PDA

View Full Version : Thần Linh Học


DaoKy
04-01-2005, 05:59 PM
http://www.thienlybuutoa.org/images/ThienNhan2.jpg


CHÂN. THIỆN. MỸ

CAO MINH VẠN PHÁP QUY TAM GIÁO
ĐÀI HỘI CHƯ TÔNG HÓA NGŨ CHÂU


BUỔI NÓI CHUYỆN VỚI BÀ SCHWABENHAUS VỀ

TRẠNG THÁI LÂM SÀNG



Theo tờ Courrier des Etats Unis, rất nhiều tờ báo đã đăng tải sự kiện đặc biệt mà nội dung của nó rất đáng nghiên cứu. Sự kiên ấy như sau:

“Báo Le Courrier Des Etats-Unis đăng tải, có một gia đình người Đức ở Baltimore vẫn còn đang rất xúc động bởi cái chết hết sức đặc biệt của một người thân trong gia đình. Sau một thời gian dài ốm nặng, Bà Schwabenhaus hầu như đã trút hơi thở cuối cùng vào đêm thứ hai rạng sáng thứ ba. Những người săn sóc đều đã thấy rõ mọi biểu hiện của cái chết trên thân thể bà : thân thể lạnh ngắt và các chi giác cứng đờ. Sau khi hoàn thành mọi nghi thức với xác chết, và chuẩn bị xong phòng tang lễ, mọi người trong nhà đi nghỉ. Ông Schwabenhaus quá mệt mỏi và đau buồn cũng đi nghỉ theo. Ông đang thiếp dần đi trong trạng thái bất an, thì khoảng 6 giờ sáng, bỗng vẳng tới tai ông tiếng gọi của người vợ. Ban đầu, ông tin rằng đó là do mơ ngủ; nhưng sau khi nghe tiếng vợ gọi tên mình nhắc đi nhắc lại nhiều lần, ông không còn nghi ngờ gì nữa vội chạy đến phòng vợ. Và con người tưởng như đã chết ấy, đang ngồi trên giường, hoàn toàn sáng suốt và khoẻ mạnh hơn bao giờ hết kể từ khi bà lâm bệnh."

“Bà Schwabenhaus đòi uống nước, sau đó uống trà và rượu vang. Bà yêu cầu chồng sang phòng bên ru mấy đứa trẻ đang khóc ngủ. Nhưng ông quá cảm động vì điều vừa xảy ra đã chạy đi gọi cả nhà dậy. Người bệnh đón bạn bè, và những người hầu cận đang run lên vì vui mừng đến gần giường mình với nụ cười thật tươi. Bà không hề ngạc nhiên khi nhìn thấy những đồ chuẩn bị tang lễ. Bà nói: “Tôi biết, mọi người tin rằng tôi đã chết. Tôi mới chỉ ngủ thiếp đi thôi. Nhưng trong lúc ấy, linh hồn tôi bay tới những vùng đất trên thiên giới. Một thiên thần đã tới đón và dẫn tôi đi, trong khoảnh khắc hai chúng tôi đã bay tới không trung. Thiên thần dẫn đường cho tôi chính là cô con gái nhỏ của chúng tôi vừa mới mất năm ngoái. Ôi ... tôi sẽ gặp lại nó rất sớm. Giờ đây, khi đã được trải qua những niềm vui trên thiên giới, tôi không còn muốn sống tại nơi hạ giới này nữa. Tôi đã yêu cầu thiên thần cho tôi được quay trở lại để hôn chồng và các con tôi một lần nữa, thiên thần sẽ sớm quay trở lại tìm tôi”

“Vào lúc 8 giờ, sau khi đã an ủi người chồng, các con và mọi người đang vây quanh mình, bà Schwabenhaus ra đi thực sự, và các bác sĩ đều xác nhận rằng không còn có dấu hiệu của sự sống nơi bà nữa”.

“Và câu chuyện xảy ra đã làm cho các cư dân ở Baltimore rất cảm động”.

Ngày 27 tháng 4 vừa qua, linh hồn của bà Schwabenhaus đã được mời đến nói chuyện trong một buổi cầu hồn tại Hội nghiên cứu về thông linh Paris. Dưới đây là toàn văn cuộc nói chuyện:

1. Để mở rộng thêm hiểu biết của mình, chúng tôi muốn hỏi bà một vài câu hỏi liên quan đến cái chết của bà. Bà có thể vui lòng trả lời cho chúng tôi được không?

Tại sao tôi lại từ chối khi mà giờ đây tôi bắt đầu được tiếp cận với những sự thật vĩnh cửu và tôi biết được những gì mà các ông đang cần.

2. Bà còn nhớ được sự việc đặc biệt xảy ra trước khi bà mất không?

Có, đó là thời điểm hạnh phúc nhất của tôi khi còn ở dưới hạ giới.

3. Khi chết đi, bà có nghe thấy những gì xảy ra quanh bà và trông thấy những chuẩn bị cho tang lễ của mình không?

Lúc ấy, linh hồn của tôi còn quá quan tâm đến hạnh phúc sắp tới.

Nhận xét: Người ta thường thấy rằng những người chết lâm sàng thường nghe và nhìn thấy những gì xảy ra xung quanh khi họ ở trạng thái đó và khi tỉnh dậy vẫn rất nhớ những điều đó. Điều mà chúng tôi đặc biệt lưu ý ở cái chết lâm sàng này là nó đi cùng với sự xuất thần (linh hồn bay lên thiên giới), điều đó giải thích tại sao linh hồn không chú ý tới những gì xảy ra dưới hạ giới.

4. Lúc ấy. Bà có ý thức là bà chưa chết không?

Có chứ, nhưng điều dó làm tôi cảm thấy buồn hơn.

5. Bà có thể cho chúng tôi biết sự khác nhau giữa giấc ngủ thông thường và trạng thái xuất hồn như của bà được không?

Giấc ngủ tự nhiên là sự nghỉ ngơi của cơ thể. Còn trạng thái chết lâm sàng như trường hợp của tôi là sự thăng hoa (hứng khởi) của linh hồn.

6. Bà có cảm thấy đau đớn khi ấy không?

Không.

7. Tại sao bà lại quay về hạ giới được?

Thượng đế cho tôi quay trở lại để an ủi những trái tim sầu não xung quanh tôi.

8. Chúng tôi muốn bà giải thích một cách cụ thể hơn?

Cái mà các ông gọi là hồn phách của tôi vẫn còn lưu lại trong thể xác.

9. Làm thế nào mà lúc tỉnh dậy bà không hề ngạc nhiên khi nhìn thấy mọi người đang chuẩn bị tang lễ cho mình không?

Tôi biết rằng tôi sẽ chết, và tất cả điều đó chẳng làm tôi bận tâm mấy, bởi tôi đã được thấy những linh hồn được ân sủng hạnh phúc như thế nào.

10. Khi trở lại là linh hồn, bà có cảm thấy hài lòng vì đã được trở lại cuộc sống dưới hạ giới không?

Có chứ, vì đã an ủi được mọi người.

11. Bà đã ở đâu khi bà ở trạng thái ngủ chết lâm sàng?

Tôi chỉ có thể nói với các ông đó là nơi mà tôi thấy hoàn toàn hạnh phúc: những ngôn ngữ của con người không thể miêu tả được.

12. Giờ bà cảm thấy còn đang ở hạ giới hay trên không trung?

Cảm thấy đang ở trên không trung.

13. Bà đã nói, khi trở lại là linh hồn, chính cô con gái nhỏ mới mất năm ngoái đã đến tìm đón bà, điều đó có thật không?

Đúng đấy, con bé là một linh hồn thanh khiết.

Nhận xét: Như vậy, qua các câu trả lời của người mẹ cho thấy bà là một linh hồn đẳng cấp cao; và chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi một linh hồn ở đắng cấp cao hơn kết nối với nó qua thần giao cách cảm. Tuy nhiên, nên biết là đôi khi không thể hiểu theo nghĩa thông thường từ “linh hồn thanh khiết” mà các linh hồn đánh giá về nhau. Ta biết rằng, “linh hồn thanh khiết” là những linh hồn ở đắng cấp cao nhất, đã hoàn toàn phi vật chất và được thanh lọc, không còn phải chịu kiếp luân hồi nữa; đó là những thiên thần được hưởng cuộc sống vĩnh cửu. Nhưng có những linh hồn chưa đủ tiến hoá để có thể hiểu được trạng thái tột bực ấy. Họ có thể dùng từ “linh hồn thanh khiết” để chỉ những cấp độ tiến hoá cao hơn một cách tương đối, chứ không có nghĩa tuyệt đối. Chúng tôi có rất nhiều ví dụ để chứng minh điều đó, và câu chuyện về bà Schwabenhaus có thể là một. Đôi lúc. các linh hồn cao ngạo có thể hành xử như có tính cách của các linh hồn thanh khiết để tạo thêm tin tưởng cho những ai mà chúng muốn đánh lừa, và những người không đủ sáng suốt sẽ không thể nhận ra những dấu hiệu của đẳng cấp thấp ẩn dấu trong ngôn ngữ của chúng.

14. Cô bé mất khi lên mấy tuổi?

Khi mới lên bảy tuổi.

15. Vì sao bà nhận ra được con mình?

Những linh hồn ở đẳng cấp cao nhận ra nhau rất nhanh

16. Bà nhận ra cô bé dưới hình dạng nào?

Tôi chỉ nhìn thấy nó như một linh hồn

17. Cô ấy đã nói gì với bà?

Nào, hãy đi theo con về nơi Hằng Sống.

18. Bà có nhìn thấy linh hồn nào khác ngoài con gái bà không?

Tôi nhìn thấy rất nhiều các linh hồn khác, nhưng duy có tiếng nói của đứa con và niềm hạnh phúc mà tôi hưởng thụ là những gì mà tôi quan tâm.

19. Khi quay trở lại hạ giới, bà đã nói bà sẽ quay trở lại sớm với con gái mình, như vậy phải chăng bà đã ý thức được cái chết sắp đến?

Đối với tôi đó là một niềm hy vọng tuyệt vời.

20. Bà biết điều đó như thế nào?

Ai biết tôi sẽ phải chết ư? Chính bệnh tật của tôi đã nói điều đó.

21. Nguyên nhân nào dẫn đến bệnh tật của bà?

Đó là vì những nỗi buồn rầu.

22. Bà sống đến bao nhiêu tuổi?

Đến 48 tuổi.

23. Khi đã thực sự rời khỏi hạ giới, bà có ý thức được ngay một cách rõ ràng và sáng suốt hoàn cảnh mới của mình không?

Tôi đã ý thức được điều đó ngay từ khi tôi ở vừa mới xuất hồn.

24. Bà có cảm thấy sự đau đớn mà thường người ta phải chịu lúc quay lại cuộc sống siêu linh không?

Không, tôi chỉ cảm thấy choáng váng chứ không đau đớn.

Nhận xét: Ta biết rằng linh hồn càng tự thanh lọc mình trong kiếp sống bao nhiêu thì nỗi đau đớn mà nó chịu khi chết đi càng giảm bớt và ngắn đi bấy nhiêu. Ngoài ra, sự xuất thần trước cái chết của người phụ nữ này cũng chính là sự giải thoát ban đầu của linh hồn khỏi những mối liên hệ nơi hạ giới.

25. Từ khi trở lại thiên giới, bà có gặp lại con gái không?

Tôi luôn ở bên nó

26. Bà sẽ bên cô ấy mãi mãi chứ?

Không, nhưng mà tôi biết sau những lần tái kiếp cuối cùng, tôi sẽ đến ở nơi có các linh hồn thanh khiết.

27. Như vậy là bà vẫn còn phải chịu thử thách?

Đúng, nhưng giờ đây những thử thách ấy chỉ mang đến hạnh phúc. Chúng làm cho tôi thêm nhiều hy vọng, mà hy vọng là hạnh phúc.

28. Con gái bà có phải đã từng hiện thân trong nhiều cơ thể khác trước khi là cô ấy đầu thai làm con bà?

Đúng vậy, trong rất nhiều cơ thể khác.

29. Bây giờ, bà đang ở dưới dáng vẻ nào vậy?

Dưới dáng vẻ người phụ nữ mà tôi vừa hiện thân

30. Bà có thể nhìn thấy chúng tôi rõ như khi bà còn sống dưới hạ giới này không?

Có chứ

31. Bà đang ở đây dưới hình dáng mình khi ở hạ giới, phải chăng bà nhìn thấy chúng tôi qua nhãn quan?

Ồ không, linh hồn không có nhãn quan; tôi hiện diện dưới hình dáng ấy bởi luật lệ bắt buộc các linh hồn khi được cầu hồn phải hiện thân dưới cái mà các ông gọi là phách

32. Bà có thể đọc được ý nghĩ của chúng tôi không?

Có chứ, tôi có thể đọc được: tôi sẽ đọc xem ý nghĩ của các ông có tốt không.

33. Chúng tôi xin cám ơn bà đã nhiệt tình trả lời và giảng giải cho chúng tôi. Qua những câu trả lời hết sức thông thái, chúng tôi biết bà là một linh hồn ở đẳng cấp cao và chúng tôi hy vọng bà sẽ được hưởng niềm hạnh phúc xứng đáng .

Tôi rất sung sướng được đóng góp một phần vào công việc của các ông. Cái chết sẽ là niềm vui khi ta có thể góp được gì đó vào tiến bộ chung như tôi đã làm.

SưuTam

DaoKy
04-01-2005, 06:01 PM
Các đẳng cấp trong thế giới siêu hình

* * *

Cái nội dung căn bản trong học thuyết thông linh là phân tích sự khác biệt giữa các linh hồn về hai mặt trí tuệ và tinh thần, về mặt này các linh hồn đưa ra lời giáo huấn không khác nhau. Cần biết rằng các linh hồn không phải mãi thuộc một đẳng cấp nhất định, và do đó sự phân chia đẳng cấp không có nghĩa tạo ra các thứ hạng rõ ràng mà là định ra các cấp bậc tiến hoá. Linh hồn cũng đi theo những bước tiến triển tự nhiên.

Những linh hồn ở cấp thấp vẫn còn chưa hoàn thiện, họ sẽ tiến lên đẳng cấp cao hơn khi tự làm mình thanh sạch hơn. Càng tích luỹ thêm các phẩm chất, kinh nghiệm và hiểu biết, linh hồn càng tiến cao hơn trên bậc thang tiến hoá. Tương tự như con người lúc nhỏ khác với lúc trưởng thành.

Linh hồn được phân cấp dựa trên cơ sở mức độ tiến hoá, phẩm chất, và những mặt chưa hoàn thiện của mình. Nhưng việc phân cấp đó không phải là tuyệt đối; mỗi đẳng cấp đều được phân định bởi một tính chất tiêu biểu cho nó, nhưng việc chuyển tiếp từ đằng cấp này sang đẳng cấp tiếp theo không dễ nhận thấy, khi đến giới hạn sự khác biệt giữa hai đẳng cấp mờ nhạt dần và tan biến, giống như sự phân giới trong tự nhiên, như các màu sắc trong cầu vồng, hay cũng giống như các giai đoạn phát triển trong đời sống con người. Tuỳ theo quan điểm đánh giá, người ta có thể có những hệ thống phân cấp với cấp bậc lớn nhỏ khác nhau. Điều đó cũng giống như sự phân loại trong thiên nhiên.

Các hệ thống phân loại theo lý tính có thể có mức độ hoàn chỉnh, hợp lý, thuận tiện khác nhau, nhưng dù thế nào, cũng không làm thay đổi bản chất của bộ môn nghiên cứu. Nhận định đó cho thấy các linh hồn có thể ở vào những vị trí khác nhau tùy theo số lượng các thứ bậc xếp hạng trong từng hệ thống mà không gây ra bất cứ ảnh hưởng nào.

Một số người đã lợi dụng điều có vẻ mâu thuẫn ấy để phê phán, mà không nghĩ rằng các linh hồn không hề có ràng buộc đáng kể nào với sự phân chia chỉ đơn thuần là qui ước ấy. Đối với linh hồn, tư duy là tất cả; còn tuỳ chúng ta tự định hình thức, lựa chọn các chỉ tiêu, các cách phân chia hay nói gọn là tự định hệ thống phân cấp.

Cần nói thêm một lý do mà ta không được bỏ qua, đó là cũng như con người, trong số các linh hồn cũng có một số lớn những linh hồn kém cỏi, và vì thiếu hiểu biết nên người ta luôn có xu hướng tin rằng đã là linh hồn thì biết tất cả. Bất cứ cách phân loại nào cũng phải dựa vào phương pháp phân loại, phân tích và sự hiểu biết sâu sắc đối tượng cần phân tích. Thế mà, cũng giống như những kẻ ngu dốt nơi thế gian, những kẻ ít hiểu biết ở thế giới siêu hình khó có thể có cái nhìn bao quát tổng thể để từ đó có sự hiểu biết hoàn chỉnh.

Những linh hồn khác tiến bộ hơn thì tuỳ theo quan điểm riêng lại đưa ra những hệ thống khác nhau về chi tiết, nhất là khi việc phân chia không hề có những tiêu chuẩn tuyệt đối. Giống như các Nhà Thực vật học Linnée, Jussieu, Tournefort, mỗi người đều có phương pháp phân loại riêng, nhưng giới thực vật không vì thế mà thay đổi. Bởi những người này đâu có sáng tạo ra cây cỏ hay các thuộc tính của chúng. Họ chỉ quan sát, tìm ra các tính chất giống nhau của thực vật để từ đó xếp chúng vào các lớp, các nhóm. Công việc của chúng tôi cũng tiến hành như vậy, chúng tôi không tạo ra linh hồn hay các thực chất của họ. Chúng tôi chỉ nhìn và quan sát, đánh giá họ theo hành động và lời nói, từ đó sắp xếp vào các nhóm có tính chất tương ứng. Bất cứ ai ở vào địa vị của chúng tôi cũng có thể làm như vậy.

