DaoKy
07-02-2005, 09:40 PM
THÁNH ĐỊA VIỆT NAM
với Thánh Địa Tây Ninh và
Địa Linh Bến Tre
Sáng tác: Thái Giáp Thanh
THÁNH ĐỊA VIỆT NAM với
Thánh Địa Tây Ninh và Địa Linh Bến Tre
Do Tòa Thánh Kiến Hòa ban hành vào ngày 15.12.1974 do Hội Thánh dưới quyền ủng hộ của Đức Giáo Tông Nguyễn Ngọc Tượng
trích trong quyển Chú giải Tổ Đình do Ban Kiến Thiết Tổ Đình thuộc Tòa Thánh Kiến Hòa ( Thánh Địa Bến Tre) biên soạn và phát hành do Giấy Phép số 4970/74/BDVCH/PHBCNT7ALP/TP ngày 11.9.1974 của Bộ Dân Vận và Chiêu Hồi nước Việt Nam Cộng Họa
Đề thi của Đức Giáo Tông Nguyễn Ngọc Tương ra để cho chư đệ nào giải đáp được sẽ chọn in trong quyển „ CHÚ GIẢI TỔ ĐÌNH“ Tòa Thánh Kiến Hòa Thánh Địa Bến Tre.
Đề thi: „Tại sao THẦY đến mở Đạo Kỳ Ba tại nước Việt Nam ta là một nước nhỏ nhen trong vạn quốc?“
Ngày 01 thánh 02 năm Kỷ Sửu (1949), Đức Giáo Tông cho ra đề thi rằng:“ Tại sao THẦY đến mở Đạo Kỳ Ba tại nước Việt Nam ta là một nước nhỏ nhen trong vạn quốc?“.
Trong số những đáp có bài Anh Lớn Đầu Sư Thái Giáp Thanh, lúc đó làm Thái Chánh Phối Sư, nhờ nhớ rõ lời dạy của THẦY và của Đức Giáo Tông từ trước nên bài trả lời của Anh Lớn được Đức Giáo Tông chọn làm bài mẫu để truyền bá trong chức sắc và toàn Đạo.
Bài trả lời nầy có đoạn nói rõ về Thánh Địa Tây Ninh và Thánh Địa Bến Tre như sau:
I. THÁNH ĐỊA TÂY NINH :
...................
Trong nước Việt Nam ta, THẦY lại chọn tỉnh Tây Ninh trong Nam Kỳ mà lập thành Tòa Thánh đầu tiên nơi đó, vì dưới vùng đất Tây Ninh có sáu mạch nước, cò một mạch đã phún lên mặt đất, nhà nước đã xây nơi đó một cái hồ để lấy nước mà tắm lúc mùa hè. Nơi đây còn rừng có núi, có cuộc thế lập một chỗ tu hành êm tịnh. Ấy cũng là một việc trên Thiêng Liêng định trước vậy.
Qua năm 1933, có cuộc biến chuyển trên Tòa Thánh nên cơ Chỉnh Đạo mớI ra đờI lấy Thánh Thất An HộI ( Bến tre) tạm làm căn cứ. Đây cũng là do Thiên cơ tiền định vì tỉnh Bến tre nằm trên con sông Cửu Long là một con sông lớn rất dài lấy nguồn từ Tây Tạng cao hơn mặt biển có trên 4.000 mét mà chảy ra biển Trung Hoa. Địa phận tỉnh Bến Tre gồm có hai cù lao lớn cặp hai bên sông Hàm Luông tức Hàm Rồng là một cửa lớn trong chín cửa của Cửu Long giang đổ ra biển, một cú lao lớn kêu là Cù Lao Minh có 11 Tổng là Minh Ngải, Minh Lý, Minh Thuận, Minh Thiện cho tớI Minh Trị. Có nghĩa là Minh Đức Tân Dân, chí ư chí thiện, là đem con người trở lại đường sáng mà dẫn đến tột lành. Còn một cù lao lớn nữa g ọI là cù lao Bảo cũng có 11 Tổng là Bảo Đức, Bảo Hòa, Bảo Ngãi, Bảo Hựu cho đến Bảo An, Bảo Trị cũng có nghĩa là bảo tồn sanh chúng, dắt con người về đường đạo đức cho đến hòa bình đại đồng miên viễn. Ấy cũng là việc định trước ở trên Thiên Đình dã lâu đời rồi vậy.
