View Full Version : Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Đại tướng Võ Nguyên Giáp
http://ngominhblog.files.wordpress.com/2009/07/images38800_giap203.jpg
Võ Nguyên Giáp (sinh ngày 25 tháng 8 (http://vi.wikipedia.org/wiki/25_th%C3%A1ng_8), 1911 (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=1911&action=edit)) là đại tướng (http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_t%C6%B0%E1%BB%9Bng) đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam (http://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%C3%A2n_%C4%91%E1%BB%99i_Nh%C3%A2n_d%C3%A2n_Vi%E 1%BB%87t_Nam), người chỉ huy chiến thắng trận Điện Biên Phủ (http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%ADn_%C4%90i%E1%BB%87n_Bi%C3%AAn_Ph%E1%BB% A7).
Ông được nhiều người xem như một huyền thoại (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Huy%E1%BB%81n_tho%E1%BA%A1i&action=edit)quân sự (http://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%C3%A2n_s%E1%BB%B1) thế giới khi chỉ huy một đội quân nhược tiểu đánh bại cường quốc thế giới.
Ông được đa´nh gia´là 1 trong 10 Danh Tươ´ng vỹ đại của mọi thơì đại . Điều đặc biệt là 9 vị tươ´ng vĩ đại đều không còn sô´ng nữa . Chỉ mi`nh đại tươ´ng Võ Nguyên Gia´p vẫn co`n sô´ng ở thê´ kỉ 21 này .
hưunam
02-04-2007, 11:04 PM
bcbc có bie^'t giò* sinh cũa Đại tu*ó*ng kho^ng va^.y ?
bcbc có bie^'t giò* sinh cũa Đại tu*ó*ng kho^ng va^.y ?
Bác/ Anh hưunam a` bcbc không co´ giơ` sinh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (http://www.vietlyso.com/forums/showthread.php?p=87711#post87711) nhưng bcbc đã tư`ng đọc qua ai đo´ bình luận vê` lá sô´ của Đại tướng VNG rùi, bcbc nhơ´ nhâ´t là câu bình luận vê` cuộc đời VNG co´ sao xấu o cung Phu Thê thì phải, sô´ phải lấy nhiều vợ .
bcbc sẽ sưa tâ`m lá sô´cua ông vào dịp khác .
Đại tướng Võ Nguyên Giáp : Những năm đầu
Võ Nguyên Giáp sinh ở làng An Xá, xã Lộc Thủy (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=X%C3%A3_L%E1%BB%99c_Th%E1%BB%A7y&action=edit), huyện Lệ Thủy (http://vi.wikipedia.org/wiki/Huy%E1%BB%87n_L%E1%BB%87_Th%E1%BB%A7y), tỉnh Quảng Bình (http://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%A3ng_B%C3%ACnh) trong một gia đình nhà nho (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Nh%C3%A0_nho&action=edit) nghèo, con của ông Võ Quang Nghiêm (Võ Nguyên Thân). Võ Quang Nghiêm là một nho sinh (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Nho_sinh&action=edit) đi thi không đậu về làm hương sư và thầy thuốc Đông y (http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%B4ng_y), khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, bị Pháp bắt, đưa về giam ở Huế và mất trong tù.
Năm 1925 (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=1925&action=edit), Võ Nguyên Giáp rời trường Tiểu học Đồng Hới (http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%93ng_H%E1%BB%9Bi) ở quê nhà Quảng Bình để vào Huế (http://vi.wikipedia.org/wiki/Hu%E1%BA%BF) ôn thi vào trường Quốc học Huế (http://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BB%91c_h%E1%BB%8Dc_Hu%E1%BA%BF) và đỗ thứ hai sau Nguyễn Thúc Hào (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Th%C3%BAc_H%C3%A0o).
Mùa hè năm 1925, Võ Nguyên Giáp rời Trường Tiểu học Đồng Hới ở quê nhà Quảng Bình để vào Huế ôn thi vào Trường Quốc học Huế. Chính cụ thân sinh là Võ Quang Nghiêm tự mình dẫn con đi.
Đặt tên con là Nguyên Giáp, nhà nho học tài thi phận này thầm mong ước con mình sẽ lập được thành tích sáng chói trong học tập nhưng Võ Nguyên Giáp thì chỉ đăng ký tên mình vào hồ sơ xin học là Võ Giáp; về sau biết chuyện, ông cụ rất tức giận và bắt phải khai lại đúng như tên ông đã đặt: Võ Nguyên Giáp.
Võ Quang Nghiêm là một nhà nho nghèo, đã qua nhiều kỳ thi Hương, kể cả khoa cuối cùng năm Mậu Ngọ (1918) nhưng đều không đậu. Làm hương sư và thầy thuốc Đông y, ông được nhân dân địa phương rất kính trọng. Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, ông bị Pháp bắt, đưa về giam ở Huế và mất trong tù.
Một bạn học cũ ngồi cùng bàn - sau này là Giáo sư Toán học Nguyễn Thúc Hào - còn nhớ cách bà giáo người Pháp đọc hai tiếng "Vo Giap" theo lối phát âm tiếng Pháp, không có dấu và không có chữ "Nguyên".
Gia đình Võ Nguyên Giáp làm nghề nông, mức sống chật vật, việc cho Võ Nguyên Giáp vào tận Huế học tập là một cố gắng gần như quá sức của gia đình. Võ Nguyên Giáp biết rõ điều đó nên càng quyết chí học tập. Vừa đặt chân vào trường Quốc học, anh đã nghe tiếng những bạn học giỏi ở các lớp trên như Tạ Quang Bửu và Phan Bôi. Anh được học với các thầy giáo đầy tâm huyết như Võ Liêm Sơn (1888 - 1949), Cao Xuân Huy (1900 - 1983), Đặng Thai Mai (1902 - 1984)..
GS. Nguyễn Thúc Hào còn kể: Tại kỳ thi nhập học năm đó, tôi đỗ đầu, còn anh Giáp đỗ thứ hai, nhưng suốt cả năm đệ nhất niên, tháng nào anh ấy cũng đứng đầu lớp.
1927, đây là thời gian mà ở Huế cũng như trên toàn quốc đang sôi nổi phong trào đấu tranh đòi ân xá Phan Bội Châu, truy điệu Phan Châu Trinh. Tại Trường Quốc học Huế, Nguyễn Chí Diểu, Nguyễn Khoa Văn (tức Hải Triều), Võ Nguyên Giáp... tổ chức đi lấy chữ ký vào đơn gửi Toàn quyền Varenne đòi ân xá cho Phan Bội Châu. Trước áp lực đấu tranh của nhân dân Việt Nam, Pháp đã phải hủy bản án khổ sai chung thân cho Phan Bội Châu và đưa cụ về an trí tại Huế.
Sự hiện diện của Phan Bội Châu ở Huế - người mà Nguyễn Ái Quốc đã mệnh danh là "Bậc anh hùng", "Vị thiên sứ", "Đấng xả thân vì độc lập" đã khuấy động mạnh mẽ nhiệt tình yêu nước của nhân dân, đặc biệt là thanh niên, học sinh của thành phố Huế vốn lặng lẽ, trầm mặc. Nhiều nhân sĩ, trí thức và thanh niên khắp cả nước, bất chấp sự theo dõi của mật thám, đã đến xin yết kiến cụ, để được nghe cụ bình thơ, hoặc giải đáp cho một vấn đề thế sự nào đó; cũng có lần cụ đến thăm trường Quốc học Huế.
Một học sinh cũ, nhà thơ Khương Hữu Dụng đã gợi lại cuộc gặp gỡ đó: "Anh em học sinh chúng tôi tập trung trong sân chơi của trường. Bỗng rào rào như ong vỡ tổ, hàng ngũ học sinh xáo động. Một ông già quắc thước, áo dài thâm, quần vải trắng, với đôi mắt sáng quắc, chùm râu quai nón đốm bạc, xuất hiện uy nghi, trượng phu...
Mọi người cố chen nhau đến gần cụ như muốn được nghe rõ hơn, thấu đáo hơn tiếng nói của con người gần như đã trở thành huyền thoại. Cụ già trìu mến nhìn đám học sinh trẻ. Giọng Nghệ An âm vang như tiếng cồng: "Anh em khỏi phải chen nhau, tôi nói to lắm, tận sân ngoài cũng có thể nghe rõ"... Cụ cứ láy đi láy lại một điệp khúc duy nhất, thức tỉnh: "Rượu tây, cơm tây, quần áo tây, xe tây, lầu tây... Học đường nô lệ, giáo dục nô lệ, nhân tài nô lệ,nô lệ ưu đẳng.
Hai năm sau, ông bị đuổi học cùng với Nguyễn Chí Diểu, Nguyễn Khoa Văn (tức Hải Triều), Phan Bôi sau khi tổ chức một cuộc bãi khóa. Ông bèn về quê và được Nguyễn Chí Diểu (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Ch%C3%AD_Di%E1%BB%83u) giới thiệu tham gia Tân Việt Cách mạng đảng (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=T%C3%A2n_Vi%E1%BB%87t_C%C3%A1ch_m% E1%BA%A1ng_%C4%91%E1%BA%A3ng&action=edit), một đảng theo chủ nghĩa dân tộc (http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_d%C3%A2n_t%E1%BB%99c) nhưng có màu sắc cộng sản (http://vi.wikipedia.org/wiki/C%E1%BB%99ng_s%E1%BA%A3n) thành lập năm 1924 ở miền Trung Việt Nam (http://vi.wikipedia.org/wiki/Mi%E1%BB%81n_Trung_Vi%E1%BB%87t_Nam). Nguyễn Chí Diểu đã giới thiệu Võ Nguyên Giáp vào làm việc ở Huế, tại Nhà xuất bản Quan hải tùng thư do Đào Duy Anh (http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%A0o_Duy_Anh) sáng lập và ở báo Tiếng dân của Huỳnh Thúc Kháng (http://vi.wikipedia.org/wiki/Hu%E1%BB%B3nh_Th%C3%BAc_Kh%C3%A1ng). Tại đây, Võ Nguyên Giáp bắt đầu học nghề làm báo, chuẩn bị cho giai đoạn hoạt động báo chí sôi nổi trong thời Mặt trận Bình dân Pháp (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=M%E1%BA%B7t_tr%E1%BA%ADn_B%C3%ACnh _d%C3%A2n_Ph%C3%A1p&action=edit).
Đại tướng Võ Nguyên Giáp : Vơ´i ngươi` vợ đâù - ba` Nguyễn Thị Quang Thái
Năm 1929, 18 tuổi, lần đầu tiên tướng Giáp ra Hà Nội. Một người đồng chí của ông ở Tân Việt, ông Nguyễn Văn Tạo, dẫn ông ra Cửa Bắc, thành Hà Nội để nhìn hai vết đạn đại bác của Pháp đánh dấu thành Hà Nội thất thủ. Tướng giữ thành Hoàng Diệu tự sát. PGS Đặng Bích Hà kể: “Lúc dạy học ở Thăng Long, ông Giáp hay đến nhà chơi. Ông thường nói về tinh thần yêu nước và quá khứ anh hùng. Ông vẫn thường dẫn học trò ra đê Giảng Võ coi mộ Francis Garnier; ra Cầu Giấy chỉ cho học sinh mộ Henri Rivière để nung nấu họ tinh thần chống Pháp”.
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/en/7/76/Tuonggiapvabathai.jpg (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/en/7/76/Tuonggiapvabathai.jpg)
Võ Nguyên Giáp và Nguyễn Thị Quang Thái ngươ`i vợ đâ`u - em gai của Nguyễn Thi Minh Khai (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Nguy%E1%BB%85n_Th%E1%BB%8B_Quang_T h%C3%A1i&action=edit) 1939
Khoảng đầu tháng 10 năm 1930 (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=1930&action=edit), trong sự kiện Xô Viết - Nghệ Tĩnh, Võ Nguyên Giáp bị bắt và bị giam ở Nhà lao Thừa phủ (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Nh%C3%A0_lao_Th%E1%BB%ABa_ph%E1%BB %A7&action=edit) (Huế), cùng với người yêu là Nguyễn Thị Quang Thái, em trai là Võ Thuần Nho và các thầy giáo Đặng Thai Mai (http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%B7ng_Thai_Mai), Lê Viết Lượng...
Cuối năm 1931 (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=1931&action=edit), nhờ sự can thiệp của Hội Cứu tế đỏ của Pháp, Võ Nguyên Giáp được trả tự do nhưng lại bị Công sứ Pháp tại Huế ngăn cấm không cho ở lại Huế tiếp tục làm báo Tiếng dân.
Sau đó ông ra Hà Nội (http://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0_N%E1%BB%99i), học trường Albert Sarraut (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Albert_Sarraut&action=edit) và đỗ tú tài. Ông tốt nghiệp đại học ngành Luật và Kinh tế chính trị năm 1937 (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=1937&action=edit).
Năm 1934 (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=1934&action=edit), ông lấy bà Nguyễn Thị Quang Thái (1915 (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=1915&action=edit)-1943 (http://vi.wikipedia.org/wiki/1943)), bạn học tại Quốc học Huế và là một đồng chí của ông (bà cũng là em ruột của Nguyễn Thị Minh Khai (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Th%E1%BB%8B_Minh_Khai)).
Lần ra Hà Nội năm đó (1929) của Giáp là để bàn với chi bộ Vinh và Hà Nội tổ chức cho nữ đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai đi thoát ly.
Theo lời kể của chị Hồng Anh, con gái Tướng Giáp: “Chính vào dịp này, cha tôi lần đầu tiên nghe nhắc đến cái tên Nguyễn Thị Quang Thái, cô em gái trẻ, thông minh và rất xinh của Nguyễn Thị Minh Khai.
http://www.vnn.vn/dataimages/original/images463623_tuonggiapvacongais.jpg
Hồng Anh, con gái Tướng Giáp
Trong chuyến tàu cha tôi trở lại Huế, tới Vinh thì gặp mẹ tôi lên tàu, cùng với một nữ sinh Đồng Khánh.
Lúc đó mẹ tôi mặc áo dài, tóc để xõa, da trắng, gương mặt sáng. Nhưng điểm gây ấn tượng với cha tôi nhất là đôi mắt”.
Năm 1935, họ cưới nhau. Năm 1940, Võ Nguyên Giáp và Phạm Văn Đồng được tổ chức đưa sang Vân Nam.
Giáp chia tay với người vợ trẻ Nguyễn Thị Quang Thái khi họ vừa có Hồng Anh, con gái đầu lòng.
http://www.nhantimdongdoi.org/images/News/NguyenThiQuangThai_hongAnh.jpg
ba` Quang Tha´i va` con ga´i
Đó là lần chia tay cuối. Sau khi Giáp ra đi, Nguyễn Thị Quang Thái bị Pháp bắt và năm 1943 chết trong nhà tù Hỏa Lò (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Nh%C3%A0_giam_H%E1%BB%8Fa_L%C3%B2&action=edit), Hà Nội.
Tháng 5 năm 1939 (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=1939&action=edit), ông nhận dạy môn sử ở trường tư thục Thăng Long, Hà Nội (http://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0_N%E1%BB%99i) do Hoàng Minh Giám làm Giám đốc nhà trường (tức Hiệu trưởng).
Hoạt động cách mạng và kháng chiến chống Pháp
Từ 1936 (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=1936&action=edit) đến 1939 (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=1939&action=edit), ông tham gia phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=M%E1%BA%B7t_tr%E1%BA%ADn_D%C3%A2n_ ch%E1%BB%A7_%C4%90%C3%B4ng_D%C6%B0%C6%A1ng&action=edit), là sáng lập viên của mặt trận và là Chủ tịch Uỷ ban Báo chí Bắc Kỳ trong phong trào Đông Dương đại hội (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Phong_tr%C3%A0o_%C4%90%C3%B4ng_D%C 6%B0%C6%A1ng_%C4%91%E1%BA%A1i_h%E1%BB%99i&action=edit).
Ông tham gia thành lập và làm báo tiếng Pháp (http://vi.wikipedia.org/wiki/Ti%E1%BA%BFng_Ph%C3%A1p) Notre voix (Tiếng nói của chúng ta), Le Travail (Lao động), biên tập các báo Tin tức, Dân chúng.
http://www.marxists.org/espanol/ho/imagenes/06.jpg
Ngày 3 tháng 5 (http://vi.wikipedia.org/wiki/3_th%C3%A1ng_5) năm 1940 (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=1940&action=edit), Võ Nguyên Giáp với bí danh là Dương Hoài Nam cùng Phạm Văn Đồng (http://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%E1%BA%A1m_V%C4%83n_%C4%90%E1%BB%93ng) lên Cao Bằng (http://vi.wikipedia.org/wiki/Cao_B%E1%BA%B1ng) rồi vượt biên sang Trung Quốc (http://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_Qu%E1%BB%91c) để gặp Hồ Chí Minh (http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh).
http://www.silab.it/storia/as38/images/p38_10.jpg
Ông vào Đảng Cộng sản Đông Dương (http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A3ng_C%E1%BB%99ng_s%E1%BA%A3n_Vi%E1%B B%87t_Nam) năm này và bắt đầu các hoạt động của mình dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Hồ Chí Minh trong một tổ chức chống phát-xít (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ph%C3%A1t-x%C3%ADt&action=edit) và đấu tranh cho độc lập của Việt Nam có tên là Việt Nam Độc lập Đồng minh hội gọi tắt là Việt Minh (http://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Minh).
Ông tham gia gây dựng cơ sở cách mạng, mở lớp huấn luyện quân sự cho Việt Minh ở Cao Bằng (http://vi.wikipedia.org/wiki/Cao_B%E1%BA%B1ng).
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/6/6e/Giap-Ho.jpg (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/6/6e/Giap-Ho.jpg)
Võ Nguyên Giáp và Hồ Chí Minh (http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh)
http://www.pbs.org/wgbh/amex/vietnam/whos/images/whos-giap.jpg
Ngày 22 tháng 12 (http://vi.wikipedia.org/wiki/22_th%C3%A1ng_12) năm 1944 (http://vi.wikipedia.org/wiki/1944), theo chỉ thị của Hồ Chí Minh, ông thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (http://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam_Tuy%C3%AAn_truy%E1%BB%81n_Gi%E1%B A%A3i_ph%C3%B3ng_qu%C3%A2n) tại chiến khu Trần Hưng Đạo (http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_H%C6%B0ng_%C4%90%E1%BA%A1o) với 34 người, được trang bị 2 súng thập (một loại súng ngắn), 17 súng trường, 14 súng kíp và 1 súng máy.
http://history.enotes.com/images/peoples/tpc_0003_0001_0_img0306.jpg
Ngày 25 tháng 12 (http://vi.wikipedia.org/wiki/25_th%C3%A1ng_12) năm 1944, đội quân này đã tiến công thắng lợi hai đồn Phai Khắt và Nà Ngần (http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%ADn_Phai_Kh%E1%BA%AFt%2C_N%C3%A0_Ng%E1%BA %A7n). Ngày 14 tháng 8 (http://vi.wikipedia.org/wiki/14_th%C3%A1ng_8) năm 1945 (http://vi.wikipedia.org/wiki/1945), ông được bổ sung vào Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A3ng_C%E1%BB%99ng_s%E1%BA%A3n_%C4%90% C3%B4ng_D%C6%B0%C6%A1ng), sau đó là ủy viên Thường vụ Trung ương, tham gia Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc.
Xây dựng gia đi`nh lâ`n thư´2
http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai3/Schutte_1.gif
Sau Cách mạng Tháng Tám (http://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A1ch_m%E1%BA%A1ng_Th%C3%A1ng_T%C3%A1m), Võ Nguyên Giáp được cử làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Phó Bộ trưởng (nay gọi là Thứ trưởng) Bộ Quốc phòng (http://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BB%99_Qu%E1%BB%91c_ph%C3%B2ng) trong Chính phủ lâm thời (từ ngày 28 tháng 8 đến hết năm 1945) và là Tổng chỉ huy (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=T%E1%BB%95ng_ch%E1%BB%89_huy&action=edit)Quân đội Quốc gia (http://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%C3%A2n_%C4%91%E1%BB%99i_Nh%C3%A2n_d%C3%A2n_Vi%E 1%BB%87t_Nam) và Dân quân tự vệ (http://vi.wikipedia.org/wiki/D%C3%A2n_qu%C3%A2n_t%E1%BB%B1_v%E1%BB%87).
