PDA

View Full Version : Thánh đạo


DaoKy
03-01-2005, 12:42 PM
THUYẾT MINH THÁNH ĐẠO


http://www.banthedao.org/ContentVN/0041/IM0001.jpg
Nam Mô CAO ĐÀI TIÊN ÔNG ĐẠI BỒ TÁT MA- HA- TÁT


THUYẾT MINH THÁNH ĐẠO


Kính thưa Quý Đồng Đạo, Đọc giả Website Ban Thế Đạo,

Công trình khảo cứu về Thánh Đạo của Tác giả Phạm Minh Ngọ (Truyền Trạng HTĐ) đã được in thành sách xuất bản năm Canh Dần (1950), được phê duyệt của Đ ức Hộ Pháp như sau: “Phê chuẩn và cho ấn tống toàn Đạo và để lời khen Truyền Trạng thuyết minh Giáo lý”.

Nội dung sách gồm hai phần:

- Phần I : Thuyết minh Thánh Đạo.

- Phần II: Tam Giáo Thiên Đạo - Phương Tu Tân Pháp


Website Ban Thế Đạo sẽ lần lượt cho đăng nội dung trên để Quý Đồng Đạo cùng Đọc giả có thể nghiên cứu tham khảo thêm để tìm hiểu về Đạo Cao Đài.



Website Ban Thế Đạo


Hình : CHÂN DUNG ĐỨC KHỔNG PHU TỬ

_______________

LỜI TỰA



Từ Bàn Cổ sơ khai đến nay, biết bao phen loạn lạc gây họa chiến tranh, biết bao trận khói lửa binh đao long Trời lỡ đất, làm cho mặt thế đổi màu, bể huyết non thây, thần sầu quỷ khóc. Ấy cũng bởi Tam Giáo thất chánh, nhân loại bị thất kỳ truyền, mới khiến cho Đời xa Đạo, nhơn sanh mất cả bản tánh thiện lương, xa hẳn với bản căn Thiên tánh.

Thế là phàm chất đã lấn hơn Thánh chất, Nhân đã lụn, Đức đã tàn, con người chẳng giữ được mối thương yêu là giềng bảo sanh càn khôn thế giới, mới sanh ra oán ghét nghịch thù, tranh thắng, giành hơn, cấu xé tàn sát lẫn nhau, rồi đem thân người mà làm mồi cho loài chim loại cá.

Thương hại thay cho Đời tàn bạo! Khốc hại thay cho nhân loại bất lương! Càng tàn bạo, càng bất lương thì tai họa gớm ghê càng thêm chất nặng.

Đời Hạ Nguơn hổn độn, nhơn loại lành ít dữ nhiều, tai họa chiến tranh khắp chốn, khổ nạn đói rách khắp nơi, kiếp sống khó mong no dạ, thân chết chưa chắc toàn thây; thảm thương thay cho đám lương sanh còøn đương lẫn lộn.

Đời thế ấy, nhơn loại thế ấy, nếu chẳng có Thiên Đạo dìu Đời chẳng đem giọt nước nhành dương mà tưới tắt lửa lòng của nhơn loại thì chi cho khỏi ngọn hung quang toả khắp hoàn cầu hủy thiêu cuộc thế.

Cơ lập Đạo nhiệm mầu vô giá, chẳng có Đạo, chẳng nên Đời, Đạo chẳng nên,Đời chẳng rạng mà từ xứa đến nay chẳng thiếu; Đời bao phen loạn lạc thì Đạo cũng mấy lượt hoằng khai để thức tỉnh nhơn sanh phục hưng thế cuộc.

Ví như trong buổi Trung Nguơn, vì Tam Giáo thất chánh, nhơn loại bị thất kỳ truyền, Đời biến sanh hổn độn, thì có Đức Thích Ca, Đức Lão Tử, Đức Khổng Tử ra đời chấn hưng Tam Giáo Đông phương; Đức Giêxu chỉnh đốn Thánh Đạo phương Tây, rồi nhơn loại mới nhờ nơi Giáo lý Bác Ái từ tâm, gương Đạo đức phải lành của các Đấng ấy mà thức tỉnh hồi tâm, người dữ hóa lành, đời loạn ly trở nên bình trị.

Đến nay là thời kỳ Mạt kiếp cuối cùng, Hạ Nguơn hầu mãn, nhưng đời chưa dứt, thế chưa tận, thì lẽ cố nhiên có cuộc tuần hoàn vận chuyển, Thiên Địa hoằng khai Đại Đạo gọi là Tam Kỳ Phổ Độ cho phù hợp với cơ Tái Tạo Nguơn Qui Cổ hầu có chuyển Đạo lập Đời, Qui Nguyên Tam Giáo, mà cứu vớt lương sanh thoát vòng khổ hải.

Vì bởi Nhơn loại thiếu Nhân, thiếu Nghĩa, mất cả bản tánh Thiện lương, mới sanh lòng tham lam tàn ác, xu hướng theo giả lợi, giả danh thêm khổ cho Đời, sái hẳn với cơ công bình Thiêng liêng Tạo Hóa; nên Đại Đạo Kỳ Ba mới đem ruộng Nhân, giống Nghĩa khuyến khích Nhơn loại cấy cày, mong nhờ kết quả nhập Thánh siêu phàm hầu có dựng nên cuộc thế, bổ cứu cho Đời, diệt tận can qua, lập hòa bình Thế giới.

Nhân Nghĩa vốn là tánh đức hóa dục của Trời, nên chi Đời cần phải có Nhân, có Nghĩa vạn loại mới hòa bình, nhơn loại mới ấm no, sanh linh mới thoát cơ tận diệt.


PHẦN I

THUYẾT MINH THÁNH ĐẠO

Thánh Đạo vốn có từ đời Thượng Cổ, sau khi Chí Tôn khai Thiên lập Địa. Đạo có trước rồi mới sinh ra Đời; ấy là có Đạo mới nên Đời.

Trong buổi Thượng Nguơn, càn vô đắc khán, khôn vô đắc duyệt, con người chỉ có hành Đạo nơi phương mình, là học đòi theo Thánh đức và sở hành của các bậc Đế vương thường ở gần mình là đủ, và cũng bởi thuở ấy con người còn giữ vững Thánh đức Thiện Lương, nên sự tu hành và đạt Đạo rất dễ dàng vì vậy mà gọi Thượng Nguơn là Nguơn Thánh Đức.

Qua đến đời Phục Hy, Thần Nông, chí đến Nghiêu, Thuấn, con người vẫn hưởng thái bình an cư lạc nghiệp mà Thánh Đạo cũng khỏi thống hệ kỷ cương, Chơn vi vẫn được lưu truyền đời nầy qua đời nọ, ấy là Nhứt Kỳ Phổ Độ.

Đến gần cuối Thượng Nguơn, gần bắt đầu qua Trung Nguơn là Nguơn tự diệt, cơ đời sắp biến đổi, Thánh Đạo vì đó mà phải biến thiên, nên Chí Tôn mới khai Nhị Kỳ Phổ Độ, để cho Đức Khổng Phu Tử chấn hưng Thánh Đạo, lập chơn truyền Nhơn Đạo, hầu có sửa trị Đời và dìu người theo đường Đạo đức.

Cả Chơn vi của Nho giáo đều tóm thâu qua hai chữ Thiên Mạng mà thôi, vì vậy mà con người cần phải biết có Trời là Chúa tể vạn linh sanh chúng tức nhiên cả số mạng căn phần của cả thảy lương sanh do Chí Tôn dĩ định.

Đạo Thánh rất cao siêu huyền bí, nên chi trong đời chỉ có bậc Thánh Nhân mới biết được phương pháp tồn Tâm, dưỡng Tánh, là hằng ngày chẳng giờ phút nào làm một việc chi trái với mạng Trời đã định, chỉ để trọn Tâm linh phối hợp với mọi lẽ huyền vi của Tạo Đoan; ấy là đạt được Đạo, mà đạt được Đạo tức là cầm trọn nơi tay cả số mạng và căn phần của mình vậy.

Nho Giáo đem con đường Thánh Đạo mà phân ra Tu Thân, Tề Gia, Trị Quốc, Bình Thiên Hạ, nhưng trong con đường Tu lại chia ra làm hai phần, phần Thượng học cao siêu triết lý là phối hiệp với Tạo Đoan để đạt đắc huyền vi mầu nhiệm; còn phần Hạ học là thực dụng hằng ngày để phối hiệp với vạn loại và vạn vật, song dầu cho Thượng học hay là Hạ học cũng chỉ lấy Linh Tâm làm chủ đích.

Rất tiếc thay! Sau khi Đức Khổng Tử và Mạnh Tử qua đời, thì chơn truyền Nho giáo cũng chẳng bao lâu lần hồi thất chánh. Chư hậu Nho chỉ biết lạm dụng văn nho để tô điểm cho đường chánh trị, mưu cầu lấy sự phú quý vinh hoa, chẳng hề để ý đến điều siêu việt triết lý nhiệm mầu; thành thử đến Hạ Nguơn là thời kỳ văn minh vật chất lan tràn, làm cho cang thường biến đổi, luân lý suy đồi, con người xu hướng theo điều lợi, nẻo danh, chẳng mấy ai sùng tu nền Thánh Đạo.

Cũng may thay! Tuy là Thánh Đạo đã thất truyền, Nhơn Đạo đã biến thiên, song ảnh hưởng hãy còn, danh thể chưa dứt, thì sự chấn hưng Nhân Đạo cùng gầy dựng Thánh Đạo lại cho hoàn toàn, cho phù hợp với Nguơn Tái Tạo, với lẽ tuần hoàn Quy cổ cũng chưa là tuyệt vọng.

Chư hậu Nho đã đem hết tài học hiểu để tranh luận cùng chú giải Đạo Nhân, nhưng xem kỹ lại thì bao nhiêu lý lẽ gồm trong muôn sách, ngàn kinh chẳng chỉ qua là Tâm với Tánh. Vậy trước khi học Đạo cần biết Tâm là chi, Tánh là gì, cần phải biết nguồn cội của con người; rồi mới do theo phương pháp khoa học ( Methode scientifique) là bước sơ khởi của người Tu, mà tự chính Tâm linh tầm đường Chánh Đạo.

I- TÂM, TÁNH


Sau khi khai Thiên lập Địa, phân càn Khôn Thế Giái, sanh hóa vạn loại muôn loài, gọi là Chúng sanh, duy có nhơn loại là đứng đầu trong cơ sanh hóa. Sanh ra nhơn loại, Chí Tôn lại phân tánh ban cho một điểm Linh Quang bất tiêu, bất diệt để làm chủ tể con người. Điểm Linh Quang ấy đồng thể với đức tánh linh diệu thiêng liêng, toàn thiện của Tạo hóa, nên gọi Lương tâm hay Linh Tâm là chánh lý.

Hễ đã gọi là Lương tâm hay Linh Tâm thì Tâm bao giờ cũng linh diệu thiện lương, mà không linh diệu thiện lương là bởi con người chẳng biết tồn dưỡng Linh Tâm đó vậy.

Linh Tâm vốn là tiểu Linh Quang do nơi Đại Linh Quang mà sinh ra. Đại Linh Quang ấy là Trời, mà Trời là chí linh chí diệu, tánh đức toàn thiện, toàn lương. Nếu con người tự vâng theo Thiên Tánh là Chơn tánh của Trời ban cho, chẳng để nhơn dục khiến sai, không cho bản năng động vật (instinct animal) rối loạn Tâm linh thì tâm linh của con người cũng đồng một đức tánh linh diệu Thiêng liêng của Tạo hóa.

Ví như nước trên nguồn chảy xuống thì lúc nào cũng trong, dưới đáy ao bao giờ cũng đầy dẩy bùn lầy; nếu bùn lầy chẳng dấy lên thì nước ao cũng cùng một màu trong như nước nguồn chẳng khác.

Linh Tâm của con người rất diệu linh huyền bí, gồm cả vạn sự và vạn vật, chẳng chi mà chẳng do Linh Tâm ứng đối. Bởi thế nên con người chuyên môn một việc chi, thì tầm kiếm học hỏi nơi Linh Tâm thì đạt đắc.
Ví như người kia làm ra một vật tận thiện tận mỹ, người nọ độ được một sự huyền bí tinh thần, thế gian chưa từng có, nhơn loại chưa từng thấy, thì đời gọi là phát minh, không học mà hay, không thấy mà biết.

Nho gọi là lương tri, lương năng. Ấy là một bằng chứng hiển nhiên cho con người quyết đoán rằng Linh Tâm có thể phối hợp với mọi lẽ huyền vi của Tạo Đoan mà phát minh vạn sự.

Bởi cớ nên Đức Khổng Thánh dạy con người hãy giữ cái Tâm cho còn, và suy tầm cho biết cái Tâm của mình. Hễ biết được cái Tâm của mình là biết được Trời. Mà biết được Trời thì suốt thông vạn sự và vạn vật.

Tâm và Tánh của con người cũng đồng như một, song Tâm là Chủ tể, Tánh là chủ động, nghĩa là còn ở trong là Tâm, đã phát ra ngoài là Tánh, nên gọi là Tánh bổn thiện.

Thiên Tánh ở nơi người thì ai ai cũng đồng giống nhau một tánh thiện lương, mà sỡ dĩ làm điều bất thiện là khi nào bản năng động vật dấy loạn quá độ, buộc con người phải làm điều ác, mà sau khi làm điều ác rồi thì bản năng động vật lại im lặng. Chừng ấy con người mới biết ăn năn tự hối, nghĩ đến sự thương xót, biết việc chẳng nên làm; ấy là lúc Thiên tánh đã bình được phàm tâm, tà lui chánh thắng.

Vì vậy mà Đức Khổng Tử mới nói rằng: “Biết giữ thì còn, không biết giữ thì mất . . .”

Biết giữ thì còn là Thiên Tánh đè nén được bản năng động vật để làm điều thiện, còn giữ nguyên vẹn bản Tánh của Trời đã ban cho. Nên gọi là“Còn”. Không biết giữ thì mất là để cho bản năng động vật lừng lẫy rối loạn Tâm linh, khiến làm điều bất thiện, mất cả bản tính của Trời đã ban cho; nên gọi là “Mất”.

Con người đều giống nhau một tánh đức thiện lương, nhưng lại có người bất thiện, có người trước thiện sau ác, có người trước ác sau thiện, thì chẳng khác nào một giống cây, hễ đúng mùa tiết thì đơm bông trổ trái như nhau, nhưng cây nầy trái chua, cây kia trái ngọt, mùa trước ngọt, mùa sau chua, mùa trước chua mùa sau ngọt.

Sự chua ngọt của trái là do bởi sự hiểu cách trồng tỉa, biết tùy phong thổ hay là không hiểu biết đó thôi. Còn con người thiện hay ác là cốt ở sự biết phương tu dưỡng, hiểu cách chính Tâm cùng không hiểu biết đó vậy.

Căn bản của Tâm là tối linh, tối diệu, toàn thiện, toàn lương, chẳng chi cảm hóa sửa đổi làm cho mất cái tánh đức thiện lương, linh diệu của Tâm được cả. Chỉ có một điều là con người để cho bản năng động vật sai khiến, vật dục thế tình ngoại ám Tâm linh, làm cho Linh Tâm không trọn chiếu diệu được, có khác nào ngọc bích bị phong trần bao phủ, làm cho lu lờ cái ánh sáng của ngọc, nhưng cái tinh ba lịch sắc của ngọc chẳng bao giờ thay đổi. Ấy vậy, nếu con người biết trau dồi Tâm Tánh, thì chẳng ai là không thiện lương, chẳng ai là bất Nhân, bất Nghĩa.