Tuy nhiên, chúng tôi không thể nhận đã tự mình hoàn thành toàn bộ công việc phân loại này. Nếu như bảng phân cấp chúng tôi giới thiệu dưới đây không phải do các linh hồn khởi xướng và vạch sẵn, thì những chi tiết trong bảng cũng đều được tham khảo từ các lời giáo huấn của họ. Việc của chúng tôi là sắp xếp lại những điều đó lại theo trật tự khách quan.

Nói chung, các linh hồn đều cho rằng có 3 loại cơ bản hay 3 nhóm linh hồn chánh. Trong cách phân loại này, nhóm cuối cùng là những linh hồn chưa hoàn thiện - ô trọc, những linh hồn còn phải phấn đấu để vượt qua tất cả hoặc hầu như tất cả các bậc tiến hoá. Đặc trưng chủ yếu của nhóm này là thể xác ngự trị linh hồn và luôn hướng đến những điều xấu xa. Linh hồn ngự trị thể xác và hướng thiện là đặc trưng của nhóm thứ hai, những siêu linh.

Nhóm thứ nhất là các linh hồn thuần khiết - các Đấng Thiêng liêng, những linh hồn đã đạt được mức độ hoàn thiện nhất.

Đối với chúng tôi, cách phân chia trên là hợp lý và đưa ra những tiêu chuẩn rất rõ ràng. Công việc của chúng tôi là làm rõ thêm các đặc điểm cơ bản của từng nhóm bằng cách chia nhỏ thêm các nhóm. Công việc đó được thực hiện với sự cộng tác của các linh hồn, những chỉ dẫn tận tình họ đưa ra đã giúp chúng tôi không mắc phải cho dù chỉ một sai sót nhỏ.

Bảng phân loại dưới đây giúp ta dễ dàng phân định đẳng cấp linh hồn mà ta tiếp xúc, để từ xác định linh hồn đó có khả năng và đáng tin cậy đến mức độ nào. Về phần mình, vì linh hồn chúng ta sẽ thuộc về thế giới siêu hình khi thoát khỏi xác thịt, nên bảng phân loại đó sẽ chỉ cho chúng ta thấy còn phải làm gì để đạt đến sự hoàn thiện thậm chí ở mức cao nhất. Ngoài ra, chúng tôi còn thấy rằng linh hồn không phải luôn thuộc một đẳng cấp cố định mà tiến bộ dần lên. Linh hồn có thể mang nhiều tính cách của những nhóm khác nhau, điều này ta dễ dàng nhận thấy qua hành động cũng như lời nói của họ.


Các đẳng cấp trong thế giới linh hồn

Nhóm thứ ba : các linh hồn ô trược

Tính chất chung - Thể xác ngự trị linh hồn, luôn hướng đến các điều xấu xa, kéo theo đó là sự ngu ngốc, thói kiêu ngạo, ích kỷ và những dục vọng xấu xa.

Các linh hồn này cảm giác được sự hiện hữu của Thượng đế, nhưng không hiểu được Người.

Tất nhiên không phải tất cả họ đều hoàn toàn xấu xa. Có một số hời hợt, vô hại và ranh ma hơn là thực sự gian ác. Có những kẻ không làm điều xấu cũng chẳng làm điều tốt, nhưng chỉ duy điều đó đã cho thấy họ chẳng có điểm gì tốt, và chứng tỏ họ ở đẳng cấp thấp kém. Ngược lại, những kẻ khác luôn thích làm điều ác và cảm thấy thoả mãn mỗi khi có cơ hội để thực hiện.

Ở họ, trí tuệ có thể đi liền với thói gian ác hay ranh ma, nhưng dù trí tuệ có phát triển tới đâu, họ cũng đều có tư tưởng chậm tiến và tâm hồn ít nhiều ti tiện.

Họ hiểu biết rất hạn chế về thế giới siêu hinh, luôn lẫn lộn nó với những thành kiến, quan niệm của thế giới hữu hình. Nên họ chỉ mang đến cho chúng ta những khái niệm sai lầm thiếu hoàn chỉnh. Nhưng nếu chú ý phân tích ta sẽ thấy trong những phần trao đổi dù thiếu hoàn chỉnh ấy, sự nhìn nhận các chân lý vĩ đại mà các linh hồn thượng đẳng đã giáo huấn.

Tính cách của họ thể hiện qua ngôn từ. Bất cứ một linh hồn nào qua giao tiếp để lộ ra một ý tưởng xấu xa đều có thể được xếp vào nhóm này. Do đó, mọi ý nghĩ xấu xa của con người đều do các linh hồn thuộc nhóm này xúi giục.

Họ chứng kiến niềm hạnh phúc của những người tốt và thường xuyên bị dày vò bởi điều đó, vì họ luôn phải chịu đựng mọi nỗi lo sợ do tham vọng và thói đố kỵ gây nên.

Họ luôn lưu giữ hoài niệm và tri giác về những đau khổ của cuộc sống hữu hình, cảm giác ấy luôn nặng nề hơn thực tế. Họ luôn đau khổ, và những đau khổ ấy kéo dài mãi, và cả những nỗi đau mà họ gây ra cho người khác cũng vậy. Và vì đau khổ quá lâu, nên họ tin rằng sẽ mãi mãi đau khổ. Thượng Đế muốn họ tin như thế để trừng phạt họ.

Người ta có thể chia nhóm này thành bốn đẳng cấp chính:

Đẳng cấp thứ chín - Những linh hồn ô trược : Những linh hồn này luôn làm điều xấu và lấy đó làm mối bận tâm chủ yếu. Là linh hồn, họ đưa ra các chỉ dẫn bất nghĩa, xúi giục ngưới ta bất hoà chia rẽ, và dùng mọi cách để lừa phỉnh được nhiều hơn. Chúng luôn lôi kéo những người có tâm hồn yếu đuối, xúi giục đẩy họ đi đến sự thất bại, và lấy làm thoả mãn khi làm chậm được bước tiến của họ bằng cách làm họ ngã gục trước thử thách.

Ta có thể nhận ra chúng qua các biểu hiện về ngôn ngữ. Linh hồn cũng như con người, câu từ thô lỗ cục cằn là biểu hiện của sự thấp kém về tinh thần cũng như trí tuệ. Ngôn ngữ giao tiếp của chúng luôn có hơi hướng đê tiện xấu xa, đôi khi muốn thay đổi : chúng ăn nói có vẻ biết điều, nhưng không giữ được bao lâu, cuối cùng vẫn để lộ ra bản chất của mình.

Có dân tộc goi chúng là hung thần, số khác gọi là quỷ sứ, ma quỷ hay ác hồn.

Khi tái kiếp, những cơ thể sống do những linh hồn này hiện thân... có đủ mọi thói xấu đến những đam mê hạ đẳng đê tiện như thói dâm dục, tàn bạo, xảo quyệt, đạo đức giả, tham lam, bần tiện...

Chúng làm điều xấu vì vui thích chứ không vì một nguyên nhân cụ thể nào, và bởi luôn căm ghét điều thiện nên chúng thường chọn các nạn nhân trong số những người lương thiện. Đối với nhân loại, chúng thực sự là những tai hoạ, và dù chúng có ở địa vị nào trong xã hội, bề ngoài văn minh cũng không đảm bảo giúp chúng thoát khỏi bị người đời phỉ nhổ.

Đẳng cấp thứ tám - Những linh hồn thấp kém : Ngu dốt, tinh quái, khinh xuất và hay trêu chọc là những tính cách chủ yếu của linh hồn thuộc đẳng cấp này. Chúng thích can dự vào mọi chuyện, trả lời bất cứ điều gì mà không cần biết có đúng sự thật hay không. Niềm vui thích của chúng là tạo ra những phiền nhiễu, niềm vui nho nhỏ, gây ra một chút quấy rầy, hay ranh ma xúi giục người ta lầm lẫn bằng nhừng lời lừa phỉnh ma mãnh. Chúng thường được gọi dưới cái tên: ma trơi, yêu quái, quỉ con, quỉ lùn. Luôn lệ thuộc vào các linh hồn thượng đẳng, chúng được coi như những kẻ hầu người hạ hay nhân công của các đẳng cấp này.

Chúng lệ thuộc vào vật chất hơn bất cứ đẳng cấp nào, và được coi là những tác nhân chính gây nên những thay đổi môi trường của hành tinh vì có mặt ở mọi nơi, trong không khí, nước, lửa, các vật thể rắn hay trong lòng đất. Chúng thường thể hiện sự có mặt của mình bằng các tiếng động, những chuyển động hay di chuyển của các vật thể rắn, hoặc khuấy động không khí... vì vậy người ta còn gọi chúng là những linh hồn gây rối hay gây động. Cần phải thừa nhận rằng khi những hiện tượng này thể hiện một ý định nào đó hay có một tích chất trí tuệ nào đó thì việc chúng xảy ra không phải do một nguyên nhân ngầu nhiên hay thông thường. Tất cả các linh hồn đều có thể tạo ra các hiện tượng trên nhưng thường các linh hồn tiến hoá hơn sẽ giao cho các linh hồn cấp thấp thực hiện những hiện tượng có bản chất gần với vật chất hơn là trí tuệ này.

Khi giao tiếp với con người, ngôn ngữ của chúng đôi khi hóm hỉnh buồn cười, nhưng hầu như rất hời hợt. Trong câu chuyện chúng thường nắm lấy những chi tiết kỳ cục, nực cười và diễn tả lại bằng những nét châm biếm chua cay. Nếu chúng có núp danh một ai đó cũng chỉ do thói ranh ma chứ không hề có ác ý.

Đẳng cấp thứ bẩy - những linh hồn chưa trọn lành: Linh hồn thuộc đẳng cấp này đã đạt được những hiểu biết khá rộng, nhưng thường cho mình hiểu biết nhiều hơn khả năng thực sự của mình. Những tiến hoá đạt được ở một số mặt đã làm ngôn ngữ của họ trở nên nghiêm túc, tạo một văn phong xúc tích, sáng sủa. Tuy nhiên ngôn ngữ đó luôn chỉ là sự biểu hiện lại các thành kiến, quan điểm hình thành một cách hệ thống của cuộc sống hữu hình; đó là sự pha trộn một chút sự thật với những sai lầm phi lý nhất, trong đó bộc lộ thói tự phụ, kiêu ngạo, ghen ghét, bướng bỉnh mà họ không thể tự lột bỏ.

Đẳng cấp thứ sáu - những linh hồn trung dung: Không đủ tốt để làm điều thiện, không đủ xấu để làm điều ác, họ nghiêng cả về hai phía; và không tiến hoá hơn trình độ phổ biến của con người cả về tinh thần và trí tuệ. Họ luôn nhớ đến những sự việc của thế giới hữu hình và nuối tiếc những niềm vui xác thịt.


Nhóm thứ hai - các đấng Siêu linh

Các tính chất chung : linh hồn ngự trị thể xác và mong muốn điều thiện là những phẩm chất cơ bản của nhóm. Họ có phẩm chất quyển năng thực hiện điều thiện ứng với mức độ tiến hoá mà họ đạt được. Một số hiểu biết sâu rộng về khoa học, số khác lại thông thái nhân từ. Các linh hồn tiến hoá nhất đạt được cả sự hiểu biết cùng với phẩm chất tốt đẹp. Chưa thực sự siêu việt, họ vẫn còn lưu tâm tuỳ theo thứ bậc của mình, ít nhiều những dấu tích của đời sồng hữu hình, dưới hình thức ngôn ngữ hoặc thói quen của họ, ta có thể thấy trong đó một số định kiến mà nếu không có chúng họ sẽ trở thành các linh hồn hoàn thiện.

Họ hiểu được Thượng Đế cùng sự vô biên, và thụ hưởng những hạnh phúc lớn lao của điều thiện. Họ sung sướng vì những điều thiện họ đã làm, và những điều ác họ đã kiêng cử. Tình yêu luôn gắn kết họ là ngọn nguồn của niềm hạnh phúc khôn tả, không hề bị lòng đố kị, hối tiếc, ân hận hay những đam mê xấu xa, những điều gây nên nỗi dằn vặt khôn nguôi trong các linh hồn ô trọc, làm biến đổi. Nhưng tất cả họ vẫn cần phải trải qua nhiều thử thách để đạt được mức hoàn thiện tuyệt đối.

Là linh hồn, họ khuyến khích những suy nghĩ hướng thiện, dẫn người ta ra khỏi những con đường lầm lạc, bảo vệ cuộc sống của những con người xứng đáng được hưởng, hoá giải ảnh hưởng của các linh hồn ô trọc ở những người không chịu khuất phục chúng.

Giống như bản chất của mình, những con người họ hoá thân đều tốt bụng và khoan dung. Những người này không hề kiêu kỳ, ích kỷ hay tham lam. Không ganh ghét, oán thù hay đố kỵ, họ làm điều thiện chỉ vì điều thiện.

Nhóm này bao gồm những linh hồn mà dân gian gọi là Thần minh, thần hộ mệnh hay thiện linh. Trong thời kỳ trung cổ, ngươi ta hay gọi họ là Các vị thần của điều thiện.

Người ta chia nhóm này thành 4 đẳng cấp chính:

Đẳng cấp thứ năm - Những linh hồn toàn mỹ : Phẩm chất chính của đẳng cấp này là lòng nhân ái. Họ luôn sẵn lòng giúp đỡ và bảo vệ mọi người, nhưng hiểu biết lại hạn chế. Họ đạt được tiến bộ về mặt tinh thần nhiều hơn về mặt trí tuệ.

Đẳng cấp thứ tư - Những linh hồn toàn thiện: Tính chất đặc biệt để phân biệt đẳng cấp này là sự hiểu biết sâu rộng. Các linh hồn thuộc đẳng cấp này quan tâm nhiều đến các vấn để khoa học, đề tài mà họ có trình độ và khả năng hơn là những vấn đề tinh thần. Họ nghiên cứu khoa học theo quan điểm là tìm ra các thuộc tính hữu ích cho con người, không hề pha lẫn những dục vọng riêng như các linh hồn ô trọc.

Đẳng cấp thứ ba - Những linh hồn thanh khiết: Phẩm chất tinh thần ở mức độ hoàn thiện nhất là bản tính đặc trưng của đẳng cấp này. Tuy không có những hiểu biết vô hạn, nhưng họ có đủ thông thái để đưa ra những suy xét kiểu mẫu về con người và sự vật.

Đẳng cấp thứ hai - Những linh hồn thượng đẳng: Những linh hồn thuộc đẳng cấp này vừa hiểu biết khoa học, thông thái, lại có lòng nhân ái. Ngôn từ của họ luôn tràn đầy sự khoan dung. Họ thuộc tầng lớp cao quí, rất cao thượng và luôn được trọng vọng. Hơn các đẳng cấp khác, với bản chất ưu việt, họ đưa đến cho chúng ta, trong khuôn khổ mà con người được phép biết, những khái niệm chính xác nhất về thế giới siêu hình. Họ sẵn lòng giao tiếp với những người thực tâm đi tìm sự thật, mà tâm hồn đã thoát khỏi những ràng buộc của thế gian ở mức độ đủ để hiểu được nó, nhưng sẽ rời xa những kẻ tò mò hay vì ảnh hưởng của vật chất mà quay lưng lại với việc thực hành việc thiện.

Trường hợp đặc biệt, khi họ hiện thân xuống trái đất để thực hiện một sứ mệnh mang đến các tiến bộ văn minh, họ sẽ cho chúng ta thấy được hình mẫu của sự hoàn thiện mà con người nơi hạ giới khát khao.


Nhóm thứ nhất - Các đấng thiêng liêng

Các tính chất chung - Các linh hồn thuộc nhóm này không còn chịu bất cứ ảnh hưởng nào của vật chất. Họ đạt được mức độ ưu việt hơn hẳn về trí tuệ và tinh thần so với các đẳng cấp khác.

Đẳng cấp thứ nhất - thứ hạng duy nhất: Các linh hồn đã đạt đến cấp bậc tiến hoá cao nhất, và đã trút bỏ mọi vẩn đục của vật chất. Vì đạt mức độ hoàn thiện nhất có thể được, họ được miễn trừ mọi thử thách và hình phạt. Không còn phải tái kiếp luân hồi, họ sống cuộc sống vĩnh cửu trong lòng Thượng Đế.

Các linh hồn ở đẳng cấp này thụ hưởng niềm hạnh phúc vô tận, bởi họ không còn bận tâm đến các nhu cầu hay những thăng trầm của cuộc sống vật chất. Nhưng niềm hạnh phúc đó không có nghĩa là họ sẽ sống nhàn rỗi tẻ nhạt trong trạng thái tham thiền vĩnh cửu. Họ là sứ giả, đại diện của Thượng Đế, thực hiện những mệnh lệnh của Người để gìn giữ sự hoà hợp của Vũ trụ. Họ có thể ra lệnh cho tất cả các linh hồn ở những đẳng cấp dưới, giúp đỡ những linh hồn này tự hoàn thiện và giao phó cho họ các sứ mệnh. Giúp đỡ con người thoát khỏi ưu phiền, khích lệ khi họ làm việc tốt, trừng phạt khi họ phạm những lỗi lầm vì có thể khiến họ không được hưởng những hạnh phúc sau khi chết, đó là những sự quan tâm nhân từ của các linh hồn này. Đôi khi, người ta gọi họ là các Thiên sứ, Thiên thần.

Con người có thể giao tiếp với họ, nhưng những ai cho rằng có thể thường xuyên làm điều đó theo ý muốn của mình quả là họ quá tự phụ.


Các linh hồn hiện thân và các linh hồn vô hình

Theo các tương quan nội tại, các linh hồn có thể chia vào nhiều thứ bậc, đó cũng là những cấp bậc mà họ phải vượt qua trong quá trình tự thanh lọc. Còn về thể trạng, linh hồn có thể hiện thân, tức là tồn tại trong một cơ thể sống, hoặc vô hình, nghĩa là rời khỏi thân thể vật chất, và chờ đợi lần tái kiếp tiếp theo để tiếp tục tự hoàn thiện.