Trong Chính phủ Liên hiệp thành lập ngày 3 tháng 11 (http://vi.wikipedia.org/wiki/3_th%C3%A1ng_11) năm 1946 (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=1946&action=edit), ông là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (cho đến tháng 7 năm 1947 và từ tháng 7 năm 1948 trở đi). Cũng trong năm 1946, ông lập gia đình với bà Đặng Bích Hà (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=%C4%90%E1%BA%B7ng_B%C3%ADch_H%C3%A 0&action=edit) (con gái giáo sư Đặng Thai Mai (http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%B7ng_Thai_Mai)).
http://www.thoidai.org/ThoiDai3/Schutte_1.gif
Từ trái qua phải:
Ngồi: Phạm Văn Đồng, Erwin Borchers / Chiến Sỹ, Ernst Frey / Nguyễn Dân, Võ Nguyên Giáp, Đặng Bích Hà (vợ tướng Giáp) ; Đứng : Lưu Văn Lợi, X, X, Rudy Schröder / Lê Đức Nhân (Bộ ảnh sưu tầm của H. Schütte)
xxxxxxxx
PGS Đặng Bích Hà kể: “Lúc đó (1946) gia đình tôi ở Sầm Sơn, chính phủ thân Nhật mời cha tôi giữ một chức bộ trưởng. Cha tôi không nhận. Ông chuyển ra Hà Nội. Anh Giáp tìm tới thăm”. Năm ấy, Võ Nguyên Giáp đã không khỏi ngỡ ngàng vì Đặng Bích Hà lúc này không còn là một cô bé con nữa.
http://vietnamnet.vn/dataimages/original/images770281_2.jpg (http://vietnamnet.vn/dataimages/original/images770281_2.jpg)
Cô đã bước sang tuổi 19, đẹp và hưởng trọn tinh thần giáo dục của người cha, giáo sư Đặng Thai Mai. Mối tình của họ đã đưa bà theo ông lên chiến khu, sinh cho ông thêm hai cô gái, và đúng năm 1954 sinh hạ người con trai thứ nhất, đặt tên là Võ Điện Biên ...
http://www.vietimes.com.vn/Library/Images/8/2007/10/HKD-5.jpgNhà thơ Hồ Khải Đại bên cạnh vo chong Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Ảnh tư liệu)
http://vietnamnet.vn/dataimages/200604/original/images963959_lkthanh.jpg.
Võ Điện Biên (traí)
Các con ông, kể cả người con gái đầu Võ Hồng Anh, phần lớn sống quây quần bên ông trong một ngôi nhà có vườn rộng nhưng đồ đạc thì hình như đã có từ rất lâu rồi.
Hoạt động cách mạng và kháng chiến chống Pháp
http://www.tienphongonline.com.vn/Tianyon/ImageView.aspx?ThumbnailID=10404
Đại tướng Võ Nguyên Giáp (bìa phải )
Ngày 19 tháng 12 (http://vi.wikipedia.org/wiki/19_th%C3%A1ng_12) năm 1946 (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=1946&action=edit), Chiến tranh Đông Dương (http://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_%C4%90%C3%B4ng_D%C6%B0%C6%A1ng ) chính thức bùng nổ. Dưới sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản, ông bắt đầu lãnh đạo cuộc đấu tranh vũ trang kéo dài 9 năm chống lại sự trở lại của người Pháp (1945 (http://vi.wikipedia.org/wiki/1945)-1954 (http://vi.wikipedia.org/wiki/1954)) với cương vị Tổng chỉ huy và Tổng Chính ủy, từ năm 1949 đổi tên gọi là Tổng tư lệnh quân đội kiêm Bí thư Tổng Quân uỷ (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=T%E1%BB%95ng_Qu%C3%A2n_u%E1%BB%B7&action=edit).
http://www.coldwarfiles.org/images/people/U1563799_giap_thmnl.jpg
Ông được phong Đại tướng (http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_t%C6%B0%E1%BB%9Bng) ngày 25 tháng 1 (http://vi.wikipedia.org/wiki/25_th%C3%A1ng_1) năm 1948 (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=1948&action=edit) theo sắc lệnh 110/SL ký ngày 20 tháng 1 (http://vi.wikipedia.org/wiki/20_th%C3%A1ng_1) năm 1948 (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=1948&action=edit), cùng đợt có Nguyễn Bình (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_B%C3%ACnh) được phong Trung tướng (http://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_t%C6%B0%E1%BB%9Bng), Nguyễn Sơn (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_S%C6%A1n), Lê Thiết Hùng (http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_Thi%E1%BA%BFt_H%C3%B9ng), Chu Văn Tấn (http://vi.wikipedia.org/wiki/Chu_V%C4%83n_T%E1%BA%A5n), Hoàng Sâm (http://vi.wikipedia.org/wiki/Ho%C3%A0ng_S%C3%A2m), Hoàng Văn Thái (http://vi.wikipedia.org/wiki/Ho%C3%A0ng_V%C4%83n_Th%C3%A1i), Lê Hiến Mai (http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_Hi%E1%BA%BFn_Mai), Văn Tiến Dũng (http://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_Ti%E1%BA%BFn_D%C5%A9ng), Trần Đại Nghĩa (http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_%C4%90%E1%BA%A1i_Ngh%C4%A9a), Trần Tử Bình (http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_T%E1%BB%AD_B%C3%ACnh) được phong Thiếu tướng (http://vi.wikipedia.org/wiki/Thi%E1%BA%BFu_t%C6%B0%E1%BB%9Bng).
http://www.iltarget.it/PianetaTorino/images/giap.jpg
Tháng 8 năm 1948 (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=1948&action=edit), ông là ủy viên Hội đồng Quốc phòng Tối cao vừa mới được thành lập.
http://www.reseau-asie.com/publication_standard/curreyc_vonguyengiap_p.jpg
Ông là một nhà vận dụng tài giỏi chiến thuật chiến tranh du kích (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Chi%E1%BA%BFn_tranh_du_k%C3%ADch&action=edit). Ông cũng là người lập kế hoạch và trực tiếp chỉ huy trận đánh Trận Điện Biên Phủ (http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%ADn_%C4%90i%E1%BB%87n_Bi%C3%AAn_Ph%E1%BB% A7) và thắng Pháp (http://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%A1p) năm 1954.
http://educaterra.terra.com.br/voltaire/giap1.gif
Các chiến dịch ông đã tham gia với tư cách là Tư lệnh chiến dịch - Bí thư Đảng ủy trong kháng chiến chống Pháp (http://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%C3%A1ng_chi%E1%BA%BFn_ch%E1%BB%91ng_Ph%C3%A1p):
http://www.barikat-lar.de/barikat/23/resim23/dienbienphu1.jpg
Chiến dịch Việt Bắc (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Chi%E1%BA%BFn_d%E1%BB%8Bch_Vi%E1%B B%87t_B%E1%BA%AFc&action=edit) (thu đông 1947 (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=1947&action=edit))
Chiến dịch Biên giới (http://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_d%E1%BB%8Bch_Bi%C3%AAn_gi%E1%BB%9Bi) (tháng 9 - 10 - 1950 (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=1950&action=edit))
Chiến dịch Trung Du (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Chi%E1%BA%BFn_d%E1%BB%8Bch_Trung_D u&action=edit) (tháng 12 - 1950)
Chiến dịch Đồng Bằng (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Chi%E1%BA%BFn_d%E1%BB%8Bch_%C4%90% E1%BB%93ng_B%E1%BA%B1ng&action=edit) (tháng 5 - 1951 (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=1951&action=edit))
Chiến dịch Đông Bắc (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Chi%E1%BA%BFn_d%E1%BB%8Bch_%C4%90% C3%B4ng_B%E1%BA%AFc&action=edit) (tháng ?? - 1951)
Chiến dịch Hòa Bình (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Chi%E1%BA%BFn_d%E1%BB%8Bch_H%C3%B2 a_B%C3%ACnh&action=edit) (tháng 12 - 1951)
Chiến dịch Tây Bắc (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Chi%E1%BA%BFn_d%E1%BB%8Bch_T%C3%A2 y_B%E1%BA%AFc&action=edit) (tháng 9 - 1952 (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=1952&action=edit))
Chiến dịch Thượng Lào (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Chi%E1%BA%BFn_d%E1%BB%8Bch_Th%C6%B 0%E1%BB%A3ng_L%C3%A0o&action=edit) (tháng 4 - 1953 (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=1953&action=edit))
Chiến dịch Điện Biên Phủ (http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%ADn_%C4%90i%E1%BB%87n_Bi%C3%AAn_Ph%E1%BB% A7) (tháng 3 - 5 - 1954 (http://vi.wikipedia.org/wiki/1954)) http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/c/ca/Tuonggiapbaocao.jpg (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/c/ca/Tuonggiapbaocao.jpg)
Tướng Giáp báo cáo kế hoạch tấn công Điện Biên Phủ
Thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ mang đậm dấu ấn của ông trong việc tạo thế, tổ chức hậu cần (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=H%E1%BA%ADu_c%E1%BA%A7n&action=edit), thay đổi chiến thuật (http://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_thu%E1%BA%ADt).
http://www.viettan.org/IMG/jpg/leclerc_giap_indochine.jpg
Sau chiến dịch này, Hiệp định Genève (http://vi.wikipedia.org/wiki/Hi%E1%BB%87p_%C4%91%E1%BB%8Bnh_Gen%C3%A8ve) về Đông Dương (http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%B4ng_D%C6%B0%C6%A1ng) được ký kết, đặt dấu chấm hết cho sự có mặt của người Pháp ở Việt Nam sau hơn 80 năm.
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/a/a1/Giap.JPG/250px-Giap.JPG
Từ tháng 8 năm 1945 ông là một trong 5 ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương và trở thành ủy viên Bộ Chính trị (http://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BB%99_Ch%C3%ADnh_tr%E1%BB%8B_Ban_Ch%E1%BA%A5p _h%C3%A0nh_Trung_%C6%B0%C6%A1ng_%C4%90%E1%BA%A3ng_ C%E1%BB%99ng_s%E1%BA%A3n_Vi%E1%BB%87t_Nam) (thay thế Ban Thường vụ Trung ương) Đảng Lao động Việt Nam từ năm 1951 (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=1951&action=edit).
Sau Điện Biên Phủ
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/b/b4/G72may15.jpg (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/b/b4/G72may15.jpg)
Bìa tạp chí Time, ngày 15-5-1972
Từ năm 1954 (http://vi.wikipedia.org/wiki/1954) đến năm 1976 (http://vi.wikipedia.org/wiki/1976), Võ Nguyên Giáp tiếp tục giữ cương vị Ủy viên Bộ Chính trị - Bí thư Quân ủy Trung ương, Tổng Tư lệnh quân đội, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
http://www.hindu.com/2004/05/08/images/2004050801621401.jpg
Ông còn là Phó thủ tướng Chính phủ, sau là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (từ năm 1955 đến năm 1991 (http://vi.wikipedia.org/wiki/1991)).
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/2/21/General_Vo_Nguyen_Giap.jpg (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/2/21/General_Vo_Nguyen_Giap.jpg)
Trong 21 năm (1954 (http://vi.wikipedia.org/wiki/1954)-1975 (http://vi.wikipedia.org/wiki/1975)) của cuộc Chiến tranh Việt Nam (http://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_Vi%E1%BB%87t_Nam), ông thực hiện nhiệm vụ xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam (http://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%C3%A2n_%C4%91%E1%BB%99i_Nh%C3%A2n_d%C3%A2n_Vi%E 1%BB%87t_Nam), tham gia xây dựng chiến lược chiến tranh của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (http://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam_D%C3%A2n_ch%E1%BB%A7_C%E1%BB%99ng _h%C3%B2a), trực tiếp tổ chức và chỉ đạo các hoạt động của Quân đội Nhân dân trong chiến tranh.
Ngoài ra, ông còn tham gia nhiều hoạt động Đảng Cộng sản và Nhà nước khác.
http://vietnam.vnagency.com.vn/VNP_Upload/News/2006-11/Images/22L.jpg
Trong một thời gian ngắn từ tháng 7 năm 1960 (http://vi.wikipedia.org/wiki/1960) đến tháng 1 năm 1963 (http://vi.wikipedia.org/wiki/1963) ông kiêm thêm chức vụ Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Nhà nước.
Năm 1980 (http://vi.wikipedia.org/wiki/1980), ông thôi giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nhưng vẫn tiếp tục là Ủy viên Bộ Chính trị (đến năm 1982 (http://vi.wikipedia.org/wiki/1982)) và phó Thủ tướng phụ trách Khoa học - Kỹ thuật. Người thay thế ông ở Bộ Quốc phòng là Đại tướng Văn Tiến Dũng (http://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_Ti%E1%BA%BFn_D%C5%A9ng) - Tổng Tham mưu trưởng (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=T%E1%BB%95ng_Tham_m%C6%B0u_tr%C6%B 0%E1%BB%9Fng&action=edit) Quân đội, một trong những cộng sự lâu năm nhất của ông.
http://www.felixabt.com/jpeg/8Giap2.jpg
Năm 1983 (http://vi.wikipedia.org/wiki/1983) ông được phân công làm Chủ tịch Ủy ban sinh đẻ có kế hoạch (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=%E1%BB%A6y_ban_sinh_%C4%91%E1%BA%B B_c%C3%B3_k%E1%BA%BF_ho%E1%BA%A1ch&action=edit). Ông đã rời bỏ vũ đài chính trị năm đó, nhưng vẫn giữ một vai trò làm cố vấn (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=C%E1%BB%91_v%E1%BA%A5n&action=edit).
Năm 1991 (http://vi.wikipedia.org/wiki/1991), ông nghỉ hưu ở tuổi 80.
http://www3.vietnamnet.vn/dataimages/200601/original/images868657_vo_nguyen_giap_qh.jpg
Ông đã được tặng thưởng Huân chương Sao Vàng (http://vi.wikipedia.org/wiki/Hu%C3%A2n_ch%C6%B0%C6%A1ng_Sao_V%C3%A0ng) (1992 (http://vi.wikipedia.org/wiki/1992)), 2 Huân chương Hồ Chí Minh (http://vi.wikipedia.org/wiki/Hu%C3%A2n_ch%C6%B0%C6%A1ng_H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Min h), Huân chương Chiến thắng (http://vi.wikipedia.org/wiki/Hu%C3%A2n_ch%C6%B0%C6%A1ng_Chi%E1%BA%BFn_th%E1%BA% AFng) hạng nhất.
http://www.qdnd.vn/qdnd/Images/News/8400/8400.jpg
Đánh giá
http://www.primeiralinha.org/imagens6/giap2.jpg
Là một người có tài tổ chức và kiên nhẫn, Võ Nguyên Giáp đã từng bước xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam từ 34 người vào tháng 12 năm 1944 thành một đội quân với hơn một triệu người năm 1975.
Là một nhà chiến lược - chiến thuật bậc thầy, ông đã lãnh đạo quân đội đó giành thắng lợi trong cả hai cuộc chiến tranh.
http://vietnamnews.vnanet.vn/2004-09/03/sua%20roi/03-Ong-giap.jpg
Tên tuổi của Võ Nguyên Giáp gắn liền với một chiến thắng có ý nghĩa quốc tế của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong trận Điện Biên Phủ - lần đầu tiên quân đội của một nước thuộc địa Châu Á đánh bại trên chiến trường quân đội của một cường quốc Châu Âu.
http://www.sggp.org.vn/dataimages/original/images109896_Dai_tuong_Vo_Nguyen_Giap.jpg
Với hơn 50 năm tham gia hoạt động chính trị ở cấp cao nhất, trong đó có 30 năm là Tổng tư lệnh quân đội, ông có uy tín lớn trong Đảng Cộng sản Việt Nam, trong quân đội và trong nhân dân, được coi là một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và là Người anh cả của Quân đội Nhân dân.
http://www.bibliomonde.com/images/img_auteur_1071.jpg
Ông được cả thế giới biết đến như một trong những danh tướng của thế kỷ 20 - người đã đánh bại nhiều viên tướng quân đội Pháp trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất và lần lượt đọ sức với 7 danh tướng của quân đội Hoa Kỳ trong Chiến tranh Việt Nam cho tới khi Hoa Kỳ rút quân ra khỏi bán đảo Đông Dương sau Hiệp định Paris (1973).
Ngày 25-8-2006, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã mừng sinh nhật thượng thọ lần thứ 95.
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2006/04/13/VoNguyenGiap200.jpg
Ông là chính khách Việt Nam sống lâu nhất tính cho đến thời điểm này (cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng mất năm 2000, thọ 94 tuổi).
http://news.vnu.edu.vn/ttsk/Vietnamese/C1736/C1748/2006/12/N13940/tham%20dai%20tuong%20vo%20nguyen%20giap.jpg
Kỷ niệm 60 năm ngày phát hành số đầu tiên,
http://moj.gov.vn/moj1/news2_ref/grp11/item3501/Vo%20Nguyen%20Giap.jpg
Thời báo châu Á (Times Asia) đã ra số đặc biệt giới thiệu các "Anh hùng châu Á" (http://www.vietlyso.com/forums/showthread.php?t=9120 ) , tôn vinh các nhân vật nổi tiếng làm thay đổi cục diện châu lục trong những thập kỷ gần đây.
Những nhân vật được giới thiệu gồm Mahatma Gandhi , Jawaharlal Nehru , Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Việt Nam) ..
Lần đầu tiên anh Võ Nguyên Giáp gặp chị Nguyễn Thị Quang Thái trên một chuyến xe lửa Hà Nội - Huế. Năm ấy, anh Võ Nguyên Giáp 18 tuổi và Quang Thái vừa 14 tuổi.
Quang Thái sinh ở Vinh nhưng quê gốc ở làng Nhân Chính, Hà Nội. Gặp nhau trên chuyến tàu vào Huế khi ấy Quang Thái vào nhập học ở trường Đồng Khánh còn anh Võ Nguyên Giáp đi thực hiện công tác của Đảng Tân Việt nhằm hợp nhất Đảng Tân Việt với Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội và Việt Nam Cộng sản Đảng. Cùng đi một chuyến tàu, Võ Nguyên Giáp thấy Quang Thái để lại trong anh một ấn tượng sâu sắc anh vẫn hy vọng có ngày gặp lại. Rồi một dịp may đã tới, một hôm anh Giáp làm việc ở nhà ông Lê Ấm, con rể cụ Phan Chu Trinh thì có một thiếu nữ tìm gặp. Cô nữ sinh xinh xắn nói giọng Vinh ấm áp. Đang mải viết, anh Giáp ngẩng lên và sững sờ: chính là Quang Thái - người mà anh mong gặp gỡ bấy lâu nay. Quang Thái gặp anh để nhận công tác của đoàn thể giao là phát triển tổ “Nữ sinh đỏ”. Sau đấy do yêu cầu công tác hai người phải thường xuyên gặp nhau. Anh Giáp có tình cảm với Quang Thái nhưng Quang Thái vẫn chỉ coi anh như một người anh.
Năm 1931, anh Võ Nguyên Giáp bị bắt vì tham gia phong trào Xô-viết Nghệ Tĩnh, anh bị giam ở nhà lao Thừa Phủ, đi qua nhà giam nữ anh giật mình nhận ra Quang Thái. Ở tù, cô gái xinh đẹp vừa 16 tuổi ấy, tỏ ra là người có ý chí bất khuất. Quang Thái đã dặn bạn tù bằng một câu tiếng Pháp, tạm dịch là “Không ai tố giác bạn, bạn đừng tố giác ai”.