Trời đã phú cho một diểm Linh Quang chí linh, chí diệu để làm chủ tể con người, thì chẳng ai minh, chẳng ai ám, chẳng ai thông, không ai muội, chỉ nơi con người phải tự biết trau tria cho trong sạch, khai mở cho huệ minh và tùy thời tùy thế mà nâng cao đức tính. Phàm con người mà chẳng để cho nhơn dục khiến sai, không cho vật dục hảm ám Tâm thần, thì điểm Linh Quang càng ngày càng nẩy nở quang minh suốt thông van sự.

Trong con người có một phần thiệt và một phần giả. Phần giả là phàm tánh theo vật dục, phần thiệt là Thiên tánh theo nghĩa nhân. Hễ Nhân Nghĩa phát triển là Minh, vật dục khởi hưng là Ám.

Linh Tâm là cái quý báu riêng của nhân loại để phối hiệp với Tạo hóa, còn Tánh là cái quý báu chung của Nhơn loại để phối hiệp với vạn loại và vạn vật; vì vậy nên chẳng Tôn Giáo nào mà không chú trọng về Tâm với Tánh. Ví như Thánh Đạo thì Tồn Tâm Dưỡng Tánh, Tiên Đạo thì Tu Tâm Luyện Tánh, Phật Đạo thì Minh Tâm Kiến Tánh, chăng Tôn Giáo nào không lấy Tâm làm gốc, mà lấy Tâm làm gốc tức là thờ Trời, là Chơn lý Đạo vậy.

Con người mà đạt được Chơn lý Đạo là gốc chính được Tâm, mà chính được Tâm là nhờ nơi phương pháp Tu thân dìu theo Chơn ngã.

II- TU THÂN

Từ xưa đến nay, các Tôn giáo đều do Tâm làm gốc, nên con người muốn hồi Tâm hướng thiện,tự tĩnh tự hối mà nhập vào một Tôn Giáo nào, thì trước hết cũng phải lấy sự Tu thân dể chính Tâm và lấy Tâm làm đích.

Tu thân nghĩa là học hành thiện với thân mình, lấy Tâm làm chủ đích đặng học hỏi tìm kiếm trong thân mình về vật chất lẫn tinh thần, những chi thiếu sót, những chi trái với tánh đức Thiêng liêng toàn thiện của Tạo Đoan hầu có sửa mình cho gần với Nhân với Nghĩa, đúng với Lễ, thông vơi Trí, thành với Tín; (Nho gọi là Minh Minh Đức), chừng ấy mới đủ tánh cách mà quan sát vạn vật, suy xét Thiên hạ, và truy lý thiên kinh vạn điển.

Tu thân yếu điểm nơi Thành ý (Tiếng Pháp gọi là: La volonté inébranlable de reussir) nghĩa là quyết định thành tựu, nhứt định đi cho đến nơi đến chốn, quyết chí thi hành cho đến khi đạt thành mục đích, chẳng hề bỏ lãng quên lẫn giờ phút nào, mặc dù phải gặp muôn việc khó khăn trở ngại, cũng chẳng vì một lẽ chi mà ngã lòng bỏ dở.

Người Tu thân đi cho đến đạt được Thành ý rồi, thì bề ngoài coi chẳng thấy chi, song tựu trung có một năng lực cương cường tinh tiến, mạnh mẽ can đảm phi thường, đạp đổ được các cơ khảo của Tà quyền; nghĩa là chẳng cho bản năng động vật rối loạn Tâm thần, hầu có vững bước êm chân trên con đường Thiên tánh.

Thiên tánh và phàm tánh cũng đồng chung một chỗ mà phát ra, song Thiên tánh phát ra Đại Ngã là con đường chánh, con đường phải Nhân, phải Nghĩa; còn phàm tánh phát ra lại do theo tiểu ngã là con đường tà, con đường phi nhân phi nghĩa.

Nên người Tu thân phải đủ tinh thần tinh tiến mới có thể phân đoán được mọi lẽ thiệt hư, chánh tà lẫn loan; Nhân mà không trọn Nhân thì chưa phải chánh, Nghĩa mà chưa trọn Nghĩa ấy cũng là tà.

Cả sự hành động của Thiên tánh đều do nơi Linh Tâm định đoạt, nên việc làm có mực thước, hữu thỉ hưũ chung, trọn Nhân trọn Nghĩa, còn phàm tánh là tùy theo hoàn cảnh cùng vật dục mà xuất hiện; nên thiện ác không chừng, chẳng độ lượng, sự tấn thối không nhứt định.

Phàm tánh hay yêu chuộng lợi danh hơn là Nhơn Nghĩa, ưa thích học đòi theo lối thường tình mà chẳng luận phân phải trái; vì vậy mà con người cần phải có sự giáo hóa để kềm chế và khép chặt phàm tánh vào khuôn phải lành, buộc tùng theo Thiên tánh mà cùng đi trên con đường ngay lối chánh.

Nếu con người mà thiếu sự giáo hóa, thiếu sự kềm chế, để cho lối tồi phong bại tục trêu bày trước mắt, tà thuyết dâm từ lọt vào tai, thâm nhập vào não cân, thì chẳng khác nào giúp sức cho bản năng động vật chiến thắng Thiên tánh mà làm cho Lương Tâm phải bợn nhơ mờ ám.

Điều cần nhứt là con người phải biết tôn dưỡng Tâm tánh tịnh yên, mới có thể biệt phân được chơn giả của cái dục và tình của Tâm, hay là cái dục và tình của bản năng động vật.

Con người không thể thiếu dục và tình, cũng như Trời Đất không thể thiếu nước và lửa vậy; vì rằng nước và lửa có lợi có hại, thì dục và tình cũng có hại và có lợi. Con người thường thấy cái hư và cái hại của dục và tình, mà không xét đến cái nên và cái lợi, nên mới toan phương đoạn tuyệt dục và tình.

Thoảng như đoạn tuyệt được cái dục và cái tình là trừ được cái hư và cái hại, rồi cái nên và cái lợi mới do nơi đâu mà đi đến con đường tận thiện tận mỹ được; vì bởi tình là cảm động, dục là cương quyết, nhờ cảm động mới thật hành Nhân, nhờ cương quyết mà thiệt hiện Nghĩa.

Nếu con người mà thiếu dục và tình thì chẳng khác như hình cây tượng giấy. Tâm cũng có dục và tình, bản năng động vật cũng có dục và tình,nhưng dục và tình của Tâm thì trọn Nhân vẹn Nghĩa, còn dục và tình của bản năng động vật là bất Nghĩa bất Nhân; nên con người cần lo chính Tâm để biệt phân trái phải mà sai khiến dục và tình, thì cái hư cái hại đã mất, mà cái nên cái lợi vẫn còn, ấy là phương pháp Tu thân dìu theo Đại ngã.

Con người mà lo đoạn tuyệt dục và tình, tức là phế bỏ cả ngũ quan, vì ngũ quan là nguồn cội của dục và tình mà nếu không thể bỏ cả ngũ quan mà cũng không chính được Tâm, thì duc và tình cũng không thể đoạn được. Trái lại, con người cần phải có dục và tình mới biết được cái Tâm, vì bởi Tâm không thể thấy được, chỉ có xem xét nơi dục và tình mà đoán chắc cái Tâm đã chính cùng chăng; nên dục và tình là cặp gương phản chiếu, để cho con người trông vào đó mà thấy hiểu được cái Tâm của mình vậy.

Thiên tánh và phàm tánh thường hay lẫn lộn, chẳng giờ phút nào mà Tà không chen với chánh, nên sự chính Tâm của người tu thân chẳng bao giờ gián đoạn được, vì lẽ cố nhiên, hễ nhà bỏ trống thì nhện giăng, đường vắng đi là cỏ mọc.

Sự Tu thân cần phải hiểu nề nếp và trật tự để do theo phương pháp khoa học mà tập luyện trau tria, mới tránh khỏi sự sai bước lầm đường lạc lối.

Phương pháp Tu thân chia ra ba thời kỳ đem thân hành thiện:

- Thời kỳ nhất là không làm điều bất nghĩa.

- Thời kỳ nhì chẳng tưởng việc bất nhân

- Thời kỳ ba là tưởng điều nhân, thật hiện việc nghĩa.

Phàm học một việc chi, trước hết cũng phải tìm cho ra căn bản, truy hiểu từ gốc chí ngọn, tức là tiền rồi hậu, rồi mới phân định chánh danh; ấy là phân chất (Méthode analytique). Phân chất rành rẽ rồi mới tĩnh; nghĩa là hiểu được lẽ phải mà theo, lẽ trái mà bỏ, chừng theo được lẽ phải rồi mới yên; nghĩa là không sợ trật, không lo sái quấy nữa.

Có yên mới định tĩnh Tâm thần xét suy cạn lý, trầm tư mặc tưởng ( Médité) đặng trở lại con đường đã phân ra coi có đắc thành thật sự, khi quan sát hai phương pháp đắc thành rồi, mới làm ra kỹ cương luật lệ mà tiếp tục thi hành đúng theo phương pháp.

Tu thân là bước sơ khởi của con đường Thánh nhân, mà con đường Thánh nhân là con đường thiết thực, nên người Tu thân cần phải trau luyện cho tinh thần vững chắc định yên mới có thể thực hiện được hoàn toàn Chơn tánh, mà Chơn tánh được hoàn toàn tức là Tâm đã chính, Tâm đã chính thì thân ta vững chắc như trụ đá cột đồng, trong trắng thể bạch liên chẳng ngại ngùng chuyển lai lem lắm.

NHÂN NGHĨA

Đức Khổng Tử quy hiệp các lý thuyết từ đời Thượng cổ, đặng lập thành Đạo Nho dùng Nhân làm thống hệ, nghĩa là lấy Nhân làm nguyên tắc căn bản của Đạo Thánh vì vậy mà gọi là Đạo Nhân.

Nhân là Thiên tính của Trời ban cho nhân loại, nên người Tu thân phải lấy Nhân làm gốc và đi cho đến tận con đường Nhân là nơi cuối cùng; khi kết quả được rồi mới gọi là Thánh Nhân; nên chi gọi Đạo Nhân là Thánh Đạo.

Cả tánh đức của con người đều do Nhân mà có, và Nhân phát hiện ra bao trùm cả tánh đức của con người, vật cả cử chỉ hành động của con người đều ở trong Nhân, nên phải lấy Nhân làm tiêu biểu đặng sửa tánh, làm cho thiệt hiện Chơn tánh và phối hiệp với Trời; Nho gọi là Tu kỷ, hay là thành kỷ. Chỉ có Thánh Nhân là người hoàn toàn tánh đức mới có thể cảm hóa được người, và khiến người hành nhân đến bực hoàn toàn như mình; Nho gọi là Trị Nhân hay là thành vật.

Nhân tức là đầu mối của trăm ngàn đức tánh khác, chẳng chi ra ngoài Nhân, không chi mà chẳng do Nhân làm gốc, nên Nhân là luật lệ chung cho Tu Thân, Tề Gia, Trị Quốc, Bình Thiên Hạ, chẳng phải một quy tắc nhỏ để kềm chế một tánh đức nhỏ; Nhân bao hàm cả tánh cách hoàn toàn của Nhân loại.

Sự ấn chứng của Nhân không thể dùng làm ra một mặt luật cỏn con mà là cơ khí vĩ đại bao trùm cả Thiên tánh và phàm tánh; từ Tu kỷ đến thành vật, luôn luôn chẳng giờ phút nào mà không có Nhân;cái trạng thái thứ nhứt của Nhân ấy là Nghĩa.

Nhân là Thiên tánh ở nơi người, Nhân ấy tức nhiên dẫy đầy đức háo sanh của Tạo Đoan, vì thế mà Mặc Địch gọi Nhân là Kiêm Ái, mà Kiêm Ái tức là Bác Ái.

Đức Mạnh Tử nói về Nhân nghĩa, thì ví Nhân như “ an trạch giả”, còn Nghĩa là “chánh lộ gia”, vì bởi Thiên Tánh thực hiện nơi con người là toàn lòng Bác Ái, được toàn lòng Bác Ái, tức nhiên như ở yên trong nhà; nên gọi là an trạch giả. Còn Nhân phát ra là Nghĩa thì phải khởi hành nơi con đường ngay lối chánh; nên gọi là Chánh lộ giả.

Hễ đã nói con đường chánh thì tức nhiên phải có con đường tà, nên Nho gọi là Tiểu Ngã đối với Đại Ngã hay là chơn ngã.Đại Ngã là con đường của Thiên tánh phát hiện, còn Tiểu Ngã là con đường khởi hành của Nhơn dục, tức là con đường xuất hiện của bản năng động vật. Bản năng động vật cũng tự trong một chỗ với Thiên tánh của con người mà phát ra, nhưng nếu chìu theo con đường bản năng động vật là con đường Tiểu Ngã, ấy là con đường trái Nghĩa.

Còn do theo con đường Thiên tánh là con đường Đại Ngã, tức là con đường phải Nghĩa, là con đường toàn thiện. Nên muốn đến chỗ Nhân thì phải đi trên con đường Nghĩa, ấy là dụng Nghĩa để làm thủ đoạn đặng đoạt mục đích Nhân, mà muốn đoạt được mục đích Nhân thì phải đè nén bản năng động vật, không cho phát hiện mà làm sai con đường Nghĩa.

Nghĩa gồm cả tinh thần và vật chất, từ lời nói việc làm, nếu biết tùng theo Thiên tánh mà thật hành là phải Nghĩa. Nhờ Nghĩa mà dung hòa bảo trợ lẩn nhau từ người cho đến vật, nhờ Nghĩa mà con người thật hiện được Chơn tánh.

Có câu Linh Tâm là cái quý báu riêng của nhơn loại, để phối hiệp với Tạo hóa, còn Tánh là cái quý báu chung của Nhân loại, để phối hiệp với vạn loại và vạn vật; nghĩa là lấy Nhân mà đối với Trời là sự hữu ích riêng của mọi người, còn lấy Nghĩa mà đối với vạn loại và vạn vật là sự hữu ích chung cho toàn sanh chúng. Đó là con đường hành thiện mà người Đại Nhân do theo để đạt đến Thành ý vậy.

I-ĐẠI NHÂN-TIỂU NHÂN

"Kẻ Tiểu nhân nghe đến Danh thì muốn, thấy tới Lợi thì ham mà chẳng luận phân phải trái.."

Con người cũng đồng thọ một điểm gọi là Thiên Tánh của Trời ban cho, nhưng phân ra hai hạng Tâm Tánh chẳng đồng; ấy là Đại Nhân và Tiểu Nhân.

Đại Nhân là người hoàn toàn tánh cách, lời nói và việc làm không sai một mảy, chẳng vì danh lợi mà xa Nghĩa Nhân; chẳng vì khó nghèo mà lìa Đạo Đức; làm một việc phi Nhân, phi Nghĩa mà được quyền trọng lợi nhiều, ngồi trên cả Thiên hạ cũng chẳng khứng làm; còn làm việc trọn Nhân, vẹn Nghĩa mà phải lắm chịu khổ thân, cùng thọ lấy tử hình cũng không ngần ngại.

Bao giờ người Đại Nhân cũng lấy Lễ, Nghĩa đối với người trên, dụng Nhân Ái mà đãi người hèn thấp, giúp người trên thì tận tâm, dìu kẻ dưới thì tận lực, chẳng vì kẻ dưới mà trái người trên, không vì người trên mà quên kẻ dưới.

Người Đại Nhân là đức rộng, trí dày, biệt phân tất cả mọi sự phải trái, thấy phải thì theo, biết trái thì bỏ, chỉ biết theo Đạo lý chứ không theo đảng phái, nên chẳng mạng lịnh hay là thế lực mạnh mẽ nào có thể ép buộc được người Đại Nhân bỏ phải mà theo trái; vì vậy mà lời nói và việc làm của bậc Đại Nhân là quý báu vô giá định, đáng làm khuôn vàng thước ngọc cho loài người đời nầy qua đời nọ.

