View Full Version : ThiÊn NhÃn
DaoKy
06-02-2005, 10:38 AM
ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
TAM GIÁO QUY NGUYÊN NGŨ CHI PHỤC NHẤT
http://caodai.org.au/assets/images/thiennhan.jpg
DaoKy
07-02-2005, 09:04 PM
(http://www.caodaism.net/caodai/modules.php?op=modload&name=coppermine&file=index&POSTNUKESID=c65a5943723120457b2853656ab16b4c)SỰ THAM THIỀN => CON ĐƯỜNG ĐI ĐẾN TRỰC GIÁC
(phần một)
₪₪₪₪₪₪₪₪₪
Chỉ dẫn thực hành trong những điều kiện chánh yếu.
Những phương pháp đưa đến trực giác.
₪₪₪₪₪₪
Diễn giả : Đại Đức Geoffrey HODSON
Thông dịch : Nguyễn Hữu Kiệt
₪₪₪₪
Thưa Bà Chánh Hội Trưởng Xứ bộ Thông Thiên Học Việt Nam.
Thưa chư quí thính giả.
Trong những cuộc hội họp dành riêng cho hội viên Thông Thiên Học, chúng ta sẽ cùng nhau học hỏi về giáo lý Thông Thiên Học.
Nay trong buổi họp đầu tiên này chúng ta sẽ học về sự Tham thiền.
Trải qua các thời đại từ xưa đến nay, tất cả những người học Đạo đều tìm cách để đạt được sự giác ngộ. Từ nghìn xưa ấy có người đã được thành công rồi. Nếu ta đi ngược dòng lịch sử, trở về nước cổ Hi lạp hồi đời xưa, thì ta tìm thấy có những nhà đạo sĩ nước Hi lạp cũng đã trải qua con đường Tham thiền để đi đến sự giác ngộ đó rồi.
Đây là một câu chuyện nói về nước Hi lạp thời cổ : hồi đời ấy, Hi lạp có một nhà triết học tên là THALÈS. Ông ấy sống một nơi trong thành phố Hi lạp cách đây vào khoảng 6oo năm trước Thiên Chúa Giáng Sinh. Một ngày nọ có người hỏi ông 9 câu hỏi, ông đã trả lời tất cả. Những câu hỏi đó cùng với những câu trả lời của ông đều được giữ gìn cho đến ngày nay. Đó thật là một diễm phúc cho chúng ta.
Câu thứ nhất mà người ta hỏi nhà triết học Thalès đó như vầy :
Hỏi : Cái gì cũ nhất trên đời ?
Nhà triết học trả lời : Thượng Đế là cũ nhất trên đời : vì Ngài đã có tự bao giờ.
Hỏi : Cái gì đẹp nhất trên đời ?
Đáp : Vũ trụ thì đẹp nhất trên đời, bởi vì đó là công trình của Thượng Đế.
Hỏi : Cái gì lớn nhất trên đời ?
Đáp : Không gian là lớn nhất trên đời, bởi vì không gian chứa đựng tất cả mọi vật.
Hỏi : Cái gì là vững chắc nhất của hết thảy mọi vật ?
Đáp : Cái vững chắc nhất và vẫn tồn tại nhất là Hi vọng : bởi vì hi vọng vẫn tồn tại mãi mãi dầu cho đến sau khi người ta chết.
Hỏi : Cái gì tốt hơn hết tất cả mọi vật ?
Đáp : Sự Tự do là tốt hơn hết tất cả mọi vật, vì nếu không có nó thì không có gì tốt đẹp hơn.
Hỏi : Cái gì mau nhất hơn tất cả mọi vật ?
Đáp : Đó là tư tưởng : vì trong một khoảnh khắc đồng hồ, tư tưởng có thể vượt không gian để đi đến tận cùng trong vũ trụ.
Hỏi : Cái gì mạnh nhất hơn tất cả mọi vật ?
Đáp : Sự cần dùng : bởi vì sự cần dùng làm cho người ta có đủ can đảm để đối phó với tất cả sự khó khăn ở đời.
Hỏi : Cái gì dễ nhất trên đời ?
(Tôi muốn biết trong chư huynh đệ có ai trả lời dùm cho tôi câu hỏi đó ?)
Đây là câu trả lời của nhà triết học Thalès khi người ta hòi ông cái gì dễ nhất trên đời :
Ông trả lời như thế này : Cái dễ nhất trên đời là đem cho người khác những lời khuyên bảo.
Hỏi : Cái gì là khó nhất trên đời ?
Đáp : Tự biết mình là cái khó nhất trên đời.
Biết cái Bản ngã của mình, biết cái Chơn ngã trường tồn, vĩnh viễn của mình và sự hợp nhất cái bản ngã của mình với tất cả mọi loài, mọi vật, là mục đích của sự Tham thiền vậy.
Vấn đề quan trọng nhất trong đời của mỗi người là làm sao đạt được cái quyền năng, cái hạnh phúc, sự an tĩnh trong tâm hồn. Làm sao để nhận thức được cái bản chất thiêng liêng của mình. Làm sao để tìm thấy được Thượng Đế ngự trong tâm mình và luôn luôn sống với nhận thức đó. Làm sao để phụng sự Thượng Đế trong đức tánh thiêng liêng của Ngài.
Vậy Thông Thiên Học có thể dạy ta những gì để giúp ta tìm được Chơn ngã trường tồn vĩnh viễn trong người của ta.
Người ta có thể tìm thấy hạnh phúc, an tĩnh trong tâm hồn bằng cách Thiền định. Có thể có nhiều phương pháp khác nữa; nhưng phương pháp chắc chắn nhất là : tìm thấy Thượng Đế ngự trong lòng ta bằng cách tham thiền mà thôi. Ta tham thiền để tìm thấy sự hiện diện của Thượng đế ngự trong lòng ta, và để tìm thấy sự hạnh phúc và an tĩnh trong tâm hồn, vậy ta phải làm thế nào để bắt đầu một cuộc tham thiền đó ?
Trước hết có ba điều mà ta cần phải thay đổi trong đời ta (nếu cần).
Trước tiên, điều cần phải thay đổi là làm sao thay đổi cái động lực cốt yếu của đời ta : ta đổi sự ích kỷ tham lam ra sự vô kỷ, vô ngã.
Phương pháp thứ nhì là làm thế nào thay đổi cuộc đời ta; từ sự tham lam, vô độ để đổi thành sự vô tư và tiết độ.
Phương pháp thứ ba là mỗi ngày phải tập tham thiền cho đúng giờ, đúng khắc và mọi ngày đều đều như vậy.
Có lẽ trong hàng chư quí vị cũng có người đã thực hành cái phương pháp đó rồi; nhưng phần đông chúng ta mỗi người đều làm theo cách riêng của mình. Bây giờ tôi xin trình bày cùng quí vị một phương pháp chắc chắn nhất để đạt tới mục đích của cuộc tham thiền được kết quả. Trước tiên ta cần phải tham thiền đều đều mỗi ngày không bỏ qua ngày nào hết. Nếu ta chỉ cố gắng vài ngày trong một tuần, thì đó cũng là một điều tốt; nhưng nó không đưa tới kết quả được. Ta cần phải tiếp tục tham thiền mỗi ngày thì luôn luôn có kết quả, dù ta thấy cùng không. Thí dụ như : nhờ sự tham thiền mà ta sẽ thấy tư tưởng của ta càng ngày càng thêm rõ ràng hơn, càng ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn; và sự tập trung tư tưởng của ta càng ngày càng có hiệu quả hơn. Lại nữa, sự hiểu biết của ta về người và vật xung quanh ta đều được rõ ràng hơn và xác thực hơn. Nhờ tham thiền đều đều hằng ngày mà ta có thể hiểu Đạo một cách dễ dàng hơn, và khi nghe diễn giảng về đạo lý, trí ta được sáng suốt hơn. Ta có thể nhận thấy những hiện tượng diễn ra trước mắt ta, dầu khi đó ta đang thức, giữa ban ngày. Lại nữa sức khỏe, nguồn sinh lực của ta cũng có thể tăng hơn bội phần. Lần lần ta nhận thức được những quyền năng vô biên của Thượng đế ở trong lòng ta càng ngày càng rõ rệt hơn. Đó tức là vài kết quả tốt của sự tham thiền có thể đem đến cho ta.
Nên khi ta đã bắt đầu, thì hãy kiên nhẫn để tiếp tục luôn luôn mãi mãi dẫu rằng : đôi khi ta chỉ có tập được 10 phút hay 5 phút mà thôi. Mỗi ngày ta cần phải để một thời gian lối 15 phút dành riêng cho sự tham thiền mỗi buổi sáng. Buổi sớm mai là giờ rất tốt cho sự tham thiền, bởi vì ban mai sau khi thức dậy, tâm trí ta còn bình tĩnh vững vàng; thần trí ta được yên ổn, rất có lợi cho sự tham thiền. Hơn nữa lúc đó những điều kiện về không gian xung quanh ta cũng có một ảnh hưởng rất tốt.
Sự cần thiết khác nữa là ta phải ở trong một căn phòng riêng biệt đừng ai quấy rầy. Điều này rất quan trọng bởi vì ta cần phải được yên tĩnh và thanh tịnh. Lúc ta đang tham thiền mà có những người xung quanh ta quấy rầy thì là một sự rất nguy hiểm cho ta. Khi ta tham thiền về một đầu đề gì cao siêu thì tư tưởng của ta trở nên hoàn toàn trừu tượng đối với thể xác của ta. Nếu trong khi đó có một người nào bên ngoài chạy vào quấy rầy thì ta có thể bị một cơn khủng hoảng về thần kinh có thể rất hại cho sức khỏe.
Để tham thiền cho có kết quả, thì chúng ta cần phải lựa một giờ yên tịnh nào đó trong ngày mà nó cho ta được yên ổn. Không vậy thì ít nhất ta cũng phải làm thế nào cho những người sống chung quanh ta biết, để cho ta yên ổn. Tóm lại có ba điều cần thiết là :
1) Sự tham thiền mỗi buổi sáng.
2) Sự riêng biệt đừng bị khuấy phá.
3) Cách ngồi cho đúng phép.
Có nhiều sách dạy về đạo đã diễn giảng những phép tĩnh tọa thế nào cho đúng để tham thiền. Nhưng nếu nói vắn tắt, thì rốt cuộc chỉ có hai hoặc ba cách ngồi đúng phép để tham thiền mà thôi.
Nguyên tắc thứ nhất là ngồi thế nào cho thân thể được nghỉ ngơi hoàn toàn, nghĩa là không bị trì kéo hay đau đớn chỗ nào cả. Những bắp thịt của ta cũng phải được thong thả không bị bó buộc. Cặp chơn mày của ta cũng phải được nghỉ ngơi, không nên nhăn nhíu lại. Sự thong thả nghỉ ngơi bắp thịt là điều kiện cần thiết của sự tham thiền.
Nguyên tắc kế đó là xương sống của ta phải được ngay thẳng. Nếu nó ngay chừng nào càng tốt chừng nấy. Có nhiều người nằm ngửa xuống để tham thiền. Đó cũng là điều tốt bởi vì khi người ta nằm thì có thể nghỉ ngơi để cho các bắp thịt được thong thả, nhưng có một điều bất tiện là nếu nằm xuống để tham thiền thì người ta cũng có thể ngủ quên đi. Nguyên tắc cốt yếu trong sự tham thiền là làm sao cho bộ óc của ta hoàn toàn thức tỉnh để cho nó có thể tiếp được những kết quả tốt đẹp của tham thiền. Như thế thì phương pháp hay nhất là ngồi cho ngay thẳng. Ở phương Đông mà phương pháp thông thường nhất là ngồi xếp bằng ở dưới đất. Cách đó người ta gọi là ngồi theo cách bông sen hay là “ liên hoa tọa bộ” (tức là ngồi kiết dà). Có nhiều bức tượng Đức Phật Thích ca được người ta tạc trong khi Ngài ngồi theo phép đó. Nếu ta nhận thấy rằng ngồi xếp bằng như thế thật khó khăn vô cùng, nhất là những người phương Tây như chúng tôi, thì ta có thể ngồi một cách khác là ngồi trên một cái ghế bành (fauteuil), hay ghế dựa. Khi ngồi trên ghế đó, thì hai chân không được tréo lại, hai bàn tay cũng vậy, không được đụng nhau và không được tréo nhau. Hai bàn tay phải để cho ngay ngắn trên hai đầu gối. Đó là những điều ta cần phải làm cho đúng trong khi ta bắt đầu tập tham thiền.
Kế đó thì đến vấn đề thở. Trong những sách dạy về Yoga có nhiều phương pháp luyện hơi thở để đạt tới sự giác ngộ. Phương pháp Yoga luyện hơi thở đó người Ấn độ gọi là Prânayama, có nghĩa là kiểm soát cái “Prâna” tức là cái sinh lực của vũ trụ. Những sự luyện tập này có nhiều nguy hiểm, bởi thế cho nên ta tránh không nên tập luyện hơi thở trong khi ta còn trẻ. Lúc lớn lên, ta bắt đầu luyện cũng không muộn gì, nhất là khi ta luyện tập thở dưới sự chỉ đạo của một vị Chơn sư. Nếu trong khi ta chưa gặp được Thầy dạy về phương pháp luyện hơi thở đó, thì điều cần thiết là ta chỉ nên thở chậm rãi và thong thả. Tôi có bổn phận phải nhắc nhở chư quí vị chớ nên tập luyện hơi thở bao giờ, nhất là luyện tập hơi thở với sự tập trung tư tưởng vào bất cứ nơi nào trong cơ thể. Nhất là tập trung tư tưởng ở tại đơn điền (plexus solaire), nơi tim và nơi bộ phận khác dưới xương mông. Có những cái trung tâm cốt yếu của bộ thần kinh ngự tại hai nơi đó. Nhiều người dạy học trò luyện hơi thở và tập trung tư tưởng nơi hai chỗ đó; nhưng tôi đặc biệt ngăn ngừa quí bạn chớ nên tập luyện hơi thở và chú ý đến hai chỗ ấy. Tập trung tư tưởng tại plexus solaire và tại xương mông có thể làm cho ta bị loạn óc, bị những cơn khủng hoảng về tinh thần, về đủ cả mọi phương diện. Mặc dầu ta không nhận thức được những sức mạnh huyền bí đang ngự tại hai trung tâm đó. Nhưng sự thật là chúng nó có những sức mạnh vô cùng nguy hiểm. Nếu ta cứ để y nguyên như thế, một cách tự nhiên, không đá động đến chúng nó, thì không có sự gì xảy đến cả. Nhưng nếu ta tập trung tư tưởng vào hai nơi đó và nhất là kèm theo hơi thở nữa, thì chắc chắn có điều nguy hiểm xảy ra. Vậy tôi xin nhắc lại là : tôi cẩn thận khuyên lơn chư quí vị là đừng nên bao giờ tập luyện hơi thở và tập trung tư tưởng vào hai trung tâm đó. Với những điều khuyên lơn thường thức đầu tiên của tôi vừa đưa ra xong, thì bây giờ tôi xin bắt đầu vào đề cuộc tham thiền.
Điều cần thiết là chúng ta phải làm sao có thể tập trung vào bất cứ đầu đề cao thượng nào. Chúng ta có thể tập trung tư tưởng vào một trong những chơn lý căn bản. Đại khái như là sự hiện diện của Thượng đế ở khắp nơi. Sự có mặt của Thượng đế tiềm tàng khắp vũ trụ dẫu trong không gian hay ngoài thời gian, hay ở xung quanh chúng ta, hay ngự trong cả vạn vật. Nhưng quí vị có thể đặt câu hỏi rằng : Làm sao tôi biết được có Thượng đế ở khắp nơi như thế ? Đó là lý do vì sao ta phải tham thiền để nhận thức được sự hiện diện của Thượng đế ở khắp nơi trong vũ trụ.
Có một câu chuyện người ta nói về một đứa bé ở bên nước Anh là nơi mà tôi sinh trưởng. Đứa trẻ đó trong lúc nó đang thả diều một cách say mê; và nó vẫn tiếp tục chơi nữa, mặc dầu khi con diều đã hạ xuống đất. Trong lúc nó thả diều ở trên không, thì có một đám mây hạ xuống rất thấp đến đỗi con diều của nó bị khuất dạng trong đám mây đó. Bởi đứa trẻ chơi một cách say mê, nên vẫn tiếp tục nắm dây con diều của nó. Trong khi ấy, có một người lạ mặt đến hỏi nó rằng : Em chơi cái gì lạ vậy ? Đứa bé trả lời : Tôi đang thả con diều của tôi. Nhưng người kia lại nói : Nhưng mà em không thấy được con diều của em. Đứa bé trả lời rằng : Mặc dầu tôi không thấy con diều của tôi nhưng bàn tay của tôi có thể cảm thấy nó đang bay.
Vậy ta đây cũng thế, mặc dầu ta không thấy được con diều của ta, nhưng ta có thể cảm giác được một cái sức mạnh huyền bí đang chuyển động trong không gian. Chính cái Động lực đó dắt ta vào Hội Thông Thiên Học để đi đến những chơn trời mới hầu nhận thấy được cái sức mạnh thiêng liêng trong người của ta. Nếu ta nhận thấy rằng : đầu đề tham thiền đó là khó khăn và quá trừu tượng cho ta, thì ta có thể đổi đầu đề khác. Thí dụ như chúng ta hãy tham thiền về bất cứ điều gì xảy ra trong đời Đức Phật; ta hãy chọn sự tích nào của Phật tổ có tánh cách tốt đẹp. Tỷ như ngày sanh Đức Phật. Trước mặt vua cha và hoàng hậu, mẹ của Đức Phật, thì các nhà tiên tri đoán rằng : đứa trẻ này về sau sẽ trở nên nhà thông thái, một bực đạo đức cao thâm. Ta có thể tưởng tượng một bức họa như thế đó, lần lần ta sẽ thấy tất cả nhân vật trong bức họa rõ ràng nơi tâm trí của ta. Khi đó ta tỏ lòng biết ơn của ta đối với Ngài là bực cứu thế. Rồi ta quả quyết làm đúng theo lời răn dạy của Ngài, tức là lời răn dạy của bực giáo chủ đã xuống trần, để dạy nhân loại biết con đường đi đến Niết Bàn. Như thế, ta có thể tạm thời thoát ly ra khỏi đời sống của xác thể tầm thường vật chất này, mà để tư tưởng thanh thoát lên cõi cao thượng, lên cõi giới của Đức Phật. Hoặc giả ta có thể tưởng tượng đến lúc Đức Phật tầm đạo dưới gốc cây Bồ Đề. Ta hình dung Ngài đang ngồi tĩnh tọa dưới gốc Bồ Đề, và tâm trí của Ngài đang tiêu diêu nơi cõi huyền không để tìm thấy Chơn lý vô cùng, Tâm địa của Ngài kiên cố và bất rung chuyển trước sự cám dỗ của Ma vương. Chúng ta hãy hình dung tâm trí của Ngài lúc đó hợp nhất với bản thể nguyên chất duy nhất của vũ trụ. Ngài hợp nhất với tất cả mọi loài, mọi vật ở trong trời đất. Trong khi ấy, ta hình dung Ngài đã đạt được sự giác ngộ siêu đẳng, siêu phàm và lần lần ta có thể chia sớt được những cảm giác, những ảnh hưởng tốt đẹp của Ngài lúc bấy giờ. Chúng ta có thể tưởng tượng đến những việc đã xảy ra trong đời của Đức Phật hoặc những vị giáo chủ khác đã từng xuống trần dạy dỗ chúng sanh. Nếu ta không thể tập trung tư tưởng đến một vấn đề quá trừu tượng như sự hiện diện của Thượng Đế ở khắp nơi trong vũ trụ, thì ta hãy tập trung tư tưởng đến vấn đề cụ thể, có hình thể, có sắc tướng.
Nhiều người rất lấy làm thích thú về những cái mỹ lệ của trời đất. Họ ngồi ngoài sân, ngoài vườn để nhìn phong cảnh đẹp lúc tham thiền. Điều đó rất tốt, nhất là khi ta có thể được yên tĩnh một mình không bị ai quấy rầy. Cái đó có thể khó khăn với ta là những người sống nơi thành thị đông đúc, nhưng ta cũng cố gắng tìm những nơi vắng vẻ như ở vườn hoa công cộng hay là dưới gốc cây. Lần lần ta có thể cảm thông được những sự cảm giác của cái cây và thấy được sự rung cảm của nó như thế nào. Tinh thần của Thượng Đế cũng tiềm tàng trong mọi gốc cây, và nếu ta tìm tòi thì ta có thể cảm thông được cái sức phát triển quyền năng của Ngài xuyên qua cây đó. Và nếu ta thành công trong sự tìm tòi thì ta có thể hòa hợp được với tâm thức của cái cây đó và ta sẽ hiểu biết một cách rõ ràng : thế nào là một cái cây. Lẽ dĩ nhiên là đời sống trong cái cây còn rất thô sơ lắm, nhưng nó đang tìm cách vượt bực để phát triển cho đến đỗi ta cảm thấy cái sức sống ấy vượt đến tận nhánh chồi của nó. Rồi lần lần, ta sẽ ngồi nơi những gốc cây khác và ta sẽ tập làm thế nào để cho tâm thức của ta hòa hợp với tâm thức của cái cây, để hiểu nó. Nếu ta lần lần thực hành được tất cả mọi phương pháp ấy thì chúng ta cũng sẽ hòa hợp được với tâm thức của vũ trụ. Tâm thức vũ trụ là một tâm thức duy nhất; nó ngự trong tất cả muôn loài vạn vật. Và bấy giờ chúng ta sẽ nhận thấy có một quyền năng vô biên, có một ánh sáng vô cùng, có một sức sinh hoạt thiêng liêng ngự khắp chốn khắp nơi. Người ta sẽ thấy có một sự yên tĩnh vô biên, có một sự hạnh phúc an nhàn vui vẻ tràn ngập tâm hồn, nếu thành công được. Bấy giờ tâm thức về xác thân vật chất của ta càng ngày càng yếu dần, còn tâm thức vũ trụ tràn ngập trong tâm hồn ta và xâm chiếm hết tất cả mọi sự chú ý của ta. Rồi thì ta có thể sẽ như Đức Phật là hòa hợp tâm thức của ta với tâm thức của vũ trụ. Lúc đó, quả là ta đã nhập cảnh Niết Bàn rồi vậy. Dẫu sự này chưa xảy đến cho ngay bây giờ, dẫu rằng : nó xa xôi đến bực nào nhưng chung qui chắc chắn là một trong những kiếp tương lai của ta, ta sẽ đạt được. Nhưng hiện thời trong lúc này, ta cũng có thể có được cái cảm giác ấy, ta có thể có được cái hương vị của cảnh Niết Bàn, nếu ta biết cố gắng tập luyện hằng ngày. Và khi ta đã đạt được rồi, ta hãy chia sớt cho tất cả mọi người xung quanh.
Đó là một vài phương pháp tham thiền.
Bây giờ tôi xin trình bày cho quí vị một phương pháp khác trước khi tôi chấm dứt đầu đề hôm nay. Đây tức là một đầu đề rất khoa học, là cái tinh hoa của tất cả mọi phương pháp của Pháp môn Yoga. Trước hết tôi xin tóm tắt lại những nguyên tắc cần yếu này là :
1/ Phải tham thiền đều đều hằng ngày.
2/ Hãy tìm một chỗ riêng biệt không bị ai khuấy phá.
3/ Hãy ngồi cho đúng phép.
4/ Kế đó, hãy tự nhắc nhở lấy mình rằng : tôi không phải là xác thân vật chất này. Tôi là Chơn Ngã.
Sau một thời gian ngắn ta tập trung về những điều nhắc nhở đó, đoạn ta lại nhắc mình câu này là : Tôi không phải là Tình cảm, Tôi chính là cái Chơn Ngã vậy. Kế đó ta cũng tự nhắc nhở rằng : Tôi cũng không phải là Cái Trí, Tôi là Chơn Ngã bất diệt.
Đoạn ta sẽ tập trung tư tưởng đến một cái chơn lý vô cùng tuyệt đối đó : tức Ta không phải là cái xác thân hữu hình này mà ta chính là Chơn Ngã thiêng liêng, bất diệt. Ta sẽ tự nhắc nhở lấy mình như thế đó mãi, nghĩa là quên mình, thoát ly ra khỏi xác thân vật chất này, để tự biết mình là Một Chơn Ngã thiêng liêng vô cùng và bất diệt.
Để một vài phút suy gẫm và tập trung tư tưởng đến cái chơn lý này là : Chơn Ngã của anh, của bạn cũng như là Chơn Ngã của tôi đều là một, đều là vô cùng tuyệt đối và bất diệt. Rồi ta sẽ tự nhắc nhở rằng : cái Chơn Ngã của ta đó quả là sáng rỡ vô cùng; nó sáng rỡ với một ánh sáng thiêng liêng tuyệt đối. Ánh sáng đó là Chơn Ngã, tức là Ta vậy.
Mỗi ngày ta nên để 10 phút hay 15 phút yên lặng hầu tập trung tư tưởng và nhắc nhở lấy mình rằng mình vốn là Chơn Ngã chói sáng rực rỡ vô cùng. Sau một thời gian tham thiền độ chừng 10 phút hay 15 phút, thì chúng ta sẽ trở lại với cái tâm thức của xác thân rồi sẽ bắt đầu làm việc trở lại như thường. Trước hết ta đem tất cả mọi sự chú ý của mình vào cái trí rồi đến tình cảm. Kế đem tâm thức trở về với xác thân một lần nữa. Lúc đó thì tưởng tượng cũng như xác thân của mình hoàn toàn được một sức mạnh vô biên, tràn ngập khắp cả. Mặc dầu trong khi đó cái xác thân của ta không ngủ, nhưng ta không để ý đến nó nhiều cho lắm. Bây giờ ta trở lại với đời sống hằng ngày với tất cả tâm thức, với tất cả mọi sự chú ý của ta. Hãy để một vài phút nghỉ ngơi yên tịnh cho xác thân quen trở lại với tâm thức của nó, trước khi ta bắt đầu với công việc hằng ngày. Nếu ta có thể ngồi yên được một phút vào lúc giữa trưa 12 giờ, thì ta hãy im lặng và hãy nghĩ tới cái chơn lý vô cùng là : Tôi là Chơn Ngã thiêng liêng bất diệt.
Trước khi đi ngủ, mỗi bữa chiều, ta cũng nên ngồi im lặng như vậy trong một lúc để mà suy tưởng và tìm lấy cái Chơn Ngã của mình, mặc dầu trong khi xác thịt ngủ, cái trí của ta vẫn linh động và vẫn giúp ta tiếp tục khám phá cái Chơn Ngã của ta để tìm lấy sự giác ngộ. Ta hãy tự nhắc nhở lấy mình rằng : đến sáng mai khi ta tỉnh dậy, thì việc đầu tiên của ta là hãy ngồi im lặng vài phút để tham thiền. Đó là một phương pháp để cho ta có thể bắt đầu ngay bây giờ cái đời sống tinh thần của ta, dầu ta hãy còn bận rộn những công việc lo lắng ngoài đời. Ta hãy nhớ rằng : dầu ta bắt đầu tham thiền ta cũng cần phải làm cho tròn bổn phận hằng ngày của ta, làm tròn những bổn phận của ta đối với xã hội, đối với người đời. Công việc tham thiền đó ta hãy làm trong vòng hợp lý với một sự nghĩ ngợi, tính toán đúng đắn. Ta cần phải làm việc cho đúng cách thông minh cũng như ta làm một việc gì khác trong đời để được thành công vậy. Và cuối cùng ta có thể tiếp tục công việc tìm tòi chơn lý mặc dầu trong khi xác thân ta ngủ. Ta có thể làm việc đó hay không ? Chúng ta có thể lắm bởi vì Thông Thiên Học dạy rằng : chỉ có xác thân vật chất của ta ngủ mà thôi.
Cái Chơn ngã của mỗi người, tức là phần thiêng liêng tinh hoa của mọi người không bao giờ ngủ. Tâm thức bên trong của ta không cần đến sự nghỉ ngơi, tất nhiên nó không ngủ bao giờ. Trong khi xác thân ta ngủ, thì phần tinh hoa, phần thiêng liêng đó vẫn thức luôn luôn. Nếu ta là người siêng năng, chăm học, thì trong khi ngủ cái trí của ta vẫn tiếp tục học mãi. Còn nếu ta là những người phụng sự giúp đời thì trong khi ta ngủ, linh hồn ta đi cõi khác để tìm phương tiện giúp đỡ người một cách vô hình. Và phương pháp hay nhất để trở nên một đấng giúp đỡ vô hình (aide invisible) là hãy bắt đầu giúp đỡ nhơn loại trong khi ta vẫn còn là kẻ hữu hình, tức là làm công việc này bây giờ và trong lúc này, khi ta thức.
Những người Thông Thiên Học biết rõ cái điều đó, cho nên mặc dầu sau khi họ chết, họ vẫn tiếp tục học hỏi kinh nghiệm và tiếp tục phụng sự ở cõi giới bên kia cửa tử.
Thưa quí vị đây là một bài học đầu tiên của chúng ta về sự tham thiền, tức là phương pháp để đạt được cái tâm thức tinh hoa của vũ trụ.
Soạn giả
Nguyễn thị Hai
(Trích trong Tìm hiểu Thông Thiên Học số 63 và 64 tháng 6 và 7 năm 1959)
DaoKy
07-02-2005, 09:07 PM
SỰ THAM THIỀN CON ĐƯỜNG ĐI ĐẾN TRỰC GIÁC
(phần hai)
TÂM THỨC – KHOA PHÁP MÔN YOGA.
Diễn giả : Đại Đức Geoffrey HODSON
Thông dịch : Nguyễn Hữu Kiệt
Kính thưa Bà Hội Trưởng,
Kính thưa chư quí vị thính giả,
Bây giờ tôi xin tiếp tục nói về vấn đề tham thiền nối theo đầu đề ngày hôm qua và tôi xin trình bày cho chư huynh đệ một đầu đề về Tâm thức mà bên Ấn Độ giáo người ta đã nói rõ trong khoa pháp môn Yoga. Nếu thời gian cho phép thì tôi xin lần lượt giải bày về bảy phái triết học ở bên Ấn Độ.
Các nhà triết học Ấn Độ nói rằng : “Sự hiểu biết của loài người đều căn cứ trên sự kinh nghiệm; nếu ta chỉ nhận thức được sự vật bên ngoài toàn bằng giác quan mà thôi, thì sự đó không đem đến cho ta sự hiểu biết chắc chắn nào”. Họ chủ trương rằng : phương pháp duy nhất để đạt được sự hiểu biết hoàn toàn là trừ ra khi nào mình hợp nhất được với điều gì mình muốn biết. Ta cũng có thể biết rõ một sự gì là khi nào ta có thể hợp nhất được với sự đó, bấy giờ thì ta mới có thể biết chắc chắn vật đó ra sao, chớ không phải là chúng ta chỉ biết được cái vỏ bên ngoài của nó mà thôi.
Khoa pháp môn Yoga là khoa dạy cho ta làm cách nào để hợp nhất được con người của ta với sự sống thiêng liêng duy nhất của vũ trụ. Chính khoa pháp môn giúp ta hỗn hợp được với đời sống thiêng liêng của Thượng Đế. Khi nào ta còn cách biệt với một sự vật mà ta muốn biết thì khi đó ta vẫn chưa có thể biết được vật đó. Và khoa pháp môn Yoga đó lấy sự lý luận ấy làm phương pháp tu học. Người ta gọi nó là Yoga, và những tu sĩ tu theo pháp môn đó có tên là Yogi. Khoa pháp môn Yoga chẳng khác nào cái khoa thể thao cho cái trí của mình.
Chiều hôm nay tôi xin cố gắng trình bày cái phương pháp làm thế nào để lần lần luyện cái trí. Trong khoa học đó, thì cái Chơn ngã của ta hoàn toàn tách ra khỏi tâm thức của xác thể để hợp nhất với chơn lý đại đồng. Nếu ta có thể tách ra khỏi xác thân của ta để hỗn hợp với tâm thức đại đồng thiêng liêng duy nhất trong vũ trụ (và khi ta trở về thì tâm thức của ta trở về với xác thân ta), thì ta đem theo một kho tàng rất là quí báu, một kho hiểu biết vô song do sự kinh nghiệm của ta. Và những nhà đạo sĩ bên Ấn Độ chủ trương rằng : khoa pháp môn Yoga tức là cái chìa khóa giúp ta mở được cửa huyền bí đó và họ nói rằng khoa pháp môn Yoga tức là một người giữ cửa để mở cửa cho ta vào kho tàng quí báu đó. Thế thì khoa pháp môn Yoga là người giữ cửa khoa hiểu biết. Như ta đã nghe tối hôm qua, thì khoa pháp môn Yoga là một khoa huyền bí để tìm thấy cái Chơn ngã của mình. Nó bao trùm tất cả mọi sự kinh nghiệm về đời sống tinh thần, dẫu ta có biết hay không có biết. Chữ Yoga đó do nơi chữ Phạn “Yuj” mà ra, nó có nghĩa là sự hợp nhất tinh thần trong thân của mỗi người với tinh thần chung của vũ trụ, tức là nó dạy ta phương pháp làm thế nào cho Chơn ngã của mỗi người hợp nhất với bản ngã của vũ trụ.
Có tất cả bảy môn phái triết học ở trong khoa triết học Ấn Độ. Chúng nó không thật khác nhau hết. Nhưng vì sự trình bày, sự hiểu biết chơn lý của chúng nó khác nhau tùy theo mỗi môn phái. Bây giờ tôi xin nói bảy môn phái triết học đó :
Phái thứ nhất là HATHA YOGA. Môn phái đó dạy ta hợp nhất với Thượng Đế bằng sự kiểm soát hơi thở, kiểm soát xác thân và kiểm soát sinh lực. Cái bộ óc vật chất của ta có thể phát triển được năng lực của nó là nhờ pháp môn Hatha Yoga.
Pháp môn thứ hai là MANTRA YOGA. Theo khoa pháp môn đó thì âm thanh và tiếng động được dùng một cách chặt chẽ để đạt được mọi quyền năng. Những tiếng ca hát, hoặc ngôn ngữ, phát ra những rung động âm thanh, đều là những phương pháp dùng để thực hành khoa pháp môn đó. Mantra là một âm thanh, một tiếng động mà khi người ta đọc lên một cách đúng phép, thì nó có thể phát lên một động lực huyền bí vô cùng. Theo sự hiểu biết của tôi thì pháp môn Mantra Yoga là một cái gì liên quan tới Manas tức là thuộc về cái trí.
Pháp môn thứ ba là LAYA YOGA. Chữ Laya có nghĩa là tan ra hay là chìm đắm vào một cái gì đó. Theo pháp môn Laya Yoga thì sự chủ trị ý chí là mục đích duy nhất. Thi hành theo pháp môn đó thì nhà đạo sĩ tìm cách để mà hợp mình với tâm thức chung của Thượng Đế. Khoa pháp môn đó theo ý tôi thì nó liên hệ tới Atma.
Khoa pháp môn kế đó là khoa KARMA YOGA. Theo khoa pháp môn ấy thì người đạo sĩ rán sức để hành động, rán sức để cải thiện mọi hành động của mình và để phụng sự đời. Khoa Karma Yoga đó liên quan tới cái thể trực giác Bồ Đề.
Khoa pháp môn thứ năm là BHAKTI YOGA. Bhakti có nghĩa là sự sùng kính. Khoa pháp môn Yoga đó giúp cho nhà đạo sĩ mở được đức tánh sùng đạo, sùng kính, sùng bái Thượng Đế. Nhà đạo sĩ thực hành khoa pháp môn Yoga đó dùng sự sùng kính như là như là cái phương tiện để đạt được sự hòa hợp với Thượng Đế. Mọi tình cảm tốt đẹp thiêng liêng của người đạo sĩ đều được phát huy ra một cách mạnh mẽ để có thể giúp y đạt được mục đích. Theo ý tôi, thì khoa pháp môn Bhakti Yoga giúp cho nhà đạo sĩ mở được mọi tình cảm thiêng liêng tốt đẹp. Nó liên hệ đến cái vía của con người.
Pháp môn kế đó gọi là JNÂNA YOGA, tức là khoa Pháp môn mở trí hiểu biết. Theo khoa pháp môn môn đó thì nhà đạo sĩ tìm cách mở trí hiểu biết một cách sâu xa để nhờ đó mới có thể đạt đến Thượng đế. Theo tôi hiểu thì khoa Jnâna Yoga đó liên quan tới hạ trí và nó giúp cho con người mở trí sâu rộng.
Khoa pháp môn thức bảy gọi là RÂJA YOGA. Chữ Râja theo tiếng Phạn có nghĩa là ông vua thì Râja Yoga đó có nghĩa là khoa pháp môn chúa, cao cả hơn mọi Yoga. Khoa pháp môn Yoga đó là sự tổng kết, là sự kết hợp tất cả mọi khoa pháp môn khác. Phương pháp mà tôi trình bày cho chư huynh đệ hồi tối hôm qua thuộc về khoa pháp môn Râja Yoga. Khoa pháp môn đó dạy ta con đường hợp nhất một cách trực tiếp với sự sống đại đồng duy nhất trong vũ trụ và có thể giúp cho ta đạt được quyền năng thiêng liêng của Thượng Đế. Nhưng ta hãy nhớ rằng : tất cả mọi phương pháp, mọi pháp môn đều có một mục đích duy nhất mà thôi. Đó tức là sự hợp nhất với Thượng Đế và với tất cả muôn loài. Thay vì người ta đem tâm thức chú ý đến ngoại cảnh, ngoại vật, thì theo phương pháp môn đó, người ta tập trung ý chí, tập trung tư tưởng vào đời sống bên trong để có thể đạt được cái mục đích tối cao. Như thế thì chữ Yoga có nghĩa là hiệp nhất. Yoga chẳng khác nào như một cái cầu nối liền con người với Thượng Đế. Nó là cái cầu nối liền mọi vật tương quan lẫn với nhau.
Có tám giai đoạn ở trong sự thực hành Yoga mà ta cần phải thực hành trước hết, trước khi ta muốn thành công trên đường đạo lý. Nên nhớ rằng, tất cả mọi triết học, mọi pháp môn đều do các bậc Chơn sư, các bậc Đại Thánh từ nghìn xưa đã phát minh và truyền lại cho đời. Tám giai đoạn mà ta cần phải thực hành trong khoa Pháp môn Yoga là :
1) Thứ nhất là “Yama” có nghĩa là bất bạo hành và tinh luyện đời sống bên trong để có thể giúp cho ta tập luyện tinh thần. Bất bạo hành đối với mọi sinh vật, nghĩa là không làm đau khổ, không giết chóc bất cứ một sinh vật nào. Đó là điều kiện cốt yếu cho người học đạo. Bất bạo hành đó chữ Phạn gọi là “Ahimsa”, tức là không có gây sự đau khổ.
2) Giai đoạn thứ hai gọi là “Niyama”, có nghĩa là trong sạch, tự bằng lòng với số phận của mình. Trì giới, khổ hạnh, kiểm soát đời sống vật chất của mình. Kế đó là sự học vấn và sùng bái Thần thánh.
3) Giai đoạn thứ ba là “Asana”, tức là tập luyện phương pháp tĩnh tọa, nghĩa là ngồi thế nào cho nó đúng phép.
4) Giai đoạn thứ tư là “Prânâyâma”, tức là phương pháp tập kiểm soát hơi thở và do đó kiểm soát sinh lực.
5) Giai đoạn thứ năm là “Pratyâhâra”, tức là phản chiếu tư tưởng vào nội tâm.
6) Giai đoạn thứ sáu là “Dhârana”, tức là tập trung tư tưởng.
7) Giai đoạn thứ bảy là “Dhyâna”, tức là Tham thiền.
8) Giai đoạn thứ tám là giai đoạn cuối cùng và khó khăn nhất, tiếng Phạn gọi là “Samâdhi”. Có nghĩa là tâm thức siêu đẳng.
Bây giớ chúng ta hãy xét qua mỗi môn phái Triết học đó. Bắt đầu là phương pháp Hatha. Pháp môn Hatha Yoga đó thường bị người ta lợi dụng, lạm dụng rất nhiều. Khoa thực hành đầu tiên của Pháp môn Hatha Yoga đó là kiểm soát hơi thở và kiểm soát sinh lực trong cơ thể con người. Xác thân là một khí cụ do đó người ta có thể dùng hoặc để thỏa mãn sự khoái lạc vật chất của mình, hoặc dùng nó làm phương tiện để đạt lấy mọi quyền năng của Thượng Đế. Khoa Hatha Yoga dạy rằng : sự cải thiện hoàn toàn xác thân của mình là làm sao cho nó được mỹ lệ được sự uyển chuyển, được sức mạnh và làm cho nó cứng rắn. Mọi quyền năng trong cơ thể đều được khích động lên cho đến khi xác thân của ta được trở nên hoàn toàn. Họ nói rằng : theo khoa pháp môn đó người ta có thể làm chủ được sự chết và nhờ xác thân tráng kiện đó, tư tưởng có thể hoạt động một cách mạnh mẽ phi thường, và sau cùng thì cái Trí của con người có thể hoàn toàn hợp nhất được với Thượng Đế. Người ta thường hay lợi dụng cái phương pháp Hatha Yoga như là khoa thể thao vậy. Điều đó đôi khi cũng có ích, nhưng ta không nên quên rằng : cái mục đích duy nhất, cuối cùng của khoa Pháp môn là hợp nhất với Thượng Đế. Hatha Yoga là phương pháp để kiểm soát, để làm cho hơi thở của ta được điều hòa. Nhà đạo sĩ thực hành khoa pháp môn đó luyện hơi thở bằng cách hít ra hít vào do nơi lỗ mũi bên mặt và lỗ mũi bên trái. Phương pháp đó gọi là thở theo Thái dương hay Thái âm, nghĩa là hít vào do nơi lỗ mũi bên mặt tức là hô hấp theo Thái dương hoặc thở ra do nơi lỗ mũi bên trái, tức là hô hấp theo Thái âm. Một bên lỗ mũi thuộc dương, một bên thuộc âm. Phương pháp đó làm cho nhà đạo sĩ luyện được xác thân trở nên hoàn toàn để mà sẵn sàng bắt đầu những giai đoạn cao hơn. Pháp môn Hatha Yoga giúp người ta được thăng bằng về xác thể và có được sự kiểm soát xác thân để chuẩn bị nhà đạo sĩ bước qua pháp môn Raja Yoga. Đó là một vấn đề rất sâu rộng nhưng bây giờ tôi xin nói phớt qua để mà bắt qua Mantra Yoga.
