View Full Version : TỬVI VIỆT NAM
dungkq
23-07-2004, 03:16 PM
[align=center:0cc792f255]Lời nói đầu [/align:0cc792f255]
Khoa học dự đoán là một bài toán đã làm cho thế giới quan tâm. Từ thời thượng cổ đến nay, nước nào cũng có khoa bói toán, dự đoán. Ngày nay những nước có khoa học công nghệ phát triển như Pháp, Mỹ, Nhật cũng vẫn tồn tại những phưong pháp bói toán thậm chí chúng còn được hỗ trợ bởi những phép toán cao cấp, trang thiết bị hiện đại như máy vi tính, mạng Internet. Nhất là ở Trung Hoa, phong trào dự đoán theo Chu Dịch đang phát triển rầm rộ và lan ra cả nước ngoài. Tìm hiểu cuộc đời là nhu cầu tự thân của con ngời, nó không giới hạn trong bất cứ tầng lớp nào mà bao gồm cả quan chức, công nhân, trí thức, doanh nhân, học sinh, sinh viên...và là một phần tất yếu của xã hội.Trong cuộc sống hàng ngày, phải đối mặt với quá nhiều khó khăn, trắc trở, hoặc với sự thành bại mà phải đánh đổi bằng cả tính mạng gia sản, con người không còn đủ lòng tin vào những tính toán của bản thân. Không biết bấu víu vào đâu họ liền tìm đến những người bói toán, những nơi thờ tự linh thiêng để có được những sự động viên an ủi về mặt tinh thần, củng cố thêm lòng tin vào sự thành công, hoặc có hướng hành động phù hợp với thực tế.
Hiện nay, Tửvi với tư cách là một môn dự đoán chính xác đang đwợc nhiều người quan tâm nghiên cứu. Góp một tiếng nói vào nỗ lực chung của tập thể với tư duy đơn giản, kèm theo việc phân tích hàng chục lá số hiện thực, quyển sách "Tửvi Việt Nam" không có khả năng dẫn đường hay có đủ kiến thức giúp các bạn lý giải chi tiết một lá số Tửvi. Nhưng hy vọng nó sẽ giúp các bạn có được hướng tư duy đúng khi giải đoán lá số Tửvi, hiểu được những sai lầm của một số Tửvi gia hiện nay, từ đó phát triển thêm và thanh thản loại bớt một số sách vở không có giá trị. Như nhận định của nhiều người, Tửvi là một khoa số học của Trung Hoa được phát hiện từ đời nhà Tống, do một bậc lý học uyên thâm là Trần Đoàn sáng tạo ra dựa trên nền móng là học thuyết Âm dương - ngũ hành, và sau đó có nhiều bậc học thức khai triển và diễn dịch sâu rộng thêm, sắp đặt thành hệ thống. Qua quyển sách này bạn cũng sẽ tự tìm được câu trả lời Tửvi có nguồn gốc từ Trung Hoa hay Việt Nam. Hiểu được nguồn gốc những câu nói giống như một sự đúc kết kinh nghiệm "gặp nạn lớn mà không chết ắt có phúc", "tuổi trẻ thành đạt sớm quá dễ bất lợi ở tuổi trung niên". Và cuối cùng là để ứng dụng nó cho chính mình và áp dụng vào trong các lĩnh vực của cuộc sống như kiếm tiền, quan hệ xã hội, đặc biệt là trong kinh doanh hay quản lý con người.
Tên của quyển sách này là " Tử Vi Việt Nam" không giống "Tử Vi Thực Dụng" ( TửVi ứng dụng phù hợp với thực tế) như phương pháp Tửvi tôi đang sử dụng. Vì trong mỗi lá số Tửvi không chỉ đơn thuần là ám chỉ số mệnh của một con người mà nó còn chứa đựng cả văn hoá, cách tư duy của người Việt. Để hiểu và sử dụng tốt Tửvi trước tiên bạn phải có sự hiểu biết về văn hoá Việt Nam, hiểu lối tư duy tổng hợp biện chứng (coi trọng quan hệ của các sự vật hiện tượng), nhưng linh hoạt của người Việt Nam.
Khi bắt tay vào viết quyển sách này tôi không có ý định xuất bản để bán vì chỉ muốn hoàn thiện niềm đam mê của mình và cảm thấy dường như mình vẫn còn thiếu một sự tư duy sắc bén cũng như kiến thức, nhưng nếu không viết thì sắp tới khi bị cuốn hút vào những hoạt động thường nhật sẽ rơi rớt hết kiến thức đã thu lượm được. Trong cuộc sống tôi không muốn bị thất bại, nhưng trong học thuật tôi luôn tâm niệm một điều là "một khi ngừng trăn trở khao khát, tìm kiếm và chấp nhận rủi ro thì cũng có nghĩa là bạn đã ngừng phát triển". Vì vậy, tôi hy vọng được các bạn đón nhận với lòng đại lượng khoan dung giống như đối với kẻ đã cố gắng viết ra nó, vạch ra những sai lầm, thiếu sót kể cả về học thuật cũng như, ngữ pháp, lý luận, kết cấu văn phong để tạo tiền đề cho tôi trong tương lai có khả năng viết được một tác phẩm Tửvi khiến mọi người phải học tiếng Việt để tận hiểu ý nghĩa, giống như người ta đang cố gắng học chữ Hán để hiểu hơn về các môn khoa học phương Đông cổ (trong lòng tôi tự biết đó là chuyện xa vời nhưng vẫn luôn có lòng tin là mình sẽ làm được). Và nếu có sử dụng kiến thức của tôi thì chỉ xin bạn trích dẫn dòng chữ "DUNGKQ" bên dưới.
Vì sức người và kiến thức có hạn nên trước mắt trong quyển sách của mình tôi sẽ không đi sâu vào chứng minh hay là tìm về mã nguồn của những yếu tố cấu thành nên một lá số Tửvi mà chỉ dựa trên những thành quả người đi trước để lắp ráp xây dựng lại một cách nhìn tổng hợp biện chứng, nhưng linh hoạt và gắn liền với thực tế của Tửvi. Mọi học thuyết, mọi trường phái, mọi phương pháp đều đúng, đều có lý luận và cách chứng minh để bảo vệ mình cho đến khi đem ra áp dụng vào thực tế. Thực tế và công chúng chỉ dành chỗ cho sự thật, cho sự phù hợp nhất với lợi ích của con người.
Vì muốn đóng góp cho diễn đàn, tôi vừa nghiên cứu vừa viết nên sẽ không tránh khỏi sự thiếu sót, mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các bạn. Mọi thông tin xin gửi về địa chỉ email: phuongdong@email.com.
CHƯƠNG I- KIẾN THỨC CƠ BẢN
1. NHẬN THỨC ĐỐI VỚI SỐ MỆNH
1- Tính cách và số mệnh
Trong cuộc sống đôi khi chúng ta thường hay gặp những câu hỏi đại loại như: "con người có số mệnh hay không?", "số mệnh từ đâu mà có " hay "có thể thay đổi được số mệnh hay không?". Để lý giải một cách rõ ràng những câu hỏi như thế này quả thật không phải là dễ. Bởi vì nếu con người sinh ra đã được định sẵn trong một khuôn hình của tạo hoá thì thật là vô lý. Như vậy sẽ không cần làm gì cả, số mệnh đã như vậy thì tất nhiên mọi việc sẽ tự nó đến. Giàu có số, nghèo có số cố gắng cũng chẳng thay đổi được. Phàm mệnh nghèo, dù có để cho người đó được giàu sang thì cũng không được hưởng. Mệnh giàu sang thì dù có bắt nghèo khó lại sẽ gặp giàu sang. Nói như thế là tuyên truyền thiên mệnh không thể thay đổi, là chủ trương giàu nghèo do mệnh định đoạt, người nghèo thì cứ thế cam chịu mệnh nghèo, còn người giàu cứ ung dung nhàn hạ thụ hưởng sự sung sớng? Số làm Thủ tướng thì cứ đợi đến ngày, đến giờ tự nhiên mọi người phong cho chức Thủ tướng? Hiểu như thế là sai lầm.
Sự thật hiển nhiên là nếu không suy nghĩ , không ham muốn, không lao động thì làm sao thành công. Bằng cách này hay cách khác con người vẫn luôn luôn phải làm việc, phải suy nghĩ để tồn tại và phát triển chứ không thể đợi số phận đưa đến. Để làm được Thủ tướng phải có tham vọng, phải tham gia hoạt động chính trị, phải cống hiến cho xã hội. Không ai tự nhiên sinh ra đã là kỹ sư, bác sỹ hay thủ tướng. Chúng ta đã có thể khẳng định rằng không có số mệnh?. Nếu như vậy sẽ có một câu hỏi được đặt ra là "nếu con người không có số mệnh, không tuân theo một quy luật nhất định thì tại sao những môn dự đoán học như Tửvi lại có thể dựa trên quy luật âm-dương, quy luật ngũ hành để dự đoán chính xác được những sự việc xảy ra trong cuộc sống một con người?". Nếu không hiểu được hiện thực và số mệnh, hiểu bản chất của âm dương-ngũ hành, hiểu được cách lý giải Tửvi thì chúng ta sẽ mãi mãi vẫn còn tồn đọng những kỳ cách trong Tửvi, những lý thuyết cho rằng Tử vi không áp dụng đối với những người tu hành, hoặc trả lời được câu hỏi "Tại sao đã biết trước là như thế mà vẫn không tránh được?", hay mắc phải những hạn chế kiểu như của Thiệu Vĩ Hoa, một học giả khá nổi tiếng người Trung Quốc, khi cho rằng những người ngày, giờ sinh như nhau nhưng có số phận khác nhau khác nhau bởi vì : năm mệnh cha mẹ không giống nhau, năm mệnh anh chị em khác nhau, năm mệnh kết hôn khác nhau, năm mệnh sinh con cái khác nhau, tướng mặt, vân tay khác nhau, cốt tướng không giống nhau, mộ tổ, nhà cửa phương hướng khác nhau, gen di truyền khác nhau, tín ngưỡng khác nhau, hoàn cảnh và điều kiện gia đình mỗi người khác nhau* ( Dự Đoán Theo Tứ Trụ - Thiệu Vĩ Hoa - ). Bằng cách trình bày những hiểu biết của mình tôi sẽ cố gắng đưa ra cho các bạn tham khao một hướng lý giải về con người và số mệnh trên lá số Tửvi.
Trước khi nói về Tửvi, tôi xin lạm bàn đôi lời về câu ngạn ngữ phương Tây khi lý giải về số phận của con người" gieo ý nghĩ được hành vi, gieo hành vi được thói quen, gieo thói quen được tính cách, gieo tính cách được số phận". Môi trường xã hội, môi trường tự nhiên qua các mối quan hệ, qua các hoạt động giao tiếp, các hành vi ứng xử, các nhu cầu của cuộc sống hàng ngày, hàng giờ luôn luôn gây ảnh hưởng, tác động đến con người và ngược lại con người cũng tác động trở lại những môi trường đó theo cách riêng của mình. Từ sự tác động qua lại đó dần dần sẽ tạo ra những kết quả tương xứng và hình thành nên số phận của mỗi người. Một người lạc quan mạnh mẽ khi nhìn một nửa cốc nước sẽ nói " cốc nước vẫn còn một nửa", trèo lên lưng chừng núi sẽ nói rằng "sắp đến rồi, chỉ còn một nửa quãng đường nữa thôi". Ngược lại, người yếu đuối, bi quan trong những trường hợp đó sẽ nói "chỉ còn một nửa cốc nước" hay "mới đi được một nửa quãng đường, còn lâu mới đến". Hoặc khi phải ngăn sông đắp đập một người kiên quyết làm cho xong, một người bỏ dở giữa chừng. Cứ như vậy, cuộc đời của hai người ngày càng tách xa theo hai hướng khác nhau. Người lạc quan mạnh mẽ sẽ hoà nhập và lôi cuốn được những người có cùng phong cách sống vì "đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu", đó sẽ là một môi trường sôi động, vui vẻ. Mọi người xung quanh thấy được ở anh ta nguồn sức mạnh dồi dào có thể đương đầu được với mọi khó khăn gian khổ và như vậy anh ta sẽ là ứng cử viên sáng giá của ngôi vị lãnh đạo. Người yếu đuối bi quan, nhìn việc gì cũng chỉ thấy khó khăn, thất bại sẽ không thể cùng với mọi người trên con tàu vợt đại dương, khi gặp bão anh ta sẽ là người đầu tiên bỏ chạy, mọi người sẽ mất lòng tin vào anh ta. Càng ngày anh ta càng bị thu hẹp cơ hội thăng tiến, thu hẹp không gian sống trong cái vỏ ốc cô đơn cùng với vài ba người bạn bất đắc chí như anh ta. Những người không biết đối nhân xử thế kìm nén sự nóng giận, lúc nào cũng hừng hực như cái lò lửa sẽ khiến người trên ghét bỏ, người dưới xa lánh. Hay như Khổng Tử nói: “có ba loại chết không phải do mệnh: thứ nhất, không nghỉ ngơi đúng lúc, đầy đủ; không ăn uống điều độ; lao lực quá độ dẫn đến bệnh tật mà chết; thứ hai là thân thấp hèn mà hay phạm thượng; nghiện ngập vô độ; tham lam vô đáy, đó là bị hình phạt mà chết; thứ ba, người yếu đuối mà lừa dối xúc phạm kẻ mạnh hơn, người không tự lượng sức mình hay giận dữ, thường chết vì binh khí”. Còn rất nhiều ví dụ thực tế quan sát được trong cuộc sống hàng ngày và như vậy chúng ta không thể không đồng tình với nhau rằng số phận do tính cách tạo ra.
Trở lại cội nguồn của tính cách, đó chính là ý nghĩ. Ý nghĩ được hình thành từ những hoạt động trong môi trường sống, từ sự giáo dục. ở trong nhung lụa và bơ sữa người ta sẽ không biết được cảm giác thi vị của cuộc sống khi được ăn bát cơm nóng, hay bị hoa mắt vì những cơn đói mềm người và giá lạnh. Họ luôn sợ chết vì chết sẽ không còn được hưởng sự sung sướng. Quan tham đã có đủ mọi thứ thì lúc nào cũng lo sợ bị tố cáo, bị trị tội vì vậy phải che đậy bằng mọi cách. Những ý nghĩ đó cứ luôn ám ảnh trong đầu họ và khi cơ hội đến nó sẽ biến thành hành động. Còn người càng nghèo thì càng không sợ chết, cuộc sống có bao nhiêu sự khó khăn trên đời họ đã chịu gần đủ, vì cuộc sống mưu sinh vất vả đâu có thời gian để tưởng tượng quá nhiều về cái chết. Trong đầu họ chỉ có ý nghĩ mong sao có thật nhiều tiền để đỡ phải khổ. Cho nên tục ngữ đã có câu : "quan hỏi hình phạt, giàu hỏi tai nạn, dân thường hỏi về phát tài". Để hướng thiện, hãy cho đứa trẻ một nền giáo dục tốt. Nền giáo dục tốt ở đây không có nghĩa là phải có điều kiện vật chất đầy đủ, trang thiết bị hiện đại, môi trường đẹp hay những giáo viên tài giỏi mà chỉ cần những hành động, cử chỉ đẹp, những quyển sách hay với ngôn từ trong sáng, hướng thiện, những bản anh hùng ca của dân tộc có hình tượng của những con người cống hiến sức mình vì dân, vì nước. Chỉ bằng những hành động tưởng chừng như đơn giản nhưng dần dần một cách vô thức thân thể của đứa trẻ sẽ thấm nhuần đến từng tế bào, từng mạch máu những ý nghĩ, những hình ảnh đẹp về cuộc sống, về con người. Và như vậy một chuỗi mắt xích hành vi, thói quen, tính cách sẽ được hình thành. Số phận cũng sẽ được hình thành từ đây.
