi nửa bỏ tay ra khỏi miếng cơ cả bọn kéo nhau ra khỏi nghĩa địa, ra đến đường cái làm một số người đi đường nhìn thấy bọn mình họ hốt hoảng.
Từ hôm ấy trở đi trong lòng daoky bị ám ảnh bởi chuyện vong hồn cô gái tên Nhung bị chết thảm tá cơ đó! Nhưng không biết cảnh giới bên kia như thế nào mà vong hồn không thể tự chủ được ?
Các bạn có hiểu vì sao không ?
. . Một tuần sau hai ông bạn mình đến nhà rủ mình vào nghĩa địa cầu cơ tiếp tục.Daoky nghe nói ngại quá vì sợ ma nên từ chối, họ nói lần này tụi mình có bùa trấn rồi không sợ ma cỏ gì cả, Q và T cứ nài nỉ mãi cuối cùng mình đành khăn gói lên đường với họ , vào nghĩa trang lúc này khoảng 17h30 tức là trể hơn lần trước 30'.
Cả bọn làm xong thủ tục rồi đưa tay để nhẹ lên Cơ, chưa đầy 1' thì cơ bắt đầu di chuyển ráp thành chử "NGƯỜI QUEN", cả bọn thắc mắc không biết ai đã chết mà lại quen với mình ? Q lớn tiếng hỏi :
-Người quen là ai ?
-Nhung !
Bây giờ cả bọn thở phào thấy hơi vui vui, Q hỏi tiếp :
-Hồn chưa đi nơi khác sao ?
-Cũng nhờ các người đó !
-Nhờ là nhờ như thế nào?
-Nhờ các người sưởi ấm thần khí!
-Thần khí là cái quái gì ?
-Có nói cái người cũng không hiểu, hôm nay ngoài tôi củng có hai người nửa muốn nhập cơ đó !
-Họ nhập cơ để làm gì, chúng tôi chỉ cần nói chuyện một vị mà thôi ?
-Không biết, bây giờ thì trong này họ dang kéo đến đông lắm thăng!
Chưa kịp nói gì thì vong hồn ấy đã thăng rồi, bổng dưng cơ chuyển động mạnh mẻ dử dội hơn trước chạy lung tung chẳng ghé chử nào cả, trong lòng cả bọn phân vân bổng gió lạnh nổi lên khua cây cối xung quanh ào ào, trời thì tối leo lét ngọn nến chừng sắp tắt, bấy giờ daoky nghe tiếng của Q. châm một tràng tiếng gì đó mình không rỏ, rồi ú ớ la sảng lên và T cũng thế ! Daoky kinh hoảng quá đứng lên phóng một mạch bất kể mồ mả, chạy thẳng ra đường cái nhìn thấy ánh đèn đường và có người qua lại daoky mới bớt sợ rồi đứng đó đợi hai ông bạn cầu cơ của mình. Gần 15' sau mới thấy Q đi ra theo sau là T, mình mới hỏi Q. " Ông thấy gì mà la sảng hồn như thế ?" , Q không trả lời hình như không nghe thấy mình hỏi bỏ đi một mạch về nhà, đang lúc kinh hoảng rồi lại thắc mắc đợi T đi đến gần mình gương mặt T trắng bệch dưới ánh đèn đường daoky mới hỏi chuyện xảy ra khi nảy , T trả lời vừa sợ vừa nhát gừng : " hồi nảy...tao thấy ma mặt mày của nó xanh có vằn có vện, mọc nanh hai bên, gương mặt nó to như bánh xe hơi... sợ quá tao muốn bỏ chạy như mày nhưng không hiểu sao hai chân như bị chôn dính vào đất... tao bò tao la sảng mãi một hồi mới chạy được ra đến đây, còn Q nó kỳ lạ lắm!"
Từ đó trở đi daoky không còn có dịp trở lại đó cầu cơ ma nửa, cả bộ đồ nghề bỏ trong nghĩa trang cũng không dám trở lại lấy . Vài năm sau Q. thì bỏ chương trình ĐH vì lý do sức khoẻ, còn daoky và T học xong mỗi đứa đi làm một nơi cũng ít khi được găp, một kỷ niệm kinh hoàng nhớ đời.
