DaoKy
03-01-2005, 12:42 PM
THUYẾT MINH THÁNH ĐẠO
http://www.banthedao.org/ContentVN/0041/IM0001.jpg
Nam Mô CAO ĐÀI TIÊN ÔNG ĐẠI BỒ TÁT MA- HA- TÁT
THUYẾT MINH THÁNH ĐẠO
Kính thưa Quý Đồng Đạo, Đọc giả Website Ban Thế Đạo,
Công trình khảo cứu về Thánh Đạo của Tác giả Phạm Minh Ngọ (Truyền Trạng HTĐ) đã được in thành sách xuất bản năm Canh Dần (1950), được phê duyệt của Đ ức Hộ Pháp như sau: “Phê chuẩn và cho ấn tống toàn Đạo và để lời khen Truyền Trạng thuyết minh Giáo lý”.
Nội dung sách gồm hai phần:
- Phần I : Thuyết minh Thánh Đạo.
- Phần II: Tam Giáo Thiên Đạo - Phương Tu Tân Pháp
Website Ban Thế Đạo sẽ lần lượt cho đăng nội dung trên để Quý Đồng Đạo cùng Đọc giả có thể nghiên cứu tham khảo thêm để tìm hiểu về Đạo Cao Đài.
Website Ban Thế Đạo
Hình : CHÂN DUNG ĐỨC KHỔNG PHU TỬ
_______________
LỜI TỰA
Từ Bàn Cổ sơ khai đến nay, biết bao phen loạn lạc gây họa chiến tranh, biết bao trận khói lửa binh đao long Trời lỡ đất, làm cho mặt thế đổi màu, bể huyết non thây, thần sầu quỷ khóc. Ấy cũng bởi Tam Giáo thất chánh, nhân loại bị thất kỳ truyền, mới khiến cho Đời xa Đạo, nhơn sanh mất cả bản tánh thiện lương, xa hẳn với bản căn Thiên tánh.
Thế là phàm chất đã lấn hơn Thánh chất, Nhân đã lụn, Đức đã tàn, con người chẳng giữ được mối thương yêu là giềng bảo sanh càn khôn thế giới, mới sanh ra oán ghét nghịch thù, tranh thắng, giành hơn, cấu xé tàn sát lẫn nhau, rồi đem thân người mà làm mồi cho loài chim loại cá.
Thương hại thay cho Đời tàn bạo! Khốc hại thay cho nhân loại bất lương! Càng tàn bạo, càng bất lương thì tai họa gớm ghê càng thêm chất nặng.
Đời Hạ Nguơn hổn độn, nhơn loại lành ít dữ nhiều, tai họa chiến tranh khắp chốn, khổ nạn đói rách khắp nơi, kiếp sống khó mong no dạ, thân chết chưa chắc toàn thây; thảm thương thay cho đám lương sanh còøn đương lẫn lộn.
Đời thế ấy, nhơn loại thế ấy, nếu chẳng có Thiên Đạo dìu Đời chẳng đem giọt nước nhành dương mà tưới tắt lửa lòng của nhơn loại thì chi cho khỏi ngọn hung quang toả khắp hoàn cầu hủy thiêu cuộc thế.
Cơ lập Đạo nhiệm mầu vô giá, chẳng có Đạo, chẳng nên Đời, Đạo chẳng nên,Đời chẳng rạng mà từ xứa đến nay chẳng thiếu; Đời bao phen loạn lạc thì Đạo cũng mấy lượt hoằng khai để thức tỉnh nhơn sanh phục hưng thế cuộc.
Ví như trong buổi Trung Nguơn, vì Tam Giáo thất chánh, nhơn loại bị thất kỳ truyền, Đời biến sanh hổn độn, thì có Đức Thích Ca, Đức Lão Tử, Đức Khổng Tử ra đời chấn hưng Tam Giáo Đông phương; Đức Giêxu chỉnh đốn Thánh Đạo phương Tây, rồi nhơn loại mới nhờ nơi Giáo lý Bác Ái từ tâm, gương Đạo đức phải lành của các Đấng ấy mà thức tỉnh hồi tâm, người dữ hóa lành, đời loạn ly trở nên bình trị.
Đến nay là thời kỳ Mạt kiếp cuối cùng, Hạ Nguơn hầu mãn, nhưng đời chưa dứt, thế chưa tận, thì lẽ cố nhiên có cuộc tuần hoàn vận chuyển, Thiên Địa hoằng khai Đại Đạo gọi là Tam Kỳ Phổ Độ cho phù hợp với cơ Tái Tạo Nguơn Qui Cổ hầu có chuyển Đạo lập Đời, Qui Nguyên Tam Giáo, mà cứu vớt lương sanh thoát vòng khổ hải.
Vì bởi Nhơn loại thiếu Nhân, thiếu Nghĩa, mất cả bản tánh Thiện lương, mới sanh lòng tham lam tàn ác, xu hướng theo giả lợi, giả danh thêm khổ cho Đời, sái hẳn với cơ công bình Thiêng liêng Tạo Hóa; nên Đại Đạo Kỳ Ba mới đem ruộng Nhân, giống Nghĩa khuyến khích Nhơn loại cấy cày, mong nhờ kết quả nhập Thánh siêu phàm hầu có dựng nên cuộc thế, bổ cứu cho Đời, diệt tận can qua, lập hòa bình Thế giới.
Nhân Nghĩa vốn là tánh đức hóa dục của Trời, nên chi Đời cần phải có Nhân, có Nghĩa vạn loại mới hòa bình, nhơn loại mới ấm no, sanh linh mới thoát cơ tận diệt.
PHẦN I
THUYẾT MINH THÁNH ĐẠO
Thánh Đạo vốn có từ đời Thượng Cổ, sau khi Chí Tôn khai Thiên lập Địa. Đạo có trước rồi mới sinh ra Đời; ấy là có Đạo mới nên Đời.
Trong buổi Thượng Nguơn, càn vô đắc khán, khôn vô đắc duyệt, con người chỉ có hành Đạo nơi phương mình, là học đòi theo Thánh đức và sở hành của các bậc Đế vương thường ở gần mình là đủ, và cũng bởi thuở ấy con người còn giữ vững Thánh đức Thiện Lương, nên sự tu hành và đạt Đạo rất dễ dàng vì vậy mà gọi Thượng Nguơn là Nguơn Thánh Đức.
Qua đến đời Phục Hy, Thần Nông, chí đến Nghiêu, Thuấn, con người vẫn hưởng thái bình an cư lạc nghiệp mà Thánh Đạo cũng khỏi thống hệ kỷ cương, Chơn vi vẫn được lưu truyền đời nầy qua đời nọ, ấy là Nhứt Kỳ Phổ Độ.
Đến gần cuối Thượng Nguơn, gần bắt đầu qua Trung Nguơn là Nguơn tự diệt, cơ đời sắp biến đổi, Thánh Đạo vì đó mà phải biến thiên, nên Chí Tôn mới khai Nhị Kỳ Phổ Độ, để cho Đức Khổng Phu Tử chấn hưng Thánh Đạo, lập chơn truyền Nhơn Đạo, hầu có sửa trị Đời và dìu người theo đường Đạo đức.
Cả Chơn vi của Nho giáo đều tóm thâu qua hai chữ Thiên Mạng mà thôi, vì vậy mà con người cần phải biết có Trời là Chúa tể vạn linh sanh chúng tức nhiên cả số mạng căn phần của cả thảy lương sanh do Chí Tôn dĩ định.
Đạo Thánh rất cao siêu huyền bí, nên chi trong đời chỉ có bậc Thánh Nhân mới biết được phương pháp tồn Tâm, dưỡng Tánh, là hằng ngày chẳng giờ phút nào làm một việc chi trái với mạng Trời đã định, chỉ để trọn Tâm linh phối hợp với mọi lẽ huyền vi của Tạo Đoan; ấy là đạt được Đạo, mà đạt được Đạo tức là cầm trọn nơi tay cả số mạng và căn phần của mình vậy.
Nho Giáo đem con đường Thánh Đạo mà phân ra Tu Thân, Tề Gia, Trị Quốc, Bình Thiên Hạ, nhưng trong con đường Tu lại chia ra làm hai phần, phần Thượng học cao siêu triết lý là phối hiệp với Tạo Đoan để đạt đắc huyền vi mầu nhiệm; còn phần Hạ học là thực dụng hằng ngày để phối hiệp với vạn loại và vạn vật, song dầu cho Thượng học hay là Hạ học cũng chỉ lấy Linh Tâm làm chủ đích.
Rất tiếc thay! Sau khi Đức Khổng Tử và Mạnh Tử qua đời, thì chơn truyền Nho giáo cũng chẳng bao lâu lần hồi thất chánh. Chư hậu Nho chỉ biết lạm dụng văn nho để tô điểm cho đường chánh trị, mưu cầu lấy sự phú quý vinh hoa, chẳng hề để ý đến điều siêu việt triết lý nhiệm mầu; thành thử đến Hạ Nguơn là thời kỳ văn minh vật chất lan tràn, làm cho cang thường biến đổi, luân lý suy đồi, con người xu hướng theo điều lợi, nẻo danh, chẳng mấy ai sùng tu nền Thánh Đạo.
Cũng may thay! Tuy là Thánh Đạo đã thất truyền, Nhơn Đạo đã biến thiên, song ảnh hưởng hãy còn, danh thể chưa dứt, thì sự chấn hưng Nhân Đạo cùng gầy dựng Thánh Đạo lại cho hoàn toàn, cho phù hợp với Nguơn Tái Tạo, với lẽ tuần hoàn Quy cổ cũng chưa là tuyệt vọng.
Chư hậu Nho đã đem hết tài học hiểu để tranh luận cùng chú giải Đạo Nhân, nhưng xem kỹ lại thì bao nhiêu lý lẽ gồm trong muôn sách, ngàn kinh chẳng chỉ qua là Tâm với Tánh. Vậy trước khi học Đạo cần biết Tâm là chi, Tánh là gì, cần phải biết nguồn cội của con người; rồi mới do theo phương pháp khoa học ( Methode scientifique) là bước sơ khởi của người Tu, mà tự chính Tâm linh tầm đường Chánh Đạo.
I- TÂM, TÁNH
Sau khi khai Thiên lập Địa, phân càn Khôn Thế Giái, sanh hóa vạn loại muôn loài, gọi là Chúng sanh, duy có nhơn loại là đứng đầu trong cơ sanh hóa. Sanh ra nhơn loại, Chí Tôn lại phân tánh ban cho một điểm Linh Quang bất tiêu, bất diệt để làm chủ tể con người. Điểm Linh Quang ấy đồng thể với đức tánh linh diệu thiêng liêng, toàn thiện của Tạo hóa, nên gọi Lương tâm hay Linh Tâm là chánh lý.
Hễ đã gọi là Lương tâm hay Linh Tâm thì Tâm bao giờ cũng linh diệu thiện lương, mà không linh diệu thiện lương là bởi con người chẳng biết tồn dưỡng Linh Tâm đó vậy.
Linh Tâm vốn là tiểu Linh Quang do nơi Đại Linh Quang mà sinh ra. Đại Linh Quang ấy là Trời, mà Trời là chí linh chí diệu, tánh đức toàn thiện, toàn lương. Nếu con người tự vâng theo Thiên Tánh là Chơn tánh của Trời ban cho, chẳng để nhơn dục khiến sai, không cho bản năng động vật (instinct animal) rối loạn Tâm linh thì tâm linh của con người cũng đồng một đức tánh linh diệu Thiêng liêng của Tạo hóa.