Mùa Đông không vì lũ én mà bỏ cái lạnh thì người Đại Nhân cũng chẳng vì phường Tiểu nhân mà xa lìa Thiên Tánh.

Lời lẽ luận thuyết của người Đại Nhân rất mực thước rõ rệt và cang trực, chẳng quản ghét thương, không màng danh lợi, chỉ có vui cho người biết nghe mà nên, buồn cho kẻ không thấu hiểu mà hư đó vậy.

Chí khí của người Đại Nhân rất cương cường va bao qưát phi thường, nên chi làm việc lớn thì hay mà chẳng hay làm việc nhỏ. Sự độ lượng của người Đại Nhân rất tinh vi và hợp lẽ, chẳng một việc chi để đến phải ngộ bất cập mà buộc mình phải làm sai con đường Nghĩa.

Người Đại Nhân hằng vụ lấy sự công làm trọng, mà chẳng quản việc tư, nên thấy được cái lớn, hiểu thấu cái xa; còn đứa Tiểu nhân lại vụ lấy việc tư làm quý, mà chẳng quản sự công, nên chỉ thấy được cái nhỏ, hiểu rõ cái gần mà thôi.

Người Đại Nhân hằng ngày chỉ biết lo sửa mình cho ngay chánh, cho đáng tôn quý, đáng kính mến, đáng tín dụng, ngoài ra vẫn an vui mà đợi mạng, hạp thời thế thì cùng chung hiến thân giúp ích cho Thiên hạ, trái thời thế thì một mình giúp ích cho mình riêng vui với Đạo.

Người Đại Nhân dầu ngộ cảnh nào cũng không mất cái thái độ thanh cao chơn thật, tánh cách cang trực thiện lương; còn đứa Tiểu nhân thì chẳng lúc nào mất được cái tập tánh gian trá đê hèn, cử chỉ tàn ác mà khiếp nhược.

Hễ đã là Tiểu nhân thì dầu cho cao sang tột phẩm cũng là Tiểu nhân, còn Đại Nhân thì dầu cho khốn cùng cực điểm cũng là Đại Nhân. Người Đại Nhân bao giờ cũng trông cậy nơi mình như tòng bá đứng giũa Trời đông, còn kẻ tiểu nhân lại trông cậy nơi người như giống lang tiêu khoe màu đẹp sắc.

Tâm tánh của đứa Tiểu nhân chẳng giờ phút nào được thơ thới tịnh yên, hằng lo sợ ngại ngùng những điều ác báo, nên thường dùng những thuyết hoang đàng để tranh thắng cùng che lấp sự bất chánh bất minh, những điều tội ác.

Lòng phản phúc của kẻ Tiểu nhân vô cùng, sự hám vọng của đứa Tiểu nhân vô tận, ngồi trên thì chẳng Nghĩa, Nhân, đứng dưới lại không Trung, Tín.

Kẻ Tiểu nhân nghe đến danh thì muốn, thấy tới lợi thì ham mà chẳng luận phân phải trái; hằng đố kỵ với bậc Hiền Tài, và khinh thường những người hèn thấp. Đứa Tiểu nhân chỉ biết chê người mà chẳng biết sửa mình, không nể tiếng thị phi, chẳng biết hổ mặt thẹn lòng, nên chẳng một việc lợi danh bất Nhân bất Nghĩa mà đứa Tiểu nhân chẳng dám làm.

Đại Nhân và Tiểu nhân khác nhau có hai đường, hễ Thiên tánh phát ra Đại Ngã là Đại Nhân, còn phàm tánh xuất hiện nơi tiểu ngã là Tiểu nhân đó vậy. Cũng đồng thọ một điểm Linh Quang, cũng đồng một chỗ mà phát ra, nhưng theo được con đường Nhân Nghĩa là Đại Nhân, theo không được con đường Nhân Nghĩa là Tiểu nhân, còn theo tận cùng con đường Nhân Nghĩa lại là Thánh Nhân, ấy là yếu điểm của con đường Tu Thánh Đạo.

II- THÁNH NHÂN

Từ xưa đến nay, hễ luận đến Nhân Nghĩa đạo đức thì thường dụng danh của hai vị Thánh Vương như vua Nghiêu, vua Thuấn mà làm tiêu biểu, nghĩa là trưng bằng cớ cùng viện lý phải của Nhân Nghĩa, đạo đức mà thôi, chẳng phải buộc con người đinh ninh thủ cựu cùng giam hảm vào vòng thoái hóa như một phần người xưa nay đã lầm hiểu; cùng chưa được trọn thấu hiểu yếu lý của Nhân Nghĩa như thế nào, rồi vội vàng cho Đạo Nhân là bạc nhược.

Ví như vua Thang tháo lưới phóng sanh cho bao nhiêu điểu thú mà đã gọi rằng Nhân; đến như diệt loài sâu độc cứu hại mùa màng nuôi sống chúng sanh cũng gọi là Nhân; thì diệt kẻ bạo tàn cứu khổ lương sanh cũng là Nhân vậy, Nhân ấy càng thêm dẫy đầy âm đức.

Trong đời chẳng chi là tuyệt đối, chẳng chi là nhất định; con người càng tấn hóa, thế cuộc càng đổi xây; thì chi chi cũng phải tùy theo lẽ tuần hoàn mà đổi thay mới hợp Đạo.

Nhân nghĩa vốn là căn bản của Đạo Thánh, nên biết tùy thời tùy thế mà thật hiện trọn Nhân vẹn Nghĩa mới gọi là Thánh Nhân; còn tranh danh đoạt lợi mưu hại lẫn nhau là phường tiểu nhân tục tánh; tranh sống giành ăn tàn sát lẫn nhau là loài cầm thú.

Thánh Nhân là người vẹn giữ được bản tánh chí linh chí diệu toàn thiện toàn lưong của Trời dã ban cho; chẳng giờ phút nào làm một mảy chi trái với số mạng Trời đã định; hằng ngày chỉ biết nuôi cái Tâm, dưỡng cái chí, tuần tự theo Thiên lý lưu hành mà đợi Mạng.

Tâm của Thánh Nhân chẳng hề nao, chí của Thánh Nhân chẳng hề xao, không ngưng trệ, chẳng chinh lịch; nhứt cử nhứt động đều hòa huởn và tùy thời mà ứng dụng, nên lời nói và việc làm đều đắc Nhơn Tâm và thuận Thiên Ý.

Đạo Thánh vốn để khai Nhơn Tâm, qui bổn thiện, nên chi Thánh Nhân là người chí thiện chí minh, thay thân cho Trời mà cứu thế, độ đời, giáo hóa nhơn sanh, bảo tồn thế cuộc.

Bậc chí Thánh là biết có người mà chẳng biết nhọc mình; danh lợi không ham, khó nghèo chẳng quản, một mảy cũng không bợn nhơ; lại vì lòng Nhân mà thọ khổ với đời cũng không nản chí; nên chi Thánh Nhân là bậc cao minh tối thượng, vì nghĩa quên mình, chẳng phải người chán khổ tuồng đời mà riêng lo yếm thế.

Cái yếu điểm triết lý nhiệm mầu và tối cao của Đạo Thánh là linh Tâm phối hiệp với Trời, tức là Trời và người hiệp một, mà chỉ có Thánh Nhân mới có thể Tồn Tâm Dưỡng Tánh để tiếp xúc mọi lẽ huyền vi của Taọ hóa mà suốt thông van sự cùng van vật.

Thánh Nhân nhờ ở sự tiếp xúc ấy mà Minh, mà rõ thấu Thiên ý, nhờ ở sự tiếp xúc ấy mà huệ, mà thâm hiểu nhơn tâm. Được thấu hiểu Thiên ý cùng thâm hiểu nhơn tâm rồi, mới suy lý Đạo Trời mà lập Đạo Người, dụng Đạo Người mà bồi bổ cho Đạo Trời, dìu nhân loại vào đường chí thiện, chí minh, phục nguyên Thiên tánh.

Tâm chí của Thánh Nhân bao giờ cũng hòa cũng hiệp với mọi người, song mọi người chẳng hòa được với Thánh Nhân là do bởi khác cái Tâm, khác với Thánh Nhân là do bởi không đồng cái chí.

Thánh Nhân chỉ khác với người có cái Tâm và cái chí mà thôi, nên chi xem qua bề ngoài thì khó phân phàm Thánh; phải có đủ Thánh chất Thánh Tâm mới có thể trông thấy mới có thể trông thấy và hiểu biết được bậc chí thành, chí Thánh.

I- LỄ, NHẠC

Nhân và Nghĩa bao trùm cả đức tính của con người, vậy Lễ là một trong những đức tính ấy, nên chi Lễ cũng do nơi Nghĩa Nhân mà phát hiện.

Nhân Nghĩa phát triển phải có phẩm trật và thứ tự, nên lập thành Lễ để cho Nhân Nghĩa noi theo nề nếp trật tự ấy mà phát hiện phân minh, khỏi lối tự do của bản năng động vật. Lễ là trật tự, nghi tiết, quy tắc, là định phân ngôi thứ, phẩm trật phân minh, tôn ti thượng hạ.

Trong đời phải có người lớn kẻ nhỏ, món thấp món cao, cái thấp cái trên, bề trái bề mặt không thể trái ngược được; nếu trái ngược là mất trật tự; mà mất trật tự là thiếu Lễ, thiếu Lễ là loạn ly, mà loạn ly là tiêu diệt.

Đối với con người ở đời chẳng nhơn lúc nào mà không có Lễ, từ lời nói việc làm, từ khi đi đứng nằm ngồi, từ việc lớn chí việc nhỏ, chi chi cũng phải lấy Lễ làm đầu; nếu thiếu lễ làchẳng hiệp chẳng hòa, chẳng bao giờ thành tựu được.

Ví như trong một nước mà quân bất minh, thần bất trung, chẳng lấy Nhân Nghĩa mà đối đãi nhau, chẳng phân minh phẩm trật chúa tôi, ấy là thất Lễ thì nước sẽ diệt vong vì biến loạn. Trong một nhà mà phụ bất từ, tử bất hiếu, chẳng lấy Nhân Nghĩa mà đối đãi nhau, chẳng phân ngôi thứ cha con, ấy là thất Lễ thì nhà ấy sắp điêu tàn sanh biến. Còn con người mà để cho bản năng động vật rối loạn tâm thần, chẳng còn biết Nghĩa, biết Nhân, không phân minh thượng hạ, đó là vô Lễ, thì người ấy có khác chi là cầm thú nữa đâu.

Lễ là sự kính mến tôn trọng trong Tâm của con người thể ra bề ngoài, nên trông vào nghi tiết và qui tắc của Lễ thì biệt phân thượng hạ và phẩm trật.

Lễ đối với con người rất cần thiết, vì vậy mà các Tôn giáo đều lấy Lễ làm trọng, chẳng những hành Lễ để tỏ lòng thành kỉnh các Đấng Thiêng Liêng mà thôi, mà cũng lấy Lễ để nâng cao đức tin của con người, lấy Lễ khép người vào lối thẳng đường ngay, vào khuôn Nhân Nghĩa.

Lễ rất bao la rộng lớn bủa khắp Càn khôn thế giái, nếu chẳng có Lễ thì loạn lạc Càn khôn, chẳng còn chi trong thế giái; nên nơi nào có Nghĩa có Nhân là nơi ấy có Lễ.

Lễ nhạc do bởi lý đạo âm dương mà lập thành. Lễ là dương, là trật tự; nhạc là âm, là điều hòa nên Thánh Nhân dụng Lễ nhạc để kềm chế và cảm hóa lòng người trọn theo Nhân Nghĩa. Khi âm dương hổn hiệp thì âm phát ra thinh, nên gọi là âm thinh mà chế ra nhạc, mà nhạc được thành là do bởi bát hồn là biều, thổ, cách, mộc, thạch, kim, tư, trước nên gọi là bát âm.

Trong mỗi âm lại chia ra năm bậc là cung, thương, giốc, trủy, vũ. Nhờ năm bậc ấy, thinh âm mới hòa thành nhạc. Chẳng những gồm cả tiếng trống, tiếng chuông, tiếng mỏ cùng tiêu thiều đờn ca xướng hát là gọi nhạc mà thôi, mà từ câu văn tao nhã phù ba, từ lời nói xuôi thuận êm đềm cũng là nhạc vậy.

Nhạc đối với con người thì cần thiết, mà đối với quốc gia lại thêm hệ trọng. Nước thiếu nhạc là không hòa, người thiếu nhạc là chẳng thuận; mà chẳng hòa chẳng thuận là cơ diệt tận. Tinh thần âm nhạc rất quan hệ đối với quốc dân xã hội, nên trông vào âm nhạc thì đoán biết vận nước hưng vong, thấu rõ trình độ của dân chúng.

Lễ nhạc gồm cả tinh thần và vật chất, vì mắt vừa thấy thì Tâm phát kính trọng; tai vừa nghe thì động lòng thương xót; nên Lễ và nhạc có cái năng lực mạnh mẽ phi thường, có thể cảm hóa lòng người trong nháy mắt.

Lẽ và nhạc là lý đạo âm dương biến sanh Càn khôn thế giái vạn loại muôn loài, nên con người thiếu Lễ thiếu nhạc tức là thiếu Đạo, vì bởi thiếu Lễ thiếu nhạc thì người trên không dạy được kẻ dưới; kẻ dưới không đối được với người trên, trên dưới chẳng nương được lẫn nhau, trên chẳng hiệp, dưới không hòa, sanh biến loạn ly. Ấy là vô Đạo.

DaoKy
03-01-2005, 12:43 PM
II- TRÍ,TÍN

Trong đời chẳng chi có cái hình thức hiển hiện ra ngoài, mà chẳng có tinh thần bên trong bí ẩn. Nên chi con người có một phần giác quan gọi là Trí, biện biệt được mọi lẽ hiển hiện bên ngoài và một phần Linh quang gọi là Tâm, thâm hiểu được cái lý tinh thần bên trong bí ẩn. Hai phần huệ quang ấy bao giờ cũng phải liên hiệp lại với nhau mới tác thành vật sự.



Trí là giác quan để làm trung gian cho linh Tâm tiếp xúc với vật sự và biệt phân phải trái, nên Trí có một phận sự đặc sắc là thiên về Linh Tâm thì hợp với Thiên Tánh là phải, còn Trí xu hướng theo vật sự thì hợp với bản năng động vật là trái vậy.

Trí đối với Linh Tâm có cái quan hệ mật thiết là Trí yên thì Tâm tịnh, Trí não quang minh thì Tâm thần sáng suốt; nên con người cần lấy sự học để khai huệ Trí, cầu lấy sự ngoan Đạo mới lập nên nhơn cách.



Trí và Tâm có hai phận sự khác nhau, song ảnh hưởng tiếp liên cũng như một, là Trí hiệp với Tâm để truy tầm những điều huyền bí tinh thần; Tâm phải nhờ Trí mới phát minh vạn sự, ấy là Tâm Trí hiệp đồng thì Thiên Tánh xuất hiện.



Con người nhờ có huệ Trí mới ban bố Nhân Nghĩa tự nơi thân mình để đối phó với người và vạn loại. Nhờ Trí mà tự độ mình, tự hiểu mình, nhờ Trí mà tri hiểu được tâm tình của kẻ khác, nhờ Trí mà độ dẫn dìu dắt người, nhờ Trí mà chỉ bảo dạy khuyên người, nhờ Trí mà cân phân xấu tốt trọng khinh, nhờ Trí mà phán đoán giả thiệt hư nên; tức là nhờ Trí mà kềm thúc người trọn theo đường ngay lối chánh.