CẦU CƠ CỦA ĐẠO CAO ĐÀI.
Cách đây khoảng ba năm tình cờ daoky gặp những Cao Nhân ( Những Đạo Sĩ trong Đạo Cao Đài ).Mình có kể vể việc cầu cơ ma của bọn mình cho các vị ấy nghe, các vị ấy bảo : "Cũng may cho các cậu, nếu không thì con Quỷ cái ấy tiếp hết tinh, khi, thần của ba cậu thì các cậu dở sống dở chết và con Quỷ ấy sẽ thành Tinh nó sẽ tiếp tục hại những người khác nửa , khi thành Tinh nó chủ động đi tìm người hạp với nó để thu rút tinh khí chứ chẳng phải như các cậu đi tìm nó đâu !
Nghe nói như thế mình mới hiểu ra bọn mình giúp nó trong lúc tiếp điển thì nó rút phần dương khí và mình thì hút lại âm khí của nó, như vậy Q. chính là nạn nhân đầu trong bọn mình ( Bây giờ thì Q. tàng tàng dở hơi như mấy ông Đạo sĩ đã nói ) thật hú hồn.
Mấy ông Đạo sĩ bắt đầu kể về Cầu Cơ của Đạo Cao Đài như sau :
NGUỒN GỐC LICH SỬ CẦU CƠ CỦA ĐẠO CAO ĐÀI.
Vào thế ky XVII sau khi nhà Mãn Thanh Chiếm nước TQ, một số Bang hội, quân tướng nhà Minh chạy sang VN thần phục Chúa Nguyễn, Chúa Nguyễn cho một số tuỳ tướng của Nhà Minh trấn các vùng biên giới Cao Miên như vùng Hà Tiên , Rạch Giá, Châu Đốc. và vùng Đồng Nai dân Việt chúng ta quen gọi họ là người "Minh Hương".
Trong nhóm tôi thần nhà Minh xin tần phục có Thiên Địa Hội, Hội Minh Sư ( hội này là các đạo sĩ tu tiên ) họ thường cầu cơ thỉnh Tiên. Hội Minh Sư thường tổ chức những buổi cầu cơ thỉnh tiên, nghi thức của họ thật rườm rà, trước tiên vào mỗi đàn cầu Tiên tất cả mọi người tham dự phải là những thành viên của Hội hoặc được các hội viên khác giới thiệu và được chấp nhận của vị trưởng tràng họ gọi theo trong đạo giáo là " Lão Thái Sư". cách ăn mặc phải sạch sẽ, không ồn ào tính cách phải thành kính và tin tưởng.
Cảnh trí trên thiên bàn để các Long Vị viết bằng chử Hán sơn son thiếp vàng thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế, Tam Thanh Giáo Chủ và các đấng Thiêng Liêng khác , những vật phẩm cúng tế họ bày biện nào là Hoa, Quả, Tửu. Trà.
phía dưới có một chiếc bàn cao khoảng 7 tất dài hơn 1 thước 2, có để một cái ghế dành cho đồng tử ngồi khi tiếp cơ. Còn dụng cụ gọi là Cơ thì chúng ta có hình dung như một tay cây đẩy của cối đá xay bột ở miền quê VN vào thế kỷ trước (20), nhưng cơ thì chỉ làm bằng Mây dài độ 9 tất phía đầu cơ gắn hình đầu chim Phụng hoàng mỏ ngậm ngòi bút lông ( nhưng ở đây thì làm bằng cây ), phần đuôi của cơ họ tra vào một khúc mây khác dài độ 4 tất để đồng tử nắm khi tiếp điền thiêng,(khi lắp vào chúng ta nhìn thấy Cơ như chử T) toàn bộ thân của cơ được treo lửng lên trên bằng chỉ ngũ sắc cách mặt bàn khỏang 1 tất. Sau khi các tín đồ cùng các vị trưởng lảo vào làm lễ bái xong thì có vị Pháp sư cầm hương hoạ phù trấn thần nơi Thiên Bàn, Bốn hướng, Đồng tử, ghế ngồi đồng tử v.v... xong thủ tục ấy thì đến toàn cả đàn đọc bài Cầu Cơ : Bài Thỉnh Tiên, bài Hộ thần đồng tử. Khoảng 10' phút sau trong sự êm lặng thiêng liêng thì đôi tay đồng tử bắt đầi chuyển động ( lúc này đồng tử nhắm mắt hình như bị mê đi ) những chử Hán viết trên mâm cát hoặc mâm bột mì, quỳ kế bên mâm ấy một vị gọi là "đọc giả" xướng lên chử của cơ vừa viết thì có một vị ghi chép lại gọi là "ký giả", cứ như thế cho đến khi ráp lại thành một bài thơ cổ phong như Bát Cú Đường Luật.V.v... đọc lên nghe rất hay đúng niêm luật, đúng vận. hoặc nếu đàn cầu Tiên cho Thuốc thì để giấy vàng trên bàn cho đồng tử xuất thần, điển của Tiên gia nhập vào vẽ vẽ, viết viết trên miếng giấy ấy đốt cho bệnh nhân uống thì sẽ thuyên giảm bệnh lần lần.