Kỷ niệm Lễ Vía THẦY vào ngày 9 tháng 01 năm 1945 có Tuyên ngôn của Đức Lý Giáo Tông cho biết trước rằng: Tỉnh Bến tre là nơi gài đến trước nên ngài đặt làm Thánh Địa. Nơi đây sau sẽ có lập Tòa Thánh nguy nga, sắp đặt việc chính trị của Đạo lo về phần hữu hình, như thể Bạch Ngọc Kinh trên thiêng liêng vậy., đến lúc nầy nhơn sanh đều biết mình là con chung của một Đấng Tạo Hóa tức là anh em với nhau, biết hòa thuận thương yêu mà bỏ hết Tả đạo Bàng Môn, trọn kính thờ một Đạo chánh, là Đạo Cao Đài mà thôi.
Thánh Địa Tây Ninh để y như cũ lập đền thờ THẦY mường tượng như Lôi Âm Tự vậy. Cầu Đạo, Điểm Đạo, truyền pháp, nội dung vv... đều sẽ sắp đặt, phát xuất nơi đó. Sẽ có lập nhiều Nhà Tu có đủ vệ sinh và êm tịnh.
Tóm tắt, nơi Tây Ninh lo lắng về việc tu hành, ân cần bên phần siêu rỗi củ linh hồn.
Kết luận: Nước Việt Nam chúng ta ty nhỏ nhen mà có nhiều vị Thánh Nhơn như ông Cống Quỳnh, Vua Lê Lợi, Đức Trạng Trình vv... hâm mộ đạo đức tu hành, sùng bái đủ Ngũ Chi, phải chịu lâu năm dướì quyền nước khác vvv... mới được Trời ban thưởng vinh diệu một cách như thế.
Xin xem bài thi của THẦY giáng cơ cho năm 1926, cho biết tương lai như vầy:
Mấy ai rõ thấu máy huyền vi,
Từ thử nước Nam chẳng sánh bì,
Một nước nhỏ nhen trong vạn quốc,
Ngày sau làm chủ mới là kỳ.
I I . ĐỊA LINH BẾN TRE
Lời tiên tri của Anh Lớn Đầu Sư Thái Giáp Thanh đã nới rằng tỉnh Bến tre sau sẽ lập Tòa Thánh
( Tổ Đình) nằm trong Địa Linh Cửu Long Giang huyền bí, một con sông tượng hình rồng uốn khúc bỏ ngọn về Việt Nam, hả miệng ra Nam Hải qua chín cửa. Riêng tỉnh Bến Tre sau nầy được chính ph3 cho sát nhập thêm Cù Lao An Hóa nên đã chiếm trọn bốn Hàm Rồng ( Bốn cửa biển là : Cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiên) và ba Cù lao lớn là: cù lao Minh, cù lao Bảo, cù lao An Hóa. Ba cù lao ầy tượng trưng là Tam Châu thể như rồng ngậm trái châu. Điều nầy đã ứng với tuyên ngôn của Đức Giáo Tông ngày 9.1. Ất Dậu là “Nơi tỉnh Bến tre, Bần Đạo đến trước, vậy Bần Đạo đặt lần tỉnh nầy và luôn hai Quận An Hóa và Chợ Lách vào vùng Thánh Địa…” Những con số địa lý trên đều là những số đặy biệt về đạo pháp và Dịch lý như sau:
Số 3 (Tam châu) tức là Tam Tài: Thiên, Địa, Nhân hay là Tam Thiên, biểu tượng Trời.
Số 4 ( 4 cửa ) tức là Tứ Linh : Long, lân, qui, phụng là Tứ Tượng hay Tứ Địa, biểu tượng cho Đất.
