View Full Version : Phần 1-Nhân Quả Phật giáo-Thích Chơn Quang
tranngocai
06-01-2005, 07:17 PM
Nhân sắp tới ngày Phật thành đạo (8/12 âm lịch), xin gửi tới các bạn những bài viết trong sách Luận về nhân quả của Tỳ kheo Thích Chơn Quang. Sách bao gồm những mẩu truyện rất ngắn trích trong các kinh điển Phật giáo và lời luận giải của tỳ kheo Thích Chơn Quang.
Chúc một năm mới an lành và hạnh phúc!
Cầu cho từ bi và an lạc đến với mọi người trên thế giới.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
tranngocai
06-01-2005, 07:18 PM
LỜI GIỚI THIỆU
Sau khi đọc tập "Luận về Nhân Quả" của Chơn Quang, chúng tôi có gợi ý và nhuận lại chính xác để đúng với luật Nhân Quả mà chúng tôi đã nhận ra trong lúc vượt qua các ấm.
Kinh nghiệm thấy biết Nhân Quả như thế nào chúng tôi đều góp ý như thế ấy để làm sáng tỏ đường đi lối về của nó, để giúp mọi người không còn mơ hồ, mê tín trong cuộc sống để giải thoát khỏi nanh vuốt của quỷ thần mà từ lâu đã tạo sợ hãi, khổ đau cho loài người.
Ở đây, sự góp ý của chúng tôi không tác ý chống báng một pháp môn nào, một tôn giáo nào hoặc một tông phái nào, mà chỉ biết nêu ra một sự thật để xác định mục đích giải thoát chân thật của đạo Phật để không bị ảnh hưởng của bất cứ một tôn giáo hoặc một sự vô ý thức nào làm lệch lạc Phật Pháp.
Nhân Quả là một định luật rất công bằng cho xã hội, một lợi ích lớn lao cho thế gian, một Đạo Đức sâu sắc, mầu nhiệm... Mọi người chúng ta cần thấu hiểu rõ ràng, lấy đó làm kim chỉ nam để rèn luyện cho mình tạo một đời sống đầy đủ chơn hạnh phúc.
Đọc "Luận về Nhân Quả" quý vị sẽ thấy rõ ràng đời sống của mình có hạnh phúc hay đau khổ đều do ở chính mình tạo nên.
Đọc "Luận về Nhân Quả" chúng ta sẽ thấy nhân đâu quả đó, do vậy chúng ta sẽ hướng tâm mình đến chân thiện mỹ.
Đọc "Luận về Nhân Quả" chúng ta sẽ thấy lợi ích thiết thực bằng cách vượt qua tất cả khổ đau, phiền não thường xảy ra trong cuộc đời.
Đọc "Luận về Nhân Quả" quý vị sẽ không làm những điều ác, luôn luôn tăng trưởng những điều lành, nhờ thế cuộc đời của quý vị sẽ đạt được an vui và hạnh phúc.
Đọc "Luận về Nhân Quả" quý vị sẽ không còn sợ hãi, lo ngại về thế giới quỷ thần, vì thế giới này là do tưởng ấm của quý vị lưu xuất, thậm chí đến các cõi trời, Atula, địa ngục,... cũng đều do tưởng ấm mà có.
Đọc "Luận về Nhân Quả" quý vị sẽ không còn sợ hãi trước bùa chú, thần linh, pháp thuật và sẽ tự tin hơn ở chính mình để không còn bị mê mờ tâm trí, bị gạt gẫm mất của mất tiền một cách vô ích.
Rõ lý Nhân Quả, quý vị cẩn thận giữ gìn mọi hành động về thân, khẩu, ý bởi vì một hành vi dù vô tình cũng không thoát khỏi quả báo, vì bay lên trời hay chui xuống đất hay dẫu cho thành Phật thì cũng không thoát khỏi bị đền trả.
Quyển sách có giá trị thực tế cho đời lẫn đạo, giúp quý vị nghiên cứu về lý Nhân Quả Nghiệp báo một cách cơ bản hơn đồng thời phân tích một cách sâu sắc hơn về các giáo điều ngoại đạo, kể cả Bà La Môn giáo, Tiên đạo, Khổng đạo và các triết thuyết khác đã tấn công và xâm nhập Phật giáo Đại thừa về mọi phía.
Giá trị của tập sách là diễn đạt tiến trình của Nhân Quả thế gian, xuất thế gian và Bồ tát đạo. Nội dung còn chủ trương hợp nhất Nguyên thủy và Đại thừa đồng thời chứng minh Nguyên thủy và Đại thừa là một.
Quyển sách có một giá trị tinh thần rất lớn. Chơn Quang có một ngòi bút nhận định Nhân Quả sâu sắc và tế nhị, nêu cao ngọn đuốc chánh kiến Phật pháp làm sáng tỏ chân lý Phật dạy.
Đọc tập sách này quý vị có dịp thưởng thức những câu chuyện đầy thú vị về Nhân Quả mà Chơn Quang đã khéo léo trình bày, luận giải rất sâu sắc và tỷ mỷ.
Quyển sách này dành riêng cho sự phán đoán của quý vị. Riêng phần chúng tôi khi đọc "Luận về Nhân Quả" thấy có một lợi ích thiết thực cho mọi người trong mọi giới của xã hội xin giới thiệu đến quý vị độc giả.
Đây không phải là quyển sách đọc một lần, càng đọc quý vị càng thấm thía sâu sắc hơn và nhìn lại cuộc đời mình, càng đọc quý vị càng thấy cần tạo cho mình một lối sống an vui và hạnh phúc chân thật, càng đọc quý vị càng thấy đường giải thoát của Đạo Phật không phải là khó đi.
Chơn Như, ngày 20 tháng 10 năm 1988
Tỳ kheo Thích Thông Lạc
Kính ghi
tranngocai
06-01-2005, 07:21 PM
TỰA
Luật Nhân Quả Nghiệp báo đã được nói đến tại Ấn Độ trước khi Đức Phật ra đời, và nó trở thành một giáo lý quan trọng của đạo Phật. Điều này nói lên hai ý nghĩa:
Một, những Đức Phật quá khứ, những vị Bích Chi Phật đã từng tuyên giảng về Nghiệp báo và giáo lý này lan truyền đến Phật Thích Ca.
Hai, đối với những giáo lý có sẵn, nếu là chân lý, luôn luôn được đạo Phật chấp nhận và phát huy, nếu phi chân lý, sẽ bị đạo Phật loại trừ. Đây là tinh thần khách quan bao dung của đạo Phật.
Vì nhận thấy tầm quan trọng trong việc nhận thức đường đi của Nhân Quả cho Đạo Đức của xã hội, nhất là Phật tử, nên chúng tôi chẳng ngại sự thiển cận của mình, đã cố gắng phân tích mọi khía cạnh của luật Nhân Quả để góp ý kiến trong kho tàng văn hóa của Đạo Phật. Nhưng dĩ nhiên sự phân tích này không thể nào hoàn chỉnh, mong mọi người thứ lỗi cho chúng tôi.
Chúng tôi bắt đầu viết luận bản này trước khi đến nương với thầy trụ trì tu viện Chơn Như Thích Thông Lạc, và hoàn thành luận bản này tại đây với sự dạy bảo góp ý rất nhiều của Người.
Chúng tôi xin cảm ơn những tác giả mà chúng tôi có trích những đoạn vào luận bản mặc dù chúng tôi không có điều kiện để tìm gặp trực tiếp, nhất là Hòa Thượng Thích Minh Châu với tạng kinh Nikaya vô giá.
Công đức này thuộc về những vị thầy đã dạy bảo nuôi nấng chúng tôi, thuộc về những huynh đệ yêu mến đã chung sống đùm bọc chúng tôi, thuộc về các đạo hữu đã hỗ trợ chúng tôi, và thuộc về tất cả chúng sinh trong pháp giới.
Chơn Như, Đông 1988.
Chơn Quang
tranngocai
06-01-2005, 07:24 PM
LUẬN VỀ NHÂN QUẢ
I– MỞ ĐẦU:
Nói đến đạo Phật là nói đến luật Nhân Quả Nghiệp báo, một nguyên lý mà con người phải chịu lấy trách nhiệm hành động của mình. Không phải thần linh nào khác đã qui định thưởng phạt kiếp sống của con người, chính con người thật sự là Thượng đế tối cao của họ, họ muốn làm chủ đời sống hay muốn mất quyền làm chủ, họ muốn khổ hay muốn vui, hoàn toàn bởi họ, không do một ai khác. Luật Nhân Quả là nền Đạo Đức nhân bản cao cả hơn mọi nền Đạo Đức nào khác, trong đó giá trị con người được nâng cao không còn giới hạn. Câu chuyện về ông già chồn được truyền mãi trong nhà thiền như sau.
“ Thoáng nhìn Tổ Bá Trượng đã biết đây không phải là người bình thường trong khi ông già chầm chậm tiến về phía tổ. Những đệ tử khác đều ra ngoài khi buổi giảng đã xong.
– Ông là ai? Tổ hỏi.
– Bạch Hòa Thượng, con không phải là người. Nguyên đời Đức Phật Ca Diếp con là tăng. Có một đệ tử hỏi con "Bậc đại tu hành có còn bị Nhân Quả chi phối hay không?”
– Con đáp: "không bị Nhân Quả chi phối!" (Bất lạc Nhân Quả)
– Thế là từ đó con đọa làm thân chồn đến nay đã năm trăm đời. Không biết chỗ sai ở đâu, con xin Hòa Thượng đáp lại cho đúng, để con thoát được thân chồn.
Tổ Bá Trượng bảo:
– Bây giờ ông hỏi lại ta.
– Bạch Hòa Thượng, bậc đại tu hành có còn bị Nhân Quả chi phối hay không?
Tổ bảo:
– Không còn mơ hồ về Nhân Quả! (Bất muội Nhân Quả)
Ngay câu nói ông già liền đại ngộ, thưa:
– Thế là từ nay con thoát được thân chồn, dám xin Hòa Thượng lấy theo lễ Tăng chết tống táng cho con.
Nói rồi ông già biến mất. Tổ Bá Trượng sai bạch kiền chùy bảo chúng sau giờ ngọ trai sẽ đưa đám một vị tăng. Tăng chúng đều ngạc nhiên vì thấy không ai chết, nhà bệnh không ai nằm.
Sau giờ thọ trai, Tổ dẫn chúng tăng vòng qua sau núi đến một chiếc hang, lấy gậy bới ra xác một con chồn đem về làm lễ trà tỳ.”
Lúc được hỏi câu đó, ông già đang làm một vị tăng thời Đức Phật Ca Diếp, có được định lực khá vững, nhưng trong cái định đó ông chưa thấy được đường đi của Nhân Quả nên trả lời theo chỗ thấy của mình, không ngờ phạm một sai lầm quá nặng. Toàn bộ giáo lý của Phật đều dựng trên nền tảng Nhân Quả, dù là thế gian, hay bồ tát đạo. Phủ nhận Nhân Quả tức là phủ nhận toàn bộ Phật pháp, và quả báo của tội lỗi đó là bị đọa làm thân chồn năm trăm đời. Đến lúc tội đã mỏng, phước làm Tăng lúc trước khởi dậy, ông găp Tổ Bá Trượng hạ một chuyển ngữ phá tan cái định không ngơ của ông từ năm trăm đời trước, khiến ông nhận ra Bản thể trí tuệ sáng suốt hằng hiện hữu. Trí tuệ sẵn có này tuy rất thanh tịnh, nhưng chẳng phải là hư vô, trái lại rất tinh tế nhỏ nhiệm, bao hàm trùm khắp, biết rõ từng tác động và hậu quả của nghiệp không chút lầm lẫn. Nếu cứu cánh cùng tột của sự tu hành chỉ đưa đến không ngơ như cây đá thì đạo Phật quả là tai hại! Nhưng sự thật không phải thế, cứu cánh cùng tột của đạo Phật là nhận ra Bản thể sẵn có, đầy đủ trí tuệ, đầy đủ từ bi, đầy dủ hoạt dụng, nhưng vắng bóng phiền não khổ đau, không một sự trói buộc nào còn tồn tại. Đó đích thật là sự làm chủ cho chính mình, không bị tham sân si chi phối thúc đẩy tạo nghiệp khổ đau, chỉ sống và làm vì lợi ích cho những chúng sinh khác.
Đối với đạo Phật, chúng sinh có ba mục đích cần nhắm đến:
Một là sống trong luân hồi bớt khổ đau, có phước báo cõi trời cõi người.
Hai là thoát khỏi luân hồi, chấm dứt sanh tử, có được Niết Bàn an vui.
Ba là giáo hóa cho chúng sinh cùng được thành tựu trí tuệ giải thoát, gọi là hành đạo Bồ Tát.
Tuy nhiên muốn thành tựu mục đích thì phải biết Nhân Quả, biết nhân nào sẽ thành tựu được mục đích này. Lý Nhân Quả là nền tảng của Đạo Phật, nếu chưa hiểu biết thâm sâu về lý Nhân Quả tức là chưa hiểu đạo Phật và chưa thực hành đúng đạo Phật.
Con người sinh ra đã không đồng nhau trên mọi phương diện như giàu nghèo, mạnh yếu, trí ngu, dòng tộc, gia đình... Những thăng trầm may rủi trên đường mưu sinh lại càng muôn trùng sai khác. Nguyên nhân của sự bất đồng đó quá sâu kín, vượt khỏi tầm hiểu biết của người thường và họ đã dựng lên Thượng đế, quy tất cả cho Thượng đế như là một đấng sáng tạo để che dấu sự mơ hồ của mình. Họ ngủ yên nơi niềm tin đó, thỏa mãn với sự tin tưởng đó, vẽ vời và truyền bá thêm quan niệm đó cho con cháu họ. Từ nay con người trở thành kẻ nô lệ cho chính một thần linh mà họ dựng lên. Thật vậy, chính con người đã sáng tạo nên Thượng đế, nhưng lại bảo Thượng đế sáng tạo con người (Men created God but said that God had created men). Chỉ có chân lý mới cứu vớt con người khỏi sự sai lầm này, phục hồi lại quyền làm chủ cho con người để tự họ quyết định cuộc đời họ theo ý muốn. Chân lý đó chính là luật Nhân Quả Nghiệp báo giúp người thoát khỏi hai quan niệm sai lầm về nhân sinh và vũ trụ, một cho Thượng đế định liệu, hai cho mọi việc ngẫu nhiên. Những sự kiện gần gũi quanh cuộc sống đều có nguyên nhân xa gần của nó, chỉ vì không thấy được những nguyên nhân mà một số người kết luận vội vàng là ngẫu nhiên. Cũng như quan niệm thiên mệnh, quan niệm vạn vật ngẫu nhiên cũng là biểu lộ sự dễ dãi nơi tri thức của con người mà những người chín chắn kinh nghiệm không bao giờ vấp phải.
Tuy nhiên, vì luật Nhân Quả chi phối qua nhiều kiếp sống quá khứ đến đời sống hiện tại và kéo dài mãi đến đời sống vị lai nên cặp mắt của con người còn nhiều loạn động trong tâm thức không thể nào thấy được. Có những hiện tượng tái sinh được nhiều người biết đến, được báo chí đăng tải trên thế giới khi một người nhớ đến đời sống quá khứ của mình và những người có trách nhiệm đã kiểm chứng thấy là đúng khiến nhiều người mơ hồ chấp nhận có nhiều kiếp luân hồi. Những người chỉ tin vào khoa học thì yên lặng chờ đợi sự chứng minh của khoa học rồi mới tin có luân hồi từ đời sống này sang đời sống khác. Nhưng khoa học thì phải tiến bộ dần dần qua nhiều thế kỷ. Có những điều lúc trước chưa được khám phá, nhưng đã được khám phá thời gian sau đó và chắc hẳn là tương lai về sau khoa học còn khám phá thêm những điều mà bây giờ con người chưa biết đến.
Các nhà khoa học đã cố gắng giải thích về tâm lý và sinh lý của những đứa trẻ khi mà nó hoàn toàn không giống gì với môi trường chung quanh của nó. Trong gia đình những người con khác nhau đến kỳ lạ về tài năng và tính khí. Rồi những thần đồng học một biết một ngàn hay chưa học đã biết. Những hiện tượng đó vẫn còn là bí mật khi người ta chỉ cố gắng tìm hiểu bằng tâm suy nghĩ lăng xăng của mình.
Thượng đế ư? Lỗi thời quá!
Ngẫu nhiên ư? Dễ dải quá!
Di truyền ư? Khập khiểng quá!
Phải chăng con người đã mang những khuynh hướng, những tình cảm, năng khiếu từ đời sống quá khứ theo đến đời sống hiện tại và tiếp tục gánh hành trang của đời sống này đi về đời sống ở vị lai? Tại sao người em say mê nghiên cứu khoa học trong khi người anh chỉ thả hồn theo tiếng nhạc du dương? Tại sao người cha kỹ lưỡng chi li trong khi người con thờ ơ hời hợt? Tại sao cả cha mẹ đều là giáo sư dạy sinh vật ở trường Đại học Tổng hợp trong khi người con duy nhất của họ không thể nào nhai nổi môn học chán ngấy này? Có đời sống trước đời sống này chăng, có sự luân hồi thay đổi từ kiếp sống này sang kiếp sống khác chăng, và nếu có thì làm sao biết được, hay phải chấp nhận điều này bằng niềm tin? Chúng ta đã chán ngán cái niềm tin không trí tuệ này quá rồi, bây giờ nếu có phải tin, xin cho chúng ta một niềm tin sau khi đã suy xét bằng trí tuệ.
Nếu chúng ta không chấp nhận có đời sống quá khứ tức là cũng không chấp nhận có đời sống vị lai. Đời sống hiện tại chỉ bắt đầu từ lúc gặp gỡ giữa cha mẹ và chấm dứt khi hơi thở hắt ra lần cuối. Ngoài ra không có gì trước và sau đó nữa.
Với quan niệm như vậy, chúng ta không thể giải thích được những sự khác biệt nhau về trí tuệ, khuynh hướng, sở thích tính khí và năng khiếu của con người dù họ cùng sống trong một hoàn cảnh nhất định. Cũng đành ngạc nhiên trước những hiện tượng thần đồng phi thường mà cha mẹ và môi trường không thể đào tạo nổi. Nhưng tai hại này ít hơn tai hại kế đó. Khi con người không tin luân hồi, thấy kiếp người chỉ tồn tại vài mươi năm, họ sẽ sinh ra khuynh hướng hưởng thụ vội vàng cho bản thân, từ khuynh hướng đó, nền Đạo Đức tốt đẹp của con người sụp đổ không có cách nào kéo lại được nữa. Lúc này mỗi người là một kẻ phá hoại xã hội, là một kẻ cắp giật tranh giành, dù lộ liễu hay kín đáo. Nền an ninh xã hội sẽ khủng hoảng trầm trọng. Người ta sẽ tham nhũng, ăn cắp của tập thể, lơ là với việc chung và kỹ lưỡng với việc riêng, những tội ác hình sự sẽ đầy dẫy khắp nơi mà không một quyền lực nào dập tắt được. Tình trạng kinh tế của một quốc gia chỉ kéo lê thê như cơn hấp hối bởi vì mỗi con người trong guồng máy đó chỉ nghĩ đến hưởng thụ cá nhân, che mắt dư luận tranh giành xâu xé nhau, gạt bỏ người có tài ra ngoài để kết bè phái củng cố địa vị của mình, tuy là cán bộ của quốc gia nhưng lại chính là kẻ phá hoại quốc gia. Họ không sợ tội lỗi chỉ cần kín đáo che mắt xã hội, vì chết rồi không còn quả báo nữa, không đời sống nào nữa, chết là hết!
Chẳng phải Luật Nhân Quả Nghiệp báo là sự đối phó với tình trạng xã hội, mà sự thật luật Nhân Quả là một chân lý tồn tại khách quan. Luật Nhân Quả nằm trong sâu kín của con người thì gọi là lương tâm, trùm phủ chi phối tất cả sự việc của con người thì gọi là báo ứng. Tận trong thâm tâm chúng ta ai cũng đồng ý rằng người có công đáng được thưởng, kẻ có tội đáng bị phạt. Chính vì lương tâm con người đã là luật Nhân Quả thế nên ai phát triển lương tâm đến tột cùng minh bạch sẽ thốt lên câu:
" KHÔNG CÒN MƠ HỒ VỀ NHÂN QUẢ "
Đồng với Tổ Bá Trượng một cái nhìn khách quan sáng suốt. Thật vậy, người lắng dừng mọi tâm thức vọng động, trí tuệ sáng tỏ sẽ thấu hiểu lý Nhân Quả Nghiệp báo tinh vi hơn bao giờ hết. Luật Nhân Quả là nền Đạo Đức công bằng hơn mọi nền Đạo Đức nào khác và chính luật Nhân Quả cũng chính là lương tri của nhân loại.
Vì quá khứ đã đem lại an vui cho người nên hiện tại chúng ta được hạnh phúc. Vì quá khứ chịu ơn của người nên bây giờ phải nhận người sai khiến. Nếu đã lầm lỡ làm khổ người thì bây giờ đành chuốc lấy tai ương. Tuy nhiên luật Nhân Quả không cố định cứng ngắt, biến thiên vô cùng phức tạp, nếu chúng ta không trầm tĩnh sáng suốt dễ bị kết luận vội vàng thiếu sót.
tranngocai
06-01-2005, 07:25 PM
II– CHỨNG KIẾN VÀ CHỨNG MINH:
Các nhà khoa học đã tinh tế chứng kiến những nguyên lý của thiên nhiên, suy diễn thành những định lý và áp dụng vào đời sống con người được hiệu quả gấp vạn lần hơn trước. Tôi không nói là hiệu quả lợi hay hại vì Đạo Đức chưa được kết hợp vào đấy. Khoa học luôn luôn bắt đầu bằng sự chứng kiến, chứng kiến những nguyên lý khách quan có sẵn và phát triển thành những định lý được chứng minh. Như vậy nguyên lý là do chứng kiến và định lý là do chứng minh.
– Ví dụ người ta đã chứng kiến được nguyên lý Bảo toàn động lượng và chứng minh được vấn đề có thể di chuyển ngoài lớp khí quyển. Tuy nhiên nếu những nguyên lý khách quan chưa được chứng kiến đầy đủ thì chúng ta đừng đòi hỏi chứng minh những định lý khác. Căn bản là chứng kiến, nếu chưa có sự chứng kiến thì các việc khác bế tắc. Với những năng lực trí tuệ thông minh khác mọi người, các nhà khoa học đã chứng kiến những nguyên lý mà người thường không thấy được. Những người khác chỉ áp dụng những điều khám phá của khoa học vào đời sống của mình và được hiệu quả hơn. Nếu muốn tự mình chứng kiến khám phá các nguyên lý khoa học họ phải trải qua thời gian dài miệt mài học tập. Sau đây là một câu chuyện khoa học giả tưởng dí dỏm.
“Sau một thời gian khá lâu theo dõi quan sát những sinh hoạt của địa cầu, Zed cho điã bay trở về hành tinh mình với vận tốc vượt hơn vận tốc ánh sáng. Ở vận tốc này, mọi vật thể đều bị triệt tiêu về kích thước và khối lượng, nhưng không phải mất hẳn, chỉ cần cho một giao động đặc biệt là con tàu trở thành tàng hình và lao đi vượt khỏi vận tốc ánh sáng. Chỉ có phương pháp này, vũ trụ mới trở nên nhỏ bé lại. Tại hành tinh của mình, Zed đã trình bày mọi dữ kiện đã chứng kiến tại địa cầu cho hội đồng khoa học. Vì nơi hành tinh của Zed không có thực vật, không có cây cối nên đã có sự nghi ngờ xảy ra. Zed nói:
– Ở hành tinh đó (địa cầu) loài vật thông minh nhất đã lấy một hạt nhỏ như chiếc nút này, vùi xuống đất ẩm, vài ngày sau hạt nảy mầm thành một cây bé xíu, vài năm sau cây ấy lớn, lớn đến nổi có tàng che kín cả một khoảng đất rộng. Chúng gọi việc đó là trồng cây.
Những người khác hỏi lại:
– Tại sai một hạt nhỏ xíu lại biến thành cây quá lớn như vậy? Những sinh vật ấy có chứng minh sự kiện đó ra sao không? Nếu có anh hãy chứng minh cho chúng tôi biết tại sao một hạt nhỏ lại biến thành cái cây quá lớn như vậy?
Zed lúng túng vài giây rồi đáp:
– Loài vật ấy không có chứng minh về việc đó, từ ban sơ của hành tinh, sự việc này đã tự nhiên diễn tiến. Loài vật kia chỉ chứng kiến như một nguyên lý thông thường và áp dụng cho đời sống của chúng. Chúng chỉ chứng kiến chứ không chứng minh vì việc đó quá hiển nhiên và phổ biến, chúng không còn gì phải thắc mắc về điều đó. Cây cỏ mọc đầy cả đất liền và đáy biển, chúng không có chứng minh tại sao cây lại mọc vì đó là nguyên lý tự nhiên quá rõ rệt.
– Câu trả lời của anh chưa ổn thỏa. Có khi vì sự theo dõi của anh còn thiếu sót nên chưa chứng minh được việc đó.
– Không phải vậy!”
Thôi để họ tiếp tục cãi nhau đi, còn chúng ta trở lại công việc của mình. Cây cối mọc đầy cả địa cầu và chúng ta không có gì thắc mắc. Đó là một nguyên lý tự nhiên rồi. Chỉ những người chưa chứng kiến thì đòi hỏi phải chứng minh, còn người đã chứng kiến rồi thì biết đó là SỰ THẬT.
Cũng vậy, cây Nhân Quả bám rễ vào lòng đất quá khứ, vươn ngọn tới bầu trời vị lai và rơi rụng hoa quả trên mặt đất của hiện tại. Người chưa chứng kiến thì đòi hỏi phải chứng minh, còn người có tâm an định lặng lẽ thì chứng kiến rõ ràng đó là một nguyên lý chân thật. Đường đi của Nhân Quả tuy vô hình đối với người tâm còn loạn động, nhưng bày hiện rõ ràng với người có nội tâm an tĩnh sâu xa, giác ngộ được tự tánh chân thật. Những đệ tử của Phật khi vào Thiền Định chứng được Thiên nhãn minh, có thể thấy rõ những nghiệp duyên, báo ứng của chúng sinh, biết rõ do hạnh nghiệp gì từ quá khứ mà chúng sinh kia phải chịu khổ hay được vui, thấy rõ chúng sinh chết từ nơi này và sang nơi khác theo duyên nghiệp thế nào. Các Ngài trông thấy rõ ràng như chúng ta cúi nhìn bầy kiến bò trên mặt đất.
Các nhà khoa học đã chế tạo được máy bay di chuyển rất nhanh trên không trung và bây giờ, hoặc là bạn tin tưởng mua vé ra phi trường lên máy bay đi đến nơi mong muốn, hoặc bạn đợi học đến khi nào tự chứng minh được những nguyên tắc hoạt động của máy bay rồi sẽ chịu du hành bằng máy bay. Bạn muốn chọn con đường nào?
Các bậc đạt đạo đã chứng kiến luật Nhân Quả Nghiệp báo, và bây giờ, hoặc là bạn tin tưởng áp dụng tạo những nhân lành để đi về nơi mong muốn, hoặc bạn đợi tu cho đến khi tự chứng kiến được những tính cách của luật Nhân Quả rôøi mới chịu sống Đạo Đức gây tạo nhân lành, sống vì mọi người, tận lực phụng sự quê hương đất nước. Bạn muốn chọn con đường nào?
Chúng ta nên nhớ, luật Nhân Quả là một nguyên lý khách quan để chứng kiến, không phải để chứng minh. Nếu bạn đã chứng kiến được đường đi của Nhân Quả thì không còn gì để bàn cãi thêm, tôi xin chân thành cúi đầu đảnh lễ bạn như tôi đã kính trọng các bậc Thánh giải thoát từ trước. Nếu bạn chưa chứng kiến được sự chi phối trùm khắp của luật Nhân Quả, nhưng công nhận là đúng với lương tri loài người, thật sự tin tưởng và áp dụng cho cuộc sống của mình, thì tôi xin chúc mừng cho bạn vì từ đây bạn sẽ là niềm vui cho mọi người, là công dân tốt cho đất nuớc, là cá nhân tiêu biểu trong tập thể, là con người đáng kính trong gia đình. Đất nước chúng ta đang cần nhiều những con người tin hiểu Nhân Quả để chuyển mình phát triển, để Đạo Đức văn minh sáng tỏ trong lòng người, trên đường phố, chốn đông người, trong xanh nơi đôi mắt em thơ, cao cả nơi lời nói cụ già, thật thà trong hành vi người trai trẻ. Thiếu hiểu biết Nhân Quả, con người đã mưu tìm hạnh phúc cho mình bằng cách chiếm đoạt của tha nhân, của tập thể, của đất nước. Trái lại người hiểu biết Nhân Quả sẽ mưu tìm hạnh phúc cho mình xuyên qua việc làm lợi ích cho tập thể trước, từ bỏ cuộc sống ích kỷ riêng mình, hòa vào đời sống công cộng vui vẻ vì môi trường tập thể là nơi để chúng ta có dịp phụng sự nhiều hơn đời sống cá nhân.
Chúng ta chưa đủ trình độ chứng kiến quy luật Nhân Quả Nghiệp báo đã chi phối như thế nào, nhưng không thấy đâu có nghĩa là không có! có nhiều điều khoa học chưa khám phá, nhưng nó vẫn tồn tại hiện hữu, và mãi về sau khoa học mới tìm thấy. Cũng vậy, dù trí óc con người suy luận không tới, dù chúng ta không đủ sức định tâm để chứng kiến nhưng luật Nhân Quả vẫn trùm phủ chi phối một cách khách quan. Luật Nhân Quả phù hợp với lương tâm loài người, có tính cách công bằng tự nhiên, đặt trách nhiệm nơi chính con người vì việc làm của họ, không có sự nô lệ nơi một thần linh bên ngoài, cũng không có tính cách vô luân như kẻ chủ trương ngẫu nhiên hoạ phúc. Chúng ta đã kêu gào đánh thức lương tâm nhân loại trước tội lỗi đang lan tràn trên thế giới, nhưng nếu không đánh thức sự hiểu biết Nhân Quả của con người thì sự kêu gào đó chỉ là tiếng than van giữa sa mạc hoang vu.
Luật Nhân Quả là một quy luật khoa học khách quan như mọi quy luật khoa học khác của tự nhiên, chỉ khác ở chỗ muốn chứng kiến được đường đi của luật Nhân Quả thì phải có một trình độ định tâm khá sâu. Các đất nước có nền văn minh phát triển cao bởi do khéo áp dụng các khám phá của khoa học cho đời sống con người làm tăng thêm hiệu quả các việc làm của họ. Cũng vậy, nếu ai áp dụng được sự hiểu biết luật Nhân Quả thì đời sống họ sẽ trở nên tốt đẹp hơn lúc trước, ích lợi hơn cho gia đình họ, cho tập thể và cho đất nước họ. Nếu trong một quốc gia có đại đa số người hiểu biết quy luật Nhân Quả một cách thấu đáo, quốc gia đó sẽ chuyển mình phát triển không bao lâu. Bởi vì sự áp dụng được một quy luật tự nhiên đều đem đến hiệu quả lớn lao hơn trước. Nhưng ưu việt hơn những quy luật khoa học khác chỉ đem đến cho con người hiệu năng, luật Nhân Quả sẽ đem đến cho con người Đạo Đức chân thật.
Xin anh làm ơn cho hỏi, nếu muốn tìm các sách của Thầy Chơn Quang thì có thể tìm ở đâu?. Nhờ anh chỉ giúp, cảm ơn anh về bài viết rất hay.
DaoKy
07-01-2005, 11:18 AM
Cám ơn bạn Tranngocai đã trích viết một bài về nhân quả thật hay!
Chúc bạn vui vẻ trên DD. Thân.
DaoKy
tranngocai
07-01-2005, 03:16 PM
Chào bạn Ma Y!
Nếu ở tại Sài gòn bạn có thể liên hệ địa chỉ:
Chi Nhanh Chua Phat Quang "o Saigon"
Su Co: Lieu Nguyen
450 S. Bui Dinh Tuy
Phuong 12, quan Binh Thanh, HCM city
Home phone: 011-848-511-4452
Hand phone: 011-849-182-53286
Tại Hà nội, một số sách có thể mua tại chùa Quán Sứ hoặc liên hệ:
Cô Phương Nam: (84-4) 9177828
Các địa chỉ trên để thỉnh băng đĩa và sách giảng của tỳ kheo Thích Chơn Quang.
Nếu bạn có nước ngoài, khó có điều kiện tìm mua, xin vui lòng email cho tôi qua địa chỉ: tranngoc_ai@yahoo.com , gửi địa chỉ của bạn, tôi sẽ gửi sách đến đúng địa chỉ (miễn mọi khoản phí)
tranngocai
07-01-2005, 03:19 PM
Copy toàn bộ cuốn sách luận về nhân quả (font VNI cũ) tại địa chỉ:
http://66.27.136.6/chuaphatquang/kinhsach/nhanqua/nhanqua.zip
tranngocai
08-01-2005, 02:49 PM
Ở mức độ dao động tâm thức nào giờ, con người đã chứng kiến và chứng minh nhiều quy luật khoa học tự nhiên khác. Ở mức độ lắng định tâm thức sâu hơn, con người sẽ chứng kiến và chứng minh nhiều quy luật đang còn gọi là bí ẩn của nhân sinh và vũ trụ. Nếu chỗ an định tột cùng của tâm thức, người ta còn sẽ chứng kiến vô số những quy luật vô cùng phong phú phức tạp đa dạng của con người và vũ trụ mà dù cho một kẻ thông minh nhất cũng không thể nào suy luận nổi. Ở tập hợp N không có các con số âm. Ở tập hợp Z không có các con số vô tỷ, và ở tập hợp R không có các hình thức số phức như tập hợp C. Cũng vậy, những quy luật khám phá được ở mức độ tâm thức dao động không thể nào so sánh được với những quy luật được khám phá ở mức độ tâm thức lắng định. Người ta bây giờ và mãi mãi, không thể nào dùng những kiến thức khoa học hiện nay để chứng minh được luật Nhân Quả, chỉ bởi vì kiến thức khoa học hiện nay thuộc tập hợp của tâm thức dao động, còn luật Nhân Quả thuộc tập hợp của tâm thức an định. Thật là quê mùa nếu chúng ta đòi hỏi phải chứng minh luật Nhân Quả bằng những kiến thức khoa học hiện nay. Chỉ có chứng kiến, khách quan chứng kiến, khi tâm thức chúng ta đã vào sâu trong an định mà thôi. Người khôn ngoan là người nhận thấy rõ tính cách hợp lý của luật Nhân Quả và chấp nhận nếu họ chưa đủ định lực để tự chứng kiến sự vận hành của nó.
tranngocai
08-01-2005, 02:51 PM
III– MÔI TRƯỜNG CỦA NHÂN QUẢ:
Một hòn đá rớt xuống hồ nước yên lặng, thế rồi những vòng sóng tỏa đi càng lúc càng xa. Mặt nước là môi trường để cho sóng lan tỏa sau khi nhận được kích động bởi sự va chạm của hòn đá. Không khí là môi trường truyền đi của âm thanh. Nước là môi trường sinh sống của cá. Vật trong suốt là môi trường của ánh sáng.
Những gì có biến thiên thay đổi đều có môi trường của nó và luật Nhân Quả cũng vậy, cũng có một môi trường để cho một tác nhân biến đổi thành quả báo.
Chị Chín đã khóc khá nhiều sau cái chết đột ngột của anh Chín. Hôm anh Chín từ nhà đi bộ qua thăm Bác Ba bên kia làng. Anh đã chọn lối đi bên trái thay vì lối đi bên phải và giữa đường một cành cây khô gãy rơi xuống trúng vào đầu anh. Anh tắt thở khi được đem đến bệnh viện.
Tai nạn của anh được kết thành bởi hai điều kiện, do ý tưởng của anh chọn lối đi bên trái (điều kiện nội tại) và do cành cây khô gãy đúng lúc anh đi ngang (điều kiện ngoại tại).
Luật Nhân Quả đã chi phối và tác động khắp nơi, tận trong tư tưởng và trùm phủ nơi vạn vật. Môi trường để cho Nhân Quả vận hành quả là lớn lao và thấu đáo, thẳm thấu nơi tâm và vật, ứng hiện nơi loài có tri giác và loài không tri giác, rõ ràng nơi từng tâm niệm vi tế và trùm khắp mênh mông trong vũ trụ, nhỏ nhiệm như mũi kim và thênh thang như pháp giới. Môi trường này mắt không thể thấy tai không thể nghe, rờ không thể chạm, không có hình tướng, rất là thanh tịnh vắng lặng, nhưng khi đã khởi tác dụng thì giông bão quay cuồng, quả đất rung chuyển, gió thổi sóng xô, bốn mùa thay đổi. Tốt đẹp thì mưa gió thuận hòa, nắng ấm xuân sang, mùa màng tươi tốt. Xấu xa thì ngập lụt bão tố, hạn hán khô cằn, cây trồng trơ trụi. Ứng nơi vạn hữu thì gọi tên là Pháp tánh, Chân như, nếu cần gọi là Thượng đế cũng được nhưng không phải Thượng đế theo quan niệm sai lầm từ trước. Ứng nơi con người cũng thành nhiều tên gọi. Theo tính cách biết rõ Nhân Quả thì gọi là lương tâm, theo tính cách bất sanh bất diệt (không có bắt đầu, không có chấm dứt) thì gọi là Chơn tâm, theo tính cách sáng suốt liễu tri thì gọi là Trí tuệ, theo tính cách giải thoát thanh tịnh thì gọi là Niết Bàn, theo tính cách thương yêu bình đẳng vạn loài thì gọi là Thể Đại bi, theo tính cách vượt khỏi tâm thức sinh diệt thì gọi là Vô ngã... Chính vì có môi trường kỳ diệu này mà có sự vận hành của Nhân Quả Nghiệp báo. Nếu không có môi trường kỳ diệu này thì không có sự vận hành của Nhân Quả.
Nếu người nào có thể lắng tâm mình đến tột cùng và giác ngộ được môi trường này, thể tánh này sẽ thấy rõ sự vận hành của Nhân Quả. Có nhiều người tu tập Thiền Định, tuy có phần định tâm nhưng chưa thể giác ngộ toàn triệt thể tánh kỳ diệu này vẫn không thấy được đường đi của Nhân Quả. Phải là bậc giác ngộ viên mãn thể tánh đó mới "KHÔNG MƠ HỒ VỀ NHÂN QUẢ".
tranngocai
08-01-2005, 02:55 PM
Thiền sư Tổ Giác Hoa Nghiêm sau khi triệt ngộ đã làm bài kệ:
"Ra rừng như cũ vào bồng hao (2 loại cỏ)
Lưới trời lồng lộng trốn được nào
Ai tin nghiệp duyên không thể trốn
Trở về chẳng sợ lời nói cao"
Nếu ngộ đến chỗ thấy không lầm Nhân Quả mới có thể không còn lúng túng trước sự gạn hỏi của người khác về thiền đạo.
Thể tánh này vừa trùm khắp không gian, tuy có nơi tâm một người mà vẫn bao hàm cả pháp giới, tuy rõ ràng tại một sát na mà vẫn phủ trọn cả ba đời (Quá khứ, hiện tại, vị lai). Với người chưa giác ngộ thể tánh này, còn nhìn vạn hữu theo tâm thức dao động, những kiến thức hạn chế trong tập hợp này thì thấy không gian là sai khác. Điểm A không phải là điểm B, lúc 5 giờ không phải là lúc 6 giờ. Nhưng người có tâm thức an định, giác ngộ thể tánh này một cách viên mãn thì không phải vậy. Thể tánh này hiện hữu nơi điểm A nhưng vẫn rõ ràng tại điểm B, chẳng những riêng tại A và B mà còn đầy đủ cả pháp giới. Dòng thời gian đều đặn trôi chảy nhưng không trôi chảy khỏi thể tánh này, dòng thời gian vô vùng vô tận vẫn nằm gọn trong thể tánh kỳ diệu kia.
Đây là điều mà người chưa giác ngộ không thể nào thấy được, không thể nào tưởng tượng suy nghĩ tới được. Bởi vì sao? Chỉ vì tâm suy tưởng quá nhỏ hẹp và hạn chế. Cũng như không thể tìm thấy số vô tỷ trong tập hợp N chỉ gồm các số nguyên tự nhiên.
Với con mắt phàm tục đầy loạn động như chúng ta, quá khứ là cái gì đã qua mất không còn tìm thấy được nơi hiện tại, và vị lai là cái gì chưa đến cũng không tìm thấy được nơi hiện tại. Nhưng người giác ngộ lại thấy rõ cả quá khứ, hiện tại và vị lai đều nằm gọn trong thể tánh. Tác nhân từ quá khứ trôi chảy trong môi trường thể tánh đến hiện tại và vị lai, kết thành quả báo khi duyên đã đầy đủ. Chính vì môi trường thể tánh thông đạt cả tâm và vật nên có những quả báo sinh ra nơi tâm như được thông minh trí tuệ, hoặc sinh ra nơi vật như mùa màng thuận lợi, hoặc kết hợp vừa tâm vừa vật như một người dự định công chuyện lại được hoàn cảnh may mắn để thành công.
Cái dụng của thể tánh rất lớn người chưa giác ngộ còn si mê tạo các nghiệp, đến khi quả báo thành có thể làm đất sụp, núi lở, cuồng phong, lửa cháy. Hoặc người tạo thiện nghiệp đến khi quả báo thành có thể gió yên sóng lặng, nắng ấm trời trong, thú dữ qui phục, cây trái tốt tươi, mùa màng thạnh mậu. Khi có phước tâm người ta dễ ứng thành những trực giác bén nhạy quyết đoán công việc mau lẹ chính xác, hoặc đoán ra thủ đoạn của đối phương để đối phó, hoặc ứng ra qui luật chinh phục lòng người. Những nhà lãnh tụ chính trị đều có cái phước này. Tuy nhiên đó là dụng lực theo nghiệp. Đối với người đã giác ngộ đạt được quả báo lớn lao, có thể từ nơi thể tánh này khởi lên những dụng lực phi thường. Đây là dụng theo nguyện. Những thần thông của Phật và chư vị đệ tử Alahán ghi đầy trong kinh điển đều là dụng lực theo nguyện. Các vị có thể một thân hóa thành nhiều thân, dập tắt một cơn cháy rừng, hóa ra lửa cháy, biến ra nước trôi, thâu ngắn kéo dài không gian thời gian... tùy ý tự tại rất là kỳ diệu.
Có nhiều thể tánh hay chỉ có duy nhất một thể tánh?
Đây là câu hỏi tế nhị và cần thiết.
Thể tánh này là tịch lặng và vô ngã.
