PDA

View Full Version : Tìm Hiểu Về Tiểu Sử đạo Cao đài


DaoKy
03-01-2005, 12:27 PM
BAI I : TIỂU SỬ ĐẠI ĐẠO (1)


Theo lý đương nhiên, một việc lớn đến đâu, hay nhỏ thế nào, khi phát huy thì cũng do một duyên cớ tế nhị, Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ cũng nằm trong công lệ ấy. Chúng tôi muốn nói nền Đại Đạo, tuy cao thâm có tinh thần cứu rỗi cả chúng sanh; nhưng ban đầu nó chỉ do huyền diệu Cơ bút, một sự kiện đã có tự ngàn xưa. Thế nên trước khi luận Đạo, thuyết pháp chúng tôi xin bàn sơ lược Tiểu Sử Đại Đạo.

Chương nầy có hai đề mục :
1.HUẤN LUYỆN ĐỒNG TỬ
2.ĐẠI ĐẠO XUẤT THẾ

1. HUẤN LUYỆN ĐỒNG TỬ :

Dùng huyền diệu cơ bút để lập Đạo, truyền giáo thì Đồng tử là một việc rất cần thiết. Thế nên, trước khi truyền dạy Chánh Pháp, chính mình Đức Chí Tôn, hoặc ủy quyền cho các Đấng Trọn Lành, chọn lựa và huấn luyện Đồng Tử.

Chúng tôi còn nhớ, vào khoảng thượng tuần tháng 6 năm Ất Sửu (1925), tại Đô Thành Sài Gòn, thình lình phát khởi một phong trào : Phò cơ, Chấp bút, Xây bàn. Nghe nói đầu nầy xây bàn, tiếp chuyện với các vong linh để họa thi, vịnh phú; chỗ nọ phò cơ chấp bút, cầu Tiên xin toa thuốc chữa bịnh. Tại trung tâm Sài Gòn có một nhóm công chức bắt chước xây bàn, cầu các Đấng Thiêng Liêng học hỏi văn chương. Ban đầu họ tính dùng lối xây bàn để tiêu khiển, nhưng về sau vì hâm mộ thi phú mà họ theo đuổi phép “ Thông Thần Lực ” (Médiumnité), đến mức vi diệu. Chung cuộc, họ trở nên những đồng tử đặc sắc giúp Chí Tôn lập Đạo, truyền giáo. Sau nữa, họ được phong vào hàng Chức Sắc Đại Thiên Phong nơi Hiệp Thiên Đài.

NHẮC LẠI SỰ TÍCH XÂY BÀN :

Nguyên chiếc bàn nhỏ bốn chưn : Kê hai chưn kia cao hơn chừng ba phân tây. Chiếc bàn trở nên gập ghình, có thể dở lên đặt xuống dễ dàng. Phải có ít nữa là hai người ngồi đối diện và để úp bàn tay trên mặt bàn. Trong chừng 10 hoặc 15 phút, chiếc bàn bắt đầu chuyển động. Đó là triệu chứng có một Đấng Thiêng Liêng giáng điễn, chiếc bàn bắt đầu dở lên đặt xuống.

Chiếc bàn chuyển động thế nào mà thành chữ ?
Có một khẩu ước ở giữa Đấng vô hình và hai vị Đồng Tử : Nhịp một lần là A, hai lần là Ă, ba lần là Â, bốn lần là B, và cứ thế mà tiếp điễn đến 24 chữ cái. Trong khi chiếc bàn nhịp, hễ ngừng chỗ nào thì người ngồi ngoài biên chữ ấy, chung qui, nhiều chữ góp lại thành một danh từ, nhiều danh từ ghép thành bài thi Bát cú, tứ tuyệt, hay tản văn.
Cách xây bàn, lúc đầu thì khó khăn phải mất nhiều công phu mới nhận được một bài văn. Về sau, Đồng Tử quen tay thuần điễn, sự khó lần hồi hóa dễ. Nhờ vậy nên sự tiếp chuyện với các Đấng Thiêng Liêng càng ngày càng mau lẹ, chắc chắn và rõ ràng.

Một hôm, có lẽ là đêm 10-6 Ất Sửu (1925) có một vị đến tự xưng là Đoàn Ngọc Quế, cho một bài thi như sau :

“ Nỗi niềm tâm sự tỏ cùng ai ?
Mạng bạc còn xuân uổng sắc tài ?
Những ngỡ trao duyên vào Ngọc Các,
Nào ngờ phủi nợ xuống Tuyền đài.
Dưỡng sanh cam lỗi tình sông núi,
Tơ tóc thôi rồi nghĩa trúc mai.
Dồn dập tương tư hoằng một gánh,
Nỗi niềm tâm sự tỏ cùng ai ? ”

Sau rõ lại, Đoàn Ngọc Quế là biệt hiệu của Bà Thất Nương Nữ Phật Diêu Trì Cung. Từ đó về sau, Cửu Vị Nữ Phật thường giáng đàn, dùng lối văn: vừa hay, vừa vui làm cho người nghe ham mộ, theo học mà không chán.
Nhờ vậy nên về sau những vị đồng tử nầy trở nên đắc dụng trong sự lập Đạo, truyền giáo.