Mantra tức là một thần chú, để làm kích động những năng lực huyền bí. Một thần chú mantra có thể là một tiếng nói hay là một câu có nhiều tiếng. Khi người ta đọc nó một cách đúng phép, thì nó có thể kích động được những sức mạnh rất phi thường. Một câu thần chú Mantra khi người ta đọc lên, nó uyển chuyển để đem tới những sự rung động thần bí và nó có thể giúp ta đạt được ý muốn. Trong Bà la môn giáo thì những câu thần chú Mantra đó đều rút trong kinh Véda.
Người ta thường gọi một trong những câu thần chú đó là tiếng nói rung động, hay tiếng nói có phần linh động thần bí. Đó tức là tiếng thần bí AUM. Người ta đọc nó là OM nhưng mà người ta viết nó ba chữ A U M. Tiếng thần bí đó tượng trưng ba ngôi của Thượng Đế; tuy ba nhưng mà là một. Khi người ta đọc lên danh từ Aum đó, thì chữ M đằng sau chót phải dài ra. Khi đọc nó, thì người ta phải tập trung tư tưởng vào sự sống thiêng liêng của vũ trụ, và người ta tìm cách hợp nhất chơn ngã của mình với chơn ngã của vũ trụ. Khi đọc tiếng AUM bảy lần, mà mỗi lần như vậy, thì nó có thể kích động được mỗi cảnh giới trong vũ trụ. Và khi đọc nó, thì trí của ta cũng tập trung vào một trong bảy cảnh giới của vũ trụ. Và tôi chắc rằng : trong chư huynh đệ cũng biết, bên Phật giáo đôi khi người ta cũng có đọc câu thần chú : OM MANI PADME HUM . . .( Án ma ni bát rị hồng). Những câu thần chú đó có cái sức rung động rất phi thường, vậy khi người ta đọc nó lên thì người ta phải làm cho cái tâm chứa đầy bác ái mà thôi. Khi người ta đọc những câu thần chú đó thì nó làm kích động những huyệt bí hiểm ở trong thân người. Và người ta sẽ nhận thức rằng sự nhịp nhàng uyển chuyển của linh hồn người cũng nhịp nhàng đúng điệu với sự rung chuyển của tâm thức vũ trụ. Pháp môn Mantra Yoga giúp cho người ta có thể điều khiển được mọi âm thanh, mọi tiếng động và do đó có thể đạt được mọi quyền năng.
Bây giờ tôi xin nói pháp môn kế là Laya Yoga. Pháp môn đó có khi người ta cũng gọi nó là Kundalini Yoga, bởi vì khoa pháp môn này dạy người ta tập làm kích động được một sức mạnh huyền bí gọi là Hỏa hậu nó ngự trong thân thể của mỗi người. Tôi sẽ có dịp nói đến cái Kundalini ấy trong những bài thuyết pháp tới đây và bây giờ tôi xin miễn nói tới vấn đề đó. Nhưng theo pháp môn Laya Yoga hay là Kundalini Yoga, thì nhà đạo sĩ hình dung mình ở giữa một ngọn lửa thiêng, ngọn lửa bất diệt trong vũ trụ. Và biết rằng : ngọn lửa đó vẫn luôn luôn bừng cháy, và linh động nhất trong mỗi người. Với phương pháp đó người ta có thể hợp nhất ngọn lửa thiêng trong mình với ngọn lửa thiêng của vũ trụ; người ta có thể đạt được quyền năng sáng tạo của Thượng Đế và người ta có thể kích động cái quyền năng sáng tạo của Thượng Đế đó ngự trong thân thể của mỗi người. Bởi thế cho nên nó là một khoa pháp môn rất nguy hiểm và người ta chỉ nên thực hành khoa đó dưới sự chỉ dạy của một Chơn Sư mà thôi. Laya Yoga giúp cho người ta thống trị được những quyền năng sáng tạo, những quyền năng vô vi của ngọn lửa thiêng.
Bây giờ tôi xin nói đến Karma Yoga. Trong Thánh kinh Bhagavad Gita thì Đức giáo chủ Krishna có nói như thế này : “Karma Yoga là một hành động đúng phép. Và mục đích duy nhất tối cao của pháp môn đó là làm sao đạt được sự toàn thiện trong những hành động, mỗi việc làm. Và việc làm thiêng liêng đó phát hiện ra bằng những việc làm trong đời sống hằng ngày”. Những lý tưởng của khoa pháp môn Karma Yoga là làm sao để thực hiện được sự mỹ lệ ở dưới trần gian này. Do đó mà thiên chức của con người mới có thể làm tròn được. Khi tư tưởng của con người được sáng suốt, vị tha và minh triết thì nó hoàn toàn tách ra khỏi những gì xấu xa ở đời mà được nhắm vào cái mục đích cao cả và tốt đẹp. Cái trí của người ta do đó sẽ được luyện tập luôn luôn cho đến khi trở thành một khí cụ hoàn toàn có hiệu quả. Chừng ấy cái trí không còn là một cái gì nhảy nhót lung tung nữa, và trực giác con người lần lần nẩy nở có thể giúp con người đạt được mọi sự. Và khi đó thiên nhãn sẽ mở để giúp con người hiểu được cái Chơn ngã của mình. Karma Yoga là pháp môn giúp cho con người thấu triệt được mọi bí quyết của hành động. Đó là khoa pháp môn dạy người ta làm việc, hành động và phụng sự nhân loại. Người ta phụng sự bằng những hành động, làm việc khéo léo.
Bây giờ thì chúng ta xét đến pháp môn Bhakti Yoga, nghĩa là sùng tín, sùng bái. Pháp môn đó có nhiều Dòng bên Thiên Chúa Giáo vẫn áp dụng và thực hành. Tất cả những đạo sĩ ẩn dật đều thực hành khoa khoa pháp môn Bhakti Yoga để đạt đến Thượng Đế. Đối với một vài hạng người thì khoa pháp môn đó có thể giúp họ đạt được ý muốn. Trong một cơn thiền định mà họ tập trung lòng bác ái của họ vào lòng Bác Ái của Thượng Đế thì nhà đạo sĩ Bhakti Yoga nhận thấy, cảm thông được sự hiện diện của Thượng Đế trong lòng của họ. Khoa Bhakti Yoga đó dạy người ta thế này : Hãy làm tròn bổn phận mình đối với người. Làm việc cho Thượng Đế chớ không phải làm việc riêng cho mình. Hãy hiến dâng mọi sự thông minh, trí tuệ của mình cho Thượng Đế. Hãy học bằng cách kính mến và hãy tập nhìn thấy mọi vật đều ở trong Thượng Đế. Hãy hiến thân mình trọn vẹn cho Đức Thượng Đế cao cả. Ngài ngự trong tâm của mọi vật. Như thế thì nhà đạo sĩ của khoa pháp môn Bhakti Yoga hiến trọn vẹn thân mình cho lý tưởng cao cả. Người ấy hiến dâng tất cả mọi tinh lực của y thuộc về xác thể, thuộc về tình cảm, thuộc về lý trí và tất cả mọi phương diện. Y hiến dâng trọn thân mình của y dưới bàn thờ bác ái và sùng kính. Bhakti Yoga giúp người ta chủ trị được những tình cảm thiêng liêng quí báu, tình bác ái, tình đồng loại, và giúp cho người ta có thể hợp nhất với Thượng Đế bằng sự bác ái và sự sùng đạo.
Bây giờ thì tôi xin nói đến khoa pháp môn Jnâna Yoga. Jnâna có nghĩa là hiểu biết. Pháp môn đó giúp người ta phát triển và bành trướng cái trí cho đến mức cùng tột. Và sau chót người ta có thể dùng trí để hợp nhất mình với tất cả mọi loài, mọi vật. Và người đạo sĩ về phái Jnâna Yoga tập luyện cái trí mình như thế nào để cho cái trí trở nên mạnh mẽ và có thể dùng làm lợi khí để hợp nhất. Vì đó mà người ta nói rằng cái trí là phần linh thiêng, phần chủ động mọi việc làm của con người. Và sau cùng thì sự hiểu biết về vũ trụ, về Thượng Đế là cứu cánh của nhà đạo sĩ đó; y có thể đạt đến tâm thức thiêng liêng của vũ trụ, của Thượng Đế. Jnâna Yoga có thể giúp người ta chủ trị được cái trí và đem đến mọi sự hiểu biết.
Bây giờ thì chúng ta hãy xét đến pháp môn cuối cùng, nó tổng kết, hợp nhất mọi pháp môn, đó là Raja Yoga. Khoa Raja Yoga giúp người ta chủ trị được tất cả mọi pháp môn Yoga khác và giúp cho người ta có được những quyền năng sáng suốt, những quyền năng phân tách, những quyền năng trí tuệ để đạt được Chơn ngã của mình. Như tôi đã nói tối hôm qua thì pháp môn đó là tinh hoa của mọi pháp môn. Nhờ nó mà Đức Thượng Đế ẩn hiện trong mình chúng ta được hoàn toàn bộc lộ ra ngoài và người ta do đó có thể đạt được cái mà người ta gọi là Chơn ngã. Người ta sẽ nhận thức được rằng cái Chơn ngã hay linh hồn của mình vốn là Một với Đại Ngã của vũ trụ. Do khoa pháp môn đó người ta có thể trở thành vị đệ tử của một Chơn Sư. Theo giáo lý Thông Thiên Học thì vị Chơn Sư đó không phải là một người thầy bằng xương bằng thịt mà người ta có thể tìm thấy được ở ngoài đời. Mặc dầu ông thầy đó đôi khi có thể giúp ích cho ta. Riêng phần tôi, tôi cũng đã từng gặp gỡ những nhà đạo sĩ chơn tu ẩn mình trong những chốn rừng sâu, hẻo lánh bên Ấn độ, hay là những nhà đạo sĩ điều khiển dưới tay những môn phái, những trường dạy đạo, những đạo viện hoặc là những đền đài bên Ấn Độ. Sự thật những nhà đó chính là những nhà chơn tu, họ có thể đạt đến Samadhi tức là Đại định một cách dể dàng. Samadhi tức là làm cho xác thân mình hoàn toàn không hay biết gì cả trong khi linh hồn của họ xuất ra, nhưng theo giáo lý Thông Thiên Học thì khi mà chúng ta nói Chơn sư tức là chúng ta nói đến những bực Chơn Tiên hoàn toàn giải thoát. Bởi vì trong hàng các vị Chơn sư đó có những vị thâu nhận đệ tử. Người ta có thể gặp các Ngài trong giấc ngủ hay là trong khi người ta hoàn toàn xuất ra ngoài xác thân của mình. Chính những sự gặp gỡ đó mới là chân thật rõ ràng với người học đạo. Nếu khi nào người ta được hân hạnh gặp vị Chơn Sư đó, thì Ngài sẽ giúp ta cảm hứng dồi dào để giúp ta đạt được những quyền năng của khoa Yoga. Vị Chơn Sư đó sẽ che chở đệ tử của mình dầu người này là đàn ông hay đàn bà trong những giai đoạn đầu tiên và nguy hiểm của người học Đạo. Cũng như bà Chase đã nói hôm chúa nhật vừa rồi thì những vị Chơn Sư đó đối với chúng ta quả là những người có thật bằng xương, bằng thịt. Và những vị Chơn Sư đó ta có thể gặp được.
Một phương pháp giúp ta gặp được những vị Chơn Sư đó là con đường phụng sự, nhất là phụng sự những mục đích Thông Thiên Học của chúng ta. Chính Hội này là phong trào của các Ngài thành lập ra. Phụng sự phong trào Thông Thiên Học tức là con đường đưa chúng ta đến chơn các Đức Thầy và đưa chúng ta đến sự Minh triết thiêng liêng. Nhưng phụng sự không phải là nói một cách suông, nhưng là phụng sự một cách cụ thể. Trong Thiên Chúa giáo thì có câu dạy như thế này : Kẻ nào làm việc tức là kẻ đó cầu nguyện vậy. Đó chính là hình thức của Karma Yoga. Bởi vì tại cõi trần đây là nơi chúng ta phụng sự, nơi chúng ta hoạt động. Nó là con đường đưa đến Chơn sư. Chúng ta là những người Thông Thiên Học chúng ta cần phải học hỏi giáo lý Thông Thiên Học một cách cẩn thận. Chúng ta hãy cố gắng sửa đổi tâm tánh của chúng ta. Chúng ta hãy làm bất cứ việc gì mà chúng ta có thể làm một cách sốt sắng, một cách tận tụy để giúp đỡ công việc Hội của chúng ta. Chúng ta hãy làm tất cả những công việc đó nhơn danh của những vị Chơn Sư. Chừng đó thì cửa Đạo sẽ mở rộng cho chúng ta hiệp nhất được với Thượng Đế. Và đó, tôi xin nhắc lại, chính là mục đích của tất cả mọi pháp môn Yoga vậy.
Soạn giả
Nguyễn thị Hai
(Trích trong Tìm hiểu Thông Thiên Học số 65 và 66 tháng 11 và 12 năm 1959)
DaoKy
07-02-2005, 09:08 PM
THAM THIỀN
( Tóm tắt bài Tham thiền của Ông Subramaniam )
Trước khi Tham thiền phải tập trung tư tưởng.
Tập trung tư tưởng nghĩa là gom tư tưởng vào một đồ vật nào hay một ý niệm nào đó. Tỷ như khi ta cầm cái hộp quẹt, ta tập trung vào đó. Nếu trong đời sống hằng ngày, mỗi chuyện ta làm, ta đểu tập trung tư tưởng vào, thì cái quan năng của ta sẽ mở. Ta có thể tập trung tư tưởng trong khi ta làm bất cứ việc gì. Có nhiều cách tập trung tư tưởng; nhưng có một phương pháp tập trung tư tưởng mầu nhiệm hơn. Lấy một vài cổ thi hay một hình ảnh tốt đẹp nào, rồi tập trung vào đó. Tỷ như ta lấy một bài cổ thi. Ta đọc đi đọc lại; ta chú trọn tư tưởng vào đó. Ta cố gắng đi sâu vào ý nghĩa. Ta tìm hiểu ý tưởng và quan niệm của tác giả ẩn dưới văn từ; vì văn từ có khôn khéo thế mấy đi nữa cũng không diễn đạt đặng tư tưởng một cách hoàn toàn. Nếu ta tập trung tư tưởng vào bài thơ đó, ta sẽ đạt được ý nghĩa thâm trầm của nó. Mà rồi chẳng những ta hiểu đặng chỗ uyên cạn của nó, mà ta có thể thăng lên đến Thượng trí. Chừng đó Thượng trí ta hoạt động, và ta có thể hòa hợp với tinh thần của bài cổ thi ấy đặng. Như vậy ta có thể nói ta đang bước vào một thế giới khác hẳn với thế giới hồng trần mà ta sống đây. Ở vài tình trạng ấy, ta đồng hóa với câu thơ. Ta có thể nói đặng rằng : ta hiểu nó hoàn toàn. Khi ta bước vào thế giới Thượng trí rồi, thì ta hành động một cách khác. Vậy phương pháp tập trung tư tưởng là gom tư tưởng vào cái ý niệm duy nhất. Và nhờ tập trung tư tưởng mà ta có thể bước vào Thượng trí, và có thể thu thập đặng những tình cảm, những tư tưởng và sự tốt đẹp của cõi Thượng giới. Người thường nhơn chỉ sống với những tình cảm, và những tư tưởng của cõi thấp, họ chỉ để hạ trí của họ hoạt động mà thôi, nhơn đó mà bao nhiêu dục tình, bao nhiêu tư tưởng xấu xa biểu lộ không ngừng. Còn người sống trong cõi Thượng giới [1] thì có những tư tưởng tốt đẹp, thanh cao.
Chính trong buổi Tham thiền là trong buổi ta đang sống với Thượng trí, ta có tư cách hành động khác với người đời, ta có tư tưởng cao thượng và thiêng liêng.
Có người hỏi tôi rằng : “ Làm thế nào cho tư tưởng đừng vẩn vơ, nghĩ nhớ đến chuyện khác ?
Bản tánh của cái trí là bất ổn định. Nó như con khỉ không bao giờ đứng yên. Nó cũng như gió hay xao xuyến. Nó chỉ sợ ý chí của ta mà thôi. Vậy ta nên lấy ý chí ta làm một cái niền cột nó lại. Ngoài ý chí ra, thì ta không thế nào tập trung đặng. Mà nếu không tập trung tư tưởng được thì làm sao Tham thiền ?
Vậy Tham thiền là gì ?
Tham thiền là làm thế nào cho tư tưởng hoạt động trong cõi Thượng Thiên, tức là chỉ để cho Thượng trí làm việc mà thôi. Trong buổi Tham thiền, ta làm thế nào đánh thức Chơn Ngã của ta. Muốn vậy ta rán tưởng đến Chơn Sư ( hay Đấng Cứu Thế nào ) và rán hợp nhất với Ngài, ta tưởng tượng những đức tánh tốt của Chơn Sư hiện rõ trong lòng ta. Ta rán giữ cái trạng thái tâm thức ấy được vài phút. Làm như thế, ta tinh luyện cái vía và cái trí của ta. Khi cái vía và cái trí của ta được tinh luyện rồi thì nó phản ảnh phương diện Minh Triết và Bồ Đề xuống phàm nhơn ta một cách dễ dàng. Chừng đó ta hòa nhịp với tất cả vạn vật. Ta đồng hóa đặng với người lành cũng như với người dữ. Buổi Tham thiền như thế đem lại một cái kết quả trọng đại trong đời sống ta, nó có thể kéo dài suốt ngày ấy. Đó là phần cốt yếu của sự Tham thiền.
Tóm lại, mỗi người chúng ta phải có phương pháp thích hợp với tâm tánh mình để tinh luyện hạ thể, kiểm soát đặng cái trí, cái vía và cái xác cho Chơn Nhơn biểu hiện.
Nếu sự Tham thiền không ảnh hưởng đặng đời sống của ta, thì nó sẽ hóa ra vô ích.
Soạn giả : NGUYỄN THỊ HAI
( Trích Tạp chí Tìm hiểu Thông Thiên Học quyển 49 và 50 )
[1] Thượng giới chia làm hai cõi :
1/ Thượng Thiên thuộc về Thượng trí và
2/ Hạ Thiên thuộc về Hạ trí. Người đời thường sống với Hạ trí nên có những tư tưởng xấu xa. Nhưng nếu ai ở cõi Hồng trần mà có những tư tưởng tốt đẹp thì cũng gọi là sống với Thượng trí nơi cõi Thượng Thiên. (Lời soạn giả)
DaoKy
07-02-2005, 09:13 PM
FOHAT, KUNDALINI,
SỨC MẠNH HUYỀN BÍ TRONG CON NGƯỜI
Diễn giả: Đại Đức Geoffrey Hodson
Thông dịch viên: Ông Nguyễn Hữu Kiệt
Thưa chư Huynh đệ,
Đầu đề buổi thuyết pháp hôm nay là “Fohat, Kundalini và con người”. Tôi có nhắc nhở cho chư huynh đệ rằng: đầu đề đó chúng ta chỉ nên học hỏi về mặt lý thuyết mà thôi. Sở dĩ tôi nói về vấn đề nầy không phải tôi khuyến khích chư huynh đệ tập luyện luồng hỏa hậu Kundalini trong con người. Luồng hỏa hậu đó có một sức mạnh nguy hiểm vô cùng, đến nỗi lời giảng dạy từ nghìn xưa về đầu đề đó đều được truyền dạy dưới hình thức tượng trưng mà thôi.
Chiều hôm nay tôi xin đề cập nó qua quan niệm của Ấn Độ Giáo được phổ biến với hình thức nghệ thuật Ấn Độ. Luồng hỏa hậu trong con người chính là tinh hoa của điện lực trong vũ trụ. Sức mạnh đó hiện diện khắp nơi, trong mọi loài cho đến mỗi nguyên tử. Danh từ Tây Tạng gọi nó là FOHAT. Danh từ đó vẫn thường dùng trong kho sách vở về giáo lý Thông Thiên Học mà các bực tiền bối đã viết từ lúc khởi đầu. Sức mạnh thần bí ấy hiện diện trong khắp cơ thể con người, nó tập trung nơi xác thân. Theo như bà Blavatsky đã viết, thì sức mạnh thần bí đó ẩn tàng trong những đốt xương sống cuối cùng của con người; nó cũng ở trong cái phách và tủy xương sống con người. Sức mạnh ẩn tàng trong con người gọi là Kundalini. Danh từ đó có nghĩa là sức mạnh hoạt động đi theo con đường quanh co chẳng khác nào rắn bò.
Tôi cũng đã nói sơ về cách hoạt động của luồng hỏa Kundalini và những con đường của nó đi lên từ chót xương sống đến bộ óc. Sức mạnh luồng hỏa đó là chủ động mọi tình dục và mọi sự hoạt động thần kinh hệ của chúng ta. Luồng hỏa đó hoạt động trong con người bằng hai phương pháp trên.
Trong giai đoạn tiến hóa của nhơn loại tương lai và những cuộc tuần hoàn sắp tới, thì bảy khoanh của luồng hỏa hậu trong con người sẽ đều kích động tất cả. Sự kích động ấy sẽ đem tới cho nhơn loại tất cả những quyền năng của vị Chơn Tiên. Như thế thì trình độ tiến hóa con người có căn cứ vào mỗi khoanh trong luồng hỏa hậu đó được kích động hay chưa. Luồng hỏa Kundalini là một sức mạnh về điện lực có ba chiều khác nhau. Sức mạnh về điện lực đó có ba phương diện khác nhau là điện âm, điện dương và điện không âm không dương. Có một điều lý thú mà ta nhận thấy là của các nhà bác học đời nay đã khám phá ra được cái sức mạnh về điện lực đó ở trong mỗi nguyên tử mà người ta gọi là ba sức mạnh. Sức mạnh thứ nhứt là Proton hay là điện dương, hay là dương điện tử. Sức mạnh thứ nhì gọi là Electron hay là điện âm, hay là âm điện tử. Sức mạnh thứ ba gọi là Neutron hay là điện tử không âm không dương. Như thế thì trong toàn thể vũ trụ đều có hiện diện ba sức mạnh đó.
Trước khi luồng hỏa Kundalini được kích động dậy lên thì trong trạng thái tiềm tàng của nó có đủ ba luồng điện thuộc về ba hạng đó. Trong khi luồng hỏa Kundalini được kích động quá trớn thì ba sức mạnh ấy cũng bị kích động theo. Phương pháp thứ nhứt làm kích động luồng hỏa Kundalini là dùng một thần lực thuộc về ý chí (atma) từ cõi trên giáng xuống xuyên qua tủy xương sống để kích động luồng hỏa hậu nằm dưới xương mông. Trong khi đó thì ba điện lực âm, dương và không âm không dương trong xương mông con người đều bị kích thích và chúng nó dậy lên. Như tôi đã nói kỳ trước, sức mạnh đó dậy lên theo đường giữa tủy xương sống. Luồng điện dương bên Ấn Độ gọi là Pingala. Đường điện dương gọi là Pingala đó đi lên bộ óc thì liên lạc với bộ hạch mũi (corps pituitaire). Đường khác thuộc về luồng điện âm thì đi theo con đường đối lập với con đường Pingala. Đường thuộc về điện âm đó gọi là Ida. Do đó hai đường âm và dương gặp nhau khi đi lên bộ óc, thì luồng điện âm kích động bộ óc: đường đó chứa điện âm để lên bộ óc. Giữa hai đường đó có một đường đi thẳng mà người ta gọi là Sushumna. Do đó luồng điện không âm không dương của hỏa hậu đi thẳng một mạch tới bộ óc.
Có một chuyện thần thoại bên Tây phương có lẽ chư huynh đệ cũng đã biết; nó diễn tả sự kích động luồng hỏa hậu và sự đi lên của nó. Những chuyện thần thoại đó đến với chúng ta giữa thế hệ nầy do nơi khoa Pháp môn huyền bí cổ truyền. Những sự bí mật của trời đất tiết lộ cho chúng ta bằng những tượng trưng để tránh cho những bực sơ cơ khỏi lạm dụng sức mạnh huyền bí để mưu cầu sự ích lợi riêng cho mình.
Đây là một câu chuyện cổ kích động luồng hỏa hậu Kundalini. Tựa chuyện đó là “Chuyện một người đẹp đang ngủ”. Chuyện một nàng công chúa tuyệt sắc sống chung với vua và hoàng hậu nơi một lâu đài xinh đẹp.
Một khi kia người phù thủy nổi giận và muốn trả thù nàng công chúa bằng cách làm cho tất cả gia quyến nàng và tôi tớ đều bị đắm chìm trong giấc ngủ mơ màng kéo dài đến 100 năm, nhưng xác thân họ không thay đổi. Trải qua thời gian ấy thì lâu đài, cung điện bị rễ cây và cây rừng lan rộng bao trùm mất. Ngày nọ có một vị hoàng tử đẹp trai đến cung điện, bước vào cửa chánh lần đến các phòng thấy mọi người đang ngủ mê. Đến phòng công chúa vị hoàng tử thấy công chúa tuyệt đẹp đang ngủ: chàng đâm ra si tình bèn cúi xuống đặt cái hôn trên má nàng công chúa. Kết quả của sự hôn đó rất thần tình là làm cho mọi người trong cung thức dậy. Sau cùng nàng công chúa kết hôn với vị hoàng tử đẹp trai và sống một cuộc đời hạnh phúc tới già.
Đó là câu chuyện thần thoại diễn tả cả một lịch trình tiến hóa con người. Nó cho ta biết rằng: tâm thức siêu linh con người ngủ mê trước khi được đánh thức. Nó chỉ cho chúng ta biết bằng cách nào phàm nhơn con người, trong khi đang mê mang vật chất, mà nhờ ảnh hưởng của chơn nhơn, của tánh chất thiêng liêng mới kích động trở lên.
Sau cùng phàm nhơn và chơn nhơn đều hợp nhứt. Nàng công chúa tượng trưng phàm nhơn đang ngủ. Hoàng tử đẹp trai tượng trưng chơn nhơn. Hai cái gặp nhau và sau cùng đi đến chỗ hợp nhứt. Ngoài ra người ta còn hiểu một cách thâm sâu hơn câu chuyện đó. Nàng công chúa đang ngủ trong lâu đài là luồng hỏa Kundalini đang ngủ trong xác thể con người chờ khi thức tỉnh. Hoàng tử tức là atma, tức là ý chí. Khi atma từ cõi trên giáng xuống để kích động Kundalini trong xương sống và bằng sức mạnh thần bí nó đụng luồng hỏa Kundalini, thì luồng hỏa Kundalini thức động lên, và đến đỉnh đầu, thì khi đó con người có tâm thức siêu việt thiêng liêng để có thể hợp nhứt với Thượng Đế.
Câu chuyện thần thoại đó do các vị Chơn sư đời xưa muốn giấu sự bí mật của Thiên cơ để loài người khỏi lạm dụng sức mạnh thần bí và cũng để loài ngưới có dịp đem ra dùng trong thế hệ tương lai.
Hình thức tượng trưng mà người ta dùng để chỉ Kundalini, là con rắn hay con rồng mà bên phương Đông người ta hiểu bằng ba ý nghĩa sau đây:
1.- FOHAT là sức mạnh sáng tạo trong vũ trụ;
2.- Tánh chất thiêng liêng Thượng Đế trong hình thức minh triết; con rắn hay rồng tượng trưng sự minh triết. Sở dĩ dùng hai con vật đó chỉ sự minh triết là vì hai con vật đó bò sát đất để len lỏi chui vào vật khác. Sức mạnh sáng tạo vũ trụ là sức mạnh sáng tạo con người.
3.- Con rắn cũng tượng trưng những bực Chơn Tiên đắc đạo theo danh từ Naga bên Ấn Độ Giáo. Tóm lại, rắn hay rồng là hình thức tượng trưng cho những bực Chơn Tiên đã hoàn toàn giải thoát. Rắn cũng tượng trưng cho sự luân hồi chuyển kiếp con người. Mỗi khi rắn đổi lớp, thì nó bỏ lớp da cũ để khoác lớp da mới. Con người cũng vậy: sau khi chết, thì con ngươi bỏ xác phàm, rồi đi đầu thai trở lại mang lấy xác mới. Như thế rắn là hình thức tượng trưng để diễn tả sự luân hồi hay chuyển kiếp.
Soạn giả
DaoKy
07-02-2005, 09:19 PM
NHỮNG QUYỀN NĂNG THIÊNG LIÊNG
VÀ PHI THƯỜNG CỦA CON NGƯỜI
Sự nẩy nở song song của Tâm Thức và cơ thể.
Hạch mũi và Tùng quả tuyến là những giác quan.
Sự khích động những bộ phận ấy bởi luồng Hỏa xà.
Diễn giả : Đại Đức Geoffrey Hodson Thông dịch : Nguyễn Hữu Kiệt
Thưa bà Hội Trưởng,
Thưa quí Ông, quí Bà,
Thưa chư Huynh đệ.
Tối hôm nay tôi bắt đầu một trong bốn bài giảng lý - thứ nhất, về những quyền năng siêu đẳng và phi thường của con người. Ba bài tiếp theo đó thì tôi sẽ trình bày nội trong tháng tám tới đây.
Thông Thiên Học dạy là con người vốn có hai thứ quyền năng siêu nhiên. Hai thứ quyền năng đó là :
1/ Những quyền năng chủ động;
2/ Những quyền năng thụ động.
Những quyền năng thụ động tiếng Pháp gọi là Pouvoirs négatifs thuộc về tánh chất thụ động của con người. Những quyền năng đó thường thường được dùng bởi những người mà ta gọi là médiums. Những quyền năng đó có những sở đoản của nó khi người ta dùng nó làm khí cụ để khảo cứu sưu tầm. Nó không phải do nơi luyện tập cái trí hay cái xác thân, hoặc do nơi sự tu luyện mà có. Những quyền năng đó xảy đến cho ta một cách tự nhiên, chứ không phải do ý chí. Người ta không thể dùng nó làm khí cụ để khảo cứu hay sưu tầm về một khoa nào. Xét vì nó là những quyền năng thụ động nên nó đến cho con người do nơi những động lực từ bên ngoài. Những quyền năng ấy thường là vô sở cứ, và người ta không thể thử thách hay thí nghiệm được.
Vì lẽ đó cho nên người Thông Thiên Học thường chú trọng về những quyền năng mà người ta gọi là quyền năng chủ động hơn; bởi vì người ta nhận thấy rằng : những quyền năng thụ động mà những người médiums dùng để thực hành khoa đồng bóng thường đem tới cho người ta những điều nguy hiểm vô cùng. Những người thực hành khoa đồng bóng thì ý chí của họ càng ngày càng trở nên yếu kém đi, bởi vì họ luôn luôn nạp mình, cả ý chí lẫn xác thân, lẫn tư tưởng cho những sức mạnh từ bên ngoài. Sự thực hành khoa đồng bóng đó làm cho người ta càng ngày càng trở nên lụn bại về tinh thần. Ngoài ra những điều nguy hiểm đó, những chuyện đồng bóng còn làm cho người ta bị ma quái ám ảnh. Những người lên đồng cốt sẽ trở nên những vật thụ động, rất dễ bị xâm chiếm bởi những ảnh hưởng xấu từ bên ngoài mà họ không thể nào tự chủ được. Và lần lần, họ bắt đầu nghe những tiếng nói vô thinh, nó làm cho họ luôn luôn bị ám ảnh và mất thăng bằng. Những tiếng nói đến cho họ từ những cõi vô hình càng ngày càng mang đến cho họ những điểu quái gở tai dị. Sau dần, thì họ bị những ảnh hưởng ma quái xâm nhập vào mình và họ không thể tự chủ được. Có rất nhiều người, về phương diện tư tưởng, họ không phải là những người mất trí hay loạn óc, nhưng họ là những người bị ma quái ám ảnh. Tình trạng đó khó mà trị cho dứt. Người ta có thể dùng ý chí để xua đuổi mất đi những điều ma quái ám ảnh đó. Nhưng ý chí của nạn nhơn đồng bóng càng ngày càng kém hèn và họ trở nên những vật hoàn toàn thụ động có thể bị ám ảnh nhiều lần sau nữa. Vì những lẽ ấy mà người Thông Thiên Học chúng ta chú trọng đến những quyền năng chủ động hơn là những thứ quyền năng nguy hại như thế. Những quyền năng chủ động có thể luyện tập được và có thể dùng bất cứ lúc nào khi người ta muốn, để làm khí cụ cho sự khảo cứu sưu tầm về mọi phương diện, không phải chỉ một lần mà bất cứ lúc nào tùy ý. Như thế thì những điều gì người ta khảo cứu tìm tòi nên có thể lập đi lập lại nhiều lần để thí nghiệm xem coi có đúng chơn lý hay không. Chúng ta sẽ có dịp học hỏi tới những phương pháp đó sau này. Chúng tôi sẽ trình bày bằng những hình màu rọi để cho chư huynh đệ thấy rõ những cơ quan làm chủ động cho những quyền năng đó.
Những quyền năng siêu nhiên có thể vận dụng được trong khi người ta vẫn tỉnh táo như thường. Quyền năng đó có thể chia làm ba loại : thứ nhất là Thần nhãn, tức là có thể thấy được những vật vô hình; thứ hai là Thần nhĩ tức là nghe thấy đặng tiếng động nơi cõi vô hình; thứ ba là Kiến tánh, nghĩa là trong khi hoàn toàn thức tỉnh, người ta có thể nhận thức được sự hợp nhất bản ngã của mình với Đại ngã của Vũ trụ; hay là sự hợp nhất của mình với mọi vật, mọi loài trong Trời Đất. Đó là cái quyền năng tối cao và lớn nhất mà người học Đạo có thể thực hiện được. Như tôi đã nói trong những kỳ trước thì điều đó chính là cái mục đích tối thượng, mục đích rốt ráo mà người học Đạo tìm cách thực hiện trong đời học Đạo của họ.
Thần Nhãn
Trước hết chúng ta hãy xét về vấn đề Thần nhãn và thử xem Thần nhãn nghĩa là gì ? Nên nhớ rằng : tôi muốn nói Thần nhãn, mà người ta có, do nơi sự tập luyện và người ta có thể dùng ý chí để kiểm soát được. Thần nhãn đó có thể chia ra làm hai phần : Thần nhãn thuộc về xác thể và Thần nhãn thuộc về siêu linh.
Thần nhãn thuộc về thể chất tức là Thần nhãn thông suốt như quang tuyến X vậy, vì do nó người ta nhìn thấy xuyên mọi vật đông đặc, cứng rắn. Thí dụ: người ta có thể nhìn xuyên qua xác thân con người, khi người ta muốn dùng Thần nhãn để mà khán nghiệm và xem bệnh tật. Do Thần nhãn đó người ta thấy rõ ràng những bộ phận và ngũ tạng lục phủ của con người. Những cơ quan trong con người như huyết mạch, gân cốt, tế bào, ngũ tạng lục phủ và tất cả những cơ quan trong thân thể v. v. . . đều có thể dùng Thần nhãn xem xét tỉ mỉ tùy ý mình muốn. Nhờ đó người ta có thể xem bệnh một cách chắc chắn, không bị sai lầm và dùng nó mà khán nghiệm một bộ phận nào trước khi mổ. Tất cả những điều đó có thể làm với Thần nhãn thuộc về quang tuyến.
Loại Thần nhãn thứ hai gọi là Thần nhãn phóng đại để dùng xem mọi vật nhỏ phóng đại ra như kính hiển vi vậy. Nhờ Thần nhãn đó mà người ta nhìn thấy những vật rất nhỏ bé li ti như tế bào, hạt nguyên tử. Người ta nhìn thấy những vật nhỏ đó bằng cách phóng đại nó ra như những vật lớn thường vậy. Người ta có Thần nhãn đó là do nơi bí huyệt, hay là luân xa giữa hai chơn mày và do sự hoạt động của một bộ hạch trong óc gọi là glande pituitaire. Bộ hạch óc nối liền với bi huyệt giữa hai chơn mày bằng một cái ống dài độ 7 phân tây. Người ta có thể dùng ống đó để nhìn rõ ràng những vật muốn thí nghiệm như nhìn vào trong kính hiển vi vậy. Khi người ta luyện tập để dùng Thần nhãn đó thì có thể nhìn thấy bất cứ vật nhỏ bé nào. Do quyền năng ấy người ta có thể đặt tâm thức mình vào trong lòng hạt nguyên tử rất nhỏ bé để thí nghiệm xem xét coi vũ trụ bao lớn. Theo bên Ấn Độ Giáo người ta gọi phương pháp thí nghiệm đó là hòa hợp mình với hạt nguyên tử, tức là làm cho tâm thức mình thu nhỏ lại ở trong lòng của hạt nguyên tử. Danh từ tiếng Phạn gọi nó là “Anima”, tức là Thần nhãn phóng đại mọi vật.
Loại Thần nhãn thứ ba gọi là viễn vọng Thần nhãn (Clairvoyance téléscopique). Do quyền năng đó người ta có thể xem xét những vật rất xa xôi như những tinh cầu trong không gian.
Loại thứ tư thuộc về Thần nhãn của cái phách. Do quyền năng đó người ta có thể thấy cái phách của quả địa cầu và nhìn thấy bất cứ vật nhỏ li ti nào từ quả địa cầu thoát ra. Người ta cũng nhìn thấy những hạt vi trần (particules) rất nhỏ thoát ra từ những hành tinh khác. Khi người ta dùng thần nhãn đó để thí nghiệm, thì sẽ thấy rằng : trong vũ trụ này có biết bao nhiêu vạn ức điểm vi trần (particules) rất nhỏ bay lơ lửng trong không gian. Những hạt bụi vi trần li ti đó nhảy nhót lung tung và phát ra ánh sáng. Đó là những hạt nguyên tử của những chất lơ lửng trong không gian. Khi người ta xem xét cái phách của quả địa cầu, thì thỉnh thoảng thấy có luồng ánh sáng bừng lên, chạy từ chỗ này qua chỗ khác. Có khi người ta cũng nhìn thấy ánh sáng đó ở trong khóe mắt của chúng ta. Phân tách luồng ánh sáng ấy, người ta nhận thức rằng : đó là những hiện tượng thuộc về những Tinh linh trong cõi vô hình. Những Tinh linh đó là những sinh vật có khắp mọi nơi ở xung quanh chúng ta. Những Tinh linh ở cõi vô hình đó thuộc về ngũ hành như những loại Tinh linh của Đất, của Nước, của Gió và của Lửa. Những đầu đề đó thuộc về bài giảng sắp tới và tôi sẽ bắt đầu nói trong buổi diễn thuyết tối mai.
Thần nhãn của cái phách là một quyền năng rất có ích để dùng khám bệnh. Do đó mà cái phách con người có thể xem xét tỉ mỉ được. Khi dùng Thần nhãn thì người ta thấy cái phách chói sáng và có thứ màu đặc biệt. Trong phách có những luồng sinh lực nhiều màu khác nhau. Sự xem xét những bí huyệt và đường sinh lực trong cái phách có thể giúp cho ta nhận thấy rằng : người ta có bệnh tật hay không. Có lẽ trong chư huynh đệ cũng biết người ta có hào quang gọi là hào quang của sức khỏe. Từ hào quang sức khỏe đó người ta thấy phát ra đủ thứ sinh lực có sẵn trong mình. Những người khỏe mạnh thì hào quang đó phát ra những tia ngay ngắn và dựng đứng. Những tia đó có thể thấy trong những chỗ nhọn của châu thân, như đầu ngón tay, ngón chơn và các góc cạnh trong mình. Những người có sức khỏe thì các tia đó phát ra từ đỉnh đầu mà lên. Trái lại những người bệnh tật thì hào quang của họ có những tia cúp xuống và xụi lơ. Những tia cúp xuống đó có thể thấy ở nơi những bộ phận bị đau đớn hay là khắp toàn thân. Nếu những tia đó ở khắp cả châu thân thì người ấy bị những chứng bệnh bại hoại kinh niên. Nếu những tia cúp xuống đó chỉ thấy ở trong một bộ phận nào mà thôi, thì chính bộ phận đó bị tê liệt hay đau bại. Như thế chúng ta thấy rằng : cách dùng Thần nhãn đó có thể làm phương pháp để khám bệnh rất hiệu quả.
Quyền năng kế đó gọi là Thần nhãn siêu đẳng hay là siêu thiên nhiên. Thần nhãn đó có nhiều cấp bực khác nhau. Có thứ Thần nhãn nhìn cõi Trung giới, có thứ Thần nhãn để nhìn cõi Thượng giới và trên cao hơn nữa. Do Thần nhãn đó, người ta có thể thấy ánh sáng phát ra từ hào quang con người và luân xa hay bí huyệt con người.
Xét vì những nguyên nhân bệnh tật con người phần nhiều do nơi tình cảm hay tư tưởng sinh ra, vậy thì dùng Thần nhãn đó tức là truy nguyên nguồn gốc mọi bệnh tật vậy. Dùng Thần nhãn đó có thể thấy được bệnh tật phát sinh do nơi những tư tưởng sai lạc quấy quá của con người. Những người mang bệnh đó thì thường thường sinh lực của họ bị bại hoại. Người ta thấy hào quang của họ bị hư hỏng xiên vẹo về một phía nào; thí dụ những người bị tuyệt vọng, thất vọng, những người trác táng quá độ, hoặc những người bị cơn kềm chế quá mạnh mẽ. Những người đau khổ quá nhiều thì trong hào quang của họ có những vết như vết thẹo. Trong những thể vô hình tức là những thể thanh cao của con người, thì bộ máy tuần hoàn khác hẳn bộ máy tuần hoàn trong xác thân vật chất này; và trong những thể vô hình đó luôn luôn có sự vận chuyển không ngừng của những luồng sinh lực. Có những nguyên nhân thuộc về kiếp trước, do nơi sự sinh hoạt không đúng phép, do sự sinh hoạt trái đạo làm cho một phần trong các thể vô hình đó bị rối loạn và sự tuần hoàn trong những thể đó bị mất trật tự. Nếu tình trạng ấy tiếp diễn, nếu không tìm cách để trị nó, thì nó có thể mang ảnh hưởng đến xác thể vật chất; và do đó mà bệnh tật phát sinh.