Cuối năm 1931, anh Võ Nguyên Giáp được ra tù, bị quản thúc ở quê. Quang Thái cũng được trả tự do trong dịp này. Anh Giáp và chị Quang Thái ngày càng thương yêu nhau. Quang Thái đã nhận lời cầu hôn của anh Giáp, đám cưới được tổ chức ở Vinh, năm ấy anh Giáp 24 tuổi và chị Quang Thái tròn tuổi 20. Sau khi cưới, hai vợ chồng ra Hà Nội hoạt động. Anh Giáp dạy học, chị Quang Thái thi đỗ xuất sắc vào Đại học 4 Hà Nội, sau bị đuổi vì hoạt động mạnh trong giới học sinh, sinh viên. Anh chị sinh được con gái đầu lòng đặt tên là Hồng Anh. Năm 1939, anh Giáp được Đảng cử sang Trung Quốc hoạt động. Chị Quang Thái vừa nuôi con, vừa làm liên lạc viên của Trung ương Đảng. Năm 1941, giặc Pháp xử chị Nguyễn Thị Minh Khai - người chị ruột yêu quý của chị Quang Thái. Quang Thái đã thuê luật sư và đến dự phiên xét xử khi tòa tuyên án tử hình đối với người chị ruột yêu quý, Quang Thái nén đau thương càng cố gắng hoạt động. Năm 1942, chị bị sa vào tay giặc bị chúng tra tấn dã man nhằm khai thác cơ sở của Đảng và truy tìm đồng chí Hoàng Văn Thụ. Chị đã kiên cường chịu đựng và hy sinh năm 1944 tại nhà giam Hỏa Lò, Hà Nội. Mãi đến tháng 4-1945, anh Võ Nguyên Giáp mới biết vợ mình đã hy sinh...
Trong một lần đến thăm nhà tù Hỏa Lò cùng con gái Hồng Anh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp thắp hương, đặt vòng hoa tưởng niệm. Ông xúc động ghi trong cuốn sổ của nhà lao: “Nhớ mãi hương hồn của các anh, các đồng chí, các anh chị, nhớ mãi hình ảnh của Quang Thái, người vợ, người mẹ của chúng tôi”. Cô bé Hồng Anh ngày nào đã trở thành giáo sư, tiến sĩ toán lý, là người phụ nữ đầu tiên của ngành vật lý Việt Nam được tặng giải thưởng Kovalevskaia.
Tinh thần của liệt sĩ Nguyễn Thị Quang Thái sáng mãi đến ngàn thu!
(theo Bao Binh Duong)
Trong một lần đến thăm nhà tù Hỏa Lò cùng con gái Hồng Anh, đại tướng Võ Nguyên Giáp thắp hương, đặt vòng hoa tưởng niệm Quang Thái, người nữ chiến sĩ cách mạng, người vợ yêu của đại tướng, đã hi sinh khi còn rất trẻ.
Ông xúc động ghi trong cuốn sổ của nhà lao: “Nhớ mãi hương hồn của các anh, các đồng chí, các anh chị, nhớ mãi hình ảnh của Quang Thái, người vợ, người mẹ của chúng tôi”.
Cuộc gặp cuối cùng
Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhớ lại buổi chia tay cuối cùng.
"Một buổi chiều vào đầu tháng 5-1940. Đến giờ đi dạy học, ra khỏi nhà một quãng, tôi ngoái lại nhìn ngôi nhà nhỏ, biết còn lâu mới quay trở về đây, khi đó chắc có nhiều sự thay đổi rồi.
Hôm đó là thứ sáu, tôi đã sắp xếp dạy dồn cả chương trình ngày thứ bảy vào thứ năm và thứ sáu để có được một khoảng cách hai ngày, thứ bảy và chủ nhật, không phải đến trường. Từ ngày ra Hà Nội hoạt động, tôi đã làm nghề dạy học ở Trường Thăng Long. Năm giờ chiều, tan học, tôi lững thững đi về phía hồ Tây như một người dạo mát. Hoa phượng nở đỏ trên vòm cây.
Tiếng ve sầu kêu ra rả. Tôi vừa đi vừa để ý nhìn trước nhìn sau xem có mật thám theo dõi không. May sao, chiều hôm đó không thấy bóng dáng bọn chúng. Từ ngày địch bắt đầu khủng bố, trước khi tôi gặp anh Hoàng Văn Thụ, các anh cũng đã cho biết là tôi sẽ chuyển vào hoạt động bí mật. Quang Thái cũng rất muốn đi hoạt động bí mật. Nhưng con chúng tôi chưa đầy năm, chưa nhờ ai nuôi được, Quang Thái hẹn khi nào gửi được con sẽ đi sau.
Đến đường Cổ Ngư, qua chùa Trấn Võ, tôi thấy Quang Thái ẵm cháu Hồng Anh đã đứng đợi ở một gốc cây vắng người. Quang Thái rơm rớm nước mắt, thỉnh thoảng lại quay về phía hồ để mọi người khỏi chú ý. Tôi nói với Quang Thái ở lại giữ liên lạc với các anh, tiếp tục công tác, cố gửi Hồng Anh để đi hoạt động bí mật. Quang Thái nhắc tôi hết sức giữ gìn sức khỏe và cẩn thận trong hoạt động, gắng tìm cách cho nhà biết tin. Một đôi người quen đi ngang chào hỏi, tưởng chúng tôi đang đứng hóng mát. Chúng tôi đang nói chuyện thì có tiếng người hỏi phía sau:
- Thầy có đi xe không?
Tôi quay lại thấy anh giáo Minh kéo một chiếc xe tay đứng đợi. Tôi chia tay Quang Thái lên xe, không ngờ phút chia tay đó lại là phút vĩnh biệt".
Và cái nhìn đầu tiên...
Lần đầu tiên anh Võ Nguyên Giáp gặp chị Quang Thái trên một chuyến xe lửa Hà Nội - Huế. Năm 1929, anh Giáp được đoàn thể cử đi công tác. Mục đích của chuyến đi là việc hợp nhất Đảng Tân Việt với Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội và Việt Nam cộng sản Đảng. Đoàn tàu dừng lại ở ga Vinh.
Hai cô nữ sinh xinh xắn ríu rít lên tàu. Một cô là Hồ Cầm, em của chị Hải Đường, cùng sinh hoạt trong Đảng Tân Việt với anh Giáp. Anh để ý cô bạn đi cùng Hồ Cầm. Cô gái rất xinh, khuôn mặt trái xoan hiền dịu, da trắng hồng, đôi mắt đen láy thông minh, tóc xõa ngang lưng. Anh Giáp vui vẻ nói chuyện với hai cô gái. Ngày ấy anh Giáp còn rất trẻ, ăn mặc theo lối ký giả. Hồ Cầm giới thiệu:
- Đây là bạn Quang Thái.
Anh Giáp đã từng nghe tên Quang Thái trong đợt công tác qua Vinh mới đây. Tổ chức Đảng giao cho anh nhiệm vụ đi bàn với Liên tỉnh ủy Nghệ Tĩnh thu xếp cho chị Minh Khai, đảng viên Đảng Tân Việt, đi thoát ly. Anh Giáp nghe nói chị Minh Khai có em gái là Quang Thái xinh xắn, học giỏi, hoạt động cách mạng hăng hái, sôi nổi.
- Các cô đi đâu thế?
- Em đưa Quang Thái vào nhập học Trường Đồng Khánh.
Quang Thái sinh ở Vinh nhưng quê gốc là làng Nhân Chính, Hà Nội. Cha Quang Thái là một kỹ sư cầu đường. Trong khi anh Giáp nói chuyện với Hồ Cầm, Quang Thái vẫn ngồi im không muốn bắt chuyện. Cô cho anh là chàng công tử bột với chiếc mũ phớt và bộ comlê trắng, dáng người thanh mảnh thư sinh, khuôn mặt tròn trắng trẻo.
Chỉ đến khi anh giới thiệu mình là nhà báo, Quang Thái mới tham gia câu chuyện. Từ buổi gặp gỡ đầu tiên ấy, hình ảnh cô nữ sinh Đồng Khánh Huế xinh đẹp, dịu dàng Quang Thái đã để lại cho anh ấn tượng sâu sắc. Lần đầu tiên anh thấy xao xuyến với một người con gái. Anh thầm mong sẽ có ngày được gặp lại.
Trường Đồng Khánh ở gần Trường Quốc học Huế. Anh Giáp từng là học sinh Trường Quốc học Huế. Một trong những người dẫn dắt anh đến với phong trào học sinh là anh Nguyễn Chí Diểu, một người bạn lớn tuổi hơn cùng lớp. Thời gian ấy có phong trào học sinh đấu tranh đòi thả cụ Phan Bội Châu, để tang cụ Phan Chu Trinh.
Hiệu trưởng và tổng giám thị cho là chính anh Nguyễn Chí Diểu cầm đầu phong trào đòi ân xá cho cụ Phan Bội Châu và để tang cụ Phan Chu Trinh ở Trường Quốc học Huế. Trong một kỳ thi, anh Diểu bị vu oan là copy bài và bị đuổi ra khỏi lớp. Anh Giáp bàn với anh Nguyễn Khoa Văn phát động bãi khóa với khẩu hiệu: "Không được đuổi học sinh Nguyễn Chí Diểu, tự do đọc sách báo, chống giáo dục ngu dân".
Một cuộc bãi khóa lớn diễn ra ở Trường Quốc học. Thấy vậy, học sinh các trường khác ở Huế lần lượt bãi khóa. Đây là một trong những cuộc tổng bãi khóa lớn nhất thời ấy. Một tháng sau, phong trào dần dần lắng xuống. Học sinh đi học trở lại. Nhà cầm quyền công bố danh sách những học sinh bị đuổi học: 90 người trong tất cả các trường tại Huế, trong đó có anh Võ Nguyên Giáp.
Anh Giáp về quê Quảng Bình. Cha anh muốn anh lấy vợ. Vợ ông bá hộ trong làng sẵn sàng gả con gái cho anh. Nhà ông Bá giàu nhất làng, có hai cô con gái. Cô gái định gả cho anh Giáp ở tuổi mới lớn. Vợ ông Bá hứa nếu thành hôn sẽ cho ruộng, cho nhà. Cha anh Giáp muốn anh nhận lời nhưng mẹ anh nói: “Tùy con, ưng thì lấy, không ưng thì thôi, không ép”.
Một hôm, anh Diểu về Quảng Bình tìm anh Giáp. Anh Nguyễn Chí Diểu, ủy viên Kỳ bộ Trung kỳ của Tân Việt, thay mặt tổ chức kết nạp Võ Nguyên Giáp vào Đảng Tân Việt. Anh Giáp hẹn với anh Diểu sẽ thu xếp công việc ở nhà để vào Huế tham gia hoạt động. Khi anh Giáp xin đi Huế, cha anh chỉ bằng lòng với điều kiện anh nhận lời làm rể ông Bá. Anh Giáp đóng khăn xếp, áo dài đen, quần trắng, đi guốc đến nhà ông Bá. Cô Bá tiếp đón nồng nhiệt. Cô còn đem ra chục trứng gà và tiền để anh đi Huế. Anh nói:
- Cảm ơn, tôi không dám nhận.
Cô Bá cười:
- Cậu làm cao. Sau này lại không đòi nhà, đòi ruộng ấy à.
Thấy anh đến nhà ông Bá, cha anh bằng lòng cho anh đi Huế. Nhưng anh nói riêng với mẹ:
- Con không kết hôn với con gái ông Bá đâu. Thầy mẹ đừng thu xếp.
Trước khi lên tàu, anh Giáp nói với con trai ông Bá:
- Tôi rất tôn trọng gia đình anh nhưng tôi không thể kết hôn với em gái anh được. Tôi và cô ấy không hợp nhau. Nhờ anh về thưa lại với gia đình.
Anh Giáp vào Huế, làm việc tại Quan hải Tùng thư, một nhà xuất bản do Tổng bộ Tân Việt chủ trương. Thực chất là anh tham gia sinh hoạt ở một tiểu tổ bí mật của Tân Việt. Sau đó, anh làm biên tập cho báo Tiếng Dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng.
Sau buổi gặp Quang Thái trên tàu, nhiều lần anh Giáp đạp xe qua cổng Trường Đồng Khánh hi vọng gặp lại Quang Thái. Anh nhìn vào sân trường thấy thấp thoáng các cô ngồi trên bãi cỏ xanh, những cô tha thướt đi dạo nhưng anh vẫn không gặp được Quang Thái.
Nhà văn NGUYỆT TÚ
Mối tình trong nhà lao Thừa Phủ
Một hôm, anh Giáp đang làm việc ở nhà ông Lê Ấm, con rể cụ Phan Chu Trinh, thì có một thiếu nữ tìm gặp. Cô nữ sinh xinh xắn nói giọng Vinh ấm áp. Đang mải viết, anh Giáp ngẩng lên và sững sờ: chính là Quang Thái, người mà anh vẫn đi tìm bấy lâu nay.
Quang Thái gặp anh để nhận công tác của đoàn thể. Nhiệm vụ của đoàn thể giao cho cô là phát triển tổ "nữ sinh đỏ". Sau đó, do hoàn cảnh công tác, hai người gặp nhau nhiều. Anh Giáp có tình cảm với Quang Thái nhưng Quang Thái vẫn chỉ coi anh như một người đồng chí. Quang Thái dành hết tâm tư, tình cảm của mình cho chị Minh Khai. Chị rất lo lắng cho chị Minh Khai mới đi thoát ly.
Năm 1931, anh Võ Nguyên Giáp bị bắt vì tham gia phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh. Anh bị giam vào nhà lao Thừa Phủ. Đi qua nhà giam nữ, anh giật mình nhận ra Quang Thái. Quang Thái cũng đã bị bắt. Thời gian trong tù anh Giáp hiểu và yêu Quang Thái nhiều hơn. Người thiếu nữ 16 tuổi ấy nét mặt còn ngây thơ nhưng tinh thần thật bất khuất. Quang Thái có câu nói nổi tiếng dặn bạn tù: "Personne ne vous dénoncé, ne dénoncez personne" (Không ai tố giác bạn, bạn đừng tố giác ai). Bài thơ đầy khí phách của Quang Thái được truyền nhau khắp nhà lao:
Mười sáu xuân qua sống ở đời
Nhân tình nghĩ đến lệ đầy vơi
Trông phường đế quốc lòng ngao ngán
Thấy bạn cần lao dạ rối bời
Quyết chí hi sinh thây kệ chết
Đem lòng phấn đấu mặc đầu rơi
Ngọn cờ vô sản bao giờ phất
Chín suối hồn ta mỉm miệng cười.
Cuối năm 1931, anh Võ Nguyên Giáp được ra tù với điều kiện phải trở về quê và bị quản thúc. Quang Thái cũng được trả tự do trong dịp này. Anh Giáp và chị Thái bắt đầu viết thư cho nhau. Anh Giáp hay đến nhà Quang Thái chơi. Các em Quang Thái rất quí anh. Quang Thái cũng bắt đầu yêu mến người con trai đất Quảng hiền lành nhưng mạnh mẽ. Quang Thái thích đôi mắt vừa hồn nhiên nhân hậu, vừa cương nghị, sắc sảo của anh. Lúc xa anh, chị thấy nhớ giọng nói ấm áp và ánh nhìn trìu mến anh dành cho mình.
Đám cưới hai người được tổ chức rất vui ở Vinh. Có cả một con heo quay đeo hoa tai đặt trên mâm đồng. Lúc đó chị Thái tròn 20 tuổi, anh Giáp 24 tuổi. Sau khi cưới, hai vợ chồng ra Hà Nội, lúc đầu thuê một căn nhà ở phố Đường Thành. Anh Giáp dạy Trường Thăng Long. Anh vừa dạy vừa lãnh đạo Đoàn thanh niên dân chủ trong trường.
Chị Quang Thái thi đỗ xuất sắc vào Trường Bà đỡ Hà Nội thuộc ngành y (sages femmes d"Etat). Nhưng sau chị bị đuổi học vì những hoạt động cách mạng trong giới học sinh, sinh viên. Cuộc sống của anh chị thanh đạm nhưng mỗi khi có các đồng chí đến nhà anh chị đều tìm cách giúp đỡ. Có những đợt đấu tranh cán bộ địa phương về đông, hai vợ chồng nhường chỗ ở và chia sẻ những bữa ăn giản dị gia đình cho anh chị em. Anh chị sinh con gái đầu lòng, đặt tên là Hồng Anh.
Chị và em
Cuối 1939, Mặt trận bình dân đổ, Pháp khủng bố mạnh. Anh Võ Nguyên Giáp rút vào hoạt động bí mật. Anh được Đảng cử sang Trung Quốc hoạt động. Con gái Hồng Anh còn quá nhỏ, hai vợ chồng không thể cùng đi như đã hẹn. Anh Giáp phân vân, lo lắng khi để lại người vợ trẻ và đứa con còn quá nhỏ. Chị Thái động viên chồng: “Đây là một thời cơ lớn, trên đã muốn anh thoát ly thì anh nên quyết tâm. Mẹ con em tự lo được mà”.
Chị Thái gửi con về quê chồng - Quảng Bình, để đi hoạt động cách mạng. Chị được tổ chức phân công làm nhiệm vụ vận động phong trào phụ nữ, trí thức, công thương ở Hà Nội và các vùng lân cận. Đồng thời chị là liên lạc viên của Trung ương Đảng. Năm 1941, Pháp mở phiên tòa án binh xử chị Minh Khai ở Sài Gòn. Quang Thái rất thương chị. Để cha mẹ yên tâm, Quang Thái thuê thầy kiện và tìm mọi cách vào thăm chị trong nhà giam.
Buổi sáng hôm xử chị Minh Khai, Quang Thái ngồi ngay hàng ghế đầu. Quang Thái chỉ muốn chạy lên ôm chặt lấy chị, muốn ghi thật sâu hình ảnh chị trong ký ức. Mảnh thư chị Minh Khai ném cho đồng chí Lê Duẩn rơi ngay trước mặt bọn lính áp giải. Quang Thái nhanh tay giấu được.
Dự phiên tòa xử án chị Minh Khai ra về, Quang Thái khóc nhiều đêm. Chị Minh Khai đã bị kết án tử hình. Ban ngày phải lo công việc, nhưng đêm đến Quang Thái lại úp mặt xuống gối khóc. Vừa thương chị, Quang Thái lại vừa lo cho tính mệnh của chồng. Chị bớt lo khi nhận được thư của anh. Lá thư viết trên mảnh giấy thuốc lá nhỏ bằng nửa bàn tay. Chị run run mở thư, đọc những dòng chữ thân quen: “Chị đã mất vì mục đích cao cả, em đừng quá đau buồn”.
Về Vinh, chị Thái ở nhà mẹ. Lúc đó, trong nhà mẹ chị còn có anh Nguyễn Duy Trinh (sau này là bộ trưởng Bộ Ngoại giao). Năm 1942, trong một lần khám xét, bọn Pháp bắt anh Nguyễn Duy Trinh. Chị Thái cũng bị bắt hôm đó vì có một đồng chí trong phong trào bị bắt trước đó không chịu nổi tra tấn đã khai ra chị. Chị Quang Thái bị kết án 16 năm tù.
Trong tù, chị hết lòng chăm sóc, động viên chị em dũng cảm đấu tranh chống tra tấn, chống chế độ hà khắc của nhà tù thực dân. Chị còn dạy chị em trong tù học văn hóa. Bọn Pháp tra tấn chị để truy tìm anh Hoàng Văn Thụ. Chị kiên quyết không khai. Cuộc sống gian khổ trong tù cùng với những trận tra tấn dã man làm sức chị yếu dần. Những năm 1943-1944, trong nhà tù Hỏa Lò có dịch thương hàn.