Đến một đêm kia, thình lình có một Đấng giáng đàn với một Thần điễn phi thường và tự xưng là A, Ă, Â, và dùng lối văn nói trên để dạy. Về sau, chúng tôi hiểu ra thì A, Ă, Â, chính là Đức Cao Đài Thương Đế.
Đức Ngài nói rằng :
“ Ta phải hạ mình là một Chơn linh thường, để cảm hóa các con ”

Thiết tưởng lúc đó, Đức Chí Tôn tiết lộ cho chúng ta biết rằng Đức Ngài là Thượng Đế thì ắt chúng ta không dám lân la, học hỏi.
Mãi đến ngày 30 tháng 10 Ất Sửu, nhằm ngày 15-12-1925 Dl, Đức Chí Tôn dạy phải lập bàn Vọng Thiên cầu Đạo và dùng lối Phò Cơ để tiếp xúc với Đức Ngài.
Hai vị đồng tử cầm hai biên miệng giỏ (của Đại Ngọc Cơ), trong giây phút thì có một Đấng Thiêng Liêng giáng điển huy động và viết ra chữ.
Giỏ Ngọc Cơ đương bằng tre, cần băng cây dương liễu hay cây Dâu, đầu chạm hình chim Loan, cây cọ bằng cây mây, dùng viết chữ xuống mặt bàn cơ. Người đứng ngoài có thể đọc chữ được.

Đêm 24-12-1925, là ngày Chúa Jésus Christ giáng sanh mở Đạo bên Thái Tây, Đức Chí Tôn giáng cơ dạy rằng :
“ Ngọc Hoàng Thượng Đế viết Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát giáo Đạo Nam Phương ”.

THI:

“ Muôn kiếp có ta nắm chủ quyền,
Vui lòng tu niệm hưởng ân Thiên.
Đạo mầu rưới khắp nơi trần thế,
Ngàn tuổi muôn tên giữ trọn biên. ”

Đến đây, chúng tôi mới hiểu rằng phong trào phò cơ, chấp bút, xây bàn trước kia là tiên triệu (signes précurseurs) cho một nền Tân Tôn Giáo xuất hiện tại xứ Việt Nam.

Sánh với các Tôn giáo xưa thì Đạo Cao Đài phát huy với một cách phi thường, làm cho thế nhân khó nhận thức.

Vả lại, các Tôn giáo thời xưa đều do một Đất đại hùng đại lực xả thân cầu đạo, cho đến khi đắc thành Chánh quả đem sở đắc của mình mà dạy đời; nhơn đó, người đời tôn Đấng ấy là Giáo Chủ chủa mình. Vậy Đạo tự nhiên mầu nhiệm nương chỗ hữu hình của vị Giáo Chủ mà biểu dương Chơn lý. Người thế nhơn theo cái hệ thống “ Từ hữu vi đến vô vi ” ấy mà quan sát nhận thức đạo mầu thì đễ dàng hơn.

Còn ngược lại, nền Đại Đạo lại do Đấng Giáo Chủ Thiêng Liêng dùng huyền diệu Tiên gia để lập Đạo, truyền giáo. Vậy Đạo tự nhiên nhiệm mầu lại theo vô vi mà chuyển biến ra hữu hình. Cái hệ thống “ Siêu ý thức ’’ này làm cho người thế gian khó nhận chơn. Đó là nguyên nhân ngờ vực của người đời, khi Đại Đạo mới xuất thế.

Chúng tôi có theo học với cơ bút từ buổi đầu, cho nên ngoài đức tin truyền thống, chúng tôi còn tin tưởng rằng :
Khi cầu cơ thì có một Đấng Thiêng Liêng giáng điễn, huy động Ngọc Cơ viết ra chữ. Vậy đủ chứng minh rằng : Trong cõi Hư linh có các Đấng vô hình và như vậy thì nơi người ta cũng có Linh hồn. Mà hễ trong cõi Hư linh có Thần linh, trong người ta, có linh hồn tức nhiên phải có một Đấng Cao cả hơn hết sanh hóa các Chơn linh ấy.

Chỗ nầy Bà-La Môn giáo nói rằng : Một Đại Chơn Hồn sanh hóa các Tiểu chơn hồn khác, tức Thượng Đế sanh hóa muôn loài vạn vật.
Chúng tôi sùng bái Đức Thượng Đế, bài Thánh ngôn dưới đây cũng minh xác điều ấy.

Thánh Ngôn :
“ Khi chưa có Trời Đất thì khí Hư vô sanh có một Thầy và Ngôi của Thầy là Thái Cực. Thầy phân Thái Cực ra Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sanh Tứ Tượng biến ra Bát Quái; Bát Quái biến hóa vô cùng mà tạo lập Càn Khôn Thế Giới. Rồi Thầy phân tánh Thầy mà sanh ra vạn vật là : Vật chất, Thảo mộc, Côn trùng, Thú cầm gọi là Chúng sanh.
Vậy các con đủ hiểu rằng mỗi vật hữu sanh nơi thế gian nầy đều do Chơn Linh Thầy mà ra. Có sống ắt có Thầy, Thầy là Cha của sự sống ”.

Vậy Đức Thái Cực Thánh Hoàng là một nguồn sống tràn ngập cả Vũ trụ. Muôn loài vạn vật đều bẩm thọ một phần sống của cái nguồn vô biên bao la đó.
Đạo học truyền thống của Nhơn sanh xưng tụng Đức Ngài với nhiều danh hiệu : Brahma, Đức Chúa Trời, Thái Thượng Đạo Tổ, A-Di-Đà- Phật và còn nhiều nữa chúng tôi không biết hết. Mặc dầu, chúng tôi không trông thấy hình dung Đức Ngài, nhưng chúng tôi tin tưởng quả quyết rằng Đức Ngài là Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế viết Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát tức là Đức Thầy của chúng ta vậy.

Những lời tiên tri kế đây làm cho lòng tín ngưỡng chúng tôi được sáng thêm và kiên cố hơn.