Bản ngã là riêng nhưng VÔ NGÃ thì không phải riêng. Tất cả những ai đã thể nhập được thể tánh này thì cùng hòa chung nhau trong tính chất trí tuệ và từ bi. Tất cả đều cảm ứng giao hòa với nhau không còn ngăn cách. Một vị khởi dụng thì các vị khác đều biết rõ. Trong thể tánh này, mọi cái riêng rẻ đều vắng bóng. Tuy nhiên, nếu một vị chợt khởi niệm quan sát, khởi công hạnh từ bi thì vẫn là thuộc về riêng của vị đó mà tất cả vị Alahán, tất cả chư Phật đều biết rõ và hỗ trợ. Thể thì không phải riêng, nhưng dụng và hạnh thì riêng. Tất cả chư Phật đã nhập Niết Bàn đều trở thành duy nhất.
tranngocai
08-01-2005, 03:00 PM
Chính vì tính chất chung của thể tánh nên có hiện tượng cộng nghiệp (nghiệp chung).
– Người dân Koweik cùng sống trên cái túi dầu và chính phủ phải phát lương cho học sinh vì thu nhập quá nhiều.
Cánh đồng phù sa màu mỡ, sông nước mênh mông nên người dân miền nam bộ Việt Nam được dễ dàng lương thực.
Cơn bão vừa rồi làm ngập lụt cuốn trôi cả làng ven biển và phá hoại cánh đồng lúa của huyện.
Cơn động đất ở Tây Ban Nha làm chết nhiều người và hư hại tài sản khá nặng của dân chúng trong vùng.
Những trường hợp tương tự như trên đều là nghiệp chung của nhiều người. Chính vì các loài sống trên hành tinh này cộng nghiệp nên trăng quay quanh trái đất hơn 29 ngày một vòng, trái đất quay quanh mặt trời nghiêng nghiêng hơn 365 ngày một vòng, các mùa thay đổi như thế, không khí nhiệt độ như thế, biển trời mây gió như thế. Tất cả biển, trời, sông, núi, ghềnh thác đều do nghiệp chung của chúng sinh nơi đây mà hiện thành, chẳng phải ngẫu nhiên bừa bãi.
Cái dụng của thể tánh thật vô hạn. Người có thể giác ngộ được thể tánh rồi thì ứng nơi mình được đầy đủ lương tâm, đầy đủ trí tuệ, đầy đủ từ bi, được niềm vui của sự giải thoát ra khỏi mọi ràng buộc của khổ đau nhân thế. Thể tánh này thênh thang như bầu trời tự do mà cuộc sống tâm thức xao động hiện tại của chúng ta như ngục tù nhỏ bé. Trong bài kệ Pàli từ nguyên thủy (Tiểu bộ kinh, XLH, DUK II 6, T 37) Phật đã xác nhận về thể tánh này với nguyên văn:
"Này các Tỳ kheo, có cái không sanh, không hiện hữu, không tác thành, không làm ra (không bởi một cái gì làm ra cái đó) (Asarkhatan). Này các Tỳ kheo, nếu không có cái không sanh, không hiện hữu, không tác thành, không làm ra thì ở đây không có vấn đề xuất ly khỏi sanh, khỏi hiện hữu, khỏi tác thành, khỏi làm ra (những tướng hữu vi sanh diệt). Do vì, này các Tỳ kheo, có cái không sanh, không hiện hữu, không tác thành, không làm ra nên mới có vấn đề xuất ly khỏi sanh, khỏi hiện hữu, khỏi tác thành, khỏi làm ra."
Ví như nếu không có vùng trời tự do thì không thể có vấn đề ra khỏi nhà ngục. Chính vì thật sự có vùng trời tự do nên mới có thể ra khỏi nhà ngục. Nhà ngục chính là tâm thức xao động đầy dẫy những tham lam, sân hận, si mê, kiêu mạn, ích kỷ. Chính những tâm niệm này trói buộc chúng ta trong đau khổ và tội lỗi từ vô lượng kiếp đến nay. Sự giải thoát an vui chỉ thật sự có khi chúng ta mở cửa nhà ngục tham sân si để bước ra bầu trời tự do của thể tánh bất sinh bất diệt kia. Người giác ngộ thể tánh đó, kinh Nguyên thủy gọi là bậc vô sanh (Arhat) kinh Đại thừa gọi là bậc Giác ngộ hữu tình (Bodhisatva), Thiền tông gọi là Đấng giác ngộ (Buddha).
tranngocai
08-01-2005, 03:02 PM
MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP ĐIỂN HÌNH VỀ NHÂN QUẢ:
Bởi vì kẻ phàm phu tâm thức còn nhiều dao động như chúng ta, bị che mờ bởi những tình cảm thương ghét chủ quan nên lương tâm chưa sáng tỏ minh bạch, thế nên chúng ta không biết sợ một nhân này sẽ kết thành quả báo như thế nào, hoặc một quả báo này phải bắt đầu bằng những tác nghiệp ra sao? Muốn đánh thức sự hiểu biết của lương tâm để chúng ta có thể biện rõ đường đi của Nhân Quả, chúng ta nên bắt đầu bằng cách tham khảo lại những trường hợp Nghiệp báo đã được giảng giải phân tích bởi Phật và các vị Thánh từ trước. Qua những trường hợp điển hình cũ chúng ta sẽ có kinh nghiệm, làm sống dậy sự hiểu biết của lương tâm và sau đó chúng ta có thể tự mình suy luận lấy những trường hợp Nghiệp báo khác bớt sai sót hơn.
Cảm ơn anh.Tôi sẽ sớm tìm mua các sách này.
Thân mến.
tranngocai
14-01-2005, 06:49 PM
A– NHÂN QUẢ THẾ GIAN
I– THIÊN NHÃN CỦA ALAHÁN:
(Trích trung bộ kinh I, kinh Randarara, B)
..."Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc bất động như vậy, vị ấy hướng tâm trí tuệ đến sanh tử của chúng sinh. Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sinh. Vị ấy tuệ tri rõ rằng chúng sinh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của chúng. Vị ấy nghĩ rằng thật sự những chúng sinh này thành tựu những ác hạnh về thân, lời nói, ý nghĩ, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sinh khác thành tựu những thiện hạnh về thân, lời nói, ý nghĩ, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sinh lên các thiện thú (chỗ đến), thiên giới, cõi đời này. Như vậy vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sinh, vị ấy tuệ tri rõ rằng chúng sinh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của chúng."
NHẬN XÉT:
Trình độ để một hành giả thành tựu thiên nhãn siêu nhiên là Tứ thiền. Người nhập được Tứ thiền tâm thanh tịnh đến nổi hơi thở dừng lại. Thuần thục Tứ thiền vị này hướng tâm về những đời sống quá khứ của chính mình và nhớ lại vô lượng đời sống quá khứ ấy. Khả năng này gọi là Túc mạng minh. Rồi vị ấy hướng tâm quan sát sự lưu chuyển sanh tử của chúng sinh và thấy chúng sinh khổ vui theo nghiệp thiện ác của quá khứ. Khả năng này gọi là Thiên nhãn minh. Rồi vị ấy hướng tâm về đầu mối của sanh tử triền phược, tìm ra nguồn gốc của khổ, tìm ra ý nghĩa của giải thoát và con đường đưa đến giải thoát. Liền đó vị ấy thoát khỏi mọi lậu hoặc vô minh, thành tựu Niết Bàn an ổn. Khả năng này gọi là lậu tận minh. Đủ ba minh này, vị ấy được gọi là Alahán.
Phải là người chứng Thiên nhãn minh mới thấy được đường đi của Nhân Quả. Chúng ta đừng dùng mắt thịt nhìn vào cõi không gian thô thiển này mà mong tìm đường đi của Nhân Quả.
Khoa học chưa đủ khả năng để khám phá những tầng lớp không gian sâu thẳm hơn, chỉ có người lắng sâu trong Thiền Định mới thấy được điều này. Và ở đây, đường đi của Nhân Quả Nghiệp báo là một sự thật được chứng kiến rõ ràng. Một người mù từ thuở lọt lòng, dù được nghe diễn tả chứng minh đủ mọi cách về màu sắc, vẫn không thể nào tin hiểu được. Chúng ta là những người mù từ thuở lọt lòng, không khai phát thiên nhãn, dù được nghe diễn tả chứng minh đủ cách về đường đi của Nhân Quả vẫn không thể nào tin hiểu được. Nhưng hạnh phúc thay cho những ai nghe được lương tâm mình lên tiếng nói để có thể tin hiểu lý Nhân Quả Nghiệp báo rất là công bằng và mầu nhiệm.
Chúng ta muốn làm việc nghĩa, muốn đem nhiệt tình, tài năng và bạo lực để thay đổi hoàn cảnh của mọi người, dành lấy tài sản của người này đem phân phát cho người khác. Nhưng điều này không phải là nguồn gốc cho hạnh phúc của xã hội. Chính hạnh nghiệp quá khứ đã đưa đến hoàn cảnh đời sống khổ vui cho họ như hiện tại. Nếu chúng ta thương yêu họ, những kẻ khốn cùng, hãy giáo hóa cho họ biết thương yêu giúp đỡ mọi người hơn là phẫn nộ và tàn ác. Kẻ càng nghèo càng dễ trở thành tội lỗi, và tội lỗi làm cho họ khốn đốn hơn. Con người phải chịu trách nhiệm lấy mọi hành động của mình, không phải thần linh qui định cho họ, nhưng cũng không phải ngẫu nhiên vô cớ. Hai quan niệm một chiều cực đoan và sai lầm rất phổ biến nơi mọi người. Một, trút hết mọi trách nhiệm cho một thần linh tưởng tượng, và mình trở thành kẻ cầu nguyện van xin. Hai, xem họa phúc là việc ngẫu nhiên của hiện tại, chỉ do tài năng để đạt thành và như thế họ trở thành kẻ tự cao ác độc.
Họ phải can đảm nhận lấy khổ vui như là hậu quả của chính mình và phải dè dặt cẩn thận trong từng hành động của hiện tại. Một người như thế, mọi người như thế, thế giới này bỗng trở thành cõi tịnh lạc vinh quang.
Những câu nói mộc mạc của ông bà như "Ở hiền gặp lành", "Gieo gió gặt bão"... đã tuôn chảy vào lòng người Việt Nam thành một truyền thống Đạo Đức tốt đẹp. Đánh mất truyền thống Đạo Đức này, nền Đạo Đức của thế hệ trẻ Việt Nam sẽ đổ vỡ sa đọa không còn hàn gắn xây đựng được nữa. Tương lai của xã hội tùy thuộc vào thế hệ trẻ. Nếu thế hệ này không còn Đạo Đức, trước mắt chúng ta là buổi chiều ảm đạm bên cạnh vực thẳm đau thương. Cần phải dựng lại nền Đạo Đức nhân bản này để ánh sáng của tình thương phả khắp vào lòng người mãi mãi.
tranngocai
14-01-2005, 06:52 PM
2– ĐẸP VÀ GIÀU:
Khi chưa trở thành hoàng hậu, Mallika (Mạt Lợi) là cô gái bán bánh và không đẹp. Một lần cúng dường bánh lên Đức Phật, được Đức Phật cho biết cô sẽ là hoàng hậu. Sau này trở thành vợ vua Pasenadi, bà đến gặp Đức Phật và hỏi về nguyên nhân của giàu nghèo, đẹp xấu, Đức Phật trả lời như sau. (Xem Tăng chi bộ kinh, 2A,1đ7, tr264) "Ở đây, này Mallikà, có hạng nữ nhân phẫn nộ, não hại nhiều, tuy bị nói ít, liền nổi nóng, nổi giận, nổi sân, sừng sộ gây hấn, biểu lộ phẫn nộ, sân hận, bất mãn, không bố thí cho Sa Môn hay Bà La Môn, món ăn vật uống, vải mặc, xe cộ vòng hoa, hương, phấn sáp, giường nằm, trú xứ, đèn đuốc, tánh tình keo kiệt. Thấy người khác được lợi dưỡng, cung kính, nó ganh tỵ tức tối, bị trói buộc bởi ganh tỵ. Người ấy sau khi từ bỏ đời sống trở lui lại trạng thái này, tại đấy nó tái sanh hạ liệt, dung sắc xấu, sắc đẹp xấu, hình dáng hạ liệt, nghèo khổ, tài sản ít, sở hữu ít, ảnh hưởng uy tín ít.
"Ở đây, này Mallikà, có nữ nhân phẫn nộ nhiều não hại,... gây hấn, bất mãn. Nó bố thí cho Sa Môn hay Bà La Môn..., tánh không keo kiệt, thấy người khác được lợi dưỡng tôn trọng... nó không ganh tỵ. Người ấy sau khi từ bỏ đời này, trở lui lại trạng thái này, tại đấy, nó tái sinh, dung sắc xấu, sắc đẹp xấu, hình dáng hạ liệt, nhưng giàu sang, tài sản lớn, sở hữu lớn, uy tín ảnh hưởng lớn!"...(lượt đoạn một)..."Ở đây, này Mallikà, có nữ nhân không phẫn nộ, não hại không nhiều, tuy bị nói nhiều không có nổi giận, nổi nóng... bất mãn. Nó bố thí cho Sa Môn hay Bà La Môn món ăn... đèn đuốc, tánh tình không keo kiệt. Thấy người khác được lợi dưỡng cung kính... nó không ganh tỵ... người ấy sau khi từ bỏ đời này, trở lui lại trạng thái này, tại đấy nó tái sanh dung sắc đẹp, sắc đẹp tốt, tịnh tín, thành tựu với dung sắc thù thắng, giàu sang, tài sản nhiều, sở hữu lớn, ảnh hưởng uy tín lớn".
Sau những lời giải thích này, hoàng hậu quy y Đức Phật.
tranngocai
14-01-2005, 06:53 PM
NHẬN XÉT:
Xã hội Ấn Độ chia thành bốn giai cấp, trong đó giai cấp Bà La Môn được xem là tối thắng, là giai cấp lãnh đạo tinh thần của xã hội. Mặc dù được qui định bởi dòng tộc huyết thống nhưng những vị Bà La Môn phải sống rất đạo hạnh, trường trai, giữ giới và Thiền Định. Những giới luật dành cho họ khắc khe hơn những giai cấp khác. Họ là tiêu biểu cho Đạo Đức của xã hội. Đến khi đã làm tròn bổn phận tại gia, họ có thể lìa gia đình làm vị Sa Môn ẩn tu Thiền Định chuyên chú. Chính vì Đạo Đức của giai cấp này (ít ra trong thời Đức Phật) mặc dù không hoàn toàn, nhưng cũng khiến cho người cúng dường được nhiều phước báo.
Như thế Phật đã chỉ ra rằng sân hận là nguyên nhân của xấu xí và từ ái là nguyên nhân của đẹp đẽ. Khi người nổi cơn thịnh nộ, họ đã thể hiện sự tức giận đó bởi những nét mặt hung dữ, thô bạo, khó coi. Thường xuyên sân hận như vậy, nét mặt ấy trở thành tướng trạng cố định dành cho họ ở mai sau. Nếu người có gương mặt xấu xí đời này, họ cũng thường mang theo thói quen sân hận từ đời trước. Ngược lại, người có lối xử sự ôn hòa và tâm hồn từ ái thương người, thương vật, họ sẽ cảm thành gương mặt đẹp đẽ dịu dàng, ánh mắt bao dung xanh biếc. Người được nét đẹp này cũng vẫn còn mang theo đức tánh hiền lành từ quá khứ.
tranngocai
14-01-2005, 06:58 PM
Tuy nhiên trong cuộc sống chúng ta vẫn thường gặp gỡ những người xấu xí, không sân hận thịnh nộ, nhưng ích kỷ nhỏ nhoi và thường phạm ác pháp. Nét xấu xí không được gây bởi nhân sân hận, nhưng được gây bởi nhân hẹp hòi và phá giới.
Rồi cũng có những người rất đẹp và cũng rất dữ, hoặc rất đẹp nhưng cũng rất hẹp lượng độc ác. Có một công đức tác thành sự đẹp đẽ là đã từng dâng hoa cúng Phật, tô vẽ hình tượng chư Thánh để cầu xin phước báo. Có thể họ sẽ trở thành đẹp đẽ như ý nguyện, nhưng trong nét đẹp bên ngoài đó vẫn để lộ ra vài nét không hoàn toàn mà một người có nhiều trực giác sẽ đọc thấy tính chất đen tối còn u uẩn ngủ ngầm. Hoặc, mặc dù rất đẹp nhưng thỉnh thoảng đôi mắt lóe lên tia hung quang, hoặc đôi mắt để lộ nét nham hiểm âm thầm... Những nghiệp thiện ác xen lẫn từ quá khứ nên chúng sinh khó được hoàn toàn mọi mặt. Tuy nhiên Phật nêu ra công đức từ ái hiền lành như là một nhân chơn chánh hơn những nghiệp giả tạm bên ngoài nào khác.
Mọi sự giàu sang đều bắt nguồn từ bố thí. Không bố thí, vĩnh viễn không có sự sung mãn tài vật. Tuy Phật khen ngợi hành vi cúng dường cho các bậc tu hành đức hạnh như là một phước điền tươi tốt khiến cho thí chủ thu hoạch được nhiều phước báo, nhưng nếu người có lòng nhân ái sẽ không bỏ qua một chúng sinh khốn khổ nào dù đó là kẻ tội lỗi. Bố thí là sự biểu hiện chân thật của tình thương. Không thể có tình thương ở đầu lưỡi mà phải có tình thương nơi đôi bàn tay dâng tặng. Bố thí không những đem lại phước báo cụ thể mà nó còn là một phương pháp để tu tập những đức hạnh khác. Bắt đầu bằng công hạnh bố thí, người này sẽ buông xả những chấp trước dễ hơn, tâm quảng đại thêm lớn, lòng tham mỏng nhạt dần. Hãy tập bố thí từng chút và bạn sẽ cảm nghe tâm hồn mình thay đổi. Đừng tiêu xài hết những gì mình có, hãy san sẻ với mọi người, dù đó chỉ là gói bánh ngọt, đĩa trái cây, hoặc to tát như lợi nhuận thu được bởi mồ hôi nước mắt. Người mới biết tu tức là biết trích ra 1/10 số tiền kiếm được để san sẻ với kẻ khác. Người đã thuần thục trong công hạnh bố thí sẽ san sẻ nhiều hơn nữa. Tài vật vô thường tạm bợ, không chắc ở lại lâu dài với mình. Một cuộc thay đổi thời thế, một cơn hỏa hoạn ngập lụt, một lần bị trộm cướp đều có thể lấy đi những gì đã được tích lũy từ lâu. Khi không còn tài sản mà muốn bố thí cúng dường cũng không có cơ hội để làm. Chi bằng trong từng giờ phút hiện tại vừa được lợi nhuận hãy chia sớt ngay cho người, đừng để cơ hội trôi qua. Người tin hiểu Nhân Quả sẽ khao khát bố thí như người mù khao khát mắt sáng. Bố thí là phước báo thế gian, là công đức xuất thế gian, mà cũng chính là mật hạnh của Bồ Tát đạo. Không có bố thí, những công hạnh khát chưa đáng tin tưởng. Bố thí như là sự bảo đảm giá trị cho những công hạnh khác. Chúng ta có thể tu hạnh nhẫn nhục, trì giới, tùy hỉ, tinh tấn, nhưng thiếu bố thí, những công hạnh kia còn phải xét lại. Bố thí là cánh cửa đầu tiên của sự tu tập, chưa vượt qua quan ải này, những quan ải khác chưa thể đề cập đến.
tranngocai
14-01-2005, 07:02 PM
3– HỨA HẸN:
(Trích trong Tăng chi bộ kinh 11 A trang 108)
Tôn giả Xá Lợi Phất hỏi Phật về nguyên nhân một người buôn bán thành công hay thất bại.
Phật bảo:
..."Ở đây, này Sàriputta, có hạng người đi đến vị Sa Môn hay Bà La Môn và hứa hẹn như sau: “Thưa Tôn Giả, hãy nói lên điều Tôn Giả cần giúp đỡ", nhưng người ấy không cho như đã hứa. Nếu từ chỗ đấy mạng chung đi đến chỗ này, dầu cho người ấy có buôn bán gì, buôn bán ấy đi đến chỗ thất bại".
..."Và người ấy cho như đã quyết định hứa cho,... nếu buôn bán gì, buôn bán ấy đi đến thành tựu như ý muốn".
"Và người ấy cho nhiều hơn như đã quyết định muốn cho... nếu buôn bán gì, buôn bán ấy được thành tựu ngoài ý muốn".
tranngocai
14-01-2005, 07:03 PM
NHẬN XÉT:
Cũng như đa số những bài kinh khác, Phật khuyến khích sự cúng dường cho các bậc đức hạnh tu hành. Chúng ta có thể hiểu rộng hơn, phổ cập đến tất cả hạng chúng sinh. Như vậy, việc thực hiện lời hứa dâng tặng giúp đỡ đã đem lại quả báo kinh doanh thành công.
Khi một người được hứa giúp đỡ, họ sẽ khắc khoải trông chờ, dù lộ liễu hay kín đáo, về sự thực hiện lời hứa của người kia. Nếu người hứa không thực hiện, thì người được hứa sẽ phải thất vọng dù nhiều hay ít. Tạo niềm hy vọng bằng lời hứa rồi gây nổi thất vọng bằng thất hứa, việc này đã sản sinh một quả báo tuyệt vọng ở mai sau. Chúng ta phải tập cho mình một thói quen nghiêm khắc là giữ đúng lời hứa. Trước khi hứa hẹn hãy xét kỹ mình có đủ khả năng thực hiện lời hứa hay không. Đừng hứa lấy lòng trong lúc hứng chí bồng bột để rồi phải thất hứa làm thất vọng cho người.
Ngược lại, sự thực hiện đúng như đã hứa hoặc vượt hơn lời hứa khiến cho người vui mừng sung sướng đã đem lại quả báo thành công ở mai sau. Thật là quý hóa khi hứa một mà sự thực hiện gấp hai ba.
Giữ lời hứa là điều quan trọng. Giữ giới đã lãnh thọ cũng là một hình thức giữ lời hứa với Tam Bảo, đối với chúng sinh. Khi chúng ta long trọng tuyên bố lãnh thọ giới pháp, lúc đó chúng ta trở thành niềm tin cho mọi người, chúng ta ban cho họ sự tịnh tín, chỗ nương tựa, niềm an ủi nơi sự thanh tịnh của chúng ta. Nếu chúng ta thất hứa, điều BAN CHO đó đã đổ vỡ, mọi người mất tịnh tín, mất chỗ nương tựa, mất niềm an ủi và thất vọng, chúng ta phải chịu hậu quả nặng nề về sự thất hứa này. Ngược lại, chúng ta giữ giới đã lãnh thọ một cách thuần tịnh, mọi người được tịnh tín, nuơng tựa an ủi lâu dài, công đức của chúng ta không nhỏ.
<SPAN style="FONT-SIZE: 10pt; FONT-FAMILY: Verdana; mso-bidi-font-size: 12.0pt">Công đức nào cũng đều được thực hiện bằng dũng lực. Không có dũng lực, không có tác thành công đức. Người dám san sẻ tài sản, người kiên trì giữ gìn lời hứa, đều là những người có nhiều dũng lực.
tranngocai
14-01-2005, 07:08 PM
4 – SỐNG KHẮC KHỔ HÀ TIỆN:
(Trích Tương ưng bộ kinh 1 tr 110) Rồi vua Pasenadi nước Kosala, giữa trưa đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với vua Pasenadi nước Kosala đang ngồi một bên.
– "Này Đại Vương, Đại Vương đi đâu giữa trưa thế này?"
– "Ở đây, bạch Thế Tôn có triệu phú gia chủ ở Sàvathi bị mệnh chung và con đến để xem tài sản của vị không có con (thừa tự) ấy được chở vào nội thành. Bạch Thế Tôn, có đến tám triệu đồng tiền vàng, không nói đến tiền bằng bạc. Bạch Thế Tôn, tuy vậy đồ ăn của vị gia chủ ấy lại chỉ gồm có cháo tấm chua ngày hôm qua để lại. Còn vải mặc chỉ mang vải gai may thành ba tấm. Còn xe thì đi xe nhỏ cũ kỷ và hư nát, có gắn tán che bằng lá".
– "Thật như vậy. Này Đại Vương! Thật như vậy, này Đại Vương, vị triệu phú gia chủ ấy thuở xưa đã bố thí thức ăn khất thực cho một vị Bích Chi Phật tên là Tayarasikkhi. Vị ấy nói:"Hãy bố thí cho vị Sa Môn", nói xong vị ấy từ chỗ ngồi đứng dậy rồi bỏ đi. Nhưng sau đấy, vị ấy tiếc rẻ nói rằng: "Tốt hơn, thức ăn này dành cho người phục dịch hay làm công" và hơn nữa, vị ấy đoạt mạng sống đứa con độc nhất của người anh vì tài sản của nó"
"Này Đại Vương, vì người triệu phú gia chủ ấy có bố thí đồ ăn khất thực cho vị Độc Giác Phật tên là Tayarasikkhi. Do kết quả hành động ấy, vị ấy sinh bảy lần lên thiện thú thiên giới. Do kết quả dư hưởng còn lại, vị ấy được làm nhà triệu phú bảy lần ở tại Sàvathi này".
"Này Đại Vương, vì người triệu phú gia chủ ấy sau khi bố thí, về sau lại tiếc rẻ nói rằng:"Tốt hơn thức ăn này để dành cho những người làm công phục dịch". Do kết quả của tác ý tiếc rẻ đó, tâm nó hướng đến các món ăn, đồ mặt không được tốt đẹp, tâm nó hướng đến các xe cộ, về sự thọ hưởng năm dục không được tốt đẹp.
"Này Đại Vương, vì người triệu phú gia chủ ấy đoạt mạng sống người con độc nhất của người anh để dành tài sản. Do kết quả của hành động ấy, nó bị nung ở địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều trăm ngàn năm. Do kết quả dư hưởng còn lại, gia tài không con thừa tự, bảy lần phải nhập vào công khố của vua. Này Đại Vương, đối với người triệu phú gia chủ này, các công đức cũ bị đoạn diệt và công đức mới chưa được cất chứa thêm. Và nay, này Đại Vương người triệu phú gia chủ đang bị nung nấu trong địa ngục Mahàsoruva".
– "Bạch Thế Tôn, như vậy người triệu phú gia chủ đã sanh vào địa ngục Mahàsoruva?"
– "Này Đại Vương, đúng như vậy, người triệu phú gia chủ ấy đã sanh vào địa ngục Mahàsoruva!".
"Lúa, tài sản, vàng bạc,
Hay mọi vật sở hữu.
Nô Tỳ và lao công
Các mạng sống tùy thuộc.
Tất cả nó phải đi
Không đem theo được ai
Tất cả phải bỏ lại
Khi nó đi một mình"
"Chỉ có các hành động
Về thân, miệng và ý
Mới thật thuộc của nó
Như bóng không rời hình
"Do vậy hãy làm lành
Tích lũy cho đời sau
Công đức cho đời sau
làm hậu cứ cho người"
tranngocai
14-01-2005, 07:09 PM
NHẬN XÉT:
Câu chuyện Nghiệp báo này có nhiều điểm đáng chú ý.
Một sự cúng dường vật thực cho một vị giải thoát đem đến phước báo quá lớn lao, bảy lần sinh lên cõi trời, bảy lần sinh vào cõi người làm kẻ giàu có.
Hai, tâm tiếc rẻ là nhân để kết thành nhân hà tiện ở đời sau.
Ba, phá hoại sự thừa tự của người khác nên tài sản chính mình không có người thừa tự.
Bốn, giết người phải đọa địa ngục.
Năm, không tích lũy thêm công đức là điều nguy hiểm.
tranngocai
14-01-2005, 07:11 PM
Chúng ta phân tích trở lại từng vấn đề.
Tại sao cúng dường cho bậc Thánh giải thoát lại được phước báo quá lớn lao như vậy! Quả báo đợi chờ cho chúng ta tùy thuộc vào phúc lạc mà chúng ta đã đem đến cho người. Chúng ta bố thí vật thực cho một phàm phu sống qua một ngày. Nhưng một ngày của kẻ phàm phu là một ngày tham lam, thù hận, một ngày khổ sướng buồn vui. Vì phúc lạc của họ quá ít ỏi nên quả báo dành cho người bố thí cũng hạn chế.
Ngược lại, một bữa ăn dành cho bậc đạt đạo sống qua một ngày thênh thang phúc lạc một ngày bát ngát trí tuệ từ bi, nên quả báo trở lại cho người thí chủ cũng là vô biên vô lượng.
Tôi đặt vấn đề này để những người thọ thí hãy cố gắng tu hành đắc lực cho thí chủ được nhiều phước báo chứ không phải nói cho người bố thí chỉ lựa người tu hành mà bỏ qua những chúng sinh khốn khổ chung quanh. Người bố thí chỉ nên vì từ bi mà bố thí, đừng bố thí bằng cách lựa chọn để mong cầu phước báo cho mình. Được sự hướng dẫn của từ bi, sự bố thí đó không còn phân biệt, không phải là việc kinh doanh phước báo cho mình. Từ bi là nguồn mạch của công đức, thế nên chúng ta hãy san sẽ tài vật trong ưu ái thương yêu đối với mọi người. Những bậc Thánh giải thoát thường giấu mình trong một hình thức tầm thường giản dị. Trong những người tầm thường giản dị mà chúng ta đã gặp gỡ bố thí, biết đâu cũng có người phi phàm vượt thế. Chỉ một lần dâng tặng đến người như thế, phúc lạc chờ đợi cho chúng ta là vô hạn ở mai sau.
tranngocai
14-01-2005, 07:13 PM
Tâm tiếc rẻ tức là không muốn cho kẻ khác được thọ hưởng tài vật. Kết quả của nó là người đó sẽ tự mình không muốn mình được thọ hưởng tài vật, tự mình khắc nghiệt hạn chế với mình. Chúng ta cũng dễ thấy điều này trong đời sống, khi người nào bỏn xẻn không muốn kẻ khác dùng một bữa cơm trong nhà mình, đến khi lỡ đường gặp bữa, họ rất ngượng ngùng áy náy bất an khi phải dùng cơm nơi nhà kẻ khác. Ngược lại, người hào phóng rộng rãi ân cần tiếp đón chiêu đãi tân khách, đến khi gặp bữõa chỗ lạ, họ vẫn dùng một cách tự nhiên thoải mái. Tâm tiếc rẻ của người triệu phú gia chủ đã biến thành tâm hà tiện để đày đọa ông qua nhiều đời mệt mỏi vất vả, tuy giàu mà sống lam lũ như người nghèo. Chúng ta khắc nghiệt với chính mình vì chúng ta đã khắc nghiệt với mọi người. Chúng ta phải xóa sạch tâm tiếc rẻ và tâm hà tiện để nơi cuộc sống này chúng ta không làm khổ mình và không làm khổ người. Tuy nhiên, tâm tiếc rẻ và ý thức tiết kiệm khác nhau rất xa dù hai trạng thái mơ hồ tương tự. Tâm tiếc rẻ là không muốn cho người khác được thọ hưởng tài vật.
tranngocai
14-01-2005, 07:14 PM
Tâm tiết kiệm là không muốn cho tài vật bị hư hao vô cớ, chỉ nên để cho người thọ hưởng. Ví dụ, một người cúi xuống nhặt lấy từng chiếc đinh rơi vãi trên đất, nhưng sẵn sàng bố thí cả nghìn đồng cho kẻ khác khó khăn. Người này tiết kiệm nhưng quảng đại, không phải là kẻ hà tiện hẹp hòi.
Còn một người ky cõm từng chút không muốn mất một chút gì với ai, đó là người bỏn xẻn hà tiện. Hà tiện, hoặc bố thí mà tiếc rẻ là nhân đưa đến đau khổ. Tiết kiệm và rộng lượng là nhân đưa đến an vui. Tuy nhiên, chúng ta phải tinh tế để đừng tự lừa dối chính mình, đừng giữ tâm hà tiện mà lại cho là tiết kiệm, cũng đừng phung phí mà lại tự cho là rộng rãi. Phung phí là tiêu xài tài vật không đúng cách, không hợp lý, là một bất thiện nghiệp chứ không phải là thiện nghiệp. Ví dụ có một số tiền cần để xây dựng lại nhà ở cho thân quyến, nhưng chúng ta đem đổ vào một cuộc vui tạm thời. Như thế là phung phí không hợp lý chứ không phải rộng lượng. Tặng kẻ đánh bạc vài nghìn đồng là phung phí, trong khi tặng người đói rách số tiền ấy là rộng lượng. Biếu vài lít rượu, đãi một tiệc nhậu say sưa là hành vi phung phí tội lỗi trong khi có nhiều người thiếu thốn khác cần cơm gạo để đi qua một ngày đói kém. Chúng ta phải bỏ đi tâm hà tiện, nhưng cũng đừng phung phí, phải cân nhắc cẩn thận khi sử dụng tài vật sở hữu của mình.
tranngocai
14-01-2005, 07:15 PM
Người gia chủ đã giết con của anh mình để đoạt lấy tài sản, vừa giết người vừa cướp của. Ông ta đã đền trả tội lỗi ấy bằng nhiều năm ở địa ngục, nhưng chút nghiệp thừa rơi rớt cũng đủ khiến cho ông không bao giờ có con để thừa tự tài sản, nỗi đau khổ ghê gớm của những người giàu có! Những vì vua không con nối ngôi cũng được liệt vào loại Nghiệp báo tương tự. Tuy nhiên quan niệm này cũng không thể nhìn một chiều. Người Trung Hoa đã từng quan niệm đông con là có phước. Họ đã vẽ ba ông già Phước Lộc Thọ làm biểu tượng cho ba niềm sung sướng của họ, trong đó ông già Phước bồng bế nhiều đứa con trai. Quan niệm này đã khiến người Trung Hoa tăng vọt dân số khủng khiếp và đã khiến giới lãnh đạo phải bận tâm rất nhiều. Chiến thuật biển người dùng trong chiến tranh cũng là một lối giải quyết bi đát. Lại những gia đình đông con thường là những gia đình nghèo khó, không có vốn liếng tích lũy, vì phải giải quyết cơm ăn áo mặc hàng ngày. Đối với người giàu có, đông con cũng là một vấn đề phức tạp khi phải chia xẻ gia tài. Không người thừa tự tài sản là nỗi đau khổ của người ích kỷ, nhưng đông con cũng là nỗi lo lắng của mọi người. Thế gian vốn mâu thuẫn và không hoàn hảo như vậy.
Giết vài con vật nhỏ đưa đến quả báo đứt tay trầy chân hoặc bệnh hoạn vài trận. Giết thú lớn đưa đến quả báo tai nạn và bệnh hoạn nặng nề hơn nhiều. Còn giết rất nhiều thú vật mỗi ngày để kinh doanh thì không tránh khỏi quả báo địa ngục. Tuy nhiên, giết thú không nặng tội bằng giết người. Giết người để tranh đoạt tài sản đã đưa ông gia chủ chịu hình phạt ở địa ngục nhiều nghìn năm. Chúng ta không so sánh những trường hợp phải giết người trong một cuộc chiến đấu giữ gìn bờ cõi. Ở đây chúng ta chỉ đề cập đến trường hợp giết người vì ác tâm và những mục đích vị kỷ. Tội lỗi của hành vi này rất là nặng nề nghiêm trọng. Bản chất của chúng sinh, dù loài nào cũng đều ham sống sợ chết. Người tự tử cũng là người ham sống, họ tìm cái chết để tránh một cuộc sống quá đau khổ tuyệt vọng. Giết hại chúng sinh tức là gây cho chúng sinh một sự đau đớn về thân và một sự tuyệt vọng khi lòng ham sống bị xâm phạm. Hơn nữa, cái chết của một chúng sinh luôn luôn đồng nghĩa với sự biệt ly thân quyến. Một người cha mất đi cũng có nghĩa là vợ con ở lại rơi vào túng quẩn nghèo đói. Một người mẹ mất đi cũng có nghĩa là những đứa con còn lại sắp phải chịu cảnh mẹ kế con chồng, thảm kịch muôn đời của nhân loại.
tranngocai
14-01-2005, 07:16 PM
Những kẻ quen tay giết hại thú vật nhỏ sẽ dễ dàng giết hại thú vật lớn, và kẻ quen tay giết hại thú vật lớn sẽ dễ dàng giết hại con người. Thế nên đểå ngăn chận nghiệp giết người từ ban đầu, chúng ta phải dè dặt đừng xâm phạm tính mạng từng sinh vật nhỏ, quí trọng sự sống của mọi loài nhỏ nhít.
Trong đời sống thường ngày, chúng ta cũng thường gặp những kẻ giàu sang dư dả, nhưng họ chỉ hưởng thụ qua một đời vô vị mà không biết tạo tác tích lũy thêm căn lành cho đời sau. Những nghiệp thân khẩu ý hàng ngày, dù ít hay nhiều, cũng đều trở thành bất thiện nghiệp. Nói một lời hằn hộc, bực tức một điều gì cũng đều là những bất thiện nghiệp nho nhỏ chất chứa dần dần theo năm tháng. Nếu không có những thiện nghiệp lớn lao để hóa giải, chắc chắn bỏ thân này, chúng ta sẽ đi về một đời sống thấp kém khổ sở hơn. Ông triệu phú gia chủ không tích lũy thêm thiện nghiệp, ôm giữ ba nghiệp theo sự chi phối của tâm hà tiện bỏn xẻn, và kết quả là bị nung nấu ở địa ngục Mahàsoruva.
tranngocai
14-01-2005, 07:37 PM
5 – PHÓNG SANH:
Chuyện này được anh Trực Trí kể lại.
Anh là thầy thuốc đông y khá kinh nghiệm được giới thiệu đến một bà Thiên Chúa Giáo mang bệnh ung thư. Bệnh ung thư là một trong bốn chứng nan y của y thuật Trung Hoa. Bà bị mất ngủ liên tục và cơn đau đớn dày vò thân thể cả ngày đêm. Sau khi xem mạch để đánh giá bệnh tình anh dặn bà mua một số chim, cá, ốc, tất cả đều phải còn sống.
Bà ngạc nhiên hỏi:
– Tôi nghe nói thầy ăn chay trường, tại sao lại dùng những con vật đó làm thuốc.
– Bà cứ mua về rồi biết.
Khi đã mua về, anh bảo bà tự tay thả từng con chim lên trời, ốc thả xuống sông, và cùng với lời cầu nguyện hồi hướng công đức để giải trừ căn bệnh. Sau đợt phóng sanh đầu tiên bà bắt đầu ngủ được. Bà phấn khởi tiếp tục phóng sanh song song với uống thuốc thang do anh Trực Trí bốc, và cơn bệnh giảm dần.
tranngocai
14-01-2005, 07:38 PM
NHẬN XÉT:
Câu chuyện nhỏ này không nói hết những kết quả tốt đẹp mà công đức phóng sanh đem đến cho những người thực hiện. Có rất nhiều người thực hiện công đức phóng sanh và đã cảm ứng được những kết quả phi thường. Do nghiệp sát sanh nên cảm quả báo bệnh hoạn, thì cũng do nghiệp phóng sanh để hóa giải bệnh hoạn. Điều này dễ hiểu, tuy nhiên những quả báo phụ bên cạnh quả báo hết bệnh đóù là sự giàu có. Thường khi muốn thực hiện việc phóng sanh, người ấy phải dùng tiền mua chuộc sinh mạng của thú vật sắp bị giết thịt để đem thả. Tiêu tiền cho việc từ thiện thì tiền bạc sẽ được sung mãn trở lại, đó là điều tất nhiên. Giải phóng những thú vật bị giam cầm trong lồng chậu cũng hóa giải được nghiệp tù đày một phần. Có những người không có ác tâm, hiền lành, nhưng cũng có khi bị lưu giữ tù túng vì một lý do nào đó. Quả báo lúc này có thể xuất phát từ nghiệp hay nuôi chim trong lồng, nuôi cá trong chậu. Phóng sinh có nghĩa là cứu mạng cũng có nghĩa là trả lại tự do. Hai ý nghĩa này sẽ trở thành hai quả báo là mạng sống vững chắc và đời sống tự do.
Trong lời nói của dân gian Việt Nam có thành ngữ "mạng lớn" là người thoát chết từ những tai nạn hiểm nghèo. Chiếc xe khách lật bên đường, hầu hết hành khàch đều bị tai nạn, duy có một người không chút hề hấn. Ông bà ta gọi người này "mạng lớn". Em tôi thuở mới lên 7 tuổi đã từng rớt từ độ cao bốn mét xuống nền xi măng. Sau khi đến bệnh viện khám xét, em tôi không bị một chút nội thương hay xây xát bên ngoài nào cả. Những sự thoát nạn lạ lùng này xuất phát từ công đức phóng sanh trong quá khứ.
Tương tự như vấn đề mạng sống, có những người được trả tự do trong hoàn cảnh ngặt nghèo đáng lẽ phải bị giam cầm bắt bớ. Sự may mắn không thể suy luận được này cũng đều là quả báo của công đức phóng sanh.
Lại nữa, sát sanh là nguyên nhân của chiến tranh tàn phá. Con người giết thú vật một cách si mê, đâu biết rằng niềm oán hận khó thể nào xóa bỏ. Đến khi thú hết tội thành người đó là lúc ân đền oán trả. Có những cuộc chiến tranh kỳ lạ, hai bên giết nhau như điên dại mà không bên nào có chính nghĩa. Những nhân vật lãnh tụ vừa thiên tài, vừa tham vọng đã xua quân đánh chiếm khắp nơi. Họ như là một trợ duyên trong hiện tại để con người trả thù với nhau, giải quyết nợ máu với nhau từ nhiều kiếp. Những người yêu chuộng hòa bình đã đấu tranh, đã kêu gọi. Người ta đã tốn khá nhiều thì giờ và bút mực để bàn luận những phương hướng tìm kiếm hòa bình. Nhưng cái gốc của chiến tranh chính là nghiệp sát sanh thì không ai đề cập đến. Ngày nào con người còn giết hại thú vật ngày đó còn những người mẹ gạt nước mắt tiễn con đi về chiến tuyến, còn những người vợ khóc lóc nghe tin chồng tử trận, còn những đứa con bơ vơ không biết cha là người nào... Chiến tranh không bao giờ được giải quyết ổn thỏa khi con người còn tạo nghiệp sát sinh, chỉ có dừng tay giết hại, chỉ có công đức phóng sanh mới là nền tảng chân thật của hòa bình thế giới.
Người không có nghiệp sát sanh và thường hay phóng sanh sẽ được sống đời an ổn ở những vùng đất hòa bình. Có khi vì cộng nghiệp, họ cũng sinh trong một đất nước chiến tranh khói lửa, nhưng riêng khu vực họ cư ngụ, đại bác ít khi vang tiếng vọng về.
tranngocai
14-01-2005, 07:39 PM
6 – KHÔNG CỐ Ý:
(Chúng tôi nghe câu chuyện này từ thầy Thông Pháp kể về một vùng quê ở Mỹ Luông, cách đây hơn ba mươi năm)
Tiếng la thất thanh của ông Ba làm người trong làng choàng tỉnh. Tiếng gà gáy canh cuối, mặt trời còn yên ngủ ở cuối trời.
– "Có ai mất đứa con nhỏ nào không, tôi thấy một ông già khăn đỏ bắt một đứa nhỏ đi về hướng Long Xuyên.
Dân làng lao xao bàn bạc. Chợt có hai vợ chồng chạy đến nhận rằng có đứa con trai vắng nhà từ chiều qua chưa thấy về. Theo hướng ông Ba chỉ, họ nhờ nhiều ngưôøi đi tìm phụ.
