View Full Version : Góp Nhặt Cát đá
thuhanoi
27-01-2005, 12:08 PM
Một Tách Trà
Nanin, một thiền sư Nhật sống vào thời Minh Trị (1868, 1912), tiếp một giáo sư đại học đến hỏi về Thiền.
Nanin mời trà. Ông đã rót đầy tách của khách nhưng vẫn tiếp tục rót thêm.
Vị giáo sư ngồi nhìn trong tách tràn ra cho đến khi không kiềm mình được nữa:
- Đầy quá rồi. Xin đừng rót nữa.
- Ông giống như cái tách này.
Nanin nói:
- Ông cũng đầy ắp những quan niệm, những tư tưởng của ông. Làm sao tôi có thể bày tỏ thiền cho ông được, trừ phi ông cạn cái tách của ông trước?
Được Viên Kim Cương
Trong Con Đường Lầy
Gudo là sư phụ của hoàng đế. Tuy nhiên, Gudo thường rong chơi một mình như một tên ăn mày lang thang.
Một hôm Gudo đang trên con đường đến Edo, trung tâm văn hóa và chính trị của một thủ phủ, Gudo đến một làng nhỏ tên là Takenaka. Trời chiều và mưa rơi nặng hạt, Gudo bị ướt như chuột lột. Đôi dép rơm của Gudo tả tơi. Gudo để ý có bốn năm đôi dép trong cửa sổ một nông gia ở gần làng và định mua một đôi.
Thiếu phụ dâng dép cho Gudo, thấy Gudo bị ướt quá, mời Gudo nghỉ lại nhà trong đ êm đó. Gudo nhận lời, cảm ơn nàng. Gudo bước vào nhà, đọc kinh trước bàn thờ gia đình. Rồi thiếu phụ giới thiệu mẹ và các con nàng với Gudo, thấy cả nhà đều buồn, Gudo hỏi có việc gì quấy, thiếu phụ đáp:
- Ông chồng tôi là một người đánh bạc và nghiện rượu. Khi ăn, anh ấy uống rượu và trở thành thô lỗ. Khi thua, anh ấy mượn tiền của nhiều người khác. Đôi khi say quá, anh ấy không về nhà nổi. Tôi có thể làm được gì bây giờ?
Gudo nói:
- Tôi sẽ giúp chồng chị. Đây là một ít tiền. Chị hãy mua cho tôi một hủ rượu và một ít đồ ăn ngon. Rồi chị có thể đi nghỉ. Tôi sẽ thiền định trước bàn thờ.
Vào khoảng nửa đ êm người đ àn ông về, say mèm, hắn kêu lè nhè:
- Nè bà ơi, tôi đã về nè. Bà có gì cho tôi ăn không?
Gudo nói:
- Tôi có món cho anh. Tôi bị mưa ướt không đi được, vợ anh tử tế mời tôi ở lại đây đ êm nay. Đáp lại, tôi mua một ít rượu và cá này, anh có thể dùng được..
Người đ àn ông vui mừng. Hắn lập tức uống rượu và ngã dài xuống nền nhà thiếp đi. Gudo ngồi thiền định bên cạnh hắn.
Sáng hôm sau, khi người chồng thức dậy, hắn quên mọi chuyện đ êm qua. Hắn hỏi Gudo:
Ông là ai? Ông ở đâu tới đây?
- Gudo vẫn thiền định đáp:
Tôi là Gudo ở Kyoto và tôi đến Edo.
Người đ àn ông rất hổ thẹn. Anh ta cung kính xin lỗi vị thầy của hoàng đế.
Gudo mỉm cười giảng giải:
Mọi sự ở đời đều vô thường. Đời người chóng vánh. Nếu anh tiếp tục cờ bạc và uống rượu, anh sẽ không còn thời giờ để làm được việc gì, và anh còn gây khổ cho gia đình nữa.
Người chồng chợt tỉnh dậy như trong cơn mộng. Anh ta nói:
Ngài dạy chí phải. Làm sao tôi đền đáp được lời dạy kỳ diệu của ngài! Hãy để tôi mang đồ tiễn ngài một đoạn đường.
Gudo chấp thuận:
Nếu anh muốn.
Hai người bắt đầu đi. Sau khi họ đi được ba dặm đường, Gudo bảo anh ta quay trở về. Anh ta xin Gudo:
Xin cho đi năm dặm nữa.
Hai người tiếp tục đi. Gudo nhắc:
Bây giờ anh có thể trở về.
Anh ta đáp:
Xin mười dặm nữa.
Khi mười dặm đã qua, Gudo bảo:
Bây giờ anh hãy về đi.
Tôi sẽ theo ngài trọn quảng đời còn lại của tôi, anh ta tuyên bố.
Trong những thiền sư hiện đại ở Nhật, một bậc thầy nổi bật trong truyền thừa là người hắc đạo của Gudo. Danh hiệu ông là Munan (Vô Quy), người không bao giờ trở về.
thuhanoi
27-01-2005, 12:13 PM
Thế À ?
Thiền sư Hakuin được những người xung quanh ca tụng là người sống một cuộc đời trong sạch. Một gia đình người Nhật có tiệm bán thực phẩm gần nơi Hakuin ở, có một cô con gái đẹp. Bất ngờ, một hôm cha mẹ cô gái khám phá cô có thai.
Việc này làm cha mẹ cô gái nổi giận. Cô gái không chịu thú nhận người đ àn ông cô chung đụng là ai, nhưng sau bao nhiêu là phiền phức, cuối cùng lại là tên Hakuin.
Phẫn nộ vô cùng, cha mẹ cô gái đến ngay vị thầy này, Hakuin chỉ thốt lên vỏn vẹn hai tiếng:
- Thế à? Rồi thôi.
Sau khi đứa bé sinh ra, nó được mang tới trao cho Hakuin. Lúc đó Hakuin đã mất hết danh dự, nhưng việc này không làm cho Hakuin buồn. Hakuin chăm sóc đứa bé rất tử tế, Hakuin xin sữa của những người mẹ hàng xóm và những đồ dùng cần thiết cho bé.
Một năm sau, cô gái không chịu đựng được nữa. Nàng nói thật với cha mẹ nàng rằng người cha thật của đứa bé không phải là Hakuin mà là một thanh niên bán cá ngoài chợ.
Lập tức cha mẹ cô gái đến ngay Hakuin xin Hakuin tha lỗi, chuyện xin lỗi dài dòng và xin đem đứa bé về.
Hakuin ưng thuận. Khi trao lại đứa bé, Hakuin cũng chỉ thốt ra hai tiếng:
- Thế à.
Vâng Lời
Những buổi nói chuyện của Bankei không những chỉ có những Thiền sinh mà còn có cả những người thuộc các cấp bậc và các môn phái khác theo dõi. Bankei không bao giờ trưng dẫn kinh điển hay đắm mình trong những tranh luận có tính học giả. Thay vì, những lời Bankei nói ra trực tiếp từ tâm ông đến tâm những người lắng nghe ông nói.
Số cử tọa to lớn của Bankei khiến một tu sĩ môn phái Nichiren nổi giận bởi vì những đệ tử đã bỏ ông để theo nghe Bankei giảng thiền. Tu sĩ Nichiren này bèn đến thiền viện của Bankei với tư tâm định tranh luận với Bankei.
Tu sĩ kêu lên:
- Này, Thiền sư! Xin chờ một chút. Bất cứ ai kính trọng ông cũng nghe theo lời ông cả, nhưng một người như tôi không kính trọng ông đâu. Làm sao ông có thể khiến tôi theo lời ông được?.
Bankei nói:
- Hãy đến đây, tôi sẽ chỉ cho anh thấy.
Một cách kiêu hãnh, tu sĩ xô vẹt đám đông để lấy đường đến Bankei.
Bankei mỉm cười:
- Hãy qua bên trái tôi.
Tu sĩ vâng lời.
Bankei nói:
- Không, nếu anh sang bên phải tôi, chúng ta có thể nói chuyện hay hơn. Hãy bước sang đây.
Tu sĩ kiêu hãnh bước sang bên phải Bankei. Bankei nói:
- Anh thấy không, anh đang nghe theo lời tôi và tôi nghĩ rằng anh là một người rất hiền ngoan. Bây giờ, anh hãy ngồi xuống đó nghe đi.
Nếu Yêu Hãy Yêu Công Khai
Hai nhà sư và một Nanin có tên là Eshun, theo thực tập Thiền định với một thiền sư nọ.
Mặc dù đã cạo trọc và y phục tầm thường nhưng Eshun vẫn rất xinh đẹp. Nhiều nhà sư thầm yêu Eshun, một người trong bọn họ viết thư tỏ tình với Eshun, hẹn gặp mặt riêng.
Eshun không trả lời. Ngày hôm sau, sau khi thiền sư giảng bài cho mọi người xong. Eshun đứng dậy, hướng về người đã viết thư cho mình nói:
- Nếu thật anh yêu tôi nhiều lắm thì hãy đến ôm tôi đi.
Không Có Yêu Thương Tử Tế
Một bà lão Trung Hoa giúp đỡ một nhà sư hơn hai mươi năm. Bà dựng cho nhà sư một căn lều và nuôi ông ấy ăn uống đầy đủ trong thời gian ông thiền định. Cuối cùng bà muốn biết nhà sư Thiền đã tiến bộ như thế nào trong suốt thời gian qua. Muốn biết rõ ràng, bà lão đến nhờ một cô gái giàu dục vọng. Bà bảo cô gái:
- Hãy đến ông ta rồi bất ngờ hỏi ông:
Gì nào?