Các linh hồn vô hình không tạo thành một loại đặc biệt, nó chỉ là một trong các thể trạng của linh hồn.

Thể trạng vô hình không có nghĩa là đó là linh hồn hạ đẳng, bởi các linh hồn ở mọi đẳng cấp đều có thể ở thể trạng đó. Bất cứ linh hồn nào chưa hiện thân đều ở trạng thái vô hình, ngoại trừ các Đấng Thiêng liêng, không còn phải tái kiếp luân hồi, luôn ở trạng thái xác định.

Hiện thân chỉ là một thể trạng chuyển tiếp, vô hình mới là trạng thái tự nhiên của linh hồn, và thể trạng đó không phải là một hình phạt với họ. Linh hồn hạnh phúc hay đau khổ là theo mức độ hoàn thiện của họ, theo những điều thiện và điều ác họ đã làm.


Đẳng cấp linh hồn

Vòng tiến hóa

1- Nhóm một (các đấng Thiêng liêng)

Hạng nhất

Các đấng Thiêng liêng (đã được miễn trừ vòng luân hồi sinh-tử)

Cỏi Trời - Bạch Ngọc Kinh - Thiên đàng - Cỏi hằng sống - Cực lạc - Niết bàn...

2- Nhóm hai

(các đấng siêu linh)

Hạng nhì

Hạng ba

Hạng tư

Hạng năm

Linh hồn thượng đẳng.

Linh hồn thanh khiết

Linh hồn tòan thiện

Linh hồn tòan mỹ.

Còn tiếp tục chuyễn kiếp để tiến hóa hầu được thoát kiếp luân hồi ...

Vòng luân hồi : nơi các đẳng linh hồn luân phiên chuyễn kiếp để bồi đắp công đức, tiến hóa hơn nữa để thoát khỏi vòng sanh-tử, tử sanh ...

3- Nhóm ba

(các linh hồn ô trược)

Hạng sáu

Hạng bảy

Hạng tám

Hạng chín

Linh hồn trung dung.

Linh hồn chưa trọn lành.

Linh hồn thấp kém.

Linh hồn ô trược.



Cỏi trần ai : khởi điểm của một linh hồn ...



Trước khi đi vào chi tiết miêu tả về cuộc sống trên các hành tinh qua các thần khải từ thế giới linh hồn, hãy xem xét một số kết luận thực tiển mà chúng ta có thể tự rút ra dựa trên các lập luận. Đó là sự phân tích dựa vào các thứ bậc trong thế giới linh hồn; chúng tôi hy vọng những người thực sự muốn đi xa hơn để tìm hiểu môn khoa học này, sẽ nghiên cứu kỹ và đi sâu vào phân tích lược đồ đẳng cấp mà chúng tôi đã nói; họ sẽ tìm thấy mã khoá để giải đáp mọi điều huyền bí.

Thế giới siêu linh là nơi tụ họp linh hồn của con người từ trái đất và các hành tinh khác khi đã thoát tục, và kể cả những người đang sống mà linh hồn hiện thân trong đó. Do vậy, giữa hai thế giới luôn có mối liên hệ; con người sẽ có cá tính và khiếm khuyết như hiện thực linh hồn của mình; còn linh hồn có ít nhiều tốt xấu tuỳ theo những tiến bộ có được khi còn ở thế giới vật chất. Vì hành động con người là kết quả của sự tự điều chỉnh chính mình, nên chúng cũng mang dấu ấn của sự hoàn thiện hoặc khiếm khuyết. Như vậy, ta rất dễ dàng có được ý niệm về cuộc sống tinh thần của một xã hội bất kỳ, dựa trên bản chất của các linh hồn hiện hữu trong đó; và có thể nói rằng.. ở mức độ nào đó, hình dung được pháp chế, tạo lập biểu đồ về các tập tục, thói quen, và các mối quan hệ xã hội ở đó.

Giả sử ở một hành tinh đặc biệt chỉ có các linh hồn ở đẳng cấp thứ 9 : những linh hồn ô trọc, và chúng ta đến đó bằng ý nghĩ. Chúng ta sẽ thấy ở đó những ham mê kích động không ngừng, thể trạng tinh thần ở mức u mê tột cùng, đời sống đầy thú tính thô tục, không hề có những tương quan trong xã hội, vì ai cũng chỉ sống và hành động cho riêng mình và để thoả mãn thú vui ăn uống phè phỡn ; ở đó thói ích kỷ ngự trị hoàn toàn, kéo theo sau là thói ghen ghét, dục vọng, đố kỵ ghen tuông, và giết chóc...

Bây giờ chúng ta sẽ đến với một hành tinh khác - nơi đó có tất cả các linh hồn thuộc nhóm thứ ba : những kẻ ô trọc, hời hợt, giả dối, và trung lập. Ta đều biết, những linh hồn trong nhóm này luôn bị chế ngự bởi những ý nghĩ xấu xa, không bao giờ hướng thiện. Nhưng càng xa khỏi thứ bậc thấp kém, những ý nghĩ xấu đó cũng giảm bớt. Thói ích kỷ tuy vẫn là động lực chính trong các hoạt động, nhưng bản tính cũng dần hiền hoà hơn, trí tuệ phát triển hơn. Cái xấu được dấu đi một phần, được trang điểm và che đậy. Nhưng mà điều đó lại dẫn đến một thói xấu xa khác, đó là sự kiêu ngạo; bởi những người thuộc lớp cao hơn đã đủ tỉnh táo để ý thức được vị trí của mình, nhưng chưa đủ để hiểu họ còn khiếm khuyết.

Do vậy, xuất hiện xu hướng lợi dụng những người thấp kém hơn, hoặc các chủng tộc yếu thế hơn phải phục tùng dưới sự thống trị của họ. Không có ý nghĩ hướng thiện, họ chỉ biết đến bản năng cái tôi của mình, và dùng trí tuệ để thoả mãn dục vọng riêng mình. Trong một xã hội như thế, thành phần ô trọc nếu chiếm ưu thế, sẽ tàn sát các thành phần khác, trong trường hợp ngược lại, thành phần ít xấu hơn cũng sẽ tìm cách triệt hạ kẻ thù của họ. Trong mọi trường hợp, luôn có đấu tranh sinh tồn, đổ máu, vì hai thành phần trong xã hội có những lợi ích đối lập nhau. Để bảo vệ tài sản và con người, cần phải tạo ra luật pháp, nhưng pháp lý lại do chính con người lập ra vì lợi ích cá nhân, chứ không vì công lý, đó là luật kẻ mạnh sẽ triệt hạ kẻ yếu.

Giả sử trong thế giới giữa những kẻ xấu ta vừa đề cập - có một số người thuộc nhóm thứ hai. Khi đó, trong xã hội đầy gian ác, xuất hiện một số người đức hạnh. Họ sẽ là nạn nhân của kẻ ác nếu chỉ chiếm thiểu số. Nhưng ưu thế của họ sẽ ngày càng tăng, pháp lý sẽ ngày một nhân đạo hơn, bình đẳng hơn, và lòng bác ái yêu mến Thượng đế đối với mọi người sẽ ngày càng có ý nghĩa. Nhưng mà những điều tốt lành này lại làm nảy sinh một thói xấu khác - Mặc dù luôn chống lại những người tốt, nhưng những kẻ xấu cũng không thể cản được việc bị xếp vào hàng thấp kém. Chứng kiến cái đức hạnh ngày càng thắng thế sự xấu, nhưng vì không có nghị lực cũng như ý chí để làm điều thiện, chúng tìm cách bắt chước, khoác lên mình bộ mặt đạo đức. Đó chính là những kẻ đạo đức giả, luôn chiếm đa số trong những xã hội có nền văn minh chưa hoàn thiện.

Tiếp tục chuyến du hành qua các thế giới khác, chúng ta dừng lại đây, nơi chúng ta sẽ không phải nhìn thấy những cảnh đáng buồn như hai thế giới trên - Đây là thế giới của những linh hồn thuộc nhóm thứ hai. Rất khác biệt ! Mức độ thuần khiết mà con người ở đây đạt tới giúp họ thoát khỏi mọi ý nghĩ xấu xa, chỉ cần bấy nhiêu đó cũng đủ cho ta ý niệm con người nơi đây sống hạnh phúc thế nào. Nền pháp chế sẽ rất giản đơn, vì con người không phải tìm cách tự bảo vệ chống lại kẻ khác, không làm điều xấu cho ai, không động vào cái không phải của mình, không tìm cánh sống bằng cách làm hại người. Tất cả đối với nhau bằng tính yêu và sự khoan dung, không làm hại nhau; không ghen ghét, tính ích kỷ không hề được biết tới, và thói đạo đức giả không còn ý nghĩa. Nhưng như vậy không có nghĩa là có sự bình đẳng tuyệt đối, bởi điều đó đòi hỏi sự hoàn thiện tuyệt đối trong sự phát triển về trí tuệ và tinh thần. Ngoài ra, chúng ta biết rằng các linh hồn trong nhóm hai cũng ở nhiều cấp độ phát triển khác nhau. Thế giới này vẫn tồn tại những bất bình đẳng vì còn có những người này phát triển hơn những người kia. Nhưng vì ở đó chỉ tồn tại những ý nghĩ hướng thiện, những người phát triển hơn không hề kiêu ngạo, những người kém hơn không ghen tức. Kẻ dưới hiểu được địa vị thống trị của người trên và tự nguyện phục tùng, họ hiểu địa vị này chỉ đơn thuần có ý nghĩa tinh thần, chứ hoàn toàn không phải dùng để áp bức họ.

Cho dù chỉ mang tính giả thuyết, những kết kuận mà chúng tôi rút ra từ những miêu tả trên cũng không kém hợp lý, và ai củng có thể suy luận được cuộc sống của một xã hội nào đó dựa trên tỷ lệ các yếu tố tinh thần giả thuyết cấu tạo nên nó. Từ trừu tượng hoá các thông tin có được bởi việc tiếp xúc với các linh hồn cho thấy, tất cả đều đồng nhất khẳng định sự tồn tại của nhiều thế giới, và đều đồng tình để nhận định rằng các thế giới không cùng ở một mức độ hoàn thiện, và do vậy những giả thuyết của chúng ta hoàn toàn có thể là sự thật. Chúng ta mới chỉ mới biết đến một thế giới thực sự đó là trái đất ? Trái đất nằm vị trí nào trong trong thứ bậc xếp hạng. Than ôi ! Chỉ cần chứng kiến những gì đang xảy ra cũng đủ để hiểu trái đất còn rất xa mới tới được vị trí hàng đầu, và chúng ta phải thừa nhận rằng những lời nhận xét sau đã nói đúng thứ bậc của nó. Khi các Thần minh nói rằng trái đất nằm ở hàng cuối cùng hoặc ít nhất là trong những hàng cuối cùng, buồn thay chúng ta đều tự nhủ rằng họ đã không lầm. Chúng ta cần phải làm nhiều điều thiện để đạt tới ngang hàng với thế giới tốt đẹp mà chúng ta vừa miêu tả ở trên, và để làm được, thì cần được Thượng đế soi sáng.

Cơ bản các lập luận về bản chất các thế giới khác và trái đất, chúng tôi chỉ có lời răn dạy từ các Thần minh. Thế mà, với những kẻ chỉ chịu công nhận khi có các chứng cứ hiển nhiên, thì những nhận định này sẽ không có cơ sở vì nó không được kiểm chứng qua thực tế. Nhưng phải chăng hàng ngày chúng ta không hề tin tưởng vào lời kể của các lữ khách về những câu chuyện mà ta chưa bao giờ được chứng kiến. Nếu chỉ tin vào những gì trước mắt mình, chúng ta sẽ không tin vào những gì to tát. Ở đây, điều đem lại một trọng lượng nhất định cho lời răn của các linh hồn, là mối tương đồng giữa họ , ít nhất là các nhận định liên quan đến các điểm chính. Qua chứng kiến hàng trăm lần các giao tiếp với linh hồn, phân tích đến từng chi tiết nhỏ, xem xét các điểm mạnh điểm yếu, tìm ra những sự tương đồng và mâu thuẫn giữa những giao tiếp này, chúng tôi thấy những lời răn đó khả dỉ là sự thật. Tuy nhiên, chúng tôi chỉ nêu chúng ra với tư cách là những lời khuyên mà mọi người có thể tự kiểm chứng và rút tỉa ra những gì mình cho là thiết yếu.

Theo các Thần minh, Hành tinh Mars (Hỏa tinh) còn kém phát triển hơn cả trái đất. Các linh hồn hiện thân ở đó hầu như hoàn toàn thuộc lớp thứ chín, những linh hồn ô trọc, hình ảnh của thế giới này giống như thế giới đầu tiên chúng tôi miêu tả ở phần trên. Rất nhiều các hành tinh nhỏ, mang sắc thái tương tự cũng nằm trong thứ hạng này. Trái đất đứng ở hàng phát triển hơn. Phần lớn các cư dân đều là hiện thân của các linh hồn thuộc nhóm thứ ba, một số ít thuộc lớp cuối cùng nhóm thứ hai. Những linh hồn siêu đẳng, thuộc lớp thứ hai và thứ ba đôi khi hiện thân tại đó để hoàn thành nhiệm vụ truyền bá văn minh và tiến bộ, và là những trường hợp đặc biệt. Ở bậc phát triển hơn nữa là hành tinh Mercure (Thủy tinh) và Saturne (Thổ tinh). Chiếm đa số, những linh hồn hòan thiện chiếm ưu thế trước những linh hồn thấp đẳng, do đó, trật tự xã hội hoàn hảo hơn, các quan hệ ít vị kỷ hơn, và do vậy điều kiện sống hạnh phúc hơn. Lune (mặt trăng) và hành tinh Venus ở cùng một thứ bậc và phát triển hơn hai hành tinh kể trên. Ở bậc cao hơn là hành tinh Junon và Uranus. Người ta giả thiết rằng, con người tại đó là hiện thân của các linh hồn thuộc những lớp đầu của nhóm thứ ba, và đa phần thuộc các lớp của nhóm hai. Con người ở đó hạnh phúc vô cùng so với trái đất, vì họ không phải đấu tranh để tồn tại, chịu đựng gian truân hay những thăng trầm về thể chất và tình cảm.

Trong số các hành tinh, Jupiter (Mộc tinh) là hành tinh phát triển nhất theo mọi bình diện. ở đó ngự trị điều thiện và công lý, bởi ở đó chỉ có các linh hồn thiện. ta có thể thấy họ sống hạnh phúc như thế nào qua miêu tả phía trên về thế giới của riêng các linh hồn thuộc nhóm hai.

Thứ bậc siêu đẳng của Jupiter không chỉ thể hiện ở thể trạng tinh thần của cư dân mà còn ở cấu taọ cơ thể của họ. Dưới đây là những miêu tả mà chúng tôi nhận được về thế giới đặc biệt này, nơi ta gặp lại đa số những con người tốt đẹp đã từng bằng đức hạnh và tài năng mang lại cho trái đất nhiều vinh dự.

Cấu tạo cơ thể của cư dân ở đây gần giống với trái đất mang ít tính vật chất hơn, tỷ trọng nhẹ hơn và đặc biệt thanh thoát. Khi chúng ta di chuyền khó khăn, thì họ đi như lướt trên mặt đất, không hề mệt mỏi, như chim bay trên trời như cá bơi dưới nước. Vật chất cấu tạo nên cơ thể tinh khiết hơn, nó tiêu tan ngay sau khi chết mà không trải qua quá trình phân huỷ thối rữa. Họ cũng không hề phải chịu đựng bệnh tật như chúng ta, những bệnh tật có căn nguyên trước tiên từ những thái quá trong sinh hoạt và từ tác hại của dục vọng. Việc ăn uống cũng tương ứng với cấu tạo cơ thể thanh khí, nó không nhiều đến mức thoả mãn được dạ dày nặng trọc như chúng ta, lượng thức ăn của người trái đất đối với họ là quá lớn. Nguồn thức ăn chủ yếu gồm cây cỏ và hoa trái, ngoài ra, họ có thể lấy phần lớn thức ăn từ không khí qua hít thở các chất khí dinh dưỡng. Tuổi thọ của họ cũng cao hơn rất nhiều, tương đương với khoảng 5 thế kỷ trên trái đất. Họ trưởng thành rất nhanh, thời kỳ thơ ấu chỉ kéo dài trong khoảng vài tháng tính theo thời gian của chúng ta.

Với lớp vỏ bọc nhẹ nhàng, các linh hồn dễ dàng thoát ly và đối thoại với nhau bằng ý nghĩ, không cần qua trung gian ngôn ngữ. Đa số họ đều có khả năng thấu thị ; thể trạng tinh thần có thể so với thể trạng của những nhà thôi miên tỉnh táo; Điều đó giải thích tại sao họ có thể giao tiếp với chúng ta dễ dàng hơn nhiều so với các linh hồn hiện thân trong các thế giới nặng trọc và vật chất hơn. Linh cảm được tương lai, an tâm vì không làm điều gì phải ân hận, nên cái chết không làm họ e ngại. Cái chết với họ không hề đáng sợ mà chỉ là một sự chuyển đổi.

Các loài vật cũng không nằm ngoài sự phát triển này, tuy không đạt đến mức như con người, ngay cả về thể trạng sinh lý. Cơ thể của chúng vật chất hơn, gắn với mặt đất như chúng ta. Nhưng trí thông minh của chúng phát triển hơn các loài trên mặt đất; cấu tạo các chi thay đổi phù hợp với đòi hỏi của công việc; Chúng thực hiện tất cả các công việc chân tay; như những người phục dịch và nhân công. Con người chỉ quan tâm đến các công việc trí óc. Con người đối với chúng là chủ nhân, nhưng là chủ nhân bảo hộ, không bao giờ dùng quyền lực để áp bức chúng.