Nhưng chuyện đó chìm dần vào quên lãng và hai vợ chồng kia vĩnh viễn mất đứa con trai. Riêng ông Ba từ đó đổi tính hiền lành, ít nói, về nhà lập một bàn thờ. Mỗi khi ăn cơm ông xới thêm một chén cơm để lên bàn thờ và khấn vái lâm râm. Bà Ba có hỏi liền bị ông gạt phắt đi.
Ông có trồng một đám mía. Đến mùa mía chín, lũ trẻ và heo của hàng xóm hay đến phá phách. Ông rất bực mình vì phải canh giữ. Một hôm ông đuổi con heo đang phá mía và theo nó về đến nhà chủ của nó. Khi được ông ôn tồn nói sự phá phách của con heo, cô chủ ong ỏng chối ngang và thách ông có đập chết con heo tại chỗ cô mới chịu nhận heo mình có phá mía. Ông đuối lý và căm giận vô cùng, quyết tâm bắt con heo làm tang chứng để mắng con mụ đó một trận. Ông mài cây xà búp (giống như cây giáo mũi nhọn) cầm theo để rình rập. Ông bò lết qua lại trong đám mía đến nổi hai khủy tay thành chai cứng. Và rồi cái gì ông mong đợi đã tới. Khi trời vừa sụp tối, ông thấy bóng "con heo" đang sột soạt nơi hàng mía bên kia. Ông rón rén bò lại gần và phóng mạnh cây xà búp. "Con heo" ngã lăn ra kêu không thành tiếng, chỉ phát ra tiếng khèn khẹt. Ông mừng rỡ chạy vội lại và thất kinh hồn vía. Thằng nhỏ giãy giụa với cây xà búp ghim ngay bụng. Ông cuống cuồng không biết tính sao. Rút mũi xà búp ra là đổ ruột liền, mà đem ra là đi tù chớ chẳng chơi. Ông do dự mãi mà không biết cách nào giải quyết. Đến khi gà gáy canh tư, ông đào lỗ chôn thằng bé trong đám mía, phi tang mọi dấu vết và về làng la lên đổ thừa cho ông già khăn đỏ.
Từ đó ông hối hận vô cùng, mỗi bữa ăn đều cúng cơm cho hương hồn thắng bé và nói lên sự vô tình và ân hận của mình. Khi phải đi đâu vắng ông dặn bà Ba cúng chén cơm không để gián đoạn bữa nào. Thời gian thắm thoát qua ba năm, một đêm ông nằm mộng, thấy đứa bé đến gọi, ông giật mình mở mắt, không thấy điều gì, lại nhắm mắt ngủ tiếp như vậy đến ba lần. Đứa bé lại đến gọi và nói:
"Ba năm qua tôi biết rõ lòng ông, không phải ông cố ý giết tôi, nên tôi không oán giận gì với ông cả. Tôi sắp đầu thai làm con của gia đình gần đây, cách nhà ông sáu căn về phía dưới. Ngày mai ông có nghe gia đình đó sinh con, thì tức là tôi, dưới bụng còn dấu dao cũ. Tôi báo cho ông biết để ông đừng cúng cơm cho tôi nữa".
Ông Ba giật mình tỉnh giấc và thức mãi không ngủ được. Sáng ngày ông nghe ngóng và biết có gia đình cách nhà ông sáu căn vừa sinh đứa con trai. Đến chiều, ông đem quà đến thăm và đến tận buồng vạch bụng xem quả nhiên có dấu thẹo mờ mờ. Từ đó ông cứ đến viếng thăm đứa bé đó luôn. Mỗi khi đi chợ về ngang thì không kẹo cũng bánh đem cho thằng bé. Mối thâm tình của ông và thằng bé đầm ấm mãi. Cha mẹ thằng bé mặc nhiên xem ông như một người thân thiết và đỡ đầu cho thằng bé. Niềm hối hận bao nhiêu năm được đền trả trong từng hộp sữa, từng chiếc bánh, từng cái nâng niu của ông dành cho thằng bé.
Bây giờ thì thằng bé đã được tám tuổi rồi. Một hôm ông đem quà đến thăm nhằm lúc cha mẹ nó đi vắng. Đứa bé ôm ông thưa:"Ông thương con quá mà con không biết làm sao trả hiếu cho ông".
Ông Ba âu yếm nói:
"Con muốn trả hiếu cho ông hả? Kìa, có trái đu đủ chín ngoài cây kìa, con hái đãi ông đi!" Đứa bé mừng rỡ nhìn trái đu đủ cao hơn tầm tay với và băn khoăn không biết hái cách nào. Ông bảo nó lấy cây dao mác ra mà chặt, nó vâng lời lấy cây dao mác ra, mà vẫn với không tới. Ông Ba đến gốc cây cõng nó lên muốn nó tự tay hái đãi ông. Thằng bé thích thú cười dang tay quơ cây mát đứt cuống trái đu đủ, nhưng khi trái đu đủ rớt tới đất thì lưỡi mác mất đà rơi xuống ghim sâu vào bụng ông Ba. Ông ngã lăn ra kêu không thành tiếng, chỉ phát thành tiếng khèn khẹt mà thôi. Dĩ nhiên ông được đưa về nhà, chịu đựng tình trạng đó hơn một ngày đêm và từ chối mọi sự chữa trị. Qua một ngày ông bỗng tỉnh táo lạ thường và nói trở lại được. Ông cho người nhà đi tìm gọi hai vợ chồng mất đứa con hơn mười năm trước, gọi cha mẹ thằng bé đến, và trước mặt đông đủ con cháu, mọi người ông kể lại câu chuyện đã bị giữ kín hơn mười năm qua. Ông dặn gia đình không được làm khó thằng bé và cha mẹ nó, vì đây là nghiệp quả mà ông phải trả. Ông bảo con cháu lấy kinh Nhân Quả đọc cho ông nghe. Sau đó ông trút hơi thở cuối cùng.
tranngocai
14-01-2005, 07:41 PM
NHẬN XÉT:
Luận Nhân Quả rất là công bình và khách quan. Tuy ông lão không cố ý giết người, không ác tâm giết người, nhưng dưới tay ông một đứa bé phải chết dần trong đau đớn. Quả báo đã trở lại với ông trong một trạng huống tương tự. Lưỡi dao nơi tay thằng bé đã cắm vào bụng ông khi mà ông và thằng bé đang thương quý nhau rất mực. Lòng hối hận và những chén cơm cúng vái đã xóa được nỗi hận thù với nhau, hơn nữa, còn kết chặt tình thân ái giữa ông và thằng bé trong vòng luân hồi vô tận này. Phước của sự sám hối đã khiến ông tỉnh táo trở lại trong những giờ phút cuối cùng để nói lên sự thật.
Sở dĩ có xảy ra tình trạng không cố ý giết người vì trước đó ông đã nung nấu cố tâm giết con heo. Tác ý bất thiện này đã gây ra nỗi bất an cho ông suốt mười mấy năm và chấm dứt bằng cái chết bi thảm. Nói là không cố ý, nhưng thật ra đã có cái cố ý giết con heo kia rồi. Tác ý bất thiện nào được nuôi nấng mãi cũng có ngày kết thành quả báo đau khổ. Thế nên, bước đầu trong sự tu hành, sư phụ chúng tôi thường dạy hàng cư sĩ tại gia kiểm soát xem tư tưởng của mình là thiện hay ác, nếu ác thì phải đình chỉ lập tức và thiện thì được tiếp tục. Trước khi làm chủ tâm trong định, chúng ta tập làm chủ tâm trong thiện niệm. Thiện niệm nào được nuôi nấng mãi mãi cũng có ngày trổ quả an vui.
Trong đời sống chúng ta dễ gây nghiệp vô ý rất nhiều. Chúng ta xịt thuốc trị sâu rầy cho lúa, nhưng những ốc, tép, cá con, cả những vi sinh vật trong ruộng cũng đều bị tác hại. Người thợ làm bình accu để hơi acid bay sang các nhà lân cận làm cho nhiều người nhuốm bệnh. Đoàn văn nghệ về làng trình diễn xôn xao làm ảnh hưởng công phu tu tập của các sư trong chùa. Sự phá rừng lấy củi làm nước lũ kéo mạnh làm ngập lụt xóm làng. Phim ảnh tàn bạo gây thêm thú tính cho người xem. Tài vật quý giá để lộ liễu khiến lòng tham lam của người khác bị kích thích.v.v... Vô số những hậu quả tai hại của việc làm chúng ta mà chúng ta không lường trước nên không phải cố tâm. Những tác hại không cố ý đó đều có quả báo của nó. Gọi là không có tâm vì chúng ta si mê không đủ trí tuệ để thấy trước ảnh hưởng việc làm của mình. Nếu đủ trí tuệ, chúng ta có thể lường trước những ảnh hưởng phụ phía sau công việc của mình. Khi đã gây ra tác hại, quả báo chắc chắn phải đến.
Một người tiều phu quê mùa thản nhiên đốn những gốc cây lấy củi để kiếm sống, nhưng những nhà sinh thái học hết sức lo lắng về việc này. Một nhà máy hóa chất thải ra cống những cặn bã độc hại, những môi trường sống của sinh vật bị ô nhiễm và những trận mưa acid xói mòn nhà cửa, phá hoại hoa màu của nông dân. Cũng rất cần kiến thức khoa học để biết rõ những tác hại phía sau việc làm của mình.
tranngocai
14-01-2005, 07:45 PM
Trên đây là những bất thiện nghiệp không cố ý. Quả báo của nó là đời sau người này rất Đạo Đức nhưng lại nghèo khổ khó khăn bệnh hoạn. Không ác tâm tạo nghiệp nên họ vẫn còn bản chất hiền lành, nhưng nghiệp vô tình đã gây vẫn làm họ vô cùng khốn đốn. Ngược lại có những thiện nghiệp không cố ý cũng đem đến quả báo công bằng. Vì tuân lệnh cấp trên người nhân viên thừa hành phải ngày đêm xây dựng cây cầu to nối liền hai bên bờ sông rộng. Người thực hiện điều này có khi là một kẻ bợm nhậu, chưởi thề bum thiên, thô bạo lỗ mãng, nhưng khi xây dựng xong chiếc cầu vĩ đại này, y đủ phước để làm người giàu có trong nhiều đời sau nữa. Bản chất dữ tợn thô lỗ nhậu nhẹt vẫn còn đeo đuổi y đến đời sau, nhưng y vẫn là một kẻ nhà cao cửa rộng, xe cộ xênh xang.
tranngocai
14-01-2005, 07:48 PM
7 – ĐỒ TỂ:
(Trích Tương Ưng Bộ Kinh II, tr 2đ4) (viết lược)
Tôn Giả Lakkhana và Tôn Giả Mahà Moggallanà trú ở Gijjhakuta (Linh Thứu). Một buổi sáng hai vị vào thành đi khất thực. Trên đường đi chợt Tôn Giả Mahà Moggallàna mỉm cười.
"Này hiền giả Moggallàna, do nhân duyên gì hiền giả lại mỉm cười!"
"Này hiền giả Lakkhana, không phải thời để hỏi câu ấy. Trước mặt Thế Tôn hãy hỏi tôi câu ấy.
Sau khi khất thực và thọ thực xong, hai vị đi đến Thế Tôn, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Tôn Giả Lakkhana lập lại câu hỏi và Tôn Giả Mahà Moggallàna đáp:
"Ở đây, này hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakuta bước xuống, tôi thấy một bộ xương đang đi trên trời. Các con kên kên, các con quạ, các con chim ưng đuổi theo cắn mổ xương sườn nó, rứt xé nó, và nó kêu lên những tiếng kêu đau đớn".
"Này hiên giả, tôi suy nghĩ như sau, thật kỳ lạ thay! thật kỳ lạ thay! Một kẻ có tên như vậy lại trở thành một chúng sinh như vậy, một dạ xoa như vậy, một tự ngã như vậy".
Rồi Thế Tôn gọi các Tỳ Kheo:
" Này các Tỳ Kheo, sống với như thật nhãn, như thật trí (mới xứng đáng) là các đệ tử (của ta), vì một đệ tử (xứng đáng) sẽ biết, sẽ thấy, sẽ chứng thật như vậy!
"Xưa kia, này các Tỳ Kheo, ta đã thấy chúng sinh ấy, nhưng ta không có nói. Nếu ta có nói, các người khác cũng không tin ta. Và những ai không tin ta, những người ấy sẽ bị bất hạnh, đau khổ lâu dài.
"Chúng sinh ấy, này các Tỳ Kheo. Là một đồ tể giết trâu bò ở Rajagaha (Vương Xá) này. Do nghiệp của nó thuần thục, sau khi bị nung nấu trong địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều nghìn năm, và với quả dư tàn còn lại, nó cảm thọ một tự ngã như vậy".
tranngocai
14-01-2005, 07:49 PM
NHẬN XÉT:
Một dạ xoa ngạ quỷ cảm báo thân như bộ xương, bị các loài chim bay theo cắn phá chỉ được trông thấy bởi đạo nhãn của Ngài Mục Kiền Liên mà người khác không thấy. Có những cõi giới gần gũi chúng ta nhưng chúng ta vẫn không hay biết bằng mắt thịt. Chính vì sự kiện khá huyền hoặc này mà Phật không nói cho mọi người biết vì họ sẽ nghi ngờ. Khoa học hiện nay chỉ khảo sát được cõi không gian thô thiển trước mắt. Họ cũng muốn chứng minh sự hiện hữu của các cõi không gian khác mà họ gọi là không gian bốn chiều, không gian bội chiều... Tuy nhiên họ không ngờ các cõi không gian được sắp xếp theo chiều sâu của tâm, khi tâm vào định càng sâu thì những cõi không gian khác dần dần bày hiện. Khoa học không để ý khía cạnh này nên mãi mãi họ không thể khám phá thêm một cõi không gian nào khác. Nghe nói địa ngục ở dưới lòng đất, trong hang núi thẳm, họ khoan đất, dò núi. Nhưng mũi khoan không thọc vào được cõi không gian khác. Nghe nói cõi trời ở trên mây cao, họ phóng máy bay và tên lửa thám hiểm. Nhưng máy bay không bay tới cõi không gian khác. Chỉ có tâm ở trong định sâu thẳm mới có thể chạm đến các cõi không gian khác mà thôi.
Hòa Thượng Thiền Tâm có kể một câu chuyện tương tự ở miền tây. Có lũ trẻ chăn trâu, lùa trâu về ngang qua bờ đất, chợt một đứa trong đám ngã lăn ra giãy giụa la hét thảm thiết. Những đứa khác sợ hãi chạy đến giữ tay chân nó lại, nhưng nó vẫn vùng vẫy gào thét dữ dội. Qua một lúc lâu thì nó mệt lả và thôi làm dữ, nhưng khắp người có nhiều vết cháy xém. Khi được hỏi nguyên do, nó kể rằng khi đến bờ đất, chợt nó thấy hiện ra một cổng thành lớn bên trong lửa cháy rừng rực. Nó bỗng cảm thấy kinh hoàng tột độ. Nhưng liền khi đó như có sức mạnh vô hình cuốn hút nó bay vào trong để bị thiêu đốt đau đớn vô cùng. Và bây giờ thì thành lửa đã biến mất, mọi chuyện trở lại bình thường với cái bờ đất, cánh đồng, đàn trâu và lũ bạn, nhưng da thịt còn vết cháy xém và nỗi sợ hãi còn đề lại dư âm.
Đây là trường hợp thằng bé còn dư báo ở địa ngục chưa hết, đã đến lúc phải trả nốt nghiệp còn lại nên y báo hiện ra cảnh hỏa ngục thiêu đốt. Vì nghiệp riêng nên chỉ nó mới thấy cảnh giới địa ngục, một cõi không gian khác, mà không đứa nào đứng gần cùng thấy. Những cảnh lạ như cái thành lửa, nó bị cuốn bay vào trong, lửa thiêu đốt thân thể đã hiện ra và biến mất như một ảo ảnh. Nhưng cũng còn để lại các vết cháy xém làm chứng cứ. Dĩ nhiên cái thành lửa rất lớn, nhưng dù bạn nó đứng gần vẫn không đứa nào cảm nghe nóng cháy. Chỉ nó, với biệt nghiệp, đã cảm thọ một khổ hình đau đớn. Những cõi không gian khác không xa với chúng ta theo chiều dài toán học, nhưng rất xa với chúng ta theo chiều dài tâm linh. Chỉ khi nào khoa học mở cửa đi theo chiều dài tâm linh này, họ mới có thể khám phá những chân trời vũ trụ mới lạ khác. Còn cõi không gian thô thiển trước mắt nào giờ không phải là cõi không gian duy nhất của vũ trụ. Con ếch ngồi đáy giếng suốt đời không biết chim kêu hoa nở. Con cá bơi trong nước suốt đời không biết xe chạy người đi. Chúng ta bị giam suốt đời trong cõi không gian này, không biết những cảnh giới của cõi không gian khác.
tranngocai
14-01-2005, 07:52 PM
Với đạo nhãn thuần tịnh siêu nhân, Tôn Giả Mục Kiền Liên trông thấy ở cõi không gian khác rất gần chúng ta, một ngạ quỷ có thân hình chỉ là một bộ xương khô khan lại còn bị chim kên kên bay theo cắn phá làm đau đớn kêu la. Trước mặt Phật, Phật xác nhận chỗ thấy của Tôn Giả Mục Kiền Liên và còn giải thích thêm nguyên nhân của Nghiệp báo đó rằng, vì y đã từng làm đồ tể giết trâu bò ở thành Vương Xá này thuở xưa. Chúng sinh ấy đã phải trải qua thời gian dài chịu hình phạt ở địa ngục, sự đau khổ không biết là bao nhiêu, mà bây giờ quả dư tàn còn lại vẫn còn quá thê thảm. Người đồ tể giết thịt đã chịu một quả báo như thế, còn người dùng thịt thì sao?
Chính sự dùng thịt của người ăn mới thúc đẩy sự giết thịt của người đồ tể. Nếu mọi người chấm dứt thức ăn động vật thì những người đồ tể phải bỏ nghề. Như vậy sự dùng thịt của mọi người đã là cái nguyên nhân sâu xa ban đầu đưa đến tội lỗi giết thịt. Vì thế những người ăn huyết nhục mãi chắc chắn sẽ chịu đựng những đau khổ tương xứng. Nhân Quả khách quan rõ ràng là vậy chúng ta không thể lẫn tránh cách nào khác.
tranngocai
20-01-2005, 07:23 PM
Có một cõi địa ngục dành cho những kẻ tạo ác nghiệp quá đáng mà luật pháp thế gian không đề cập đến, không biết đến, không xử lý đến. Những kẻ giết người mà khéo phi tang chứng tích có thể thoát được luật pháp thế gian, nhưng hắn không thể nào thoát được luật Nhân Quả và hình phạt ở địa ngục. Những kẻ phạm tà dâm vô luân có thể thoát được sự phê phán chế tài của luật pháp thế gian, nhưng không thể thoát được sự trừng trị ở địa ngục. Những kẻ kinh doanh truyền bá sách báo dâm ô đồi trụy có thể đóng thuế đầy đủ và không bị phiền hà bởi luật pháp thế gian, nhưng sẽ bị xử lý bởi sự phán xét của địa ngục. Cũng vậy, những kẻ đồ tể suốt đời giết trâu bò lấy thịt đã đóng thuế đầy đủ cho quốc gia, có khi còn được khuyến khích tăng gia sản lượng, nhưng sự chờ đợi dành cho hắn là dao đâm lửa đốt nhiều nghìn năm ở địa ngục. Quả dư tàn còn lại là thân ngạ quỷ ghê gớm với những sự bức bách thống khổ thường xuyên. Có những điều vi diệu lạ thường được Phật biết rõ, nhưng không được Phật tuyên bố. Có hai lý do cho sự kiện này. Một, có khi những điều đó không cần thiết cho sự tu hành giải thoát. Hai, có khi nhiều người sẽ không tin lời chính Phật nói ra. Chính lý do thứ hai mới thực là hệ trọng. Một Đấng Giác Ngộ thì không còn gì để tự cao, nhưng trong khách quan Nhân Quả, Ngài vẫn biết kẻ bất tín với Ngài sẽ phải chịu nhiều bất hạnh lâu dài. Không tin Phật tức là không tin lời dạy của Phật. Không tin lời dạy của Phật tức là chỉ tin và làm theo những gì trái với Phật Pháp. Và sự thực hiện những hạnh nghiệp do tà kiến sẽ đưa đến khổ đau mà thôi!
tranngocai
20-01-2005, 07:25 PM
8– BỐ THÍ TRÂN TRỌNG:
(Trích Kinh Trường Bộ III, kinh Tệ Túc, tr 316)
Bài kinh khá dài, chúng tôi không có thì giờ trích lại toàn bộ bài kinh Tệ Túc, chỉ tóm tắt phần đầu và nhấn mạnh phần sau. Người đọc muốn nghiên cứu kỹ xin tìm đọc nguyên bản kinh Tệ Túc.
Vua Payàsi có tà kiến tin không có luân hồi, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo. Nghe tin Tôn Giả Kumàra Kassapa đến gần trú xứ, vua cùng tùy tùng đến tham vấn và đưa ra quan điểm của mình. Sự tranh biện lý luận qua lại rất là dài dòng và lý thú. Với nhiều luận cứ xác đáng và độc đáo, cuối cùng Tôn Giả Kumàra Kassapa chiết phục được vua Payàsi. Vua xin quy y và xin Tôn Giả hướng dẫn một cuộc tế đàn để bố thí rộng rãi cho mọi người thức ăn và quần áo. Tôn Giả căn dặn vua chớ có giết thịt một thú vật nào. Vua mở một cuộc thí đàn với những thức ăn bằng cháo, đồ phế thải, các loại vải thô xấu.
Có một thanh niên tên Uttàra, bị bỏ quên, đã nói lên lời ngạo sau khi thí đàn chấm dứt:
"Với cuộc bố thí này, tôi được gặp tôn chủ Payàsi trong đời này, nhưng không còn gặp lại trong đời sau."
Lời ngạo này đến tai vua Payàsi, vua vời Uttàra đến hỏi nguyên do của câu nói.
Uttàra đáp:
"Này tôn chủ, trong cuộc bố thí của Ngài, các món ăn như thế này được đem cho như cháo, đồ ăn phế thải. Các món này, Ngài không muốn lấy bàn chân đụng đến huống nữa là ăn. Vải thô xấu này Ngài không muốn lấy chân đụng đến huống nữa là mặc. Tôn chủ, Ngài là người thân và kính mến của chúng tôi. Như thế nào, chúng tôi có thể phối hợp cái gì thân yêu và kính mến với cái gì không thân yêu?"
"Vậy này thân hữu Uttàra, hãy đem phân phát các món ăn như tôi đã ăn, hãy phân phát các vải mặc như tôi đã mặc."
"Xin vâng, Tôn chủ"
Vì Tôn chủ Payàsi đã bố thí không được hoàn bị, vì đã bố thí không tự tay mình làm, vì đã bố thí không có suy tư, vì đã bố thí các đồ vật phế thải, sau khi thân hoại mạng chung được lên cõi trời Tứ Thiên Vương (tầng trời thấp nhất) trong cung điện trống không của Serisaka. Còn thanh niên Uttàra, bị bỏ quên trong cuộc bố thí này, vì đã bố thí một cách hoàn bị, vì đã bố thí tự tay mình làm, vì đã bố thí có suy tư, vì đã bố thí các đồ có giá trị, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, cõi trời Đế Thích.
tranngocai
20-01-2005, 07:26 PM
Lúc bấy giờ tôn giả Gavampati (Kiều Phạm Ba Đề, Ngưu chủ, vị thường ngụ ở cõi trời hơn ở nhân gian) hay đi nghỉ trưa ở cung điện trống không của Serisaka, thiên tử Payasi đi đón tôn giả Gavampati đảnh lễ ngài và đứng một bên.
"Hiền giả, ngươi là ai? " Tôn giả hỏi.
"Bạch tôn giả. Con là tôn chủ Payasi"
" Này hiền giả, có phải ngươi có tà kiến như sau; Không có luân hồi, không có các loại hóa sinh, hành vi thiện ác không có quả báo?"
"Bạch tôn giả, con có tà kiến như vậy, nhưng nhờ tôn giả Kumara Kassapa, con thoát ra khỏi ác kiến ấy"
"Này hiền giả, còn thanh niên Uttara bị bỏ quên trong cuộc bố thí đó, được thác sinh ở đâu?"
"Bạch tôn giả, vì Uttara đã bố thí một cách hoàn bị trân trọng nên được sinh lên cõi trời Đế Thích. Mong tôn giả hãy đi đến thế giới loài người để nói lên sự sai biệt này giữa con và thanh niên Uttara"
tranngocai
20-01-2005, 07:28 PM
NHẬN XÉT:
Cũng như cõi địa ngục, ngạ quỷ không thể trông thấy bằng mắt thịt, cũng vậy, những cõi trời vi diệu phước báo chỉ được nhận biết bởi một trình độ công đức hoặc tâm linh tương đương.
Đoạn kinh này nói lên quả báo sai biệt giữa hai trường hợp bố thí. Vua Payasi đã bố thí một cách hời hợt, xem thường người thọ thí, bố thí những vật thô xấu, bố thí không trân trọng. Tuy được sinh lên cõi trời nhưng chỉ là một cõi trời thấp nhất, trong một cung điện trống trải thiếu thốn. Trái lại thanh niên Uttara biết rõ kết quả của Nghiệp nên dám nói lời ngạo về thí đàn của vua Payasi và về chỗ đến kém cõi do việc làm đó đưa đến. Khi được quyền bố thí, Uttara đã bố thí một cách trân trọng, bố thí những phẩm vật có giá trị, bố thí tận tay, quý trọng người thọ thí, nên đã sinh lên cõi trời Đế Thích, cõi vui nhất trong các cõi trời dục giới.
Tuy đồng là hành vi bố thí, nhưng hai người đã mang hai tâm trạng khác nhau. Vua Payasi đã bố thí với tâm ích kỷ, mong cầu phước báo cho mình, không có tình nhân ái. Sự bố thí một cách hời hợt đã nói lên tâm trạng thiếu lòng thương của vua Payasi. Trái lại Uttara với lòng thương người nên đã bố thí một cách trân trọng kỹ lưỡng. Nguồn gốc của công đức là tâm từ ái. Thiếu tâm từ ái, phước nghiệp không viên mãn và lâu dài.
Chúng ta cũng dễ có tâm trạng giống vua Payasi khi bố thí vài đồng vào cái nón lật ngửa của người ăn mày bên đường. Những đồng xu rơi lạnh lùng khô khan và người bố thí đi qua vội vàng khinh khỉnh, phước của vài đồng bố thí không bù đắp nổi cái tội khinh thường kẻ nghèo. Bà cố tôi thường dạy mẹ tôi lúc nhỏ phải đưa hai tay khi bố thí với bất cứ ai. Chúng ta phải bố thí trong thương yêu và trân trọng. Và khi thương yêu quý mến, chúng ta sẽ bố thí những phẩm vật có giá trị tốt đẹp. Bố thí những phẩm vật giá trị và bố thí một cách trân trọng mới là sự bố thí đúng nghĩa. Dĩ nhiên tùy sở hữu của chúng ta mà mức độ giá trị có khác. Đối với người giàu thì tấm áo lụa là giá trị, đối với người nghèo thì tấm áo vải là giá trị. Người giàu có thể cố gắng bố thí đến vài ngàn, vài trăm ngàn, nhưng người nghèo chỉ có thể cố gắng bố thí đến vài mươi đồng, vài trăm đồng. Tuy số tiền sai biệt nhưng sự cố gắng được xem là tương đương, và chính sự cố gắng này đã đem lại phước báo lớn lao cho thí chủ.
tranngocai
20-01-2005, 07:29 PM
9– LÀM TRÒN BỔN PHẬN.
(Trích Tăng Chi Bộ Kinh 8a, tr 239)
Một thời Thế Tôn trú ở Kosambi, tại khu vườn Ghosita. Lúc ấy giờ tôn giả Anuruddha đang đi nghỉ ban ngày, ngồi Thiền Định. Rồi rất nhiều thiên nữ với thân khả ái đi đến tôn giả Anuruddha, đảnh lễ và đứng một bên, thưa với tôn giả:
"Chúng con là những thiên nữ với thân khả ái. Trên ba địa hạt chúng con có quyền lực và có tự tại. Thưa Tôn giả, chúng con muốn có hình sắc như thế nào, chúng con liền được hình sắc như thế ấy ngay lập tức. Chúng con muốn được âm thanh như thế nào, chúng con liền được âm thanh ấy ngay lập tức. Chúng con muốn được lạc thọ như thế nào, chúng con liền được lạc thọ ấy ngay lập tức. Thưa Tôn giả Anuruddha, chúng con là những thiên nữ với thân khả ái. Trên ba địa hạt, chúng con có quyền lực và có tự tại".
Rồi tôn giả Anuruddha suy nghĩ:"Mong rằng các thiên nữ này đều trở thành xanh," Các thiên nữ liền biến thành xanh, dung sắc xanh, y áo xanh, trang điểm xanh. Tương tự như vậy với hồng, trắng.
Rồi các thiên nữ ấy, một người hát, một người múa, một người vỗ tay. Ví như năm loại nhạc khí khéo hòa điệu, khéo chơi, khéo đánh, bởi người thiện xảo thì tiếng phát ra được đáng yêu, khả lạc, khả dục, mê ly. Cũng vậy, nhạc của các thiên nữ ấy tiếng được đáng ưa, khả lạc, khả dục, khả ái, mê ly. Nhưng tôn giả Anuruddha giữ các căn nhiếp phục. Các thiên nữ ấy nghĩ rằng:"Tôn giả Anuruddha không có thưởng thức." Liền biến mất tại chỗ.
Và buổi chiều Tôn giả đến thuật lại cho Thế Tôn và hỏi:
"Bạch Thế Tôn, thành tựu bao nhiêu pháp, nữ nhân sau khi thân hoại mạng chung, được sinh cộng trú với các thiên nữ có thân khả ý?"
Phật bảo:
"Này Anuruddha, đầy đủ tám pháp, nữ nhân sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sinh cộng trú với các thiên nữ có thân khả ý. Thế nào là tám?"
"Ở đây, này Anuruddha, nữ nhân đối với người chồng nào cha mẹ gả cho, vì muốn lợi ích, vì tìm hạnh phúc, vì lòng thương tưởng, vì lòng từ mẫn khởi lên. Đối với người ấy, nữ nhân dậy trước, đi ngủ sau, vui lòng nhận mọi công việc, xử sự đẹp lòng, lời nói dễ thương. Những ai được người chồng kính trọng như mẹ, cha, Sa Môn, Bà La Môn, nữ nhân ấy cung kính tôn trọng đảnh lễ, cúng dường và khi họ đến sẽ dâng hiến chỗ ngồi và nước. Phàm có những việc trong nhà, hoặc thuộc về len hay vải bông, ở đây nữ nhân thông thạo, không biếng nhác, tự tìm phương pháp làm, vừa đủ để tự mình làm, vừa đủ để sắp đặt người làm. Trong nhà người chồng phàm có nô tỳ nào, hay người đưa tin nào, hay người công thợ, nữ nhân biết công việc của chúng với công việc đã làm, biết sự thiếu sót của chúng, với công việc không được làm tốt, biết sức mạnh hay sức không mạnh của những người đau bệnh, biết chia các đồ ăn loại cứng và loại mềm cho mỗi người tùy theo từng phần của họ. Phàm có tiền bạc, lúa gạo, vàng bạc do người chồng đem về, nữ nhân ấy phòng hộ, bảo vệ, gìn giữ để khỏi bị ăn trộm, ăn cắp. Kẻ uống rượu, kẻ phá hoại. Nữ cư sĩ quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Nữ cư sĩ giữ giới, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục (ngoại tình), từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say men rượu nấu. Nữ cư sĩ bố thí, sống ở gia đình với tâm từ bỏ cấu uế của sân tham, bố thí rộng rãi, với bàn tay cởi mở, vui thích từ bỏ, sẵn sàng đáp ứng các yêu cầu, vui thích chia xẻ các vật dụng bố thí. Thành tựu tám pháp này, nữ nhân sau khi thân hoại mạng chung, được sinh cộng trú với chư thiên có thân khả ái"
tranngocai
20-01-2005, 07:32 PM
NHẬN XÉT
Chúng ta tóm lược tám pháp cần thiết cho một nữ cư sĩ tại gia sống có gia đình như sau.
1, Thương quý và lo lắng cho chồng.
2, Tôn trọng thân quyến và sư trưởng của chồng.
3, Quán xuyến công việc trong nhà.
4, Quản lý và đối xử thích hợp với người giúp việc.
5, Bảo quản tài sản kỹ càng.
6, Quy y Tam Bảo.
7, Giữ gìn năm giới.
8, Bố thí rộng rãi.
tranngocai
20-01-2005, 07:33 PM
Đầy đủ tám pháp này, sau khi mất nữ nhân sẽ sinh lên cõi trời dành cho các thiên nữ được quyền lực và tự tại trên ba địa hạt dung sắc, âm thanh và lạc thọ.
Trong tám pháp trên, chúng ta cũng nhận thấy chia làm hai phần rõ rệt. Năm pháp đầu là bổn phận đối với gia đình, đối với liên hệ xã hội. Ba pháp sau là những công đức trong Phật Pháp. Ba công đức căn bản trong Phật Pháp sẽ được nhắc nhở nhiều về sau. Bây giờ chúng ta sẽ nhận xét năm pháp nói về bổn phận đối với gia đình, xã hội của một người vợ.
Năm pháp được Phật nêu ra có hai tính chất nổi bật, đó là trái tim thương yêu quý kính và khối óc sáng suốt đảm đang. Người vợ sẽ phải thương yêu quý kính chồng, quý kính thân quyến sư trưởng của chồng, quý mến những người giúp việc. Người vợ sẽ phải sáng suốt đảm đang để săn sóc cho chồng, tiếp đãi ân cần với thân quyến sư trưởng của chồng, đối xử thích hợp với người giúp việc, biết và sắp đặt công việc, bảo vệ tài sản chu đáo. Một người vợ muốn được công đức lớn trong bổn phận đối với gia đình cần phải có hai điều kiện, tài năng và lòng độ lượng. Chưa nói đến công đức trong Phật Pháp. Chỉ để đầy đủ bổn phận đối với gia đình mà hai điều kiện này cần phải có.
Công đức được tăng trưởng khi người vợ, với tài năng và lòng độ lượng đã làm tròn bổn phận của mình trong lãnh vực gia đình. Chúng ta suy rộng ra với mọi người trên mọi lãnh vực. Bất cứ ai ở cương vị nào, nếu đủ tài năng và lòng độ lượng để làm tròn bổn phận đều sẽ được tăng trưởng công đức. Chúng ta không đòi hỏi phải có những hoàn cảnh thuận tiện để làm nhiều phước nghiệp rộng lớn, chỉ cần cố gắng, với tình thương và sự tháo vát, để làm tròn bổn phận khiêm tốn của mình cũng đều là nhân lành cho mai sau. Dù là người chồng, người con trong gia đình, dù là viên chức trong một cơ quan xí nghiệp, dù là một thầy giáo, thậm chí chỉ là một học sinh, nhưng nếu bổn phận được làm đầy đủ với tài năng và trái tim từ ái, người này sẽ gặt hái những phúc lạc xứng đáng.
Trước hết lòng thương quý mọi người đã hướng dẫn lời nói, việc làm và ý nghĩ của chúng ta đi về hướng thiện, chỉ cốt làm sao đem lại an vui hạnh phúc cho mọi người chung quanh mà không mong cầu tư lợi cho mình. Người có lòng thương người sẽ không nỡ nói nặng ai lời nào. Ai sống cũng cần vật chất, nhưng cũng rất cần tình thương. Chúng ta phải biết ban phát tình thương cho mọi người trong những món tài vật dâng tặng, trong những câu nói ưu ái, trong những cử chỉ săn sóc, trong những ánh mắt ân cần. Lịch sự chính là thể hiện tình thương quý đối với mọi người. Tuy nhiên, có khi vì thói quen, chúng ta lịch sự một cách máy móc mà thiếu một trái tim nồng cháy tình người bên trong. Lịch sự là biểu hiện văn minh của một xã hội. Khi nền văn minh tiến bộ ở mức độ cao, con người trở nên lịch sự với nhau hơn. Những quốc gia giàu có và có văn hóa đều có lối sống rất đậm tình người. Bổn phận con người, dù ở môi trường nào, cũng đều phải ban phát tình thương cho nhau qua sự quan tâm săn sóc của mình. Một bổn phận của người vợ được Đức Phật nêu ra chính là thể hiện tình thương quý đối với chồng qua sự lo lắng săn sóc, thể hiện sự quý kính đối với thân quyến và sư trưởng của chồng qua sự ân cần tiếp đãi, thể hiện sự quý kính đối với người giúp việc qua sự quan tâm chăm sóc họ. Tình thương không được thể hiện là một thứ tình thương rỗng. Giá trị của tình thương nằm ở chỗ thể hiện qua cử chỉ ân cần, lời nói ưu ái, tài vật dâng tặng. Đây là một trong những bổn phận thiêng liêng của con người với nhau.
tranngocai
20-01-2005, 07:34 PM
Điều kiện để làm tròn bổn phận kế đó là khả năng. Có được khả năng cũng là do phước đời trước. Tuy nhiên dù khả năng ít hay nhiều, chúng ta cũng đều phải cố gắng quán xuyến công việc của mình một cách tường tận. Phật đã nêu những điểm căn bản để một người vợ được gọi là quán xuyến những việc trong gia đình. Người có lòng nhân từ tức là người siêng năng. Không thể gọi là nhân từ nơi một người lười biếng. Ở không và đòi hỏi sự hy sinh phụng sự của người khác đối với mình, rõ ràng là người thiếu lòng nhân đạo, nếu không muốn nói là người ác. Chúng ta phải siêng năng làm tròn bổn phận của mình, có nghĩa là siêng năng phụng sự cho mọi người chung quanh. Người công nhân tận tâm thực hiện và chăm sóc kỹ công việc của mình, người thầy giáo tận tâm dạy dỗ và kiểm soát học sinh của mình... đều là công đức cho đời sau. Người càng có khả năng nắm vững thấu đáo và tháo vát thực hiện là càng đem lại hiệu quả cho lợi ích chung. Người thiếu khả năng, không nắm vững vấn đề, dù có nhiệt tình cũng không đem lại lợi ích lớn. Thế nên người tài giỏi, nếu biết sử dụng, dễ tác thành phước nghiệp hơn người kém cõi.
Phần còn lại, Phật nêu ba tiêu chuẩn công đức căn bản trong Phật Pháp, quy y Tam Bảo giữ gìn năm giới và bố thí rộng rãi. Người thực hiện ba điều này, lợi ích là vô hạn ở mai sau. Quả phước tối thượng từ một niềm tin tối thượng. Khi một người đặt niềm tin kính nơi Tam Bảo, họ đã đặt được niềm tin nơi thiêng liêng tối thượng và tùy theo sự tu tập về sau, họ đóng cửa nẻo ác, mở cửa đường thiện đi về cõi phúc lạc vô biên. Phần đầøu của sự tu tập là giữ năm giới để không mất thân người. Kế đó họ phải chắc mót để bố thí thường xuyên vì công đức lành nào cũng bắt nguồn từ hành vi bố thí.
tranngocai
20-01-2005, 07:35 PM
10– DỤNG TÂM KHI BỐ THÍ
(Trích Tăng Chi Bộ kinh, 3A, tr 60)
Một thời Thế Tôn ở Canysà, trên bờ hồ Gaggara. Rồi nhiều cư sĩ ở Canysà đi đến Tôn Giả Sariputta đảnh lễ và thưa với Tôn Giả rằng đã lâu họ không nghe thuyết pháp từ miệng Thế Tôn. Tôn Giả hẹn họ hãy đến vào ngày trai giới (Upasatha) khi họ đến vào ngày trai giới, Tôn Giả hướng dẫn họ đến đảnh lễ Thế Tôn và thưa hỏi:
"Có thể nào, bạch Thế Tôn, ở đây có hạng người bố thí (những tài vật) như vậy nhưng không được quả báo lớn, không được lợi ích lớn. Bạch Thế Tôn, có thể có hạng người bố thí (cũng những tài vật) như vậy, nhưng được quả báo lớn?"...
"Ở đây, này Sariputta có người bố thí với tâm trạng mong cầu, bố thí với tâm trói buộc (về kết quả) bố thí với tâm mong cầu được chất chứa. Bố thí với ý nghĩ:"Tôi sẽ hưởng thọ cái này trong đời sau". Vị ấy bố thí như vậy cho các Sa Môn, Bà La Môn, bố thí đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương thơm, hương liệu, giường nằm, trú xứ, đèn đuốc... (với sự dụng tâm như trên) vị ấy khi thân hoại mạng chung được sanh cộng trú với chư thiên ở Tứ Thiên Vương. Và khi nghiệp được đoạn tận (hết), thần lực ấy, danh tiếng ấy, uy quyền ấy chấm dứt, vị ấy lui trở lại trạng thái cõi đời này"...
"Ở đây, này Sariputta, có người bố thí như vậy cho các Sa Môn, Bà La Môn,...không với mong cầu, không với tâm trói buộc, bố thí không với ý nghĩ:"Ta sẽ hưởng thọ cái này trong đời sau"; không với ý nghĩ "lành thay sự bố thí"; không với ý nghĩ:"Cái này đã được cho trong đời quá khứ, đã được tổ tiên làm trong đời quá khứ. Ta không xứng đáng nếu truyền thống gia đình này bị bỏ quên", không với ý nghĩ:"Ta nấu ăn, các người này không nấu ăn ta không xứng đáng nếu ta là người nấu ăn lại chẳng bố thí cho người không nấu ăn (tu sĩ)"; không với ý nghĩ:"Như các vị ẩn sĩ thời xưa có những đàn thí lớn như: Atthaka, Vàmaka, Vàmadeva, Vessàmita, Yamataggi, Angira, Bhàradvàja, Vàsettha, Kassapa, Bhagu, cũng vậy, ta sẽ là người san sẻ các vật bố thí.
Không với ý nghĩ:"Do ta bố thí tài vật này, tâm ta được tinh tấn, hỷ duyệt khởi lên".Những vị ấy bố thí với dụng tâm như vậy, sau khi thân hoại mạng chung được sanh cộng trú với chư thiên ở Phạm Chúng Thiên. Và khi nghiệp được đoạn tận, thần lực, danh tiếng, uy quyền chấm dứt, vị ấy vẫn không trở lui lại trạng thái cõi đời này"...
NHẬN XÉT:
Trong tương đối chúng ta định nghĩa hai danh từ thường dùng như sau:
– Phước là làm cho người được ích lợi.
– Đức là cái tốt của tự tâm.
Quả báo trở lại do sự đầy đủ cả hai mặt Phước và Đức. Ở trong hai trường hợp được nêu ra, hai người đều đồng nhau về Phước, tức là những tài vật cúng dường cho các vị đức hạnh, nhưng đã sai biệt về Đức, tức là sự dụng tâm khi bố thí. Người thứ nhất đã dụng tâm một cách ích kỷ, bố thí vì mong cầu quả báo, bố thí vì truyền thống gia đình, bố thí vì bắt chước những người xưa, bố thí vì tìm vui thích. Do sự dụng tâm hẹp hòi, quả báo đưa họ về tầng trời thấp nhất là cõi Tứ Thiên Vương. Họ đã bố thí vì chính họ.
