PDA

View Full Version : Truyen cổ Phật giáo


thuhanoi
01-02-2005, 01:53 PM
1- Bố Thí Bất Nghịch Ý



Thuở xưa có một nước hiệu là Diệp Ba, vua tên là Thi Tí, lấy phép chơn chánh trị vì, chẳng hề làm tổn lê dân. Vua có 4.000 quan thượng thơ, 500 thớt voi bạch, cai quản 600 tiểu bang và 800 thôn xã. Vua tuy có hai muôn vương phi mỹ nữ, song không có bà nào có con. Ngài khẩn cầu chư Thánh chúng, Thần núi, Thần nước.

May thay! Một bà bỗng có thai.

Thiên tử bổn thân săn sóc chánh cung rất chu đáo. Ngài lại ra lệnh lo nào nệm thúy gối loan cho bà an nghỉ, nào món ăn cho mỹ vị, thức uống cho tinh khiết đặng bà dùng. Sau chín tháng đến ngày mãn nguyệt khai hoa, bà sanh đặng một hoàng nam đặt tên là Tu Đại Noa. Hay tin này, cả thảy quý phi trong cung điện đều hớn hở vui mừng.

Thời gian trôi qua, Thái tử Tu Đại Noa đã được 16 tuổi. Ngoài văn võ kiêm toàn, lại thêm lễ nhạc cung đ àn cũng là tột chúng. Ngài phụng kính phụ hoàng và mẫu hậu như thánh. Vua cha lại dựng riêng cho Hoàng tử một đ ài các nguy nga rực rỡ.

Tuy tuổi trẻ, song Đông cung lại quý sự phước thiện, bố thí cho nhân loại, thượng cầm hạ thú. Ý ngài chỉ muốn cho chúng sanh được an vui tự tại.

Khi đến tuổi trưởng thành, vua cha đính hôn cho ngài với nàng Mạn Trà, con một vị Thiên tu. Công chúa sắc đẹp truyệt trần và đức hạnh không ai sánh kịp.

Ngày tháng qua, vợ Đông Cung sanh được một trai một gái. Thuở ấy Hoàng tử nhớ đến pháp bố thí Bà La Mật, ngài xin phép vua cha ra dạo chơi và xem cảnh vật, ngài thấy những người nghèo, đui, điếc, câm, đi dọc đường, trong lòng ưu ái, không hân hoan chút nào. Vua cha hỏi, Đông cung nói:

- "Tâu phụ hoàng, con ra thành thấy người nghèo, đui, điếc, câm, con động nỗi từ tâm, xót lòng trắc ẩn. Con muốn tâu phụ hoàng biết ý muốn của con, song con còn ngần ngại e phụ hoàng không nhận lời".

Hoàng thượng nói:

- "Con muốn điều gì, cha cũng hoan hỉ ban cho như ý." Đông cung nói:

- "Con muốn lấy tất cả của trong kho tàng của phụ hoàng, đem bố thí cho mọi người, bất luận ai xin vật chi thì con cho vật ấy". Vua cha đáp:

- "Hay thay! Con cứ thi hành theo bổn nguyện, cha không cấm cản".

Đông cung xin các quan hầu cận đem đồ châu báu ra bày biện nơi bốn cửa thành và ngoài chợ đặng bố thí cho tất cả nhân loại. Tám phương trời đất đều hay việc lành của Hoàng tử. Bốn hướng xa xôi ngàn dặm, cùng nhau lặn suối trèo non. Đến chịu thọ thí. Người đói rách, Hoàng tử cho ăn mặc, kẻ xin bạc vàng châu báu, Hoàng tử lại cấp cho, ai ai cũng được toại lòng hả dạ.

Thời ấy có một ông vua nghịch sanh lòng nham hiểm, hay tin Hoàng tử bố thí bất luận là ai cùng vật gì, mới hội các đình thần và các vị Bà La Môn trong nước bàn bạc rằng:

- "Ta nghe vua nước Diệp Ba có một thớt tượng bạch, tên là Tu Đàn Diên chạy bay được trên liên hoa. Voi ấy đã dũng mãnh lại mạo hiểm trong việc chiến tranh, trăm trận trăm thắng, chả biết chư khanh có ai chịu đi xin voi ấy chăng?". Các quan văn võ lắc đầu trương mắt nhìn nhau; song trong hàng Bà La Môn có tám ông tâu rằng:

- "Chúng tôi nguyện làm như ý, cúi xin Hoàng thượng ban cho chúng tôi ít đồ hành lý". Vua dạy cấp đồ đi đường và nói rằng:

- "Ta rất tin cậy các ngươi, nếu các ngươi xin được voi ấy, ta sẽ trọng thưởng".

Tám ông Bà La Môn tay cầm tích trượng lên đường. Khi lên thác, khi xuống ghềnh, lần hồi họ đã tới nước Diệp Ba. Chúng hỏi thăm đến trước cửa đến Hoàng Tử, thảy đều chống gậy kim cương, chân đứng chân treo, day mặt vô cửa. Người giữ cửa vào báo cho Đông cung, ngài liền ra thi lễ một cách tôn trọng, chẳng khác chi nghĩa cha con. Đoạn Thái tử hỏi:

- "Bạch quý ngài ở đâu đến đây? Đi đường sá xa xôi có cực khổ chăng? Cảm phiền quý ngài cho tôi biết có việc chi quan hệ mà phải chịu nhọc nhằn treo chân như thế này?". Tám vị Bà La Môn đáp:

- "Thưa Hoàng tử Đông cung, chúng tôi mạn nghe Đông cung mở đường phước thiện, bố thí bất luận là ai cùng bất cứ của cải gì, nên danh thơm của ngài truyền khắp tám phương, công đức của ngài quả thật vô biên, xa gần đều chúc tụng, không còn một ai không biết. Chúng bần đạo lấy đó tin chắc chắn như lời. Thưa Hoàng tử Đông cung, ngài là con cõi thượng thiên, thế thì lời nói ngài còn hơn kim thạch. Vậy nếu ngài thành tâm bố thí, chúng bần đạo xin ngài hoan hỷ cho chúng tôi bạch tượng bay trên liên hoa".

Đông cung liền đến chuồng ngựa dắt ra một con voi bạch song các vị Bà La Môn lại nói:

- "Thưa Hoàng tử Đông cung, không phải thớt voi này, chúng tôi xin đây là xin bạch tượng chạy được trên hoa sen, tên nó là Tu Đà Diên". Hoàng tử đáp:

- "Cha tôi thương mến voi ấy lắm, chẳng khác chi tôi, tôi không thể tự quyền cho các ngài. Nếu tôi cho thì cha tôi hết thương tưởng tôi, lại còn đuổi ra khỏi nước nữa". Nhưng Đông cung lại nghĩ rằng:

- "Trước kia ta đã lập trọng nguyện Bố Thí Bật Nghịch Ý, nếu nay ta từ chối thì ta tự bác đại nguyện của ta, ta nên cho voi ấy mới có thể đạt được pháp Ba La Mật Đa". Đông cung không còn ngần ngại nói:

- "Bạch quý ngài, tôi không dám làm quý ngài bận lòng vì một sự nhỏ nhen đó". Hoàng tử dạy tùy tùng thắng bành vàng và dắt tượng ra tức tốc. Tay trái ngài bưng nước rửa tay cho các vị Bà La Môn, tám ông Bà La Môn liền ca tụng "Bồ đề tâm" và cảm tạ Đông cung, lộ vẻ hân hoan, và vội vã lên đường. Đông cung lại còn nói vói:

- "Xin quý ngài hãy đi cho chóng, kẻo phụ hoàng tôi biết lại cho người theo bắt voi". Trong nháy mắt, tám ông Bà La Môn biệt dạng.

Vừa nghe Hoàng tử cho kẻ nghịch tượng báu, các quan văn võ đều sửng sốt, lo sợ rằng:

- "Nước ta nhờ có voi ấy mà dẹp nạn can qua". Quần thần liền vào tâu với vua:

- "Muôn tâu bệ hạ, Đông cung đã đem voi báu mà cho kẻ thù nhà, bệ hạ dựng nên bờ cõi cũng nhờ có voi ấy oai phong lẫm liệt, một mình có thể chống cự 60 thớt voi khác như chơi; nay Đông cung lại cho kẻ nghịch, chúng hạ thần cho đó là điềm mất nước. Chúng thần tâm hồn rối loạn, cúi xin Hoàng thượng định đoạt. Bố thí bất nghịch ý của Đông cung theo thiên kiến của chúng thần thì chẳng kíp thì chầy, Hoàng tử chẳng những vét sạch cả của trong kho tàng thôi, mà chúng tôi e ngài còn cho cả nước và vợ con ngài nữa".

Vua nghe tâu không bằng lòng, liền cho đòi một vị đại thượng thơ đến hỏi:

- "Khanh cho Trẫm biết có phải Thái tử bắt bạch tượng cho kẻ nghịch chăng?"

- Muôn tâu bệ hạ quả thật như lời.

Vua hội nghị tất cả đình thần để thẩm án Đông cung. Một quan thượng thơ tâu:

- "Kẻ nào vào chuồng tượng thì chặt chân, kẻ nào dắt tượng thì cắt tay, kẻ nào thấy dắt tượng thì móc mắt". Một quan thượng thơ khác lại tâu:

- "Xin Hoàng thượng cho công án tử hình cho cả thảy thủ phạm và đồng lõa". Thấy quần thần phân vân và ý kiến không đồng, Vua lại tha thiết và phán với triều đình:

- "Con trẫm chẳng những ham tu tuệ mà thôi, lại còn mộ đường phước thiện. Đối với mấy điều ấy trẫm không thể ngăn cản, huống chi nay trẫm nỡ đ ành bắt buộc hành hình cùng hạ ngục" Một vị đại thượng thơ bác bẻ ý kiến cả thảy triều đình, rồi quỳ xuống tâu:

- "Theo thiển kiến của tôi, ngài nên đuổi Thái tử ra khỏi nước và đ ày người ở chốn lâm sơn 12 năm hòng người ăn năn hối ngộ".

Vua theo ý kiến ấy, dạy đòi Đông cung vào hỏi:

- "Cái phải người bắt bạch tượng cho kẻ nghịch chăng?"

- Muôn tâu phụ hoàng, quả thật vậy.

Vua lại hỏi:

- "Sao ngươi lại dám bắt bạch tượng cho kẻ nghịch mà không trình cho ta hay trước?"

- Thưa phụ hoàng, trước kia phụ hoàng cho phép con bố thí như ý và không ngăn cấm một việc chi. Bởi thế nên con không tâu lại với phụ hoàng việc con làm phước.

Nhà vua nói:

- "Lệnh ta ban thuộc về đồ ngọc ngà châu báu, chớ không can hệ đến tượng bạch".

Thái tử đáp:

- "Muôn tâu phụ hoàng, các vật ấy đều là của cải của phụ hoàng tất cả, con không ngờ phải ngoại trừ tượng bạch". Nhà vua phán:

- "Ngươi phải tức tốc ra khỏi nước này, ta đ ày ngươi tại núi Đàn Đặc 12 năm.

Thái tử tâu:

- "Con không cải lệnh phụ hoàng, song con xin phụ hoàng cho phép con ở lại thêm bảy ngày đặng bố thí thêm cho mãn nguyện".