Những bậc làm cha làm mẹ đã có lý khi ngăn cản không cho con mình giao du với những người bạn xấu, tiếp xúc với văn hoá phẩm độc hại hay bắt chúng phải đọc sách, kể cho chúng nghe chuyện cổ tích có cô tiên tốt bụng và chàng mồ côi nghèo khổ. Nhớ chuyện khi xưa, mẹ của Mạnh Tử, một nhà tư tưởng lớn của Trung Quốc thời cổ đại đã ba lần chuyển nhà để mong con mình có thể trở thành người tốt và bà đã được đền đáp xứng đáng. Có thể khi làm những việc đó họ cũng không hiểu thế nào là tuyên truyền, thế nào là phương pháp giáo dục tốt hay thế nào là những phạm trù triết học như ý nghĩ, tính cách, hành vi, thói quen. Nhưng họ đã được những thế hệ đi trước dạy bảo và họ cũng đã hiểu là "gần mực thì đen, gần đèn thì rạng" hay "đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu". Khi còn trẻ chúng ta đã có lúc cảm thấy sao cha mẹ bất công, vô lý đến vậy, tại sao chúng ta lại không được làm những gì chúng ta muốn. Khi trưởng thành chúng ta mới hiểu được tấm lòng của cha mẹ thì đã quá muộn. Nhưng có lẽ đây cũng là một quy luật của cuộc sống "nước mắt chảy xuôi".
Khi nhận định về cuộc sống của một con người bằng những công cụ và phương pháp tư duy hiện đại đại đa số chúng ta không cần dùng đến Tửvi mà thường dựa trên cơ sở của sự phân tích tính cách, sức khoẻ, giáo dục, nền tảng gia đình, môi trường sinh sống và những quy luật vận động của xã hội......để đưa ra những kết luận có tính thuyết phục cao bởi sự tư duy lôgic tuân thủ những quy luật khách quan đã được khoa học và triết học hiện đại chứng minh sự đúng đắn như: có chí làm quan, có gan làm giàu; lợi nhuận cao thì rủi do lớn; có thực mới vực được đạo; đồng thanh tương ứng , đồng khí tương cầu; lượng đổi chất đổi, bản chất hai mặt của một vấn đề, trèo cao ngã đau.....
Bên lề học thuật:
Khi nói về Thiệu Vĩ Hoa tôi thấy có nhiều ý kiến khen chê trái ngược. Và thực tế tuy Thiệu Vĩ Hoa cũng còn hạn chế nhưng trước đây muốn tìm hiểu về văn hoá cổ Phương Đông cũng không phải là dễ, do sự khó khăn về sách vở, về kiến thức, về thầy dạy. Không có họ Thiệu thì người ta cũng đã biết thế nào là âm dương ngũ hành, thế nào là dự đoán theo Tứ trụ, thế nào là bói Dịch nhưng chúng ta cũng không thể phủ nhận một điều là nhờ có sách của họ Thiệu được xuất bản ở nhiều nơi trên thế giới nên đã có nhiều người hơn hiểu biết về học thuyết Âm dương - ngũ hành, về dự đoán theo Tứ Trụ.
2- Tử vi trong trong con mắt của đại đa số quần chúng.
Khi sử dụng Tửvi đưa ra kết quả dự đoán đúng sự kiện trong cuộc sống của một cá nhân, mọi người sẽ cảm thấy có cái gì đó thần bí, khó hiểu, thậm chí là mê tín không có tính thuyết phục cao như phương pháp phân tích trực quan sinh động. Cũng giống như việc sử dụng các thiết bị khí tượng và Kinh Dịch để dự báo thời tiết. Được hình thành trên nền tảng học thuyết Âm dương- ngũ hành, một học thuyết sử dụng để giải thích bản chất của vũ trụ và con người được tổng hợp từ những kinh nghiệm trong cuộc sống của c dân có nền văn hoá gốc nông nghiệp. NhưngTửvi còn nhiều hạn chế. Theo thống kê, với hơn 100 sao phân bố trên 12 cung cố định chúng ta chỉ thành lập được hơn 50 vạn lá số là không trùng nhau, một con số quá nhỏ, trong khi thế giới có hàng tỷ người không giống nhau. Tửvi chưa thực sự được chứng minh một cách có hệ thống là khoa học. Theo triết học hiện đại, "Khoa học" vừa là một hình thái ý thức xã hội, vừa là một dạng hoạt động, một công cụ nhận thức. Mỗi một môn hoa học phát triển phải bao gồm 4 yếu tố cơ bản: tri thức kinh nghiệm, tri thức lý giải, phương pháp cách xử lý, giả thuyết và kết luận. Muốn đưa ra được dự đoán đúng, điều quan trọng là phải xây dựng được mô hình đúng. Muốn xây dựng mô hình đúng thì phải có đầy đủ dữ kiện. Con người tồn tại trong không gian, thời gian và thừa hưởng các tính cách đặc điểm di truyền; vì vậy một hệ thống tối thiểu phải mô hình hoá được 3 điều kiện đó. Nhưng Tửvi mới chỉ mô hình hoá được một thông số duy nhất là thời gian (năm, tháng, ngày, giờ sinh) ( phần nầy tôi sẽ có sự phân tích kỹ ở chương khác). Hiện nay chúng ta chỉ chứng minh một cách gượng ép Tửvi là khoa học bằng lý luận chắp nhặt mà chưa giải thích hết được. Trong khi đó sử dụng Tửvi có thể đưa ra dự đoán chính xác những sự kiện xảy ra trong cuộc sống của con người, thậm chí cả sau khi đã chết (ví dụ: mệnh chính tinh hãm địa lại gặp Lưu hà, Kiếp sát, Hoá kỵ, Địa kiếp thường sau khi chết còn bị mổ). Chính vì vậy nó vẫn mang màu sắc của sự thần bí. Nhưng sự phù hợp với thực tế cuộc sống đã giúp nó tồn tại và phát triển qua hàng nghìn năm của lịch sử mặc dù phải trải qua nhiều thăng trầm, biến cố. Và với đại đa số công chúng, Tửvi giống như một thứ đặc quyền chỉ dành cho một số ít người trong xã hội. Nói đến Tửvi thường thì người ta liên tưởng ngay đến những ông già râu dài, lớn tuổi, biết chữ Hán, biết lễ nghĩa Nho giáo. Liên tưởng của mọi người là có cơ sở. Tửvi giống như một môn toán thống kê (thống kê thể hiện ở sự tích luỹ và tổng kết những trường hợp, sự việc) nên bắt buộc người xem Tửvi phải nghiên cứu, phải tổng hợp được nhiều lá số, tích luỹ được nhiều kinh nghiệm thì mới có thể đưa ra những giải đoán chính xác - mà kinh nghiệm thường đi liền với tuổi tác. Trọng người già cũng là tâm lý chung của những nước có nền văn hoá gốc nông nghiệp, đặc biệt là ở Việt Nam. Phương pháp sản xuất nông nghiệp thủ công chủ yếu là trồng trọt (điển hình là cây lúa nước), sống định cư để chờ đợi thu hoạch thành quả của sức lao động, phải dựa rất nhiều vào thiên nhiên, thuận theo thiên nhiên. Nên phải "trông trời, trông đất, trông mây, trông mưa , trông nắng, trông ngày, trông đêm", nắm bắt quy luật của tự nhiên để gieo trồng cho hợp thời vụ. Nhưng quy luật của tự nhiên không phải chỉ trong một hai ngày nắm bắt được nên phải dựa những người già trong làng, trong bản sống lâu, từng trải có nhiều kinh nghiệm chỉ dẫn cho mọi người. Chính vì vậy khác với người phương Tây có cuộc sống du mục thiên về chăn nuôi, trọng động, trọng sức mạnh, người Việt Nam rất kính trọng người già, coi trọng kinh nghiệm và qua nhiều thế hệ họ nắm rất rõ những quy luật của tự nhiên. Dư âm của nét đẹp văn hoá này bây giờ vẫn còn khá rõ trong xã hội của người Việt hiện đại, người già vẫn luôn được kính trọng và dù ở đâu ngưòi Việt cũng sống bằng kinh nghiệm nhiều hơn, họ có cả một kho tàng kinh nghiệm sống để dạy cho con cháu mình: ăn cỗ đi trước lội nước theo sau; có an cư thì mới lạc nghiệp; nhất cận thị, nhị cận lân; tam cận giang, tứ cận lộ, ngũ cận điền; phi thương bất phú; được mùa lúa thì úa mùa cau, được mùa cau thì đau mùa lúa; quạ tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa; da ngăm mặt bủng môi chì, trai thì sát vợ gái ni sát chồng; đàn bà thắt đáy lưng ong vừa khéo chiều chồng, vừa giỏi nuôi con....Kinh nghiệm giống như cái gậy giúp ta đi đường những sẽ là vật cản khi ta muốn bay. Có hiểu được văn hoá Việt Nam thì mới thấy được sự thiên tài của Hồ Chủ Tịch khi lựa họn Đại tướng Võ Nguyên Giáp - một người chưa từng được đào tạo bài bản ở bất cứ một trường quân sự nào - cho trận Điện Biên Phủ vào thời điểm những năm 50 của thế kỷ trước, thời điểm mà trong tay ông đang có cả những tướng tài được đào tạo bài bản qua trường lớp, với bề dầy kinh nghiệm chinh chiến trong và ngoài nước. Ông đã đưa dân tộc Việt Nam bay lên đỉnh vinh quang từ bùn đen nô lệ.
Một lý do khác không kém phần quan trọng là do trước đây tài liệu bằng chữ quốc ngữ không nhiều và lo sợ rằng những quyển sách hiện đại viết thiếu chính xác. Thêm vào đó, với tâm lý vọng cổ của đại đa số những người nghiên cứu về văn hoá phương Đông, tôn trọng cổ nhân, tin tưỏng tri thức của cổ nhân nên họ muốn tìm về mã nguồn của những tri thức mà người xưa đã truyền lại để hiểu sâu hơn về Tửvi. Nhưng phần lớn sách vở đó được viết bằng chữ Hán, để hiểu được, người nghiên cứu phải học chữ Hán. Biết chữ Hán còn đồng nghĩa với việc có thể đọc được nhiều tài liệu khác viết về Kinh Dịch, Tứ Trụ, Độn Giáp, Lục Hào, Tướng Pháp, Phong Thuỷ, Y học.....và đặc biệt là sách vở của Nho giáo. Từ đó ít nhiều do bị ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo nên những ông thầy Tử vi thường mang dáng dấp của của một nhà Nho phong kiến. Những môn khoa học phương Đông thường có chung nền tảng từ thuyết Âm dương - ngũ hành, chúng cũng có sự tương đồng và liên quan với nhau nên họ thường thông thạo cả Nho, Y, Lý, Số làm cho mọi người càng thêm kính phục. Tuy nhiên có một vấn đề đáng quan tâm ở đây là có vài sự pha trộn kiến thức không hợp lý giữa các môn lý số. Việc tìm hiểu nhiều môn như Tứ trụ, Tửvi, Độn giáp, Lục hào sẽ giúp cho người nghiên cứu có cái nhìn khái quát hơn trong việc lý giải Tửvi nhưng cũng dễ dẫn đến tình trạng sử dụng kiến thức của môn khác để đưa thêm những thông số đầu vào cho lá số Tửvi một cách gượng ép. Vì biết nhiều môn nên khi dùng Tửvi mà không lý giải được nguyên nhân của sự việc những người này không chuyên nhất theo đuổi khám phá những quy luật của Tửvi mà dễ dàng sử dụng Kinh Dịch, Tứ trụ hay Kỳ môn độn giáp để phụ đoán. Người có kiến thức uyên thâm thì sẽ thấy sự bất hợp lý và tìm được sự lý giải đúng, người khác thì sẽ cho rằng Tửvi có kỳ cách không rõ ràng hoặc là sẽ lý giải một cách chủ quan. Nhiều khi những người này giải đoán đúng không phải là do dùng Tửvi mà do sử dụng Bói Dịch, Tứ trụ, hoặc Độn Giáp. Đặc biệt tôi không đồng ý với quan điểm sử dụng các quẻ Kinh Dịch áp vào lá số Tửvi để giải đoán. Đây là hệ quả của việc coi Kinh Dịch là " quần thư chi thủ". Tuy cùng xuất phát từ triết lý Âm dương nhng Bát quái và Ngũ hành được hình thành từ hai hình thức tư duy khác nhau, tư duy tổng hợp biện chứng coi trọng mối quan hệ của các hiện tượng sự vật( ngũ hành) còn tư duy phân tích lí tính coi trọng các yếu tố của hiện tượng sự vật( bát quái). Nhưng tại sao nó lại vẫn có sự hợp lý. Hợp lý bởi vì chúng cùng phản ánh những điều tất yếu, mà đã là tất yếu thì tất nhiên là phải đúng. Giống như " mặt trăng" và "moon", cả hai đều phản ánh đúng một sự vật. Nhưng hình thức biểu diễn của tiếng Anh "moon" là ngôn ngữ biến hình còn "mặt trăng" của tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập. Cũng như khi áp dụng các quẻ Kinh Dịch để lí giải Tửvi, vì hình thành trên nền tảng tư duy hoàn toàn khác nhau nên trong hệ thống tư duy của Tửvi chúng không thể tạo ra sự thống nhất được - các sao trong lá số Tửvi không bao giờ được xem xét một cách độc lập để xác định tính chất của nó mà luôn luôn được định hình trong mối quan hệ tổng hợp với nhau. Nếu sử dụng phương pháp này thì khó có thể lý giải chi tiết lá số Tửvi theo một hệ thống hoàn chỉnh. Chính sự đa phương tiện trong nghiên cứu như hiện nay là một nguyên nhân làm cho Tửvi trở nên khó hiểu hơn. Hệ quả của những lý giải gượng ép làm sản sinh ra hàng loạt những câu phú vô nghĩa, không phản ánh đúng sự thật. Người tìm hiểu về Tửvi sẽ bị lạc vào mê cung khi nhận ra là cùng một sự việc Nhan Hồi chết yểu nhưng có đến cả chục câu phú đoán tồn tại:
-Nhan Hồi yểu chiết, Văn xưng hãm Thiên thương (Đẩu số cốt tuỷ phú giải)
-Nhan Hồi yểu tử do hữu Kiếp Không Đào Hồng Đà Linh thủ mệnh.