Ví như nước trên nguồn chảy xuống thì lúc nào cũng trong, dưới đáy ao bao giờ cũng đầy dẩy bùn lầy; nếu bùn lầy chẳng dấy lên thì nước ao cũng cùng một màu trong như nước nguồn chẳng khác.
Linh Tâm của con người rất diệu linh huyền bí, gồm cả vạn sự và vạn vật, chẳng chi mà chẳng do Linh Tâm ứng đối. Bởi thế nên con người chuyên môn một việc chi, thì tầm kiếm học hỏi nơi Linh Tâm thì đạt đắc.
Ví như người kia làm ra một vật tận thiện tận mỹ, người nọ độ được một sự huyền bí tinh thần, thế gian chưa từng có, nhơn loại chưa từng thấy, thì đời gọi là phát minh, không học mà hay, không thấy mà biết.
Nho gọi là lương tri, lương năng. Ấy là một bằng chứng hiển nhiên cho con người quyết đoán rằng Linh Tâm có thể phối hợp với mọi lẽ huyền vi của Tạo Đoan mà phát minh vạn sự.
Bởi cớ nên Đức Khổng Thánh dạy con người hãy giữ cái Tâm cho còn, và suy tầm cho biết cái Tâm của mình. Hễ biết được cái Tâm của mình là biết được Trời. Mà biết được Trời thì suốt thông vạn sự và vạn vật.
Tâm và Tánh của con người cũng đồng như một, song Tâm là Chủ tể, Tánh là chủ động, nghĩa là còn ở trong là Tâm, đã phát ra ngoài là Tánh, nên gọi là Tánh bổn thiện.
Thiên Tánh ở nơi người thì ai ai cũng đồng giống nhau một tánh thiện lương, mà sỡ dĩ làm điều bất thiện là khi nào bản năng động vật dấy loạn quá độ, buộc con người phải làm điều ác, mà sau khi làm điều ác rồi thì bản năng động vật lại im lặng. Chừng ấy con người mới biết ăn năn tự hối, nghĩ đến sự thương xót, biết việc chẳng nên làm; ấy là lúc Thiên tánh đã bình được phàm tâm, tà lui chánh thắng.
Vì vậy mà Đức Khổng Tử mới nói rằng: “Biết giữ thì còn, không biết giữ thì mất . . .”
Biết giữ thì còn là Thiên Tánh đè nén được bản năng động vật để làm điều thiện, còn giữ nguyên vẹn bản Tánh của Trời đã ban cho. Nên gọi là“Còn”. Không biết giữ thì mất là để cho bản năng động vật lừng lẫy rối loạn Tâm linh, khiến làm điều bất thiện, mất cả bản tính của Trời đã ban cho; nên gọi là “Mất”.
Con người đều giống nhau một tánh đức thiện lương, nhưng lại có người bất thiện, có người trước thiện sau ác, có người trước ác sau thiện, thì chẳng khác nào một giống cây, hễ đúng mùa tiết thì đơm bông trổ trái như nhau, nhưng cây nầy trái chua, cây kia trái ngọt, mùa trước ngọt, mùa sau chua, mùa trước chua mùa sau ngọt.
Sự chua ngọt của trái là do bởi sự hiểu cách trồng tỉa, biết tùy phong thổ hay là không hiểu biết đó thôi. Còn con người thiện hay ác là cốt ở sự biết phương tu dưỡng, hiểu cách chính Tâm cùng không hiểu biết đó vậy.
Căn bản của Tâm là tối linh, tối diệu, toàn thiện, toàn lương, chẳng chi cảm hóa sửa đổi làm cho mất cái tánh đức thiện lương, linh diệu của Tâm được cả. Chỉ có một điều là con người để cho bản năng động vật sai khiến, vật dục thế tình ngoại ám Tâm linh, làm cho Linh Tâm không trọn chiếu diệu được, có khác nào ngọc bích bị phong trần bao phủ, làm cho lu lờ cái ánh sáng của ngọc, nhưng cái tinh ba lịch sắc của ngọc chẳng bao giờ thay đổi. Ấy vậy, nếu con người biết trau dồi Tâm Tánh, thì chẳng ai là không thiện lương, chẳng ai là bất Nhân, bất Nghĩa.
Trời đã phú cho một diểm Linh Quang chí linh, chí diệu để làm chủ tể con người, thì chẳng ai minh, chẳng ai ám, chẳng ai thông, không ai muội, chỉ nơi con người phải tự biết trau tria cho trong sạch, khai mở cho huệ minh và tùy thời tùy thế mà nâng cao đức tính. Phàm con người mà chẳng để cho nhơn dục khiến sai, không cho vật dục hảm ám Tâm thần, thì điểm Linh Quang càng ngày càng nẩy nở quang minh suốt thông van sự.
Trong con người có một phần thiệt và một phần giả. Phần giả là phàm tánh theo vật dục, phần thiệt là Thiên tánh theo nghĩa nhân. Hễ Nhân Nghĩa phát triển là Minh, vật dục khởi hưng là Ám.
Linh Tâm là cái quý báu riêng của nhân loại để phối hiệp với Tạo hóa, còn Tánh là cái quý báu chung của Nhơn loại để phối hiệp với vạn loại và vạn vật; vì vậy nên chẳng Tôn Giáo nào mà không chú trọng về Tâm với Tánh. Ví như Thánh Đạo thì Tồn Tâm Dưỡng Tánh, Tiên Đạo thì Tu Tâm Luyện Tánh, Phật Đạo thì Minh Tâm Kiến Tánh, chăng Tôn Giáo nào không lấy Tâm làm gốc, mà lấy Tâm làm gốc tức là thờ Trời, là Chơn lý Đạo vậy.
Con người mà đạt được Chơn lý Đạo là gốc chính được Tâm, mà chính được Tâm là nhờ nơi phương pháp Tu thân dìu theo Chơn ngã.
II- TU THÂN
Từ xưa đến nay, các Tôn giáo đều do Tâm làm gốc, nên con người muốn hồi Tâm hướng thiện,tự tĩnh tự hối mà nhập vào một Tôn Giáo nào, thì trước hết cũng phải lấy sự Tu thân dể chính Tâm và lấy Tâm làm đích.
Tu thân nghĩa là học hành thiện với thân mình, lấy Tâm làm chủ đích đặng học hỏi tìm kiếm trong thân mình về vật chất lẫn tinh thần, những chi thiếu sót, những chi trái với tánh đức Thiêng liêng toàn thiện của Tạo Đoan hầu có sửa mình cho gần với Nhân với Nghĩa, đúng với Lễ, thông vơi Trí, thành với Tín; (Nho gọi là Minh Minh Đức), chừng ấy mới đủ tánh cách mà quan sát vạn vật, suy xét Thiên hạ, và truy lý thiên kinh vạn điển.
Tu thân yếu điểm nơi Thành ý (Tiếng Pháp gọi là: La volonté inébranlable de reussir) nghĩa là quyết định thành tựu, nhứt định đi cho đến nơi đến chốn, quyết chí thi hành cho đến khi đạt thành mục đích, chẳng hề bỏ lãng quên lẫn giờ phút nào, mặc dù phải gặp muôn việc khó khăn trở ngại, cũng chẳng vì một lẽ chi mà ngã lòng bỏ dở.
Người Tu thân đi cho đến đạt được Thành ý rồi, thì bề ngoài coi chẳng thấy chi, song tựu trung có một năng lực cương cường tinh tiến, mạnh mẽ can đảm phi thường, đạp đổ được các cơ khảo của Tà quyền; nghĩa là chẳng cho bản năng động vật rối loạn Tâm thần, hầu có vững bước êm chân trên con đường Thiên tánh.
Thiên tánh và phàm tánh cũng đồng chung một chỗ mà phát ra, song Thiên tánh phát ra Đại Ngã là con đường chánh, con đường phải Nhân, phải Nghĩa; còn phàm tánh phát ra lại do theo tiểu ngã là con đường tà, con đường phi nhân phi nghĩa.
Nên người Tu thân phải đủ tinh thần tinh tiến mới có thể phân đoán được mọi lẽ thiệt hư, chánh tà lẫn loan; Nhân mà không trọn Nhân thì chưa phải chánh, Nghĩa mà chưa trọn Nghĩa ấy cũng là tà.
Cả sự hành động của Thiên tánh đều do nơi Linh Tâm định đoạt, nên việc làm có mực thước, hữu thỉ hưũ chung, trọn Nhân trọn Nghĩa, còn phàm tánh là tùy theo hoàn cảnh cùng vật dục mà xuất hiện; nên thiện ác không chừng, chẳng độ lượng, sự tấn thối không nhứt định.
Phàm tánh hay yêu chuộng lợi danh hơn là Nhơn Nghĩa, ưa thích học đòi theo lối thường tình mà chẳng luận phân phải trái; vì vậy mà con người cần phải có sự giáo hóa để kềm chế và khép chặt phàm tánh vào khuôn phải lành, buộc tùng theo Thiên tánh mà cùng đi trên con đường ngay lối chánh.
Nếu con người mà thiếu sự giáo hóa, thiếu sự kềm chế, để cho lối tồi phong bại tục trêu bày trước mắt, tà thuyết dâm từ lọt vào tai, thâm nhập vào não cân, thì chẳng khác nào giúp sức cho bản năng động vật chiến thắng Thiên tánh mà làm cho Lương Tâm phải bợn nhơ mờ ám.
Điều cần nhứt là con người phải biết tôn dưỡng Tâm tánh tịnh yên, mới có thể biệt phân được chơn giả của cái dục và tình của Tâm, hay là cái dục và tình của bản năng động vật.
Con người không thể thiếu dục và tình, cũng như Trời Đất không thể thiếu nước và lửa vậy; vì rằng nước và lửa có lợi có hại, thì dục và tình cũng có hại và có lợi. Con người thường thấy cái hư và cái hại của dục và tình, mà không xét đến cái nên và cái lợi, nên mới toan phương đoạn tuyệt dục và tình.
Thoảng như đoạn tuyệt được cái dục và cái tình là trừ được cái hư và cái hại, rồi cái nên và cái lợi mới do nơi đâu mà đi đến con đường tận thiện tận mỹ được; vì bởi tình là cảm động, dục là cương quyết, nhờ cảm động mới thật hành Nhân, nhờ cương quyết mà thiệt hiện Nghĩa.
Nếu con người mà thiếu dục và tình thì chẳng khác như hình cây tượng giấy. Tâm cũng có dục và tình, bản năng động vật cũng có dục và tình,nhưng dục và tình của Tâm thì trọn Nhân vẹn Nghĩa, còn dục và tình của bản năng động vật là bất Nghĩa bất Nhân; nên con người cần lo chính Tâm để biệt phân trái phải mà sai khiến dục và tình, thì cái hư cái hại đã mất, mà cái nên cái lợi vẫn còn, ấy là phương pháp Tu thân dìu theo Đại ngã.