Đạt Ma Tổ Sư nói:” Số NHỨT, TAM, NGŨ hiệp làm số chín, trong Kinh Diệc có nói DƯƠNG TRÙNG CỬU hiệp (số 9 ) còn số NHỊ và TỨ cộng lại thành số SÁU. Trong Kinh Diệc (DỊCH) nói: Số chín thuộc Dương có chưng khí nhẹ trong nổi lên làm Trời. Số sáu thuộc Âm có chưng khí nặng và đục ngưng rớt xuống làm đất, cho nên việc tu hành người quân tử bỏ đục lấy trong.
Thánh nhơn trong Tam giáo, chỉnh dùng số MỘt, BA và NĂM cộng thành số CHÍN mà không dùng số HAI, BỐN cộng thành số SÁU, trí sáng láng mau rõ biết cõi Thiên Đường và Địa Ngục, hễ lành thì siêu, dữ thì đọa, thửa lý rất minh, Bàng Môn / Chánh giáo cũng rõ biết được.
Về phong thủy, Bến Tre không có núi cao, nhưng có sông sâu nước chảy mạnh (thông lưu quán khái) nhiều sông dài chảy ra biển nên chướng khí không tích tụ được. Điều nầy ứng vớI Tuyên Ngôn của Đức Lý Giáo Tông ngày 09 tháng Giêng năm 1945 rằng tỉnh Bến tre: “Nơi đây phong hòa gió thuận…”.
Về Địa huyệt sông Cửu Long bắt nguồn từ nơi đất địa linh hiển, núi cao ngàn năn không ngườI ở, rừng rậm ngàn năm không ai lui tới, lưu lượng ngàn năm không cạn, kết tụ nơi huyệt Long Đảnh, một Địa huyệt rất linh hiển cao siêu tột bực về tinh thần. Ngọn Cửu Long có một giòng Bảo Giang oanh liệt oai nghiêm, nơi Thánh nhân xuất hiện ra giúp đời mà cứu vớt chúng sinh lên đường hạnh phúc và nhờ liên kết với các núi mà Cửu Long giang xuất hiện ra 12 huyệt huyền diệu tạo nên nhnữg nét hùng vĩ cho miền Nma Thánh Địa như sau:
Địa huyệt thứ nhứt là Cân Não, cốt tủy của Cửu Long nằm tại núi Thất Sơn, nơi đây có ba huyệt thiên nhiên nữa hiệp lại tại Nê huờn cung gọi là “Tam Huê tụ Đảnh”, mà sau nầy gọi là KIM THÀNH HUYỆT. Dó là huyệt Dương đã hiện. Cửu long kết vớI hai cốt núi Âm Phong và Cô Độc làm thành cặp măt Rồng, đó là Hà Tiên và Phú Quốc. Địa huyệt nầy gọi là THỦY TRUNG HUYỆT. Trong khi đó trên Tây Ninh, núi Điện Bà là HUỲNH MÔN HUYỆT. Hai đỉnh núi ấy thuọc về Âm kết tụ nguơn khí tại trung ương tạo nên Ấn Đường Huyệt, để khai mở các luồng điển quang cho các huyệt kia và ngưng tại vùng Long Xuyên, Bình Mỹ ( một dãy Cù Lao chạy từ Bình Mỹ xuống tới Cần thơ).
Từ Kim Thành Huyệt phóng xuống mũi Cà Mau và núi Kỳ Vân có haiy huyệt Dương nữa, một bên thành sóng mũi Cửu Long chấm đến Cà Mau. Huyệt nầy gọi là LÂM HUYỀN HUYỆT, một bên thì Hàm Rồng tại Kỳ Vân gọi là BÍCH NGỌC HUYỆT đồng cận với hai huyệt Âm ( Thủy Trung Huyệt và Huỳnh Môn Huyệt) hiện ra BÌNH NAM HUYỆT tại núi Côn Lôn, ấy là chót lưỡi của Cửu Long.