(Thái Vân Trình)
-Kỵ tinh Xương Khúc đồng hương
Nhan hồ số ấy nghĩ thương anh tài - Sát ( thất sát) lâm tuyệt địa hội Dương - Đà Nhan hồi yểu chiết
(Thái Thứ Lang)
Nhan Hồi chết vì cách nào đây?
hay là việc cho rằng cách này chỉ áp dụng với tuổi này, tuổi nọ như :
- " Xương - Khúc sinh nhân Kỷ Tân Nhâm hạn Thìn - Tuất đáo đầu hà."
người tuổi Kỷ, tuổi Tân, tuổi Nhâm mệnh có Văn xương, Văn khúc hạn đến cung Thìn, Tuất thì chết vì sông nước.
- Sát Kình ở tại Ngọ cung,
Tai ưng thảm khốc chờ trong cuộc đời.
Nhưng Giáp Kỷ là người cái thế,
Bậc anh hùng địa vị thênh thang.
(Tửvi thực hành - dịch lý huyền cư)
mệnh ở cung Ngọ có Thất Sát, Kình Dương thì trong cuộc đời phi gặp tai ưng thảm khốc, có sách còn chú giải là chết chém. Nhưng nếu người tuổi Giáp, tuổi Kỷ thì lại là bậc anh hùng có địa vị lớn.
- Liêm: Mùi Sửu cùng vì Thất Sát,
Tuy cang kiên nhưng chắc chết đường;
Nhưng mà Kỷ, Ât sinh nhân
Anh hùng trí dũng mời phần khá khen. ( Tửvi thực hành - dịch lý huyền cư)
mệnh ở cung Sửu, cung Mùi có Liêm trinh, Thất Sát tính khí kiên cờng nhưng phải chết đường. Nhưng người tuổi Kỷ, tuổi Ât thì lại là anh hùng trí dũng song toàn.
Hoặc như việc đưa cả những kinh nghiệm của tín ngưỡng dân gian và những tổng kết của môn Tứ trụ vào Tửvi để gải đoán như : trẻ em sinh giờ " quan sát", giờ " kim xà thiết tảo" hay bị yểu chiết; mệnh Mộc sinh vào mùa xuân, mệnh Hoả sinh vào mùa Hạ, mệnh Kim sinh vào mùa thu, mệnh Thuỷ sinh vào mùa đông thì mệnh vượng; tuổi Dần, Ngọ, Tỵ, Dậu mà sinh giờ Thìn Tuất, Sửu, Mùi thì rất độc; tuổi Thìn, Tỵ, Sửu, Mùi sinh giờ Tí, ngọ, mão, dậu, tỵ hợi , thân thì khắc mẹ.....
Những người đưa ra cách lý giải này đã thực sự không hiểu rằng tuy các môn khoa học cổ cùng được xây dựng trên một nền móng là thuyết Âm dương - ngũ hành nhưng vì để đạt được những mục đích khác nhau nên chúng phải có sự biến đổi khác nhau cho phù hợp với hệ thống. Ở Tửvi những chi tiết biểu diễn này đã vượt qua cả sự định tính của âm dương - ngũ hành mà đã đạt đến lý tính, tức là dùng Lý để suy. Những tính chất Âm dương - ngũ hành của các thông số đầu vào là can - chi năm, tháng, ngày, giờ sinh khi qua hệ thống Tửvi đã được xử lý biến đổi thành hơn 100 sao có tính chất riêng không còn phụ thuộc vào tính chất của ngũ hành ban đầu, không phân biệt vào việc cá nhân sinh vào năm nào, giờ nào mà chỉ phụ thuộc vào kết cấu của các cung, các sao trong lá số. Nên khi không lý giải được tại sao cùng vào hạn Khoa - Quyền - Lộc có người thăng quan phát tài, có người thì lại gặp tai nạn rủi ro nên họ đã gán ghép cho đó là tại tính chất của ngũ hành Kim phạt Mộc, Hoả luyện Kim, hay Kim sinh Thuỷ.....thấy người được thăng chức có Hoá Quyền ở Thân, Dậu nên cho rằng Hoá Quyền có tính chất ngũ hành kim ở Thân, Dậu là lợi địa, còn cũng gặp hạn Hoá Quyền nhng bị mất chức tai nạn nên cho rằng Hoá Quyền ở Tỵ, Ngọ là thất lợi vì hoả luyện kim. Nhưng cũng Hoá Quyền ở người khác nó lại là mộc, hoặc có sách cho Linh tinh có tính chất ngũ hành là Kim, sách khác lại cho là tính Hoả "Mỗi sao có một hành riêng. Hành này góp phần tăng cường hay chế giảm ý nghĩa của sao. Một sao có hành tương hợp với cung toạ thủ thì đắc địa, tương khắc thì hãm địa. Đắc địa, sao sẽ mạnh nghĩa hơn. Hãm địa, ý nghĩa bị kém đi hoặc mất hẳn. Giữa hai sao cũng vậy, nếu gặp tương sinh về ngũ hành thì hai sao cùng đắc thế, ý nghĩa sao này phụ trợ cho ý nghĩa sao kia: nếu gặp tương khắc thì hai sao tương nghịch, ý nghĩa sao này làm giảm thiểu ý nghĩa sao kia. Thành thử sức mạnh của một sao không hoàn toàn phụ thuộc sao đó, mà còn lệ thuộc vào quy luật sinh khắc ngũ hành với cung và sao khác. Nhờ quy luật sinh khắc ngũ hành trong các sao, khoa Tửvi đã đẩy mạnh sự phân tích đến trình độ hết sức khúc chiết, đề cao sự tương quan giữa các yếu tố nhỏ, diễn xuất được những uẩn khúc vi tế hơn nữa của các yếu tố nhỏ " - Tửvi tổng hợp (Nguyễn Phát Lộc).....Cứ như vậy, mỗi người một kiểu lớp sau tiếp nối lớp trước và khi gặp sự khó khăn trong lý giải thì cho đó là "kỳ cách" hoặc sẽ lại ghép cho các sao một tính chất ngũ hành khác để cho phù hợp với sự lý giải có tính chủ quan của mình. Hoặc sáng tạo ra phương pháp Tự Hoá, hay như trường phái Thiên Lương cho rằng tuổi Nhâm có Hoá kỵ an cùng Tả phù, thậm chí như tác giả của cuốn sách "Tửvi thực hành" - dịch lý huyền cư còn cho rằng khoa Tửvi chỉ nhằm sắp đặt các vị tinh tú bao quanh thái dương trong một hệ luân chuyển của thời gian và không gian để tìm ra cái ảnh hưởng vận chuyển của nó đối tác động đến một con người - nhưng có nhà thiên văn nào chỉ ra được trên bầu trời sao nào là sao Hoá khoa, Hoá lộc, Hoá quyền và sao nào là của ông vua còn sao nào là của thường dân. Hệ thống nào ít nhiều cũng có lỗi, nhưng lỗi hệ thống không phải nằm ở sự lý giải có tính chủ quan như vậy. Tuy còn nhiều hạn chế nhưng tác giả của "Tửvi tổng hợp" - Nguyễn Phát Lộc cũng đã đề cập đến sự mâu thuẫn khi áp ngũ hành cho các sao" trong một cung , ít ra cũng phải có 6, 7 sao thuộc 5 hành khác nhau, tác động lẫn nhau và tác động với hành cung, tạo thành một liên hệ phản xạ chằng chịt, khiến cho nhiều người bị lạc vào mê hồn trận, kiểu như Bát quái trận đồ của Khổng Minh vậy. Ngũ hành tương sinh theo một vòng kín, không có khởi điểm: Mộc sinh Hoả, Hoả sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thuỷ, rồi Thuỷ trở lại sinh Mộc. Cái vòng đó cũng không có dứt điểm. Nó giống như một lối nói bình dân cho rằng "kỳ nhông là ông kỳ đà, kỳ đà là cha cắc ké, cắc ké là mẹ kỳ nhông", rốt cuộc không biết con nào làm chúa. Cái vong sinh khắc của ngũ hành cũng luẩn quẩn như vậy. Nó làm cho Tửvi khó đoán". Tư tưởng cho rằng Tửvi không thể đoán số cho người tu hành cũng là một sai lầm. Con người được hình thành từ vật chất, mà vật chất thì phải tuân theo những quy luật vận hành của vật chất. Nhà tu hành cũng là người, cũng được tạo nên từ xương, từ thịt, cũng phải ăn để mà sống nên cũng không thể thoát khỏi những quy luật sinh, lão bệnh, tử. Vạn vật trên Trái đất này đều phải chịu sự tác động của những quy luật vận hành trong trời đất như nắng nóng - ma lạnh, ban ngày thuỷ triều xuống - ban đêm thuỷ triều lên, nhảy lên cao phải rơi xuống vì sức hút của Trái đất... quy luật vận hành của Trời - Đất, đã được con người mô hình thành học thuyết Âm dương - ngũ hành - "thiên địa vạn vật nhất thể, vũ trụ làm sao con người làm vậy , con người là một tiểu vũ trụ, từ đó suy ra rằng các mô hình nhận thức đúng với vũ trụ cũng sẽ đúng cho lĩnh vực con người" - mà Tửvi được xây dựng từ nền tảng học thuyết Âm dương ngũ - hành để lý giải cuộc sống con người, nên chỉ trừ khi thoát ra khỏi quỹ đạo của Trái Đất, thoát ra khỏi sự tác động của các quy luật vận hành của Trái Đất nhà tu hành mới thoát ra khỏi tầm kiểm soát của Tửvi.
Bây giờ ít người xem Tửvi còn thông thạo cả Nho, Y, Lý, Số, nhưng vì cuộc sống mưu sinh họ thường phục vụ kèm theo việc cúng bái, viết sớ, bày đặt chuyện dâng sao giải hạn hoặc cầu phúc, cắt tiền duyên một cách thái quá....tuyên truyền mê tín dị đoan hòng trục lợi nên càng làm cho Tửvi trở nên thần bí, khó hiểu trong con mắt của nhiều người. Vậy Tửvi có thực sự là môn khoa học thần bí hay không? Như đã nói ở trên, đến nay Tửvi còn nhiều vấn đề chưa lý giải được sự đúng đắn và khoa học của nó, mặc dù Tửvi có tính hệ thống, có phương pháp làm việc, có dự đoán chính xác. "Tửvi là khoa học" chủ yếu xuất phát từ lòng tin được hình thành qua kinh nghiệm kiểm chứng thực tế. Khoa học khác với lòng tin, chính vì vậy tư duy hiện đại không thể coi Tửvi là một môn khoa học chính xác kiểu như toán học, vật lý, hình học. Theo tôi con người là một thực thể luôn luôn thay đổi từng ngày từng giờ, theo từng thời kỳ tiến hoá cũng như sự biến đổi của xã hội. Nhà triết học nổi tiếng thời cổ đại đã từng nói " không ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông". Vì vậy không thể đưa ra một định luật, hay một công thức chung để dự đoán chính xác đến từng chi tiết cuộc sống cuộc sống của con người, mà chỉ có thể đưa ra những quy luật, những nền móng cơ bản mang tính chất khái quát còn muốn dự đoán chính xác hơn thì tuỳ theo từng thời kỳ, từng hoàn cảnh những phần chi tiết phải có sự biến đổi cho phù hợp. Với tôi, Tửvi là một môn khoa học ứng dụng thiết thực với cuộc sống và tôi sẽ làm việc với nó một cách nghiêm túc giống như đối với những môn toán học, triết học hay tâm lý học.
:)
Dương Qua
24-07-2004, 09:59 AM
[align=justify:98da1d78b1]Một bài viết xứng đáng với thái âm hóa khoa - phản vi kỳ cách.Như thế này mà không theo đuổi con đường học thuật giúp người , giúp đời .Cứ đòi đi buôn làm gì ???[/align:98da1d78b1]
TuanKhong
24-07-2004, 11:03 AM
Thái Âm hóa khí thành Quyền và Tài Tinh, nên phải ham quyền và lộc chứ :D
dungkq
24-07-2004, 12:36 PM
Cảm ơn mọi người đã có lời nhận xét, còn về vấn Thái âm đi với Hóa khoa hay Hóa Kỵ, hay hóa thành Quyền tinh thì có dịp dkq sẽ nói sau nhé...he....he..... :D :D :D
tuu_si
24-07-2004, 01:27 PM
Co' tu* duy nhu*ng to^i hy vo.ng 10 na(m sau ba.n ha?y ra sa'ch, lu'c do' sa'ch se? hay ho*n .
dungkq
25-07-2004, 01:01 PM
Cảm ơn anh "tưu si", anh thật là như đọc được ý nghĩ của dungkq tôi vậy. Trong thời gian tới tôi không muốn tìm hiểu thêm về tửvi nhưng sợ quên đi nhiều kiến thức nên mới cố viết ra vài dòng, gặp được anh thì chắc dungkq tôi gặp may rồi. Tôi sẽ tiếp tục, Hy vọng sẽ nhận được sự chỉ dẫn của anh. :D :D :D
dungkq
25-07-2004, 01:19 PM
CHƯƠNG 2 : Tư tưởng xuất phát về bản chất của vũ trụ : triết lý âm dương - ngũ hành - bát quái - lịch âm dương và hệ can chi.
1. Cội nguồn tư duy tạo nên hệ thống âm dương - ngũ hành và tử vi.
Tửvi là một sản phẩm văn hoá phi vật thể của người Việt Nam, hay nói rộng ra đó là sản phẩm của loại hình văn hoá gốc nông nghiệp của cả dân Bách Việt phía Nam sông Dương Tử (Trường Giang) mà Việt Nam là điển hình tiêu biểu.
Môi trường sống của cư dân phương Đông (= đông nam, gồm châu A' và châu Phi) ) là xứ nóng sinh ra mưa nhiều (ẩm), tạo nên các con sông lớn với những đồng bằng trù phú. Còn phươg Tây (= Tây bắc, gồm toàn bộ Châu Âu đến dãy Uran) là xứ lạnh với khí hậu khô, không thích hợp cho thực vật sinh trưởng, có chăng chỉ là những đồng cỏ mênh mông. Hai loại địa hình này khiến cho cư dân hai khu vực phải sinh sống bằng hai nghề khác nhau : phương Đông thiên về trồng trọt và phương Tây thiên về chăn nuôi. ( nếu trừ ra một vùng đệm như một đường kéo dài từ tây - nam lên đông - bắc thì phương Đông điển hình sẽ là khu vực đông - nam còn lại). Việt Nam do ở góc tận cùng phía đông - nam, khí hậu nóng lắm - mưa nhiều nên thuộc loại văn hoá gốc nông nghiệp điển hình.