Hễ đã gọi là nhân loại thì ai cũng như ai, có học thì có thông, không học thì không hiểu; một kiếp sanh vốn là một lớp học trường đời để khai minh cho Tâm Trí, nếu bỏ qua một lớp tức là hỏng mất một kiếp tấn hóa của con người đó vậy. Sự học tập của con người chẳng biết đâu là bờ bến cùng tột vì bởi khiếu biết của Trí vô ngần, nguồn thông của Tâm vô tận, càng học càng huệ minh, mà sự huệ minh lại vô giới định.



Nếu luận đến Trí độ thấp cao giỏi dở của con người thì không thể biệt phân đẳng cấp cho cùng tột được. Vì bởi người nầy cao, giỏi thì có người kia cao giỏi hơn; kẻ nọ thấp dở, lại có kẻ khác thấp dở hơn. Vì vậy mà không thể đố kỵ được với người giỏi, mà cũng không thễ khinh thường được kẻ dở.



Gần với kẻ dở cho thấy mình giỏi, thì là tự mình làm cho mình càng dở thêm; xa kẻ giỏi để dấu cái dở của mình, tức là tự mình làm cho mình tuyệt con đường tấn hóa. Con người cần phải biết người biết ta là biết người kia giỏi hơn ta, thì ta theo cầu học, biết kẻ nọ dở hơn ta mà theo cầu ta thì ta dạy. Kẻ Trí dìu dắt đứa ngu học theo người Trí là lẽ thiên nhiên, là phương tấn hóa nơi trường đời của nhân loại.



Con người mà thiếu Trí thì lời nói thường lầm, việc làm hay lỗi, vì chẳng biết người biết ta nên thường hay làm chinh lòng người chớ chẳng hề cảm hóa được.

Người thiếu Trí tức là thiếu Nghĩa, thiếu Nhân, thiếu độ lượng nên chẳng bao giờ giữ được chữ Tín.



Tín là một đức tính chơn chất do nơi sự quyết định của Tâm trí mà phát hiện ra chẳng hề thay đổi. Con người cần phải giữ trọn vẹn chữ Tín để gieo lòng tin cho kẻ khác mới thành thân hành sự; nếu thiếu Tín tức là tỏ ra mình là người thiếu Trí, vô lễ, bất trung, bất hiếu và phi nhân phi nghĩa.



Tín đối với con người rất quan hệ, nếu con người không vẹn giữ chữ Tín thì dầu việc lớn hay nhỏ cũng chẳng bao giờ kết quả được, và lưu hại cho đời người chẳng nhỏ.

Con người phải dày công trao tria Tâm trí mới biện phân được lẽ phải điều chăng của lời nói việc làm không ngoài lẽ phải, chừng biết theo được lẽ phải rồi mới vẹn giữ được chữ Tín.



III- TRUNG

Người làm tôi cần giữ chữ Trung đối với Vua (1) nhưng sự biện biệt phải trái để cùng đi với Vua cho phải Đạo là điều cần yếu hơn nữa.

-----------------

Chú thích (1) Vua là tiếng nói chung những vị nắm trọn quyền Chủ Tể trong một nước



Phận làm Tôi là gánh bớt trong muôn một phần trách nhiệm nặng nề của Vua để lo cho dân, giúp cho nước, hằng ngày thay thân cho Vua mà thân thiện với dân, lo việc dạy dỗ dân, giúp đỡ dân, dìu dắt dân, khuyến nhủ dân; trên thì kính trọng Vua, hợp ý Vua; dưới thì yêu mến dân, thuận lòng dân, ấy mới gọi là trung quân ái quốc. Bậc trung thần bao giờ cũng nghĩ đến sự thương dân, yêu nước mà tận tụy giúp Vua, gầy dựng cho nước nhà giàu mạnh.



Tôi trung thần là người đứng trung gian cầm cân công bình thiêng liêng của Trời ban cho. Một đầu là Vua, một đầu là dân, nếu chẳng khéo liệu lượng cân phân để cho hai đầu can chinh lịch thì Vua chẳng thoát mất ngôi, dân không phương thoát khổ.



Bậc trung thần chẳng vì chức vì quyền mà trọn vâng mạng Vua để làm điều phi nhân, phi nghĩa, chẳng vì lợi, vì danh mà hiệp lòng dân làm điều trái đạo, nên chẳng giờ phút nào mà bậc trung thần không nghĩ đến sự lấy đạo đức mà giúp Vua, và dìu dân theo con đường Nhân nghĩa.



Người làm tôi cần phải biết biệt phân phải trái trọng khinh mới vẹn giữ được trung, thiên chức mới hoàn toàn, nhơn tước mới vĩnh viễn. Giữ được trung tức là phò được Vua, giúp được nước, dìu được dân; nên trung là cơ quan rất trọng hệ trong sự trị quốc và bình thiên hạ. Cơ quan trị quốc chẳng khác như cơ quan bảo thân, mà sự bảo thân của con người có ba điều cần yếu, không thể bỏ bớt một điều nào, thì sự trị quốc cũng không thể bỏ bớt một trong ba điếu ấy được.



Ví như con người có một cái xác thân thùy mỹ, mạnh mẽ mà tâm trí lại u ám thấp hèn, thì xác thân ấy chỉ để làm nô lệ cho chúng mà thôi; còn tâm trí huệ minh kiến thức, mà xác thân lại tiều tụy bạc nhược, thì con người ấy chỉ có chờ tử thần đến rước.



Đối với một nước quân là Tâm, thần là Trí, dân là Thể, nếu dân chúng đều dõng mãnh mà quân thần chẳng huệ minh, thì dân chúng dõng mãnh ấy chỉ để làm nô lệ cho sắc dân khác mà thôi; còn quân thần đều huệ minh mà dân chúng lại yếu hèn, thì nước ấy cũng chờ ngày rước người làm chủ. Ấy là giữ Trung không chánh, trên dưới chẳng can phân, đôi bên chẳng đồng phần; vì chinh lịch mà cơ quan phải liệt bại.



Trung là một đức tánh trọng yếu của Nhân, phát ra con đường Nghĩa, nên lấy Nhân Nghĩa mà đãi người, tức là buộc người tận trung đối lại.

Ví như trong nước có Vua là Chủ tể, đám tôi trung thần là chủ động, nhờ bởi đám tôi trung thần ấy mà Vua phát nhân phát nghĩa dạy dân, thì dân chúng còn biết lấy chi hơn là tận trung để bồi đáp ân đức của Vua nữa đâu, mới đem thân ra chịu muôn ngàn khổ nhọc, vào sanh ra tử mà bảo Vua an ngôi, giúp nước nhà giàu mạnh.



Bởi cớ mà người trên kẻ dưới như bóng với hình; trên thực hiện thế nào thì dưới cũng thực hành thế ấy; vì vậy mà dân sanh trong thời Thượng cổ chỉ có biết học đòi theo các Minh vương Thánh đế, cùng đồ gương theo các bậc trung thần mà vẹn giữ cang thường luân lý. Thế thì lập pháp giết người buộc dân trung tín, dụng kẻ gian ác dạy dân chơn thật thiện lương làsai lầm lắm vậy. Tự mình dụng khuôn méo thước cong, trở lại chê món đồ làm ra chẳng tròn không ngay mà đánh vỡ, thì chẳng bao giờ đạt thành hy vọng vì sự trái lẽ.



Vua vốn là người thay mặt cho Trời mà chưởng quản một nước, làm Chúa một sắc dân, gọi là Thiên tử. Vua trọn nắm quyền cả một nước để phân phát cho quần thần và dân chúng, nên dân chúng có quyền của dân chúng, quần thần có quyền của quần thần, Thiên tử có quyền của Thiên tử.



Hễ đã gọi là Thiên tử là người thay mặt cho Trời tức nhiên là người đại đức, đại từ, dẫy đầy nhân nghĩa, chỉ có biết thương chứ không biết ghét, biết thứ tha chứ không biết hành phạt; nghĩa là thể lòng Bác ái, đức háo sanh của Trời mà nuôi dưỡng dạy dỗ dân chúng. Nên chi Vua chỉ có một quyền hệ trọng nhứt mà không thể giao phú cho ai được là quyền ân xá; ấy là quyền Chí tôn, quyền thương yêu của Trời thống trị Càn khôn thế giái.



Ví như Thiên đình thì có Thiên điều, Trời do theo Thiên điều là luật Chí công mà thưởng phạt các đẳng chơn hồn; còn thế gian lại có thế luật, thì Vua do theo thế luật là pháp công mà răn trị dân chúng; nhưng Trời có sanh mà không có sát, thì Vua cũng chỉ có thứ tha chứ không giết bỏ.



Thiêng liêng lấy Thiên điều làm trọng, thì thế luật là của báu trần gian, nên Thiên tử chí thứ dân chẳng một ai vì quyền thế nào mà thoát khỏi mặt luật công bình của toàn quốc đã thuận ưng thành lập. Thiên tử phải dụng nhân nghĩa mà tôn cái Đức, quần thần cần lấy chánh trực mà rõ cái trung thì dân chúng mới tỏ cái an mà thuận tùng quốc pháp.



Vua trọn nắm quyền trong nước mà phân phát cho quần thần và dân chúng thì trên dưới phải can phân mới tránh khỏi sự chinh lịch sanh điều biến loạn. Chừng ấy mới có bậc hiền tài vì nước quên mình hiến thân cho xã hội, đem thân hữu dụng bảo bọc chúng dân, phò Vua giúp nước, chẳng còn thấy những kẻ gian ác trục lợi xua quyền, dân chúng đói lạnh trôi thây, vạc ngã thành xiêu chẳng quản.



Ví như Vua ban quyền tước cho quần thần, thì quần thần nhờ bởi quyền tước ấy mà danh thể cao sang, nhờ bởi cao sang mà quần thần cảm đức hài lòng tân tụy với trách nhiệm. Còn dân chúng thì Vua lại lấy phú quý mà ban cho, dân chúng nhờ bởi phú quý mà thân danh vinh hạnh, nhờ bởi vinh hạnh mà dục lòng khuyến khích dân chúng mở mang liều thân khổ nhọc mà lo tròn nhiệm vụ.



Nếu Vua lấy cả quyền tước và phú quý mà ban cho quần thần, tức là Vua khiến cho quần thần mất cả thanh liêm đối với dân, trung tín đối với nước, và hại chúng dân phải khốn cùng đói lạnh. Trong nước mà dân chúng giàu mạnh tức là nước giàu, Vua manh, còn quần thần giàu mạnh thì nước phải hèn, Vua phải yếu; nên người trên có quyền tước cao sang, kẻ dưới được phú quý vinh hạnh, trên dưới phải cân phân thì Vua mới an, nước mới trị.



Các đấng Minh quân và trung thần xưa hằng ngày lo cày ruộng Nhân, gieo giống Nghĩa để cầu cái quyền pháp linh diệu của Trời, nuôi cái thế lực mạnh của dân; bởi cớ mà trên được thuận lòng Trời, dưới được hợp ý dân, trên dưới điều hòa mà thái bình thạnh trị.



Gặp lúc thái bình cường thạnh, người cầm quyền bảo dân giúp nước, chẳûng quản đến Vua sùng kính cái quyền pháp diệu linh của Trời, chẳng nghĩ đến sự nuôi nấng cái thế lực mạnh của dân; đến buổi loạn ly, suy nhược, lại cầu khẩn quyền pháp linh diệu của Trời, kêu gọi thế lực mạnh của dân, thì khó mong ứng nghiệm.



Thương dân mà dân đói lạnh không bảo trợ được, thương nước mà nước xiêu đổ chẳng đở nâng được, sao gọi làtrung thần ái quốc. Người trung cần phải có công, có chánh, có trực, mới phò được vua, giúp được nước, dìu được dân, nếu thiếu cang, thiếu chánh, thiếu trực; tức là tự mình hại Vua, hại dân và hại nước. Vì thương dân, yêu nước mà trung với Vua, là trung thần ái quốc; vì quyền chức lợi danh mà trung với Vua là gian thần quốc tặc.



Bậc đại nhân xét đoán cân phân chẳng lầm, nên giữ trung không sái, nếu phải sống cho nước giàu dân mạnh thì không khứng thác, còn phải thác cho quốc thái dân an thì không chịu sống; ấy là vì nước vì dân mà quên mình là đại trung thần ái quốc.



IV- HIẾU

(" Kẻ không biết kính mến dưỡng nuôi cha mẹ là không hơn loài cầm thú.(Đạo Hiếu)").



Con người đã thọ lãnh nơi cha mẹ một cái thể tốt tươi, một cái danh trong sạch, thì phận làm con chẳng những là phải trọng cái thể, kính cái danh, để tỏ dấu kính trọng cha mẹ mà thôi, lại còn phải biết tùy thời tùy thế mà tô điểm cho danh thể tốt tươi hơn, trong sạch hơn, tùy sức, tùy phận mà tự lập cho danh thể hiển đạt thêm hầu có nâng cao giá trị của Tổ Tông, vinh thân cho cha mẹ; ấy mới gọi là con cái chí hiếu.



Người làm con chẳng phải nuôi dưỡng được cha mẹ hay là làm vừa lòng cha mẹ mà đủ gọi là hiếu; vì bởi kẻ đạo tặc cũng nuôi dưỡng được cha mẹ, kẻ tàn tặc cũng làm vừa lòng được cha mẹ.



Trước hết người làm con phải tri hiểu chí hướng của cha mẹ; phải thành thật cung kính mà biện phân lẽ phải điều chăng, để cùng đi với cha mẹ trên con đường chánh lý. Cha mẹ khuyên bảo làm điều phải nhân, phải nghĩa mà chẳng vưng, tức là tự mình hại mình; còn cha mẹ thúc dục làm điều phi nhân phi nghĩa mà trọn vưng ấy là mình hại cha mẹ đó vậy.



Người hiếu tử chẳng giờ phút nào quên công ơn cha mẹ, quên sự kính mến cha mẹ hằng vưng theo việc phải điều lành của cha mẹ dạy khuyên; dầu cho việc khó khăn trắc trở cùng nguy hiểm đến mạng sanh cũng chẳng chối từ, chẳng vì lẽ chi mà không làm vừa lòng cha mẹ. Nếu làm con mà chẳng biết mến yêu, kỉnh thờ dưỡng nuôi cha mẹ, cùng đem cả danh phận ra làm điều phi nhân phi nghĩa, làm nhục nhã Tổ tông, làm nhơ danh cha mẹ, thì chưa hơn loài cầm thú.



Theo luật tấn hóa của chúng sanh mà phân ra đẳng cấp, thì thảo mộc sanh con mà chẳng nuôi con, thú cầm biết sanh con, biết nuôi con, mà con không biết nuôi cha mẹ. Còn nhơn loại thì cha mẹ biết sanh dưỡng con, biết dạy dỗ con, nên con biết kính mến cha mẹ, biết dưỡng nuôi cha mẹ; vì vậy mà gọi kẻ không biết kính mến dưỡng nuôi cha mẹ là không hơn loài cầm thú.



Làm con người mang mảnh thi hài phàm tục, thì chẳng còn công ơn nào lớn hơn, trọng hơn là công ơn của cha mẹ, khổ nhọc dưỡng sanh đã hiển nhiên trước mắt; nếu chẳng biết mến yêu, kỉnh thờ cha mẹ, thì chẳng còn biết kỉnh thờ mến yêu một đấng vô vi nào đâu cho chơn thật.



Kiếp sanh của con người tại thế, chỉ có hiếu là trọng nhứt, hiếu đứng đầu trong cả sự hành vi của Đạo làm người, nên người bất hiếu tức là người vô nhân đạo, mà vô nhân đạo tức là phi nhân loại.



Vì vậy mà người bất hiếu chẳng còn chung đứng vào một hạng nào trong xã hội cho đáng mặt.