Nhà vua không chấp thuận, phán rằng:

- "Ta dạy ngươi cũng vị sự bố thí của ngươi thái quá, chẳng những làm tiêu tan kho báu của ta, lại làm cho nước mất một linh vật. Ngươi không ở lại đây thêm bảy ngày, hảy ra khỏi nước bây giờ, ta không cho phép đâu".

Thái tử tâu:

- "Con không dám trái lệnh phụ hoàng, nhưng vì con còn chút ít của cải riêng, muốn đem bố thí cho trọn vẹn chớ con không dám đá động đến kho tàng của nước nữa..."

Hai muôn cung phi đồng xin vua để cho Hoàng tử ở lại bảy ngày rồi sẽ đ ày đi cũng chẳng muộn.

Vua nhận lời.

Thái tử dạy cho gia dịch truyền cho thập phương hay: Ai muốn của cải thì đến ngài cung cấp cho.

Nhân dân ở bốn phương trời nghe tin đều tìm đến.Hoàng tử rất ân cần thiết đãi thức ăn uống, chăm nom phân phát của cải; mọi người đều được vui vẻ. Trong bảy ngày, Hoàng tử bố thí hết của cải. Người hàn vi trở nên phú quý cả muôn người nhờ đó được no ấm hân hoan.

Đông cung vào tạ từ Công chúa Mạn Trà và nói rằng:

- "Vì tôi bố thí thái quá, đã vét sạch kho tàng lại còn cho kẻ nghịch tượng bạch kỳ tài, nên phụ hoàng và triều đình đ ày tôi 12 năm lên núi Đàn Đặc".

Bà Mạn Trà nói:

- "Muốn nước thạnh nhà an, tôi xin cầu chúc Đức Thành hoàng, các thượng quan cùng quân dân lớn nhỏ trong nước, thảy đều được giàu sang, an vui vĩnh viễn. Còn tôi thì tôi nguyện theo cùng Thái tử vào chốn thâm sơn mà tu hành pháp "Bát nhã.

Đông cung nói:

- "Người nam tử ở núi non hiểm địa còn khó giử được bình an với cọp hùm cùng các loài thú dữ khác; Vương phi đã quen thanh nhàn, làm sao chịu nổi với cảnh khó khăn và đời vô vị. Công chúa ở thì đ ài các nguy nga, mặc ròng tơ lụa, nghỉ toàn nệm gối, ăn uống tinh đồ mỹ vị còn trên sơn lâm, nghỉ ngoài màn trời chiếu đất, nệm gối bằng cỏ rơm, thức ăn toàn là hoa quả. Lại thêm mưa, gió, sấm, sét, sương, tuyết làm cho vỡ mật kinh tâm. Khi lạnh thì lạnh thấu xương, khi nóng thì nóng phỏng trán. Nơi cây cối không bề nương dựa, dưới đất thì cỏ gai, đá sỏi cùng loài sâu bọ độc địa, làm sao Vương phi lại chịu nổi cảnh khổ ấy?"

Bà Mạn Trà đáp:

- "Nếu thiếp xa cách Hoàng tử thì cần gì nệm thúy gối loan, sơn hào hải vị. Hôm nay đứng trước hoàn cảnh này thì lẽ đương nhiên chàng đâu thiếp đó cho trọn đạo vợ chồng. Nước lấy cờ làm biểu hiệu, khói thì có lửa, vợ thì có chồng. Thiếp chỉ biết gởi thân cho lang quân, mặc dầu mưa tối nắng chiều. Thiếp tưởng: Lang quân chẳng khác chi thần thức của thiếp, nếu thần thức xa lìa thì thân kia tan rã. Vả lại lúc lang quân lập đ àn bố thí, thiếp cũng dự vào, khi lang quân lìa quê hương nếu có người đến xin thọ thí, thiếp sẽ biết nói làm sao với họ? Lúc thiếp nghe ai khẩn cầu với thí chủ, thiếp quá cảm động có thể chết đặng vậy?

Đông cung nói:

- "Tôi mở đường bố thí, không từ chối một ai, nếu có người đến xin hai con, tôi rất hoan hỉ nhận lời. Khi ấy, Công chúa không vui lòng hưởng ứng, có phải là làm rối loạn tâm từ thiện của tôi không? Tốt hơn là Công chúa đừng theo tôi làm chi.

Mạn trà đáp:

- "Hoàng tử chớ quá lo xa, tôi xin tán thành mọi việc phước thiện. Lang quân ôi! Trong trời đất không còn ai nhơn đức hơn lang quân!"

Đông cung nói:

- "Nếu quả Vương phi đồng tình thì không gì quý hóa bằng!"

Đông cung dắt vợ con vào viếng mẹ và từ giã lên đường. Thái tử thưa:

- "Cúi xin mẫu hậu hảy nên nhắc nhở phụ hoàng, lấy luật chơn chính trị nước chăn dân, chớ để tà đạo sang nhập nước nhà."

Nghe lời Đông cung, Hoàng hậu bồi hồi cảm động âu sầu. Bà nói giữa cung phi:

- "Ta đem thân cứng cõi như sắt đá, lấy lòng bền bỉ hơn gang thép mà phò Hoàng thượng không chú chi lỗi lầm. Nay ta có một mụn con vỏn vẹn, nó lại bỏ ta mà đi, tưởng tới chừng nào thì tâm bào ta đứt từng đoạn! Nhớ khi con còn trong bụng mẹ, chẳng khác chi lá trên cành, càng ngày càng lớn, ta nuôi con đến tuổi trưởng thành, nó lại đi xa, bỏ ta hiu quạnh! Các Vương phi khác sẽ được thú vui chơi, còn ta thì Hoàng thượng sẽ hết yêu vì ta nữa. Ta xin thành tâm chú nguyện vùng cao xanh cho con ta được mau trở về xứ sở".

Đông cung cùng vợ con đồng lạy mẹ rồi lui ra.

Hai muôn quý phi mỗi bà đều đem ngọc trân châu đặïng hiến cho Đông cung: Bốn ngàn thượng thơ đem tràng hoa và thất báu dâng cho Hoàng tử.

Hoàng tử ra cửa thành hướng Bắc, ngài lấy cả thảy bảy vật báu, ngọc và bông hoa bố thí cho mọi người. Cả thảy quan dân lớn nhỏ vô số đến đưa đón chật đường, chen nhau dâng lễ vật cùng chúc từ cho Hoàng tử. Họ bàn luận cùng nhau và nói:

- "Đông cung Thái tử là người trọn lành, là bậc vĩ nhân trong nước. Vì sao Hoàng thượng lại xua đuổi một vị Hoàng tử quý nhất và hiếm có trong đời này". Mọi người đều hoài tâm thương tiếc.

Ra khỏi thành, Hoàng tử xin thần dân trở gót đặng ngài lên đường. Lúc quay lưng, quan dân lớn nhỏ đều bi cảm và khóc nức nở.

Thái tử lên xe với vợ con, tự cầm cương dục ngựa. Đi một khoảng đường xa xa, Thái tử dừng xe dưới bóng cây nghỉ mát. Bỗng có một người Bà La Môn đến xin ngài con ngựa. Thái tử mở ngựa ra cho, rồi để hai con lên xe, mang gọng xe vào kéo thế cho ngựa, Công chúa thì ở sau xe đẩy tới. Đi thêm được một khúc đường, lại gặp một người Bà La Môn, đón xin cái xe. Đông cung liền nhận lời. Đi một khúc xa hơn nữa, lại gặp người Bà La Môn xin bố thí. Thái tử nói:

- "Tôi không muốn từ chối, song của cải tôi đã hết". Người Bà La Môn đáp:

- "Nếu ngài không còn của cải gì khác, xin ngai cho tôi y phục của ngài đang mặc trong mình". Đông cung lấy quần áo tốt của mình cho, rồi mặc đồ cũ. Đi một đổi xa nữa, gặp một người Bà La Môn khác xin bố thí, Đông cung cho quần áo của vợ. Một đỗi xa hơn nữa, lại gặp một người Bà La Môn đến xin thọ thí, ngài cho quần áo của hai con. Đông cung đã bố thí cả xe, ngựa, của cải và áo quần mà không buồn không tiếc chút nào. Bấy giờ Đông cung thì cõng con trai, Công chúa thì bồng con gái, đi bộ lên đường. Cả thảy vợ chồng con cái đều hân hoan, nhắm non thẳng tiến.





Núi Đàn Đặc xa lắm, cách châu thành hơn 6000 dặm. Muốn đi đến nơi, phải trải qua không biết bao nhiêu hầm hố bùn lầy, phải nhịn đói chịu khát nữa.

Cứ ngày đi đ êm nghỉ, xuân qua thu lại, hè mãn đông sang, tội nhân đã đi đến núi Đàn Đặc. Hoàng tử ngắm xem phong cảnh thấy núi cao chơm chởm oai nghi, cây cỏ sầm uất thạnh mậu. Các thứ chim ca hót với giọng véo von, hồ trong hoa nở nước ngon trái ngọt với vô số ngỗng, hạc, vịt chài cùng các loài chim ăn dưới nước.

Hoàng tử nói với vợ:

- "Ở đây cây mọc thẳng bằng, cao sừng sững tận trời xanh mà không lay động. Chúng ta sẽ được uống nước ăn trái ngọt, ở trong hang đá chúng tôi sẽ tu hành pháp Bát nhã. Đông cung vô núi, tất cả thượng cầm hạ thú đều vui mừng nghinh tiếp Ngài.

Trên chóp núi có một vị tu hành tên là A Châu Đà. Ngài được 500 tuổi và đức hạnh dung thông. Đông cung đến thi lễ rồi lui ra đứng dậy và nói:

- "Bạch ngài hiện giờ chúng tôi chưa biết phải ở nơi nào có thức ăn uống?"

Ông A Châu Đà đáp:

- "Toàn núi này đều là cảnh thiên thai, ngài ở đâu lại không được? Núi này chỗ nào cũng tinh sạch và thanh tịnh, ngài muốn hành pháp Bát nhã lại còn đem vợ con theo làm chi".

Hoàng tử chưa kịp trả lời, bà Mạn Trà chận hỏi:

- "Ngài tu được bao lâu?"

- Tôi ở núi này được đâu 400 hay 500 năm.

- Một người như tôi ước tu bao nhiêu năm mới đắc huệ? Giả tỷ tôi ở núi này lâu hơn cổ thọ cũng khó tính cho ra đến chừng nào đạt được đạo Bồ đề.

Ông tiên đáp:

- "Kỳ thật mấy câu chuyện ấy, tôi cũng không biết được".

Đông cung hỏi:

- "Ngài có nghe nói đến tên Hoàng tử Tu Đại Noa, con của vua nước Diệp Ba chăng?"

Vị tu sĩ đáp:

- "Tôi thường nghe nói đến tên, song không biết mặt".

Hoàng tử nói:

- "Đông cung ấy là tôi đây".

Vị tu sĩ hỏi:

- "Ngài muốn tu pháp môn nào"?

Hoàng tử đáp:

- "Tôi muốn tu theo Đại thừa".

Vị tu sĩ nói:

- "Đối với công đức của ngài, tôi tưởng chẳng bao lâu ngài đạt mục đích viên mãn: Chừng ngài đắc đạo vô thượng, hoàn toàn sáng suốt, tôi sẽ là đệ tử thứ nhất của ngài có phép siêu phàm nhập thánh".