Sáu huyệt Âm Dương vừa kết tụ nguơn khí thì tại TRUNG ƯƠNG HUYỆT, yết hầu của Cửu Long gọi là TRUNG ƯƠNG CỬU LONG HUYỆT tại Cần thơ.
Những huyệt kể trên là những huyệt linh thiêng chánh yếu của Cửu Long giang, nhứt là nguồn Bảo Giang Thiên cơ đã định phải là nơi xuất Thánh đem nhơn loại trở lại đạo đức thuần tuý và thế giới trở lại thái bình để chói rạng sự huyền diệu của Địa Linh Việt Nam trên khắp năm châu và để ứng với câu:
Bảo Giang Thiên tử xuất
Bất chiến tự nhiên thành.
Hơn nữa về tinh thần Cửu Long Giang nhờ các Linh huyệt trên mà tự nhiên tích tụ được khí nguơn thỉ của TrờI, Đất, nên khiến cho tất cả con người Nam Phần Việt Nam hấu hết (95%) đều xu hướng theo đưòng Đạo, trọn tin nơoi Thiêng Liêng Trời Phật, tôn kính đủ Ngũ Chi, thờ phượng đủ Tam Giáo, trọn khốI tinh thần thương yêu hòa ái, nên Đức Chí Tôn mớI chọn làm nơi khai mở Đạo TrờI và Đức Lý Giáo Tông thay thân cho Đấng Cha Trời cầm giềng mối Đạo tạI thế đã chọn tỉnh Bến Tre làm Thánh Địa và định danh nơi đây sẽ cất Tòa Thánh hay Tổ Đình như thể Bạch Ngọc Kinh trên Thiên Đình vậy.. Ấy cũng là do thiên cơ tiền định và là Thiên Ý của THẦY, của Đức Lý Giáo Tôg đem Đạo mầu phốI hiệp với các huyệt Âm Dương thanh khí của Thánh Địa Bến Tre mà tu hành đắc pháp tạI thế, sớm phát huy nền chơn giáo và xướng minh nền Chánh Đạo ra cùng khắp Ngũ Châu.
với Thánh Địa Tây Ninh và
Địa Linh Bến Tre
Sáng tác: Thái Giáp Thanh
THÁNH ĐỊA VIỆT NAM với
Thánh Địa Tây Ninh và Địa Linh Bến Tre
Do Tòa Thánh Kiến Hòa ban hành vào ngày 15.12.1974 do Hội Thánh dưới quyền ủng hộ của Đức Giáo Tông Nguyễn Ngọc Tượng
trích trong quyển Chú giải Tổ Đình do Ban Kiến Thiết Tổ Đình thuộc Tòa Thánh Kiến Hòa ( Thánh Địa Bến Tre) biên soạn và phát hành do Giấy Phép số 4970/74/BDVCH/PHBCNT7ALP/TP ngày 11.9.1974 của Bộ Dân Vận và Chiêu Hồi nước Việt Nam Cộng Họa
Đề thi của Đức Giáo Tông Nguyễn Ngọc Tương ra để cho chư đệ nào giải đáp được sẽ chọn in trong quyển „ CHÚ GIẢI TỔ ĐÌNH“ Tòa Thánh Kiến Hòa Thánh Địa Bến Tre.
Đề thi: „Tại sao THẦY đến mở Đạo Kỳ Ba tại nước Việt Nam ta là một nước nhỏ nhen trong vạn quốc?“
Ngày 01 thánh 02 năm Kỷ Sửu (1949), Đức Giáo Tông cho ra đề thi rằng:“ Tại sao THẦY đến mở Đạo Kỳ Ba tại nước Việt Nam ta là một nước nhỏ nhen trong vạn quốc?“.
Trong số những đáp có bài Anh Lớn Đầu Sư Thái Giáp Thanh, lúc đó làm Thái Chánh Phối Sư, nhờ nhớ rõ lời dạy của THẦY và của Đức Giáo Tông từ trước nên bài trả lời của Anh Lớn được Đức Giáo Tông chọn làm bài mẫu để truyền bá trong chức sắc và toàn Đạo.