- Cô gái đến viếng nhà sư và vuốt ve nhà sư một cách rất tự nhiên rồi hỏi nhà sư đối xử với mình như thế nào.
Nhà sư đáp một cách thơ mộng:
Một cây cổ thụ mọc trên núi đá lạnh lẽo vào mùa đông, không nơi nào là không ấm áp.
Cô gái trở về kể lại tất cả những gì nhà sư đã nói.
Bà lão giận dữ than:
Nghĩ ta đã nuôi dưỡng hắn hai chục năm trời! Hắn không thèm chú ý tới sự đòi hỏi của cô, hắn không có ý định cắt nghĩa điều kiện của cô. Hắn không cần đáp ứng sự đam mê, nhưng ít nhất hắn cũng tỏ ra phải có một chút từ tâm chứ.
Lập tức bà lão đến đốt trụi căn lều của nhà sư.
Thông Báo
Vào ngày cuối cùng của đời mình, Tanzo viết sáu chục tấm thiệp, bảo một đệ tử gởi đi. Rồi ông qua đời. Thiệp viết:
Tôi đang rời bỏ trần gian này. Đây là lời cáo phó của tôi.
Tanzo. 27 tháng 7, 1872.
thuhanoi
27-01-2005, 12:18 PM
Đại Lãng (Sóng Lớn)
Một tay đô vật nổi danh tên là Onami (Đại lãng) sống vào đầu thời Minh Trị.
Onami mạnh vô cùng và biết thuật đấu vật. Trong những cuộc đấu riêng tư anh ta đã đánh bại luôn cả thầy, nhưng anh ta lại bị những học trò mình ném xuống đ ài trong cuộc đấu công khai. Anh ta cảm thấy xấu hổ vô cùng.
Onami thấy cần sự giúp đỡ của một thiền sư.
Hakuin, một thiền sư lang thang, đang dừng bước tại một ngôi đền nhỏ gần đấy, vì thế Onami đến viếng Hakuin và nói cho Hakuin nghe chuyện buồn của mình, Hakuin khuyên:
- Tên anh là Đại Lãng, vậy tối nay hãy ở lại đây. Hãy tưởng tượng anh à những con sóng to lớn đó. Anh sẽ là một tay đấu vật không sợ hãi nữa. Anh sẽ là những con sóng khổng lồ đó, đang đ ùa quét hết tất cả mọi vật trước mặt, đang nuốt chửng tất cả con đường của chúng. Hãy làm như thế và anh sẽ là một tay đấu vật vô địch trên đất này.
Hakuin rút lui. Onami ngồi tâm tư, cố gắng tưởng tượng mình là những con sóng. Onami nghĩ đến nhiều vật khác. Rồi anh từ từ chuyển sang cảm giác thấy sóng càng lúc càng lớn. Chúng quét sạch tất cả những bông hoa cắm trong những chiết độc bình. Ngay cả tượng Phật trên bàn thờ cũng bị ngập lụt. Trước khi trời sáng, ngôi đền chỉ còn là một cơn thủy triều dâng lên của biển cả mênh mông.
Sáng hôm sau, Hakuin tìm thấy Onami còn đang thuyền định, trên mặt anh thoáng nhẹ một nụ cười. Hakuin đập nhẹ vào vai nhà đô vật:
- Bây giờ thì không còn gì để quấy rầy anh được nữa. Anh là những con sóng đó. Anh sẽ quét sạch những gì trước mặt anh.
Ngay hôm đó, Onami vào cuộc đấu trắc nghiệm. Anh ta đã thắng. Sau đó, ở Nhật không ai đánh bại được anh ta.
Người Ta Không Thể
Ăn Cắp Mặt Trăng
Ryuokan một thiền sư sống cuộc đời đơn giản nhất trong một căn lều nhỏ dưới chân một hòn núi.
Một buổi chiều, một tên trộm viếng lều của Ryuokan lục soát để lấy đồ.
Ryuokan về bắt gặp hắn đang lục soát, nói:
- Có lẽ anh từ xa đến đây để viếng tôi. Vô lẽ anh trở về tay không sao. Hãy lấy quần áo của tôi để làm một món quà.
Tên trộm ngạc nhiên. Hắn lấy quần áo của Ryuokan rồi tẩu thoát. Ryuokan ngồi trần truồng trước mặt trăng thơ mộng:
- Hỡi người bạn nghèo khổ! Ước gì ta có thể cho anh mặt trăng đẹp này.
Bài Thơ Cuối Cùng Của Hoshin
Thiền sư Hoshin sống ở Trung Hoa nhiều năm.
Rồi Hoshin trở về miền đông bắc Nhật Bản, ở đây Hoshin dạy nhiều đệ tử. Khi thấy mình đã già lắm rồi, Hoshin kể lại cho đệ tử một câu chuyện mà Hoshin đã nghe được lúc Hoshin còn ở Trung Hoa. Câu chuyện như thế này:
Vào ngày 25 tháng chạp một năm nọ, Tokufu thấy mình đã quá già rồi, và biết mình đã sắp chết, Tokufu nói với các đệ tử:
- Ta không sống đến sang năm, vậy các anh hãy cư xử tốt với ta trong năm nay đi.
Các đệ tử tưởng ông nói đ ùa, nhưng Tokufu là một bậc thầy có tấm lòng đại độ, nên mỗi người trong bọn họ thay phiên nhau đãi tiệc Tokufu vào những ngày cuối năm.
Vào một buổi chiều năm mới, Tokufu kết luận:
- Các con đã đối đãi tốt với ta. Ta sẽ giã từ vào chiều mai, khi tuyết rơi.
Các môn đệ của Tokufu đều cười, cho rằng Tokufu đang đóng trò và nói chuyện vô lý bởi vì đ êm nay trời đất quang đãng, làm gì có tuyết rơi. Vào ngày kế các đệ tử không tìm thấy Tokufu ở đâu cả. Họ chạy vào thiền phòng. Tokufu đã qua đời tại đó.
Hoshin, người đã kể lại câu chuyện này nói với các đệ tử của mình:
- Một thiền sư không cần phải nói trước việc từ giã cõi đời mình, nhưng nếu ông ta thật sự muốn làm thế, ông ta có thể làm được.
Một đệ tử hỏi:
- Thầy làm được?
Hoshin đáp:
- Được. Ta sẽ nói cho các con biết những gì ta có thể làm được trong bảy ngày sắp tới kể từ hôm nay.
Không một đệ tử nào tin lời Hoshin. Hầu hết họ đã quên mất câu chuyện hôm trước khi Hoshin gọi họ đến quanh mình. Hoshin nhắc:
- Bảy ngày đã qua. Thầy đã nói thầy sẽ giã biệt các con. Theo thường lệ, thầy phải viết một bài thơ để vĩnh biệt, nhưng thầy không phải là thi sĩ cũng không phải là người viết chữ đẹp. Vậy một trò nào trong các con hãy viết lại những lời cuối cùng của thầy.
Các đệ tử cho rằng Hoshin đ ùa, nhưng một người trong bọn họ bắt đầu viết:
Hoshin hỏi:
- Con sẵn sàng chưa?
Người viết đáp:
- Vâng, bạch thầy.
Rồi Hoshin đọc:
- Ta đến từ tánh sáng.Và trở về với tánh sáng. Tánh sáng là gì?
- Bài thơ là một dòng ngắn gồm bốn hàng như thường lệ, vì thế người đệ tử nói:
Bạch thầy, chúng con là một dòng ngắn.
Hoshin hét lên một tiếng:
Kaa! như tiếng gầm của con sư tử đã chiến thắng, rồi ra đi.
DaoKy
30-01-2005, 03:19 PM
Hi Mai Khoa !
Cám ơn muội đã cho Huynh đệ được đọc những bài về Thiền thật hay ! Mong Mai Khoa sẽ pots thêm cho mọi người được đọc về "góp nhặt nhặt cát đá về Thiền".
Chúc Mai Khoa luôn thanh tâm an lạc. Thân.
Anh DaoKy
Chính Ấn
30-01-2005, 08:15 PM
Thưa chị, bài của chị hay quá.
thuhanoi
31-01-2005, 08:48 PM
Xin đa tạ huynh Daoky và huynh Chính Ấn cho Mai Khoa thêm tinh thần để gửi bài hầu mong mang lại sự ấm cúng của người tâm đức.
thuhanoi
01-02-2005, 09:38 AM
Câu chuyện cát đá :
1. Một người nọ đến viếng một tu sĩ Phật giáo và hỏi xem thầy đã đọc Thánh Kinh của Đức Jesus chưa. Vị tăng bảo:
- Chưa, xin anh hãy đọc cho tôi nghe.
Người nầy mở Thánh Kinh ra và đọc chương Matthew:
- "Còn phần quần áo, các người lo lắng làm chi? Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng mọc lên thế nào. Chẳng làm khó i5ọc, cũng không kéo chỉ. Nhưng ta cho các người biết dẫu vua Salomon sang trọng đến đâu, cũng không mặc được áo tốt như một đóa hoa nào trong giống đó... Vậy không cần lo lắng cho ngày mai, vì ngày mai sẽ lo cho việc ngày mai."
Vị tăng nói:
- Người nói những lời đó, tôi cho là một bậc đã Giác Ngộ.
Người ấy đọc tiếp:
- "Hãy xin sẽ được, hãy tìm sẽ gặp, hãy gõ sẽ mở cho. Bởi vì hễ ai xin thì được, ai tìm thì sẽ gặp, ai gõ sẽ được mở."