Người thứ hai đã dụng tâm chân chính hơn, bố thí để diệt trừ cấu uế của bỏn xẻn, bố thí vì tâm từ đối với mọi người, biết rõ Nhân Quả Nghiệp báo của hành vi bố thí nhưng vẫn không mong cầu quả báo. Do sự dụng tâm cao thượng như vậy nên quả lành đã đưa họ về cõi Phạm Thiên. Cõi cai quản các tầng trời khác và không còn trở lại trạng thái thấp kém của cõi người bất an này. Từ cõi Phạm Thiên, nếu thắng duyên được nối tiếp, họ sẽ tiến tu để thể nhập Niết Bàn.
tranngocai
21-01-2005, 06:08 PM
Chúng ta cần thực hiện đầy đủ cả Phước và Đức, phải làm lợi ích cho người và phải trang nghiêm tự tâm bởi những tâm hạnh cao cả. Có thể có người đã gột rửa tâm mình nhẹ bớt những ích kỷ, hiềm hận, tham lam, tật đố, khoe khoang... nhưng vẫn chưa đem lợi ích nhiều cho người khác bằng tài vật và giáo lý, người này chưa cân xứng Phước Đức. Và khuyết một trong hai khía cạnh này, quả báo tựu thành không được thù thắng.
Tuy nhiên Phước và Đức không phải là hai điều hoàn toàn tách rời. Người có tâm hồn cao cả mới có thể san sẻ bố thí, và ngược lại, người có san sẻ bố thí mới khiến tâm hồn cao cả hơn. Chính vì sự liên hệ hữu cơ này mà Phật đã nhấn mạnh ý nghĩa bố thí để trang nghiêm tâm. Chính từ hành vi bố thí, tâm bỏn xẻn được giải trừ, tâm tham lam được tẩy xóa, tâm từ ái được tăng trưởng, tâm độ lượng được phát huy, tâm buông xả được chói sáng. Những tâm hạnh cao cả này đã là những điều kiện để đưa người vào Thánh vị. Thật vậy, nếu khéo dụng tâm thì hành vi của bạn là một nhân lành giúp sự buông xả vọng tưởng dễ dàng trong khi tu tập Thiền Định về sau. Người bỏn xẻn giữ chặt tài sản sẽ tiếp tục giữ chặt những vọng tưởng và kiến chấp. Người tham lam tài sản sẽ tiếp tục tìm cầu vọng tưởng và kiến chấp. Còn người bố thí với dụng tâm chân chính sẽ tiếp tục buông xả dễ dàng những sở chấp vọng tưởng được tích tụ từ lâu. Không thể tin một người được gọi là vào sâu Thiền Định khi người này còn đôi bàn tay nắm lại. Phật Pháp chỉ có một vị là vị giải thoát, cũng như đại dương chỉ có một vị là vị mặn. Dù là hành vi bố thí, một công đức hữu vi, nhưng Phật vẫn dùng nó để trang nghiêm tâm, để chuẩn bị cho một cuộc vượt thoát vĩ đại về sau.
tranngocai
21-01-2005, 06:13 PM
11– GIÁO HÓA THẬP THIỆN:
Bà K.C là bầu của một gánh cải lương nổi tiếng, có cô con gái đang học đại học nhưng vướng phải bệnh phong giật. Có khi cơn bệnh xảy đến trong lớp học, rất là bất tiện và mắc cở. Bà dắt cô con gái đến gặp thầy Trảng Bàng nhờ thầy giúp đỡ, Thầy viết vội bài hành thập thiện đưa cho cô, bảo cô đem về tự tay chép ra mười bài rồi truyền cho mười người bạn, yêu cầu họ thực hành để hồi hướng công đức cho cô. Cô nghe lời làm theo, quả nhiên hết bệnh.
tranngocai
21-01-2005, 06:19 PM
NHẬN XÉT:
Thầy chúng tôi đã trị tận gốc bệnh của cô sinh viên. Bệnh là do nghiệp, muốn trị bệnh, không gì hơn tạo phước. Công đức làm cho mười người hành thập thiện đã đủ (và dư) để giải trừ ác nghiệp của cô. Sự bố thí một món tài vật đã giúp cho người thọ thí sống qua một thời gian, nhưng sự giáo hóa thập thiện đã giúp cho nhiều người lìa khổ được vui lâu dài trong nhiều đời kiếp sau nữa.
tranngocai
21-01-2005, 06:35 PM
Một người đến hỏi Phật:
– Thưa tôn giả Gotama! Có một người ngoại đạo nào được sinh lên cõi trời chăng?
Phật bảo:
– Này gia chủ! Trong 91 kiếp qua ta chưa từng trong thấy một ngoại đạo nào được sinh thiên, trừ một người, vì người này thường tuyên giảng về Nhân Quả Nghiệp báo.
Luật Nhân Quả là một chân lý không sai lầm. Ai có thể tin hiểu Nhân Quả Nghiệp báo người này đủ chánh kiến để sống an vui và tăng tiến căn lành mãi. Không có sự thoái đọa dành cho người đã đủ lòng tin hiểu Nhân Quả Nghiệp báo. Thế nên ai tích cực truyền bá, chứng minh khuyến khích, phổ biến, kêu gọi mọi người tin hiểu Nhân Quả Nghiệp báo sẽ được phước vô lượng. Trong tất cả sự làm lợi ích cho người, không gì hơn giáo hóa cho họ tin hiểu Nhân Quả Nghiệp báo, không gì hơn giáo hóa cho họ thực hành thập thiện ở những bước ban đầu. Có nhiều người nghe nói thiền là siêu việt thiện ác, nên khi nghe đề cập đến thập thiện họ liền xem thường. Người như thế chưa hiểu gì về thiền. Không bao giờ có sự thành tựu Thiền Định cho một người chưa đầy đủ ngũ giới thập thiện. Ác nghiệp sẽ luôn luôn quấy phá, chi phối, ngăn trở khi người tu thiền mà chưa đầy đủ ngũ giới thập thiện ban đầu. Chưa đầy đủ ngũ giới thập thiện, người này lẩn quẩn trong hoàn cảnh túng thiếu bức ngặt và không thể yên ổn tu thiền. Người thuận duyên tu thiền là người đã từng thực hành đầy đủ công đức ngũ giới thập thiện.
tranngocai
21-01-2005, 06:37 PM
Thiện nghiệp là vốn liếng để chúng sinh sống dễ chịu trong tam giới đau khổ này, thế nên, họ luôn luôn cần được giáo hóa, nhắc nhở, khuyến khích để tác trì thiện nghiệp. Công đức to lớn chờ đợi cho những người siêng năng giáo hóa thiện nghiệp với mọi người. Những dòng tộc nào duy trì được thiện nghiệp, dòng tộc đó sẽ phát triển bền vững và vinh quang ở mai sau. Nếu là cha mẹ, bạn hãy dạy con mình tác trì thiện nghiệp. Nếu là anh chị, bạn hãy dạy em mình tôn trọng phước duyên. Nếu là láng giềng, bạn hãy khuyến khích bà con vun bồi công đức.
Việt Nam chúng ta nói riêng, những nước Á Đông theo đạo Phật nói chung đều thỉnh quý thầy về nhà tụng kinh để cầu phước cho người thân đã mất. Nhưng công đức bao nhiêu khi những người sống chung quanh không nghe hiểu gì nơi những tiếng ê a mõ kèn ầm ĩ kia. Nếu muốn cầu phước cho người thân đã khuất, tốt hơn hãy thỉnh quí thầy giảng kinh thuyết pháp cho người thân đã khuất, cho thân quyến láng giềng, và đem công đức đó hồi hướng cho thân nhân. Việc này thực tế, đơn giản và được phước lớn lao hơn. Từ nay về sau, chúng ta cần mạnh mẽ thay đổi tập quán lỗi thời này. Mỗi khi muốn cầu phước cho tổ tiên, thân quyến hãy thỉnh quý thầy giảng kinh thuyết pháp cho những người đến dự lễ cùng nghe. Sự thay đổi này có hai điều lợi. Một, chính gia đình cư sĩ được phước rõ ràng và to tát hơn công việc tụng kinh gõ mõ lúc trước. Hai, sẽ thúc đẩy quý thầy nghiên cứu học hỏi kinh điển, khác với người xưa đã tạo ra một giai cấp thầy tụng đám thiếu hiểu biết kinh điển. Sự nghiên cứu kinh điển sẽ khiến cho quý thầy hoàn chỉnh giới hạnh hơn thời gian làm thầy tụng. Chúng ta hãy gan dạ cách mạng phong tục này để được phước cho gia quyến và biến đổi những thầy tụng trở thành những pháp sư tài ba.
Đại khái quý phật tử phải giữ lập trường cứng rắn về vấn đề này để thay đổi một phong tục đã lỗi thời lạc hậu.
tranngocai
21-01-2005, 06:38 PM
Có bao giờ bạn mơ ước về một xứ sở xa xôi nào đó, nơi đó có một nền giáo dục kỳ lạ, tất cả học sinh vở lòng đến hết phổ thông đều được học về Nhân Quả Nghiệp báo?
Có bao giờ em thấy lòng khắc khoải
Khi con người còn là sói với nhau
Và cuộc đời còn ray rứt khổ đau
Khi ác pháp vẫn lan tràn gieo rắc
Có bao giờ em nghe lòng thổn thức
Vì quanh em là sự sống đua tranh
Suối tình thương không tuôn chảy an lành
Đã tắt nghẽn bởi tham lam thù hận
Có bao giờ em ước mơ vơ vẩn
Về quê hương ngập ánh sáng tình thương
Cõi nhân gian đã hiện bóng thiên đường
Vì thiện pháp giăng đầy trên mọi lối
Đời nhân thế sẽ không còn u tối
Nếu đường đi của Nhân Quả nghiệp duyên
Được tuyên dương thắp sáng khắp mọi miền
Trong em bé, cụ già, trong tất cả.
tranngocai
21-01-2005, 06:39 PM
Nhà trường là nơi truyền đạt kiến thức khoa học và sau này có thêm triết lý Tây phương. Khoa học thì chưa biết hết những nguyên lý của vũ trụ, triết học Tây phương thì đang nhường bước bởi triết học Đông phương. Nhưng chúng ta chưa đánh giá đúng vai trò của sự hiểu biết luật Nhân Quả. Cứ cho đó là phạm vi tôn giáo, có chút gì mê tín dị đoan, chỉ có những cái mắt thấy tai nghe mới là thực tế. Nếu bạn dựa hoàn toàn vào tai mắt để nhận biết, tôi đánh giá bạn là người thiếu tinh thần khoa học. Ai cũng thấy mặt trời xoay quanh trái đất cho đến khi một thiên tài Galilée xuất hiện lật ngược lại rằng trái đất xoay quanh mặt trời. Galilée không tin cái biết của tai mắt. Ông đã nhận biết bằng trí tuệ. Cả một 1ý thuyết Tương đối vĩ đại của Einsteins khi được thuyết trình trước một cử tọa đông đảo các nhà bác học, tất cả đều không chấp nhận, duy chỉ 13 người vỏn vẹn tạm hiểu nổi. Có những chân lý mà tai mắt không thấy được, có khi còn thấy trái ngược hẳn. Chỉ có trí tuệ mới tìm thấy chân lý. Trước đây, hầu hết các nhà khoa học đều đồng ý thuyết nguồn gốc của vũ trụ từ một vụ nổ ban đầu và ra sức củng cố giả thuyết đó vì các nhà Thiên văn nhìn lên bầu trời thấy các Thiên hà đang rời xa nhau, và giám mục Le Maitre liền kết luận vũ trụ đã bắt đầu từ một điểm để rồi sau đó nổ tung ra và sau đó rời xa nhau mãi mãi. Nhưng thuyết này đang bộc lộ nhiều điểm sơ hở. Lý do để các Thiên hà rời xa nhau là do hiệu ứng lực đẩy giữa các Thiên hà nhằm bảo toàn với lực hút giữa các thiên thể. Cũng vậy, luật Nhân Quả Nghiệp báo không phải là chỗ thấy biết của tai mắt, không phải là chỗ thấy biết của tư duy. Tôi không lường nổi là sau này những phương tiện tiến bộ của khoa học có thể tìm thấy đường đi của Nhân Quả Nghiệp báo hay không, chỉ biết rằng trong quá khứ, chỉ những bậc có khả năng nhập định sâu xa mới thấy được đường đi kỳ diệu này. Tôi tin rằng quốc gia nào mạnh dạn đem môn Nhân Quả học vào nhà trường, quốc gia đó sẽ chuyển mình vĩ đại. Người được dạy bảo tin hiểu Nhân Quả, có khả năng suy luận đường đi của Nhân Quả, thường được nhắc nhở về thiện pháp, chắc chắn người này không phải là người ác và sẽ là một người tận tụy hy sinh phụng sự cho mọi người.
Đạo Đức do sự hiểu biết Nhân Quả Nghiệp báo không phải là một nền Đạo Đức áp đặt mà đó là một nền Đạo Đức tự giác và nhân bản, công bình và khách quan.
tranngocai
21-01-2005, 06:40 PM
12 – BÌNH ĐẲNG
(Trích Tăng Chi Bộ kinh 1, tr 68)
Rồi một Bà La Môn đi đến Thế Tôn, chào hỏi và ngồi xuống một bên.
"Do nhân gì, thưa Tôn Giả Gotama, do duyên gì, ở đây một số chúng sinh sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục?"
"Do nhân hành phi pháp và hành bất bình đẳng, này Bà La Môn, một số chúng sinh sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục"
"Do nhân gì, thưa tôn giả Gotama, do duyên gì, ở đây một số chúng sinh sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào cõi thiện, cõi trời, cõi đời này?"
"Do nhân hành đúng pháp và hành bình đẳng, này Bà La Môn, một số chúng sinh sau khi thân hoại mạng chung, được sinh lên cõi thiện, cõi trời, cõi đời này".
Bà La Môn hoan hỷ tán thán và xin quy y với Thế Tôn.
tranngocai
21-01-2005, 06:42 PM
NHẬN XÉT
Ở đây chúng ta không đề cập đến yếu tố hành phi pháp hay đúng pháp là gì, chỉ đề cập đến yếu tố bình đẳng và bất bình đẳng.
Chân lý không bao giờ là một chiều, người chỉ nhìn một chiều không bao giờ thấy chân lý. Người đã nói nhiều về bình đẳng, nhưng sự chênh lệch về quyền lợi và địa vị vẫn mãi mãi xảy ra. Nếu bạn muốn san phẳng mọi chênh lệch trong xã hội bằng một cuộc cải thiện nào đó, bạn là người không tưởng. Vĩnh viễn không bao giờ có sự ngang bằng phẳng phiu về quyền lợi giữa mọi người vì phước nghiệp của họ không thể nào hoàn toàn giống nhau. Nơi tự thân con người đã không bằng nhau về thể chất, trí tuệ và tính tình, và sau này nơi quyền lợi, họ sẽ không thể nào hoàn toàn ngang bằng với nhau. Đây là một tiên đề đầu tiên, rất rõ ràng và thực tế mà chúng ta phải chấp nhận. Dù một chủ thuyết kêu gọi bình đẳng thế nào, họ vẫn phải chấp nhận đặc quyền đặc lợi cho một nhóm người có trách nhiệm và khả năng ở chừng mực nào đó.
Nếu muốn dùng bạo lực và quyền hành để áp đặt sự ngang bằng về quyền lợi cho mọi người, chúng ta đã phạm một sai lầm rất lớn. Thứ nhất, là sai với luật Nhân Quả Nghiệp báo. Người có công và người không có công chẳng thể bằng nhau về quyền lợi. Thứ hai là đưa đến hậu quả tai hại, không còn ai cố gắng phấn đấu để lập công trạng gì nữa, họ sẽ làm việc trong tình trạng cầm chừng. Thế nên, sự san bằng quyền lợi là một điều không tưởng, thiếu thực tế, cực đoan một chiều và phi chân lý.
Tuy nhiên nếu chấp nhận sự chênh lệch quyền lợi cũng là một sai lầm ở cực đoan khác. Nếu chấp nhận sự chênh lệch quá đáng, sẽ có đấu tranh giữa giai cấp ít quyền lợi và giai cấp nhiều quyền lợi. Giai cấp đặc lợi sẽ bảo thủ và vơ vét một cách tàn nhẫn vì quyền lợi của họ được ngang nhiên công nhận. Sự bảo thủ và vơ vét đó sẽ chạm đến quyền lợi của giai cấp thiểu lợi, đấu tranh sẽ bùng nổ. Chính vì chỗ lắt léo này mà sự bình đẳng đã được ca ngợi từ nghìn xưa đến nghìn sau. Người ta đã mơ tưởng về một xã hội mà ai cũng đồng đều với nhau về quyền lợi, ai cũng thương nhau và đem hết công sức để phụng sự cho nhau.
tranngocai
21-01-2005, 06:43 PM
Tuy nhiên ý nghĩa cao siêu tế nhị của bình đẳng phải được hiểu ở cách khác, không phải sự bình đẳng do quyền lực san bằng tài sản. Bình đẳng là tính chất Đạo Đức nơi một con người. Người có tính bình đẳng là người không muốn trội vượt hơn ai về quyền lợi. Vì bình đẳng là Đạo Đức nên nó là sự tự giác, không phải là sự áp đặt. Trong một tập thể nào đó, nhất là trong chúng tăng, ví dụ có một người, do phước quá khứ, được người thân đem đến tặng nhiều thực phẩm bánh trái. Nếu người này không có Đạo Đức bình đẳng và giữ lấy tặng phẩm để dùng một mình, mọi người xung quanh sẽ tị hiềm bực bội. Không phải mọi người tỵ hiềm vì họ không được chia phần, mà họ tị hiềm vì người kia thiếu lòng nhân ái, thiếu đức bình đẳng. Chính cái thiếu lòng nhân ái, thiếu đức bình đẳng đã khiến cho sự chia rẻ và đấu tranh xảy ra. Nếu người kia có đức bình đẳng, có lòng thương người, sẽ đem tặng phẩm chia đều trong tập thể và mọi người sẽ vui vẻ với nhau nhiều hơn. Không phải mọi người vui vì họ được chia phần mà họ vui vì người kia thể hiện đức bình đẳng và lòng nhân ái. Sự bình đẳng là một lý tưởng tốt đẹp mà ai cũng mơ ước, nhưng nó phải được thể hiện bởi sự tự giác của mỗi người.
Có hai cực đoan mà chúng ta phải tránh, một là chủ trương san bằng quyền lợi bằng bạo lực. Hai là chấp nhận sự chênh lệch quyền lợi. Hai cực đoan này không bao giờ đưa đến tốt đẹp. Còn chân lý thì trung dung, khéo léo, tự giác, uyển chuyển và từ bi. Nếu chân lý dễ thực hiện thì cuộc đời này có lẽ không còn đau khổ. Chân lý luôn luôn khó nắm bắt, nó tiềm ẩn ngoài cái thấy biết của tai mắt, ngoài những kết luận một chiều. Người ta chỉ thực hiện được chân lý khi họ được sự hướng dẫn đúng đắn và được khuyến khích thường xuyên. Rõ ràng hành động đem phẩm vật của mình chia đều cho anh em là một sự tự giác và từ ái, không ai được quyền bắt buộc về điều này, nhưng chính lòng nhân ái và đức bình đẳng đã khiến họ có hành động tốt đẹp ấy.
Nếu bạn hưởng thụ hết mọi sở hữu của mình dù bạn ở tập thể hay ở riêng rẻ, lúc đó bạn không phải là người bình đẳng và từ bi. Dù tài sản bạn đang có không ai hay biết, nhưng bạn hãy mạnh dạn san sẻ cho người khác, đừng sử dụng hết những gì mình có.
Có lẽ chúng ta cũng từng gặp những trường hợp một người, nhất là tu sĩ, bị đố kỵ ganh tỵ khi họ mặc chiếc áo đẹp, khi họ sử dụng tài sản vượt trội hơn người xung quanh, nhưng cũng có người không bị ganh tỵ khi sử dụng những thứ đó. Người bị ganh tỵ vì trước đó họ không bố thí nhiều, không tùy hỉ khi người khác đắc lợi. Bố thí cũng có nghĩa là muốn cho người khác đắc lợi, bố thí cũng đã mang ý nghĩa tùy hỉ trong đó rồi.
Cũng như mọi tính chất Đạo Đức khác không thể vắng bóng trên cuộc đời này, nhưng cũng không thể cưỡng bức áp đặt, bình đẳng cũng vậy, không thể vắng bóng trong tương quan giữa mọi người, nhưng cũng không thể cưỡng bức áp đặt. Nó là sự tự giác và sự tự giác hành bình đẳng sẽ đưa người thực hành đi về nơi tràn đầy phúc lạc.
Nếu chúng ta cưỡng bức sự ngang bằng về quyền lợi, chúng ta sai về Nhân Quả. Một chế độ khẩu phần xít xao khiến cho không ai có thể bố thí với ai, và như thế phước họ giảm dần cho đến khi họ phải bị đói kém thê thảm trong hiện đời. Đó là sai về nhân, không tạo điều kiện dư dả để họ có thể thực hành bố thí.
Kế đó, nếu người nào trong số đó, đã không thể làm phước bằng cách bố thí, đã làm phước bằng cách đem sức lao động ra phục vụ nhiều hơn qui định. Đến khi quả báo trở lại họ vẫn phải được quyền lợi trội hơn mọi người. Nhưng sự san bằng quyền lợi đã phủ nhận quả báo của họ. Đây là sai về quả.
Bình đẳng không phải là sự áp đặt cưỡng bức bởi quyền lực mà chỉ là sự tự giác cao thượng trong tâm hồn của con người.
tranngocai
21-01-2005, 06:45 PM
13– ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA
(Trích trong truyện ngắn Việt Nam (1945–1985) câu chuyện Bút Máu của nhà văn Vũ Hạnh, chúng tôi có viết lược vài đoạn, người đọc có thể tìm xem nguyên bản kỷ lưỡng hơn).
Bút Máu.
Lương Sinh người ở Mãn Châu, con nhà thế phiệt, nổi tiếng thông minh đỉnh ngộ từ khi tóc để trái đào. Lên tám đã giỏi thơ ca, từ phú, ai cũng ngợi khen là bậc thần đồng.
Năm lên mười hai, gặp thời loạn ly, cha mẹ đều bị giặc giết. Sinh sầu thảm mấy tháng liền, mất ăn, mất ngủ, lại thêm căn tạng yếu đuối nên lâm bệnh nặng, thần kinh hốt hoảng, luôn luôn giật mình, nằm mơ thấy toàn máu lửa, sọ xương. May có người cậu đem về săn sóc đêm ngày. Sau nhờ đạo sĩ họ Trình ở núi Hoa Dương dùng biệt dược trị liệu nên được lành bệnh, tâm thái trở lại an tĩnh điều hòa. Khi lên mười lăm, Sinh được người cậu gởi đến Lã Công, một quan thủ hiệu bãi chức từ lâu ở nhà mở trường dạy võ. Sinh học rất chóng, nữa năm đã làu thông cả mười hai môn võ bí truyền của nhà họ Lã. Lã Công quý mến, một hôm lấy thanh bảo kiếm của mấy mươi đời họ Lã lập công trao cho luyện lập. Giữa buổi Sinh đang múa kiếm, bỗng dừng phắt lại, đưa kiếm lên ngửi rồi cao mày, kêu lên:
– Máu người tanh quá!
Đoạn đem thanh kiếm nộp trả, cáo từ mà về.
Đến nhà, lạy cậu thưa lên:
– Võ nghệ không phải là con đường cháu nên theo. Máu người chảy trong cơ thể quý vô cùng nhưng dính ra ngoài lại quá hôi tanh. Kẻ cầm lưỡi dao trọn đời sao cho khỏi đổ máu người! Điều tàn nhẫn ấy cháu không làm được.
Người cậu giận lắm, bảo rằng:
– Mày thực cạn nghĩ, phụ cả lòng ta trông đợi lâu nay. Đành rằng máu người là quí, nhưng để máu ấy chảy trong đầu bọn ác nhân thì càng có hại cho người, lại càng có tội!
Lương Sinh cúi thưa:
– Ai cũng cho mình là phải, lấy đâu để nói tốt xấu rõ ràng? Làm thiện một cách hăm hở mà không ngờ rằng đấy là điều ác, lại càng có tội vì đã lừa mình, lừa người. Trộm nghĩ binh đao là điều dứt khoát, cháu chưa dứt khoát trong người, tự thấy không dám theo đuổi.
Cậu nói:
– Hoài nghi như thế, e rồi không khéo mày tự mâu thuẫn với mày. Không phân biệt được giả, chân, thiện, ác, làm sao có thể tự tin mà sống trên đời! Xã hội chưa đâu có thể gọi là chốn thiên đường, bên cạnh nhà trường còn có nhà ngục, bên cạnh ngòi bút còn có lưỡi đao, không thể chỉ lấy một chiều, chỉ yêu một cạnh. Vị tất nhà trường đã không tội lỗi, ngòi bút đã không oan khiên! Ta không có con, từ lâu kỳ vọng nơi mày, nhân thời tao loạn, những mong cho mày múa gươm trận địa hơn là múa bút rừng văn. Bây giờ, thế thôi là hết. Từ nay tùy mày định lấy đời mày, ta không nói nữa.
Từ đấy, Lương Sinh sẵn có nếp nhà giàu đủ, chuyên nghề thơ văn, tiêu dao ngâm vịnh tháng ngày. Lời thơ càng gấm, ý thơ càng hoa, tiếng đồn lan xa, lan rộng như sóng trên biển chiều nổi gió. Quan lệnh trấn mới đổi đến địa phương vốn người hâm mộ văn chương, cho vời Sinh đến. Thấy Sinh tướng mạo khôi ngô, lòng cảm mến, tiếp đãi hết sức trọng hậu. Sau đó, quan lệnh mượn những thi tuyển của Sinh trong một tháng trường. Khi quan giao trả, Sinh thấy có những bài thơ hay họa lại những bài đắc ý nhất của mình dưới ký tên Tuyết Hồng, con gái của viên quan. Sinh vui mừng nghĩ rằng gặp được người hợp ý. Sau quan lệnh ngõ lời kén Sinh làm giai tế. Sinh sung sướng nhận lời.
Sau lễ hôn phối, Sinh mới ngỡ ngàng biết rằng Tuyết Hồng không đẹp, cũng không biết làm thơ. Càng ngày Sinh càng chán nản khôn khuây, ảo tưởng vỡ tan, tưởng như tuyệt vọng tình đời. Thiếu thốn hình ảnh giai nhân, cuộc sống tự nhiên cằn cỗi. Nhân tết nguyên đán, Tuyết Hồng về thăm song thân, Sinh bèn thừa dịp, noi gương Tử Trường ngày xưa phiếm du xuân thủy.
tranngocai
21-01-2005, 06:48 PM
Sinh chọn đường ven theo suối đẹp, đi mãi đã mười ngày, tiền lưng muốn cạn, ý thơ chừng đầy, chợt đến một miền tiêu điều, dân cư thưa thớt, Sinh chán nản định quay về, nhưng ruột đói lưỡi khô, bèn đi tìm một tửu quán nghỉ chân. Qua ba dặm đồng trơ trọi vẫn chưa thấy bóng một người để hỏi thăm nơi. Bỗng nghe phảng phất tiếng trống, tiếng chuông lẩn tiếng reo cười. Dò theo âm thanh vọng lại, lần bước đến nơi, thấy đám hội trước chùa, bèn vào quán nhỏ gần đấy ăn uống. Chủ quán cho biết, đã mấy năm rồi ở đây mới có một ngày hội lớn, vì quan khâm sai triều đình sắp về địa phương nên quan tổng trấn họ Lý bày ra trò vui để cho dân chúng thỏa thuê ít bữa. Chợt có tiếng hò hét và mọi người sợ hãi dạt ra, từ xa là chiếc kiệu hoa của tiểu thư Lý Duyên Hương, con quan Tổng Đốc. Người đẹp vừa kiêu hãnh vừa sắc xảo khiến Sinh ngây ngất, nhìn đến quên ly rượu trong tay rơi xuống vỡ toang. Người đẹp quay nhìn thấy, nhoẽn miệng cười. Nụ cười lộng lẫy như hé sáng một trời tình. Sinh lảo đảo đứng lên trả tiền rồi theo chiếc kiệu chen vào chùa. Vào trong thấy Lý tiểu thư thành kính đàm đạo với mấy vị Tăng già rồi lên chánh điện lễ Phật. Sinh đến phòng kế lấy bút và giấy hoa tiên theo phỏng mấy câu:
Tiên hoa gài mộng, vấn vương đền Phật bâng khuâng.
Đông biếc, thoáng cười tiên nữ
Rêu xanh, ngẩn lối Lưu thần
Mặt nước hồ in, xao động bốn mùa sóng gió
Bóng đêm hang thẳm, long lanh một vẻ giai nhân
Rồi bẻ cành hoa kẹp vào. Khi Lý tiểu thư lễ xong, khoan thai xuống thềm, mọi người sợ hãi bật ra hai bên thì Sinh vội vã đi theo. Đến lúc nàng vừa lên kiệu, Sinh ném cành hoa lên chỗ nàng ngồi. Lính hầu thoáng thấy kêu lên:
– Có người ám hại tiểu thư.
Lập tức mười lưỡi gươm dài vung lên, lính hầu vây lấy Lương Sinh. Những người xem hội thất sắc lùi lại, dồn dập đẩy vào nhau kêu la náo động. Tiểu thư ngồi trên, vén rèm nhìn xuống không nói một lời. Vẻ mặt hết sức kiêu kỳ. Lương Sinh đã toan mở lời khống chế, nhưng lính xông vào trói chàng.
Đám đông có tiếng thì thào.
– Anh ta chỉ ném một cành hoa thôi đấy.
– Bấy nhiêu cũng đủ héo cuộc đời rồi.
– Qua dinh Tổng trấn không lấy nón xuống đã là bay đầu, nói chi xúc phạm tiểu thơ vàng ngọc!
Về đến nha môn, lính dẫn Lương Sinh nhốt vào trại giam, rồi tâu trình lên Tổng trấn. Lương Sinh nằm rầu rỉ trong bốn bức vách đá. E phải mang nhục phen này. Đang mơ màng về thế giới bên kia, chợt nghe tiếng người gọi dậy, lập tức được lính dẫn đến công đường. Tổng trấn ngồi giữa, vóc dạng phương phi, hàm én râu hùm, trên tay còn cầm tang vật là mảnh hoa tiên.
Sinh cuối đầu thi lễ, toan tìm lời kêu oan gỡ tội thì quan ra lệnh mở trói. Trước sự kinh ngạc của Sinh, quan bước xuống thềm, dắt Sinh vào trong, kéo ghế bảo ngồi, Sinh từ chối hai ba lần không được. Quan nói:
– Ta thường ước ao gặp được một người tài đức, nay biết người là danh sĩ nên thực hết lòng hâm mộ. Lính hầu sơ xuất phạm điều vô lễ vừa rồi, ta sẽ nghiêm trị. Gác đằng thuận nẻo gió đưa, người hãy cùng ta ở đây hưởng mấy ngày xuân vui câu xướng họa, cho thỏa tình ta khao khát lâu nay.
Đoạn truyền đem rượu ngon thịt béo ra thết đãi nồng hậu. Lương Sinh thích thú uống rượu ngâm thơ suốt ngày. Tổng trấn có vẻ đặc biệt kính trọng tài năng của sinh. Độ chỉ hôm sau, quan tổ chức cuộc du xuân, đưa Sinh đi xem cảnh trí trong miền. Nơi nào quan cũng cho thấy kỳ công đại lực của quan tạo lập cho dân. Kia là dòng suối quanh co quan đã khai thông để dân lấy nước cày cấy, nọ là đồng ruộng bao la trước kia toàn là rừng rậm hoang vu quan đã tốn công khai phá cho dân trồng trọt.
Ngồi trên kiệu cao, Sinh nhìn theo ngón tay quan trỏ phía xa xa, mơ hồ thấy suối thấy đồng nhiều vẻ khác nhau, miệng không ngừng tán tụng. Hơi men nồng nàn, lòng Sinh chứa chan nhiệt tình đối với những bậc "Dân chi phụ mẫu " mà xưa nay Sinh thường tỏ ý rẻ khinh.
Đến đâu quan cũng xin Sinh lưu bút để cho khắc vào bia đá, cột đồng. Sinh phóng bút thao thao bất tuyệt. Mực thơm bút quí, lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu. Trước khi giả từ. Sinh còn lưu lại bài tán tổng kết công đức của quan để khắc vào chốn công đường và bài minh, ký để ghi tạc vào mấy cổ hồng chung tại các tháp đền quy mô trong hạt. Quan ân cần tiễn Sinh ra khỏi nha môn, đưa tặng một cổ ngựa bạch, mấy nén vàng, nhưng Sinh một mực chối từ không nhận để giữ vẹn lòng thanh khiết.
tranngocai
21-01-2005, 06:50 PM
Giữa mùa xuân ấy Sinh lâm bệnh nặng, nằm liệt suốt một tháng liền, Tuyết Hồng hết sức săn sóc thuốc thang, nhiều đêm không ngủ. Bệnh cũ như muốn tái phát, thần kinh rạo rực không yên, giấc ngủ chập chờn ác mộng. Mấy lần chống tay ngồi dậy, nhưng lại bủn rủn nằm xuống, hơi thở nóng ran như lửa. Một sớm đang nằm, nghe tiếng chim hoàng anh hót ngoài vườn vụt tắt, thấy một tia nắng lọt qua khe cửa chợt tàn. Sinh hốt hoảng tưởng chừng mùa xuân bỏ mình mà đi, bèn gượng ngồi lên xô mạnh cửa sổ. Mấy nụ hoa thắm cười duyên trước thềm, lá xanh tươi màu nhựa mới. Sinh gọi đem nghiêng bút và tập hoa tiên. Vừa cầm bút lên, Sinh bỗng kinh ngạc. Nghiêng mực đỏ tươi sắc máu. Thử chấm bút vào, lăn tròn ngọn bút đưa lên, bỗng thấy nhỏ xuống từng giọt, từng giọt thắm hồng như rỉ chảy từ tim. Khiếp đãm, Sinh ngồi sửng sờ, tâm thần thác loạn. Cố viết đôi chữ lên giấy, nét chữ quánh lại, lợn cợn như vệt huyết khô trên cát. Sinh vội buông bút, tưởng chừng bàn tay cũng thấm máu đầy. Đưa lên ngang mũi, mùi tanh khủng khiếp. Quệt tay vào áo, đau nhói trong người. Sinh nằm vật xuống mê man bất tỉnh. Sau mấy ngày, Sinh tỉnh dậy, lòng lại khao khát cầm bút. Nhưng nhớ hình ảnh vừa qua, tự nhiên đâm ra e ngại Sinh cố tập trung thần lực, men đến án thư vừa cầm bút lại thấy lãng vãng sắc máu, không sao có đủ can đảm vạch được nét nào. Sinh ném bút, hất giấy,vô cùng khiếp sợ, tưởng như xôn xao chung quanh vô số hồn oan đòi mạng. Từ đó Sinh gầy rạc hẳn, liệu không sống thoát.
Người cậu của Sinh từ lâu đã vào trong núi Hoa Dương ở với đạo sĩ họ Trình, một hôm tạt về thăm nhà thấy cháu suy nhược, rất là lo lắng. Sau khi nghe Sinh thuật hết những điều quái dị vừa qua, ông suy nghĩ hồi lâu rồi nói:
– Ta từng bảo cháu ngòi bút không phải không có oan khiên. Lưỡi gươm tuy ác mà trách nhiệm rõ ràng, lỗi lầm tác hại cũng trong giới hạn. Mượn sự huyễn hoặc của văn chương mà gây điều thiệt hại cho con người, tội ác của kẻ cầm bút xưa nay kể biết là bao, nhưng chẳng qua vì mờ mịt hư ảo nên không thấy rõ hay klhông muốn rõ mà thôi. Làm cho thiếu nữ băn khoăn sầu muộn, làm cho thanh niên khinh bạc hoài nghi, gợi cho người ta nghĩ vật dục mà quên nhân ái, khêu cho người ta tiếc tài lợi mà xa đạo nghĩa, hoặc cười trên đạo nghĩa của tha nhân, hát trên bi cảnh của đồng loại, đem sự phù phiếm thay cho thực dụng, lấy việc thiển cận quên điều sâu xa, xuyên tạc chân lý, che lấp bần hàn, ca ngợi quyền lực, bỏ quên con người, văn chương há chẳng đã làm những điều vô đạo? Tội ác văn chương xưa nay nếu đem phân tích biết đâu chẳng dồn thành ngàn dãy Thiên Sơn! Thần tạng của cháu kinh động thất thường, nhưng mà bản chất huyền diệu có thể cảm ứng với cõi vô hình, chắc cháu làm điều tổn đức khá nặng nên máu oan mới đuổi theo như vậy. Hãy xem có lỡ hứng bút đi lệch đường chăng? Soát lại cho mau, soát lại cho mau, chớ để chậm thêm ngày nào!
Lương Sinh nghe xong bồi hồi tấc dạ, trí tuệ xem như minh mẫn hơn nhiều, cơn bệnh do đó lui được khá xa. Sinh đem mấy tập thi tuyển của mình đọc lại từng câu, dò lại từng chữ, thấy toàn là ý bướm tình hoa, phát triển cảm xúc mà xao lãng trí tuệ, tán tụng thiên nhiên mà bỏ mất cảnh đời, trốn tránh thực tại, từ chối tương lai, nhưng nghĩ kỹ vẫn chưa dò được lối máu từ đâu. Bỗng sực nhớ đến những lời phóng bút viết cho quan Tổng trấn, không ghi lại trong thi tuyển, tâm não trở nên bàng hoàng. Đồng thời bao nhiêu gương mặt hốc hác trong ngày hội chùa lại hiện rõ, mấy cánh đồng trơ trọi, những tiếng thì thầm hai bên kiệu hoa, vẻ người nhớn nhác sợ hãi, những đòn dây trói, mấy dãy nhà giam, lần lượt như sống lại trước mắt. Những cảnh ấy thật trái ngược với những bài tán bài minh đã viết. Mồ hôi toát ra như tắm, Sinh đứng lên được, quyết định trở lại chốn cũ để tìm hiểu sự thật.
Sinh đến chốn cũ vào một buổi chiều nắng vàng thê lương phủ trên cảnh vật tiêu điều xơ xác. Qua khỏi dòng suối cạn, Sinh bước vào một thôn trang vắng vẻ, thưa thớt những mái tranh nghèo, không một bóng người thấp thoáng. Đến một gò cỏ úa héo chợt thấy một người nông phu ủ rủ trước nấm mộ mới hiu hiu mấy nén hương tàn, Sinh dừng bước, lại gần ngồi một bên, khẻ hỏi:
– Bác khóc thương thân quyến nào vậy?
Người kia ngước lên không nói, ngắm nhìn lại bụi đường trường bạc thếch trên quần áo của Sinh, dịu đôi mắt xuống:
– Người nằm dưới mồ không phải là bà con quen thuộc của tôi.
Sinh nghĩ:"Chẳng lẽ người này cũng là một kẻ thi nhân khóc thương cho kiếp hồng nhan bạc mệnh nào chăng?" Chưa kịp dò ý, người kia chợt hỏi, ra vẻ hoài nghi:
– Ông từ đâu mà đến đây?
– Tôi ở chốn xa, nhân bước đường phiêu lưu ghé tạt qua thôi. Buồn thấy miền này có vẻ tiêu điều hơn các nơi khác.
Người nông phu bỗng long lanh đôi mắt như không dằn được tấm lòng dồn nén bật lên những tiếng căm hờn:
– Nói cho muôn ngàn khách qua đường cũng chưa hả được dạ này. Ví dù phải chết ngày nay thân này chẳng tiếc, miễn sao bộc bạch cho được sự thật uất hận từ lâu. Đã bao năm rồi, sống dưới nanh vuốt của tên Tổng trấn họ Lý độc dữ hơn hùm beo, đồng ruộng gầy khô, dân làng đói rách. Đầu xuân này có khâm sai đi về, cụ thôn trưởng của chúng tôi mặc dù già yếu cũng quyết vì dân làm bản trần tình, cản đầu ngựa, níu bánh xe mà tỏ bày sự thật. Thế nhưng khâm sai đi khắp mọi nơi, chỗ nào cũng thấy bia đá cột đồng đầy lời hoa mỹ tán dương công đức Tổng trấn của thằng danh sĩ đốn mạt nào đó nên ném bản trần tình, không xét, bảo rằng:"Muôn ngàn lời nói của lũ dân đen vô học đâu bằng mấy vần từ điệu cao xa của kẻ danh nho. Danh sĩ bao giờ cũng biết tự trọng. Tổng trấn đã được hạng ấy tôn xưng, hẳn không phải bất tài". Thế đã thôi đâu, khâm sai đi rồi, Tổng trấn phái sai nha về tróc nã những người đã đầu đơn tố cáo nó. Bao người phải chết vì nỗi cực hình thảm khốc, vợ góa con côi, một trời nước mắt, ruộng đồng từ đây đành để nuôi loài cỏ dại mà thôi!
Sinh chết điếng cả người, giây lát mới gượng gạo hỏi.
– Chẳng hay bác có biết... danh sĩ ấy tên gì không?
Người nông phu trợn trừng cặp mắt, gào lên:
– Làm gì mà biết! Mà biết làm gì? Những hạng hiếu lợi hiếu danh, trốn trong từ chương để tiếp sức cho kẻ ác mà cứ tưởng mình thanh cao, hạng ấy thì đâu chẳng có! Dân làng đây ai cũng nguyền rủa hắn mà hắn nào có biết đâu! Nghĩ thương cho cụ trưởng tôi mấy lần đứng ra chịu nhận tội để cứu bao người mà bọn chúng chẳng chịu tha, cứ việc tàn sát thẳng tay, lôi đi lớp người này rồi đến lớp người khác, nên khi bị dẫn qua đây cụ tự móc họng cho trào máu ra mà chết để khỏi bị đày đọa. Trước khi nhắm mắt cụ còn gượng nói:"Được chết trên cánh đồng đã đẫm mồ hôi ta, thế là quí rồi. Chôn ta ở đây cho ta gần gũi với các người". Hơi thở gần tàn cụ nói tiếp:"Tội ác là ở lũ vua quan. Tên danh sĩ kia chỉ là cái cớ để chúng vin vào mà che lấp sự thật. Đừng oán hờn tên danh sĩ. Đáng thương cho nó!" Người nông phu dừng lại nghẹn ngào rồi tiếp:
– Nhưng bao nhiêu người khổ ở đây, bao kẻ chết nơi kia, nghĩ còn đáng thương xót gấp trăm ngàn lần!
Đoạn gục đầu trước mồ khóc than thảm thiết.
Sinh cũng sụp xuống hòa tiếng khóc theo.