Trong các cuộc đối thoại với chúng ta, các linh hồn từ hành tinh Jupiter thường rất nhiệt tình miêu tả lại hành tinh của họ, khi có ai hỏi căn nguyên, họ trả lời rằng để giúp chúng ta thêm yêu việc thiện bằng hy vọng một ngày nào đó sẽ được đến hành tinh này. Với mục đích đó, mà một trong số họ, từng hiện thân trên trái đất với tư cách là một nghệ nhân gốm nổi tiếng vào thế kỷ thứ 16 có tên Bernard Palissy, đã phát hoạ một loạt các hình ảnh gây rất nhiều chú ý bởi sự độc đáo của chúng cũng như tài năng của người thực hiện, ông đã giới thiệu cho chúng ta biết đến từng chi tiết nhỏ nhất về thế giới rất mới mẻ và kỳ lạ này. Một số hình ảnh miêu tả con người, động vật, và sinh hoạt thường ngày; nhưng đa số giới thiệu các thành phố, các công trình vĩ đại mà không một nơi đâu trên trái đất có thể đem lại ý niệm tương tự, vì chúng không giống với bất kỳ những cái ta đã được biết; đó là một dạng kiến trúc khó miêu tả, rất cơ bản và cũng rất hài hoà, với nghệ thuật trang trí sang trọng và từ trí tưởng tượng rất phong phú.

Qua một người bạn của chúng tôi, Ngài Victorien Sardou, nhà văn trẻ tài năng (không phải là hoạ sĩ), đã được ông nhập tâm. Ông Palissy hứa lần sau có thể sẽ mang đến cho chúng ta một chuyên khảo về thế giới tuyệt vời này. Hy vọng cuộc đối thoại thú vị và đáng chú ý mà chúng tôi sẽ nhắc lại trong một bài báo đặc biệt nói về các đồng tử, một ngày nào đó sẽ được ra mắt bạn đọc.

Mặc dù với những miêu tả rất hấp dẫn ở trên, hành tinh Jupiter vẫn chưa phải là hành tinh hoàn thiện nhất. Còn có những hành tinh khác chúng ta chưa biết tới, siêu đẳng hơn nó về thể chất và tinh thần, các cư dân còn sống hạnh phúc hơn, nơi nghỉ ngơi của các linh hồn tiến hoá nhất, mà vỏ bọc tinh khí của họ không còn mang tính vật chất quen thuộc nữa.

Có người hỏi chúng tôi rằng có phải thân phận ở hạ giới là cản trở căn bản việc con người có thể thăng trực tiếp từ trái đất tới hành tinh Jupiter? Cũng như với tất cả các câu hỏi liên quan đến học thuyết tâm linh, chúng tôi sẽ không bao giờ trả lời dựa trên chính kiến riêng mình, những chính kiến luôn bị ngờ vực. Chúng tôi sẽ dựa vào việc truyền đạt lại những lời được răn dạy, những lời răn mà chúng tôi thu nhận không phải với sự nhẹ dạ, thụ động. Với câu hỏi trên, với trực giác trên cơ sở tri thức và kết quả các quan sát riêng của mình, chúng tôi xin trả lời rõ ràng rằng:

VÂNG, con người khi rời khỏi trái đất có thể thăng ngay lập tức đến hành tinh Jupiter (Mộc tinh), hoặc một thế giới tương tự, bởi không chỉ có duy nhất Jupiter nằm ở thứ bậc này. Điều đó có chắc chắn không?

KHÔNG. Con người có thể tới đó, vì trên trái đất, , dù với số lượng rất nhỏ, cũng có một số linh hồn đạt được mức hướng thiện và siêu thoát đủ để đến với thế giới không có cái xấu. Nhưng điều đó không chắc chắn, vì những linh hồn này có thể quá ảo tưởng về công trạng của mình, hoặc họ vẫn phải tiếp tục hoàn thành những sứ mệnh khác. Những người được hưởng ưu đãi này chắc chắn không thể là những kẻ ích kỷ, tham vọng, hà tiện, vô ơn, ghen tức, kiêu ngạo, tự đắc, đạo đức giả, đam mê lạc thú, những kẻ vẫn còn bị chế ngự bởi ham mê của cải trần thế; những kẻ đó sẽ cần phải trải qua nhiều thử thách nghiệt ngã và lâu dài. Những thử thách đó bao lâu, mức độ như thế nào đều phụ thuộc ý trí của họ.

DaoKy
04-01-2005, 06:03 PM
Đối thoại với vong nhân

(Buổi gọi hồn cô Clary M...)

Diễn giải : Cô Clary đã từng là một cô bé đáng yêu, cô mất năm 1850 khi mới 13 tuổi. Và từ đó cô trở thành thần minh hộ mệnh của gia đình, nơi thường tổ chức các buổi gọi hồn cô. Khi đó, cô thường có những cuộc đối thoại rất lý thú. Cuộc đối thoại giữa cô và chúng tôi dưới đây diễn ra vào ngày 12 tháng 1 năm 1857, qua trung gian là anh trai của cô với tư cách là đồng tử.

* * *


Hỏi: Cô có còn giữ được chính xác kỷ niệm nào về sự tồn tại của mình ở thế giới vật chất không?

Trả lời: Linh hồn nhìn thấy quá khứ hiện tại và một phần tương lai tuỳ theo mức độ hoàn thiện và gần với chúa Trời của mình.

Hỏi: Đòi hỏi về sự hoàn thiện ấy chỉ liên quan đến nhìn thấy tương lai hay còn liên quan đến cả hiện tại và quá khứ?

Trả lời: Linh hồn nhìn thấy tương lai rõ ràng hơn khi càng gần với Chúa Trời. Sau khi chết, linh hồn nhìn thấy bao quát toàn bộ những lần đầu thai trước, tất nhiên chỉ thấy những gì Chúa trời muốn. Do đó, linh hồn phải hoàn toàn theo Chúa Trời sau những lần đầu thai

Hỏi: Cô có thể cho biết khi nào cô sẽ đầu thai không?

Trả lời: Trong vòng 10 hoặc 100 năm tới.

Hỏi: Cô sẽ đầu thai lại thế giới này hay một thế giới khác?

Trả lời: Một thế giới khác.

Hỏi: Thế giới mà cô tới có những điều kiện giống như trái đất không hay tốt hơn hoặc xâú hơn?

Trả lời: Thế giới đó tốt hơn nhiều, ở đó mọi người đều hạnh phúc,.

Hỏi: Vì cô đang ở đây với chúng tôi, cô có ở một nơi xác định không, và đó là chỗ nào?

Trả lời: tôi đang có vẻ ngoài là làn khí thanh khiết, và có thể nói rằng linh hồn tôi có thể trải ra rất rộng, và nhìn thấy nhiều điều. Tôi di chuyển tới đây với vận tốc của ý nghĩ. Hiện tôi đang đứng bên phải anh tôi và điều khiển tay anh ấy.

Hỏi: Với bề ngoài là thanh khí, cô có còn các cảm giác mang tính vật lý không ví như cảm giác nóng lạnh chẳng hạn?

Trả lời: Khi tôi quá nhớ đến thân thể của mình, tôi có một cảm giác gần như là người ta vừa cởi bỏ một chiếc áo khoác nặng nề, và tin rằng vẫn sẽ phải mặc lại nó vài lần nữa.

Hỏi: Cô vừa nói rằng cô di chuyển với vận tốc của suy nghĩ ; vậy ý nghĩ phải chăng chính là linh hồ tự giải thoát khỏi vỏ bọc của mình?

Trả lời: Đúng như vậy.

Hỏi: Khi ý nghĩ của cô đi đến một nơi nào đó, linh hồn của cô sẽ tự phân tách như thế nào?

Trả lời: Bề ngoài sẽ tan rã, chỉ có ý nghĩ là di chuyển.

Hỏi: Như vậy đó là năng lực tự phân tách, bản thể vẫn ở lại nơi của nó? Trả lời: Hình dạng không phải là bản thể.

Hỏi: Vậy ý nghĩ sẽ hoạt động như thế nào, chẳng phải nó vẫn luôn cần có trung gian là vật chất hay sao? Trả lời: Không phải như vậy.

Hỏi: Khi suy nghĩ phân tách và di chuyển, chẳng phải là cô sẽ không còn hoạt động qua trung gian là vật chất đó sao?

Trả lời: thanh khí phân rã đi sẽ tụ lại nơi ý nghĩ đi đến.

Hỏi: Cô mất khi mới 13 tuổi, vì sao cô có thể trả lời các câu hỏi hết sức trừu tượng này với những lời nói ngoài khả năng của một đứa trẻ lứa ở tuổi đó?

Trả lời: Linh hồn của tôi rất già dặn.

Hỏi: Cô có thể kể lại cho chúng tôi, trong những lần cô đầu thai, lần nào cô là người có hiểu biết nhất?

Trả lời: Khi tôi là một người đàn ông rất đạo mạo, sau đó tôi đã được đầu thai thành một cô bé mà nét mặt thể hiện cả tâm hồn trong sáng. Thương Đế đã bù trừ cho tôi.

Hỏi: Có thể nào chúng tôi nhìn thấy cô bây giờ không?

Trả lời: Các ông sẽ làm được điều đó

Hỏi: Làm thế nào để chúng tôi có thể nhìn thấy? Điều đó phụ thuộc vào chúng tôi,vào cô hay vào những người bí mật nào nữa?

Trả lời: Phụ thuộc vào các ông.

Hỏi: Chúng tôi sẽ phải đáp ứng những điều kiện gì để có được khả năng đó?

Trả lời: Các ông cần trầm tư một lúc với lòng nhiệt thành, nhưng đừng đến đông quá và mời tới đây một đồng tử như ông Home.

DaoKy
04-01-2005, 06:04 PM
NGƯỜI TỰ SÁT TẠI SAMARITAINE

***



Vừa qua các báo chí đều đưa tin về câu chuyện như sau : « Vào khoảng 7 giờ tối ngày 7 tháng 4 năm 1859, tại doanh nghiệp Samaritaine có một người đàn ông trạc 50 tuổi, ăn vận lịch sự đến thuê phòng tắm. Khoảng 2 tiếng sau do không thấy ông ta ra, người phục vụ quyết định vào phòng tắm xem có phải vì vị khách cảm thấy khó ở không. Và ông ta được chứng kiến một cảnh tượng kinh hoàng : người đàn ông bất hạnh đã tự vẫn bằng một nhát dao cạo vào cổ họng, máu chảy ra nhuộm đỏ cả nước trong bồn tắm. Người ta không xác định được danh tính của người này và đã chuyển xác ông ta về Morgue »

Chúng tôi cho rằng có thể cuộc nói chuyện với linh hồn của người xấu số này sẽ mang lại nhiều điều bổ ích. Vì vậy đã tổ chức cầu hồn người này vào ngày 13 tháng 4, 6 ngày sau khi ông ta chết.

1. Cầu xin Thượng đế toàn năng cho phép linh hồn của người tự sát tại phòng tắm ở Samaritaine ngày 7 tháng 4 năm 1858 đến nói chuyện với chúng tôi

- Hãy chờ một chút ... (vài giây sau) : Anh ta đến rồi

Chú ý : để hiểu được vì sao có câu trả lời này cần biết rằng trong tất cả các buổi cầu hồn luôn có một siêu linh quen thuộc (với người cầu hồn hoặc có quan hệ gia đình với linh hồn người được cầu) luôn xuất hiện mà không cần phải gọi đến. Chính linh hồn này sẽ đưa các linh hồn được gọi tới qua truyền đạt lại các lời mời đối với các linh hồn ở cùng đẳng cấp hoặc cao hơn, và ra lệnh với các linh hồn ở cấp thấp hơn. Các buổi cầu hồn do cô Ermance Dufaux làm đồng tữ đều được Thánh Saint Louis hỗ trợ, và chính câu trả lời trên là của Người. (Caodaifrance : vị Thánh St Louis là vị thần minh giáo dưởng và bảo hộ cho Thông Linh hội Paris, cũng như Thông Linh học tin rằng mỗi một người chúng ta đều có một Thần minh theo bảo hộ và dẩn dắt, nếu mà ta tin vào vị ấy, người VN còn gọi vị ấy là "Quới nhân" )

2. Ông đang ở đâu ?

- Tôi không biết .... Hãy cho tôi biết tôi đang ở đâu vậy ?

3. Ông đang ở số 35 phố Valois (Palais-Royal), giữa những người chuyên nghiên cứu về thông linh, và đang rất quan tâm đến ông.

- Các ngài hãy nói là tôi còn sống đi .... Tôi cảm thấy ngẹt thở trong mồ lắm rồi.

4. Ai đã động viên ông tới đây với chúng tôi?

- Tôi tự cảm thấy dễ chịu hơn

5. Nguyên nhân nào khiến ông tìm đến cái chết ?

- Tôi đã chết rồi sao ? .... Không thể nào ... tôi vẫn đang trong thân thể của mình mà ... Các ông không thể hiểu được tôi đau đớn thế nào đâu !... Tôi ngạt thở !... Cầu xin bàn tay nào đó giúp tôi kết thúc nỗi dày vò đau đớn này !

Nhận xét : Linh hồn của ông ta, cho dù đã rời bỏ thể xác vẫn ngụp lặn trong cái mà người ta gọi là vòng cuốn của vật chất hữu hình ; những suy nghĩ cảm nhận trần thế vẫn còn dai dẳng ; khiến cho ông ta không tin rằng mình đã chết.

6. Tại sao ông không để lại một dấu tích gì để người ta có thể nhận ra ông?

- Tôi đã bị ruồng bỏ ; Tôi chạy trốn nỗi đau để rồi phải chịu sự dằn vặt

7. Giờ đây ông vẫn mai danh ẩn tích bởi những lý do cũ chứ ?

- Vâng, đừng đổ thêm lửa vào vết thương đang nhỏ máu nữa

8. Ông có thể cho chúng tôi biết tên tuổi, nghề nghiệp và địa chỉ trước kia của ông không ?

- Không ... hoàn toàn không thể ...

9. Ông đã từng có gia đình, vợ con chứ ?

- Tôi đã bị bỏ rơi ; không ai thương yêu tôi cả.

10. Ông làm gì để đến mức không ai thương ông cả ?

- Có bao nhiêu người như tôi chứ! ... Một người đàn ông có thể bị bỏ rơi ngay trong gia đình của mình khi không có trái tim nào yêu thương anh ta nữa.

11. Khi tự vẫn, chằng lẽ ông không hề do dự sao ?

- Tôi muốn chết ... tôi mong được ngơi nghỉ.

12. Chẳng lẽ ý niệm về tương lai không thể ngăn cản ý định tự vẫn của ông sao ?

- Tôi không tin vào đó nữa ; tôi chẳng có gì để hy vọng. Mà tương lai là hy vọng.

13. Ông đã phản ứng như thế nào khi ông cảm thấy sự sống đang tắt dần trong ông ?

- Tôi không nghĩ gì cả ; tôi cảm thấy ... Nhưng cuộc sống của tôi chưa tắt ... hồn tôi vẫn còn trong thể xác ... Tôi chưa chết đâu ... nhưng tôi cảm thấy vòi bọ đang gặm nhấm thể xác tôi

14. Ông cảm thấy thế nào khi đã hoàn toàn rời bỏ cuộc sống ?

- Điều đó là thật sao ?

15. Lúc cuộc sống tắt đi trong ông, ông cảm thấy đau đớn lắm không ?

- Ít đau đớn hơn lúc sau đó. Bởi chỉ có cơ thể là đau đớn.

Thánh Saint Louis giải thích thêm: Khi linh hồn thoát khỏi gánh nặng đang đè lên nó, Nó cảm thấy khoái lạc của sự đau đớn.

- Tình trạng đó luôn xuất hiện sau khi tự tử à ? (Câu hỏi đặt ra với thánh Saint Louis)

- Đúng như vậy, linh hồn của kẻ tự vẫn sẽ ở lại với thể xác cho đến khi hết thời hạn kiếp sống của anh ta. Cái chết tự nhiên là do sự sống yếu dần đi, còn tự vẫn là ngắt đi hoàn toàn sự sống.

16. Những người chết đi do các nguyên nhân tai nạn không do chủ quan của mình có gặp tình trạng tương tự không bởi nó cũng làm rút ngắn cuộc sống tự nhiên ?

- Không bao giờ. Các ông hiểu thế nào là tự vẫn? Linh hồn chỉ chịu trách nhiệm với những gì nó làm ra mà thôi.

Nhận xét: Chúng tôi đã chuẩn bị hỏi linh hồn của người đàn ông xấu số này rất nhiều câu hỏi về tình trạng hiện tại linh hồn, nhưng khi nghe những câu trả lời vừa rồi, chúng trở nên vô nghĩa. Chắc chắn ông ta không ý thức được tình trạng của mình; đau đớn là điều duy nhất ông ta có thể tả lại.

Những linh hồn vừa thoát kiếp, nhất là khi ở trần thế không trau rồi để nâng mình vượt lên vật chất thường không tin cái chết đã đến. Nhìn qua, có thể cho điều đó là kỳ lạ, nhưng chúng tôi có thể giải thích điều đó một cách rất tự nhiên. Nếu hỏi một người lần đầu tiên bị mộng du rằng phải chăng anh ta đang ngủ, hầu như anh ta sẽ luôn trả lời rằng “không”, và câu trả lời đó hoàn toàn thực tế. Chính người hỏi đã đặt ra một câu hỏi không phù hợp và không đúng chỗ. Khái niệm “ngủ” trong ngôn ngữ thường dùng của chúng ta luôn đi cùng với thể trạng tạm thời mất đi các cảm giác. Thế nhưng người mộng du vẫn nhìn thấy, suy nghĩ và ý thức được sự tự do tinh thần, không tin rằng anh ta đang ngủ, và thực tế đúng là như vậy nếu hiểu theo đúng nghĩa của từ này. Vậy anh ta sẽ trả lời “không” cho đến khi quen với cách hiểu mới. Tình trạng của người vừa mới chết cũng tương tự, họ cho cái chết là không thực. Giống như người mộng du, họ vẫn nói, vẫn nhìn, vẫn cảm giác được, do vậy họ không tin mình đã chết. Họ sẽ chỉ tin điều đó khi đã ý thức được thể trạng mới của mình.