Nghề trồng trọt buộc người dân phải sống định cư để chờ cây cối lớn lên, ra hoa kết trái và thu hoạch nên phải phụ thuộc vào thiên nhiên. Nhất là nông nghiệp lúa nước, sống phụ thuộc vào thiên nhiên rất nhiều - không phải chỉ phụ thuộc vào một hai hiện tượng riêng lẻ nào, mà là cùng một lúc phụ thuộc vào tất cả: trời, đất, nắng, mưa...nắng nhiều quá cũng chết mà không nắng cũng chết .Cho nên, phải trông trời, trông đất, trông mây; trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm.... Nằm ở lưu vực sông Hồng, đất đai phì nhiêu, sông ngòi dày đặc, sản xuất nông nghiệp lúa nước, sản vật dồi dào, người Việt Nam không những cần đông người để thu hoạch mùa màng mà còn cần đông người để đắp đê làm thuỷ lợi, để chống giặc ngoại xâm. Một người không thể làm được, một gia đình cũng không thể làm được, một dòng họ cũng chưa đủ mà cần phải có sự đồng lòng chung sức của cả làng, cả nước. Cuộc sống lao động tập thể đã tạo ra mối quan hệ giao tình khăng khít giữa hàng xóm láng giềng, lối sống trọng tình, tạo ra sự đoàn kết trong cộng đồng. Quyền lợi của dân tộc, của đất nước luôn được đặt trên cao hết thảy, vai trò của cá nhân luôn bị đặt dưới sức mạnh của tập thể. Đó chính là đầu mối của lối tư duy tổng hợp (lối tư duy cầu tính: hỗn hợp giữa trực giác và lí tính, vô thức và hữu thức, tiềm thức và ý thức...-GS Nguyễn Đình Chú -1995). Tổng hợp kéo theo biện chứng - cái mà người nông nghiệp quan tâm không phải là tập hợp của các yếu tố riêng lẻ, mà là những mối quan hệ qua lại giữa chúng. Tổng hợp là bao quát được mọi yếu tố, còn biện chứng là chú trọng đến mọi mối quan hệ giữa chúng, đó chính là đặc trưng tư duy của văn hoá gốc nông nghiệp trọng tĩnh mà nông nghiệp lúa nước là điển hình. Do sống phụ thuộc vào thiên nhiên nên người nông nghiệp Việt Nam có ý thức tôn trọng và ước vọng sống hoà hợp với thiên nhiên, mở miệng là nói "lạy trời", "ơn trời", " nhờ trời"....Nhưng quan trọng hơn cả là họ đã tích luỹ được một kho tàng kinh nghiệm hết sức phong phú về các mối quan hệ của thiên nhiên, của trời đất: Trời đang nắng, cỏ gà trắng thì mưa; quạ tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa; ráng mỡ gà, ai có nhà phải chống; Mồng tám tháng tám không mưa, bỏ cả cày bừa mà nhổ lúa đi. Người xưa đã tìm ra không chỉ những mối quan hệ giữa các hiện tượng thiên nhiên, mà còn rất chú ý đến cả những mối quan hệ giữa chúng với các hiện tượng trong đời sống thường ngày và trong xã hội: Thâm đông thì mưa, thâm da thì khú, thâm vú thì chửa; cam chín tới, cải vồng non, gái một con, gà ghẹ ổ.....Phải chăng tư duy tổng hợp, biện chứng cộng với những kinh nghiệm trong sản xuất và đời sống thường nhật chính là xuất phát điểm của đạo học Phương Đông.
Tư duy tổng hợp, biện chứng chú trọng mối quan hệ giữa các yếu tố của người nông nghiệp thể hiện rất rõ trên lá số Tửvi. Khi dùng Tửvi để lí giải và dự đoán cuộc sống của một cá nhân ta không thể chỉ dựa vào một cung hay một vài sao nhất định đóng ở bản cung mà phải dựa vào cư cung cung khác để phụ đoán. Cuộc đời của con người là một tổng thể toàn diện và luôn thay đổi, biến động theo sự thay đổi trong môi trường của cuộc sống. Chính vì vậy cho nên một cung không đủ để diễn tả hết, phải tổng hợp hết 12 cung, phải nắm toàn thể lá số mới có một hình ảnh rõ rệt về đương số. Ví dụ như khi xét cung Mệnh tốt hay xấu thì không chỉ đơn thuần xét tính chất các sao đơn lẻ tại bản cung mà phải xét cả ba cung tam hợp là Tài (tiền nhiều thì thân cũng có thể vinh hiển), Quan ( quan cao, chức trọng thì tất thân phải đaợc trọng vọng), cung Thiên Di chính chiếu (hoàn cảnh xã hội tốt, đối nhân xử thế có tình, có lí tất được mọi người kính nể). Hay muốn rõ hơn về cung Quan ngoài việc phi xét Mệnh, Tài thì phi xét thêm cả cung Phu (Thê) -sự nghiệp của cá nhân có tốt ngoài việc phụ thuộc vào nguồn tài chính (tài vượng sinh quan) ,"có thực mới vực được đạo"; vào bản lĩnh của bản thân "có chí làm quan, có gan làm giàu" thì muốn thăng tiến vững chắc cần phi có một người vợ tốt biết chăm lo cho gia đình để cho người chồng yên tâm dồn tâm trí cho sự nghiệp, biết tạo ra cho chồng những mối quan hệ tốt có lợi cho sự nghiệp của chồng...một người chồng thành đạt lớn thường kèm theo một đấng phu nhân thông minh, đảm đang, hiền thục " Chồng sang vợ được đi giày, vợ ngoan chồng được tối ngày cậy trông"- điều này có quan hệ gì với sự đúc kết của văn hoá dân gian Việt Nam "giàu nhờ bạn sang nhờ vợ"?; để hiểu rõ hơưn về cung Phu (Thê) thì lại phi kết hợp với cả cung Quan, cung Di, cung Phúc - việc kết hợp với một vị hôn phu của một cá nhân thường phụ thuộc vào hoàn cảnh, danh giá của gia đình, dòng họ"môn đăng hộ đối", ứng xử của cá nhân trong cuộc sống, trong môi trường xã hội, công việc địa vị của cá nhân "trai tài, gái sắc". Hoặc khi muốn biết rõ về tính cách, khả năng tiềm ẩn, ý chí, tham vọng hay bệnh tật của một người thì điều quan trọng là phải quan sát cung Tật, ngoài các sao của bản cung thì cung này còn chịu ảnh hưởng của 2 cung tam hợp Huynh Đệ, Điền Trạch và cung Phụ Mẫu chính chiếu. Điều này cũng không có gì khó hiểu, bởi vì tính cách của con người thường được hình thành từ những tố chất bản thân và từ cuộc sống ngay trong gia đình với cha mẹ (nếu cha mẹ là người giàu có và hiểu biết thì tất con cái sẽ được chăm sóc đầy đủ, dẫn đến thể trạng tốt, tính cách hướng thiện "cha hiền con hiếu") , anh chị em đông thì tình cảm, sự chăm sóc của cha mẹ sẽ phải có sự phân chia hợp lí, còn nếu ít anh em thì sự chăm sóc này sẽ có sự tập trung hơn và vì vậy tính cách của đương số cũng có sự hình thành theo chiều hướng ngược lại" trai con một thì lấy, gái con một thì đừng" và hoàn cảnh nơi mình sinh sống (cung điền trạch ở đây vừa có thể hiểu theo ý nghĩa phong thuỷ vừa cũng có thể hiểu đó là môi trường xung quanh nơi cá nhân đó sinh sống) cũng góp phần hình thành nên tính cách của con người, nhơ ở trên đã có nhắc đến việc người mẹ của Mạnh Tử đã 3 lần thay đổi chỗ ở đến gần trường học để con được tiếp xúc với môi trường văn hoá lành mạnh hay theo quan niệm phong thuỷ thì ở vị trí có năng lượng tốt thì con người cũng sẽ được hấp thụ khí tốt để phát triển" địa linh sinh nhân kiệt". để hiểu rõ hơn về cung Thiên Di (quan hệ với môi trường xã hội) thì phải kết hợp phụ đoán với cung Phu (Thê), cung Phúc Đức, cung Mệnh...cứ như vậy các yếu tố trong lá số Tửvi luôn có quan hệ ràng buộc liên quan với nhau nên để hiểu rõ vấn đề cần phải có sự quan sát tổng hợp, phân tích mối quan hệ biện chứng của chúng.
Ở đây hẳn chúng ta sẽ đặt ra một câu hỏi là tại sao trong thế tam hợp tạo sự như hưởng tới cung Phu (Thê) không phải là cung Phụ Mẫu, cung Điền hay cung nào khác mà lại là cung Phúc (dòng họ). Ngoài vấn đề tâm linh chưa nói đến ở đây thì , như chúng ta đã biết, một trong những đặc trưng cơ bản của làng xã Việt Nam truyền thống là tính cộng đồng. Mọi việc liên quan đến cá nhân cũng đồng thời liên quan đến cộng đồng, kể cả hôn nhân là lĩnh vực riêng tư nhất. Hôn nhân của người Việt Nam truyền thống không phải là việc hai người lấy nhau mà là việc "hai họ" dựng vợ gả chồng cho con cái. Tục lệ này xuất phát từ quyền lợi tập thể. Việc hôn nhân tuy là của hai người nhưng lại kéo theo việc xác lập quan hệ giữa hai gia tộc. Vì vậy, điều cần làm đầu tiên cha phải là lựa chọn một cá nhân cụ thể, mà là lựa chọn một dòng họ, một gia đình xem nhà cửa hai bên có tương xứng không, có môn đăng hộ đối không. Tiếp theo, đối với cộng đồng gia tộc, hôn nhân là một công cụ duy nhất và thiêng liêng để duy trì dòng dõi và phát triển nguồn nhân lực. Để đáp ứng nhu cầu nhân lực của nghề trồng lúa nước "đông tay hơn hay làm", khi xem xét con người trong hôn nhân, người nông nghiệp Việt Nam quan tâm trước hết đến năng lực sinh sản của họ và điều này có thể nhìn thấy qua gia đình, dòng tộc: Mua heo chọn nái, lấy gái chọn dòng; ăn mày ni cơ thể , làm rể ni nhiều con; lấy con xem nạ(mẹ). Không chỉ đáp ứng các quyền lợi của gia đình, dòng họ hôn nhân còn phải đáp ứng các quyền lợi kinh tế, chính trị của Làng Xã. Mối quan tâm hàng đầu của người Việt Nam là sự ổn định của làng xã, vì vậy mà có truyền thống khinh rẻ dân ngụ cư. Nhằm tạo nên sự ổn định, đã hình thành quan niệm chọn vợ chọn chồng cùng làng: ruộng đầu chợ, vợ giữa làng; ruộng giữa đồng, chồng giữa làng; lấy chồng khó giữa làng còn hơn lấy chồng sang thiên hạ; Ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn....Kèm theo quyền lợi chính trị là quyền lợi kinh tế, tục nộp treo đóng vai trò phương tiện kinh tế: Khi lấy vợ, nhà trai phi nộp cho làng xã bên gái một khỏan " lệ phí" gọi là "cheo" thì đám cưới mới được công nhận là hợp pháp. Ca dao, tục ngữ có những câu: Nuôi lợn thì phải vớt bèo, Lấy vợ thì phải nộp cheo cho làng; Lấy vợ mời heo, không cheo cũng mất; Lấy vợ không cheo, tiền gieo xuống suối...Nhìn chung hôn nhân Việt Nam truyền thống luôn là hôn nhân vì lợi ích của cộng đồng, tập thể sau đó mới lo đến những nhu cầu riêng tư của cá nhân. Nhưng để thoả mãn được những lợi ích của cộng đồng, thoả mãn được lối sống trọng tình" một bồ cái lí không bằng một tí cái tình", "phép vua thua lệ làng" thì một cá nhân, một gia đình lo chưa đủ mà cần phải có sự góp công, góp của của cả dòng họ mới đủ. Trong cuộc sống hiện đại của người Việt, mặc dù cuộc sống xã hội đã có nhiều thay đổi nhưng việc dựng vợ gả chồng cho con cái cũng là một việc lớn cần sự tham gia của cả gia đình, họ hàng, ý kiến của những bậc cao niên trong họ vẫn luôn được tôn trọng. Trên lá số Tửvi cung Phu(Thê) luôn ở trong thế tam hợp liên thông với cung Phúc chứ không phải với cung Phụ Mẫu hay cung Điền, cung Nô. Đây có phải là sự phản ánh cuộc sống văn hoá của người Việt?
Tư duy tổng hợp, biện chứng chú trọng đến mọi mối quan hệ trong lá số Tửvi còn thể hiện ở việc xét đoán mối quan hệ giữa các cung liền kề. Ví dụ cung Mệnh ngoài việc chịu ảnh hưởng của các cung tam hợp Tài , Quan, chính chiếu Thiên Di thì còn chịu ảnh hưởng của cung Phụ Mẫu, cung Huynh Đệ liền kề; cung Tật ngoài việc chịu ảnh hưởng của các cung Huynh Đệ, Điền Trạch, Phụ Mẫu thì còn chịu ảnh hưởng của hai cung liền kề là Thiên Di và Tài Bạch; cung Thiên Di ngoài sự ảnh hưởng của cung Mệnh, Phúc, Phu ( Thê) thì còn chịu sự ảnh hưởng của cung Nô, cung Tật; tương tự cung Quan đi kèm với cung Điền , cung Nô; cung Điền _ cung Phúc, cung Quan; cung Huynh Đệ - cung Mệnh, cung Phu ( Thê)...với những thế giáp điển hình là : Tả - Hữu, Long - Phượng, Ân Quang - Thiên Quý, Tử Vi - Thiên Phủ, Thiên Mã - Hoa Cái, Bát Toạ - Tam Thai, Linh Tinh - Hoả Tinh, Kình Dương - Đà La, Địa Không - Địa Kiếp, Thiên Khôi - Thiên Việt, Văn Xương - Văn Khúc, Đào Hoa - Hồng Loan, Thiên Riêu - Đà La - Hoá Kị, tam hoá Hoá Khoa - Hoá Quyền - Hoá Lộc, Thái Âm - Thái Dương....Và để biết rõ sự cao thấp (vượng - suy) của Mệnh thì cũng cần phải xem cung Nô (bạn bè, đồng nghiệp) tốt hay xấu. Trong cuộc sống có một quy luật rất rõ ràng là "đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu", nên người quan cao chức trọng tất bạn bè phải có nhiều người giỏi, người hiền; người lao động vất vả thì tất nhiên bạn bè cũng ít người tài năng danh tiếng.
Văn Hoá phản ánh cuộc sống thực tế của con người, Tửvi là một sản phẩm văn hoá phải vật thể nên nó cũng phải phản ánh lại cuộc sống của người Việt Nam truyền thống. Những phương pháp tư duy sử dụng trong Tửvi đã tồn tại trong văn hoá dân gian Việt Nam từ lâu đời dưới hình thức là các câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ tổng kết kinh nghiệm ứng xử trong cuộc sống. Nhưng Tửvi có phải là của người VIỆT hay không thì cần phải xem xét.
Ngược lại với văn hoá gốc nông nghiệp là văn hoá gốc du mục: trong việc ứng xử với tự nhiên thì nghề chăn nuôi buộc người dân phải đưa gia súc đi tìm cỏ, sống du cư, và do nay đây mai đó, ít phụ thuộc vào thiên nhiên nên sinh ra coi thường tự nhiên, không quan tâm nhiều đến việc nắm bắt quy luật của tự nhiên để có cách ứng xử cho phù hợp mà thay vào đó là tham vọng chinh phục tự nhiên (cho nên phương Tây đạt được nhiều thành tựu trong lĩnh vực này). Để chăn được đàn gia súc thì phải cần những người khỏe mạnh nên trong tổ chức cộng đồng thì coi trọng sức mạnh (kéo theo trọng tài, trọng võ, trọng nam giới - khác với nghề nông cần sự khéo léo chăm chỉ nên trọng văn, trọng phụ nữ); coi trọng vai trò của cá nhân (dẫn đến lôi ganh đua, cạnh tranh nhau một cách rất khốc liệt, khác với văn hoá đắp đê, chống giặc ngoại xâm củaViệt Nam nơi mà vai trò của cá nhân luôn bị hoà lẫn trong tập thể); ứng xử theo nguyên tắc (khiến cho người phương Tây có được thói quen sống theo pháp luật khá sớm); trong ứng xử với môi trường xã hội thì độc đoán trong tiếp nhận, cứng rắn, hiếu thắng trong đối phó.