Con người mà lo đoạn tuyệt dục và tình, tức là phế bỏ cả ngũ quan, vì ngũ quan là nguồn cội của dục và tình mà nếu không thể bỏ cả ngũ quan mà cũng không chính được Tâm, thì duc và tình cũng không thể đoạn được. Trái lại, con người cần phải có dục và tình mới biết được cái Tâm, vì bởi Tâm không thể thấy được, chỉ có xem xét nơi dục và tình mà đoán chắc cái Tâm đã chính cùng chăng; nên dục và tình là cặp gương phản chiếu, để cho con người trông vào đó mà thấy hiểu được cái Tâm của mình vậy.
Thiên tánh và phàm tánh thường hay lẫn lộn, chẳng giờ phút nào mà Tà không chen với chánh, nên sự chính Tâm của người tu thân chẳng bao giờ gián đoạn được, vì lẽ cố nhiên, hễ nhà bỏ trống thì nhện giăng, đường vắng đi là cỏ mọc.
Sự Tu thân cần phải hiểu nề nếp và trật tự để do theo phương pháp khoa học mà tập luyện trau tria, mới tránh khỏi sự sai bước lầm đường lạc lối.
Phương pháp Tu thân chia ra ba thời kỳ đem thân hành thiện:
- Thời kỳ nhất là không làm điều bất nghĩa.
- Thời kỳ nhì chẳng tưởng việc bất nhân
- Thời kỳ ba là tưởng điều nhân, thật hiện việc nghĩa.
Phàm học một việc chi, trước hết cũng phải tìm cho ra căn bản, truy hiểu từ gốc chí ngọn, tức là tiền rồi hậu, rồi mới phân định chánh danh; ấy là phân chất (Méthode analytique). Phân chất rành rẽ rồi mới tĩnh; nghĩa là hiểu được lẽ phải mà theo, lẽ trái mà bỏ, chừng theo được lẽ phải rồi mới yên; nghĩa là không sợ trật, không lo sái quấy nữa.
Có yên mới định tĩnh Tâm thần xét suy cạn lý, trầm tư mặc tưởng ( Médité) đặng trở lại con đường đã phân ra coi có đắc thành thật sự, khi quan sát hai phương pháp đắc thành rồi, mới làm ra kỹ cương luật lệ mà tiếp tục thi hành đúng theo phương pháp.
Tu thân là bước sơ khởi của con đường Thánh nhân, mà con đường Thánh nhân là con đường thiết thực, nên người Tu thân cần phải trau luyện cho tinh thần vững chắc định yên mới có thể thực hiện được hoàn toàn Chơn tánh, mà Chơn tánh được hoàn toàn tức là Tâm đã chính, Tâm đã chính thì thân ta vững chắc như trụ đá cột đồng, trong trắng thể bạch liên chẳng ngại ngùng chuyển lai lem lắm.
NHÂN NGHĨA
Đức Khổng Tử quy hiệp các lý thuyết từ đời Thượng cổ, đặng lập thành Đạo Nho dùng Nhân làm thống hệ, nghĩa là lấy Nhân làm nguyên tắc căn bản của Đạo Thánh vì vậy mà gọi là Đạo Nhân.
Nhân là Thiên tính của Trời ban cho nhân loại, nên người Tu thân phải lấy Nhân làm gốc và đi cho đến tận con đường Nhân là nơi cuối cùng; khi kết quả được rồi mới gọi là Thánh Nhân; nên chi gọi Đạo Nhân là Thánh Đạo.
Cả tánh đức của con người đều do Nhân mà có, và Nhân phát hiện ra bao trùm cả tánh đức của con người, vật cả cử chỉ hành động của con người đều ở trong Nhân, nên phải lấy Nhân làm tiêu biểu đặng sửa tánh, làm cho thiệt hiện Chơn tánh và phối hiệp với Trời; Nho gọi là Tu kỷ, hay là thành kỷ. Chỉ có Thánh Nhân là người hoàn toàn tánh đức mới có thể cảm hóa được người, và khiến người hành nhân đến bực hoàn toàn như mình; Nho gọi là Trị Nhân hay là thành vật.
Nhân tức là đầu mối của trăm ngàn đức tánh khác, chẳng chi ra ngoài Nhân, không chi mà chẳng do Nhân làm gốc, nên Nhân là luật lệ chung cho Tu Thân, Tề Gia, Trị Quốc, Bình Thiên Hạ, chẳng phải một quy tắc nhỏ để kềm chế một tánh đức nhỏ; Nhân bao hàm cả tánh cách hoàn toàn của Nhân loại.
Sự ấn chứng của Nhân không thể dùng làm ra một mặt luật cỏn con mà là cơ khí vĩ đại bao trùm cả Thiên tánh và phàm tánh; từ Tu kỷ đến thành vật, luôn luôn chẳng giờ phút nào mà không có Nhân;cái trạng thái thứ nhứt của Nhân ấy là Nghĩa.
Nhân là Thiên tánh ở nơi người, Nhân ấy tức nhiên dẫy đầy đức háo sanh của Tạo Đoan, vì thế mà Mặc Địch gọi Nhân là Kiêm Ái, mà Kiêm Ái tức là Bác Ái.
Đức Mạnh Tử nói về Nhân nghĩa, thì ví Nhân như “ an trạch giả”, còn Nghĩa là “chánh lộ gia”, vì bởi Thiên Tánh thực hiện nơi con người là toàn lòng Bác Ái, được toàn lòng Bác Ái, tức nhiên như ở yên trong nhà; nên gọi là an trạch giả. Còn Nhân phát ra là Nghĩa thì phải khởi hành nơi con đường ngay lối chánh; nên gọi là Chánh lộ giả.
Hễ đã nói con đường chánh thì tức nhiên phải có con đường tà, nên Nho gọi là Tiểu Ngã đối với Đại Ngã hay là chơn ngã.Đại Ngã là con đường của Thiên tánh phát hiện, còn Tiểu Ngã là con đường khởi hành của Nhơn dục, tức là con đường xuất hiện của bản năng động vật. Bản năng động vật cũng tự trong một chỗ với Thiên tánh của con người mà phát ra, nhưng nếu chìu theo con đường bản năng động vật là con đường Tiểu Ngã, ấy là con đường trái Nghĩa.
Còn do theo con đường Thiên tánh là con đường Đại Ngã, tức là con đường phải Nghĩa, là con đường toàn thiện. Nên muốn đến chỗ Nhân thì phải đi trên con đường Nghĩa, ấy là dụng Nghĩa để làm thủ đoạn đặng đoạt mục đích Nhân, mà muốn đoạt được mục đích Nhân thì phải đè nén bản năng động vật, không cho phát hiện mà làm sai con đường Nghĩa.
Nghĩa gồm cả tinh thần và vật chất, từ lời nói việc làm, nếu biết tùng theo Thiên tánh mà thật hành là phải Nghĩa. Nhờ Nghĩa mà dung hòa bảo trợ lẩn nhau từ người cho đến vật, nhờ Nghĩa mà con người thật hiện được Chơn tánh.
Có câu Linh Tâm là cái quý báu riêng của nhơn loại, để phối hiệp với Tạo hóa, còn Tánh là cái quý báu chung của Nhân loại, để phối hiệp với vạn loại và vạn vật; nghĩa là lấy Nhân mà đối với Trời là sự hữu ích riêng của mọi người, còn lấy Nghĩa mà đối với vạn loại và vạn vật là sự hữu ích chung cho toàn sanh chúng. Đó là con đường hành thiện mà người Đại Nhân do theo để đạt đến Thành ý vậy.
I-ĐẠI NHÂN-TIỂU NHÂN
"Kẻ Tiểu nhân nghe đến Danh thì muốn, thấy tới Lợi thì ham mà chẳng luận phân phải trái.."
Con người cũng đồng thọ một điểm gọi là Thiên Tánh của Trời ban cho, nhưng phân ra hai hạng Tâm Tánh chẳng đồng; ấy là Đại Nhân và Tiểu Nhân.
Đại Nhân là người hoàn toàn tánh cách, lời nói và việc làm không sai một mảy, chẳng vì danh lợi mà xa Nghĩa Nhân; chẳng vì khó nghèo mà lìa Đạo Đức; làm một việc phi Nhân, phi Nghĩa mà được quyền trọng lợi nhiều, ngồi trên cả Thiên hạ cũng chẳng khứng làm; còn làm việc trọn Nhân, vẹn Nghĩa mà phải lắm chịu khổ thân, cùng thọ lấy tử hình cũng không ngần ngại.
Bao giờ người Đại Nhân cũng lấy Lễ, Nghĩa đối với người trên, dụng Nhân Ái mà đãi người hèn thấp, giúp người trên thì tận tâm, dìu kẻ dưới thì tận lực, chẳng vì kẻ dưới mà trái người trên, không vì người trên mà quên kẻ dưới.
Người Đại Nhân là đức rộng, trí dày, biệt phân tất cả mọi sự phải trái, thấy phải thì theo, biết trái thì bỏ, chỉ biết theo Đạo lý chứ không theo đảng phái, nên chẳng mạng lịnh hay là thế lực mạnh mẽ nào có thể ép buộc được người Đại Nhân bỏ phải mà theo trái; vì vậy mà lời nói và việc làm của bậc Đại Nhân là quý báu vô giá định, đáng làm khuôn vàng thước ngọc cho loài người đời nầy qua đời nọ.
Mùa Đông không vì lũ én mà bỏ cái lạnh thì người Đại Nhân cũng chẳng vì phường Tiểu nhân mà xa lìa Thiên Tánh.
Lời lẽ luận thuyết của người Đại Nhân rất mực thước rõ rệt và cang trực, chẳng quản ghét thương, không màng danh lợi, chỉ có vui cho người biết nghe mà nên, buồn cho kẻ không thấu hiểu mà hư đó vậy.
Chí khí của người Đại Nhân rất cương cường va bao qưát phi thường, nên chi làm việc lớn thì hay mà chẳng hay làm việc nhỏ. Sự độ lượng của người Đại Nhân rất tinh vi và hợp lẽ, chẳng một việc chi để đến phải ngộ bất cập mà buộc mình phải làm sai con đường Nghĩa.
Người Đại Nhân hằng vụ lấy sự công làm trọng, mà chẳng quản việc tư, nên thấy được cái lớn, hiểu thấu cái xa; còn đứa Tiểu nhân lại vụ lấy việc tư làm quý, mà chẳng quản sự công, nên chỉ thấy được cái nhỏ, hiểu rõ cái gần mà thôi.
Người Đại Nhân hằng ngày chỉ biết lo sửa mình cho ngay chánh, cho đáng tôn quý, đáng kính mến, đáng tín dụng, ngoài ra vẫn an vui mà đợi mạng, hạp thời thế thì cùng chung hiến thân giúp ích cho Thiên hạ, trái thời thế thì một mình giúp ích cho mình riêng vui với Đạo.
Người Đại Nhân dầu ngộ cảnh nào cũng không mất cái thái độ thanh cao chơn thật, tánh cách cang trực thiện lương; còn đứa Tiểu nhân thì chẳng lúc nào mất được cái tập tánh gian trá đê hèn, cử chỉ tàn ác mà khiếp nhược.
Hễ đã là Tiểu nhân thì dầu cho cao sang tột phẩm cũng là Tiểu nhân, còn Đại Nhân thì dầu cho khốn cùng cực điểm cũng là Đại Nhân. Người Đại Nhân bao giờ cũng trông cậy nơi mình như tòng bá đứng giũa Trời đông, còn kẻ tiểu nhân lại trông cậy nơi người như giống lang tiêu khoe màu đẹp sắc.