V- THỜ KỈNH

Sự thờ kỉnh của con người có cái yếu lý tối cao, có cái chủ nghĩa Đại đồng, chẳng vì mạnh yếu mà khen chê, chẳng vì sắc tóc màu da mà chia Đạo; nếu rằng chơn lý không thể có hai, thì Đạo Trời bao giờ cũng vẫn một.



Thờ kỉnh nghĩa là tỏ ra bề ngoài nhưng sự kính trọng mến yêu các Đấng đại ân đại đức và tỏ ra mình là người không vong ân bội nghĩa.

Ví như cha mẹ sanh ra một người con, thì chỉ có người con ấy nhớ công ơn sanh thành dưỡng dục mà phụng thờ tế tự, đó là phần hiếu sự của người con, tỏ ra rằng không quên công ơn dưỡng sanh của cha mẹ. Còn như người hữu công tế thế an bang đối với một nước nào, thì chỉ có dân tộc trong nước ấy kính thờ tế lễ; để tỏ dấu rằng dân chúng chẳng hề quên ân nghĩa của người đại công đối với quốc dân xã hội.



Luận đến Đức Thích Ca, Đức Jesus Christ , Đức Lão Tử, Đức Khổng Phu Tử . . . là các bậc Giáo Chủ đại ân đại đức đối với chúng sanh khắp mặt địa cầu, thì ân đức sánh tày Trời đất. Nên bất luận là dân tộc nào, hễ đã hấp thụ được giáo lý tối cao tối thượng của các Đấng ấy thì sự sùng bái kỉnh thờ, để tỏ lòng cảm đưc đội ân và mến yêu kính trọng.



Chơn lý của sự thờ kỉnh sùng bái là thế ấy, chẳng luận biện thêm chi những điều vụng vặt cho rối trí lộn tâm cùng những việc mơ hồ phân tâm nhân loại. Bao nhiêu công đức vô lượng vô biên của các Đấng Giáo chủ ấy, cũng đủ cho loài người mến yêu kính trọng rồi, cần chi con người phải tô điểm thêu dệt thêm những điều huyền hoặc, e khi tay phàm nhúng vào làm cho sái nét tự nhiên của Tạo hóa, mà mất vẻ hay vẻ đẹp đi chăng, chớ chẳng thêm được mảy mún thanh danh chi cho các vị Giáo chủ ấy cả.



Con người cũng đồng một kiếp sanh đến thế gian để làm phận sự, tự lập thân danh, tự tạo ngôi vị, nhưng người tâm chí to rộng thì chú trọng việc lớn lao, việc Đại đồng thế giới, lo cho toàn cả nhơn loại, cùng là lo việc quốc gia xã hội, lo cho chúng dân trong một nước; còn người tâm chí hẹp hòi nhỏ nhen thì chỉ lo cho gia đình, riêng lo cho Dân tộc. Vì vậy người đời có thể xem theo những hành vi ấy mà biện luận thấp cao, mà biệt phân bậc Thánh Tâm với người phàm tánh.



Thế thì cũng đồng một kiếp sanh đến trường đời, cũng đồng một kiếp thực hành phận sự, nhưng người tròn phận sự đối với một gia tộc, đến lúc mãn phần thì chỉ được con cháu nhớ thong phụng thờ, nhắc nhở trong thời gian ngắn ngủi mà thôi; còn người tròn phận sự đối với quốc gia xã hội, đến khi lâm chung thì được cả Quốc dân thong tiếc kỉnh thờ nhắc nhở thanh danh muôn thuở.

Trọng hơn nữa là người tròn phận sự đối với Đại đồng Thế giới như các vì Giáo chủ, thì được cả nhơn loại kính trọng sùng bái mến yêu, nhắc nhở đời đời, kiếp kiếp.



Bao giờ Đạo Trời còn thì Giáo lý của các Đấng ấy hãy còn, thanh danh các Đấng ấy còn, thì toàn nhơn loại hãy còn sùng bái.



Về sự kỉnh thờ sùng bái, thì mỗi sắc dân đều có mỗi phong tục khác nhau, nhưng đó là tùy theo phong hóa về mặt hữu vi bề ngoài, chớ về mặt tinh thần bên trong thì không sao sai được.



Ví như việc sùng bái Tôn Giáo, thì nước nầy thờ kỉnh vị nầy, nước kia sùng bái vị kia, cùng là nghi tiết tế lễ phụng thờ có khác nhau cho mấy đi nữa cũng là nguyên tắc hữu hình tùy theo phong tục cũa mỗi sắc dân mà thêm vẻ long trọng tôn nghiêm đó thôi, chớ về tinh thần vô vi thì cũng chung một lý Đạo Trời, cũng đồng một tín ngưỡng thiêng liêng mà sùng bái phụng thờ Thần, Thánh, Tiên, Phật.



Dầu rằng có khác nhau về phần tấn hóa, trình độ thấp cao như Trời với vực đi nữa, cũng chưa phải khác chơn lý Đạo đức tinh thần là cầu lấy việc phải, việc lành, điều nhân điều nghĩa.

Thử xét theo lẽ Đạo, thì chẳng dân tộc nào không chuộng Nhân Nghĩa, không trọng Trung Hiếu, không trao Trí Tín, không gìn lễ nhạc



Mà nếu là đã gìn được những điều ấy , tức là giữ được Thiên tánh, tùng được Đạo Trời, thờ được Trời là chúa tể Càn Khôn Thế giới.



Con người mà chung giữ được một Đạo, chung thờ một Đấng Cha Lành, tức là nhìn nhau là con một Cha, anh em một nhà, bảo sao nhơn loại không thể hiệp hòa thương yêu nhau mà lập hòa bình Thế giới.



Nguồn cội của con người là ở nơi Trời, nên người người đều có phận sự thờ phượng cúng tế Trời, để tỏ lòng kính mến Trời là Cha cả Thiêng liêng; chẳng luận phải Thiên Tử mới gọi là con Trời, mới được quyền tế lễ. Dầu cho Thiên tử hay là thứ dân cũng đồng một nguồi cội ở Trời, nên Thiên tử cùng thứ dân cũng đồng thờ kỉnh Trời, tế lể Trời; nhưng có điều biệt phân là ở nơi nghi tiết.



Ngoài sự thờ kỉnh Trời cùng Tam Giáo Chủ, thì người còn thờ kỉnh nhiều vị khác nữa, là cốt yếu để trông thấy vị ấy mà nhớ đến gương hay, tốt, phải, lành, hầu có khêu Tâm gợi trí, nhắc nhở sửa mình cho được điều hay, tốt, phải, lành như vị ấy thì không phải là việc chẳng nên làm. Còn sùng bái một vị nào mà tự cho vị ấy là linh thiêng, trông mong nơi vị ấy ám trợ mình được tai qua nạn khỏi, mạnh mẽ sang giàu, mà điều phải chẳng đồ gương, việc quấy không chừa bỏ, là muội lắm vậy.



I- TRỜI VÀ NGƯỜI

Cơ Tạo rất thâm sâu mầu nhiệm, dầu cho con người có minh, huệ Trí tấn hóa đến đâu đi nữa, cũng không thể trọn vén được màn bí mật Thiêng Liêng để đọat cơ Huyền vi của Tạo hóa mà tạo thành giống vật cỏn con như loài kiến giống muỗi, cũng không thể cải sửa số Trời mà bồi dưỡng cho xác thân được vững bền như sông núi, cũng không thể thay đổi mạng Trời mà vượt khỏi được Thiên chức.



Thế thì cả số mạng căn phần của con người đều do nơi Trời dĩ định; nên Đức Khổng Thánh mới dạy con người lập mạng, nghĩa là chi chi cũng phải tận tâm tận lực một mực chơn thành mà đợi mạng.



Đức Khổng Thánh tri rõ nguồn cội của con người, thấu hiểu Trời là Chúa tể vạn linh sanh chúng, và cả số mạng căn phần của con người đều do nơi Trời; nên mới tạo thành một khối Đức tin vững chắc để thờ Trời, và trọn vưng mạng Trời sai khiến.



Nguồn cội của con người là do nơi Trời, nên con Người đối với Trời có cái quan niệm cần yếu mật thiết và tương cảm tương ứng; phải thấu hiểu cái quan niệm ấy rồi mới biết tôn kính và sùng bái Trời bằng cách chơn thật.



Sự sanh sống của con người là Trời ban cho, sự sáng suốt của con người là do Trời định cho, phận sự của con người là do Trời trao cho, nếu chẳng phải do nơi Trời ban cho, phú cho, định cho, trao cho thì con người chẳng làm chi thành danh, thành sự được cả.



Con người đều có mạng lịnh của Trời sai khiến, mỗi người đều có một phận sự gọi là thiên chức, thiên chức ấy phù hợp với nhơn tước, tùy theo mạng lịnh mà thi hành phận sự; hoặc lao tâm, hoặc lao lực, hoặc lớn nhỏ, hoăc nhiều ít. Từ bậc Vương đế chi đến thứ dân, đều có một phận sự đặc biệt, chẳng ai thêm bớt được, không ai tranh giành được, chẳng ai cải sửa được; chỉ có Trời mới ban ân cùng phế bỏ được mà thôi.



Bởi thế nên vì mạng lịnh của Trời mà người nầy tôn trọng người kia; vì mạng lịnh của Trời mà người kia phục tùng người nọ; nếu chẳng có mạng lịnh của Trời thì chẳng ai hơn được ai, chẳng có mạng lịnh của Trời thì chẳng ai cai trị ai được cả. Vì có mạng lịnh của Trời mà Kiệt, Trụ đứng đầu chăn dân; bởi sự phế bỏ của Trời mà dân không phục tùng Kiệt, Trụ.



Trời sanh đủ vạn loại và vạn vật, đủ món cần dụng nơi thế gian, lại phú cho con người nắm quyền hành động về măt hữu vi, thì tự nơi con người phải tầm phương hay, thế khéo mà giúp ích cho đời, giải khổ cho chúng sanh, kinh doanh cho thế giới.



Vật chất hữu sanh là của Trời, mà tạo nên vật dụng là tự người, nên nhờ bởi sự tấn hóa của con người mà mặt đia cầu được điểm tô tốt đẹp, nhân sanh được châu lưu tận thức khắp cả Càn khôn, nhờ sự tấn hóa của con người mà truy tầm Phương châm giải khổ.



Cà nhơn loại đồng sanh sống nơi thế gian, đồng chung hưởng của thế gian, thì thế gian là của chung cho toàn cả nhân loại; nên toàn cả nhân loại cần phải chung lo để mưu cầu sự hạnh phúc chung, ấy là phận sự của con người, ấy là thiên chức.



Cả sự trị loạn, đắc thất, họa phúc của đời đều do bởi con người, nên con người phải hiểu biết việc Trời mới tránh khỏi sự thất bại cùng hư hỏng. Phàm con người mà thấu hiểu được việc Trời, hành sự hợp với lẽ Trời thì đời trị, nhơn loại ấm no, vạn loại sung túc; nếu chẳng biết việc Trời, hành sự trái với lẽ Trời thì đời loạn, vạn loại điêu tàn, nhơn loại thống khổ.



Ví như thời tiết là của Trời, cày cấy là tự người, hiểu biết thời tiết mà cày cấy thì đắc; không hiểu biết thời tiết mà cày cấy thì thất.Trời sanh đủ dược chất trong vạn loại và vạn vật, mà sự tầm ra dược chất ấy là tự người; nên con người nhờ bởi sự tấn hóa mà giải khổ thế trần, bảo an cho nhân loại. Nếu con người mà thiếu sự tấn hóa thì bao giờ cũng hãy còn ăn lông ở lổ, mà nếu không có sự sanh hóa của Trời, thì chẳng có chi trong Càn khôn thế giới.



Sự sanh cho có là của Trời, mà làm ra nhiều hay ít, thành công không là tự người, phải có phép Trời và sức Người hiệp một mới có thể bảo toàn cho cuộc đời sanh sống hạnh phúc của con người; dầu cho vạn sự hành động khác nữa cũng đồng như thế cả. Phải hết sức mình mới rõ mạng Trời, không thể ỷ lại nơi mạng Trời mà chẳng chí tâm; cũng không thể cậy lấy tài người mà tự cường trái mạng.



Đã nói rằng linh Tâm vốn là Thiên tánh ở nơi người, nên Tâm động thì có Thần ứng, mà Thần ứng tức là có Trời chứng chiếu, chẳng một sự tư tưởng nào do nơi Tâm phát ra mà Trời không hay không biết, nên sự cảm ứng rất quan hệ cho đường tư tưởng của con người chẳng nhỏ.



Mặc dù điều thiện điều ác chưa thực hiện, nhưng trong Tâm đã có tư tưởng điều ác thì cũng đã là ác, nghĩa là ác Tâm; trong Tâm đã có tư tưởng điều thiện thì cũng đã là thiện, nghĩa là thiện Tâm. Bởi thế nên người Đại nhân hằng lấy tư tưởng làm trọng, chẳng giờ phút nào không tưởng đến điều lành, điều phải.



Có tư tưởng điều phải, điều lành mới làm được điều phải, điều lành; mà làm được điều phải điều lành tức là đã có Trời chứng chiếu; chẳng luận đến lúc lâm nguy ngộ nạn mới bày cuộc tế lễ, vọng bái, khấn vái cầu nguyện Trời bố phước ban ân thoát khổ giải nạn.



Con người chẳng làm được điều, điều lành mà cầu nguyện Trời ban ân lành là trái lẽ; vì bởi Tâm của con người dâng cho Trời thế nào, thì cân Công Bình thiêng liêng cũng sẽ ban trở lại cho con người thế ấy mà thôi.



Con người đối với Trời có cái tương cảm tương ứng rất nhiệm mầu huyền bí. Chẳng có linh Tâm nào cảm mà không có Thần ứng, nên Tâm hiểu biết thì Trời hiểu biết; chẳng có một việc thiện ác mảy múng nào gọi là kín nhẹm, có thể khuất lắp được với cơ Công bình Thiêng liêng của Tạo Hóa.



II- DANH LỢI

" Còn dụng mưu sâu kế độc, lưỡi mỏi lưng cong,... cầu lấy danh thải lợi thừa, là danh của kẻ tiểu nhơn"



Nhân nghĩa vốn là đức tính của Trời, nên biết theo Nhân, theo Nghĩa là thuận lòng Trời thì còn; không biết theo Nhân theo Nghĩa là nghịch Thiên ý thì mất; thế mà con người lại vì chút danh mà đua tranh theo quyền lợi như sóng bủa gió đùa, thật là khốn hại cho đời chẳng may, khổ nạn thay cho nhơn sanh quá rủi.



Nhơn loại chỉ vì chưa thấu hiểu Luật Công Bình Thiêng Liêng của Tạo hóa, nên mới tự cường tự bạo mà tranh thắng giành hơn, mộng tưởng rằng mạnh thì đặng, yếu thì thua, mạnh thì làm bá chủ hoàn cầu, đặng thì tóm thâu cuộc thế.



Đâu có hẳn rằng: Những chi đã dụng cường bạo mà lập thành, thì cơ Công Bình Thiêng liêng chẳng để; dầu có tạo nên cơ nghiệp vĩ đại khắp bốn biển năm châu đi nữa, cũng chưa ắt nương dựa vào đâu cho vững chắc được, chẳng qua là đài danh lợi phàm nhơn tạm gầy trên bãi sa mạc đó thôi, chờ trận phong ba đưa đến thì xiêu đổ, tan tành không mấy lát, dầu đặng thất, dầu hơn thua, cũng đồng chung chịu khốn khổ thiên thu mà đền bồi tội lỗi.



Nhơn loại chỉ biết tham danh mến lợi mà chẳng biệt phân chơn giả, mới sanh ra cạnh tranh giành giựt sát hại lẫn nhau, làm cho cuộc thế điêu tàn, củi quế gạo châu, sanh linh đồ thán.