Có khi điển của Thiêng liêng nhập vào làm thi khoáng thủ, khoáng tâm, khoáng vỉ. ý nghĩa cao thâm thông suốt tình thế của con người (Hiện nay những đàn này vẫn còn cúng bái nhưng không con tiếp cơ nửa, các vị đạo sĩ Minh Sư đã gia nhập vào Đạo Cao Đài).
Vào năm 1917 phong trào cầu cơ rộ lên trong trong hàng quan lại trí thức triều đình nhà Nguyễn, nhất là ở xứ Nam Kỳ lục tỉnh, một phần vì thấy nước nhà trong cảnh bị đô hộ ...
Tất cả các giới sĩ phu thời ấy người kẻ thì chán nãn từ quan điềm viên vui cùng đồng quê thanh đạm, kẻ thì theo chí hướng của mình vào hội kín chống Tây, hoặc chán chường cuộc trần giả tạm tìm đến nơi thiêng liêng tầm sư học đạo.
Trong số đó có một vị Quan Phủ tên Ngô Văn Chiêu quê ở làng Tân An, Mỹ Tho, Ngài thường họp cùng bạn đồng liêu đi lể chùa đền hoặc tìm đến nơi thanh tịnh cầu cơ thỉnh Tiên, làm thơ phú xướng hoạ với các chân linh thoát tục, một mặt khác Ngài cũng muốn học đạo cùng các chân linh này. Ngài có mượn một " Ngọc Cơ Bội " của một vị Thái Lão sư bên Đạo Minh Sư để dùng cầu thỉnh Tiên ( cây Ngọc Cơ Bội này hình dáng khác hơn :- dùng một đoạn cây mây khoảng 7 tất đầu cơ cũng gắn đầu chim Phụng Hoàng mỏ ngậm ngòi bút, Cán của Cơ có đan một cái giỏ đường kính khoàng 2 tất 7, ngoài bọc lụa màu vàng ( cái miệng gió úp xuống khi cầm tiếp điển , Lúc ấy Ông Bộ Thọ làm đồng tử, Ông Sắc làm pháp đàn, còn riêng Ngài quỳ chứng đàn cơ. Trải qua một thời gian có những cuộc thiên giao bằng Cơ Bút Ngài được lệnh đổi về Hà Tiên, Phú Quốc. Ở tại nơi đây bắt đầu cuộc đời tu hành của Ngài. Một có một vị giáng đàn Xưng là Cao Đài Tiên Ông dạy Ngài trường chay, Ngài vâng lời làm theo đã tròn 3 năm một hôm Vị Cao Đài Tiên Ông giáng dạy Ngài tu hành thì Ngài Bạch rằng :
-Thưa Tiên Ông, Ngài dạy điều gì con con cũng ưng làm theo không dám trái ý, nhưng phải cho con được thấy một sự huyền diệu thì con mới trọn tin ? Cơ không viết mà chỉ gỏ mạnh lên bàn rồi ngưng.