Đối tượng quan tâm của nghề chăn nuôi không tản mạn mà tập trung vào đàn gia súc, con vật. Xuất phát từ các chỉnh thể, tư duy của con người tất yếu đi theo lôi phân tích để tách ra các yếu tố cấu thành; từ con vật hoàn chỉnh mổ xẻ chia ra các bộ phận. Và đối tượng quan tâm ở đây tập trung vào chính các bộ phận riêng lẻ ấy (vì mối liên hệ giữa chúng trong chỉnh thể đã là đương nhiên), cho nên phân tích kéo theo siêu hình - chú ý tới các yếu tố, trừu tượng hoá chúng khỏi các mối liên hệ. Phân tích và siêu hình - đó chính là đặc trưng tư duy của văn hoá trọng động mà Phương Tây là điển hình (ta cũng có thể gặp hình thức tư duy này khi phân tích các quẻ Kinh Dịch, và cũng có thể hiểu tại sao xuất phát điểm ban đầu của Kinh Dịch lại chỉ có 8 quẻ đơn và khi giải đoán người ta chỉ cần phân tích từng quẻ riêng biệt). Hình tượng con Rồng của người phương Tây cũng khác so với Rồng của người phương Đông. Xuất phát từ tư duy phân tích chú trọng vào yếu tố nên con Rồng phương Tây luôn được gắn thêm một đôi cánh nhỏ trên lưng ( có cánh thì mới bay được) và hình dáng của Rồng cũng ngắn gọn cho phù hợp với tư duy thẩm mỹ, một đôi cánh nhỏ không thể ở trên một thân hình dài vì như vậy sẽ rất mất cân đối.
Tư duy phân tích siêu hình là cơ sở cho sự hình thành và phát triển của khoa học theo nghĩa phương Tây của từ này: một tư tưởng sẽ được coi là khoa học khi nó a) được biện giải, lập luận một cách chặt chẽ và b) kiểm tra được bằng thực nghiệm. Khoa học được hình thành theo con đường thực nghiệm, khách quan, lí tính. Tính chặt chẽ và thuyết phục của khoa học từ đó mà ra. Tuy nhiên do phương pháp khoa học bao giờ cũng bị giới hạn đối tượng cho nên cái đúng của khoa học chỉ là đúng trong phạm vi những giới hạn ấy ( ví dụ, các định lí toán học được chứng minh rất chặt chẽ trong phạm vi của một hệ thống tiên đề không được chứng minh), bởi vậy khoa học chỉ là những "cố gắng gần đi đến chân lí bằng cách tạo ra những trừu tượng"( V.I.Lênin). Tức là khoa học không phải bao giờ cũng đúng. Xuất hiện một nghịch lí : chính vì luôn chứa sai lầm cho nên khoa học phát triển rất nhanh( tư tưởng trước sai nên mới có tư tưởng sau thay thế nó).
Ngược lại, ở lối tư duy biện chứng, sự chú ý không bị phân tán, không có điều kiện cho việc hình thành những ngành khoa học chuyên sâu, nhưng bù vào đó, nó lại là cơ sở cho việc hình thành một nền ĐẠO HỌC - đó là hệ thống những tri thức thu được bằng con đường kinh nghiệm, chủ quan , cảm tính. Vì không được biện luận, chứng minh nên tri thức đạo học có nhược điểm là sức thuyết phục thấp, nhưng bù lại nó bao giờ cũng được diễn đạt ngắn gọn, súc tích - tính thâm thuý của ĐẠO HỌC từ đó mà ra. Thêm vào đó, do được hình thành một cách tự nhiên (không bị giới hạn đối tượng) và được kiểm chứng bằng kinh nghiệm của nhiều thế hệ nên tính đúng của ĐẠO HỌC thường khá cao. Chính vì vậy mà tư tưởng Phương Đông cổ truyền hàng ngàn đời ít có gì thay đổi. (dưới góc độ đang suy xét, người ta cũng nói rằng đạo học Phương Đông có tính cách "siêu hình". Trong trường hợp này, từ "siêu hình" được dùng theo một nguyên tắc khác, không đối lập với khái niệm biện chứng. Nó chỉ lĩnh vực tâm linh, không nhận thức trực tiếp được bằng các giác quan).
Từ lâu nay, có nhiều người ngộ nhận rằng Trung Hoa là một nước lớn có nền văn hoá rực rỡ từ cổ xa, căn bệnh cố hữu " lấy Trung Hoa làm trung tâm" đã tạo ra trong nhận thức định kiến cho rằng văn hoá Việt Nam chỉ là sản phẩm của văn hoá Trung Hoa, là bộ phận của nó. Nhưng thực ra không hẳn là như vậy, vấn đề phức tạp hơn nhiều, ngay từ năm 1887, một nhà Hán học người Pháp là T.de Lacouperie đã hiểu ra rằng"Niềm tin là nước Trung Hoa vốn đã lớn lao mãi từ xa và thường xuyên như thế chỉ là một huyền thoại. Trái hẳn lại, đó là việc mới xảy ra về sau. Văn minh Trung Hoa không phải tự nó sinh ra, mà là hậu quả của sự thâu hoá. Việc thâu hoá từ đâu thì xa cho là từ phía tây, nhưng càng về sau thì càng có nhiều người cho là từ phía đông - nam". Những nhận thức sơ khai về âm – dương (biểu tượng vuông - tròn và tròn vuông) đã xuất hiện trên trống đồng tìm thấy ở Việt Nam có niên đại sớm hơn các dân tộc Cận Đông, Ân Độ và Trung Hoa tới cả hàng mấy nghìn năm. Tập thể tác giả cuốn Văn hoá Đông Sơn ở Việt Nam đã viết : " Kĩ thuật luyện kim, đúc đồng của người Đông Sơn đã đạt đến trình độ điêu luyện đáng kinh ngạc. Trống đồng, thạp đồng là những di vật tiêu biểu nhất cho trình độ kĩ thuật và bàn tay tài hoa của những người thợ đúc Đông Sơn. Đỉnh cao không thể phủ nhận này đã khiến trước đây, nhiều học giả phương Tây không thể tin vào nguồn gốc bản địa của văn hoá Đông Sơn nói chung, kĩ thuật luyện kim Đông Sơn nói riêng. Họ đi tìm nguồn gốc ở tận đất Trung Nguyên, phương Bắc, thậm chí còn tìm ở xa tít bên trời Tây...kết quả nghiên cứu khảo cổ học vài thập kỉ qua đã chứng minh rằng, nghề luyện kim đồng thau đã ra đời ở đất này từ rất lâu trước sự ra đời của văn hoá Đông Sơn. Luyện kim Đông Sơn là sự phát triển kế tục, không đứt quãng của luyện kim các giai đoạn văn hoá tiền Đông Sơn".Theo GS Trần Quốc Vượng thì chữ "đồng" trong tiếng Hán được phiên âm từ tiếng Đông Nam A cổ đại ( tiếng Tày: toong; Việt; đồng). Nhà Đông phong học Nga G.G. Stratanovic(1977) cho biết :" Bốn kiểu trống đồng Đông Sơn mà các nhà nghiên cứu khác nhau đã phân tích ra và ba kiểu chuông....của tôi thực ra chỉ là những biến thể của cùng một loại sản phẩm từ cùng một vùng sản xuất đồ đồng lớn nhất. Vùng này có thể hình dung dưới dạng một tam giác lớn: hai điểm tận cùng của cạnh đáy là Đông Sơn ở phía đông và Mogaung (bắc Mianma) ở phía tây. Đỉnh tam giác nằm trong khoảng giữa hồ Động Đình và hồ Poian'. Ông viết tiếp" trước đây thậm chí cả đồ đồng Đông Sơn cũng bị tưởng rằng bắt nguồn từ phương Bắc. Bây giờ tình hình đã thay đổi. Người ta biết đến không chỉ nguồn quạng đồng phong phú của Việt nam, mà cả những mỏ đồng, cũng như mỏ vàng và bạc khác nữa. Gỉa thuyết về nguồn gốc phương Nam của đồ đồng nhà Ân trở nên có cơ sở...Niên đại của văn hoá Đông Sơn giờ đây được đẩy về khong giáp ranh giữa các thiên niên kỉ 2.1 trước công nguyên."Một chuyên gia có tiếng về Đông Nam á, giáo sư nhân chủng học Mĩ W.G.Solheim 2 đã viết (19710: " các nhà sử học Âu, Mĩ thường hay lí luận rằng lối sống mà ta gọi là văn minh thoạt tiên bắt đàu từ vòng cung phì nhiêu miền Cận Đông, hoặc trong những vùng sườn đồi lân cận...Tuy nhiên, những khám phá mới đây ở vùng Đông Nam Á đã buộc chúng ta phải xem xét lại những quan niệm này. Những vật dụng đã được đào lên và đem phân tích trong vòng 5 năm qua cho ta thấy rằng con người ở đây đã bắt đầu trồng cây, làm đồ gốm và đúc đồ đồng sớm hơn hết thảy mọi nơi trên trái đất...sớm hơn các dân tộc Cận Đông, Ân Độ và Trung Hoa tới cả hàng mấy ngàn năm..". [/I]Tổ tiên người Hán có nguồn gốc du mục, xuất phát từ phía tây bắc (vùng Trung A). Trong cuốn Đại cương lịch sử thế giới cổ đại của tác giả Trịnh Nhu và Nguyễn Gia Phu cho biết :" Cư dân đầu tiên được biết đến ở vùng Hoàng Hà là hai bộ lạc Hạ và Thượng. Cả hai tộc này vốn không phải là ngời bản địa mà là những bộ tộc du mục thuộc giống Mông Cổ". Chính người Trung Hoa cũng hiểu rất rõ điều này. Không phải ngẫu nhiên mà ngay từ thời Hán, ứng Thiệu đã khẳng định trong sách Hán quan nghi:" Khi cổ nhân mới mở ở bắc phương, đã liền giao tiếp ngay với nam phương để xây dựng nền tảng cho con cháu". Còn Lương Khải Siêu, một nhà hoạt động văn hoá Trung Quốc nổi tiếng(1873 - 1929), thì thừa nhận rằng tổ tiên của người Trung Hoa vốn là một sắc dân du mục "khởi lên từ phia tây bắc, rồi tràn xuống chiến thắng những giống man tộc ở luư vực sông Hoàng Hà, và càng ngày càng tràn ra khắp cả trên cõi đất đại lục....Nguyên nền văn minh Trung Hoa khởi xuất từ phương bắcl à nơi khí hậu rét mướt, mầu đất sỏi khô cằn, ngay cả phần trời cũng bạc, cho nên người phương bắc chỉ chuyên để tâm nghiên cứu những vấn đề tầm thường nhật dụng, vì thế tư tưởng chỉ thiên về đường thực tế".
Sự phát triển của dân tộc này trải qua hai giai đoạn. Trong giai đoạn đầu, tổ tiên của người Hán sống định cư tại thượng nguồn sông Hoàng Hà và làm nông nghiệp khô( trồng kê, mạch). Rồi họ tiến dần từ tây sang đông, về hạ luư và thâu tóm cả vùng luư vực sông Hoàng Hà cùng nền văn hoá nông nghiệp khô ở đây: Dấu vết của thời kì " đông tiến" này là những cách nói trong tiếng Trung Hoa như đông cung( cung điện phía đông), đông sàng(giường phía đông)...Như vậy, du mục tây bắc + nông nghiệp khô bản địa là hai thành tố tạo nên nền văn hóa sông Hoàng Hà. ở giai đoạn thứ hai, hướng bành trướng lãnh thổ của tổ tiên người Hán là từ bắc xuống nam, đến thời Tần - Hán thì Trung Hoa đã trở thành một đế quốc rộng lớn. Thời kì "nam tiến" này để lại dấu vết trong những cách nói của người Trung Hoa như "kim chỉ nam", "thiên tử ngồi trông về phương Nam mà cai trị thiên hạ ". Cùng voí sự bành trướng về phương Nam, văn hoá sông Hoàng Hà đã hấp thụ tinh hoa của văn hoá nông nghiệp lúa nước Bách Việt ở phía nam sông Dương Tử và với óc phân tích của dân du mục, đã nhanh chóng hệ thống hoá, quy phạm hoá để phát triển thành văn hoá Trung Hoa rực rỡ, rồi phát huy ảnh thưởng trở lại phương nam và các dân tộc xung quanh. Nhóm tác giả đề tài cấp nhà nước Tiếp xúc, giao luư và phát triển văn hoá: quan hệ giữa văn hoá Việt Nam và thế giới do GS Phạm Đức Dương chủ trì đã từng kết luận rất đúng rằng "Nền văn minh Trung Hoa đã phát sáng do người làm nông nghiệp khô thâm canh( trồng kê mạch) vùng Trung Nguyên luư vực sông Hoàng Hà đã hỗn dung với văn hoá của cự dân du mục phía bắc và tây bắc(rợ Khuyển Nhung...), sau đó là với văn hoá của cơ dân nông nghiệp lúa nước Đông Nam A ( vùng Hoa Nam với những trung tâm như Ba Thục, kinh Sở, Ngô Việt..). Kết thúc cuộc"Hán Sở tranh hùng", nhà Hán đã thống nhất Trung Hoa từ Bắc tiến xuống nam( tiền bắc hậu nam) và phát triển đất nước theo một trật tự ngược lại tiền nam hậu bắc". Mặc dù vậy, bản chất của người dân du mục vẫn luôn tồn tại trong văn hoá và tư duy của người Trung Hoa (người Hán) kể cả sau khi đã tràn qua sông Dương Tử hoà trộn với văn hoá của người phương nam. Dân du mục nếu thấy ở nơi này không thuận tiện họ có thể dễ dàng bỏ đi nơi khác, do vậy dẫn đến tâm lí coi thường tự nhiên, coi thường tập thể và ý thức về quê hương, đất nước không bền vững. Lịch sử Trung Quốc cho ta thấy các luôn luôn có sự bành trướng, muốn chinh phục các nước xung quanh " bình thiên hạ"; các nhân sĩ có thể dễ dàng đi từ nước này sang nước khác. Nếu ở trong nước không được vua sử dụng họ sẽ đi sang nước khác miễn là được trọng dụng - cuộc chu du thiên hạ của Khổng Tử, một nhà tư tuởng văn hoá lớn của Trung Hoa cổ đại, là một ví dụ điển hình. Quyền lợi và ý thức của cá nhân luôn được đặt lên trên quyền lợi của tập thể và đất nước. Quan niệm về "trung quân, ái quốc" của người Việt Nam và người Trung Hoa rất khác nhau. Người Việt Nam "trung quân" nhưng nếu vua hèn yếu bán nước, đầu hàng ngoại xâm thì ông vua đó sẽ bị chính thần dân của mình hạ bệ để bảo vệ quyền lợi quốc gia, dân tộc. Người Trung Quốc thì khác, họ "trung quân" một cách triệt để theo tư tưởng cá nhân " chủ ai nấy thờ" và sẵn sàng vì vua của mình, vì cá nhân mà bỏ qua quyền lợi của quốc, dân tộc.