Danh lợi là hai món báu thế trần của Tạo hóa sắp bày để thưởng ban cho những người hữu tài hữu đức, hữu công với đời; tài đức công lao đến bậc nào thì cơ Công Bình Thiêng liêng cũng sẵn dành lợi danh mà ban cho đến đó. Con người mà sở dụng tài cao, đức rộng để cứu nhơn độ thế, giải khổ chúng sanh mà tạo nên danh vị lộc cả quyền cao, ấy mới thật danh thật lợi của Trời ban cho.



Từ xưa đến nay, những bậc hữu đức hữu tài, hữu công với đời ấy, đã được nhơn loại kính trọng mến yêu, lập lăng miếu phụng thờ, tạo hình cốt nêu gương, thanh danh ghi tạc sử xanh ngàn thu muôn kiếp.



Còn dụng mưu sâu kế độc, lưỡi mỏi lưng cong, lấy tàn bạo cường quyền mà đạt lợi xưng danh, cầu lấy danh thải lợi thừa, là danh của kẻ tiểu nhơn, lợi của đứa đạo tặc; mà từ xưa đến nay cũng vì những kẻ ấy mà biết bao cơ nghiệp xiêu đổ tan tành gây lắm sự khốn khổ cho đời, nhơn sanh đói lạnh.



Người có tài cần phải có cái đức mới thoát khỏi cái giả lợi hư danh mà lập công với đời cho phải phận. Nếu người có tài mà thiếu đức, ắt không phương kềm chế mình trọn theo đường ngay lối chánh mà thi hành phận sự đúng đạo làm người, thì tài ấy chỉ để hại đời, dục loạn cho dân chúng.



Danh lợi là hai món báu thế trần, nhưng đối ới người Đại Nhân thì chẳng bao giờ nghĩ đến, hằng ngày chỉ biết tùy duyên tùy phận, tùy theo tài đức của mình mà thi hành phận sự giúp ích cho đời, lập công với sanh chúng; nghĩa là tùy theo thiên chức mà lo tròn nhiệm vụ.



Thoảng như danh lợi có đến là do bởi nhơn tâm, là thiên ý mà tự đến, ấy mới thật lợi thật danh, mới gọi là thế tôn, là thiên lộc. Vì cầu danh mà nhơn sanh xung tâm cừu hận, vì trục lợi mà nhơn loại đổ lụy thiết tha, là điều Bậc Đại Nhân xưa nay hằng lo ngại.

DaoKy
03-01-2005, 12:45 PM
THUYẾT MINH THÁNH ĐẠO- II



Nam Mô CAO ĐÀI TIÊN ÔNG ĐẠI BỒ TÁT MA- HA- TÁT



PHẦN II

TAM GIÁO THIÊN ĐẠO - PHƯƠNG TU TÂN PHÁP



("Tam Giáo Thiên Đạo, nghĩa là Đạo nào cũng là Đạo của Trời..Tam Giáo đều là Chánh truyền, đều là Chơn lý,")

Từ khởi đầu Thượng Nguơn chí đến cuối Trung Nguơn, đời chưa phát minh vật chất, khoa học hiếm hoi, Nhơn loại thiếu phương vượt qua rừng sâu bể thẳm mà giao thông khắp cả Ngũ châu; nên Chí Tôn mới tùy phương truyền mối Đạo mầu, tùy tục khiến người lập Giáo độ rỗi chúng sanh, dìu nhơn loại quy nguyên bổn tánh; thành thử mỗi Tôn giáo riêng phương, mỗi Giáo chủ riêng phần chưởng quản.

Lại vì mỗi Giáo Chủ, mỗi sắc người, mỗi Tôn Giáo mỗi phong tục, mà Nhơn loại xem qua hình thức bề ngoài không thể giống nhau mới lầm cho là khác Đạo.

Cũng vì bởi Nhơn loại chú trọng về măt vật chất hữu vi mà chia rẽ Đạo Trời,nếu đã dụng công tâm và lấy tinh thần mà xét đoán luận suy, thì rõ thấy Chơn lý chánh truyền duy nhứt, mỗi Tôn giáo là mỗi Chi, do bởi gốc Đạo Trời biến sanh độ thế. Dầu cho Tôn Giáo nào cũng đồng thọ một Giáo lý Đạo Trời là “việc phải, việc lành, điều Nhân điều Nghĩa”.

Đến Hạ Nguơn là thời kỳ nhân loại tấn hóa tinh thần vật chất, khoa học phát minh cực điểm, nhờ đó mà con người châu lưu tận thức khắp cả Càn khôn; Chí Tôn mới do Cơ mầu tiền định hoằng khai Đại Đạo, Quy Nguyên Tam Giáo, Hiệp Nhứt Ngũ Chi, nghĩa là hiệp cả nhơn sanh về một gốc chánh truyền, chung thờ một Đấng Cha Lành là Chúa tể Càn Khôn Thế giới, đồng thật hành Chủ nghĩa thương yêu hoà hiệp, tế độ dìu dắt lẫn nhau, chẳng vì sắc tóc màu da mà phân chia nhân loại, chẳng vì Chủ nghĩa bất đồng mà tranh giành oán ghét.

Ấy là họa diệt thế sắp mãn, Cơ Tái Tạo hầu kề, nên Đạo Trời mở rộng phổ tế chúng sanh, khêu Tâm gợi Trí, phá ám huờn minh cho Nhơn loại, hầu có tỉnh trí hồi tâm trở bước mà tầm đường Chánh đại quang minh, phục nguyên bổn tánh.

Trong Trời Đất chẳng có Tôn giáo nào lập thành mà chẳng có mạng lịnh của Trời ban cho, chẳng vị Giáo Chủ nào thi hành phận sự mà chẳng có mạng lịnh của Trời sai khiến; vì vậy mà gọi rằng Tam Giáo Thiên Đạo, nghĩa là Đạo nào cũng là Đạo của Trời tất cả.

Ví như Phật Đạo, Đức Thích Ca biết có Ngọc Hoàng, Tiên Đạo thì Lão Tử biết có Thượng Đế, Thánh Đạo thì Đức Giêxu biết có Chúa Cha, Nhân Đạo thì Đức Khổng Tử biết có Thiên Đế, thế thì chẳng vị Giáo Chủ nào không nhìn nhận có Trời là Chúa Tể vạn linh sanh chúng.

Vì vậy mà cả nhơn loại đồng tín ngưỡng, kỉnh thờ sùng bái một Đấng Cha chung là Trời, cùng chung một Đạo luật, một Giáo lý, đồng thật hành Chủ Nghĩa tương thân tương ái, tương trợ lẫn nhau; ấy mới gọi Đạo Trời có một, Chơn lý không hai, mà lại là Cơ Quy Hiệp hòa thương nhơn loại khắp cả Ngũ châu để lập hòa bình Thế giới.

Tam Giáo đều là Chánh truyền, đều là Chơn lý, chẳng Tôn Giáo nào cao, không Tôn giáo nào thấp, chỉ có người đời sau vì tư tâm, tư y,mà cải sửa thêm bớt lần hồi thất chánh, sai biệt Chơn truyền, rồi mới nảy sanh ra lắm lời khen cao, chê thấp.

Ví như Phật Đạo, Tiên Đạo, dạy huyền bí cao siêu, còn Thánh Đạo lại dạy nhiệm mầu triết lý, mà dầu học huyền bí cao siêu hay là nhiệm mầu triết lý đi nữa, cũng phải khởi nơi Thỉ rồi mới tới Chung, chẳng bao giờ hữu Chung mà vô Thỉ.

Tôn giáo nào cũng dạy khởi từ chỗ Ám là Thỉ, chỗ Minh là Chung, mà muốn phản Ám huờn Minh thì trước hết phải tập tồn dưỡng, tồn dưỡng cho được mới tu luyện, tu luyện cho được mới Minh kiến; con người không thể bước một bước năm bảy dặm đường, thì cũng không thể nhảy một nhảy đến Bồng Lai Cực Lạc.

Về tinh thần Vô vi, thì Phật dạy Minh Tâm Kiến Tánh, Tiên dạy Tu Tâm luyện Tánh, Thánh dạy Tồn Tâm dưỡng Tánh; về vật chất hữu vi thì cả Tam Giáo đều dạy thương yêu hòa hiệp, làm phải làm lành; thế là Đạo dạy người trau Tâm để tầm lý nhiệm mầu, luyện Tánh để đối với vật sự thế trần cho phải lẽ.

Dầu cho Tôn Giáo nào cũng phải tùng Chơn lý để dạy người, dìu từ bước, dắt từ dặm đường cho đến nơi kết quả cuối cùng của con đường tu là toàn thiện, toàn lương, chí huệ chí minh; chẳng Tôn Giáo nào vượt qua khỏi Chơn lý Đạo Trời, để dìu dẫn con người vào nẻo tắt đường quanh, nhập Thánh siêu phàm như người đời đã bấy lâu lầm hiểu.

Con người cần phải khai minh Tâm, khai huệ Trí, nghĩa là phải huệ minh hơn phẩm nhơn loại; rồi mới mong đến đẳng cấp Thiêng Liêng là Thần, Thánh, Tiên, Phật; nếu nhơn phẩm chưa hoàn toàn, tâm trí còn u ám thấp hèn mà mong đến nơi phẩm tối cao là Quái Đạo.

Đạo vốn để dạy người làm phải làm lành, hành Nhân hành Nghĩa; ấy là Đạo dạy người học hiểu để làm, Đạo chẳng dạy người học thuộc để nói. “Đạo Nói” là Đạo của đứa tiểu nhân, nói được mà làm không được là phương dối đời hại Đạo, giả tuồng Đạo Đức, mượn tiếng Nghĩa Nhân, làm mưu gạt người, cầu danh trục lợi.

Dầu cho Tôn giáo nào cũng lấy sự thiết thực làm ấn chứng, vì bởi phương tu tầm Đạo thì tầm ở Tâm, mà đạt được Đạo là đạt nơi Tánh; nên chi nói được, làm được mới gọi là đạt Đạo. Người học nhiều, hiểu nhiều, nói nhiều, mà chưa thật hiện được mảy chi, thì chẳng bằng kẻ học ít, hiểu ít, nói ít, mà đã thật hành được ít.

Từ Thượng Cổ đến nay, biết bao là Kinh sách lưu truyền, biết bao là lời vàng tiếng ngọc của Thánh Hiền dạy bảo, mặc dù người đời nay có khéo xáo trộn câu văn, cùng tráo trở lời nói thế nào đi nữa, thì cũng không ngoài những lý lẽ “Phải, Lành, Nhân Nghĩa, Đạo đức” của các Hiền xưa Thánh trước.

Thế thì lời nói đã là thừa, mà Đạo Thánh lại chẳng hề khi nào vượt qua khỏi sự thiết thực của Đời, nên người học Đạo cần phải thực hiện những điều cận thân cho có ấn chứng hơn là lời nói Thánh, nói Hiền cùng là tìm tòi nơi viễn vọng và mơ mộng.

Thử suy Giáo lý Đạo Nhân thì rõ thấy phân rành Hạ Học là Thỉ, Thượng Học là Chung; ấy là Đức Khổng Thánh tùy theo trình độ của Nhơn loại mà dìu dắt, dạy con người gom từ cái nhỏ tạo thành cái to, khởi từ chỗ thấp lần đến chỗ cao; nghĩa là do theo phương pháp tu thân mà tự đem mình vào con đường chí Thiện, chí Minh là nơi kết quả.

Nghĩ vì số người xem kinh sách thì nhiều, mà người thâm hiểu nghĩa lý Kinh sách lại ít, nên mới gây thành lắm sự hoang đàng, tà mị, tranh luận thấp cao, và cũng bởi con người chưa thấu hiểu Cơ huyền bí nhiệm mầu của Tạo hóa lập Đạo dìu Đời, nên chỉ biết tôn trọng Giáo chủ Đạo mình, mà chẳng biết kính trọng Giáo chủ Đạo người; hễ dựa vào một Tôn giáo nào thì cung tụng Tôn giáo ấy là Chánh là Chơn, các Tôn giáo khác lại bị cho là Bàn Môn, Tả Đạo.

Đó là nguồn cội của sự chia rẽ Đạo Trời, mà nhơn loại chẳng hiệp hòa cùng gây họa chiến tranh cũng do bởi đó.

Tôn giáo phân chia là một điều tai hại cho Đời chẳng nhỏ, thay vì Đạo Trời dụng Tôn chỉ Thương yêu Hòa hiệp, nhẫn nại khiêm cung mà dạy người, Tôn Giáo lại lấy Chũ nghĩa tranh thắng giành hơn mà khuyến người chia phe phân phái, tự tôn tự đại, ngạo bán khinh khi, mà sinh ra oán ghét nghịch thù không phương hòa hiệp.

Tôn giáo phân chia, nhơn sanh chẳng hiệp hòa, là do bởi tâm tánh của người hành Đạo còn lắm hẹp hòi, nên mới không thể dung hòa, phổ tế chúng sanh, gieo truyền Chủ nghĩa Đại Đồng mà bảo toàn thế cuộc.

Bao giờ Đạo Trời cũng vẫn một, Chơn lý không hai, thế mà người hành Đạo lại Tâm Tánh bất đồng, tinh thần không phù hạp; ấy cũng bởi con người chưa thoát khỏi lối thường tình là vì quyền lợi, vì danh, hơn là vì Nhơn sanh, vì Đạo. Tôn Giáo phân chia là sái hẳn với Chơn lý Đạo Trời, không phù hạp với Thiên ý, thì Nhơn loại còn mong chi thoát khổ thế trần, tạo Thiên Đàng nơi cõi tục.

Trời sanh nhơn loại đều giống nhau cả tinh thần và hình thức, Tâm Tánh và xác thịt cũng đồng như nhau một thể, nên gọi là đồng loại, nhưng Dân tộc nầy lại khác hẳn với Dân tộc kia là lẽ thiên nhiên tùng đời của nhơn loại. Vì bởi lúc sơ sanh, con người chưa biết ăn, biết nói, chỉ có biết thương yêu trìu mến mà thôi, đó là Thiên Tánh.

Đến khi lớn lên thì tự một ngày một nhiễm thói thường, tùy theo tập tục của mỗi nước mà nói năng, ăn mặc, tùy sự tấn hóa của đời nầy qua đời nọ mà biến cải lần hồi; ấy là Phàm tánh. Còn sắc tóc màu da lại tùy theo phong thổ sắc dân mà biến sanh, chớ Tâm Tánh và hình thể của loài người chẳng hề thay đổi.

Con người đã gọi là đồng loại, đồng thể nhưng trong đời lại phân chia giai cấp chẳng đồng, có kẻ trọng, có người khinh là do bởi hai lẽ Muội Minh và Thiện Ác. Cũng bởi sự thâm hiểu ấy mà các Đấng Thánh Hiền xưa hằng dùng Đạo đức để nuôi dưỡng và khai mở Tâm thần, nhờ bởi sự nuôi dưỡng, khai mở ấy mà Tâm thần được huệ minh, có huệ minh mới có Thiện. Còn thường nhơn lại dụng vật chất mà bồi bổ cho xác thân, thành thử Tâm Thần thiếu sự nuôi dưỡng và khai mở mà Ám muội; vì bởi Ám muội mà sanh Ác.

Con người mà để cho Tâm Thần Ám muội rồi thì là nguy, vì bởi miệng không nói được điều phải, tai không nghe được lời phải, mắt không thấy được việc phải, thân không gần được người phải, chẳng giờ phút nào còn tưởng được lẽ phải; thế thì còn khác chi là loài cầm thú nữa đâu.