Đến chiều hôm sau khi rảnh việc quan Ngài bèn thả bộ leo lên núi Cậu ngắm trời biển, trời chiều gió biển mát cảnh trí đẹp vô ngần, bất giác Ngài thấy một cảnh trời mây khác hơn trước đó, có non bồng đầy màu sắc kỳ hoa dị thảo, chim hạc bay uốn lượng , có các tiên đồng ngọc nữ rất thanh tú thật là một cảnh bồng lai tại thế, sau cảnh ấy tan biến đi lần lần lộ một một cảnh giới bồng lai khác nửa Ngài xem mãi mà quên cả thời gian. Bấy giờ Ngài nhớ lại lúc Ngài có bạch cùng Tiên Ông Cao Đài cho thấy cảnh huyền diệu thì mới trọn tin nay đã được thoả mãn rồi, Ngài cúi đầu lạy tạ Đức Cao Đài.
Theo học Đạo Đức Cao Đài qua một thời gian lâu, Ngài hỏi Tiên Ông Rằng :
"-Bạch Thầy con muốn thờ Thầy không biết phải dùng biểu tượng gì để thờ ? "
Đức Cao Đài trả lời :
-Theo con thì nên lấy biểu tượng gì ?
-Bạch Thầy con thấy nên lấy biểu tượng Thập Tự !
-Đó biểu tượng của một nền cựu giáo, con tìm hiểu xem!
Nghĩ mãi không ra là biểu tượng chi, cho đến một hôm đang ngồi trong dinh quận (Dương Đông Phú Quốc) Ngài nhìn thấy một con mắt sáng rực hào quang vô cùng nghiêm trang. Ngài nhìn mãi rồi cũng phải sợ nên khấn vái :
-Bạch Thầy xin từ bi, con đã hiểu ý của Thầy, nhìn con mắt ấy con sợ lắm !
Thế là con mắt từ từ biến mất. ừ hôm ấy trở đi Ngài hoạ hình "Thiên Nhãn" mà thờ nơi Thiên Bàn ,
Một hôm Đức Cao Đài Tá cơ và dạy như thế này :
-Chiêu, con có biết thờ Thiên Nhãn là gì không ?
-Bạch Xin Thầy Dạy!
-Lưỡng Thị chủ Tâm. Lưỡng Quan Chủ tể. Quang thị Thần. Thần thị Thiên. Thiên Ngã giả Ngã...
Đến năm 1924 Ngài được lệnh đổi về Sài Gòn, làm Trong Phủ Toàn Quyền Đông Dương Ngài có quen một số Đồng liêu như Ô. Vương Quan Kỳ, Ông Đốc Học Đoàn Văn Bản,Ông Nguyễn Hửu Đắc, Ông Lê Văn Trung v.v... thành lập một nhóm tu do ông hướng dẫn, còn giáo lý thì cầu cơ tiếp điển Tiên Gia, sau lại được Đức Cao Đài dạy hiệp cùng với các ông ở một nhóm khác cả hai bên không hề quen biết đó là nhóm cầu Cơ của Ông Cao Quỳnh Cư, Ông Phạm Công Tắc, Ông Cao Hoài sang,Ông Nguyễn Trung Hậu v.v...
Rồi sau đó lập đàn cơ thỉnh tiên chung được Đức Cao Đài dạy Hoằng Khai Đại Đạo Cao Đài vào ngày 23 tháng 8 năm Bính Dần 1926.
Lúc đầu xin khai đạo với nhà cầm quyền Pháp bị họ nghi ngờ đủ thứ nhưng nhờ quyền pháp của Chí Tôn, đạo đều trải qua bao gian nan nhưng Pháp không làm gì thương tổn được đạo Cao Đài, từ đó đến nay Đạo Cao Đài vẫn phát triển ra đến hải ngoại nhất là ở các nước như Mỹ, Pháp, Đức, Úc cơ phổ độ rất tốt đẹp...

DaoKy
08-02-2005, 11:35 AM
Thời tiêm ẩn của đạo Cao Đài nên các vị tiền bối Đại Đạo cũng biết sử dụng cả Đông và Tây :
Tây thì họ cầu cơ bằng cách xây bàn .