DaoKy
05-01-2005, 09:53 AM
SỰ THÔNG-CÔNG GIỮA CON NGƯỜI VỚI THẾ-GIỚI SIÊU-LINH& HIỆN-TƯỢNG CƠ-BÚT

























DÃ TRUNG TỬ sưu tập



TIỂU-DẪN



Cao-Đài giáo được khai-nguyên là do Thượng-Đế dùng cơ-bút làm trung-gian thâu-nhận đệ-tử và tiếp-xúc với họ để truyền-bá giáo-lý, giáo-luật và đạo-pháp xuống thế-gian. Đến nay nền Đạo đã phát-triển hơn hai phần ba thế-kỷ, có hơn năm triệu tín-đồ trên toàn thế-giới. Qua cơ bút Thượng-Đế đã ban cho nhân-loại một Thiên-Đạo Công-bình Giải-thoát, một Thế-Đạo Nhơn-nghĩa Đại-đồng :



- Về Thiên-Đạo thì Thượng-Đế đã phổ-độ rộng-rãi từ Thiên-tử đến Thứ-dân không phân-biệt sang hèn màu da sắc tóc, ban cho một đường hướng tu-hành để chế-ngự thất tình lục-dục, lập công bồi đức, hầu đạt một cuộc đời thân tâm an-lạc, như sống trong một thiên-đường ngay tại thế-gian, chứ không cần đợi sang bên kia cỏi tử, mà còn thoát đọa luân-hồi trở về hợp nhất với Thượng-Đế.



- Về Thế-Đạo thì Thượng-Đế đã khuyến dạy nhơn-sanh dùng Nhân, Nghĩa để chung sống với nhau một cách hoà-bình, không còn kỳ-thị Tôn-giáo, phân-biệt chủng-tộc, hận-thù giai-cấp, chia rẻ giàu nghèo. Thượng-Đế không chủ-trương sang bằng tài-sản mà chủ-trương sang bằng tham-vọng của con người, để họ tự biết xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo, hầu nâng-đở lẫn nhau tiến-hóa đồng đều trên cả hai phương-diện vật-chất lẫn tinh-thần, làm cho xã-hội loài người đạt đến Chân Thiện Mỹ, tạo ra một thế-giới huynh-đệ Đại-đồng.



Đây là một tôn-giáo do Thượng-Đế trực-tiếp sáng-lập có một nền triết-học cậân-đại, một giáo-lý vừa huyền-linh vừa khoa-học, vì những tôn-chỉ mục đích cao-thượng và tốt lành nêu trên, mà đang được các triết-gia và học-giả trên thế-giới đang quan-tâm nghiên-cứu, có nhiều Viện Đại-học trên thế-giới đã đem khoa Cao-Đài giáo vào chương-trình giảng-dạy, có nhiều sinh-viên cao-học đang nghiên-cứu Cao-đài-giáo để bảo-vệ luận-án Tiến-sĩ của mình.



Nhưng cũng có một số người nhân-danh một thứ đạo-lý cực- đoan đã cho Cao-Đài là một tôn-giáo xuất-phát từ cơ-bút là một hiện-tượng mê-tín dị-đoan cần phải bài-trừ.



Vì cơ-bút là một phương-tiện đón nhận những thông-tin từ thế-giới siêu linh, đã có sẵn từ nghìn xưa, không phải của Cao-Đài sáng chế ra, để độc-quyền sử-dụng mê-hoặc chúng-sanh, như có người đã từng xuyên-tạc. Nên để tìm hiểu đâu là “lẽ thật” chúng tôi cố-gắng sưu-tập một số dữ-kiện liên-quan đến hiện-tượng cơ bút trên khắp thế-giới tuy không đầy đủ, nhưng cũng tạm để chúng ta cùng nhau tìm hiểu một số dữ-kiện liên-quan đến hiện-tượng nầy. Mục-đích không phải là chứng-minh cơ-bút là hoàn-toàn chân-thật mà khuyến-khích việc sử-dụng một cách bừa-bãi, hoặc là cho cơ-bút là giả-dối, hoàn-toàn mê-tín dị-đoan, mà bài-bác tất-cả những gì liên-quan đến nó, nhưng để giúp chúng ta nhận chân được giới-hạn giữa chánh và tà, giữa mê và giác, để chứng-minh rằng Cao-Đài giáo xuất-phát từ cơ-bút là một điều chân-thật, là một chánh-giáo. Chứ không phải như một số luậân-điệu đã xuyên-tạc cho đây là một tôn-giáo mê-tín dị-đoan.



TÍN-NIỆM TIÊN-QUYẾT



Muốn nghiên-cứu về hiện-tượng cơ-bút một cách chính-xác chúng ta cần phải nhận chân những tín-niệm sau đây :



- Thượng-Đế là một Đấng Tự-hửu và Hằng-hửu đã tạo dựng nên vũ-trụ và vạn-hửu chúng-sanh, trong đó có con người.

- Con người được Thượng-Đế tạo-dựng có ba phần Tinh, Khí, Thần tức là thân-xác, tình-cảm và tư-tưởng. Ngôn-ngữ của Cao-Đài giáo gọi là Phàm-thân, Pháp-thân và Linh-thân. Khi chết Phàm-thân tan-rả, sẽ tan biến trở lại vật-chất. Pháp-thân và Linh-thân khi thoát xác sẽ trở về cỏi hư-linh và tồn-tại ở đó, đời sống con người hiện-hửu ở ba cỏi : Hạ-giới, Trung-giới và Thượng-giới. Những điều con người đã học hỏi trong kiếp đương sanh, vẫn tồn-tại trải dài ở cỏi trần đến bên kia cỏi tử, vì khi thân xác chết đi, thì tình-cảm và tư-tưởng vẫn lưu giữ trong Pháp-thân và Linh-thân, làm thành sự hiểu biết của kiếp lai-sinh, còn đối với người đã đắc Đạo thoát ra khỏi vòng luân-hồi sinh-tử, thì tình-cảm và tư-tưởng nầy vẫn tồn-tại trong sinh-hoạt của người đó ở cỏi thượng-giới, Phật-giáo gọi là Niết-bàn, Thiên-Chúa-giáo gọi là Thiên-đường, Cao-Đài-giáo gọi là cỏi Thiêng-liêng hằng sống.

- Sự tương-quan giữa Thượng-Đế và Chúng-sanh, thì Thượng-Đế là ngọn đuốc, còn Chúng-sanh là những tia lửa lớn nhỏ khác nhau, chiếc-xuất từ Ngài, cả hai đồng-phẩm chứ không đồng lượng.

- Theo khoa-học, thì con người là một khối năng-lượng sinh-học, dưới nhiều dạng khác nhau, đó là năng-lượng trong vật-chất và năng-lượng trong tinh-thần. Theo định-luật bảo-toàn năng-lượng của Lavoisier thì trong quá-trình chuyển-hoá, năng-lượng không tự sinh ra, mà cũng không tự mất đi, chỉ chuyển hoá từ thể nay sang thể khác, hoặc nhập vào trạng-thái nầy hay trạng-thái khác. Khi thân-thể chết đi, năng-lượng trong nguyên-tử vật-chất sẽ tái-tạo lại dưới một hình-thể mới. Năng-lượng tinh-thần sẽ thoát xác và phản-phấùt nơi cỏi siêu-linh. Nên hiệân-tượng cơ bút là một phương-tiện tiếp-xúc với khối năng-lượng nầy.



Chúng ta cũng có thể kết-luận Thượng-Đế là một khối năng-lượng khổng-lồ, còn mỗi chúng-sanh là một phần năng-lượng nhỏ thua, được chiết-xuất ra từ Thượng-Đế. Nên con người vẫn trường-tồn, bất tiêu, bất diệt. Do đó mà Cao-đài-giáo có những phép tu-luyện để đón nhận nguồn năng-lượng bao-la của Thượng-Đế bổ-sung cho mình, vì Ngài là Đấng Đại Từ-phụ với tình thương-yêu bao-la. Thượng-Đế luôn luôn ban rải năng-lượng xuống trần-gian để hổ-trợ cho con cái cuả Ngài là chúng ta, nên Ngài đã khẳng-định rằng: “Các con là Thầy, Thầy là các con” (TNHT/Q1/ trang 30/ Giòng 31).



Trên đây là những tín-niệm tiên-quyết để cùng nhau tìm hiểu các vấn-đề liên quan đến đề-tài nầy. Còn nếu ai đã có định-kiến cho rằng chẳng có Thượng-Đế nào cả, mà Thượng-Đế do ảo-tưởng của con ngừơi tạo ra. Còn vũ-trụ hình-thành là do sự kết-hợp ngẫu-nhiên của vật-chất, linh-hồn từ vật-chất mà có. Con người do loài khỉ đẻ ra, rồi vì nhu-cầu của thân-xác mà truyền-chủng, lại qua quá-trình phân-hoá hai chân trước thành hai tay để hái lượm, thay cho miệng khỏi phải đớp, ngoạm, tha mồi, nhờ đó mà nảo phát-triển và nhờ lao-động mà có văn-minh tiến-bộ. Những người đã tin như vậy thì không thể cùng nhau tìm hiểu vấn-đề nầy, vì “đạo bất đồng, bất tương vi mưu”.



SỰ TIẾP-XÚC VỚI THẾ-GIỚI VÔ-HÌNH



Hiện-tượng tiếp-xúc với những chơn-hồn bên kia thế-giới vô-hình bằng các phương-tiện đồng-cốt, cơ-bút là một việc làm rất xa xưa, khắp nơi trên thế-giới đều có, ở cả trong các nền văn-hoá khác nhau, và trình-độ kiến-thức cũng khác nhau, từ các bậc trí-thức, các giáo-sư tiến-sĩ đến kẻ bình-dân, đều tin dùng, bởi vì kết-quả của chúng dường như đủ để làm cho con người tin theo. Có những trường-hợp tiêu-biểu đã được chứng-nghiệm rõ-ràng sau đây :



- Vào khoản năm Kỷ-mùi (1920) Ông Ngô-Văn-Chiêu dùng cơ-bút theo cách Cầu Tiên ở Đông-phương để cầu thuốc chữa bệnh cho thân-mẫu và sau đó tiếp-xúc với Đức Cao-Dài Tiên-Ông và thọ phép tu-luyện.

- Vào khoản năm Giáp-tý (1925) các Ông Cao-Quỳnh-Cư, Phạm-Công-Tắc và Cao-Hoài-Sang dùng phương-pháp xây bàn theo Thông-linh-học của Tây-phương để tiếp-xúc với các chơn-linh cỏi vô-hình xướng hoạ thi-thơ, và do đó Thượng Đế đã thâu nhận ba Ông làm đệ-tử truyền bá Đạo Cao Đài xuống thế gian bằng phương-tiện nầy.

- Vào năm Ất-sửu (1926) Thượng-Đế giáng cơ khuyên hai nhóm Cao-Đài của Các Ông Cao-Quỳnh-Cư, Phạm-Công-Tắc và Cao-Hoài-Sang phối-hợp với nhóm Cao-Đài của Ông Ngô-Văn-Chiêu để phổ-truyền quảng-bá Đại-Đạo Tam Kỳ Phổ-Độ.

- Rồi từ đó trở đi Thượng-Đế cũng dùng Đồng-tử thông qua trung-gian Cơ-bút thâu nhận đệ-tử và truyền-đạo, gọi là cơ-bút phổ-độ để khai-sáng phát-triển Cao-Đài-giáo. Trong đó có ban-bố Pháp-Chánh-Truyền, duyệt xét Tân-luật, tấn-phong giáo-phẩm, tổ-chức cơ-cấu Hành-pháp Đạo (Cửu-Trùng-Đài) Cơ-quan Tư-pháp Đạo (Hiệp-Thiên-Đài) để thông công với Cơ-quan Lập-Pháp Vô-vi (Bát-Quái-Đài). Cùng thành-lập tổ-chức, điều-hành các cơ-cấu hửu-vi của nền Đạo từ trung-ương đến địa phương trên toàn thế-giới.



Trong những ngày nền Đạo còn phôi-thai chưa có nơi đặt cơ-sở thờ-tự thì Thượng-Đế đã giáng-cơ hướng-dẫn các vị tiền-bối của Đạo đến liên-lạc với Hòa Thượng Như-Nhãn mượn chùa Từ-lâm-tự, Gò-kén, Tây-ninh làm nơi thờ-phụng, và thiết-lễ khai Đạo tại đây vào ngày 15 tháng 10 Bính-dần (19-11-1926), đồng thời Thượng-Đế cũng thâu nhận Hòa-thượng Như-Nhãn làm đệ-tử và tấn-phong Ông làm Thái Chưỡng-Pháp. Sau đó ba tháng thì Hòa Thượng Như Nhãn đòi lại chùa một cách khẩn-cấp.



Trong lúc còn đương phân-vân chưa biết phải dời đi đâu, thì Đức Lý Giáo-Tông đã giáng cơ chỉ bảo Hội-Thánh tìm đến mua một khu rừng hoang của một Pháp-kiều làm nghiệp-chủ tại làng Long-thành Tây-ninh, để di-chuyển toàn-bộ cơ-sở đầu tiên của nền Đạo từ chùa Từ-lâm-tự về nơi đây. Khu rừng đó ngày nay đã trở thành châu-thành Thánh-địa của Tòa Thành Tây-ninh. Thậm chí Đức Lý Giáo-Tông còn dạy đến giá-cả mua đất :

“ Người Lang-sa đòi hai mươi ngàn, Lão dặn trả giá mười bảy, mười tám ngàn thì mua đặng”.

Đức Lý-Giáo-Tông còn dạy thêm rằng :

“Đất nay còn rẽ, đất chung quanh Thánh-địa ngày sau hoá vàng. Chư hiền-hửu lo lập, ngày sau rất quý báu”.



Đến ngày nay thì quả ứng-nghiệm như vậy, ngay bây giờ nơi đây đã trở thành khu đô-thị trù-phú, nhà cửa lầu đài san-sát nhau, giá đất tại ngoại ô Thánh-địa một mét vuông đã hơn bạc triệu .



- Ngay ngôi Đền Thánh khởi công vào ngày 1 tháng 11 Bính-tý (1936) cũng đã được Đức Chí-Tôn và Đức Lý Giáo-Tông giáng cơ chỉ dạy họa-đồ xây-dựng và chọn nơi đặt nền móng, mỗi chi-tiết đều được sự hướng-dẫn bằng cơ-bút cho đến ngày hoàn-thành, không có Kiến-trúc-sư, không có chuyên-viên xây-dựng lành nghề, sự xây cất và đốc-công chỉ toàn là Thầy và Thợ “tay ngang” của bổn Đạo đảm-trách. Về trình-độ kỷ-thuật kiến-trúc lúc bấy giờ tuy còn hạn-chế, chưa có máy-móc tân-tiến, chỉ thực-hiện bằng tay chân, nhưng đã xây-dựng một Đền Thánh nguy-nga tráng-lệ bằng bê-tông cốt sắt và ngay cả hệ-thống ánh sáng bằng đường dây điện chôn ngầm, cũng đã hiện-đại hoàn-hảo, đến mức mà trình-độ các Kiến-trúc-sư đầu ngành xây-dựng ngày nay cũng không thể chê chỗ nào được.



Như vậy cơ-bút quả là một phương-tiện đón nhận những thông-tin chỉ-thị của Thần Tiên một cách chính-xác.



- Trường-hợp Nữ Đồng-tử Sarah Barthel ở Pháp : Trong khi Đức Hộ-Pháp Phạm-Công-Tắc thoát xác quy Thiên vào lúc 13 giờ 30 phút (giờ Cam-pu-chia) ngày 17-05-1959 tại Thánh-thất Tuol-Svay-Prey, Nam-vang (Cam-pu-chia), sự kiện nầy cũng không có sự thông-báo bằng phương-tiện truyền-thông trên thế-giới. Thế mà cũng vào ngày giờ nầy tại Paris (Pháp) Nữ Đồng-tử Sarah Barthel ở tại số nhà 20 đường Albert-Paris 10è đã thông-công nhìn thấy những Thiên-thần cầm lọng vàng và các Đấng Thiêng-liêng mặc áo ba màu vàng xanh đỏ và áo trắng, đến đón tiếp Đức Ngài. Và nghe tiếng nói trong không trung về sự Liễu-Đạo của Đức Hộ-pháp. Bà còn nói thêm rằng : Cũng vào ngày giờ nầy tất cả những người trong Đại Cơ-quan Đồng-tử trên thế giới đều được nhận thấy hiện-tượng và nghe những tiếng nói nầy. (Sự kiện nầy đã được tường-thuật và đăng-tải rõ-ràng trên Báo Le Lien số 4 Juin 1959 trang 30).



- Trường-hợp của Giáo-sư Tiến-sĩ Nguyễn-Hoàng-Phương (Giảng-sư Đại-học Tổng-hợp Hà-nội) Ông đã chấp bút viết nên bộ sách dày trên một nghìn trang nhan-đề: “Octonion Cơ-sở Phổ-quát của Khoa-học Đông Tây thống-nhất” đây là Công-trình Khoa-học lớn, kết-hợp Dịch-học phương Đông và Toán-học phương Tây. Công-trình nầy được các Nhà Báo, Nhà Văn, các bậc trí-thức học-giả, các Giáo-sư Tiến-sĩ trong nước và trên thế-giới đánh giá cao. . . Ông cũng không ngần-ngại gởi tặng bộ sách nầy cho Bộ Chính-trị Đảng Cọng-sản Việt-nam. Thủ-tướng và Phó Thủ-tướng Chính-phủ. Ủy-ban Unesco Việt-nam và Quốc-tế. Tài-liệu nầy cũng được báo-cáo trong Hội-thảo Quốc-tế Việt-nam-học tại Hà-nội. Ông cũng còn gởi tặng cho các Bộ Ngành, cùng các Cơ-sở Văn-hoá, Giáo-dục, Khoa-học, Xã-hội. Các Cơ-sở Tôn-giáo, nơi nào cũng nhiệt-liệt hoan-nghinh.