1.Sách Phật Tông Nguyên Lý chép rằng : Khi Đức Thích Ca viên tịch, đệ tử của Ngài là A-NAN-ĐA rơi lụy mà hỏi rằng : Khi Tôn Sư nhập Niết Bàn rồi ai dạy bảo các con ?
Đức Phật đáp : “ Ta chẳng phải vị Phật đầu tiên, hay cuối cùng, ngày giờ đến, sẽ có một Đấng khác xuất hiện cứu đời, một Đấng Chí Thánh, một Đấng Đại giác, cực kỳ cao thượng, một Đấng dẫn đạo vô song, một Đấng chủ tể Thánh, Thần và loài người, Đấng ấy sẽ truyền dạy các con một mối Đạo : Vinh diệu buổi sơ khai, vinh diệu buổi thạnh hành, vinh diệu buổi kết cuộc, Đấng ấy sẽ xướng xuất một đời sống đạo đức hoàn toàn thuần khiết.

2. Đạo “ MINH SƯ ” sáng lập đời nhà Thanh bên Tàu, có hai câu sấm truyền như sau :

Cao như Bắc khuyết nhơn chiêm ngưỡng,
Đài tại Nam Phương Đạo thống truyền.
Nghĩa là cao như Bắc khuyết, người ta trông lên mà tin tưởng, nơi phát xuất Đạo là Nam phương (chỉ về nước Việt Nam) và Đạo liên tục truyền bá là Cao Đài giáo.

3. Quyển Thanh Tịnh Kinh của Đạo Giáo có câu :(1)
“ Thanh tịnh kim hữu vi tích . Công viên quả mãn chỉ thọ đơn thơ, Thiên mạng phương khả truyền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ ” . Kinh Thanh Tịnh có dấu tích truyền lại rằng : Công đầy quả đủ sẽ lãnh thọ đơn thơ, tức kinh dạy bí truyền. Người có mạng Trời khá nên truyền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

4. Minh Thánh Kinh Linh Sơn có câu : “ Mạng hữu Cao Đài Minh Nguyệt chiếu ” Tá danh Cao Đài, Đức Ngọc Đế giáng trần khai Đạo sáng tỏ như trăng rằm. ‚

5. Kinh tỉnh Thế Ngộ Chơn (2) có đoạn :
Mạt hậu Càn Khôn đồng nhứt đái.
Thiên môn, vạn giáo cộng qui căn.
Nghĩa là : Sau đời hạ ngươn mạt pháp, Trời đất đồng chung một dãy, ngàn môn, muôn giáo, đều trở về một gốc.

Còn một bằng chứng hiển nhiên nữa là lúc bấy giờ, chúng tôi được biết Ngài Đốc Phủ Ngô Minh Chiêu đã có thờ Đức Chí Tôn và theo học Đạo từ năm Giáp Tý (1924). Đó là người thứ nhứt được biết Đạo Cao Đài.

Chú thích:

(1) Sách Cao Đài Giáo sơ giải chương 21 và 22 của Huệ Lương .
(2) Sách Cao Đài Giáo sơ giải chương 28 của Huệ Lương .

2.ĐẠI ĐẠO XUẤT THẾ

Sự truyền giáo càng ngày càng lan rộng, lúc bấy giờ, người cầm giềng mối Đạo muốn được dễ dàng hơn, cho nên ngày 7-5-1926, họ Đệ lên Quan Thống Đốc Nam Kỳ ( Thời kỳ Pháp thuộc ) một tờ khai Đạo có chữ ký tên của 28 vị cầm quyền Đạo và 247 người Đạo hữu. Mặt khác Đức Chí Tôn dạy thiết lễ khai Đạo chính thức.

Ngày 14-10 Bính Dần, nhằm ngày 18-11-1926, tại Từ Lâm Tự ( Tây Ninh ) thiết lễ Khai Đạo rất trọng thể trong ba tháng. Nguyên ngôi chùa Từ Lâm nầy do một vị Hòa Thượng bên nhà thiền đứng ra tạo tác mới vừa xong. Khi Hòa thượng nhập môn rồi bèn cho tạm ngôi chùa làm lễ Khai Đạo.

Trong ba tháng hành lễ, người cầu Đạo hằng vạn. Đồng thời, Đức Chí Tôn lập Pháp Chánh Truyền ( Hiến Pháp của Đạo ) phong thưởng những người có công quả, tức lập thành Hội thánh Hiệp Thiên Đài và Cửu Trùng Đài. Đức Ngài dạy Hội Thánh chung lập Tân Luật Đạo.

Ba thánh trôi qua, Hội Thánh đã lập thành, Pháp luật đã có thì Đạo nghiễm nhiên thành một nền Tân Tôn Giáo, danh gọi là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, có đủ cả lễ nghi thờ phượng, tế tự, có qui điều giới luật rõ ràng và một Hội Thánh cai quản. Sau ba tháng hành lễ tại Từ Lâm Tự, Tòa Thánh được dời về Thánh Địa bây giờ, nhằm ngày 13 tháng 2 năm Đinh Mão (1927)

Nhắc lại : Vị Giáo chủ Đại Đạo là Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát, danh hiệu ấy ám chỉ rằng : Giáo lý Đại Đạo là qui nguyên Tam Giáo, hiệp nhứt Ngũ Chi mà chúng ta lần hồi giảng giải sau đây.