Đông thì họ sử dụng Ngọc Cơ như NP nói giống các đạo sỉ đệ tử của Trương Đạo Lăng thời nhà Hán ( thời này ông ta được tôn vinh là Trương Thiên Sư tên thật của ông là Trương Giác, sau khi nắm được một số nghĩa binh cùng những người dân ủm hộ ông ta, Trương Giác bèn khời binh chống lại vua Nhà Hán, trong lúc lâm trận Trương Giác lập đài lượt trận đứng trên đài ấy hô phong hoán vũ, sái đậu thành bình, quân dân Trương giác đánh đến đâu thì thắng đến đó tưởng như cơ nghiệp nhà Hán sắp về tay ông ta, ít lâu sau do huấn lệnh binh không nghiêm nên dân quân làm bại hoại phong trào khởi nghĩa nên bịnh 3 anh em kết nghĩa Lưu, Quan, Trương đánh bại. thế là chấm dứt một thời của Anh hùng cái thế Trương Giác )
Một số môn đệ của ông lui về núi tu luyện không màng đến chuyện trần thế nửa, sau này những phái tu tiên còn đến nay là Mao Sơn : chia ra 2 phái Long Đấu và Hổ Đấu.

Hiện nay Đạo Cao Đài là một nền tôn giáo tổng hợp phổ quát Đại Đồng, ý nghĩa là tận độ chúng sinh trong thời Hạ Ngươn này nên cho dù bất kỳ tôn phái nào trong nền đạo Cao Đài cũng trân trọng thờ minh triết các tôn phái ấy với một mục đích là Đại Đồng.
Còn chuyện cầu cơ ma chơi, thì cũng đem lại những hậu quả ngoài ý muốn ( thật ra chúng ta còn chưa đủ trải nghiệm để hiểu biết mọi khía cạnh của thế giới hửu sinh và vô sinh. ) chúng ta sợ ma là do ám thị bởi tư tưởng, khi tiếp xúc với người Âm thì đương nhiên trong phần vía phách của mình lúc nào cũng sẵn sàng khép chặc ngoại trừ những kẻ có cái vía bị rách nát thì ma mới mượn mà thôi!
Nếu như thế lực đen không có trật tự thì khi muốn làm gì họ đã nhập vào những người dương thế làm xã hội chúng ta loạn lên mất, tuy nhiên họ cũng có quy luật của họ chứ không phải loại cào cào đâu bạn. Ngay cả việt bày thức ăn trên bàn khi chúng ta ăn, họ có thể đến ăn trước chúng ta , nhưng không hề có chuyện ấy ! Khi nào chúng ta mời mọc đúng tên tuồi và ngày chết của họ thì họ mới dám ăn.

Daoky còn nhớ một câu chuyện mà daoky đã đọc trên một tập san nào đó nói về "Chợ Mãnh Ma" ở miến Tây Bắc nước Việt.
Hôm cúng thí cô hồn Nghĩa binh của Đề Thám vào ngày 16 tháng 7. . . Cả chợ bày những thức ăn để trên chiếc bàn con trước hàng của mình. đến giờ G tất cả những người bán hàng trong chợ thấy nhũng cơn gió lốc xoay tròn từ xa tiến lại gần khu chợ rồi tan loảng bụi cát mịt mù dần dần tan lắng Vị chủ chợ khấn vái mời mọc họ về hưởng những vật cúng tế, có người nhìn thấy có một hai người trong đoàn quân ma Đế Thám tay bưng chiếc đầu đang sì sụp hít lấy hơi nóng và hương vị bát phở được bài cúng phía trước cửa hàng, những bánh trái v.v...
Một giờ sau tất cả họ đều thăng như những cơn gió lốc như trước khi họ đến, bây giớ những bát phở hay bánh trái không còn hương vị thơm ngon như trước nửa. Sự kiện này do sự hưởng thụ của vong linh quá cố.

DaoKy
08-02-2005, 11:53 AM
THỂ THỨC CẦU CƠ [U]

Chuyện thiêng giao cùng Ma quỉ, Thần Thánh giống nhau một mục đích nhưng có khác, một đàng chúng ta vì hiếu kỳ muốn biết sự việc đó như thế nào, còn chuyện kia cũng hiếu kỳ tìm hiểu để đến với một tín ngưỡng, chuyện liên hệ thế giới bên kia là chuyện dể mà khó, khi biết rồi thì chuyện khó ấy hoá dể.