Tâm tánh của đứa Tiểu nhân chẳng giờ phút nào được thơ thới tịnh yên, hằng lo sợ ngại ngùng những điều ác báo, nên thường dùng những thuyết hoang đàng để tranh thắng cùng che lấp sự bất chánh bất minh, những điều tội ác.
Lòng phản phúc của kẻ Tiểu nhân vô cùng, sự hám vọng của đứa Tiểu nhân vô tận, ngồi trên thì chẳng Nghĩa, Nhân, đứng dưới lại không Trung, Tín.
Kẻ Tiểu nhân nghe đến danh thì muốn, thấy tới lợi thì ham mà chẳng luận phân phải trái; hằng đố kỵ với bậc Hiền Tài, và khinh thường những người hèn thấp. Đứa Tiểu nhân chỉ biết chê người mà chẳng biết sửa mình, không nể tiếng thị phi, chẳng biết hổ mặt thẹn lòng, nên chẳng một việc lợi danh bất Nhân bất Nghĩa mà đứa Tiểu nhân chẳng dám làm.
Đại Nhân và Tiểu nhân khác nhau có hai đường, hễ Thiên tánh phát ra Đại Ngã là Đại Nhân, còn phàm tánh xuất hiện nơi tiểu ngã là Tiểu nhân đó vậy. Cũng đồng thọ một điểm Linh Quang, cũng đồng một chỗ mà phát ra, nhưng theo được con đường Nhân Nghĩa là Đại Nhân, theo không được con đường Nhân Nghĩa là Tiểu nhân, còn theo tận cùng con đường Nhân Nghĩa lại là Thánh Nhân, ấy là yếu điểm của con đường Tu Thánh Đạo.
II- THÁNH NHÂN
Từ xưa đến nay, hễ luận đến Nhân Nghĩa đạo đức thì thường dụng danh của hai vị Thánh Vương như vua Nghiêu, vua Thuấn mà làm tiêu biểu, nghĩa là trưng bằng cớ cùng viện lý phải của Nhân Nghĩa, đạo đức mà thôi, chẳng phải buộc con người đinh ninh thủ cựu cùng giam hảm vào vòng thoái hóa như một phần người xưa nay đã lầm hiểu; cùng chưa được trọn thấu hiểu yếu lý của Nhân Nghĩa như thế nào, rồi vội vàng cho Đạo Nhân là bạc nhược.
Ví như vua Thang tháo lưới phóng sanh cho bao nhiêu điểu thú mà đã gọi rằng Nhân; đến như diệt loài sâu độc cứu hại mùa màng nuôi sống chúng sanh cũng gọi là Nhân; thì diệt kẻ bạo tàn cứu khổ lương sanh cũng là Nhân vậy, Nhân ấy càng thêm dẫy đầy âm đức.
Trong đời chẳng chi là tuyệt đối, chẳng chi là nhất định; con người càng tấn hóa, thế cuộc càng đổi xây; thì chi chi cũng phải tùy theo lẽ tuần hoàn mà đổi thay mới hợp Đạo.
Nhân nghĩa vốn là căn bản của Đạo Thánh, nên biết tùy thời tùy thế mà thật hiện trọn Nhân vẹn Nghĩa mới gọi là Thánh Nhân; còn tranh danh đoạt lợi mưu hại lẫn nhau là phường tiểu nhân tục tánh; tranh sống giành ăn tàn sát lẫn nhau là loài cầm thú.
Thánh Nhân là người vẹn giữ được bản tánh chí linh chí diệu toàn thiện toàn lưong của Trời dã ban cho; chẳng giờ phút nào làm một mảy chi trái với số mạng Trời đã định; hằng ngày chỉ biết nuôi cái Tâm, dưỡng cái chí, tuần tự theo Thiên lý lưu hành mà đợi Mạng.
Tâm của Thánh Nhân chẳng hề nao, chí của Thánh Nhân chẳng hề xao, không ngưng trệ, chẳng chinh lịch; nhứt cử nhứt động đều hòa huởn và tùy thời mà ứng dụng, nên lời nói và việc làm đều đắc Nhơn Tâm và thuận Thiên Ý.
Đạo Thánh vốn để khai Nhơn Tâm, qui bổn thiện, nên chi Thánh Nhân là người chí thiện chí minh, thay thân cho Trời mà cứu thế, độ đời, giáo hóa nhơn sanh, bảo tồn thế cuộc.
Bậc chí Thánh là biết có người mà chẳng biết nhọc mình; danh lợi không ham, khó nghèo chẳng quản, một mảy cũng không bợn nhơ; lại vì lòng Nhân mà thọ khổ với đời cũng không nản chí; nên chi Thánh Nhân là bậc cao minh tối thượng, vì nghĩa quên mình, chẳng phải người chán khổ tuồng đời mà riêng lo yếm thế.
Cái yếu điểm triết lý nhiệm mầu và tối cao của Đạo Thánh là linh Tâm phối hiệp với Trời, tức là Trời và người hiệp một, mà chỉ có Thánh Nhân mới có thể Tồn Tâm Dưỡng Tánh để tiếp xúc mọi lẽ huyền vi của Taọ hóa mà suốt thông van sự cùng van vật.
Thánh Nhân nhờ ở sự tiếp xúc ấy mà Minh, mà rõ thấu Thiên ý, nhờ ở sự tiếp xúc ấy mà huệ, mà thâm hiểu nhơn tâm. Được thấu hiểu Thiên ý cùng thâm hiểu nhơn tâm rồi, mới suy lý Đạo Trời mà lập Đạo Người, dụng Đạo Người mà bồi bổ cho Đạo Trời, dìu nhân loại vào đường chí thiện, chí minh, phục nguyên Thiên tánh.
Tâm chí của Thánh Nhân bao giờ cũng hòa cũng hiệp với mọi người, song mọi người chẳng hòa được với Thánh Nhân là do bởi khác cái Tâm, khác với Thánh Nhân là do bởi không đồng cái chí.
Thánh Nhân chỉ khác với người có cái Tâm và cái chí mà thôi, nên chi xem qua bề ngoài thì khó phân phàm Thánh; phải có đủ Thánh chất Thánh Tâm mới có thể trông thấy mới có thể trông thấy và hiểu biết được bậc chí thành, chí Thánh.
I- LỄ, NHẠC
Nhân và Nghĩa bao trùm cả đức tính của con người, vậy Lễ là một trong những đức tính ấy, nên chi Lễ cũng do nơi Nghĩa Nhân mà phát hiện.
Nhân Nghĩa phát triển phải có phẩm trật và thứ tự, nên lập thành Lễ để cho Nhân Nghĩa noi theo nề nếp trật tự ấy mà phát hiện phân minh, khỏi lối tự do của bản năng động vật. Lễ là trật tự, nghi tiết, quy tắc, là định phân ngôi thứ, phẩm trật phân minh, tôn ti thượng hạ.
Trong đời phải có người lớn kẻ nhỏ, món thấp món cao, cái thấp cái trên, bề trái bề mặt không thể trái ngược được; nếu trái ngược là mất trật tự; mà mất trật tự là thiếu Lễ, thiếu Lễ là loạn ly, mà loạn ly là tiêu diệt.
Đối với con người ở đời chẳng nhơn lúc nào mà không có Lễ, từ lời nói việc làm, từ khi đi đứng nằm ngồi, từ việc lớn chí việc nhỏ, chi chi cũng phải lấy Lễ làm đầu; nếu thiếu lễ làchẳng hiệp chẳng hòa, chẳng bao giờ thành tựu được.
Ví như trong một nước mà quân bất minh, thần bất trung, chẳng lấy Nhân Nghĩa mà đối đãi nhau, chẳng phân minh phẩm trật chúa tôi, ấy là thất Lễ thì nước sẽ diệt vong vì biến loạn. Trong một nhà mà phụ bất từ, tử bất hiếu, chẳng lấy Nhân Nghĩa mà đối đãi nhau, chẳng phân ngôi thứ cha con, ấy là thất Lễ thì nhà ấy sắp điêu tàn sanh biến. Còn con người mà để cho bản năng động vật rối loạn tâm thần, chẳng còn biết Nghĩa, biết Nhân, không phân minh thượng hạ, đó là vô Lễ, thì người ấy có khác chi là cầm thú nữa đâu.
Lễ là sự kính mến tôn trọng trong Tâm của con người thể ra bề ngoài, nên trông vào nghi tiết và qui tắc của Lễ thì biệt phân thượng hạ và phẩm trật.
Lễ đối với con người rất cần thiết, vì vậy mà các Tôn giáo đều lấy Lễ làm trọng, chẳng những hành Lễ để tỏ lòng thành kỉnh các Đấng Thiêng Liêng mà thôi, mà cũng lấy Lễ để nâng cao đức tin của con người, lấy Lễ khép người vào lối thẳng đường ngay, vào khuôn Nhân Nghĩa.
Lễ rất bao la rộng lớn bủa khắp Càn khôn thế giái, nếu chẳng có Lễ thì loạn lạc Càn khôn, chẳng còn chi trong thế giái; nên nơi nào có Nghĩa có Nhân là nơi ấy có Lễ.
Lễ nhạc do bởi lý đạo âm dương mà lập thành. Lễ là dương, là trật tự; nhạc là âm, là điều hòa nên Thánh Nhân dụng Lễ nhạc để kềm chế và cảm hóa lòng người trọn theo Nhân Nghĩa. Khi âm dương hổn hiệp thì âm phát ra thinh, nên gọi là âm thinh mà chế ra nhạc, mà nhạc được thành là do bởi bát hồn là biều, thổ, cách, mộc, thạch, kim, tư, trước nên gọi là bát âm.
Trong mỗi âm lại chia ra năm bậc là cung, thương, giốc, trủy, vũ. Nhờ năm bậc ấy, thinh âm mới hòa thành nhạc. Chẳng những gồm cả tiếng trống, tiếng chuông, tiếng mỏ cùng tiêu thiều đờn ca xướng hát là gọi nhạc mà thôi, mà từ câu văn tao nhã phù ba, từ lời nói xuôi thuận êm đềm cũng là nhạc vậy.
Nhạc đối với con người thì cần thiết, mà đối với quốc gia lại thêm hệ trọng. Nước thiếu nhạc là không hòa, người thiếu nhạc là chẳng thuận; mà chẳng hòa chẳng thuận là cơ diệt tận. Tinh thần âm nhạc rất quan hệ đối với quốc dân xã hội, nên trông vào âm nhạc thì đoán biết vận nước hưng vong, thấu rõ trình độ của dân chúng.
Lễ nhạc gồm cả tinh thần và vật chất, vì mắt vừa thấy thì Tâm phát kính trọng; tai vừa nghe thì động lòng thương xót; nên Lễ và nhạc có cái năng lực mạnh mẽ phi thường, có thể cảm hóa lòng người trong nháy mắt.