- Thật là tuyệt. Người nói điều đó nhất định là bậc đang sống với Phật Tánh bình đẳng thường hằng.
Cố ý trồng hoa, hoa chẳng nở,
Vô tâm vùi liễu, liễu xanh um.
Cây có gốc mới sanh cành nẩy ngọn,
Nước có nguồn mới bể rộng sông sâu.
2. Trang Tử ngồi câu cá nơi bờ sông Bộc. Sở Vương sai hai vị quan đại phu đem lễ vật đến khẩn khoản mới ông ra làm quan. Trang Tử cầm cần câu ngồi yên không nhúc nhích, cũng không thèm nhìn lại, nói với hai vị quan:
- Tôi nghe vua Sở có một con rùa sống nghìn năm vừa mới chết. Vua Sở quý nó và cho xây cất miếu đường. Con rùa đó chịu chết để lưu lại bộ xương cho người đời thờ quý hay thà chịu sống mà kéo lê cái đuôi của mình trong bùn?
Hai vị đại phu trả lời:
- Thà sống mà kéo lê cái đuôi trong bùn còn hơn!
Trang Tử nói:
- Thôi. Hai vị hãy trở về đi. Ta đây cũng thà chịu kéo lê cái đuôi của mình trong bùn mà thôi.
3. Khi thấy Trang Tử đã lớn tuổi gần chết, các đệ tử bèn họp nhau lại để chuẩn bị lo việc hậu sự cho thầy. Nhiều người có ý kiến nên làm lễ an táng thật trọng thể. Trang Tử không cho và nói:
- Ta đã có trời đất làm quan quách, nhật nguyệt làm ngọc bích, tinh tú làm ngọc châu, vạn vật làm lễ táng. Một đám tang như thế chưa đủ hay sao? Lại còn tính thêm chi cho lắm việc?
Các đệ tử cùng thưa:
- Một cuộc an táng như vậy chúng con sợ diều quạ sẽ ăn xác thầy.
Trang Tử cười lớn:
- Trên thì diều quạ ăn. Dưới thì trùng kiến ăn. Cướp đây cho đó. Sao lại có sự thiên lệch như thế?
4. Một vị tăng nọ tu hạnh đầu đ à, luôn âm thầm giúp đỡ những kẻ khốn cùng nghèo khổ. Những vật dụng người đời cúng dường đều được người đem chia sẻ cho những người túng thiếu, vì thế ông vẫn là kẻ nghèo. Cho nên tuy người từng được vị hoàng đế xem như bậc thầy và cung cấp những vật dụng mà hầu như vị tăng chỉ có một bộ quần áo độc nhất trên người.
Vị hoàng đế thấy y phục của người tầm thường cũ nát, bèn ban tặng cho người một số tiền để mua vài bộ quần áo mới. Lần sau, vị tăng xuất hiện, vẫn với bộ quần áo cũ khó coi.
Hoàng đế hỏi:
- Trẫm đã cúng dường tiền bạc để sư mua sắm. Thế quần áo mới biến đâu rồi?
Vị tăng giải thích:
- Tôi đã biếu cho những đứa con của đức hoàng thượng rồi.
5. Một cô gái nọ vì buồn phiền chuyện gia đình nên đem hai đứa con nhỏ về nhà cha mẹ để ở. Cô ta khóc kể than thở với mẹ:
- Con thực sự hết sống nổi với hắn ta rồi. Thà là sống một mình như vậy nuôi hai đứa con còn sướng hơn. Lúc nào trong nhà cũng có chuyện gây gổ. Cứ như thế thì hai đứa bé ngày nào cũng chứng kiến những điều không tốt, lớn lên sẽ bị ảnh hưởng xấu.
Người mẹ nhìn cô con gái nhẹ nhàng nói:
- Con à. Gia đình nào mà không có những chuyện xích mích bất hòa. Trời còn có mưa có nắng huống gì con người lúc giận lúc vui. Nếu con sợ mấy cháu bị ảnh hưởng không tốt thì hai vợ chồng nên thông cảm và nhẫn nhịn nhau chứ đâu phải giải quyết như thế. Hãy nhớ lại xem, cha mẹ đâu có ép duyên con đâu. Chính con đã từng yêu thương nhung nhớ, chính con đã từng thề non hẹn biển. Còn nhớ không con?
Cô con gái vừa khóc vừa trả lời với giọng bực mình:
- Hồi đó con bị lầm vì chưa có kinh nghiệm. Bây giờ con đã khôn hơn và trưởng thành rồi. Trên đời này đâu phải chỉ mình hắn là đ àn ông.
Người mẹ vẫn nhẫn nại khuyên con:
- Con ơi. Con cho rằng hai đứa cháu ngoại của mẹ sống không cha là tốt và không bị ảnh hưởng xấu sao con? Ngày xưa cha mẹ mà có những suy nghĩ như con hôm nay thì con đã không biết cha hay mẹ mình là ai đó con ơi. Vợ hoặc chồng thì ai cũng có thể tìm người khác, nhưng hai đứa con của con suốt đời cũng chỉ có một người cha và một người mẹ mà thôi con ạ. Trẻ thơ mà phải chịu cuộc sống mồ côi, dù mồ côi cha hay mẹ. Đó là một điều bất hạnh lớn đối với trẻ thơ. Chỉ vì những tự ái nhỏ nhen của mình mà con đ ành bắt hai đứa con của chính mình gánh chịu sự bất hạnh này hay sao?
Nhân lúc ngoài trời đang cơn mưa nặng hạt. Người mẹ chỉ cho cô con gái:
- Con gái của mẹ hãy nhìn xem. Nơi vườn cà ngoài kia, con gà mái đang xòe rộng hai cánh hứng chịu cơn mưa gió bão bùng để ấp ủ cho đ àn con. Một con gà mẹ mà còn sẵn sàng chịu đựng những gió mưa cuộc đời cho đ àn con được yên ấm. Mà con gái của mẹ chẳng chịu đựng nổi những bất hòa giữa vợ chồng để bắt hai đứa con của chính mình phải hứng chịu bất hạnh cuộc đời sao con. Những xích mích phiền muộn trong cuộc sống vợ chồng chưa đáng để gọi là gió bão cuộc đời và nhẫn chịu những điều đó cũng chưa đáng để gọi là sự hy sinh cao cả của lòng mẹ thương con đâu con ạ. Hãy bình tâm suy nghĩ kỹ lại đi con gái yêu thương của mẹ.
Nghe lời mẹ khuyên cùng nhìn hình ảnh gà mẹ chịu đựng cơn mưa gió che chở cho đ àn con, cô con gái vui vẻ đem hai đứa con trở về với gia đình. Và từ đó gia đình cô ta, vợ chồng con cái sống yên vui hạnh phúc trong yêu thương và thông cảm.
6. Có một người chủ nọ chỉ ham muốn làm giàu. Trong nhà ông bắt tôi tớ vất vả, thức khuya dậy sớm làm việc khó nhọc để ông ta càng giàu càng tốt. Có một người đầy tớ già sức yếu nhưng phải làm lụng vất vả, ban ngày làm việc cực nhọc, ban đ êm mệt đừ người, nằm xuống là lăn quay ra ngủ không biết trời đất gì cả.
Nhưng đ êm nào người tớ già cũng nằm mộng thấy mình làm vua một nước, đứng đầu cả muôn dân, ở lầu son gác tía, ăn uống toàn của ngon vật lạ, muốn gì được nấy không ai sánh bằng. Sáng bừng mắt ra thì ông lại quay về với thân phận người đầy tớ già làm việc không kịp thở. Có người thấy vậy tỏ lời an ủi. Người tớ già nói:
- Đời người trăm năm có ngày có đ êm. Tôi ban ngày chỉ là một tên đầy tớ già, kể ra cũng khổ thật. Nhưng đ êm đến thì lại là vua của một nước, sung sướng không ai bằng. Vậy thì còn ân hận gì nữa.
Người chủ nhà thì trái lại. Tuy gia sản giàu có nhưng ban ngày thì lo lắng tính toan mệt cả tâm thần, đ êm đến mệt ngủ thì thường nằm mơ thấy mình làm tôi tớ cho người khác, việc gì cũng phải làm lại còn gặp người chủ cay nghiệt, hành hạ đủ điều. Thức dậy không buổi sáng nào người chủ cảm thấy tinh thần thoải mái an ổn. Ông bèn đem việc nầy tâm sự cùng người bạn. Người bạn bảo:
- Anh được cái địa vị giàu sang hơn người, ban ngày thì quyền uy tiền bạc, đ êm đến thì nằm mơ sống kiếp làm công cho người khác. Như vậy là sướng khổ đắp đổi nhau. Đó là luật bù trừ của tạo hóa. Nếu ngày đ êm gì anh cũng muốn được sướng cả thì ai gánh chịu hết nỗi cực khổ cho anh chứ. Muốn điều đ ó thì làm thế nào mà có được.
Nghe người bạn nói, người chủ nhà tỉnh ngộ. Từ đ ó trở đi ông bớt hà khắc với tôi tớ trong nhà. Và nhờ đ ó ông bớt lo bớt nghĩ lòng cảm thấy nhẹ nhàng. Và đ êm đến ông tìm lại được những giấc ngủ bình an không mộng mị.
7. Gia đình người nông dân nọ có cô con gái bị rắn cắn chết. Cả nhà họp lại cùng nhau hỏa táng cho người vắn số, nhưng không hề khóc than sầu não. Vị trời Đế Thích ngạc nhiên, hóa hiện thành một người thường để hỏi từng người trong gia đình nguyên nhân gì khiến họ chẳng than khóc.