Rồi ông lại chỉ cho Hoàng tử một chổ ở. Hoàng tử bắt chước ông tròng cương vào đầu và vấn tóc, lượm nhánh và lá cây cất bốn lều tranh cho mình, vợ và con.

Con trai tên là Đa Ly 7 tuổi, mặc quần áo bằng cỏ rơm theo cha, con gái tên là Kê Na Diên mặc quần áo bằng da nai theo mẹ.

Trên núi chim chóc và cầm thú vui cười tỏ lòng tín ngưỡng và sùng bái Hoàng tử. Khi Hoàng tử đi tới đâu thì hang hóc nội mạch nước, cây khô lại đơm bông trổ lá, loài sâu bọ và ác thú thảy đều trốn mất: Loài thú ăn thịt trở lại ăn cỏ, cây sai trái, chim đồng tình kêu hót. Bà Mạn Trà lo hái trái cho Hoàng tử và con ăn. Còn hai trẻ khi thì đi chơi với cầm thú nơi mé rạch, khi lại ở đó suốt đ êm. Lần kia đuổi thú chơi, con trai Đa Ly cởi sư tử, sư tử nhảy. Đa Ly té xuống đất trầy mặt chảy máu. Một con khỉ thấy, leo lấy lá cây chùi máu, rồi dắt lại bờ ao rửa. Hoàng tử thấy cảnh ấy thầm nói:

- "Loài cầm thú cũng có lòng thương nhân loại như vậy".

Trong thời kỳ ấy, tại xứ Câu Lưu có một người Bà La môn nghèo khổ, bốn mươi tuổi, có vợ không con. Vợ chàng thì yểu điệu, đẹp đẽ, phương phi; còn chàng thì xấu xa, mình mẩy đen điu, diện mạo quá dị tướng, chẳng khác chi yêu ma quỷ mị. Vợ chàng gớm ghét mong sao chàng chết phức cho rồi. Ngày kia cô ta đi múc nước gặp một đám trai tráng nhạo báng chồng nàng và nói:

- "Bà thì ví tợ thiên kim, cớ sao lại làm vợ một người như thế?"

Cô ta trả lời:

- "Cái đầu già nua ấy bạc trắng như sương, sớm tối tôi hằng trù rủa cho nó chết, chẳng biết sao nó không nhúc nhích". Đáp rồi tự than thân trách phận, về nhà khóc nói với chồng:

- "Thiếp đi múc nước gặp một lũ trai tơ xúm nhau diễu cợt. Vậy chàng phải kiếm cho thiếp một con đòi, chừng nào có đứa ở thiếp khỏi đi xách nước, bọn ấy mới hết chọc ghẹo thiếp."

Người chồng trả lời:

- "Tôi nghèo xác nghéo xơ, nàng lại muốn tôi mọi ở đâu?"

Vợ đáp:

- "Nếu không có, tôi tình nguyện bỏ nhà ra đi". Nàng lại tiếp lời:

- "Tôi có nghe Hoàng tử Tu Đại Noa, vì bố thí thái quá nên bị vua cha đ ày tại núi Đàn Đặc. Ngài có một trai, một gái, chàng nên thân hành đến đó xin hai trẻ."

Chồng bác lời rằng:

- "Núi Đàn Đặc xa hơn sáu ngàn dặm, khó đi đến nơi huống nữa là xin Thái tử một việc mà Ngài không thể cho!"

Vợ lên tiếng:

- "Nếu chàng còn do dự tôi sẽ mượn con dao tự tử ngay".

Chồng xuống giọng:

- "Thôi đừng vội giận, nàng coi sắm cho tôi ít đồ hành lý gì?"

Vợ nói:

- "Đi thì đi đi, nhà ta thiếu trước hụt sau, còn đòi đồ hành lý gì?"

Người Bà La Môn, cụ bị ít món đồ ăn rồi lên đường. Đến xứ Diệp Ba đi ngay lại cửa thành, chàng ta mới hỏi người giử cữa:

- "Xin ông thi ân cho tôi biết Hoàng tử Đông cung Tu Đại Noa hiện giờ ở đâu?"

Người giử cữa không dám trả lời vào báo Hoàng Thượng hay. Vua nghe tức giận và phán rằng:

Cũng vì lũ này mà ta đ ày Hoàng tử, sao chúng nó còn đến đây làm chi?"

Người Bà La Môn được đòi vào quỳ tâu:

- "Muôn tâu Hoàng Thượng tôi ở xứ xa lại, vì cái thanh danh của Hoàng tử Đông cung đâu đâu đều biết, trên thấu cửa thiên, dưới tận cửu tuyền, Đông cung có lòng bác ái không hề để một ai thất vọng. Bởi vậy nên ở xa, tôi cũng lặn lội đến đây chú ý thành tâm yêu cầu một đôi việc cùng Hoàng tử".

Đông cung ở chốn quạnh hiu, trong thâm sơn và quá nghèo khổ, người còn có vật chi nữa mà bố thí".

Người Bà La Môn tâu:

- "Muôn tâu Hoàng thượng, tuy biết Đông cung khiếm khuyết mọi vật, song tôi cũng chỉ nguyện đến tận nơi ra mắt ngài".

Vua dạy người chỉ đường.

Người Bà La Môn nhắm núi Đàn Đặc thẳng dặm băng ngàn. Anh ta vào núi gặp người thợ săn liền hỏi:

- "Xin ông thi ân cho tôi biết Hoàng tử Tu Đại Noa có ở trên núi hay không?"

Thợ săn tuy biết Đông cung bị đ ày ở đây song không chỉ chổ lại còn bắt anh ta trói Vào gốc cây đánh một trận nhừ tử, hết lời mắng nhiếc và nói:

- "Ta muốn cho ngươi vài mũi tên và ăn thịt ngươi, ngươi còn thiếu vật chi mà đến đây hỏi thăm Thái tử".

Người Bà La Môn nghĩ:

- "Ta sẽ bị tay thợ săn này giết, vậy ta phải tìm cách đánh lừa hắn mới mong toàn tánh mạng". Nghĩ rồi liền nói:

- "Theo lẽ phải thì Ngài hỏi tôi nguyên nhân trước khi hành phạt tôi cho đáng".

Thợ săn đáp:

- "Ngươi muốn nói việc chi?"

Người Bà La Môn nói:

- "Thưa ngài nhà vua hồi tâm thương nhớ Hoàng tử Đông cung, dạy tôi đi tìm Hoàng tử đặng thỉnh về nước".

Nghe vậy, thợ săn hối hận liền mở trói thả ra, nhận lỗi và nói:

- "Tôi thật vô lễ, xin ông miễn chấp, cũng bởi không hay không biết có chỉ Hoàng Thượng nên mới lỗi lầm như hôm nay". Nói rồi chỉ chổ ở của Đông cung.

Người Bà La Môn đi thẳng tới lều tranh của Đông cung, Hoàng tử thấy đặng rất đỗi vui mừng, ra tiếp rước, thi lễ và hỏi thăm:

- "Ông ở đâu lại? Có lẽ ông đi đường mệt nhọc thì phải? Ông đến tôi có việc chi chăng?

Người Bà La Môn thưa:

- "Tôi ở xa lắm, thân tôi khốn đốn không cùng, đương giờ tôi đói khát nửa."

Hoàng tử lật đật đưa vào cốc, đem trà nước và trái cây mời người Bà La Môn dùng. Khi no rồi, người Bà La Môn nói:

- "Thưa Đông cung Thái tử, tôi gốc ở nước Câu Lưu, đã lâu tôi nghe lòng từ thiện của ngài, thập phương thế giới đếu mến danh thơm và đức hạnh của ngài. Tôi quá nghèo khổ nhưng ngài thương tưởng tôi, cho tôi một vài vật".

Thái tử đáp:

- "Kính ông chẳng có việc gì tôi từ chối nhưng rủi cho ông, hiện giờ tôi không còn món gì".

Người Bà La Môn nói:

- "Thưa Đông cung, nếu ngài không có gì, xin ngài cho tôi hai trẻ con của ngài để phụng dưỡng tôi lúc trở về già".

Hoàng tử đáp:

- "Ông ở xa lại chú tâm xin hai con tôi, không lẽ tôi từ chối".

Lúc đó hai trẻ đi chơi, Hoàng tử kêu lại, và nói:

- "Có một người Bà La Môn ở xa đến xin hai con, cha đã hứa lời ưng chịu, hai con hảy đi với người".

Hai trẻ chạy đến một bên cha khóc rằng:

- "Chúng con đã từng biết nhiều người Bà La Môn, song chúng con không hề thấy người nào dị tướng như thế. Chắc người này không phải trong họ của Bà La Môn đâu, người ấy là quỷ yêu! Nay mẹ con đi hái trái chưa về, cha lại bắt con cho yêu tinh ăn thịt chúng con chết mất. Đến chừng mẹ con về kêu con chẳng thấy, thì chẳng khác gì bò mẹ kiếm con, người sẽ bi lụy, than van, đau khổ."

Hoàng tử nói:

- "Hai con chớ quá bịn rịn, cha đã hứa lời không thể thất tín. Người Bà La Môn này không phải là tà ma quỷ mị chi, không ăn thịt con đâu mà ngại, hai con hãy đi đi".

Hoàng tử lấy nước rửa tay cho người Bà La Môn, rồi kéo tay con cho người Bà La Môn dắt đi.

Hai trẻ không chịu đi, chúng trở lại trước mặt cha quỳ xuống và nói:

- "Thưa cha chẳng hay chúng con phạm tội gì trong kiếp trước mà ngày nay chúng con phải chịu lắm điều thống khổ. Chúng con là dòng vua, nay phải làm tôi tớ cho kẻ phàm phu. Trước mặt cha, chúng con xin sám hối các tội lỗi, có lẽ nhờ đó sự phiền não và nghiệp chướng của chúng con sẽ được tiểu trừ và hạnh phúc lại đặng phát khởi, mong sao đời này sang đời khác chúng con không còn gặp phải bước gian truân như thế nữa".

Đông cung nói với hai con:

- "Cả thảy ái tình đều là ảo mộng, một ngày kia phải hủy hoại, vạn vật đều vô thường, mấy ai giữ trọn vẹn một vật gì nơi trần thế. Hai con hãy đi, chẳng nên dùng dằng, chừng nào cha đắc đạo Bồ Đề, cha sẽ độ hai con".

Hai trẻ đôi mắt đỏ ngầu nói với cha:

- "Xin cha trao lời vĩnh biệt của hai con lại cho mẹ con, chúng con quá đau lòng vì nghĩa mẹ con xa cách đời đời, lại không giáp mặt tỏ phân một lời trong khi mẹ Bắc con Nam. Chẳng còn nghi ngờ gì nữa, cũng bởi tiền căn nghiệp báo của chúng con, nên nay chúng con phải chịu như vậy. Chúng con nghĩ đến khi mẹ chúng con về thấy mất hai con, người sẽ khổ tâm, đau đớn sầu não chẳng cùng, lo cho thân chúng con phải chịu đói rách phiêu lưu nơi đất khách".

Người Bà La môn nói:

- "Tôi già yếu, hai trẻ chạy bỏ tôi theo mẹ chúng nó, tôi lụm cụm theo bắt chúng nó sao được. Xin Đông cung trói nó giùm tôi".