Bóng đêm xóa nhòa, gió lạnh như từ cõi âm thổi về rung động bờ lau bụi cỏ. Sinh có cảm giác như theo cơn gió, oan hồn của người đã khuất hiện về chứng kiến cho những giọt lệ chảy ra từ một tấm lòng hối hận chân thành.
tranngocai
21-01-2005, 06:51 PM
NHẬN XÉT:
Câu chuyện này có nhiều điểm đáng nói. Từ buổi ban đầu Sinh đã hoài nghi giữa ranh giới của thiện ác, không nghiên cứu để minh định rõ ràng chơn ngụy của cuộc đời. Tuy được túc duyên làm người giàu sang đẹp đẽ là do đời trước tâm hồn rộng lượng chính nhân quân tử, nhưng đời này say sưa hoa nguyệt thi ca, trôi theo cảm xúc của trái tim mà quên tuyên dương đạo nghĩa. Những cảm hứng nghệ sĩ đã nung nấu Sinh trở thành kẻ si tình bồng bột và trí tuệ khuất lấp, không nhận ra sự lợi dụng của quan Tổng trấn man trá ác độc kia. Tuy không cố tâm, nhưng trong mê mờ bởi tình si men rượu, Sinh đã dùng ngòi bút giết hại bao nhiêu người, gây biệt ly đau thương cho bao nhiêu gia đình khốn khổ. Cái chất chân chính nhân nghĩa trong Sinh không suy giảm, nghĩa là đức không thiếu, nhưng tác hại nặng nề cho nhiều người nên phước đã tiêu tan. Ngòi bút của Sinh đã giết hại nhiều hơn lưỡi gươm họ Lã. Tội lỗi oan khiên ngút trời này đã khiến Sinh tức khắc lâm bệnh, và sự oán hờn căm hận bi thiết kia đã cảm ứng dòng mực thành dòng máu đỏ tươi.
Chúng ta chưa đề cập đến những kẻ biết là sai, nhưng vì quyền lợi địa vị mà vẫn dùng ngòi bút gây chia rẻ đấu tranh đau khổ cho đồng loại, chúng ta chỉ đề cập đến trường hợp Sinh không biết mình sai, lầm tưởng quan tổng trấn là cao cả xứng đáng để ca ngợi đến nổi gây nên máu đổ đầu rơi. Nhưng tại sao Sinh không nhận xét ra con người của viên quan họ Lý trong khi Sinh vốn thông minh đỉnh ngộ! Có một lý do nổi bật mà đạo Phật thường nhắc nhở:"Tình sanh, trí cách". Khi tình cảm che phủ thì trí tuệ bị khuất lấp. Nét đẹp của Lý tiểu thư làm Sinh chao đảo, dễ dàng bỏ qua vẻ kiêu hãnh còn in đậm nơi ánh mắt dáng nhìn. Rồi cộng với rượu nồng thịt béo làm Sinh say sưa lúy túy, sơ sài quan sát cảnh đồng ruộng khô khan, dân tình bạc nhược. Sự ca ngợi kính trọng giả tạo của quan Tổng trấn làm Sinh sướng vui ngây ngất. Những khoái lạc của ngũ dục dìm Sinh trong hỗn độn mê mờ. Quả thật, sự thụ hưởng khoái lạc trần gian luôn luôn chực chờ xô đẩy con người vào tội lỗi và khổ đau. Hạnh phúc tạm bợ nóng bỏng mà con người tìm cầu nơi ngũ dục thì nguy hiểm và mong manh. Xưa nay biết bao tội ác đã xảy ra chỉ vì tình, vì tiền, vì danh vọng! Chưa cần nói niềm vui của sự giải thoát thanh khiết như thế nào, nhưng trước hết nó không còn tội lỗi và bất an. Sinh vốn không phải người xấu, thế mà giai nhân, tiệc rượu và lời khen đã đưa Sinh đến oan nghiệt phủ phàng. Đức Phật chế năm giới để hạn chế bớt sự thụ hưởng sa đọa của người cư sĩ, tức là hạn chế tội lỗi và bất an cho họ. Rượu đã là thảm cảnh cho vô số những gia đình xưa nay. Nhiều nước trên thế giới đang tìm cách đấu tranh chống nạn nghiện rượu. Nước mắt của người vợ, của những đứa con đã đầy ấp trong cuộc đời khi mà người chồng, người cha của họ là tay bợm nhậu say sưa.
tranngocai
21-01-2005, 06:52 PM
Đời nay cũng vậy, nhiều kẻ trí thức cũng vì không nhận định kỹ đúng sai thiện ác, rồi vì sự mua chuộc bởi tình, tiền và địa vị đã dùng ngòi bút để gieo rắc sai lầm cho nhiều thế hệ mai sau. Những ngòi bút của họ đã là giông bão quay cuồng, thúc dục chiến tranh thù hận, đã là thuốc độc ghê gớm giết chết nghĩa nhân thiện lạc, đã là đêm tối mịt mờ che phủ lương tri nhân sinh. Họ không dùng ngòi bút để kêu gọi thương yêu thông cảm giữa con người, để giải tỏa chia cách thù oán giữa các quốc gia, để đề cao sự thanh khiết an tịnh của tâm hồn, trái lại, ngòi bút của họ đã viết lên thù hận, tham lam, đã đào ra hố sâu chia rẻ, đã khuấy động dục vọng ái nhiễm vào lòng muôn người. Những kẻ dại khờ tin theo họ đều phải đi vào nơi tối tăm đau khổ. Người cậu của Sinh có cái nhìn minh triết đã thấy được nguy hiểm và tội lỗi của ngòi bút từ ban đầu, và cũng chính ông gợi ý giúp Sinh tìm ra nguyên nhân của ngòi bút máu về sau. Ông đã kết tội văn chương chồng chất hơn ngàn dãy núi, điều này không ngoa. Quả thật, lưỡi gươm giết chết một người, kéo theo sự đau đớn của một gia đình, một dòng họ. Nhưng một cuốn sách tà kiến phổ biến ra là kéo theo sự đọa lạc tâm hồn của vô số người hôm nay và mai sau, và chính sự đọa lạc tâm hồn sẽ làm họ và thân quyến họ đau đớn nhiều lần hơn thế nữa.
Trường hợp của Sinh chỉ là gây nên cảnh chết chóc máu đổ thịt rơi, ở những trường hợp khác, ngòi bút dẫn dắt mọi người đi ngược lại chân lý mới là nguy hiểm gấp bội lần. Nếu bị giết, họ chỉ đau đớn một lần. Nhưng nếu đi ngược lại chân lý của từ bi, trí tuệ, họ sẽ phải chịu đau đớn trăm nghìn lần sau nữa.
Một cuốn sách một bộ phim, khích động ái tình dục vọng làm hoang mang xao xuyến tâm hồn bao người, tội lỗi của tác giả không thể đếm xuể. Ngoài những sự đền trả ở địa ngục và súc sanh, nếu được làm người, họ sẽ là người tâm thần xao động bất an và dục tính lẫy lừng. Rồi dục tính lẫy lừng lại đưa họ trở về đọa xứ.
Một tác phẩm, một chủ thuyết khích động chiến tranh, phủ nhận Nghiệp báo, gieo rắc ác tâm cho bao nhiêu lớp người qua các thế hệ, phế bỏ sự bố thí, phát sinh sự bỏn xẻn... Tội lỗi của tác giả vực sâu núi cao không chứa hết. Họ phải đền trả tội nghiệp này, nhưng đáng thương cho những người theo họ cũng chìm vào khổ cảnh.
Người cầm viết phải thấy trách nhiệm nặng như núi của mình, trước hết phải tâm nguyện đem ánh sáng của tình thương và chân lý thắp sáng giữa nhân sinh, quyết không vì tiền bạc địa vị mà nói sai lẽ phải. Kế đó phải nghiên cứu tìm ra cái gì là lẽ phải, cái gì là Đạo Đức chân thật, cái gì là hạnh phúc vĩnh cữu, đó là những điều cần phải tuyên dương với trọn tâm huyết và lòng quả cảm của mình. Nếu trọn đời bạn đã thắp sáng ngọn lửa thiêng liêng của lẽ phải, sự chờ đợi dành cho bạn là phúc lạc vĩ đại lâu dài ở mai sau.
Thường thì chúng ta đã tìm hạnh phúc trong vật chất, trong quan hệ tình cảm với mọi người, trong vinh quang của danh vọng, chúng ta chưa bao giờ ngờ rằng có một hạnh phúc chân thật, cao cả, thanh khiết, vĩ đại hơn mọi hạnh phúc kia, đó là sự an định của tâm hồn, đó là sự lắng sâu trong Thiền Định. Tất cả những niềm vui thông thường chỉ bắt nguồn từ suy tư, xao động và kéo theo sau nó là lo lắng bất an, còn hạnh phúc chân thật thì đơn giản và an tĩnh. Tâm không suy nghĩ thênh thang như mây trời, trong vắt như hư không, nhẹ nhàng như gió thoảng, an lạc như vô biên. Từ tâm không suy nghĩ này phát sinh tình thương người rất quảng đại từ ái, không phải khô khan như cây đá, phát minh trí tuệ nhận thức sáng suốt rõ ràng, không phải ngu ngơ như rong rêu. Tâm không xao động đó là hạnh phúc cần phải tuyên dương, đó là Đạo Đức cần phải phổ biến, đó là chân lý cần phải truyền đạt. Còn những triết thuyết cực đoan một chiều đưa đến bất an thù hận thì không thể so sánh chút nào.
Hầu hết nguyên nhân của tội lỗi đều được gây nên bởi dục vọng. Con người vì dục vọng riêng mình nên mới tác hại cho tha nhân. Trường hợp của Sinh không phải vì mong cầu dục vọng riêng mình, nhưng rõ ràng dục vọng vô tình của nữ sắc, rượu thịt, lời khen đã đưa Sinh vào oan trái. Muốn có sức tỉnh táo sáng suốt nhận định đúng lẽ phải, chúng ta cần có một cuộc sống thanh khiết đơn giản, đừng để dục vọng chi phối. Thoát được gông kềm của dục vọng, có được nội tâm an tĩnh thênh thang, ngòi bút của chúng ta sẽ viết thành thiên trường ca của lẽ phải làm tươi mát tâm hồn của muôn người vốn bị thiêu đốt bởi tham lam thù hận. Tội của ngòi bút rất trầm trọng, nhưng công của ngòi bút rất lớn lao. Nhưng để có được công đức to lớn này, người cầm viết phải tìm thấy lẽ phải và dâng cả cuộc đời mình sống cho lẽ phải đó. Sức mạnh của ngòi bút ở tại sức sống của tác giả. Người đã sống được với lẽ phải, những lời viết ra có sức mạnh tác động cho người đọc rất nhiều. Còn những người chưa từng rèn luyện mình trong mỗi ý nghĩ sâu kín, chưa thanh lọc mình trong mỗi hành vi nhỏ nhặt, văn của họ chưa có sức mạnh chuyển hóa tâm hồn của người xem. Công đức của văn chương rất lớn, nhưng muốn thực hiện được công đức này, tác giả phải dọn tâm hồn mình trong an nhiên và cao thượng. Đời sống của Victor Hugo đã kết tinh thành "Les Misérable". Tư cách của Léon Totstoi đã un đúc thành "Chiến tranh và hòa bình", "Cha Sergius"..., cuộc sống giải thoát của Ksishnasmurti mới tạo thành "The first and last freedom", "Commentary on living". Chính cuộc sống của chúng ta sẽ làm cho ngòi bút chúng ta có công hay có tội.
tranngocai
21-01-2005, 06:54 PM
14 – QUẢ BÁO RẤT NHẸ
(Trích Tăng Chi Bộ kinh 3 A, tr 230)
"Này các Tỳ Kheo, sát sanh được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loài bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của sát sanh là được làm người với tuổi thọ ngắn.
"Này các Tỳ Kheo, lấy của không cho được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục. Quả dị thục hết sức nhẹ của lấy của không cho là được làm người với sự tổn hại tài sản".
"Này các tỳ kheo tà hạnh trong các dục được thực hiện,... đưa đến địa ngục, bàng sanh, ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của tà hạnh trong các dục là được làm người với sự oán thù của kẻ địch."
"Này các Tỳ Kheo, nói láo được thực hiện,... đưa đến địa ngục, bàng sanh, ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của nói láo là được làm người, bị vu cáo không đúng sự thật."
"Này các Tỳ Kheo, nói hai lưỡi được thực hiện, đưa đến địa ngục, bàng sinh, ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của nói hai lưỡi là được làm người với bạn bè bị đổ vỡ."
"Này các Tỳ Kheo, nói ác khẩu được thực hiện..., đưa đến địa ngục, ngạ quỷ, bàng sanh. Quả dị thục hết sức nhẹ của sự nói ác khẩu là được làm người với bị nghe những tiếng không khả ý ."
"Này các Tỳ Kheo, nói lời phù phiếm... là được làm người nghe những lời khó chấp nhận."
"Này các Tỳ Kheo, uống rượu lên men, rượu nấu... là được làm người với tâm điên loạn."
tranngocai
21-01-2005, 06:56 PM
NHẬN XÉT:
Đây là những lầm lỗi căn bản của người tại gia cư sĩ mà Đức Phật đã đề cập đến rất nhiều. Ở đây nêu lên tám điều, nhưng gom lại chỉ trong năm điều để Phật chế thành ngũ giới. Ngũ giới là hàng rào gìn giữ chúng sinh có được thân người không rơi vào ba đường ác quá đau khổ.
Thời nay có nhiều người tu thiền, nghe nói:"Tâm bình hà lao trì giới, hạnh trực hà dụng tu thiền", họ có quan niệm xem thường giới luật. Họ cho rằng giữ giới là gò bó và phá giới là... tự tại! Có người sau một thời gian dụng công, được sức tỉnh giác rỗng rang của chánh niệm, thử uống rượu, vẫn thấy còn giữ được tâm tỉnh giác này, liền cho mình đã tự tại không còn bị vấn đề giữ giới phạm giới chi phối. Hạng tà kiến này không bao lâu sẽ phạm những trọng giới để rồi đọa vào đường ma.
Phải biết rằng người tự tại là người đủ sức giữ giới. Chưa đủ sức giữ giới tức là chưa tự tại. Phá giới là chuyện dễ làm của kẻ phàm phu, đâu phải là chuyện cao siêu khó khăn gì. Tu một thời gian rồi đủ sức... phá giới, hạng người này là gì, nếu không là hiểu sai?
Có thể chúng ta uống vài chung rượu, lấy lén vài món đồ mà trình độ công phu nào giờ vẫn không thối thất. Nhưng chúng ta đừng xem thường, phạm vài lần nữa sẽ bị thối thất công phu. Hơn nữa chúng ta cần phải giữ giới để làm gương cho người khác. Chúng ta phải quý kính giới luật như là sự thể hiện chân chính của tâm hồn giải thoát. Tâm hồn thênh thang giải thoát được thể hiện nơi giới luật kỹ lưỡng, không phải thể hiện nơi sự bừa bãi phóng túng. Chúng ta sẽ trở lại vấn đề này nơi phần phân tích Nhân Quả xuất thế gian.
Sự vi phạm quá đáng những giới căn bản nêu trên đều đưa đến địa ngục, súc sanh và ngạ quỷ. Ở đây Đức Phật cho biết quả báo rất nhẹ của ác nghiệp đó là những nghịch cảnh nơi thân người. Sở dĩ có trường hợp quả báo rất nhẹ này là do người kia có thể đã từng tạo những công đức khác lớn lao hơn để chận đứng được sự đọa vào ba ác đạo. Tuy nhiên nơi thân người. Họ vẫn phải gặp nghịch cảnh tương xứng với ác nghiệp đã gây.
Người sát sinh tức là triệt mất thọ mạng của chúng sinh. Sự đền trả tương xứng dành cho họ là bệnh hoạn và yểu mệnh. Sau khi nghe tin báo là đã thiêu mấy vạn quân địch trong hang núi, Khổng Minh than thở rằng ông sẽ giảm thọ một kỷ (mười hai năm). Quả báo hiện đời như vậy là quá nhẹ. Có thể do công đức trong đời quá khứ của ông rất lớn chăng?
Được thấy cho biết rằng mình sẽ chấm dứt thọ mạng trong bảy ngày nữa. Ông Sa Di xin về thăm nhà. Giữa đường ông vớt một ổ kiến to trôi theo nước lũ. Công đức này đã kéo dài thọ mạng của ông thêm một thời gian nữa.
tranngocai
21-01-2005, 06:57 PM
Chúng ta cũng thường gặp những người có vẻ hiền lành, chưa thấy tạo nghiệp gì quá đáng nhưng vẫn chịu một đời sống ngắn ngủi. Có khi họ nhận một tai nạn bi thảm như đụng xe, trôi sông lửa cháy... rồi mạng sống kết thúc. Cũng có khi họ bệnh qua loa rồi mất. Những hiện tướng như thế đều là sự báo ứng từ nghiệp sát sinh trong quá khứ.
Chúng ta đặt vấn đề những chiến sĩ chiến đấu nơi tuyến đầu để bảo vệ đất nước. Quả báo sẽ ra sao khi sự chiến đấu kịch liệt đêm ngày luôn luôn đưa đến sự sát sanh đầy dẫy. Dĩ nhiên cuộc chiến tranh xảy ra là do quả báo oán thù giết hại nhiều đời, nhưng ở đây chúng ta trích ra một phần để khảo sát Nhân Quả của một chiến sĩ cầm súng chiến đấu. Sự kiện nào cũng vừa là nhân vừa là quả, không chỉ đơn thuần một chiều. Quả báo đã khiến họ phải đối đầu với nhau để một mất một còn. Nhưng ngay lúc ấy cũng là lúc họ gây nhân mới cho vị lai.
Như đã nói, sát sinh luôn luôn là một bất thiện nghiệp. Tuy nhiên một bất thiện nghiệp có thể được hóa giải bởi một đại thiện nghiệp. Đại thiện nghiệp được nhắc đến ở đây là chiến đấu bảo vệ sự bình yên cho nhân dân bên trong lãnh thổ. Nếu người chiến sĩ phải chiến đấu để ngăn chặn sự xâm lăng từ bên ngoài, giữ cho phần đất bên trong được yên ổn, cho em bé ngày ngày tới trường, cho mẹ già say giấc ngủ trưa, cho cánh đồng xanh màu lúa mới, cho chuông chùa văng vẳng xa đưa... thì sự chiến đấu này là một thiện nghiệp lớn lao hóa giải bớt bất thiện nghiệp của sự sát sinh. Chính sự cao thượng nơi lòng hy sinh cuộc sống của mình để đem lại yên ổn cho những người khác là một công đức lớn.
Ngược lại, nếu đây là sự xâm lăng đúng với bản chất của nó, có thể nó được che đậy bởi những chiêu bài khéo léo và lý tưởng, nhưng nó đã dấy lên khói lửa loạn lạc, dấy lên tung tóe kinh hoàng, thì sự sát sinh này đưa những người chiến đấu đi về ác đạo lâu dài về sau.
tranngocai
21-01-2005, 06:58 PM
Qua vấn đề trộm cắp. Khi tôi còn là một Sa Di, ở nơi chiếc thất nhỏ trên cánh đồng vắng, tôi quen với một thanh niên hiền lành ít nói và nghèo khổ nhìn dòng chữ "Thừa phủ ngày..." được xâm nơi bắp chân tôi chẳng hiểu gì. Sau này anh vợ của thanh niên đó là một phật tử cho tôi biết thanh niên kia đã từng ở tù tại nhà lao Thừa phủ Huế, vì tội trộm cắp. Vì chứng kiến một quả báo hiện đời mà anh trở nên tin luật Nhân Quả Nghiệp báo. Có một lần anh cuỗm mất cái giỏ xách tay của một thiếu phụ chuẩn bị đồ đạc để đi nhà bảo sanh vì cơn đau đẻ đã xuất hiện. Mất giỏ đồ, người thiếu phụ khóc hết nước mắt. Sau này anh vào nam lập gia đình. Đêm trước ngày đưa vợ đi sanh, cướp vào nhà lấy đúng cái giỏ xách đựng đồ đạc để đem đi nhà bảo sanh. Vợ anh khóc hết nước mắt còn anh thì ngậm ngùi thống hối ăn năn. Biết chuyện như vậy tôi thường khuyên anh ráng đem công sức đắp lại những đoạn đường hư trong xóm làng. Có khi chính tôi phải tìm đoạn đường cần đắp và rủ anh cùng làm. Sau này tôi rời vùng đó đi về nơi khác, mọi chuyện chìm vào quên lãng theo thời gian phôi pha. Chợt người anh vợ đến tìm tôi, trao tôi món quà của người thanh niên năm nào, và cho biết vợ chồng anh ta đã trở nên khá dả rất nhiều.
Sự mất mát đồ đạc không chỉ đơn thuần là thiếu thốn, nó còn là nỗi bế tắc tuyệt vọng trong đời sống của con người. Bạn có thể tưởng tượng ra sự đau khổ tuyệt vọng của một người tới ngày sanh đẻ bị lấy mất hết đồ đạc. Đây là một trường hợp, còn vô số những trường hợp đau đớn hơn nhiều. Có khi người bị mất đã phải dùng đến biện pháp tự vẫn. Vì kẻ trộm cướp đã lấy đi chút tài sản nương tựa cuối cùng trong đời họ. Có khi vì món đồ bị mất, vợ chồng cha con nghi kỵ chia rẻ với nhau, ở đây sự trộm cắp đã tác thành sự bất hòa. Món đồ bị mất không chỉ đưa đến sự giảm thiểu tài sản mà thật sự đã đưa đến nhiều đổ vỡ tinh thần của mọi người. Sự đau khổ do trộm cắp gây nên đã nhiều như núi như biển. Vì vậy, quả báo chờ đợi cho kẻ tội lỗi này là hình phạt và khổ cảnh nơi địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Nếu sự đền trả đã vơi, hoặc nếu kẻ kia đã tạo được nhiều công đức to lớn để vẫn được thân người, thì quả báo rất nhẹ chờ đợi cho y là tài sản bị tổn hại. Nếu đời này chúng ta thỉnh thoảng bị mất trộm, hãy thản nhiên chấp nhận một cách vui vẻ vì tin rằng đây là nghiệp quả từ thuở lâu xa nào rơi rớt đến tận hôm nay.
tranngocai
21-01-2005, 06:59 PM
Ác nghiệp thứ ba là tà dâm, tức là ngoại tình. Sinh ra giữa cuộc đời cấu uế này, chúng ta đã có mặt trong vũng bùn dâm dục. Bản chất của chúng sinh là ái dục, là dâm dục. Vì thế hết lớp người này nối tiếp lớp người kia đều phải lẩn quẩn trong ái dục của đời sống vợ chồng. Tuy nhiên khoái lạc trần gian luôn luôn là sự chực chờ của bất an và tội lỗi. Kẻ thỏa mãn phủ phê mọi dục vọng của mình, chắc chắn là kẻ tắm mình trong tội lỗi, không có Đạo Đức và bình an nơi một kẻ thỏa mãn dục vọng lẫy lừng của mình. Chỉ có bớt đi dục vọng, người ta mới tránh được bất an và tội lỗi.
Trong một chừng mực ước lệ nào đó, sinh hoạt tính dục được chấp nhận giữa hai vợ chồng chính thức không có liên hệ về huyết thống. Nếu sinh hoạt tính dục xảy ra giữa hai người không phải vợ chồng chính thức, đây là ngoại tình; nếu xảy ra giữa hai người có liên hệ huyết thống, đây là loạn luân; nếu xảy ra giữa người và thú, đây là cuồng dâm; nếu xảy ra giữa hai người cùng phái, đây là bệnh đồng tính; nếu xảy ra giữa người trưởng thành và đứa trẻ chưa phát triển, đây là bạo dâm... Chung quanh khoái lạc trần gian đều là tội lỗi giăng bủa!
tranngocai
21-01-2005, 07:00 PM
Bệnh AIDS đang hoành hành làm điên đầu các cơ quan y tế, chung quy cũng xuất phát từ những kẻ hưởng thụ quá đáng khoái lạc xác thịt và sai lầm trong quan hệ tính dục. Khi hệ thống thần kinh được rung động theo khoái cảm, nó tự đánh mất khả năng đề kháng của cơ thể. Không phải virus nào đó đã gây thành bệnh AIDS, mà chính khoái cảm của họ đã gây thành tình trạng mất khả năng miễn nhiễm nơi chính họ. Kẻ nào tiếp tục tìm kiếm khoái cảm – quá đáng và sai lầm – sẽ không bao giờ thoát khỏi nanh vuốt của hội chứng AIDS.
Thế nên, quan hệ tính dục sai lầm tức là gây mê muội ô nhiễm cho mình và người. Riêng vấn đề ngoại tình không phải đơn thuần là lén lút thụ hưởng khoái cảm tính dục, mà nó là sự cướp mất hạnh phúc của người khác. Không thể có sự thương yêu săn sóc đầy đủ đối với vợ con khi mà người chồng còn phải chia xẻ tình thương và khoái lạc với tình nhân khác. Sự trộm cắp tài sản đã gây nên đau khổ thế nào thì tương tự và hơn thế, ngoại tình là sự trộm cắp hạnh phúc gắn bó của gia đình người ta. Hạnh phúc vắng bóng có nghĩa là đau khổ lấp đầy. Những điều có thể tìm thấy sau sự đổ vỡ của hạnh phúc gia đình là ghen tuông, hờn giận, mắng nhiếc, đánh đập và nghèo nàn. Trong tất cả sự thụ hưởng khoái lạc của trần gian thì tính dục (sex) là sự thụ hưởng thấp hèn nhất. Đó là lý do tại sao con người biết tự trọng phải sinh hoạt tính dục nơi kín đáo. Chỉ có người mất hêt nhân cách, gần gũi với thú tính mới lộ liễu phơi bày những sinh hoạt của tính dục nơi công cộng hoặc trên màn ảnh và sách vở. Tận trong lương tâm của con người, khoái cảm tính dục luôn luôn đi kèm với sự xấu hỗ. Chính vì sự thấp hèn quá đáng của khoái lạc tính dục mà người thụ hưởng nó – quá đáng và sai lầm – đều bị tổn phước và tội lỗi. Nếu liệt kê những hưởng thụ từ thanh bai đến thô tục của con người thì nhạc không lời là sự thưởng thức thanh bai nhất, kế đó là hội họa phi tính dục. Còn thô tục nhất là hưởng thụ tính dục. Nhưng dù thanh bai hay thô tục thì nó vẫn còn nằm trong giới vức của khoái cảm trần gian. Người tu hành cầu giải thoát phải từ chối mọi khoái cảm này, chỉ có tâm hồn an tĩnh sâu xa, không bất an xao động, mới là hạnh phúc chân thật và vĩnh cữu.
Nếu vượt qua được quả báo nơi địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh, người tà hạnh trong ái dục phải gặp gỡ sự oán thù của kẻ địch, hạnh phúc gia đình bị đổ vỡ, không tìm được sự chung thủy chân thành.
tranngocai
21-01-2005, 07:01 PM
Ác nghiệp thứ tư là nói láo. Ý nghĩa nói láo ở đây là kết tội người khác sai sự thật, hoặc khen ngợi người khác sai sự thật. Khen sai sự thật đã được đề cập ở bài “Bút Máu”, ở đây chúng ta phân tích sự kết tội sai sự thật vì ác tâm. Tuy nhiên, nói láo có ý nghĩa rộng hơn nhiều, có nói không, không nói có, trình bày sai sự thật, làm người khác hiểu lầm. Nhưng sự tác hại của việc nói láo không dừng ngang ở chỗ khiến cho người khác hiểu lầm, phía sau sự hiểu lầm đó là máu đổ thịt rơi, là nhà tan cửa nát.
Lời tuyên bố quả quyết rằng ai không tin Thánh kinh Coran cần phải được giết chết để không làm dơ bẩn trần gian. Đấng Allah sẽ ban thưởng cho những chiến sĩ chiến đấu để tiêu diệt ngoại giáo, để truyền bá Hồi giáo. Sau những lời tuyên bố đó, ngựa của những đạo quân Hồi giáo phải khó khăn lội qua dòng sông ngập máu người đến gối, dẫm qua xương thịt nhầy nhụa của thây người đầy cả cánh đồng. Cuộc “thánh chiến” kéo dài ngót năm thế kỷ còn là nỗi kinh hoàng đến hôm nay.
“Không có Nhân Quả Nghiệp báo!” Phía sau lời tuyên bố sai sự thật này là tội phạm lan tràn khắp nơi. Nhà tù không đủ sức giáo dục con người trở thành Đạo Đức. Victor Hugo đã phê phán điều này gay gắt qua tác phẩm vĩ đại “Những kẻ khốn cùng”. Khi con người không tự kiểm soát những hành vi thiện ác của mình bằng nguyên lý Nhân Quả, thì không còn có thể có một biện pháp nào ngăn chận tội lỗi của họ được thực hiện qua nhiều cách tinh vi.
Lịch sử cũng đã ghi đầy những trường hợp vu cáo sai lầm bởi những kẻ tranh giành quyền lợi với nhau, và sau đó là giết hại thù oán lê thê. Chính vì tác hại của sự nói láo nặng nề như thế nên địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh là quả báo dành cho họ. Còn quả báo rất nhẹ ở thân người là bị vu khống oan ức khó tỏ bày.
tranngocai
21-01-2005, 07:02 PM
Ác nghiệp thứ năm là nói lời hai lưỡi nghĩa là gây chia rẽ mọi người với nhau. Người này đã dùng lời khích động sự tự ái của đôi bên để đôi bên căm tức nhau, hoặc hắn dựng đứng những sự kiện không có thật để đôi bên hiểu lầm nhau. Với mọi thủ đoạn thâm độc, hắn đã làm đôi bên nghi kỵ, thù hận với nhau. Phía sau sự đổ vỡ đoàn kết đó là đấu tranh tàn hại, là cửa mất nhà tan, là lửa khói điêu tàn. Thế giới ngày nay đã chia rẽ quá nhiều bởi vô số lý thuyết. Trong tất cả nguyên nhân đưa đến chia rẽ, thì anh hùng cá nhân là một nguyên nhân đáng kể. Ai cũng muốn mình là lãnh tụ duy nhất, muốn mình là người được công đầu, muốn mình là vì sao chói sáng. Để trở thành anh hùng giữa muôn người, chúng ta phải phủ nhận những cái hay của người khác, tiêu diệt phe phái khác, công kích những ngôi sao khác.
Nhiều người rất sở trường về môn này. Họ rất thông minh tài giỏi nhưng không thể hợp tác với nhau một cách lâu dài vì ai cũng muốn mình trở thành nhân vật số một. Chỉ khi nào họ biết vì lợi ích chung mà bỏ đi chủ nghĩa anh hùng cá nhân thì tài năng của họ mới có thể góp lại để tạo nên những thành tích phi thường.
Ai cũng tuyên bố đường lối mình là đúng và cực lực công kích tất cả đường lối khác. Sự độc tôn này đưa đến ít nhất hai điều tai hại:
– Một, gây sự chia rẽ với mọi người.
– Hai, làm cho những người tin theo mình có mặc cảm tự cao, và tự cao là điều sai lầm trước hết.
tranngocai
21-01-2005, 07:04 PM
Các tôn giáo đã độc tôn và phủ nhận tôn giác khác. Rồi trong một tôn giáo các tông phái đã độc tôn và phủ nhận tông phái khác. Điều chúng ta có thể khẳng định là sự chia rẽ chỉ xuất phát từ một quan điểm sai lầm. Người có quan điểm chân chính không bao giờ ưa thích sự độc tôn và chia rẽ có thể họ đã chứng nghiệm một chân lý tuyệt vời nơi tự thân, nhưng nếu nó là chân lý, nó luôn luôn đưa đến sự khiêm hạ và dung hòa. Khiêm hạ và dung hòa là sự thể hiện của những tâm hồn chân chính.
Chư Thánh tàng ẩn vào các nơi để giáo hóa. Tùy theo căn cơ tâm tính của mỗi hạng người mà chư Thánh lập bày những phương tiện sai biệt để đưa lần về một chân lý chung duy nhất. Nếu chúng ta độc tôn phe nhóm của mình, công kích phe nhóm người, có thể chúng ta sẽ công kích nhằm những bậc Thánh cao cả. Điều này đưa đến đọa lạc nặng nề.
Chúng ta muốn tình thương yêu chan hòa giữa mọi người, muốn thế giới này không có oán thù, ganh ghét hãy cẩn thận dè dặt về sự phán xét đối với bất cứ ai. Khi nào có sự khiêm hạ và dung hòa, lúc đó chúng ta gần gũi với chân lý. Chẳng những chúng ta không gây nên sự chia rẽ mới, mà còn phải tích cực hàn gắn những chia rẽ có sẵn giữa mọi người. Những chia rẽ có sẵn đó là gì, đó là bức tường vô hình giữa các tôn giáo, giữa các triết thuyết.
Muốn đánh đổ những bức tường ngăn cách giữa các chủ thuyết, chúng ta có hai phương pháp áp dụng tùy theo mỗi trường hợp.
Nếu các chủ thuyết đó có chỗ giống nhau, hãy khai thác triệt để điều này. Ví dụ để bớt sự hiềm khích giữa Thiên chúa giáo và Phật giáo, chúng ta dẫn chứng lời chúa Jésus:
“Thiên quốc không ở bên này, không ở bên kia, mà ngay trong chính chúng ta.”
Như thế thì Thiên Quốc chính là chân tâm, là Niết Bàn của Phật giáo. Krishnamurti cũng nói: “Cái mà Phật gọi là Niết Bàn, Jésus gọi là thiên quốc, thì cái đó tôi gọi là cuộc sống”
(What The Buddha called Nirvana, Jésus called The Heaven, I call it the living)
– Nếu các chủ thuyết đó cố giữ những quan điểm trái ngược lẫn nhau, hãy phủ nhận tất cả. Chính lý tánh không Trung Quán của Bồ Tát Long Thọ, phủ nhận mọi quan điểm đương thời, thế mà đã xóa sạch hai mươi bộ phái để đưa Phật giáo qui về một mối.
Krishnamurti đã phủ nhận mọi giá trị của tất cả tín điều, triết thuyết, thế mà đã cởi bỏ mọi cố chấp của con người, đưa họ lại gần với nhau hơn.
..... Mãi về sau tôi có viết những dòng thơ để nói
Sẽ chẳng nói lên để ca ngợi tình yêu
Vì tình yêu là hình ảnh buổi chiều
Tuy êm ái nhưng sẽ vào đêm tối.
Mãi về sau tôi có viết những dòng thơ để nói.
Sẽ chỉ nói lên để ca ngợi tình thương
Của những người vì nhân loại quê hương
Của hạnh phúc thoát ra ngoài tội lỗi.
Mãi về sau tôi có viết những dòng thơ để nói
Sẽ nói lên để ca ngợi sự an nhiên
Hạnh phúc nào thong thả tự thần tiên
Rất thanh thoát ung dung và đĩnh đạc.
Mãi về sau tôi có viết những dòng thơ để hát
Sẽ đoàn kết mọi người trong một trái tim chung
Hạnh phúc thiêng liêng và vĩ đại vô cùng
Một là tất cả và tất cả mọi người chỉ là một.
Trong đời sống gần gũi hằng ngày, hãy sẵn sàng hàn gắn những chia rẽ tỵ hiềm giữa các cá nhân.
Đoàn kết thương yêu là một trong những hạnh phúc của con người. Thế nên hành vi ly gián chia rẽ là một tội lỗi. Tùy theo mức độ nghiêm trọng của tội lỗi này mà kẻ tạo nghiệp sẽ phải chịu khổ báo ở địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Nếu được làm người, y sẽ là người với nỗi cô độc, cô đơn, bạn bè đổ vỡ. Môi bị sứt đôi, chia đôi cũng là hiện tướng của lời nói chia rẽ trong quá khứ.
tranngocai
21-01-2005, 07:05 PM
Ác nghiệp thứ sáu là ác khẩu. Nghĩa là chưởi rủa nhục mạ quá đáng.
Dân chúng từ Kosambi nghe lời xúi giục của thứ hậu Magandiya, vợ vua Udena, đã nói những lời ác khẩu nặng nề với Đức Phật. Với tâm hồn nhẫn nhục bao dung, cuối cùng Đức Phật đã cảm hóa những kẻ sai lầm ấy.
Ác khẩu còn là những lời đe dọa ghê gớm đòi giết đòi đánh hoặc những tiếng chưởi thề kém nhân cách.Những lời ác khẩu như vậy chỉ xuất phát từ những tâm hồn thấp kém, thiếu giáo dục. Ca dao Việt Nam có câu:
“Kim vàng ai nỡ uốn câu
Người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời”
Thật vậy, người khôn ngoan sáng suốt không bao giờ buông ra những lời ác khẩu bỉ ổi dành cho người khác. Trừ những người thuần thục trong Thiền Định mới không bị đau khổ bởi những lời ác khẩu, còn những chúng sinh khác đều bị mất bình tĩnh, đau đớn, tự ái, khổ sở, nhục nhã khi bị xúc phạm bởi những lời ác khẩu. Ở đây, đau khổ gây ra không bởi đánh đập, giết hại, mất mát, ngoại tình...nhưng bởi sự nhục nhã từ ác khẩu.
Kinh Hiền Ngu và luật Sa Di của Phật Giáo Bắc phương có ghi lại trường hợp một chú Sa Di vì vô tình đã chê một vị Alahán tụng kinh giống tiếng chó sủa. Do biết sám hối nên chú Sa Di thoát được quả báo địa ngục nhưng vẫn phải thọ thân chó năm trăm đời.
Phỉ báng người thường tội nhẹ hơn phỉ báng bậc Thánh. Phỉ báng bậc Thánh thì không lường được những hậu quả ghê gớm của nó. trước hết, họ phải bị mất hết danh dự đang có trong hiện đời, mất hết địa vị quyền chức, tuột xuống chỗ tầm thường hạ liệt. Người được làm tăng, nếu lỡ công kích nhằm bậc Thánh sẽ mất phước làm tăng, bị thối chuyển trở lại thế tục.
Ngược lại với ác khẩu là lời nói nhu hòa, khả ái, khen ngợi dành cho nhau. Trong quan hệ giao tiếp giữa con người, hạnh phúc đến với nhau từ những lời nói lễ độ, tôn trọng, nhu hòa, khả ái. Người có được ái ngữ như thế tức là đã có một lợi khí để ban phát hạnh phúc cho mọi người chung quanh mình. Ai cũng cần được tôn trọng, vì thế hãy đem sự tôn trọng đến với mọi người bằng lời nói và cử chỉ. Lịch sự cũng chính là hình thức ái ngữ của người văn minh. Đừng đem lời thô lỗ cộc cằn xúc phạm đến với nhau làm cho nhau đau khổ. Sự đau khổ của mọi người hiện tại sẽ biến thành sự đau khổ cho chính mình ở địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh mai sau. Nếu được làm người, sẽ phải chịu đựng những lời nói nhục mạ cay chua.
Ác nghiệp thứ bảy là nói lời phù phiếm– theo tạng Pàli– nhưng theo Hán tạng lại là ỷ ngữ có hàm ý khoe khoang phô trương. Chúng ta có thể kết hợp cả hai tạng để định nghĩa cho trường hợp này là: Nói lời vô ích và khoe khoang.
Nói lời vô ích đùa cợt làm loạn động tâm người, không đưa đến sự tăng trưởng của thiện pháp. Những lời này thường được nghe từ các kẻ ăn không ngồi rồi tụm năm tụm ba bàn chuyện thị phi, nói chuyện tiếu lâm, cười cợt vô nghĩa. Những lời tục tỉu dơ bẩn, những tiếng chưởi thề “đệm” theo câu nói... cũng là nói phù phiếm. Những câu chuyện huyền hoặc mê tín, những lời đồn nhảm cũng là nói phù phiếm .
Câu chuyện phù phiếm làm mất thì giờ, tăng trưởng ác pháp, rối loạn tâm người, gây ảnh hưởng xấu cho những người chung quanh. Một người cha có thói quen văng tục thì khó có những đứa con đàng hoàng. Hầu như không tìm thấy người đứng đắn trong đám người nói chuyện có quá nhiều tiếng tục tỉu kèm theo. Người tự trọng không bao giờ để miệng mình phát ra những tiếng dơ bẩn như vậy. Chỉ có tâm hồn thấp kém mới để rơi rớt những tiếng thô tục bẩn thỉu mà thôi.
tranngocai
21-01-2005, 07:07 PM
Là người đệ tử Phật có tâm hồn chân chính khi gặp nhau, chúng ta chỉ nên bàn sâu về đạo lý để sách tấn nhắc nhở nhau áp dụng tu hành trong đời sống hằng ngày. Đừng để mất thời giờ vì những câu chuyện vô nghĩa trống rỗng vu vơ. Nếu câu chuyện đạo lý làm tăng trưởng thiện pháp bao nhiêu thì câu chuyện phù phiếm làm tăng trưởng ác pháp bấy nhiêu. Như vậy, tội và phước cũng theo đó lập thành.
Còn lời khoe khoang thì làm tổn đức người nói. Khi gặp một người thường kể về những cái hay của họ, bạn có thể đánh giá lập tức mà ít sai lầm là người này chưa thật là người tốt. Thiền sư Zenzetsu (Nhật) căn dặn đệ tử :
“Đừng nói cho người chung quanh biết về con trước khi tự họ khám phá ra con.”
Thật vậy, người chân chính không nói về cái hay của mình, nhưng trong đời sống, từ nơi họ toát ra mọi sự tốt đẹp đến với mọi người. Mọi người chỉ biết cái hay của một người chân chính do hành vi của người ấy, chứ không phải do sự kể lể thành tích của người ấy.
Chúng ta có lẽ đã từng chứng kiến vài trường hợp, khi một người khoe ra cái hay của họ để rồi ít lâu sau cái không hay hiện bày trái hẳn với lời khoe khoang hôm trước.
“Tôi có sức nhẫn nhục sâu xa, không bao giờ sân hận.”
Vài bữa sau, người nói lời này đã gặp chuyện phải đỏ mặt tía tai mất tự chủ.
Một đạo sĩ Ấn độ tuyên bố ông ta có khả năng đi được trên mặt nước. Thế rồi khi rất nhiều người ùn ùn kéo tới chứng kiến đã thấy ông đạo sĩ rơi tỏm xuống hồ.
Lời nói khoe khoang làm tổn phước là như vậy.
Riêng Đức Phật trong những bài kinh Nguyên thủy thường nêu ra Lục thông như là một chỗ y cứ để người tu biết mình đã viên mãn Niết Bàn hay chưa. Có thể vị này đã nhận rõ chân tâm, đủ khả năng sử dụng thiền ngữ tài tình, nhưng nếu chưa đủ Lục thông, thì có nghĩa là vô minh chưa hết, Niết Bàn chưa viên mãn. Thế nên nêu ra Lục thông, Đức Phật không làm công việc khoe khoang thường tình nhưng muốn lập ra một tiêu chuẩn để người sau tự đánh giá chỗ tu tập của mình mà không rơi vào chủ quan tự mãn.
( Lục thông là:
1. Thiên nhãn thông: Thấy được những nơi rất xa, những vật rất nhỏ, những cõi giới khác với cõi giới này, sự lưu chuyển tái sinh của chúng sinh.
2. Thiên nhĩ thông: Nghe được những tiếng rất xa, những tiếng rất nhỏ như tiếng chân của con kiến, những tiếng của chúng sinh trong cõi giới khác.