Lẽ và nhạc là lý đạo âm dương biến sanh Càn khôn thế giái vạn loại muôn loài, nên con người thiếu Lễ thiếu nhạc tức là thiếu Đạo, vì bởi thiếu Lễ thiếu nhạc thì người trên không dạy được kẻ dưới; kẻ dưới không đối được với người trên, trên dưới chẳng nương được lẫn nhau, trên chẳng hiệp, dưới không hòa, sanh biến loạn ly. Ấy là vô Đạo.
http://www.banthedao.org/ContentVN/0041/IM0001.jpg
Nam Mô CAO ĐÀI TIÊN ÔNG ĐẠI BỒ TÁT MA- HA- TÁT
THUYẾT MINH THÁNH ĐẠO
Kính thưa Quý Đồng Đạo, Đọc giả Website Ban Thế Đạo,
Công trình khảo cứu về Thánh Đạo của Tác giả Phạm Minh Ngọ (Truyền Trạng HTĐ) đã được in thành sách xuất bản năm Canh Dần (1950), được phê duyệt của Đ ức Hộ Pháp như sau: “Phê chuẩn và cho ấn tống toàn Đạo và để lời khen Truyền Trạng thuyết minh Giáo lý”.
Nội dung sách gồm hai phần:
- Phần I : Thuyết minh Thánh Đạo.
- Phần II: Tam Giáo Thiên Đạo - Phương Tu Tân Pháp
Website Ban Thế Đạo sẽ lần lượt cho đăng nội dung trên để Quý Đồng Đạo cùng Đọc giả có thể nghiên cứu tham khảo thêm để tìm hiểu về Đạo Cao Đài.
Website Ban Thế Đạo
Hình : CHÂN DUNG ĐỨC KHỔNG PHU TỬ
_______________
LỜI TỰA
Từ Bàn Cổ sơ khai đến nay, biết bao phen loạn lạc gây họa chiến tranh, biết bao trận khói lửa binh đao long Trời lỡ đất, làm cho mặt thế đổi màu, bể huyết non thây, thần sầu quỷ khóc. Ấy cũng bởi Tam Giáo thất chánh, nhân loại bị thất kỳ truyền, mới khiến cho Đời xa Đạo, nhơn sanh mất cả bản tánh thiện lương, xa hẳn với bản căn Thiên tánh.
Thế là phàm chất đã lấn hơn Thánh chất, Nhân đã lụn, Đức đã tàn, con người chẳng giữ được mối thương yêu là giềng bảo sanh càn khôn thế giới, mới sanh ra oán ghét nghịch thù, tranh thắng, giành hơn, cấu xé tàn sát lẫn nhau, rồi đem thân người mà làm mồi cho loài chim loại cá.
Thương hại thay cho Đời tàn bạo! Khốc hại thay cho nhân loại bất lương! Càng tàn bạo, càng bất lương thì tai họa gớm ghê càng thêm chất nặng.
Đời Hạ Nguơn hổn độn, nhơn loại lành ít dữ nhiều, tai họa chiến tranh khắp chốn, khổ nạn đói rách khắp nơi, kiếp sống khó mong no dạ, thân chết chưa chắc toàn thây; thảm thương thay cho đám lương sanh còøn đương lẫn lộn.
Đời thế ấy, nhơn loại thế ấy, nếu chẳng có Thiên Đạo dìu Đời chẳng đem giọt nước nhành dương mà tưới tắt lửa lòng của nhơn loại thì chi cho khỏi ngọn hung quang toả khắp hoàn cầu hủy thiêu cuộc thế.
Cơ lập Đạo nhiệm mầu vô giá, chẳng có Đạo, chẳng nên Đời, Đạo chẳng nên,Đời chẳng rạng mà từ xứa đến nay chẳng thiếu; Đời bao phen loạn lạc thì Đạo cũng mấy lượt hoằng khai để thức tỉnh nhơn sanh phục hưng thế cuộc.
Ví như trong buổi Trung Nguơn, vì Tam Giáo thất chánh, nhơn loại bị thất kỳ truyền, Đời biến sanh hổn độn, thì có Đức Thích Ca, Đức Lão Tử, Đức Khổng Tử ra đời chấn hưng Tam Giáo Đông phương; Đức Giêxu chỉnh đốn Thánh Đạo phương Tây, rồi nhơn loại mới nhờ nơi Giáo lý Bác Ái từ tâm, gương Đạo đức phải lành của các Đấng ấy mà thức tỉnh hồi tâm, người dữ hóa lành, đời loạn ly trở nên bình trị.
Đến nay là thời kỳ Mạt kiếp cuối cùng, Hạ Nguơn hầu mãn, nhưng đời chưa dứt, thế chưa tận, thì lẽ cố nhiên có cuộc tuần hoàn vận chuyển, Thiên Địa hoằng khai Đại Đạo gọi là Tam Kỳ Phổ Độ cho phù hợp với cơ Tái Tạo Nguơn Qui Cổ hầu có chuyển Đạo lập Đời, Qui Nguyên Tam Giáo, mà cứu vớt lương sanh thoát vòng khổ hải.
Vì bởi Nhơn loại thiếu Nhân, thiếu Nghĩa, mất cả bản tánh Thiện lương, mới sanh lòng tham lam tàn ác, xu hướng theo giả lợi, giả danh thêm khổ cho Đời, sái hẳn với cơ công bình Thiêng liêng Tạo Hóa; nên Đại Đạo Kỳ Ba mới đem ruộng Nhân, giống Nghĩa khuyến khích Nhơn loại cấy cày, mong nhờ kết quả nhập Thánh siêu phàm hầu có dựng nên cuộc thế, bổ cứu cho Đời, diệt tận can qua, lập hòa bình Thế giới.
Nhân Nghĩa vốn là tánh đức hóa dục của Trời, nên chi Đời cần phải có Nhân, có Nghĩa vạn loại mới hòa bình, nhơn loại mới ấm no, sanh linh mới thoát cơ tận diệt.
PHẦN I
THUYẾT MINH THÁNH ĐẠO
Thánh Đạo vốn có từ đời Thượng Cổ, sau khi Chí Tôn khai Thiên lập Địa. Đạo có trước rồi mới sinh ra Đời; ấy là có Đạo mới nên Đời.
Trong buổi Thượng Nguơn, càn vô đắc khán, khôn vô đắc duyệt, con người chỉ có hành Đạo nơi phương mình, là học đòi theo Thánh đức và sở hành của các bậc Đế vương thường ở gần mình là đủ, và cũng bởi thuở ấy con người còn giữ vững Thánh đức Thiện Lương, nên sự tu hành và đạt Đạo rất dễ dàng vì vậy mà gọi Thượng Nguơn là Nguơn Thánh Đức.
Qua đến đời Phục Hy, Thần Nông, chí đến Nghiêu, Thuấn, con người vẫn hưởng thái bình an cư lạc nghiệp mà Thánh Đạo cũng khỏi thống hệ kỷ cương, Chơn vi vẫn được lưu truyền đời nầy qua đời nọ, ấy là Nhứt Kỳ Phổ Độ.
Đến gần cuối Thượng Nguơn, gần bắt đầu qua Trung Nguơn là Nguơn tự diệt, cơ đời sắp biến đổi, Thánh Đạo vì đó mà phải biến thiên, nên Chí Tôn mới khai Nhị Kỳ Phổ Độ, để cho Đức Khổng Phu Tử chấn hưng Thánh Đạo, lập chơn truyền Nhơn Đạo, hầu có sửa trị Đời và dìu người theo đường Đạo đức.
Cả Chơn vi của Nho giáo đều tóm thâu qua hai chữ Thiên Mạng mà thôi, vì vậy mà con người cần phải biết có Trời là Chúa tể vạn linh sanh chúng tức nhiên cả số mạng căn phần của cả thảy lương sanh do Chí Tôn dĩ định.
Đạo Thánh rất cao siêu huyền bí, nên chi trong đời chỉ có bậc Thánh Nhân mới biết được phương pháp tồn Tâm, dưỡng Tánh, là hằng ngày chẳng giờ phút nào làm một việc chi trái với mạng Trời đã định, chỉ để trọn Tâm linh phối hợp với mọi lẽ huyền vi của Tạo Đoan; ấy là đạt được Đạo, mà đạt được Đạo tức là cầm trọn nơi tay cả số mạng và căn phần của mình vậy.
Nho Giáo đem con đường Thánh Đạo mà phân ra Tu Thân, Tề Gia, Trị Quốc, Bình Thiên Hạ, nhưng trong con đường Tu lại chia ra làm hai phần, phần Thượng học cao siêu triết lý là phối hiệp với Tạo Đoan để đạt đắc huyền vi mầu nhiệm; còn phần Hạ học là thực dụng hằng ngày để phối hiệp với vạn loại và vạn vật, song dầu cho Thượng học hay là Hạ học cũng chỉ lấy Linh Tâm làm chủ đích.
Rất tiếc thay! Sau khi Đức Khổng Tử và Mạnh Tử qua đời, thì chơn truyền Nho giáo cũng chẳng bao lâu lần hồi thất chánh. Chư hậu Nho chỉ biết lạm dụng văn nho để tô điểm cho đường chánh trị, mưu cầu lấy sự phú quý vinh hoa, chẳng hề để ý đến điều siêu việt triết lý nhiệm mầu; thành thử đến Hạ Nguơn là thời kỳ văn minh vật chất lan tràn, làm cho cang thường biến đổi, luân lý suy đồi, con người xu hướng theo điều lợi, nẻo danh, chẳng mấy ai sùng tu nền Thánh Đạo.
Cũng may thay! Tuy là Thánh Đạo đã thất truyền, Nhơn Đạo đã biến thiên, song ảnh hưởng hãy còn, danh thể chưa dứt, thì sự chấn hưng Nhân Đạo cùng gầy dựng Thánh Đạo lại cho hoàn toàn, cho phù hợp với Nguơn Tái Tạo, với lẽ tuần hoàn Quy cổ cũng chưa là tuyệt vọng.
Chư hậu Nho đã đem hết tài học hiểu để tranh luận cùng chú giải Đạo Nhân, nhưng xem kỹ lại thì bao nhiêu lý lẽ gồm trong muôn sách, ngàn kinh chẳng chỉ qua là Tâm với Tánh. Vậy trước khi học Đạo cần biết Tâm là chi, Tánh là gì, cần phải biết nguồn cội của con người; rồi mới do theo phương pháp khoa học ( Methode scientifique) là bước sơ khởi của người Tu, mà tự chính Tâm linh tầm đường Chánh Đạo.
I- TÂM, TÁNH
Sau khi khai Thiên lập Địa, phân càn Khôn Thế Giái, sanh hóa vạn loại muôn loài, gọi là Chúng sanh, duy có nhơn loại là đứng đầu trong cơ sanh hóa. Sanh ra nhơn loại, Chí Tôn lại phân tánh ban cho một điểm Linh Quang bất tiêu, bất diệt để làm chủ tể con người. Điểm Linh Quang ấy đồng thể với đức tánh linh diệu thiêng liêng, toàn thiện của Tạo hóa, nên gọi Lương tâm hay Linh Tâm là chánh lý.
Hễ đã gọi là Lương tâm hay Linh Tâm thì Tâm bao giờ cũng linh diệu thiện lương, mà không linh diệu thiện lương là bởi con người chẳng biết tồn dưỡng Linh Tâm đó vậy.
Linh Tâm vốn là tiểu Linh Quang do nơi Đại Linh Quang mà sinh ra. Đại Linh Quang ấy là Trời, mà Trời là chí linh chí diệu, tánh đức toàn thiện, toàn lương. Nếu con người tự vâng theo Thiên Tánh là Chơn tánh của Trời ban cho, chẳng để nhơn dục khiến sai, không cho bản năng động vật (instinct animal) rối loạn Tâm linh thì tâm linh của con người cũng đồng một đức tánh linh diệu Thiêng liêng của Tạo hóa.