Hoàng tử liền trói hai con giao cho người Bà La Môn dắt đi, nhưng hai đứa nhỏ cưỡng lại chẳng chịu, người Bà La Môn mới đánh chảy máu. Đau đớn thay cho Đông cung, thấy tình cảnh như vậy động lòng sa nước mắt. Cả trái đất đều rung động. Hoàng tử và cầm thú theo sau đưa tiễn hai trẻ, tới chừng biệt dạng mới trở về. Các loài lục súc trở lại chổ cũ hai trẻ thường chơi thấy cảnh chẳng thấy người, xúc động rên than thảm thiết, lăn lộn dưới đất.

Người Bà La Môn dẫn hai đứa nhỏ đi được một đoạn xa, dọc đường chúng vấn dây trói vào cây không chịu đi, chú ý chờ mẹ chúng nó đến cứu. Người Bà La Môn nổi giận, lấy cây đánh nhừ tử, đến nỗi chúng nó xin thôi đánh, chịu đi, mới nới tay.

Hai đứa nhỏ ngước mắt lên trời vái rằng:

Thần linh ôi! Hởi thần linh ôi!
Hoan hỷ mách dùm mẹ chúng tôi.
Xét dạ con đi sầu chất chứa.
Đau lòng mẹ ở lụy quên thôi.
Chạnh tình nuôi dưỡng chưa thù đáp.
Đoái nghĩa cưu mang chửa đáp bồi.
Ở biết bao giờ cho rãnh nghiệp?
Cuộc đời thiết tưởng bạc hơn vôi.

Cũng ngay lúc đó, Công chúa ở trên núi, nháy mắt khó chịu, bà lấy làm lạ và nghĩ: Thuở giờ mình chẳng hề có cảm động thái quá như hôm nay, chắc hai trẻ mắc phải tai nạn rồi". Bà liền bỏ giỏ trái lại đó, hối hả ra về.

Khi Công chúa về thấy Đông cung ngồi một mình không có hai con, bà vô lều tranh kiếm không có, bà lại trở ra mé rạch chổ chúng nó hay chơi giởn cũng không thấy. Bà chỉ thấy mang, sư tử, khỉ, mấy con thú thường chơi với chúng nó mà thôi. Bà Mạn Trà trở lại Hoàng tử ngồi và hỏi hai con ở đâu? Hoàng tử không nói.

Bà lại hỏi nữa:

- "Khi hai con ở xa thấy tôi đem trái về chúng nó chạy nhào lăn dưới đất, rồi lồm cồm ngồi dậy nhảy nhót:.

- "Mẹ về"; khi chúng nó thấy tôi ngồi ở đâu thì đến ngồi kế một bên, thấy bụi bặm dính mình tôi liền phủi. Bây giờ tôi không thấy con tôi và chúng không lại gần tôi, chúng ở đâu? Ai bắt chúng nó? Không thấy con tôi, lòng tôi đứt từng đoạn! Chỉ cho tôi biết con tôi đi đâu và đừng làm cho tôi phải cuồng tâm".

Bà nói đi nói lại ba lần, Hoàng tử vẫn điềm nhiên không thốt một lời. Bà lại càng đau đớn hơn nữa. Bà nói chua cay như thế này:

- "Mất con tôi còn chịu được song sự lặng thinh của lang quân làm cho tôi thêm rối loạn".

Đông cung nói:

- "Có người Bà La Môn ở xứ Câu Lưu đến xin hai con và tôi đã cho rồi".

Công chúa thoạt nghe quá xúc động, vụt té xuống đất, bà đau đớn khôn cùng.

Đông cung nói:

- "Xin Công chúa hảy nguôi lòng. Phu nhân hảy nhớ lại việc xưa, hồi thuở Phật Đề Hòa Kiệt La ra đời.

Lúc đó tôi là một người Bà La Môn, tên là Ba Sô Vệ, còn Công tước phu nhân là con gái Bà La Môn tên là Tu La Đà, Công chúa cầm bảy liên hoa, còn tôi thì nắm trong tay một trăm bạc. Tôi mua năm bông sen của Công chúa đặng cúng dường Phật, còn Vương Phi thì đem thêm hai bông khác cho tôi dâng cúng Phật. Phu nhân lại lập nguyện như vầy:

- "Tôi nguyện cầu sao trong những kiếp vị lai, tôi cứ được làm vợ chàng, dầu lịch sự, dầu xấu xa tôi không hề xa chàng".

Tôi có nói với Công chúa rằng:

- "Nếu nàng muốn làm vợ tôi thì phải tuân theo chánh ý của tôi, tôi sẽ đem hết tâm lực hành pháp bố thí, không hề thối chuyển cùng làm trái ý một ai. Trừ cha mẹ tôi, ai xin vật chi tôi đều hoan hỉ. Công chúa ưng chịu bằng lòng. Nay tôi cho hai con, Vương Phi lại làm rối loạn đến mối từ tâm của tôi".

Nghe Đông cung nói bà liền tỉnh ngộ bà nhớ lại trong kiếp quá khứ kia, bà có hứa hẹn và nhận các việc bố thí của Thái tử.

Đế Thích thấy Hoàng tử hành pháp bố thí Ba La Mật Đa, cố ý thử lòng Hoàng tử. Ngài hóa thân làm người Bà La Môn xấu xa và cũng dị tướng như người trước, đến trước mặt Hoàng tử thốt rằng:

- "Đông cung ơi! Tôi hằng nghe Đông cung rất hoan hỉ làm các việc phuớc thiện và không hề từ chối việc chi. Vậy tôi đến đây xin bà Vương nữ, vợ của Đông cung".

Hoàng tử đáp:

- "Công chúa là người của ngài".

Công chúa nói:

- "Nếu Thái tử cho tôi rồi lấy ai mà giúp đỡ Thái tử".

Đông cung nói:

- "Nếu tôi không cho Công chúa thì tôi không đạt được đạo vô thượng Ba La Mật".

Thái tử múc nước rửa tay cho người Bà La Môn và dắt vợ cho người.

Đế Thích đã nhận được lòng Thái tử không còn tiếc việc chi. Các thiên thần lại ca tụng lòng từ bi bác ái của Đông cung, tức thì trời đất tối tăm, thế giới rung động.

Người Bà La Môn dắt Công chúa ra đi được bảy bước, trở lại trả Công chúa cho Thái tử.

Thái tử hỏi:

- "Sao ngài không giữ Công chúa cho ngài?

Công chúa nết na tánh hạnh xấu chăng? Trong cả Hoàng nữ, Công chúa là cực phẩm phu nhân, nàng là Công chúa của một nhà vua kim thời. Cũng vì tôi mà nàng phải nhảy vào vạc dầu sôi, trong đống lửa đỏ, phải chịu ăn uống kham khổ không hề than thở vì đau khổ phong trần; trong mỗi sự hành động, nàng rất ân cần chú ý và gương mặt vẫn thư thái tươi cười. Ngài nên đem nàng đi, tôi mới được an vui".

Người Bà La Môn nói với Đông cung:

- "Ta không phải là Bà La Môn, ta là Thiên Đế Thích. Ta đến thử lòng ngài. Nhưng bổn nguyện của ngài là chi?". Nói xong Đế Thích hoàn nguyên hình diện mạo oai nghi dung nhan tuyệt mỹ.

Công chúa đảnh lễ Đế Thích và cầu xin ba điều:

- "Trước nhất xin ngài làm sao cho người Bà La Môn đem lại con tôi về bán tại bổn xứ, sau xin đừng cho chúng nó đói khát, sau nữa xin cho chúng tôi được về nước cho chóng".

Đế Thích đáp:

- "Bà sẽ như nguyện".

Đông cung nói:

- "Kính ngài, tôi nguyện sao cho cả thảy chúng sanh đều được giải thoát và hết khổ về sự sanh, già, bệnh, chết".

Đế Thích:

- "Lời nguyện của ngài thật vĩ đại cao thượng không gì hơn. Nếu ngài muốn sanh cõi Trời, làm vua Thượng thiên, làm đại Hoàng đế tại cõi trần, trường thọ như bách như tùng, thì tôi có thể làm được như ý chớ cái oai linh tối yếu trong ba giới ra ngoài bản năng tôi".

Đông cung tiếp:

- "Tôi tạm xin cho được giàu có muôn xe đặng bố thí hơn xưa. Tôi mong sao cho phụ hoàng cùng các quan đại thần hoài tâm sum hiệp cùng tôi".

Đế Thích đáp:

- "Bản nguyện của Ngài sẽ được thành tựu". Dứt lời Đế Thích biến mất.

Đồng thời người Bà La Môn dẫn mấy đứa nhỏ về tới nhà. Vợ chàng ra đón và nhiếc rằng:

- "Thật chàng quả lớn mật to gan mới đem mấy trẻ này về đây. Nó là dòng dõi vua chúa, sao chàng lại tàn nhẫn đánh đập đến nỗi vết tích máu mủ đầy mình. Hãy tức khắc đem bán đi và kiếm đứa khác cho tôi".

Chồng nghe lời vợ đem hai trẻ đi bán.

Đến xứ ấy, các quan và dân nhìn biết con của Đông cung cháu nội của đức Kim thượng, lớn nhỏ đều động lòng thương xót liền vào tâu vua.

Vua nghe nói lấy làm ngạc nhiên, cho đòi vào. Xa xa vừa chợt thấy hoàng tôn, nhà vua, Hoàng hậu, quần thần và cung phi đều khóc nức nỡ. Vua hỏi người Bà La Môn làm sao có mấy đứa trẻ này? Anh ta tâu:

- "Tôi xin Đông cung Thái tử".

Vua kêu cháu đến và muốn ôm, nhưng nó khóc không chịu lại gần. Vua hỏi giá cả, người Bà La Môn chưa kịp trả lời, Hoàng tôn mạn tâu:

- "Trai định giá một ngàn bạc với một trăm bò cái, gái thì hai ngàn bạc với hai trăm bò cái".

Vua nói rằng:

- "Lẽ thường thì người ta yêu chuộng con trai hơn gái, sao trai lại rẻ giá hơn gái?"

Hoàng tôn nói:

- "Tâu bệ hạ những cung phi mỹ nữ của bệ hạ không phải là quyến thuộc của ngài, người thì hèn hạ hại đời; nhưng ai được Hoàng Thượng yêu vì thì được tăng phẩm tước, trang điểm mỹ lệ, ăn uống sung sướng! Ngài chỉ có một mụn con trai mà ngài đ ày chốn non rừng rậm, còn ngài thì sớm tối sung sướng với cung phi, chẳng chút đoái hoài tới tình cha con. Đó rõ ràng biểu thị trai ít có giá trị hơn gái".

Thoạt nghe, vua liền tỉnh ngộ, khóc than rằng:

- "Ta tội cùng cháu, lẽ nào cháu chẳng chịu lại gần ta? Các cháu ghét ta hay sợ người Bà La Môn?". Hoàng tôn vội tâu:

- "Chúng con đâu dám tự phép ghét Hoàng Thượng và chúng con chẳng sợ gì người Bà La Môn này. Xưa chúng con là con vua cháu chúa, nay lại tôi tớ kẻ phàm phu. Làm sao đứa nô bộc lại dám lòn dưới tay Hoàng thượng? Bởi vậy cho nên chúng con không thể tự tiện làm việc ấy".

Hoàng tôn càng nói, vua càng thêm sầu muộn. Liền đó vua trả theo giá định của người Bà La Môn, rồi gọi hai trẻ chạy vào lòng ngài.Vua ôm cháu vuốt ve và hỏi:

- "Cha con ăn mặc những gì trên núi?"