Có kiến thức về y, chị Thái tận tình chăm sóc chị em bị bệnh. Cuối cùng, bản thân chị cũng bị bệnh thương hàn. Đến khi đã kiệt sức, chị mới được đưa vào nhà thương làm phúc. Linh cảm thấy ngày ra đi đến gần, chị nhắn mẹ chồng bế Hồng Anh ra cho mình gặp. Bà nội đưa Hồng Anh đi bằng xe lửa. Hai bà cháu đi được nửa đường thì nghe tin đoạn đường ray phía trước bị Nhật ném bom. Bà nội buộc phải bế cháu về. Năm 1944, chị Quang Thái mất mà không gặp được con gái lần cuối.
Những lá thư gửi cho người đã mất
Khi chị Thái bị bắt giam, anh Giáp đã về nước theo chỉ thị của Bác Hồ cùng các đồng chí lãnh đạo khác xây dựng chiến khu Cao - Bắc - Lạng. Anh không biết chị Thái bị bắt giam. Nhiều khi ngồi dưới gốc cây trong rừng đại ngàn, anh mong đến ngày được gặp lại vợ và con gái. Do điều kiện hoạt động phải giữ bí mật, lâu lâu anh mới gửi về nhà một bức thư viết trên mẩu giấy thuốc lá khi có liên lạc trực tiếp. Anh chia sẻ với chị nỗi đau chị Minh Khai hi sinh. Anh không biết Quang Thái cũng đã hi sinh trong tù. Những lá thư chứa chan tình yêu viết trên giấy thuốc lá mỏng mảnh vẫn tiếp tục gửi về địa chỉ người đã mất.
Cho đến một ngày tháng 4-1945, trong Hội nghị quân sự cách mạng Bắc kỳ họp tại Hiệp Hòa, Bắc Giang, anh Giáp mới nghe đồng chí Trường Chinh nói tin dữ mà tưởng anh đã biết:
- Chị Thái chưa kịp rút vào hoạt động bí mật thì bị chúng bắt... Cũng không ngờ chị mất ở trong tù.
Nỗi đau quá đột ngột. Anh Giáp lặng người hỏi:
- Anh nói sao?
Anh Trường Chinh rất ngạc nhiên:
- Anh chưa biết tin à?
Quang Thái mất rồi ư? Bị sốc quá mạnh, anh Giáp bàng hoàng đi sang buồng bên, bỏ dở cuộc họp... Anh không ngờ cái ngày hôm ấy, cuộc chia tay ngắn ngủi, bịn rịn bên hồ Tây lại là lần cuối cùng anh gặp người vợ thương yêu. Nén nỗi đau riêng, anh trở lại với trách nhiệm của người chỉ huy đội tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong trận chiến chống Pháp giải phóng dân tộc, đại tướng Võ Nguyên Giáp còn nỗi niềm riêng: trả thù cho người đồng chí, người vợ yêu đã hi sinh khi chưa tròn 30 tuổi.
Nhà văn NGUYỆT TÚ - NGUYỆT TĨNH
Tuổi thơ dữ dội và vinh quang
http://hovuvovietnam.com/images/product/1248062272_GS-TS-Vo-Hong-Anh1.jpg
GS.TS Hồng Anh là kết quả của mối tình lãng mạng giữa hai trí thức trẻ có hoài bão lớn. Năm 1929, anh thanh niên cách mạng Võ Nguyên Giáp trong vai một nhà báo đi trên một chuyến xe lửa Hà Nội - Huế để thực hiện một nhiệm vụ cách mạng. Khi tàu dừng ở ga Vinh, có hai thiếu nữ lên tàu. Ngay lúc ấy, Võ Nguyên Giáp đã để ý đến cô gái có mái tóc dày đen nhánh xoã ngang lưng, nước da trắng hồng, gương mặt trái xoan hiền dịu, đôi mắt đen láy ánh lên một sự thẳng thắn, cương trực và rất đỗi dịu dàng. Khi biết được đó chính là em gái của chị Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Nguyên Giáp càng để ý hơn.
Hôm ấy, Nguyễn Thị Quang Thái lên đường vào Huế nhập học trường Đồng Khánh. Câu chuyện giữa anh thanh niên và người bạn đi cùng sôi nổi, Quang Thái ngồi im lặng, mãi sau mới tham gia chuyện trò. Ấn tượng của Võ Nguyên Giáp lúc đó về cô nữ sinh Đồng Khánh Huế xinh đẹp và ít nói rất mạnh.
Sau khi vào Huế làm việc tại Quan hải tùng thư, rồi làm biên tập cho báo Tiếng dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng, Võ Nguyên Giáp không quên lưu giữ hình ảnh người nữ sinh Đồng Khánh ông đã gặp trên chuyến tàu hôm nào.
Thế rồi, một hôm nữ sinh Quang Thái đến tìm gặp một người để nhận công tác đoàn thể. Hóa ra đó lại là Võ Nguyên Giáp. Cuộc gặp gỡ đột ngột khiến Võ Nguyên Giáp sững sờ, trái tim xao xuyến. Từ đây, hai người bắt đầu kết thân và thành vợ thành chồng năm Võ Nguyên Giáp 24 tuổi, còn Quang Thái 20 tuổi.
http://mekongnet.ru/uploads/spaw/thang07b_2009/contuonggiap2.jpg
Sau khi cưới nhau, họ ra Hà Nội, Võ Nguyên Giáp dạy học, Quang Thái học trường Y. Năm 1941, Võ Hồng Anh ra đời ở thủ đô nhưng không được sống với ba mẹ nhiều vì ba mẹ bận việc cách mạng. Quang Thái bị bắt và bị giam ở Hỏa Lò. Trước khi chết, bà rất mong được gặp Hồng Anh. Bà nội đưa Hồng Anh lên tàu ra gặp mẹ nhưng năm đó máy bay của quân đồng minh ném bom đoàn tàu, bà cháu không ra được. Thế là nhà cách mạng Quang Thái hy sinh mà không được gặp chồng con.
Trong kháng chiến chống Pháp, khi sơ tán lên Việt Bắc, một lần Bác Hồ đến thăm gia đình, Hồng Anh nhận ra Bác ngay, nhưng không dám tới gần. Mãi tới khi ba bảo: “Hồng Anh ra đây chào Bác Hồ đi con!”, lúc ấy chị mới lò dò đến gần Bác và nói: “Cháu chào Bác Hồ ạ!”. Bác Hồ kéo Hồng Anh vào lòng hỏi: “Ra Việt Bắc cháu có vui không?”. “Dạ, có ạ”. Ba Hồng Anh nói thêm: “Nó ra đây thấy cái gì cũng mới lạ. Vừa rồi được đi ô tô lần đầu, cháu reo lên vui thích, nhưng chỉ một lúc sau là ỉu xìu vì chóng mặt”. Bác Hồ cúi xuống hỏi: “Thế lúc ấy cháu có khóc không?” “Dạ, cháu chưa khóc ạ!”, Bác Hồ liền sửa ngay: “Cháu phải nói là “không khóc” chứ không phải là chưa khóc”.
Về sau chính GS.TS Hồng Anh là một trong những người được Bác Hồ yêu mến đặc biệt. Khi chị còn là học sinh trường Internat, mỗi lần sang thăm Liên Xô, Bác Hồ đều ghé thăm trường và chính Hồng Anh được tập thể tín nhiệm viết và đọc lời chúc (http://vatgia.com/hoidap/quicksearch.php?keyword=lời+chúc) mừng Bác, kể cho Bác nghe về tình hình học tập, sinh hoạt của sinh viên Việt Nam tại Xô Viết.
Với GS.TS Hồng Anh, đó là “những kỷ niệm không bao giờ quên” mà chị thường nhắc lại mỗi khi trò chuyện với bạn bè cũng như vào các dịp kỷ niệm sinh nhật (http://vatgia.com/hoidap/quicksearch.php?keyword=sinh+nhật) Bác hay ngày Quốc khánh 2/9.
Nhà khoa học tài năng và trách nhiệm
“Tôi không dám hỏi chị là phụ nữ, tại sao lại chọn lĩnh vực vật lý lý thuyết vốn khô khan, trừu tượng, mênh mông và khó được mọi người thừa nhận, vì biết chị đạt được nhiều điều trong lĩnh vực này” - TS Hồ Bất Khuất tiếp tục câu chuyện.
Vào thời gian GS.TS Hồng Anh làm việc tại Viện Năng lượng nguyên tử quốc gia, trong một lần nói chuyện với TS Hồ Bất Khuất về ý kiến của mình về việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân tại Việt Nam, GS.TS Hồng Anh cho biết: “Nhà máy điện hạt nhân thì chắc chắn chúng ta phải xây dựng rồi, nhưng ở đâu, lúc nào, chọn công nghệ, nguyên lý gì… cần phải có tính toán kỹ lưỡng. Trên thực tế vấn đề này đã có một số quan điểm, phản ứng khác nhau. Nói về vấn đề này phải đúng nơi, đúng chỗ, đại diện cho quan điểm nào”.
TS Hồ Bất Khuất kể rằng: “Chị nói vậy cho kín nhẽ, nhưng tôi biết sự lựa chọn của chị rồi. Chị đặc biệt nhấn mạnh phải đào tạo cán bộ có tác phong khoa học chính xác và nghiêm túc từ bây giờ. Làm điện hạt nhân không có chỗ cho tư tưởng xà xẻo, rút ruột công trình, hay thái độ tắc trách. Với văn hóa, tác phong và phẩm chất như hiện nay, chúng ta chưa thể làm điện hạt nhân được”.
Thật ra, thời gian, địa điểm làm việc đối với chị chỉ có ý nghĩa tương đối. Điều cơ bản xuyên suốt hoạt động của chị là những vấn đề khoa học vật lý lý thuyết và thái độ sống (mà chị chọn cũng trên cơ sở rất khoa học). Dù là GS.TS khoa học, dù đã có trên 60 công trình khoa học được công bố, được nhiều giả thưởng, nhưng chị không phải là người thành đạt. Chính chị nói: “Có lẽ tôi không thấy mình thích hợp với hai chữ “thành đạt””.
Những lần trò chuyện với chị, tôi biết là chị không hài lòng về mình, chưa hài lòng về những gì chị đã làm được. Vì vậy, sau khi rời Viện Năng lượng nguyên tử quốc gia, chị về “đầu quân” cho Liên hiệp các hội khoa học Việt Nam, cùng với những nhà khoa học nổi tiếng như cố GS.TS Vũ Tuyên Hoàng, GS.TS Vũ Đình Cự… mong tiếp tục làm và nghiên cứu khoa học có ý nghĩa thực tiễn hơn.
Còn nữa, chị nói với tôi là sẽ viết một cái gì đấy về gia đình mình, về ông nội, bà nội - những người đã truyền cho chị những tri thức đầu tiên về văn học dân gian, những bài học đầu tiên về chia ly, đợi chờ, về việc người thân quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Tôi cũng mong được đọc quyển sách như vậy của chị, nhưng có lẽ, không kịp nữa rồi.
Quốc Đô (ghi theo lời kể của TS Hồ Bất Khuất)
GS.TS Võ Hồng Anh - con gái (http://vatgia.com/hoidap/quicksearch.php?keyword=con+gái) duy nhất của liệt sĩ Nguyễn Thị Quang Thái (em gái nhà Cách mạng Nguyễn Thị Minh Khai) và đại tướng Võ Nguyên Giáp - đã qua đời chiều 18-7-2009 tại Hà Nội (http://vatgia.com/home/quicksearch.php?keyword=Hà+Nội) vì bệnh nặng.
http://www.bee.net.vn/dataimages/200907/original/images55097_vo%20hong%20anh.jpg
Bà Võ Hồng Anh sinh năm 1941, quê ở Quảng Bình. Từ khi mẹ hi sinh trong tù, sau khởi nghĩa Nam kỳ, bà Hồng Anh lớn lên cùng bà nội ở quê, đến khi cách mạng thành công mới được gặp cha.
Những ngày còn tấm bé, bà Hồng Anh đã theo bà nội, bà ngoại chạy giặc, tản cư từ vùng đất nghèo này sang vùng đất nghèo khác của miền Trung kiên cường.Tự lập và tự học từ nhỏ, bà Võ Hồng Anh được giới khoa học đánh giá là một nhà khoa học có năng lực, uy tín, hoàn toàn độc lập với danh tiếng và chức vụ của cha mình.
http://thuvienvatly.com/home/images/stories3/lukhachla/GSTS_Vo_Hong_Anh.jpg
Cuối năm 1954, bà Võ Hồng Anh được đi học tại trường Thiếu nhi Việt Nam (http://vatgia.com/hoidap/quicksearch.php?keyword=Việt+Nam) Mát-xcơ-va, thi đậu vào trường Đại học Tổng hợp Lômônôxốp - Mát-xcơ-va, bà theo học khoa vật lý (bộ môn lý thuyết lượng tử) và đã tốt nghiệp đại học vào năm 1965.
Năm 1969, bà Võ Hồng Anh bảo vệ thành công luận án Phó Tiến sĩ Toán - Lý về lý thuyết Plasma. Sau đó, năm 1969-1971, được làm cộng tác viên khoa học tại Viện Liên hợp nghiên cứu hạt nhân Dubma - một cơ sở khoa học quốc tế có uy tín của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa.
Năm 1972, bà Võ Hồng Anh về nước được cử làm việc tại Viện Vật lý Hà Nội, ở đây, bà tiếp tục nghiên cứu một số vấn đề về lý thuyết chất rắn.
Năm 1979, bà Võ Hồng Anh được trở lại công tác tại Viện Liên hợp nghiên cứu hạt nhân Dobma và năm 1982 đã bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ Toán- Lý về đề tài: “Lý thuyết tác động tham số của bức xạ điện tử mạnh lên các tinh thể...”.
Từ công trình đầu tay đăng trên tạp chí: “Báo cáo của Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô” năm 1965, khi còn là một sinh viên làm luận văn tốt nghiệp, qua những năm tháng say mê với khoa học, bà đã có trên 50 công trình (đứng tên một mình hoặc đồng tác giả) về những vấn đề khác nhau của vật lý các môi trường (chất rắn, chất lỏng, plasma) được công bố trên nhiều tạp chí khoa học quốc tế và trong nước. Công trình của bà Võ Hồng Anh đã được giới thiệu ở nhiều hội nghị quốc tế, nhiều cơ sở nghiên cứu ở các nước như Liên Xô, Bungari, Rumani, Pháp, Nhật Bản, Mỹ...
Với những cố gắng không mệt mỏi để cống hiến cho nền khoa học nước nhà, bà đã được Nhà nước phong hàm Giáo sư. GS.TS Võ Hồng Anh là người phụ nữ (http://vatgia.com/hoidap/quicksearch.php?keyword=phụ+nữ) đầu tiên của ngành vật lý Việt Nam được tặng giải thưởng Kovalevskaia vào năm 1988 (Kovalevskaia là nhà toán học nữ lỗi lạc của Nga vào thế kỷ thứ 19. Giải này chỉ để tôn vinh, khích lệ những người phụ nữ làm khoa học gọi là “Giải thưởng Kovalevskaia Việt Nam”).
concerto1
19-02-2010, 12:07 PM
tôi mới nghe tin đại tướng không còn, chưa biết ra sao...
tôi mới nghe tin đại tướng không còn, chưa biết ra sao...
26.01.2010
Đại tướng Võ Nguyên Giáp vẫn nghe chuyện bình thường
Thời gian gần đây có nhiều thông tin khác nhau về sức khỏe của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. PV đã có cuộc gặp gỡ với Đại tá Nguyễn Huyên, thư ký, trợ lý của Đại tướng tại 30 Hoàng Diệu, Hà Nội.
Thưa Đại tá, theo nhiều nguồn tin chúng tôi được biết, trong khoảng 3 - 4 tháng nay, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đang được chăm sóc sức khỏe tại Bệnh viện Quân y 108. Ông có thường xuyên vào thăm Đại tướng không?
Tôi là một trong số ít người được vào thăm Đại tướng thường xuyên.
Thưa, sức khỏe của Đại tướng tại thời điểm này (25/1/2010) như thế nào?
Trước đó, cũng có lúc Đại tướng bị mệt nhiều nhưng hiện tại đang có dấu hiệu bình phục.
Bác sĩ điều trị trực tiếp nói với tôi rằng Đại tướng có dấu hiệu bình phục tốt nhất trong những bệnh nhân được điều trị tại khu đặc biệt này. Hiện Đại tướng chỉ còn phải thở oxy ban đêm.
Các bác sĩ đang nỗ lực điều trị và chăm sóc để trong thời gian tới, Đại tướng có thể ngồi xe lăn đi lại.
Đại tướng có trao đổi, trò chuyện với ông bình thường không?
Đại tướng vẫn nói chuyện được nhưng không được rõ. Còn tôi nói thì Đại tướng nghe hết. Hiểu hết. Cái gì bằng lòng thì gật đầu. Cái gì không bằng lòng thì lắc đầu.
Thưa ông, chính xác đến Tết này, Đại tướng thọ bao nhiêu tuổi?
Ra Giêng, Đại tướng thọ 100 tuổi Âm và đến 25/8/2010, Đại tướng thọ 100 tuổi Dương.
Vậy trong thời gian gần đây, ông có hay nhận được những lời hỏi thăm sức khỏe tới Đại tướng không?
Nhiều, nhiều lắm. Nhất là trong vài tháng trở lại đây. Nếu là điện thoại quen, tôi vẫn trả lời ngắn gọn và chính xác.
Xin cảm ơn Đại tá và xin nhờ Đại tá gửi tới Đại tướng Võ Nguyên Giáp lời kính chúc sức khỏe.
Theo Lương Thị Bích Ngọc
Bee.net.vn
dtuanngoc
25-08-2010, 02:19 PM
Chúc mừng sinh nhật Đại tướng!
Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Sinh nhật 99 tuổi năm 2009
25.08.2009
Tuổi cao nhưng Đại tướng Võ Nguyên Giáp vẫn cập nhật thời sự, đọc sách và có những chuyến thăm chiến trường xưa. Nhân dịp sinh nhật lần thứ 99 của ông, VnExpress.net gửi tới độc giả những bức ảnh do nhà báo quân đội Trần Hồng ghi lại.
http://vnexpress.net/Files/Subject/3B/A1/2B/69/7.jpg
Khi còn làm việc tại Văn phòng Đại tướng, mỗi khi tướng Giáp dứt khỏi công việc, trời đã đều tối mịt. Tấm ảnh chụp lúc Đại tướng 83 tuổi.
http://vnexpress.net/Files/Subject/3B/A1/2B/69/8.jpg
Đọc sách là thói quen hàng chục năm nay của tướng Giáp và là phương pháp quan trọng để ông có được kiến thức uyên thâm ở nhiều lĩnh vực. Trong ảnh là gia đình Đại tướng tại quầy sách trên phố Điện Biên Phủ. Ngoài cùng bên phải là con gái ông, GS.TS Võ Hồng Anh (http://vnexpress.net/GL/Xa-hoi/2009/07/3BA116E0/) - vừa qua đời hơn một tháng trước.
http://vnexpress.net/Files/Subject/3B/A1/2B/69/1.jpg
Những chuyến đi trong suốt những năm gần đây của tướng Giáp luôn có mặt người bạn đời, bà Đặng Bích Hà. Tấm ảnh chụp vào tháng 4/2004 nhân chuyến trở lại Điện Biên Phủ dịp kỷ niệm 50 chiến thắng.
http://vnexpress.net/Files/Subject/3B/A1/2B/69/2.jpg
Trò chuyện cùng trung tướng Đồng Sỹ Nguyên, vị tướng tài ba của đường Trường Sơn huyền thoại.
http://vnexpress.net/Files/Subject/3B/A1/2B/69/4.jpg
http://vnexpress.net/Files/Subject/3B/A1/2B/69/14.jpg
http://vnexpress.net/Files/Subject/3B/A1/2B/69/10.jpg
Mỗi dịp lễ, Tết, sinh nhật của Đại tướng luôn có hàng chục đoàn đại biểu Đảng, Nhà nước, quân đội, thanh niên tới thăm hỏi.
http://vnexpress.net/Files/Subject/3B/A1/2B/69/IMG_7998.jpg
Là người gắn bó với Đại tướng suốt 33 năm nay, đại tá Nguyễn Huyên (đứng) - trợ lý của tướng Giáp - luôn bất ngờ trước sức làm việc phi thường của ông. Theo đại tá, tướng Giáp vẫn làm việc đều đặn sau khi nghe trợ lý báo cáo mỗi ngày. Tất cả thư từ, công việc đều được ông xem xét nhiều lần trước khi trả lời.
http://vnexpress.net/Files/Subject/3B/A1/2B/69/13.jpg
Vợ chồng tướng Giáp chụp chung với gia đình đại tá Trần Hồng (ngoài cùng bên phải, hàng dưới), nhà báo quân đội đã chụp hơn 2.000 tấm ảnh về Đại tướng suốt 15 năm qua.