DaoKy
07-02-2005, 09:20 PM
Như thế chúng ta thấy rằng những quyền năng siêu đẳng là quan trọng như thế nào, nếu trong thế hệ tương lai người ta biết dùng nó làm khí cụ để khám bệnh. Người ta cũng có thể dùng nó để khảo cứu sưu tầm về những vấn đề như là tính chất căn nguyên của vật chất hay những vấn đề liên hệ. Khi người ta luyện tập dùng Thần nhãn đó một cách thuần thục, thì có thể đi du lịch nơi cõi Trung giới được. Như thế nghĩa là trong khi ta hoàn toàn thức tỉnh ta có thể xuất vía ra khỏi xác thân để đi châu du khắp nơi ở cõi Trung giới rồi trở về xác thân trong khi ta vẫn tỉnh táo như thường. Những điều nhìn thấy, kinh nghiệm được ở cõi Trung giới, khi ta trở về với xác thân này thì vẫn nhớ rõ ràng tất cả. Những điều đó làm cho cảm giác trí não người ta hoạt động đến cực độ. Vì lẽ đó mà những người bận rộn việc đời không nên thử dùng phương pháp đó; mặc dầu những phương pháp thí nghiệm để tìm tòi chơn lý thì ai ai cũng có thể thí nghiệm được. Với những quyền năng siêu nhiên như thế người ta có thể thám hiểm quan sát các cõi vô hình và xem xét những hiện tượng, những nhân vật hay những vị Thiên thần sống trên các cõi đó. Khi quyền năng con người được tăng gia thì có thể đi từ cõi này sang cõi khác, mỗi lúc càng cao hơn.
Khi luyện tập nó đến một trình độ cao thì người ta có thể xem xét được “trí nhớ của vũ trụ” (mémoire de la Nature). Chừng đó có thể dùng Thần nhãn để thấy rõ những hiện tượng đã xảy ra trong quá khứ, những việc thuộc về lịch sử. Người ta có thể thấy những việc quá khứ xảy ra trong lịch sử bởi vì trong cõi thiên nhiên có một thể chất rất tế nhị, tinh anh, mà tiếng Phạn gọi là “Akasha”. Những hình ảnh của các hiện tượng in dấu vết trong cái thể tinh anh của vũ trụ đó gọi là “cliché akashique” (tiên thiên ký ảnh). Đó là những phương pháp rất thú vị và ich lợi mà người ta có thể dùng để khảo cứu tìm tòi. Nếu cần, ta có thể dùng phương pháp đó để xem xét những kiếp quá khứ của con người, hầu tìm cách giúp đỡ họ. Thần nhãn đó dùng xem xét được lịch sử các nước trên quả địa cầu, để khảo cứu học hỏi thêm. Tất cả lịch trình quá khứ của nền văn minh nhân loại có thể khảo cứu được.
Nếu người nào chưa tiến hóa cho lắm, tức là trình độ Thần nhãn của họ chưa được cao, thì cần phải có một vật gì cụ thể trong không gian và thời gian để thí nghiệm tìm tòi. Trước hết cần phải có một vật gì cụ thể để cầm trong lòng bàn tay, rồi dùng Thần nhãn truy nguyên ra nguồn gốc, lịch sử và tất cả những hiện tượng đã xảy ra xung quanh vật đó. Người ta có thể xét tới những sự kiện đã xảy ra, thuộc về lịch sử của vật gì mà họ cầm trong tay. Thường thường khi dùng phương pháp đó để khảo cứu thì người ta thấy những hiện tượng bày ra rõ ràng trước mắt chẳng khác nào một cuốn phim diễn ra trước mắt cho ta xem vậy. Lần lần tâm thức của ta mở rộng đến một một trình độ cho ta sống hẳn với thời đại xa xăm của lịch sử mà người ta đang khảo cứu tìm tòi đó. Người ta nhìn thấy những nhân vật, với đầy đủ mọi chi tiết đại khái như mặc y phục gì, phong tục tập quán của họ ra làm sao trong thời kỳ lịch sử mà họ đang xem xét. Không phải người ta nhìn vào lịch sử với tư cách một người của thế kỷ XX này, mà người ta có cảm giác như đứng lơ lửng trên không để nhìn xuống một cách khách quan những gì đang diễn ra trong lịch sử vào thời đó. Người ta có thể mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi được mùi của sự vật đang diễn ra trong lúc đó, chẳng khác nào họ đang sống lại lúc bấy giờ vậy. Nhưng lẽ tất nhiên, người ta không thể can thiệp được vào những điều gì đã xảy ra trong lúc đó, họ chỉ là những người khách quan đi tìm tòi mà thôi.
Những điều tôi nói qua về Thần nhãn thuộc về thể chất và Thần nhãn siêu đẳng thì bấy nhiêu đó cũng là tạm đủ.
Nói tóm lại, Thần nhãn đó chia làm 4 loại :
Loại thứ nhất là Quang tuyến Thần nhãn nhìn xuyên mọi vật (như Rayon X).
Thứ hai là Thần nhãn phóng đại (xem những vật nhỏ, như là kính hiển vi).
Thứ ba là Viễn vọng Thần nhãn (clairvoyance télescopique) nhìn những vật ở xa, như viễn vọng kính.
Thứ tư là Thần nhãn thuộc về cái phách (clairvoyance éthérique).
Ngoài ra lại còn những Thần nhãn dùng quan sát những cõi Trung giới, cõi Thượng giới và mở rộng tâm thức. Và còn Thần nhãn gọi là Thần nhãn của thời gian, do đó người ta có thể nhìn vào cái thể tinh anh của vũ trụ (Akasha). Với Thần nhãn thời gian, những nhà huyền bí học có thể nhìn thấy những sự vật sẽ xảy ra trong tương lai. Họ có thể đặt ra những câu hỏi khó khăn về tương lai con người, là những vấn đề thuộc về định mạng hay là ý chí.
Thần Nhĩ
Bây giờ tôi xin nói đến vấn đề Thần nhĩ. Cũng như Thần nhãn là một giác quan giúp cho người ta thấy được sự vật ở cõi vô hình, thì Thần nhĩ là một giác quan giúp cho ta nghe được những tiếng động ở cõi vô hình. Do những năng khiếu đó, giác quan người ta mở rộng từ cõi hữu hình này đến cõi vô hình khác. Những quyền năng đó có thể giúp ta tiếp xúc với những Đấng vô hình ở các cõi trên.
Do đó người ta có thể tiếp xúc được với kẻ thân yêu vừa quá cố, với những vị Thiên thần ở cõi trên, và nếu được phép, thì họ có thể tiếp xúc với những nhân viên Quần Tiên Hội.
Còn một bực cao hơn nữa là quyền năng giúp ta nghe được tiếng nói trong nội tâm, tức là tiếng nói của Thượng Đế trong lòng mỗi người vậy. Nghĩa là tiếng nói của linh hồn, tiếng nói của Chơn nhơn luôn luôn vọng lại cho ta để làm khí cụ nối liền Chơn nhơn với Phàm nhơn. Tiếng nói Vô thinh đó luôn luôn giúp ta một nguồn cảm hứng và dìu dắt ta trong mỗi hành động hằng ngày của ta. Bằng phương pháp Tham thiền, người ta có thể nghe được tiếng nói của lòng, từ Chơn nhơn thốt ra, hay là bằng ý chí cũng có thể tiếp xúc được với Chơn nhơn của mình. Điều đó chẳng khác nào mình đánh thức Chơn nhơn bằng một (cú) điện thoại vậy. Lẽ tất nhiên mình phải biết số điện thoại đó thì mới có thể kêu nó được. Chúng ta cần phải biết cái ngôn ngữ, cái tiếng nói của Chơn nhơn nói với ta. Tiếng nói của tâm hồn ấy là Tiếng nói của Sự Sống Thiêng Liêng, là tâm thức chung của vũ trụ, của nhân loại.
Với các quyền năng đó người ta có thể nhận thức rõ những Chơn lý tối thượng. Do đó người ta biết được những Luật lớn của Trời Đất, những điều huyền bí của vũ trụ và vạn vật. Những Chơn lý đó người ta lãnh hội được không phải do nơi sự tiết lộ cho ta biết mà là do nơi sự kinh nghiệm trực tiếp của mình.
Bây giờ tôi xin nói đến những quyền năng đó đã được phát triển đến đâu trong giai đoạn tiến hóa của nhân loại hiện đại. Thông Thiên Học dạy rằng : trên bước thang tiến hóa của nhân loại, thì người ta chưa đạt đến mục đích. Trong giai đoạn tiến hóa hiện thời thì người ta chỉ mở được năm giác quan mà thôi. Còn hai giác nữa sẽ được phát triển, nghĩa là sẽ khai mở được trong tương lai. Hai giác quan đó tức là Thần nhãn và Thần nhĩ vậy. Sự khai mở các giác quan đó phải đến cho ta một cách có trật tự, có phương pháp, nghĩa là được khai mở từ giống dân này đến giống dân khác.
Giống dân thứ nhất tức là giống dân mà xác thân của họ chỉ có cái vía và cái phách mà thôi, thì họ đã mở giác quan đầu tiên, tức là thính giác.
Giống dân thứ hai có thể xác đông đặc hơn giống dân thứ nhất, thì đã khai mở giác quan gọi là xúc giác.
Giống dân thứ ba đã hoàn toàn nẩy nở xác thân, họ đã phát triển được thị giác tức là giác quan của con mắt. Thị giác đó trước tiên do nơi con mắt độc nhất ở trên đỉnh đầu. Bên xứ Nouvelle Zélande có giống thằn lằn có ba con mắt. Con mắt ở ngay đỉnh đầu mọc trước nhất, trong 6 tháng đầu nó vừa sinh ra. Sau thời gian đó thì da đầu nó liền lại và lấp bít con mắt đó. Rồi hai con mắt kia mới mọc lên, đó là di tích của con người có một con mắt trên đỉnh đầu thuộc giống dân thứ ba. Trong truyện thần thoại có nói tới một giống người gọi là Cyclopes, giống người đó chỉ có con mắt giữa trán. Đó là người ta diễn tả những giai đoạn trong lịch sử mà loài người bắt đầu chỉ có một con mắt mà thôi. Có nhiều quái thai mà những đứa trẻ mới sinh ra có một con mắt ở giữa trán, đó là những di tích còn sót lại của các giai đoạn lịch sử xa xôi đã mất trong ký ức của loài người. Giống dân thứ tư là giống dân Atlante mở vị giác hay giác quan của cái lưỡi. Giống dân thứ năm thì mở khứu giác hay giác quan của mũi. Trải qua dòng thời gian khi loài người càng tiến hóa, thì những giác quan đó càng ngày càng phát triển thêm nhiều. Giống dân thứ sáu thuộc về nhân loại tương lai sẽ mở được giác quan thứ sáu, tức là Thần nhãn và Trực giác. Hiện thời bây giờ có một vài người phát triển được giác quan thứ sáu và đó chính là đầu đề để chúng ta học hỏi về những quyền năng siêu nhiên của con người. Còn giống dân thứ bảy là giống dân cuối cùng của nhân loại trên quả địa cầu, nó sẽ phát triển tất cả mọi giác quan một cách hoàn toàn. Ngoài ra, giống dân thứ bảy đó lại còn khai mở được Thần nhĩ và thực hiện được sự hợp nhất mình với tất cả mọi loài. Xét về sự tiến hóa của nhân loại, thì đến giống dân thứ bảy, người ta sẽ đạt tới sự phát triển của mọi giác quan. Sau giai đoạn đó, thì quả địa cầu sẽ chìm trong một giấc ngủ triền miên và tất cả nhân loại sẽ do luồng sóng sanh hoạt dắt dẫn qua một quả tinh cầu khác, và cứ mỗi lần như thế, thì người ta lại càng phát triển thêm đủ mọi quyền năng.
Sau cùng thì người ta có thể hỏi rằng : “Vậy chớ cơ quan nào làm chủ động cho giác quan siêu nhiên vừa nói đó ?” Theo như tôi đoán thì có lẽ chư huynh đệ cũng biết rõ về những điều ấy. Những bộ phận đó hiện thời chưa lộ ra ngoài xác thể của ta như năm giác quan mà ta đang có. Đó là bộ hạch trong óc gọi là pituitary gland, là cơ quan của Thần nhãn và bộ Tùng quả tuyến gọi là pineal gland, tức là cơ quan của Thần nhĩ. Hai cơ quan đó là của Thần nhãn và Thần nhĩ, nó thuộc về giác quan siêu đẳng của con người. Do những cơ quan đó, người ta có thể phát triển được tâm thức thuộc về Thượng trí và Bồ đề. Bây giờ chúng ta hãy xem xét cái động lực nào, cái sức mạnh nào làm phát động những cơ quan đó. Có một năng lực thần bí tiềm tàng trong vũ trụ và trong con người. Người ta gọi nó là ngọn Lửa Thiêng sáng tạo. Nó là nguyên nhân mọi sự sanh hóa, mọi sự sinh nở của muôn loài trong Trời Đất. Nó ẩn trong tủy xương sống con người, khoanh tròn lại bảy vòng như hình con rắn và nằm trong xương mông dưới chót xương sống. Hiện bây giờ nó đang thức tỉnh một phần nào. Một khoanh trong bảy vòng đó đang khích động. Chính cái khoanh đó làm cho thần kinh hệ của chúng ta hoạt động và nó cũng là cơ quan truyền tiếng nói của ta nơi cõi vô hình. Khoanh thứ hai trong bảy khoanh đó cũng đang khích động, chính nó chủ động của sự sanh hóa và làm cho người ta có thể sinh nở được. Do nơi công phu luyện đạo, ngọn Lửa Thiêng đó bị khích động và đi lên đến đỉnh đầu. Sức mạnh thần bí đó gọi là Kundalini, một sức mạnh thuộc về điện lực, khi nó lên thì nó đi theo một đường vòng trôn ốc, rồi chui vào trong óc, là như nó phát điện cho bộ óc của ta vậy, nghĩa là làm cho bộ óc ta nhạy cảm thêm, và làm cho ta có thể đáp lại hay nhận thức được tiếng nói của Chơn nhơn. Nó cũng làm cho hai bộ hạch óc pituitary và pineal được khích động. Bộ óc của ta bị khích động bằng phương pháp đó thì nó làm cho ta nhận thức được những sự vật xảy ra trong cõi Trung giới và các cõi vô hình.
Đó là những giáo lý mà Thông Thiên Học dạy ta về những quyền năng siêu đẳng của con người, và địa vị của nó ở trên những nấc thang tiến hóa của nhân loại, nghĩa là những giai đoạn thuộc về quá khứ, về hiện tại của loài người. Nó cũng dạy ta về năng lực của những bộ phận do đó mà ta có những quyền năng siêu đẳng, và ngọn Lửa Thiêng thuộc về điện khí làm khích động được những quyền năng đó. Như thế chúng ta thấy rằng chúng ta phải biết ơn giáo lý Thông Thiên Học đem đến cho chúng ta những tài liệu rất đầy đủ và sáng suốt để chúng ta hiểu được những điều huyền bí trong vũ trụ. Ngoài những điều thuộc về xác thân, giáo lý Thông Thiên Học còn dạy chúng ta các điều thuộc về những cõi tư tưởng và tinh thần nữa. Chính cái đó nó làm cho giáo lý Thông Thiên Học có giá trị. Đó là nguyên nhân vì sao mà người Thông Thiên Học chúng ta cần phải biết ơn những vị Chơn Sư đã tiết lộ các điều bí mật đó. Chính những vị Chơn Sư ấy đã khám phá các điều bí mật của vũ trụ và truyền cho nhân loại từ điều này sang điều khác, nhất là hai vị Chơn Sư đã thành lập Hội Thông Thiên Học. Do nơi Hội Thông Thiên Học mà những giáo lý thâm sâu và huyền diệu đó được tiết lộ cho nhân loại để giúp đỡ họ trên con đường tiến hóa. Như thế chúng ta có thể tin rằng thật là một điều vinh hạnh vô cùng cho chúng ta được làm một người Thông Thiên Học !
Nguyễn Tấn Tài và Nguyễn Hữu Kiệt.
DaoKy
07-02-2005, 09:24 PM
ÂM NHẠC VÀ SỰ CẤU TẠO HUYỀN BÍ CON NGƯỜI
Cyril Scott
Trước hết, chúng ta nên tìm hiểu các thể tế nhị của con người mà người ta thường gọi là “các lớp vỏ của linh hồn”. Nếu khoa phân tâm đã đem lại một ít tia sáng về các phản ứng lạ lùng của bản tánh con người thì Thông Thiên Học đi xa hơn và giải thích rõ ràng bản tánh ấy. Các nhà Thần linh học đã chứng minh rằng con người không phải là xác thân nầy mà là linh hồn trường cửu. Các nhà Thông Thiên Học (hay đúng hơn những nhà hướng dẫn nhơn loại) đã dùng thần nhãn sưu tầm tỉ mỉ và đã giải thích rõ thế nào là linh hồn và các mối liên quan giữa linh hồn với xác thân cùng các cõi trên của tâm thức.
Theo sự sưu tầm nầy, các thể tế nhị tạo thành một vùng hào quang mà người có thần nhãn dù thuộc môn phái nào, cũng đều thấy được. Các thể đó bao quanh và thấm nhuần xác thân. Trong giới Thông Thiên Học, các thế ấy được gọi là thể phách, thể vía và thể trí. Hai thể sau nầy nhứt là thể trí được tạo bằng những chất rất thanh nên mắt phàm không thấy được.
Chúng ta cần biết qua các thể như vậy để hiểu rõ ảnh hưởng của âm nhạc đối với sự phát triển của các thể. Chúng ta sẽ hiểu được phần nào vì sao một loại nhạc cảm nhiễm thể nầy nhiều hơn thể kia. Chúng ta cũng sẽ biết vì sao cái phần tư âm (quart de ton) trong âm nhạc Ấn Độ tác động trên thể trí và trên các khoa triết học và siêu hình; vì sao phần ba âm (tiers de ton) của âm nhạc Ai Cập xưa tác động trên thể tình cảm và ở các khoa nghi lễ và huyền môn; và vì sao cái phân nửa âm của âm nhạc Tây Phương tác động đặc biệt trên thể xác, thể phách và các khoa có tánh cách thực tế như cơ giới, chánh trị v.v… Lý do cái phần tư âm thanh hơn nên mới cảm nhiễm thể trí thanh hơn các thể, còn các âm kia trượt hơn nên ảnh hưởng đến các thể dưới nhiều hơn.
Thường, khi ta nói đến âm nhạc, ta chỉ biết tác động của nó ở cõi trần vật chất dưới hình thức những rung động và không biết những ảnh hưởng sâu đậm của nó ở các cõi trên. Ảnh hưởng nầy rất quan trọng vì chính nó lưu một dấu vết không phải trên các thể tinh vi nghĩa là trên tánh tình, là cách ăn thói ở của con người. Người có huệ nhãn thấy rõ các ảnh hưởng nầy dưới những màu sắc và hình dáng khác nhau tùy giá trị của bản nhạc và tình cảm nó xúc khởi. Khi âm nhạc xúc khởi sự sùng tín thì màu lam hiện ra ở hào quang thính giả và theo luật đồng thanh tương ứng, nó còn tăng cường màu lam của những người mộ đạo khác. Những tình cảm cũng tạo những màu sắc tương ứng ở hào quang con người. Tuy nhiên, âm nhạc thường vẫn vô hiệu quả đối với những người thô lỗ, nếu không thì ở những thành phố có nhiều cuộc hòa nhạc, các linh hồn thấp kém sẽ tiến mau và luân lý sẽ được chấn hưng dễ dàng. Dù sao, mọi linh hồn đều nhận ít nhiều ảnh hưởng quí báu của âm nhạc.
Chúng ta nên biết rằng màu sắc và hình dáng do âm nhạc tạo nên ở các cõi trên vẫn còn sau khi âm thanh chấm dứt. Nói cách khác, tình cảm chứa đựng trong bản nhạc vẫn tác động trong một thời gian sau và trong một khoảng không gian nào đó. Điều nầy giống như hiện tượng xảy ra khi ta ném một viên đá xuống nước. Sau khi viên đá chìm, sóng vẫn gợn và lan rộng ra; nếu có một cọng rơm ở đó, nó sẽ bị dao động ít nhiều. Hiệu quả của âm nhạc ở các cõi trên vẫn y như thế nhưng lớn lao hơn.
Như vậy, âm nhạc tác động theo hai lối, một lối thô kệch, một lối tinh vi. Những bản nhạc mà ta nghe được ở cõi trần, vì chúng nó êm dịu nhịp nhàng nên có khả năng tinh luyện những gì trọng trược ở con người vật chất. Âm nhạc còn một phần khác không nghe được nhưng tác động mạnh trên các thể tinh vi khi thì trực tiếp khi thì qua sự trung gian của hoàn cảnh, để giáo hóa và tô điểm linh hồn.
Đây là một thắc mắc đáng lưu ý. Người ta có thể hỏi : Nếu một cuộc hòa tấu được tổ chức gần một rạp hát bóng vang dậy những thứ nhạc không tốt, kết quả sẽ như thế nào ở cõi vô hình ? Phải chăng có một sự xung đột, một sự va chạm bất hảo ? Không. Là vì ở cõi vô hình có nhiều bề đo khác nhau và một loại rung động nầy không xen vào loại rung động kia y như tia nắng mặt trời không pha trộn với âm ba vô tuyến điện.
Đôi khi, ta có thể ở giữa hai nơi có cuộc hòa nhạc mà ta không nghe được. Trong trường hợp nầy, ta nhận những ảnh hưởng nào phù hợp với ta. Ví dụ người ta trình diễn nhạc của Bach ở một nơi và nhạc của Mendelsoohn ở nơi kia. Nếu ta là một nhà trí thức có nhiều màu vàng ở hào quang, màu vàng trí thức của âm nhạc Bach sẽ đến tăng cường màu vàng của hào quang ta khiến nó tươi thắm lên. Nếu chúng ta chỉ là một nhà trí thức, ít tình cảm, thiếu lòng từ, ta không có màu xanh táo (vert - pomme) ở hào quang, thế là màu xanh của nhạc Mendelsoohn lướt qua hào quang của ta mà không gây ảnh hưởng. Trong trường hợp nầy, ta không nhận một rung động nào của nhạc Mendelsoohn. Trái lại nếu ta vừa mở trí, vừa mở tâm, ta hưởng cả hai cuộc hòa nhạc, một tác động của thể trí, một tác động của thể vía.
Các trường hợp chúng tôi vừa trình bày rất đơn giản. Trên thực tế, hào quang của ta đượm rất nhiều màu sắc và nhờ thế nhận được rất nhiều ảnh hưởng bên ngoài.
H.V. dịch
(Trích Ánh Đạo )
DaoKy
07-02-2005, 09:28 PM
ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG VÀ TÌNH CẢM
ĐỐI VỚI SỨC KHỎE VÀ BỆNH TẬT
Diễn giả : Đại Đức Geoffrey HODSON
Thông dịch viên : Nguyễn Hữu Kiệt
****
Thưa Bà Hội Trưởng Hội Thông Thiên Học Việt Nam,
Thưa Quí Ông và Quí Bà.
Trước hết tôi xin cám ơn và tỏ sự hân hạnh của tôi được gặp gỡ quí Ông, quí Bà trong buổi hiện diện nầy. Đề tài của buổi nói chuyện hôm nay rất quan trọng. Sở dĩ nó quan trọng là vì sự đạt sức khỏe là điều tối trọng mà bất cứ người nào trên thế gian cũng mong muốn. Có lẽ quí Ông, quí Bà nghe nói đến đề tài nầy cũng có đưa ra một vài câu hỏi : “ Có thể có sự liên quan giữa những trạng thái tư tưởng và cảm giác của chúng ta với bệnh tật không ?”
- Ngoài ra những nguyên nhân thông thường của tật bệnh như : chất độc, vi trùng, những trạng thái của tình cảm và tư tưởng có thể đem đến tật bệnh cho con người không ? Và những sự lo buồn sợ sệt hay bất mãn về cuộc đời có thể đem tật bệnh cho xác thân không ?
Những sự thất vọng, buồn phiền, lo âu và cảm xúc có thể đem tật bệnh cho người không ?
Người ta thường nghe nói tới những danh từ như đau tim, thất tình, cảm thấy nao nao trong lòng, những danh từ đó có liên hệ trực tiếp đến vấn đề quả tim vật chất của chúng ta không ?
Trong thế hệ văn minh ngày nay, giới y học đã từng tìm tòi và đã trả lời rằng : Có. Những trạng thái thuộc về tư tưởng và tình cảm con người luôn luôn có ảnh hưởng trực tiếp đén sức khỏe. Những sự tìm tòi, khảo cứu mới đây về khoa chữa bệnh đau tim có tiết lộ rằng : Những người dễ bị xúc động về tâm tư, về tình cảm, những người đó có các mạch máu bị ứ đọng nhiều hơn người có trái tim bình thường.
Theo sự khảo cứu phát minh, người ta nghiệm thấy trong những cơn xúc động mạnh mẽ của con người có một chất gọi là adrénaline được phát tiết và hòa vào trong máu. Chất adrénaline đó khi được tiết ra trong máu làm cho huyết quản con người thay đổi và làm cho người bệnh cảm thấy đau đớn trong quả tim. Đôi khi người ta gọi nó là indiana pectorie. Điều đó cũng áp dụng cho một bệnh thuộc về bao tử. Những sự đau khổ về trí não và về tâm tình có thể làm cho chất acide hypochlorique tuôn tràn vào huyết quản. Chất acide đó, khi tuôn vào trong bao tử, làm cho bao tử lở loét và bị những chứng bệnh khác. Sự nóng giận của con người cũng làm cho áp lực của huyết quản tăng thêm. Những bệnh nhân bị chứng ho lao, nếu để bị xúc động về cảm giác thì họ thường mau chết hơn những người ho lao mà sống được thăng bằng.
Bây giờ có một giáo lý truyền đến cho chúng ta như thế nầy : Khi có sự xúc động về tình cảm và về trí não đã trở thành thói quen, thì chúng nó có thể đem đến bệnh tật cho xác thể. “Lẽ tất nhiên, trái ngược lại, trạng thái tinh thần được yên ổn, điều hòa sẽ giúp người ta tăng thêm sức khỏe.”
Chúng ta có thể nói rằng : Nếu phương pháp vệ sinh được kèm theo cách xử thế hợp đạo, thì những điều đó có thể giúp con người sống hạnh phúc và đầy đủ sức khỏe. Đó là đầu đề mà ta cùng học hỏi với nhau trong buổi thuyết trình hôm nay.
Trước hết, chúng tôi xin đề cập tới vấn đề đó, qua sự xem xét chặt chẽ hơn về tình trạng nhân loại trên thế giới hiện nay. Xét về cơ thể con người tân tiến trong thế hệ này, thì nó là một cơ thể luôn luôn bị rối loạn. Những sự tiến bộ về vệ sinh, về y học và về những phương pháp ăn uống, thật ra, đã làm giảm bớt con số người chết yểu và kéo dài đời sống trung bình con người. Nhưng trái lại, những bản thống kê cho chúng ta thấy rằng : trong thế giới văn minh hiện tại số người bệnh tật càng ngày càng tăng và hễ người ta càng tăng tiến bao nhiêu, thì những mầm mống bệnh tật càng tăng gia bấy nhiêu. Tất cả chư vị và tôi, mỗi cá nhân hay trong gia đình, không ai là người không đứng trước sự hăm dọa luôn của những bệnh tật về thể xác hoặc tinh thần. Vậy thì những bệnh tật và những sự khốn đốn đau khổ là một gánh chung cho nhân loại trong thế hệ nầy. Có một điều lạ lùng nhất là : dầu có sự tiến bộ về y học và về các ngành khoa học khác, nhưng người đời càng ngày càng cất thêm nhiều bệnh viện, nhiều nhà thương điên, những ngục tù, hay là những nhà chứa những bệnh nan y ! Về những nhà thương điên, những khám đường, những bệnh viện đó càng tăng thêm nhiều khi dân số trên thế giới mỗi lúc mỗi tăng. Vậy tại sao lại có sự trái ngược như thế ? Vậy bây giờ có phương pháp nào giải quyết vấn đề nầy ? Có phương pháp then chốt nào ngăn ngừa và chống lại bệnh tật không ?
Thông Thiên Học đem đến cho ta một giải pháp. Bên Phật Giáo cũng có người đã đưa ra rồi, những giải pháp nầy thật là phiền phức, không giản dị như ta tưởng, và sự hiểu biết phương pháp đó giúp ta có thể trả lời được ít nhứt sáu câu hỏi thuộc về con người.
Tôi xin nói câu hỏi đó một cách đại lược và để giúp quí ông, quí bà tìm câu trả lời. Tôi cũng xin quí ông, quí bà lưu ý tới những câu hỏi đặc biệt nầy và những câu trả lời của Thông Thiên Học đưa ra như thế nào ? Bởi vì nếu không có những giải pháp nầy, dầu khoa học có tiến bộ đến đâu cũng không làm được việc gì. Nếu không có những giải pháp cốt yếu nầy, thì con người không có đời sống yên ổn, đời sống bình thường và hạnh phúc được. Vậy chúng ta thấy rằng : những giải pháp nầy quan trọng đến bực nào, bởi nó liên hệ trực tiếp đến anh và tôi, và tất cả mọi người.
Vậy sáu câu hỏi đó như thế nào ?
1.- Bản thể, bản chất con người là gì ?
2.- Mục đích đời người trên thế gian nầy là thế nào ?
3.- Làm sao đạt được mục đích đó ?
4.- Tại sao có kẻ sinh ra với thân hình bệnh tật và tại sao có kẻ không bệnh tật ?
- Tại sao có kẻ dễ nhuốm bệnh tật, trong khi có những người khác chưa hề mắc bệnh bao giờ ?
5.- Những trạng thái về tư tưởng, về tình cảm con người ảnh hưởng đến sức khỏe xác thân bằng cách nào ?
6.- (Là câu hỏi toát yếu 5 câu hỏi trên)
Làm cách nào cho con người có một sức khỏe tốt đẹp về thể chất, tình cảm và trí tuệ ?
Đó là những câu hỏi hoàn toàn giản dị và dễ hiểu, nhưng rất hiếm người trả lời một cách thỏa mãn.
Thông Thiên Học giải đáp những câu hỏi đó một cách rõ ràng.
Trước khi giải đáp, tôi xin nói sơ qua thế nào là giáo lý Thông Thiên Học ? Sở dĩ tôi nói những điều đó không phải là với mục đích làm quảng cáo cho Hội Thông Thiên Học. Tôi không muốn lợi dụng lòng tốt của quí ông, quí bà hiện diện nơi đây để quảng cáo cho bất cứ một cơ quan nào. Tôi chỉ muốn đưa ra những câu giải đáp căn bản và quan trọng thuộc về những bài toán đố khó khăn, bí hiểm của đời người mà thôi.
Danh từ Thông Thiên Học hay là Theosophia do nơi danh từ Hi lạp gồm hai chữ ghép lại là THEO và SOPHIA. Chữ đó có nghĩa là Minh Triết Thiêng Liêng hay là Minh Triết của Trời. Những nhà triết học Cổ Hi lạp đã dùng danh từ đó để chỉ kho giáo lý minh triết thâm sâu từ nghìn xưa để lại. Những kho giáo lý quí báu đó đã được các bực Thánh sư tiết lộ cho người đời và được các triết gia thời xưa duy trì lại. Kho tàng minh triết thiêng liêng đó được giữ gìn và truyền lại đến ngày nay. Chính trong thời buổi nầy chúng ta đang tìm để hiểu danh từ đó. Nếu chúng ta chịu khó nghiên cứu tất cả mọi tôn giáo trên hoàn cầu, thì chúng ta thấy rõ ràng : có những phần giáo lý chung cho tất cả mọi tôn giáo. Tất cả những giáo lý đó gộp chung lại đều có một diễn tả chung cho một Chơn lý tối thượng mà người ta gọi là Theosophia. Mỗi một tôn giáo trên thế gian chẳng khác nào như một bông hoa trong khu vườn chung vậy. Thông Thiên Học hay là Theosophia cũng chẳng khác nào một đóa hoa gồm tất cả mọi cánh hoa hiện diện trong đó. Vậy thì bây giờ Thông Thiên Học đưa ra câu giải đáp nào để trả lời sáu câu hỏi ấy ?
- Câu hỏi thứ nhứt : Con người là ai ? Con người mà tất cả chúng ta đều biết hiện diện trên thế gian ngày nay là ai ?
- Xét về căn bản thì con người gồm có hai phần. Phần linh hồn đang tiến hóa và đang bị giam hãm trong xác thân vật chất. Xác thân vật chất của chúng ta đây chẳng phải là con người thật của chúng ta. Con người thật của chúng ta là cái gì vô hình đang ẩn tàng bên trong. Hai phần đó tức là phần linh hồn ở bên trong và phần xác thể ở bên ngoài. Chúng nó liên quan chặt chẽ với nhau như sự hành động của cái trí. Theo giáo lý của các tôn giáo thì con người gồm có ba phần : tức là phần tinh thần, trí não và phần thể xác.
- Câu hỏi thứ hai : Mục đích của đời sống con người là gì ? Tại sao chúng ta sống trên cõi thế gian nầy ?
-Câu trả lời là : Mục đích của đời người là để tiến hóa đến địa vị tối thượng, để đạt được địa vị giải thoát. Xét về phương diện thần bí, thì mọi người, tất cả chúng ta đều đang tiến hóa đến một trạng thái cao siêu gọi là Niết Bàn. Đó cũng là lý do vì sao chúng ta đang ở đây. Tóm lại, mục đích của đời người là để đạt đến một trạng thái siêu việt như của Đức Phật Tổ, tức là Giải Thoát và nhập Niết Bàn. Riêng về phần tôi, tôi có thể nói thêm một câu như vầy : “Nếu chúng ta là những người thông minh thì chúng ta có thể cố gắng để hợp tác với chương trình chung, để đạt được mục đích đó”. Bởi vì chính ở trong sự hợp tác với luật tự nhiên, thiên nhiên của trời đất mà con người mới có hạnh phúc.
- Câu hỏi thứ ba : Bằng cách nào mà con người có thể đạt đến Niết Bàn và đắc quả vị Phật ?
- Con người có thể đạt quả vị đó bằng phương pháp luân hồi, tức là phải chuyển kiếp đầu thai xuống trần nhiều lần. Con người có thể đạt đến quả vị tối cao, tận thiện, tận mỹ bằng cách chuyển kiếp nhiều lần, thâu thập những kinh nghiệm và học hỏi ở cõi trần.
- Câu hỏi thứ tư : Bây giờ đến câu hỏi tại sao trong thế gian có những người đau khổ và lại có những người sung sướng ? Tại sao lại có những người thiếu thốn đủ mọi phương diện và lại có những người đầy đủ hạnh phúc ?
- Tôi cảm thấy không cần phải giải đáp câu hỏi đó, nhứt là ở trong xứ có giáo lý Phật giáo : vì tôi biết tất cả chư huynh đệ ở đây đều thuộc lòng câu trả lời đó. Ấy là do luật Nhân quả mà thôi, tức là luật Hành động thiên nhiên, từ kiếp nầy sang kiếp khác, không bao giờ dứt. Nó bất di bất dịch.
DaoKy
07-02-2005, 09:30 PM
Câu hỏi thứ năm : Những trạng thái về tình cảm, về tư tưởng của con người có ảnh hưởng đến xác thân bằng cách nào ?
- Xin nói rằng sự ảnh hưởng đó rất nhiều, mặc dầu xác thể của chúng ta là một cái gì rất phiền phức, nhưng sự thật nó là một điều rất giản dị và chỉ có một mà thôi. Những xác thể của con người đều liên quan và động tác liên đới chặt chẽ với nhau.
- Câu hỏi thứ sáu : Tôi sẽ trả lời trước khi bế mạc. Câu giải đáp đó đưa ra cách xử thế mà chúng ta cần noi theo mới có thể sống một cuộc đời hạnh phúc và yên ổn được.
Bây giờ tôi xin nhập đề và trả lời về câu hỏi thứ năm tức là sự động tác và sự liên giao giữa tình cảm, tư tưởng và xác thể con người. Trước khi bắt đầu, thì chúng ta cũng nhìn nhận rằng : bệnh tật con người trước hết cũng có nguyên nhân thuộc về thể chất. Những nguyên nhân đó đại khái như do tai nạn, tuổi già, chất độc, hoặc những phép ăn uống sai lầm, hoặc cách xử thế không đúng. Đó là nguyên nhân đưa đến chúng ta bệnh tật. Tới đây thì có một tư tưởng vừa đến với tôi, cho tôi thấy rằng : tôi dùng một chữ không đúng lắm. Tư tưởng đó là : trước cử tọa có nhiều người thuộc về hàng Phật tử thì chúng ta không nên nói đến danh từ mà người ta gọi là tai nạn. Chư vị chắc cũng tha thứ cho tôi sự sai lầm về triết lý đó : vì ở cõi thế gian nầy không có cái gì gọi là tai nạn cả. Tất cả sự gì xảy ra trong đời người đều do sự hành động của luật Nhân quả mà thôi. Tất cả sự gì xảy đến cho đời người chúng ta, trong khi còn sống hay sau khi đã chết, hay là trong đời sống bên kia cửa tử, cũng đều do những kết quả hành động của ta đã gây ra trong những kiếp hiện tại hay quá khứ. Đó là những chân lý thâm sâu thuộc về Phật giáo và Bà La Môn giáo. Nó là then chốt của mọi chơn lý khác. Trong khi ta nhìn nhận nguyên nhân tật bệnh phần nhiều thuộc về thể chất, nhưng người ta vừa khám phá ra còn có những nguyên nhân thuộc về tình cảm và về tư tưởng nữa. Theo sự tìm tòi của khoa học vừa phát minh người ta đưa đến những kết luận sau nầy : “Những trạng thái bất điều hòa, mất thăng bằng ở tư tưởng và cảm giác của con người, nếu kéo dài, thì tất nhiên chúng nó đem đến bệnh tật cho xác thể.” Do sự phát minh tìm tòi đó mới nảy sinh ra một ngành mới trong y khoa gọi là ngành y khoa thuộc về tâm bệnh hay là psychosomatic. Danh từ psychosomatic gồm hai chữ psycho tức là linh hồn và soma nghĩa là thể xác. Hai chữ ghép lại psycho và soma thành chữ psychosomatic. Bây giờ chúng ta thử tưởng tượng đột nhập vào phòng thí nghiệm của nhà bác học trên thế giới, thì chúng ta sẽ thấy gì ? Về ngành y học mới nầy hiện nay các nhà bác học bên Hoa Kỳ đang dẫn đầu và đang ở phòng thí nghiệm Massachusetts General Hospital tại Boston. Có lẽ tôi không cần phải đưa ra tên tuổi những vị bác sĩ đó hiện đang chăm chú khảo cứu về một vài căn bệnh như những chứng bệnh suyễn, bệnh đau xương hay những chứng bệnh sưng ruột. Họ xét thấy phần đông bệnh nhân ấy đều đang bị xúc cảm về thần kinh. Do đó người ta kết luận rằng : có sự liên quan mật thiết giữa xúc cảm, xúc động về cảm giác và chứng bệnh về thể chất của họ.
Vậy thì những xúc cảm về thần kinh đó là gì ?
Trong thân bệnh nhân đó có :
96% đã bị xúc cảm về thù hận.
75% đã bị khủng hoảng về tinh thần.
68% bị ăn năn, hối hận, bị vầy vò về những tội ác mà họ đã làm.
Cũng có nhiều kẻ khác lại buồn phiền, căm giận những chủ hãng của họ, hoặc những thầy giáo hay là cha mẹ họ. Những phản động của sự căm tức đem tới cho họ sự rối loạn trong cơ thể.
Hiện nay trong những viện khảo cứu vể tâm lý trong thành phố Chicago người ta đang nghiên cứu nguyên nhân của chứng bệnh suyễn. Như chúng ta biết chứng bệnh suyễn do nơi người ta bị cảm xúc hay hít vào những chất bụi như chất nhụy trong hoa. Nhưng phần nhiều người ta nhận thấy rằng : nguyên nhân chứng bệnh suyễn là do sự cảm xúc quá nhiều. Nếu có thì giờ, chúng tôi có thể đưa ra những chứng bệnh khác hiện nay trên thế giới đang tìm tòi. Vậy thì các nhà bác học cắt nghĩa sự kiện lạ lùng nầy như thế nào ?
Bằng cách nào tư tưởng và cảm giác con người thuộc về phần vô hình lại có thể ảnh hưởng tới xác thể vật chất cứng rắn đông đặc được ?
Đầu đề nầy là một đầu đề rất phiền phức. Nhưng tôi chỉ đưa ra phần cốt yếu để chỉ cái ảnh hưởng đó bằng cách nào mà thôi. Trong cơn nóng giận hỏi cơ thể ta xảy ra những chuyện gì ? Trong khi cảm xúc đó, những thớ thịt trong quả tim xúc động làm cho quả tim đập mạnh hơn. Người ta nhận thấy rằng : máu huyết vận chuyển từ bộ phận ở dưới như ruột, gan, bao tử đều dồn lên phía trên, để kích thích những bộ phận như quả tim, phổi và óc. Nó cũng ảnh hưởng đến bộ xương và những bộ phận khác. Sự thật là trong mỗi cơn nóng giận hay sợ hãi của con người, tất cả những lực lượng, những sức mạnh trong cơ thể đều được huy động để sẵn sàng chuẩn bị đối phó. Khi ta lâm cơn nóng giận hay sợ hãi trước ngoại cảnh, thì cơ thể của ta có những sức mạnh đang vận dụng để chuẩn bị sẵn sàng chống cự lại hay để chạy. Nhưng thường thường, ta không có hành động đối phó lại; và kết quả là ta bị sự cảm giác căng thẳng. Những tinh lực đang lên trong người bỗng nhiên bị kềm hãm lại, làm cho cơ thể bị kích thích quá nặng và làm cho người ta bị đau đớn.