Quy luật của vũ trụ là như thế chứ không phải Đấng Thượng Đế muốn cho hoặc không cho( chúng ta bước đến với ngài một bước thì ngài bước đền với chúng ta ba bước đó bạn).
Một vũ trụ dù nhỏ hay lớn nhỏ trong bầu không,thời gian này cũng có tính liên đới lẫn nhau. cho nên người xưa nói"-Ý của Thiên Hạ là ý của Trời!" ( việc CẦU CƠ TIẾP XÚC THẾ GIỚI BÊN KIA, tại Pháp có nhiều nhà khoa học họ sử dụng ghi hình và âm thanh khi tiếp xúc với các vong hồn quá vãng).

ĐÀN THỈNH CƠ TIÊN


1-Chổ thanh tịnh thưỜng cao trên 3 mét 6 ( ở lầu 1 ) tránh ồn ào đồng tử bị phân tâm.
2-Phải sử dụng Ngọc Cơ ( nếu có uy tín các bạn có thể mượn của các đạo sĩ ) hoặc có thể tự làm rồi xông hương trầm treo lên bàn thờ, khi cần thì mang xuống sử dụng.
3-Phải có một vị Pháp Đàn ( hay là Pháp sư của Đạo Lão hay Cao Đài ), vị này trấn thần không cho "Âm điển" xen vào.
4-Người làm đồng tử phải thanh tịnh và trai giới.( nam or nử khoảng 12-17 tuổi. Nếu nữ bị kẹt uế trược thì không thể ngồi làm đồng tử trong lúc đó.
5-Phải có Thiên Bàn ( bàn thờ ) các đấng thiêng liêng như thờ Thượng Đế, Phật, Tiên, Thánh, Thần .
6-Lễ phẩm và nghi thức đọc các bài Thỉnh Tiên.
7-Các thành viên hầu Đàn Cơ phải thành tín thanh tịnh trong lúc cầu cơ tỉnh Tiên (không được ồn ào).
8-Không được hỏi các vấn đề; chuyện quốc sự, thế tình trần tục v.v...
9-Tuân thủ các quy tắc Cầu Cơ thỉnh tiên.

Tìm Thượng Đế trong ta, Thượng Đế bên ngoài là giả hiệu. Ngài xưng cùng chúng ta trong những ĐÀN CƠ CAO ĐÀI như sau : " Thầy là các con, các con là Thầy "
"Thần Tiên nào có xa gì có lòng triêm ngưỡng tức thì giáng lâm ".

Lời lẽ trong buổi giáng cơ chỉ là tiếng nói sâu kín của tiềm thức.
- Cơ chạy là do nhân điện của những người đặt tay trên cơ tác động.
- Có Thần, Tiên, Ma, Quỷ giáng thật vì có nhiều lời lẽ của vị giáng cơ có mộ trình độ tri thức, học vấn và văn chương cao vượt hẳn người ngồi cơ; có trường hợp vị giáng cơ là một người ngoại quốc dùng một ngoại ngữ mà những người ngồi cơ chưa hề học đến
- đồng nhất có sự cảm thông giữa tiềm thức cá nhân và tiềm thức các vị Thần, Tiên, Ma, Quỉ ẩn hiện bàng bạc khắp vũ- trụ, do sự “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”.

DaoKy
08-02-2005, 12:00 PM
THỜI KỲ TIỀM ẨN CỦA ĐẠO CAO ĐÀI

XÂY BÀN


Thời kỳ Pháp thuộc cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, các sĩ phu yêu nước ở trong tình trạng bế tắt, họ muốn tìm đến những nơi có sự hiểu linh của Thánh Thần cầu hỏi những vấn đề thời cuộc. Sau khi các phong trào khởi nghĩa tại Cần Giuộc, Gò Công bị quân pháp lần lượt tiêu diệt. Những người trí thức không đứng trong hàng ngủ viên chức nhà nước Bảo Hộ đều bị Mật thám Tây theo dỏi bắt bớ tù đày. Vì thế đa số trí thức phải vào làm việc cho nhà nước Bảo Hộ trong số đó có :
-Nhóm thứ nhứt của Ngài Quan Phủ Ngô Minh Chiêu, Quan Phủ Vương Quang Kỳ, Đốc học Đoàn văn Bản và nhiều vị tiền bối khác trong vùng Sài Gòn Chợ Lớn ( các ông xây bàn được Đức Chí Tôn giáng điển dạy dổ đầu tiên )...