Nguyễn Hưng
Ảnh: Trần Hồng
Những bức ảnh lịch sử về Đại tướng Võ Nguyên Giáp
25.08.2010
Nhân dịp Đại tướng Võ Nguyên Giáp bước sang tuổi 100, VnExpress.net giới thiệu những bức ảnh lịch sử của Đại tướng trong chiến dịch Điện Biên Phủ, kháng chiến chống Mỹ.
http://vnexpress.net/Files/Subject/3B/A1/FA/66/Dai-tuong-1945.jpg
Năm 1945, Đại tướng Võ Nguyên Giáp duyệt Giải phóng quân từ Tân Trào về Hà Nội.
http://vnexpress.net/Files/Subject/3B/A1/FA/66/An-com_Viet-Bac.jpg
Bữa cơm thân mật của Chủ tịch Hồ Chí Minh với Đại tướng Võ Nguyên Giáp (ngồi giữa), đồng chí Trường Chinh ở chiến khu Việt Bắc năm 1947.
http://vnexpress.net/Files/Subject/3B/A1/FA/66/Dien-Bien-Phu.jpg
Ngày 6/12/1953 tại Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh và lãnh đạo Đảng quyết định mở Chiến
dịch Điện Biên Phủ.
http://vnexpress.net/Files/Subject/3B/A1/FA/66/Tieu-diet-dich.jpg
Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Bộ Tổng tư lệnh Quân đội họp bàn kế hoạch tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ. Từ trái sang phải, tướng Văn Tiến Dũng, đồng chí Trần Đăng Ninh, Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp và Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị -
Nguyễn Chí Thanh
.http://vnexpress.net/Files/Subject/3B/A1/FA/66/Dai-tuong-nghe-bao-cao.jpg
Đại tướng Võ Nguyên Giáp nghe báo cáo tình hình chiến sự Điện Biên Phủ.http://vnexpress.net/Files/Subject/3B/A1/FA/66/Sinh-nhat-Bac.jpg
Các chiến sỹ Điện Biên mừng sinh nhật Bác (19/5/1954).
http://vnexpress.net/Files/Subject/3B/A1/FA/66/Bac-Ho_VNG.jpg
Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhân kỷ niệm ngày thành lập Quân đội Nhân dân
Việt Nam năm 1962.
http://vnexpress.net/Files/Subject/3B/A1/FA/66/Dai-tuong-1968.jpg
Đại tướng đi thăm mặt trận năm 1968
http://vnexpress.net/Files/Subject/3B/A1/FA/66/VNG_Norodom-Shihanuk.jpg
Đại tướng tiếp Ngài Norodom Shihanuk trong ngày Bác mất năm 1969.
Ngày 24/8/2010, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng cùng nhiều vị lãnh đạo đã chúc thọ Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Chiều 24/8, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đến thăm, chúc thọ Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Thủ tướng chúc Đại tướng mạnh khỏe, trường thọ, tiếp tục có những ý kiến đóng góp quý báu cho công cuộc phát triển đất nước. Chính phủ luôn ghi nhớ và đánh giá rất cao công lao đóng góp to lớn của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
http://vnexpress.net/Files/Subject/3B/A1/FA/14/a1.jpg
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chúc mừng Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhân dịp Quốc khánh 2/9/2009. Ảnh: TTXVN.
Trong ngày 24/8, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Huỳnh Đảm cũng đến thăm chúc thọ Đại tướng.
(Theo TTXVN/Vietnam+)
Đi tìm ngày sinh Đại tướng
Tháng 8 năm nay theo dương lịch, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đại thọ bước vào tuổi 100 (25-8-1911 – 25-8-2010). Nhân ngày sinh của ông, xin kể câu chuyện tôi đi tìm ngày sinh của Đại tướng để viết cuốn sách “Đại tướng Võ Nguyên Giáp – thời trẻ”.
http://a8.vietbao.vn/images/vn888/hot/201007/1282718519-1-Dai-tuong-nhan-tranh-cua-hoa-si-Phan-Ke-An-.jpeg
Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận tranh của hoạ sĩ Phan Kế An kính tặng.
Đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước đã quen thuộc với các hồi ức cách mạng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tuy nhiên chưa nhiều người được biết về thời trẻ của ông.
Vào dịp sinh nhật lần thứ 93 của Đại tướng (năm 2004) và kỷ niệm lần thứ 60 Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-2004), Nhà xuất bản Thanh Niên đã cho ra mắt bạn đọc cuốn sách “Đại tướng Võ Nguyên Giáp – thời trẻ” viết về tuổi trẻ của ông. Sau khi nghỉ hưu (1995), tôi mới có thời gian để sưu tầm tư liệu và viết cuốn sách này.
Được sự cộng tác của bà Đặng Bích Hà (phu nhân Đại tướng Võ Nguyên Giáp), tôi dựa vào các tư liệu lịch sử, đặc biệt là các bức thư và ảnh của gia đình Đại tướng – những kỷ vật quý báu đã được lưu giữ hơn nửa thế kỷ, và dựa vào những lời kể của những người thân trong gia đình Đại tướng để phác hoạ lại một quãng đời của ông - người Anh Cả của quân đội ta, vị tướng văn võ song toàn, suốt đời dĩ công vi thượng, vì nhân dân phục vụ.
Mở đầu cuốn sách là đoạn “Ngày sinh” viết như sau: Hồi đầu thế kỷ XX, ở làng xã An Xá (trước là xã, sau là thôn, nay thuộc xã Lộc Thuỷ, huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình) có một gia đình nhà nho nghèo làm ruộng. Ông huý là Võ Quang Nghiêm, bà là Nguyễn Thị Kiên. Ông bà sinh hạ được 7 người con, Võ Nguyên Giáp là người con thứ 5. Võ Nguyên Giáp ra đời vào một mùa lụt, trong một cái lều cất tạm dưới gốc cây mít to như cổ thụ trong vườn nhà.
Thuở ấy các cụ chỉ nhớ ngày sinh của con cái theo âm lịch, còn ngày sinh của Võ Nguyên Giáp theo dương lịch thì sau này các nhà nghiên cứu phương Tây, mỗi người nói một cách. Ví như bản chỉ dẫn về tiểu sử Võ Nguyên Giáp của Giăng Xanhtơny (Notice biographique sur Võ Nguyên Giáp – Jean Sainteny) ghi là 1912. Từ điển Bách khoa Larutxơ (Larousse) ghi là 1911. Có những tác giả ghi là 1910 như Buđaren (Boudarel) hoặc Giêm Phốc (James Fox).
Trong cuốn “GIAP” do nhà xuất bản Atlát (Atlas) – Pari xuất bản năm 1977, Buđaren viết “sinh ở An Xá trong tỉnh Quảng Bình năm 1910”. Trên tạp chí Thời sự chủ nhật (The Sunday times magazine) số 5 – 11 – 1972, Giêm Phốc viết: Ông sinh ngày 1 – 9 – 1910, một ngày tháng đáng ghi nhớ lại ở đây, chỉ vì một sự tình cờ kỳ lạ, tôi tìm thấy giấy khai sinh của ông Giáp tại Pari và qua đó có thể giải quyết một lúng túng cho giới học giả cho rằng ông sinh ra vào khoảng 1911, 1912”.
Tôi hỏi bà Đặng Bích Hà:
- Vậy năm nào là đúng?
- Năm 1911.
- Căn cứ vào đâu?
- Anh Giáp tuổi Hợi (Tân Hợi).
- Một lá số tử vi có không?
- Không. Mà có cũng không còn.
- Rất tiếc, tôi muốn xem người ta đoán như thế nào về số của anh Giáp. Còn ngày sinh?
- Ngày 25 tháng 8 dương lịch. Cũng tính từ “ngày ta” sang do bà (mẹ tướng Giáp) nói và nhờ ông Trần Văn Giáp tính hộ.
Theo bà Lady Borton - nữ ký giả người Mỹ, tác giả của nhiều cuốn sách viết về Việt Nam, là người dịch cuốn sách “Đại tướng Võ Nguyên Giáp – thời trẻ” sang Anh ngữ, thì tư liệu trên đây về ngày sinh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp là đáng tin cậy vì không ai nhớ ngày sinh của con bằng người mẹ.
Xin chúc mừng người Anh Cả bước vào tuổi 100 xuân:
Một trăm xuân sống trên đời
Anh đã hoàn thành nhiệm vụ Bác Hồ trao
Cầm quân biến chiến công thành huyền thoại
Đảng tin, dân mến, thế giới chào.
Trí, Dũng, Nhân, Tín, Liêm, Trung, anh toàn vẹn
“Dĩ công vi thượng” một tầm cao.
Danh tướng thời đại Hồ Chí Minh, tấm gương sáng
Danh tướng của mọi thời đáng tự hào.
Sống mãi với núi sông
Sống mãi trong sử sách
Sống mãi trong lòng dân
Sống mãi với đồng bào.
Trung tướng Hồng Cư
Việt Báo (Theo Dân Việt)
Mừng thọ Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại nhà riêng
Nhiều mái đầu bạc đã gặp lại nhau trong căn phòng nhỏ ở số 30 Hoàng Diệu - Hà Nội sáng nay (23/8) cùng ôn lại những kỷ niệm cũ về "anh Văn" (Đại tướng Võ Nguyên Giáp), người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Tham dự cuộc gặp mặt của những người từng làm việc trong Văn phòng Đại tướng còn có các nhà sử học và những người bạn thân thiết với gia đình.
Người dẫn đường
Là thư ký đảm trách giúp việc về khoa học, giáo dục cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp thời kỳ 1976 - 1989, đại tá Nguyễn Ngọc Thanh tha thiết mong lịch sử đánh giá đúng vai trò của Tướng Giáp đối với nền khoa học nước nhà.
http://images.vietnamnet.vn/dataimages/201008/original/images2022780_IMG_7270.jpg (http://images.vietnamnet.vn/dataimages/201008/original/images2022780_IMG_7270.jpg)
Tướng Giáp cùng các cộng sự nghỉ ngơi bên bờ suối. Ảnh tư liệu của Đại tá Nguyễn Huy Toàn
Ông Thanh nhớ lại, ngay khi Đại tướng được giao phụ trách khoa học, kỹ thuật, nhiều nhà khoa học, trong đó có GS Hoàng Tụy đã thẳng thắn bày tỏ băn khoăn, không hiểu rồi vị nguyên soái lẫy lừng trong quân đội có tiếp tục "lập chiến công" trên mặt trận khoa giáo mới hay không.
"Và rồi chỉ 5, 6 năm sau, nhiều người đã phải công nhận rằng, ở Đại tướng có tầm nhãn quan chiến lược về khoa học, qua những công văn, nghị quyết và ý kiến gửi lên Bộ Chính trị và Chính phủ, quyết sách về nhiều vấn đề quan trọng", ông Thanh nói.
Như nguyên Viện trưởng Viện năng lượng hạt nhân Đà Lạt Phạm Duy Hiển chia sẻ, chúng ta vẫn chưa đúc kết được công lao Đại tướng trong phát triển của khoa học, giáo dục nước nhà.
Không có điều kiện dự cuộc họp mặt, GS Hoàng Tụy gửi lời nhắn mong chuyển tới Đại tướng: "Tôi luôn nhớ lời hứa với Đại tướng là làm sao cho nền khoa học, giáo dục Việt Nam đạt tới đỉnh cao trí tuệ. Tôi sẽ phấn đấu nốt phần đời còn lại của mình cho mục tiêu này. Hiện tượng Ngô Bảo Châu khẳng định thành công của trí tuệ Việt Nam chứ không phải thành công của nền khoa học - giáo dục Việt Nam".
Với nhiều người, Tướng Giáp không chỉ "đóng đinh" trong huyền thoại ở vị trí người anh cả của quân đội mà với sự quan tâm, trăn trở cho vận nước, ông còn hiện diện ở nhiều lĩnh vực khác của đời sống.
Thành viên Ủy ban khởi nghĩa Hà Nội, Chánh văn phòng Quân ủy Trung ương Lê Trọng Nghĩa run run xúc động: "Tôi vẫn thấy trong thời kỳ đấu tranh xây dựng đất nước hoà bình, đấu tranh cho tự do, dân chủ hiện nay hình ảnh anh Văn. Vẫn thật cao quý, đáng trân trọng. Vị tướng kiệt xuất của quân đội, giờ đây vẫn đang đứng cạnh chúng ta trong cuộc đấu tranh mới xây dựng tự do, dân chủ".
Nhà thơ Việt Phương nói với sang: "Không chỉ đứng cùng chúng ta mà vẫn dẫn đường chúng ta".
"Người có công với Hoàng thành Thăng Long"
Câu chuyện miên man không dứt khi nhà sử học Phan Huy Lê kể lại những "duyên nợ" của Tướng Giáp - Chủ tịch danh dự Hội sử học Việt Nam - với những người làm sử.
http://images.vietnamnet.vn/dataimages/201008/original/images2022783_IMG_7146.jpg (http://images.vietnamnet.vn/dataimages/201008/original/images2022783_IMG_7146.jpg)
GS Phan Huy Lê: "Ông là vị tướng hiếm hoi không chỉ có binh nghiệp lừng lẫy mà còn soạn binh thư hiện đại"
"Cả thế giới đều nói ông đã đi vào lịch sử bằng tài năng nhân cách, thiên tài quân sự, nhà văn hóa lớn. Nhưng tôi muốn nói ở khía cạnh sử học, hiếm có vị tướng nào trên thế giới vừa có binh nghiệp lẫy lừng vừa soạn được những cuốn binh thư hiện đại, tổng kết về lý luận", ông Phan Huy Lê khẳng định.
Vị tướng huyền thoại, trong suốt quá trình chỉ huy cuộc kháng chiến đã vừa làm sử, tham gia vào lịch sử lại vừa viết sử, những trang sử sống động.
Theo GS Phan Huy Lê, lịch sử quân sự Việt Nam chỉ có hai pho "binh thư", của Trần Quốc Tuấn và Võ Nguyên Giáp.
Theo tin từ Văn phòng Đại tướng Võ Nguyên Giáp, chiều nay, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã tới mừng thọ Đại tướng.Cũng theo ông Lê, với tác phong, tư duy chiến lược, Đại tướng đã có nhiều cống hiến lớn lao cho nền sử học Việt Nam, với nhiều ý kiến xác đáng giúp các nhà sử học biên soạn sách về lịch sử chống ngoại xâm, các trường phái quân sự Việt Nam, về Nguyễn Trãi...
Một kỷ niệm đáng nhớ về tác phong nghiêm ngặt, chuẩn mực của ông, đó là khi ý kiến "chiến tranh nhân dân yêu nước chống ngoại xâm đã có từ thời Trần" gây tranh cãi, thì Đại tướng đề nghị các nhà sử học phải đi tìm cứ liệu để chứng minh.
Quả thật, các sử gia đã tìm được từ "dân binh" được dùng dưới thời nhà Trần, để nói về lực lượng vũ trang nhân dân.
Đại tướng cũng đề nghị những người làm sử phải tìm trong ngôn ngữ từng thời kỳ để thấy nghệ thuật quân sự, vai trò của người dân trong các cuộc chiến tranh.
Ông cũng không hài lòng việc các dịch giả diễn giải chữ "manh lệ" (dân cày, tôi tớ, nô lệ) trong "Bình Ngô đại cáo" của Nguyễn Trãi thành chữ "dân nghèo". Bởi chữ dân nghèo không nói hết được sự tham gia của người dân. Tướng Giáp cũng đưa ra nhiều kiến nghị mong vực dậy nền sử học nước nhà.
GS Phan Huy Lê cũng tin tưởng rằng vị tướng huyền thoại sẽ không thể không tham gia Đại lễ 1.000 năm Thăng Long sắp tới đây. Bởi, ông là người có công lao cực kỳ lớn trong bảo tồn Hoàng thành Thăng Long, ở giai đoạn đầu tiên khó khăn nhất để giữ gìn di sản, từ đó mới có căn cứ lập hồ sơ.
Theo ông Phan Huy Lê, "Đại tướng vẫn quan tâm tới các vấn đề thời sự, tới vận mệnh dân tộc, di sản văn hóa dân tộc".
Ngoài lẵng hoa tươi, Hội Sử học cũng gửi tặng gia đình Đại tướng cuốn sách viết về 59 vị nguyên soái huyền thoại trong lịch sử 2.500 năm của thế giới. Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người Việt Nam duy nhất, cũng là người duy nhất còn sống có mặt trong cuốn sách này.
http://images.vietnamnet.vn/dataimages/201008/original/images2022784_IMG_7155.jpg (http://images.vietnamnet.vn/dataimages/201008/original/images2022784_IMG_7155.jpg)
Phu nhân Đại tướng (bên phải) rưng rưng: "Gặp lại các anh hôm nay, tôi như thấy lại các thời đại"
http://images.vietnamnet.vn/dataimages/201008/original/images2022789_IMG_7187.jpg (http://images.vietnamnet.vn/dataimages/201008/original/images2022789_IMG_7187.jpg)
Ông Dương Trung Quốc thay mặt Hội sử học tặng gia đình cuốn sách về 59 vị tướng huyền thoại
http://images.vietnamnet.vn/dataimages/201008/original/images2022927_0.jpg (http://images.vietnamnet.vn/dataimages/201008/original/images2022927_0.jpg)
Ông Phạm Khắc Lãm (phải) kể về một quyết định lui quân của Tướng Giáp: "Một vị tướng hô tiến công khi xông lên không quan trọng bằng một vị tướng hô rút quân khi thấy quân có thể tổn thất lớn. Đó là lòng thương người"
http://images.vietnamnet.vn/dataimages/201008/original/images2022793_IMG_7263.jpg (http://images.vietnamnet.vn/dataimages/201008/original/images2022793_IMG_7263.jpg)
Đại tá Nguyễn Huy Toàn tặng lại gia đình Đại tướng bức ảnh Đại tướng bên bờ suối
Lê Nhung - Ảnh: Lê Anh Dũng
mAnpro
03-09-2010, 12:15 AM
không được nhìn thấy hình của tướng Giáp trong năm nay :(. Mong rằng ông vẫn mạnh khỏe
bcbc cũng thấy cứ thế nào ý, khi mà sinh nhật của Đại tướng, chẳng thấy fotos của đại tướng đâu, thấy fotos của các nhân vật phụ khác, rồi fotos + bài viết về thủ tướng mừng SN đại tướng, mặc dù có bài viết nói là Đại tướng quan tâm hỏi thăm đến việc GS Ngô Bảo Châu nhận giải Nobel toán học mới đây.