Như vậy thì cầu-cơ chấp-bút đâu phải là mê-tín.

Trên đây chỉ nêu lên một số trường-hợp trong Đạo và ngoài Đời để dẫn-chứng cho việc sử-dụng đồng-tử và cơ bút trong nhiều lãnh-vực khác nhau. Nếu sưu-tập hết các trường hợp linh-ứng về thông-công giữa con người với các chơn-hồn ở cỏi Thiêng-liêng-hằng-sống trên khắp thế-giới, thì phải bằng nhiều pho sách dày mới ghi hết. Nên chỉ ghi lại mấy trường-hợp đã có sự ứng-nghiệm rõ ràng nêu trên, cũng tạm đủ cho chúng ta nhận thấyï tại sao hiện-tượng thông-công với cỏi hư-linh bằng đồng-tử và cơ-bút lại đủ sức làm cho người ta tin-tưởng như vậy.



Nhưng đây lại là một vấn-đề tế-nhị, mang nhiều màu sắc huyền-bí, không phải một hiẹân-tượng cụ-thể, nếu không trải-nghiệâm, hoặc không chịu khó quan-tâm tìm hiểu một cách đa-phương đa-diện để biết đâu là giới-hạn của sự ứng-dụng hiẹân-tượng nầy, thì không dễ gì hiểu được và cũng khó phân-biệt đâu là huyền linh, và khoa-học cùng mê-tín dị-đoan. Nên nhiều người chỉ dùng một nhãn-quan thiển-cận nhìn một cách hời-hợt và phiến-diện, thì không thể nào tránh khỏi những lập-luận hồ-đồ cho đây là hiện-tương hoàn-toàn mê-tín dị-đoan.



CHÂN-LÝ VÔ-ĐỐI VÀ TƯƠNG-ĐỐI



Theo quan-niệm thông-thường của quần-chúng trước các vấn-đề mới lạ, dù đó là chân-lý vô-đối, thì thái-độ của nhân-loại thường chia ra ba hạng người tiêu-biểu, một hạng tin theo, một hạng lưng-chừng, một hạng chống đối. Trường-hợp những con người chống-đối đó thiển-cận mà lại có quyền-lực, thì chân-lý mới mẻ dù có hay đến đâu cũng bị họ tiêu-diệt không nương tay, vì họ cũng nhân-danh chân-lý, dù chân-lý đó chỉ có tính-chất tương-đối, đôi khi còn thiển-cận và lỗi thời, nhưng họ cố bám víu vào để độc-quyền thao-túng, hầu có lý-do tiêu-diệt cái chân-lý vô-đối mà họ cho là có nguy-cơ cho quyền-lực của họ.



Như trường-hợp Galilée (1564-1642) đã dùng kính thiên-văn để quan-sát bầu trời và đã phát-minh rằng quả đất tròn, và quay chung quanh mặt trời, nhưng có những người ở đầu thế-kỷ XVII nhận-thức qua cái nhìn thiển-cận của đôi mắt, chưa có óc suy-luận theo khoa-học, họ vẫn tin-tưởng vào cái nhìn của họ, là mặt đất bằng-phẳng đứng yên, trong lúc mặt trời di-chuyển, sáng mọc ở đằng đông, chiều lặn theo đằng tây. Cho nên đối với họ thì Galilée sai lầm, dù là do cái nhìn thiển-cận của một thứ giác-quan mù-quáng, của thời bán khai đã khiến họ tin như vậy là đúng, thạâm-chí họ không dám nhìn vào ông kính thiên-văn lúc bấy giờ, để khỏi phải ảnh-hưởng đến điều họ đã tin, vì đối với họ đó là chân-lý bất-biến.



Như vậy tuy Galilée ngày xưa được Thượng-Đế tác-động trên tinh-thần của Ông, để dìu-dắt nhân-loại nhận-chân được hình-thể đích-thực của vũ-trụ. Đó là một bước tiến trong đời sống trí-tuệ nhân-loại, thế nhưng vẫn có những phần-tử cường-quyền lúc bấy-giờ đã từ-chối sự phát-minh mới-mẻ nầy, và họ còn quan-niệm rằng chồng đối lại nhận-định của Galilée là một hành-vi đạo-đức, bảo-vệ chân-lý mà giác-quan và con mắt họ đã nhận-định như vậy. Thậm-chí họ cho rằng “Ống Kính Thiên-văn là một phát-minh ma-quỷ, Galilée chính là tay sai của ma quỷ” nên cường-quyền lúc bấy-giờ đã tra-tấn ông rất dã-man, và định đem tội tử-hình để áp-dụng cho ông. Vì không chịu nỗi cực hình, nên ông phải quỳ gối trước sức mạnh của bạo-lực, để tỏ vẻ sự hối-hận, mặc dù đó chỉ là dấu-hiệu bên ngoài của ông, chứ trong thâm-tâm ông vẫn tin-tưởng vào sự quan-sát các thiên-thể của ông bằng kính thiên-văn. Mặc dù sức mạnh của cường-quyền lúc bấy giờ đã trấn-áp được Galilée, nhưng cũng vẫn không ngăn-cản được chân-lý vô-đối lưu-hành. . .



Cũng tương-tự như vậy, cơ-bút là phương-tiện của con người phàm-trần tiếp-xúc với các chơn-hồn ở cảnh-giới siêu-linh, không rõ có từ bao-giờ, có lẽ có từ khi văn-minh tinh-thần con người được phát-triển, nên ngày nay Thượng-Đế cũng dùng nó làm phương-tiện tiếp-xúc với đệ-tử tại trần-gian để mở Đạo. Cũng vì vậy mà Cao-Đài giáo đã phát-triển một cách nhanh-chóng và được nhiều thành-phần từ người trí-thức cho đến giới bình-dân đều tín-ngưỡng mạnh-mẽ, và thực-chất triết-thuyết Cao-Đài cũng đã điều-chỉnh những vấn-đề xã-hội thiết-thực, gây ấn-tượng mạnh-mẽ trong khối đông-đảo tín-đồ, đã mang lại cho họ những lợi lạc cả thân tâm, mà không ai có thể chối cải được. Như vậy cơ-bút chỉ là cái máy điện-thoại di-đọâng để đón nhận thông-tin, tự nó không mê-tín hay chánh-tín gì cả, mê hay chánh là tuỳ nơi người sử-dụng nó mà thôi. Cũng như xe cộ là phương-tiện giao-thông, có từ nghìn xưa. Còn xe cộ đâm chết người, hoặc người dùng xe cộ đi cướp của giết người, thì không ăn-nhập gi với xe cộ cả. Những người có tinh-thần khoa-học tiến-bộ, không thể quy-nạp một cách mù-quáng là xe cộ gây ra chết người, rồi vịn vào lý-do đó để cấm dùng xe cộ, cũng như cơ-bút là phương-tiện cho những người quang-minh chánh-đại tiếp-nhận những Chân-lý từ cỏi Thiêng-liêng, hướng-dẫn chúng sanh quay về nẻo thiện, góp phần cho thế-giới thanh-bình, càn-khôn an-tịnh, mà cũng là phương-tiện của những người vô lương-tâm, không đạo-đức liên-hệ với ma quỷ, để mê-hoặc chúng-sanh mưu lợi-ích cho mình. Nên cần phải hướng-dẫn nhơn-sanh hiểu rõ để phân-biệt đâu là chánh tà, chân giả.

.

CÁC PHƯƠNG-THỨC THÔNG-CÔNG VỚI CỎI HƯ-LINH



Trên thế-giới từ xưa đến nay có nhiều phương-thức thông công với cỏi hư-linh khác nhau. Sau đây chỉ nêu lên những phương-thức thông- dụng hiện nay .



THÔNG-CÔNG BẰNG CƠ-BÚT



Phương-thức thông-công với cỏi hư-linh bằng cơ-bút là một hình-thức sơ-đẳng đơn-giản dễ thực-hiện nhất.

Thông-công bắng cơ-bút có các hình-thức thực-hiện sau đây :



- Cầu cơ : Phương-thức nầy thông-dụng ở phương Đông, rất lâu đời, các người tu Tiên theo Lão-giáo hay dùng để liên-lạc với Tiên-giới. Họ dùng một miếng gổ thường đẻo theo hình trái tim nên mới có tên là “con cơ”. Khi thông-công thì một hoặc hai đồng-tử ngồi đặt tay lên con cơ, tịnh tâm một hồi lâu, khi chơn-linh vô hình giáng nhập thì con cơ di-động viết thành chữ, hoặc di-động trên bản viết 24 chữ cái ABC… rồi ráp lại thành chữ, người hầu đàn tiếp-xúc trò chuyện với chơn-linh vô-hình có thể hỏi bằng ngôn-ngữ còn chơn-linh đáp bằng cách chỉ từng chữ ABC… rồi ráp thành vần. Hình-thức con cơ cũng có thể đẻo thành hình con chim, hoặc một hình gì tuỳ ý.



- Cũng có loại Ngọc cơ tức là đan một cái lồng bằng tre, cột trên miệng giỏ tre một cần gổ, đầu chạm hình con chim loan có gắn một cây cọ để viết, cách nầy có thể viết thẳng thành chữ, khỏi phải chỉ từng chử ABC rồi ráp vần lại, như vậy sẽ nhanh hơn. Khi cầu bằng ngọc cơ thì một hoặc hai đồng-tử cầm miệng giỏ tre, tịnh-tâm một hồi lâu, khi chơn-linh nhập thì cơ di-động viết thành chữ. Nên cách nầy gọi đồng-tử là người Phò-loan. Phương-thức dùng ngọc cơ nầy theo nhiều trải-nghiệm cho biết các Đấng Thiêng-Liêng thích tiếp-xúc hơn là các loại cơ khác, Ngài Ngô-Văn-Chiêu đã tiếp-xúc với các Tiên-ông, và Thượng-Đế bằng phương-thức nầy.



- Chấp bút : Trường-hợp nầy người đồng-tử cầm bút ngồi tịnh-tâm, khi chơn-linh giáng-nhập đồng-tử viết ra lời. Trường-hợp nầy có hai cách giáng-thủ và giáng-tâm. Giáng thủ là xem như chơn-linh nhập vào tay và cây bút để đồng-tử viết ra lời. Giáng-tâm là đồng-tử giao-cảm với tư-tưởng của chơn-linh giáng-đàn vào trong tâm mình rồi viết ra.



- Xây bàn : Phương-thức nầy do phái Thông-linh-học ở Tây phương du-nhập vào Việt-nam, vào khoản thập niên 1920, các công-chức Tây học hay dùng tiếp-xúc với các chơn-linh vô-hình. Có hai cách thực-hiện khác nhau :

* Quay bàn : Dùng một bàn độc mặt tròn, mặt bàn được quay trên trụ một chân, trên mặt bàn có vẽ một mũi tên, bên ngoài bàn tròn có đặt một bản đối diện với mũi tên, viết những mẫu tự ABC. . . (chữ quốc-ngữ) hay các nét chấm phảy (chữ Hán). Khi xây bàn thì một hoặc nhiều Đồng-tử ngồi đặt hai bàn tay úp lên mặt bàn, tịnh tâm, khi chơn-linh nhập thì bàn xoay mũi tên chỉ vào mẫu-tự, hoặc các nét chấm phảy rồi kết thành chữ.

* Gỏ bàn : Khi cầu thì dùng một bàn gổ 4 chân, kê hai chân đối nhau cao hơn vài phân để tạo đôï nghiêng chênh-lệch cho hai chân còn lại, một hai hoặc ba đồng-tử ngồi đối diện, đặt tay lên bàn. Tịnh-tâm một lúc, khi chơn-linh nhập, thì bàn gổ động-đậy nâng chân lên và gỏ xuống có thành nhịp một, hai, ba … tuỳ theo quy-ước, tỷ như bàn gỏ nhịp một cái là chữ A, hai nhịp là chữ B… rồi ráp lại thành vần. Lúc bấy giờ các Ngài Cao-Quỳnh-Cư, Phạm-Công-Tắc, Cao-Hoài-Sang đã dùng phương-thức nầy tiếp xúc với các Chơn-linh vô-hình và Thượng-Đế.



Tại sao cái bàn hoặc con cơ là một vật thể vô tri-giác mà cử-động được ? Theo khoa-học thì tư-tưởng nó cũng có sức nâng nổi đồ vật hửu-hình, còn gọi là thần-lực, nên thần-lực cũng là một dạng năng-lượng, mà tính-chất của năng-lượng khi chuyển-hoá có thể nhập vào một vật thể nào đó, khiến nó trở thành sống động. Nên khi cầu cơ hoặc xây bàn thì cái cơ hay cái bàn tuy là vật thể vô-tri bất-động, nhưng đã tiếp nhận hai nguồn năng-lượng, một từ đồng-tử, một nguồn năng-lượng trong không-trung là các chơn-hồn nhập vào, nên nó trở nên một vật thể di-động. Cũng giống như sự di-động của quả lắc trong khoa Cảm-xạ-học, chịu sự tác-động của hai trường năng-lượng một của con người phát ra từ nảo, một trường năng-lượng phát ra từ đối-tượng con người muốn tìm kiếm, khiến con lắc di-động hướng về phía đối-tượng. Do đó khi cầu cơ nếu đồng-tử tịnh-tâm hoàn-toàn, thì cơ viết ra theo tư-tưởng của chơn-linh nhập-đàn. Nên khi cầu cơ thì đông-tử và người hầu-đàn phải thật tịnh-tâm, thì đàn cơ sẽ không bị nhiễu-loạn bởi tư-tưởng của những người hiện-diện, như vậy bài viết ra mới hoàn-toàn là lời lẽ của chơn-linh giáng cơ. Có đôi khi muốn tránh sự tác-động của đồng-tử để bài cơ trung-thực, họ bịt mắt của đồng-tử không cho nhìn thấy những ô chữ họ chỉ, hoặc chữ đã viết ra.



CÁCH-THỨC TỔ-CHỨC MỘT ĐÀN CƠ



Muốn tổ-chức một Đàn cơ cầu Tiên phải chọn nơi thanh-tịnh, tinh-khiết và tôn-nghiêm, ban đêm càng tốt. Nhân-vật hầu đàn và đồng-tử phải tắm gội sạch sẽ, người hầu đàn phải có lòng thành kỉnh, đồng-tử phải giữ tâm thanh-tịnh tránh mọi tạp-niệm. Thành-phần gồm có :



-Một Chứng-đàn người có đạo-đức uy-tín, đứng ra điều-khiển tổng-quát buổi cầu Tiên.

-Một Pháp-đàn hay Pháp-sư điều khiển đồng-tử.

-Một hoặc hai đồng-tử, trường hợp xây bàn có thể ba bốn người.

-Một thị độc hay độc-giả để đọc chữ.

-Một người điển-ký hay từ-hàn để ghi chép.

-Một số người hầu đàn không bắt buộc cũng không hạn chế.



THÔNG-CÔNG TRỰC-TIẾP BẰNG ĐỒNG-TỬ



Ngoài phương-thức cơ-bút ra còn có nhiều phương-thức thông-công khác mà ngày nay các nhà khoa-học gọi là các “hiện-tượng ngoại-cảm”. Đó là Đồng-tử trực-tiếp với chơn-linh vô-hình bằng nhiều cách, không qua trung-gian cơ bút :

- Thông-công bằng tâm : Người đồng-tử dùng tâm để giao-cảm với chơn-linh cỏi vô-hình qua tư-tưởng, rồi nói hoặc viết lại. Còn gọi là hình-thức giáng tâm.

- Thông-công bằng tai nghe : Người đồng-tử có thể dùng tai để nghe tiếng nói của chơn-linh vô-hình, rồi nói hoặc viết lại.

- Thông-công bằng mắt : Người đồng-tử có thể thấy chơn-linh vô-hình bằng mắt, và trao đổi với chơn-linh vô-hình bằng tư-tưởng hay lời nói.



Các trường-hợp thông-công nầy do năng-khiếu thiên-phú đặc-biệt của đồng-tử, hoặc do tu-luyện mà đạt được. Các hình-thức nầy có hai trạng-thái : đồng-tử mê hoàn-toàn, xem như chơn-linh đồng-tử xuất khỏi xác, nhường hoàn-toàn thể-xác cho chơn-linh nhập-thể, còn một trường-hợp đồng-tử vẫn tỉnh-táo, chỉ giao-cảm tiếp-nhận tư-tưởng của chơn-linh vô-hình rồi truyền-đạt lại mà thôi.



Các Đồng-tử theo loại nầy thường thường chỉ tiếp-xúc với một chơn-linh nào đó, xem như đồng-tử riêng do chơn linh đó chọn lựa để nhập xác mà thôi, chứ không tiếp-xúc nhiều như kiểu cầu-cơ. Lối thông-công nầy Đồng-tử cũng không cần phải biết chữ. Có nhiều người muốn xuyên-tạc cho cơ-bút là sự giả-dối, do tư-tưởng con người viết ra, nên họ cho rằng người không biết chữ thì không thể làm đồng-tử được. Nhưng trong thực-tế nhiều đồng-tử không biết chữ, đã ngồi xác đồng khi chơn-linh nhập xác, họ đã đọc hoặc viết nên chữ, thậm chí có khi còn nói tiếng, hoặc nói theo giọng của chơn linh nhập xác, hay còn biết ăn trầu, hoặc hút thuốc theo sở thích của chơn-linh nhập xác lúc sinh tiền, mặc dù người đồng-tử trong lúc bình-thường không dùng được những thứ nầy.