Người cha đáp:
- Con người rời bỏ cái vỏ mỏng manh nầy khi đời sống trôi qua, cũng như con rắn lột lớp da cũ bỏ đi. Lời than tiếng khóc chỉ làm động lòng người ra đi. Vậy tại sao tôi phải phiền muộn.
Người mẹ đáp:
- Không ai mời, nó đã đến. Cũng không ai xua đuổi, nó đã đi. Có gì mà tôi phải âu sầu khi con tôi đã hoàn tất đoạn đường đã đi.
Người em gái đáp:
- Dù tôi có nhịn ăn than khóc cả ngày đ êm cũng đâu có ích lợi gì. Điều nầy chỉ càng làm thân bằng quyến thuộc thêm bất hạnh.
Nàng dâu đáp:
- Than khóc khi người thân qua đời cũng giống như đứa trẻ khóc đòi hái lấy mặt trăng sáng giữa bầu trời.
8. Sau mười lăm năm ẩn tu cùng những người thợ săn trên núi, một hôm Lục Tổ Huệ Năng đến chùa Pháp Tánh gặp lúc pháp sư Ấn Tông đang giảng kinh Niết Bàn. Khi ấy có luồng gió thổi làm lá phướng trước sân lay động. Một vị tăng bảo là gió động, một vị khác cho là phướng động. Hai người tranh luận mãi chẳng dứt.
Lục Tổ nghe thấy bước đến bảo rằng:
- Chẳng phải gió động, cũng chẳng phải phướng động. Chỉ là do tâm của nhân giả động.
Mọi người nghe nói đều kinh ngạc, không hiểu gì cả. Pháp sư Ấn Tông nghe chuyện, biết là đã gặp bậc pháp khí, bèn rời tòa giảng, mời Lục Tổ lên pháp tòa thăng đ àng khai thị.
9. Tổ Bách Trượng thường làm việc với các đệ tử, mặc dù người đã tám mươi tuổi. Với tuổi già không làm được các việc nặng, người lại nhổ cỏ trong vườn, quét sân, hái củi.
Các đệ tử cảm thấy buồn vì vị thầy già của họ làm việc cực nhọc, nhưng họ biết ngài không chịu nghỉ làm theo lời khuyên của họ.Vì thế họ dấu mất tiêu dụng cụ làm việc của ngài.
Ngày hôm đó, tổ không ăn, ngày hôm sau nữa cũng vậy. Các đệ tử đoán:
- Vì chúng mình dấu dụng cụ làm việc của người chứ gì? Tốt hơn chúng mình hãy đem trả lại cho thầy.
Ngày hôm sau họ làm việc, vị thầy già của họ cũng làm và ăn lại như trước. Buổi chiều, tổ nói với mọi người:
- Một ngày không làm, một ngày không ăn.
Ở sao cho vừa lòng người,
Ở rộng người cười, ở hẹp người chê.
10. Một vị tăng viết lá thư sau đây gửi cho một đệ tử sắp từ trần:
- Bổn tánh của tâm con không sinh, vì thế nó không bao giờ chết. Nó không phải là một hiện hữu, nên nó không thể biến mất. Nó không phải là cái trống rỗng, mà là cái chân không. Nó không có màu sắc và hình thể. Nó không hưởng thụ khoái lạc và cũng không chịu đựng sự đau đớn.
- Thầy biết thân xác con đang bị bệnh nặng lắm. Như một Thiền sinh giỏi, con đang đối mặt hoàn toàn với sự đau đớn. Có thể con không rõ ai là kẻ đang chịu sự đau đớn nầy. Nhưng hãy tự hỏi chính mình. Bổn tánh của tâm này là gì? Hãy suy nghĩ chỉ một điều này thôi. Con sẽ không cần gì nữa. Đừng ham muốn gì cả. Sự chấm dứt của con không chấm dứt. Nó giống như một bông tuyết trắng đang tan biến vào bầu không khí tinh khiết trong lành.
Kiếp người nào có bao lâu,
Rồi ra một nấm cổ khâu xanh rì.
11. Một người đ àn ông đến chùa kể lể chuyện gia đình với vị thầy:
- Thưa thầy. Con chán cảnh gia đình vợ con quá rồi thầy ạ. Ngày xưa thì chồng vợ và yêu thương, bây giờ thì hận thù và khinh ghét. Lòng người thay trắng đổi đen nhanh quá.
Vị tăng từ tốn đáp:
- Không phải vậy đâu. Những gì đạo hữu vừa nói đó chỉ là Tưởng Như Là Tình Yêu chứ không phải là lòng yêu thương thật sự. Tình cảm đó gồm sự ích kỷ cao độ và lòng ái dục nam nữ được gói trong hai chữ tình yêu nhiều màu sắc quyến rũ. Người đời thường dùng điều này tự dối mình và gạt người. Vì thế kết quả có được chỉ là đau khổ và hận thù. Tình yêu chân thật bao giờ cũng là hy sinh và ban cho mà không hề đòi hỏi và luôn đem sự dịu mát tâm hồn cho chính cá nhân cùng người xung quanh chứ không thể nào đem lại kết quả cay đắng như đạo hữu đang gặp. Đạo hữu hãy nhìn lòng đại từ đại bi của Đức Thế Tôn và chư vị Bồ Tát muốn rộng độ muôn loài không nhàm chán dù chúng sinh luôn can cường bạo ngược. Đức Jesus cũng đã trải tình thương để cầu nguyện cho những kẻ đã nhẫn tâm hành hình Ngài. Đó mới chính là sự yêu thương chân thật.
Trăng bao nhiêu tuổi trăng già,
Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non.
Thuhanoi - Mai Khọa
Người học đạo bằng tâm thì tâm sáng-Kẻ mưu cầu cao thì ngã sẽ đau.
thien vu
17-04-2005, 04:09 PM
Vì không thấy bạn thuhanoi đăng tiếp về "góp nhặt cát đá" TV xin bạn được tiếp tục trong Theard của bạn cho các bạn khác đọc. Mong bạn thứ lỗi.
* 11 *
CÂU TRUYỆN NÀNG SHUNKAI
Người đẹp Shunkai còn có tên khác là Suzu đã bị ép buộc kết hôn trái với ý nguyện của nàng khi nàng còn quá trẻ. Sau đó, khi cuộc hôn nhân này đã chấm dứt, nàng theo học tại trường đại học, ở đó nàng học môn triết.
Nhìn thấy Shunkai là yêu nàng ngay. Hơn nữa, nàng đi đến đâu, chính nàng cũng lại phải lòng các người khác. Tình yêu đến với nàng ở trường đại học, và cả sau đó nữa, khi môn triết học không làm nàng hài lòng và nàng đến viếng một thiền viện để học về Thiền, các thiền sinh lại thương yêu nàng. Cả cuộc đời của Shunkai đắm chìm trong tình yêu.
Cuối cùng ở Kyoto nàng trở thành một thiền sinh thực sự. Các huynh đệ của nàng ở thiền viện phụ Kennin đều ca ngợi lòng thành thật của nàng. Một người trong số đó tỏ ra có tinh thần tương thân và giúp đỡ nàng thấu triệt được môn Thiền.
Viện trưởng của thiền viện Kennin, Mokurai, Tiếng Sấm Im Lặng, thì nghiêm khắc. Chính ngài tự giữ giới luật và đòi hỏi mọi tu sĩ của ngài cũng phải giữ như thế. Trong nước Nhật Bản hiện đại khi các tu sĩ này mất đi nhiệt tâm cho Phật giáo thì họ lại có nhiệt tình khi lấy vợ. Mokurai thường phải lấy một cây chổi và xua đuổi phụ nữ đi chỗ khác khi ngài thấy họ trong bất cứ thiền viện nào của ngài, nhưng ngài càng đuổi bao nhiêu bà vợ ra thì hình như lại càng có nhiều bà quay trở lại.
Trong thiền viện đặc biệt này bà vợ của ông tu sĩ trưởng tràng trở nên ghen tuông với lòng sốt sắng và sắc đẹp của Shunkai. Nghe các thiền sinh ca tụng môn Thiền đứng đắn của nàng khiến bà vợ này bực bội và bồn chồn. Sau cùng bà tung ra một tin đồn về Shunkai và người thanh niên, là bạn của nàng. Hậu quả là anh ta bị trục xuất và Shunkai bị chuyển ra khỏi thiền viện.
"Mình có thể phạm lầm lỗi vì tình yêu," Shunkai nghĩ, "nhưng bà vợ của ông tu sĩ cũng không nên được ở lại thiền viện khi bạn của ta bị đối xử một cách bất công như thế."
Shunkai ngay đêm đó với một bình dầu lửa đã phóng hỏa vào ngôi thiền viện cổ xưa có từ năm trăm năm nay và đốt nó cháy rụi hết. Vào buổi sáng nàng bị cảnh sát bắt giữ rồi.
Một ông luật sư trẻ tuổi chú ý đến nàng và cố gắng giúp làm cho án phạt của nàng nhẹ hơn. "Đừng nên giúp tôi," nàng nói với ông ấy. "Tôi có thể quyết định sẽ làm chuyện gì khác để rồi lại bị bỏ tù nữa thôi."
Cuối cùng hình phạt bảy năm tù cũng mãn hạn, và Shunkai được phóng thích khỏi nhà tù, nơi đó ông cai ngục sáu chục tuổi đầu cũng say mê nàng.