Ta cũng có thể làm cho sự kích thích đó êm dịu trở lại. Nhưng trong cơ thể ta đã có một sự thay đổi lớn lao rồi. Điều đó đem đến những ảnh hưởng khốc hại. Thí dụ như trong máu huyết thay đổi, người ta thấy sanh ra một chất gọi là adrénaline. Xét vì máu là một chất luôn luôn luân chuyển trong cơ thể con người, xét vì bộ phận đó đang thay đổi sự hoạt động của nó bên trong, xét vì những bộ phận trong cơ thể con người đều được tắm gội, thấm nhuần bởi chất lỏng gọi là máu thì tất cả những tình dục, nóng giận, sợ sệt, thù hận, căm tức là những yếu tố có thể đem tới sự thay đổi trong máu huyết. Theo ý kiến của những nhà bác học nhận thấy, thì trạng thái về xúc cảm, tư tưởng và cảm giác đó đem tới sự thiệt hại nhiều hơn là những loại vi trùng. Bác sĩ Alexis Carrel có trình bày sự khảo cứu của ông trong quyển sách nhan đề là “Con người là một kỳ quan khó hiểu nhất”. Những câu tôi kể ra đây tóm tắt đại lược những tư tưởng mà tôi vừa mới trình bày là : Khi những tình cảm con người như nóng giận, sợ hãi, thù ghét mà trở thành thói quen rồi thì nó có thể đưa tới những sự xáo trộn trong cơ thể và những bệnh tật tương đương.
Sự đau khổ về tinh thần cũng làm đảo lộn sức khỏe một cách rất sâu xa.
Những nhà doanh thương buôn bán lớn mà không biết cách nào để thắng đoạt được sự lo âu của mình, thì thường hay chết yểu.
Những cảm xúc của con người thường làm cho những huyết quản bị nới rộng ra hay khép nhỏ lại và sự đó thường đi đôi với sự thay đổi trong huyết quản. Sự khoái trá làm cho da mặt người ta ửng hồng, còn sự sợ sệt làm cho da mặt trở nên trắng bạch. Những trạng thái đó có thể làm kích động hay làm ngưng hẳn sự bài tiết về các bộ hạch và làm thay đổi những thành phần về chất hóa học của nó. Người ta đã chứng nghiệm những xúc động về tinh thần có thể đem tới sự thay đổi trong máu huyết. Tới đây là lời tuyên bố rất lạ lùng của bác sĩ Alexis Carrel như vầy : “Tư tưởng con người làm cho các tế bào trong cơ thể bị xé nát”. Bấy nhiêu đó đủ chứng tỏ sự liên giao mật thiết giữa trạng thái tư tưởng và tình cảm đến xác thân.
Bây giờ chúng ta bước qua một tư tưởng mới. Vậy thì tất cả những chứng bệnh của con người đều có phải là do những trạng thái tinh thần và cảm giác tạo ra hay không ? Trong giai đoạn hiện tại thì ở nhân loại người ta nghiệm thấy có ít nhứt là 10 chứng bệnh thông thường luôn luôn đi kèm với trạng thái thuộc về tâm lý và cảm giác. Mặc dầu người bệnh không thể nhận thấy điều đó. Khi truy nguyên nguồn gốc mọi chứng bệnh khó khăn thì người ta nhận thấy rằng : luôn luôn có những nguyên nhân thuộc về sự khó khăn của trí não, của tinh thần. Thí dụ sự phiền muộn, nóng giận, lo âu và giận dữ, đều là những nguyên nhân chánh để đem tới những bệnh tật tương đương. Chúng ta sẽ thấy có những loại bệnh nào liên quan đến trạng thái tâm hồn của mình ? Đó tức là những chứng bệnh thuộc về bộ máy tiêu hóa kinh niên và những chứng bệnh có nhiều chất acide trong bao tử. Các nguyên nhân chánh gây ra những chứng bệnh lở bao tử, sưng ruột là sự âu lo, phiền muộn và nóng nảy. Có một câu diễn tả ảnh hưởng đó như thế nầy : Bao tử chẳng khác nào một cái kiếng, nó phản ảnh lại tình trạng của cảm giác hay cảm tình.
Nói về chứng bệnh thứ ba là chứng đau ruột. Sự sợ sệt hay là chứng căm tức đều đưa người ta đến tật bệnh đó. Chứng bệnh thứ tư là bệnh suyễn thuộc về sưng phổi. Nguyên nhân chứng bệnh đó là sự đau khổ về tinh thần và những chứng bệnh kinh niên thuộc về bộ máy hô hấp cũng do nơi bấy nhiêu nguyên nhân đó. Và đến chứng bệnh sưng cổ là chứng bệnh bướu (goitre), chứng bệnh nhức đầu, và đau óc, đều do nguyên nhân là những sự khó khăn, đảo lộn về cân não. Chứng bệnh đau xương nguyên nhân của nó là sự căng thẳng về thần kinh và sự phiền muộn quá đáng. Chứng bệnh tiểu đường cũng do bấy nhiêu nguyên nhân đó. Bệnh đau tim và bệnh huyết quản là do sự căng thẳng quá độ của cảm tình. Những nhà kinh doanh lớn tại thành phố New York, nhứt là những nhà lý tài có tiếng tăm trên thế giới đều mắc phải những chứng bệnh đó. Khi họ nhận được những tin tức tốt lành của phòng thương mại đưa đến, thì quả tim họ hoạt động một cách điều hòa; còn khi phòng thương mại đưa ra những tin bất lành về thị trường thì quả tim của họ bắt đầu đảo lộn. Tới đây tôi xin chấm dứt về đầu đề liên quan giữa tư tưởng, tình cảm và xác thể con người.
Bây giờ tôi xin nói tới sự thay đổi căn bản mà hiện nay ngành y học đang bắt đầu. Như chúng ta đã biết, hiện nay trên thế giới đưa ra nhiều phương pháp trị bệnh tối tân. Đó là những phương pháp trị bệnh về tinh thần, về tâm não mà người ta gọi là chữa bệnh bằng tâm lý, hoặc chữa bệnh bằng tinh thần, bằng thần giao cách cảm hay là phương pháp thôi miên. Những phương pháp trị bệnh tối tân đó sở dĩ đưa ra là vì nó căn cứ trên sự hiểu biết, về sự liên giao giữa trạng thái tình cảm và tư tưởng con người đến xác thể. Có lẽ, tôi có thể nói rằng : “Chúng ta hãy tự kềm hãm mình, không nên có tư tưởng tiêu cực. Chúng ta nên cố gắng như thế nào để cho có một tâm địa điều hòa và yên ổn”.
Một trong những nhà y học mới đây có nói đại lược tư tưởng đó như thế nầy : “Trong nhân loại có nhiều người bị đau vì bất mãn, và họ đau khổ hơn là những người đau khổ vì bệnh tật”.
Trước khi kết luận, tôi xin nói : người ta xử thế bằng phương pháp khôn ngoan nào để cho có sức khỏe điều hòa.
Có một nhà bác học chữa bệnh về tâm lý bên Mỹ quốc đã đưa ra tám điều để giúp cho ta có thể noi theo mà sống một cuộc đời hạnh phúc và yên ổn. Bác sĩ ấy, Schindler ở trường Đại học Minnesota.
Đây là tám điều của bác sĩ đưa ra :
1.- Chúng ta đừng lúc nào cũng thấy sự khó khăn trắc trở của mình.
2.- Hãy cố gắng yêu sự làm việc; điều nầy có thể giúp ta tránh được sự căng thẳng về thần kinh, khi mà chúng ta bị làm những việc mà chúng ta không thích.
3.- Hãy có một sự giải trí riêng để tránh cho trí mình bị căng thẳng quá độ. Trong khi chúng ta làm việc hằng ngày, thỉnh thoảng cũng nên nghỉ ngơi giây lát để cho mình giải trí.
4.- Đây là một điều tối quan trọng, là ta phải tập thương yêu người khác, tránh những sự thù hằn, sự căm tức đối với bất cứ những người nào. Theo lời bác sĩ nói, thì những sự thù hằn, căm tức kéo dài, sẽ đem tới kết quả khốc hại không thể tưởng tượng được. Xét vì chúng ta cần phải sống chung với người khác cho nên chúng ta phải tập làm cách nào có thể ưa thích họ.
5.- Khi mà chúng ta làm cho tình trạng không thể thay đổi được, thì chúng ta phải tự an ủi lấy mình. Nếu chúng ta lọt vào tình thế không thể thay đổi được, thì chúng ta phải làm thế nào để tự đóng khuôn vào tình trạng ấy.
6.- Kế đó hãy nhận điều ngang trái của nghịch cảnh. Chúng ta đừng để nghịch cảnh làm cho chúng ta thất bại. Đừng rối loạn về những khó khăn xảy đến, và khi nó xảy đến, thì đừng khi nào ngồi đó mà than thân, trách phận.
7.- Hãy tập nói những lời nói vui vẻ và tươi vui. Đừng khi nào nói những điều nhỏ mọn và độc ác. Hãy giúp cho kẻ khác được sung sướng thì tự ta sẽ được sung sướng.
8.- Hãy đối phó lại bất cứ những vấn đề gì xảy tới cho ta một cách quả quyết. Khi có việc khó khăn xảy tới thì làm thế nào để quả quyết tìm lấy một giải pháp rồi làm theo và đừng nghĩ tới nó nữa.
Tóm lại, chúng ta cần phải có thái độ chung là hãy giữ cho tư tưởng được vui vẻ và tốt đẹp, và cũng nên giúp đỡ người khác luôn.
Bây giờ chúng tôi xin nói thêm một điều khác có thể giúp cho chúng ta có sức khỏe và hạnh phúc là : Mỗi ngày, đều đều đúng giờ, chúng ta nên làm cho tâm hồn chúng ta được hòa nhịp với bản thể chung của trời đất, tức là làm sao tập lấy phương pháp tham thiền hằng ngày. Dầu trong năm phút mỗi ngày cũng được, hãy rán làm sao giữ cho xác thể lẫn tâm hồn đều được hoàn toàn yên lặng. Hãy làm sao cho tư tưởng của ta thoát khỏi sự bận rộn náo nhiệt của đời sống bên ngoài và nâng cao tư tưởng đó đến những chơn lý tuyệt đối đang ngự trong mình chúng ta. Đó là phần linh hồn hay phần chơn ngã bất diệt của chúng ta vậy. Phần linh hồn đó vẫn là một với Thượng Đế. Nếu chúng ta tham thiền đều đều hằng ngày thì chúng ta sẽ nhận thấy chúng ta có một tâm hồn yên ổn, điều hòa và một trạng thái yên lặng bên trong. Chừng đó chúng ta sẽ có được một thái độ yên ổn, nó sẽ giúp chúng ta đối phó lại tất cả bất cứ sự gì xảy ra đến từ bên ngoài. Bấy giờ chúng ta sẽ có một tâm trạng hoàn toàn yên lặng. Ngoài ra sự tham thiền hằng ngày đó, nếu chúng ta thấy được có một cơ quan nào làm việc giúp đỡ nhân loại về tinh thần mà chúng ta nhận thấy là xác đáng, thì chúng ta nên gia nhập vào và làm việc phụng sự, để cho nó trở nên phát đạt.
Bằng phương pháp đó, chúng ta sẽ được một trạng thái bên trong hoàn toàn yên lặng và đẹp đẽ lẫn thể xác và tâm hồn.
Soạn giả: Nguyễn Thị Hai
(Trích trong Tạp chí Tìm hiểu Thông Thiên Họcsố 69 và 70 tháng ba và tháng tư năm 1960)
DaoKy
07-02-2005, 09:53 PM
Thông thiên học lược giảng
Tác giả C. W. LEADBEATER
TSCÐGL Online Tây Ðức đưa tài liệu vào internet từ Hội Thông Thiên học Việt Nam tại Hoa Kỳ
MỤC LỤC
Chương I
Thông Thiên Học là gì ?
Chương II
Từ Tuyệt Ðối đến Con Người.
Chương III
Sự thành lập Thái Dương Hệ.
Chương IV
Sự tiến hóa của Sự Sống.
Chương V
Sự cấu tạo Con Người.
Chương VI
Sau cái Chết.
Chương VII
Sự Luân Hồi.
Chương VIII
Mục đích của Ðời Sống.
Chương IX
Các Dãy Hành Tinh.
Chương X
Kết quả của sự nghiên cứu Thông Thiên Học.
CHƯƠNG NHẤT
THÔNG THIÊN HỌC LÀ GÌ ?
Hiện giờ có một trường phái triết học mà những người trí thức của thời đại chúng ta không còn biết đến. Do những lời nhận xét đó mà ông A. P. Sinnett khởi dẫn quyển sách của ông tựa đề : Thế giới huyền bí. Sách này là bài thuyết minh bình dân đầu tiên vì Thông Thiên Học được xuất bản cách đây 30 năm. Từ đó đến nay, nhờ trường phái này có cả triệu người đã biết được sự minh triết. Nhưng đa số dân chúng chưa được biết những lời dạy của nó, vì vậy nhiều giải đáp mơ hồ được nêu ra để trả lời một cách tổng quát câu hỏi : Thông Thiên Học là gì?
Hai quyển sách trả lời câu hỏi này đã được viết ra : Phật Giáo bí truyền của ông Sinnett và Minh Triết cổ thời của bà Besant. Tôi không có ý tranh đua với những tác phẩm cổ điển ấy. Tôi chỉ muốn làm một bài thuyết minh về Thông Thiên Học vừa rõ ràng vừa giản dị, có thể được coi như là đại cương của những quyển sách tôi vừa kể trên.
Thông Thiên Học thường được coi không phải như một tôn giáo chính thống, mà như một chơn lý được gặp ở nền tảng của tất cả những tôn giáo lớn. Ý kiến ấy không thể biện bác được. Nhưng nếu chúng ta nhìn ở một khía cạnh khác, Thông Thiên Học sẽ vừa là một nền triết học vừa là một tôn giáo và một khoa học. Nó là một triết lý ở chỗ nó giải thích rành mạch cơ tiến hóa của những linh hồn và của những hình thể trong Thái dương hệ. Nó là một tôn giáo vì vừa chứng minh bước đi của sự tiến hóa thông thường, nó vừa chỉ cho chúng ta và hiến cho chúng ta một phương tiện thâu ngắn con đường mà chúng ta phải đi, để chúng ta có thể, nhờ một cố gắng có ý thức, mà tiến bộ và đạt được mục đích trực tiếp hơn. Nó là một khoa học vì nó nghiên cứu câu hỏi trên, không phải bằng tín ngưỡng thần học mà bằng những hiểu biết thực nghiệm. Những hiểu biết thực nghiệm này người ta có thể đạt được do sự làm việc và xuyên qua những cuộc nghiên cứu tìm tòi cá nhân. Nó quả quyết rằng con người không cần căn cứ một cách mù quáng vào đức tin vì con người đã có sẵn nơi mình những quyền năng tiềm tàng có thể giúp y. Khi y khởi động được chúng nó, y sẽ thấy và quan sát được những lý thuyết đã đưa ra. Nó còn chứng minh cho con người bằng cách chỉ những phương pháp giúp con người phát triển những tiềm năng đó. Thông Thiên Học cũng là kết quả của sự khởi động tiềm năng của những người đã đi trước chúng ta; vì những lời dạy hiến cho chúng ta đều căn cứ trên sự quan sát trực tiếp có thể vói tới được do sự phát triển các tiềm năng ấy.
Với tính cách là một triết lý, Thông Thiên Học dạy chúng ta rằng Thái dương hệ là một bộ máy được điều chỉnh một cách tỉ mỉ. Ðó chẳng qua là sự biểu hiện của cuộc sống huy hoàng mà con người chỉ là một bộ phận nhỏ bé hiện ra trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
Thông Thiên Học nói với chúng ta về hiện tại bằng cách mô tả thế nào là con người do cách quan sát nhờ những tiềm năng đã phát triển. Người ta thường nói rằng con người có một linh hồn. Kết quả của sự nghiên cứu trực tiếp dẫn con người Thông Thiên Học lật đổ châm ngôn đó và cho biết con người LÀ MỘT LINH HỒN, có một thể xác. - Thật ra là nhiều thể được dùng như những khí cụ và những phương tiện vận chuyển trong nhiều thế giới - Các thế giới đó không xa cách nhau trong không gian. Tất cả đều bao phủ chúng ta trong không gian và thời gian. Ở mọi nơi và bất kỳ lúc nào chúng ta cũng có thể học hỏi chúng. Chúng cấu tạo các thứ vật liệu hữu hình và vô hình trong thiên nhiên. Chúng có những mật độ kết cấu khác nhau, từ thô sơ đến hết sức tinh vi. Chúng ta sẽ giải nghĩa các điều đó trong chi tiết. Con người đang sống trong nhiều thế giới một lượt. Nhưng bình thường họ chỉ ý thức được thế giới vật chất mà thôi; mặc dù đôi khi họ nhận thấy thoáng qua những thế giới cao hơn trong giấc mộng hay trong lúc xuất thần. Cái mà ta gọi là sự chết chỉ là sự cổi bỏ một cái thể thuộc thế giới hồng trần. Còn linh hồn hay con người thật không thay đổi, không bị ảnh hưởng gì cả và vẫn y nguyên trên thế giới riêng của nó; giống như người ta cổi một cái áo ngoài. Ðây không phải là một sự suy luận mà là kết quả của quan sát tìm tòi và kinh nghiệm.
Thông Thiên Học cấp cho chúng ta những tài liệu quí giá về dĩ vãng của con người, về cách thế tiến hóa để họ trở thành trạng thái hiện thời của họ. Ðây cũng là một sự quan sát thông thường; vì có rất nhiều niên giám không thể xóa nhòa đã ghi chép tất cả sự việc trải qua trong quá khứ; có thể nói đây là một thứ ký ức của THIÊN NHIÊN. Khi quan sát các niên giám ấy, người nghiên cứu có thần nhãn thấy diễn ra trước mắt y lần lượt tất cả các quang cảnh của cuộc tiến hóa xa xôi đã qua đúng như các quang cảnh ấy đã thật sự diễn ra trong quá khứ. Y sẽ biết rằng con người có nguồn gốc thiêng liêng. Trải qua thời gian rất dài trong quá khứ, con người đã phát triển song song hình thể bên ngoài và linh hồn hay sự sống bên trong. Sự sống của linh hồn con người kể như vô tận. Cái mà chúng ta thường kể là một đời người thật ra chỉ là thời gian một ngày của cuộc sống thật ấy. Chúng ta đã sống những ngày tương tự. Chúng ta còn phải trải qua nhiều ngày như thế. Bạn muốn hiểu mục đích thật của cuộc sống không ? Ðừng thu ngắn nó lại bằng cái ngày duy nhất hiện giờ, là ngày kể từ lúc chúng ta còn trong nôi để chấm dứt lúc chúng ta xuống mồ. Chúng ta hãy nghĩ đến những ngày xảy ra trước đây và những ngày sẽ nối tiếp sau ngày hôm nay. Chúng ta có thể học hỏi được nhiều kiến thức chính xác về tương lai dành cho chúng ta. Ðầu tiên, chúng ta nhờ những người đã tiến trước chúng ta trên con đường chúng ta phải theo. Những người đó đã kinh nghiệm vì đã quen con đường ấy. Nhờ vậy, chúng ta rút ra được những kết luận thuộc giai đoạn đã dẫn dắt họ đến sự hoàn thiện.
Một trong những cái lợi đáng kể của Thông Thiên Học là ánh sáng bao trùm chúng ta; nó giải quyết một phần lớn những bài toán đã làm chúng ta thắc mắc, nó san bằng những nỗi khó khăn, nó giải nghĩa lý các sự bất công bề ngoài của cuộc đời. Và ở mọi phía, nó đem lại trật tự cho những gì mà chúng ta xem là rối loạn.
Thật ra, một vài sự chỉ dạy của Thông Thiên Học dựa trên sự quan sát những sức mạnh mà sự học hỏi trực tiếp không nằm ở tầm tay người thường. Tôi nhìn nhận điều đó. Nhưng, người nào đã nhận những chỉ dạy ấy như một giả thuyết tạm thời, sẽ đồng ý rằng giả thuyết ấy tốt, vì chỉ riêng một mình nó cũng cung cấp ý nghĩa đầy đủ và có lý về thảm kịch của đời sống.
Trong những chơn lý mới và nổi bật mà Thông Thiên Học mang lại cho Âu châu, chúng tôi có thể kể trước tiên là chắc chắn có hiện hữu những người trọn lành mà chúng ta có thể gần gũi và theo học được. Kế đó quả quyết rằng thế giới này không thể là vô trật tự, vô chánh phủ. Trái lại, thế giới này được điều khiển bởi một Hệ thống đẳng cấp có tổ chức hẵn hòi và sự thất bại dù của một đơn vị nhỏ nhoi nhất của nó cũng không thể có được. Một cái nhìn tổng quát về sự hoạt động Hệ thống đẳng cấp ấy cũng dẫn chúng ta đến ý muốn cộng tác với nó, dù trong chức vụ khiêm nhường nhất, để trong một tương lai xa, chúng ta xứng đáng được tiếp xúc các cấp bậc nhỏ nhoi nhất của Hệ thống đẳng cấp ấy. Ðiều này dẫn chúng ta đến trạng thái Thông Thiên Học mà chúng tôi gọi là khía cạnh tôn giáo của nó. Những ai đã nhận thức được tầm quan trọng của các chơn lý ấy đều nóng lòng về bước đi chậm chạp ở những chặng đường của cuộc tiến hóa. Họ sẽ ước ao trở thành hữu ích càng sớm càng tốt và bước lần đến con đường đạo trực tiếp hơn và cũng chông gai khó khăn hơn : vì không thể trốn khỏi công việc mà chúng ta phải thực hiện. Chúng ta có thể so sánh việc này với gánh nặng phải mang lên chót núi. Nếu phải mang nó trên con đường dốc đứng hay mang từ từ trên con đường ít dốc hơn, số sức lực dùng vào hai trường hợp đều như nhau. Phải một cố gắng nhất định để thực hiện công việc trong số thời gian nhỏ hơn. Những người đã đến chót núi đều đồng ý rằng mình sẽ được thưởng công nhiều vì đã ra công nhiều. Sự hạn chế của các thể sẽ lần lần được chế ngự và người được giải phóng là một sự giúp đỡ sốt sắng và thông minh trong hệ thống vĩ đại của sự tiến hóa tất cả sinh vật.
Thay vì đặt căn cứ lẽ sống trên những luật lệ tưởng tượng truyền lại từ xưa, Thông Thiên Học, với tính cách tôn giáo, hiến cho chúng ta những lời khuyên đạo đức căn cứ trên lẽ phải và trên những dữ kiện mà nó quan sát được. Thái độ của những người Thông Thiên Học đối với những lời khuyên ấy là phải hiểu lời khuyên nào chúng ta muốn áp dụng trong đời sống hằng ngày. Phải coi những lời khuyên ấy như những qui tắc vệ sinh chớ không phải như những giáo điều tôn giáo. Thật ra, các luật thiên nhiên là sự biểu lộ ý chí của Thượng Ðế, người đã xếp đặt khôn khéo mọi việc. Sự vi phạm các điều luật ấy dẫn đến sự xáo trộn lối tiến đều đặn của kế hoạch chung, đến sự chậm trễ hoặc sự ngưng trệ tạm thời của một đoạn hoặc một đơn vị nhỏ. Hành động như thế, chúng ta tự gây ra nhiều đau khổ cho chúng ta và cho kẻ khác. Người khôn ngoan và sáng suốt tránh vi phạm các luật lệ ấy, không phải tự y sợ gây ra sự giận dữ của một vị thần linh nào bị xúc phạm.
Nhưng, nếu chúng ta tự đặt mình vào một phương diện đặc biệt, chúng ta có thể xem Thông Thiên Học như một tôn giáo. Chúng ta phải lưu ý đến hai điều; nó phân biệt Hội Thông Thiên Học với các tôn giáo bên Âu châu.
Trước hết hội không bắt buộc các hội viên phải tuân theo những giáo điều nó trình bày và không gán cho từ �tin tưởng� cái nghĩa mà người ta thường gán cho nó. Sinh viên Huyền bí học hoặc BIẾT rõ một điều hoặc hoãn sự tin tưởng của y lại đến chừng nào y thật biết, vì hệ thống tư tưởng của y không chấp nhận một đức tin mù quáng.
Tự nhiên, người nghiên cứu Thông Thiên Học không bị bắt buộc phải biết gì cả; người ta chỉ đòi hỏi y đọc các kết quả của sự quan sát khác nhau đã thực hiện và xem đó như những giả thuyết, tạm nhận các giả thuyết ấy, hành động hợp theo đó đến chừng nào y đạt được các bằng chứng xác đáng của chúng.
Ðiều thứ hai, Thông Thiên Học không bao giờ thử cải hóa một người mà không nghĩ đến tín ngưỡng của y. Nó giải thích tôn giáo của y, chỉ cách hiểu biết tôn giáo ấy, làm theo tôn giáo ấy một cách trung thành hơn và nó giúp y phát hiện trong ấy một ý nghĩa thâm sâu mà y không ngờ. Trong nhiều trường hợp, nó mang lại cho y trên bình diện cao sâu hơn và thông minh hơn cái đức tin mà y tưởng chừng đã mất.
Thông Thiên Học còn có một phương diện khoa học nữa. Sự thật nó còn là một khoa học của sự sống, một khoa học của linh hồn. Nó áp dụng cho mọi việc phương pháp khoa học của một quan sát tỉ mỉ và thường lập lại. Nó ghi các kết quả và từ đó rút ra các kết luận.
Như thế, các cõi thiên nhiên và các điều kiện của tâm thức con người, trong lúc sống và sau khi chết, đều được tham cứu. Cần luôn luôn nhắc lại rằng những tiết lộ của Thông Thiên Học về các vấn đề ấy không phải là những phỏng đoán hay những giáo điều của đức tin thông thường mà chúng nó được căn cứ trên sự quan sát trực tiếp, được luôn luôn lập lại nhiều lần các hiện tượng của thiên nhiên. Các nhà nghiên cứu cũng chú ý trong một phạm vi nào đó các bài toán của khoa học thông thường. Những người đọc quyển Hóa học huyền bí mới vừa xuất bản sẽ đồng ý về điều ấy.
Như vậy, chúng ta thấy Thông Thiên Học gồm nơi nó một vài đặc điểm của triết học, của tôn giáo và của khoa học. Người ta cũng tự hỏi phúc âm, thánh huấn nào mà nó mang lại cho thế giới chúng ta đầy đau khổ này? Ðiểm chính yếu của sự nghiên cứu nó là gì? Những sự kiện lớn nào mà nó trình bày cho nhân loại?
Các vấn đề ấy có thể gom dưới ba đầu đề chính sau đây:
Có ba chân lý tất yếu và bất biến, có lúc bị bỏ im lặng vì không có tiếng nói nào để tuyên bố chúng:
-Linh hồn con người thì bất diệt, trường tồn và tương lai của nó là tương lai của một điều mà sự phát triển và sự huy hoàng không có giới hạn.
-Nguồn gốc của sự sống ngự ở trong ta và ngoài ta, nó không bao giờ mất, nó luôn luôn từ thiện, nó không thể thấy, nghe hay cảm xúc, mà nó chỉ được nhận thức bởi người nào muốn có sự cảm nhận.
-Một cách tuyệt đối, mỗi người đối với tự mình là người làm luật, người ban ra sự vinh quang và sự sự tăm tối, người trọng tài về sự sống và sự thưởng phạt của chính mình.
Các chân lý đó cũng vĩ đại như sự sống mà cũng giản dị như nét giản dị nhất của trí thông minh con người.
Nói một cách thông thường, con người là bất tử, Thượng Ðế là tốt lành và con người gặt hái những gì nó đã gieo. Tất cả đều được điều khiển dưới quyền của một hệ thống nhất định, dưới sự kiểm soát của một chỉ huy thông minh và hoạt động dưới những định luật bất di bất dịch. Con người choán một vị trí trong hệ thống đó và sống dưới các luật đó. Nếu nó hiểu các luật đó và hợp tác với chúng, nó sẽ tiến bộ mau chóng và sẽ hạnh phúc. Nếu nó không nắm được tầm quan trọng của chúng và cố ý hay vô tình vi phạm các luật ấy, nó sẽ làm chậm trễ sự tiến bộ và sẽ đau khổ. Ðây không phải là lý thuyết mà là những dữ kiện đã được chứng minh. Ai đó hoài nghi hãy đọc những điều sau đây rồi sẽ thấy.
CHƯƠNG HAI
TỪ TUYỆT ÐỐI ÐẾN CON NGƯỜI
Ở vị trí tiến hóa hiện nay của chúng ta, ta không biết gì cả về Tuyệt đối, về Vô tận, về Ðấng bao trùm mọi vật, nhưng chúng ta biết rằng có Thượng Ðế. Chúng ta không thể nói gì mà không gặp một sự hạn chế và do đó sẽ gặp cái không chính xác.
Trong Thượng Ðế có biết bao nhiêu vũ trụ, không sao đếm được. Trong mỗi vũ trụ có biết bao nhiêu Thái dương hệ, cũng không sao đếm được. Mỗi Thái dương hệ là sự biểu hiện của một Sinh vật mạnh mẽ. [Người ta gọi là Thượng Ðế, là Ngôi Lời, là Thần Mặt Trời]. Ngài đối với hệ thống của Ngài là tất cả gì mà ta gọi là Trời. Ngài sanh hóa và thấu triệt hệ thống đó; không có gì không thuộc về Ngài. Trước mặt chúng ta, Ngài tự biểu lộ trong các phần nhỏ nhất mà chúng ta thấy được. Nhưng ngoài và trên hệ thống, Ngài còn là một hiện hữu kỳ diệu giữa các Ðấng Ðồng đẳng với Ngài. Trong kinh thánh Ðông phương có câu: Ở bất cứ một mảnh nào trong vũ trụ của Ta, Ta ngụ tại đó.
Về đời sống cao siêu của Ngài, ta không biết gì hết. Nhưng việc nghiên cứu các cõi dưới của sự biểu hiện sẽ cho ta vài tài liệu về một phần của sự sống làm linh hoạt hệ thống của Ngài. Không thấy, nhưng chúng ta có thể nhận thức kết quả của sức mạnh tác động của Ngài. Không một người có thần nhãn nào mà vô thần; đây là một sự rõ ràng nhất; điều ngược lại rất quái lạ.
Bằng thể chất của chính Ngài, Ngài tạo ra hệ thống kỳ diệu này. Chúng ta là những thành phần của hệ thống đó. Chúng ta là từng phần của sự sống đang phát triển từ những tia của ngọn lửa thiêng liêng. Từ Ngài chúng ta đến đây và chúng ta sẽ trở về Ngài.
Nhiều người đã tự hỏi mục đích của sáng tạo là gì ? Do nguyên nhân nào Thượng Ðế đã cho phát xuất cả một hệ thống và do nguyên nhân nào Ngài đã dẫn chúng ta chạm trán với những giông tố của sự sống? Chúng ta không thể trả lời những câu hỏi ấy, mà chính những câu hỏi ấy cũng không mang lại một lợi ích thực tiễn. Sự hiện hữu và hành động tích cực của chúng ta không đủ sao ? Nhiều triết gia đã suy luận và đã đưa ra nhiều giả thuyết về vấn đề này. Cái lý thuyết đẹp nhất mà tôi biết là lý thuyết sau đây của một nhà hiền triết thuộc phái duy trí:
Thượng Ðế là Tình thương, nhưng tình thương tự nó không thể hoàn hảo nếu không có những sinh vật mà tình thương ấy ban rải cho và biết đáp lại. Chính vì tình thương đó mà Thượng Ðế tự biểu lộ trong vật chất và tự hạn chế sự huy hoàng của Ngài để cho chúng có thể hiện diện qua quá trình tự nhiên và chậm chạp của sự tiến hóa. Tới phiên chúng ta, chúng ta phải tự phát triển theo ý của Ngài đến chừng nào chúng ta đạt đến trình độ của Ngài. Chừng ấy tình thương của Ngài trở nên hoàn hảo vì nó được ban rải cho con cháu Ngài, là những người hiểu và đáp đền lại đầy đủ. Kế hoạch của Ngài được thành tựu và ý muốn của Ngài được thi hành trọn vẹn.
Chúng ta không biết tâm thức của Ngài siêu việt đến mức độ nào và cũng không rõ thực chất biểu hiện ở mức độ đó ra sao. Nhưng khi Ngài tự hạ xuống ngang tầm tri thức của chúng ta thì sự biểu hiện của Ngài mang ba trạng thái. Vì vậy tất cả các tôn giáo đều diễn tả Ngài như Tam vị nhất thể.
Tuy Ba nhưng căn bản là Một, một Thượng Ðế biểu hiện ra dưới ba trạng thái. Ba là đối với tầm thấy biết của chúng ta từ bên dưới, mỗi trạng thái hoạt động mỗi khác; Một là đối với Ngài vì Ngài hiểu thấu đáo các mặt của chính Ngài.
Ba trạng thái ấy thuộc phạm vi sự tiến hóa của Thái dương hệ. Chúng cũng tham dự vào sự tiến hóa của con người. Sự tiến hóa ấy là ý chí của Ngài; lịch sử là kế hoạch của Ngài đó.
Liền dưới Ðức Thái dương Thượng Ðế và tùy thuộc mật thiết vào Ngài, phải kể đến bảy Bộ trưởng mà chúng ta gọi là các vị Hành tinh Thượng Ðế. Dùng phương pháp loại suy rút ra từ sinh vật học của cơ thể con người, chúng ta có thể so sánh sự liên hệ của các vị Hành tinh Thượng Ðế đối với Ðức Thái dương Thượng Ðế giống như sự liên hệ các hạch hay trung tâm thần kinh đối với bộ não. Tất cả sự tiến hóa phát xuất từ Ðức Thái dương Thượng Ðế phải qua trung gian các vị Hành tinh Thượng Ðế.
Dưới các vị ấy có cả đoàn hay cấp bực những vị thần tâm linh mà chúng ta gọi là Thiên thần. Chúng ta còn dốt về chức năng mà các vị ấy đảm nhận trong hệ thống kỳ diệu đó. Nhưng chúng ta nhận ra một số Thiên thần mà chức năng liên hệ chặt chẽ với sự cấu tạo của cả hệ thống và với sự sống phát triển trong đó. Thế giới chúng ta còn có một Ðấng thay mặt cho Ðức Thái dương Thượng Ðế. Tất cả cuộc tiến hóa trên hành tinh này đều dưới quyền kiểm soát, săn sóc của Ðấng ấy. Chúng ta có thể coi Ngài là vua của địa cầu này, có dưới quyền mình các vị Bộ trưởng đứng đầu các phân bộ. Một trong các phân bộ ấy phụ trách về sự tiến hóa của các giống dân, vì mỗi giống dân chánh được thành lập và khác các giống dân khác bởi một vị thủ lãnh chăm lo sự phát triển của nó. Tôn giáo và giáo dục thành một phân bộ khác. Do phân bộ này xuất hiện các giáo chủ của lịch sử và do đó các tôn giáo mới ra đời. Vị cầm đầu phân bộ này đích thân Ngài giáng trần hoặc gởi một vị đệ tử nào cần để sáng lập một tôn giáo mới.
Vì lý do đó mới có sự đồng nhất về giáo lý căn bản của tất cả các tôn giáo, ngay từ lúc sáng lập. Sự trình bày giáo lý ấy có thể bị thay đổi. Nếu chúng ta ý thức được những cái khác biệt giữa các sắc dân, những điều kiện khác nhau trong trạng thái văn minh và trình độ tiến hóa của họ, chúng ta sẽ hiểu rằng tốt hơn chân lý nên mang nhiều hình thức để có thể áp dụng vào những nhu cầu riêng rẽ. Nhưng chân lý bên trong hay nguồn gốc của nó vẫn luôn luôn là một, mặc dù các các giáo lý có thể xem dường như mâu thuẩn nhau. Thật là điên rồ nếu con người cứ cãi vã về vấn đề siêu việt của vị giáo chủ này hay phương cách giáo lý của một tôn giáo khác. Vị giáo chủ luôn luôn thuộc về một Ðại đoàn Huynh đệ Tiên Thánh mà Ngài chỉ là người đại diện. Trên các quan điểm chính cũng như trong các nguyên tắc đạo đức, các giáo huấn không thay đổi.
Toàn bộ chân lý được thấy ở nền tảng của tất cả các tôn giáo và được diễn tả trong những dữ kiện của thiên nhiên, như con người ở thời đại này đã biết. Những người không biết các chân lý ấy cãi lẩy về sự hiện hữu của các vị Thượng Ðế, về sự sống của con người sau khi chết, về sự hoàn thiện và về vị trí phải dành cho con người trong vũ trụ. Thay vì không mang lại giải đáp như nhiều người lầm tưởng, các chân lý ấy ở tầm tay của kẻ nào hướng dẫn các sự tìm kiếm của mình về hướng đó, vì các chân lý ấy đều thuộc về những người đã cố gắng thật sự để đạt được.
Trong những giai đoạn đầu của nhân loại, các Ðấng của Hệ thống Ðẳng cấp đã kể trên từ các hành tinh khác đến; nghĩa là từ những hành tinh tiến bộ hơn địa cầu chúng ta. Nhưng từ khi con người đã phát triển được toàn vẹn về quyền năng và minh triết, các chức năng ấy đều do con người tự nắm giữ.
Muốn ở đúng chiều cao của một trách nhiệm tương tự, con người phải vói lên một trình độ cao để trở nên một vị thông suốt giáo lý (Chơn tiên), một con người thật tốt, có quyền năng và minh triết, một vị mạnh mẽ hơn phần còn lại của nhân loại, vì y đã đạt đỉnh cao của sự tiến hóa; người ấy đã thực hiện trình độ mà Trời giao cho y trong kỷ nguyên này. Nhưng sự tiến hóa của y phải còn cao hơn cấp bực hiện thời để sau này y thành một Ðấng Thiêng Liêng.
Nhiều người đã tiến đến trình độ hoàn thiện (Chơn tiên). Họ không thuộc một quốc gia nào, mà thuộc các quốc gia tiến bộ dìu dắt hoàn cầu. Ðó là những linh hồn hiếm hoi, can đảm phi thường đã vào thành trì của thiên nhiên, chiếm được những bí mật sâu kín nhất và xứng đáng danh vị con người thánh thiện. Trong hàng ngũ của họ, có rất nhiều cấp bực và nhiều ngành hoạt động khác nhau. Nhưng một vài người của họ luôn luôn liên lạc trực tiếp với địa cầu chúng ta trong tính cách là thành viên của hệ thống đẳng cấp đang quản trị mọi công việc ở địa cầu và mọi mặt tiến hóa của nhân loại chúng ta.
Cái trung tâm uy nghiêm ấy chúng ta gọi là Ðại đoàn Huynh đệ Tiên Thánh ( Quần Tiên Hội). Nhưng những thành viên của Ðại đoàn ấy không sống tập thể. Mỗi vị Chơn tiên ấy thường sống xa con người, nhưng luôn luôn liên lạc với các bạn đạo đồng đẳng và với Ðấng Giáo chủ Tối cao. Sự hiểu biết của họ về các cõi cao sâu sắc đến nỗi họ không cần gặp các đồng đạo trên cõi vật chất. Trong nhiều trường hợp, họ tiếp tục sống nơi quê hương của họ; các người sống chung quanh họ không biết đến các quyền năng của họ. Mọi người trong chúng ta có thể gây sự chú ý của họ với điều kiện là phải tỏ ra xứng đáng. Không ai nên cho rằng sự cố gắng của mình sẽ không được chú ý đến. Sự lầm lẫn ấy không thể có được vì kẻ nào tận tâm phụng sự nhân loại sẽ tách ra khỏi phần còn lại của nhân loại như ngọn lửa lớn trong đêm tối âm u. Một vài vị Chơn tiên làm việc cho hạnh phúc của nhân loại bằng lòng thâu nhận làm đệ tử những người đã hi sinh trọn vẹn để phụng sự nhân loại. Các vị thánh thiện ấy chúng ta gọi là các Chơn sư.
Bà Helena Petrowna Blavatsky là một trong các đệ tử đó, một đại linh hồn được phái đến cách đây ba mươi lăm năm, để giáo huấn và giác ngộ nhân loại. Bà lập Hội Thông Thiên Học với Ðại tá Henry Steele Olcott để truyền bá những kiến thức bà đạt được. Trong những người được tiếp xúc ở ngày đầu của Hội, phải kể ông A. P. Sinnett, người xuất bản tạp chí Pioneer. Sự thông minh sâu sắc và tế nhị của ông giúp ông tiếp thu ngay sự vĩ đại và tầm quan trọng của những giáo lý mà bà Blavatsky trình bày cho ông. Mặc dù trước đó bà đã viết quyển Isis dévoilée , quyển này ít gây sự chú ý. Chính ông Sinnett là người đầu tiên đem giáo lý xuống ngang tầm hiểu biết của người Âu châu qua hai quyển sách Thế giới huyền bí (le Monde occulte) và Phật giáo bí truyền (le Bouddhisme ésotérique).