Ấy đó là người mà Trơi đã bỏ, nên mới gọi là nguy. Do theo hai lẽ Muội minh, Thiện ác ấy mà phân minh đẳng cấp Thiêng liêng và biệt phân bậc Thánh Tâm với người tục tánh; mà lại là yếu điểm sự Tu của Tam Giáo Đạo từ xưa đến nay vẫn vậy.

Người Tu vốn là người lập đức Vô vi, tạo vị Thiêng liêng, nên khác hẳn với người lập nghiệp Phàm trần tạo vị Thế tục. Lập vị phàm trần, tạo vị thế tục thì chỉ có mong cho dịp may đưa đến; ai gặp được dịp ấy là đạt vọng, nên kẻ bất tài thất đức cũng có thể đạt được.

Còn lập đức Vô vi, tạo vị Thiêng liêng thì phải lắm công phu, nhọc tâm trí để nuôi cái nhân, dưỡng cái huệ; hiến thân cho đời, gánh khổ trần ai để tạo hạnh phúc cho Chúng sanh nhờ mới mong đạt vọng.

Đạo ở trong Đời, mà Đời là cảnh khổ, nếu chẳng nhập vào cảnh khổ của Đời thì khó mong gặp Đạo. Đạo ở khắp nơi cảnh khổ thế trần, nhưng phải dày công tầm kiếm, không thể ngồi suốt đêm tối ngày mà trông mây ngóng mưa, chờ dịp may đưa đến mà đạt vọng; hay là vào chốn hang sâu rừng rậm ẩn nắng trốn giông chờ người tiếp dẫn mà đạt Đạo như người đời đã bay lâu mộng tưởng.

Xưa kia, nếu Đức Thích Ca không xa ngôi báu, lìa cội Bồ đề đem thân hành Đạo thì chưa đạt Đạo, chưa thành Phật Tổ. Nếu Chúa Giêxu chẳng chịu hàn vi thọ khổ đớn đau
đem thân hành Đạo, thì chưa đạt Đạo, chưa thành Thánh Chúa. Nên con người mà chưa từng chịu đau khổ là chưa gặp Đạo, tầm phương lánh sự khổ là tầm đường xa Đạo.

Hễ đã mang mảnh thi hài phàm tục nhập vào cảnh khổ trường Đời, thì lẽ cố nhiên phải tùy nơi sự tiến hóa của mỗi Cơ, như sanh hóa, tấn hóa, giáo hóa, biến hóa, thể Thiên hành hóa, và tùy duyên, tùy phận, tùy theo đẳng cấp mà lãnh lấy khổ thế trần ai như tùng khổ, thắng khổ, thọ khổ, thoát khổ, giải khổ, để lập đức bồi công cùng tạo vị Thiêng liêng đến phẩm Thần, Thánh, Tiên, Phật.

Khổ thế trần ai là phương mầu huyền bí để cho nhân loại trau tâm luyện trí, khai huệ tinh thần, đem mình đến địa vị tối cao toàn minh, toàn thiện.

Người sanh trong Đời Hạ Nguơn lại gặp buổi Tam Kỳ, thì nên cần hiểu Tân Pháp mà lập thân hành Đạo mới có thể tấn hóa đạt Đạo kịp theo thời thế; nếu bo bo thủ cựu gìn Cổ Pháp cùng Cựu Luật theo lối Thượng Nguơn, là luật pháp đã xóa bỏ từ cuối Trung Nguơn, thì chẳng những là thất vọng với công Tu, là vô ích cho mình và chẳng bổ ích cho Đời mà thôi, lại còn uổng một kiếp sanh của con người thọ khổ đến trường Đời mà chẳng được tấn hóa.

Vì bởi Thượng Nguơn là Nguơn Thánh Đức, con người còn nguyên giữ tánh,chất Thiện lương vẹn gìn Thiên tánh, nên sự Tu hành và đạt Đạo một cách dễ dàng. Bước qua Trung Nguơn là Nguơn tự diệt, nhơn sanh đã mất đi bản tánh Thiện lương xa lìa Thiên Tánh, thành thử sự Tu hành rất khó khăn mà cũng không phương đạt Đạo.Bởi cớ nên Đức Khổng Phu Tử mới lập Chơn Truyền Nhân Đạo, để cho nhân sanh do theo nề nếp và trật tự ấy mà tự lập thân hành Đạo quy nguyên bổn tánh.

Đến nay là thời kỳ Hạ Nguơn hầu mãn, Cơ Tái tạo chuyển xây, con người chẳng còn giữ được mảy mún Thánh Tâm cùng Thánh đức, nên Cơ diệt thế mới biến sanh bởi khoa học phát minh cực điểm.

Vì vậy mới có Đạo Trời mở rộng cứu thế, độ đời, dìu nhơn loại đến nơi chí Thiện, chí Minh để bảo tồn Thiên tánh. Nên chi, con người cần phải biết do theo phương pháp Tu thân là hành thiện với thân mình, gọi là hành nhân mà lập thân hành Đạo; nếu chẳng do theo con đường ấy thì chẳng còn phương chi có thể đem con người đến chỗ toàn thiện toàn lương, quy nguyên bổn tánh để cứu độ quần sinh, lập hòa bình Thế giới.

Mong thay cho nhân loại biết hồi Tâm thức Tánh, cải ác tùng lương, cải tà quy chánh, biết nương theo bóng Đạo của Đấng Cha Lành là Thương Yêu, Hòa Hiệp, chung thờ Chủ Nghĩa Đại Đồng, biết tùy cơ Nho Tông Chuyển Thế lập đức bồi công, để giải khổ cho quần sinh đã lỡ sa vào nơi u hiểm.

Chỉ có Đạo Trời là đủ thế lực cứu vớt toàn linh, lập hòa bình Thế giới, chuyển họa vi phước mà bảo tồn cho Cơ Tái Tạo cùng Nguơn Quy Cổ mà thôi.


LẬP THÂN HÀNH ĐẠO

Xưa kia các vị Giáo Chủ lấy chữ Đạo để tượng trưng tinh thần Chơn lý hai khối Âm Dương, là bổn nguyên tạo nên Trời Đất, sanh hóa Bát phẩm Chơn hồn trong Càn khôn Vũ trụ, nên Đạo vốn là con đường Chơn lý duy nhất của Cơ sanh hóa Tạo đoan, buộc toàn cả vạn linh sanh chúng phải tùng theo khuôn luật chơn lý ấy mà tự lập lần theo trật tự cơ tiến hóa Thiêng liêng tức là tùng Đạo.

“Bát phẩm Chơn hồn, tạo thế giái, hóa chúng sanh, van vật hữu hình tùng thử Đạo”.

Vì bởi cớ mà lập thân hành Đạo tức là tầm con đường Chơn lý của Cơ sanh hóa Tạo đoan, để khép mình vào khuôn luật huyền vi Cơ Tạo mà tự lập theo con đường tiến hóa thiêng liêng của vạn linh sanh chúng, trước là vẹn Đạo làm người sau mới tiến tới hàng phẩm tối trọng, tối cao là Thần, Thánh, Tiên, Phật

Con người mà cố giữ được nguyên vẹn điểm Linh sáng suốt của Trời ban cho, mới có thể tiếp xúc được sự cảm giác do tánh Thiêng liêng toàn thiện mà đi đến chỗ xuất tánh được. Nghĩa là Tâm định thì Thần ứng, trực tiếp được sự cảm hóa nơi trung tâm, do các trạng thái bên ngoài mà tìm phương định hướng.

Cảnh vật bên ngoài càng khêu gợi trí não bao nhiêu thì tánh Linh buộc phải trầm tư mặc tưởng nghĩ ngợi đến Đạo lý nghĩa nhân mà thực hành theo việc lành điều phải; mới có thể gọi là lương sanh hay là tâm Đạo. Vì thế mà dạy về Đạo làm người Khổng Giáo có nói “Thiên mạng chi vị tánh, xuất tánh chi vị Đạo”.(Nghĩa là mạng Trời ấy là tánh, làm cho rõ tánh ấy là Đạo).

Con người cần phải nhờ nơi sự cảm hóa của khiếu Thiêng liêng ấy, Đạo tâm mới khai, đức tánh mới phát khởi, tinh thần mới thiên về con đường hành thiện là tầm Chơn học Đạo. Nhơn bởi có sự cố tâm quyết chí dọn mình tầm Chơn học Đạo như thế, nên khi để chân vào cửa Đạo thì đã sẵn có chủ định khép mình vào khuôn khổ chánh truyền để buộc phàm tâm tùng thiên tánh.

Ấy là tầm phương tránh sự dục vọng của bản năng động vật khiền sai theo lối danh lợi thường tình phi nhân vô đạo, mà chính đó mới đúng với phương pháp nhiệm mầu diệt tận phàm tâm khử tà quy chánh, để thực hiện Đạo người cho phù hợp với Đạo Trời là bảo tồn sanh chúng.

Người tầm chơn học Đạo là cốt yếu chỉ có mong nơi sự tồn dưỡng tâm linh tánh đức được tịnh yên thơ thới, trau luyên trí thức tinh thần được huệ minh mẫn đạt để bồi bổ cho lương tri nhận xét thâm hiểu mọi lẽ huyền vi bí ẩn trong vật sự; rồi do theo sự thâm hiểu ấy mà biến thành ra chơn lý tuyệt đối nơi trung tâm bất di bất dịch, mới từ từ biến biến sanh sanh ra vật sự khác nữa để bảo thủ Cơ đời giải khổ cho chúng sanh và làm Chúa vạn vật.

Ví như sự ẩm thực của con người hằng ngày là cốt nhờ sự tiêu hóa lọc lấy tinh ba chất bổ trong vật thực để bồi dưỡng sức lực nuôi sống phàm thân xác thịt; nếu ẩm thực mà không tiêu hóa được, không lọc được tinh ba chất bổ để nuôi dưỡng xác thân, đem vô vật nào đưa ra vật nấy; nghĩa là sự ẩm thực hằng ngày ấy không bồi dưỡng được cho thân thể của con người, thì lẽ tất nhiên xác thân của con người phải lần hồi tiều tụy rồi chết mất.

Sự ẩm thực của con người hằng ngày như thế nào thì sự học Đạo hằng ngày của người tu vẫn thế ấy; vì nếu nghe vào tai, ghi vào trí, đồ thuyết ra miệng, mà linh tâm không đạt mảy chi về yếu lý tinh vi bí ẩn, thì tinh thần của con người cũng lần hồi hèn kém muội mê đến ngày mãn căn hết số vậy; nào có khác chi với những kẻ mắc bịnh không tiêu hóa được vật thục đâu.

Nên sự học Đạo của người tu cốt ở sự đạt lý trong vật sự một cách chắc chắn, nghĩa là tâm linh đã đạt chơn lý trong vật sự; tánh đức đã thực hiện được chơn lý thiên nhiên theo lẽ Đạo; ấy mới gọi là kết quả của người tầm chơn học Đạo.

DaoKy
03-01-2005, 12:46 PM
Điều cần nhứt và trước hết của người lập thân hành Đạo là phải vẹn giữ ý chí của mình cho được thành thật với linh tâm của mình, tự mình phải nghiêm huấn và nghiêm khắc lấy mình, chẳng vì một lẽ chi mà tự mình tha thứ cho mình được một hào li nào ra ngoài khuôn khổ của luật Đạo; nếu chẳng vậy thì dầu cho Thánh giáo cũng biến thành Tà giáo.

Người đã đem thân vào cửa Đạo gọi rằng tu, mà tự mình còn giả dối gạt gẫm linh tâm của mình, tự mình dung túng sự bất minh bất chánh cùng tội ác của mình, tức là tự mình giúp sức cho phàm tâm chiến thắng thiên tánh, để đưa mình ra khỏi khuôn luật Chơn lý Đạo mầu đặng trở lại con đường phi nhân vô Đạo, cấu kết tội tình thì đó là tự mình hại mình vô phương cứu rỗi.

Người học Đạo mà chỉ có nhớ Kinh thuộc sách cho nhiều, thuyết Kinh như Phật sống, luận sách như Thánh hiền, bàn Nhân Nghĩa hơn người trượng phu quân tử, nhưng trung tâm chưa nhiễm được một mảy chi về yếu lý tinh thần đạo đức, nhân nghĩa, thì dầu cho muôn xe Kinh sách của Phật Tiên, cùng Hiền xưa, Thánh trước đối với kẻ ấy cũng vô hiệu quả.

Sự học Đạo cốt để sửa mình, cải Tà qui chánh, khử ám hồi minh, chẳng để cho tinh thần mê muội sa mê theo bả lợi mồi danh vật chất, thế trần mộng ảo, hằng ngày chỉ biết an bần lạc Đạo, vẹn giữ tánh đức thanh cao, tâm linh trong sạch, vùi thân hành thiện cứu thế, độ đời, vì ái nhân ái vật, để cho nhơn sanh trông thấy hiển nhiên thật sự rằng Đạo đáng quý mến, người hành Đạo đáng yêu chuộng, đáng nối chí đồ gương, đáng noi bước theo con đường chí thiện, chí minh mà tự đem thân vào cửa Đạo.

Người hành Đạo tức là người cầm đuốc huệ đường và lại là gương mẫu của chúng sanh, nên trước hết phải tự mình biết quý trọng cái Đạo mới có thể dạy người quý trọng cái Đạo như mình, phải tự mình thựïc hiện cho ra lẽ Đạo mới có thể dạy người thực hiện cho ra lẽ Đạo như mình; như thế mới gọi là chánh Giáo, mới thật là chơn Đạo. Còn nếu tự mình chưa biết quý trọng cái Đạo, chưa thực hiện được ra lẽ Đạo mà dạy người quý trọng cái Đạo, dạy người thực hiện cho ra lẽ Đạo theo lời khẩu thuyết của mình, thì đó là Tà giáo, đó là Quái Đạo hẳn vậy.

Điều cần thiếtt mà người lập thân hành Đạo nên thấu hiểu để răn lòng cho vẹn phận là: “Cả hồn và xác của ta không còn riêng cho ta hay là cho gia quyến của ta nữa, ta là người đã trọn hiến cho Đức Chí linh để phục sự cho Vạn linh, ta là người đã giải thể, chết về phần Đời, sống về phần Đạo.

Dầu cho kết cuộc chữ hiếu về Đạo làm người cũng chỉ lập thân hành Đạo tên để ngày sau, làm cho cha mẹ được vinh hiển mới thật là cái Đạo của người trượng phu vậy. “Lập thân hành Đạo giương danh ư hậu thế, vỉ hiễn kỳ phụ mẫu, hiếu chi chung giả”.

Đức Thích Ca đã được người đời tặng bốn chữ “Điền Ngự Trượngï Phu” là cũng do lập thân hành Đạo mà đạt được cái kết quả của Đạo làm người là chữ Hiếu.

Nếu ta hiểu biết như thế thì ta không còn ham muốn những chi gọi là vinh sang phú quý nữa, ta không còn lưu luyến theo thế sự trò đời mộng ảo nữa, ta mới đủ can đảm xóa bỏ cả mọi việc vui thú trần gian cùng tư danh tư lợi, ta mới đủ can đảm thọ khổ muôn đắng ngàn cay, lao thân nhọc sức để tạo hạnh phúc chung cho Chúng sanh nhờ, bần hàn chẳng quản, tay trắng dìu người, không bợn nhơ của thế tục, gương lành rạng tỏ, Đạo hạnh sáng soi, người xa thương danh mến tiếng ái mộ vì Đức, kẻ gần cám nghĩa nhớ ân kính trọng vì Nhân, đặng vậy mới đáng giá cho nhơn sanh phục tùng đồ gương nối chí.

Ta cũng nên hiểu rằng xác thân của ta vốn là một con vật của ta cậy mượn để tạm ngụ nơi trần gian trong một thời hạn hữu định ngắn ngủi mà thôi, để thi hành phận sự Thiêng liêng đương khi ta còn sanh tiền tại thế.