Nhưng giờ đây mọi người đều coi nàng như một "con mọt tù." Không ai muốn liên hệ với nàng. Ngay cả các người theo Thiền, những người vốn tin tưởng vào sự giác ngộ giải thoát trong đời này và với tấm thân này, cũng xa lánh nàng. Shunkai khám phá thấy rằng Thiền là một việc và những kẻ theo Thiền lại là một việc hoàn toàn khác biệt. Những thân nhân của nàng cũng tránh xa nàng. Nàng mắc bệnh, nghèo nàn, và yếu đuối.
Nàng gặp một tu sĩ phái Shinshu ông ta dạy nàng danh hiệu Đức Quán Thế Âm, nhờ vậy Shunkai tìm được niềm an ủi và thanh thản trong tâm hồn. Nàng qua đời khi còn rất xinh đẹp và gần ba mươi tuổi đầu.
Nàng đã cố gắng viết lại câu chuyện riêng của nàng để kiếm sống cho chính nàng và một phần câu chuyện thời nàng kể lại cho một người phụ nữ viết. Bởi thế câu chuyện đã tới tai dân chúng Nhật Bản. Những kẻ đã từng từ bỏ Shunkai, những kẻ đã từng vu cáo và ghét bỏ nàng, nay đọc chuyện về đời nàng trong nước mắt hối hận.
*
* 12 *
ÔNG TÀU SUNG SƯỚNG
Bất cứ ai đi quanh các phố Tàu ở Mỹ cũng đều nhận thấy những pho tượng của một ông mập mạp vác một cái bị bằng vải. Những người buôn bán Trung Hoa gọi ông ta là Ông Tàu Sung Sướng hay Ông Phật Cười.
Ông Hotei này sống ở đời nhà Đường. Ông chẳng có lòng ham muốn tự gọi mình là một thiền sư hoặc thâu nạp nhiều đệ tử quanh ông. Thay vào đó ông đi khắp phố phường với một cái bị lớn trong đó ông đựng các món quà như kẹo, trái cây, hay bánh. Những thứ này ông sẽ mang phân phát cho những đứa trẻ con hay quây quần quanh ông chơi đùa. Ông đã tạo lập một vườn trẻ ngoài đường phố.
Mỗi khi ông gặp một người tôn sùng đạo Thiền ông liền chìa tay của ông ra và nói: "Cho tôi xin một xu." Và nếu có ai đó yêu cầu ông trở về một thiền viện để dạy dỗ người khác, ông lại trả lời là: "Cho tôi xin một xu."
Một lần ông đang làm cái công việc chơi đùa, có một thiền sư khác tình cờ đi ngang và hỏi: "Thế nào là ý nghĩa của Thiền?"
Hotei lập tức buông rơi cái bị của ông xuống đất để trả lời một cách yên lặng.
"Vậy thì," thiền sư kia hỏi, "cái thực dụng của Thiền là gì?"
Tức khắc Ông Tàu Sung Sướng quăng cái bị lên vai ông và tiếp tục con đường của mình.
*
* 13 *
MỘT ÔNG PHẬT
Sống tại Đông Kinh vào thời đại Minh Trị có hai ông thầy nổi bật với tính tình trái ngược hẳn nhau. Một ông là Unsho, giáo sư ở Shingon, giữ giới luật của Phật một cách nghiêm túc. Ông không bao giờ uống đồ uống có chất rượu, cũng chẳng ăn sau mười một giờ sáng. Ông thầy kia, Tanzan, một giáo sư triết học tại trường đại học hoàng gia, chẳng hề bao giờ giữ giới. Khi ông thấy thích ăn thì ông ăn, và khi ông thấy thích ngủ lúc ban ngày thì ông ngủ.
Một hôm Unsho đến thăm Tanzan, lúc đó ông này đang uống rượu, dù cho lưỡi của một Phật tử không được phép đụng tới thứ này dù chỉ một giọt.
"Chào sư huynh," Tanzan lên tiếng đón mừng. "Uống một ly nhé?"
"Tôi chẳng bao giờ uống!" Unsho lớn tiếng một cách nghiêm trang.
"Ai không uống đâu có còn là người nữa," Tanzan nói.
"Sư huynh định coi tôi không phải là người chỉ vì tôi không ham những thứ chất lỏng độc hại à!" Unsho la lớn giận dữ. "Vậy nếu tôi không phải là người thì tôi là cái gì vậy?"
"Một ông Phật," Tanzan trả lời.
*
* 14 *
ĐƯỜNG BÙN LẦY
Tanzan và Ekido một lần cùng đi với nhau xuống một con đường lầy lội. Một cơn mưa nặng hạt vẫn còn đang rơi.
Tới một khúc quanh, họ gặp một cô gái dễ thương trong bộ áo kimono và đai lưng bằng lụa, không thể băng qua ngã tư đường được.
"Đi nào cô bé," Tanzan liền nói. Đưa tay nhấc bổng cô gái, ông đưa cô qua vũng bùn.
Ekido không nói năng lại nữa cho mãi đến tối hôm đó khi họ tới một ngôi chùa tạm trú. Rồi tự mình không thể nhịn được thêm nữa. "Những nhà sư chúng ta không đến gần phụ nữ," ông nói với Tanzan, "nhất là không được gần những người trẻ và đẹp. Nguy hiểm đấy. Tại sao sư huynh lại làm như vậy chứ?"
"Tôi đã bỏ cô gái lại chỗ đó rồi," Tanzan nói. "Sư huynh vẫn còn mang cô ấy theo hay sao?"
thien vu
17-04-2005, 04:11 PM
SHOUN VÀ MẸ
Shoun đã trở thành một ông thầy của phái Thiền Soto. Khi ông còn là một thiền sinh cha ông qua đời, để lại cho ông phải chăm nom bà mẹ già.
Mỗi khi Shoun đến thiền đường ông đều dẫn mẹ theo với ông. Vì bà theo bên cạnh ông, cho nên mỗi khi ông viếng các tu viện ông không thể sống cùng các nhà sư. Do đó ông xây một căn nhà nhỏ và săn sóc bà ở đó. Ông thường chép kinh, những bài kệ Phật giáo, và nhờ cách đó mà nhận được ít tiền để mua thực phẩm.
Khi Shoun mua cá cho mẹ ông, người ta giễu cợt ông, bởi vì một ông sư không được ăn cá. Nhưng Shoun chẳng thèm lưu tâm tới. Tuy nhiên, mẹ ông lại đau khổ khi thấy mọi người cười chê con bà. Cuối cùng bà bảo Shoun: "Mẹ nghĩ mẹ có thể trở thành một ni cô được. Mẹ cũng có thể là một người ăn chay nữa." Bà liền thực hiện điều đó và hai mẹ con tu học cùng nhau.
Shoun yêu thích âm nhạc và từng là một ông thầy về đàn hạc, thứ đàn mà mẹ ông cũng biết chơi. Vào những đêm trăng tròn, hai mẹ con thường hòa đàn cùng nhau.
Một buổi tối có một cô gái trẻ đi ngang nhà họ và nghe thấy tiếng nhạc. Cảm động sâu xa, cô mời Shoun đến thăm cô vào đêm hôm sau và chơi đàn. Ông nhận lời mời. Một vài ngày sau ông gặp cô gái trẻ ở ngoài phố và cám ơn cô về lòng hiếu khách của cô. Những người khác cười nhạo ông. Ông đã ghé thăm nhà của một cô gái đứng đường.
Một hôm Shoun phải đi đến một ngôi chùa ở xa để thuyết giảng. Một vài tháng sau đó ông trở về nhà và mới hay mẹ qua đời. Bạn bè trước đó không biết liên lạc với ông ở đâu, nên tiến hành đám tang.
Shoun bước đến và gõ lên quan tài bằng cây thiền trượng của mình. "Thưa mẹ, con của mẹ đã trở về," ông nói.
"Mẹ vui mừng khi thấy con đã trở về, con ạ!" ông trả lời thay cho mẹ ông.
"Vâng, con cũng rất vui mừng," Shoun đáp lại. Rồi ông loan báo với mọi người ở chung quanh ông: "Tang lễ xong rồi. Quý vị có thể chôn cất thi hài."
Khi Shoun về già, ông biết sắp tới cuối đời. Ông liền gọi các đệ tử đến quây quần chung quanh ông vào buổi sáng, bảo họ rằng ông sẽ viên tịch vào buổi trưa. Đốt hương trước ảnh của mẹ ông và của người thầy cũ của ông, ông viết một bài thơ:
Trong năm mươi sáu năm trời ta đã cố sống cho thật tốt đẹp nhất,
Lang thang trong cõi trần gian này.
Giờ đây mưa đã ngừng rơi, mây đang trôi tản mác,
Bầu trời xanh xuất hiện một bóng trăng tròn.
Các đệ tử của ông tụ họp quanh ông, tụng kinh, và Shoun ra đi trong tiếng nguyện cầu.
*
* 16 *
KHÔNG XA CÕI PHẬT
Một sinh viên đại học khi viếng thăm Gasan đã hỏi ông: "Có bao giờ ngài đọc Thánh Kinh Thiên Chúa không?
"Không, hãy đọc kinh đó cho ta nghe," Gasan nói.
Chàng sinh viên mở cuốn Thánh Kinh và đọc trong phần Thánh Matthew: "Và các ngươi lo nghĩ làm chi về phần đồ mặc? Hãy ngẫm xem hoa huệ ngoài cánh đồng, chúng mọc lớn lên như thế nào. Chúng chẳng hề lao khổ, chúng cũng chẳng kéo chỉ, và tuy nhiên ta nói cùng các ngươi rằng dù cho Solomon vinh quang biết mấy, cũng không ăn mặc được bằng một trong những hoa ấy... Vì vậy cho nên, chớ lo nghĩ gì cho ngày mai, vì ngày mai sẽ tự lo nghĩ cho mọi sự của ngày mai."