Qua trung gian các quyển sách này, tôi biết được tác giả của nó và bà Blavatsky. Nhờ các sách ấy tôi được biết qua các kiến thức mới. Khi tôi hỏi bà Blavatsky bằng cách nào người ta học đạo mau và thực hiện được tiến bộ xác định trên đường đạo mà bà đã chỉ cho chúng ta, bà trả lời rằng những sinh viên khác có thể được nhận làm đệ tử các Chơn sư như bà; phương tiện duy nhất đưa sinh viên đến đó là sự làm việc tận tâm, chân thành và vị tha. Bà tuyên bố rằng một người muốn đạt mục đích phải tuyệt đối trong sự quyết định của mình, rằng người nào có ý muốn vừa phụng sự Thượng Ðế vừa vì tư ngã thì không có hi vọng thành công. Một trong các vị Chơn sư cũng nói rằng : Một đệ tử muốn thành công phải bỏ đời theo đạo.
Ðiều này có nghĩa là người đệ tử không theo những kẻ chỉ sống vì tiền bạc, danh vọng và quyền thế, chỉ theo thiểu số người mà các điều ấy không quyến rũ được. Mục đích của thiểu số người này là tận tâm với nhân loại bằng sự hi sinh quên mình vì lý tưởng. Bà Blavatsky cũng báo trước với chúng ta rằng con đường đạo này rất khó theo và những người đi con đường ấy sẽ bị đồng loại không hiểu và bị nói xấu. Công việc của chúng ta là việc làm bị vong ân bội nghĩa và mặc dù kết quả chắc chắn, nhưng không ai đoán được thời gian bao lâu mới đạt được. Một vài người trong chúng ta nhận chịu các điều kiện ấy một cách vui vẻ và chúng ta không bao giờ hối tiếc quyết định can đảm ấy.
Sau vài năm làm việc tôi được đặc ân tiếp xúc với các Chơn sư minh triết. Các Ngài dạy bảo tôi về rất nhiều vấn đề và chỉ cho tôi phương pháp tự tôi chứng minh các giáo lý mà tôi nhận được. Cho nên đến nay, đối với tôi, khi tôi muốn nói gì về các vấn đề này, tôi chỉ viết theo điều tôi đã biết rõ và chính tôi thấy tận tường. Tuy nhiên, muốn chứng minh sự chính xác của một vài điều cao siêu trong giáo lý của các Chơn sư, cần phải có những khả năng cao hơn khả năng của tôi hiện có. Nhưng đối với các quyền năng ấy, tôi có thể nói chúng nó phù hợp với những gì tôi biết. Trong nhiều trường hợp chúng nó có thể dùng làm giả thuyết để giải quyết những gì tôi đã thấy. Những giáo lý, cũng như toàn bộ hệ thống Thông Thiên Học mà tôi học được đều căn cứ trên uy tín của các Chơn sư. Từ đó, tự tôi tập quan sát phần lớn các giáo lý đã dạy tôi và tôi nhận thấy rằng các lời giáo huấn đều đúng về mọi điểm. Tôi nhận rằng những điều tôi chưa quan sát cũng đều đúng như những cái đã quan sát, trước khi tôi kiểm minh được chúng.
Sự hân hạnh được nhận làm đệ tử Chơn sư là mục đích của mỗi học viên Thông Thiên Học thành thật muốn đạt được. Nhưng điều đó đòi hỏi một cố gắng nhất định. Thời buổi nào cũng có những người sẵn sàng và đạt được ánh sáng của giác ngộ. Kiến thức này có tính cách siêu việt và người đã đạt được sẽ hiểu biết hơn người thường; y vượt khỏi tất cả các giới hạn được biết.
Nhưng có những giai đoạn trong sự chiếm hữu các hiểu biết đó và nếu chúng ta muốn biết rõ các điều ấy chúng ta nên học ở những người đã tiến bộ. Thang tiến hóa có nhiều bậc : người dã man tiền sử ở bậc thấp nhất, chúng ta là người văn minh đã leo lên được một phần các nấc thang đó. Chúng ta có thể nhìn xem những nấc thang mà chúng ta đã vượt qua, chúng ta cũng có thể nhìn xem những nấc thang cao mà chúng ta chưa đạt. Sự nghiên cứu các trình độ đó giải thích cho ta bằng cách nào con người sẽ vượt qua các bậc ấy trong tương lai. Chúng ta sẽ biết rằng sự leo lên các nấc thang tiến hóa sẽ dẫn đến một danh vọng huy hoàng không thể tưởng tượng được, và tất cả chúng ta sẽ tham gia vào đó một ngày kia. Những người nào cao hơn chúng ta quá xa được chúng ta xem như bậc thánh trong kiến thức và quyền năng của họ. Họ nói với chúng ta rằng không lâu về trước họ cũng ở vào vị trí của chúng ta hiện nay và họ chỉ rõ cho chúng ta các bậc cao mà chúng ta phải vựot qua, nếu chúng ta muốn giống họ.
DaoKy
07-02-2005, 09:57 PM
Thông thiên học lược giảng
Tác giả C. W. LEADBEATER
TSCÐGL Online Tây Ðức đưa tài liệu vào internet từ Hội Thông Thiên học Việt Nam tại9 Hoa Kỳ
CHƯƠNG BA
SỰ THÀNH LẬP THÁI DƯƠNG HỆ.
Sự bắt đầu của vũ trụ (nếu có cái bắt đầu) nằm ngoài tầm quan niệm của con người. Kể từ thời lịch sử xa xưa nhất mà chúng ta có thể nghiên cứu được, chúng ta thấy có hai sức mạnh đối chọi nhau: tinh thần và vật chất, sự sống và hình thể. Ý kiến chung về vật chất cần ôn học lại. Cái mà người ta gọi là tinh thần và vật chất chẳng qua chỉ là kết quả của hai sự phát lộ khác nhau của tinh thần trong hai thời kỳ khác nhau; chớ vật chất thật sự hay căn bản của vạn vật thì chưa biết rõ.
Một nhà thông thái Pháp vừa nói: Không có vật chất, chỉ có những lổ trống trong dĩ thái.
Giả thuyết ấy phù hợp với thuyết danh tiếng của giáo sư Osborne Reynolds. Những tìm kiếm, quan sát của huyền bí học chứng minh rằng quan niệm mới về vật chất ấy đúng. Những sự nghiên cứu này còn soi sáng ý kiến của các thánh kinh Ðông phương cho rằng vật chất chỉ là ảo tưởng.
Theo trình độ hiểu biết của chúng ta hiện nay, nguồn gốc của vật chất sơ đẳng chỉ là cái mà các nhà thông thái gọi là chất dĩ thái không gian. Không gian hình như trống rỗng đối với mắt ta, nhưng theo giáo sư Osborne Reynolds, tỉ trọng của nó tính ra bằng 10.000 lần tỉ trọng của nước. Sức ép của nó được giáo sư tính ra bằng 750.000 tấn trên một tấc vuông Anh.
Chất ấy chỉ có thể thấy được bằng một khả năng thần nhãn cực kỳ phát triển. Chúng ta có thể giả thuyết rằng vào một thời kỳ xa xôi nào đó (mà chúng ta không thể trực tiếp biết được), chất dĩ thái ấy lấp đầy không gian. Một đấng cao cả hơn Ðức Thái Dương Thượng Ðế rất nhiều đã đổi thay tình trạng ổn định bằng cách xạ tư tưởng hay thần lực của Ngài vào một phần không gian; phần này bằng không gian của một vũ trụ. Luồng thần lực được đưa vào như thế có thể so sánh với một hơi thở cực kỳ mạnh. Nó biến chất dĩ thái của không gian thành vô số bọt tròn [những bọt này được mô tả trong quyển Giáo lý bí truyền của bà Blavatsky như những lổ mà Fohat đào trong không gian. Những bọt này có tên là Koilon, có nghĩa là trống ruột]. Các bọt ấy là những nguyên tử sơ đẳng đầu tiên để tạo thành vật chất. Những bọt này chưa phải là nguyên tử hóa học, mà cũng chưa phải là nguyên tử căn bản hồng trần của huyền bí học. Chúng chỉ được thấy ở cõi thật cao, thật tinh vi. Cái mà chúng ta gọi là nguyên tử hóa học ngày nay là một khối do một số cực kỳ to lớn của những bọt ấy kết hợp lại.
Bây giờ đến giai đoạn của Ðức Thái Dương Thượng Ðế. Khi Ðức Thái Dương Thượng Ðế định sáng tạo hệ thống của Ngài, Ngài thấy cái khối vô tận của những bọt Koilon đã sẵn sàng. Trước tiên, Ngài vạch giới hạn của tầm hoạt động của Ngài. Hễ hào quang của Ngài chiếu tới đâu thì ở đó là biên cương nước Ngài. Biên cương này vượt rất xa hơn quỉ đạo của hành tinh xa nhất sẽ thành lập. Trong giới hạn của nước Ngài, Ngài cho chuyển động một luồng quay cuồng khổng lồ để quét và gom lại các bọt thành một khối trung ương; đó là bản thể của một tinh vân sẽ sinh ra.
Khối kết hợp các bọt càng ngày càng phức tạp. Ngài xạ vào luồng quay cuồng khổng lồ nói trên liên tiếp nhiều xung động của sức mạnh để tạo thành bảy thế giới hay bảy cõi khổng lồ và đồng tâm, gồm các vật chất có tỉ trọng khác nhau, choán cùng một không gian và cõi này xuyên qua cõi kia.
Qua trung gian của trạng thái thứ ba, Ngài phát luồng năng lực thứ nhất, gây ra trong toàn ranh giới của Ngài những luồng quay cuồng nhỏ hấp dẫn 49 bọt và sắp xếp chúng một cách đặc biệt. Các nhóm bọt này làm thành nguyên tử của cõi thứ hai. Một phần các bọt còn ở tình trạng cũ và còn tồn tại một cách thưa thớt ở cõi thứ nhất, cao hơn cõi thứ hai.. Ðúng thời kỳ luồng năng lực thứ hai được xạ vào và nó chiếm gần hết các khối gồm 49 bọt nói trên (chỉ bỏ ra một số ít để tạo thành cõi thứ hai). Nó hút chúng vào, nó đẩy chúng ra làm chuyển động những sự quay cuồng, mỗi cái chứa 2.401 bọt ( 492 ). Ðó là nguyên tử của cõi thứ ba. Sau một thời gian, năng lực thứ ba đến, cũng một cách đó, chiếm các khối 2.401 bọt, hút các khối ấy vào, đẩy các khối ấy đi, tạo thành các nguyên tử của cõi thứ tư; các nguyên tử này gồm 117.649 bọt (49 x 49 x49 = 493 ). Sự diễn tiến được lập lại như vậy cho đến luồng năng lực thứ sáu tạo thành nguyên tử của cõi thứ bảy là cõi thấp nhất nguyên tử này chứa 496 bọt nguyên thủy.
Nguyên tử của cõi thứ bảy là nguyên tử căn bản vật chất hồng trần; nó không phải là nguyên tử mà các nhà khoa học đã nói. Chúng ta đến giai đoạn này trong điều kiện là vũ trụ hình cầu bao la quay cuồng chứa đựng bảy kiểu vật chất, giống nhau trong căn bản, vì tất cả đều làm thành bởi những bọt giống nhau, nhưng khác nhau về tỉ trọng. Các kiểu ấy xen lẫn nhau tự do, người ta có thể gặp những mẩu của mỗi thứ trong một phần nhỏ của địa cầu, không quên đề cập đến ý hướng ly tâm của những nguyên tử nặng nhất.
Luồng năng lực thứ bảy do trạng thái thứ ba của Ðức Thái Dương Thượng Ðế không kéo các bọt trở lại trạng thái đầu tiên như các luồng năng lực trước. Các nguyên tử vật chất cấu tạo sau hết, trái lại, nó tập hợp thành sự kết hợp tạo những nguyên tử khác nhau mà người ta có thể gọi là tiền nguyên tố. Các tiền nguyên tố nầy tới phiên mình sẽ tập hợp lại thành nhiều hình thể khác nhau mà khoa học gọi là nguyên tố hóa học. Sự cấu tạo các nguyên tố này kéo một thời gian dài và nhờ sự tác động của nhiều sức mạnh, chúng nó được cấu tạo theo một trật tự xác định như bài báo của giáo sư William Crookes nói đúng trong quyển Khởi nguyên của các nguyên tố . Thật ra, quá trình cấu tạo của chúng chưa có kết luận cuối cùng. Chất uranium là nguyên tố nặng nhất và sau cùng mà người ta tìm thấy đến nay. Nhưng có thể còn có nhiều nguyên tố phức tạp hơn sẽ được tìm thấy trong tương lai.
Ðộ đông đặc tăng gia với thời gian và tinh vân bao la cháy rực. Vừa luôn luôn quay cuồng mau lẹ, nó trở nên giẹp và nguội lần lần. Nó có hình dáng của một cái dĩa bao la và từ từ chia ra từng khoen bao quanh một trung tâm, giống như sự sắp xếp mà chúng ta thấy ở Thổ tinh, mặc dù kích thước nhỏ hơn nhiều. Khi cần các hành tinh làm môi trường tiến hóa, Ðức Thái Dương Thượng Ðế dấy lên trong bề dầy của mỗi hình tròn một sự quay cuồng phụ. Trong ấy, một phần vật chất của mỗi khoen được gom lại. Sự va chạm của các phần hợp lại gây ra một sự tăng nhiệt mới và trong một thời gian lâu dài là một khối lửa. Từ từ nó nguội dần cho đến chừng nào nó có thể dùng làm môi trường cho sự sống, giống như sự sống của chúng ta. Các hành tinh đều được cấu tạo như thế đó.
Gần như toàn thể các chất của những cõi, cái này xuyên qua cái kia, lớp này xuyên qua lớp kia, được tập trung trong các hành tinh vừa mới thành lập và gồm tất cả các loại khác nhau. Ðịa cầu chúng ta không phải chỉ là một hình cầu bao la của vật chất hữu hình, gồm những nguyên tử của cõi thấp nhất. Nó còn gồm vật chất của cõi thứ sáu, thứ năm, thứ tư và của tất cả những cõi khác. Các sinh viên khoa học đều hiểu rõ rằng những phần nhỏ nhất của vật chất không đụng nhau bao giờ, dù cho đó là phần nhỏ nhất của chất cứng rắn nhất. Khoảng cách giữa các phần nhỏ ấy tương ứng lớn hơn rất nhiều, thật nhiều đối với kích thước của chúng. Nguyên tử của các cõi khác chẳng những có thể chen vào giữa các vật chất nguyên tử hữu hình, mà chúng còn có thể di động tự do giữa những nguyên tử đó nữa. Ðịa cầu chúng ta không phải là một cõi (một thế giới), mà là của bảy thế giới hay bảy cõi xuyên qua nhau, cùng nhau chiếm một khoảng không gian duy nhất. Chúng ta đừng quên rằng các chất tế vi có khuynh hướng ly tâm, trái hẳn với các chất đặc.
Chúng ta đã đặt tên cho các cõi, các thế giới ấy để dễ nhận ra chúng. Không có từ ngữ cần thiết bắt buộc để gọi cõi thứ nhất, vì con người đến ngày nay chưa tiếp xúc được với cõi ấy. Nếu cần nói đến, ta chỉ gọi đó là cõi tối thiêng liêng. Cõi thứ nhì được gọi là cõi chơn thần, vì trong thế giới có những tia sáng của đời sống thiêng liêng mà chúng ta gọi là Chơn thần của con người. Cả hai cõi trên ấy (thứ nhất và thứ nhì) chưa cõi nào được nghiên cứu bằng thần nhãn cao nhất mà chúng ta có thể thực hiện được cho đến ngày nay. Cõi thứ ba là cõi mà các nguyên tử chứa 2401 bọt Koilon và được gọi là thế giới tâm linh. Tâm linh cao của con người thuộc về cõi này. Cõi thứ tư là cõi của trực giác hay cõi bồ đề theo cách gọi của Thông Thiên Học. Ở đó chúng ta có những trực giác cao siêu nhất. Cõi thứ năm là cõi của trí tuệ, địa hạt của tư tưởng của con người. Cõi thứ sáu là cõi của cái vía hay cõi tình cảm. Ở đây các cảm xúc, tình cảm làm rung động các vật chất của cõi này. Cõi này dường có ánh sáng chớp lòe như sao trên trời, nếu chúng ta so sánh nó với vật chất hữu hình. Tính chất này làm cho các nhà luyện kim thời Trung cổ gọi cõi này là cõi của cái vía. Cõi thứ bảy gồm vật chất mà chúng ta thấy được là cõi hồng trần, cõi hữu hình.
Vật chất cấu thành các cõi ấy căn bản giống nhau, nhưng chúng nó được sắp xếp khác nhau và có mức độ tỉ trọng khác nhau. Vì lẽ đó các rung động của các kiểu vật chất phải khác nhau. Chúng có thể xem như một âm giai vĩ đại của những làn sóng gồm nhiều nhịp điệu. Vật chất hữu hình rung động theo một bát độ thấp. Vật chất của cõi vía rung động theo một bát độ cao hơn. Vật chất cõi trí tuệ rung động mau hơn nữa và cứ tiếp tục như thế.
Vì vậy các cõi hay thế giới ấy chẳng những có kiểu vật chất riêng cho mình mà chúng còn có những chất riêng biệt và một nhóm kết hợp đặc biệt nữa. Chúng ta chia vật chất các cõi thành bảy thứ, tùy theo cách rung động của những phân tử riêng biệt. Sự dao động chậm đòi hỏi một phân tử nặng kết quả của một sự sắp xếp đặc biệt của những phân tử nhỏ của một tế phần cao kế đó .Trường hợp này không phải luôn luôn tuyệt đối. Sự tác dụng của sức nóng làm tăng kích thước của các phần tử, làm hoạt động và khuếch đại những làn sóng của chúng. Chúng choán nhiều chỗ hơn và khi giãn nở như vậy, các mức độ kết hợp của chúng bị phá vỡ. Ðiều này đưa chúng đi từ trạng thái thấp sang trạng thái cao hơn kế trên. Những tế phần của cõi hữu hình này được biểu lộ dưới bảy độ tỉ trọng vật chất mà chúng ta gọi từ thấp lên cao :thể đặc, thể lỏng, thể hơi, thể dĩ thái, thể trên dĩ thái, thể dưới nguyên tử và thể nguyên tử.
Các hình thể thuộc về tế phần nguyên tử đều do sự nén ép các nguyên tử hữu hình thành hình trạng khác, khỏi phải thành lập trước các khối hay các phân tử. Nếu chúng ta tượng trưng nguyên tử căn bản hồng trần bằng một viên gạch, chúng ta sẽ có một phân tử nào đó của tế phần nguyên tử khi chúng ta kết hợp vài miếng gạch vào một hình thể nào đó, một cách đặc biệt. Nếu chúng ta muốn tạo vật chất thuộc về tế phần dưới nguyên tử, chúng ta phải gom lại một số gạch, bốn, năm, sáu hay bảy viên chẳng hạn thành khối. Các khối này tới phiên nó kết hợp lại thành vật chất của tế phần trên dĩ thái và cứ tiếp tục như vậy đến tế phần dĩ thái, tế phần hơi, tế phần lỏng và tế phần đặc.
Ngược lại, khi ta muốn đưa một chất đặc sang thể lỏng (nghĩa là làm tan chảy) ta tăng sự rung động của những phân tử đã kết hợp, chúng nó trở thành phân tử đơn giản trước khi tạo ra phân tử kết hợp. Thí nghiệm này có thể lập đi lập lại nhiều lần và tất cả chất rắn đều có thể trở thành nguyên tử căn bản hồng trần.
Mỗi cõi hay thế giới vừa kể đều có người cư ngụ. Giác quan của những người này chỉ có thể đáp ứng với những rung động của chính cõi ấy mà thôi. Một sinh vật cõi trần hữu hình thấy, nghe và cảm nghĩ nhờ những rung động liên quan đến vật chất hữu hình xung quanh. Chung quanh những người này (như chúng ta chẳng hạn) cũng có cõi (hay thế giới) vía , trí, xuyên qua chúng, nhưng thường chúng không ý thức được vì giác quan của chúng không tiếp nhận làn sóng rung động thuộc vật chất của các cõi ấy.
Vì vậy, mắt ta không thể cảm nhận những rung động của ánh sáng cực tím, mặc dù theo khoa học, các ánh sáng đó có thật. Các sinh vật khác chúng ta có những cơ quan có thể thấy nhờ các rung động ấy. Một người sống ở cõi vía choán cùng một không gian của người sống ở cõi trần. Nhưng cả hai đều không thấy nhau; họ không cản trở các hành động của nhau. Các cõi khác cũng thế.
Ðể kết luận, chúng ta có thể nói chúng ta bị bao quanh bởi các cõi tế nhị, cũng ở sát chúng ta như thế giới hữu hình mà chúng ta thấy được. Những người cư trú trên các cõi ấy cũng bao quanh chúng ta, mặc dù chúng ta không ý thức được về sự hiện hữu của họ.
Bởi vì sự tiến hóa của chúng ta hiện nay tập trung ở Ðịa cầu, chúng ta chỉ đề cập đến những cõi hay thế giới cao có liên hệ với hành tinh này mà thôi. Tôi dùng từ cõi vía để chỉ nói đến phần vía của địa cầu mà thôi, chớ không nói đến phần vía của Thái dương hệ.
Quả cầu vía của địa cầu cũng choán một khoản không gian chung với địa cầu hữu hình. Nhưng thể chất hay tinh chất loãng của nó ló ra khỏi trung tâm xa hơn bầu khí quyển của địa cầu rất nhiều. Nó ló ra xa gần bằng khoảng cách trung bình từ địa cầu đến mặt trăng, mặc dù hai quả cầu hữu hình này cách xa nhau khoản 240000 dặm. Phần vía của hai quả cầu này gần giáp nhau khi mặt trăng tiến đến gần địa cầu nhất chớ không phải lúc mặt trăng ở viễn điểm. Tôi dùng từ �cõi trí� để chỉ thế giới lớn hơn nữa của chất trí. Ðịa cầu hữu hình của chúng ta cũng choán trung tâm cõi này.
Khi chúng ta liên hệ đến các cõi cao, chúng ta sẽ gặp những bầu vô hình mà chu vi đều tiếp cận chu vi các cõi tương ứng của những hành tinh khác trong Thái dương hệ. Các thế giới có thể chất loãng biểu thị một phần chúng ta và di chuyển chung quanh mặt trời với các thế giới thấy được. Khi tập trung tư tưởng vào quả địa cầu chúng ta, sinh viên chẳng những phải nghĩ đến hình cầu nhỏ bằngvật chất hữu hình mà còn phải nghĩ đến các khối chung quanh của những bầu thế giới xuyên qua nhau từ cái này đến cái khác.
DaoKy
07-02-2005, 10:00 PM
Thông thiên học lược giảng
Tác giả C. W. LEADBEATER
TSCÐGL Online Tây Ðức đưa tài liệu vào internet từ Hội Thông Thiên học Việt Nam tại9 Hoa Kỳ
CHƯƠNG BỐN
SỰ TIẾN HÓA CỦA SỰ SỐNG
Những luồng sóng sinh hoạt đã hình thành các cõi mà tôi vừa mô tả đều là công trình của Ngôi Ba của Ðức Thái Dương Thượng Ðế, do đó cái tựa của chương này là �Ðấng đã cho sự sống�, Ðấng đã bao trùm trên nước của không gian mà chúng ta gặp trong các Thánh kinh Thiên chúa giáo. Theo từ ngữ Thông Thiên Học, các luồng sinh hoạt ấy được xem trong toàn thể của nó. Nó cấu tạo điều mà người ta gọi là luồng sóng sinh hoạt của sự sống.
Khi các cõi phát triển đến độ này và các nguyên tố hóa học được cấu tạo xong, luồng sinh hoạt thứ nhì xuất phát do Ngôi Hai của Ðức Thái Dương Thượng Ðế. Nó có quyền năng phối hợp và cố gắng kết hợp các nguyên tố hiện hữu trong tình trạng phôi thai thành những hình thể. Các hình thể này về sau được cấp một linh hồn.
Do thế đó, bảy giới thiên nhiên ra đời, được Thông Thiên Học nhìn nhận. Thông Thiên Học tách giới nhân loại khỏi giới cầm thú, xem xét nhiều giai đoạn tiến hóa mà mắt thường không thấy được và đặt cho tên là giới tinh hoa.
Sự sống thiêng liêng từ trên cao trút xuống vào vật chất và sự vận hành của nó được chia ra hai giai đoạn: nó khởi đầu bằng cách lấy hình tướng càng ngày càng đông đặc, rồi sau đó nó cởi bỏ lần lần các hình tướng bề ngoài ấy. Cõi trí là tầng thứ năm nếu chúng đi từ trên xuống, từ tinh vi đến thô kệch, là tầng thứ nhất mà chúng ta có thể quan sát một cách khoa học các thể thiêng liêng và cũng ở tầng ấy ta gặp những bầu thế giới riêng biệt. Muốn dễ nghiên cứu, cách giản dị nhất là chúng ta nên chia cõi trí ấy ra làm hai phần : thượng trí và hạ trí, tùy theo mâït độ các chất mà ta gặp ở đó. Thượng trí gồm ba tế phần tinh vi của chất tư tưởng và hạ trí gồm bốn tế phần của chất tư tưởng dày đặc hơn.
Khi sự sống thiêng liêng giáng xuống đến cõi thượng trí, nó phối hợp các nguyên tố dĩ thái đang có ở đó. Theo mật độ ấy người ta có thể gọi là chất; trong các chất ấy, sự sống trú ngụ. Ðó là các chất mà Thông Thiên Học gọi là giới tinh hoa chất thứ nhất.
Sau một thời gian tiến hóa dài trong những hình thể thượng trí, luồng sóng sinh hoạt càng ngày càng xuống sâu, học cách tự đồng hóa trọn vẹn với các hình thể đó, cho đến đỗi nó có thể giữ các hình thể ấy lâu dài, hoàn toàn chiếm giữ thay vì rời bỏ chúng sau mỗi kiếp luân hồi. Cùng cách ấy, luồng sóng sinh hoạt có thể chiếm ngụ các hình thể thấp hơn ở các tế phần hạ trí, mặc dù linh hồn của luồng sinh hoạt còn ở thượng trí. Các chất được linh hoạt ở hạ trí, chúng ta đặt tên là giới tinh hoa thứ nhì.
Sau một thời kỳ dài bằng thời kỳ trước, luồng sóng sinh hoạt tự đồng hóa một lần nữa với những hình thể mà nó chiếm ngụ thật thụ ở hạ trí. Nó có thể sử dụng các hình thể thuộc về cõi vía là cõi thứ sáu từ trên kể xuống và được gọi là giới tinh hoa thứ ba.
Mặc dù hình thể của giới tinh hoa thứ ba tại cõi vía không hoàn toàn trong sáng, nó cũng tế nhị hơn các hình thể ở cõi trần hữu hình. Mỗi một giới trong ba giới tinh hoa vừa kể đều biểu lộ sự sống căn bản khác biệt nhau giống như sự khác biệt giữa giới động vật và giới thực vật.
Sau khi tự đồng hóa với các hình thể thuộc giới tinh hoa thứ ba, luồng sóng sinh hoạt đem sinh khí xuống các phần dĩ thái của khoáng sản và làm cho chúng linh hoạt. Nhờ sức ép đi từ trên xuống, sự sống thiêng liêng tự đồng hóa với chất dĩ thái của thế giới hữu hình và chiếm ngụ chất thô của khoáng sản mà mắt trần chúng ta không thấy được.
Chúng tôi gom vào giới khoáng sản, kim thạch chẳng những tất cả các khoáng chất, mà còn các chất lỏng, chất hơi và một phần lớn các chất dĩ thái mà khoa học Âu Tây chưa nhìn thấy. Chất nào cũng có sẵn bên trong sự sống đang phát triển tiệm tiến. Khi luồng sóng sinh lực đến điểm trung tâm giai đoạn khoáng chất, sức ép từ trên xuống dưới được thay bằng ý hướng từ dưới lên trên; như vậy sự nhập thế chấm dứt, sự xuất thế bắt đầu.
Sau khi đã đi qua hết các bậc của giới khoáng sản, sự sống thiêng liêng ngụ lại tại cõi vía, mang theo nó kết quả của những kinh nghiệm ở cõi hữu hình. Từ đó, nó làm linh hoạt các hình thể thực vật và có thể phát lộ rõ rệt trong sự tiến hóa này các khả năng sinh tồn mà chúng ta gặp trong đời sống của mọi loài thực vật. Khi nó hoàn tất giai đoạn phát triển trong giới thực vật, nó bỏ giới này và làm linh hoạt các hình thể động vật. Sau đó nó rút khỏi thế giới hữu hình và ngụ tại cõi hạ trí. Nhưng sau rốt, khi muốn hoạt động trực tiếp trên chất đặc, nó phải tái sử dụng chất vía trung gian. Chất ấy trong trường này không còn là sự biểu lộ của một hồn khóm tập thể, mà nó trở nên, như tôi sẽ chứng minh sau này, thể vía cá nhân của một động vật thông thường nào đó.
Luồng sóng sinh lực lưu lại chẳng những trong một thời gian, đối với chúng ta, gần như vô tận trong mọi giới, nhưng nó tiến lên xuyên qua một khoản tiến hóa xác định khởi sự từ những biểu lộ thô sơ nhất của một giới để đến các biểu lộ cao nhất. Lúc đầu của thời kỳ thực vật, thí dụ sinh lực đem sinh khí cho cỏ và rong rêu, rồi sau đó trở thành linh hồn của những cây lớn trong rừng. Còn ở giới động vật nó mang sinh khí đầu tiên cho muỗi và vi sinh vật thông thường, rồi sau đó nó làm linh hoạt các mẫu động vật có vú.
Ðó là quá trình tiến hóa tiệm tiến và đều dặn của những hình thể hạ cấp, đơn giản, để tiến lần đến hình thể cao cấp, phức tạp. Sự tiến hóa không phải là hình tướng mà là sinh lực, là sự sống trong các hình tướng; các hình tướng cũng trở nên hoàn hảo hơn trong mục đích duy nhất là tạo ra các thể phù hợp với những làn sóng sinh khí càng ngày càng phát triển. Sau khi vượt qua mức cao nhất của giới động vật, sự sống thiêng liêng xuất hiện trong giới con người dưới ảnh hưởng của vài điều kiện mà tôi sẽ giải rõ sau này.
Ðợt sóng sinh lực từ bỏ mọi giới để tiến lên một giới khác và nếu ta chỉ chú ý một làn sóng duy nhất của đợt sóng ấy, thì chỉ có một giới mà thôi.
Nhưng Thượng Ðế cho phát xuất một loạt những đợt sóng sinh lực và một số đợt ấy khởi sự hoạt động một lượt. Chúng ta hình dung một trong các đợt sóng ấy và chúng ta thấy tiến hóa bên cạnh ta một làn sóng khác của động vật, làn sóng cho ra bởi Thượng Ðế trong giai đoạn sau giới con người. Giới thực vật biểu thị làn sóng thứ ba, giới khoáng sản , đợt thứ tư , và các nhà huyền bí học nhìn nhận chung quanh chúng ta có sự hiện diện của ba giới tinh hoa; đó là các làn sóng thứ năm, thứ sáu và thứ bảy. Tập hợp các đợt dao động ấy biểu hiện các làn sóng liên tiếp của một làn sóng lớn; đó là làn sóng của Thượng Ðế Ngôi Hai.
Dưới mắt chúng ta, chúng thấy có một kế hoạch tiến hóa. Trong đó chúng thấy sự sống thiêng liêng được vật chất hóa càng ngày càng sâu đậm để cảm xúc với một vài rung động không kích động nó được nếu không có sự giúp vào của vật chất. Các dao động khác khởi dấy nơi nó một tốc độ dao động tương ứng. Về sau, nó sẽ đủ sức tạo lại các dao động ấy bởi tự sức mình và sẽ trở nên một sinh vật có năng lực tâm linh.
Chúng ta có thể tưởng tượng rằng sự phát xuất ra sự sống có lẽ có bản chất đồng nhất khi nó mới được Thượng đế cho ra, ở mức độ vượt quá tầm quan niệm của con người. Lúc nó biểu lộ trước tiên trong môi trường kiến thức của chúng ta, nghĩa là lúc nó ngụ tại cõi trực giác và làm linh hoạt các chất thượng trí, nó không còn biểu lộ trong trạng thái của một linh hồn bao la; nó chia ra thành một số lớn linh hồn riêng biệt. Chúng ta hãy tưởng tượng một cái thang. Ở phần chót thang, ta thấy một sự phát xuất đồng đều; ở phần chót kia, đại hồn tách rời ra, bắt đầu ở giai đoạn con người, làm thành cả triệu linh hồn tương đối nhỏ của con người có cá tính khác nhau. Nếu chúng ta quan sát một trong những bậc giữa của chiếc thang ấy, chúng ta sẽ thấy một trạng thái trung gian; nghĩa là linh hồn của thế giới chia ra từng phần, nhưng chưa đạt được kích thước chung của những vi phần sẽ dành cho chúng trong tương lai.
Ðiều phân biệt người với động vật và thực vật là chỉ riêng con người mới là một linh hồn thật sự.
Ở con người, trong thế giới hữu hình, linh hồn này có thể biểu lộ xuyên qua một xác thân mà thôi; còn ở động vật và thực vật, hồn có thể đồng thời mang lấy nhiều thể khác nhau. Hơn nữa, khi con người rời bỏ xác thân, nó vẫn còn là một thực thể riêng biệt với các thực thể khác và trạng thái này thì vĩnh cữu, trường tồn. Trái lại, khi một con sư tử chết, hồn nó được trả lại cái khối chung mà từ đó nó đến và khối ấy tạo nhiều hồn cho nhiều con sư tử. Khối ấy chúng ta gọi là hồn khóm.
Thí dụ có một trăm xác thể thuộc loài sư tử nhập vào một hồn khóm. Dĩ nhiên là mỗi một thể tiếp nhận được một phần một trăm của hồn khóm và giữ phần đó suốt thời gian sống của nó. Con sư tử này sẽ hiện ra riêng biệt giữa đồng loại nó và cũng như người, nó được xem như một cá thể. Thật ra, cá tính nó không trường tồn. Sau khi bỏ xác, hồn nó trở về nhập vào hồn khóm. Hơn thế, khi nó tách ra khỏi hồn khóm một lần nữa, hồn nó lần này không giống y như hồn nó lần trước.
Một so sánh sẽ giúp ta dễ hiểu hơn điều nêu trên. Hãy tưởng tượng hồn khóm như nước chứa trong một vật chứa nào đó, như một cái thùng chẳng hạn, và một trăm xác thể của các con sư tử như một trăm cái ly. Mỗi cái ly nhúng vào thùng múc ra đầy nước. Nước này tượng trưng một hồn được tách ra. Nó giữ hình dáng cái ly chứa nó. Nó tạm rời khối nước đựng trong thùng và nước đựng trong các cái ly khác.
Thí dụ, bây giờ, người ta cho vào mỗi ly một chất màu hay chất thơm nào đó chẳng hạn, nhưng khác nhau. Người ta sẽ biểu thị phẩm chất đặc biệt đạt được bởi hồn riêng biệt của mỗi con sư tử trong mỗi khoảng thời gian sinh sống. Nếu sau đó người ta đổ nước của cái ly trở lại thùng chứa, người ta tượng trưng cái chết của con sư tử. Chúng ta để ý rằng các phần tử của chất lỏng ấy sẽ pha lẫn với phần nước còn lại trong thùng. Chất màu hay chất thơm của cái ly sẽ tan ra trong khối nước chung và khối nước này sẽ có một màu lợt hơn hay một mùi ít nồng hơn các phần khác. Phẩm chất đạt được nhờ kinh nghiệm của hồn một con sư tử cũng thế. Một khi trả về hồn khóm, chúng nó tràn ra hồn khóm với một mức độ bảo hòa ít hơn.
Cũng dễ quan niệm rằng nước người ta múc lại từ trong thùng nước lần sau không thật giống chất nước đã có ở đó từ trước. Nhưng nó còn giữ dấu vết màu và vị đặc biệt của mỗi thứ nước mà người ta đã đổ vào đó. Vì thế, phẩm tính đạt được do kinh nghiệm của một con sư tử trở thành tính chất chung cho tất cả các con sư tử sắp sinh ra từ một hồn khóm. Giá trị của các phẩm tính ấy yếu hơn phẩm tính của cá thể sư tử đã phát triển.
Ðiều này giải thích khá rõ sự di truyền của bản năng. Chúng ta sẽ hiểu rằng tại sao con vịt con do gà mái ấp lại thích nước và lội một cách tự nhiên; tại sao gà con vừa mới nở lại biết thu hình và trốn khi nó vừa thấy bóng chim ưng; tại sao một con chim ấp một cách nhân tạo và không bao giờ thấy cái ổ, lại tự biết làm ổ giống như truyền thống của loài nó.
Ở phía dưới của nấc thang động vật, người ta thấy nhiều vô kể, những xác thể thuộc về một hồn khóm. Khi người ta leo lên các bậc cao thì thấy số hồn thuộc về một hồn khóm càng trở nên hạn chế. Do đó, có những khác biệt giữa những cá nhân.
Các hồn khóm có thể được phân chia ra. Muốn dễ nhận thức, chúng ta hãy trở lại sự so sánh với cái thùng. Từ khi cái ly múc lần lượt nước đựng trong thùng và trả nước lại vào thùng, khối nước có màu càng ngày càng đậm. Giả thiết trong lúc đó, từ từ, có một màng thẳng đứng chia thể tích thùng ra làm hai phần. Giả thiết mỗi lần người ta múc một ly nước trong mỗi phần nửa thùng, người sẽ trả lại cho nó nguyên vẹn. Ðến một lúc, chất lỏng chứa trong một phần của thùng sẽ có khác biệt với nước của phần kia. Chừng đó chúng ta sẽ có hai thùng khác nhau. Ðó là một hiện tượng tương tự sự phân chia của hồn khóm. Nó chia làm hai phần như tế bào bởi một sự phân chia thật sự. Sự phân chia càng tăng, hồn khóm ngày càng nhỏ và càng nhiều. Ðến giới hạn cao nhất, xuất hiện con người, phân cách vĩnh viễn ra khỏi hồn khóm.
Mỗi đợt sóng sinh lực mang sinh khí lại cho một giới trọn vẹn. Các hồn khóm không nhất thiết phải chuyển kiếp vào một nhóm khác thuộc giới của nó từ cái sơ đẳng đến cái hoàn hảo. Tôi giả thiết đây là một hồn khóm thực vật đã cung cấp nhiều hồn cho nhiều cây lớn trong rừng. Ðến một mức độ nào đó của sự phát triển, hồn khóm đã được hoàn hảo để chuyển kiếp sang qua giới động vật. Nó bỏ qua một bên những thể thấp như loài sâu bọ và loài bò sát. Người ta có thể nói gần đúng là nó chuyển kiếp liền qua đời sống động vật, ở trình độ những thú có vú hạ cấp. Cũng một lý luận tương tự, người ta có thể chấp nhận rằng sâu bọ và loài bò sát từ trước thuộc hồn khóm thực vật, vì một lý do nào đó đã bỏ qua các thể thấp thực vật để chuyển kiếp ngay vào giới sâu bọ hay bò sát. Cũng như thế, hồn khóm động vật đến trình độ phát triển cao nhất trong giới động vật không nhất thiết phải cá nhân hóa thành người rừng hoang dại, nhưng mà cá thể hóa thành người có mức tiến cao hơn. Những linh hồn của người rừng hoang dại là do những hồn khóm đã bỏ giới động vật ở trình độ thấp.
Tổng số các hồn khóm có thể chia ra thành bảy loại lớn theo lệnh vị thừa hành của Thượng Ðế. Qua trung gian của vị ấy, sự sống được ban rải ra. Người ta có thể phân biệt dễ dàng các loại trong những giới lớn của thiên nhiên và trong những phần nhỏ của nó. Từng loạt không dứt của các loài, từ động vật, thực vật cho đến khoáng chất và những loài chót vô hình của những tinh hoa các chất, người ta có thể hợp thành bảy nhóm chiùnh hoàn toàn riêng biệt từ nhóm này đến nhóm kia, cho đến đỗi làn sóng sinh khí đã đi qua một trong những nhóm này sẽ không bao giờ chuyển hướng về nhóm nào khác.
Người ta chưa lập thành danh sách các động vật, thực vật và khoáng chất xét về phương diện này. Không thể chối cãi rằng sự sống một hồn của một khoáng chất không đem sinh khí cho hồn của một khoáng chất khác cùng một lúc, mặc dù nó có thay đổi trong môi trường của nó. Cũng xảy ra như thế đối với thực vật và động vật. Cuối cùng, khi sự sống ngẫu nhiên đạt tới trình độ nhân loại, nó tự cá nhân hóa theo một mẫu riêng biệt.
Phương pháp cá nhân hóa một hồn thú đã đến trình độ cao tột trong hồn khóm là không để nó trở về hồn khóm nữa. Nhưng chỉ có vài con thú mà trí não đến một trình độ phát triển cao mới đạt được kết quả. Một cách tổng quát, phải đưa con thú trực tiếp với người. Sự cá nhân hóa có thể xảy ra cho những con thú vật nhà, nhưng không phải chung cho các loài. Ðứng đầu mỗi nhóm trong bảy nhóm đã nói ở trên có một mẫu thú vật nhà. Ấy là con chó, con mèo, con voi, con khỉ v.v Các con khác có thể có tên trong bảy đường dẫn đến bảy mẫu thú. Thí dụ chồn, chó sói thuộc về loài chó, còn sư tử, cọp, beo thuộc loài mèo. Vì thế, hồn khóm đem lại sự hoạt động cho một trăm con sư tử mà chúng ta đã kể làm thí dụ, có thể đến một trình cao của sự tiến hóa, nó có thể tự chia ra làm năm hồn khóm, mỗi hồn khóm này làm sinh động năm con mèo.