Bài trả lời nầy có đoạn nói rõ về Thánh Địa Tây Ninh và Thánh Địa Bến Tre như sau:
I. THÁNH ĐỊA TÂY NINH :
...................
Trong nước Việt Nam ta, THẦY lại chọn tỉnh Tây Ninh trong Nam Kỳ mà lập thành Tòa Thánh đầu tiên nơi đó, vì dưới vùng đất Tây Ninh có sáu mạch nước, cò một mạch đã phún lên mặt đất, nhà nước đã xây nơi đó một cái hồ để lấy nước mà tắm lúc mùa hè. Nơi đây còn rừng có núi, có cuộc thế lập một chỗ tu hành êm tịnh. Ấy cũng là một việc trên Thiêng Liêng định trước vậy.
Qua năm 1933, có cuộc biến chuyển trên Tòa Thánh nên cơ Chỉnh Đạo mớI ra đờI lấy Thánh Thất An HộI ( Bến tre) tạm làm căn cứ. Đây cũng là do Thiên cơ tiền định vì tỉnh Bến tre nằm trên con sông Cửu Long là một con sông lớn rất dài lấy nguồn từ Tây Tạng cao hơn mặt biển có trên 4.000 mét mà chảy ra biển Trung Hoa. Địa phận tỉnh Bến Tre gồm có hai cù lao lớn cặp hai bên sông Hàm Luông tức Hàm Rồng là một cửa lớn trong chín cửa của Cửu Long giang đổ ra biển, một cú lao lớn kêu là Cù Lao Minh có 11 Tổng là Minh Ngải, Minh Lý, Minh Thuận, Minh Thiện cho tớI Minh Trị. Có nghĩa là Minh Đức Tân Dân, chí ư chí thiện, là đem con người trở lại đường sáng mà dẫn đến tột lành. Còn một cù lao lớn nữa g ọI là cù lao Bảo cũng có 11 Tổng là Bảo Đức, Bảo Hòa, Bảo Ngãi, Bảo Hựu cho đến Bảo An, Bảo Trị cũng có nghĩa là bảo tồn sanh chúng, dắt con người về đường đạo đức cho đến hòa bình đại đồng miên viễn. Ấy cũng là việc định trước ở trên Thiên Đình dã lâu đời rồi vậy.
Kỷ niệm Lễ Vía THẦY vào ngày 9 tháng 01 năm 1945 có Tuyên ngôn của Đức Lý Giáo Tông cho biết trước rằng: Tỉnh Bến tre là nơi gài đến trước nên ngài đặt làm Thánh Địa. Nơi đây sau sẽ có lập Tòa Thánh nguy nga, sắp đặt việc chính trị của Đạo lo về phần hữu hình, như thể Bạch Ngọc Kinh trên thiêng liêng vậy., đến lúc nầy nhơn sanh đều biết mình là con chung của một Đấng Tạo Hóa tức là anh em với nhau, biết hòa thuận thương yêu mà bỏ hết Tả đạo Bàng Môn, trọn kính thờ một Đạo chánh, là Đạo Cao Đài mà thôi.
Thánh Địa Tây Ninh để y như cũ lập đền thờ THẦY mường tượng như Lôi Âm Tự vậy. Cầu Đạo, Điểm Đạo, truyền pháp, nội dung vv... đều sẽ sắp đặt, phát xuất nơi đó. Sẽ có lập nhiều Nhà Tu có đủ vệ sinh và êm tịnh.
Tóm tắt, nơi Tây Ninh lo lắng về việc tu hành, ân cần bên phần siêu rỗi củ linh hồn.
Kết luận: Nước Việt Nam chúng ta ty nhỏ nhen mà có nhiều vị Thánh Nhơn như ông Cống Quỳnh, Vua Lê Lợi, Đức Trạng Trình vv... hâm mộ đạo đức tu hành, sùng bái đủ Ngũ Chi, phải chịu lâu năm dướì quyền nước khác vvv... mới được Trời ban thưởng vinh diệu một cách như thế.