3. Tha tâm thông: Biết được tâm suy nghĩ của chúng sinh, biết chỗ chứng đắc của thiền giả, biết được dù ở rất xa.
4. Túc mạng thông: Nhớ lại vô lượng kiếp quá khứ với từng chi tiết nhỏ của chính mình hoặc của người khác.
5. Thần túc thông: Có khả năng phi hành biến hóa, hiện thân, ẩn thân, phân thân ra nhiều nơi, thần lực phi thường.
6. Lậu tận thông: Chấm dứt mọi Vô minh, lậu hoặc không còn thừa, Niết Bàn hiển lộ viên mãn, hợp nhất với chư Phật, tâm chấp thủ sở đắc tan biến, tự biết không còn bị sinh tử luân hồi chi phối. Đủ Lục thông nói trên, vị này là bậc Alahán, giải thoát tự tại, thắng trí sáng ngời, đại bi viên mãn )
Quả báo rất nhẹ của việc nói lời vô ích và khoe khoang là được làm người nghe những điều khó chấp nhận, kém uy đức, ít được kính trọng, miệng xấu.
tranngocai
21-01-2005, 07:08 PM
Ác nghiệp thứ tám là uống rượu say sưa. Lúc này khắp trên thế giới đang đấu tranh chống nạn nghiện rượu, một tệ nạn đã gây đau khổ cho con người từ rất lâu. Không phải rượu đã làm say sưa mê loạn cho người uống mà thôi, nhưng sau đó nó đã đưa chiếc xe tông vào những người đi đường vô tội, nó đã đánh vợ, đập con, đốt nhà, nó đã đưa đến cưỡng bức vô luân, nó đưa đến nghèo nàn túng thiếu.
Trước hết rượu có vẻ không ác độc như giết người, không xấu xa như trộm cắp, không bẩn thỉu như tà dâm, không hiểm trá như vu khống... Chẳng những thế nó còn có vẻ lễ nghĩa theo phong tục Á châu: “Vô tửu bất thành lễ”, nó chỉ có một tác hại đơn giản là làm say sưa, khiến người uống trở nên cuồng nhiệt, không còn phân biệt phải trái, không kiểm soát được hành vi và lời nói của mình. Phía sau sự si mê này, nó đưa người đến những tội ác tày trời nguy hiểm nhất, cũng độc ác như sát sinh, cũng xấu xa như trộm cắp, cũng bẩn thỉu như tà dâm... Nếu gia đình bạn có một người nghiện rượu, bạn sẽ cảm thấy nỗi khổ tâm khó bày tỏ của mình, vừa hư hao trong gia đình, vừa nhục nhã với hàng xóm. Không gì chán nản bằng sự chứng kiến một người trong cơn say sưa đánh mất mọi tư cách của mình.
70% tai nạn giao thông đều do say rượu. Rượu làm thần kinh của người lái xe không quan sát tinh anh, không phản ứng kịp thời. Chỉ cần chậm một giây, tai nạn đã xảy ra rồi.
Nhan nhãn trong xã hội, những người say rượu về hành hạ vợ con, cha mẹ rất là tệ bạc. Tiền bạc trong gia đình không được dùng vào việc no cơm ấm áo, sản xuất, học hành, mà chỉ để phung phí vào ly rượu nồng nàn, đĩa thịt béo ngậy của cá nhân người nghiện. Hắn đã bóc lột gia đình một cách vô trách nhiệm. Và trong cơn say sưa hắn đã gây phiền hà cho láng giềng bằng lời nói xằng bậy ồn náo, bằng cư chỉ khiếm nhã thô bạo. Rượu còn làm kích thích tính dục hơn bình thường, lúc uống rượu say, người này dễ có hành vi dâm bạo, xúc phạm đến phụ nữ, để rồi mang tiếng không tốt về sau. Trong nhiều lần nghiên cứu, các Bác sĩ Đức đã xác nhận rằng những đứa con được thụ tinh khi cha mẹ đang nghiện rượu đều là những đứa con đần độn, kém cỏi về thể chất và trí tuệ. Họ gọi là những đứa con của chiều thứ bảy (The children of Saturday evening) vì người Đức thường uống rượu thoải mái vào chiều thứ bảy.
Nhiều người tự cho mình không thoát khỏi tứ đổ tường nên đã chọn rượu như là một chỗ bám đỡ tai hại hơn ba thứ kia. Chiêu bài tự an ủi này rất là gượng gạo và lấp liếm, để rồi sau đó họ sẽ thấy họ làm khổ bản thân và gia đình quá đáng.
Có những hạnh phúc cao thượng hơn, thanh bai hơn các khoái cảm thô tục, đó là âm nhạc, hội họa, thể thao. Chúng ta có thể tìm kiếm niềm vui trong các môn nghệ thuật văn hóa thể thao này hơn là tìm niềm vui trong rượu nồng thịt béo. Những tâm hồn hướng thượng thì thích những giải trí thanh bai, còn những tâm hồn thấp kém thì thích những khoái lạc hạ liệt. Nhìn sự giải trí của một người, chúng ta có thể đánh giá ít sai về tâm hồn của người đó. Người Nhật Bản có tâm hồn khá thanh bai nên họ đã tìm được niềm vui tế nhị trong hương vị của trà theo trà đạo, trong chiếc hoa cắm nơi độc bình theo hoa đạo...
Ở những lĩnh vực phức tạp nhất như kinh doanh, bạn vẫn thấy người Nhật có phong cách ung dung, nhẹ nhàng điềm đạm. Chính sự thanh khiết của tâm hồn vốn đã thấm nhuần Thiền đạo Phật giáo, người Nhật đã leo đến đỉnh cao của văn minh và nghệ thuật như hôm nay. Tạp chí Sông Hương đầu năm Mậu Thìn có dịch một đoạn văn Nhật “Tiếng xúc xắc trong đêm khuya” diễn tả một trò chơi tầm thường như việc gieo xúc xắc, nhưng qua con người Mitiko, trò chơi này trở thành một phương pháp nhiếp tâm kỳ diệu.
Nếu cần phải giải trí, chúng ta hãy tìm sự giải trí trong những hình thức nghệ thuật thanh khiết hơn là tìm trong thú vui hèn kém. Tuy nhiên, vượt hơn mọi sự giải trí của thế gian, tọa thiền chính là niềm vui tối thượng về Đạo Đức, về sự đơn giản, về sự cao cả, về trí tuệ và phúc lạc. Ở giai đoạn đầu, tọa thiền gần như một cực hình vì chân bị đau trong thế ngồi kiết già, tâm bị loạn vì chưa quen điều phục. Nhưng càng về sau, một giờ tọa thiền là một giờ an vui hạnh phúc. Nhiều cư sĩ tại gia can đảm vượt qua giai đoạn đầu vất vả để rồi hôm nay họ đã bắt đầu tìm thấy niềm an lạc vĩ đại thanh khiết nơi pháp môn tọa thiền này. Cái vui của tọa thiền không nồng nhiệt như men rượu, không xao động như ái dục, không khoái trá như thắng lợi trong một cuộc chơi... Những ngôn từ của thế gian nào giờ không đủ để diễn tả niềm vui của Thiền Định, chỉ những người thật sự tìm thấy mới tự biết rằng không một trò vui nào của thế gian có thể so sánh được. Thiền Định là một hạnh phúc và cũng là con đường phát triển trí tuệ. Càng thâm nhập Thiền Định, người này càng trở nên thông minh nhạy bén. Khi những suy luận quanh co đã dừng lắng thì trực giác phát sinh. Họ không còn biết bằng tư duy lý luận, nhưng họ biết trực tiếp thẳng vào sự kiện của vấn đề. Ai đã tu tập Thiền Định đều nhận thấy rõ rằng mình trở nên sáng suốt hơn ngày xưa. Còn rượu bia nồng nặc, ngược lại, đã đem lại sự si mê trong hiện đời, đem lại khổ báo trong địa ngục, ngạ quỷ, trong đời sau, và cũng đem lại điên loạn ở thân người sau nữa.
Nêu lên khổ báo của tám ác nghiệp này, Phật đã gián tiếp ca ngợi giá trị của sự trì giới.
tranngocai
21-01-2005, 07:10 PM
Người Phật tử tại gia cần phải giử gìn Năm giới một cách chu đáo, phải xem giới luật như là một biểu hiện thiêng liêng của đạo Phật, đừng khinh thường giới luật để đánh mất tư cách và phúc lạc của chính mình. Giới luật được gìn giữ bởi ba điều kiện:
– Một, bằng sự nhận định đứng đắn về giá trị và lợi ích của giới luật.
– Hai, bằng tác ý dõng mãnh quyết tâm cao độ, có một thái độ dứt khoát với những hành vi phi giới luật.
– Ba, bằng định lực sâu xa bởi công năng tọa thiền.
Hội đủ ba điều kiện này, giới luật được gọi là viên mãn.
Còn những cư sĩ tại gia không may mắn, không gần được những bậc xuất gia trì giới viên mãn nên ít được nghe những lời nhắc nhở chân thành, đã trở nên phá giới, uống rượu, rất là mất tư cách. Dĩ nhiên chúng ta cũng quy một phần trách nhiệm nơi vị thầy kém giới, nhưng hơn tất cả, người cư sĩ phải nhận lấy trách nhiệm về chính mình. Giới luật và giáo pháp của chính Đức Phật (nhất là Đức Phật Nguyên thủy) mới thật là bậc thầy vững chắc cho chúng ta nương tựa. Đừng vì sự sơ xuất của vài vị xuất gia mà chúng ta tự đánh mất công đức của mình qua hành vi phá giới.
tranngocai
21-01-2005, 07:11 PM
15– ĐỐI XỬ VỚI TĂNG
(Trích kinh bộ Tăng chi 2, tr 246)
Khi nào, này các Tỳ kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình cư sĩ, tại đấy, do năm trường hợp, các người cư sĩ được nhiều công đức. Thế nào là năm?
Khi nào, này các Tỳ kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình cư sĩ, khi trông thấy những vị xuất gia giữ giới này tâm họ được tịnh tín. Này các Tỳ kheo, như vậy trong lúc ấy gia đình kia đã đặt chân lên con đường đến cõi trời.
Khi nào, này các Tỳ kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình cư sĩ. Khi trông thấy những vị xuất gia giữ giới này, họ đứng dậy đảnh lễ và mời ngồi. Này các Tỳ kheo, như vậy trong lúc ấy gia đình kia đã đặt chân lên con đường đưa đến sự cao sang.
Khi nào, này các Tỳ kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến gia đình cư sĩ. Khi trông thấy những vị xuất gia giữ giới này, họ từ bỏ cấu uế của xan tham. Này các Tỳ kheo, như vậy trong lúc ấy, gia đình kia đã đặt chân trên con đường đưa đến đại uy lực.
Khi nào, này các Tỳ kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến gia đình cư sĩ. Khi trông thấy... họ tùy theo khả năng, tùy theo năng lực, liền san sẻ vật bố thí. Này các Tỳ kheo, như vậy trong lúc ấy, gia đình kia đã đặt chân trên con đường đưa đến tài sản lớn.
Khi nào, này các Tỳ kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình cư sĩ, khi trông thấy... họ thưa hỏi những câu hỏi (về giáo pháp), lắng nghe chánh pháp. Này cácTỳ kheo, như vậy trong lúc ấy, gia đình kia đã đặt chân trên con đường đưa đến đại trí tuệ.
Khi nào, này các Tỳ kheo, các người xuất gia giữ giới đi dến với gia đình, tại đấy do năm trường hợp, họ được nhiều công đức.”
tranngocai
21-01-2005, 07:13 PM
NHẬN XÉT:
Trong bài kinh này, Đức Phật nêu ra năm trường hợp dùng để đối xử với một vị xuất gia khi họ được vị này đến thăm tại gia đình. Tuy nhiên, nhấn mạnh nhiều lần, Phật chỉ đề cập đến người xuất gia xứng đáng đó là người giữ giới thanh tịnh. Chỉ khi nào họ viên mãn về giới luật, họ mới thật sự là phước điền chân thật cho chúng sinh gieo trồng căn lành lên đó. Nếu người xuất gia kém khuyết về giới luật, họ không phải là mảnh ruộng tốt cho chúng sinh nương tựa. Nói lên điều này, Phật muốn nhắc nhở bổn phận của người xuất gia trước khi dạy cư sĩ cách thức đối với chư Tăng. Chúng tôi sẽ phân tích về vấn đề trì giới của chư tăng trong phần nói về Nhân Quả xuất thế gian phía sau. Ở đây, chúng tôi chỉ nói lên điều này để người cư sĩ làm tròn trách nhiệm hộ trì Tam bảo của mình, nghĩa là họ phải đánh giá đúng ai là người xuất gia giữ giới thanh tịnh, ai chưa giữ giới thanh tịnh, để biết rằng sự hộ trì của họ phải hướng về cho bậc trì giới, vì chỉ có bậc trì giới mới thật sự là người duy trì Phật pháp. Đã có nhiều cư sĩ vì lòng tin mù quáng, không đánh giá đúng sự quan trọng của vấn đề “Tăng giữ giới”, đã tin tưởng theo một số tà sư kém giới luật giảng những giáo lý huyền hoặc sai lầm. Những tà sư này đã biện minh cho sự kém giá trị của mình bằng những lý luận cao siêu dường như hợp lý. Người cư sĩ vì kém hiểu biết đã chấp nhận những tín điều sai lầm này, đặt cuộc đời mình theo tà sư ác giới tức là tự đoạn mất những thiện căn quí giá của mình. Đức Phật dạy:
“Hãy nhìn bậc đạo sư theo cái nhìn của tai mắt”
Nghĩa là đánh giá bậc thầy theo những giới luật oai nghi được thể hiện ra bên ngoài. Thật là khó khi muốn tìm hiểu chỗ đến trong Thiền Định của một người. Hàng cư sĩ tại gia chỉ việc tìm đến những người thanh tịnh trong giới luật để nương tựa cũng đủ được nhiều công đức. Bởi vì chỉ có những người giữ giới và người tinh tấn Thiền Định mới mạnh dạn răn nhắc sự tu hành cho người khác. Còn những kẻ giải đãi và khuyết giới thường tránh né nói về đạo lý. Đã đến lúc chúng ta phải khôi phục lại giá trị của giới luật như là một nền tảng vững chắc cho sự tu hành. Tuy cách Phật đã xa, hoàn cảnh và tâm tình đã biến đổi, tập quán và sinh hoạt đã sai biệt, có những giới luật không còn thích hợp, nhưng những giới căn bản càng được giữ nhiều chừng nào thì Phật Pháp càng được hưng thịnh chừng nấy. Hàng cư sĩ tại gia phải phán xét về giới luật để đặt sự tôn trọng của mình, cũng có nghĩa là khuyến khích những người xuất gia cố gắng hộ trì giới luật.
tranngocai
21-01-2005, 07:15 PM
Rồi một ngày đẹp trời, một vị Sa Môn trang nghiêm đạo mạo đến viếng gia đình bạn vì một duyên sự nào đó. Khi trông thấy vị Sa Môn thanh tịnh trong giới luật kia, bạn và gia đình phát khởi niềm kính tin thuần tịnh. Gia đình bạn được Phật công nhận là đã đặt chân lên con đường đưa đến cõi trời. Như vậy lòng tịnh tín đối với chư tăng tịnh giới là nhân lành để sinh thiên. Chỉ có ý nghiệp đơn giản là phát khởi niềm kính tin đối với bậc tịnh giới, một nhân lành lớn lao đã xuất hiện. Thật ra việc sinh thiên không dễ. Những cõi giới khác với cõi người được liên hệ với nhau theo chiều sâu tâm linh. Những tác nghiệp của tâm là những yếu tố quan trọng để chúng sinh thay đổi cõi giới. Nếu ác tâm thuần thục, chúng sinh chuyển về địa ngục, ngạ quỷ. Nếu thiện tâm thuần thục, chúng sinh chuyển về các cõi trời. Đó là kết quả của ý nghiệp. Ở phần sau chúng ta sẽ gặp gỡ trường hợp Nhân Quả có chúng sinh quán từ bi được sinh về cõi trời Phạm thiên. Ý nghiệp làm thay đổi cõi giới của chúng sinh còn khẩu nghiệp và thân nghiệp tạo nên hoàn cảnh trong cõi giới đó. Ví dụ người có thiện tâm được sinh về cõi trời, nhưng người này ít có dịp bố thí, thuyết pháp, in kinh, đắp đường, phóng sinh... thì tuy được thân thiên tử nhưng là một thiên tử tầm thường không bằng các thiên tử khác có thân nghiệp tốt về phương diện trí tuệ, quyền lực, tài sản, dung mạo...
Trong trường hợp đối xử với tăng, Phật nêu lên ý nghiệp ban đầu là niềm kính trọng tin tưởng của cư sĩ đối với chư tăng, và ý nghiệp này đủ để đưa họ về Thiên giới. Tâm kính trọng xuất hiện tức là tâm ngã mạn biến mất. Khi nhìn một người tại gia đến chùa với cung cách thiếu sự kính trọng, phải biết người này còn có ngã mạn ẩn núp trong tâm. Không gì đưa chúng sinh đến chỗ thấp hèn mạnh bằng tâm niệm ngã mạn. Những kẻ sinh vào nơi hạ liệt thấp kém, hầu hết đều do tâm niệm ngã mạn chi phối. Đối trị với tâm niệm ngã mạn là tâm khiêm hạ, nhưng tâm khiêm hạ được hình thành do lòng kính trọng đối với bậc đáng kính. Không gọi là tâm khiêm hạ nếu lòng kính trọng vắng bóng. May mắn hơn nữa là bạn biết đặt lòng tịnh tín vào bậc xuất gia thanh tịnh trong giới luật. Chỉ với ý nghiệp đơn giản này, là phát lòng tịnh tín với vị Sa Môn tịnh giới, một công đức lớn đã thành tựu cho bạn rồi.
Kế đến, gia đình cư sĩ này vui mừng đứng dậy, lễ bái và mời ngồi, nghĩa là tiếp đón ân cần khi được bậc xuất gia tịnh giới đến thăm. Đây là thân nghiệp thể hiện lòng tịnh tín của họ.
Không gì trơ trẽn e ngại bằng sự thờ ơ lạnh nhạt của chủ đối với khách. Người khách gặp phải sự lạnh nhạt thờ ơ này thật là khó xử và rồi phải ra về trong hiu quạnh buồn tủi. Nếu chủ nhà dúng lối đối xử như thế nghĩa là dành cho khách một vị trị thấp kém, quả báo sẽ trở lại với họ tương tự là họ sẽ trở thành kẻ hèn kém trong tương lai. Dù không phải là bậc Sa Môn đến nhà, chúng ta đều nên cố gắng dùng lối đối tiếp ân cần dành cho người, tức là đặt cho họ vào địa vị sang trọng. Quả báo trở lại từ sự đối xử đó là địa vị cao sang ở vị lai.
Trong các mẫu chuyện trong quyển “1001 đêm”, tôi đánh giá câu chuyện “Hoàng đế một ngày” rất là phù hợp với luật Nhân Quả Nghiệp báo (bản dịch của Lệ Hoa xuất bản 1963). Nhân vật Thanh Lam được cha để lại một gia tài đồ sộ. Chàng chia làm hai phần, một là những tài sản cố định sinh lợi hằng năm như ruộng vườn, hai là vàng bạc để tiêu xài. Chàng dùng trọn vẹn phần thứ hai để tiếp đãi bè bạn. Họ kéo đến rất đông để thụ hưởng yến tiệc linh đình do Thanh Lam tổ chức. Đến khi vàng bạc đã hết, Thanh Lam không còn tổ chức yến tiệc như xưa nữa thì bạn bè cũng xa lánh. Thanh Lam buồn bã và bất mãn, xin mẹ cho phép từ nay chỉ tiếp đãi những khách lạ ghé ngang một đêm duy nhất, không lưu lại ngày thứ hai. Từ đó, mỗi chiều chàng đón khách lạ tại đầu cầu mời họ về nhà, nhờ mẹ nấu nướng các món ăn, ân cần trò chuyện thết đãi họ, sắp xếp chỗ nghỉ qua đêm, rồi tiễn họ ra đi vào sáng hôm sau, kèm theo lời yêu cầu họ đừng trở lại lần thứ hai nữa.
Thời gian trôi qua cho đến một hôm Thanh Lam gặp người khách lái buôn mang tên Quốc Anh, chính là hoàng đế đương triều đang cải dạng thăm dò dân tình cùng với một thị vệ khỏe mạnh. Nhà vua tò mò theo Thanh Lam về nhà để được thết đãi, trò chuyện để nghe than van về nhân tình thế thái. Sau khi biết lòng tốt của Thanh Lam, nhà vua hỏi chàng có mong mỏi điều gì không. Thanh Lam từ chối nói rằng chỉ thích sống như vậy để tiếp đãi khách phương xa và không cưu mang một ước vọng nào cả. Chợt Thanh Lam nhớ tới mấy ông thầy tu và bốn ông lão gần nhà chuyên họp nhau nói chuyện thị phi của thiên hạ. Chàng buộc miệng nói:
– Ước gì tôi được làm vua một ngày, tôi sẽ trừng phạt lũ đó thích đáng.
Nhà vua chợt nảy sinh một sáng kiến kỳ lạ, bèn chuốc thuốc mê vào ly rượu của Thanh Lam rồi sai thị vệ vác chàng vào hoàng cung. Vua căn dặn tất cả mọi người cung phi mỹ nữ, bá quan phải xem Thanh Lam như chính nhà vua. Sáng hôm sau khi được cung nữ lay thức dậy, Thanh Lam vô cùng ngạc nhiên trước sự kiện lạ lùng này, ở giữa cung vàng điện ngọc với các cung tần quan tướng mà ai cũng xưng tụng mình là đương kim hoàng đế. Ban đầu chàng cải chính mạnh mẽ, nhưng các quan khoác áo long bào, đội mũ thiên triều và hướng dẫn chàng ra sân chầu lên ngai vàng để phán xét công việc. Trong tâm trạng nữa thực nữa hư đó, chàng nhanh nhẹn xét đoán công việc do các quan báo cáo một cách sáng suốt phân minh, khiến cho nhà vua núp sau rèm cũng phải tấm tắc khen ngợi. Chợt chàng gọi quan hình cảnh đến ra lệnh đến bắt tội mấy ông thầy tu và bốn ông lão đánh cho mỗi người một trăm roi và chở lên lưng lừa diễu qua các phố cho mọi người làm gương về tội ngồi lê đôi mách nói chuyện thị phi. Quan hình cảnh vâng lệnh ra đi. Chàng sai quan giữ kho cho xuất nghìn đồng tiền vàng dặn đem cho mẹ Thanh Lam ở dưới phố. Quan giữ kho vâng lệnh thi hành. Sau khi giải quyết mọi việc triều đình quốc sự xong, các cung nữ đưa chàng về vui vầy yến tiệc, nhạc vũ xênh xang khiến cho chàng sung sướng khôn xiết. Chiều đến, Thanh Lam lại bị đánh thuốc mê và được cõng về trả lại chỗ cũ.
Sáng dậy, chàng còn mang mặc cảm hoàng đế hôm qua, đã lên giọng nạt nộ mẹ mình, và hơn thế nữa đã đánh mẹ vì tội khi quân, dám coi chàng là con!
Khi được biết rằng mấy ông thầy tu và bốn ông lão đã bị trừng phạt đúng như lệnh và mẹ chàng được tặng nghìn tiền vàng, chàng càng đoán chắc mình chính thực là vua. Hàng xóm kéo đến trói chàng vì tội đánh mẹ và dám nhận là hoàng đế, bảo chàng điên và đưa đến nhà thương điên trên lưng một con lừa. Dọc đường chàng bị nhiều người đấm đá túi bụi. Thời gian ở tại nhà thương điên, chàng còn bị quất năm mươi roi gân bò in hằn trên lưng. Sau một thời gian nguôi ngoai chàng từ bỏ mặc cảm hoàng đế và nhờ mẹ xin cho về.
Chàng cho chuyện vừa rồi là quỷ ám do ông lái buôn kia ra đi đóng cửa không kỹ. Chàng trở lại thú vui tiếp khách một đêm như trước. Đến một hôm thì vô tình nhà buôn Quốc Anh gặp lại. Chàng quay mặt không tiếp. Nhưng nhà vua đến vồn vã hỏi thăm. Chàng buồn rầu kể lại mọi việc khiến nhà vua thương xót và xin theo chàng về nhà đêm nay. Bất đắc dĩ chàng lại tái diễn sự thết đãi như lần trước và cũng bị chuốc thuốc mê cõng vào nội cung.
Sáng ra khi trông thấy cảnh lộng lẫy của hoàng cung, chàng sợ hãi và nhắm mắt ngủ tiếp cho qua cơn ác mộng. Nhưng rồi các cám dỗ khoái lạc của cung nữ, bầy tôi, yến tiệc, nhạc vũ lôi chàng vào thưởng thức mê ly. Chợt nhà vua phì cười bước ra và mọi chuyện được giải đáp thỏa đáng. Sau đó vua kết nghĩa anh em với Thanh Lam và dành cho chàng trọn đời giàu sang quyền quí.
tranngocai
21-01-2005, 07:16 PM
Thói quen hào phóng đời trước đưa chàng đến sự thừa hưởng gia tài hôm nay. Sự tiếp đãi ân cần với mọi người đưa chàng đến ngôi vị Hoàng đế “như thật” trong hiện đời. Nhưng chỉ tiếp một đêm nên chỉ được làm vua một ngày. Vì ra lệnh đánh những tu sĩ và mấy ông già nên chàng cũng bị đánh đập trở lại. Sự bêu riếu mấy ông già trên lưng lừa cũng đưa chàng lên lưng lừa nhiễu qua đường phố. Nhưng dù sao thiện nghiệp của chàng cũng khiến chàng được giàu sang quyền quí trọn đời còn lại.
Điểm đáng chú ý của câu chuyện này là sự tiếp đãi ân cần của Thanh Lam đã đưa chàng dến sự cao sang giống như Đức Phật cho biết qua bài kinh này. Nhưng khác đi một chút, Phật nhấn mạnh sự tiếp đãi dành cho những vị xuất gia trong sạch nơi giới luật sẽ đưa đến phước báo thù thắng hơn với những kẻ không được tịnh giới.
Thiện nghiệp thứ ba là do được chư tăng tịnh giới đến viếng, người cư sĩ từ bỏ cấu uế của xan tham.
Có những chúng sinh đã từng tác ý tu tập nhiều đời, bây giờ dù chưa được nghe giảng dạy giáo pháp, chỉ cần trong thấy bậc chân tu, lương tâm họ liền trổi dậy biết phân biệt thiện ác, biết từ bỏ xan tham, biết thúc liễm trong giới luật. Điều này không phải là chuyện huyền thoại. Đa số những đệ tử sống gần chân sư thường được sự tinh tấn hơn những đệ tử xa thầy. Công đức gần gũi chân sư quan trọng là như vậy. Nhưng không phải ai cũng có đặc điểm đó. Phật khen ngợi hàng cư sĩ khi được chư tăng tịnh giới đến viếng liền phát sinh sự tàm quí và từ bỏ cấu uế của xan tham. Sự từ bỏ xan tham này sẽ đưa đến thành tựu đại uy lực. Uy lực nghĩa là được người khác khâm phục kính trọng. Người không xan tham tức là người không còn nhỏ mọn ích kỷ, đã có tâm hồn rộng rãi bao dung đối với mọi người. Chính sự thanh khiết của không xan tham khiến cho họ trở nên đáng kính; chính tâm hồn rộng rãi bao dung khiến cho họ trở nên đáng được khâm phục. Nhưng sự khả kính trong trường hợp này được thù thắng hơn bởi sự hiện diện của vị tăng tịnh giới, vì kính trọng tin tưởng nơi vị xuất gia tịnh giới này mà người cư sĩ từ bỏ xan tham, thế nên uy lực thành tựu về sau được gia tăng gấp bội.
Thiện nghiệp thứ tư tiếp theo là sau khi từ bỏ xan tham, họ biết san sẻ cúng dường.
Nếu sự không xan tham thành tựu cho gia đình cư sĩ đại uy lực, một giá trị tinh thần, thì hành vi cúng dường thành tựu cho gia đình đại tài sản, một giá trị vật chất. Dĩ nhiên Phật đã bảo tùy khả năng mà người cư sĩ san sẻ, không phải họ san sẻ quá đáng để đưa đến thiếu hụt cho gia đình họ trong hiện tại. Tuy nhiên sự thanh tịnh trong giới luật đã làm cho phước báo của cư sĩ thù thắng gấp nhiều lần hơn sự bố thí cho người phàm phu tầm thường. Giá trị cúng dường cho một bậc chân tu đã được đề cập nhiều ở phần trước, không cần phải nhắc lại, vì cúng dường có nghĩa là giúp cho chư tăng sống qua một ngày, một ngày thúc liễm trong giới luật, chuyên chú trong Thiền Định, sáng suốt trong trí tuệ, an lạc trong giải thoát, khác với một ngày của phàm phu đầy tham lam thù hận, ích kỷ, oán hờn. Chính giá trị sống cao quí của chư tăng đã khiến cho người san sẻ được phước báo vô cùng thù thắng.
Thiện nghiệp thứ năm là biết thưa hỏi và lắng nghe giáo pháp. Bốn thiện nghiệp trước có một trình tự rõ ràng là, trông thấy vị xuất gia tịnh giới đi đến, trước hết gia đình cư sĩ phát sinh lòng tịnh tín; kế đó tiếp đón ân cần bằng hành vi đứng dậy, đảnh lễ, mời ngồi; kế đó là hình ảnh vị chân tu khiến họ biết từ bỏ xan tham; kế đó họ san sẻ vật thực để cúng dường. Tuy nhiên những công đức đó chưa đủ cho họ có được lợi ích lớn lao cho đời này và những đời sau nếu họ chưa biết thưa hỏi và lắng nghe giáo pháp. Chính vì biết thưa hỏi và lắng nghe giáo pháp, người cư sĩ sẽ áp dụng đạo lý vào cuộc sống một cách xít xao hơn. Giáo pháp sẽ dạy họ biết nghiêm trì giới cấm, biết từ ái với muôn loài, biết chiết phục sân hận, biết tùy hỉ với người, biết tu tập Thiền Định. Vô số những khúc mắt éo le trong đời sống sẽ được đạo lý soi sáng khiến cho họ thấy manh mối để giải quyết một cách thích đáng hài hòa. Không có đạo lý, họ dễ giải quyết công việc một cách cực đoan một chiều, mà cực đoan thì luôn luôn đưa đến sai lầm đổ vỡ. Ví dụ khi con cái phạm lỗi, hoặc họ chủ trương trừng phạt bằng roi rọt một cách khắc nghiệt để nó sợ hãi đừng tái phạm, hoặc họ chủ trương thả lỏng để nó tự ý thức, hoặc họ chủ trương dùng thuần lời nói để nhắc nhở. Dĩ nhiên sự dạy dỗ bằng lời nói với sự phân tích kêu gọi là xương sống của sự giáo dục, nhưng nếu thiếu uy lực, lời nói không đủ chuyển hóa tâm hồn đứa trẻ. Sự sợ hãi về hình phạt cũng khá giống như sự sợ hãi về khổ báo của một người am hiểu đường đi của Nhân Quả, khiến cho đứa trẻ rụt rè trước hành vi phạm tội. Tuy nhiên, phải là lời nói ôn tồn phân tích về giá trị Đạo Đức sâu xa mới nhổ sạch mầm mống phạm tội của đứa trẻ. Bậc cha mẹ không nên chỉ nhìn một chiều, phải trang bị cho mình một lòng bao dung từ ái đối với con cái, trang bị sự nghiêm khắc về kỷ luật đối với hành vi phạm tội, trang bị những lời nói sâu sắc về Đạo Đức nhất là đạo lý Nhân Quả Nghiệp báo. Đầy đủ cả ba mặt này, sự giáo dục trong gia đình được gọi là hoàn chỉnh.
tranngocai
21-01-2005, 07:17 PM
Giáo pháp sẽ cho người cư sĩ cái nhìn minh triết toàn diện trên mọi vấn đề để họ giải quyết các công việc trong cuộc sống được sáng suốt hơn. Họ được lợi ích về lối sống trong hiện tại gieo trồng những thiện căn cho vị lai, và nếu thuận duyên tăng trưởng, họ vẫn có thể tu tập Thiền Định để chứng từ quả vị Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm và A Na Hàm. Ở trường hợp này Đức Phật tán thán gia đình cư sĩ đã đặt chân lên con đường đưa đến đại trí tuệ. Thật vậy, những cư sĩ đến với phật pháp, mà ít chịu thưa hỏi lắng nghe giáo pháp, chỉ đến vì hình thức lễ bái tán tụng, chỉ đến vì tìm cầu phước báo hữu vi, người này không được tăng trưởng trí tuệ trong chánh pháp. Còn những cư sĩ biết thưa hỏi và lắng nghe, sinh ra trong đời nào họ cũng đều là những người tuệ căn minh mẫn. Và nếu họ khéo áp dụng tu tập thì lợi ích của chánh pháp đến với họ thật là vô hạn vô biên.
Năm trường hợp để thành tựu công đức nói trên đã hình thành từ hai điều kiện:
Một, người xuất gia là vị trong sạch nơi giới luật.
Hai, năm thiện nghiệp sinh khởi tại gia đình cư sĩ.
Nếu thăng tiến hơn, người cư sĩ chịu khó đến với chư tăng nơi Tinh xá và cũng sinh khởi được năm thiện nghiệp như trên. Sự sai biệt này cũng đưa đến sự sai biệt về quả báo. Nếu đợi chư tăng đến tận nhà rồi người cư sĩ mới tác thành năm thiện nghiệp, về sau họ phải rời khỏi trú xứ mới được hưởng quả báo. Đó là trường hợp những người phải đi đây kia kinh doanh, tranh đấu, học hỏi... và được thành công. Nếu họ đến tận nơi để thừa sự thưa hỏi với chư tăng nơi tinh xá, về sau họ ở yên tại trú xứ mà vẫn hưởng được quả báo. Đó là trường hợp những người có điều kiện kinh doanh, học hỏi tại nhà và được thành công.
tranngocai
21-01-2005, 07:19 PM
16 – GIẢ DẠNG
(Góp chung Nam Hải Dị Nhân và Thiền Sư Việt Nam)
Thiền sư Từ Đạo Hạnh vốn là con nhà nho tên Từ Vinh. Từ Vinh có sự trái ý với Diên Thành Hầu, Hầu nhờ pháp sư Đại Điên đánh chết. Sư muốn trả thù cho cha, định sang Ấn Độ học thuật linh dị để giết Đại Điên. Nhưng khi đi tới xứ mọi răng vàng, vì thấy đường xá hiểm trở sư đành trở về vào ẩn trong hang đá Từ Sơn chuyên trì Đại Bi Tâm Đà La Ni. Sư thành tựu đại định và thần thông, trở về tìm đến Đại Điên đánh ông ta mang bệnh rồi chết. Từ đây, oan nghiệp xưa đã trả, các việc đời lặng như tro lạnh, sư trải khắp tùng lâm tìm học pháp thiền.
Sau này sư đắc ngộ từ thiền sư Sùng Phạm ở chùa Pháp Vân. Sư trước có kết bạn với Minh Không (Nguyễn Minh Không) và Giác Hải, cả ba đều thành tựu thần thông diệu dụng phi thường. Có một lần, Đạo Hạnh đùa cợt đón đường Minh Không và Giác Hải, hóa thân thành cọp gầm lên dữ dội nhảy tới dọa chụp hai người bạn này. Minh Không biết quở:
“Muốn làm hổ thì sẽ được!”
Đến khi Đạo Hạnh sắp tịch, tắm rửa sạch sẽ, thay đổi y phục, gọi các môn đồ đến dạy: – “Túc nhơn của ta chưa hết, phải còn sinh lại thế gian làm tạm vị quốc vương. Sau mạng chung ta lại sinh lên cõi trời Ba Mươi Ba (Ba Mươi Ba là một danh từ riêng, không phải thứ bậc) làm thiên chủ. Nếu thấy thân ta bị hư hoại thì ta mới thật vào Niết Bàn, chẳng còn trụ trong vòng sinh diệt này nữa”.
Môn đồ nghe lời dạy này ai đấy đều buồn thảm rơi lệ. Sư cũng dặn dò Minh Không.
– “Ở thân quốc vương tới đây tôi sẽ bị ách tật, nhờ huynh lo liệu giùm.”
Sư an nhiên ngồi tịch để nhục thân đến tận sau này (Đời giặc Minh sang đã đốt nhục thân của sư tan mất), rồi sinh vào cung vua để trở thành vua Lý Thần Tông. Năm vua Lý Thần Tông 21 tuổi (1148) bỗng nhiên mắc bệnh biến thành cọp, gầm thét suốt ngày, ngồi xổm chụp người, cuồng loạn đáng sợ. Triều đình phải làm cũi vàng nhốt vua trong đó. Khi ấy có đứa bé tên Chân Định hát rằng:
“Nước có Lý Thần Tông
triều đình muôn việc thông
muốn chữa bệnh thiên hạ
cần được Nguyễn Minh Không.”
Lại có tương truyền bài khác rằng;
“Tập tầm vông
Có nguyễn Minh Không
trị vua khỏi hóa
Tập tầm vá
muốn vua khỏi hóa
có Nguyễn Minh Không.”
Triều đình sai quan chỉ huy đón sư Minh Không. Đến am, sư cười bảo: “Đâu không phải là việc cứu cọp ư?”
Quan chỉ huy hỏi:
“Sao thầy biết trước?”
Sư bảo:
“ Ta đã biết việc này trước ba mươi năm.”
Sư đến cung vua sai nấu một chảo dầu bỏ một trăm cây kim vào, dùng tay không thọc vào chảo dầu nóng lấy kim ghim vào thân vua (châm cứu), nói:
“Quý vi thiên”
Tự nhiên lông, móng, răng đều rụng hết, thân vua hoàn phục như cũ. Vua tạ ơn sư một ngàn cân vàng, một ngàn khoảnh ruộng để hương hỏa cho chùa, ruộng này không có lấy thuế, và tôn Minh Không làm quốc sư.
tranngocai
21-01-2005, 07:20 PM
NHẬN XÉT
Phước báo của sư Đạo Hạnh rất lớn, được làm vua cõi người và lại được làm vua cõi trời. Nhưng trong truyền sử không ghi rõ sư đã gây tạo những công đức lớn lao trong đời đó ra sao. Có lẽ Sư cũng tác thành rất nhiều thiện nghiệp trong đời đó và nhiều đời trước nữa, cộng với công đức tu tập Thiền Định nên đưa đến phước nghiệp như vậy. Tuy nhiên, trong phạm vi điển tích này chúng ta chỉ xét đến quả báo hóa hổ một thời gian ngắn trong đời vua Lý Thần Tông.
Đánh chết pháp sư Đại Điên để trả thù cho cha cộng với một lần đùa cợt hiện hình hổ để dọa hai người bạn đạo. Dù sao hai người này, Minh Không và Giác Hải, đều là những vị tu hành đắc lực nếu không muốn nói đã vào hạng hiền thánh. Hai tác nghiệp này khiến cho vua Lý Thần Tông đang ở thân người phải chịu đọa làm hổ một thời gian.
Khi con cọp Đạo hạnh gầm lên nhảy tới, Sư Minh Không liền biết đó là người bạn mình đùa cợt và cũng biết luôn quả báo của hành động vô ý này ra sao nên ngài quở “muốn làm hổ thì sẽ được!” Quả nhiên 30 năm sau lời quở trách kia đã biến thành sự thật.
Trong tất cả tài liệu về y khoa của Đông Tây kim cổ không bao giờ đề cập tới chứng bệnh hóa thành cọp như trường hợp trên đây.
Bệnh lý có rất nhiều dạng sai khác bởi vì nghiệp quả của chúng sinh sai khác. Trị bệnh tức là trị nghiệp. Không trị được nghiệp thì bệnh không bao giờ hết. Dù cho y học hiện đại tiến bộ đến đâu với vô số dụng cụ thuốc men tối tân đến đâu nhưng, khi chúng sinh còn gây nghiệp thì sẽ luôn luôn có những chứng bệnh mới mà y học hiện đại không thể nào trị nổi. Nếu y học có khả năng điều trị được bệnh đó thì bệnh khác sẽ xuất hiện để cho thế gian này luôn luôn tồn tại hai tiếng “nan y”. Nếu chúng sinh từ bỏ mọi ác nghiệp, giữ gìn giới cấm, bố thí lợi ích, họ sẽ được xa lìa cõi người khổ đau bệnh hoạn này để sinh về sống chung với chư thiên không mang thân tật ách bệnh khổ.
Theo truyền sử, khi bị hóa thành hổ, vua Lý Thần Tông nghe trong mình đau nhức ghê gớm (quả báo giết hại Đại Điên) nên mở miệng rên la, nhưng tiếng rên la kia lại giống như tiếng gầm thét của loài hổ. Dù được phước báo làm vua, nhưng hai bất thiện nghiệp kia vẫn còn rơi lại ảnh hưởng rất mạnh khiến cho vua Thần Tông phải đền trả sòng phẳng mà không hóa giải hết hẳn được. Nếu là người tầm thường không biết tu tập, có lẽ sư Đạo Hạnh phải chịu hẳn mấy đời làm cọp nhưng vì sư là người có tác phước và đạt đạo, dù chưa chứng Niết Bàn viên mãn như Alahán nhưng công năng của thiện nghiệp công đức kia giúp cho sư chỉ phải trả khổ báo trong thời gian ngắn.
Sự giả dạng hình hổ để dọa người đã đưa đến quả báo thọ lấy thân hổ. Nếu giả dạng để cứu người thì không sao, nhưng giả dạng để phá người ắt bị ác báo. Có người giả dạng làm ma để nhát khách qua lại trên đường vắng, hoặc để thực hiện những âm mưu đen tối nào khác, đều sẽ đọa làm ngạ quỷ cô hồn sau khi mất thân người.
Có người giả tiếng chuột kêu, mèo gọi để hẹn hò tà dâm, sẽ được làm thân mèo thân chuột ở đời sau đó. Nhưng cũng có người giả dạng nhà sư uy nghi đạo mạo để kiếm sống, hoặc để lừa gạt, họ sẽ đọa thân gì? Dĩ nhiên như thế là có chút chủng tử làm thầy tu, nhưng trước hết người này phải đọa địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ vì lạm nhận hình tướng của bậc trì giới thanh tịnh. Chỉ có bậc trì giới thanh tịnh mới được quyền khoác lấy chiếc y casa của Đức Phật truyền lại. Lạm nhận hình thức này mà tâm hồn đen tối, nhận lấy sự cung kính cúng dường mà nhân phẩm hoen ố không xứng đáng, sự đau khổ và hèn hạ là sự chờ đợi dành cho họ ở mai sau.
thongtindangky
21-01-2005, 08:04 PM
Quyển sách này thật là hay !
tranngocai
21-01-2005, 08:15 PM
Quyển sách này thật là hay !Mong thongtindangky sẽ tìm được nhiều chân lý bổ ích trong đó.
Thân mến!
tranngocai
22-01-2005, 11:15 AM
17– PHỈ BÁNG BẬC THÁNH
(Trích Tăng Chi Bộ kinh 3B, tr 163)
Rồi Tỳ kheo Kokalika đi đến Thế Tôn, đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Kokalika bạch Thế Tôn:
“Bạch Thế Tôn, Sariputta và Moggallana là ác dục, bị ác dục chinh phục.”