CHÚ THÍCH :(1) Trích Quyển Giáo Lý của Ngài Tiếp Pháp ( Sách do Ban Thế Đạo Hải Ngoại tái bản lần I tại Hoa-Kỳ năm Canh Thìn-2000

----------

BAI II: LƯỢC SỬ ĐẠO CAO ĐÀI
(Theo khảo hướng Sử học)



Cùng Quý Đọc giả, Đồng Đao và Quý Đạo Tâm thân mến,

Để giúp cho Quý vị có thể nghiên cứu, tham khảo, tìm hiểu thêm về Đạo Cao Đài, Website Ban Thế Đạo cho đăng công trình Khảo cứu theo khảo hướng Sử học của tác giả HT.Trần văn Rạng được in thành quyển Đại Đạo sử cương xuất bản năm 1970. Hội Thánh kiểm duyệt ngày 16/06 Canh Tuất (D.L.18/07/1970). Theo tác giả thì Lịch sử hình thành và phát triển của Đạo Cao Đài (tính đến năm 1956) chia ra làm ba Thời kỳ như sau:

1-Thời Kỳ Khai Pháp (Thời Kỳ đầu lập Đạo)
(1920 - 1925).

2-Thời kỳ Đạo Pháp (1926 - 1930)

3-Thời kỳ Chánh Pháp (1931 -1956)

Riêng về thời kỳ từ 1956-1975 và từ 1975 đến nay, khi có công trình khảo cứu, Website Ban Thế Đạo sẽ tiếp tục phổ biến trên mạng Internet.
Ngoài ra, trong Mục Tập San Thế Đạo (Phần Nghiên cứu-Giáo Lý), Website Ban Thế Đạo sẽ đăng phần Khảo cứu của Tác giả Quang Thông về Lịch Sử Đạo từ năm 1920-1926 để Quý Đọc giả, Quý Đồng Đạo và Quý Đạo Tâm có thể nghiên cứu hoặc tham khảo thêm.


LỜI TÁC GIẢ

Nhân hướng dẫn nhiều đoàn thể và các nhân vật ngoại giáo đến viếng Tòa Thánh (Tây ninh), sau khi xem qua đền đài và cách sắp xếp, khách nhân xin chỉ dẫn các sách để tìm hiểu về căn cội Đạo Cao Đài. Đến Lễ viện lay hoay tìm kiếm một quyển sách khả dĩ giúp họ hiểu được đại cương sự diễn tiến của nền Tân Tôn giáo theo ý thức của một người ngoại Đạo, thì khó thấy. Phần lớn các sách đã xuất bản nặng về Giáo lý dành cho những người đã nhập môn. Chính vì lẻ đó, không nệ sự hiểu biết nông cạn mà viết quyển " Đại Đạo Sử Cương " này, trước là tập tu học sau giúp nhân sanh một biểu đồ đơn giản của Cao Đài từ ngày lập giáo.

Việc xây dựng lai lịch sử là một việc khó. Đối với Cao-Đài giáo lại càng khó vì thiếu tài liệu. Phương pháp sử là rõ ràng khúc chiết và có cách thể ghi chép phải theo. Tuy nhiên, những nhà làm sử được quan niệm riêng và lối phân tách chọn lựa theo cảm quan của mình, cố gắng được khách quan, chân thực càng nhiều càng hay. Dựa vào những lẽ đó, tôi chia lịch-sử Cao Đài giáo thành nhiều thời kỳ.

1-THỜI KHAI PHÁP (1920-1925)

Sở dĩ chọn niên đại này vì đến ngày 18/11/1926 (14-10 Bính Dần) thì khai Đạo tại Gò Kén. Và dùng hai chữ Khai Pháp là Khai Chánh Pháp, Đức Chí Tôn thâu nhận những Tông Đồ đầu tiên để lập cơ Phổ độ.

2-THỜI ĐẠO PHÁP (1926-1929)

Tức là bắt đầu từ ngày khai Đạo đến cuối đời Đức Cao Thượng Phẩm. Gọi " Thời Đạo Pháp" là vì thời này đặt cơ sở nền tảng của Đạo : Tân luật, Pháp chánh Truyền. Theo Thánh ngôn, Đấng Chí Tôn ra lệnh cuối tháng 6-1927 thì bế cơ, có nghĩa là không được cầu tự do như trước. Thời kỳ này coi như Chi Đạo quản Pháp.

3-THỜI CHÁNH PHÁP (1930-1956)
Là thời kỳ do Đức Quyền Giáo Tông và Đức Phạm Hộ Pháp chưởng quản, chấn chỉnh các cơ cấu Đạo đúng Pháp Chánh Truyền cho ra thiệt tướng. Những năm còn lại chờ thời gian lắng dịu và lịch sử an bài sẽ biên tiếp. Tác giả cũng xin nhắc lại, đây chỉ là biểu đồ Đạo sử chứ không phải một quyển Giáo lý. Khi có đủ tài liệu sẽ tăng bổ và hiệu đính. Kính thỉnh chư chức sắc Đại Thiên Phong và quí Đồng đạo chỉ giáo cho những sự sai lầm.

Tam Te Anh vào hạ 1970

Hiền Tài TRẦN VĂN RẠNG



PHẦN PHÁT ĐOAN


-KHÁI QUÁT VỀ XÃ HỘI MIỀN NAM
-NGUYÊN NHÂN CAO ĐÀI GIÁO XUẤT HIỆN

---***---

CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT VỀ XÃ HỘI MIỀN NAM
KHI CAO ĐÀI GIÁO XUẤT HIỆN




A-Miền Nam là đất Thuộc địa Pháp.

Muốn hiểu rõ Đạo Cao Đài , ta hãy đặt nền Tân Tôn Giáo này vào hồn cảnh đất nước khi Đạo khai, theo Hòa ước Patenơtre 1884 thì người Pháp không có quyền can thiệp vào việc nội trị của nước Việt Nam, nhưng Đại diện Pháp luôn luôn tìm cách lấn quyền, nhà vua chỉ còn giữ việc tế tự Trời đất và Lăng miếu. Trong nước mọi việc đều do người Pháp quyết định. Viên Toàn Quyền là Chúa Tể nắm tất cả quyền hành .