Đúng như W.Durand đã viết trong cuốn Lịch sử văn minh Trung Quốc(1990) "Trung Hoa, cũng như Ân Độ, phải đem so sánh với cả một lục địa, chẳng hạn như Châu Âu, chứ không thể đem so sánh với một nước nào đó ở Châu Âu; nó không gồm một dân tộc thuần nhất và duy nhất, mà là sự kết hợp của nhiều giống người khác nhau từ nguồn gốc tới ngôn ngữ, nghệ thuật, đặc tính; còn luân lí và chế độ chính trị thì trái hẳn nhau".Từ những nhận định trên phần nào đã giúp chúng ta có một hướng nhìn khác về nguồn gốc của học thuyết âm dương ngũ hành và Tửvi có phải là sản phẩm tư duy của người Hán mà Trần Đoàn là đại diện hay không, sẽ được phân tích tiếp ở dưới đây.
(*)Phần lớn những kiến thức văn hoá sử dụng trong chương này được rút ra từ cuốn " Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam" của GS, PTS Trần Ngọc Thêm và trình bày theo cách hiểu của cá nhân tôi.
Tứ Linh
03-08-2004, 05:12 PM
Bài viết dùng lý luận sâu sắc, từ lâu Tứ Linh mong chờ bài viết như vậy.
Cảm ơn Dungkq
Caytre
03-08-2004, 05:30 PM
Dân du mục nếu thấy ở nơi này không thuận tiện họ có thể dễ dàng bỏ đi nơi khác, do vậy dẫn đến tâm lí coi thường tự nhiên, coi thường tập thể và ý thức về quê hương, đất nước không bền vững. Lịch sử Trung Quốc cho ta thấy các luôn luôn có sự bành trướng, muốn chinh phục các nước xung quanh " bình thiên hạ"; các nhân sĩ có thể dễ dàng đi từ nước này sang nước khác. Nếu ở trong nước không được vua sử dụng họ sẽ đi sang nước khác miễn là được trọng dụng - cuộc chu du thiên hạ của Khổng Tử, một nhà tư tuởng văn hoá lớn của Trung Hoa cổ đại, là một ví dụ điển hình. Quyền lợi và ý thức của cá nhân luôn được đặt lên trên quyền lợi của tập thể và đất nước. Quan niệm về "trung quân, ái quốc" của người Việt Nam và người Trung Hoa rất khác nhau. Người Việt Nam "trung quân" nhưng nếu vua hèn yếu bán nước, đầu hàng ngoại xâm thì ông vua đó sẽ bị chính thần dân của mình hạ bệ để bảo vệ quyền lợi quốc gia, dân tộc. Người Trung Quốc thì khác, họ "trung quân" một cách triệt để theo tư tưởng cá nhân " chủ ai nấy thờ" và sẵn sàng vì vua của mình, vì cá nhân mà bỏ qua quyền lợi của quốc, dân tộc.
Phần này CT chưa đồng ý, định có bài phản biện với DKQ, nhưng không biết post đâu cho tiện.
Thân
CT
dungkq
03-08-2004, 09:08 PM
Anh CT cứ post luôn vào mục này luôn đi, càng phong phú càng hay... :D
Caytre
04-08-2004, 03:13 PM
OK, vậy CT viết bài phản biện ở đây há hihi.
======================================
Về vấn đề ý thức dân tộc.
Một cộng đồng người không phải cứ quần tụ là hình thành ý thức dân tộc, mà phải qua nhiều bước phát triển từ thấp đến cao, Trung Quốc thời Xuân Thu Chiến Quốc chưa hình thành ý thức dân tộc Hoa.
Ý thức dân tộc phát triển từng bước qua các giai đoạn sau:
Ý thức cộng đồng, ý thức lãnh thổ, ý thức nhà nước, ý thức dân tộc và cao hơn là ý thức quốc gia.
Khi một cộng đồng người sống quần tụ với nhau và tổ chức xã hội đặt trên nền tảng huyết thống, lúc đó họ chỉ mới hình thành thị tộc và cao hơn là bộ lạc, đây là ý thức cộng đồng. Ý thức này ta có thể thấy ở các sắc tộc bán khai.
Cộng đồng người đó, trong quá trình mưu sinh để tồn tại, họ xung đột với các cộng đồng khác về lãnh thổ mưu sinh, nên họ hình thành ý thức giữ gìn phạm vi đất đai của họ. Nên hình thành ý thức lãnh thổ, điều này có thể thấy ở sắc dân da đỏ Bắc Mỹ.
Qua các cuộc chiến tranh và mưu sinh, xuất hiện yêu cầu tổ chức xã hội chặc chẽ hơn và xuất hiện những cá nhân lãnh đạo cộng đồng, nên bộ máy lãnh đạo và các thể chế như luật pháp, quân đội, hệ thống quan liêu, hệ thống thuế...ra đời. Lúc này cộng đồng người đó tiến lên một bước cao hơn là hình thành nhà nước.
Sau khi nhà nước đó đã ra đời, nó vẫn chưa có gì vững bền cả, vì thiếu một sợi dây nối kết chung về tâm linh và tính đồng nhất về văn hóa. Điều này có thể thấy ở Trung Quốc thời Xuân Thu, Chiến Quốc có hàng trăm quốc gia, và Hy Lạp cổ đại với hàng chục thành bang, Ai Cập tối cổ với hàng trăng Châu tự trị, Châu Âu thời tiền Trung Đại trước lúc tan rã của đế quốc Charler Champange.
Trong bối cảnh đó, thần dân chưa có ý thức mình là một bộ phận của một quốc gia, mà họ chỉ Trung Thành với người chủ của họ, hay đúng hơn là người đứng đầu bộ máy nhà nước, hoặc một dòng họ.
Cho nên Hàn Phi và Lý Tư người nước Ngụy hiến kế cho nước Tần diệt 6 nước mà không bị xem là phản bội tổ quốc.
Thương Ưởng người nước Ngụy sang làm quan nước Tần cũng vậy.
Khổng Tử người nước Lỗ đi du thuyết sáu nước.
Đó là chuyện Trung Quốc
Còn chuyện bên Châu Âu thì:
Châu Âu trung đại thì chia ra làm nhiều lãnh địa phong kiến, dưới tay mỗi lãnh chúa thì có các Hiệp Sĩ, họ chỉ biết trung thành với Lãnh Chúa nào cấp phong ấp cho họ.
Vì chưa có ý thức dân tộc mà chỉ có ý thức nhà nước, lãnh thổ chỉ là tài sản của một dòng họ, nên mới có chuyện vua nước này thừa kế lãnh thố của vua nước kia. Cuộc chiến tranh nổi tiếng lịch sử là chiến tranh kế vị Tây Ban Nha. Vua Tây Ban Nha chết, thì hai nước Anh và Áo chiến tranh với nhau để giành quyền thừa kế Tây Ban Nha, chuyện nghe rất quái đản. Hay như dòng dõi vua Anh bây giờ vốn là Quận Công nước Hà Lan, mà ông Quận Công này còn là dân gốc Đức, khi sang Anh làm vua, ổng chỉ nói tiếng Đức.
Còn Việt Nam mình.
Đời nhà Tần, Lý Ông Trọng làm quan bên Trung Quốc
Đời Hán, Khương Công Hội hay Khương Tăng Phụ gì đó cũng đỗ đạt làm quan bên Trung Quốc
Triệu Đà ngừơi Chân Định TQ, nhưng khi nhà Tần mất thì tách ra tuyên bố làm vua Nam Việt.
Sĩ Nhiếp làm thái thú Giao Chỉ thời Tam Quốc, nhưng vẫn giữ cái thế độc lập với Trung Quốc.
Tóm lại thời kỳ Ý Thức Nhà Nước là Thời Phong Kiến (Phân Phong Kiến Địa), mỗi lãnh địa là một nhà nước, ý thức dân tộc chưa hình thành, nên không thể lấy cái nhãn quan lịch sử trong thời đại mà ý thức dân tộc đã ra đời để trách quan niệm Trung Quân Ái Quốc.
Còn tiếp
Caytre
04-08-2004, 03:37 PM
Từ Ý Thức Nhà Nước Tiến Lên Ý Thức Dân Tộc
Không phải nhà nước nào cũng có thể tiến lên thành dân tộc, khi là dân tộc, tất cả là một khối, cộng đồng người trong một dân tộc có ý thức về sự khác biệt giữa mình với nhóm khác và có một thái độ duy trì sự khác biệt đó, cộng thêm một điều kiện đủ là Ý Thức về Chủ Quyền của mình. Thành ra trong lịch sử nhân lọai, đã có bao nhiêu nhà nước đã hình thành rồi bị tiêu diệt. Chỉ có nhà nước nào đã hình thành ý thức dân tộc thì nhà nước đó mới có sức sống vượt qua bánh xe lịch sử.
Trong lịch sử Trung Quốc thời Xuân Thu Chiến Quốc thì có vài sự kiện đánh dấu sự hình thành Ý Thức Dân Tộc ở một số nhà nước.
1-Sự kiện lái buôn Huyền Cao người nước Trịnh đi buôn thấy quân nước ngoài sang xâm lược mà triều đình không biết, ông thì không thể về báo tin kịp nên đã nghĩ ra kế lừa quân xâm lược. Huyền Cao là dân thường.
2-Sự kiện Khuất Nguyên nước Sở, làm nhiều bài thơ quê hương, lo lắng cho nước Sở trước nguy cơ ngoại xâm, tình yêu của ông là tình yêu đối với nước Sở. Thể thơ ông làm là thể Ly Tao rất đặc trưng của nước Sở, khi thấy bất lực trước việc mất nước không xa, thì ông gieo mình xuống sông tự tử.
Trong ngạn ngữ TQ có câu "Tam hộ do tồn Sở vị vong" (Vẫn còn 3 nhà, thì nước Sở chưa mất), câu này thể hiện ý thức dân tộc của nước Sở.
Lưu ý là nước Sở là nước ở địa phận Bách Việt cũ, các vua nước Sở đều mang họ Hùng. Trong thời Đông Chu, tất cả các nước đều là chư hầu nhà Chu, chỉ có nhà Chu là được xưng Vương thôi, tức là Thiên Tử. Nước Sở không phục, cũng tuyên bố Xưng Vương đối đầu với nhà Chu. Sự kiện này cho thấy ý thức độc lập dân tộc của văn minh phương Nam rất mạnh.
Tiếc rằng, điều kiện lịch sử lúc đó khiến nước Tần mạnh lên thôn tính các nước và đồng hóa dần dần để từ từ thành Ý thức Đế Chế (Sẽ viết sau).
Nhà Tần sau khi thống nhất thiên hạ đã dùng biện pháp bạo lực để ép hình thành ý thức dân tộc.
Trung Quốc, sau khi nhà Tần sụp đổ, nhà Hán lên thay, thời kỳ nhà Hán là thời kỳ chuyển tiếp của 2 ý thức Nhà Nước và Dân Tộc, cũng có sự đấu tranh gay gắt. Chế độ phân phong kiến địa vẫn tồn tại thời Hán Sơ. Sau thời Hán thì Ý Thức Dân Tộc hình thành. Nên người nước ngoài gọi TQ là Hán, Chữ Hán, Hán Văn...chứ đâu nhắc gì đến nhà Chu.
Ở Việt Nam ta:
Ý Thức Dân Tộc hình thành khá sớm, có thể nói là trước thời Bắc Thuộc. Bí ẩn văn minh là ở chổ này, liên hệ các bài của anh Daoky post và sự hiện diện của các nước Sở, Việt, Ngô đời Xuân Thu-Chiến Quốc, các nước đó đều xưng Vương để độc lập với nhà Chu.
Trong suốt thời kỳ Bắc Thuộc, đã có những giai đoạn tưởng chừng như bị đồng hóa hẳn, nhưng cuộc khởi nghĩa của Lý Bí, Triệu Quang Phục thành lập nước Vạn Xuân vào thế kỷ thứ 07 là cái mốc đánh dấu Ý Thức Dân Tộc đã hình thành và chiến thắng. Đến thế kỷ thứ 11 qua Nam Quốc Sơn Hà thì Ý Thức Dân Tộc đã được minh xác một cách rõ ràng.
Còn tiếp
cay dua
04-08-2004, 05:35 PM
CT viết rõ ràng và có lý lẽ lắm. Rất hay.
Caytre
04-08-2004, 10:29 PM
Đúng ra là bài này bổ sung cho bài của DKQ hơn là phản biện. Để mai, có computer CT sẽ viết tiếp phần Ý Thức Quốc Gia vắn tắt cho xong, còn bây giờ thì về nhà, nhà đang bị cắt Internet vì hết tiền nên không viết được nữa hihi.
Caytre
05-08-2004, 05:42 PM
Ý Thức Dân Tộc lên Ý Thức Quốc Gia
Trong một quốc gia thì có nhiều dân tộc, khi nhiều dân tộc cùng có 1 ý thức về lãnh thổ và nhà nước, trong đó có chủ quyền, thì các dân tộc tiến lên một bước cao hơn là có chung một ý thức quốc gia. Khi có chung một ý thức quốc gia, các dân tộc bên trong đã chấp nhận một tương lai chung, một niềm tin chung và một vận mệnh chung. Ở các nước mà ý thức quốc gia đã hình thành, xung đột sắc tộc ít xảy ra, hoặc ở mức độ thấp.
Ví dụ VN có 54 dân tộc nhưng có 1 ý thức quốc gia.
Không phải ý thức quốc gia có thể hình thành một sớm một chiều. Nó phải qua nhiều quá trình lịch sử đặc thù của mỗi quốc gia.
Như Phi Châu, có rất nhiều quốc gia hình thành từ kết quả tan rã của hệ thống thuộc địa, nhưng cái ý thức nội tại bên trong của mỗi người dân chỉ là ý thức bộ lạc. Họ chỉ trung thành với bộ lạc. Thực thể nhà nước là kết quả nhân tạo. Chưa tồn tại một quốc gia (nation-state).
Hoặc đôi khi ý thức quốc gia được hình thành qua bàn tay tôn giáo, ví dụ như Ấn Độ.
Ấn Độ là một liên bang có hàng trăm dân tộc và ngôn ngữ, nhưng người theo Ấn Độ Giáo chiếm đa số. Và tuy là bất đồng ngôn ngữ, nhưng chung 1 ý thức quốc gia nên Quốc Gia Ấn Độ tồn tại.
Hoặc đôi khi ý thức quốc gia được hình thành từ kết quả của ý thức đế chế. Ví dụ Trung Quốc
Trung Quốc là 1 hệ thống các dân tộc (system of nations) là 1 thể tích hợp các cộng đồng người có ngôn ngữ, văn hóa, ý thức lãnh thổ, lịch sử khác nhau, trong khúc quanh lịch sử thì còn là nhiều ý thức nhà nước khác nhau. Nhưng tuy sự đa dạng về ngôn ngử, văn hóa, lịch sử giữa các địa phương, và đôi khi quốc gia đó chia ra làm nhiều nhà nước, nhưng sau đó thống nhất lại được là vì họ có chung 1 ý thức Đế Chế.