“Này Kokalika, chớ nói vậy, này Kokalika, chớ có nói vậy. Hãy để tâm tịnh tín đối với Sariputta và Moggallana, hiền thiện là Sariputta và Moggallana!”
Lần thứ hai Koakalika bạch Thế Tôn:
“Dầu Thế Tôn có lòng tin tưởng, đối với con, Sariputta và Moggallana là ác dục, bị ác dục chinh phục.”
Ba lần Kokalika công kích, ba lần đức Thế Tôn cải chính.
Rồi tỳ kheo Kokalika từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Thế Tôn rồi ra đi. Kokalika ra đi không bao lâu, toàn thân nổi lên những hạt to bằng hạt cải, rồi lớn bằng hạt đậu, lớn bằng hạt sỏi, hạt táo, trái cau, trái dưa (dưa hường), trái dưa chín. Rồi chúng bị nứt nẻ, mủ và máu chảy ra. Tại đấy Kokalika nằm trên lá chuối như con cá ăn phải đồ độc.
Rồi Phạm Thiên độc giác Tudu (Tudu là bổn sư của Kokalika. Khi Tudu mệnh chung, được Thế Tôn nói là chứng được Nhất lai) hiện trên hư không nói với Kokalika:
“Này Kokalika, hãy đặt tâm tịnh tín nơi Sariputta và Moggallana. Hiền thiện là Sariputta và Moggallana!”
“Ngươi là ai?”
“Ta là độc giác Phạm thiên Tudu.”
“Thưa hiền giả, có phải hiền giả là người được Thế Tôn công nhận đã chứng Bất lai. Sao người lại đến đây? Phải chăng người không thật chứng Bất lai?”
Phạm thiên Tudu thốt lên bài kệ:
“Con người được sinh ra
với chiếc búa trong miệng
Người ngu nói điều xấu
là tự chém vào mình
Ai khen người đáng chê
ai chê người đáng khen
đều chất chứa bất hạnh
do từ miệng tạo thành
và bởi bất hạnh ấy
nên không được an lạc
.................................
Ai chỉ trích bậc Thánh
Với lời, với ác ý.
Trải qua trăm ngàn thời
Với địa ngục Nirab
còn thêm ba mươi sáu
với ngục Abuda
phải sanh vào địa ngục
chịu khổ đau tại đấy.”
Rồi Tỳ Kheo Kokalika do chứng bệnh ấy mệnh chung và sanh vào địa ngục sen hồng (Padina) vì tâm khởi ác ý đối với Sariputta và Moggallana. Rồi Phạm Thiên Sahampati, sau khi đêm gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana hiện thân trước Thế Tôn đảnh lễ và đứng một bên, bạch Thế Tôn, thuật lại sự kiện Kokalika sinh về địa ngục, rồi đảnh lễ biến mất.
Rồi Thế Tôn, sau đêm đã qua, bảo các Tỳ Kheo về việc Phạm Thiên Sahampati thuật lại. Một Tỳ Kheo hỏi Thế Tôn về thời gian của địa ngục Padma. Thế Tôn dùng một thí dụ để các Tỳ Kheo hình dung thời gian không thể tính kể của địa ngục này (xin xem nguyên bản).
tranngocai
22-01-2005, 11:16 AM
NHẬN XÉT:
Kokalika phải chịu một bất hạnh lớn vì đã phỉ báng các bậc Thánh, nhất là vị Thánh này lại chính là hai đại đệ tử của Đấng Chánh Đẳng Giác. Ác tâm của Kokalika nặng nề đến nổi chính Thế Tôn ba lần cải chính mà Kokalika vẫn không thay đổi quan niệm của mình. Ác ý đối với hai đại tôn giả Sariputta và Moggallana đã khiến Kokalika mất hết thiện căn, hiện đời cảm báo bệnh hoạn dơ dáy, khốn khổ. Rồi thêm một lần chính bổn sư của Kokalika là Phạm thiên Tudu, vị đã vào quả vị, hiện đến khuyên bảo mà Kokalika vẫn không đổi quan niệm lại còn chê Tudu chưa phải vào vị Thánh. Như người bị té xuống hầm phân không còn một chỗ sạch sẽ nào trên người để cho người ở trên có thể nắm lấy kéo lên, Cũng vậy ác tâm của Kokalika che phủ hết mọi thiện căn để có thể được người khác cứu vớt.
Cuối cùng Kokalika qua đời và sinh về địa ngục Padma với thời gian dường như vô hạn. Những vị Thánh giải thoát giống như thửa ruộng mầu mỡ tốt tươi, gieo một sẽ được trăm ngàn, người gieo hạt ớt, sẽ nhận lấy muôn ngàn cay đắng, người trồng hạt lê sẽ nhận lấy muôn nghìn thơm ngọt. Kokalika đã gieo vào thửa ruộng Sariputta và Moggallana hạt giống phỉ báng, ganh ghét để rồi phải nhận lấy khổ báo trong hiện đời bướu ghẻ đau đớn, nhận lấy khổ báo trong đời sau tại địa ngục mà sự đau khổ muôn vàn lần bi thảm hơn không thể diễn tả hết được.
Sự phỉ báng những vị Thánh giải thoát, những vị Tăng giữ giới thanh tịnh sẽ đưa người này đến địa ngục là điều không thể tránh khỏi.
Tuy nhiên trong hiện đời, y sẽ bị lìa khỏi địa vị cao sang để trở thành thấp hèn hạ liệt. Người làm tăng sẽ mất phước làm tăng, người uy quyền sẽ bại hoại danh vọng.
Khi chư thiên sắp mệnh chung từ bỏ cõi đời để sinh xuống cõi nhân gian, các vị này có năm tướng xấu hiện ra báo trước, trong đó, họ khởi tâm nhàm chán thiên sứ hiện tại của mình. Chính nghiệp đã tác động đến tận trong tâm thức của chúng sinh. Cũng vậy, người xuất gia chợt khởi tâm nhàm chán địa vị làm tăng của mình, thích sống đời cư sĩ, có khi tự biện hộ bằng những lý lẽ siêu thoát rằng đạo vượt ngoài hình tướng tăng tục, rồi cởi áo casa khoác thế y. Phải biết trường hợp này nghiệp đã xen vào tác động trong vô thức. Vì một lý do nào đó, phước làm tăng của người này đã hết và ý tưởng bất thường khởi lên. Trong nhiều nguyên nhân mất phước làm tăng, có một nguyên nhân là chỉ trích, khinh thường, ganh ghét bậc Thánh.
tranngocai
22-01-2005, 11:56 AM
Người đang ở địa vị cao sang, nếu khởi ba nghiệp bất kính đối với bậc Thánh, y sẽ đánh mất địa vị của mình không lâu để lui lại vị trí thấp kém. Những quả báo nặng hơn ở phía sau khi mệnh chung là địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh.
Người phỉ báng chánh pháp, chỉ trích bậc Thánh, quả báo ít nhất trong hiện đời là những khuyết tật về miệng. Miệng méo, sứt môi, câm, ngọng,... là sự thể hiện của nghiệp phỉ báng này. Và những kiếp được làm người về sau, họ thường bị công kích nhục mạ chê bai.
Chúng ta dễ mắc ác nghiệp này trong trường hợp bênh vực tôn giáo mình và công kích tôn giáo khác, tôn vinh giáo chủ mình và hủy báng giáo chủ khác
Kokalika được sinh ra với cái búa trong miệng, dễ dàng bất tín và chỉ trích mọi người. Ngay cả khi nghiệp quả bướu ghẻ nổi lên, được bổn sư từ cõi trời thương xót hiện đến nhắc nhở, Kokalika vẫn phớt lờ lại còn hạch sách tại sao Tudu đã chứng Bất lai còn trở lại đây, phải chăng điều này không đúng! Qua sự kiện này chúng ta hiểu thêm một điều. Quả vị của đạo Phật là năng lực tự tại đối với sinh tử, không phải là sự gò bó bắt buộc. Một vị chứng Bất lai có nghĩa là không còn bị nghiệp lôi kéo để trở lại cõi đời này, nhưng vị này vẫn có thể tùy nguyện trở lại làm lợi ích chúng sinh. Cũng vậy, Niết Bàn Alahán là vô sinh, không còn bị nghiệp lôi kéo để thọ thân trong tam giới, nhưng vị này vẫn có thể tùy nguyện trở lại làm lợi ích chúng sinh. Niết Bàn không phải là sự kềm tỏa trong khô tịch mà phải là năng lực đại tự tại nên bậc Alahán có khả năng đi vào sinh tử hóa độ chúng sinh mà khắp trời, người, ma, phạm không tìm thấy dấu vết.
Chúng ta chưa thực chứng Niết Bàn, theo ngôn từ trong sách vở, chia đôi Niết Bàn Tiểu thừa Đại thừa, rồi bênh vực Niết Bàn này, công kích Niết Bàn kia, không ngờ đó là gây tạo một bất hạnh lớn cho mai sau mà Bồ tát Long Thọ đã cảnh cáo:
“... vì công kích quả vị Alahán, kẻ này bị đọa vào địa ngục.”
Chúng ta thường độc tôn nơi cá nhân mình, chủ thuyết mình đi theo, tôn giáo mình quy hướng, giáo chủ mình phụng thờ, tông phái mình chọn lựa để rồi công kích sạch sẽ mọi phe nhóm khác. Chiến tranh tàn khốc máu đổ thịt rơi cũng chỉ vì khuynh hướng độc tôn sai lầm này. Biết bao nhiêu triều đại đã qua trong lịch sử, càng công kích chỗ dở của triều đại trước chừng nào thì họ càng vi phạm sai lầm nhiều hơn địch thủ của họ nhiều chừng nấy. Nhưng sở dĩ chúng ta thích công kích hơn ca ngợi chỉ vì chúng ta có cảm tưởng kẻ khác bị ngã quỵ tức là chúng ta vinh quang hơn, tài giỏi hơn, chúng ta thấy được cái dở của người khác tức là chúng ta giỏi hơn họ (!) Vì nghĩ vậy nên chúng ta chỉ trích thường xuyên. Muốn mặt mình đẹp bằng cách bôi nhọ lên mặt người khác mà không biết tự sửa soạn lại chính mình, muốn tông phái mình nổi bật bằng cách chê bai tông phái khác mà không biết hoàn thiện lại chính tông phái mình.
Phật dạy chúng ta phải biết ẩn ác dương thiện đừng bêu cái xấu của người ra, chỉ nên đưa cái tốt của họ ra mà thôi. Lòng từ bi không để cho chúng ta thấy người khác mất danh dự.
Tuy nhiên điều này không nên cố chấp một chiều. Rồi một ngày đẹp trời nào đó, người anh em của chúng ta muốn đến thọ giáo với một ông đạo có nhiều quyền năng phép lạ, tự xưng là Phật xuất thế, là giáo chủ ra đời, phong thánh cho người này người kia,... nếu chúng ta không kịp thời ngăn chận chỉ trích để cho người anh em chúng ta lạc vào đường tà, chúng ta cũng có lỗi lớn.
“Không khen người đáng chê
không chê người đáng khen.”
Đặt ngược vấn đề phỉ báng, nếu tán thán bậc thánh sẽ đưa đến quả báo ra sao?
Thiên giới, vinh quang và hạnh phúc là sự chờ đợi dành cho những người khởi tâm tịnh tín và tán thán đối với bậc thánh. Nếu chúng ta kính trọng ai về ưu điểm nào, chúng ta sẽ thành tựu về ưu điểm đó.
Nếu chúng ta kính trọng thánh Francisco bởi nhân cách nghèo nàn đơn giản, bởi lòng thương yêu phụng sự mọi người, chúng ta sẽ dần dần trở nên thành tựu những nhân cách đó.
Sở dĩ chúng ta khát khao sự giải thoát trong khi chúng ta chưa từng nếm qua mùi vị giải thoát, bởi vì trong quá khứ, có một bậc thánh giải thoát nào đó đã làm cho chúng ta kính phục. Sự kính phục phong cách, oai nghi, dung mạo, tâm hồn của vị thánh giải thoát đã ươm thành niềm khát khao giải thoát cho chính ta. Để rồi đời này, chúng ta chấp nhận bao nhiêu khó nhọc, bao nhiêu giới cấm và tiến tu Thiền Định mãi mãi.
tranngocai
22-01-2005, 11:59 AM
18 – TU TẬP TỪ TÂM.
(Trích Tăng Chi Bộ kinh 3a, tr 146)
TỪ:
Như vầy tôi nghe, một thời Thế Tôn trú ở Sàvathi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỳ kheo.
“Này các Tỳ kheo!”
“Thưa vâng, bạch Thế Tôn!”
“Với Từ tâm giải thoát, này các Tỳ kheo! Được sử dụng, được tu tập, được làm sung mãn, được làm như cỗ xe được làm như căn cứ địa, được tùy trú, được tích tập, được khéo tác thành, sự chờ đợi là tám lợi ích. Thế nào là tám?
“ Ngủ được an lạc, dậy được an lạc, không thấy ác mộng, được người ái mộ, được phi nhân ái mộ, chư thiên hộ trì, lửa hay thuốc độc hay kiếm không gia hại, nếu không thông đạt thượng vị sẽ đạt được Phạm thiên giới. Với Từ tâm giải thoát... sự chờ đợi là có tám lợi ích này.
Ai tu tập Từ tâm
Vô lượng, thường ức niệm
Các kiết sử yếu dần
Thấy được sanh y diệt
Với tâm không ác độc
Từ mẫn một chúng sinh
Do vậy vị ấy thành
Bậc thuần nhất chí thiện
Với tâm ý từ mẫn
Đối với mọi chúng sinh
Bậc Thánh khéo thực hiện
Nhiều công đức tốt lành
Sau khi đã chinh phục
Rất đông đảo loài người
Các ẩn sĩ, vua chúa
Theo nghi lễ tế tự
Lễ tế ngựa tế người
Lễ uống nước thắng trận
Lễ ném cầu may rủi
Lễ rút lui khóa cửa
Không được phần mười sáu
Bậc khéo tu Từ tâm
Như ánh sáng mặt trăng
Đối với các quần sanh
Không giết, không bảo giết
Không thắng, không bảo thắng
Từ tâm mọi chúng sinh
Không hận thù với ai.”
tranngocai
22-01-2005, 12:00 PM
NHẬN XÉT:
Phật cho biết nếu người tu tập Từ tâm một cách thuần thục sẽ đạt được tám lợi ích. Trước hết chúng ta định nghĩa Từ tâm là gì.
Từ tâm là lòng thương yêu không điều kiện. Thông thường chúng ta thương yêu ai vì người đó có sự tương quan nào với mình. Hoặc họ là cha, là mẹ, là anh chị, bà con, thân quyến,... hoặc họ là bạn bè đối xử ưu ái với mình, và đậm đà tha thiết hơn cả nếu họ là tình nhân hay vợ chồng với mình. Lòng thương yêu của chúng sinh được chi phối thúc đẩy bởi nghiệp nó có điều kiện hẳn hoi. Chúng ta thương yêu cha mẹ vì người đã nuôi nấng sinh dưỡng săn sóc cho chúng ta từ thơ ấu, và có khi còn để lại cả gia tài sự sản về sau. Chúng ta thương yêu bạn bè vì họ đáp ứng những nhu cầu giao tiếp vui chơi, đỡ đần qua lại với chúng ta; chúng ta thương yêu tình nhân vì họ đem lại cho chúng ta khoái lạc của nhục dục; chúng ta thương yêu con cái vì chúng nó là sự kéo dài hình ảnh, tên tuổi, dòng họ của chúng ta ở lại với cuộc đời khi chúng ta đã nhắm mắt.
Tình thương có điều kiện như thế, bị chi phối bởi nghiệp như thế luôn luôn kéo theo ô nhiễm, bất an và phiền động. Nó luôn luôn đòi hỏi sự đáp ứng trở về cho tự ngã. Nếu không được đáp ứng trở lại, tình thương sẽ biến mất và đôi khi sẽ được thay thế với thù hận. Lịch sử đã chứng minh và tiểu thuyết đã diễn tả khá nhiều về loại tình thương có điều kiện này với kết quả sau cùng là sự chiếm chỗ của thù hận. Tình thương có điều kiện ràng buộc nhau, là sự đòi hỏi nhau. Cha mẹ thương con cũng vẫn đòi hỏi một sự hiếu để trở lại, con thương cha mẹ cũng vẫn đòi hỏi sự chăm sóc chu đáo. Vợ chồng thương nhau cũng vẫn đòi hỏi sự cung phụng về xác thịt. Có khi chỉ vì không thỏa mãn nhục dục, họ sẵn sàng ngoại tình và bỏ nhau. Tình thương yêu như thế không phải là Từ tâm được Phật tán thán.
1* Muốn biết Từ tâm này là gì, bạn hãy hướng tâm đến bất cứ một chúng sinh nào, không có chút liên quan gì với mình và tác ý khởi lên lòng yêu mến đối với chúng sinh đó. Trong lòng yêu mến hướng về chúng sinh đó, bạn không nghe lòng mình đòi hỏi nơi họ bất cứ sự đáp ứng nào, cũng không cần họ biết rằng bạn đang thương mến họ. Chỉ một sự thương yêu trìu mến, ưu ái, chứa chan thắm thiết của bạn dành cho họ một cách thuần khiết vô nhiễm mà thôi.
2* Rồi bạn hướng tâm đến những người quen biết trong cuộc đời mà từ lâu bạn vẫn phớt lờ đối xử hời hợt với họ, để chan rãi lòng thương mến với họ.
3* Rồi bạn hướng tâm đến từng người từ lâu ác cảm với bạn, hoặc đã mưu hại bạn. Phải khởi tâm họ chân thành bình đẳng như những chúng sinh khác. Thoạt đầu bạn sẽ nghe tình thương mới này đụng chạm với niềm thù hận bấy lâu, nhưng sau giây phút tỉnh giác, niềm thù hận cũ sẽ tan để nhường chỗ cho tình thương ngự trị.
4* Rồi bạn hướng tâm đến những thú vật lớn, những côn trùng nhỏ, những ngạ quỷ vô hình, những chúng sinh ở địa ngục. Khi khởi tâm thương mến những chúng sinh bất hạnh này, liền đó có niềm xót xa thương hại kèm theo. Từ đã sinh ra bi. Thương yêu đã sinh ra thương xót.
Từ là thương yêu mọi loài một cách bình đẳng không điều kiện.
Bi là thương xót khi thấy chúng sinh đau khổ.
5* Rồi bạn lại tâm nguyện rằng bất cứ nơi nào có sự hiện diện của chúng sinh, nơi đó có tình thương của bạn ban phát. Bỗng nhiên một cách không cố ý, bạn thấy lòng từ bi của mình trùm phủ vô hạn trong pháp giới.
Nếu mới ban đầu chúng ta quán tưởng Từ tâm trùm khắp vô lượng, Từ tâm này chỉ có chiều rộng mà không có chiều sâu. Phải đi qua năm giai đoạn vừa kể, Từ tâm đó mới có đầy đủ bề sâu và bề rộng.
Thường xuyên chan rãi lòng thương yêu như vậy – tu tập Từ tâm – cho đến thuần thục, sung mãn như cổ xe, như căn cứ địa, người này thành tựu tám lợi ích.
– Ngủ, thức thì được yên vui, không có ác mộng.
– Được người yêu mến, phi nhơn ái mộ.
Điều này dễ hiểu vì Từ tâm lan tỏa tự nhiên cảm ứng với tâm chúng sinh nhất là các loài phi nhân thấy được tâm người, chúng sẽ mến mộ người nào có Từ tâm lan tỏa như vậy.
– Được chư thiên độ trì.
Những thiên tử là những vị đã từng vun bồi Từ tâm nhiều đời, tích lũy thiện căn nhiều kiếp nên rất quí mến những chúng sinh đi theo con đường cao cả này. Với năng lực của thiên giới họ sẽ thủ hộ gìn giữ ai tu tập Từ tâm thoát khỏi những chướng nạn trên đường tu, bảo vệ sự tu tập vị này đến viên mãn.
– Lửa, thuốc độc, đao kiếm không gia hại. Thuốc độc đây bao gồm những độc trùng như rắn, rết, bò cạp... Những hiểm nạn trên đây cảm ứng với tâm ác độc, không cảm ứng với Từ tâm. Có thể trong quá khứ vị này đã từng tạo nghiệp đáng bị quả báo lửa, đao, độc dược, nhưng với đời này tu tập Từ tâm thuần thục, quả báo kia được hóa giải qua hình thức khác nhẹ hơn.
– Nếu không chứng quả Thánh sẽ sinh về cõi trời phạm thiên.
Cõi trời phạm thiên dành cho những chúng sinh tu tập sung mãn Từ tâm và giữ gìn phạm hạnh, đồng thời có sở đắc trong Thiền Định.
– Tu tập Từ tâm trợ giúp rất nhiều cho Thiền Định giải thoát.
“Các kiết sử yếu dần
Thấy được sanh y diệt”
Tu tập Từ tâm có công năng phá dần các kiết sử che tâm. Kiết sử tan đến đâu, Thánh vị tăng đến đó, cho đến tận cùng thì sanh y đều chấm dứt, được viên mãn Niết Bàn.
Thể Niết Bàn là thể của Đại bi (Kinh Đại Bát Niết Bàn, hệ Phật giáo phát triển). Thế nên ai gieo nhân đại bi sẽ được quả Niết Bàn. Và khi đã thành tựu Niết Bàn tức là viên mãn Đại bi và thắng trí, vị này sẽ ra vào tam giới hóa độ chúng sinh mà không ai thấy được dấu vết.
Vì sao tu tập Từ tâm có công đức như vậy?
Như chúng ta đã phân biệt giữa phước và đức.
Phước là do lợi ích chúng sinh.
Đức là do cái tốt của tự tâm.
Tu tập Từ tâm tức là tăng trưởng đức bên trong. Đức là cội gốc vững bền cho mọi phước nghiệp bên ngoài, là vốn liếng để tựu thành vô lượng công hạnh khác. Người thuần thục Từ tâm là người đã có sẵn kho tàng vô giá, công đức của Từ tâm đủ sức phá tan dần các kiết sử, trợ duyên lớn lao cho Thiền Định giải thoát.
Trong Pháp Cú truyện tích có thuật, một số Tỳ Kheo ở trong rừng tu tập bị các thần cây phá phách không yên. Phật dạy các vị khởi Từ tâm đối với chúng sinh. Sau đó, chư thiên đã hộ trì sự yên ổn cho các vị tiến tu.
Lòng Từ cảm ứng sự hỗ trợ của chư thiên, hiệu quả hơn lời cầu nguyện từ một tâm hồn ích kỷ. Kẻ ích kỷ muốn được sự hỗ trợ của chư thiên bằng lời cầu nguyện, vẫn không thành tựu bằng một người chan rãi Từ tâm cho tất cả chúng sinh.
Bởi hai cách thức, một người sẽ giúp đỡ kẻ khác.
Hoặc do lý trí phân biệt thiện ác, nên người này cố gắng làm điều thiện, tránh điều ác.
Hoặc do Từ tâm thương yêu chúng sinh, nên người này cố gắng hy sinh giúp đỡ cho kẻ khác.
Nhưng trong hai trường hợp tác thiện như vậy, một do lý trí, một do Từ tâm, thì hành vi bởi Từ tâm vẫn làm tươi mát lòng người hơn cả. Chúng ta không phủ nhận vai trò quan trọng của lý trí trong việc phân biệt thiện ác, nhưng cũng cần có Từ tâm như dòng suối trong mát mùa hè, như tia nắng ấm áp mùa xuân một cách tự nhiên thoải mái. Người thuần lý trí sẽ đối xử tốt với mọi người nhưng vẫn có vẽ khô khan cứng cỏi. Còn người thuần thục Từ tâm sẽ đối xử tốt với tất cả mọi người trong vẻ bao dung ưu ái, và ai cũng thích trường hợp thứ hai này.
tranngocai
22-01-2005, 12:04 PM
19– KHINH BỈ.
(Trích pháp cú truyện trích, tr 81)
Một người mang bệnh cùi, bị mọi người ghê tởm xa lánh, nghe oai danh của Đức Phật đại từ, ông tìm đến. Trong một thời nghe pháp, ông đắc quả Tu Đà Hoàn. Nhưng bất hạnh thay, lúc trở về, ông bị một con ngựa húc vào người và ngã ra chết. Các Tỳ Kheo đem chuyện này hỏi Đức Phật và được giải thích rằng. Vị ấy mang bệnh cùi vì trong một tiền kiếp đã có lần nhổ nước miếng vào một vị Phật độc giác, bị ngựa húc chết vì đã giết một cô gái giang hồ.
tranngocai
22-01-2005, 12:08 PM
NHẬN XÉT:
Vào đầu thế kỷ này, bên Mỹ xuất hiện một bác sĩ kỳ lạ, làm chấn động dư luận trong một lúc lâu, đó là bác sĩ Edgar Casey. Edgar Casey tốt nghiệp bằng cấp Tây y hẵn hòi, nhưng ít khi ông chẩn đoán nguyên nhân bênh tật bằng những phương pháp của y học hiện đại, trái lại, ông đã tìm nguyên nhân bệnh tật bằng cách nhập định dùng thần nhãn truy tìm ác nghiệp trong quá khứ của bệnh nhân. Ông là người theo Kitô giáo nhưng có khả năng tâm linh phi thường như những đạo sĩ Ấn độ. Ông có thể soi thấu những tác nghiệp rất xa của người khác từ những đời sống cách đây hằng vạn năm. Những điều ông tìm thấy có vẻ xa lạ với người Kitô giáo, nhưng lại rất gần gũi với tín đồ Ấn độ và Phật giáo. Những nguyên nhân của bệnh hoạn luôn luôn xuất phát từ một ác nghiệp trong quá khứ. Người thiếu máu vì đã từng dự vào chiến trận làm đổ máu nhiều người. Người mù mắt vì đã từng dùi thủng mắt của những tội nhân. Người mắc bệnh đồng tính (homosexual) vì đã từng vẽ tranh hài hước châm biếm những kẻ đồng tính khác (theo Many mansions, Edgar Casey). Người không đứng được vì phá đường tháo cầu nơi công cộng. Người bị phỏng vì từng trụng luộc chúng sinh... Nói chung những đau đớn về bệnh hoạn mà chúng ta phải chịu đựng đều là phản ánh những đau khổ mà chúng ta đã gây ra cho kẻ khác, vật khác.
E. Casey không đề cập tới điạ ngục và thiên đường, súc sinh hay ngạ quỷ, ông chỉ nói tới những kiếp làm người. Có lẽ ông ngại nói quá rộng về siêu hình chưa thích hợp với người Tây phương Thiên chúa giáo. Ông đã soi kiếp cho hai mươi lăm ngàn trường hợp và mỗi trường hợp đều lưu lại hồ sơ. Nếu có điều kiện, bạn nên tìm đọc trực tiếp các tài liệu này, và sẽ tìm thấy nhiều kinh nghiệm về đường đi của Nhân Quả Nghiệp báo. Sau khi tìm thấy nguyên nhân của những bệnh, E. Casey đều khuyên bệnh nhân thay đổi gạn lọc nội tâm mình cho thuần thiện, yêu thương và giúp đỡ mọi người. Công đức của thiện tâm và phước lực của thiện nghiệp sẽ thay đổi tình trạng sức khỏe của họ khả quan hơn. Quả nhiên khi làm theo lời khuyên này, bệnh hoạn của họ đều chuyển biến. Nhưng ông cũng cho biết bệnh nào có thể hết hẳn và bệnh nào không thể hết hẳn dù có cố gắng gia tăng phước nghiệp trong hiện tại, bởi vì định nghiệp quá nặng.
tranngocai
22-01-2005, 12:09 PM
Riêng người bệnh cùi được dẫn ra trong đây đã bắt đầu bằng một nguyên nhân tâm lý: Khinh bỉ một vị Phật độc giác bằng hành vi nhổ nước bọt vào vị này.
Phật Độc giác là những vị ra đời không gặp Phật, không gặp thiện tri thức, nhưng có sức huân tu từ quá khứ rất mãnh liệt và thuần thục, đời này đủ sức tự tu được viên mãn đạo quả Niết Bàn. Nơi quả vị Niết Bàn này không sai khác với các vị Alahán, vô minh lậu hoặc đều hết sạch, tam minh lục thông đều thành tựu, không còn một sức mạnh nào lôi kéo vị này vào tam giới trừ khi chính vị này tự nguyện trở lại để giáo hóa chúng sinh. Nhưng vị Độc giác Phật được tán thán nhiều hơn bởi không cần sự hướng dẫn như Thanh văn, Alahán. Công đức quá khứ đủ để vị này tự đi một mình.
Hành vi phỉ nhổ vào vị Độc giác Phật sẽ đưa đến quả báo năm trăm đời mang bệnh hủi. Bệnh hủi là loại bệnh làm mọi người ghê tởm lánh xa. Ghê tởm vì sợ lây và ghê tởm vì sự lở lói kỳ dị của nó.
Ghê tởm xa lánh là hình thức của sự khinh bỉ, tột độ của sự khinh bỉ. Sự khinh bỉ bậc thánh thiện đã đem lại quả báo ghê tởm xa lánh cho kẻ này. Nếu khinh bỉ người phàm phu, quả báo chỉ bị thấp hèn khinh bỉ trở lại, không đến nổi bị bệnh cùi, bị mọi người ghê tởm xa lánh như thế. Có khi chúng ta không khinh bỉ phỉ nhổ bậc thánh, nhưng vì sự tự kiêu nơi dòng tộc, gia thế, danh vọng, chúng ta suốt đời khinh bỉ những tầng lớp khác, đối xử hất hủi tệ bạc với những giai cấp khác. Quả báo cũng tương tự sẽ xảy đến bằng sự nghèo khó thấp hèn, bệnh hoạn lở lói, nứt nẻ, hôi hám để mọi người phải ghê tởm lánh xa.
Muốn hóa giải ác nghiệp này, chúng ta phải hướng tâm về Đức Phật mà khởi lên niềm tôn kính vô biên. Lần lượt chúng ta hướng tâm về chư vị Bồ tát Alahán với tâm tôn kính tột độ như vậy. Chúng ta lại tâm nguyện cung kính thương yêu đối với tất cả chúng sinh. Mỗi khi nhìn thấy bất cứ ai trong ngày, đều phát khởi niềm cung kính đến với họ. Hạnh tu này gọi là phổ kỉnh, cung kính tất cả. Khi hạnh phổ kỉnh này thuần thục, tâm cung kính sung mãn thì ác nghiệp của sự khinh bỉ bắt đầu bị đẩy lui. Bệnh hoạn sẽ chuyển biến dần để đi đến bình phục.
Hạnh phổ kỉnh cũng giống như từ bi, phải bắt đầu bằng sự tự kỷ ám thị rồi dần dần mới thuần thục trở thành suối nguồn tuôn trào tự nhiên vô tận. Khi ngồi nơi vắng vẻ, tâm chúng ta tự nhắc nhở rằng.
“Tất cả mọi chúng sinh đều là những người tôi thương yêu và kính trọng”.
Hoặc khi đi vào nơi đông người, nơi thưa người, nhìn thấy họ, chúng ta liền khởi tâm rằng.
“Đây là những người tôi hết lòng thương yêu và kính trọng”
Phải thường xuyên huân tập nhắc nhở như vậy mãi, chúng ta sẽ thành tựu hạnh phổ kỉnh và từ bi.
Vì đã giết một cô gái giang hồ nên đời này bị ngựa húc chết. Điều này dễ hiểu, và có thể chính con ngựa đó là hậu thân của cô gái giang hồ nào chăng?
Tuy nhiên, do một duyên đặt biệt nào không được Thế Tôn giải thích, ông gặp Thế Tôn để được chứng quả Tu Đà Hoàn. Ở quả vị Tu Đà Hoàn này, một chúng sinh không còn đọa vào ba ác đạo nữa, hoặc họ sinh thiên, hoặc họ sinh làm người, miễn sao qua vài nghìn năm.Có thể cả vạn năm nhiều lần sinh lại cõi người, sẽ chứng Niết Bàn viên mãn. Dĩ nhiên không phải vô cớ ông được nhân duyên ngộ đạo như thế. Nếu không nhờ sự hóa khéo léo nào đó, nếu ông không hối cải tha thiết từ hành vi khinh bỉ kia, nếu ông đã không qui hướng một vị thánh nào, thì đời này ông không thể gặp Phật nghe pháp và lọt vào dòng thánh (Nhập lưu).
tranngocai
22-01-2005, 12:11 PM
20 – VŨ KỊCH
(Trích Tương Ưng Bộ kinh 4, tr 307)
Một thời Thế Tôn trú ở Rajagaha (Vương Xá) tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Rồi Talaputa, nhà vũ kịch sư (Natagàmani) đi đến Thế Tôn. Sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên, bạch Thế Tôn:
“Con được nghe, bạch Thế Tôn, các vị đạo sư nói về các nhà vũ kịch, nói rằng: “Ai là nhà vũ kịch trên sân khấu giữa kịch trường với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười thích thú, người này sau khi thân hoại mạng chung sẽ sinh cộng trú với chư thiên hay cười (Pahasa deva). Ở đây Thế Tôn nói như thế nào?”
“Thôi vừa rồi, này thôn trưởng, hãy dừng ở đây, chớ có hỏi ta về điều này!
Ba lần vũ kịch sư Talaputa hỏi, ba lần Thế Tôn từ chối trả lời. Cuối cùng Thế Tôn bảo: “Thật sự ta đã không chấp nhận trả lời. Tuy vậy, ta sẽ trả lời cho ngươi.
“Này thôn trưởng, đối với những loại hữu tình từ trước chưa đoạn trừ tham, sân, si, còn bị tham sân si trói buộc, nếu nhà vũ kịch trên sân khấu hay trong kịch trường, tập trung những pháp hấp dẫn khiến tham sân si của họ tăng thịnh. Người ấy tự mình đắm say, phóng dật, cũng làm người khác đắm say phóng dật, sau khi thân hoại mạng chung bị sinh trong địa ngục Hý tiếu (pahaso). Còn người chỉ cần có tà kiến rằng người vũ kịch làm quần chúng vui cười thích thú sẽ được sinh thiên, ta nói rằng kẻ tà kiến ấy chỉ có một trong hai sinh thú: địa ngục và súc sinh”
Khi nghe như vậy, vũ kịch sư Talaputa phát khóc, lệ đầm đìa.
“Chính vì vậy mà lúc đầu ta từ chối trả lời câu hỏi của ông”
“Bạch Thế Tôn, con khóc không phải vì Thế Tôn đã nói như vậy, nhưng bạch Thế Tôn, vì con bị các đạo sư, các tổ sư vũ kịch thời trước lừa dối con, dối trá con trong cả thời gian dài.
“Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Bạch Thế Tôn, con nay xin quy y Phật, Pháp và Chúng Tăng. Mong Thế Tôn cho con được xuất gia với Thế Tôn, và được thọ đại giới”.
Thế Tôn chấp nhận. Thọ đại giới không bao lâu, tôn giả Talaputa chuyên cần tinh tấn và trở thành một vị Alahán nữa.
tranngocai
22-01-2005, 12:13 PM
NHẬN XÉT:
Đường đi của Nhân Quả Nghiệp báo rất là tế nhị và phức tạp, nếu không suy xét mọi khía cạnh của vấn đề rất dễ bị lầm lẫn. Tổ sư của môn vũ kịch đã dựa vào luật Nhân Quả để an ủi những người theo môn nghệ thuật sân khấu rằng làm cho quần chúng vui cười thích thú sẽ được sinh thiên. Nhưng Đức Phật đã nhìn thấu suốt vấn đề để chỉ ra rằng nếu môn nghệ thuật sân khấu đó làm tăng thịnh tham sân si của quần chúng, quả báo chời đợi là địa ngục hý tiếu. Thường thì tâm tình của quần chúng dễ bị ảnh hưởng hướng dẫn, ít ai có khả năng tự chủ trước sự hấp dẫn của nghệ thuật để phê phán nó. Những phim ảnh đấu tranh tàn bạo, rùng rợn, những người hùng đánh hay giết giỏi... đã ảnh hưởng mạnh mẽ vào tâm hồn bao nhiêu thanh thiếu niên để gây cho họ sự sôi sục, dã man, hăng say và hiếu chiến. Vấn đề không dừng ngang đó! Các thanh thiếu niên bị phim ảnh kích động, muốn mình trở thành người hùng của thời đại, đã kết bè tập nhóm đánh đấu, chém giết nhau túi bụi. Những khu phố đông người với ngõ hẻm quanh co ở các thành phố thị xã đều đã từng bị tình trạng hỗn loạn như vậy trong một thời gian khá dài. Đến 30/4/75 tình trạng hỗn loạn đó mới lắng dịu. Cả những nước phương Tây cũng báo động về tình hình thiếu niên phạm pháp. Có đứa bé đã thản nhiên giết bạn mình, khi được hỏi cung chỉ trả lời vỏn vẹn rằng thử xem giết người có khó không!
Tệ hơn cả là những phim ảnh khiêu dâm. Kẻ làm phim đã bán đứng lương tâm của mình, dựng những cảnh dâm dục thô bỉ trơ trẽn để thu vào ống kính. Phương tiện vidéo cassette hiện nay trở nên thuận lợi cho việc chiếu phim khiêu dâm lén lút, làm băng hoại tâm hồn của bao nhiêu người. Tham dục của con người vốn đã đầy tràn, giờ đây còn được kích thích mãnh liệt. Và khi lòng tham dục sôi sục thì không có tội lỗi nào kẻ ấy từ chối, mọi luân thường đạo lý sẽ bị phá vỡ!
Những kịch bản tình yêu lãng mạn, những khúc hát ân tình say dắm đã vùi trái tim ai trong bâng khuâng mơ mộng. Khi khối tình si hiện hữu thì mặt trời trí tuệ bị khuất che u ám. Sự cao thượng của con người phải vắng mặt khi những tình cảm vị kỷ chiếm chỗ. Hơn phân nửa những thi phẩm, nhạc phẩm của nhân loại chỉ để nói về tình yêu.
Có thể bạn trách tôi quá khắt khe với quan hệ tình yêu của nam nữ giống như mấy ông bà già xưa thường ngăn cấm con cái một cách lỗi thời. Bạn có thể cho rằng thời đại văn minh bây giờ người ta cần công khai đặt vấn đề tình yêu để có sự giáo dục hẵn hòi, hơn là che đậy để bị ức chế. Thật ra đạo Phật không ngăn cấm người cư sĩ có tình yêu và lập gia đình, nhưng họ còn nhiều mục đích cao cả hơn trong đời sống. Tâm con người thì dễ duôi, buông thả và yếu đuối, khuyến khích một họ sẽ làm đến mười. Họ còn cần trái tim để chan rãi tình thương yêu mọi người, họ còn cần năng lực để hy sinh giúp đỡ chúng sinh, họ còn cần hạnh phúc của tâm hôn thanh thản. Còn những cảm xúc sôi động bừng cháy của cảm tính thì dễ tìm và cũng thường kéo theo bất an phiền muộn. Đời người quá ngắn ngủi để họ vùi mình mãi trong các cuộc truy hoan tạm bợ. Họ còn cần nhiều thời gian để tác thành phước nghiệp cho mai sau.
Bạn sẽ nói đâu phải kịch bản nào cũng kích động hận thù và tham lam, cũng có những kịch bản có nội dung xây dựng giáo dục rất tốt. Tôi không phủ nhận điều này, nếu kịch bản có nội dung giáo dục tâm hồn quần chúng trở nên cao thượng hơn, đây là điều đáng mừng. Tuy nhiên, để gọi là một kịch bản hấp dẫn, lôi cuốn người xem, thì những pha hồi hộp, căng thẳng, mê ly cần phải có. Ai chịu trách nhiệm sự bất an này của quần chúng. Bệnh thần kinh tăng nhanh trên thế giới vì ngày nay sân khấu điện ảnh đã gây cho họ quá nhiều stress. Họ đã không tìm giải trí trong sự thư giản tâm hồn, trong buông xả những suy tư, trái lại, họ tránh né cuộc sống mệt mỏi này để tìm quên trong cuộc sống gay cấn được dàn dựng trong phim trường, để rồi sau khi giải trí, đầu óc họ còn căng thẳng hơn lúc trước. Ngày này qua ngày kia, não bộ quá tải thì bệnh tâm thần xuất hiện.
Quả báo của những người thực hiện kịch bản kích thích tăng thịnh tham sân si, được Phật cho biết là địa ngục, địa ngục hý tiếu. Chúng ta không được nghe diễn tả về địa ngục lọai này, chỉ biết rằng hễ nói địa ngục thì chỉ có khó chịu và đau khổ.
Phật cũng cảnh cáo, chỉ cần có tà kiến cho rằng gây cho quần chúng khán giả vui cười thích thú sẽ được sinh thiên, tà kiến ấy đủ đưa người này vào ác đạo. Qua điều này chúng ta thấy sáng thêm một khía cạnh của Nhân Quả Nghiệp báo, chỉ cần có tư tưởng sai lầm cũng đủ để thọ khổ báo. Do đó, khi một người tu tập Từ tâm và phổ kỉnh như trước nói, sẽ kết thành phúc lạc vô lượng ở mai sau, đủ để sinh về cõi trời phạm thiên thọ lạc báo. Không tin hiểu Nhân Quả Nghiệp báo cũng là một tà kiến. Gieo rắc sự bất tín đối vơí Nhân Quả Nghiệp báo lại càng là ác nghiệp nặng nề hơn.
tranngocai
22-01-2005, 12:14 PM
21 – MUỐI VÀ NƯỚC
(Trích Tăng Chi Bộ kinh, tr 284)
“Ai nói như sau, này các Tỳ Kheo, người nào làm nghiệp gì sẽ phải chịu quả báo cố định như vậy. Nếu sự kiện đúng như vậy thì không có đời sống phạm hạnh, không có cơ hội để đau khổ được đoạn diệt.
“Và này các Tỳ Kheo, ai nói như sau, người gây nghiệp thế nào tức là có tội như vậy. Nếu sự kiện là như vậy thì có đời sống phạm hạnh, có cơ hội để đau khổ được đoạn diệt.
“Ở đây, này các Tỳ Kheo, có người không tu tập về thân, về giới, về tâm, về tuệ, hạn hẹp, vị kỷ, nhỏ nhen. Người như vậy, này các Tỳ Kheo có làm nghiệp ác nhỏ mọn cũng đủ đưa nó vào địa ngục.
“Ở đây, này các Tỳ Kheo, có người tu tập về thân, về giới, về tâm, về tuệ rộng rãi không vị kỷ, sống đời vô lượng. Người như vậy có làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tự, ngay trong hiện tại một chút ít khổ báo cũng không xảy ra, nói gì là nhiều.
“Ví như này các Tỳ Kheo, có người bỏ một nhúm muối vào trong một chén nước nhỏ. Các ông nghĩ thế nào, này các Tỳ Kheo nước trong chén nhỏ ấy có vì nhúm muối này mà trở thành mặn và không uống được chăng?”
“Thưa có vậy, bạch Thế Tôn”
“Vì sao?”
“Vì nước trong chén nhỏ ít, nhúm muối đủ làm cho mặn để không uống được.