Hiện nay trong nhân-gian trên khắp thế-giới đang sử-dụng, cơ-bút, đồng-tử, theo nhiều phương-thức khác nhau, và nhiều mục-đích khác nhau, như cầu tài-lợi, nhờ các vong linh chỉ hướng làm ăn hoặc mách các con số trúng thưởng trong các kỳ xổ số, cầu người thân đã lìa trần chỉ nơi chôn cất của cải, hoặc những điều riêng tư lúc chết chưa kịp cho con cháu biết, hoặc chỉ hài cốt bị thất-lạc, người đau ốm cầu xin chửa bệnh, hoặc hỏi về tương-lai, vận-mệnh của người còn sống v.v… Đó là các mục-đích sử-dụng đồng-bóng, cơ-bút chung chung của những người phàm-trần hiện nay. Nhìn chung mức-độ linh-ứng cũng không giống nhau, có trường-hợp đúng, cũng có nhiều trường-hợp sai. Chỉ có một số ít tín-đồ của nhiều tôn-giáo dùng cơ-bút để học đạo hoặc tiếp-nhận những thông-tin từ thế-giới thần-linh mà thôi.



Trên đây là sơ-lược các phương-thức của người phàm-trần tiếp-xúc với các chơn-hồn trong cỏi hư-linh từ xưa đến nay trong nhân-gian. Còn mức-độ chính-xác tới đâu, linh hoặc không linh, chánh-tín hay mê-tín là do trình độ đạo-đức, năng-khiếu hoặc sự điêu-luyện của đồng-tử, cùng cơ-duyên và sự tín-thành của người sử-dụng…



Chúng ta cũng nên biết rằng sinh-hoạt các chơn-hồn ở cỏi hư-linh cũng đủ trình-độ thứ bậc giống như nơi phàm trần, cũng có chia ra Thần, Thánh, Tiên, Phật; cũng có phân ra Yêu, Quái, Ma, Quỹ. Trình-độ nào thì liên-hệ tiếp-xúc trình độ đó do quy-luật đồng thanh tương-ứng, đồng khí tương-cầu. Nên nếu người có lương-tâm mến đạo-đức thì được tiếp-xúc với Thần Thánh, còn người gian-ác ham danh-lợi thì tiếp-xúc với ma quỹ, đó cũng là lẽ đương nhiên.



NHỮNG QUY-LUẬT SỬ DỤNG CƠ-BÚT TRONG ĐẠO CAO-ĐÀI



Vấn-đề sử-dụng cơ-bút trong cửa Đạo Cao Đài, không phải là một việc làm tuỳ-tiện như kiểu thực-hiện cơ bút ngoài nhân-gian, mà có những quy-luật khá đặc-biệt, tương-đối khắc-khe như sau :



- Những nhân-vật có trách-nhiệâm làm Đồng-tử sử-dụng cơ-bút truyền-giáo là những người được Đức Chí-Tôn trực-tiếp tuyển-chọn từ khi khai Đạo, các vị này sau nầy đều là chức-sắc Đại Thiên-phong cao-cấp trong Hiệp-Thiên-Đài đó là Hộ-Pháp, Thượng-Phẩm, Thượng-Sanh và Thập Nhị Thời-Quân và Thập Nhị Bảo-quân.

- Về sau khi ngưng cơ bút phổ-độ, Đức Chí Tôn đã quy-định sự thông công thuộc trách-nhiệm Hiệp-Thiên-Đài. Thường là để Thiêng-Liêng giải-quyết các vấn-đề quan-trọng có tính chất quyết-định của Đạo, tỷ như trường-hợp liên-quan đến thiết-lập và thi-hành luật pháp như sau:

“ . . .Như hai đàng không thuận, thì chúng nó phải dâng lên cho Hộ-Pháp đến Hiệp-Thiên-Đài cầu Thầy giáng xuống mà sửa lại…” (Trích Pháp-chánh-truyền chú-giải).

Như vậy thì các Đồng tử chính thức phải là các chức-sắc Đại Thiên phong của Hiệp-Thiên-Đài tương đương với Thập-nhị Thời-quân trở lên.

- Nơi thực-hiện đàn cơ phải tổ-chức trước Bửu-điện thờ Chí-Tôn, ngày nay phải được thực hiện tại Cung Đạo Đền Thánh Trung-ương tại Thánh-địa Tây Ninh.

- Khi sinh-tiền, Đức Hộ-Pháp cũng có cho phép một số chức -sắc cấp dưới tập thông-công bằng cơ bút, nhưng chỉ để cho cá-nhân của minh học Đạo mà thôi, không được phổ-biến cho người khác.

Còn về nguyên-tắc chung về thực-hiện và sử-dung cơ bút như thế nào, xin trích-lục nguyên bài Thánh giáo Đức Chí-Tôn đã dạy về cơ-bút như sau :



“Ngọc-Hoàng Thương-Đế viết Cao-Đài Tiên Ông Đại Bồ-Tát Ma-Ha-Tát Giáo Đạo Nam-Phương

Thủ cơ – Chấp bút

Thủ cơ hay là chấp bút phải để cho Thần, Tâm tịnh mới xuất chơn-thần ra khỏi phách, đặng đến hầu Thầy nghe dạy.

Khi chấp thủ thì tay tuân theo Chơn-Thần nói lại mà viết ra mường-tượng như con đặt-để, con hiểu đặng vậy.

Chơn-Thần là gì ?

Là nhị xác thân (Périsprit), là xác-thân thiêng-liêng. Khi còn ở nơi xác phàm thì rất khó xuất riêng ra đặng, bị xác phàm kéo níu.



Cái Chơn-Thần ấy của các Thánh Tiên Phật là huyền-diệu vô cùng, bất tiêu, bất diệt. Bậc chân-tu khi còn xác phàm nơi mình, như đắc đạo, có thể xuất ra trước buổi chết mà vân du thiên ngoại. Cái Chơn-Thần ấy mới đặng phép đến trước mặt Thầy.



Như chấp cơ mà mê, thì Chơn-Thần ra trọn vẹn khỏi xác, Thầy mới dạy nó viết chữ chi đó, nó đồ theo, Thầy nói tên chữ, xác nó cầm cơ viết ra; người đọc trật chữ, nó nghe đặng, không chịu, Thầy buộc viết lại và rầy kẻ đọc trật ấy.



Còn chấp bút, khi Thầy đến làm cho Thần con bất-định một lát, cho Thần xuất ra nghe Thầy dạy, còn tay con tuân theo mà viết, ấy là một phần của con, một phần của Thầy hiệp nhứt, mới thấu đáo Càn khôn, tinh thông van-vật đặng..



Trước khi thủ cơ hay chấp bút, thì phải thay y-phục cho sạch-sẽ, trang-hoàng, tắm gội cho tinh-khiết, rồi mới đặng đến trước bửu-điện mà hành-sự; chớ nên thiếu sót mà thất lễ. Nếu chấp cơ thì phải để ý thanh-bạch không đặng tưởng đến việc phàm . Tay chấp cơ cũng phải xông hương khử trược, tịnh tâm một lát, rồi phải để tinh-thần tinh-tấn mà xuất ngoại xác thân đến hầu dạy việc. Phải có một chơn-linh tinh-tấn mới mầu nhiệm huyền-diệu , phải trường trai mới đặng linh-hồn tinh-tấn; phải tập-tành chí Thánh,Tiên, Phật, mới phò cơ dạy đạo cho cả chúng-sanh. Kẻ phò cơ chấp bút cũng như tướng soái của Thầy để truyền đạo cho thiên-hạ. Các con đừng tưởng việc cơ bút là việc tầm thường. Còn việc truyền thần lấy điển-quang, thì ai ai cũng có điển trong mình, nó tiếp điển ngoài rồi rồi thần của nó viết ra, có khi trúng có khi trật.

Vậy khi nào chấp cơ thì phải đợi linh Thầy rồi sẽ thi-hành.

(Thánh-giáo ngày 03/ 01/1926. Trích TNHT/ Q1/ trang 6-7).



Theo bài Thánh-giáo trích-dẫn trên đây thì việc sử-dụng cơ-bút trong cửa Đạo Cao-Đài đòi hỏi nhiều điều-kiện khá đặc-biệt sau đây:



- Đồng tử phải là người có tinh-thần đạo-hạnh trong sáng, phải tinh-tấn chí Thánh, tâm-thần phải thanh-tịnh.

- Chơn-thần của đồng-tử phải xuất được ra ngoại xác thân, điều nầy có được là do thiên-phú, hoặc do thiền-định tịnh-luyện đến độ tinh-tấn, rồi nhờ các đấng Thiêng-liêng khai mở khiếu huyền-quang nơi nê-huờn cung (mỏ-ác) thì chơn-thần (nhị xác-thân) mới xuất ra được để tiếp-xúc với các Đấng Thiêng-Liêng.(Theo Thiêng-Liêng Hằng Sống).



- Nên khi mới khai đạo các đồng-tử đều do Đức Chí-Tôn chọn lựa. Đó là những tướng soái của Thầy truyền đạo xuống thế-gian. Nên về sau các đồng-tử nầy đều là chức-sắc Đại Thiên-phong của Hiệp-Thiên-Đài đó là Hộ-Pháp, Thượng-Phẩm, Thượng-Sanh và Thập Nhị Thời-Quân. Ngày nay các chức-sắc Đại Thiên-phong của Hiệp-Thiên-Đài đã quy-thiên chưa được Đức Chí-Tôn tấn-phong thay thế, nên vị-thế các đồng-tử chính-thức của nền Đạo còn đang để trống.



- Địa-điểm thiết-lập đàn-cơ luôn đặt trước bửu-điện thờ Đức Chí-Tôn, là nơi hoàn-toàn thanh-tịnh, tinh-khiết. Ngày nay là tại Cung Đạo Toà Thánh Tây-ninh.



MỘT SỐ DIỄN-TIẾN LIÊN-QUAN ĐẾN CƠ BÚT TRONG ĐẠO CAO-ĐÀI.



Trong buổi đầu khai Đạo Đức Chí-Tôn đã dùng cơ bút để truyền đạo thâu nhận đệ tử, gọi là cơ bút phổ-độ, nhưng đến khi Đạo đã hình-thành có đông-đảo tín-đồ, có Hội-Thánh có đủ cơ-cấu Hành-chánh và Pháp chánh tức là đã đủ hai quyền Hành-pháp và Tư-pháp, thì Đức Chí-Tôn đã ngưng cơ bút phổ-độ. Vào ngày 01 tháng 06 năm 1927 (Đinh-mão) Đức Chí Tôn giáng cơ dạy rằng :



“Còn cuối kỳ tháng sáu đây thì Thầy phải ngưng hết cơ bút truyền Đạo, các con sẽ lấy hết chí-thành đã ung-đúc bấy lâu mà lần-hồi lập cho hoàn-toàn mối Đạo” (TNHT/ Q1/ trang 103 / giòng 23-26).

“Trước khi ngưng cơ, Thầy đã cho lịnh dùng cơ bút thế nào…”

Do đó từ đây công việc phổ-độ và giáo-hoá chúng-sanh Đức Chí-Tôn giao lại cho Hội-Thánh, Đức Chí-Tôn cũng đã dạy rằng :

“T…,T.., C…, Từ đây nên liệu chừng nhau mà điều-đình gánh Đạo, điều nào theo Tân-luật, do Thánh-ý, hiệp lòng chư đạo-hửu, bổ-ích cho nền Đạo thì các con nên thung-dung liệu nhau mà thi-hành, chẳng cần phải đợi cầu hỏi (TNHT/Q1/trang 103).



Như vậy cơ bút không còn dùng để truyền đạo, mà chỉ dùng cho những trường-hợp đặc-biệt của Đạo như Phong Thánh và cầu xin Chí-Tôn cùng các Đấng Thiêng-liêng giải-quyết các vấn-đề cực-kỳ quan-trọng mà Hội-Thánh không quyết-định được mà thôi.

Sư tam

DaoKy
05-01-2005, 09:58 AM
Như chúng ta đã biết trong thế-giới vô-hình có Thần Thánh Tiên Phật mà cũng có Yêu Quái Ma Quỹ. Nên trong sự sử-dụng cơ bút Đức Chí-Tôn cũng đã cảnh-giác rằng Ma-Quỷ sẽ lợi dung danh-nghĩa Thần Thánh mà truyền-bá những điều ma-giáo phá hại chánh-đạo, nên Thánh-giáo Đức Chí-Tôn đã dạy rằng :



“Buổi Bạch-Ngọc-Kinh và Lôi-Âm-Tự lập Pháp Tam-Kỳ Phổ-Độ, Quỷ-Vương đã khởi phá-khuấy chơn Đạo. Đến danh Ta nó còn mượn, duy ngai Ta nó chẳng dám ngồi mà thôi.



Lại còn hiểu rõ rằng Ta đến với huyền-diệu nầy, mượn cơ mầu-nhiệm, hiệp Tam-thập-lục-động đổi gọi Tam-Thập-lục-Thiên các tên chư Thần Thánh Tiên Phật bị mạo nhận mà lập nên Tả-Đạo” (TNHT/Q1/trang 38)



Theo Thánh-giáo đã trích dẫn trên, Đức Chí-Tôn cho biết rằng Đạo khai thì Tà khởi để khuấy-phá, thử-thách khảo dượt những người tu-hành, nên Quỷ-vương cũng có thể mượn danh Thượng-Đế và Tiên Thánh, cũng dùng huyền-diệu cơ-bút để dối gạt chúng-sanh, nhưng chỉ có một điều chắc-chắn để phân-biệt thật giả đó là ngai của Thượng-Đế tức là các Đồng-tử mà Thượng-Đế đã chọn lựa thì Ma Quỷ không dám nhập vào mà thôi.



Tuy Đức Chí-Tôn đã cảnh-giác như thế, nhưng về sau cũng có những chức-sắc vẫn còn dùng cơ bút, mà Đồng-tử không phải là những người của Đức Chí-Tôn chọn lựa, đã làm cho một số nhơn-sanh mất đức tin, nên Đức Chí-Tôn cũng đã khiển-trách như sau :



“Các con đã từng nghe lời Thầy khuyên-nhũ về chuyện ngừa cơ bút, thế mà một phần chẳng chịu sửa cải đường ngay cho khỏi lâm vào nẻo tà mị, đã vi lịnh Thầy mà dìu-dắt các con lạc bước, Thầy cũng đại lụy mà ngó xem một phần môn-đệ xứng-đáng của Thầy phải sa vào vực thẳm. Các con nên ghi nhớ mà coi chừng đường lối sau này”



C… Thầy cấm từ đây chẳng nên lấp-lửng cầu cơ hay chấp bút chi, vì là một sự hại lớn lao cho Đạo. Đã phá đức tín-ngưỡng của chúng-sanh, lại làm cho nhơn sanh bị nhơ-trược. (TNHT/ Q 2/ trang 48).



Đó là những nguyên-nhân chính-yếu mà Đức Chí-Tôn đã hạn chế việc dùng cơ-bút một cách tuỳ-tiện và bừa-bải do những người không phải là Đồng-tử do Đức Chí-Tôn chọn lựa.



SỰ THÔNG-CÔNG VỚI CỎI SIÊU-LINH NGOÀI NHÂN-GIAN



Hiện nay hiện-tượng sử-dụng Đồng-tử và cơ-bút rất là phổ-biến, từ cá-nhân đến các tổ-chức Giáo-Hội của nhiều Tôn-giáo, trên khắp thế-giới đã phổ-biến những Thông-điệp tiếp nhận từ Thế-giới Siêu-linh của các Thần Thánh Tiên Phật như Di-Lặc, Thích-Ca, Lão-Tử, Khổng-Tử, Jésus… cùng các Vị khi còn sinh-tiền đã có nhiều đóng góp tích-cực cho quốc-gia xã-hội như : Mahatma Gandhi, Tôn-Trung-Sơn… cùng nhiều thi-nhân như Lý-Thái-Bạch, Victor Hugo… các Tướng-lĩnh như : Quan-Công (Quan-Vân-Trường) Trần-Hưng-Đạo… các bậc nữ nhi như : Jeanne D’ Arc, Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Bà Chúa Liễu-Hạnh… thậm chí đến các vị khi sinh-tiền là những nhà khoa-học, y-học như : Louis Pasteur, Hải-Thượng Lãn-Ông… cũng điều có giáng-cơ, hoặc dạy đạo-đức, hoặc cho thuốc chữa bệnh…



Hiện-tượng nầy theo giải-thích của Cao-Đài-giáo thì trong thời buổi Tam-Kỳ Phổ-Độ tất-cả chúng-sanh kể cả Thần Thánh Tiên Phật trong ba cỏi phàm-trần, trung-giới, và thượng-giới đều phải tuỳ duyên mà lập công bồi đức để cao thăng Thiên-vị. Sự lập công nầy có hai trường-hợp thực-hiện : phần người trần-gian thì làm việc hửu-hình, còn các chơn-linh cỏi vô-hình thì nương vào yểm-trợ người trần-thế để họ cũng có dịp lập công. Nên trong Phương-châm Hành Đạo Đức Quyền Giáo-Tông Lê-Văn-Trung khuyên rằng phần hửu-vi chúng ta cần lập công bồi-đức bằng cách làm các việc thiện cụ-thể để cho các Đấng Thiêng-Liêng họ có dịp hổ-trợ cho mình cũng tạo cho họ có cơ-hội lập-công. Hiện nay chúng ta thường thấy những trường-hợp ngoại-cảm, chửa bệnh, chỉ mồ-mả thất-lạc trong chiến-tranh, hay mất của, thường là được nhiều người tin dùng và cũng nhiều ứng-nghiệm nhất. Nhưng nhiều nơi cũng chỉ linh-ứng trong một thời-gian nào đó, rồi cũng hết hiệu-quả, bởi vì do người chủ-trì thường hay lợi-dụng hiện-tượng nầy để trục-lợi nên Thần Thánh cũng xa rời không tiếp-trợ nữa.