Toàn Quyền do Sắc lệnh của Tổng Thống Pháp bổ nhậm đóng ở Hà Nội điều khiển guồng máy chính trị, xã hội, tài chánh, kinh tế cả Liên Bang Đông Dương. Phụ việc có Tổng Thư ký hay Phó Toàn Quyền, Tổng Giám đốc các Nha chuyên môn, Tổng Tư lệnh và Tư lệnh Hải quân.
Bắc kỳ và Trung kỳ là hai xứ bảo hộ, riêng Nam kỳ là đất thuộc địa do Pháp trực tiếp cai trị.

Từ năm 1862 đến 1879, võ quan phụ trách nền hành chánh. Sau năm 1879, văn quan thay thế. Phủ Thống đốc Nam kỳ đặt tại Saigon, do Viên Thống đốc cầm đầu, phụ việc có Phó thống đốc, Giám đốc các sở chuyên môn.

Hai Hội đồng Tư vấn là Hội Đồng Tư Mật và Hội đồng Quản Hạt như ông Lê văn Trung là Nghị viên Hội Đồng này. Nam kỳ được chia làm 20 tỉnh trừ đô Thành Saigon, Chợ lớn : Đứng đầu mổi Tỉnh là viên Tham biện Pháp và Phó Tham biện, Chủ sự các phòng chuyên môn và công chức Việt Pháp.

Tỉnh chia ra Quận do một Quận trưởng người Pháp cai trị, một ít Quận do Đốc phủ Việt-Nam phụ trách như quận Phú Quốc do Quan Phủ Ngô văn Chiêu trơng coi. Tổng thì có Cai Tổng, làng có Ban Hội Tề, đứng đầu là Hương Cả đến Hương Chủ, Hương trưởng...

B- Các Tầng Lớp Xã Hội

Với chính sách chia để trị này, những vị Vua yêu nước đều bị truất phế hoặc bị đày ra khỏi đất nước như vua Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân. Giai cấp xã hội cũng bị đảo lộn, trật tự mới được sắp xếp.

a- Giới trí thức : Thì gồm có nhóm chống Pháp thành lập các Mặt trận hoặc đảng như Đảng Lập Hiến hoạt động mạnh trong vụ bầu cử Hội đồng thuộc địa (Conseil colonial) thành lập năm 1925 do Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phan Long (một tín hữu Cao Đài) lãnh đạo.

Đãng Thanh niên xuất hiện ở Saigon vào tháng 3 năm 1926 phản đối việc Pháp bắt giam Nguyễn An Ninh và dự đám tang cụ Phan Chu Trinh. Đảng Phục Việt ra đời ngày 14/01/1925 xin ân xá cho cụ Phan Bội Châu.

Việt Nam Quốc Dân Đảng thành lập năm 1926 do Nhượng Tống và Nguyễn Thái Học gây cuộc khởi nghĩa ở Yên Báy, Năm 1925 Nguyễn Ái Quốc lập Thanh Niên Hội chống Pháp. Chính những cuộc nổi dậy này ảnh hưởng nhiều đến việc thành lập Quân đội Cao Đài và Việt Nam Phục Quốc Hội.

Nhóm thỏa hiệp do Pháp đào tạo các trường thuộc địa phải lẳng lặng nghe lời họ để được vinh thân phì da, họ sống cách biệt với dân chúng như Hồng Cao Khải, Trần Bá Lộc. Trong đạo Cao Đài thì có
Quan Phủ Vương Quang Kỳ, Quan Phủ Ngô Văn Chiêu. Hai ông này rất mến Đạo, thương dân, nhưng vẫn sợ Pháp dóm ngó.

b- Giới trưởng giả và điền chủ : Toàn là đại phú gia, họ có ruộng cò bay thẳng cánh, thường sống ở tỉnh, lâu lâu mới về làng thâu lúa thóc. Có kẻ ác nhưng cũng có người hiền như Bà Lâm Ngọc Thanh là đại điền chủ ở Vũng Liêm, đã giúp phần lớn trong việc tạo tác các Thánh Thất.

c- Giới trung lưu: gồm có trung nông, tiểu thương, công tư chức. Các thành phần này theo Đạo Cao Đài đông nhất và cũng là những đệ tử đầu tiên của nền Tân Tôn giáo. Họ làm việc cho chính Phủ Bảo hộ nếu là công chức như quy ông Phạm Công Tắc, Cao Quỳnh Cư, Lê Văn Trung v.v. .
(Và làm việc với người Pháp, nhưng đa số đều bất mãn vì hồn cảnh nước nhà bị đô hộ. Ngày tháng chỉ còn biết làm bạn với cây cỏ hoặc người khuất mặt, hoặc tham gia cách mạng. Nhờ vậy mà việc xây bàn (table tournante) được thịnh hành trong thời đó ).

d- Giới Cần lao: gồm có thợ thuyền và nông dân, đời sống của họ thật cơ cực, sống trong các túp lều xiêu vẹo. Con cái họ thiếu ăn, thiếu mặc và lẽ đương nhiên là thất học. Kịp khi Đạo Cao Đài khai mở là nguồn cứu tinh của họ nên xin Nhập môn rất đông. Bởi thế không lấy làm lạ, tận trong thôn quê sằn dã đều có Thánh Thất.