Làn sóng sinh lực duy trì rất lâu trong mỗi giới. Cho đến ngày nay, chúng ta chỉ đạt tới hơn phân nửa của một chu kỳ như thế. Do đó, điều kiện hiện thời không thuận tiện cho việc cá nhân hóa, chỉ có thể đạt được vào cuối thời kỳ tiến hóa. Tuy nhiên, người ta cũng thấy có rất hiếm thú vật nhà được cá nhân hóa nhờ gần gũi mật thiết với con người nên đạt được sự phát triển trên mức trung bình. Con thú nếu được đối xử một cách dịu dàng, tỏ lộ với chủ nó một sự trìu mến chân thành , và chắc chắn sự cố gắng của nó để hiểu chủ nó, đoán những ý muốn của chủ, sẽ phát triển trí thông minh của nó. Thêm vào đó, những cảm xúc và tư tưởng của con người luôn luôn ảnh hưởng đến con thú có khuynh hướng nâng cao khả năng cảm xúc và khả năng trí tuệ của nó. Dưới ảnh hưởng của những trường hợp thuận lợi, sự phát triển đó có thể nâng cao đến mức độ hoàn hảo làm cho nó bỏ hẳn khóm của nó; vì lúc đó một phần hồn khóm của nó có thể đáp ứng với sự phát xuất luồng sinh lực từ Ngôi Một của Thượng Ðế.
Sự phát xuất cuối cùng ấy không giống các lần trước. Nó không phải như một con suối mạnh có thể cùng ảnh hưởng một lượt hàng triệu sinh vật. Nó chỉ ảnh hưởng đến mỗi người có khả năng tiếp nhận được nó. Hiện giờ nó ở cõi trực giác và không bao giờ nó xuống khỏi ranh giới ấy. Hồn con thú phải vượt lên để đón nó. Ngay lúc ấy, luồng sinh lực thứ ba cũng xuống gặp hồn thú, hình thành ở cõi thượng trí một chơn nhơn, một cá thể trường cữu. Chúng ta nên để ý rằng, dù sao cá thể ấy cũng có một hạn cuộc cứu cánh : đó là sự duy nhất thiêng liêng đã đưa nó đến đây và là nơi nó trở về. Mục đích cuối cùng của chơn nhơn là như thế. Trong sự cấu tạo chơn nhơn, phần hồn khóm từ trước tới nay chỉ đóng vai trò một hồn thú, nay được linh hoạt như một hình thể bởi điểm linh quang của Ðức Thượng Ðế chiếu vào nó. Ðiểm linh quang này có thể xem như cứ bay phất phơ trên hồn khóm và trong cõi chơn thần suốt thời gian tiến hóa trước. Chỉ khi nào phần tương ứng của nó bên dưới phát triển nhiều và đầy đủ, sự liên kết của điểm linh quang với phần hồn khóm tiến hóa đó mới thực hiện được để thành chơn nhơn.
Sự đứt rời khỏi phần còn lại của hồn khóm và sự thành lập một chơn nhơn cá biệt là dấu hiệu rõ ràng nhất giữa động vật cao đẳng với người hạ đẳng.
(1) Bà Annie Besant, Hội trưởng Hội Thông Thiên Học có chọn một số từ để thay thế cho những từ đã sử dụng từ trước cũng như trong quyển 2 của Huyền bí bọc trong thiên nhiên. Sau đây là danh sách những từ xưa và nay
Tên cũ
Tên M ỚI
TI ẾNG vn
NƠI HO ẠT Ð ỘNG C ỦA
Plan Adi
Monde Divin
Tối Ðại Niết Bàn
Các Vị Thượng Ðế
Anupadaka
Monadique
Ðại Niết Bàn
Các Vị Thượng Ðế
Atmique ou
Spirituel
Niết Bàn
Người được Ðiểm đạo
Nirvanique
Bouddhique
de l'Intuition
Bồ Ðề
Người được Ðiểm đạo
Mental
Mental
Thượng Giới
Loài người, cầm thú
thảo mộc, và kim thạch
de l’Emotion
Astral
Trung Giới
Loài người, cầm thú
thảo mộc, và kim thạch
Physique
Physique
Hồng Trần
Loài người, cầm thú
thảo mộc, và kim thạch
DaoKy
07-02-2005, 10:03 PM
Thông thiên học lược giảng
Tác giả C. W. LEADBEATER
TSCÐGL Online Tây Ðức đưa tài liệu vào internet từ Hội Thông Thiên học Việt Nam tại Hoa Kỳ
CHƯƠNG NĂM
SỰ CẤU TẠO CON NGƯỜI
Con người, trong bản thể, là một tia sáng của ngọn lửa thiêng liêng (một điểm linh quang) thuộc cõi Chơn thần. Từ đây ta gọi nó là Chơn thần. Vì mục đích tiến hóa của con người, Chơn thần tự biểu lộ trong những cõi thấp. Khi nó đổi giai đoạn và vào cõi tâm linh (cõi Niết Bàn), nó tự phô bày như một đơn vị Tâm linh có ba trạng thái khác nhau (Thượng Ðế cũng có ba Ngôi trong những cõi tối cao). Trạng thái thứ nhất mà chúng ta gọi là Anh linh trong con người ngụ luôn luôn tại cõi Ðại Niết Bàn. Trong cõi Trực giác (Bồ Ðề) biểu lộ trạng thái thứ nhì : đó là Trực giác nơi con người. Còn trạng thái thứ ba, chúng tôi gọi là .Trí thông minh trong con người, nó phát lộ nơi cõi thượng trí. Xét trong toàn bộ, ba trạng thái hợp thành Chơn nhơn; đó là hồn của một phần hồn khóm đã tiến lên thành linh hồn người. Như thế, con người vừa là Chơn thần ở cõi chơn thần (cõi Ðại Niết Bàn), vừa là Chơn nhơn ở cõi thượng trí và biểu lộ ba trạng thái của nó( Anh linh, Trực giác, Trí thông minh ) nhờ một khí thể làm bằng chất thượng trí mà chúng ta gọi là Nhân thể (thể nhân quả).
Chơn nhơn chỉ là con người trong giai đoạn tiến hóa của mình. Thế thì quan niệm thông thường và không khoa học về con người chỉ gần đúng mà thôi. Chơn nhơn không bị một thay đổi nào chi phối trừ sự phát triển của nó từ lúc thoát kiếp thú khi cá thể hóa đến lúc vượt qua khỏi nhân loại để thành tiên thánh. Sự sanh và sự tử không ảnh hưởng đến nó chút nào vì cái mà chúng ta gọi là sự sống ở cõi trần chỉ có một ngày của nó mà thôi. Xác thân được thấy, sanh ra rồi chết chỉ là một lớp áo mà nó mặc vào vì nhu cầu của một giai đoạn tiến hóa.
Vã lại, xác thân này không phải là thể duy nhất của nó. Trước khi có xác thân để hoạt động tại cõi trần, nó phải tiếp xúc, liên lạc với cõi này qua trung gian của cõi hạ trí và cõi vía (cõi trung giới). Nếu nó muốn nhập thế xuống thấp, nó dùng chất khí cõi hạ trí bao phủ nó để tạo thành thể trí. Nhờ thể hạ trí này nó mới phát ra những tư tưởng cụ thể. Chơn nhơn phát ra những tư tưởng trừu tượng chỉ ở cõi thượng trí mà thôi.
Sau đó, chơn nhơn rút chất khí cõi tình cảm tức cõi trung giới để tạo thể vía. Nhờ thể này nó mới biểu lộ các đam mê, tình cảm, cùng những ý tưởng nhuộm màu ích kỷ và cảm xúc cá nhân. Nhưng trong trường hợp này, thể vía hay hoạt động song song với các phần thấp của thể trí. Chỉ sau khi mặc hai áo trí và vía, chơn nhơn mới có thể tiếp xúc với thể xác thơ ấu để xuất hiện tại cõi trần mà chúng ta thấy, biết. Từ đó, trong thời gian dài hoặc ngắn mà người ta gọi là kiếp sống, nó thâu thập những đức tính do các kinh nghiệm đã trải qua. Ðến cuối đời sống của xác thân, khi xác thân đã mòn mỏi, chơn nhơn lộn ngược quá trình từ cao đến thấp đã đưa nó xuống trần, bằng cách lột bỏ từ cái một, những thể tạm thời như thể vía và thể hạ trí. Cái mà nó bỏ trước hết là xác thân hồng trần. Sự sống của nó tập trung vào thể vía hay thể tình cảm và sống bằng thể ấy ở cõi trung giới.
Thời gian nó ngụ trong thể này tùy thuộc vào tổng số các đam mê và cảm xúc nó đã phát triển trong đời sống thế tục. Nếu chúng nó mãnh liệt, thể vía có sinh khí mạnh mẽ sẽ bị duy trì lâu. Trái lại, nếu chúng nó yếu, thể vía nhận ít sinh khí, chơn nhơn bỏ nó dễ dàng và chỉ giữ lại thể trí. Sức mạnh của thể trí tùy theo những tư tưởng quen thuộc của chơn nhơn. Thời gian chơn nhơn ngụ tại cõi trí thường rất dài. Sau giai đoạn này, thể trí đến phiên nó bị tan rã. Lúc bây giờ, chơn nhơn hoàn toàn ngụ tại cõi chính của nó tức là cõi thượng giới.
Tại cõi này, chơn nhơn chưa hoàn toàn ý thức được hoàn cảnh xung quanh, giống như ở cõi trần mắt ta không ý thức được tia cực tím, vì sự rung động của tia này mau lẹ quá. Cũng giống như thế, tại cõi thượng trí, các rung động của chất khí rất mau, nên không kích thích được chơn nhơn. Sau một thời gian ngơi nghỉ tại cõi thượng trí, nó thấy cần những rung động mà nó có thể thâu nhận được để tưởng rằng mình có sống. Nên nó lập lại quá trình đi xuống cõi thấp, trong vật chất dày đặc hơn và khoác một thể hạ trí, rồi thể vía và cuối cùng là xác thân. Các thể mới này khác biệt với các thể nó có khi trước, vì các thể ấy, từ cái một, đã tan rã hết rồi. Mặc dù sống ở cõi trần trong xác thân, nó phải nhờ thể trí để nhớ lại. Nếu chúng ta để ý rằng thể trí mới tạo và nó được tạo ra để cho chơn nhơn sử dụng trong kiếp này thì chúng ta hiểu rằng khó cho nó nhớ lại những gì đã xảy ra trong kiếp trước mà nó không có tham dự. Xét về bản thể, chơn nhơn nhớ tất cả các đời sống của nó đang ngụ tại chính cõi thượng giới của nó và nhiều khi, một kỷ niệm nhỏ của các đời sống ấy hoặc một ảnh hưởng của chúng cũng có thể thấm đến các thể thấp của nó. Cho nên, một cách tổng quát, mặc dù các thể thấp của chơn nhơn không giữ được ký ức nào của kiếp trước, nhưng ít nhất chúng nó cũng phát lộ các đức tính do kinh nghiệm của các kiếp trước mang lại. Vậy mỗi người trong chúng ta đúng là người của các kiếp trước. Nếu trong các kiếp đó, y đã thụ đắc đức tính tốt, thì kiếp này y cũng có các đức tính ấy. Nếu y chểnh mảng không làm việc thiện, và do đó, y tỏ ra yếu hèn dễ bị cám dỗ và không đủ sức chống lại chúng thì đời sống hiện tại của y bị ảnh hưởng xấu, cứ luôn có khuynh hướng như vậy. Nói tóm lại, những tính tốt hay xấu mà con người có lúc tái sinh là những tính tốt hay xấu mà nó đạt được ở các kiếp trước.
Toàn thể quá trình nhập thế xuống các cõi thấp là để phát triển chơn nhơn. Thật vậy, chơn nhơn lần lượt mang hết thể này đến thể khác, nhiều lần như vậy là vì nhờ đó nó có thể đáp ứng những rung động khác nhau. Ðiều ấy giúp cho các khả năng tiềm tàng của nó được khởi động. Mặc dù con người từ cõi trên xuống, nhưng cũng nhờ nhập vào các cõi thấp như vậy, y mới có thể đạt được sự hiểu biết trọn vẹn về các cõi cao. Khả năng tiếp nhận và đáp ứng tất cả rung động của một cõi nào đó đều xác định tình trạng tâm thức trong toàn cõi ấy. Vì lẽ đó, thông thường, con người chưa ý thức về mình ở mọi cõi, dù cho ở cõi trần con người còn tưởng lầm là đã biết hết. Nhưng vì con người có thể sử dụng quyền năng tri giác của mình ở các cõi, đồng thời y có thể phát triển tâm thức nên y quan sát được các dữ kiện mà tôi trình bày ở đây.
Thượng trí hay nhân thể là thể trường cửu ở cõi thượng thiên (cõi thượng trí) . Vật liệu của nó gồm các chất của cảnh thứ nhất, cảnh thứ nhì và cảnh thứ ba từ trên tính xuống. (cảnh thứ tư, thứ năm, thứ sáu và thứ bảy thuộc hạ trí). Trong người thường, nhân thể không hoạt động đầy đủ, vì trong trường hợp này của y chỉ có chất khí của cảnh thứ ba được linh hoạt mà thôi. Lần lần trên đường tiến hóa, khi chơn nhơn phát triển các đức tính tiềm tàng, những chất ở các cảnh trên mới được linh hoạt. Nhưng chơn nhơn chỉ đạt mức toàn thiện khi con người đắc quả vị Chơn tiên thôi. Người nào có được huệ nhãn của chơn nhơn mới thấy được các chất ở cảnh cao.
Khó mô tả đầy đủ một nhân thể hay thể thượng trí vì các giác quan của nó không giống các giác quan thường của chúng ta, bởi chúng ở trình độ cao hơn, tinh vi hơn nhiều. Song, một người có huệ nhãn, khi y có thể đem ký ức của các cảnh cao vào não bộ, y sẽ thấy nhân thể hiện ra có hình bầu dục bao phủ thể xác tủa ra khỏi thể này chừng 45 phân. Ở người cổ lổ chưa tiến hóa, nó giống như một bọc không khí trống rỗng. Thật ra nó chứa toàn các chất cảnh thượng trí, nhưng vì các chất ấy chưa được linh hoạt nên nó có vẻ trong suốt và không màu sắc. Càng tiến hóa, lần lần thượng trí được kích thích, khởi dậy nhờ các rung động từ những thể thấp đưa lên. Nhưng sự biến đổi rất chậm vì các hoạt động của con người trên bước đầu tiến hóa không đủ sức làm kích thích các chất ở cảnh cao. Ðến khi con người tiến đến trình độ có thể tạo ra những tư tưởng trừu tượng và những tình cảm vị tha thì chất của thượng trí mới được kích thích nhiều.
Từ đó, thay vì là một bọc trống rỗng, thượng trí lần lần biến đổi thành một bầu chứa đầy chất có màu sắc thanh nhã và tế nhị. Nó trở thành một thể kỳ diệu có một vẻ đẹp không thể quan niệm được. Kinh nghiệm chứng minh rằng mỗi màu sắc có một ý nghĩa khác nhau. Cho nên màu hường lợt là dấu hiệu của tình thương vô vị lợi; màu vàng chỉ một trí lực rất phát triển; lòng thiện cảm được mô tả bởi màu xanh lá cây; màu xanh da trời chỉ lòng sùng đạo; còn màu xanh lam nhuộm hường biểu lộ một tâm linh siêu việt. Các màu sắc vừa kể cũng áp dụng cho những thể thô kệch hơn. Nhưng chúng ta so sánh màu sắc của cõi trần với màu sắc của thượng trí, ta sẽ thấy màu sắc hồng trần kém tế nhị, kém sống động hơn nhiều.
Ở cõi trần, con người thường đem vào các thể thấp của y những tật xấu không phù hợp với chơn nhơn, như kiêu căng, nóng giận, đam mê nhục dục. Các tật xấu cũng như các tính tốt đều biến thành rung động; những rung động thô kệch, xấu xa không kích thích được thượng trí vì nó được cấu tạo bằng các chất của ba cảnh cao của cõi trí. Phải để ý rằng mỗi phần của thể vía tác động một cách mạnh mẽ trên phần tương ứng của thể trí và chỉ trên phần đó mà thôi. Kết quả là chỉ có ba phần cao của thể vía mới có khả năng kích động đến thượng trí. Những rung động của chúng chỉ tương ứng với những đức tính tốt. Như vậy con người chỉ mang vào chơn nhơn y những đức tính tốt mà thôi. Còn những tật xấu là tạm bợ, nhất thời, khi con người tiến cao y sẽ bỏ lại tất cả tật xấu vì y đã lột bỏ các chất đã giúp các tật xấu biểu lộ.
Cái khác biệt giữa thượng trí của người chưa tiến hóa với thượng trí của bậc thánh là cái thì trống rỗng không màu sắc, cái kia thì lấp lánh, sáng chói. Khi con người tiếp tục phát triển để trở nên hoàn hảo, vượt qua trạng thái thánh thiện, có quyền năng tâm linh, thì thượng trí của y cũng phát triển về kích thước vì y có dịp biểu lộ và ban rải ra tứ phương những tia sáng mạnh mẽ, sống động. Ở bậc chơn tiên, thượng trí có những kích thước rất to lớn.
Thể hạ trí được cấu tạo bằng các chất của bốn cảnh thấp của cõi trí (ba cảnh trên là của thượng trí). Các tư tưởng cụ thể là sản phẩm của hạ trí. Ở thể hạ trí này ta cũng gặp những màu sắc của thượng trí, nhưng ít tươi sáng hơn mà còn gồm thêm một hay màu nữa. Ðó là màu vàng cam chỉ tánh kiêu căng và màu đỏ thắm sáng chỉ tánh hay nóng giận. Chúng ta còn có khi gặp màu nâu lợt của tánh hà tiện, màu nâu xám của tánh ích kỷ và màu xám xanh lá cây của tánh hay lừa đảo, bần tiện. Có khi nhiều màu pha lẫn nhau, thí dụ tình thương, trí năng, lòng sùng đạo có thể bị nhuộm tánh ích kỷ; những màu riêng biệt của các tánh tốt ấy pha trộn với màu nâu xám của tánh ích kỷ thành màu có vẻ bẩn như bùn. Các phần cấu tạo thể trí di chuyển với một tốc độ kinh khủng; đồng thời tổ chức của thể trí cũng ít ổn định.
Kích thước và hình dạng của thể trí được qui định bởi thể thượng trí. Thể trí mang những đường vạch mà các đường ấy chia thể trí thành từng đoạn không đều tương ứng với những vùng riêng biệt trong não bộ vật chất. Thành thử mỗi loại tư tưởng được phát động nhờ phần não dành riêng cho nó. Ở phần lớn những người thường, đến ngày nay, thể trí chưa được phát triển nên các vùng của não bộ chưa được linh hoạt. Vì lẽ đó, một tư tưởng thuộc về một trong những vùng của não bộ bắt buộc phải khai thông một lối đi đột ngột xuyên qua một con kinh không thuộc về nó. Ðó là nguyên do của một tư tưởng vụng về và khó hiểu. Vì thế mà người thì có khiếu về toán học, người thì không làm rành một bài toán cộng. Cũng vì đó mà có nhiều người thông hiểu và phán đoán âm nhạc một cách bẩm sinh, nhưng cũng có nhiều người không phân biệt được hai điệu nhạc.
Tất cả các chất của thể trí phải được lưu chuyển tự do. Thường thường không được như vậy. Thỉnh thoảng người ta để tư tưởng cố định, tập trung, đóng cứng trên một vấn đề riêng biệt. Sự lưu thông bế tắc, ứ động; trên thể trí tạo ra một cục bướu. Ðó là một thành kiến đã xuất hiện. Con người không thể suy tư đúng đắn hay phán đoán rõ ràng trước khi cục bướu tiêu tan và trước khi sự luân chuyển tự do được tái lập. Sự ứ đọng cản không cho các làn sóng bên trong cũng như bên ngoài được tự do lưu chuyển.
Khi con người sử dụng một phần của thể trí, thì phần này rung động mau lẹ, nở lớn và phát triển kích thước. Nếu một tư tưởng phát ra, được kéo dài trên một đề tài đặc biệt, sự tăng trưởng của thể trí được thêm lên. Như vậy, mỗi người đều có thể làm tăng trưởng thể trí mình theo hướng tốt hoặc hướng xấu.
Trong thể trí, những tư tưởng lành tạo nên những rung động các chất tế nhị. Các chất này vì trọng lượng nhẹ nên tựu lên phần trên của quả cầu hình bầu dục như quả trứng. Những tư tưởng xấu đáng trách như ích kỷ hay hà tiện tương ứng với những chất nặng trược nên có khuynh hướng chìm xuống phần dưới. Kết quả của các sự quan sát ở người thường, thấy cho ra những tư tưởng ích kỷ đủ loại, nên y làm phát triển phần dưới của thể trí thành ra phần dưới này nở lớn. Trái lại, người nào biết kềm chế những tư tưởng thấp hèn và chỉ chú trọng đến các tình cảm cao thượng có chiều hướng làm nới rộng phần trên của thể trí thì hình cái trứng hiện ra đầu trên lớn. Nhờ sự quan sát các màu sắc và các đường vạch trên thể trí của một người, người có thần nhãn biết cả tính tình và mức tiến hóa của người ấy trong kiếp sống này. Cũng do sự xem xét các nét trên thượng trí mà người có huệ nhãn biết những tiến bộ của chơn nhơn đã đạt từ lúc nó được cấu tạo, nghĩa là từ khi nó thoát kiếp thú.
Khi một người đưa tư tưởng của y trên một vật cụ thể, một quyển sách, một cái nhà, một cảnh trí, thì ở phần trên của thể trí y hình thành một ảnh nhỏ của vật đó, ngang tầm mắt y. Thời gian xuất hiện của ảnh ấy tùy thuộc cường độ và sự rõ nét của tư tưởng. Vã lại, ảnh ấy có thật vì một người khác cũng thấy y như vậy nếu y mở được tầm thấy biết của thể trí y. Cũng thế, khi ta nghĩ đến một người nào, ta cũng tạo ra trong thể trí mình một ảnh nhỏ của người ấy. Nếu tư tưởng chúng ta chỉ là suy nghĩ suông, không đượm tình thương hay ghét, hoặc ý muốn trông thấy người ấy thì người ấy không bị kích thích gì cả.
Trái lại, nếu có một tình cảm chen vào, như tình thương chẳng hạn, thì ngoài việc tạo hình ảnh còn có một hiện tượng khác. Tư tưởng yêu thương tự tạo nên một hình ảnh xác định dựa trên chất của thể trí. Hơn nữa, vì có cảm xúc mà nó chứa đựng, nó kéo thêm chất của thể vía. Như vậy, một hình dạng vừa tình cảm vừa tư tưởng thoát ra và bay trong không gian theo hướng của vật hay người được thương tưởng. Khoảng cách không gian giữa người suy tư và vật được suy tư không trở ngại gì cả, miễn là tư tưởng mạnh. Nhưng một cách tổng quát, tư tưởng yếu chỉ có hiệu quả trong một khoảng cách hạn chế. Ở mọi trường hợp, khi tư tưởng gặp người nó kiếm, nó trút vào thể trí và thể vía của người ấy cường độ của rung động. Nói cách khác, là có sự chuyển giao một số lượng sức mạnh và số lượng chất từ người phát ra đến người nhận. Thế thì, nếu chúng ta trở lại tư tưởng thương yêu, chúng ta sẽ thấy ở người nhận sự khởi dậy tình thương hỗ tương, đồng thời với một tăng trưởng nhẹ sự trìu mến nơi y. Một tư tưởng như thế cũng tăng cường tính trìu mến ở người phát ra nữa, rốt cuộc cả hai người đều cảm thấy hiệu quả tốt lành của tư tưởng.
Mỗi tư tưởng đều có một hình dạng. Nếu nó được gởi đến người nào, nó sẽ di chuyển đến hướng ấy. Nếu đó là tư tưởng vị kỷ thì nó lẩn quẩn xung quanh người đã phát ra nó. Nếu nó không thuộc loại nào cả thì nó bay lang thang một thời gian rồi từ từ tan rã. Mỗi người trong chúng ta để lại phía sau lưng y, bất kỳ lúc y ở đâu, một loạt hình tư tưởng. Ở ngoài đường có vô số hình tư tưởng như vậy trong không trung. Chúng ta đang đi lẫn lộn trong chúng. Thỉnh thoảng, khi con người để trí trống rỗng, những tư tưởng ngoại lai bủa vây y, nhưng không kích động y được bao nhiêu. Ðôi khi, một tư tưởng đột hiện và làm cho y để ý. Y chiếm lấy tư tưởng ấy, coi như của chính y phát ra, làm cho nó mạnh thêm bằng chính sức mạnh của y, rồi ném nó trở lại ra ngoài làm cho người khác cũng bị kích động như y. Như vậy, con người không gánh trách nhiệm về tư tưởng đi ngang qua trí y, vì nó không phải của y. Nhưng nếu y chiếm lấy nó, làm cho nó mạnh lên rồi tuôn nó ra ngoài thì y gánh chịu trách nhiệm.
Những tư tưởng ích kỷ lảng vảng quanh người phát ra. Thể trí của phần đông con người bị nó bao phủ như một cái vỏ. Cái vỏ ấy làm mờ đi sự thấy biết của thể trí và làm nảy sinh những thành kiến.
Mỗi hình tư tưởng là một thực thể tạm thời. Người ta có thể so sánh nó như một bình điện đầy ắp chỉ chờ lúc tuôn điện ra. Nó tạo trong thể trí nào nó chạm đến một số làn rung động bằng với số rung động của nó và làm nảy sinh nơi đó một tư tưởng giống y nó. Thế nhưng, nếu thể trí này đang rung động theo một nhịp độ mau, nó không nhập vào được, nó bay lượn xung quanh, đợi lúc thuận tiện mới nhập vào. Nó trút hết năng lực vào đó rồi tan biến mau lẹ.
Một tư tưởng cá nhân vị kỷ, hoạt động y như trên đối với người phát ra nó và cũng trút sức lực vào trí y khi thuận tiện. Nếu đó là một tư tưởng xấu, không trong sạch, y liền cho rằng đó là một ám ảnh của ma quỉ cám dỗ; chớ thật ra là chính y tự cám dỗ y. Thông thường, mỗi tư tưởng đều tạo ra một hình thể, gọi là hình tư tưởng. Nhưng trong vài hoàn cảnh, sự lập đi lập lại của một tư tưởng, thì tư tưởng ở những lần sau không tạo hình mà chỉ hợp vào hình đã lập trước để trở thành một sức mạnh. Vì vậy, sự suy tư hay tham thiền lâu dài về một đề tài sẽ tạo nên một hình tư tưởng mạnh kinh khủng. Nếu nó là một tư tưởng xấu, nó sẽ gây biết bao nhiêu tai hại trong nhiều năm. Nó sẽ có bề ngoài và những quyền năng của một thực thể sống động.
Tất cả những tư tưởng vừa bàn đến đều là những tư tưởng nảy sinh trong trí không có ý định trước. Có những tư tưởng được cấu tạo theo ý định trước với mục đích giúp ích người khác. Ðó là những tư tưởng đặc biệt của những người muốn phụng sự nhân loại. Những tư tưởng đã mạnh lại được điều khiển một cách sáng suốt thông minh giúp ích rất nhiều cho người nhận chúng nó. Chúng nó là thần hộ mạng; chúng nó bảo vệ người nhận chúng chống các ô nhiễm, chống tính nóng giận và lòng sợ sệt.
Sự quan sát các hình thể và màu sắc của tư tưởng là một ngành lý thú của sự nghiên cứu học hỏi này. Các màu sắc chỉ rõ tính chất của tư tưởng và phù hợp tuyệt đối với những màu mà chúng tôi mô tả ở các thể. Hình dạng thì thay đổi thật nhiều; mỗi hình dạng thuộc một loại xác định của tư tưởng.
Ngoài những hình dạng, mỗi tư tưởng đều có tính cách xác định, như tư tưởng về tình thương hay hận thù, tư tưởng sùng đạo hay đa nghi, tư tưởng nóng giận hay sợ hải, tư tưởng kiêu căng hay ghen ghét, đều tạo ra những rung động. Chỉ xem màu sắc của nó ta cũng biết nó được phát ra từ phần nào của thể trí. Các tư tưởng phát ra đều liên lạc với chất khí xung quanh thể trí giống như những làn sóng âm thanh và túa ra tứ phía. Trên đường túa ra, khi gặp một thể vía thụ động hay ở vào tình trạng tiếp nhận đồng nhịp thì các rung động đó liền liên lạc một phần với thể trí ấy. Các rung động không thể chuyển đạt một tư tưởng xác định và đầy đủ như hình tư tưởng đã làm. Chúng nó chỉ gắng sức làm nảy sinh một tư tưởng đồng tính với tư tưởng đã tạo ra chúng . Cho nên một tư tưởng sùng đạo chỉ thúc đẩy lòng sùng đạo tổng quát mà thôi. Nhưng đối tượng của lòng sùng đạo không nhất thiết phải giống nhau trong mọi trường hợp. Nó có thể thay đổi tùy từng người mà thể trí nhận được sự rung động ấy. Trái lại, hình tư tưởng chỉ kích thích một người mà thôi. Nó chuyển đến y, nếu y nhạy cảm, chẳng những lòng sùng đạo mơ hồ mà luôn cả hình ảnh của đối tượng được tôn sùng.
Phần trên của thể trí nơi người thường hoàn toàn chưa được sử dụng. Trái lại, ở bậc trí thức cao của nhân loại, chính nó sản xuất những tư tưởng thanh sạch, tốt lành và mạnh mẽ. Như vậy, mỗi thành viên của hàng trí thức cao là một sức mạnh thánh thiện của nhân loại. Vì các rung động của y phát ra có khuynh hướng khởi dậy phần trên của thể trí ở người thụ cảm và có thể đáp lại. Chúng nó tiết lộ cho người ấy nhiều lãnh vực tư tưởng mới.
Ðó không phải hoàn toàn là tư tưởng đã nhận mà chỉ có cùng một tính chất. Như vậy, những tư tưởng do một bộ óc tập trung về Thông Thiên Học phát ra không gợi lên những tư tưởng Thông Thiên Học ở người xung quanh, nhưng chúng gợi ra nơi họ những hoài bão tự do và thanh cao. Ðó là sự khác biệt giữa các hình tư tưởng và những làn sóng; bởi vì phát sinh trong hoàn cảnh giống nhau, nó chỉ định nơi người sẵn sàng tiếp nhận những ý tưởng rõ rệt và chính xác về Thông Thiên Học.
Những màu sắc của thể vía cũng có cùng một ý nghĩa với màu sắc ở thể trí và nhân thể (thượng trí). Nhưng chúng ở bát độ thấp hơn và gần giống màu sắc mà ta thấy ở cõi vật chất hữu hình. Thể vía là trụ sở của đam mê và cảm xúc. Vì vậy, nó có màu sắc phụ giúp con người biểu lộ những tình cảm ít tế nhị hơn. Thí dụ: một màu nâu đỏ lợt diễn tả sự ưa thích nhục dục; những vầng mây đen chỉ sự xảo quyệt và lòng thù hận; màu xám kỳ dị và xanh mét nói lên sự sợ hãi; màu xám sậm hơn xếp thành những hình tròn nặng nề chung quanh hình trứng mô tả trạng thái suy kém thể chất hoặc tinh thần. Tính hay nóng giận tự biểu lộ bằng một số dấu đỏ đậm mà mỗi dấu tương ứng với một cơn giận dữ. Sự ganh tị tự biểu lộ bằng màu nâu xanh lá cây có đượm nhiều dấu đỏ đậm như vừa kể trên. Thể vía cũng giống về kích thước và hình dạng với các thể khác. Trong nhiều trường hợp, đường bao quanh nó được xác định rõ ràng. Nhưng ở người hoang dã, đường bao quanh đó không đều và giống như một lùm mây có màu sắc khó chịu.
Khi thể vía ở tình trạng ổn định tương đối (sự nghỉ ngơi ổn định tuyệt đối không bao giờ có ở đó), những màu sắc người ta thấy ở nó chỉ rõ những cảm xúc thuộc thói quen của người chủ nó. Khi một cảm xúc mạnh gây ra từ bên ngoài được cảm thấy nơi thể vía thì cường độ của các rung động chế ngự một lúc thể vía. Nếu là lòng sùng đạo chẳng hạn, thì toàn thể thể vía nhuộm màu xanh da trời. Suốt thời gian cảm xúc mạnh đó còn tồn tại, thì xuyên qua màu da trời, người ta có thể thoáng thấy các màu sắc bình thường của nó. Muốn thấy các màu sắc bình thường tái lập lại, cường độ của cảm xúc phải dịu bớt. Sự co giật của cảm xúc, nếu tôi có thể nói như thế, sẽ có kết quả là sự tăng trưởng rõ rệt phần xanh dương của thể vía. Chung qui, nơi người có cảm xúc sùng đạo ấy thường xuyên thì thể vía của y có diện tích màu xanh dương rộng lớn.
Lòng sùng đạo thường đi đôi với lòng thành kính. Mặc dù các tư tưởng đó được cấu tạo ở cõi trí, chúng nó cũng nhuộm nhiều chất cõi vía. Vì thế, tác động của chúng được trông thấy ở hai cõi. Ở hai cõi cũng có các rung động của chúng. Thế nên người thành kính là một trung tâm sùng đạo có thể thu hút người xung quanh chia xẻ cả tư tưởng và tình cảm của y. Các nhận xét trên cũng đúng cho tất cả mọi trường hợp, trong tình thương, giận ghét hay một đam mê nào khác.
Nên để ý rằng thể trí bị kích thích một cách yếu ớt bởi thể vía. Tuy nhiên, thể vía này cũng cản bước hoạt động của thể trí tiến đến não bộ. Không phải vì thể trí bị động chạm, mà vì thể vía làm trung gian giữa thể trí và xác thân lại bị rung động quá tầm, nên nó không thể chuyển đạt những tốc độ rung động không phù hợp với nó.
Các màu sắc thường xuyên của thể vía tác động trên thể trí. Chúng nó tự lập lại trên thể này với những sắc thái tương ứng nhưng trên bát độ cao hơn, y như một âm thanh tự lập lại trên bát độ cao. Thể trí tới phiên nó lại tác động trên nhân thể (thượng trí). Nhờ vậy, những tính tốt từ các thể thấp đưa lên đều trú ngụ vĩnh viễn ở thượng trí. Còn về các tật xấu thì không giống như vậy, vì các rung động của nó không truyền đạt được vào chất khí cao của thượng trí.
Từ trước đến đây, tôi đã mô tả các thể làm vật chuyển vận các biểu lộ của chơn nhơn ở các cõi riêng biệt. Các thể ấy chơn nhơn tự tạo, tự cung cấp cho mình. Còn ở cõi trần, thể xác được cung cấp cho nó bởi định luật thiên nhiên mà tôi sẽ trình bày sau này. Nếu phải kể thể xác như một biểu hiện của chơn nhơn, thì nó không phải là một biểu hiện hoàn toàn.
Cái mà chúng ta thấy bằng mắt chỉ là một phần của xác thân. Ðó là phần cấu tạo bởi các tiểu phần hay các cảnh đặc và lỏng của vật chất hữu hình.. Thể xác còn chứa chất của bảy tiểu phần tất cả. Mỗi chất của bảy cảnh ấy đều có vai trò và sự ích lợi trong đời sống của thể xác.
Phần kia thì vô hình, mắt thường không thấy được. Chúng tôi gọi nó là cái phách hay xác thân thứ hai. Ta gọi là thứ hai vì phần này có hình dạng và kích thước giống y như phần vật chất ta thấy được. Nó được cấu tạo bởi các chất dĩ thái : chất này tinh vi hơn vật chất hữu hình, những rung động của nó truyền ánh sáng vào võng mạc của mắt ta. (Chúng ta đừng lầm chất dĩ thái này với dĩ thái tinh vi hơn của không gian mà ta gọi là chất hư không). Phần vô hình này của thể xác rất có ích cho chúng ta. Một mặt, nó làm trung gian chuyển đến thể xác hữu hình các sinh lực thiên nhiên để nuôi thể xác, mặt khác, nó chuyển đến thể xác các rung động của thể vía và thể trí. Không có nó, chơn nhơn không thể sử dụng các tế bào của bộ óc.
Trong đời sống, thể xác phải chịu nhiều thay đổi liên tục. Người ta phải cung cấp cho nó lương thực để tiêu hóa, không khí để nó thở và sinh lực để nó hấp thụ. Do thực chất của nó, sinh lực là một sức mạnh. Khi sinh lực được bao phủ bằng chất khí của cõi nào thì nó hoạt động ở cõi ấy. Bây giờ, chúng ta chỉ chú trọng đến sức mạnh của sinh lực ở tiểu phần cao nhất của cõi trần. Giống như máu chảy trong các mạch, sinh lực lưu thông theo các dây thần kinh. Một bất thường nhỏ mọn nào về hấp thụ hay lưu thông sinh lực cũng gây ra ở các phần tế nhị của cơ thể những tai biến giống như các tai biến xảy ra khi máu lưu thông không bình thường.
Sinh lực phát xuất từ mặt trời. Khi một nguyên tử căn bản hồng trần mang đầy sinh lực, nó hút vào quanh nó sáu nguyên tử khác lập thành một nguyên tố dĩ thái. Sinh lực đầu tiên chia ra làm bảy và mỗi nguyên tử chứa một phần. Trong thân thể con người, phần dĩ thái của lá lách có phận sự hấp thụ nguyên tố dĩ thái vừa cấu tạo. Các phần sinh lực trong nguyên tố liền phân tán ra và tiến vào các vùng nào của cơ thể cần đến nó.
Lá lách là một trong bảy trung tâm sinh lực thuộc về phần dĩ thái của cơ thể. Trong mỗi thể của chúng ta, bảy trung tâm như thế phải hoạt động. Chỉ người đã mở thần nhãn mới thấy được điều này. Chúng nó xuất hiện trước mắt y như những luồng trốt xoáy nhẹ và nhờ đó sinh lực các thể cao mới nhập được vào thể thấp hồng trần. Trong xác thể hồng trần này có bảy trung tâm sinh lực : 1 - ở phần chót xương sống; 2 - ở tùng thái dương nằm gần rún; 3 - ở lá lách; 4 - ở trên trái tim; 5 - ở cuồng họng; 6 - ở giữa hai chơn mày; 7 - ở đỉnh đầu. Ngoài bảy trung tâm vừa kể, có những trung tâm tiềm tàng mà sự khởi dậy không tốt.
Hình dạng của các thể cao do những người có thần nhãn trông thấy đều có hình bầu dục như cái trứng; nhưng các chất cấu tạo chúng không phân chia vị trí như ở cái trứng. Ngay chính giữa là thể xác. Thể xác hút các chất của thể vía, thể vía lại hút các chất của thể trí. Ðiều đó giải thích tại sao các chất của thể vía và thể trí đều phần lớn tập trung ở thể xác. Nếu ta quan sát thể vía ở cõi riêng biệt của nó, ta thấy các chất vía đều tập trung nơi thể xác và có hình dạng giống y thể xác. Ðành rằng chất nó lỏng hơn và cho cảm giác như một đám sương mù dày đặc bao phủ bởi đám sương khác tinh vi hơn. Một hiện tượng giống như thế cũng được trông thấy ở thể trí. Vì vậy, khi ta gặp một người bạn ở cõi vía hay cõi trí, ta nhìn nhận ra được hắn liền giống như ở cõi trần.
Tóm tắt, đây là sự cấu tạo thật sự của con người; trước hết là một Chơn thần hay Ðiểm Linh Quang của Thượng Ðế. Kế đó là một Chơn nhơn, tức là một biểu lộ của Chơn thần được tạo ra với mục đích tiến hóa bằng nhiều giai đoạn và có thể trở về hợp nhất với Chơn thần khi mang theo các đức tính đã đạt được nhờ kinh nghiệm kết tinh. Sau đó là một phàm nhơn, tức là sự biểu lộ từng phần của chơn nhơn ở các cõi thấp. Chữ personnalité là phàm nhơn do tiếng la tinh persona là cái mặt nạ. Có phải phàm nhơn là cái mặt nạ mà chơn nhơn phải mang để biểu hiện ở các cõi thấp? Chơn nhơn là một phần nhỏ và là một biểu hiện không trọn vẹn của chơn thần như thế nào thì phàm nhơn là một phần nhỏ và là một biểu hiện không trọn vẹn của chơn nhơn như thế ấy. Nói tóm lại, cái mà chúng ta gọi là một người, chỉ là một phần của một phần mà thôi.
Phàm nhơn phải mang ba thể : thể trí, thể vía và thể xác. Khi con người còn gọi là sống và còn tỉnh táo ở trên mặt địa cầu, y bị hạn chế bởi xác thân. Y dùng thể vía và thể trí như những trung gian để liên lạc với thể xác. Một bằng chứng hay nhất để chứng tỏ rằng thể xác bị hạn chế là điều sau đây. Xác thân này dễ mệt mỏi và cần nghỉ ngơi từng chập. Mỗi đêm, con người ngủ và tự rút vào thể vía; thể này không bao giờ mệt mỏi nên nó không cần nghỉ ngơi. Khi con người ngủ, y hoạt động ít nhiều tự do trong thể vía tùy theo mức độ phát triển tiến hóa của y. Như vậy, vía của người dã man ít tiến hóa chỉ rời xác thân chừng vài dặm và chỉ giữ ý thức mơ màng về trạng thái xuất vía của mình. Người tiến hóa thì thường thường có thể đi du lịch bằng thể vía đến bất cứ nơi nào y muốn. Y có nhiều ý thức hơn người dã man. Tuy nhiên, sau khi thức giấc, y thường không nhớ rõ điều y đã thấy hay điều y đã làm trong cõi trung giới. Ðôi khi, y nhớ một sự việc tình cờ làm cho y chú ý, một kinh nghiệm làm cho y phát triển. Y diễn tả trạng thái này và y cho rằng y nằm mộng thấy rõ rệt và đúng như thật... Nhưng thường thường các ký ức đó rối nùi, trong đó có xen lẫn cái nhớ mang máng của đời sống hằng ngày và các cảm xúc phát ra ngoài từ cái phần dĩ thái của não bộ y. Ðó là phần nhiều các giấc mộng vô lý và mơ hồ. Người thật tiến hóa cũng hoạt động và có ý thức ở cõi vía cũng như ở cõi trần khi y thức. Y nhớ tất cả những gì y thấy và việc y đã làm ở cõi vía. Cuộc đời của y không còn đứt đoạn nữa và trôi lướt đủ hai mươi bốn trên hai mươi bốn giờ mỗi ngày hoàn toàn có ý thức. Y luôn luôn như vậy trong đời sống hồng trần và cả sau khi bỏ xác thân nữa.