Gasan nói: "Bất cứ người nào đã thốt ra những lời đó ta coi như là một người đã giác ngộ rồi."
Chàng sinh viên tiếp tục đọc: "Hãy xin và cái đó sẽ cho ngươi, hãy tìm và ngươi sẽ thấy; hãy gõ và cái đó sẽ mở cho ngươi. Vì mọi người ai xin thì được, và ai tìm thì thấy, và ai gõ thì được mở cho."
Gasan phê bình: "Thật là tuyệt vời. Vị nào đã nói điều đó thời không xa cõi Phật."
*
* 17 *
HÀ TIỆN LỜI DẠY
Một y sĩ trẻ ở Đông Kinh tên là Kusuda gặp một người bạn từ hồi đại học, người này đang nghiên cứu về Thiền. Anh y sĩ trẻ hỏi người đó Thiền là gì.
"Tôi không thể nói được cho bạn cái đó là gì," người bạn trả lời, "nhưng có một điều chắc chắn. Nếu anh hiểu được Thiền, anh sẽ không còn sợ chết nữa."
"Được thôi," Kusuda nói. "Tôi sẽ thử điều đó. Ở đâu mà tôi có thể tìm gặp được một ông thầy?"
"Hãy tới thầy Nan-in," người bạn bảo anh ta.
Thế là Kusuda đi tìm thăm Nan-in. Anh mang theo một con dao găm dài chín phân rưỡi để xem chính ông thầy có thực sự sợ chết hay không.
Khi Nan-in trông thấy Kusuda, ông nói lớn tiếng: "Chào bạn. Bạn khỏe không? Chúng mình không gặp nhau đã lâu lắm rồi!"
Việc này khiến Kusuda bối rối, anh trả lời: "Chúng ta chưa từng gặp nhau trước đây mà."
"Đúng thế," Nan-in trả lời "Tôi nhầm anh với một y sĩ khác anh ấy đang thụ huấn ở đây."
Vì khởi đầu như vậy, Kusuda đã mất đi cơ hội của anh để thử thách ông thiền sư, vì thế anh ta miễn cưỡng hỏi xem anh có thể học Thiền được hay không?
Nan-in nói: "Thiền chẳng phải là một chuyện khó khăn. Nếu anh là một y sĩ, hãy chữa trị cho các bệnh nhân của anh với hảo tâm. Đó là Thiền."
Kusuda đã đến viếng Nan-in ba lần. Mỗi lần Nan-in đều nói với anh cùng một câu như vậy. "Một y sĩ chớ nên phí phạm thời giờ ở quanh đây. Hãy đi về nhà và chăm sóc các bệnh nhân của anh."
Kusuda chưa thấy được sáng tỏ tại sao lời giảng dạy như vậy có thể làm tan đi nỗi sợ chết. Vì thế đến lần viếng thăm thứ tư anh phàn nàn: "Bạn con bảo con rằng khi ai học thiền thì không còn sợ chết nữa. Mỗi lần con đến đây tất cả những điều thầy bảo con chỉ là phải chăm sóc cho bệnh nhân của con. Con biết nhiều về việc đó chứ. Nếu đó là cái gọi là Thiền của thầy thì con sẽ không đến thăm thầy nữa đâu."
Nan-in mỉm cười và vỗ vai anh y sĩ. "Ta đã quá nghiêm khắc với anh. Để ta đưa cho anh một công án." Ông trao cho Kusuda công án về "Không" của Triệu Châu để quán tưởng, đó là vấn đề đốn ngộ tâm đầu tiên trong cuốn sách có tên là Vô Môn Quan.
Kusuda suy tư về vấn đề "Không" này trong hai năm trời. Cuối cùng anh nghĩ rằng anh đã ngộ được chân tâm. Nhưng ông thầy của anh phê phán: "Anh chưa đạt vào."
Kusuda tiếp tục tập trung quán tưởng thêm một năm rưỡi nữa. Tâm của anh bắt đầu ổn định. Các vấn đề được lý giải. Cái "Không" trở thành chân lý. Anh ta phục vụ bệnh nhân của anh đàng hoàng và chính anh cũng chẳng hề nhận biết là anh đã không còn quan tâm về chuyện sống và chết nữa.
Từ đó mỗi khi anh đến thăm Nan-in, ông thầy già của anh chỉ mỉm cười.
*
* 18 *
MỘT NGỤ NGÔN
Đức Phật kể một ngụ ngôn trong một kinh:
Một người đi ngang qua một cánh đồng và gặp một con hổ. Anh chàng chạy trốn, con hổ đuổi theo anh. Tới một bờ vực sâu, anh nắm được vào rễ một cây nho dại và đu mình xuống qua bờ vực. Con hổ đánh hơi anh ở phía bên trên. Run sợ anh chàng nhìn xuống, phía xa bên dưới, lại thấy một con hổ khác đang chờ ăn thịt anh. Chỉ có cây nho giúp đỡ anh.
Hai con chuột, một con trắng và một con đen, đang bắt đầu gậm nhấm bứt cây nho dần dần từng chút một. Anh chàng nhìn thấy một quả dâu ngon gần bên anh. Một tay nắm cây nho, tay kia anh hái quả dâu. Dâu nếm sao ngon ngọt đến thế.
*
* 19 *
ĐỆ NHẤT ĐẾ
Khi ai đến thiền viện Obaku ở Kyoto đều nhìn thấy có khắc trên cổng những chữ "Đệ Nhất Đế". Những chữ to một cách bất thường, và với những người biết thưởng thức lối viết thư họa ai cũng luôn khâm phục những chữ này là một tuyệt tác. Những chữ này do Kosen vẽ hai trăm năm về trước.
Khi ông thầy vẽ những chữ này ông vẽ trên giấy, rồi người thợ mới dựa theo đó mà khắc lớn ra vào gỗ. Khi Kosen phác họa chữ thì một chú học trò dạn dĩ ở gần bên ông, chú mài cả mấy hũ mực cho việc phác họa và cũng không ngừng bình phẩm công trình của ông thầy chú.
"Cái đó không đẹp," chú thưa với Kosen sau lần vẽ thử thứ nhất.
"Cái kia thì thế nào?"
"Xấu. Dở hơn trước, " chú học trò lên tiếng.
Kosen nhẫn nại viết hết bản này qua bản khác cho đến khi tám mươi tư bản "Đệ Nhất Đế" đã chất đống mà chẳng được học trò chấp nhận.
Thế rồi, đến khi anh chàng trẻ tuổi bước ra ngoài trong chốc lát, Kosen nghĩ: "Bây giờ là cái cơ hội của ta để thoát ra khỏi con mắt sắc sảo của nó," và ông liền viết một cách vội vã, với một tâm trạng không còn bối rối: "Đệ Nhất Đế."
"Một tuyệt tác." chú học trò reo lên.
*
* 20 *
LỜI KHUYÊN CỦA MỘT BÀ MẸ
Jiun, một thiền sư Shingon, là một học giả chữ Phạn nổi tiếng vào thời đại Tokugawa. Lúc còn trẻ ông thường hay diễn thuyết cho các anh em bạn học.
Mẹ của ông nghe được về chuyện này và viết cho ông một lá thư:
"Con à, mẹ không nghĩ rằng con trở thành một người hiến mình vào cửa Phật bởi vì con muốn trở thành một cuốn tự điển sống cho các người khác. Sự hiểu biết và phê phán, vinh quang và danh dự cũng chẳng đi đến đâu. Mẹ muốn con hãy chấm dứt cái việc diễn thuyết đó đi. Hãy tự lánh mình trong một thiền viện nhỏ bé ở một nơi xa xôi trong núi. Con hãy dành thì giờ của mình để thiền định và bằng cách đó mà đạt sự chứng ngộ thật sự."
thien vu
17-04-2005, 04:14 PM
ÂM THANH CỦA MỘT BÀN TAY
Thiền sư của chùa Kennin là Mokurai, Tiếng Sấm Yên Lặng. Ông có một đệ tử bảo trợ nhỏ tên là Toyo chỉ mới mười hai tuổi. Toyo thấy các môn đồ lớn tuổi hơn đến thăm phòng thầy vào mỗi buổi sáng và mỗi buổi tối để được chỉ dạy về thiền định an tâm theo đó họ được trao cho những công án để ngăn chặn cho tâm khỏi chao động.
Toyo cũng mong ước được ngồi tham thiền.
"Hãy chờ đợi thêm ít lâu," Mokurai bảo. "Con hãy còn nhỏ lắm."
Nhưng cậu bé nài nỉ, nên cuối cùng ông thầy ưng thuận.
Vào buổi tối cậu bé Toyo đến bên ngoài ngưỡng cửa phòng thiền của Mokurai vào một thời điểm thích hợp. Cậu đánh chiêng báo hiệu mình hiện diện, cúi chào cung kính ba lần phía ngoài cửa, rồi đến ngồi trước mặt thầy yên lặng kính cẩn.
"Con có thể nghe thấy âm thanh của hai bàn tay khi chúng vỗ vào nhau," Mokurai nói. "Bây giờ hãy cho ta biết về âm thanh của một bàn tay."
Toyo cúi chào và lui về phòng mình mà nghiên cứu vấn đề này. Từ cửa sổ phòng mình cậu có thể nghe thấy âm nhạc của các cô đào hát. "A! Ta thấy được rồi!" cậu reo lên.