Không biết đại tướng có khỏe không
Đại tướng Võ Nguyên Giáp-Người làm thay đổi lịch sử
07/05/2010 06:59
Dưới sự dẫn dắt của Đại tướng Võ Nguyên Giáp - nhà chiến lược tài ba, chỉ huy quân sự lỗi lạc… Quân đội ta từ buổi đầu chỉ có 34 chiến sĩ với vũ khí trang bị thô sơ, trải qua hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Bác Hồ kính yêu… đã trở thành một quân đội hùng mạnh, đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược. Dân tộc Việt Nam tự hào vì đã có một Võ Nguyên Giáp được bạn bè thế giới khâm phục, kẻ thù nể trọng như một "Anh hùng châu Á", "Đại tướng 5 sao", "Một danh tướng đã đi vào huyền thoại"...
http://www.hanoimoi.com.vn/Uploads/daituong_hnm.jpgCán bộ, phóng viên Báo Hànộimới chúc thọ Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhân kỷ niệm 55 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ. Ảnh: Viết Thành
Người Pháp thách thức Tướng Giáp tấn công
56 năm, nhìn lại lịch sử, giờ đây không mấy ai còn cười chê người Pháp khi đó đã "khờ khạo" chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược với Việt Minh. Quân đội viễn chinh Pháp thất bại không phải vì đã "đầu tư" sai, mà thua bởi phải đương đầu với một đội quân đặt dưới sự lãnh đạo của một đảng tiên tiến, một lãnh tụ thiên tài - Chủ tịch Hồ Chí Minh và một vị tướng lỗi lạc - Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Về mặt địa lý chiến lược, lòng chảo Điện Biên Phủ được chính Tổng Chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương Herry Navarre đánh giá là căn cứ lục quân, không quân tốt nhất ở miền bắc Đông Dương, rất thuận tiện cho việc xây dựng tập đoàn cứ điểm phòng thủ. Không những thế, Bộ Chỉ huy Pháp còn tính toán rằng, ở Điện Biên Phủ, nơi cách Hà Nội, các tỉnh Đồng bằng Bắc bộ và Thanh Hóa từ 300 đến 500 km đường chim bay, chỉ có quốc lộ số 6 từ Hà Nội đi qua Hòa Bình, Sơn La lên, thì việc Việt Minh bảo đảm vũ khí, đạn dược, hậu cần, lương thực, thuốc men... cho hàng vạn người chiến đấu trong một thời gian dài, là rất khó, nếu không nói là không thể thực hiện được. Sở dĩ như vậy là vì Bộ Chỉ huy Pháp cho rằng quân ta chủ yếu vận chuyển bằng đôi vai và các phương tiện thô sơ như xe đạp thồ, ngựa thồ, thuyền mảng, nếu có đi theo đường số 6 sẽ bị máy bay của Pháp ném bom chặn đánh. Hơn nữa, hình thức tập đoàn cứ điểm đã được phía Pháp áp dụng xây dựng trong chiến cuộc Đông Xuân 1951-1952, tại thị xã Hòa Bình, trong chiến dịch Hòa Bình; tại Nà Sản (10-1952), trong chiến dịch Tây Bắc, nhưng bộ đội ta đều không đánh được, thậm chí bị tổn thất nặng, thì với tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, được xây dựng kiên cố, quân đông (16.000), nhiều vị trí và trung tâm đề kháng (49 cứ điểm, 8 trung tâm đề kháng), lại có cầu hàng không tiếp tế liên tục với số lượng lớn... từng được viên tướng Tổng Chỉ huy tiền nhiệm của Navarre là Salan đánh giá là "Nà Sản lũy thừa 10", được Bộ Chỉ huy Pháp coi là bất khả xâm phạm. Nếu bộ đội ta có liều lĩnh đánh vào thì tập đoàn cứ điểm sẽ trở thành "cái nhọt hút độc", là "cái cối xay thịt" chủ lực Việt Minh. Chính vì thế, cả Pháp và Mỹ đều rất chủ quan, thậm chí còn cho thả truyền đơn "thách Tướng Giáp tiến công" Điện Biên Phủ.
Quyết định thay đổi lịch sử của một thiên tài quân sự
Sau này, khi nói chuyện về Chiến thắng Điện Biên Phủ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho biết: Tuy không tin vào thắng lợi của phương án đánh nhanh, thắng nhanh, nhưng tôi tự thấy mình vừa mới đến chiến trường, chưa có đủ cơ sở thực tế để bác bỏ ý kiến của đa số, nên đã đồng ý triệu tập hội nghị cán bộ để phổ biến kế hoạch tác chiến theo phương châm "đánh nhanh, giải quyết nhanh". Đồng thời tôi chỉ thị cơ quan tham mưu theo dõi chặt chẽ tình hình địch từng ngày, từng giờ, kịp thời báo cáo; nếu tình hình thay đổi, ta có thể thay đổi kế hoạch...
Suốt 11 ngày đêm theo dõi tình hình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp thấy địch ngày càng tăng cường lực lượng, ra sức củng cố trận địa và những khó khăn của ta chưa có cách khắc phục. Nhiều đêm trăn trở, cân nhắc, cuối cùng, Đại tướng đi đến kết luận: Đánh theo cách này nhất định thất bại, phải chuyển sang phương châm "đánh chắc, tiến chắc". Mặc dầu mấy vạn quân đã dàn trận, đạn đã lên nòng, sẵn sàng nổ súng vào đêm 26-1, nhưng chúng ta đã kiên quyết dừng lại, cho lui quân về vị trí tập kết, kéo pháo ra để chuẩn bị trận địa đánh theo phương án mới. Quyết định thay đổi phương châm đã được triển khai, sau đó báo cáo về Trung ương bằng thư hỏa tốc, được Bác Hồ và Bộ Chính trị nhất trí và cho biết sẽ động viên hậu phương đem toàn lực chi viện cho tiền tuyến đánh thắng. Thay đổi cách đánh trong tình thế toàn mặt trận từ trên xuống dưới đã quyết tâm chiến đấu theo phương án "đánh nhanh, giải quyết nhanh", các đơn vị đã vào vị trí chiến đấu, chờ giờ nổ súng, theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp: "Đó là quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy của tôi".
Với quyết định kịp thời và sáng suốt này, ta đã giành được thế chủ động tiến công, đẩy địch vào thế bị động, bế tắc, đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt không cách gì gỡ được. Khi chuyển sang cách "đánh chắc, tiến chắc", tức là bao vây đánh dần từng bước, tiêu diệt địch từng bộ phận, từ ngoại vi vào tung thâm, ta có điều kiện tập trung hỏa lực ưu thế tuyệt đối trong từng trận, tạo nên sức mạnh áp đảo đánh thắng địch. Trải qua quá trình chiến đấu dài ngày, chúng ta đã lần lượt tiêu diệt từng cụm cứ điểm của địch, siết chặt vòng vây, vận dụng chiến thuật đánh lấn, bắn tỉa, chia cắt sân bay, triệt đường tiếp tế... làm cho tập đoàn cứ điểm ngày càng bị bóp nghẹt, không phận ngày càng bị thu hẹp, khó khăn ngày càng chồng chất, tinh thần chiến đấu của địch ngày càng sa sút. Cuối cùng, ta mở đợt tiến công quyết định đánh vào sở chỉ huy đầu não, bắt sống Tướng Đờ Cát và Bộ Chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, buộc toàn bộ quân địch đầu hàng, giành toàn thắng. Như vậy, quân đội ta từ chỗ mới tiêu diệt được từng tiểu đoàn địch phòng ngự trong công sự vững chắc và thường chỉ đánh trong đêm, đã tiến lên tiêu diệt 21 tiểu đoàn phòng ngự trong một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương, với 8 trung tâm đề kháng, 49 cứ điểm và đánh liên tục trong 56 ngày đêm, đã tiêu diệt, bắt sống hơn 1 vạn 6 nghìn quân địch, đại bộ phận là lính Âu Phi tinh nhuệ. Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954 toàn thắng đã đi vào lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam như Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa trong thời đại mới.
Đại tướng của hòa bình
Chỉ khi chiến tranh đã lùi vào quá khứ, khi có dịp tiếp xúc với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người Pháp, người Mỹ mới hiểu vì sao họ thua một vị tướng "chưa hề đọc một cuốn sách giáo khoa quân sự nào, dù đó là sách dành cho cấp tiểu đội trưởng" - một sự nuối tiếc muộn mằn.
Trong cuốn sách của Giáo sư lịch sử quân sự Mỹ Cecil B.Currey, với tựa đề "Chiến thắng bằng mọi giá - Đại tướng Võ Nguyên Giáp, thiên tài của Việt Nam" (NXB Brassey - USA, ấn hành năm 1997) có viết: "Trong suốt thời gian ở cương vị chỉ huy, ông (Đại tướng Võ Nguyên Giáp) đã trở thành một huyền thoại và hơn nữa, một thiên tài quân sự vĩ đại nhất của thế kỷ XX và là một trong những vị tướng vĩ đại nhất của mọi thời đại. Không chỉ bởi sự tao nhã và sự tài ba về mặt chiến lược của ông. Không chỉ vì ông đã dẫn dắt và phát huy đến cao độ tinh thần dũng cảm của quân đội trong một số trận chiến nổi tiếng. Không chỉ do khả năng thu phục nhân tâm của cá nhân ông, mà còn bởi những thành quả mà ông đã đạt được... Những thách thức mà Tướng Giáp phải vượt qua đã đưa ông trở thành một bậc thầy về chiến thuật, về hậu cần và về chiến lược. Ông đã sáng tạo ra một kiểu chiến thuật (cách đánh) mà cả người Pháp và người Mỹ đều không thể thắng được...".
Ngày 23-6-1967, tại Nhà khách Chính phủ (Hà Nội), trong cuộc gặp và nói chuyện với nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ Mc Namara, một người trong đoàn phía Mỹ hỏi: "Thưa ông, ai là vị tướng giỏi của Việt Nam?". Đại tướng Võ Nguyên Giáp trả lời: "Vị tướng giỏi nhất Việt Nam là nhân dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam. Người Mỹ thua Việt Nam bởi vì chưa hiểu vị tướng ấy...". Sau buổi gặp, Tướng Chester Cooper (thành viên Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ) đã nói với Đại tướng về cảm nghĩ của mình: "Thưa ngài, tôi thán phục ngài từ 20 năm trước. Nay tôi vẫn thán phục. Chắc các bạn tôi ở đây cũng nghĩ như vậy". Còn Zbigniew Brezinski, Cố vấn An ninh quốc gia Mỹ dưới thời Tổng thống J.Carter có hỏi: "Chiến lược của ngài là gì?", Đại tướng đã trả lời: "Chiến lược của tôi là hòa bình".
Tướng Peter Mc Donald, nhà nghiên cứu khoa học lịch sử quân sự người Anh đánh giá: "Với 30 năm làm tổng tư lệnh và gần 50 năm tham gia chính sự cấp cao, ông tỏ ra là người có phẩm chất phi thường trong mọi lĩnh vực. Khó có vị tướng nào so sánh được với ông trong việc kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy. Sự kết hợp đó xưa nay chưa từng có".
Nhân dân Việt Nam luôn tự hào có Đại tướng Võ Nguyên Giáp - người anh hùng đã góp phần làm rạng danh dân tộc.
Hà Trang
Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Người được toàn dân yêu mến
Thứ Ba, 26.8.2008 | 08:25 (GMT + 7)
Trong căn nhà nằm dưới bóng khu vườn nhiều cây lá tại 30 Hoàng Diệu (HN), không khí thân tình, rộn ràng như trong một gia đình với tiếng nói, tiếng cười không ngớt vang lên từ mấy ngày nay.
Những người bạn, người anh em, người đồng chí từ mọi miền tổ quốc cùng hội ngộ chung niềm vui mừng anh cả của Quân đội Nhân dân VN - Đại tướng Võ Nguyên Giáp (http://www.laodong.com.vn/Search.aspx?KeyWord=%22V%C3%B5%20Nguy%C3%AAn%20Gi% C3%A1p%22&SectionID=0) - bước sang tuổi 98, với những món quà giản dị mà nặng nghĩa tình.
Sáng 25.8, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã tới chúc thọ và tặng hoa Đại tướng. Nhiều lãnh đạo thành phố, các bộ, ban, ngành cũng có mặt chia vui.
Ngồi bên nhau, siết chặt tay, Thượng tướng - giáo sư Hoàng Minh Thảo xúc động ứng khẩu thành thơ "Vì Đại tướng được toàn dân yêu mến - Bởi non sông vẫn cần bóng anh hùng..." để nói về tình cảm của anh em bạn bè, đồng chí khi được thấy cây đại thụ của quân đội nhân dân VN vẫn vững vàng, mẫn tiệp trước những thử thách của thời gian, năm tháng.
Quả thực, không phải vô cớ mà lãnh đạo tỉnh Quảng Bình - quê hương anh hùng của đại tướng Võ Nguyên Giáp (http://www.laodong.com.vn/Search.aspx?KeyWord=%22V%C3%B5%20Nguy%C3%AAn%20Gi% C3%A1p%22&SectionID=0) - lại chọn hoa phong lan làm quà tặng cho ngày sinh nhật người con ưu tú của quê nhà. Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Bình Phan Lâm Phương bày tỏ: "Quê hương Quảng Bình được thiên nhiên ưu đãi có Phong Nha, Kẻ Bàng, có rừng quốc gia đa dạng sinh học với những loài cây đại tướng hằng yêu quý, trân trọng.
Lần nào về thăm quê, đại tướng cũng căn dặn cán bộ, anh em Quảng Bình phải giữ gìn môi trường, trồng thêm rừng ở phía tây, ngăn mặn, ngăn phá hoại môi trường, giữ rừng. Quảng Bình tặng phong lan mừng sinh nhật đại tướng, vừa là loài cây gợi nhớ quê hương, vừa là tượng trưng phẩm chất vững vàng của người lính bộ đội Cụ Hồ"...
Trong vòng quây nồng ấm của rất đông cán bộ, con em từ Quảng Bình vượt đường xa tới chúc mừng, người con Quảng Bình xa quê vẫn không quên dặn dò: "Rừng, môi trường và sinh thái vẫn là quan trọng nhất, phải giữ cho thiên nhiên tươi xanh, bảo vệ môi trường thì Quảng Bình mới có thể phát triển bền vững, mạnh, giàu"...
Một con gà nhốt trong lồng tre, xung quanh bọc lá cọ, một túi quả trám mộc mạc - đó là món quà bà Ma Thị Tôm (Định Hoá, Thái Nguyên) mang đến tặng người anh mà hình ảnh đã in đậm trong tâm trí bà từ những ngày còn thơ ấu. Định Hoá từng là thủ đô cách mạng, nơi Bác Hồ, tướng Giáp và nhiều lãnh đạo đảng khác sinh sống và hoạt động, và gia đình bà Tôm là một trong những gia đình nương náu an toàn của họ. Năm tháng qua đi, cách mạng đã thành công, người đã xa, nhưng tình cảm thì vẫn vẹn nguyên như thế. Những món quà giản dị dành cho người nhà, những gần gụi không chút sáo rỗng mà thật thiết tha, cảm động.
"Vì đại tướng được toàn dân yêu mến...".
Kỷ niệm 55 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ
ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP --
CHÂN DUNG MỘT HUYỀN THOẠI
Cù Huy Hà Vũ[1] (http://www.viet-studies.info/kinhte/CuHuyHaVu_VoNguyenGiap.htm#_edn1)
“Hoan hô Đại tướng Võ Nguyên / Giáp ta thắng trận Điện Biên lẫy lừng”[2] (http://www.viet-studies.info/kinhte/CuHuyHaVu_VoNguyenGiap.htm#_edn2). Mới tí tuổi đầu tôi và lũ trẻ hàng phố Điện Biên Phủ (một trùng hợp ngẫu nhiên hay tiền định?) nằm đất Rồng bay[3] (http://www.viet-studies.info/kinhte/CuHuyHaVu_VoNguyenGiap.htm#_edn3)đã thuộc làu và cùng nhau hô vang bất luận ở bên quân nào mỗi khi trò đánh trận giả kết thúc, như thể tên Ông là hồi kèn Chiến thắng, là khúc Khải hoàn ca! Ấy là kí ức đầu tiên của tôi về vị Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam mà đa phần chúng tôi không biết mặt (thời đó phương tiện thông tin đại chúng đâu có rầm rộ như bây giờ!). Có ngờ đâu mấy chục năm sau, khi các con tôi không còn biết đánh trận giả là gì nữa nhưng lại biết nhiều điều hơn về võ công đã trở thành huyền thoại này của dân tộc qua truy cập internet, “Võ Nguyên Giáp - Điện Biên Phủ”, âm thanh kép ấy của Việt Nam Chiến thắng lại vang động trong tôi khi nhận đuợc một cú điện thoại của Đại tá Huyên, Chánh văn phòng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho biết Đại tướng vui lòng tiếp tôi tại nhà riêng để vẽ chân dung ông nhân kỷ niệm 50 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ. Mừng đấy nhưng cũng trách nhiệm đấy! Quả là tôi đã ra Bắc vào Nam để vẽ chân dung các lão thành văn nghệ và con số “người mẫu” đặc biệt ấy đã lên tới trên trăm nhưng các chính khách thì tôi chưa từng. Và tôi đã chuẩn bị tất cả để đợi giờ G.
Chiều 4/9/2003
Đại tá Huyên ra đón và đưa tôi vào căn nhà được bố trí làm Văn phòng trước khi đưa sang phòng khách của Đại tướng. Thì kia, trên bảng công tác ghi rõ chiều nay Đại tướng sẽ mặc quân phục đại lễ cho tôi vẽ. Một dòng đơn giản là vậy nhưng ẩn chứa một sự trân trọng vô cùng đối với công việc của người nghệ sĩ vì bản thân tôi đã chứng kiến ngay cả trong ngày trọng đại là sinh nhật lần thứ 93 của mình vào năm ngoái, Đại tướng tiếp các đoàn nườm nượp đến chúc thọ vẫn chỉ trong bộ quân phục màu xanh thường nhật. Tôi vừa kịp chuẩn bị “đồ nghề” thì Võ Nguyên Giáp xuất hiện, như một tiên ông: mái tóc bạc trắng và trong bộ quân phục đại lễ cũng màu trắng. Chậm rãi đi tới bắt chặt tay tôi, ông hỏi thăm ngay sức khỏe của thân phụ tôi, nhà thơ Huy Cận, rằng “Huy Cận với mình thì thân lắm”. Nhận thấy Dương Hà, vợ tôi, đang lúng túng chào ông, Võ Nguyên Giáp bước tới và chủ động chìa má hôn. Thật “galăng”! Thật lịch thiệp! Rồi ông sẽ sàng ngồi xuống ghế mây để làm cái công việc của “người mẫu”. Cũng lại thật bất ngờ, chính ông khai mào cho tác nghiệp của tôi:
“Mặt tôi chia làm ba phần bằng nhau” – vừa nói Đại tướng vừa lấy tay đo từ cằm đến mũi, từ mũi đến mắt và từ mắt đến trán – Trong hội họa thì những gì cân đối lại không tạo ra đặc điểm và vì vậy vẽ cho ra tôi không phải là điều dễ. Cái thần là ở nơi con mắt. Có nhà báo nước ngoài nhận xét rằng tôi có đôi mắt thông minh. Tuy nhiên nếu Vũ đến vẽ tôi cách đây ba tháng thì lúc đó tôi như một người mù” (Đại tá Huyên đỡ lời: Đại tướng vừa mổ mắt vì đục thủy tinh thể, đáng mừng là thị lực từ 3/10 đã lên được 7/10).
http://www.viet-studies.info/kinhte/VNG_1.JPG
Đại tướng ngồi nghiêm, mắt mở to. Những bức tranh thể hiện Napoléon của David quả là tuyệt tác, đôi mắt luôn mở to của vị Hoàng đế -Tướng quân này đã nói lên tất cả, tầm vóc nhỏ bé của nhân vật vĩ đại này của nước Pháp dường như đã được nhân lên từ đây! Một thoáng tĩnh lặng, câu chuyện Võ Nguyên Giáp tập Thiền khỏanh khắc này đối với tôi thực hơn bao giờ hết.