DaoKy
07-02-2005, 10:07 PM
Thông thiên học lược giảng
Tác giả C. W. LEADBEATER
TSCÐGL Online Tây Ðức đưa tài liệu vào internet từ Hội Thông Thiên học Việt Nam tại Hoa Kỳ
CHƯƠNG SÁU
SAU CÁI CHẾT
Chết là bỏ thể xác. Sự cởi một cái áo ngoài đối với thể xác như thế nào thì sự chết đối với chơn nhơn cũng thế. Sau khi rời bỏ xác thân, chơn nhơn tiếp tục sống trong thể vía cho đến chừng nào sức mạnh của các cảm xúc và đam mê trong đời sống vật chất khô cạn. Chừng đó mới xảy ra cái chết thứ nhì. Chơn nhơn lột bỏ thể vía và sống trong thể trí, nơi cõi hạ trí. Sự sống ấy kéo dài đến chừng nào các tư tưởng của đời sống hữu hình và sức mạnh của trí khôn mòn hẳn. Cuối cùng, chơn nhơn từ bỏ thể thứ ba (tức thể hạ trí) để sống trong cõi chính của mình và ngụ trong thượng trí hay thể nhân quả.
Như vậy, không có gì giống như chúng ta quan niệm về cái chết cả. Thật ra, đời sống chúng ta có tính cách tuyệt đối liên tục gồm một loạt ba giai đoạn kế tiếp trong ba cõi. Sự phân chia thời gian sống trong ba cõi ấy thay đổi tùy theo trình độ tiến hóa của mỗi người. Người cổ sơ, hoang dã sống gần hoàn toàn trong thể xác và chỉ sống vài năm trong thể vía ở cõi trung giới, sau mỗi đời sống ở cõi trần. Lần lần, y phát triển chút ít, đời sống của y được dài thêm. Sau đó, khi trí thông minh được dần dần nảy nở, khi y có thể có một số tư tưởng, suy nghĩ, thì y có thể sống một thời gian ngắn ở cõi trí. Người của các giống dân thông minh sống lâu trong thể trí hơn trong thể vía hay thể tình cảm. Tóm lại, có thể nói rằng người càng tiến hóa càng sống lâu trong thể trí hơn trong thể vía.
Ðời sống bằng thể vía ở cõi trung giới là kết quả toàn bộ những tình cảm còn nhuộm màu ích kỷ. Lòng ích kỷ càng nặng thì đời sống trong thể vía càng thê thảm. Trái lại, nếu các tình cảm tốt và nhân hậu mặc dù còn mang tính cá biệt, thì đời sống ở trung giới tương đối dễ chịu hơn, nhưng cũng còn hạn chế nhiều. Ðối với hoài bão và tư tưởng hoàn toàn vị tha, chơn nhơn hưởng những hậu quả tốt và chỉ sống ở cõi trí mà thôi. Ðời sống ở cõi này hoàn toàn hạnh phúc. Ðời sống trong thể vía thê thảm hay dễ chịu tương ứng với cõi luyện tội của Thiên Chúa Giáo. Còn đời sống hạnh phúc ở cõi trí tương ứng với cõi thiên đàng của họ.
Như vậy, con người tự tạo ra địa ngục hay thiên đàng. Ðó chỉ là những trạng thái tâm thức riêng biệt, chớ không phải là những nơi chốn, những địa giới theo quan niệm thường tình chấp nhận. Ðịa ngục chỉ là sự tưởng tượng, sự bày đặt của thần học. Nói cách khác, là không có địa ngục. Tuy nhiên, một đời sống vô trật tự và quái đản sẽ dẫn đến một trạng thái địa ngục thảm sầu và lâu dài nhưng không đời đời, vì cả thiên đàng lẫn địa ngục không cái nào đời đời, vĩnh cữu cả. Thật vậy, một nhân hữu hạn không bao giờ dẫn đến một quả vô hạn cả. Về điểm này khó mà đưa ra những con số chính xác. Có quá nhiều khác biệt giữa đời sống của các cá nhân, nếu chúng ta cho những con số, chắc chắn phải phạm nhiều lầm lạc. Dưới đây, chỉ là cái nhìn đại cương để chúng ta có một ý niệm về vấn đề này mà thôi. Ðối với người bậc thấp của giai cấp trung bình, như người buôn bán nhỏ, người giúp việc thương mãi, đời sống trung bình trong thể vía của họ ở cõi trung giới khoảng bốn mươi năm, đời sống trong thể trí của họ chừng hai trăm năm. Còn người có tâm linh khá và trình độ văn hóa khá thì đời sống của họ chừng hai mươi năm ở trung giới và một ngàn năm ở cõi trí. Sau rốt, người tiến hóa đặc biệt, có thể giảm đời sống ở trung giới chừng vài ngày hoặc vài giờ, rồi trú ngụ ở cõi trí lối một ngàn năm trăm năm.
Ngoài thời gian ở hai cõi khác nhau, điều kiện sống ở hai cõi ấy còn khác nhau một cách rõ rệt. Có một sự kiện mà chúng ta không thể bỏ qua là sinh lực của những chất cấu tạo các thể. Thể xác được cấu tạo bởi các tế bào; mỗi tế bào có một sự sống riêng biệt. Các tế bào ấy hoạt động được là nhờ luồng sinh lực thứ nhì của Ngôi Hai của Ðức Thượng Ðế. Chúng có nhiều loại và nhiều chức năng khác nhau : có biết bao nhiêu công việc tự thực hiện trong thể xác nếu con người muốn biết và muốn giữ gìn sức khỏe.
Những điều quan sát như trên cũng áp dụng cho thể vía và thể trí. Trong đời sống tế bào của các thể ấy chưa có gì để so sánh với trí khôn. Chỉ có một bản năng mạnh mẽ thúc đẩy cuộc sống của chúng theo hướng tiến bộ của chúng. Sức sống đem lại sự hoạt động các chất trong thể vía và thể trí còn ở vòng cung ngoài của sự tiến hóa. Sức sống này di chuyển từ trên xuống dưới hay từ trong ra ngoài, bằng cách nào để nó có thể hạ xuống các thể đông đặc; nhờ đó nó mới tự biểu lộ ra được. Nhưng sự tiến bộ của con người hoàn toàn đi ngược lên. Thật thế, sau khi chìm sâu vào vật chất, con người tự giải thoát bằng cách đi lên để trở về nguồn nguyên thủy. Những trạng thái mâu thuẩn ấy làm nảy sinh xung đột giữa nội tâm và sự sống của các thể khác nhau. Vì thế, đời sống của các tế bào có khuynh hướng đi xuống, còn con người thật có khuynh hướng đi lên để trở nên hoàn thiện.
Chất của thể vía (hay đúng hơn là sự sống làm linh hoạt các phân tử của nó) đòi hỏi cho sự tiến bộ của nó các rung động càng sai biệt và càng thô trược càng tốt. Người ta biết rằng sự sống ấy sẽ làm linh hoạt thể xác ở giai đoạn tiến hóa tới. Nó cần phải làm quen với các rung động chậm của vật chất hữu hình. Muốn được như vậy, nó phải tìm các rung động thật chậm của thể vía trước. Nó làm như vậy không phải do trí khôn mà là do bản năng giúp nó tìm cách dễ nhất để tạo vật chất hữu hình.
Cũng như các phân tử của thể xác, các phân tử của thể vía thay đổi luôn luôn. Tuy nhiên, sự sống trong khối phân tử tình cảm đó có một ý thức, mặc dù còn mơ hồ, để lập thành một toàn thể, một thứ thực thể tạm thời. Nó không biết nó là thành phần của thể vía và không ý thức được thế nào là một con người. Nó phỏng đoán các điều kiện hiện hữu giúp nó thu nhận những rung động vừa nhiều vừa mạnh hơn là khi nó bay lang thang trong khí quyển. Như vậy, các tia bức xạ của đam mê và cảm xúc chạm đến nó; bây giờ nó ở trung tâm các rung động đó, nhận được tất cả từ rung động yếu đến rung động thật mạnh, không sót một cái nào. Do đó, nó có cảm giác đang ở vị trí tốt nhất và cố gắng giữ vị trí mà nó chiếm được ấy. ? d?y, nó tiếp xúc với một yếu tố tinh vi hơn nó; đó là chất khí của thể trí. Nó trực hiểu rằng, nếu nó kéo được chất ấy liên kết với nó thì những làn rung động của nó sẽ thật mạnh và sẽ kéo dài thật lâu.
Như chúng ta biết, chất vía vận chuyển các ham muốn, chất trí vận chuyển các tư tưởng. Các bản năng ấy (nếu chúng ta có thể gọi như thế) sẽ hoạt động cách nào để khi thể vía thuyết phục chúng ta đồng ham muốn như nó thì không bao giờ tránh khỏi bị cái vía lôi cuốn chúng ta vào ham muốn của nó. Như vậy, con người bị một áp lực chậm mà có phương pháp, đưa chúng ta đến lòng ham muốn không nhàm chán hay một xúi giục làm điều bỉ ổi, xấu xa. Nếu nó có khuynh hướng nhục dục, nó sẽ đưa ta đến đường thấp hèn, bẩn thỉu. Nếu nó có khuynh hướng hung tợn, nó sẽ đưa ta vào đường nóng giận.
Người chưa hiểu rõ tầm quan trọng của các định luật trên sẽ mắc vào một trong hai sai lầm sau đây. Một là y sẽ nghĩ lầm rằng sự cám dỗ do bởi bản chất xấu của y. Hai là y sẽ tưởng tượng áp lực làm quấy do bởi ma quỉ từ bên ngoài đưa đến. Chơn lý nằm ở giữa hai điều đó. Aùp lực là lẽ tự nhiên bình thường, không đối với người, mà chỉ đối với thể vía của y sử dụng. Ham muốn là bình thường và chính đáng của thể vía, nhưng cái đáng buồn là con người không biết chống lại nó. Nếu trái lại, y chống đối những cảm xúc đã gợi ra thì sẽ xảy ra sự kiện sau đây : các phần tử đòi hỏi những rung động thấp hèn sẽ uể oải vì thiếu chất dinh dưỡng; chúng gầy mòn và rời bỏ thể vía vì không hạp nữa. Chúng được thay thế bằng các phần tử có những rung động đồng nhịp với những gì con người chấp nhận cho vào thể vía y.
Ðó là điều giải thích cái mà người ta gọi là những gợi ý hay cám dỗ của chất thấp. Khi con người không chống cự quyết liệt các cám dỗ ấy, thì chúng sẽ tăng cường nơi y đến khi y không còn có thể chế ngự hay ngăn cản chúng được nữa. Cuối cùng, y tự đồng hóa với chúng và làm thỏa mãn một đời sống kỳ dị của một phần thể vía.
Khi ta bỏ xác (gọi là chết) trạng thái yếu ớt của tâm thức trên được báo động. Nó nhận ra đời sống của nó bị đe dọa vì là một khối rời rạc. Nó chuẩn bị để tự vệ và giữ vị trí của nó càng lâu càng tốt. Nó liền chiếm lấy các phần của thể vía và sắp xếp các phần ấy thế nào để chống lại các xâm nhập. Như vậy, thể vía biến thành một cái vỏ; ở phía ngoài có các phần thô trược, nặng đặc, và ở bên trong xếp lớp các phần khác thành nhiều lớp đồng tâm, lớp thanh nhẹ nhất ở tận bên trong. Lúc ấy toàn bộ thể vía có thể chống đỡ các cọ sát bên ngoài cho tới chừng nào sự cấu tạo của nó có thể được. Như vậy, thể vía có thể giữ hình dạng của nó càng lâu càng tốt.
Tất cả các căn nguyên ấy tạo cho con người nhiều hậu quả khó chịu. Sinh lý học của thể vía hoàn toàn khác với sinh lý học của thể xác. Trước hết, thể xác nhận từ bên ngoài các cảm giác nhờ những cơ quan đặc biệt, gọi là ngũ quan, còn thể vía không có giác quan nào cả. Thí dụ trong thể vía, cái tương ứng với thị giác của thể xác là khả năng mà các phần tử vía đáp ứng những kích thích từ bên ngoài, từ những phần tử giống chúng nó. Cho nên, vì con người có trong thể vía của mình tất cả các chất thuộc các cảnh của cõi trung giới, nên cái vía của y có thể thấy các vật do các cảnh ấy cấu tạo.
Bây giờ, tôi giả thiết trong cõi trung giới có một vật cấu tạo bởi chất của cảnh thứ nhì và thứ ba. Chắc chắn rằng vật đó chỉ có thể thấy được bởi người nào có ở bề mặt của thể vía y những phần tử nhỏ thuộc các cảnh thứ nhì và thứ ba. Chỉ riêng những phần tử nhỏ này mới có khả năng nhận và ghi các rung động phát ra từ vật vừa kể.
Trái lại, người nào vì có một tâm thức mơ màng, khi chết bỏ xác như ta thấy ở trước, lại để cho cái vía của y tự xếp lớp các chất cấu tạo nó thành nhiều lớp đồng tâm, chất nặng trược ở bên ngoài thì y không thấy vật kể trên. Cũng giống như mắt vật chất của chúng ta không thấy không khí và các chất dĩ thái.
Trong đời sống hồng trần, các chất của thể vía chuyển động liên tục. Sự chuyển động này có thể so sánh với sự chuyển của các phân tử nước đang sôi. Như vậy, đủ loại các chất của thể vía đều có thể luôn luôn ở mặt ngoài. Nhờ vậy, khi con người sử dụng thể vía lúc y ngủ, y có thể thấy các vật ở cõi trung giới.
Sau khi chết, rất tiếc là phần đông con người vì dốt nên để cho hiện tượng xếp lớp của thể vía xảy ra, đưa họ vào điều kiện khác hơn lúc ngủ. Lúc đó, bề mặt ngoài của thể vía y gồm toàn những chất thấp hèn, nặng trược. Như vậy, y chỉ nhận được các kích thích nặng trược từ bên ngoài. Do đó, thay vì y có thể chiêm ngưỡng tất cả các cảnh vật quanh y ở trung giới, y chỉ thấy được vật ở cảnh thứ bảy là cảnh trọng trược nhất trong bảy cảnh của trung giới. Ở cảnh ấy, các rung động nặng trược chỉ biểu lộ các cảm xúc đáng trách mà người ta có thể xếp vào hạng các thực thể trung giới kém nhất. Rõ ràng là ở điều kiện như vậy, con người chỉ gặp những dân cư kém tiến hóa nhất của trung giới và chỉ nhận những ảnh hưởng khốc hại và tầm thường mà thôi.
Người ấy bị bao quanh bởi những kẻ mà thể vía có bẩm tính tầm thường. Y chỉ thấy và cảm nhận những cái gì nặng trược, thấp hèn ở những kẻ ấy, và những kẻ ấy tự biểu lộ trước y như những quái vật không còn cách gì cứu rỗi được. Thậm chí, các bạn của y cũng khác khi trước và cũng dễ hiểu, là bởi vì giờ đây y không còn thấy ở các bạn ấy những đức tính tốt nữa. Không lạ gì khi y cho cảnh trung giới ấy là địa ngục. Lỗi lầm này không phải của cõi vía mà là của chính y. Trước hết, y để dung dưỡng các chất nặng nề, sau đó y để một tâm thức mơ hồ thống trị y và rốt cuộc y để cho thể vía tự xếp lớp.
Người nào đã nghiên cứu học hỏi các vấn đề trên đều tuyệt đối cố gắng chống lại áp lực các chất vía khi còn sống và không cho thể vía tự xếp lớp sau khi chết. Chỉ như thế y mới có đủ năng lực thấy trọn các cảnh của cõi vía, chớ không phải chỉ thấy các cảnh thấp hèn ô trược của cõi này.
Cõi trung giới của thể vía có nhiều điểm giống cõi hạ giới của thể xác. Cũng như cõi trần, cõi trung giới có nhiều trạng thái khác nhau tùy người và tùy từng giai đoạn sống. Nó là trụ sở của cảm xúc và của những tư tưởng thấp hèn. Các cảm xúc cũng tác động mạnh mẽ ở cõi ấy hơn ở cõi trần. Nơi một người đang thức tỉnh, phần lớn các cảm xúc ta khó thấy được, vì tất cả sức mạnh của nó đều huy động để kích thích phần đông đặc của bộ não. Bởi thế, ở cõi trần này, ta khó đánh giá đúng mức một tình thương chẳng hạn. Vì ta chỉ thấy phần nhỏ còn lại của tình thương, sau khi phần lớn được huy động để kích thích bộ não. Như vậy, cảm xúc nó rất mạnh ở cõi vía hơn ở cõi trần. Nếu ta chủ trị được chúng thì chúng không thể loại trừ các tư tưởng thanh cao. Do vậy ở cõi vía, ta có thể nghiên cứu học hỏi, giúp ích đồng loại như ở cõi trần hoặc không hoạt động gì cả và đi lang thang không mục đích.
Cõi trung giới của thể vía trải rộng đến khoảng cách trung bình của quỉ đạo mặt trăng. Người nào sau khi chết không để cho cái vía tự xếp lớp đều có thể chu du khắp trung giới. Nhưng phần lớn dân cư cõi này không ở cách xa mặt đất bao nhiêu. Các chất ở các cảnh của cõi này đều xuyên thấu qua nhau một cách tự do. Nhưng tổng quát, chất nặng đặc có khuynh hướng rõ rệt tập trung vào trung tâm. Ðiều đặc biệt này giống như hiện tượng mà người ta quan sát được ở trong chai chứa nước có nhiều chất có tỉ trọng khác nhau đang lơ lửng. Chừng nào nước còn xao động, các chất lơ lửng còn lẫn lộn nhau luôn. Nhưng người ta vẫn thấy ở đáy chai có tích tụ phần lớn các chất nặng. Tóm lại, mặc dù chúng ta không coi các cảnh của cõi trung giới xếp lớp như các lớp trong củ hành, ta cũng phải nhìn nhận rằng cõi trung giới có đặc tính gần như vậy.
Các chất cõi vía đi xuyên qua cõi trần y như là cõi này không có. Nhưng các tiểu phần hay các cảnh của cõi trần hút mạnh các chất tương ứng của cõi vía. Cho nên các vật thể ở cõi trần đều có thể vía cả. Chúng ta lấy một cái ly và đặt nó lên bàn. Cả cái ly và cái bàn hữu hình đều bị chất vía của cảnh thấp nhất xuyên qua. Nước là chất lỏng bị xâm nhập bởi chất lỏng của thể vía, nghĩa là chất của cảnh thứ sáu của cõi trung giới. Còn không khí bao quanh hai vật lại bị chất của cảnh thứ năm trung giới xâm nhập. Nhưng, cả không khí, nước, cái ly và cái bàn đều thấm nhuần bởi chất tế nhị hơn nữa mà chúng ta gọi là dĩ thái hồng trần (có bốn loại dĩ thái hồng trần ở cảnh thứ tư, thứ ba, thứ nhì, thứ nhất của cõi trần). Nên để ý rằng chất của cảnh thứ bảy nặng nhất của cõi vía cũng ít đông đặc hơn chất nhẹ nhất của dĩ thái ở cảnh thứ nhất của cõi trần.
Sau khi chết, con người qua cõi vía, nếu y không để cho thể vía tự xếp lớp thì y không để ý chút nào đến sự khác biệt với lúc y còn thể xác. Y có thể đi đi lại lại theo các hướng và tùy ý. Nhưng y thích trú ngụ gần nơi y đã sống trước đây. Y có khả năng thấy nhà, phòng, bàn ghế, thân quyến và bạn bè của y. Các người còn sống, vì không tin, không biết có các cõi trên tưởng rằng họ đã mất trọn vẹn người vừa bỏ xác. Trái lại, người chết không bao giờ có cảm giác là họ không còn sống, mặc dù trong chốc lát.
Trong thể vía, con người không thể phân biệt được thể xác của những người thân. Nhưng y thấy rõ thể vía của họ, vì các thể vía này giống hệt như các thể xác. Chừng đó, y mới nhận ra sự hiện diện của các bạn y. Mỗi người bạn ấy dường như bị bao phủ bởi một lớp sương mù hình quả trứng sáng ngời. Nếu y có chút ít khả năng quan sát, y sẽ thấy có nhiều thay đổi nhỏ chung quanh y. Y biết chắc chắn rằng y không được đưa lên thiên đàng hay đày xuống địa ngục nào, mà vẫn còn tại cõi trần, còn liên lạc với những gì mà y từng quen thuộc ở đây, mặc dù dưới một khía cạnh khác trước.
Người chết thấy rõ thể vía của người sống, nên y chưa tin rằng y đã xa lìa họ. Nhưng y không gây nơi họ một ảnh hưởng nào cả lúc họ đang thức, vì lúc đó, tâm thức của họ đang hoạt động ở cõi trần và thể vía của họ chỉ làm phận sự trung gian mà thôi. Người chết không thể giao thiệp với những người sống và cũng không đọc được tư tưởng cao siêu của họ. Nhưng trái lại, y có thể biết các cảm xúc của họ nhờ sự thay đổi màu sắc trong thể vía của họ. Với một chút quan sát và thực hành, y có thể đọc dễ dàng các tư tưởng của họ, nếu những tư tưởng này có màu sắc ích kỷ hay ham muốn.
Trong lúc người sống ngủ, sự việc diễn tiến một cách khác hẳn. Trong lúc đó, họ ý thức trong cõi vía, họ sống bên cạnh người chết và có thể tiếp xúc với y như lúc cả hai đang còn ở cõi trần. Các cảm xúc của người sống kích thích mạnh người chết khi người chết còn thương yêu người sống. Nếu người sống có chuyện buồn phiền thì người chết đau khổ nhiều.
Sau khi chết, số khác biệt các điều kiện sống gần như vô tận. Nhưng người nào rán nghiên cứu và học hỏi về cõi vía đều có thể xác định chúng. Tính chất ấy không thay đổi bởi cái chết. Các tư tưởng, các cảm xúc và các điều ham muốn đều giống y như lúc còn sống. Con người còn y như trước, trừ thể xác. Hạnh phúc hay đau khổ của y bị ảnh hưởng bởi sự mất thể xác. Nếu các hoài bão của y chỉ biểu lộ nhờ thể xác thì y đau khổ nhiều. Một dục vọng vào loại đó biểu lộ bằng các rung động của thể vía. Nhưng lúc ta còn sống, phần lớn các rung động ấy được sử dụng để kích động các phần nặng nề của thể xác. Bây giờ không còn thể xác, tất cả sức mạnh của rung động đều tập trung vào thể vía. Như vậy, nếu con người không quen chế ngự chúng và nếu y không thỏa mãn chúng thì trong đời sống ở cõi trung giới của y sẽ kéo dài và đau khổ nhiều.
Muốn dễ hiểu, chúng ta lấy thí dụ của một người vô độ và ham mê tình dục. Khi còn xác thân, các tật xấu ấy chế ngự lý trí, lẽ phải, danh dự và tình thương gia đình. Sau khi chết, ở cõi vía, các thèm muốn của người ấy còn nguyên và y không làm sao thỏa mãn chúng được vì không còn xác thân. Ðời sống như thế ở trung giới quả là địa ngục. Thật ra, chỉ có địa ngục duy nhất đó mà thôi. Không ai hành phạt y cả; y gặt hái kết quả của những hành động của chính y. Lần lần, sức mạnh của các dục vọng càng ngày càng hao mòn sau nhiều đau khổ; đối với tội nghiệp này một ngày dài bằng ngàn năm. Y không ý niệm được thời gian như chúng ta ở cõi trần. Chính những cảm xúc của y cho y ý niệm về thời gian. Quan niệm phạm thượng về địa ngục đời đời là biến chất của các vía vừa kể.
Cũng có những trường hợp khác ít cực đoan hơn, trong đó có một thèm khát không thỏa mãn được biến thành một dày vò. Thí dụ trường hợp của người không có thói xấu đặc biệt, như vô độ trong ăn uống hay ham mê tình dục, nhưng lại gắn bó với mọi vật ở thế gian và phung phí thời giờ vào việc lặt vặt hay vào đời sống phóng túng không mục đích. Ðối với y, đời sống ở cõi vía là đau khổ. Những điều hạp với sở thích không còn nữa. Mặc dù các bạn bè thân thích vẫn còn, xã hội hoàn toàn đổi khác, không còn muôn việc tầm thường ở thế gian.
Tuy nhiên, đó chỉ là một số trường hợp ngoại lệ. Ðối với phần đông con người, đời sống bên kia cửa tử sung sướng, hạnh phúc hơn ở cõi trần rất nhiều. Cảm giác đầu tiên mà người chết hưởng được là một sự tự do lạ lùng và tuyệt diệu. Không có gì khuấy rầy y cả, không có phận sự chi phải làm, ngoài phận sự mà y tự lựa chọn cho mình. Trừ vài ngoại lệ, con người đặt tất cả đời sống hồng trần của mình vào các hoạt động nhiều khi trái ngược với sở thích và hoài bão của mình để chu toàn những nhu cầu của chính mình và của gia đình. Ðời sống ở cõi vía không có một nhu cầu nào hết. Thể vía không cần ăn uống, che mưa che nắng gì cả, vì sự nóng và sựï lạnh không ảnh hưởng đến nó. Do cách vận động của tư tưởng, mỗi người tự che ấm tùy sở thích. Lần đầu tiên từ tuổi ấu thơ, con người mới được hoàn toàn tự do sử dụng trọn thời giờ của mình để làm điều gì mình thích.
Những sự vui chơi bất cứ loại gì ở cõi này đều gia tăng rất nhiều; trừ trường hợp cần một thể xác để biểu lộ. Nếu có người thích các cảnh đẹp thiên nhiên, y có thể đi du lịch với một tốc độ mau lạ lùng mà không biết mệt nhọc; y đi khắp mọi nơi để thưởng ngoạn các phong cảnh tuyệt diệu nhất và thám hiểm những nơi chưa từng biết. Nếu y say mê nghệ thuật, những tác phẩm lừng danh đều sẵn sàng để y sử dụng. Nếu y thích âm nhạc, cũng không có gì ngăn cản y đến nơi hòa nhạc; y sẽ thưởng thức nhiều hơn, tốt hơn và đánh giá đúng hơn là khi y còn sống. Mặc dù y không còn nhận được các âm thanh hữu hình, nhưng y cũng có thể nhận các hiệu quả của âm nhạc, nó kích thích y nhiều hơn và rộng rãi hơn trước. Nếu khoa học hấp dẫn y, y có thể đến viếng các nhà thông thái danh tiếng nhất hoàn cầu và lượm lặt những tư tưởng cùng ý hướng của họ. Vã lại, không có gì cản trở y tìm tòi nghiên cứu khoa học ở cõi vía và đạt được những thành tựu rất có hiệu quả mà y chưa bao giờ làm được. Cuối cùng, người có niềm hạnh phúc thật sự là giúp ích đồng loại sẽ tìm được trong cõi vía một môi trường thênh thang để thực hiện các hoạt động bác ái của mình.
Ở cõi vía, con người không còn đau khổ vì đói, lạnh hay bệnh hoạn gì hết. Nhưng người ta còn gặp một số đông người vô minh, không biết tình trạng của họ. Họ muốn học hỏi thì họ lại bị các dục vọng hồng trần dày vò. Họ cần sự giải thích để có thể giúp họ lên cảnh trên. Họ bị tấm lưới tưởng tượng của họ bao phủ và không biết làm thế nào phá ra được. Như vậy họ bị bắt buộc phải cần đến sự giúp ích của những người đã quen sống ở cõi vía, biết rõ cõi này và chỉ dạy cho họ những thực tại ở cõi vía, chỉ cho họ thấy điều sai lầm của họ. Các người khốn khổ ấy cần sự giúp ích của người có lòng tốt và sáng suốt. Có nhiều người đột nhiên bị đưa qua bên kia cửa tử hoàn toàn không biết chút gì về cõi trung giới. Họ vẫn tưởng là họ còn sống và khi biết rằng họ chết họ lại đâm ra sợ hãi số phận không thể tránh như đã mô tả bởi các giáo điều thần học sai lầm. Ở đây, sự nâng đỡ tinh thần với lời khuyến khích của người hiểu biết các định luật thiên nhiên rất cần cho họ.
Như vậy, những công việc hữu ích cùng sự không thiếu những người bạn đối với người có đời sống hữu lý ở cõi trần. Bởi vì, ở cõi trần hạgiới cũng như ở cõi trung giới, những người đồng sở thích, đồng hoài bão rất giống nhau và họ thường tụ họp lại với nhau. Vã lại, có rất nhiều vùng thiên nhiên bị che lấp bởi màn vật chất hồng trần lại hiện rõ trước mắt những người ưa thích nghiên cứu về chúng ở cõi vía.
Một cách tổng quát, có thể nói rằng mỗi người tự tạo cho mình môi trường sống và láng diềng ở cõi vía. Chúng tôi có lưu ý độc giả về bảy tiểu phần hay bảy cảnh của cõi vía. Nếu ta đếm chúng từ trên xuống, nghĩa là từ tế nhị đến nặng trược, chúng ta thấy nó chia làm ba loại; loại thứ nhất gồm cảnh nhất, nhì, ba; loại hai gồm cảnh bốn, năm, sáu; và loại ba gồm cảnh thấp nhất là cảnh thứ bảy.
DaoKy
07-02-2005, 10:08 PM
Như tôi đã nói, mặc dù các chất ở các cảnh, các cõi xuyên qua nhau, nhưng chúng tự sắp xếp theo tỉ trọng của chúng; nghĩa là chất càng tinh vi, càng nhẹ thì tràn xa khỏi địa cầu, còn chất càng trược, càng nặng thì chìm xuống dưới. Như vậy, không có gì lạ khi một dân sự ở cõi vía, mặc dù y có thể di chuyển lẹ làng đi khắp mọi nơi, lại có khuynh hướng cứ bay là đà ở mức tương ứng với tỉ trọng của các chất cấu tạo thể vía của y. Người nào sau khi chết, không để cho các chất của thể vía tự động sắp xếp theo bản năng thì không bị chi phối bởi các luật ở cõi vía. Trái lại, người nào để cho vía mình tự sắp xếp thì bị kẹt vào nhiều ngang trái. Không phải có cái gì cản họ vượt lên cao hay cản họ xuống thấp, nhưng vì họ chỉ nhận được các cảm xúc ở phần nhất định nào đó của cõi vía mà thôi.
Tôi đã có dịp trình bày tình trạng của người ở mức độ thấp, bị gò bó trong cái vỏ dày của vật chất. Vì tỉ trọng của chất này nặng hơn chất khác nên chỉ nhận được rất ít rung động hơn người ở bất kỳ cảnh nào khác. Trọng lượng của thể vía y có khuynh hướng đưa y bay là đà dưới mặt đất. Vật chất hữu hình của cõi trần không có đối với y. Y cảm thấy như bị hút một cách tự nhiên bởi chất vía ít tế nhị nhất; chất này chính là phần đối lập của chất rắn của địa cầu. Người ấy ẩn náu trong cảnh thấp nhất, rất tối tăm, xa cách với các người chết khác; vì các người này trú ngụ ở các cảnh cao hơn. Các cảnh thứ sáu, thứ năm và thứ tư của cõi vía tính từ dưới lên là nơi trú ngụ của phần lớn nhân loại sau khi bỏ xác. Các cảnh này là phần đối lập của cõi trần, có thể nói là sự lập lại của cảnh hữu hình. Nghĩa là trong cảnh thứ sáu đời sống giống như ở cảnh trần, trừ thể xác và các nhu cầu của nó. Nếu ta đi lên cảnh thứ năm rồi đến cảnh thứ tư, ta sẽ thấy đời sống ở đây bớt nặng trược và xa lần lần cõi trần cùng những quyền lợi xấu xa của nó. Cảnh thứ ba, thứ nhì và thứ nhất cho chúng ta cảm giác là chúng ta đã tiến lên xa cõi trần, mặc dù cùng chung một không gian. Các cảnh này tế nhị và thanh thoát hơn các cảnh thấp. Người ngụ ở các cảnh này không còn thấy địa cầu và các sự vật ở đó. Y thường sống bằng cách tự tập trung vào chính y và tự tạo láng diềng trực tiếp. Nhưng các người và vật chung quanh được cấu tạo ấy cũng khá khách quan để các người đồng mức độ và người có thần nhãn có thể thấy được.
Vùng này là Summerland (thế giới trường hạ), là xứ có mùa hè vĩnh viễn, là điều người ta thường nghe ở các hiệp hội thần linh học, là nơi mà dân cư có thể tạo nhà cửa, trường học, thành phố bằng sức mạnh tư tưởng của mình. Những vật này tuy giả tạo đối với chúng ta, nhưng rất thật đối với họ. Họ coi các nhà cửa, đền chùa hay nhà thờ ấy cũng thật có như xây cất bằng gạch đá của chúng ta. Rất nhiều người có đời sống thật dễ chịu khá lâu dài suốt nhiều năm trong nhà cửa của tư tưởng họ đã tạo ra như thế. Một vài phong cảnh được tạo dựng như vậy thật kỳ diệu. Ao hồ thơ mộng, núi non hùng vĩ, vườn chơi tốt đẹp vượt xa tất cả những cái ta có ở thế gian; nghĩa là ở đó không thiếu cái gì cả. Nhưng không phải luôn luôn như vậy và một vài hình tư tưởng có vẻ buồn cười đối với người có thần nhãn thành thạo (nghĩa là người đã tập nhìn sự vật đúng tình trạng của chúng), thí dụ các hình tư tưởng của người vô minh rán cấu tạo mà ta thường thấy các kinh sách mô tả một cách tượng trưng. Khi thể vía của người dân quê cấu tạo một hình tư tưởng con vật có con mắt bên trong hay một cái biển vừa trong vắt như pha lê vừa cháy rực như lửa; chắc chắn cái hình tư tưởng như thế thật kỳ quái đối với chúng ta nhưng lại thỏa mãn người tạo ra nó.
Cõi vía hay cõi trung giới đầy dẫy những hình ảnh và những phong cảnh được cấu tạo như thế. Người của mọi tôn giáo thường hình dung đức giáo chủ và thiên đàng của họ ở cõi này tùy theo quan niệm quen thuộc của họ. Họ được hoàn toàn hạnh phúc cho đến ngày họ lên cõi trí, nơi mà họ tự thấy tiến bộ hơn trên đường tìm chân lý.
Tất cả những người sau khi bỏ xác đã để cho thể vía tự sắp xếp các lớp của nó, thì như tôi đã nói ở trước, đều phải tiến qua các cảnh trung giới lần lượt hết cảnh thấp đến cảnh cao. Không vì vậy mà họ ý thức được hết các cảnh. Thể vía của người kém tiến hóa nhưng có nhân phẩm chỉ chứa đựng một số lượng rất ít chất của cảnh thứ bảy, nên không đủ để tạo một cái vỏ cứng và dày ở bên ngoài. Ở phần nhiều các trường hợp, chất của cảnh thứ sáu pha lẫn chất của cảnh thứ bảy; người chết có thể thấy phần đối lập của cõi trần.
Chơn nhơn rút lần vào trong và lần lượt bỏ các cảnh trung giới. Nhưng thời gian ở các cảnh ấy không đều nhau vì số lượng các chất trong mỗi lớp của thể vía không đều nhau. Chất của lớp nào càng nhiều thì phải ở lâu trong cảnh tương ứng ấy. Sự thành lập thể vía tùy thuộc vào đời sống hồng trần, vào các dục vọng và chót hết, vào các chất vía mà con người tự rút vào mình. Khi con người ở cảnh thứ sáu, giữa những nơi và những người quen thuộc, thì người có đức hạnh trung bình, lần lượt theo thời gian sẽ thấy người hồng trần chung quanh mờ dần và mất hết sự quan trọng đối với y. Y có ý tự tạo những bằng hữu thân thuộc phù hợp với tính chất tư tưởng của y. Khi y tiến lên cảnh thứ ba, đặc tính ấy cũng còn làm mờ tầm nhìn của y ở cõi vía.
Cảnh thứ nhì ít vật chất hơn cảnh thứ ba. Nếu cảnh thứ ba là thiên đàng của các nhà thần linh học thì cảnh thứ nhì là thiên đàng của phái Gia tô chính thống dốt nhất. Còn cảnh thứ nhất cao hơn cả, hình như dành cho những người mà trọn đời chỉ chú tâm vào công việc vừa vật chất vừa tinh thần, không phải với mục đích giúp ích đồng bào mà với mục đích làm thỏa mãn tham vọng cá nhân hay làm thỏa mãn trí tuệ. Nên thêm rằng, họ tưởng họ hoàn toàn được sung sướng. Về sau, khi họ có thể phê phán các điều cao siêu, họ sẽ đạt được trình độ cao hơn, giúp họ sống hài hòa hơn ở cõi trí.
Ở cõi trung giới, vía của những người chung một quốc gia và chung một quyền lợi trần gian đều tụ họp thành nhóm như ở hạ giới chúng ta. Thí dụ người mộ đạo nhiệt thành đã tự tạo một cõi trời riêng không tụ họp với những người khác đạo; vì những người này có ý tưởng hạnh phúc thiên đàng không hạp với y. Tuyệt nhiên không có gì cản trở sự đi đi lại lại của một người Thiên chúa giáo ở cảnh trời của người Bà la môn hay Hồi giáo. Nhưng ít khi họ làm như vậy, vì quyền lợi vàsự lôi cuốn đều thuộc về tôn giáo riêng của họ; nơi đó họ gặp những bạn bè cùng chia xẻ tín ngưỡng của họ. Ðừng bao giờ tin rằng những cảnh trời cấu tạo như thế là thật; đó chỉ là tưởng tượng mà thôi. Chúng tôi sẽ có dịp bàn lại cõi thiên đàng thật, khi chúng ta nghiên cứu cõi trí.
Người nào sau khi bỏ xác không để cho thể vía tự xếp lớp theo bản năng thì có thể tự do di chuyển trong cõi vía và đi đến bất cứ nơi nào tùy ý ở cõi ấy. Y sẽ thấy toàn diện các điều y quan sát khác hẳn các người chỉ thấy có một phần. Y không thấy có đông đảo dân chúng ở cõi vía. Vì cõi vía rộng rãi thênh thang hơn mặt đất nhiều và dân cư ở đây cũng không đông đảo.
Ở cõi này, dân cư không phải chỉ toàn là người đã bỏ xác, mà còn có cở một phần ba là thể vía của người đang ngủ. Hơn nữa, cũng có phần lớn dân cư không thuộc nhân loại. Có nhiều loài thấp hơn mà cũng có nhiều loài cao hơn nữa. Ðó là các loài tinh linh mà phần lớn ở cõi trung giới. Có nhiều loại cũng ở cõi trần, chúng mang thể cấu tạo bằng chất dĩ thái hồng trần vừa đúng ngay ở ranh giới của tầm nhìn mắt thịt thông thường. Những trường hợp ta gặp chúng không phải là hiếm. Người dân quê thường gặp chúng ở nơi hẻo lánh, trong kẹt núi, rừng hoang như ta thường thấy trong các thần thoại. Chúng có tên là tiên, là quỉ lùn, là thổ địa, là yêu quái, là thần.
Chúng hay thay đổi hình dạng. Thường thường chúng thích lấy hình người nhưng thu nhỏ lại. Vì chúng chưa có hồn riêng biệt, nên người ta có thể coi chúng như thú cầm dĩ thái hay thú cầm cõi vía. Trong hàng ngũ của chúng cũng có nhiều vị thông minh như nhân loại. Chúng cũng thuộc nhiều quốc tịch và nhiều kiểu người như chúng ta. Thường người ta chia chúng ra bốn hạng : thần đất, thần nước, thần gió và thần lửa. Chỉ có thần gió mới ở cõi vía; chúng đông đến nỗi bất kỳ ở đâu cũng có cả.
Một loài lớn khác cũng có mặt ở cõi vía. Ðó là các Thiên thần (Dévas). Sự tiến hóa của họ cao hơn loài người. Chỉ những vị nào ít tiến hóa nhất mới cư ngụ tại cõi vía; mức tiến hóa của các vị này có thể so sánh với mức tiến hóa của hạng con người tốt.
Nhân loại chúng ta không phải là dân cư duy nhất và quan trọng trong thái dương hệ. Có những đường tiến hóa khác cũng phát triển song song với đường tiến hóa của nhân loại; nhưng không trải qua giai đoạn nhân loại, mặc dù bị bắt buộc phải trải qua một trình độ tương đương với trình độ nhân loại. Một trong những con đường tiến hóa là đường tiến hóa của tinh linh vừa kể trên. Ở phía trên con đường này có con đường rộng lớn của thiên thần. Ở trình độ tiến hóa ngày nay, chúng ta khó có dịp tiếp xúc với các thiên thần. Nhưng trong tương lai, khi ta phát triển khá, có lẽ ta sẽ gần gũi họ nhiều hơn.
Khi tất cả các cảm xúc, tâm tình thấp hèn đều tiêu mòn tôi muốn nói khi các cảm xúc không vướng vít một chút ích kỷ, chừng đó đời sống của thể vía ở cõi trung giới mới chấm dứt. Chơn nhơn sang qua cõi trí. Không nên tưởng rằng lúc ấy có biến động trong không gian. Chỉ đơn giản là một sự vượt qua khỏi chất tế nhị nhất của cõi vía. Lúc đó, con người chỉ hoàn toàn ý thức cõi trí mà thôi. Mặc dù thể vía của y chưa hoàn toàn tan rả. Nó đang lần lần tan rã. Nó còn, nhưng chỉ còn với tình trạng một xác chết của thể vía. Nó bị bỏ rơi như trước kia thể xác đã bị bỏ rơi thành xác chết. Hai thứ xác chết này có vài điểm khác nhau cần nghiên cứu vì những hậu quả của chúng mang lại.