Xin xem bài thi của THẦY giáng cơ cho năm 1926, cho biết tương lai như vầy:
Mấy ai rõ thấu máy huyền vi,
Từ thử nước Nam chẳng sánh bì,
Một nước nhỏ nhen trong vạn quốc,
Ngày sau làm chủ mới là kỳ.
I I . ĐỊA LINH BẾN TRE
Lời tiên tri của Anh Lớn Đầu Sư Thái Giáp Thanh đã nới rằng tỉnh Bến tre sau sẽ lập Tòa Thánh
( Tổ Đình) nằm trong Địa Linh Cửu Long Giang huyền bí, một con sông tượng hình rồng uốn khúc bỏ ngọn về Việt Nam, hả miệng ra Nam Hải qua chín cửa. Riêng tỉnh Bến Tre sau nầy được chính ph3 cho sát nhập thêm Cù Lao An Hóa nên đã chiếm trọn bốn Hàm Rồng ( Bốn cửa biển là : Cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiên) và ba Cù lao lớn là: cù lao Minh, cù lao Bảo, cù lao An Hóa. Ba cù lao ầy tượng trưng là Tam Châu thể như rồng ngậm trái châu. Điều nầy đã ứng với tuyên ngôn của Đức Giáo Tông ngày 9.1. Ất Dậu là “Nơi tỉnh Bến tre, Bần Đạo đến trước, vậy Bần Đạo đặt lần tỉnh nầy và luôn hai Quận An Hóa và Chợ Lách vào vùng Thánh Địa…” Những con số địa lý trên đều là những số đặy biệt về đạo pháp và Dịch lý như sau:
Số 3 (Tam châu) tức là Tam Tài: Thiên, Địa, Nhân hay là Tam Thiên, biểu tượng Trời.
Số 4 ( 4 cửa ) tức là Tứ Linh : Long, lân, qui, phụng là Tứ Tượng hay Tứ Địa, biểu tượng cho Đất.
Đạt Ma Tổ Sư nói:” Số NHỨT, TAM, NGŨ hiệp làm số chín, trong Kinh Diệc có nói DƯƠNG TRÙNG CỬU hiệp (số 9 ) còn số NHỊ và TỨ cộng lại thành số SÁU. Trong Kinh Diệc (DỊCH) nói: Số chín thuộc Dương có chưng khí nhẹ trong nổi lên làm Trời. Số sáu thuộc Âm có chưng khí nặng và đục ngưng rớt xuống làm đất, cho nên việc tu hành người quân tử bỏ đục lấy trong.
Thánh nhơn trong Tam giáo, chỉnh dùng số MỘt, BA và NĂM cộng thành số CHÍN mà không dùng số HAI, BỐN cộng thành số SÁU, trí sáng láng mau rõ biết cõi Thiên Đường và Địa Ngục, hễ lành thì siêu, dữ thì đọa, thửa lý rất minh, Bàng Môn / Chánh giáo cũng rõ biết được.
Về phong thủy, Bến Tre không có núi cao, nhưng có sông sâu nước chảy mạnh (thông lưu quán khái) nhiều sông dài chảy ra biển nên chướng khí không tích tụ được. Điều nầy ứng vớI Tuyên Ngôn của Đức Lý Giáo Tông ngày 09 tháng Giêng năm 1945 rằng tỉnh Bến tre: “Nơi đây phong hòa gió thuận…”.