C- Văn hóa thời Pháp thuộc.

a- ảnh hưởng văn học Tây phương, bỏ Hán học, Chính quyền Pháp mở trường Pháp Việt. Số người theo Tây học tăng nhanh vì thấy chữ quốc ngữ vừa dễ học, vừa đủ khả năng diễn đạt tư-tưởng. Chính ông Trương Văn Tràng (sau là Tiếp Pháp Chơn Quân), thuở nhỏ theo học chữ Hán sau bỏ vào trường Việt Pháp.

Tuy vậy, quốc văn cón trong thời kỳ phôi thai. Nhóm Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí cố gắng làm cho được trôn tru, nhưng đến thời Tự Lực Văn Đồn mới được như ngày nay. Chính vì thế mà lời văn, từ ngữ trong Thánh ngôn, kinh sách đạo thời Khai đạo cũng chịu ảnh hưởng đó.

b- Thơ cổ vẫn được duy trì, điều này là một sự hiển nhiên trong các văn phẩm Đại Đạo. Nhóm thơ mới như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư không trấn áp được thơ cổ của Tản Đà, Á Nam, Đơng Hồ, Thuần Đức (Bảo pháp Chơn Quân) là một thi sĩ đương thời chuyển về thơ luật.

c- Âm nhạc cổ vẫn cón địa vị, tuy bị âm nhạc cải cách của giới trẻ lấn át. Hát Bội, cải lương, hát chèo, chầu văn cúng tế vẫn được lưu hành. Tuy cổ nhạc Việt Nam bị hạn hẹp trong nhịp, điệu, thể thức trình bày phức tạp, nhưng Cao Đài giáo dùng làm âm nhạc chánh. Chèo thuyền là hình thức hát bội pha hát chèo rất hợp với quan cảm của người Việt Nam, ông Cao Quỳnh Diêu (sau là Bảo Văn Pháp Quân) rất rành về cổ bản, đã chỉ vẽ cho các nhạc công Bộ Lễ.

d- Kiến trúc ảnh hưởng nhiều Tây Phương. Năm 1924 chính quyền Pháp cho mở trường Cao Đẳng Mỹ thuật truyền bá môn hội họa, điêu khắc, kiến trúc. Tịa thánh Tây Ninh là một sự tổng hợp mỹ thuật Đông phương và Tây phương. Một công trình vĩ đại tiêu biểu cho nghệ thuật Việt Nam trong buổi giao thời.

e- Phong tục thay đổi, những giá trị cố hữu của dân tộc Việt Nam bị các tư tưởng mới như tự do cá nhân, nam nữ bình quyền đàn áp. Quyền của cha mẹ bị suy giảm. Thanh niên nam nữ tìm cách thốt ly gia đình. Cách phục sức từ thành đến tỉnh cũng thay đổi. Đàn ông cắt tóc, phụ nữ ăn vận theo lối mới. Các lễ nghi hôn nhân, tế tự được thiết giảm.

Các Tôn giáo Phật, Lão, Nho độc tôn từ các triều Lê, Lý, Trần, đến triều Gia Long thêm Đạo Thiên chúa bành trướng mau lẹ dù bị tàn sát và cấm theo đạo. Có lẽ dựa vào đó, nhà văn hóa Hồ Hữu Tường, trong loạt bài trầm tư đã nghĩ rằng mảnh đất duy nhất có thể thực hiện được nền văn hóa tổng hợp chính là Việt Nam.

Nền văn hóa truyền thống của ta khác biệt với mọi nền văn hóa trên thế giới, tinh thần Tam giáo trở thành ý thức hệ cho dân tộc, thêm vào ý thức hệ văn minh khoa học của Thiên chúa giáo. Do đo người ta hy vọng nền văn hóa Việt Nam là một nền móng cho thời kỳ Phục Hưng Tôn Giáo của tồn thế giới.

Muốn được điều đó, Việt Nam phải là một Quốc gia độc lập, thống nhất để có đủ thời gian phục hưng cơ sở văn hóa, mà hiện nay ba điều kiện để thành công, thiên thời, địa lợi, nhân hòa chưa có đủ, chỉ có thiên thời là Đấng Thượng Đế đã cho khai mở một nền Tân Tôn giáo năm 1926 Qui Tam Giáo Hiệp Ngũ Chi.
CHƯƠNG II
NGUYÊN NHÂN CAO ĐÀI GIÁO XUẤT HIỆN


A- KINH SẤM TRUYỀN BÁO TRỨƠC CAO ĐÀI GIÁO XUẤT HIỆN.

Trong Càn khôn Vũ trụ, theo Pasteur không có định luật ngẫu nhiên, mọi sự việc đều có do lai riêng của nó. Cao Đài Giáo trước khi xuất hiện cũng đã có nhiều Kinh Sấm truyền báo trước.

1- Lời tiên tri trong Sách Phật Tông Nguyên lý.

Đức Thế Tôn Văn Phật đã huấn dụ : " Sau Ngài sẽ có một Đức Phật lớn hơn Ngài ra đời”.

2- Lời tiên tri trong Quyển Thanh Tịnh Kinh :

" Thanh Tịnh Kinh hữu di-tích. Công viên quả mãn chỉ thọ đơn thơ. Thiên mạng phương khả truyền Đạo Tam Kỳ Phổ Độ ". (Kinh Thanh Tịnh có dấu tích để lại rằng : Công đầy quả đủ sẽ được lãnh thọ đơn thơ. Người có mạng Trời khá nên truyền Đạo Tam Kỳ Phổ Độ).

3- Lời tiên tri trong Quyển Vạn Pháp Qui Tông :
" Cao Đài Tiên bút thi văn tự ". (Trong Đạo Cao Đài mai sau nầy sẽ có thơ văn của Chủ Tiên do thần diệu cơ bút viết ra).