LÀM THẾ NÀO ĐỂ PHÂN-BIỆT CƠ-BÚT THẬT HAY GIẢ ?



Nhiều người đặt vấn-đề là ngày nay việc sử-dụng cơ bút tràn lan, làm sao phân-biệt thực giả, điều nầy chúng ta có một số nguyên-tắc phân-biệt sau đây :



A.- Phân-biệt chân giả trong cửa Đạo :



Trong cửa Đạo Cao-Đài cũng có chân giả nên Đức Chí-Tôn cũng đã dạy rằng :

“Khi nào chấp cơ thì phải đợi lịnh Thầy rồi sẽ thi hành”,

Câu nầy rất có nhiều ý-nghĩa và nhiều phương-thức khác nhau để giám-định sự thật giả, chúng ta cần đi sâu vào một số tiêu-chuẩn quy-định rõ-ràng chi-tiết sau đây :

a)- Như chúng ta đã biết ngoài kênh cơ bút ra còn nhiều kênh khác để tiếp-xúc với Thượng-Đế, nên chúng ta cũng có thể nhận chỉ thị của Thượng-Đế theo các kênh nầy để phối-kiểm mệnh-lệnh tiếp nhận từ cơ-bút.

b)- Linh tâm là Đền ngự của Thượng-Đế vì đã có câu : “Trong lòng Thầy ngự động Thầy hay”

Nên chúng ta cần giữ-gìn linh-tâm định tỉnh từ hoà để đón nhận những mặc-khải và sự dạy bảo của Thượng-Đế, nhất là những vấn-đề có liên-quan đến hành-động.

c)- Các mệnh-lệnh ban ra từ Cơ-bút, thì Cơ-bút đó phải do các Đồng-tử là chức-sắc cao-cấp của Hiệp-Thiên-Đài từ Thập Nhị Thời-quân trở lên phò-loan.

d)- Nơi giáng cơ phải là tại Cung Đạo Toà-Thánh Tây-ninh. Vì Đức Chí-Tôn đã chỉ-thị một cách tổng-quát rằng : “. . .chi chi cũng tại Tây-ninh đây mà thôi. . .(TNHT/Q1/Trang 91)

Đức Chí-Tôn đã có chỉ-thị cấm tất-cả việc sử-dụng cơ-bút ngoài các quy-định nêu trên, nên tất cả các cơ bút không xuất phát từ các chức-sắc Đại Thiên-phong của Hiệp-Thiên-Đài Toà-Thánh Tây-ninh và không có sự phổ-biến chính-thức của Hội-Thánh thì tín-đồ không được tin dùng.



B.- Phân-biệt chân giả ngoài thế-gian :



Còn các hiện-tượng Đồng cốt, cơ-bút ngoài thế-gian thì có những phương-thức nhận-định như sau :



- Quan-sát tìm-hiểu tôn-chỉ mục-đích của các cá-nhân hay tổ-chức sử-dụng và phổ-biến những thông-tin từ đồng-tử hoặc cơ bút để đánh giá những thông-tin đó.

- Kết-hợp giữa huyền-linh và khoa-học để đánh giá : Khi nào tiếp-nhận một thông-tin từ cỏi siêu-linh, trực-tiếp từ đồng-tử hay tứ cơ-bút, chúng ta nên dùng phương-pháp suy-luận của triết-học là kết-hợp giữa trực-giác và lý-trí bổ-sung cho nhau để nhận-định, tức là kết-hợp giữa huyền-linh và khoa học để đối-chiếu mà phân-tích vấn-đề.

- Thông-tin đó phải vô-tư, vừa hợp lý, vừa cận nhân-tình : Tất cả những thông-tin từ Đồng-tử và cơ-bút thì phải tránh xa danh-lợi, vừa thích-hợp với đạo-lý vưà cận nhân-tình, vừa lý-tưởng vừa thực-tế. Phải phuc-vụ hửu ích cho chúng sanh.

- Thông tin phải có tình-chất trung-dung không cực đoan, quá khuynh tả hay quá khuynh hửu. Thích-nghi với lẽ Đạo, tức là chú trọng phần thực-hành. Vì Đức Hộ-Pháp Pham-Công-Tắc đã dạy rằng :

“Đạo không phải nơi lời nói, mà tại nơi kết-quả sự thật mình làm. Chẳng phải nơi câ kệ câu kinh mà tại hành-vi người giữ đạo. Cái khó khăn của đạo chẳng ở nơi giảng dạy, mà ở sự thực-hành. Cái hay của đạo chẳng phải tại nơi yếu-lý, mà ở nơi kết-quả sự giáo-truyền” (Trích Phương tu Đại-Đạo).

Lời dạy trên đây tuy là ứng-dụng một cách tổng-quát trong đường hướng tu-hành, nhưng cũng có thể làm tiêu-chuẩn trong việc nhận-định sự chân giả của đồng-tử và cơ-bút. Nếu dù lý-thuyết đó hay ho bao-nhiêu mà không giúp ích-gì cho chúng-sanh trên bước đường thực-hành đạo hạnh thì cũng chỉ là giả-dối.

- Trước các hiện-tượng tiên-tri của đồng-tử và cơ bút : Như chúng ta đã biết các hiện-tượng nầy dù là ma quỷ cũng chỉ có thể nói đúng những việc đã xảy ra trong quá khứ mà thôi. Còn chuyện tương-lai là thuộc về thiên-cơ, mà “thiên cơ thì bất khả lậu” . Đức Chí-Tôn đã cho biết rằng dù cho một vị Đại-la Thiên Tiên hay Cổ Phật cũng không có quyền tiết-lộ thiên-cơ. Nên tất cả các đồng-tử và cơ-bút tiên-tri về tương-lai chúng ta không nên cả tin.

Trên đây là một số tiêu-chuẩn tổng-quát để phân biệt các hiện-tượng đồng-bóng và cơ-bút để phân-biện biết đâu là chân-thật hoặc giả-dối.



PHƯƠNG-THỨC SỬ-DỤNG CƠ-BÚT MỘT CÁCH HỬU-HIỆU



Theo kinh-nghiệm của nhiều người đã sử-dụng cơ-bút thì có một một số điều-kiện tiên-quyết sau đây :

- Đồng-tử : Theo nghĩa đen của hai chữ Đồng-tử là kẻ trẻ con, tức là những đồng-nhi niên-thiếu còn trong trắng, tinh-anh, vô-tư, chưa có nhiều dục vọng, chưa nhiễm một định-kiến một triết thuyết nào.

Các Triết-gia của Tiên-giáo, Nho-giáo thời xưa lấy sự hồn-nhiên vô-tư vô dục của con trẻ làm tiêu-chí tối cao của sự tu-dưỡng :

“Người có đức dày thì như con đỏ” (Hàm đức chi hậu, tỉ xích tử /Lão-tử Đạo-đức kinh/Thiên hạ/55).

”Bậc đại nhân không đánh mất cái lòng của đứa con đỏ” (Bất thất kỳ xích tử chi tâm/Mạnh-tử).

Các Tiên-gia thời xưa đã dựa trên tiêu-chuẩn đó mà tuyển chọn và huấn-luyện người phò-cơ chấp-bút, nên mới đặt tên những người ấy là “đồng-tử”. Vì tâm họ còn hư-tỉnh thuần-phát, hay là sự tu-dưỡng của họ đã đạt đến chỗ thanh-tỉnh, đại định, như thế sẽ không làm ảnh-hưởng đến lời chỉ giáo của Thần Tiên, hay làm nhiễu-loạn những thông-tin phát từ cỏi siêu-linh qua đồng-tử và cơ bút.



Đó cũng là lý-do chúng ta hiểu rằng vì sao buổi đầu khai-nguyên của nền Đạo, Đức Chí-Tôn lại không dùng số đồng-tử trong những đàn cơ của các tôn-giáo sẵn có, mà tuyển-chọn các đồng-tử trong nhóm tây-học đang làm công-chức cho Nhà-nước thuộc Pháp, chưa biết một tí gì về các triết-thuyết cùng phương-pháp hành-đạo và tu-luyện của Tam-giáo, Ngũ-chi. Cũng như lúc bấy-giờ Đức Chí-Tôn đã thâu nhận Ông Trần-Văn-Tạ đang làm công-chức cho Pháp không biết gì về thuốc men chữa bệnh, mà giao cho ông chữa bệnh cho bá-tánh, Ngài dạy ông rằng :



“Thầy giao khổ bịnh nhơn-sanh cho con. Thầy lấy nhà con làm Thánh-thất của Thầy”.

Do đó chúng ta mới vững tin rằng tất-cả Giáo-thuyết, Giáo-lý, Giáo-pháp của Đại-Đạo Tam-Kỳ Phỗ-Độ (Cao-Đài-giáo) ban ra từ buổi đầu bằng cơ bút và bằng mặc khải để truyền-bá Đạo xuống thế-gian là hoàn-toàn của Đức Chí-Tôn truyền đạt qua một nhóm đồng-tử chưa có một tí định-kiến, hoặc một sự hiểu biết nào về tôn-giáo.



Theo sự định nghĩa của danh-từ Đồng-tử nêu trên, nếu chúng ta muốn sử-dụng cơ-bút một cách linh-ứng thi đều then chốt là phải chọn-lựa đồng tử theo các tiêu chuẩn sau đây :



- Đồng tử phải là những người có thiên-phú xuất chơn thần ra ngoại xác thân, như sinh-tiền của Đức Hộ-Pháp Phạm-Công-Tắc đã có được khả-năng nầy, vì trong tuổi nhỏ, có những lúc Ngài đã “thiếp” đi mê mang như là một giấc ngủ bắt-buộc sau một hồi mới tỉnh lại, sau nầy khi Đức Chí-Tôn thâu nhận Ngài làm đệ tử đã dạy Ngài tham-thiền nhập định và khai khiếu huyền quang nơi Nê-huờn-cung để Ngài xuất chơn thần lên tiếp cận với Đức Chí-Tôn, đã học ở Chí-Tôn những điều bí yếu bí-trọng (Theo Con đường Thêng-liêng hằng sống).



- Nếu không phải là trương-hợp thiên-phú nêu trên thí đồng-tử phải là người tham-thiền tịnh luyện, nếu chưa xuất chơn-thần ra khỏi xác thân được, thì cũng đạt đến chổ đại-định, thì làm đồng-tử mới linh-ứng.

- Cần có những Đồng-tử ít nhứt phải là một người không hiểu biết một tý gì về những thông-tin hay vấn-đề đón nhận từ cỏi siêu-linh.

- Có người hỏi rằng nếu như vậy thì dùng trẻ con chưa biết gì, làm đồng tử có được không ? Theo kinh-nghiệm thực-tiển thì những trường-hợp dùng đồng-tử bằng trẻ vị thành niên đều thất-bại, mà đôi khi còn nguy-hại đến chúng nó nữa. Ví tình-trạng Tinh Khí Thần của trẻ em chưa phát-triển đầy đủ, nôi-lực còn yếu kém, sẽ không chịu đựng nổi của điển-lực bên ngoài nhập vào, dễ khiến cho trẻ hoá ngớ ngẫn điên-loạn rất nguy-hiểm. Vi có nhiều trường-hợp người đã thành-niên mạnh-khoẻ, sau khi chơn-linh nhập xác xuất ra, đồng-tử đã bị yếu sức mệt mỏi cả mấy ngày liên-tiếp rất là tổn hại cho sức khoẻ.

- Các trường-hợp cầu-cơ dùng hai đồng-tử hoặc xây bàn dùng hai hay ba đồng-tử trở lên thì các thông-tin nhận được sẽ trung-thực hơn, vì ít bị ảnh-hưởng tư-tưởng một chiều của một hai đổng-tử bị vọng động.



KẾT-LUẬN



Trên đây là khái-niệm về hiện-tượng thông-công giữa cỏi hữu hình với thế-giới siêu-linh bằng khả-năng ngoại cảm của con người, hay của đồng-tử qua trung gian của cơ-bút trong nhân-gian nói chung và trong cửa Đạo Cao-Đài nói riêng, đó là một hiệân-tượng có thật, và kết-quả của nó dường như cũng đủ sức làm cho con người tin-tưởng.



Nhưng đây cũng là con dao hai lưỡi, trong lãnh-vực tôn-giáo thì nó là phương-tiện tiếp-xúc với Thượng-Đế và Thần Thánh Tiên Phật, mà cũng là phương-tiện tiếp xúc với Sa-tăng cùng Yêu Tinh Ma Quỷ, vì thế cơ-bút là phương-tiện lập đạo, mà cũng là phương-tiện phá đạo tùy nơi người sử-dụng nó.

Bởi vì thế mà ngay khi khai Đạo Đức Chí-Tôn cũng đã cảnh-giác một cách rõ ràng rằng :



“Các con đừng tưởng cơ bút là việc tầm thường”, tức là Đức Chí-Tôn đã khẳng-định rằng cầu-cơ chấp-bút là một việc làm rất hệ-trọng, chớ nên sử-dụng nó một cách khinh-suất, và cũng để tránh những nguy hại cho đạo, vì Ma Quỷ có thể lợi-dụng làm mất đức tin của nhơn-sanh, nên Đức Chí-Tôn đã nghiêm cấm như sau:



“Thầy cấm từ đây các con chớ nên lấp lửng cầu cơ chấp bút chi, vì là một sự hại lớn-lao cho đạo”.

Còn trong nhân-gian tuy là một hiện-tượng có thật, rất nhiều dân-tộc kể các nền văn-hoá và tín-ngưỡng cùng trình-độ kiến-thức khác nhau tin dùng, vì cũng có những trường-hợp hửu-ích nào đó, nhưng cũng là một phương-tiện dễ bị kẻ xấu lợi-dụng cho mục-đích tư-lợi bất chánh của mình, bởi nó hư-hư thực-thực khó phân-định ranh-giới của chánh tà, nên chúng ta cũng cần đề cao cảnh-giác, đừng để họ dắt-dẫn chúng ta vào sự mê tín dị-đoan.



Ngay trong cửa Đạo theo chúng ta nhận thấy đã đến lúc không còn cần dùng cơ-bút nữa, bởi vì từ khi lập đạo cho đến trước khi ngưng cơ-bút, trải qua một thời-gian dài bảy năm Đức Chí Tôn đã un-đúc bố-hoá đầy đũ rồi, nên Ngài đã dạy rằng:



“ Các con sẽ lấy hết chí-thành đã un-đúc bấy lâu mà lần hồi lập cho hoàn-toàn mối đạo” (TNHT/Q1/trang 1020).

Một lần khác Đức Chí-Tôn cũng đã dạy thêm rằng :

“Từ đây nên liệu chừng nhau mà điều-đình gánh đạo, điều nào mà theo Tân-luật do Thánh-ý, hiệp lòng chư đạo-hửu, bổ-ích cho nền Đạo thì các con cứ thung-dung liệu nhau mà thi-hành, chẳng cần phải đợi phải cầu hỏi.” (TNHT/Q2/trang 48).

Bởi vì cơ bút nó cũng có những nhược-điểm là nếu sử-dụng một cách tuỳ-tiện bừa-bãi, dễ dắc-dẫn con người lầm-lạc vào Tả-đạo, nên Đức Chí Tôn cảnh-giác rằng:

“…Nếu chẳng giữ theo lẽ chánh mà hành Đạo, và bày biện nhiều sự vô lối, thì trong ít năm sau đây, sẽ trở nên một mối Tả-đạo” (TNHT/Q2/ Trang 42) .



Lại nữa theo luật-pháp Đạo quy-định thì những người có quyền điều-hành cơ-bút trong Đạo phải là các chức-sắc Đại Thiên-phong của Hiệp-Thiên-Đài từ phẩm Thập-Nhị Thời-Quân trở lên, nhưng số nầy đã quy Tiên, mà vẫn chưa được Đức Chí-Tôn tấn-phong thay thế, đó là một điều hiển-nhiên chứng tỏ rằng cơ-bút không còn là phương-tiện cấp-thiết nữa.



Có người cho rằng không có cơ-bút thì không có Đạo Cao-Đài, đều nầy chỉ đúng một phần nào đó, chứ thật ra trước đây các Đấng Giáo-chủ, các Vị Tiên-Tri đã giao-cảm với Thượng-Đế qua những “kênh” khác nhau, đã khai sáng ra các Tôn-giáo lưu-hành cả mấy nghìn năm, ngay hiện nay cũng vậy, từ ngày Đức Hộ-Pháp và các Vị chức-sắc Đại Thiên-phong của Hiệp-Thiên-Đài quy Thiên chưa được thay thế, nhưng sự tương-giao giữa Thượng-Đế, Thần-linh với con người vẫn tiếp-nối liên-tục, vì Thượng-Đế đến với con cái của Người bằng ân-sủng, còn Con người đến với Thượng-Đế bằng đức tin và tấm lòng hiếu-hạnh, sự tương-liên hai chiều nầy vẫn luôn luôn duy-trì vượt thời-gian và không-gian, không bao giờ gián-đoạn, nhất là trong những thập niên gần đây, hiện-tượng tương-giao lại vượng lên dưới nhiều hình-thức khác nhau bằng tham-thiền nhập-định, bằng trầm tư mặc-tưởng đón nhận những mặc-khải nội tâm vẫn luôn diễn ra trong nhiều chức-sắc, tín-đồ hửu công hửu đức. Nên chúng ta đừng tưởng rằng không có cơ-bút là cắt đứt sự tương-giao giữa Thượng-Đế và con người.



Hết



(Trích BTÐÐ - CQTGCÐHN 2002)

DaoKy
05-01-2005, 10:04 AM
Kỳ sau :

LÀM SAO ÐIỂU KHIỂN MỘT BUỔI CẦU HỒN