Hai cháu nói:

- "Cha con ăn toàn lê hoặc mễ cốc, mặc áo vải quần nâu, có trăm thứ chim làm cho cha con được giải khuây và không chút muộn phiền".

Vua cho người Bà La Môn về.

Hoàng tôn tâu:

- "Người Bà La Môn đói khát, xin Hoàng thượng cho người một bữa cơm".

Vua nói:

- "Vậy chớ cháu không giận nó sao, lại còn cho nó ăn uống nữa?"

Hoàng tôn tâu:

- "Cha hai con ham tu phước huệ, đến nỗi không còn vật chi bố thí nên đem hai con cho ông ta. Ông ta là chủ của con. Chúng con rất tiếc là chưa làm nô lệ cho ông ta, hòng phụ lòng bác ái của cha con. Chúng con sao đ ành để người đói khát. Cha chúng con còn cho chúng con được thay, huống chi bố thí một bửa cơm có lẽ nào Hoàng thượng lại từ chối?"

Vua lại sai sứ giả đi triệu Đông cung về. Được lệnh, sứ thần đi tìm Hoàng tử, tới núi Đàn Đặc liền tuyên đọc thánh chỉ và xin Đông cung lập tức về cung.

Đông cung đáp:

- "Hoàng thượng đã đ ày ta ở núi này 12 năm, như vậy còn một năm nữa mới mãn hạn, chừng nào khâm kỳ viên mãn ta sẽ về chẳng muộn".

Sứ giả về tâu lại cho vua nghe, rồi vua tự tay hạ bút đề thơ cho Thái tử như vầy:

- "Con thật đáng vị hiền nhân, nên lấy dạ khoan hồng quên chuyện đã qua. Cơn giận dữ có ích lợi gì, mà không trở về Tổ quốc. Cha đợi con về đặng đoàn viên cộng hưởng sự an vui".

Khâm sứ mang bức thư đem đưa cho Đông cung.

Tiếp chiếu, Hoàng tử liền quỳ lạy trước mật chiếu, đoạn lui lại, đi vòng mật chiếu bảy vòng rồi mới khai thơ ra đọc.

Hay tin Hoàng tử sắp hồi trào, các loài cầm thú nhảy nhót cảm động, kêu gào tha thiết, suối khe bỗng cạn, thú cái dứt sữa, chim chóc hót tiếng như than như sầu.

Cảm động thay loài cầm thú cũng biết đau thương trong khi vĩnh biệt.

Đông cung và Công chúa đổi y phục lên đường.

Nghe tin Đông cung về nước, vua địch dạy thám tử bắt bành vàng cho bạch tượng, lại đem theo một ô vàng đựng bạc, một ô bạc đựng vàng đón đường Thái tử xin trả lại và tỏ dấu ăn năn hối ngộ cùng Hoàng tử như vầy:

- "Trước kia bởi mê muội tôi cố ý xin ngài voi báu, vì tôi nên ngài phải bị đ ày ở thâm sâu rừng rậm. Nay nghe tin ngài về nước, tôi rất vui mừng cho khâm sứ đưa bạch tượng trả lại cho ngài cùng dâng chút lễ bạc vàng, rất trong mong được ngài hạ cố và thứ lỗi cho tôi".

Đông cung nói:

- "Giá như một người kia sắm sửa các thức ăn đủ mùi vị và dâng cho ai dùng, người ấy ăn vô rồi nhả ra, thức ăn đó còn hương vị thanh khiết chăng? Các việc bố thí của tôi chẳng khác chi đồ ăn kia, thế thì tôi không thể bắt voi lại. Các quan hãy lên tượng mà về và nói tôi có lời cảm tạ nhà vua."

Thám tử lên voi về tâu lại nhà vua. Cũng nhờ câu chuyện con voi mà vua địch tỉnh ngộ, trở nên người hiền, thành bậc trượng phu. Vua quan và dân lại tín ngưỡng đạo Bồ đề và bắt đầu hành pháp vô thượng Ba La Mật Đa.

Hoàng thượng, cha Đông cung ngồi đón con. Hoàng tử thấy vua cha, vội bước đến đảnh lễ sát đất rồi theo sau vua cha. Cả thảy văn quan, võ tướng và lê dân rất hoan hỷ đồng rải bông, đốt hương trầm treo cờ lọng, rưới nước thơm dưới đất, làm lễ tiếp rước Đông cung một cách long trọng linh đình.

Đông cung đã về tới thành, liền vào lạy và vấn an Hoàng hậu.

Hoàng thượng giao cho Đông cung hết thảy kho tàng trong nước. Thái tử đem ra bố thí cho thập phương và còn nhân đức hơn xưa. Sự bố thí của ngài viên mãn nên sau này ngài sẽ chứng quả Niết bàn.

Đức Phật nói với ông An Nan:

- "Đó là cách ta hành pháp bố thí trong một tiền kiếp của ta. Đông cung Tu Đại Noa tức là ta đó vậy."