-Nhóm thứ hai do Ngài Phạm Công Tắc Thư Ký sở Hoả xa, Cao Quỳnh Diêu Viên chức, Cao Quỳnh Cư viên chức, Lê Văn Trung Nghị Viên .v.v. Các ông thường hội họp cùng nhau ngâm thi vịnh phú tiêu dao qua tháng ngày. Sau đó các vị ấy tổ chức xây bàn là một hình thức như cầu cơ được một chân linh nhập vào Bàn xưng danh Thất Nương Vương Thị Lể cháu gái của Quan Phủ Vương Quan Kỳ gọi Ông bắng Chú, Chân linh của bà cũng là một trong chín vị Tiên Nương trong Diêu Trì Cung của Đức Phật Mẫu, lúc đầu Bà làm thi phú đối đáp cùng các ông, sau đó Đức Chí Tôn mới giáng điển vào xưng danh : A,Á.Â. các vị tiền bối nhóm hai cũng được Ngài A,Á, dạy đạo. Các ông gạn hỏi danh tánh Vị A,Á, sau đó Ngài dạy gọi "Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát"... Như vậy cả hai nhóm trên không quen biết nhau, đến khi Thất Nương Diêu Trì Cung giáng dàn có liên hệ với Quang Phủ Vương Quan Kỳ, và sau đó Ông Tắc,Cư đi dọ hỏi biết rằng ông Vương Quan Kỳ có một người cháu gái tên Vương Thị Lễ đã mất khi tuổi vừa đôi mươi. Do đó các ông Tắc, Cư càng tin tưởng về việc xây bàn, nhờ có Thất Nương Vương Thị Lễ sau đó các ông mới hiểu được phần nào thế giới bên trên, kế đó Đức Chí Tôn giáng điển dạy dổ họ bảo họ hiệp với nhóm 1 của Ngài Ngô Minh Chiêu thành lập và khai đạo Cao Đài tại Thánh Thất cầu Kho vào ngày 23-08 năm Bính Dần 1926.(Nay Thánh Thất không còn nửa, duy chỉ có TT.Cầu Kho tái lập tức là Nam Thành Thánh Thất!).
Trước khi Phạm Hộ Pháp dùng Đại Ngọc Cơ, thì sử dụng xây bàn ( giai đoạn xây bàn là thời kỳ tiềm ẩn của Đạo cao Đài)
Việc Xây Bàn như sau: Họ dùng một chiếc bàn con thường dùng để khai ấm trà của bộ trường kỷ, cưa ngắn một chân ( chỉ còn ba chân ) rồi đọc bài cầu Tiên, khi các chân linh cao cấp giáng điển theo quy ước đã định những ký hiệu gỏ thí dụ :
-Gò 1 cái = chử A = số 1.
-Gỏ 2 cái = chử B = số 2.
-Gỏ 3 cái = chử c = số 3.v.v . Việc Xây Bàn có lẻ được truyền từ Pháp qua từ thế kỷ 17,18, nếu so sánh thì xây cơ tiện nghi hơn!
Cho nên việc xây bàn kéo dài nhiều giờ mới được một bài thơ, rất chậm, nên Đức Chí Tôn dạy làm Đại Ngọc Cơ và tuyển chơn Đồng Tử nam tuổi từ 12, 13 - 16 tuổi để tiếp điển rồi viết ra, hoặc những vị tiền bối được ân tứ của Đức Chí Tôn mới cầm Ngọc Cơ tiếp Điển, nhưng những vị lớn tuổi rất ít được sử dụng trong các buổi tiếp điển dạy đạo...