4- Dự tiên tri trong Đạo Tam Thanh:
Vào Thế kỷ XV bên Trung Hoa có vị Đạo sĩ tên Ngô Chi Hạc lập phái Tam Thanh, thờ Giáo Chủ ba Đạo lớn : Đức Lão Tử, Đức Khổng Tử, Đức Thích .Các Đạo này là bước đầu tiên của nền Đại Đạo.

5- Lời tiên tri của Chi Minh Sư.
Khi nhà Thanh (Trung Hoa) chiếm ngôi nhà Minh, một số vong thần chạy sang Việt Nam và một nhóm lên núi lập ra Chi Minh Sư, Minh Đường (Hai Chi trong Ngũ Chi Đại Đạo sau này). Ngòai bìa sách Kinh của các Chi ấy có 2 câu thơ :

" Cao như Bắc khuyết nhân chiêm ngưỡng,
Đài tại Nam Phương Đạo thống truyền. "

Đã tiên đóan cho việc khai Đạo Cao Đài tại phương Nam nước Tàu tức Việt Nam.

6- Lời tiên tri trong " Minh Thánh Kinh Linh Sám " :

" Mạng hữu Cao Đài minh nguyệt chiếu ". (Danh của Đức Cao Đài sáng tỏ như trăng sáng).

7- Lời tiên tri trong Sách "Ấu Học Tầm Nguyên "

" Đầu Thượng viết trên Cao Đài "( Trên đầu mọi người gọi là Cao-Đài )

8- Lời tiên tri của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Trong Quyển " Bạch Vân Am Thi Tập" có ghi :
" Con mừng búng tít con quay,
Vù vù chong chóng gió lay trên đài.
Nhà cha cửa đóng then cài,
Ầm ầm súng dậy, hỏi người đông lân. "

(Hai câu đầu ám chỉ chữ "Vạn" trên nóc các Thánh Thất Đạo năm 1939-1945, cũng gọi là đàị Biểu hiệu này trùng với hiệu đảng Đức Quốc Xã nên người Pháp ra lịnh đóng cửa các Thánh Thất, hợp ý với 2 câu sau. Rồi sau nhờ Nhật đảo chánh (1945), các Thánh Thất được mở cửa lại tức "Ầm ầm súng dậy, hỏi người Đông lân". )

9- Lời tiên tri trong Quyển, " Giác Mê Ca ".

" Hữu duyên mới gặp Tam Kỳ Phổ Độ
Muôn đời còn Tử phủ nên danh "

10- Lời tiên tri trong Quyển Kinh "Tỉnh Thế Ngộ Chơn"

" Đại Thiên tiên hóa hoằng Chơn Đạo ,
Trợ quốc cứu dân tích thiện luân .
Nam Hải Từ Hàng chân vận tế ,
Tây Phương Tiếp Dẫn, Phật Đông Lâm "

(Trước khi có cuộc thay đổi lớn sẽ có một nền Đạo chân chánh xuất hiện giúp nước cứu dân, làm điều thiện đáng khen. Biển Nam có Phật Từ Hàng đi khắp nơi để độ rỗị Phương Tây có Phật Tiếp Dẫn đưa người đến Đông Đô .)

11- Lời tiên tri trong Quyển Kinh " Vạn Diệu Thiên Thư Cổ Bổn ":

" Tam Giáo kim tùng cổ hóa sanh,
Tiên Thiên phương hữu thi Tam Thanh.
Phật, Pháp, Nho hề quy nhứt bổn,
Tự nhiên tả Đạo thống trương tranh.
Vạn ức sơn hà giai hữu thử,
Tổng quy nhất phái đắc an thành.
Xà vĩ, mã đầu khai đại hội,
Tam Kỳ hậu thế hiển phương danh."

12- Lời tiên tri tại Trung Phần trước năm 1926 :

" Canh Dần, Mậu Dần niên,
Kỷ Mão, Canh Thìn tiền.
Tự nhiên Thiên phú tánh,
Cao Đài tận chân truyền."

13-Lời tiên tri trong Kinh các Tu sĩ tại Trung phần theo phái Minh Sư có câu :

" Con cầu Phật Tổ Như Lai,
Con cầu cho thấu Cao Đài Tiên Ổng " .

14- Lời tiên tri của cụ Thủ Khoa Huân:
Vào ngày 3 tháng I năm 1913, tại Cao Lãnh (Kiến Phong) các kỳ hào hop tại nhà Ổng Lê Quang Hiển, nhạc phụ của Ổng Diệp văn Kỳ để thỉnh Tiên. Chơn linh cụ Thủ Khoa Huân có cho 2 bài thơ sau :

" Dung tất Cao Đài nhiệm khuất than,
Tứ triêm đào lý nhứt môn xuân.
Cánh tân bơi bức giang san cựu,
Trừ cựu thời thiêm tuế nguyệt than.
Cửu thập thiều quang sơ bán lục,
Nhất luân minh nguyệt vị tam phân.
Thừa nhàn hạc giá không trung vụ,
Mụ đỗ Cao Đài tráng chí thân ".

Cụ lại thích nôm luôn :

" Co dũi Cao Đài khỏe tấm thân,
Dạo xem đào lý đượm mùa xuân.
Giang san chẳng khác ngàn năm cũ,
Ngày tháng chờ thay một chữ Tân.
Chín chục thiều quang vừa nửa sáu,
Một vùng trăng rạng chửa ba phân.
Thừa nhân cởi hạc không trung ruổi,
Chạm mắt Cao Đài khỏe tấm thân ".