thuhanoi
01-02-2005, 01:57 PM
2- Cặp Mắt Thái Tử Câu Na La

Thuở xưa ở Ấn Độ có một ông vua tên là A Dục trị dân rất công bình. Hồi còn trẻ, tính Ngài hay giận dữ nhưng dần dần ngài trở nên hiền từ dịu dàng. Nhờ gương sáng của Ngài, nhờ huấn dụ đưa ra, ngài dạy cho dân tính nhã nhặn đối với mọi người và lòng bác ái đối với kẻ khổ sở. Ngài lập bệnh viện để chữa người bệnh, lập công viên để người và vật khỏi bị khát nước, sai trồng hai bên đường những cây ăn quả và cây để làm thuốc.
Người con đầu của Ngài có cặp mắt đẹp hiền từ như chim "Câu La Na". Vì thế người ta gọi chàng là Câu La Na. Đức vua rất đỗi yêu mến. Hoàng hậu Liên Hoa là mẹ của Thái tử.
Hoàng hậu mất sớm. Nhưng Thái tử rất được vua cha yêu dấu và tin dùng. Lòng từ ái, tính dịu dàng và khiêm nhường của Ngài làm nhân dân rất yêu mến và kính trọng. Vợ ngài rất dịu dàng, bao giờ cũng làm vừa lòng Ngài, tên nàng là Ma Đa Vi.
Hoàng hậu mất, vua A Dục lấy một người vợ kiêu căng và độc ác tên là Xích Di. Sau khi nàng sanh được một con, nàng ao ước nó sẽ được nối ngôi thay chân Câu La Na, và tuy không để lộ ra một cử chỉ gì, lòng nàng rất ghét người con ghẻ.
Nhân khi vua mắc bệnh nặng, các thầy thuốc đ ành bó tay, nàng Xích Di tìm cách chữa khỏi, vua tỏ ý muốn tạ ơn nàng, nàng xin vua cho con nàng được nối ngôi. Thật là éo le cho vua A Dục. Ngài lấy làm buồn nhắc lại lời hứa với chánh hậu lúc lâm chung là chỉ truyền ngôi cho Thái Tử Câu La Na mà thôi. Ngài nói:
- "Ta có thể từ bỏ ngôi báu chứ không thể phụ lời hứa được".
Thấy chuyện không lành, Xích Di xin vua cầm quyền chánh một ngày mà nàng sẽ định sau. Vua nghe lời, và nàng định nhân dịp ấy mà làm những việc ghê gớm.
Trong nước có một thành gọi là Đắc Xô Thi La nổi lên chống lại các quan cai trị của nhà vua. Chính Hoàng hậu Xích Di cũng dính vào việc ấy. Thật thế, trước hết nàng cho các quan tiền rồi bảo lấy thuế dân thành ấy thật nặng, sau xúi dân nổi lên làm loạn. Hoàng hậu xúi dân nên yêu cầu vua cho Thái tử Câu La Na ra cai trị thành ấy, lấy cớ rằng chỉ có Thái tử là công bình mới dẹp loạn được. Sáng hôm sau các đại biểu thành Đắc Xô Thi La đến để yêu cầu việc ấy, Xích Di tâu vua cho được tự tiện dùng ấn của ngài, là cái ấn dùng để niêm phong những sứ mệnh gởi đi. Thế tức là nàng nắm được quyền hành trong ngày ấy.
Hoàng hậu tán thành lời yêu cầu của các đại biểu, tâu vua rằng chỉ có Hoàng tử được dân khâm phục và vì thế đưa dân đến chỗ bình an mà không có cuộc bạo động gì. Vua nghe lấy làm bối rối, vì ngài nghi hoàng hậu có manh tâm.
Có gì nguy hiểm bằng sai Thái Tử đến một thành phiến loạn.
Thấy vua lo âu, Hoàng hậu giả vờ đau đớn nói rằng:
- "Nếu Hoàng Thượng còn nghi ngờ lòng thiếp thì từ nay thiếp sẽ không nói gì nữa". Rồi nàng giả bộ giận hờn trả ấn lại cho vua cha, vì nàng biết thế nào vua cũng không nỡ thu. Thật thế, vua A Dục trọng lời hứa không dám lấy ấn lại. Thái tử cũng một mực xin đi, ngài phải bằng lòng. Nhưng muốn cho chắc chắn ngài định cho một đội quân đi hộ vệ Hoàng tử. Hoàng tử từ chối việc ấy, vì ngài nghĩ muốn tránh sự đổ máu, phải hành động rất mau: Nếu đi với đạo quân thì mất nhiều thời giờ, ngài lại nói rằng. "Nào phải thấy gươm giáo như rừng, nghe tiếng ngựa hý, voi gầm, tiếng xe, tiếng trống, tiếng kèn, mà yên nhân tâm được đâu".
Vua không nói gì nữa, Thái tử từ giã vua cha, từ giã nàng Ma Đa Vi rồi một mình cưỡi ngựa Ma Đăng La phi đi mau như gió. Chàng có ngờ đâu sau lưng chàng có người kỵ mã phóng nước đại. Đó là một người mang trong mình một sứ mạng có niêm ấn vua kỹ lưỡng.
Thái tử cưỡi bạch mã đi mau như bay. Hai bên đường làng mạc núi đồi đồng lúa rừng xanh như thụt lui lại. Nhưng cái tên chàng còn đến nhanh hơn, vì nhân gian mong ngài đến lắm. Họ sửa soạn tiếp chàng. Kẻ thì rắc hoa xuống đường, kẻ thì hái quả để hiến, đâu đâu cũng dậy tiếng hoan hô. Nhân dân xin Thái Tử tha tội vì dân chúng không dám nổi lên chống vua, mà chỉ vì bọn tham quan ô lại. Nghe tiếng kêu vang ngài lấy làm thương hại tha lỗi mà đi vào thành giữa tiếng nhạc vang lừng. Thái tử đặt lại thuế má chọn người công bình ra trị dân; dân lấy làm mừng rỡ và phái đại biểu về tâu vua tỏ bụng trung thành, và ca tụng Thái tử đã đưa lại sự yên ổn.
Thành Đắc Xô Thi La đang vui vẻ thì bỗng nhiên người cưỡi ngựa theo Thái tử vừa đến, và giao cho công chức trong thành một cái dụ. Mở ra xem ai nấy đều sửng sốt sợ hãi vì đạo dụ ra lệnh:
- "Phải móc mắt Thái tử Câu Na La kẻ thù lợi hại của nhà vua và là kẻ làm nhơ nhuốc nòi giống".Đạo dụ lại nói rằng khi đã làm hình phạt ấy rồi, không được người dân nào cứu giúp Thái tử và cấm không được nói đến tên ngài nữa.
Các viên chức không dám cho Thái tử biết đạo dụ vô nhân đạo ấy. Sau một đ êm lo ngại, họ nói với nhau rằng:
- "Nếu ta không tuân lệnh sẽ bị nhiều nguy hiểm. Đến Hoàng tử là người tốt đối với tất cả thiên hạ mà nhà vua còn bắt tội nữa là chúng ta".
Ngày mai họ dâng đạo dụ lên Hoàng tử. Đọc xong ngài nói:
- "Đây chính là lệnh của nhà vua, vì có niêm ấn rõ ràng, các ngươi cứ thi hành lệnh ấy".
Ngài cũng biết rằng vua cha chẳng bao giờ ra lệnh hành hình con, đó chỉ là do Hoàng hậu, nhưng đã có niêm ấn thì phải tuân theo.
Dân gian được tin sẽ thi hành mệnh lệnh tại một khoảng đất trống rộng giữa thành phố. Đến giờ đao phủ được lệnh móc mắt của Thái tử, nhưng bọn này chỉ chấp tay cung kính xin chịu:
- "Chúng tôi không ai đủ can đảm làm việc ấy".
Thái tử tháo chuỗi ngọc mang trên đầu đưa cho đao phủ nói rằng:
- Đây là tiền thưởng cho các ngươi để làm tròn phận sự. Chúng vẫn một mực từ chối. Sau cùng có một người hình thù quái gở, đến xin thay chân bọn đao phủ. Ông anh này cũng không có gan dùng tay móc mắt. Anh ta đốt một đống lửa lớn nung một thanh sắt đỏ rồi lại gần Thái tử. Thái tử ngồi tự nhiên để chịu đốt cặp mắt. Cảnh tượng bấy giờ thật đau đớn, đến nỗi hằng nghìn người chung quanh đều khóc vang lên.
Hành hình xong, Thái tử một tay chống trên người kia, một tay ra hiệu bảo mọi người chung quanh yên lặng. Thái tử khuyên phải xa ngài ra không được cứu giúp ngài và kêu ngài, y như trong đạo lệnh. Họ cúi đầu vừa đi vừa khóc, trong lúc ấy Thái tử nằm phục xuống đất. Nghe nắng dọi nóng, ngài lê đến một chỗ có bóng mát để nghỉ .
Lâu lắm, chung quanh ngài yên tĩnh không một tiếng động, bỗng ngài nghe tiếng chân ngựa dậm gần đến rồi có tiếng kêu thảm thiết.
Nhận ra đó là con ngựa Măng Đa La, ngài nói:
- "Còn con nữa, con cũng nên bỏ thầy con".
Con ngựa quanh quẩn vài lần rồi đi xa, ra khỏi thành phố, một mình lủi thủi trở lại con đường mà nó đã vui vẻ đưa Thái tử đi.
Mặt trời lặn. Một vài người động lòng muốn giúp Ngài. Song đã có lệnh cấm, họ đ ành đứng xa nhìn nhau lắc đầu. Sau mãi một bà lão nghèo đi lại gần ngài, lấy nước rửa chỗ đau và lấy cỏ băng lại. Bà đỡ ngài dậy, dìu ra khỏi cổng làng rồi đ ành thở dài trở về.
Trong lúc Thái tử đau đớn, thì đại biểu thành Đắc Xô Thi La được vua tiếp đãi ân cần, Thấy nói Thái tử được tung hô tôn trọng, lòng nàng Ma Đa Vi cũng bớt lo sợ, vì nghe chồng nàng phải đi dẹp loạn nàng vẫn áy náy không yên.
Mấy ngày sau, sốt ruột nàng đi đến chỗ nàng từ biệt chồng; qua ngày thứ ba, nàng bỗng thấy con ngựa Ma Đa La trở về một mình. Một linh tính ghê gớm thoáng qua óc nàng; rồi như cây gỗ bị đốn gốc, nàng ngã xuống bất tỉnh.
Tỉnh dậy, nàng nghĩ rằng có lẽ chồng nàng đã bị dân nỗi loạn giết chết:
- "Sao ta lại không tin chồng ta còn sống? Nếu chưa được tin chắc chắn, sao ta không đi tìm chồng". Nghĩ vậy nàng không để mất một phút, trở về cung, trút bỏ đồ trang sức, ăn mặc như người thường dân rồi trốn đi tìm chồng. Nàng không dám cho vua biết, sợ vua vì thương mà cản lại chăng.
Nàng lủi thủi đi về thành Đắc Xô Thi La, ruột đau như cắt. Dọc đường, gặp ai nàng cũng hỏi có gặp Thái tử không? Đi ngày này sang ngày khác chẳng được tin gì cả.
Một buổi sáng vừa ra khỏi chỗ trú đ êm, nàng liền gặp một người nông phu đang gieo mạ. Người ấy nói lúc rạng đông, nhân đi qua đám rừng nhỏ thấy một người trẻ tuổi mù mặc áo ra dáng ông hoàng; người nông phu liền cho người ấy mấy quả cây hái quả trong rừng và một chén nước lã.
Nàng Ma Đa Vi liền đến đó thì nàng thấy Câu La Na một mình ngồi trên viên đá. Nhưng đau đớn thay, cặp nhỡn tuyến của chàng đã tắt hẳn. Nàng khóc nức nở và quỳ trước chàng khóc nghẹn ngào, cầm lấy tay chàng hôn. Nghe nước mắt nhỏ xuống tay, Thái tử cảm động, đoán là nàng Ma Đa Vi. Nhưng chàng chưa dám tin, đến khi nghe rõ tiếng nàng thì không còn nghi ngờ gì nữa. Chàng bảo nàng ngồi xuống; trong lúc đang đau khổ ấy, được gặp người thân yêu, nỗi vui mừng khôn xiết.
Thái tử thuật lại cho vợ nghe những chuyện xảy ra. Rồi nàng đỡ chàng đứng dậy đưa chàng cùng về ra mắt vua cha.
Về phần vua A Dục từ khi được tin con ngựa Ma Đa La về một mình và nàng Ma Đa Vi đi trốn, ngài rất lo ngại. Ngài tức khắc sai sứ đến thành Đắc Xô Thi La để hỏi tin Thái tử và tìm nàng Ma Đa Vi. Nhân dân trong thành thấy vua lo ngại cho Thái tử liền hiểu họ bị cái dụ đầu tiên lừa. Sợ bị nghiêm trị, họ bèn tìm cách lừa sứ giả rằng không biết, vì dân chúng biết rằng nói sẽ bị trừng phạt. Sứ giả nghi dân đã giết Thái tử nhưng không có chứng cớ gì đ ành trở về.
Trong khi ấy, hai vợ chồng Thái tử cùng dắt nhau về kinh. Bấy giờ Thái tử đã trút bỏ bộ quần áo ông hoàng mà khoác đồ rách rưới vì trong tình cảnh ấy đồ trang sức chỉ làm thêm đau lòng. Đến đầu làng, hai vợ chồng cất tiếng hát trong trẻo dịu dàng, dân làng động lòng đưa cho đồ để ăn uống.
Một ngày kia hai người đến cung điện nhà vua. Lính canh cửa thấy người lam lũ nên không cho vào. Nhưng thấy cảnh thương hại áo rách bùn lầy bụi bậm nên cho vào trú ở chỗ chứa xe. Mỏi mệt hai người ngủ thiếp. Ngày mai vua A Dục đương buồn rầu nghĩ đến con thì ngài giật mình vì nghe tiếng hát quen tai; đó là tiếng hát của Thái tử ở trong nhà chứa xe. Ngài sai ra hỏi xem ai hát. Cận thần tâu rằng: đó là tiếng hát của người ăn mày mù, đi với một người vợ. Vua liền sai dẫn cặp vợ chồng kia đến sân rồng. Thoạt đầu thấy người ăn mặc rách rưới nhà vua nghi ngờ chưa dám nhận là con nhưng bộ mặt hiền từ phúc hậu kia thật là của Thái tử, còn lầm sao được. Hơn nữa dầu nàng Ma Đa Vi áo quần thô kệch cũng còn dễ nhận. Vua đưa mắt nhìn dâu, nhìn con ôm choàng cả hai mà khóc nức nở.
Một hồi lâu vua mới định thần lại, hỏi vì sao Thái tử mắc nạn. Khi hiểu nguyên do, vua nổi giận, hỏi rằng:
- "Kẻ nào dám dùng ấn của trẫm để làm việc tày trời kia?".
Thái tử ngồi im, chàng không muốn nói vì sợ Hoàng hậu bị nghiêm phạt. Hỏi mãi, nàng Ma Đa Vi mới nhắc lại cho vua hay rằng Hoàng hậu Xích Di có được phép dùng riêng ấn vua trong một ngày. Đã nhiều lần vua nghi Hoàng hậu có bụng ác với Thái tử. Vì ngài nghĩ rằng, Hoàng hậu muốn con được nối ngôi nên muốn trừ Hoàng tử Câu La Na. Tuy nghi vậy ngài vẫn không dám tin. Nhưng bây giờ sự đã rõ ràng, người liền truyền lệnh vời Hoàng hậu đến.
Về phần Hoàng hậu, từ khi thi hành được thủ đoạn, mất ăn mất ngủ hễ chợp mắt là thấy hiện ra cảnh mắt Thái tử bị hành hình. Thế rồi bà vừa tỉnh dậy vừa la. Bà lo rằng tội bà sẽ có ngày tiết lộ. Bà tưởng tượng rằng từ vua chí dân, lính tráng, quan lại, ai cũng nhìn thấu rõ tâm can mình, khiến bà càng thêm khắc khoải lo sợ.
Khi có lệnh đòi, bà đoán biết là việc bại lộ. Lúc này bà mới hối hận, nhưng không nói ra tiếng nữa chỉ cúi gầm mặt xuống, đợi lời tuyên án. Thái độ ấy rõ ràng hơn lời thú tội.
Vua A Dục nỗi giận mắng lớn và truyền rằng trước khi đưa Hoàng hậu ra chém còn bắt chịu nhiều cực hình đau khổ đã. Thái tử tâu xin vua mở lượng từ bi giảm tội cho bà. Nhưng vua vẫn không nghe. Thái tử bèn quỳ xuống nói rằng:
- "Tâu lạy phụ vương, nào phải một mình Hoàng hậu phạm tội đâu! Đó chỉ vì kiếp trước con làm nhiều tội ác, nên nay bị nghiệp báo thôi. Đã từ lâu con cố nhớ xem lại kiếp trước con đã tạo nên tội ác gì nhưng mãi đến tối hôm qua, con mới nhớ rõ..."
Vua ngắt lời:
- "Như con thì có tội gì, con là người tốt nhất trên đời!". Thái tử cảm động đáp:
- "Một người hiền lương chưa hẳn là vô tội. Vì nếu kiếp này ăn ở hiền lành, nhưng kiếp trước bạc ác thì cứ phải chịu quả báo. Tâu phụ vương, thuở xưa, có một người đi săn, một hôm thấy năm chục con dê rừng trong núi, liền lùng núi bắt hết. Anh ta nghĩ rằng nếu giết hết thì tiêu thụ làm sao cho hết chi bằng ta móc mắt chúng đi, chúng không trốn được, ta sẽ lần lượt đưa từng con tới tỉnh mà bán. Nghĩ thế anh ta không ngần ngại liền dùng tay móc mắt chúng đi rồi thả vào hang núi để bán dần dần. Người đi săn ấy là tiền kiếp của chúng sanh, ngày nay là ngày cuối cùng người ấy trả nợ vậy".
Vua nghe lấy làm cảm động, nhưng còn phân vân chưa tin thì Thái tử ngồi ngay ngắn lại, chắp tay trước ngực mà nói rằng:
- "Nếu lời tôi nói đúng sự thật thì xin Phật chứng minh cho và mắt tôi sáng lại".
Lời nói vừa dứt, mắt Thái tử bỗng sáng như thường, vua A Dục và nàng Ma Đa Vi xiết bao vui mừng.
Vua bớt giận, ra lệnh ân xá cho Hoàng hậu Xích Di, chỉ buộc bà phải tìm chỗ yên để sám hối tội lỗi. Từ đó ngôi báu nhà vua vững vàng, còn Thái tử được chính thức phong Đông cung để nối ngôi sau này và nàng Ma Đa Vi sẽ là hoàng hậu.
Thái tử Câu La Na là tiền thân của Phật Thích Ca vậy.