Ý thức đế chế là một loại ý thức tồn tại ở các nước lớn trong lịch sử, nền tảng cốt lỏi của ý thức đó là Lịch Sử.
Về Việt Nam ta
Ý thức quốc gia hình thành khá sớm, có thể thấy qua cuộc kháng chiến chống Tống của nhà Lý thế kỷ thứ 11, nhờ vậy mà mình không mất vùng biên cương Đông Bắc, Tây Bắc, nơi có nhiều sắc tộc thiểu số sinh sống. Tuy khác sắc tộc, nhưng chung 1 ý thức quốc gia. Và trong Lịch Sử Việt Nam, cũng hiếm thấy những sự xung đột sắc tộc đẫm máu như ở các nước lân bang.
Về Anh Quốc, không biết trường hợp của 4 dân tộc Anh Cát Lợi, Tô Cách Lan, Wales và Bắc Ái Nhĩ Lan ra sao? Trừ Bắc Ái Nhĩ Lan thì còn những xung đột về Tôn Giáo đi chung với Sắc Tộc, còn 3 xứ kia thì thấy họ cũng chung sống hòa bình. Anh CD sống ở Anh Quốc, anh nhận xét sao?
lunglinh
05-08-2004, 11:18 PM
Cho lunglinh hỏi một vài câu.
1. Trong chương 1, không biết ý anh là không cần dùng ngũ hành để đoán tử vi, hay cho rằng có cách dùng ngũ hành đúng hơn mà chưa ai biết.
2. Trong chương 2, nếu cho rằng người Trung Hoa xưa từ Tây Bắc, sống du mục, tư duy phân tích; thì có thể nói người Trung Hoa hiện đại đã bị đồng hóa bởi nền văn minh Bách Việt hay không???
Xin lỗi lunglinh còn chưa biết cách quote nên không biết làm cách nào để trích dẫn những đoạn anh viết.
Kính
lunglinh
dungkq
06-08-2004, 09:20 PM
Anh CT và bạn lunglinh cố gắng đợi ý kiến của Dkq về những vấn đề trên nhé. Mấy hôm nay đang mắc chuyện gia đình hơi bận nên không có cả thời gian online nữa. :D
dungkq
07-08-2004, 07:35 PM
Cảm ơn bài viết của anh Câytre.
Từ hôm nay tôi sẽ hồi âm những ý kiến đóng góp của mọi người trong topic này.
Lunglinh viết:
1. Trong chương 1, không biết ý anh là không cần dùng ngũ hành để đoán tử vi, hay cho rằng có cách dùng ngũ hành đúng hơn mà chưa ai biết.
Ngũ hành dùng để lập lá số, nhưng muốn lý giải chính xác thì phải dùng Lý để suy. "hay cho rằng có cách dùng ngũ hành đúng hơn mà chưa ai biết", câu này hình như không phải của tôi.
Lunglinh viết:
2. Trong chương 2, nếu cho rằng người Trung Hoa xưa từ Tây Bắc, sống du mục, tư duy phân tích; thì có thể nói người Trung Hoa hiện đại đã bị đồng hóa bởi nền văn minh Bách Việt hay không???
Hiểu như vậy cũng không sai nhưng chưa chính xác, về Trung Hoa hiện đại bạn phải xét rõ dân tộc và khu vực địa lý thì mới giải quyết được vấn đề "Trung Hoa, cũng như Ân Độ, phải đem so sánh với cả một lục địa, chẳng hạn như Châu Âu, chứ không thể đem so sánh với một nước nào đó ở Châu Âu; nó không gồm một dân tộc thuần nhất và duy nhất, mà là sự kết hợp của nhiều giống người khác nhau từ nguồn gốc tới ngôn ngữ, nghệ thuật, đặc tính; còn luân lí và chế độ chính trị thì trái hẳn nhau".. Nhưng về cơ bản văn hóa thì có thể nói họ đã bị BV thâu hóa nhưng sau đó nhờ bản chất của cư dân du mục nên đã kết hợp các thành tố với nhau để xây dựng nên những thành tựu văn hóa mới. Thành tựu văn hóa cổ đại thì không thể cho rằng không có dáng hình của văn Hóa BV trong văn hóa Trung Hoa.
Caytre
07-08-2004, 09:28 PM
DKQ trích dẫn hơi khó đọc. DKQ trích dẩn theo cách đây cho dễ:
Ví dụ muốn trích đoạn văn sau: "Tử Vi Việt Nam" thì đánh mã như vầy:
Tử Vi Việt Nam [ghi chú ]
Ghi chú: trong cái khung [] thì đánh như sau ở cuối đoạn văn muốn trích: /quote
Thì tự nhiên nó sẽ hiện ra như sau
[quote=DungKQ] Tử Vi Việt Nam
Tho Ngoc
08-08-2004, 03:54 PM
Anh Cây Tre hướng dẫn...khó hiểu quá hà. Để Thỏ cải biên lại hướng dẫn của anh Cây Tre lại nghe!
Tử Vi Việt Nam
lunglinh
09-08-2004, 09:57 PM
Cám ơn anh dungkq đã giải thích, bây giờ lunglinh hiểu rồi.
Lunglinh
Caytre
11-08-2004, 03:42 PM
Sát Kình ở tại Ngọ cung,
Tai ưng thảm khốc chờ trong cuộc đời.
Nhưng Giáp Kỷ là người cái thế,
Bậc anh hùng địa vị thênh thang.
(Tửvi thực hành - dịch lý huyền cư)
mệnh ở cung Ngọ có Thất Sát, Kình Dương thì trong cuộc đời phi gặp tai ưng thảm khốc, có sách còn chú giải là chết chém. Nhưng nếu người tuổi Giáp, tuổi Kỷ thì lại là bậc anh hùng có địa vị lớn.
Trường hợp Tuổi Giáp Kỷ thì sai vì Tuổi Giáp Lộc tại Dần, Kình tại Mão, tuổi Kỷ Lộc tại Ngọ Kình tại Mùi. Không có trường hợp Kình tại Ngọ cho 2 tuổi Giáp Kỷ.
Lưu Niên Văn Tinh
11-08-2004, 04:00 PM
Sát Kình ở tại Ngọ cung,
Tai ưng thảm khốc chờ trong cuộc đời.
Nhưng Giáp Kỷ là người cái thế,
Bậc anh hùng địa vị thênh thang.
(Tửvi thực hành - dịch lý huyền cư)
mệnh ở cung Ngọ có Thất Sát, Kình Dương thì trong cuộc đời phi gặp tai ưng thảm khốc, có sách còn chú giải là chết chém. Nhưng nếu người tuổi Giáp, tuổi Kỷ thì lại là bậc anh hùng có địa vị lớn.
Trường hợp Tuổi Giáp Kỷ thì sai vì Tuổi Giáp Lộc tại Dần, Kình tại Mão, tuổi Kỷ Lộc tại Ngọ Kình tại Mùi. Không có trường hợp Kình tại Ngọ cho 2 tuổi Giáp Kỷ.
Tôi thì cho rằng sách cổ an là chính xác.
Caytre
11-08-2004, 04:01 PM
Hihi, phú Tử Vi có nhiều câu mâu thuẫn lắm, nhưng cũng có những câu có giá trị liên thành. Thôi vô phòng họp bàn tiếp vụ này vậy hehe
dungkq
12-08-2004, 02:17 PM
Sát Kình ở tại Ngọ cung,
Tai ưng thảm khốc chờ trong cuộc đời.
Nhưng Giáp Kỷ là người cái thế,
Bậc anh hùng địa vị thênh thang.
(Tửvi thực hành - dịch lý huyền cư)
mệnh ở cung Ngọ có Thất Sát, Kình Dương thì trong cuộc đời phi gặp tai ưng thảm khốc, có sách còn chú giải là chết chém. Nhưng nếu người tuổi Giáp, tuổi Kỷ thì lại là bậc anh hùng có địa vị lớn.
Trường hợp Tuổi Giáp Kỷ thì sai vì Tuổi Giáp Lộc tại Dần, Kình tại Mão, tuổi Kỷ Lộc tại Ngọ Kình tại Mùi. Không có trường hợp Kình tại Ngọ cho 2 tuổi Giáp Kỷ.
Anh Câytre vậy theo anh bộ Kình - Đà trong tử vi an như thế nào anh có thể cho dungkq biết đôi điều được không. :D
Caytre
12-08-2004, 03:38 PM
Ý kiến về Kình Đà mỗi người mỗi khác, Caytre thì an theo nguyên lý từ trước đến nay "Tiền Kình Hậu Đà".
dungkq
13-08-2004, 06:40 PM
Ý kiến về Kình Đà mỗi người mỗi khác, Caytre thì an theo nguyên lý từ trước đến nay "Tiền Kình Hậu Đà".
Dungkq thì có cách an khác hơn 2 năm rồi chưa hết phân vân thắc mắc về bộ Kình - Đà nhưng bây giờ đã quyết định an Kình - Đà theo Lộc tồn của từng can tuổi. Để chiêm nghiệm cho vui xin tặng anh Câytre và mọi người bộ sao hạn di chuyển: Thiên mã, Đà la, Hóa Khoa, Tấu thư, Song hao( địa kiếp) ----xuất ngoại du học...không đủ bộ thì đi chơi xa, thêm sát tinh thì tai nạn. :D
Caytre
13-08-2004, 06:46 PM
Để chiêm nghiệm cho vui xin tặng anh Câytre và mọi người bộ sao hạn di chuyển: Thiên mã, Đà la, Hóa Khoa, Tấu thư, Song hao( địa kiếp) ----xuất ngoại du học...không đủ bộ thì đi chơi xa, thêm sát tinh thì tai nạn. :D
Đúng là DKQ, cám ơn DKQ, chưa biết bộ này đúng đến đâu, nhưng chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ xứng danh chấp bút viết Tử Vi Thực Dụng rồi Tử Vi Việt Nam!
dungkq
13-08-2004, 06:55 PM
Để chiêm nghiệm cho vui xin tặng anh Câytre và mọi người bộ sao hạn di chuyển: Thiên mã, Đà la, Hóa Khoa, Tấu thư, Song hao( địa kiếp) ----xuất ngoại du học...không đủ bộ thì đi chơi xa, thêm sát tinh thì tai nạn. :D
Đúng là DKQ, cám ơn DKQ, chưa biết bộ này đúng đến đâu, nhưng chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ xứng danh chấp bút viết Tử Vi Thực Dụng rồi Tử Vi Việt Nam!
Hic...híc...anh Câytre nói thế này thì khác nào bắt em cầm lửa trên tay. Kể từ hôm nay dungkq sẽ quyết định tự treo nick 2 ngày để ăn năn sám hối không thì sẽ có người bắt dungkq đọc 1000 lần "adidaphật con là kẻ hậu sinh khả ố, con là kẻ hậu sinh khả ố" hi...hi....:D
Caytre
14-08-2004, 01:27 PM
Về bộ Kình Đà, CT theo cách truyền thống "Tiền Kình Hậu Đà".
Có trường phái an Kình Đà tiền hậu Lộc Tồn theo tuổi Âm Dương. Nhưng an như vậy thì Kình Dương lúc nào cũng đồng cung với Lực Sĩ.
Có trường phái an Kình Đà tiền hậu Lộc Tồn vừa theo âm dương của hàng Can vừa theo tuổi Âm Dương, cách này ảnh hưởng của cách an Dương Nhận trong Tử Bình (Dương Nhận còn gọi là Kình Dương, cá biệt trong sách Dự Đoán theo Tứ Trụ của TVH còn được dịch là "Sống Dê", nghe hơi quái chiêu).
Theo cách đó thì Đà La cũng có tại Tứ Chính, trong khi đó phú Tử Vi không có câu nào nhắc đến Đà La tại Tứ Chính cả.
Còn theo cách Truyền Thống, Kình đằng trước Lộc, Đà đằng Sau Lộc, không phân biệt Âm Dương theo Can. Như vậy thì Kình chỉ có 2 vị trí là Tứ Chính và Tứ Mộ, Đà cũng có 2 vị trí là Tứ Sinh và Tứ Mộ. Cả 2 bộ Kình Đà đều miếu ở Tứ Mộ.
Hơn nữa, dùng cách an Dương Nhận trong Tử Bình cho cách an Kình Dương trong Tử Vi thì chẳng thích hợp chút nào. Kình Đà trong Tử Vi mang hành Kim đới Hỏa và Thủy. Còn trong Tử Bình thì Dương Nhận cùng hành với hành Can, chỉ khác là ở vị trí đế vựơng thôi. Can Dương thì vượng ở Tứ Chính, Can Âm thì vựơng ở Tứ Sinh.
Mà Tứ Sinh và Tứ Chính là 2 vị trí của Kình và Đà. Nên thiển nghĩ, bộ Kình Đà trong Tử Vi là biểu kiến cả 2 mặt Âm Dương của Kình Dương trong Tử Bình, nên sự sắp xếp Kình trước Đà sau Lộc là có ý nghĩa Âm Dương của nó.
Theo cách sắp xếp Kình Đà trong Tử Vi truyền thống thì không có tuổi nào ăn trọn bộ Kình Đà. Hễ Kình miếu thì Đà hãm, Kình hãm thì Đà miếu. Tuổi Dương thì Đà miếu mà Kình Hãm, tuổi Âm thì Kình miếu mà Đà hãm. Như vậy là có sự tương quan 1 mất một còn theo âm dương. Vị trí Kình của tuổi Dương luôn là vị trí Tứ Chính của Dương Nhận trong Tử Bình cho hàng can Dương nên Kình Dương của Tử Vi cho tuổi Dương bị xem là Hãm là đúng.
Vị trí của Đà của tuổi Âm cũng là vị trí Dương Nhận trong Tử Bình cho hàng Can Âm nên Đà La cho tuổi Âm của Tử Vi bị xem là Hãm là đúng.
Chỉ là Thiển Nghỉ thôi, chứ CT chưa đọc được sách giải thích nguyên lý an Kình Đà Tử Vi một cách khoa học.
Tạm thời khi chưa có câu trả lời Mới đủ sức thay thế một đáp án cũ nhưng chưa lỗi thời thì nên dùng cái Cũ.