Ví như nước trên nguồn chảy xuống thì lúc nào cũng trong, dưới đáy ao bao giờ cũng đầy dẩy bùn lầy; nếu bùn lầy chẳng dấy lên thì nước ao cũng cùng một màu trong như nước nguồn chẳng khác.
Linh Tâm của con người rất diệu linh huyền bí, gồm cả vạn sự và vạn vật, chẳng chi mà chẳng do Linh Tâm ứng đối. Bởi thế nên con người chuyên môn một việc chi, thì tầm kiếm học hỏi nơi Linh Tâm thì đạt đắc.
Ví như người kia làm ra một vật tận thiện tận mỹ, người nọ độ được một sự huyền bí tinh thần, thế gian chưa từng có, nhơn loại chưa từng thấy, thì đời gọi là phát minh, không học mà hay, không thấy mà biết.
Nho gọi là lương tri, lương năng. Ấy là một bằng chứng hiển nhiên cho con người quyết đoán rằng Linh Tâm có thể phối hợp với mọi lẽ huyền vi của Tạo Đoan mà phát minh vạn sự.
Bởi cớ nên Đức Khổng Thánh dạy con người hãy giữ cái Tâm cho còn, và suy tầm cho biết cái Tâm của mình. Hễ biết được cái Tâm của mình là biết được Trời. Mà biết được Trời thì suốt thông vạn sự và vạn vật.
Tâm và Tánh của con người cũng đồng như một, song Tâm là Chủ tể, Tánh là chủ động, nghĩa là còn ở trong là Tâm, đã phát ra ngoài là Tánh, nên gọi là Tánh bổn thiện.
Thiên Tánh ở nơi người thì ai ai cũng đồng giống nhau một tánh thiện lương, mà sỡ dĩ làm điều bất thiện là khi nào bản năng động vật dấy loạn quá độ, buộc con người phải làm điều ác, mà sau khi làm điều ác rồi thì bản năng động vật lại im lặng. Chừng ấy con người mới biết ăn năn tự hối, nghĩ đến sự thương xót, biết việc chẳng nên làm; ấy là lúc Thiên tánh đã bình được phàm tâm, tà lui chánh thắng.
Vì vậy mà Đức Khổng Tử mới nói rằng: “Biết giữ thì còn, không biết giữ thì mất . . .”
Biết giữ thì còn là Thiên Tánh đè nén được bản năng động vật để làm điều thiện, còn giữ nguyên vẹn bản Tánh của Trời đã ban cho. Nên gọi là“Còn”. Không biết giữ thì mất là để cho bản năng động vật lừng lẫy rối loạn Tâm linh, khiến làm điều bất thiện, mất cả bản tính của Trời đã ban cho; nên gọi là “Mất”.
Con người đều giống nhau một tánh đức thiện lương, nhưng lại có người bất thiện, có người trước thiện sau ác, có người trước ác sau thiện, thì chẳng khác nào một giống cây, hễ đúng mùa tiết thì đơm bông trổ trái như nhau, nhưng cây nầy trái chua, cây kia trái ngọt, mùa trước ngọt, mùa sau chua, mùa trước chua mùa sau ngọt.
Sự chua ngọt của trái là do bởi sự hiểu cách trồng tỉa, biết tùy phong thổ hay là không hiểu biết đó thôi. Còn con người thiện hay ác là cốt ở sự biết phương tu dưỡng, hiểu cách chính Tâm cùng không hiểu biết đó vậy.
Căn bản của Tâm là tối linh, tối diệu, toàn thiện, toàn lương, chẳng chi cảm hóa sửa đổi làm cho mất cái tánh đức thiện lương, linh diệu của Tâm được cả. Chỉ có một điều là con người để cho bản năng động vật sai khiến, vật dục thế tình ngoại ám Tâm linh, làm cho Linh Tâm không trọn chiếu diệu được, có khác nào ngọc bích bị phong trần bao phủ, làm cho lu lờ cái ánh sáng của ngọc, nhưng cái tinh ba lịch sắc của ngọc chẳng bao giờ thay đổi. Ấy vậy, nếu con người biết trau dồi Tâm Tánh, thì chẳng ai là không thiện lương, chẳng ai là bất Nhân, bất Nghĩa.
Trời đã phú cho một diểm Linh Quang chí linh, chí diệu để làm chủ tể con người, thì chẳng ai minh, chẳng ai ám, chẳng ai thông, không ai muội, chỉ nơi con người phải tự biết trau tria cho trong sạch, khai mở cho huệ minh và tùy thời tùy thế mà nâng cao đức tính. Phàm con người mà chẳng để cho nhơn dục khiến sai, không cho vật dục hảm ám Tâm thần, thì điểm Linh Quang càng ngày càng nẩy nở quang minh suốt thông van sự.
Trong con người có một phần thiệt và một phần giả. Phần giả là phàm tánh theo vật dục, phần thiệt là Thiên tánh theo nghĩa nhân. Hễ Nhân Nghĩa phát triển là Minh, vật dục khởi hưng là Ám.
Linh Tâm là cái quý báu riêng của nhân loại để phối hiệp với Tạo hóa, còn Tánh là cái quý báu chung của Nhơn loại để phối hiệp với vạn loại và vạn vật; vì vậy nên chẳng Tôn Giáo nào mà không chú trọng về Tâm với Tánh. Ví như Thánh Đạo thì Tồn Tâm Dưỡng Tánh, Tiên Đạo thì Tu Tâm Luyện Tánh, Phật Đạo thì Minh Tâm Kiến Tánh, chăng Tôn Giáo nào không lấy Tâm làm gốc, mà lấy Tâm làm gốc tức là thờ Trời, là Chơn lý Đạo vậy.
Con người mà đạt được Chơn lý Đạo là gốc chính được Tâm, mà chính được Tâm là nhờ nơi phương pháp Tu thân dìu theo Chơn ngã.
II- TU THÂN
Từ xưa đến nay, các Tôn giáo đều do Tâm làm gốc, nên con người muốn hồi Tâm hướng thiện,tự tĩnh tự hối mà nhập vào một Tôn Giáo nào, thì trước hết cũng phải lấy sự Tu thân dể chính Tâm và lấy Tâm làm đích.
Tu thân nghĩa là học hành thiện với thân mình, lấy Tâm làm chủ đích đặng học hỏi tìm kiếm trong thân mình về vật chất lẫn tinh thần, những chi thiếu sót, những chi trái với tánh đức Thiêng liêng toàn thiện của Tạo Đoan hầu có sửa mình cho gần với Nhân với Nghĩa, đúng với Lễ, thông vơi Trí, thành với Tín; (Nho gọi là Minh Minh Đức), chừng ấy mới đủ tánh cách mà quan sát vạn vật, suy xét Thiên hạ, và truy lý thiên kinh vạn điển.
Tu thân yếu điểm nơi Thành ý (Tiếng Pháp gọi là: La volonté inébranlable de reussir) nghĩa là quyết định thành tựu, nhứt định đi cho đến nơi đến chốn, quyết chí thi hành cho đến khi đạt thành mục đích, chẳng hề bỏ lãng quên lẫn giờ phút nào, mặc dù phải gặp muôn việc khó khăn trở ngại, cũng chẳng vì một lẽ chi mà ngã lòng bỏ dở.
Người Tu thân đi cho đến đạt được Thành ý rồi, thì bề ngoài coi chẳng thấy chi, song tựu trung có một năng lực cương cường tinh tiến, mạnh mẽ can đảm phi thường, đạp đổ được các cơ khảo của Tà quyền; nghĩa là chẳng cho bản năng động vật rối loạn Tâm thần, hầu có vững bước êm chân trên con đường Thiên tánh.
Thiên tánh và phàm tánh cũng đồng chung một chỗ mà phát ra, song Thiên tánh phát ra Đại Ngã là con đường chánh, con đường phải Nhân, phải Nghĩa; còn phàm tánh phát ra lại do theo tiểu ngã là con đường tà, con đường phi nhân phi nghĩa.
Nên người Tu thân phải đủ tinh thần tinh tiến mới có thể phân đoán được mọi lẽ thiệt hư, chánh tà lẫn loan; Nhân mà không trọn Nhân thì chưa phải chánh, Nghĩa mà chưa trọn Nghĩa ấy cũng là tà.
Cả sự hành động của Thiên tánh đều do nơi Linh Tâm định đoạt, nên việc làm có mực thước, hữu thỉ hưũ chung, trọn Nhân trọn Nghĩa, còn phàm tánh là tùy theo hoàn cảnh cùng vật dục mà xuất hiện; nên thiện ác không chừng, chẳng độ lượng, sự tấn thối không nhứt định.
Phàm tánh hay yêu chuộng lợi danh hơn là Nhơn Nghĩa, ưa thích học đòi theo lối thường tình mà chẳng luận phân phải trái; vì vậy mà con người cần phải có sự giáo hóa để kềm chế và khép chặt phàm tánh vào khuôn phải lành, buộc tùng theo Thiên tánh mà cùng đi trên con đường ngay lối chánh.
Nếu con người mà thiếu sự giáo hóa, thiếu sự kềm chế, để cho lối tồi phong bại tục trêu bày trước mắt, tà thuyết dâm từ lọt vào tai, thâm nhập vào não cân, thì chẳng khác nào giúp sức cho bản năng động vật chiến thắng Thiên tánh mà làm cho Lương Tâm phải bợn nhơ mờ ám.
Điều cần nhứt là con người phải biết tôn dưỡng Tâm tánh tịnh yên, mới có thể biệt phân được chơn giả của cái dục và tình của Tâm, hay là cái dục và tình của bản năng động vật.
Con người không thể thiếu dục và tình, cũng như Trời Đất không thể thiếu nước và lửa vậy; vì rằng nước và lửa có lợi có hại, thì dục và tình cũng có hại và có lợi. Con người thường thấy cái hư và cái hại của dục và tình, mà không xét đến cái nên và cái lợi, nên mới toan phương đoạn tuyệt dục và tình.
Thoảng như đoạn tuyệt được cái dục và cái tình là trừ được cái hư và cái hại, rồi cái nên và cái lợi mới do nơi đâu mà đi đến con đường tận thiện tận mỹ được; vì bởi tình là cảm động, dục là cương quyết, nhờ cảm động mới thật hành Nhân, nhờ cương quyết mà thiệt hiện Nghĩa.
Nếu con người mà thiếu dục và tình thì chẳng khác như hình cây tượng giấy. Tâm cũng có dục và tình, bản năng động vật cũng có dục và tình,nhưng dục và tình của Tâm thì trọn Nhân vẹn Nghĩa, còn dục và tình của bản năng động vật là bất Nghĩa bất Nhân; nên con người cần lo chính Tâm để biệt phân trái phải mà sai khiến dục và tình, thì cái hư cái hại đã mất, mà cái nên cái lợi vẫn còn, ấy là phương pháp Tu thân dìu theo Đại ngã.