“Có nhà báo nước ngoài hỏi tôi tại sao tuổi tôi đã cao nhưng da ít nếp nhăn như vậy thì tôi trả lời là do thư thái; lúc ngồi thiền cũng như đi dạo, tôi không suy nghĩ gì hết”.
Descartes có nói: “Tôi tư duy vậy thì tôi tồn tại”. Tuy vậy không thể áp dụng định đề này của triết gia Tây phương cho một hiền triết phương Đông như Võ Đại tướng. Ngược lại là đằng khác, “không suy nghĩ” đã đượcVõ Nguyên Giáp sử dụng như một phương thức để tồn tại. Quả vậy, triết học phương Đông cho rằng những khỏang lặng, những mảng trắng trong tranh không phải là vô vi mà là hiện hữu. Nói cách khác, sự “không suy nghĩ” của Đại tướng là sự cân bằng, bổ trợ và tiếp nối tư duy, như có Âm là để tiếp Dương; là dọn chỗ để tiếp tục nhận năng lượng từ cuộc sống .Đôi mắt tinh anh của ông bỗng trở nên xa xăm. Không nghi ngờ gì nữa, vượt thời gian và không gian, Điện Biên Phủ về lại bên ông như tình yêu vĩ đại nhất.
“Quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời cầm quân của tôi là “kéo pháo ra”, thay đổi từ “đánh nhanh thắng nhanh” sang “đánh chắc tiến chắc” vì phương án đầu không bảo đảm chắc thắng. Khi tiễn tôi ra mặt trận, Bác chỉ dặn tôi: tướng quân tại ngoại, có chắc thắng thì hãy đánh, ngược lại là “hết vốn”. Mặt trận Nha Trang năm 1946 là một bài học xương máu. Được Bác cử đi thị sát mặt trận này, tôi nghiên cứu thấy thế địch mạnh hơn hẳn ta nên tôi đã yêu cầu các đồng chí chỉ huy mặt trận rút quân để bảo toàn lực lượng nhưng các đồng chí đó không nghe. Kết quả là mặt trận vỡ và quân ta bị tổn thất nặng nề. Cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân (1968) sau này cũng vậy, tôi không tán thành đánh tiếp sau đợt 1 vì chắc chắn sẽ tiếp tục bị thiệt hại bởi yếu tố bất ngờ đã không còn. Tựu trung lại là phải giành thắng lợi tối đa với xương máu tối thiểu. Tôi là Võ nhưng lại là Văn vì tôi thương người, thương anh em chiến sĩ lắm”.
Thật bất ngờ, Đại tướng đã giải tỏa thắc mắc của tôi về ý nghĩa của cái tên “Văn”, một trong hàng chục bí danh mà Võ Nguyên Giáp tự đặt trong đời hoạt động cách mạng của mình và đã được Bác cùng các đồng chí trìu mến gọi từ gần 2/3 thế kỷ nay. Phải rồi, “Văn” là chủ nghĩa nhân văn, tức “Nhân” và điều này càng vô cùng có ý nghĩa khi mỗi quyết định của người mang bí danh này liên quan trực tiếp đến sự sống và cái chết của hàng vạn con người. Nhưng để có được tính nhân văn thì phải có bản lĩnh văn hóa. Quả vậy, thương người mới chỉ là bản năng, vấn đề là phải “biết” cách thương người vì cổ nhân có câu “thương không phải lối bằng mười hại nhau”. “Biết” ở đây chính là có học, có văn hóa. Hiểu như vậy thì bí danh “Văn” còn có nghĩa là Văn hóa. Mở rộng ra, “Văn” theo nghĩa đó còn là Mưu lược; quan võ mà dùng vũ lực không thôi mới chỉ là “Dũng”, biết dùng Mưu, tức dùng Văn mới gọi là “Trí”. Tuy nhiên có cả Dũng lẫn Trí, cả Võ lẫn Văn mới chỉ là Tướng tài. Hội tụ cả Nhân, Trí, Dũng như ở Võ Nguyên Giáp mới là Thiên tài quân sự. Suy cho cùng, Võ Nguyên Giáp “làm chiến tranh” không phải vì chiến tranh mà vì quyền được sống của cả một dân tộc. Chủ nghĩa nhân văn, đạo lý của hai cuộc kháng chiến trường kỳ của người Việt ở Thế kỷ 20 chính là chỗ đó!
Lúc này đây vẽ ông mà tôi tưởng như đang đi những nét đồ lại những gì đã xảy ra cách nay tròn nửa thế kỷ. Ý đồ chiến lược ban đầu của ta là thu hút sinh lực địch lên Điện Biên Phủ để tiêu diệt hoặc kìm chân sinh lực địch, tạo thế cho tổng tấn công vào năm 1955. Nếu Pháp không tăng quân để lập tập đoàn cứ điểm ở đây thì ta rất có thể giành thắng lợi với phương án “đánh nhanh thắng nhanh”. Tuy nhiên trong trường hợp đó cuộc kháng chiến chắc chắn sẽ kéo dài hơn ta tưởng không phải vì sinh lực địch vẫn còn nhiều mà do sự can thiệp ngày càng gia tăng của Mỹ với ý đồ hất cẳng Pháp ở Đông Dương. Việc Pháp “tương kế tựu kế”, chủ động biến lòng chảo Điện Biên thành “cối xay” quân Việt Minh lại trở thành cơ hội cho ta kết thúc chiến tranh sớm hơn dự kiến. Một khi đã xác định Điện Biên Phủ là trận quyết chiến chiến lược, thì ta chỉ được phép thắng chứ không được thua. Như vậy, “rút pháo ra” là một bước lùi nhưng là bước lùi cần thiết để đi đến dứt điểm chiến tranh. Với nước cờ này, Võ Nguyên Giáp thực sự xứng đáng là người học trò vĩ đại của Hồ Chí Minh khi vận dụng đại thành công tư tưởng quân sự chủ chốt của Người là “Lùi để tiến” vốn đã được cụ thể hóa bằng Hiếp định sơ bộ 6/3 (1946) trong bối cảnh thế và lực của ta còn mỏng và địch đang ở phong độ cao. Nói cho đúng, “Lùi để tiến” đã được Võ Nguyên Giáp áp dụng ngay từ giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh. Còn nhớ, ngay sau khi Cách mạng tháng 8 thành công, với tư cách là phụ trách quân sự và Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Võ Nguyên Giáp đã đề nghị thành lập các Đại đoàn để khẳng định sự trưởng thành của quân đội cách mạng và đã được Chính phủ chấp nhận. Thế nhưng sau khi kháng chiến bùng nổ, thực tế tác chiến cho thấy qui mô Đại đoàn đã không phát huy hiệu quả. Vậy là ông kiên quyết giải tán các đơn vị mới manh nha này và thế vào đó là các “đại đội độc lập”, “tiểu đoàn tập trung” để rồi 3 năm sau thành lập lại các Đại đoàn khi giai đoạn phản công đã chín muồi.
“Chỉ một mình tôi quyết định thay đổi cách đánh. Để đi tới quyết định đó, cả đêm tôi không ngủ được. Nếu nói tới dân chủ tập trung thì tôi là thiểu số tuyệt đối trong Đảng ủy mặt trận”.
Như vậy đó: Võ Nguyên Giáp thức trắng để quân ta không trắng tay; Võ Nguyên Giáp chấp nhận thiểu số tuyệt đối để dành chiến thắng tuyệt đối. Hơn cả dũng cảm, ông đánh cược cả sự nghiệp của mình vì sự tồn vong của toàn bộ chiến dịch và hơn thế nữa, của cả cuộc kháng chiến. Nhưng ông không bao giờ cô đơn, dõi theo ông là Hồ Chí Minh, linh hồn của cuộc kháng chiến vĩ đại. Và Lịch sử đã nhìn nhận công bằng: “bước ngoặt” của cả cuộc chiến tranh đã được định đoạt vào cái “đêm trắng” định mệnh ấy[4] (http://www.viet-studies.info/kinhte/CuHuyHaVu_VoNguyenGiap.htm#_edn4).
“Hò dô ta nào, kéo pháo ta vượt qua núi / Hò dô ta nào, kéo pháo ta vượt qua đèo/Dốc núi cao cao, nhưng lòng quyết tâm còn cao hơn núi/Vực sâu thăm thẳm, vực nào sâu bằng chí căm thù”[5] (http://www.viet-studies.info/kinhte/CuHuyHaVu_VoNguyenGiap.htm#_edn5). Bất giác câu hò thăm thẳm núi rừng Tây Bắc ấy đưa tôi về với đoàn chiến sĩ xâu thành chuỗi gồng mình thực hiện mệnh lệnh của Võ Tổng trong ràn rạt lửa bom na-pan! Và Tô Vĩnh Diện, phải rồi chính Anh, người Hà Tĩnh quê tôi, đang quăng mình chèn bánh cứu “pháo ta” (“Pháo ta”, thấm thía lắm! vì lần đầu tiên pháo xung trận như một binh chủng hợp thành, Cù Huy Thước, chú tôi, cựu chính trị viên đại đội pháo nhớ lại)... Với một vị Tổng tư lệnh “xuất thần”như vậy, với những chiến binh kỷ luật và quả cảm trong một âm hưởng hào hùng như vậy, chiến thắng đã được định đoạt ngay trước giờ nổ súng! Thời khắc này dường như tất cả đều đã tụ lại đây, cả người lẫn pháo, người còn sống và cả người đã mất, để báo cáo với Đại tướng “Nhiệm vụ đã hoàn thành!”.
http://www.viet-studies.info/kinhte/VNG_2.JPG
Chiều 17/2/2004
Chả biết từ lúc nào phương châm “chắc thắng” của vị Tổng tư lệnh đã thấm vào tôi và thế là để thật “chắc ăn”, một lần nữa tôi lại đến để dựng chân dung ông.Vẫn uy nghi trong quân phục đại lễ màu trắng, Đại tướng đi tới hồi kết của “Điểm hẹn lịch sử”.
“Khi chiến sĩ ta dẫn De Castries trình diện anh Lê Trọng Tấn, Đại đoàn trưởng 312, đơn vị đã chiếm lĩnh tung thâm tập đoàn cứ điểm và bắt sống toàn bộ Bộ tham mưu của địch thì anh Tấn có gọi điện báo cáo tôi. Giây phút đó, tôi không có xúc cảm nào đặc biêt vì việc quân Pháp đầu hàng là tất yếu mà chỉ ra lệnh hãy đối chiếu tù binh với ảnh De Castries mà ta có để không bị nhầm. Nhưng tôi biết khi đó cán bộ, chiến sĩ ta sung sướng vô cùng, anh em bắn súng tưng bừng lên trời để mừng chiến thắng”.
Không nghi ngờ gì nữa, cẩn trọng ngay cả khi đã giành chiến thắng, điều này đã tạo nên sự khác biệt, đưa Võ Nguyên Giáp vượt tầm các tư lệnh quân sự thông thường! Không chủ quan, khinh địch – dù chỉ một giây – mới có thể lý giải cương vị đứng đầu ba quân của ông suốt cuộc kháng chiến trường kỳ! Nhưng sao tôi vẫn cảm thấy bên cạnh sự cẩn trọng đó còn là một trái tim lớn của người Anh Cả, một chủ nghĩa nhân văn vô bờ bến: bao anh em đồng chí hy sinh trong trận này còn đang nằm đó, thịt da chưa tan mùi thuốc súng, dẫu biết rằng mọi thắng lợi không bao giờ miễn phí mà đều có cái giá của nó, thậm chí rất đắt! Giây lát trầm ngâm, ông tiếp:
“Tôi thấy kế hoạch tác chiến cho năm 1975 sau chiến thắng Buôn Mê Thuột như một tờ giấy không có hồn (ông nhắc đi nhắc lại). Trong đầu tôi bỗng lóe sáng là sau thất bại ở Tây Nguyên, địch sẽ không tử thủ tại Đà Nẵng mà sẽ rút chạy. Thế là tôi ra lệnh cho anh Lê Trọng Tấn tiến đánh tiêu diệt địch theo phương án chúng rút chạy. Thay đổi cách đánh, đó là nhân tố quyết định làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ và chiến thắng mùa Xuân 1975”.
“Lóe sáng”, phải rồi. Đó là kết qủa tất yếu của sự tập trung năng lượng cao đến độ bốc cháy và phát sáng. “Lóe sáng”, đó là giây phút “xuất thần”- đối nghịch với những bản kế hoạch “vô hồn”- mà nếu ngay lập tức không thể hiện bằng hành động thì cơ hội ngàn năm có một để kết thúc chiến tranh sẽ một đi không bao giờ trở lại. Không nghi ngờ gì nữa, mỗi một lần trong Võ Nguyên Giáp “lóe sáng” là một lần báo trước một tiếng sét khủng khiếp thiêu kẻ thù thành tro bụi!
Nghỉ giải lao, Đại tướng mời tôi “nào ta cụng chén”. Như mạch nước ngầm, những câu chuyện về khởi phát binh nghiệp của ông vào những năm 40 của thế kỷ trước cứ thế tuôn trào lấp đầy tuần trà.
“Đến bây giờ tôi vẫn không hiểu tại làm sao Bác lại giao cho tôi phụ trách công tác quân sự -Nhấp một ngụm nước, Đại tướng tiếp tục - Bác cũng chỉ hỏi: “Chú Văn có làm quân sự được không?” và Bác giao cho tôi công tác này trong khi bản thân tôi chưa hề đọc một cuốn sách giáo khoa quân sự nào dù đó là dành cho cấp tiểu đội trưởng và lúc ấy đã có đồng chí tốt nghiệp Trường quân sự Hoàng Phố, từng là sĩ quan bên Trung Quốc. Cảm tưởng của tôi lúc ấy ra sao? Thực tình lúc đó tôi cũng không nghĩ gì và luôn tin tưởng tuyệt đối vào các quyết định của Bác. Sau này cũng vậy, trong một cuộc họp của Hội đồng Chính phủ vào tháng 1/1948, Bác nói:“Chính phủ phong chú Văn làm Đại tướng”, chỉ có thế thôi và không báo trước. Sau đó thì Bác mới ra Sắc lệnh với tư cách Chủ tịch Nước và tổ chức lễ phong hàm cho tôi. Về việc này, anh Cù Huy Cận lúc đó là Tổng thư kí Hội đồng Chính phủ biết rất rõ”.
Thật hy hữu trong lịch sử nhân loại việc lựa chọn người cầm quân của cả một dân tộc diễn ra mộc mạc đến như vậy và cũng mộc mạc như thế đội quân chính qui đầu tiên của Cách mạng - Đội tuyên truyền giải phóng quân - từ chỉ huy cho đến lính. Bức ảnh chụp cách đây tròn 60 năm dưới bóng rừng Trần Hưng Đạo vẫn còn kia: vỏn vẹn Ba mươi Tư người, quần nâu áo vải, vũ khí thô sơ, đứng nghiêm trước một Võ Nguyên Giáp đầu đội mũ phớt, quần xắn đến bắp chân.Cũng thật hy hữu một đội quân ra đời trong bối cảnh như vậy mà chỉ một năm sau đã tiến thẳng về Quảng trường Ba Đình-Hà Nội cùng nhân dân cả nước tung hô Nước Việt Nam Độc Lập, chấm dứt vĩnh viễn chế độ thực dân-phong kiến kéo dài đã 2/3 thế kỷ. Vẫn người chỉ huy và đội quân ấy 10 năm sau đã làm nên một Điện Biên Phủ long trời lở đất, đánh bại một đội quân nhà nghề vào bậc nhất, mở đầu cho sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới.
Lí giải thế nào đây về sự lựa chọn người cầm quân của lãnh tụ Hồ Chí Minh?
Trước hết Cụ Hồ thực sự là một nhà tiên tri. Ngay từ năm 1941 Ông Cụ đã làm thơ dự báo năm 1945 Cách mạng sẽ thành công. Lại nữa, ngay từ xuân 1947, Bác đã chỉ thị phải “đem được lá cờ đỏ sao vàng cắm lên đất Điện Biên Phủ” và tháng 6 năm 1949, năm năm trước trận quyết chiến Việt-Pháp tại lòng chảo này, đã dự đoán “hơn một vạn giặc chết và bị thương” trong “trận đánh cuối cùng”. Với “con mắt xanh” của nhà tiên tri, Bác hẳn đã phát hiện ở Võ Nguyên Giáp một thiên tài quân sự mà sự thông minh cùng sự cẩn trọng chắc chắn là những thuộc tính quan trọng hàng đầu. Suy cho cùng, hiếm có nhà cách mạng buổi đầu nào lại là nhà quân sự chuyên nghiệp. Mấu chốt là ở khả năng “tự đào tạo”. Mà muốn thế thì phải có tri thức đủ để “mình thành thầy của chính mình”. Vì vậy, dù Võ Nguyên Giáp không qua một khóa đào tạo quân sự nào nhưng chắc chắn “phông” kiến thức của ông đã là một nhân tố quan trọng thuyết phục lãnh tụ Hồ Chí Minh giao cho ông trọng trách “can qua” ấy. Nói như Trần Văn Giàu, người đồng niên với ông (1911) và là lãnh tụ Nam bộ kháng chiến những ngày đầu, “Võ Nguyên Giáp cầm quân giỏi ngay từ buổi đầu là vì với tư cách giáo viên sử học, ông hiểu biết rất rộng và sâu lịch sử quân sự của cả Ta, Tàu, Tây (cả ba đều vần T cả, Trần Văn Giàu khoái trá). Vậy thì, theo cái lôgíc “học người” ấy, hẳn có những thiên tài quân sự ảnh hưởng đến ông?
“Thần tượng quân sự của tôi là Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ. Không có nhà cầm quân nước ngoài nào là thần tượng của tôi nhưng danh tướng nước ngoài thì phải kể đến Napoléon”.