Đêm hôm sau, khi thầy của cậu bảo cậu diễn tả âm thanh của một bàn tay, Toyo bắt đầu chơi âm nhạc của các cô đào hát.
"Không, không," Mokurai nói. "Chẳng bao giờ như vậy đâu. Cái đó không phải là âm thanh của một bàn tay. Con chưa thâu thái được gì hết."
Cho rằng âm nhạc như thế có thể làm gián đoạn, Toyo di chuyển chỗ ở của cậu đến một nơi yên tĩnh. Cậu ta lại tham thiền. "Âm thanh của một bàn tay có thể là gì?" Cậu chợt nghe tiếng nước nhỏ giọt. "Ta thấy rồi," Toyo tưởng tượng.
Lần sau khi cậu đến trước mặt thầy của cậu, Toyo bắt chước tiếng nước nhỏ giọt.
"Đó là cái gì vậy?" Mokurai hỏi. "Đó là tiếng nước nhỏ giọt, nhưng không phải là âm thanh của một bàn tay. Cố nữa đi."
Toyo trầm tư để nghe âm thanh của một bàn tay nhưng chẳng ăn thua gì. Cậu nghe thấy tiếng thở dài của gió. Nhưng âm thanh bị bác bỏ.
Cậu nghe thấy tiếng kêu của một con cú. Tiếng đó cũng bị từ chối.
Âm thanh của một bàn tay không phải là những con châu chấu.
Cả đến hơn mười lần Toyo đến viếng thăm Mokurai với các âm thanh khác nhau. Tất cả đều sai. Gần suốt một năm cậu cứ nghĩ ngợi xem âm thanh của một bàn tay là thế nào.
Sau cùng cậu bé Toyo nhập vào thiền định thật sự và vượt qua tất cả các âm thanh. "Ta không còn thâu thập được thêm gì nữa," cậu giải thích về sau này, "bởi vậy ta đã đạt tới âm thanh không âm thanh."
Toyo đã ngộ được âm thanh của một bàn tay.
*
* 22 *
TIM TA CHÁY NHƯ LỬA
Soyen Shaku, thiền sư đầu tiên tới Châu Mỹ, nói: "Tim ta cháy như lửa nhưng mắt ta lạnh như tro tàn." Ngài đặt ra những quy luật sau mà ngài thực hành mỗi ngày trong cuộc đời ngài.
Buổi sáng trước khi khoác y phục, hãy thắp nhang và thiền định.
Lui vào an nghỉ theo một giờ giấc nhất định. Nhận phần ăn uống vào những lúc nhất định. Ăn điều độ và không bao giờ tới mức thỏa mãn.
Tiếp một người khách với cùng một thái độ mà bạn có khi ở một mình. Khi ở một mình, cũng giữ nguyên thái độ như lúc bạn tiếp khách.
Lưu ý vào điều gì bạn nói, và bất cứ bạn nói điều chi, hãy thực hành điều đó.
Khi một cơ hội đến đừng để nó trôi đi, tuy nhiên luôn luôn suy nghĩ hai lần trước khi hành động.
Đừng nuối tiếc quá khứ. Hãy nhìn tới tương lai.
Nên có thái độ không hãi sợ của một người anh hùng và trái tim thương yêu của một đứa trẻ.
Khi đi ngủ, hãy ngủ như là bạn đang bước vào giấc ngủ cuối cùng của bạn. Khi thức dậy, hãy rời bỏ cái giường lại phía sau bạn ngay tức khắc như là bạn vứt bỏ đi một đôi giày cũ.
*
* 23 *
SỰ RA ĐI CỦA ESHUN
Khi Eshun, thiền sư ni, đã ngoài sáu mươi tuổi và sắp lìa cõi dương gian này, bà bảo một vài sư chất củi thành đống ở trong sân.
Đích thân ngồi vững vàng ở ngay giữa giàn hỏa táng, bà ra lệnh châm lửa ở xung quanh giàn.
"Sư bà ơi!" một sư kêu lớn lên, "trong đó có nóng không?"
"Chuyện như thế chỉ có kẻ ngu xuẩn như ngươi mới quan tâm đến mà thôi," Eshun trả lời.
Ngọn lửa bốc lên cao, và bà qua đời.
*
* 24 *
TỤNG KINH
Một bác nông dân thỉnh một thầy tu phái Tendai tụng kinh cho vợ bác ta, bà ấy vừa qua đời. Sau khi kinh tụng đã xong, bác nông dân hỏi: "Thầy có nghĩ rằng vợ tôi sẽ được phước vì việc này không?"
"Không những chỉ vợ bác, mà tất cả chúng sinh hữu tình đều được hưởng phước trong việc tụng kinh," thầy tu trả lời.
"Nếu thầy nói mọi chúng sinh hữu tình đều được hưởng phước," bác nông dân nói, "vợ tôi có lẽ rất yếu đuối và những người khác sẽ dành mất phần của bà ấy, tranh phần phước mà bà ấy đáng lẽ được hưởng. Cho nên xin thầy làm ơn tụng kinh cho riêng bà ấy thôi."
Thầy tu giải thích rằng mong ước của một người Phật tử là hồi hướng phước báu và công đức cho tất cả mọi chúng sinh.
"Đó là một lời dạy cao quý," bác nông dân kết luận, "nhưng xin thầy hãy cho một ngoại lệ. Tôi có một tên hàng xóm, hắn thô lỗ và xấu ác với tôi. Chỉ xin thầy loại bỏ tên đó ra khỏi cái thành phần chúng sinh hữu tình kia thôi."
*
* 25 *
BA NGÀY NỮA
Suiwo, đệ tử của Hakuin, là một thiền sư giỏi. Trong một mùa an cư kiết hạ, một đệ tử từ một hòn đảo miền nam Nhật Bản đến thăm thầy.
Suiwo trao cho anh ta một công án: "Hãy nghe âm thanh của một bàn tay."
Anh đệ tử ở lại ba năm trời mà vẫn chưa vượt qua được cuộc trắc nghiệm này. Một đêm anh ta mắt đẫm lệ tìm đến Suiwo. "Con phải trở về miền nam trong sự nhục nhã và ngượng ngùng," anh ta thưa, "vì con không thể giải đáp được vấn đề của con."
"Hãy đợi thêm một tuần nữa và siêng năng thiền định." Suiwo khuyên. Anh đệ tử vẫn không giác ngộ được. "Hãy cố gắng thêm một tuần nữa," Suiwo nói. Anh đệ tử vâng lời, nhưng vô ích.
"Vậy thêm một tuần nữa." Tuy nhiên vẫn không có hiệu quả. Anh đệ tử thất vọng xin được bãi miễn, nhưng Suiwo yêu cầu thêm năm ngày thiền định nữa. Không có kết quả gì. Rồi ông nói: "Thiền định thêm ba ngày nữa, nếu anh không đạt được giác ngộ thì tốt hơn hết là anh nên tự tử đi."
Đến ngày thứ hai anh đệ tử giác ngộ.
thien vu
17-04-2005, 04:17 PM
ĐỐI THOẠI DÀNH CHỖ TRÚ NGỤ
Nếu mở một cuộc tranh luận về Phật pháp và thắng được các người đang cư trú ở nơi đó thì bất kỳ một nhà sư nào lang thang đi thuyết pháp cũng có thể được lưu lại trong một thiền viện. Nếu nhà sư đó bị bại, sư phải đi nơi khác.
Trong một thiền viện ở miền bắc Nhật Bản có hai ông sư huynh đệ kia đang cư ngụ cùng với nhau. Sư huynh thì có học thức, nhưng sư đệ thì ngu dốt và chỉ có một con mắt.
Một nhà sư lang thang ghé đến và xin trú ngụ, đã chính thức thách họ tranh luận về giáo pháp thượng thừa. Sư huynh, ngày hôm đó đã mệt mỏi vì nghiên cứu nhiều, nói sư đệ thay thế mình. "Đi ra và đề nghị đối thoại trong tĩnh lặng" sư huynh cẩn thận dặn dò.
Bởi thế nhà sư trẻ và người khách lạ cùng đi tới trước bàn thờ Phật và ngồi xuống.
Một lát sau đó, người du khách đứng dậy rồi đi vào gặp sư huynh và nói: "Sư đệ của ông quả là một tay phi thường. Ông ấy đánh bại tôi rồi."
"Hãy thuật lại cuộc đối thoại cho tôi nghe," sư huynh nói.
"Được chứ!" người du khách kể, "thoạt tiên tôi giơ lên một ngón tay, tượng trưng cho Đức Phật, đấng Giác Ngộ. Cho nên ông ấy liền giơ lên hai ngón tay, biểu hiệu cho Đức Phật và giáo pháp của ngài. Tôi giơ lên ba ngón tay, tượng trưng cho Đức Phật, giáo pháp của ngài và các môn đệ của ngài sống một cách hòa đồng. Lúc đó ông ấy liền giơ nắm đấm vào mặt tôi, ám chỉ rằng cả ba đều khởi từ một sự chứng ngộ. Như vậy là ông ấy đã thắng và vì thế tôi không có quyền lưu lại nơi đây." Nói xong, người du khách ra đi.
"Cái tên đó đâu rồi?" sư đệ chạy vào hỏi sư huynh.
"Ta biết rằng sư đệ đã thắng cuộc tranh luận."
"Chẳng thắng cái quái gì cả. Tôi sẽ đập cho hắn một trận."
"Kể cho ta biết đề tài tranh luận," sư huynh hỏi.