Con người mà lo đoạn tuyệt dục và tình, tức là phế bỏ cả ngũ quan, vì ngũ quan là nguồn cội của dục và tình mà nếu không thể bỏ cả ngũ quan mà cũng không chính được Tâm, thì duc và tình cũng không thể đoạn được. Trái lại, con người cần phải có dục và tình mới biết được cái Tâm, vì bởi Tâm không thể thấy được, chỉ có xem xét nơi dục và tình mà đoán chắc cái Tâm đã chính cùng chăng; nên dục và tình là cặp gương phản chiếu, để cho con người trông vào đó mà thấy hiểu được cái Tâm của mình vậy.
Thiên tánh và phàm tánh thường hay lẫn lộn, chẳng giờ phút nào mà Tà không chen với chánh, nên sự chính Tâm của người tu thân chẳng bao giờ gián đoạn được, vì lẽ cố nhiên, hễ nhà bỏ trống thì nhện giăng, đường vắng đi là cỏ mọc.
Sự Tu thân cần phải hiểu nề nếp và trật tự để do theo phương pháp khoa học mà tập luyện trau tria, mới tránh khỏi sự sai bước lầm đường lạc lối.
Phương pháp Tu thân chia ra ba thời kỳ đem thân hành thiện:
- Thời kỳ nhất là không làm điều bất nghĩa.
- Thời kỳ nhì chẳng tưởng việc bất nhân
- Thời kỳ ba là tưởng điều nhân, thật hiện việc nghĩa.
Phàm học một việc chi, trước hết cũng phải tìm cho ra căn bản, truy hiểu từ gốc chí ngọn, tức là tiền rồi hậu, rồi mới phân định chánh danh; ấy là phân chất (Méthode analytique). Phân chất rành rẽ rồi mới tĩnh; nghĩa là hiểu được lẽ phải mà theo, lẽ trái mà bỏ, chừng theo được lẽ phải rồi mới yên; nghĩa là không sợ trật, không lo sái quấy nữa.
Có yên mới định tĩnh Tâm thần xét suy cạn lý, trầm tư mặc tưởng ( Médité) đặng trở lại con đường đã phân ra coi có đắc thành thật sự, khi quan sát hai phương pháp đắc thành rồi, mới làm ra kỹ cương luật lệ mà tiếp tục thi hành đúng theo phương pháp.
Tu thân là bước sơ khởi của con đường Thánh nhân, mà con đường Thánh nhân là con đường thiết thực, nên người Tu thân cần phải trau luyện cho tinh thần vững chắc định yên mới có thể thực hiện được hoàn toàn Chơn tánh, mà Chơn tánh được hoàn toàn tức là Tâm đã chính, Tâm đã chính thì thân ta vững chắc như trụ đá cột đồng, trong trắng thể bạch liên chẳng ngại ngùng chuyển lai lem lắm.
NHÂN NGHĨA
Đức Khổng Tử quy hiệp các lý thuyết từ đời Thượng cổ, đặng lập thành Đạo Nho dùng Nhân làm thống hệ, nghĩa là lấy Nhân làm nguyên tắc căn bản của Đạo Thánh vì vậy mà gọi là Đạo Nhân.
Nhân là Thiên tính của Trời ban cho nhân loại, nên người Tu thân phải lấy Nhân làm gốc và đi cho đến tận con đường Nhân là nơi cuối cùng; khi kết quả được rồi mới gọi là Thánh Nhân; nên chi gọi Đạo Nhân là Thánh Đạo.
Cả tánh đức của con người đều do Nhân mà có, và Nhân phát hiện ra bao trùm cả tánh đức của con người, vật cả cử chỉ hành động của con người đều ở trong Nhân, nên phải lấy Nhân làm tiêu biểu đặng sửa tánh, làm cho thiệt hiện Chơn tánh và phối hiệp với Trời; Nho gọi là Tu kỷ, hay là thành kỷ. Chỉ có Thánh Nhân là người hoàn toàn tánh đức mới có thể cảm hóa được người, và khiến người hành nhân đến bực hoàn toàn như mình; Nho gọi là Trị Nhân hay là thành vật.
Nhân tức là đầu mối của trăm ngàn đức tánh khác, chẳng chi ra ngoài Nhân, không chi mà chẳng do Nhân làm gốc, nên Nhân là luật lệ chung cho Tu Thân, Tề Gia, Trị Quốc, Bình Thiên Hạ, chẳng phải một quy tắc nhỏ để kềm chế một tánh đức nhỏ; Nhân bao hàm cả tánh cách hoàn toàn của Nhân loại.
Sự ấn chứng của Nhân không thể dùng làm ra một mặt luật cỏn con mà là cơ khí vĩ đại bao trùm cả Thiên tánh và phàm tánh; từ Tu kỷ đến thành vật, luôn luôn chẳng giờ phút nào mà không có Nhân;cái trạng thái thứ nhứt của Nhân ấy là Nghĩa.
Nhân là Thiên tánh ở nơi người, Nhân ấy tức nhiên dẫy đầy đức háo sanh của Tạo Đoan, vì thế mà Mặc Địch gọi Nhân là Kiêm Ái, mà Kiêm Ái tức là Bác Ái.
Đức Mạnh Tử nói về Nhân nghĩa, thì ví Nhân như “ an trạch giả”, còn Nghĩa là “chánh lộ gia”, vì bởi Thiên Tánh thực hiện nơi con người là toàn lòng Bác Ái, được toàn lòng Bác Ái, tức nhiên như ở yên trong nhà; nên gọi là an trạch giả. Còn Nhân phát ra là Nghĩa thì phải khởi hành nơi con đường ngay lối chánh; nên gọi là Chánh lộ giả.
Hễ đã nói con đường chánh thì tức nhiên phải có con đường tà, nên Nho gọi là Tiểu Ngã đối với Đại Ngã hay là chơn ngã.Đại Ngã là con đường của Thiên tánh phát hiện, còn Tiểu Ngã là con đường khởi hành của Nhơn dục, tức là con đường xuất hiện của bản năng động vật. Bản năng động vật cũng tự trong một chỗ với Thiên tánh của con người mà phát ra, nhưng nếu chìu theo con đường bản năng động vật là con đường Tiểu Ngã, ấy là con đường trái Nghĩa.
Còn do theo con đường Thiên tánh là con đường Đại Ngã, tức là con đường phải Nghĩa, là con đường toàn thiện. Nên muốn đến chỗ Nhân thì phải đi trên con đường Nghĩa, ấy là dụng Nghĩa để làm thủ đoạn đặng đoạt mục đích Nhân, mà muốn đoạt được mục đích Nhân thì phải đè nén bản năng động vật, không cho phát hiện mà làm sai con đường Nghĩa.
Nghĩa gồm cả tinh thần và vật chất, từ lời nói việc làm, nếu biết tùng theo Thiên tánh mà thật hành là phải Nghĩa. Nhờ Nghĩa mà dung hòa bảo trợ lẩn nhau từ người cho đến vật, nhờ Nghĩa mà con người thật hiện được Chơn tánh.
Có câu Linh Tâm là cái quý báu riêng của nhơn loại, để phối hiệp với Tạo hóa, còn Tánh là cái quý báu chung của Nhân loại, để phối hiệp với vạn loại và vạn vật; nghĩa là lấy Nhân mà đối với Trời là sự hữu ích riêng của mọi người, còn lấy Nghĩa mà đối với vạn loại và vạn vật là sự hữu ích chung cho toàn sanh chúng. Đó là con đường hành thiện mà người Đại Nhân do theo để đạt đến Thành ý vậy.
I-ĐẠI NHÂN-TIỂU NHÂN
"Kẻ Tiểu nhân nghe đến Danh thì muốn, thấy tới Lợi thì ham mà chẳng luận phân phải trái.."
Con người cũng đồng thọ một điểm gọi là Thiên Tánh của Trời ban cho, nhưng phân ra hai hạng Tâm Tánh chẳng đồng; ấy là Đại Nhân và Tiểu Nhân.
Đại Nhân là người hoàn toàn tánh cách, lời nói và việc làm không sai một mảy, chẳng vì danh lợi mà xa Nghĩa Nhân; chẳng vì khó nghèo mà lìa Đạo Đức; làm một việc phi Nhân, phi Nghĩa mà được quyền trọng lợi nhiều, ngồi trên cả Thiên hạ cũng chẳng khứng làm; còn làm việc trọn Nhân, vẹn Nghĩa mà phải lắm chịu khổ thân, cùng thọ lấy tử hình cũng không ngần ngại.
Bao giờ người Đại Nhân cũng lấy Lễ, Nghĩa đối với người trên, dụng Nhân Ái mà đãi người hèn thấp, giúp người trên thì tận tâm, dìu kẻ dưới thì tận lực, chẳng vì kẻ dưới mà trái người trên, không vì người trên mà quên kẻ dưới.
Người Đại Nhân là đức rộng, trí dày, biệt phân tất cả mọi sự phải trái, thấy phải thì theo, biết trái thì bỏ, chỉ biết theo Đạo lý chứ không theo đảng phái, nên chẳng mạng lịnh hay là thế lực mạnh mẽ nào có thể ép buộc được người Đại Nhân bỏ phải mà theo trái; vì vậy mà lời nói và việc làm của bậc Đại Nhân là quý báu vô giá định, đáng làm khuôn vàng thước ngọc cho loài người đời nầy qua đời nọ.
Mùa Đông không vì lũ én mà bỏ cái lạnh thì người Đại Nhân cũng chẳng vì phường Tiểu nhân mà xa lìa Thiên Tánh.
Lời lẽ luận thuyết của người Đại Nhân rất mực thước rõ rệt và cang trực, chẳng quản ghét thương, không màng danh lợi, chỉ có vui cho người biết nghe mà nên, buồn cho kẻ không thấu hiểu mà hư đó vậy.
Chí khí của người Đại Nhân rất cương cường va bao qưát phi thường, nên chi làm việc lớn thì hay mà chẳng hay làm việc nhỏ. Sự độ lượng của người Đại Nhân rất tinh vi và hợp lẽ, chẳng một việc chi để đến phải ngộ bất cập mà buộc mình phải làm sai con đường Nghĩa.
Người Đại Nhân hằng vụ lấy sự công làm trọng, mà chẳng quản việc tư, nên thấy được cái lớn, hiểu thấu cái xa; còn đứa Tiểu nhân lại vụ lấy việc tư làm quý, mà chẳng quản sự công, nên chỉ thấy được cái nhỏ, hiểu rõ cái gần mà thôi.
Người Đại Nhân hằng ngày chỉ biết lo sửa mình cho ngay chánh, cho đáng tôn quý, đáng kính mến, đáng tín dụng, ngoài ra vẫn an vui mà đợi mạng, hạp thời thế thì cùng chung hiến thân giúp ích cho Thiên hạ, trái thời thế thì một mình giúp ích cho mình riêng vui với Đạo.
Người Đại Nhân dầu ngộ cảnh nào cũng không mất cái thái độ thanh cao chơn thật, tánh cách cang trực thiện lương; còn đứa Tiểu nhân thì chẳng lúc nào mất được cái tập tánh gian trá đê hèn, cử chỉ tàn ác mà khiếp nhược.
Hễ đã là Tiểu nhân thì dầu cho cao sang tột phẩm cũng là Tiểu nhân, còn Đại Nhân thì dầu cho khốn cùng cực điểm cũng là Đại Nhân. Người Đại Nhân bao giờ cũng trông cậy nơi mình như tòng bá đứng giũa Trời đông, còn kẻ tiểu nhân lại trông cậy nơi người như giống lang tiêu khoe màu đẹp sắc.