“Này các Tỳ Kheo, ví như có người bỏ một nhúm muối vào sông Hằng các ông nghĩ thế nào, sông Hằng có vì nhúm muối ấy để trở thành mặn và không uống được chăïng?
“Thưa không, bạch Thế Tôn”
“Vì sao?”
“Vì lớn thay là nước sông Hằng, nhúm muối không đủ để khiến cho nước ấy trở thành mặn!
“Cũng vậy, này các Tỳ Kheo, hạng người làm ác nghiệp nhỏ mọn không có tu tập về thân, về giới, về tâm, về tuệ, hạn hẹp, vị kỷ nhỏ nhoi, đủ đưa nó vào địa ngục (ngược lại)... ngay trong hiện tại một chút ít khổ báo cũng không xảy ra, nói gì là nhiều.
Sự kiện là như vậy, này các Tỳ Kheo, thời có đời sống phạm hạnh, có cơ hội để đau khổ được đoạn diệt.”
tranngocai
22-01-2005, 12:15 PM
NHẬN XÉT:
Bài kinh này nói về tính cách linh động của Nhân Quả Nghiệp báo. Nếu người cho rằng gây nghiệp nào cố định phải trả quả đó, thì vĩnh viễn không ai có thể tu giải thoát. Những ác nghiệp nho nhỏ trong đời sống đều phải trả sòng phẳng thì dù tu tập thế nào cũng phải luân hồi tái sinh để trả cho hết. Và trong đời sống tái sinh mới đó, họ lại có cơ hội để tạo nghiệp và sẽ phải tái sinh để thọ báo tiếp tục, cứ thế đến vô cùng. Ngay cả đời sống phạm hạnh cũng không thể viên mãn vì trong nhiều kiếp quá khứ luyến ái tính dục, duyên nợ ân ái phải đền trả, vừa trả nợ cũ cho nhau mà cũng vừa tạo thêm duyên mới cho nhau. Sự liên quan chằng chịt làm cho không ai có thể thoát ra, nếu Nhân Quả cố định như vậy. Bằng trí tuệ thấu suốt sự lý của tam giới, Đức Phật chỉ ra tính cách linh động của luật Nhân Quả Nghiệp báo. Quả dị thục sẽ thay đổi tùy theo công hạnh của mỗi người. Người tạo nghiệp thế nào, sẽ có tội thế ấy, nhưng có tội không hẳn là phải trả quả nếu người này có công đức phước lực lớn lao đủ sức hòa tan hóa giải những ác nghiệp nhỏ mọn kia.
Với người không từng tu tập những công đức khác, tâm nhỏ nhoi vị kỷ, thì một ác nghiệp nhỏ cũng đủ đưa họ vào đọa xứ. Họ không có chút nước phước để làm loãng đi nhúm muối tội. Họ phải nếm trả đầy đủ sự mặn đắng của chút tội lỗi đã gây.
Ngược lại, người đã từng huân tu các công đức về hành vi, về giới luật, Thiền Định, trí tuệ, tâm hồn quảng đại, từ ái, nếu có lỡ phạm chút ác nghiệp, ao nước phước của họ sẽ vô hiệu hóa chút tội lỗi kia. Nghiệp này không đủ sức kết thành quả báo.
Tôn giả Angulimala tuy đã từng giết nhiều người nhưng chỉ bị đền trả quả báo trong hiện đời một cách sơ sài, bị đánh đập, ném đá, xé y áo, bể bát... Và sau này tôn giả vẫn chứng quả Alahán.
Một Tôn giả trước khi xuất gia, vì ngu si đã lấy mẹ và chị làm vợ, nhưng từ khi xuất gia, vị này tinh tấn và khổ hạnh rồi cũng chứng Alahán (trong Trưởng Lão Tăng Kệ, Tiểu Bộ).
Không phải tất cả vị Alahán khi chưa xuất gia đều thuần thiện trong sạch, có vị cũng từng gây tạo ác nghiệp, nhưng công đức tu tập giới định huệ khiến cho những nghiệp kia trở thành vô hiệu quả. Đường đi của Nhân Quả linh động uyển chuyển như vậy nên mới có sự hóa giải nghiệp lực, có cơ hội để giải thoát đau khổ. Dù thế nào thì trong muôn kiếp si mê chúng ta đã từng tạo ra rất nhiều ác nghiệp. Bổn phận từ hôm nay là hãy tạo chứa dòng sông phước đức để hóa giải những thúng muối mặn đắng còn nằm nguyên vẹn trong kho tội lỗi kia đi! Dòng sông phước đức sẽ phát nguồn từ giới luật, Từ tâm, bố thí, Thiền Định và trí tuệ. Tổng quát là những điều này. Tuy nhiên trong đời sống chúng ta tùy duyên khởi hạnh. Nuôi con chim non mất mẹ; ngăn cản người giết thú; tán thán người tạo phước; hướng dẫn người quy y; cho người mượn cuốn kinh; chỉ đường cho người lạc lối; biếu thuốc cho người bệnh; bênh vực người thế cô; nhặt của rơi đem trả; dành sự dễ dàng cho người (nếu mình là viên chức hành chánh); sáng kiến nâng cao đời sống cho mọi người, ngăn chận văn hóa đồi trụy; truyền bá tư tưởng cao thượng; hòa giải những cuộc tranh chấp vân vân... đều là những công hạnh phải tích lũy qua thời gian dài trong cuộc sống. Có khi chúng ta có cơ hội để tạo những công đức như vậy, nhưng khi cơ hội đến, chúng ta không đủ lý trí để phân biệt thiện ác, không đủ Từ tâm để hy sinh giúp đỡ người, và cơ hội đó đi qua. Điều cần thiết là chính chúng ta phải luôn luôn sáng ngời Từ tâm và lý trí, không để lỡ một cơ hội gây tạo công đức nào khi cơ hội đó xuất hiện.
Cũng có những người ở nơi vắng vẻ, ít giao tiếp với đời sống bên ngoài, ít có cơ hội để giúp đỡ ai. Người này phải tu tập Từ tâm và Thiền Định thật nhiều để làm tăng trưởng công đức của tâm. Công đức lớn lao của tự tâm cũng là một dòng sông hòa tan mất những thúng muối mặn đắng, từ nhiều đời của họ.
tranngocai
22-01-2005, 12:16 PM
22 – VUA VÀ ĐẤT NƯỚC
(Trích Tăng Chi 2a, tr 99)
“Khi nào, này các Tỳ Kheo, các vua phi pháp có mặt, khi ấy các đại thần phi pháp của vua có mặt. Khi nào các đại thần phi pháp của vua có mặt, khi ấy các Bà La Môn gia chủ phi pháp có mặt. Khi nào các Bà La Môn gia chủ phi pháp có mặt, khi ấy dân chúng thị thành và dân chúng các làng trở nên phi pháp. Khi nào dân chúng thị thành và các làng là phi pháp, khi ấy mặt trăng mặt trời đi sai quỹ đạo. Khi nào mặt trăng mặt trời đi sai quỹ đạo, khi ấy tháng và nửa tháng đi sai quỹ đạo, khi nào tháng và nửa tháng đi sai quỹ đạo, khi ấy thời tiết và năm đi sai quỹ đạo. Khi nào thời tiết và năm đi sai quỹ đạo, khi ấy gió thổi sai lạc trái mùa. Khi nào gió thổi sai lạc trái mùa, khi ấy chư thiên bực mình. Khi nào chư thiên bực mình, khi ấy trời mưa không có điều hòa. Khi nào trời mưa không có điều hòa, khi ấy lúa chín trái mùa. Này các Tỳ Kheo, khi nào lúa chín trái mùa, khi ấy loài người nuôi sống với loại lúa ấy thì thọ mạng sẽ ngắn, dung sắc xấu, yếu sức và nhiều bệnh.”
“Khi nào, này các tỳ Kheo, các vua đúng pháp có mặt, khi ấy các vị đại thần đúng pháp có mặt (Diễn dịch ngược với đoạn trên.....)
......Này các Tỳ Kheo, khi nào lúa chín đúng mùa, khi ấy loài người nuôi sống với loại lúa ấy, thọ mạng sẽ dài, dung sắc đẹp đẽ, có sức mạnh và không có nhiều bệnh.
“ Khi đàn bò lội sông
Đàn đầu đi sai lạc
Cả đoàn đều đi sai
Vì hướng dẫn sai lạc
Cũng vậy trong loài người
Vị được xem tối thắng
Nếu sở hành phi pháp
Còn nói gì người khác
Cả nước bị đau khổ
Nếu vua sống phi pháp
Khi đàn bò lội sông
Đàn đầu đi đúng hướng
Cả đàn đều đúng hướng
Vì hướng dẫn đúng đường
Cũng vậy trong loài người
Vị được xem tối thắng
Nếu sở hành đúng pháp Còn nói gì người khác
Cả nước được an vui
Nếu vua sống đúng pháp.”
KDOAN
23-01-2005, 03:40 PM
Luật Nhân Quả đã chi phối và tác động khắp nơi, tận trong tư tưởng và trùm phủ nơi vạn vật. Môi trường để cho Nhân Quả vận hành quả là lớn lao và thấu đáo, thẳm thấu nơi tâm và vật, ứng hiện nơi loài có tri giác và loài không tri giác, rõ ràng nơi từng tâm niệm vi tế và trùm khắp mênh mông trong vũ trụ, nhỏ nhiệm như mũi kim và thênh thang như pháp giới. Môi trường này mắt không thể thấy tai không thể nghe, rờ không thể chạm, không có hình tướng, rất là thanh tịnh vắng lặng, nhưng khi đã khởi tác dụng thì giông bão quay cuồng, quả đất rung chuyển, gió thổi sóng xô, bốn mùa thay đổi. Nếu người nào có thể lắng tâm mình đến tột cùng và giác ngộ được môi trường này, thể tánh này sẽ thấy rõ sự vận hành của Nhân Quả. Có nhiều người tu tập Thiền Định, tuy có phần định tâm nhưng chưa thể giác ngộ toàn triệt thể tánh kỳ diệu này vẫn không thấy được đường đi của Nhân Quả. Phải là bậc giác ngộ viên mãn thể tánh đó mới "KHÔNG MƠ HỒ VỀ NHÂN QUẢ"........
KDOAN
23-01-2005, 04:14 PM
Tuy nhiên họ không ngờ các cõi không gian được sắp xếp theo chiều sâu của tâm, khi tâm vào định càng sâu thì những cõi không gian khác dần dần bày hiện..
Thế nên, bước đầu trong sự tu hành, sư phụ chúng tôi thường dạy hàng cư sĩ tại gia kiểm soát xem tư tưởng của mình là thiện hay ác, nếu ác thì phải đình chỉ lập tức và thiện thì được tiếp tục. Trước khi làm chủ tâm trong định, chúng ta tập làm chủ tâm trong thiện niệm. Thiện niệm nào được nuôi nấng mãi mãi cũng có ngày trổ quả an vui..
Giải phóng những thú vật bị giam cầm trong lồng chậu cũng hóa giải được nghiệp tù đày một phần. Có những người không có ác tâm, hiền lành, nhưng cũng có khi bị lưu giữ tù túng vì một lý do nào đó. Quả báo lúc này có thể xuất phát từ nghiệp hay nuôi chim trong lồng, nuôi cá trong chậu. Phóng sinh có nghĩa là cứu mạng cũng có nghĩa là trả lại tự do. Hai ý nghĩa này sẽ trở thành hai quả báo là mạng sống vững chắc và đời sống tự do.
Trên đây là những bất thiện nghiệp không cố ý. Quả báo của nó là đời sau người này rất Đạo Đức nhưng lại nghèo khổ khó khăn bệnh hoạn. Không ác tâm tạo nghiệp nên họ vẫn còn bản chất hiền lành, nhưng nghiệp vô tình đã gây vẫn làm họ vô cùng khốn đốn. Ngược lại có những thiện nghiệp không cố ý cũng đem đến quả báo công bằng..
Thầy chúng tôi đã trị tận gốc bệnh của cô sinh viên. Bệnh là do nghiệp, muốn trị bệnh, không gì hơn tạo phước. Công đức làm cho mười người hành thập thiện đã đủ (và dư) để giải trừ ác nghiệp của cô. Sự bố thí một món tài vật đã giúp cho người thọ thí sống qua một thời gian, nhưng sự giáo hóa thập thiện đã giúp cho nhiều người lìa khổ được vui lâu dài trong nhiều đời kiếp sau nữa..[/quote]
[quote=tranngocai]Luật Nhân Quả là một chân lý không sai lầm. Ai có thể tin hiểu Nhân Quả Nghiệp báo người này đủ chánh kiến để sống an vui và tăng tiến căn lành mãi. Không có sự thoái đọa dành cho người đã đủ lòng tin hiểu Nhân Quả Nghiệp báo. Thế nên ai tích cực truyền bá, chứng minh khuyến khích, phổ biến, kêu gọi mọi người tin hiểu Nhân Quả Nghiệp báo sẽ được phước vô lượng. Trong tất cả sự làm lợi ích cho người, không gì hơn giáo hóa cho họ tin hiểu Nhân Quả Nghiệp báo, không gì hơn giáo hóa cho họ thực hành thập thiện ở những bước ban đầu. Có nhiều người nghe nói thiền là siêu việt thiện ác, nên khi nghe đề cập đến thập thiện họ liền xem thường. Người như thế chưa hiểu gì về thiền. Không bao giờ có sự thành tựu Thiền Định cho một người chưa đầy đủ ngũ giới thập thiện. Ác nghiệp sẽ luôn luôn quấy phá, chi phối, ngăn trở khi người tu thiền mà chưa đầy đủ ngũ giới thập thiện ban đầu. Chưa đầy đủ ngũ giới thập thiện, người này lẩn quẩn trong hoàn cảnh túng thiếu bức ngặt và không thể yên ổn tu thiền. Người thuận duyên tu thiền là người đã từng thực hành đầy đủ công đức ngũ giới thập thiện..
KDOAN
23-01-2005, 04:18 PM
Chân lý không bao giờ là một chiều, người chỉ nhìn một chiều không bao giờ thấy chân lý. Người đã nói nhiều về bình đẳng, nhưng sự chênh lệch về quyền lợi và địa vị vẫn mãi mãi xảy ra. Nếu bạn muốn san phẳng mọi chênh lệch trong xã hội bằng một cuộc cải thiện nào đó, bạn là người không tưởng. Vĩnh viễn không bao giờ có sự ngang bằng phẳng phiu về quyền lợi giữa mọi người vì phước nghiệp của họ không thể nào hoàn toàn giống nhau. Nơi tự thân con người đã không bằng nhau về thể chất, trí tuệ và tính tình, và sau này nơi quyền lợi, họ sẽ không thể nào hoàn toàn ngang bằng với nhau. Đây là một tiên đề đầu tiên, rất rõ ràng và thực tế mà chúng ta phải chấp nhận. Dù một chủ thuyết kêu gọi bình đẳng thế nào, họ vẫn phải chấp nhận đặc quyền đặc lợi cho một nhóm người có trách nhiệm và khả năng ở chừng mực nào đó.
Tuy nhiên ý nghĩa cao siêu tế nhị của bình đẳng phải được hiểu ở cách khác, không phải sự bình đẳng do quyền lực san bằng tài sản. Bình đẳng là tính chất Đạo Đức nơi một con người. Người có tính bình đẳng là người không muốn trội vượt hơn ai về quyền lợi. Vì bình đẳng là Đạo Đức nên nó là sự tự giác, không phải là sự áp đặt
thật là hay !
KDOAN
23-01-2005, 04:42 PM
Thường thì chúng ta đã tìm hạnh phúc trong vật chất, trong quan hệ tình cảm với mọi người, trong vinh quang của danh vọng, chúng ta chưa bao giờ ngờ rằng có một hạnh phúc chân thật, cao cả, thanh khiết, vĩ đại hơn mọi hạnh phúc kia, đó là sự an định của tâm hồn, đó là sự lắng sâu trong Thiền Định. Tất cả những niềm vui thông thường chỉ bắt nguồn từ suy tư, xao động và kéo theo sau nó là lo lắng bất an, còn hạnh phúc chân thật thì đơn giản và an tĩnh. Tâm không suy nghĩ thênh thang như mây trời, trong vắt như hư không, nhẹ nhàng như gió thoảng, an lạc như vô biên. Từ tâm không suy nghĩ này phát sinh tình thương người rất quảng đại từ ái, không phải khô khan như cây đá, phát minh trí tuệ nhận thức sáng suốt rõ ràng, không phải ngu ngơ như rong rêu.
Chúng ta muốn tình thương yêu chan hòa giữa mọi người, muốn thế giới này không có oán thù, ganh ghét hãy cẩn thận dè dặt về sự phán xét đối với bất cứ ai. Khi nào có sự khiêm hạ và dung hòa, lúc đó chúng ta gần gũi với chân lý. Chẳng những chúng ta không gây nên sự chia rẽ mới, mà còn phải tích cực hàn gắn những chia rẽ có sẵn giữa mọi người. Những chia rẽ có sẵn đó là gì, đó là bức tường vô hình giữa các tôn giáo, giữa các triết thuyết
.....
KDOAN
23-01-2005, 04:56 PM
Những vị Thánh giải thoát giống như thửa ruộng mầu mỡ tốt tươi, gieo một sẽ được trăm ngàn, người gieo hạt ớt, sẽ nhận lấy muôn ngàn cay đắng, người trồng hạt lê sẽ nhận lấy muôn nghìn thơm ngọt. Kokalika đã gieo vào thửa ruộng Sariputta và Moggallana hạt giống phỉ báng, ganh ghét để rồi phải nhận lấy khổ báo trong hiện đời bướu ghẻ đau đớn, nhận lấy khổ báo trong đời sau tại địa ngục mà sự đau khổ muôn vàn lần bi thảm hơn không thể diễn tả hết được.
.....
tranngocai
24-01-2005, 11:56 AM
22 – VUA VÀ ĐẤT NƯỚC
(Trích Tăng Chi 2a, tr 99)
“Khi nào, này các Tỳ Kheo, các vua phi pháp có mặt, khi ấy các đại thần phi pháp của vua có mặt. Khi nào các đại thần phi pháp của vua có mặt, khi ấy các Bà La Môn gia chủ phi pháp có mặt. Khi nào các Bà La Môn gia chủ phi pháp có mặt, khi ấy dân chúng thị thành và dân chúng các làng trở nên phi pháp. Khi nào dân chúng thị thành và các làng là phi pháp, khi ấy mặt trăng mặt trời đi sai quỹ đạo. Khi nào mặt trăng mặt trời đi sai quỹ đạo, khi ấy tháng và nửa tháng đi sai quỹ đạo, khi nào tháng và nửa tháng đi sai quỹ đạo, khi ấy thời tiết và năm đi sai quỹ đạo. Khi nào thời tiết và năm đi sai quỹ đạo, khi ấy gió thổi sai lạc trái mùa. Khi nào gió thổi sai lạc trái mùa, khi ấy chư thiên bực mình. Khi nào chư thiên bực mình, khi ấy trời mưa không có điều hòa. Khi nào trời mưa không có điều hòa, khi ấy lúa chín trái mùa. Này các Tỳ Kheo, khi nào lúa chín trái mùa, khi ấy loài người nuôi sống với loại lúa ấy thì thọ mạng sẽ ngắn, dung sắc xấu, yếu sức và nhiều bệnh.”
“Khi nào, này các tỳ Kheo, các vua đúng pháp có mặt, khi ấy các vị đại thần đúng pháp có mặt (Diễn dịch ngược với đoạn trên.....)
......Này các Tỳ Kheo, khi nào lúa chín đúng mùa, khi ấy loài người nuôi sống với loại lúa ấy, thọ mạng sẽ dài, dung sắc đẹp đẽ, có sức mạnh và không có nhiều bệnh.
“ Khi đàn bò lội sông
Đàn đầu đi sai lạc
Cả đoàn đều đi sai
Vì hướng dẫn sai lạc
Cũng vậy trong loài người
Vị được xem tối thắng
Nếu sở hành phi pháp
Còn nói gì người khác
Cả nước bị đau khổ
Nếu vua sống phi pháp
Khi đàn bò lội sông
Đàn đầu đi đúng hướng
Cả đàn đều đúng hướng
Vì hướng dẫn đúng đường
Cũng vậy trong loài người
Vị được xem tối thắng
Nếu sở hành đúng pháp Còn nói gì người khác
Cả nước được an vui
Bài kinh này Đức Phật nói về nghiệp báo chung của cả quốc gia.
tranngocai
24-01-2005, 12:05 PM
Dĩ nhiên không phải vô cớ mà những người dân sinh ra cùng một đất nước để chịu chung một hoàn cảnh, một hiến pháp, một nền văn minh. Cũng không phải vô cớ mà một người trở thành vua của quốc gia ấy. Công đức riêng của vị này và sự liên hệ nhiều đời với nhân dân đã đưa vị ấy trở thành vua của đất nước đó. Lịch sử đằng đẵng của loài người đã chứng tỏ rằng không phải vị vua nào cũng là hôn quân vô đạo, cũng không phải vị vua nào cũng là minh quân diệu đức. Dù là cùng một thể chế phong kiến, nhưng có khi vua là chính trực, có khi vua là hôn ám. Và thái độ của vua ảnh hưởng đến vận mệnh đất nước. Bài kinh diễn dịch rất lạ tai về những sự đi lệch quỹ đạo của mặt trăng mặt trời, các thiên hà tinh tú, năm tháng không chính xác, chư thiên bực mình (?), thời tiết mùa màng thay đổi... nhưng có một điểm mốc quan trọng là:
“Khi nào dân chúng thị thành và làng mạc trở thành phi pháp...”
Như vậy không phải vua là nguyên nhân đưa đến đau khổ an lạc cho đất nước, mà chính sự phi pháp của dân chúng đưa đến bất hạnh cho họ. Vua chỉ là cái cớ ban đầu dẫn đến thái độ phi pháp hay đúng pháp của dân chúng mà thôi.
Nếu dân chúng hầu hết trở thành băng hoại Đạo Đức, phong hóa suy đồi, ác giới lừng thịnh, lấp đường bố thí, mở lối ích kỷ, thì từ đó những sinh hóa của thiên nhiên đi dần về phía bất lợi cho cuộc sống con người. Mưa gió sẽ thất thường không thuận lợi cho việc trồng tỉa; sâu bọ côn trùng sinh sôi nảy nở phá hoại hoa màu; động đất rung chuyển sụp lở làm chết người hư vật; bão tố lụt lội sẽ thường xuyên tàn phá xóm làng thị trấn; sóng thần trổi dậy cuốn trôi làng mạc ven biển, bệnh dịch phát khởi lan tràn gieo rắc chết chóc tóc tang. Những “cơn thịnh nộ” của thiên nhiên rất tàn khóc và vẫn nằm ngoài tầm tay kiểm soát của con người. Y học tiến bộ chừng nào thì bệnh nan y tăng vọt chừng nấy. AIDS đang là một loại bệnh mới xuất hiện làm điên đầu bao nhiêu nhà khoa học.
tranngocai
24-01-2005, 12:07 PM
Trong các hình thức nghiệp, đạo Phật có nói đến cộng nghiệp – nghiệp chung. Do cộng nghiệp này mà những người cùng chung trong một điều kiện, một xứ sở, một địa phương, một làng xóm, một tập thể, một chuyến xe phải chịu chung một bất hạnh hay một may mắn. Những người dân Ả rập sống chung trên những túi dầu hỏa; những người Eskimo sống chung nơi vùng bắc cực lạnh lẻo hoang vắng; những người Nhật ở Hiroshima và Nagasaki chịu chung hai trái bom nguyên tử; những hành khách trên chuyến xe hôm qua chịu chung tình trạng lật; những gia đình bên kia chịu chung một quyết định dời nhà trong khu qui hoạch... Có lẽ do sự tạo nghiệp tập thể nào đó, do tâm trạng thiện ác tương ưng nào đó, đã đưa những người này nhận chung số phận vui khổ giống nhau. Dĩ nhiên trong cộng nghiệp vẫn có biệt nghiệp của từng người. Trái đạn nổ tung, khói bụi mịt mờ, hai ba người lính không còn tìm thấy xương thịt nguyên vẹn, nhưng có một người chỉ bị cháy nám sơ sơ. Chiếc xe nổ bánh trước lật nhào xuống ruộng, hành khách bị một phen kinh hoàng, nhưng chỉ có hai ba người chết. Một thành phố tối tân giàu có, nhà cửa cao lớn chọc trời, sinh hoạt tấp nập thịnh vượng, nhưng vẫn có những người nghèo khó sống kham khổ thiếu áo, thiếu nhà.
Tuy nhiên nghiệp thiện ác tương ứng trên toàn thể vẫn đem lại cho họ một sắc thái vui khổ chung chung.
tranngocai
24-01-2005, 12:08 PM
Bài kinh này Phật nhấn mạnh đến trách nhiệm của người lãnh đạo đất nước là phải làm sao cho dân chúng sống đúng pháp. Khi họ đã sống đúng pháp rồi thì những kế hoạch ổn định trật tự, xây dựng kinh tế, nâng cao đời sống... dễ dàng thực hiện. Nếu người dân sống phi pháp, dù cố gắng tối đa, vị nguyên thủ vẫn không thành công trong việc đem lại cho họ một đời sống ấm no hạnh phúc. Trách nhiệm nặng nề của vị vua nằm ở chỗ này, là giúp họ có một đời sống chân chính Đạo Đức. Thường thì vị vua lãnh đạo đất nước chỉ đặt nặng khả năng tổ chức, thiết kế sách lược, sắp xếp kế hoạch, bổ dụng nhân sự... mà quên đi cái gốc nằm tại thái độ sống của người dân. Vị vua chân chính nào cũng muốn cho dân được hạnh phúc ấm no, nhưng nếu người dân thiếu phước thì không một sách lược nào thành tựu. Thế nên trên tất cả kế hoạch, vị vua phải có một kế hoạch xây dựng thái độ sống cho dân chúng. Kế hoạch này là nền tảng của mọi kế hoạch kinh tế, quốc phòng, giáo dục, công nghiệp... nào khác.
tranngocai
24-01-2005, 12:10 PM
Nhưng muốn xây dựng thái độ sống của người dân thì vị vua phải chọn thái độ sống của chính mình trước hết, và chính thái độ sống của vua sẽ ảnh hưởng tới các vị đại thần, tới dân chúng. Chúng ta nói vị vua ảnh hưởng tới vận mệnh đất nước nghĩa là như vậy. Từ thái độ sống của vua ảnh hưởng tới dân chúng, và từ thái độ sống của dân chúng ảnh hưởng đến đời sống khổ vui của họ.
Trong kinh cựu ước của Thiên Chúa giáo có một huyền thoại về sự tiêu diệt thành Sodoma. Dân thành Sodoma sống trụy lạc, ác độc và ích kỷ. Chúa trời Jéhova quyết định tiêu diệt toàn bộ thành này. Abraham xin chúa tha thứ nếu còn một số người có thiện tâm. Đấng Jéhova đồng ý tha thứ thành này khỏi bị hủy diệt nếu còn đến mười người có thiện tâm. Nhưng tiếc thay, cả thành chỉ còn gia đình của Lott có thiện tâm. Thiên sứ đã hiện ra đưa gia đình Lott ra khỏi thành, sau đó một cơn mưa diêm sanh và lửa từ trời giáng phủ tiêu diệt toàn bộ thành Sodoma và Gomose. Hai thành này bị sụp xuống thành Tử Hải cho đến hôm nay.
tranngocai
24-01-2005, 12:14 PM
Chúng ta bỏ qua những chi tiết huyền thoại này, chỉ hiểu đơn giản rằng do thái độ sống phi pháp quá đáng của dân chúng hai thành này, nên thiên nhiên đã xuất hiện thiên tai, sự động đất sụp lở cùng với mưa lửa – mưa lửa có thể hiểu giống như mưa acid bây giờ.
Thật ra chúng ta khó đánh giá Nhân Quả của một quốc gia vì sự luân hồi tái sanh đã chuyển người dân nước này trở thành người dân nước khác. Tuy nhiên chúng ta cũng thấy được những nét chung chung. Dân chúng các nước Ả rập (Arabic) theo Hồi giáo, tuân thủ lời dạy bố thí của tiên tri Mahomet rất triệt để. Họ bố thí rất rộng rãi với những số tiền lớn lao. Có những phú gia bố thí hết trọn cả gia tài. Nền văn minh của các quốc gia hồi giáo đã từng vượt lên khá cao bởi vì sự tài trợ rộng rãi của các vua chúa phú gia cho những nhà khoa học và văn hóa bấy giờ. Bây giờ họ là những quốc gia giàu có bởi các mỏ dầu khí nằm rãi rác trong đất nước sa mạc mênh mông của họ. Tuy giàu có, nhưng họ phải chịu đựng quả báo về chiến tranh thường xuyên. Sự xung đột giữa Isrel và các nước Ả rập, chiến tranh điên cuồng giữa Iran và Irak, là sự phản ánh những cuộc hành quân truyền giáo của quân đội Hồi Giáo trong quá khứ. Hồi giáo có truyền thống lạ lùng về sự truyền giáo. Họ dùng quân đội và nhiều hình thức chế tài để bắt buộc người khác theo Hồi Giáo. Giáo chủ Mahomet đi tiên phong trong phương pháp này. Đạo Phật tại Ấn độ đã bị tiêu diệt gần hết bởi quân đội Hồi Giáo ở thế kỷ thứ 13.
Bắt chước Hồi Giáo, Thiên Chúa giáo thành lập Thập tự quân để chiến đấu ngăn chận sự phát triển của Hồi Giáo. Những cuộc chiến đấu dai dẵng và tàn khốc của “Thánh chiến” này trong năm thế kỷ còn để lại nỗi kinh hoàng đến tận hôm nay. Máu người chảy thành dòng ngập đến đầu gối ngựa. Dựa vào dòng sông máu này chúng ta có thể đoán ra thây người nhiều hay ít ra sao.
tranngocai
24-01-2005, 12:18 PM
Tại nước Nhật, Phật giáo được xem là quốc giáo cùng với truyền thống võ sĩ đạo tại đây. Trong một chiếu chỉ ban cho toàn dân. Thánh đức Thái Tử đã viết:
“Toàn dân Nhật phải kính thờ đạo Phật”
Và thế là đạo Phật nhanh chóng xâm nhập vào cuộc sống người dân Nhật. Họ sống thanh thản, thánh thiện và bình thường cho đến khi người Âu châu đặt chân đến đất nước họ. Minh Trị Thiên Hoàng đã sáng suốt tiếp nhận văn minh kỹ thuật Tây phương vào đất nước mình. Trí tuệ của thiền từ lâu ẩn núp trong phong cách mộc mạc của dân chúng Nhật, bây giờ trổi dậy tiếp thu và phát huy những kỹ thuật của Tây phương một cách sắc bén không ngờ. Nền văn minh cơ khí vật chất vượt lên cao độ, những phương tiện xe cộ, máy bay, tàu thủy, điện tử... đã đủ để họ trở nên cường quốc trong một thời gian không lâu. Khi sự vinh quang của vật chất được tôn sùng thì sự cao cả của thánh triết bị bỏ quên. Tinh thần võ sĩ đạo truyền thống của Nhật được phát tiết vào quân đội. Đảng Hắc Long ra đời với chủ thuyết đại đông Á, mưu đồ thôn tính các nước Á đông ven Thái Bình Dương. Tinh thần Phật giáo nhường chỗ cho chủ nghĩa quân phiệt (Militarism). Những chiến thắng liên tiếp từ Mãn Châu, lục địa Trung Hoa, Việt Nam, Mã Lai, Phi Luật Tân, Nam Dương... đã làm cho Nhật trở thành bá chủ như chủ trương của họ. Những xác người để lại bên cuộc xâm lăng, hai triệu người Việt Nam chết đói vì chính quyền Nhật ra lệnh phá lúa trồng đay, còn là nỗi thương tâm khó xóa nhòa!
Và rồi quân đội đồng minh đã phản công mạnh mẽ, chiếm lại dần dần những vùng đất bị chiếm. Quân đội Nhật yếu thế từ từ. Hoa Kỳ đặt chân càng lúc càng gần nơi lãnh thổ Nhật. Trong lúc đen tối tuyệt vọng như vậy, những nhà quân đội lãnh đạo của Nhật còn hối thúc các nhà bác học chế ra bom nguyên tử để hy vọng chuyển bại thành thắng (kế hoạch Ni). Nhưng cuối cùng, mùa thu năm 1945, Hoa Kỳ đã chấm dứt cuộc chiến tranh Thái Bình Dương này bằng hai quả bom nguyên tử tại hai thành phố Hiroshima và Nagasaki! Nhật đầu hàng vô điều kiện.
tranngocai
24-01-2005, 12:19 PM
Khi sự vinh quang của quyền uy và vật chất bị đập vỡ. Người Nhật trở về tìm sự an ủi trong đời sống Thiền Định cố hữu của họ. Hoa Kỳ đã thay thế chính quyền Nhật bởi những phần tử ôn hòa, giải trừ toàn bộ quân đội Nhật. Người Nhật chỉ còn lo xây dựng kinh tế. Sự thông minh do Thiền Định đem lại đã giúp cho người Nhật trở thành sắc xảo trong lãnh vực khoa học kỹ thuật và sự thành công về phương diện này đã khiến thế giới khâm phục họ.
Phước do lối sống Phật giáo luôn luôn sẵn sàng đem lại sự thành công cho họ, nhưng nếu họ hướng sự thành công đó về chiến tranh giết chóc, họ phải chịu hậu quả tức thì.
Nếu so sánh các loài động vật thì con người có phước hơn các loài thú khác. Dù to lớn như voi, hung dữ như cọp, con người vẫn có khả năng khống chế như thường. Nghiễm nhiên con người trở thành chủ nhân giữa các loài trên mặt đất.
Không hề có sự cố định là loài vật nhỏ sẽ tiến hóa thành những loài vật cấp cao, cũng như không hề cố định những loài vật cấp cao sẽ thoái hóa thành loài vật cấp thấp. Phước của từng chúng sinh sẽ qui định sự tiến hóa hay thoái hóa của nó. Nếu con khỉ có chút lòng vị tha từ ái, nó sẽ chuyển thân thành người. Nếu con người mà vị kỷ ganh ghét, nó sẽ chuyển thân thành khỉ. Sự chuyển thân nghĩa là thần thức ra khỏi thân gá vào thai của loài giống khác, không phải chuyển thân là đổi hình dáng của nó. Nói khỉ thành người nghĩa là thần thức của con khỉ đó, sau khi chết, gá vào thai loài người. Nói người thành khỉ nghĩa là thần thức của người ấy, sau khi chết, gá vào thai loài khỉ. Cái động lực chính của sự tiến hóa hay thoái hóa là phước nghiệp của mỗi chúng sinh. Sức mạnh của phước nghiệp đã đưa thần thức của chúng sinh đi vào nơi tương xứng.
Nói như vậy không có nghĩa chúng sinh không có quyền tự làm chủ và phước nghiệp là sức mạnh bên ngoài. Chúng sinh có quyền làm chủ từ ban đầu khi họ quyết định tạo thiện hay ác. Khi nghiệp thiện hay ác đã được tạo ra rồi thì họ trở lại bị nghiệp đó làm chủ. Chính chúng sinh tạo ra chủ nhân của mình. Nếu đó là chủ nhân thiện, chúng sinh có nhiều tự do và may mắn. Nếu đó là chủ nhân ác, chúng sinh chịu nhiều ràng buộc và bất hạnh.
Nếu người có tâm từ ái tốt lành, sức mạnh của phước sẽ đưa thần thức họ về một xứ sở có nhiều người từ ái thân thiện. Nếu người có tâm vị kỷ ganh tỵ, sức mạnh của nghiệp sẽ đưa thần thức họ về một xứ sở có nhiều người hay đấu tranh bỏn xẻn. Nơi xứ sở tương xứng đó, họ sẽ nhận được sự đối xử thích hợp của mọi người chung quanh. Nói như vậy cũng không có nghĩa quơ đũa cả nắm vì trong cái chung cũng có vô vàn dị biệt, nhưng ngược lại trong cái dị biệt vẫn có nét chung.
tranngocai
24-01-2005, 12:30 PM
Bài kinh trên, Phật đặt trách nhiệm chính nơi vị vua, giống như con bò đầu đàn hướng dẫn đàn bò. Nếu con đầu đàn đi sai, cả đàn sẽ kéo nhau vào vực sâu thác ghềnh nguy hiểm. Nếu con đầu đàn đi đúng, cả đàn sẽ đến bờ an ổn. Do đó, vị vua phải sống chân chính hướng dẫn dân chúng cùng sống chân chính. Đó là nói vị vua biết vì dân vì nước, nhưng còn có thể phạm sai lầm trong đường lối. Trong trường hợp khác, có những bạo chúa không có một chút vì dân vì nước, trái lại còn đày đọa áp bức dân chúng, đối xử tàn bạo với dân chúng như kẻ thù. Cả một tập đoàn vua quan chỉ xúm nhau hà hiếp bốc lột dân chúng. Vua Néron giải trí bằng cách đốt cháy nhà dân chúng rồi đứng trên đài cao ngắm lửa cháy một cách vui sướng! Hitler với chủ nghĩa quốc xã đã vắt cạn sức lực của toàn dân cho mưu đồ bá chủ. Polpot chụp mũ phản động để đập bể đầu gần hết dân Campuchia. Chúng ta không hiểu nổi mối thù truyền kiếp nào đã đưa đến tình trạng éo le như vậy, nhưng rõ ràng có mối thù giữa tập đoàn thống trị và dân chúng. Vua Asoka trong giai đoạn ban đầu cũng là bạo chúa, đã đối xử tàn bạo và khắc nghiệt với mọi người. Vua còn đem quân tàn phá thôn tính các nơi để mở rộng đế quốc. Người dân đã gọi vua là Ác A dục. Đến khi vua bị đạo Phật tấn công và cai trị cả cõi lòng. Vua bỗng trở thành minh quân, sáng suốt, suốt đời hướng dẫn toàn dân sống theo chánh pháp và hỗ trợ sự phát triển của đạo Phật. Vua còn cho cả công chúa xuất gia sang truyền giáo tại Tích Lan. Đế quốc của vua trải qua một thời gian dài và thịnh vượng.
tranngocai
24-01-2005, 12:31 PM
Thường thì ít có trường hợp đặc biệt một người đời này là thường dân rồi qua đời sau làm vua. Họ phải trải qua nhiều đời làm quan nhỏ quan lớn. Nếu ở giai đoạn làm quan này họ lo lắng cho dân một cách tận tình thì sẽ được làm vua ở những đời sau. Nhưng họ dễ rớt ở giai đoạn làm quan này vì quyền uy và vật chất đã chôn vùi khá nhiều sự cao thượng của họ. Hiếm người vượt qua sự cám dỗ của ngũ dục để giữ trọn lập trường vì dân vì nước như ban đầu. Nếu họ vượt qua sự cám dỗ của ngũ dục để giữ trọn lập trường vì dân vì nước, họ sẽ tiến đến đỉnh cao của ngôi vị nhân vương.
Lại nữa, nếu một người có duyên phước được làm vua tại một quốc gia giàu có thịnh vượng, phải biết trong những đời trước, họ đã từng giáo hóa dân chúng sống theo Đạo Đức chân chính. Nếu họ chưa từng giáo hóa dân chúng Đạo Đức, họ sẽ phải làm vua một quốc gia nghèo khổ bất hạnh, thiên tai liên miên, thất mùa thường xuyên, kế hoạch thất bại, làm vua một quốc gia như thế khổ sở như sống trong địa ngục.
Chúng ta cũng cám ơn những nhà tư tưởng lớn đã ra đời để sáng tạo đường lối chính trị tiến bộ cho loài người, làm hạn chế sự sai lầm của tập đoàn lãnh đạo.
Tuy nhiên không phải vô cớ mà đất nước có vua độc tài hay có vị nguyên thủ dân chủ. Những vị lãnh tụ độc tài có cái uy lực lạ lùng, có thể khống chế tâm hồn của người dưới một cách mạnh mẽ, buộc họ phải làm theo ý muốn của mình mà không ai dám phản đối. Vua Quang Trung được diễn tả:
“Có đôi mắt sáng như sao và tràn đầy uy lực, không ai dám nhìn thẳng. Mỗi khi chỉ tay ra lệnh như có sấm sét. Lời nói vang như chuông.”
Uy lực của vua Quang Trung đã truyền sức mạnh cho quân sĩ để họ đủ sức phá tan ba mươi vạn quân Thanh nhiều hơn họ gấp sáu lần.
Hitler có cái nhìn thấu suốt tâm hồn người đối diện như thôi miên họ, không ai dám cãi Hitler điều gì dù biết đó là sai. Đại chiến thứ hai bùng nổ chỉ bởi con người có uy lực độc tài này.
Do phước của dân chúng để họ có được vị vua độc tài như Asoka, và cũng bởi nghiệp của họ phải chịu vị vua độc tài như Tần Thủy Hoàng. Cấu kết của Nhân Quả quốc gia rất linh động và tương đối, không một sự kiện nào hình thành độc lập, tất cả đều nương vào nhau mà hiện hữu. Phước của dân chúng cho họ một vị vua, và sự sáng suốt của vị vua cho họ cơ hội để tạo phước. Phước của người Việt Nam cho họ một Trần Nhân Tôn, và Trần Nhân Tôn đã cho họ một nền Đạo Đức Phật giáo.
Tóm lại, trên bình diện quốc gia, vua là người ảnh hưởng lớn tới vận mệnh đất nước. Nếu vua là nguyên nhân khiến cho Đạo Đức dân chúng suy đồi, đất nước sẽ điêu linh khổ sở. Nếu vua là nguyên nhân khiến cho Đạo Đức dân chúng tăng tịnh, đất nước sẽ thái bình thịnh vượng. Vị vua phải thấy cả ba mặt của vấn đề Đạo Đức.
Một, ngành tư pháp hữu hiệu có khả năng chế tài những kẻ phạm pháp, không cho kẻ phạm tội tiếp tục phạm tội, răn đe những kẻ muốn phạm tội.
Hai, ngành giáo dục Đạo Đức hữu hiệu đánh thức lương tâm phân biệt thiện ác của mọi người, đem lại sự tự giác cho họ. Trong tất cả, sự hiểu biết về đường đi của Nhân Quả Nghiệp báo là Đạo Đức căn bản hơn hết.
Ba, guồng máy kinh tế hữu hiệu không để cho người dân trở thành bần cùng sinh đạo tặc. Họ cần dư dả để bố thí và sự bố thí là điều kiện mấu chốt để tăng nhanh sự giàu mạnh cho đất nước. Những nước Tây phương Thiên chúa giáo lập nhiều hội từ thiện cứu tế cho những nơi bị nghèo đói, chiến tranh và tai nạn. Hầu hết các gia đình giàu có đều đóng góp cho hội từ thiện và như vậy sự giàu có của họ còn kéo dài rất lâu.
Đủ cả ba ngành hữu hiệu – Tư pháp, giáo dục Đạo Đức, kinh tế – người dân sẽ trở nên hoàn thiện hơn về Đạo Đức, đất nước sẽ bớt những thiên tai mùa màng sẽ tươi tốt, những kế hoạch xây dựng sẽ thành công, cõi đời bớt đi khổ đau và thêm nhiều vui sướng.
vBulletin® v3.6.11, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.