Khi con người bỏ xác, sự chia lìa giữa thể vía và thể xác gần hoàn toàn. Ðối với thể vía, các chất của nó tế nhị hơn thể xác nên sự việc diễn tiến khác hơn. Lúc còn sinh tiền, con người thường lúng túng rất nhiều trong các chất của thể vía. Nói cách khác là con người tự đồng hóa mình rất nặng vào các dục vọng, nên chơn nhơn không còn đủ sức để tách rời khỏi thể vía. Vì vậy, khi tách rời vĩnh viễn khỏi thể vía để sống trong cõi trí, chơn nhơn mất một phần nghị lực. Phần này còn bị nhốt lại trong các chất của thể vía.
Cho nên cái xác chết của thể vía còn giữ ít nhiều sự sống. Nhờ đó, nó có thể di chuyển tự do và làm cho người sống nào dốt nát tưởng lầm nó là vía của người đã chết. Cái phần nhỏ mọn của ý thức còn tồn tại đó tự cho mình và nói về mình như thật. Ðành rằng nó còn giữ một vài ký ức, nhưng toàn là ký ức yếu ớt và giả dối. Nhiều khi trong các cuộc cầu cơ của phái thần linh học, người ta tiếp xúc với những thực thể như thế. Rồi người ta lấy làm lạ và tự hỏi vì sao con người quá thay đổi sau khi chết. Chúng tôi gọi những thực thể như thế là những bóng quế.
Ðến một giai đoạn sau, phần tri thức nói trên tắc nghẽn trong thể vía và không trở về nhập với chơn nhơn. Không vì vậy mà các xác chết của thể vía phải tan rã. Nó còn tồn tại nhưng không biểu lộ chút nào các nét sống trước. Chúng tôi gọi các xác chết ấy là những cái vỏ. Các vỏ ấy không còn khả năng tiếp xúc với loài người ở các cuộc cầu cơ. Nhưng thường thường các cái vỏ ấy bị một tinh linh quỉ quái xâm chiếm như một nơi trú ngụ. Một cái vỏ bị chiếm ngụ như vậy có thể tham gia vào cuộc cầu cơ và nói về mình như của một người thật , vì một vài nét đặc biệt hay một vài ký ức lu mờ còn sót lại trong xác chết của cái vía được tinh linh gợi lại.
Khi con người ngủ, y rút vào thể vía và như bỏ rơi thể xác. Khi y chết, y kéo phần dĩ thái của thể xác theo. Vì vậy, khi còn mang phần dĩ thái này thì y không còn biết gì , vô tri, chưa có ý thức gì cả. Phần dĩ thái này mà chúng tôi gọi là cái phách không phải là một thể riêng biệt. Cho nên khi còn mang chất này, con người không ý thức cả cõi trần lẫn cõi vía. Cũng có người tự vất bỏ cái phách trong phút chót. Người khác giữ nó hàng giờ, hàng ngày, nhiều khi hàng tuần.
Vã lại, không chắc gì người nào vừa bỏ cái phách lại có ý thức liền ở cõi vía. Vì còn tồn nơi y một phần lớn các chất nặng trược của thể vía. Nó bao bọc y như một cái vỏ cứng. Y lại không có khả năng sử dụng chất ấy. Nếu y sống thành thật, lương thiện, y không quen sử dụng chất ấy hay đáp lại những rung động của nó, như vậy y sẽ ở tình trạng vô ý thức đến chừng nào, một mặt chất ấy mòn lần và mặt khác, chất của y quen sử dụng tràn ra mặt ngoài thể vía. Dù sao, sự bế tắc không bao giờ trọn vẹn. Trong một cái vỏ chặt chẽ, nhiều khi các chất tế nhị cũng mở được một đường tràn ra ngoài mặt thể vía; lúc đó, người chết thấy chập chờn từng lúc những người và vật chung quanh y.
Có những người bám víu một cách tuyệt vọng vào thể xác và cũng không muốn rời thể phách. Họ cố gắng giữ chúng lại. Có đôi khi họ thành công nhưng họ phải hi sinh rất nhiều hạnh phúc. Họ bị loại ra khỏi cảhai cõi; cõi trần vật chất và cõi trung giới. Họ tự thấy bị bao trùm bởi một lớp sương mù xám ngắt; xuyên qua đó, họ thấy cõi trần mờ mờ và không màu sắc. Họ phải rán tranh đấu triền miên để giữ tình trạng đau khổ ấy, họ cứ gan lì bám chặt vào đó. Cái phách dường như tối cần đối với họ. Họ cảm giác rằng cái phách làm vật liên lạc với cõi duy nhất mà họ biết. Vì thế, họ đi lang thang, cô đơn và đau khổ, đến khi vì quá mệt nhọc họ không còn sức chịu đựng được nữa mới thôi. Họ không còn giữ cái phách được và họ lướt qua trong hạnh phúc tương đối của đời sống trung giới. Nhiều khi trong tuyệt vọng, họ bám một cách mù quáng vào những thể xác khác và rán sức chui vào đó. Có lúc họ thành công. Thí dụ họ nắm lấy xác thân của một cháu bé, loại đi phàm nhơn của cháu bé ra khỏi thể xác rồi nhập vào đó. Ðôi khi họ chiếm thể xác của một con thú. Tình trạng rối loạn như thế thường sinh ra do sự dốt nát hoàn toàn. Chuyện như thế không bao giờ xảy ra cho người nào biết các định luật về sự sống và sự chết.
Ðến chừng đời sống ở cõi vía chấm dứt, con người chết ở cõi ấy và thức tỉnh ở cõi trí. Ðối với y, cõi này hoàn toàn khác hẳn sự quan sát của người có huệ nhãn thuần thục, vì người này đi chu du khắp cõi trí và sống ở đó y như sống ở cõi vía và cõi trần giữa những người thân thuộc quen biết chung quanh. Suốt đời sống hồng trần, một người thường bị bao phủ bởi một khối hình tư tưởng. Có những hình tư tưởng ngắn ngủi thoáng qua không được quan tâm đến nhiều nên đã tan rã từ lâu. Còn các hình tư tưởng thuộc về những quyền lợi thiết yếu của đời y thì lảng vảng chung quanh y và càng ngày càng mạnh thêm. Những hình tư tưởng ích kỷ đã trút hết sức lực của chúng vào đời sống cõi vía vừa qua nên giờ khô cạn. Nhưng những hình tư tưởng hoàn toàn vị tha thì thuộc cõi trí. Vậy khi ở cõi trí, y hoàn toàn có khả năng phê phán cõi này xuyên qua các tư tưởng ấy.
Thể trí của y cũng chưa hoàn toàn phát triển. Chỉ riêng những phần đã được y sử dụng để làm việc đại độ giúp đời mới hoạt động mạnh mẽ và đầy đủ. Sau khi bỏ thể vía, điều mà y cảm biết đầu tiên là một đại hạnh phúc, một sinh lực không thể quan niệm được, một sự sống hoan lạc cho đến nỗi y không còn muốn gì khác. Niềm hoan lạc ấy là căn bản của sự sống trong các cõi cao của toàn thể Thái dương hệ. Ðời sống trung giới cũng hiếm dịp may có hạnh phúc; hạnh phúc này cũng sung mãn hơn các hạnh phúc mà chúng ta biết. Nhưng đời sống ở cõi trí lại hạnh phúc hơn nữa, cho đến nỗi ta không lấy gì so sánh được. Trên các cõi cao, mọi người đều có cảm giác ấy. Dường như ở đó, niềm hoan lạc được tuyệt đối. Nhưng khi lên cõi cao siêu hơn nữa, người ta hưởng được niềm hoan lạc thâm diệu hơn niềm hoan lạc trước.
Song song với niềm hoan lạc ấy, lại nảy sanh sự minh triết và sự siêu việt các tư tưởng. Biết bao người đã vùng vẫy trong cõi vật chất in trí rằng mình là người hoạt bác nhất, chạy chọt giỏi nhất và khôn ngoan nhất. Khi vừa chạm cõi vía họ liền nhận thấy sự thật. Họ thấy rằng bấy lâu nay họ chỉ là con sâu, không biết quá tầm cái lá, giờ là con bướm mở rộng cánh bay lượn khắp nơi dưới ánh mặt trời thênh thang bát ngát. Khi bỏ ngöôøi cõi vía và bước vào cõi trí, họ cũng có cảm giác như thế. Họ thấy rằng đời sống ở đây thật đầy đủ, bao la, mãnh liệt hơn ở cõi vía, và như tôi nói, không có gì so sánh được. Nhưng khi người ta nghĩ đến cảnh cao hơn nữa, là cõi trực giác, thì người ta thấy rằng đời sống ở cõi trí đối với cõi trực giác này chỉ như ánh sáng mờ của mặt trăng đối với ánh sáng huy hoàng của mặt trời.
Vị trí của người ở cõi trí khác rất xa đời sống ở cõi vía. Ở cõi vía, y sử dụng một thể mà y đã quen dùng từ lâu, vì mỗi đêm lúc ngủ y thường hay sử dụng nó. Ở cõi trí, y sử dụng một vận cụ mà y chưa biết. Vã lại vận cụ ấy chưa hoàn toàn phát triển, phân cách y với thế giới chung quanh và không giúp y nhận thấy thế giới này. Ở thời kỳ �luyện tội�, phần thấp kém của thể vía y đã tan biến hết; bây giờ y chỉ còn giữ những tư tưởng thanh cao, tế nhị và những hoài bão từ thiện của cõi trần. Tất cả những cái đó kết tụ lại và bao phủ y như một cái vỏ. Nhờ trung gian của cái vỏ đó, y sống hòa hợp với các rung động của các chất tinh vi ở cõi trí.
Các tư tưởng ấy là những sức mạnh thật sự giúp y rút ở kho tàng thiên nhiên những gì tương ứng với các tư tưởng và hoài bão ấy. Vì trong kho tàng thiên nhiên đó mới có toàn vẹn Thiên Ý. Ngài mở rộng tình thương vô bờ bến đối với linh hồn của chúng ta, tùy theo tài năng của mỗi người. Người nào đã hoàn tất con đường tiến hóa của nhân loại và phát triển trọn vẹn mầm thiêng liêng ở y sẽ không lấy làm lạ trước sự huy hoàng như thế. Nhưng đến nay, chưa một người nào trong chúng ta tiến đến mức ấy. Vì chúng ta tiến từ từ đến sự hoàn hảo đó, nên đến nay chúng ta không lấy làm lạ khi chúng ta không có được quan niệm tổng quát về điều ấy.
Mỗi người trong chúng ta rút ở đó phần của mình và phần này tương xứng với những cố gắng mà y đã thi thố trước đây. Các cá nhân khác nhau không có những khả năng giống nhau. Ở Ðông phương, người ta cho rằng tất cả chúng ta, mỗi người mang theo một cái ly, cái thì nhỏ, cái thì lớn, nhưng tất cả đã đều đầy tràn. Biển hạnh phúc dư sức làm đầy tất cả các ly ấy.
Nếu con người muốn thưởng thức sự kỳ diệu và sự huy hoàng chưa từng nghe thấy ấy, y phải tự chuẩn bị mở những cửa sổ để giúp y thực hiện được. Nói cách khác, mỗi hình tư tưởng là một cửa sổ giúp y tiếp xúc với các rung động bên ngoài. Nếu trong suốt đời sống trần gian, y chỉ lo vẹn toàn công việc vật chất và quên lo mở các cửa sổ ấy, thì ánh sáng rực rỡ ở các cõi trên không thể lọt vào được. Rất ít khi một người tiến hóa hơn mức dã man lại không có một tấm tình bác ái; cho nên cũng có lần một trong các cửa sổ của y đã mở.
Một người thông thường thì ít có hoạt động ở thể trí. Trước hết, y chỉ thụ cảm, còn về các hoạt động bên ngoài lớp vỏ tư tưởng của y, thì y lại tỏ ra yếu kém. Ở cõi đó, đời sống của y được bao trùm bởi những thần lực sinh động, những thiên thần, những dân cư đầy vẻ huy hoàng. Những vị này rất nhạy cảm với những hoài bão của con người và sẵn sàng đáp ứng mau lẹ. Con người hưởng được lợi ích của điều này khi y đã chuẩn bị sẵn sàng. Ðúng vậy, các tư tưởng và hoài bão của y hướng theo nhiều đường, nhiều lối cũ và y không thể tạo liền các tư tưởng mới. Như vậy các tư tưởng cao siêu cũng có rất nhiều hướng, nhiều thứ. Ta có thể kể : âm nhạc, nghệ thuật, triết học. Một người mà sự thích thú hướng về các ngả đó sẽ gặp nhiều giải trí vô kể và một kiến thức không giới hạn. Ðó là những giải trí và kiến thức thụ đắc được nhờ sức mạnh tư tưởng của y đã đạt.
Phần đông con người chỉ có những tư tưởng cao thượng thuộc về tình thương hay lòng sùng đạo. Nếu người này thương người kia nhiều hoặc nếu y có lòng ngưỡng mộ đậm đà với một vị thánh tiên nào thì y tạo ra một hình tư tưởng mạnh mẽ của người kia hay vị thánh nọ; đối tượng ấy hiện rõ trong trí y. Không thể tránh được, y sẽ mang hình ấy theo y khi y tiến lên cõi trí vì chính các chất tư tưởng này là chất của cõi trí.
Trước hết, chúng ta hãy đề cập đến tình thương : tình thương cấu tạo và giữ nguyên một hình tư tưởng như vậy. Hình tư tưởng đó có đủ sức mạnh để tiến đến kích thích phần trên của thể trí và cả chơn nhơn của người được thương. Thật vậy, chính là chơn nhơn đó được thương yêu chớ không phải là thể xác vì thể xác chỉ là một phần nhỏ của người được thương mến. Lúc chơn nhơn nhận được sự rung động, tức thì tự động nó đáp lại liền và tự trút vào hình tư tưởng ấy ý muốn của nó. Vì thế, các mối liên quan giữa bạn thân càng thân mật ở cõi trí hơn trước. Mặc dù người bạn còn sống hay chết, sự việc vẫn giống y như thế. Sự lưu thông được thiết lập không phải với phần bị nhốt trong thể xác mà với con người thật, với chơn nhơn ở tại các cõi của nó và luôn luôn nó đáp ứng lại. Thí dụ, một có một trăm bạn thân, y có thể đồng một lượt và không sót một ai đáp ứng lại tình thương của tất cả. Mặc dù số lượng hình tư tưởng có nhiều và ở cõi thấp hơn, chơn nhơn cũng đáp ứng đầy đủ và khả năng này không bao giờ sút giảm.
Như vậy, mỗi người ở cõi trí sống giữa các bạn thân của chính y mà y đã tìm cách để giao thiệp. Họ rất thân mật đối với y vì y đã tạo cho họ cái hình tư tưởng làm cho họ dễ biểu lộ trước mặt y. Trong thế giới vật chất, vì bị hạn chế, chúng ta có thói quen nhìn bạn ta dưới khía cạnh hẹp hòi, nên khó cho ta có quan niệm cao cả đối với họ. Ở cõi trí, sự giao thiệp của ta với các bạn bè thân mật hơn ở cõi trần. Về lòng sùng đạo cũng thế. Ở cõi trí, người sùng đạo được gần đối tượng hay thần tượng của y hai lần gần hơn là lúc y còn ở cõi trần và nhờ vậy kinh nghiệm của y có tính cách siêu việt hơn nhiều.
Cũng như cõi vía, cõi trí cũng chia làm bảy cảnh. Cảnh thứ nhất, thứ nhì, thứ ba là nơi cư ngụ của chơn nhơn ở trong chơn thân (thượng trí), còn thể trí chính thức gồm các chất ở bốn cảnh kia và trong hoàn cảnh đó diễn ra sự sống ở cõi trời. Tuy nhiên, con người không đi qua hết cảnh này đến cảnh kia như ở cõi vía, vì ở đó không có sự xếp lớp các chất như trong cái vía. Ở cõi trí, con người tự đặt mình trực tiếp vào trình độ tương xứng nhất với sự tiến hóa của y. Y cư ngụ tại đây suốt thời gian y phải sống ở cõi trời. Vì mỗi người tự tạo đời sống ở cõi trí của mình như vậy, nên sự khác biệt giữa mọi người rất nhiều.
Một cách tổng quát, chúng ta có thể xác nhận tính cách của tình thương gia đình ở phần thấp nhất. Tình thương này thật tận tâm không vị kỷ vì các tình cảm ích kỷ đã tiêu mòn ở cõi vía. Ðặc tính của cảnh thứ sáu là lòng sùng tín do thuyết thần nhân đồng hình mà có. Còn lòng sùng tín ở cảnh thứ năm có đặc tính là các công tác thực dụng. Ba cảnh chót : cảnh thứ năm, cảnh thứ sáu và cảnh thứ bảy thuộc các biểu hiện của lòng sùng tín đối với người thường (như là bà con, bạn thân hay một thần linh đặc biệt nào đó) thay vì đối với nhân loại, vì lòng sùng tín đối với nhân loại chỉ biểu lộ ở cảnh kế trên. Cảnh thứ tư này có bốn loại chính : sự đeo đuổi vô tư lợi về kiến thức tâm linh; triết lý cao hay khoa học; biệt tài về văn chương hay mỹ thuật thực dụng trong mục đích duy nhất là vị tha, và chót hết là sự sốt sắng giúp đỡ đồng loại với ý tưởng cứu giúp vô tư.
Ðời sống huy hoàng này cũng có kết cuộc. Chừng đó thể trí cũng tan ra như các thể thấp và con người khởi sống trong chơn thân (thượng trí). Ở đó, y không còn cần các cửa sổ mở như trước vì y sống trong nhà thực của y và các vách tường đều trống rỗng. Phần đông con người không ý thức được mức cao như thế. Họ mơ màng, không nhận thức được gì cả. Nhưng những gì họ thấy cũng có phần thực tùy mức độ tiến hóa của từng người. Nhưng mỗi lần họ trở lại trình độ ấy, vì họ đã tiến bộ, đời sống thực nhất trong các đời sống của họ, sẽ tự nhiên rộng thênh thang và có cường độ mạnh mẽ hơn.
Lần lượt sau các thay đổi ấy, đời sống chơn thân càng dài hơn nhiều đối với các đời sống những cõi thấp. Lần lần con người có khả năng chẳng những tiếp nhận mà còn ban ra. Chỉ chừng đó, sự thành công mới thật đến gần con người, vì y đã học đủ bài học của Ðấng Christ. Ðó là kết cuộc huy hoàng của việc hi sinh sự sống mình để làm nhẹ bớt đau khổ của đồng loại. Ðó là sự từ bỏ cái ta vì mọi người, là sức mạnh để phụng sự nhân loại, một nhân loại đang chiến đấu trên mặt địa cầu. Ðó là một phần đời sống đã mở trước chúng ta. Ðó là nấc thang vàng ở dưới chót, từ đó ta có thể nhìn thấy các nấc cao hơn. Tất cả những điều này giúp chúng ta biết và để chúng ta giúp những người chưa biết đặng họ được hân hạnh mở mắt đón nhận một sự huy hoàng chói lọi chung quanh tại đây và ngay bây giờ trong đời sống đen tối mỗi ngày của họ. Ðó là phần phúc âm của Thông Thiên Học, là sự chắc chắn của một tương lai cao cả mà mọi người có thể đến được. Thật vậy, tương lai này chắc chắn vì nó đang xuất hiện ở địa cầu và muốn đạt được nó, chúng ta phải tỏ ra xứng đáng.
DaoKy
26-03-2005, 11:44 PM
Ý Nghĩa Thiên Nhãn
Thiên Nhãn là Mắt Trời. Thờ Thiên Nhãn tức là thờ Trời.Trên Quả Càn Khôn, Ðức Chí Tôn bảo vẽ Thiên Nhãn ngay phía trên ngôi sao Bắc Ðẩu, tức nhiên Ðức Chí Tôn ngự tại ngôi Bắc Ðẩu.
Biểu tượng Thiên Nhãn của Ðạo Cao Ðài, tức của Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ, có một ý nghĩa vô cùng cao cả và đặc sắc, mà bất cứ một nền tôn giáo nào trên thế giới hiện nay đều không có được.
I. Nguồn gốc Thiên Nhãn
Người môn đệ đầu tiên của Ðức Chí Tôn là Ngài Ðốc Phủ Ngô văn Chiêu, trong lúc Ngài đang làm Quận Trưởng quận Phú Quốc tỉnh Hà Tiên, vào khoảng đầu năm 1921, Ðức Chí Tôn giáng cơ dạy Ngài phải tìm một dấu hiệu chi riêng biệt để thờ kỉnh. Ngài Ngô văn Chiêu bạch với Ðức Chí Tôn chọn dấu hiệu chữ Thập ( + ).
Ðức Chí Tôn giáng cơ đáp : Chọn chữ Thập cũng được, song đó là dấu hiệu của một nền tôn giáo đã có rồi (Thiên Chúa Giáo), phải suy nghĩ để tìm ra một dấu hiệu mới khác, sẽ có Ðức Chí Tôn giúp sức.
Ngài Ngô văn Chiêu xin hoãn lại một tuần lễ để suy nghĩ tìm tòi. Mãn tuần lễ rồi mà Ngài vẫn chưa tìm ra.
Thế rồi một hôm, vào ngày 13-3-Tân Dậu (dl 20-4-1921), lúc 8 giờ sáng, Ngài đang ngồi trên chiếc võng ở mái hiên sau dinh quận, suy nghĩ vẩn vơ, bỗng Ngài thấy xuất hiện một CON MẮT thật lớn, hào quang chiếu diệu, cách chỗ Ngài ngồi chừng vài ba thước. Con Mắt ấy đầy đủ thần quang nhìn thẳng vào mặt Ngài, làm Ngài sợ hãi, lấy 2 bàn tay che mặt lại không dám nhìn, chừng được nửa phút, Ngài lại mở mắt ra nhìn thử thì lại thấy CON MẮT ấy rực rỡ hào quang hơn nữa. Ngài bèn chấp tay lại, vái rằng : " Bạch Tiên Ông ! Ðệ tử biết rõ huyền diệu của Tiên Ông, xin Tiên Ông đừng làm vậy sợ lắm ! Nếu Tiên Ông bảo thờ như vậy thì xin cho biến mất tức thì."
Ngài khấn xong thì Con Mắt từ từ lu dần rồi biến mất.
Tuy vậy, Ngài Ngô văn Chiêu vẫn chưa thiệt tin, nên chưa vẽ Con Mắt để thờ.
Cách vài ngày sau, Ngài lại thấy Thiên Nhãn xuất hiện y như lần trước. Ngài lại vái cùng Tiên Ông xin vẽ Thiên Nhãn để thờ thì Thiên Nhãn cũng lu dần rồi biến mất. (Ngài Ngô văn Chiêu lúc đó gọi Ðức Chí Tôn là Tiên Ông).
Ngài Ngô văn Chiêu, căn cứ vào 2 lần chứng nghiệm đó, hoàn toàn tin tưởng nơi Ðức Chí Tôn, nên Ngài vẽ Thiên Nhãn như đã thấy để thờ Ðức Chí Tôn.
Vào tháng Giêng năm Giáp Tý (1924), khi Ngài Ngô văn Chiêu đứng tại Dinh Cậu Phú Quốc nhìn ra biển khơi vào lúc Mặt Trời sắp lặn, Ngài bỗng thấy Thiên Nhãn hiện ra rực rỡ hào quang trên một ngôi sao, kế dưới là Mặt Trăng lưỡi liềm, và trên mặt biển là Mặt Trời, sắp theo một sổ dọc thẳng đứng, và mặt biển là một đường nằm ngang.
Hình ảnh rực rỡ và đẹp đẽ nầy, Ngài Ngô văn Chiêu ghi nhớ và Ngài họa hình giống y như vậy để thờ : Bên dưới là mặt biển nằm ngang, bên trên là Nhựt, Nguyệt, Tinh và Thiên Nhãn, tạo thành một sổ thẳng đứng.
Ðến ngày 29-6-Giáp Tý (dl 30-7-1924), Ngài Ðốc Phủ Ngô văn Chiêu được Chánh quyền Pháp đổi về làm việc ở Sài gòn, Ngài cũng đem Thiên Nhãn về Sài gòn để thờ nơi nhà Ngài cư ngụ.
Mặt khác, vào giữa năm1925, Ðức Chí Tôn độ được nhóm Công chức Xây bàn ở Sài gòn gồm quí Ông : Cao quỳnh Diêu, Cao quỳnh Cư, Phạm công Tắc, Cao hoài Sang, và kế đó độ thêm Ngài Lê văn Trung; Ðức Chí Tôn bảo quí vị nầy hãy vẽ hình Thiên Nhãn để thờ Ðức Chí Tôn. Lúc đó là đầu năm 1926.
Quí Ông rất phân vân, không biết vẽ thế nào, vì biểu tượng Thiên Nhãn thật vô cùng mới lạ. Từ trước tới giờ, người Việt Nam chỉ biết thờ tượng Phật, tượng Thánh, tượng Thần, chớ chưa hề biết thờ Thiên Nhãn.
Ðức Chí Tôn biết các Ông đang phân vân, nên giáng cơ dạy quí Ông đến nhà của Ông Ðốc phủ Ngô văn Chiêu để Ông Chiêu chỉ cho cách thờ, và dặn mang Ðại Ngọc Cơ theo để Chí Tôn giáng cơ dạy việc.
Thế là do lịnh dạy của Ðức Chí Tôn, Quí Ông tìm đến nhà Ngài Ngô văn Chiêu, được Ngài Chiêu hướng dẫn cách thờ phượng Ðức Chí Tôn bằng biểu tượng Thiên Nhãn với đầy đủ chi tiết, và sau đó quí Ông phò loan cầu Chí Tôn. Ðức Chí Tôn giáng dạy quí Ông hợp tác với Ngài Ngô văn Chiêu để chuẩn bị Khai Ðạo, và nhận Ngài Chiêu làm Anh Cả.
Nguồn gốc thờ Thiên Nhãn của Ðạo Cao Ðài phát tích từ đó.
Thật ra, biểu tượng Thiên Nhãn tượng trưng Ðấng Thượng Ðế, không phải hoàn toàn mới lạ đối với nhơn loại, vì từ thời Thượng cổ, dân Ai Cập, dân Do Thái ở Phi Châu, dân Pérou ở nam Mỹ Châu, đã biết vẽ hình Thiên Nhãn ngự trên Kim Tự Tháp để thờ Ðấng Thượng Ðế.
II. Ý nghĩa thờ Thiên Nhãn
Ðức Chí Tôn dạy rằng :
" Tại sao Thầy lại biểu các con tạo hình Thiên Nhãn mà thờ, không dạy thờ hình tượng như các tôn giáo khác ?Thầy vốn là Hư Vô chi Khí, không giống cái chi hết. Các con chớ tạo hình Thầy mà thờ. Trời là Lý, thì Lý ấy rất thông linh bao quát Càn khôn Thế giới. Thầy đâu phải có xác phàm như các con mà tạo hình thể như các con. Nên chi, thờ Thiên Nhãn là thờ Thầy."
Thờ Thiên Nhãn bao gồm nhiều ý nghĩa siêu việt, xin nêu ra sau đây :
a) Ý nghĩa về hình thể :
1. Tiên Nho thường nói : Hoàng Thiên hữu Nhãn, hay trong dân gian cũng thường nói : Trời cao có mắt, để chỉ rằng Ông Trời, tức là Ðấng Thượng Ðế, nhìn thấy rõ tất cả những hành vi thiện ác của khắp chúng sanh, dầu bộc lộ ra ngoài hay giấu giếm kín đáo bên trong, Mắt Trời đều thấy rõ hết thảy, để khen thưởng hay xử phạt một cách công bình. Do đó, trong Kinh Ngọc Hoàng Thượng Ðế có câu : Càn kiện cao minh,
Vạn loại thiện ác tất kiến.
Nghĩa là : Càn là Trời, ngôi Càn mạnh mẽ, cao tột, sáng tỏ, Ắt hẳn thấy rõ điều thiện và ác của muôn loài vật.
Thờ Thiên Nhãn với con mắt mở, để chúng ta luôn luôn nhớ rằng, bất cứ ta làm việc gì, Trời đều thấy rõ, không thể giấu giếm, cũng không thể sau nầy chối cãi được.
2. Vẽ MỘT con Mắt để thờ, mà không vẽ 2 con Mắt (một cặp) là bởi vì 1 là số khởi thủy của Càn khôn Vũ trụ và vạn vật (theo Dịch học) : 1 sanh 2, 2 sanh 3, 3 sanh vạn vật. Tức là Nhứt bổn tán Vạn thù, Vạn thù qui Nhứt bổn. Cho nên, số 1 là gốc, lại là số Dương, mà Ðức Chí Tôn làm Chủ Dương quang, thì rất hợp lẽ. Số 1 cũng chỉ ngôi Thái Cực, là ngôi độc nhứt trong Càn Khôn Vũ trụ.
3. Vẽ Con Mắt bên TRÁI để thờ, chớ không phải vẽ Con Mắt bên Mặt, bởi vì bên Trái thuộc về Dương, bên Mặt thuộc về Âm, nên khi vào Thánh Thất quì cúng Ðức Chí Tôn, phái Nam quì bên Trái của Ðức Chí Tôn; phái Nữ quì bên Mặt của Ðức Chí Tôn (Nam tả Nữ hữu). Do đó, Con Mắt Trái tượng trưng Ðức Chí Tôn và Ðức Chí Tôn chưởng quản Khí Dương quang.
4. Thờ Thiên Nhãn có ý nghĩa Ðại đồng. Bất cứ sắc dân nào, dân tộc nào cũng biết vẽ Con Mắt để thờ, và vẽ hình Con Mắt không có tánh cách phân biệt chủng tộc, nên có tính chất chung hết, tức là Ðại đồng. Như chúng ta thấy, Phật giáo vẽ hình Ðức Phật Thích Ca với hình dáng là người Ấn Ðộ; Thiên Chúa giáo vẽ hình Ðức Chúa Jésus với hình dáng là một người Do Thái; do đó có tánh cách phân biệt về dân tộc, về quốc gia, là thờ người ngoại quốc, . . . . Vẽ hình Con Mắt mà thờ thì tránh được các sự phân biệt vừa nêu trên. Vả lại, Ðức Chí Tôn là Ðại Từ Phụ của toàn nhơn loại, chớ đâu phải của riêng một sắc dân nào. Khi thờ Con Mắt là Ðức Chí Tôn muốn cho nhơn loại không còn phân biệt nhau về quốc gia hay dân tộc, nhìn nhau đều là anh em một nhà, con chung của Ðức Chí Tôn và Ðức Phật Mẫu. Dân tộc Việt Nam là một dân tộc lãnh sứ mạng của Thượng Ðế để thực hiện sự Ðại đồng trên toàn thế giới.
b) Ý nghĩa theo Thiên Chúa Giáo :
Thiên Chúa giáo có một quyển sách tựa là : "Catéchisme Album " (Giáo lý Cương yếu) do nhà xuất bản Saint Joseph ở Paris phát hành, nơi trang đầu tiên có in hình Thiên Nhãn (L'Oeil de Dieu) và chú thích như vầy : " Dieu est esprit, il ne peut être vu de nos yeux, ni, par conséquent, représenté sur une image. C'est OEIL, vous rappelle que Dieu est le souveraine intelligence, qu'il sait tout et voit tout.
On l'encadre le Soleil, car Dieu est le Vrai Soleil qui éclaire et réchauffe tout et porte la vie partout. Dieu est la Lumière Éternelle."
Tạm dịch : Thượng Ðế là Ðấng thiêng liêng, đôi mắt trần của chúng ta không thể thấy được Ngài, vì thế, không thể mô tả Ngài bằng một hình ảnh. Thiên Nhãn nầy nhắc cho chúng ta nhớ rằng : Thượng Ðế là Ðấng Toàn Tri, Ngài biết tất cả và thấy tất cả. Người ta vẽ chung quanh Thiên Nhãn những tia sáng của Mặt Trời, bởi vì Thượng Ðế là ngôi Dương chơn thật, soi sáng và sưởi ấm vạn vật và mang đến sự sống khắp nơi. Thượng Ðế là Ánh sáng vĩnh cửu.
c) Ý nghĩa thiêng liêng :
ý nghĩa thiêng liêng của Thiên Nhãn, Ðức Chí Tôn có dạy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển như sau : TNHT. I. 12 : " Chưa phải hồi các con biết đặng tại sao vẽ Thánh Tượng CON MẮT mà thờ Thầy, song Thầy nói sơ lược cho hiểu chút đỉnh :
Nhãn thị chủ tâm,
Lưỡng quang chủ tể,
Quang thị Thần,
Thần thị Thiên,
Thiên giả Ngã giã.
Thần là khiếm khuyết của cơ mầu nhiệm từ ngày Ðại bị bế. Lập Tam Kỳ Phổ Ðộ nầy, duy Thầy cho THẦN hiệp TINH KHÍ đặng hiệp đủ Tam Bửu là cơ mầu nhiệm siêu phàm nhập Thánh. Các con nhớ nói vì cớ nào thờ CON MẮT Thầy cho chư Ðạo hữu nghe. . . . . . . Phẩm vị Thần Thánh Tiên Phật từ ngày Ðạo bị bế, thì Luật lệ hỡi còn nguyên, luyện pháp chẳng đổi, song Thiên đình mỗi phen đánh tản THẦN, không cho hiệp cùng TINH, KHÍ. Thầy đến đặng huờn nguyên Chơn thần cho các con đắc đạo. Con hiểu "Thần cư tại nhãn". Bố trí cho chư Ðạo hữu con hiểu rõ. Nguồn cội Tiên, Phật do yếu nhiệm là tại đó."
III. Giải thích 5 câu chữ Nho về Thiên Nhãn
Xin chép lại 5 câu chữ Nho giải thích Thiên Nhãn :
Nhãn thị chủ tâm,
Lưỡng quang chủ tể,
Quang thị Thần,
Thần thị Thiên,
Thiên giả Ngã giã.
Giải nghĩa từng chữ :
Câu 1 : Nhãn thị chủ tâm. Nhãn : Con mắt. Thị : Ấy là
Chủ : Làm chủ. Tâm : Cái Tâm. - Cái Tâm của con người là Linh hồn, cũng gọi là Tiểu hồn, Tiểu Linh quang, và con người là Tiểu Thiên Ðịa hay Tiểu Thượng Ðế. - Cái Tâm của Trời là Ðại hồn, là Ðại Linh quang, và Trời là Ðại Thiên Ðịa, thường gọi là Thượng Ðế.
Câu 2 : Lưỡng quang chủ tể. Lưỡng : Hai. Quang : Ánh sáng. - Ðối với Trời, Lưỡng quang là Âm quang và Dương quang, đó cũng gọi là Lưỡng Nghi. - Ðối với con người, Lưỡng quang là 2 Khí : Khí Âm và Khí Dương trong cơ thể con người. Chủ : Làm chủ. Tể : Ðứng đầu. Chủ tể, cũng đọc là Chúa tể là đứng đầu cai trị tất cả.
Câu 3 : Quang thị Thần. Quang : Ánh sáng. Thị : Ấy là. Thần : Chơn linh, một trong Tam bửu (Tinh, Khí, Thần). - Ðối với Thượng Ðế, Thần là Ðại hồn. - Ðối với con người, Thần là Tiểu hồn.
Câu 4 : Thần thị Thiên. Thần : Chơn linh. Thị : Ấy là. Thiên : Trời. - Ðối với Trời, Thiên là Thượng Ðế, Ðại Vũ trụ. - Ðối với con người, Thiên là Tiểu Thượng Ðế, Tiểu Vũ trụ.
Câu 5 : Thiên giả Ngã giã. Thiên : (đã giải nơi câu 4). Giả : Ấy là. Ngã : Ta. Giã : Vậy. Thường viết là Dã, dùng đặt ở cuối câu, nghĩa là : Vậy. Câu "Thiên giã Ngã dã" giống như câu " Nhân giả Nhơn dã" ( ), nghĩa là: Lòng Nhân ấy là đạo làm Người vậy.
Năm câu chữ Nho mà Ðức Chí Tôn dạy về THIÊN NHÃN, có thể được giải thích theo 2 trường hợp :
- Giải thích theo Ðại Thiên Ðịa (Ðại Vũ trụ, Ðại Linh quang, Ðại hồn, Thượng Ðế). [Trời]
- Giải thích theo Tiểu Thiên Ðịa (Tiểu Vũ trụ, Tiểu Linh quang, Tiểu hồn, Tiểu Thượng Ðế). [Người]
a) Giải thích theo Ðại Thiên Ðịa (Trời) :
Câu 1 : Nhãn thị chủ Tâm : Nhãn ở đây là Thiên Nhãn tượng trưng Thượng Ðế. Tâm ở đây là Tâm của Thượng Ðế, tức là Ðại Linh quang, Ðại hồn. Nhãn thị chủ Tâm : Thượng Ðế là chủ của Ðại Linh quang.
Câu 2 : Lưỡng quang chủ tể : Lưỡng quang là Âm quang và Dương quang. Chủ tể là Chúa tể, cai trị tất cả.
Lưỡng quang chủ tể : Dương quang và Âm quang làm chúa tể, cai trị tất cả. Bởi vì Dương quang và Âm quang ấy chính là của Ðại Từ Phụ và Ðại Từ Mẫu, phối hợp để sanh hóa Càn khôn Vũ trụ và vạn vật.
Câu 3 : Quang thị Thần : Quang nầy là Ðại Linh quang, Thần nầy là Ðại hồn. Quang thị Thần : Ðại Linh quang ấy là Ðại hồn của Thượng Ðế.
Câu 4 : Thần thị Thiên : Ðại hồn ấy là Trời,Thượng Ðế
Câu 5 : Thiên giả Ngã giã : Thượng Ðế ấy là TA vậy. (TA là tiếng tự xưng của Ðức Chí Tôn). Do đó, thờ Thiên Nhãn chính là thờ Trời, thờ Ðấng Thượng Ðế, thờ Ðấng Ðại Từ Phụ đã sanh hóa CKVT và toàn cả chúng sanh.
b) Giải thích theo Tiểu Thiên Ðịa (Người) :
Con người do Thượng Ðế tạo ra, hễ Trời có gì thì con người có nấy, cho nên mới gọi con người là Tiểu Thiên Ðịa, Tiểu Thượng Ðế, Tiểu hồn, Tiểu Linh quang.
Câu 1 : Nhãn thị chủ Tâm : Nhãn ở đây là Nhơn nhãn, con mắt của Người, tượng trưng con người. Tâm ở đây là lương tâm của con người, tức là Tiểu hồn, Tiểu Linh quang. Nhãn thị chủ Tâm : Con người làm chủ cái Tâm của mình, tức là làm chủ Tiểu Linh quang (Chơn linh) của mình.
Câu 2 : Lưỡng quang chủ tể : Lưỡng quang ở đây là 2 Khí Dương và Âm trong cơ thể con người. Nếu 2 Khí nầy điều hòa thì thân thể con người khỏe mạnh; nếu 2 khí không điều hòa, hoặc là Dương thạnh Âm suy hay Âm thạnh Dương suy thì con người bị đau ốm, bịnh hoạn; nếu khí Dương tuyệt thì cơ thể phải chết. Lưỡng quang chủ tể : 2 Khí Âm Dương trong con người là chúa tể, vì nó định được sự sống chết, sự khỏe mạnh hay đau yếu của thân thể con người.
Câu 3 : Quang thị Thần : Quang ở đây là Tiểu Linh quang, Thần là Linh hồn của con người, tức là Tiểu hồn.
Quang thị Thần : Tiểu Linh quang ấy là Tiểu hồn của con người.
Câu 4 : Thần thị Thiên : Thần là Tiểu hồn, Thiên ở đây là Tiểu Thiên Ðịa, Tiểu Thượng Ðế. Thần thị Thiên : Tiểu hồn ấy là Tiểu Thượng Ðế.
Câu 5 : Thiên giả Ngã giã : Thiên là Tiểu Thượng Ðế, Ngã là ta, là con người. Thiên giả Ngã giã : Tiểu Thượng Ðế ấy là ta vậy. Về ý nghĩa của chữ " THẦN" : Khi hiến lễ dâng Tam Bửu lên Ðức Chí Tôn : Tam Bửu là : Bông, Rượu, Trà, tượng trưng Tinh, Khí, Thần.
Tinh là Thể xác,
Khí là Chơn thần,
Thần là Chơn linh, Linh hồn.
Trong phép Luyện đạo, luyện cho Tinh, Khí, Thần hiệp nhứt : Trong trường hợp nầy thì :TINH là chất tinh túy của thể xác tạo ra để lưu truyền nòi giống. Phải Luyện Tinh hóa Khí.KHÍ là chất bổ dưỡng do chất Tinh biến thành để nhờ máu luân chuyển đem đi nuôi các tế bào của cơ thể cho tươi nhuận, nhứt là nuôi các tế bào não cho thông minh sáng suốt, có đầy đủ sự tốt đẹp. Ðó là Luyện Khí hiệp Thần.THẦN là Chơn thần của con người. Khi trí não của con người đầy đủ sự thông minh sáng suốt thì phát huệ, tạo được Chơn thần nhẹ nhàng tinh tấn. Nhưng phải Luyện Thần huờn Hư, nghĩa là luyện cho Chơn thần được huyền diệu, có thể xuất nhập thể xác tùy theo ý muốn, để có thể vân du lên các cõi Trời, tiếp xúc với các Ðấng thiêng liêng. Luyện được như vậy, gọi là Luyện Tinh, Khí, Thần hiệp nhứt, đắc đạo tại thế.
Như vậy, chữ THẦN có 2 nghĩa : Linh hồn hay Chơn thần tùy theo trường hợp. Cho nên, thờ Thiên Nhãn cũng còn là thờ Chơn thần : "Thần cư tại Nhãn". Nên Ðức Chí Tôn dạy rằng : Thần là khiếm khuyết của cơ mầu nhiệm từ ngày Ðạo bị bế. Lập Tam Kỳ Phổ Ðộ nầy, duy Thầy cho THẦN hiệp cùng TINH, KHÍ, đặng hiệp đủ Tam Bửu là cơ siêu phàm nhập Thánh. Thầy đến đặng huờn nguyên Chơn thần cho các con
Trích Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Q1.
vBulletin® v3.6.11, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.