Tâm tánh của đứa Tiểu nhân chẳng giờ phút nào được thơ thới tịnh yên, hằng lo sợ ngại ngùng những điều ác báo, nên thường dùng những thuyết hoang đàng để tranh thắng cùng che lấp sự bất chánh bất minh, những điều tội ác.
Lòng phản phúc của kẻ Tiểu nhân vô cùng, sự hám vọng của đứa Tiểu nhân vô tận, ngồi trên thì chẳng Nghĩa, Nhân, đứng dưới lại không Trung, Tín.
Kẻ Tiểu nhân nghe đến danh thì muốn, thấy tới lợi thì ham mà chẳng luận phân phải trái; hằng đố kỵ với bậc Hiền Tài, và khinh thường những người hèn thấp. Đứa Tiểu nhân chỉ biết chê người mà chẳng biết sửa mình, không nể tiếng thị phi, chẳng biết hổ mặt thẹn lòng, nên chẳng một việc lợi danh bất Nhân bất Nghĩa mà đứa Tiểu nhân chẳng dám làm.
Đại Nhân và Tiểu nhân khác nhau có hai đường, hễ Thiên tánh phát ra Đại Ngã là Đại Nhân, còn phàm tánh xuất hiện nơi tiểu ngã là Tiểu nhân đó vậy. Cũng đồng thọ một điểm Linh Quang, cũng đồng một chỗ mà phát ra, nhưng theo được con đường Nhân Nghĩa là Đại Nhân, theo không được con đường Nhân Nghĩa là Tiểu nhân, còn theo tận cùng con đường Nhân Nghĩa lại là Thánh Nhân, ấy là yếu điểm của con đường Tu Thánh Đạo.
II- THÁNH NHÂN
Từ xưa đến nay, hễ luận đến Nhân Nghĩa đạo đức thì thường dụng danh của hai vị Thánh Vương như vua Nghiêu, vua Thuấn mà làm tiêu biểu, nghĩa là trưng bằng cớ cùng viện lý phải của Nhân Nghĩa, đạo đức mà thôi, chẳng phải buộc con người đinh ninh thủ cựu cùng giam hảm vào vòng thoái hóa như một phần người xưa nay đã lầm hiểu; cùng chưa được trọn thấu hiểu yếu lý của Nhân Nghĩa như thế nào, rồi vội vàng cho Đạo Nhân là bạc nhược.
Ví như vua Thang tháo lưới phóng sanh cho bao nhiêu điểu thú mà đã gọi rằng Nhân; đến như diệt loài sâu độc cứu hại mùa màng nuôi sống chúng sanh cũng gọi là Nhân; thì diệt kẻ bạo tàn cứu khổ lương sanh cũng là Nhân vậy, Nhân ấy càng thêm dẫy đầy âm đức.
Trong đời chẳng chi là tuyệt đối, chẳng chi là nhất định; con người càng tấn hóa, thế cuộc càng đổi xây; thì chi chi cũng phải tùy theo lẽ tuần hoàn mà đổi thay mới hợp Đạo.
Nhân nghĩa vốn là căn bản của Đạo Thánh, nên biết tùy thời tùy thế mà thật hiện trọn Nhân vẹn Nghĩa mới gọi là Thánh Nhân; còn tranh danh đoạt lợi mưu hại lẫn nhau là phường tiểu nhân tục tánh; tranh sống giành ăn tàn sát lẫn nhau là loài cầm thú.
Thánh Nhân là người vẹn giữ được bản tánh chí linh chí diệu toàn thiện toàn lưong của Trời dã ban cho; chẳng giờ phút nào làm một mảy chi trái với số mạng Trời đã định; hằng ngày chỉ biết nuôi cái Tâm, dưỡng cái chí, tuần tự theo Thiên lý lưu hành mà đợi Mạng.
Tâm của Thánh Nhân chẳng hề nao, chí của Thánh Nhân chẳng hề xao, không ngưng trệ, chẳng chinh lịch; nhứt cử nhứt động đều hòa huởn và tùy thời mà ứng dụng, nên lời nói và việc làm đều đắc Nhơn Tâm và thuận Thiên Ý.
Đạo Thánh vốn để khai Nhơn Tâm, qui bổn thiện, nên chi Thánh Nhân là người chí thiện chí minh, thay thân cho Trời mà cứu thế, độ đời, giáo hóa nhơn sanh, bảo tồn thế cuộc.
Bậc chí Thánh là biết có người mà chẳng biết nhọc mình; danh lợi không ham, khó nghèo chẳng quản, một mảy cũng không bợn nhơ; lại vì lòng Nhân mà thọ khổ với đời cũng không nản chí; nên chi Thánh Nhân là bậc cao minh tối thượng, vì nghĩa quên mình, chẳng phải người chán khổ tuồng đời mà riêng lo yếm thế.
Cái yếu điểm triết lý nhiệm mầu và tối cao của Đạo Thánh là linh Tâm phối hiệp với Trời, tức là Trời và người hiệp một, mà chỉ có Thánh Nhân mới có thể Tồn Tâm Dưỡng Tánh để tiếp xúc mọi lẽ huyền vi của Taọ hóa mà suốt thông van sự cùng van vật.
Thánh Nhân nhờ ở sự tiếp xúc ấy mà Minh, mà rõ thấu Thiên ý, nhờ ở sự tiếp xúc ấy mà huệ, mà thâm hiểu nhơn tâm. Được thấu hiểu Thiên ý cùng thâm hiểu nhơn tâm rồi, mới suy lý Đạo Trời mà lập Đạo Người, dụng Đạo Người mà bồi bổ cho Đạo Trời, dìu nhân loại vào đường chí thiện, chí minh, phục nguyên Thiên tánh.
Tâm chí của Thánh Nhân bao giờ cũng hòa cũng hiệp với mọi người, song mọi người chẳng hòa được với Thánh Nhân là do bởi khác cái Tâm, khác với Thánh Nhân là do bởi không đồng cái chí.
Thánh Nhân chỉ khác với người có cái Tâm và cái chí mà thôi, nên chi xem qua bề ngoài thì khó phân phàm Thánh; phải có đủ Thánh chất Thánh Tâm mới có thể trông thấy mới có thể trông thấy và hiểu biết được bậc chí thành, chí Thánh.
I- LỄ, NHẠC
Nhân và Nghĩa bao trùm cả đức tính của con người, vậy Lễ là một trong những đức tính ấy, nên chi Lễ cũng do nơi Nghĩa Nhân mà phát hiện.
Nhân Nghĩa phát triển phải có phẩm trật và thứ tự, nên lập thành Lễ để cho Nhân Nghĩa noi theo nề nếp trật tự ấy mà phát hiện phân minh, khỏi lối tự do của bản năng động vật. Lễ là trật tự, nghi tiết, quy tắc, là định phân ngôi thứ, phẩm trật phân minh, tôn ti thượng hạ.
Trong đời phải có người lớn kẻ nhỏ, món thấp món cao, cái thấp cái trên, bề trái bề mặt không thể trái ngược được; nếu trái ngược là mất trật tự; mà mất trật tự là thiếu Lễ, thiếu Lễ là loạn ly, mà loạn ly là tiêu diệt.
Đối với con người ở đời chẳng nhơn lúc nào mà không có Lễ, từ lời nói việc làm, từ khi đi đứng nằm ngồi, từ việc lớn chí việc nhỏ, chi chi cũng phải lấy Lễ làm đầu; nếu thiếu lễ làchẳng hiệp chẳng hòa, chẳng bao giờ thành tựu được.
Ví như trong một nước mà quân bất minh, thần bất trung, chẳng lấy Nhân Nghĩa mà đối đãi nhau, chẳng phân minh phẩm trật chúa tôi, ấy là thất Lễ thì nước sẽ diệt vong vì biến loạn. Trong một nhà mà phụ bất từ, tử bất hiếu, chẳng lấy Nhân Nghĩa mà đối đãi nhau, chẳng phân ngôi thứ cha con, ấy là thất Lễ thì nhà ấy sắp điêu tàn sanh biến. Còn con người mà để cho bản năng động vật rối loạn tâm thần, chẳng còn biết Nghĩa, biết Nhân, không phân minh thượng hạ, đó là vô Lễ, thì người ấy có khác chi là cầm thú nữa đâu.
Lễ là sự kính mến tôn trọng trong Tâm của con người thể ra bề ngoài, nên trông vào nghi tiết và qui tắc của Lễ thì biệt phân thượng hạ và phẩm trật.
Lễ đối với con người rất cần thiết, vì vậy mà các Tôn giáo đều lấy Lễ làm trọng, chẳng những hành Lễ để tỏ lòng thành kỉnh các Đấng Thiêng Liêng mà thôi, mà cũng lấy Lễ để nâng cao đức tin của con người, lấy Lễ khép người vào lối thẳng đường ngay, vào khuôn Nhân Nghĩa.
Lễ rất bao la rộng lớn bủa khắp Càn khôn thế giái, nếu chẳng có Lễ thì loạn lạc Càn khôn, chẳng còn chi trong thế giái; nên nơi nào có Nghĩa có Nhân là nơi ấy có Lễ.
Lễ nhạc do bởi lý đạo âm dương mà lập thành. Lễ là dương, là trật tự; nhạc là âm, là điều hòa nên Thánh Nhân dụng Lễ nhạc để kềm chế và cảm hóa lòng người trọn theo Nhân Nghĩa. Khi âm dương hổn hiệp thì âm phát ra thinh, nên gọi là âm thinh mà chế ra nhạc, mà nhạc được thành là do bởi bát hồn là biều, thổ, cách, mộc, thạch, kim, tư, trước nên gọi là bát âm.
Trong mỗi âm lại chia ra năm bậc là cung, thương, giốc, trủy, vũ. Nhờ năm bậc ấy, thinh âm mới hòa thành nhạc. Chẳng những gồm cả tiếng trống, tiếng chuông, tiếng mỏ cùng tiêu thiều đờn ca xướng hát là gọi nhạc mà thôi, mà từ câu văn tao nhã phù ba, từ lời nói xuôi thuận êm đềm cũng là nhạc vậy.
Nhạc đối với con người thì cần thiết, mà đối với quốc gia lại thêm hệ trọng. Nước thiếu nhạc là không hòa, người thiếu nhạc là chẳng thuận; mà chẳng hòa chẳng thuận là cơ diệt tận. Tinh thần âm nhạc rất quan hệ đối với quốc dân xã hội, nên trông vào âm nhạc thì đoán biết vận nước hưng vong, thấu rõ trình độ của dân chúng.
Lễ nhạc gồm cả tinh thần và vật chất, vì mắt vừa thấy thì Tâm phát kính trọng; tai vừa nghe thì động lòng thương xót; nên Lễ và nhạc có cái năng lực mạnh mẽ phi thường, có thể cảm hóa lòng người trong nháy mắt.
Lẽ và nhạc là lý đạo âm dương biến sanh Càn khôn thế giái vạn loại muôn loài, nên con người thiếu Lễ thiếu nhạc tức là thiếu Đạo, vì bởi thiếu Lễ thiếu nhạc thì người trên không dạy được kẻ dưới; kẻ dưới không đối được với người trên, trên dưới chẳng nương được lẫn nhau, trên chẳng hiệp, dưới không hòa, sanh biến loạn ly. Ấy là vô Đạo.