Về Địa huyệt sông Cửu Long bắt nguồn từ nơi đất địa linh hiển, núi cao ngàn năn không ngườI ở, rừng rậm ngàn năm không ai lui tới, lưu lượng ngàn năm không cạn, kết tụ nơi huyệt Long Đảnh, một Địa huyệt rất linh hiển cao siêu tột bực về tinh thần. Ngọn Cửu Long có một giòng Bảo Giang oanh liệt oai nghiêm, nơi Thánh nhân xuất hiện ra giúp đời mà cứu vớt chúng sinh lên đường hạnh phúc và nhờ liên kết với các núi mà Cửu Long giang xuất hiện ra 12 huyệt huyền diệu tạo nên nhnữg nét hùng vĩ cho miền Nma Thánh Địa như sau:
Địa huyệt thứ nhứt là Cân Não, cốt tủy của Cửu Long nằm tại núi Thất Sơn, nơi đây có ba huyệt thiên nhiên nữa hiệp lại tại Nê huờn cung gọi là “Tam Huê tụ Đảnh”, mà sau nầy gọi là KIM THÀNH HUYỆT. Dó là huyệt Dương đã hiện. Cửu long kết vớI hai cốt núi Âm Phong và Cô Độc làm thành cặp măt Rồng, đó là Hà Tiên và Phú Quốc. Địa huyệt nầy gọi là THỦY TRUNG HUYỆT. Trong khi đó trên Tây Ninh, núi Điện Bà là HUỲNH MÔN HUYỆT. Hai đỉnh núi ấy thuọc về Âm kết tụ nguơn khí tại trung ương tạo nên Ấn Đường Huyệt, để khai mở các luồng điển quang cho các huyệt kia và ngưng tại vùng Long Xuyên, Bình Mỹ ( một dãy Cù Lao chạy từ Bình Mỹ xuống tới Cần thơ).
Từ Kim Thành Huyệt phóng xuống mũi Cà Mau và núi Kỳ Vân có haiy huyệt Dương nữa, một bên thành sóng mũi Cửu Long chấm đến Cà Mau. Huyệt nầy gọi là LÂM HUYỀN HUYỆT, một bên thì Hàm Rồng tại Kỳ Vân gọi là BÍCH NGỌC HUYỆT đồng cận với hai huyệt Âm ( Thủy Trung Huyệt và Huỳnh Môn Huyệt) hiện ra BÌNH NAM HUYỆT tại núi Côn Lôn, ấy là chót lưỡi của Cửu Long.
Sáu huyệt Âm Dương vừa kết tụ nguơn khí thì tại TRUNG ƯƠNG HUYỆT, yết hầu của Cửu Long gọi là TRUNG ƯƠNG CỬU LONG HUYỆT tại Cần thơ.
Những huyệt kể trên là những huyệt linh thiêng chánh yếu của Cửu Long giang, nhứt là nguồn Bảo Giang Thiên cơ đã định phải là nơi xuất Thánh đem nhơn loại trở lại đạo đức thuần tuý và thế giới trở lại thái bình để chói rạng sự huyền diệu của Địa Linh Việt Nam trên khắp năm châu và để ứng với câu:
Bảo Giang Thiên tử xuất
Bất chiến tự nhiên thành.
Hơn nữa về tinh thần Cửu Long Giang nhờ các Linh huyệt trên mà tự nhiên tích tụ được khí nguơn thỉ của TrờI, Đất, nên khiến cho tất cả con người Nam Phần Việt Nam hấu hết (95%) đều xu hướng theo đưòng Đạo, trọn tin nơoi Thiêng Liêng Trời Phật, tôn kính đủ Ngũ Chi, thờ phượng đủ Tam Giáo, trọn khốI tinh thần thương yêu hòa ái, nên Đức Chí Tôn mớI chọn làm nơi khai mở Đạo TrờI và Đức Lý Giáo Tông thay thân cho Đấng Cha Trời cầm giềng mối Đạo tạI thế đã chọn tỉnh Bến Tre làm Thánh Địa và định danh nơi đây sẽ cất Tòa Thánh hay Tổ Đình như thể Bạch Ngọc Kinh trên Thiên Đình vậy.. Ấy cũng là do thiên cơ tiền định và là Thiên Ý của THẦY, của Đức Lý Giáo Tôg đem Đạo mầu phốI hiệp với các huyệt Âm Dương thanh khí của Thánh Địa Bến Tre mà tu hành đắc pháp tạI thế, sớm phát huy nền chơn giáo và xướng minh nền Chánh Đạo ra cùng khắp Ngũ Châu.