Đã đành kiến thức quân sự tích lũy được trong nhà trường hay tự học là vô cùng quan trọng, nhưng Cầm quân suy cho cùng là một Nghệ thuật như các ngành nghệ thuật khác và vì vậy đòi hỏi phải có năng khiếu bẩm sinh. Nói cách khác, tài thao lược của Võ Nguyên Giáp là “Thiên phú”. Nhưng thiên tài mà không có “quí nhân phù trợ” thì không dễ gì phát huy. Đến đây một lần nữa, ta lại phải ngả mũ kính phục Hồ Chí Minh vì đã chọn Võ Nguyên Giáp để gửi “thép” của Cách mạng. Quả vậy, theo bà Đặng Bích Hà, trưởng nữ của nhà văn hóa lớn Đặng Thai Mai và phu nhân của Đại tướng, “nếu không được Bác giao lãnh đạo quân sự, ông Văn nhà tôi cũng chỉ có thể làm đến Bộ trưởng Giáo Dục do xuất thân giáo viên và trong Đảng thì làm đến Xứ ủy viên là cùng”.
http://www.viet-studies.info/kinhte/VNG_3.JPG
Chiều 21/3/2004
Hai hôm trước, nói chuyện với tôi qua điện thoại, phu nhân Đại tướng có nhắc tôi mang các bức họa chân dung Đại tướng đến để Đại tướng xem lại vì “Bác Giáp mê tranh của cháu lắm”. Rồi bà nói thêm đã có nhiều họa sĩ đến vẽ trực tiếp Đại tướng nhưng không thành công. Thậm chí một họa sĩ có tiếng sau đó đã vẽ chân dung bà để thế vào như một lời xin lỗi. Và chiều nay tôi đến với các bức chân dung vừa tròn một tá mà tôi đã “sơ tuyển” trong hàng chục bức đã vẽ trong hai lần trước đó. Võ Nguyên Giáp xuất hiện, lần này trong bộ đồ dân sự và ngay lập tức theo bản năng, tôi có ý tìm sự khác biệt giữa Đại tướng trong quân phục đại lễ và Đại tướng trong trang phục đời thường. Nhưng lạ quá, tôi chỉ tìm thấy được sự đồng nhất: vẫn con người điềm tĩnh đó với đôi mắt tinh anh lộ rõ sự quyết đoán, vẫn vẻ đôn hậu mà hóm hỉnh của một hiền triết phương Đông. Giờ thì tôi đã có dịp kiểm chứng câu ngạn ngữ của Pháp “L’habit ne fait pas le moine” (trang phục không làm nên thày tu). Đại tướng bảo tôi bày cả 12 bức ra để ông ngắm. Thế là mọi mặt bằng trong phòng khách: mặt bàn, mặt ghế, mặt sàn...đều được tận dụng. Vẫn chậm rãi, Võ Nguyên Giáp ngắm từng bức rất lâu, ngồi rồi lại đứng. Và rồi ông gọi cả nhà, kể cả anh em bảo vệ, cần vụ ra để cùng lựa những bức tốt nhất. Thế là tôi chứng kiến phu nhân Đại tướng, Võ Hồng Anh, Võ Hồng Nam, những người con của Đại tướng, cùng mọi người tranh luận sôi nổi và có sự tâm đắc ít nhiều khác biệt với ông. Tuy Võ Nguyên Giáp “dân chủ” là vậy, tôi vẫn cảm nhận chủ kiến của ông. Bức nào ông thích thì ông lại lấy tay ra hiệu cho tôi tránh ra mỗi khi tôi định cất bớt đi theo ý của đa số những người có mặt. Nhưng rồi mọi người cũng lựa được hai bức đưa vào chung kết. Ông đứng đó, vẫn trong tư thế của vị Tổng tư lệnh, có khác chăng là trong bộ đồ đời thường nho nhã và mặt trận của ông tại thời khắc này là văn hóa. Đại tướng suy nghĩ lung lắm bởi ông cho là cả hai đều thể hiện ông rất giống cả về hình thức lẫn tinh thần. Nhưng rồi ông đã chọn bức thể hiện ông nhân hậu hơn vì bức kia giống thì thật là giống nhưng “hơi dữ quá”. Tuy vậy, trước khi đi đến quyết dịnh cuối cùng, Đại tướng bảo tôi bày lại tất cả những bức trước đó đã đựợc cất bớt theo phương pháp loại trừ dần. Võ Nguyên Giáp đứng đó, trước các bức họa như thể đứng trước sa bàn chiến dịch. Bấy nhiêu bức là bấy nhiêu giải pháp khác nhau. Đã quyết định rồi nhưng để chắc không sai lầm, ông lại xem lại tất cả. Đại tướng ơi! đến bây giờ tôi mới cảm nhận được thế nào là giây phút đi đến quyết định “kéo pháo ra” ở mặt trận Điện Biên. Quả là khối óc vĩ đại vì đã hoạt động liên tục không chỉ trước, trong mà cả sau khi đã quyết định. Như thể “trao giải”, ông bèn kí vào các bức họa. Nhanh như chớp, đầy đủ cả họ lẫn tên. Thảo nào nhà sử học Pháp Jules Roy đã dùng từ “lòe sáng”(fulgurante) để mô tả chữ kí của ông. Sau khi hoàn tất công việc của một vị “chủ khảo tình thế”, Võ Nguyên Giáp hỏi tôi: “Mình có khó tính lắm không?” “Thưa Đại tướng – tôi đáp – dễ dãi không làm nên nghiệp lớn!”. Phu nhân Đại tướng âu yếm nhìn ông, nhận xét tranh: “Ba tuy đã già nhưng vẫn còn sắc xưa” thì Võ Nguyên Giáp hóm hỉnh “Sắc xưa thì có nhưng mà già!” Thật tự nhiên, hai Bác-cháu xoay sang đề tài văn hóa-văn nghệ.
“Tôi xem tivi thấy toàn là phim ngoại, phim ảnh của ta đi đâu rồi không biết! Nhục quá! Ta tiếp thu cái hay của các nước chứ không thể biến thành tivi của nước ngoài”.
Chao ôi, cho đến giờ phút này Tướng quân vẫn không chịu được cảnh làm nô lệ ngoại bang dưới bất kỳ góc độ nào, trên bất cứ phương diện nào. Nhưng hầu như ngay lập tức cái Trí của ông lại phát huy và ông tự lý giải: “Phải chăng ta thiếu kịch bản tốt, đạo diễn giỏi”. “Vậy theo Đại tướng, thế nào là bản sắc văn hóa dân tộc?”
“Độc lập- Tự do” – Đại tướng mạnh mẽ - Văn hóa Việt Nam tựu trung gồm hai chữ: dũng cảm và thông minh. Quyết đánh quyết thắng và biết đánh biết thắng. “Quyết” mà không “biết” thì sẽ thất bại”.
Thú thực là tôi đợi một câu trả lời ít nhiều liên quan đến sáng tạo văn học-nghệ thuật nhưng câu trả lời của Đại tướng cũng không hề làm tôi ngỡ ngàng. Phải rồi, văn hóa nhìn một cách tổng thể là những thành tựu để đời của một dân tộc. Vậy mà từ hơn 1000 năm qua, những dấu ấn của người Việt lại là những võ công. Quả vậy, lịch sử nước Nam ta là một chuỗi các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ bờ cõi nhằm khẳng định chân lí “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” và “ Không có gì quí hơn Độc lập, Tự do”. Nói cách khác, văn hóa Việt Nam cơ bản là văn hóa chiến chinh, “Độc lập-Tự do” chính là cốt lõi, Dũng cảm-Thông minh, hay cái Dũng, cái Trí, là để giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa đó.
Phu nhân Đại tướng mời tôi Sô-cô-la “made in Việt Nam”. Có vậy chứ, dân mình đã thành công trong việc tiếp thu tinh túy của văn hóa ẩm thực nước ngoài và văn học cũng không phải là ngoại lệ. Từ mười mấy năm đổ lại đây, ùng oàng đã được vặn nhỏ tối đa trong các tác phẩm viết về chiến tranh như để người đọc nghe rõ hơn tiếng đập của trái tim người lính và những xung động từ đó phát sinh, đành rằng không thể diễn giải trạng huống đặc biệt này của nhân loại đơn thuần như một điện tâm đồ!
“Viết về người lính dù dưới góc độ nào cũng đều tốt; mô tả chiến công hay đời sống tinh thần, hành động hay nội tâm của họ đều cần thiết như nhau vì đó là hai mặt của một vấn đề, ví như tiền tuyến luôn dính với hậu phương. Không thể có chiến thắng nếu tách rời hai mặt này của cuộc sống”.
Rốt cuộc Điện Biên Phủ vẫn quay trở lại trong không khí kỷ niệm 50 năm ngày Chiến thắng.
“Cách tốt nhất để kỉ niệm chiến thắng lịch sử này là không ăn hối lộ- Đại tướng rành rọt –Lẽ sống của tôi là vì Nước vì Dân,“Dĩ Công vi thượng- rồi quay sang các con tôi, Xuân Đức và Xuân Hiếu- cách tốt nhất đối với các cháu là học thật giỏi, nắm thật vững lịch sử của ông-cha để sau này làm nên những Điện Biên Phủ trong các lĩnh vực khoa học và văn hóa”.
Có lời dạy nào hay hơn thế khi tham nhũng đã trở thành quốc nạn, là “nội xâm”, đe dọa phá tan cơ đồ mà Điện Biên Phủ đã mở đường gây dựng và khi hội nhập quốc tế không chỉ đơn thuần là giải pháp kinh tế mà còn là nơi tỷ thí giữa các trí tuệ của năm châu!
http://www.viet-studies.info/kinhte/VNG_4.JPG
LỜI KẾT
Việc Võ Nguyên Giáp thay đổi cách đánh vào phút chót tại lòng chảo Mường Thanh mang một ý nghĩa lớn lao hơn người ta tưởng rất nhiều. “Quyết định khó khăn nhất trong đời cầm quân” của ông không chỉ chấm dứt giấc mộng thực dân của Pháp tại Việt Nam nói riêng và Đông Dương nói chung mà còn bảo đảm thắng lợi cho cuộc kháng chiến chống Mỹ sau này, thu giang san về một mối.
“Nhân kỷ niệm 10 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, anh Lê Trọng Tấn, nguyên Đại đoàn trưởng 312 có nói: “Nếu không có quyết định chuyển cách đánh thì phần lớn chúng tôi sẽ không có mặt trong kháng chiến chống Mỹ”. Còn đối với anh Vương Thừa Vũ, nguyên Đại đoàn trưởng 308, nếu lúc đó cứ kiên trì phương châm “Đánh nhanh, thắng nhanh” thì cuộc kháng chiến chống Pháp có thể kéo thêm 10 năm nữa”.
Thực tình tôi cho rằng các vị Tướng nói trên vẫn quá ư lạc quan vì nếu ta thua tại quyết chiến điểm này thì sẽ không bao giờ còn cơ hội thống nhất hoàn toàn đất nước. Quả thực, theo quan điểm của tôi, nếu không có chiến thắng Điện Biên Phủ thì sẽ không có miền Bắc hoàn toàn giải phóng để làm hậu phương lớn – nhân tố quyết định để đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ, tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Như đã nói, lịch sử Việt Nam cơ bản là lịch sử chiến tranh và vì vậy một trong những biểu tượng chính của dân tộc Việt Nam phải là biểu tượng quân sự. Nghe nói trong mười danh tướng xuất sắc nhất từ cổ chí kim được một số nhà nghiên cứu lịch sử có uy tín thế giới bầu chọn thì Việt Nam được đại diện những hai lần: Trần Hưng Đạo và Võ Nguyên Giáp. Để được đứng vào danh sách đó, danh tướng được đề cử phải thỏa mãn 3 điều kiện: xây dựng quân đội, đánh trận giỏi và có lí luận quân sự. César của La mã không được chọn chỉ vì không để lại tác phẩm quân sự nào. Cả ba tiêu chí trên, Võ Nguyên Giáp không những thỏa mãn mà còn đáp ứng một cách nổi trội. Không như các danh tướng khác, Võ Nguyên Giáp không có đội quân nào để thừa kế mà phải bắt đầu từ con số Không theo đúng nghĩa đen của từ này: lo từ tìm cấp phó cho tiểu đội trưởng, từ mở lớp cứu thương lo đi, tất bật chẳng khác nào một bà nội trợ. Đánh trận giỏi thì chả phải đợi đến sau này mà ngay hai trận đầu ra quân - Phai Khắt và Nà Ngần- đã làm phía Pháp phải nhìn nhận ông là “cao thủ” (exécutés de main de maitre). Và chỉ riêng nguyên lý “thay đổi cách đánh hay là chết” trên cơ sở cập nhật tương quan lực lượng giữa các bên tham chiến cũng đã đủ đưa Võ Nguyên Giáp vào hàng “đại gia” trong lí luận quân sự.
Cách đây khỏang chục năm, khi tôi đang làm Tiến sĩ Luật ở bên Pháp, thấy mọi người hào hứng đi xem bộ phim Mỹ “Công viên kỉ Jura” trong đó những nhân vật chính là các chú khủng long thời tiền sử thì tôi nói vui: “Việc gì phải vào các rạp chiếu phim để xem khủng long được tái tạo bằng kĩ xảo. Hãy sang Việt Nam vì ở đó vẫn tồn tại một khủng long - con Rồng vĩ đại: Đại tướng Võ Nguyên Giáp!” Nghe tôi thuật lại chuyện này, Võ Nguyên Giáp, Nguyên Soái của tôi, mỉm cười hiền hậu...như Quảng Bình quê ông mêng mông bình lặng! Cũng có thể ông đang thả hồn về lại chiến trường xưa, nơi bao người mong ngóng vì “Điện Biên Phủ là đất của ông ấy mà!” như nôm na người em gái Thái giữa dòng vô tận hành hương./.
CHHV
Chú thích:
[1] (http://www.viet-studies.info/kinhte/CuHuyHaVu_VoNguyenGiap.htm#_ednref1) Tiến sĩ Luật, Thạc sĩ Văn, hoạ sĩ hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam, công tác tại Bộ Ngoại giao.
[2] (http://www.viet-studies.info/kinhte/CuHuyHaVu_VoNguyenGiap.htm#_ednref2) Tác giả là nhà thơ Bút Tre, nổi tiếng với cách ngắt danh từ riêng thành hai dòng và câu thơ trên luôn được dẫn ra để chứng minh thi pháp độc đáo đó của ông
[3] (http://www.viet-studies.info/kinhte/CuHuyHaVu_VoNguyenGiap.htm#_ednref3) Thăng Long, tên nguyên thủy của Hà Nội.
[4] (http://www.viet-studies.info/kinhte/CuHuyHaVu_VoNguyenGiap.htm#_ednref4) Đêm về sáng ngày 25/1/1954, ngày N theo phương án “Đánh nhanh, thắng nhanh”.
[5] (http://www.viet-studies.info/kinhte/CuHuyHaVu_VoNguyenGiap.htm#_ednref5) “Hò kéo pháo” của nhạc sĩ Hoàng Vân được sáng tác ngay tại Điện Biên Phủ, trước khi chiến dịch mở màn và được phổ biến trong toàn mặt trận.
Lên trang viet-studies ngày 6-5-09
"PHẢI ĐỐI XỬ VỚI ĐẠI TƯỚNG TỔNG TƯ LỆNH ĐÚNG VỚI VAI TRÒ
MỘT KHAI QUỐC CÔNG THẦN"
Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên – Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh
Mọi người đều biết trong suốt cuộc đời làm Tổng tư lệnh, ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP đã chỉ huy các lực lượng vũ trang nước ta lập nên nhiều chiến công lừng lẫy: Chiến thắng Điện Biên Phủ – Tây Bắc, chiến thắng Điện Biên Phủ trên không – Hà Nội, chiến thắng Tết Mậu Thân xoay chuyển tình thế, chiến thắng Buôn-Ma-Thuột bước ngoặt, chiến thắng trong chiến dịch Hồ Chí Minh thần tốc… góp công to lớn hoàn thành độc lập, thống nhất Tổ quốc.
Với việc đánh thắng 2 đế quốc to giàu mạnh hơn Việt Nam rất nhiều, với việc lần lượt đánh thắng các tướng lĩnh hàng đầu của Pháp, mỹ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp được nhiều nhà nghiên cứu lịch sử quân sự thế giới ca ngợi là "Một trong những thiên tài quân sự lớn nhất của mọi thời đại" và là "Một danh tướng thế giới". Đại tướng Võ Nguyên Giáp là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam ta.
Nay Đại tướng đã 100 tuổi (theo âm lịch). Lâu nay Đại tướng được chăm sóc trong Bệnh viện 108, song sức đã quá yếu, dù có hồi phục sức khỏe từ Tết AL đến nay, song vẫn khó tránh khỏi quy luật tự nhiên, tuy diễn ra sớm hay muộn thì ta chưa thể đoán trước. Thay mặt cho tâm nguyện của đông đảo chiến sĩ và tướng lĩnh trong lực lượng vũ trang cũng như nhân dân cả nước, chúng tôi xin đề xuất yêu cầu với các cấp lãnh đạo có thẩm quyền: Đến khi nào Đại tướng trút hơi thở cuối cùng, cần tiến hành nghi lễ Quốc tang đối với Đại tướng.
Được biết có quy định Quốc tang chỉ tiến hành đối với 4 chức danh: Tổng bí thư BCH TW Đảng, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ. Chúng tôi cho rằng trường hợp Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một trường hợp đặc biệt, cần có quyết định đặc cách làm lễ Quốc tang. Nếu cứ theo quy định mà một vị nào trong 4 chức danh đó, công lao chẳng có bao nhiêu, lại có những vấn đề không minh bạch, hoặc có khuyết điểm, bị công luận chê trách… vẫn được thực hiện quốc tang, còn một vị khai quốc công thần công lao to lớn, được toàn dân kính trọng, thế giới ngưỡng mộ như Đại tướng Võ Nguyên Giáp lại không được làm lễ quốc tang thì thật là đại bất công và trái đạo lý.
Ngôi nhà 30 Hoàng Diệu cũng nên dùng làm nhà lưu niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp, không dùng vào bất cứ việc gì khác. Sinh thời Đại tướng biết bao nhiêu hiện vật do các tầng lớp nhân dân đem đến chúc Tết, mừng sinh nhật Đại tướng, nhiều nguyên thủ quốc gia, nhân sĩ nổi tiếng thế giới đã đến ngôi nhà ấy thăm Đại tướng và tặng hiện vật lưu niệm. Trong ngôi nhà ấy, Đại tướng đã ngồi chỉ huy trận đánh B52 năm 1972. Ngôi nhà 30 Hoàng Diệu đã thành một di tích lịch sử quan trọng. Một nhà thờ họ của một dòng họ có nhiều người đỗ đạt cao thủa trước cũng được công nhận là di tích lịch sử, thì ngôi nhà 30 Hoàng Diệu càng xứng đáng được công nhận là di tích lịch sử.
Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên, lão thành cách mạng
Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, lão thành cách mạng.
Nguồn: BAUXITE VIETNAM (http://boxitvn.wordpress.com/2010/05/09/phải-dối-xá»-vá»›i-dại-tướng-tổng-tư-lệnh-dng-vá»›i-vai-tr-má»™t-khai-quốc-cng-th/)
Mời Đại tướng Võ Nguyên Giáp dự khai mạc đại lễ
Nhân đại lễ 1000 năm Thăng Long, đoàn đại biểu lãnh đạo thành phố Hà Nội do Bí thư Thành ủy Phạm Quang Nghị dẫn đầu đã đến thăm đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Đoàn đã chuyển thư của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam và thành phố Hà Nội mời đại tướng dự lễ khai mạc đại lễ 1000
năm Thăng Long - Hà Nội.
http://www.vnexpress.net/Files/Subject/3B/A2/10/10/dt.jpg
Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ảnh: TTXVN.
Thay mặt đoàn, Bí thư Thành ủy Phạm Quang Nghị kính chúc đại tướng sức khỏe, trường thọ và vui mừng báo cáo đến thời điểm này, công tác chuẩn bị cho đại lễ đã hoàn tất.
Ông Nghị trân trọng chuyển đến đại tướng, người đã gắn bó sâu sắc với thủ đô qua các chặng đường cách mạng, tặng phẩm của Ban tổ chức đại lễ gồm biểu tượng Khuê Văn Các và Huy hiệu 1000 năm Thăng Long - Hà Nội.
(Theo TTXVN/Vietnam+)
Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận huy hiệu 70 năm tuổi Đảng
Chiều 27/10, Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam tổ chức trọng thể lễ trao tặng huy hiệu 70 năm tuổi Đảng cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Thay mặt Đảng, Nhà nước, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trao tặng huy hiệu và bằng chứng nhận 70 năm tuổi Đảng cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Quốc phòng, người anh cả của Quân đội Nhân dân Việt Nam.
http://images.vietnamnet.vn/dataimages/201010/original/images2058797_0.jpg (http://images.vietnamnet.vn/dataimages/201010/original/images2058797_0.jpg)
Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trao tặng huy hiệu 70 năm tuổi Đảng cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ảnh: VOV
Chung vui với Đại tướng có những người thân trong gia đình, Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Quốc phòng; Đại tướng Lê Văn Dũng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam cùng những đồng chí gắn bó với Đại tướng.
Phát biểu tại lễ trao tặng, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết chúc mừng Đại tướng Võ Nguyên Giáp 100 tuổi đời, 70 tuổi Đảng. Chủ tịch nước nhấn mạnh, Đại tướng là học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tên tuổi, sự nghiệp của Đại tướng gắn liền với quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Nhân dân Việt Nam khâm phục tài năng và biết ơn những đóng góp của Đại tướng.
Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết khẳng định thế hệ hôm nay và mai sau sẽ ghi nhớ và nguyện học tập đạo đức, tác phong, tinh thần cách mạng tiến công, lòng trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân của Đại tướng Võ Nguyễn Giáp; nguyện tiếp bước thế hệ đi trước xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh.
(Theo VOV)
vBulletin® v3.6.11, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.