Chữ Cao Đài dược nhắc đi nhắc lại 4 lần, nhưng mãi đến năm 1927, Chức Sắc đi truyền Đạo tại Cao Lãnh, ông Hiển đem 2 bài thơ trên ra mới rõ lẽ mầu nhiệm của nền Tân Tôn Giáo.

B- HOÀN CẢNH XÃ HỘI VIỆT NAM HUN ĐÚC CHO NỀN TÂN TỒN GIÁO.

Đời nhà Lý, nhà Trần, Phật Giáo cực thịnh, được xem như là Quốc Đạọ Trong gần 1.000 năm, từ thế kỷ X, đến cuối thế kỷ thứ XIX, các triều Ngô , Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hậu Lê và Nguyễn đã dùng chữ Nho trong các công văn, trong sự học hành, các khoa thi và hành chánh. Trong triều nhà Trần mở khoa thi Tam Giáo (Nho, Thích, Lão) được gọi là Tam Giáo Đồng Nguyên và được tôn sùng ngang hàng.

Tinh thần Tam Giáo chẳng những biểu lộ trong văn chương, từ cú mà còn là những gì linh động được thể hiện qua mọi lề lối sinh hoạt của Dân Tộc.Tinh thần Tam Giáo đã trở thành một ý thức hệ đơn thuần trong xã hội Việt Nam, tạo cho Dân Tộc một tinh thần bất khuất biết lý hòa đồng để làm cơ giới tranh đấụ. Đó là một thần trí đặc thù mà người Việt Nam lấy làm hãnh diện.

Đã bao nhiêu lần Bắc thuộc, kế đến Pháp thuộc mà phong tục Dân tộc vẫn không mất bản sắc, bất khả đồng hóa, chính là nhờ cái thế Tam Giáo Đồng Nguyên Thích, Nho, Lão.

Nền văn hóa Việt Nam lại phải đương đầu với sự du nhập văn minh vật chất Tây Phương, kèm ý thức hệ tâm linh Thiên Chúa Giáọ. Sóng gió Đạo lý đã nổi loạn, nền luân lý cổ truyền Khổng Mạnh bị lung lay, nhưng rồi với thời gian đâu vào đấy, bước đến chỗ Hòa đồng Tôn Giáo .

Dù Đông hay Tây, cổ kính hay tân thời đã kết tinh lại tạo thành một ý thức hệ tổng hợp, dung hòa mọi bất đồng tiểu dị trên mảnh đất nhỏ bé bất hạnh nhưng nhiều diễm phúc và Hồng ân Thiêng Liêng nàỵ. Do đó, người ta hy vọng rằng Việt Nam sẽ là nơi Đại Phục Hưng Tôn Giáo trên toàn Thế giớị

C- ĐẤNG CHÍ TỔN DÀNH ÂN SỦNG CHO DÂN TỘC VIỆT NAM.

Đàn đêm 24/04/1926:
Đấng Chí Tôn đã dạy : " Vốn từ trước Thầy đã lập ra Ngũ Chi Đại Đạo là : Nhơn Đạo, Thần Đạo, Thánh Đạo, Tiên Đạo, Phật Đạo. Tùy theo phong hóa của nhân loại mà gầy Chánh giáo, là vì khi trước Càn vô đắc khán, Khôn vô đắc duyệt, thì nhơn loại duy có hành Đạo nội tư phương mình mà thôi.

Còn nay thì nhân loại cũng đã hợp đồng, Càn khôn dĩ tân thức thì lại bị phân nhiều Đạo, mà nhân loại bị nghịch lẫn nhau nên Thầy mới nhứt định Qui Nguyên Phục Nhứt. Lại nữa, trước Thầy giao Chánh Giáo cho tay phàm, càng ngày lại càng xa Thánh Giáo mà lập ra cuộc Phàm giáo " .

" Thầy lấy làm đau đớn, hằng thấy gần trót 10 ngàn năm, nhân loại đã bị sa vào nơi tội lỗi, mạt kiếp chốn A Tỳ. Thầy nhứt định đến chính mình Thầy mà độ rỗi các con, chẳng chịu giao Chánh Giáo cho tay phàm nữa nhưng buộc phải lập Chánh Thể có lớn có nhỏ đặng dễ thế cho các con dìu dắt lẫn nhau, anh trước em sau mà đến nơi Bồng Đảo.

" Chẳng còn một ai dưới thế này còn đặng phép nói rằng thế quyền cho Thầy mà tư phần hồn cho nhân loại. Ai có đức hạnh lớn mới ngồi địa vị của Thầy ban thưởng, còn cả Môn đệ ai cũng như ai, không đặng lập phe lập đảng. Nhược bằng kẻ nào phạm tội thì Thầy trục xuất ra ngồi cho khỏi điều rối loạn."

Đức Lý Giáo Tông chủ trị về hồn toàn Đạo cũng giáng Đàn đêm 13 tháng 1 năm 1927 như sau :

" Hiện nay, nhân loại đang trải qua một thời kỳ khủng hoảng trầm trọng. Trật tự và thanh bình thuở xưa không còn nữạ .Luân lý sụp đổ, nhân tâm sa đọạ, đối với kẻ hoài nghi, Thượng Đế chỉ còn là một tiếng suông. Họ không biết rằng trên Cao Đài kia ngự trị của Đấng Chí Tôn, Chúa Tể cả Vũ trụ và cả số phận loài ngườị"

D- TỔNG TẮT.

Xem như thế, việc xuất hiên Cao Đài giáo là Thiên Thơ dĩ định, mở Kỳ Ba Tam Chuyển này để độ 92 ức Nguyên Nhân và truyền Đạo đến thất ức niên.

(Còn tiếp)