Tịnh Ngọc
01-02-2005, 10:33 PM
Người đẹp gieo cầu


Cái tin “Người đẹp gieo cầu” loan đi rất chóng. Thế là hai vị Quốc vương ở nước lân bang chưa lập Hoàng hậu, và tám vị Ðông cung của tám nước chư hầu, thêm vào nhiều vị Hoàng tử đa tình với một số Vương tôn hiếu sắc đều xao xuyến cả lên.

Kinh đô xứ Ma Kiệt Ðà mấy tháng nay vô cùng náo nhiệt. Bộ kiến thiết xuất ra một số ngân quỹ lớn, để dựng lên những ngôi nhà mỹ lệ trang ngiêm chờ tiếp quý khách bốn phương.

Mùa đông, gió mưa đã lặng lẽ rút lui, trăm thứ hoa lan bắt đầu chớm nở để đón mùa Xuân về, kinh thành Ma Kiệt Ðà cũng rộn lên như trăm hoa vậy.

Rồi những đoàn lạc đà lông mướt như cỏ non, oai dũng tiến vào kinh đô, từng đoàn ngựa tốt yên cương toàn bạch ngân rầm rầm tiếp đến, và đây là đoàn bạch mã, hãnh diện trong những bộ yên cương vàng thắm như son. Nhưng người ta chú ý đến đoàn kỵ mã vào sau, có một đặc biệt làm dân chúng chú ý là phải. Một đoàn kỵ mã võ trang oai phong hùng dũng, tiếp đó là một thớt bạch tượng sắc trắng như tuyết, mướt như nhung, cổ bạch tượng đeo chuỗi anh lạc toàn thất bửu, bốn chân đeo nhiều lục lạc vàng mới y. Trên lưng bạch tượng, một thiếu niên anh quân, đây là vua nước Câu Ðà Thi Lợi cũng có một danh từ đặc biệt của dân chúng tặng là: Hoàng Ðế Tam Ða (đa trí, đa tham, và đa tình) từ khi mưu giết được anh, rồi lên ngôi Hoàng đế, ông có tài dụng binh rất giỏi nên các nước đều sợ oai, danh ông lừng lẫy bốn phương. Mặc dù nhà vua là một bậc anh hùng tái thế, nhưng phải cái bệnh cũng đa tình hiếu sắc. Khi nghe đồn con gái nhà vua Ma Kiệt là trang tuyệt sắc thì nhà vua mê mệt, và ước ao cưới được nàng sẽ sắc phong Hoàng hậu.

Vua cho sứ thần đem nhiều lễ quí qua cầu hôn. Sứ đi vua hồi hộp đợi chờ như trẻ con mong mẹ về chợ vậy. Nhưng anh hùng cái thế cũng phải toát mồ hôi, khi nghe tin công chúa từ hôn, vì cái lịch sử của mình không được đẹp (giết anh đoạt ngôi). Tuy chưa hề gặp mặt, nhưng chữ khuynh thành đã ám ảnh nhà vua, nên ông thề thế nào cũng cưới cho được nàng mới nghe.

Bỗng nay, cái tin Công chúa sẽ làm lễ gieo cầu, làm ông đặt nhiều hy vọng.

Trước khi lên đường, vua vỗ về bạch tượng: Phiền khanh chuyến này thật không phải vì tham đất nước nữa, chỉ mong khanh làm thế nào giúp trẫm, đoạt được quả cầu của mỹ nhân trẫm sẽ trọng thưởng.

Hôm nay là ngày lễ thần Phạm Thiên, trên lầu hoa cao, trước bàn thờ thần, bộ nghi lễ trang hoàng cực kỳ lộng lẫy. Người ta cắm trăm thứ hoa tươi xông một trăm thứ bông quý, đốt trăm nén hương thơm, thắp trăm đôi bạch lạp. Trăm đồng nữ xiêm y rực rỡ, trăm vị Phạm Chí lễ phục oai nghiêm v.v… Ở đây thứ gì cũng phải đủ số trăm để tượng trưng cầu “Bách niên giai lão”.

Các nhà danh cầm trong nước, đã vỗ nhiều bản nhạc đầy ý nghĩa: “Loan phụng hòa minh” hay “Sắc cầm hòa hiệp” v.v…

Ban nhạc cử lên, trăm em đồng nữ múa xong điệu, rồi rẽ ra hai bên tượng hình Song Hỷ, tiếp đó trăm vị Phạm Chí vào làm lễ cầu nguyện xong. Công chúa Vô Song trong phòng hoa đài các bước ra, kính cẩn quỳ trước tượng thần. Hai trẻ thanh y quỳ hai bên, dâng cao hộp ngọc đựng quả cầu, và bình pha lê đựng nước hoa thơm. Thanh y nghiêng bình pha lê rưới vào đôi bàn tay ngọc, rồi mở tráp dâng quả cầu, Công chúa nâng cao quả cầu lên đảnh (đây là quả bóng tròn, lớn bằng quả cam, ngoài bọc gấm quý, trên thắt trăm vòng dây kim tuyến) quả cầu chỉ có thế, nhưng đã mang lại một sứ mạng trọng yếu, nghĩa là tất cả cuộc đời của Công chúa, hạnh phúc an vui, hay bẽ bàng đau khổ, đều do quả cầu này định đoạt.

Nàng kính cẩn quỳ trước tượng thần rất lâu, khấn vái kỹ càng: ngày sanh, tháng đẻ, họ hàng làng nước v.v… cẩn thận nàng tha thiết cầu thần linh dun dủi, quả cầu gieo trúng người được nàng yêu, sẽ yêu nàng mãi mãi.

Những bản nhạc chúc mừng tiếp tấu du dương vừa dứt, hàng vạn âm hưởng lao xao đều ngừng bặt. Tất cả chú ý nhìn lên lầu hoa, Công chúa mặc lễ phục toàn sắc trắng tinh, đính nhiều hạt trai thêu thành trăm hoa. Trên đầu là một tràng hoa kết bằng kim cương. Toàn thân nàng là cả một tượng nữ thần kỳ công của nhà điêu khắc danh tiếng, hay một bức tranh mỹ nhân do bàn tay họa sĩ tuyệt tài. Thật không biết cái đẹp của hằng nga thế nào, nhưng ta cũng tạm mượn để ví với Công chúa Vô Song khi ở trong lầu hoa lộng lẫy bước ra. Nàng đứng hẵn ngoài bao lơn nhìn khắp một lượt. Thế là hàng trăm quả tim đứng đợi đoạt cầu, tuy không hẹn nhau mà đồng thời hồi hộp. Nhất là Hoàng đế Tam Ða, khi nhìn rõ Công chúa, ông kiêu hãnh và tự nghĩ: tài này sắc ấy thật xứng đôi, nếu ta đoạt được cầu thì ta thề sẽ thờ nàng trọn đời.

Công chúa nhìn khắp một lượt rồi dồi cao quả cầu tung lên giữa hư không…

Ôi! Bóng hạnh phúc, bóng hạnh phúc hiên ngang lơ lững giữa hư không, làm cho Quốc vương, điện hạ, sứ quân… ngớp ngớp chụp bắt. Nhưng làm sao bắt được bóng hạnh phúc???

Quả bóng vô tư gặp luồng gió nhẹ, và trên quả cầu có chùm kim tuyến, nên trăm mối chỉ xòe trông rất đẹp, nó cũng không rơi xuống ngay được. Vì thế quả cầu cắc cớ lơ lửng giữa không trung, chợp chờn trớ trêu trong khi trăm lòng mơ ước.

Bỗng người ta nghe có tiếng người la to: Á ông Sa môn, ông Sa môn ơi! Quả cầu vướng vào tích trượng của ông kia kìa.

Thế là trống kèn trổi dậy, để chúc mừng vị tân phò mã. Song vị Sa môn vẫn khoan thai từ bộ, hình như người không biết có việc gì xảy ra.

Ðại phàm cái gì có tương đối mới tương tranh, còn cái không ngờ thì thật lòng cũng không nghĩ đến ganh ghét kịp. Như cuộc gieo cầu này, nếu có một vị trong trăm vị Quốc vương đại thần… mà đoạt được quả cầu, thì chắc chắn có cuộc chiến tranh không khỏi. Nhưng đằng này quả cầu trớ trêu vướng tòn ten trên đầu tích trượng, thành thử trăm lòng như một, họ đều chưng hửng và rồi vì đồng cảnh thất vọng như nhau, nên họ thông cảm nhau rất dễ.

Phải chăng bóng hạnh phúc vô tình vướng vào đầu tích trượng hay tại Thần lãng tai nghe khấn lộn, chớ ai nỡ đem cái ân ái buộc cho người xuất gia ly dục bao giờ?

Không, không phải vậy. Thật ra khi Công chúa đứng trên lầu hoa, nàng đã thấy trăm quả tim rộn lên vì sắc đẹp của mình, nàng nghĩ thầm: Ôi! Chỉ vì một chút nhan sắc của ta, mà làm hao phí biết bao nhiêu của dân của nước… Ừ! Tim kia đã rộn ràng lên vì sắc đẹp thì sẽ có ngày lạnh lùng vì tuổi già. Và nếu một người trong số trăm người này đoạt được quả cầu thì ta e không khỏi xảy ra chuyện chẳng lành cho dân cho nước. Ðương bâng khuâng suy nghĩ, rồi nàng phóng tầm mắt nhìn xa và nàng đã thấy. Nàng thấy một vị Sa môn uy nghi trong bộ áo cà sa tay cầm tích trượng xa xa tiến lại, Sa môn từ bộ thản nhiên giữa đám người đang rộn rịp.

Ôi! Người đâu mà đẹp thế? Oai nghiêm như một vị thần linh ứng, từ bi như một bà mẹ dịu hiền và đĩnh đạt như một vị thầy mô phạm.

Tâm quan thanh tịnh của người ly dục phát ra một sắc đẹp phi thường. Công chúa sững sờ nàng cảm thấy tràn lòng yêu kính. Nàng nói một mình: Chỉ có quả tim này mới không rộn ràng trước sắc đẹp và chỉ có quả tim này, mới không lạnh lùng trước tuổi già. Công chúa nhắm ngay vị Sa môn… tung mạnh quả cầu vào người mặc dù trống dục còi thổi, nhạc trổi, người kêu. Vị Sa môn vẫn bất động, người cứ đi, và quả cầu cứ tòn ten trên đầu tích trượng.