"Tại sao à! Ngay lúc hắn vừa trông thấy em hắn giơ một ngón tay lên, sỉ nhục em bằng cách ám chỉ rằng em chỉ có một con mắt. Vì hắn là người lạ nên em nghĩ rằng em nên lịch sự với hắn, bởi thế em giơ lên hai ngón tay, chúc mừng hắn rằng hắn có hai con mắt. Rồi thì tên hèn hạ vô lễ lại giơ lên ba ngón tay, muốn tỏ lộ rằng giữa hai người chúng ta chỉ có ba con mắt. Cho nên em phát điên lên định đấm hắn, nhưng hắn lại chạy ra mất và rốt cuộc chỉ có vậy thôi!"
*
* 27 *
GIỌNG NÓI CỦA HẠNH PHÚC
Sau khi Bankei lìa trần, một người mù sống cạnh thiền viện của thiền sư kể với một người bạn rằng: "Vì tôi mù, tôi không thể nào nhìn thấy được mặt người, cho nên tôi phải đoán tâm tánh của người qua thanh âm tiếng nói của người đó. Thông thường khi tôi nghe thấy ai chúc mừng người khác được hạnh phúc hay thành công, tôi cũng nghe được một cái giọng ganh tị thầm kín. Khi nghe lời chia buồn với điều bất hạnh của người khác, tôi nghe có sự vui thích và mãn nguyện, tưởng chừng như kẻ đang chia buồn nhưng thật sự sung sướng vì có chút gì bỏ lại để cho mình kiếm chác trong cõi riêng tư.
"Tuy nhiên, với bao kinh nghiệm của tôi, giọng nói của Bankei luôn luôn thành thực. Mỗi khi ông bầy tỏ sự vui sướng, tôi chỉ nghe thấy giọng sướng vui mà thôi, và mỗi khi ông tỏ ra phiền muộn, tôi chỉ nghe thấy một giọng muộn phiền."
*
* 28 *
HÃY MỞ KHO CHÂU BÁU CỦA RIÊNG ÔNG
Daiju đến thăm thiền sư Baso ở Trung Hoa. Baso hỏi: "Ông tìm gì vậy?"
"Sự giác ngộ," Daiju trả lời.
"Ông có kho châu báu của riêng ông. Tại sao ông phải kiếm ở bên ngoài?" Baso hỏi.
Daiju dò hỏi: "Kho châu báu của tôi ở đâu?"
Baso trả lời: "Cái mà ông đang hỏi là kho châu báu của ông đấy."
Daiju giác ngộ! Từ đấy về sau này ông hối thúc các bạn bè của ông: "Hãy mở kho châu báu của riêng ông và hãy xử dụng những của báu này."
*
* 29 *
KHÔNG NƯỚC, KHÔNG TRĂNG
Khi ni cô Chiyono học Thiền với Bukko của phái Engaku, cô không đạt được kết quả của sự thiền định trong một thời gian dài.
Sau cùng vào một đêm sáng trăng cô xách nước trong một cái thùng xô cũ buộc bằng nan tre. Nan tre bị đứt và cái đáy rớt ra khỏi thùng xô, và ngay vào lúc đó Chiyono được giác ngộ.
Để kỷ niệm, cô viết một bài thơ:
Bằng cách đó và ta đã cố bảo toàn
cái thùng xô cũ
Vì dây nan tre đã yếu và sắp đứt
Cho đến lúc cuối cùng cái đáy rớt ra.
Không còn nước trong thùng nữa!
Không còn trăng trong nước nữa!
*
* 30 *
DANH THIẾP
Keichu, đại thiền sư thời Minh Trị, là người đứng đầu của Tofuku, một tu viện ở Kyoto. Một ngày thống đốc của Kyoto đến viếng thăm ngài lần đầu tiên.
Người hầu cận của ngài trình vào tấm thiếp của vị thống đốc, đọc thấy là: Kitagaki, Thống đốc Kyoto.
"Ta không có việc gì dính dáng với một kẻ như thế," Keichu nói với người hầu cận của ngài. "Hãy bảo ông ấy ra khỏi nơi đây."
Người hầu cận mang tấm thiếp ra đưa lại với lời cáo lỗi. "Đó là sự lầm lẫn của tôi," vị thống đốc nói, và lấy bút chì ông gạch bỏ đi mấy chữ Thống đốc Kyoto. "Hãy thưa lại với thầy anh."
"Ồ! đấy là Kitagaki ư?" thiền sư reo lên khi ông nhìn thấy tấm thiếp. "Ta muốn gặp ông bạn đó."
*
* 31 *
MỌI THỨ ĐỀU HẠNG NHẤT
Khi Banzan đi ngang qua một khu chợ ông bất chợt nghe được một cuộc đối thoại giữa một bác bán thịt và người khách hàng của bác ta.
"Bán cho tôi miếng thịt ngon nhất mà bác có," người khách hàng nói.
"Mọi thứ trong cửa hàng của tôi cũng đều là hạng nhất cả," bác hàng thịt đáp lại. "Ông không thể tìm thấy ở đây miếng thịt nào mà không phải là hạng nhất đâu."
Nghe những lời đó, Banzan trở nên giác ngộ.
*
* 32 *
CHÚT THỜI GIAN BAO NGỌC BÁU
Một lãnh chúa hỏi Takuan, một thiền sư, để xin thầy khuyên ông phải dùng thời giờ như thế nào. Ông ta cảm thấy những ngày của ông quá dài khi tham gia nơi việc công và ngồi ngay đơ đón nhận sự tôn sùng của mọi người.
Takuan viết tám chữ Hán và trao lại cho lãnh chúa:
Không có hai lần như ngày nay
Chút thời gian bao ngọc báu.
Ngày này sẽ không trở lại
Mỗi phút đáng giá một viên ngọc vô giá.
*
* 33 *
BÀN TAY CỦA MOKUSEN
Mokusen Hiki đang sống trong một thiền viện ở tỉnh Tamba. Một trong những môn đồ của ông than phiền về tính keo kiệt của vợ anh ta.
Mokusen đến thăm vợ của người môn đồ và giơ nắm đấm của ông ra trước mặt bà ấy.
"Ông định ám chỉ gì với cái đó vậy?" người đàn bà ngạc nhiên hỏi.
"Giả dụ nắm tay của ta cứ luôn luôn như thế đó. Bà gọi nó là cái gì?" ông hỏi.
"Dị dạng," người đàn bà trả lời.
Rồi ông xòe bàn tay thẳng ra trước mặt bà ấy và hỏi: "Giả dụ như nếu nó cứ luôn luôn như thế đó. Lúc đó là cái gì?"
"Một loại dị dạng khác," người vợ nói.
"Nếu bà hiểu được nhiều như vậy," Mokusen kết luận, "bà là một người vợ tốt." Xong ông ra về.
Sau lần viếng thăm của ông, người vợ này phụ giúp chồng bà trong việc tiêu pha cũng như dành dụm.
*
* 34 *
MỘT NỤ CƯỜI TRONG CUỘC ĐỜI CỦA ÔNG
Được biết Mokugen chưa bao giờ cười cho đến tận ngày cuối cùng của ông trên cõi dương gian. Khi tới giờ sắp qua đời ông nói với các đệ tử trung thành của ông: "Các con đã theo học với ta hơn mười năm trời. Hãy biểu lộ cho ta thấy cách lý giải thực sự của các con về Thiền. Ai diễn tả điều này minh bạch nhất sẽ là người kế vị ta và nhận y với bát của ta."
Mọi người nhìn vào gương mặt nghiêm trang của Mokugen, nhưng không một người nào trả lời.
Encho, một đệ tử đã ở với thầy mình một thời gian lâu rồi, đến bên cạnh giường. Anh đẩy chén thuốc tới phía trước vài phân. Đó là câu anh trả lời cho cái lệnh truyền.
Nét mặt thầy trở nên nghiêm trang hơn nữa. "Đấy là tất cả những gì mà con thấu triệt hay sao?" ông hỏi.
Encho vươn tới và chuyển cái chén lui trở lại.
Một nụ cười đẹp đẽ tươi nở trên nét mặt của Mokugen. "Thằng nhãi ranh," ông nói với Encho. "Mi theo ta đã mười năm và chưa hề thấy toàn thể tấm thân của ta. Hãy cầm lấy y và bát. Chúng thuộc về mi đó."
*
* 35 *
THIỀN TỪNG PHÚT
Các thiền sinh phải ở với thầy của họ ít nhất cũng phải mười năm trước khi họ coi như có thể dạy người khác. Tenno đến viếng thăm Nan-in. Tenno đã trải qua thời gian học tập của anh và đã trở thành một thiền sư. Nhằm đúng vào ngày trời mưa, cho nên Tenno đi guốc gỗ và mang theo một cây dù. Sau khi chào hỏi anh Nan-in nhận xét: "Ta cho rằng anh đã để đôi guốc gỗ của anh trong phòng phía trước. Ta muốn biết cái dù của anh ở phía bên phải hay bên trái đôi guốc."
Tenno, bối rối, không trả lời ngay được. Anh ta nhận thức ra rằng anh ta chưa đủ sức để thể hiện được Thiền của anh trong từng phút. Anh trở thành học trò của Nan-in, và anh học hỏi thêm sáu năm nữa để thành tựu Thiền trong từng phút của mình.
DaoKy
17-04-2005, 05:00 PM
Chào bạn ThienVu!
Cám ơn những bài pots của bạn, rất hay và ý nghĩa. Chúc bạn vui vẻ trên DD. Thân mến.
DaoKy
vBulletin® v3.6.11, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.