Ta là Chúa, là Chủ của con vật ấy, ta có bổn phận nuôi nấng cho nó sống, bổ dưỡng cho nó mạnh, giáo hóa cho nó khôn, tập luyện cho nó trung thành, buộc nó phải trọn tuân mạng lịnh của ta sai khiến, ta không có quyền hủy hoại nó, ta không có quyền đổ tội lỗi cho nó, mà trái lại, ta phải gánh vác tất cả tội lỗi của nó đã làm nếu ta không đủ năng lực kềm chế được nó và ta không thể chối được tội lỗi của nó là vì Đấng Chí linh đã giao phó nó cho ta được trọn quyền làm Chúa và làm chủ khiến sai nó vậy.

Thiết nghĩ các đấng Thiêng Liêng xưa kia cũng chỉ nhờ có biết làm Chúa, làm Chủ được con vật ấy, và lợi dụng được nó mà lập đức bồi công mới cao thăng phẩm vị, thì nay ta cũng có thể làm Chúa, làm Chủ con vật ấy, mà lợi dụng được nó như các Đấng Thiêng Liêng xưa kia hẳn vậy; vì bởi các Đấng ấy cũng đồng thọ một điểm Linh quang của Trời ban cho như ta chẳng khác.

Do bởi sự thâm hiểu rằng Trời sinh ra nhân loại có ban cho một điểm Linh quang toàn lương, toàn thiện để làm chủ tể con người, nên gọi Trời là người, hay người là Trời là chánh lý, và cũng vì bởi cớ mà Nho Giáo dạy con người hãy giữ cái Tâm cho còn và suy tầm cho biết được cái Tâm; nếu biết được cái Tâm tức là biết được Trời, mà biết được Trời thì suốt thông vạn sự, vạn vật. Đó mới thật là Chơn lý Đạo mầu huyền vi bí ẩn.

Chẳng những Nho Giáo chú trọng về phương pháp tồn Tâm dưỡng Tánh mà thôi, dầu cho Tôn Giáo nào cũng vẫn thế, nên các vị Giáo chủ cùng các Thánh Hiền xưa hằng dụng phương pháp giáo hóa nhân sanh tu Tâm luyện Tánh, trau tria trí thức tinh thần, nghĩa là chú trọng về mặt Thiêng liêng huyền vi chơn lý, nhưng con người lại mộ Đạo bằng hình thức bên ngoài, là học về môn khẩu thuyết, thành thử Tâm Tánh chẳng trau, Nhân Nghĩa chẳng hành, Đạo một nơi, người một ngã, đạo đức ngày càng xa lìa, tinh thần một ngày một thêm mờ ám; rồi vì đó con người mới sa đắm tận đáy bể lợi sông danh, sóng tình dồi dập, làm cho tinh thần con người lần hồi phải muội mê như kẻ có xác không hồn, chẳng còn suy đoán được lẽ phải điều chăng, đường siêu nẻo đọa, mới sanh ra dục vọng trổ tánh tham lam tàn ác, cường tranh lực đấu cấu xé tàn sát lẫn nhau, làm cho cơ đời phải biến thành khổ cảnh đọa đày vùi chôn tâm linh của khách tục.

Con người mà đã xa rời Thiên tánh đi rồi, thì thú tánh của con người lại tàn ác hơn loài thú dữ ở rừng sâu, còn độc hơn loài rắn độc núp ẩn nơi hang thẳm.

Như thế bảo sao chẳng loạn lạc khắp quả địa cầu mà gây họa chiến tranh tương tàn tương sát cho được.Vì lẽ ấy nên Đức Phật trông vào cảnh khổ trần gian mà phát động từ tâm, thương hại cho quần linh mới than rằng:

Điền vô nhơn canh,
Lộ vô nhơn hành.
Đạo vô nhơn thức,
Ta hồ tận chúng sanh.

Nhân bởi con người chẳng nghĩ đến sự tồn dưởng tâm linh là chủ tể của con người, chẳng quản đến căn bản tối linh tối diệu, toàn thiện toàn lương của Trời ban, mới để cho bản năng động vật khiến sai, vật dục thế tình ngoại ám, làm cho con người chẳng bình tâm định trí để phân biệt được lẽ thiệt điều hư, nẻo tà đường chánh thì còn mong chi đoán xét thấu hiểu được lẽ công bình Thiêng liêng của Tạo hóa nữa.

Trong con người có một phần tinh thần vô vi bất tiêu bất diệt là phần thiệt, một phần vật chất hữu hình hữu hoại là phần giả. Nhưng mặc dầu con người có hiểu biết chắc chắn rằng điểm Linh Tâm Thiêng liêng kia là hằng sống, mảnh thân phàm tục nọ phải chết trong một thời gian ngắn ngủi đi nữa cũng khó cho con người bỏ đuoc cái giả mà theo cái chơn là vì bởi phần vật chất vẫn hiển nhiên, còn phần Thiêng liêng tinh thần lại bất kiến; và lại còn thêm một phần phàm Tâm thú tánh thúc kềm phải bỏ chơn theo giả.

Nếu theo phần tinh thần tức là theo con đường Đạo đức phải xa lánh cả mọi việc vui thú trần gian, vùi thân với nâu sòng khổ hạnh, giày gai áo bả, đội nguyệt mang sao, xã thân mình mà nên hạnh phúc cho sanh chúng, thế mà những điều hành thiện chí thánh phi phàm ấy lại chẳng thấy ai kèm thúc bắt buộc; còn việc danh lợi phú quý vinh hoa ăn ngon mặc tốt thì thân phàm xác thịt thiết tha đòi hỏi, phàm tâm thú tánh thúc dục khiến sai, bắt buộc phải bỏ tinh thần theo vật chất, vì thế nên con người khó cải qua sở thích của bản năng động vật mà thuận tùng theo con đường Đạo đức Nghĩa nhân của Thiên tánh được. Bởi duyên cớ ấy mà sự học Đạo từ xưa đến nay rất nhiều người mà thực hiện cho đúng theo lý Đạo thì ít kẻ lắm vậy.

Yếu điểm sự học Đạo của con người là ở nơi Tâm linh là tầm phương nắm cho được chủ quyền thân phàm xác thịt, dụng năng lực thành tâm để trừ khử dục vọng phàm tánh. Đặng vậy rồi mới đủ thế lực tự quyền, tự chủ vui gánh lấy khổ hạnh tuồng đời mà lập thân hành Đạo.

Sở dĩ con người phải nhập vào cửa Đạo là vì bởi con người không đủ năng lực buộc phàm tâm tùng Thiên tánh, không đủ phương pháp độc thiện kỳ thân và tự giáo hóa lấy mình, nên buộc nhập vào cửa Đạo để khép mình vào khuôn khổ Chơn lý của Đạo luật hầu nương theo đó mà kềm chế nghiêm huấn lấy mình và do theo con đường ngay lối chánh ấy mà đem thân hành thiện mà trừ diệt bản ngã tư tâm phi nhân vô Đạo.

Nếu con người mà được trọn để tâm thành chí vẹn tuân y Đạo pháp và thực hành đúng theo Chánh giáo chơn truyền, thì lẽ cố nhiên dục vọng tư tâm tư ý phải lần hồi tiêu diệt, bản năng động vật chẳng còn nương dựa vào thế lực nào để dấy loạn tâm linh mà dẫn dắt con người sái bước lầm đường lạc lối nữa được.

Con người mà gìn giữ cho Tâm linh được thanh bạch và thâm nhiễm được Giáo lý Đạo mầu vào trí não tinh thần rồi thì dầu cho con người có muội mê đến thế nào đi nữa cũng sẽ trở nên huệ minh kiến thức, trước mắt chẳng còn thấy vật chi đáng yêu chuộng ham muốn, chẳng còn thấy điều chi đáng âu lo kinh khủng, chỉ biết tuân theo mạng lịnh của tâm linh mà phát tánh ái nhân ái vật, bố đức trợ nguy tế chúng, dầu cho thân phải vì chúng sanh mà thọ khổn đói rách khốn cùng lao tâm nhọc trí đi nữa, cũng chẳng phải vì sự cay đắng đớn đau mà thối chí ngã lòng đổi tánh, bao giờ Thánh đức cũng vẫn an vui trổi bước trên con đường chí Nhân chí Thiện.

Suy cho cùng nghĩ cho tận, thì con người chẳng ai là không có lòng chí nhân chí thiện, vì bởi sự thương yêu sanh chúng, bác ái Đại đồng là đức hóa dục của Trời, mà mỗi con người đều có thọ một điểm Linh thiên tánh để làm chủ tể con người gọi là Tâm; tức là lòng thương yêu nơi người đã sẵn có; huống chi con người là cơ thể của sự thương yêu, do bởi sự thương yêu mà sản xuất, nên lòng thương yêu của con người là vô cùng vô tận.

Thoảng như sự thương yêu ấy có mất đi là do bởi con người chẳng quản đến sự trau luyện Tâm linh được sáng suốt để cho dục vọng thú chất che lấp ám mờ mà chẳng xuất tánh được vậy thôi chớ chẳng một ai là con người mà không có lòng thương yêu từ thiện của Thiên tánh.

“Quái hào bát quái định Càn khôn, phân đẳng pháp, nhứt thần phi tướng trị kỳ Tâm”.Cũng vì sự thương yêu vô tận bác ái chúng sanh mà Đạo luật buộc phải giữ gìn trai giới, nên sự giữ giới trường trai là bước đường đầu tiên của người lập thân hành Đạo.

Thiết nghĩ như loài cầm thú thiếu sự sáng suốt điểm Linh mà không đủ trí khôn thông hiểu được như loài người, nhưng cũng biết đau, muốn sống như người, cũng tình đôi bạn, cũng nghĩa mẹ con, cũng biết ấp yêu trìu mến như người, cũng biết nhớ, biết thương, cũng biết đau khổ thảm sầu khi mất mẹ còn con, khi mất chồng còn vợ, song vì thất cơ yếu thế khó nỗii thoát thân mà buộc mình phải đành thọ lấy khổ hình, là nạp cả mạng sanh cho con người phanh thây xẻ thịt.

Còn con người lại nhờ sự sáng suốt khôn ngoan hơn vạn loại mới dụng thiên mưu ngàn chước bắt giết thú cầm, lập đủ phương hay thế khéo để sát mạng sanh lòai vật mà nuôi sống thân người cùng vui say thỏa thích.

Thật là thảm thiết thương thay cho kiếp sanh của loài cầm thú mà cũng thương hại cho loài người chưa thấu hiểu được mặt Công bình thiêng liêng Hằng sống, mới bạo gan cấu kết tội tình cùng gây oan tạo nghiệp.

Đối với người tu chơn hạnh Đạo vẹn giữ tâm thành, đã vì bác ái chúng sanh tâm đức dẫy nay mới xã thân hành thiện giải khổ cho chúng sanh nên chẳng nở đành vì sự sống của mình mà sát sanh hại vật, dù cho sự sát sinh ấy có khuất mắt xa tai đi nữa nhưng tánh đức thương yêu cũng gợi được tâm linh làm cho sự tưởng tượng trở lại hiển nhiên trong trí não văng vẳng bên tai, vẩn vơ trước mắt, nào là khi vẫy vùng kinh hãi, nào là tiếng kêu thảm rên la, nào là lúc banh thây xẻ thịt, ruột đổ máu rơi, làm cho cảm xúc từ tâm động lòng thương xót và nghĩ đến đức háo sanh của Trời, luật công bình thiêng liêng của Tạo hóa mà tự đè nén thú tánh phàm tâm để giữ giới trường trai vẹn gìn Đạo pháp.

Luật Công bình Thiêng liêng Cơ Tạo đã để cho Bát phẩm chơn hồn tự lập mà tiến hóa, tự giác lập đức bồi công mà giải thoát, tự trau luyện thân tâm mà đạt vị; nên chẳng ai là người tu chơn hành thiện mà không đạt vọng.

Ví như một mảnh giẻ rách cũng còn có thể lọc thành một tờ giấy trắng tốt tươi, một miếng miểng chai cũng có thể lóng lược trở nên một bóng đèn trong sạch, thì toàn cả nhân loại ai ai cũng có thể tu tâm dưỡng tánh trau thân hành nhân mà siêu thoát đoạt vị được vậy.

Về mặt huyền vi Chơn lý Đạo mầu thì con người cần phải trau giồi xác thân trong sạch, nghĩa là trường trai giữ giới làm cho phàm thể biến thành Thánh thể để bảo thủ thánh Tâm, mà cũng là phương pháp chẳng để cho phàm Tâm lợi dụng năng lực thú chất mà làm ô trược bợn nhơ Thiên tánh.

Nên chi sự tu Tâm luyện tánh là trau tria trí não tinh thần là điều cần yếu của người tu, mà sự trau giồi cho xác thân tinh khiết trong sạch lại còn cần thiết hơn nữa vì đó là phương pháp nhiệm mầu giảm thế lực mạnh của bản năng động vật dấy loạn Tâm linh cùng tánh đức.

Vì lẽ Đạo là huyền vi cao trọng nên chi con người cần phải bình tâm định trí để suy gẩm xét mình hằng buổi, nếu biết phải thì theo, biết trái thì bỏ; thấy hay thì học thấy dở thì chừa, phải để cả lợi danh thường tình thế sự ngoài tai, không đem vào trí não, chẳng để vào Tâm, phải tự mình nghiêm khắc lấy mình mà ăn năn tự hối, chỉnh sửa Tâm linh, cải chừa lội lỗi.

Nếu chẳng thật tâm xét mình và cũng không nghiêm huấn được mình, thì chẳng thoát Tà bổn thân tiếp xúc với ngoại Tà rồi nội ứng ngoại tiếp xâm nhập vào trung tâm mà làm cho Chơn linh phải bợn nhơ ô trược.

Người lập thân hành Đạo tức là gương mẫu của nhân sanh, nhân sanh chỉ trông vào hành vi chân chánh đặng nối chí đồ gương; nếu dụng lý thuyết mà giáo hóa băng lời lẽ nói suông thì do theo Kinh sách đã là thừa và cũng chẳng đem lại kết quả chi cho sanh chúng cả.

Vì bởi cớ mà các vị Giáo Chủ xưa kia xã thân hành Đạo để thực hiện giáo lý Đạo mầu
cho nhận sanh nhận thức chắc chắn rằng Đạo là con đường thoát tục nhập Thánh siêu phàm giải khổ cho chúng sanh, là phương châm cứu thế độ đời thoát mê cho nhân loại nên Đức Thích Ca mới lìa xa ngôi báu để thực hiện Giáo lý Đạo Phật, Đức Lão Tử phế bỏ cả lợi danh để thực hiện Giáo lý Đạo Tiên; Đức Khổng Thánh châu lưu khắp chốn để thực hiện Giáo lý Đạo Nhân; Đức Thánh Chúa thọ khổ đớn đau để thực hiện Giáo lý Đạo Thánh.

Thế thì nhờ bởi thực hiện được lời nói bằng việc làm treo gương hậu thế mà danh vị của các Đấng ấy được nêu cao nơi cõi Thiêng Liêng Hằng Sống; Giáo lý của các vị ấy được trường tồn truyền lưu khắp cả Ngũ châu và toàn nhân loại mới cảm đức phục tùng mới tôn sùng là Giáo Chủ.

Gương lành của các vị Giáo Chủ xưa kia đã tỏ rạng sáng soi sánh cùng Nhựt Nguyệt thì người lập thân hành Đạo cần phải ghi nhớ và đồ gương nối chí, phải thận trọng từ lới nói việc làm đều được phối tánh nhân sanh tức là phù hợp với Thiên ý mà đã phù hợp với Thiên ý và phối tánh nhân sanh tức là đạt Đạo đó vậy.


(HET)