Một toán ngự lâm quân phóng ngựa chạy theo: “Kính tâu tân phò mã. Xin người hãy dừng chân, xin phò mã hãy dừng chân lại…”.

Lạ thay người đi vẫn ung dung, mà ngựa chạy theo không kịp. Vua quan tân khách và dân chúng đều lao xao cả lên. Ðoàn ngự lâm quân phóng ngựa theo Sa môn, không biết đi về phương nào mà trông hoài không thấy.

Trên lầu hoa, cả hoàng gia ngồi chờ tin tức, nhưng mãi đến chiều tối, mới có một người trong đoàn ngự lâm ban sáng, bơ phờ trở về tâu lại mới hay, vị Sa môn ấy là Thái tử Tất Ðạt Ða con vua Tịnh Phạn nước Xá Vệ và Ngài đã xuất gia, thành Phật hiệu “Thích Ca Mâu Ni” Ngài và đồ chúng vừa đến hôm qua, hiện nay đang trú tại rừng Tân Tần Già. Còn đoàn ngự lâm theo Ngài lúc ban sáng nay cũng theo Ngài cạo đầu xuất gia học đạo hết rồi.

Vua ngao ngán nhìn con gái yêu: Không biết con tôi khấn khứa thế nào mà ra nông nỗi này. Con ơi! Sa môn là người ly dục, lòng đã sạch ái ân, quả cầu con rơi lạc hướng rồi con ạ!

Công chúa như người trong mê, nàng còn biết nói sao, khi lòng mình đã vướng một mối tình bâng quơ. Nàng nghe danh Thái tử đã lâu, không ngờ hôm nay nàng được gặp và nàng đã yêu nhưng nay nàng mới biết nàng yêu như thế chỉ tự mình đem muôn mối tơ thương, quấn bậy giữa hư không, hư không đâu có dính mắc?

Song nàng cố trấn tĩnh tâu với Phụ vương: Tâu Phụ vương và Mẫu hậu, con tưởng theo kỷ luật gieo cầu của nước ta từ xưa đến nay, bất luận người sang kẻ hèn, hễ ai trúng cầu thì được vợ, vì đây là lương duyên do thần định đoạt, nay quả cầu con gieo trúng Thái tử rõ ràng, thì con xin tình nguyện theo Ngài để sửa bát nâng y trên đường hóa độ. Vậy xin Phụ hoàng và Mẫu hậu hãy cùng con đi đến chỗ Thái tử xem sao?

- Thì đành vậy, chỉ còn cách đi đến điều đình với Phật chứ biết sao?

Thế là sáng sớm hôm sau cả Hoàng gia đưa con gái đến ra mắt Phật. Tin ấy loan ra, rồi tất cả một trăm phò mã hụt cũng tình nguyện đi theo, mặc du đều là tín đồ của phái Bà La Môn.

Sáng nay Ðức Phật bảo chúng Tăng đình việc đi khất thực lại, và vân tập để nghe Phật thuyết pháp. Phái đoàn Bà La Môn đến vừa lúc Ðức Phật thuyết pháp xong.

Vua và Hoàng hậu đi trước, đến Công chúa kế đó là các vị Quốc vương… xứ lạ, lần lượt tiến vào.

Ðức Phật ngự trên pháp tòa cao, oai nghi đồ sộ như núi Tu di, thân tượng chiếu ra một sắc đẹp lạ lùng. Hai bên hàng ngàn Tăng chúng ngồi im phắc như ngàn pho tượng vậy.

Vẻ oai nghiêm của Phật, sự yên lặng của chúng Tăng, đánh mạnh vào tâm khảm mọi người… Vua không đảnh lễ Phật, vì ông nghĩ dù là Phật song sẽ làm rể mình, không lẽ mình lạy rể? Vua phán:

- Kính Ngài, theo kỷ luật gieo cầu của nước chúng tôi, thì ai trúng cầu là được vợ. Hôm qua con gái tôi gieo cầu trúng Ngài, thế là Thần linh định lương duyên rõ ràng nên con tôi cũng tình nguyện theo Ngài trên đường hóa độ, phòng khi “nâng bát sửa y”.

Ðức Phật nhìn Công chúa, Ngài yên lặng một lúc Thế Tôn mỉm cười… bỗng trong kim khẩu phóng ra một đạo hòa quang xanh chiếu lên đỉnh đầu Công chúa, nàng toát mồ hôi, tụ thấy trên đầu rần rần ngứa, mồ hôi giọt xuống trán, xuống cổ, nàng lấy khăn lau rồi gãi, thì đụng một con gì mà xưa nay nàng chưa thấy cũng chưa biết tên, nàng len lén bỏ xuống đất (con chí đấy).

Phật lại phóng một đạo hào quang vàng vào đôi mắt Công chúa, nàng thấy xốn xang khó chịu, nước mắt tuôn ra, vừa lấy khăn lau, thì khóe mắt đọng hai cục ghèn khá lớn.

Phật phóng một đạo hào quang trắng, chui thẳng vào mũi, nàng hắt hơi năm bảy cái mũi chảy ròng ròng.

Rồi một đạo hào quang lục, tuôn vào trong miệng, Công chúa ngáp luôn một dây, tiếp ho luôn một chuỗi, nàng nghe trong miệng có mùi thối ghê.

Ðức Phật phóng thêm một đạo hào quang đỏ, chiếu vào thân Công chúa, làm nàng ngứa ngáy khắp người, gãi chỗ này chưa kịp đã ngứa chỗ khác, vừa lau ghèn thì mũi chảy, toan lau mũi thì chí cắn, nàng ho nàng ngáp, ụa, hắt hơi túi bụi, Công chúa nhăn nhó khổ sở, bao nhiêu vẻ yêu kiều diễm lệ biến đâu mất hết, nàng hoảng kinh như một người điên. Tất cả pháp hội, nhất là đoàn Bà La Môn đều rùng mình khiếp sợ.

Nhưng may thay, Ðức Phật đã nhiếp thần lực thâu hào quang lại. Công chúa và tất cả pháp hội như vừa thoát cơn mê dữ, nàng lấy lại bình tĩnh, sữa lại áo xiêm rồi quì mộp xuống đất, thôi thì vua quan chi cũng dẹp hết kiêu căng đồng quì xuống một loạt.

Nhân đấy Ðức Phật thuyết pháp: “Tứ Niệm xứ” cho cả đoàn nghe.

- Hỡi các thiện nam thiện nữ nhân: Công chúa Vô Song, xưa nay nổi tiếng kiêu căng vì ỷ mình có nhan sắc, nhưng không biết sắc đẹp chỉ tạm bợ một thời gian, dù có lấy phấn son nhung gấm ngọc ngà, bao bọc ở ngoài cũng không che được mắt người trí tuệ. Vừa rồi Như Lai phóng quang để trong pháp hội nhận rõ, thân người là bất tịnh, dù đương buổi niên hoa, nhưng không tắm thì hôi, đại tiểu vẫn thối, ghèn đờm mũi dãi, mồ hôi huyết khí tim gan phèo phổi v.v… mỗi chổ lại có vô số vi trùng rúc rẩy, phá hoại hoành hành thân thể chúng sanh trong từng sát na, thân thể chỉ là một đống nhơ nhớp đáng ghê tởm đối với người có trí tụê, ta lại quán sát do sáu căn xúc đối với sáu trần, lảnh thọ cảnh đẹp thì sanh tâm ưa, ưa thì muốn tất cả cái ưa về mình; lãnh thọ cảnh xấu lại sanh tâm ghét, ghét thì muốn đùa cái ghét cho người, nhưng mới ưa, thì ưa khó đến, đuổi ghét thì ghét không đi. Chung qui không ngoài khổ vui đối đải.

Như Lai thấy chúng sanh trong tam giới, ngồi bàn chuyện khổ vui, thật không khác hai tù nhân nói chuyện khổ vui trong lao ngục. Chỉ có khi nào ra khỏi lao ngục lấy lại được tự do mới thật vui vậy. Cũng như thế, chúng sanh còn ở trong lao ngục tam giới thì không thể nói chuyện khổ vui được, chỉ khi nào thoát khỏi lao ngục tam giới mới gọi là an vui chân thật.

- Này các thiện nam tử, thiện nữ nhân:

Ta lại quán sát các pháp là vô ngã, phân tể đầu số (chia chẻ quán sát) từ nhân sanh đến vũ trụ, đều do nhân duyên kết hợp mà thành, thật không có cái “ngã” thật thể, không có cái ngã tồn tại, người trí tụê quán vạn pháp đều như huyển nên không đắm trước…

Và ta lại quán tâm thức (vọng, tâm, ý thức) là vô thường, khi thương khi ghét, lúc giận lúc vui đều do ý thức phân duyên rồi phân biệt chấp trước điên đảo, vì vậy mà kiếp luân hồi trong biển sanh tử.

Như Lai vì quán sát: Thân bất tịnh, tâm vô thường, thọ thị khổ, pháp vô ngã… nên đoạn trừ được ân ái, dứt bỏ hẳn lợi danh, vào núi tuyết tu khổ hạnh và chứng được bốn đức Niết Bàn: “Thường, Lạc, Ngã, Tịnh”

Cảnh yên lặng trong chúng hội, tiếng phát âm của Phật du dương như một bản đàn vô huyền (không dây) thảnh thót như tiếng chim Ca Lăng, tất cả vua quan trong pháp hội mắt thấy tai nghe thân tâm vô cùng thanh thoát.

Công chúa Vô Song nhứt thời viễn trần ly cấu liền chứng quả dự lưu (Tu đà hoàn).

Riêng Hoàng đế Tam Ða, ông suy nghĩ nhiều trong lời Phật dạy: Ôi! Ta với Phật Thích Ca đều con vua cả, nhưng Thái tử Tất Ðạt đáng làm vua mà người chán nhàm ngôi báu, có vợ đẹp mà Ngài xa lánh yêu thương… còn ta chỉ vì đói danh lợi, khát tình yêu nên gây nhiều tội lỗi. Ôi! Ðều từ một con người nhưng Thái tử đã trừ tận cùng thú tánh, để vươn mình lên địa vị Thánh nhân, còn ta! Ta chỉ vì không ngự trị được lòng tham nên tự gieo mình vào địa ngục… Ôi! Dục vọng! Chỉ kết quả trong đau khổ, trong nguy hại…

Trong lúc ông quan sát và thành thật ăn năn tội lỗi của mình, nên tâm khai ý giải rồi ông xin tình nguyện đầu Phật xuất gia.

Phật bằng lòng, vào bảo Tôn giả A Nan trao y bát cho ông, lại cả cây tích trượng hôm qua nữa. Ông kính cẩn quì thẳng nhận lãnh pháp bảo, khi ông thấy quả cầu còn treo lủng lẳng trên đầu tích trượng bất giác ông mỉm cười: Ừ, bóng hạnh phúc! Rồi ông ôm chặt y bát vào lòng. Chỉ có hạnh phúc này, mới là hạnh phúc chơn thường bất biến… Ðưa mình và người đến nơi an lạc vĩnh viễn.

“Tìm hạnh phúc trong vật dục cũng như người đã khát nước lại còn ăn thêm đồ mặn.”