Tứ Linh
17-08-2004, 12:09 PM
dungkq oi hic...hic, sao lâu r?i ko th?y vi?t ti?p TVVN, T? Linh thành huou cao c? r?i
dungkq
17-08-2004, 01:44 PM
dungkq oi hic...hic, sao lâu r?i ko th?y vi?t ti?p TVVN, T? Linh thành huou cao c? r?i
T? Linh là Long, Phu?ng, H?, Cái ghép l?i nay l?i có cái c? dài n?a thì trông ra sao nh? :D
D?o này b?n nhi?u vi?c l?i b? m?c trong v?n d? tu duy nên dành ph?i cho TL an món "m?m dá" v?y. :D
huangmei
20-08-2004, 05:27 PM
M?i Dungkq tin sinh vi?t ti?p di.
dungkq
20-08-2004, 09:03 PM
M?i Dungkq tin sinh vi?t ti?p di.
tin = tru?c; sinh = ra d?i > tin sinh= ra d?i tru?c ....hic...khng dm khng dm, l?n sau bc huangmei c? g?i ti l h?u sinh cung du?c m :D
Chính Ấn
20-08-2004, 09:11 PM
h? h?, ng Dungkq ny ch?ng no m?i vo t?i Si Gn dy. Ru?u ngon khng c b?n hi?n.
dungkq
20-08-2004, 09:21 PM
ng b?n, ng c bi?t by gi? ti dang nghi g khng? :shock: Ti dang tu?ng tu?ng r?ng vo m?t dm trung tu?n nh trang sng nhu dn di?n, ti v ng ? trong m?t vu?n cy mnh mng thom mi hoa c?, gi th?i r ro trn cnh l, m?i th?ng m?t gh? du dua, nhm nhi chn tr di?u thu?c, ng?m hoa , lu?n s? kh...kh....th? m?i l d? nh?t vui th c?a d?i ngu?i kh...kh....chu?n b? s?n m?i th? d?i ti d?n nha kh...kh..... :D
dungkq
20-08-2004, 09:26 PM
2. Tri?t l m duong: b?n ch?t v khi ni?m.
Trong cu?c s?ng, dn t?c no cung va ch?m v?i nh?ng c?p d?i l?p " d?c ci", " nng l?nh", " cao th?p"...Ngu?i nng nghi?p th khng nh?ng th?, cn lun mong sao cho ma mng b?i thu v gia dnh dng dc, t?c l quan tm d?n s? sinh si n?y n? c?a hoa mu v con ngu?i v?i hai c?p d?i l?p M? - Cha v ?t -Tr?i. ?i v?i nng nghi?p la nu?c, di?u ny l?i cng b?i ph?n h? tr?ng: Ngh? la nu?c mang tnh th?i v? r?t cao, do v?y c?n r?t nhi?u s?c ngu?i (dng tay hon hay lm). Th?i xua, d?t r?ng thm ngu?i th thm vi?c, tang thu nh?p, chua ph?i lo thi?u an( nn m?i c tri?t l tr?i sinh voi , tr?i sinh c?); m?t khc v?i cu?c s?ng d?nh cu, vi?c sinh d? h?u nhu khng ?nh hu?ng d?n sinh ho?t c?a c?ng d?ng(1).
Ngu?i ta cung d?n nh?n ra r?ng hai hnh thi sinh s?n ny c cng m?t b?n ch?t: ?t du?c d?ng nh?t v?i m?, cn tr?i du?c d?ng nh?t v?i cha. Vi?c h?p nh?t c?a hai c?p " m? - cha" v " d?t - tr?i" chnh l s? khi qu ho d?u tin trn con du?ng d?n t?i tri?t l m duong(2).
Chnh t? quan ni?m m duong v?i hai c?p d?i l?p g?c " m? - cha" v " tr?i - d?t" ny, ngu?i xua d d?n d?n suy ra v s? nh?ng c?p d?i l?p m, d?n lu?t mnh , l?i tr? thnh co s? d? suy ra nh?ng d?i l?p m?i (xem b?ng 2.1). Ch?ng h?n, t? c?p "nng - l?nh " c th? suy ra a) v? th?i ti?t th ma h nng thu?c duong,ma dng l?nh thu?c m(b) v? phuong hu?ng th phuong b?c l?nh thu?c m, phuong nam nng thu?c duong;(c) v? th?i gian th dm l?nh thu?c m, ban ngyy nng thu?c duong. Ti?p t?c, dm th t?i nn mu den thu?c m, ngy th n?ng d? nn mu d? thu?c duong.
[align=center:9e9f94700b]m duong
- - o
[/align:9e9f94700b]
M? - Cha ,m?m (d?o) - c?ng(r?n), tnh c?m - l tr ,vu l?c ;ch?m - nhanh tinh - d?ng; hu?ng n?i - hu?ng ngo?i; ?n d?nh - pht tri?n; s? ch?n - s? l? hnh vung - hnh trn; ?t - Tr?i; th?p - cao ;l?nh - nng; phuong b?c - phuong nam ;ma dng - ma h? ;dm - ngy; t?i - sng; mu den - mu d?.
s? khi qut bu?c d?u c?a nguyn l m - duong
T? c?p m? - cha ( n? - nam), c th? suy ra: (a) V gi?ng ci c ti?m nang mang thai v sau khi sinh th con g?n b v?i m? cho nn v? lo?i s?, tuy m?t m hai, m ?ng v?i s? ch?n; gi?ng d?c th khng c kh? nang ?y, cho nn duong ?ng v?i s? l?( b?i v?y m th?i xua, ngu?i ta d dng hai v?ch ng?n - - d? k hi?u cho m v m?t v?ch di d? k hi?u cho duong; cch k hi?u ny sau du?c dng trong bt qui ; (b) V? jnh kh?i th v vung ?n d?nh, v?ng chi, tinh nn hnh vung thu?c v? m; cn kh?i c?u d? chuy?n d?ng nn hnh trn thu?c duong. Thm vo d, t? l? gi?a c?nh v chu vi hnh vung l 1:4 - s? 4 chan? thu?c m; cn t? l? gi?a du?ng knh v chu vi hnh trn l 1:3 (s? "pi") l? thu?c duong( ngu?i Vi?t ua dng bi?u tu?ng vung - trn ny).
V? lo?i hnh van ho g?c nng nghi?p ch?a nh?ng d?c trung m tnh l ch? y?u: ? th mu?n yn ?n( an cu l?c nghi?p), v?i thin nhin th mu?n ho h?p, v?i m?i ngu?i th n?ng v? tnh c?m, v?i mi tru?ng x h?i th bao dung...Cn van ho g?c du m?c th l?i ch?a nh?ng d?c trung duong tnh l ch? y?u: ? th nay dy mai d, v?i thin nhin th mu?n chinh ph?c, v?i m?i ngu?i th thin v? b?o l?c, v?i mi tru?ng x h?i th thin v? d?c tn.....( vi nt v? van ho trung hoa). Xt du?i gc d? tri?t l m duong, c th? g?i van ho g?c nng nghi?p l lo?i van ho tr?ng m, cn van ho g?c du m?c l van ho tr?ng duong.
Tuy nhin vi?c xc d?nh b?n ch?t m/ duong c?a cc s? v?t, hi?n tu?ng xung quanh khng ph?i lc no cung d? dng. Ch?ng h?n, cy la l m hay duong? Ci cy l m hay duong ? ?i v?i m?i tru?ng h?p th?c trn d?u c hai cch tr? l?i. Chnh t? th?c t? ny, ngu?i xua d d?n d?n tm ra nh?ng d?c di?mmang tnh quy lu?t c?a tri?t l m - duong.
1.2. Hai quy lu?t co b?n c?a tri?t l m duong.
Tri?t l m duong c hai quy lu?t co b?n:
1) Quy lu?t v? Thnh T?: Khng c g hon ton m ho?c hon ton duong, trong m c duong v trong duong c m.
Trong ci n?ng ti?m ?n ci mua(hoi nu?c b?c ln), trong ci mua ti?m ?n ci n?ng( my tan di), trong lng d?t m ch?a ci nng duong( ? tm tri d?t nhi?t d? ln t?i 4 nghn d?). Trong m?i ngu?i ti?m ?n ch?t khc g?i nn gi?i tnh c th? bi?n d?i b?ng co ch? th?c an ( xua) hoacj gi?i ph?u ( nay). Quy lu?t ny cho th?y r?ng vi?c xc d?nh m?t v?t l m hay duong ch? l tuong d?i, trong s? so snh v?i v?t khc. Chnh v v?y m cc c?p d?i l?p c s?n ( t? tri nghia ), t?c l c v?t so snh ti?m ?n , th vi?c xc d?nh m duong c th? th?c hi?n r?t d? dng, cn v?i cc v?t don l? th d? sinh ra lng tng. T? dy suy ra h? qu? ph?c v? cho vi?c xc d?n b?n ch?t m/ duong c?a m?t d?i tu?ng:
a) - mu?n xc d?nh tnh ch?t m/duong c?a m?t v?t, tru?c h?t ph?i xc d?nh du?c d?i tu?ng so snh. V d? nam so v?i n? th m?nh m?( duong), nhung so v?i hm beo th l?i y?u du?i (m); mu tr?ng so v?i mu den th duong, nhung so v?i mu d? l?i l m...Nh? s? so snh ny m ta c th? xc l?p du?c thang d? m duong cho t?ng linh v?c; ch?ng h?n, v? mu s?c ta c: den tr?ng xanh vng d? (t? d?t den nh ra l tr?ng, cng h?p th? mh n?ng l cng xanh, lu d?n lo chuy?n sang mu vng, r?i cu?i cng thnh d?). Tuy nhin, khng ph?i xc d?nh du?c d?i tu?ng so snh r?i l c th? xc d?nh du?c tnh ch?t m - duong c?a chng.
b) - ? xc d?nh tnh ch?t m duong c?a m?t v?t, sau khi xc d?nh du?c d?i tu?ng so snh , cn ph?i xc d?nh co s? so snh.
?i v?i cng m?t c?p hai v?t, v?i cc co s? so snh khc nhau s? cho ta nh?ng k?t qu? khc nhau. V d? : m?t ngu?i n? so v?i ngu?i nam xt v? gi?i tnh l l m nhung xt v? tnh cch c th? l duong; nu?c so v?i d?t, xt v? d? c?ng l m, nhung n?u xt v? tnh d?ng th l?i l duong......
Chính Ấn
20-08-2004, 09:30 PM
m?i ci d?u s?n sn. Ru?u ngon, tr thom di qun t?. Khi no thu x?p du?c, bo ti m?t ti?ng.
dungkq
20-08-2004, 09:34 PM
m?i ci d?u s?n sn. Ru?u ngon, tr thom di qun t?. Khi no thu x?p du?c, bo ti m?t ti?ng.
qun = vua, t? = ch?t > qun t? = vua ch?t , nhu th? ny l sao h? ng Chnh ?n :shock: khi qun, ph?m thu?ng hi...hi... :D chuy?n ny m d?n ra ngoi th ng nguy to r?i :D hi...hi....
dungkq
23-08-2004, 03:40 PM
2) Quy lu?t v? Quan H?: m v duong lun g?n b m?t cch m?t thi?t v?i nhau v chuy?n ho cho nhau: m c?c sinh duong, duong c?c sinh m. Ch?ng h?n, ngy v dm, mua v n?ng, nng v l?nh...lun d?i ch? cho nhau. ? x? nng( duong) pht tri?n ngh? tr?ng tr?t (m); ngu?c l?i, ? x? l?nh (m) pht tri?n ngh? chan nui( duong). Cy t? d?t den (m) m?c ln, lo xanh sang vng r?i ho d? (duong) v cu?i cng tr? l?i den d? v? v?i d?t. Ngu?i cng hi?n lnh (m) th cng hay nng c?c (duong). T? ch?t nu?c (m) n?u lm l?nh d?n cng c?c th ho thnh bang d ( duong).
Bi?u tu?ng m - duong hnh thnh trong ?o gio d?u cng nguyn ph?n nh d?y d? hai quy lu?t v? b?n ch?t ho quy?n v quan h? chuy?n ho c?a trit l m - duong.
Hnh m duong:
Trong th? t?, ta cn c th? g?p nh?ng c?p khi ni?m m ngay c? sau khi d v?n d?ng hai quy lu?t c?a tri?t l m - duong, vi?c xc d?nh b?n ch?t m - duong c?a chng cung khng d? dng g hon b?i l? chng cn b? chi ph?i b?i nh?ng quan ni?m v? x h?i. C?p "tri - ph?i" thu?c lo?i nhu th?.
1.3 . Tri?t l m duong v tnh cch ngu?i Vi?t.
1.3.1. Nhu d ni, tri?t l m duong l s?n ph?m tr?u tu?ng ho t? ni?m v mo u?c c?a cu dn nng nghi?p v? s? sinh s?n c?a hoa mu v con ngu?i. T? hai c?p d?i l?p g?c "m? - cha" v " tr?i - d?t", ngu?i xua d?n d?n suy ra hng lo?t c?p d?i l?p nhu nh?ng thu?c tnh c?a m - duong. Li tu duy d t?o nn ? ngu?i ng Nam A c? d?i m?t quan ni?m lu?ng phn lu?ng h?p ( nh? nguyn) c ph?n ch?t phc th so v? th? gi?i m nhi?u nhad\f nghin c?u phuong Ty d t?ng ni t?i( J. Przyluski, G.Coedes, E.PoreeMaspro...)
T? dy tu duy lu?ng phn lu?ng h?p, trn co s? cc c?p d?i l?p r nt, ngu?i ng Nam A xua h?n d m? r?ng d?n ra d? tm cch xc l?p b?n ch?t m duong cho nh?ng khi ni?m, s? v?t bi?t l?p. Qa trnh ny ch?c d d?n h? t?i ch? c?m nh?n du?c tnh hai m?t c?a m - duong v quan h? chuy?n ho l?n nhau gi?a chng. C l? nh?ng ni?m cn c ph?n h?n nhin v ch?t phc d d l ti?n d? gip cho t? tin ngu?i Hn ph?m tr ho v h? th?ng chng thnh tri?t l m duong du?i d?ng bt qui.
1.2.3. ? ngu?i Vi?t Nam, TU DUY LU?NG PHN LU?NG H?P b?c l? r?t d?m nt qua khuynh hu?ng C?p i ? kh?p noi: t? tu duy d?n cch s?ng, t? cc d?u v?t c? xua d?n nh?ng thi quen hi?n d?i:
a) trong khi trn th? gi?i v?t t? c?a cc dn t?c thu?ng l m?t loi d?ng v?t c? th? ( chim ung, d?i bng, ch si, b.....) th v?t t? c?a ngu?i Vi?t l m?t c?p di tr?u tu?ng Tin R?ng. Nh?ng khi ni?m truy?n thuy?t mang tnh c?p di cung g?p ? ngu?i Mu?ng ( chim y - ci ?a ), ngu?i Ty ( Bo Lung - SLao C?i), ngu?i Thi ( nng K - t?o C?p).....d l h?ng d?u v?t c?a tu duy m duong th?i xa xua.
b) ? Vi?t Nam, m?i th? thung di di t?ng c?p theo nguyn t?c m - duong hi ho: ng ?ng - b C?t, d?ng C - d?ng C?u, d?ng ?c ng - d?ng ?c B....Khi xin m - duong ( xin keo) th hai d?ng ti?n ph?i m?t ng?a, m?t s?p; ngi m - duong l?p nh ph?i vin ng?a vin s?p; khi ghp g? th ph?i m?t t?m c g? l?i ra kh?p v?i t?m kia c rnh lm vo ...L?i tu duy m duong khi?n ngu?i Vi?t ni d?n d?t , ni li?n nghi ngay d?n nu?c, ni d?n cha li?n nghi ngay d?n m?...: Cng Cha nhu ni Thi Son; Nghi M? nhu Nu?c trong ngu?n ch?y ra.
c) T? qu?c d?i v?i ngu?i Vi?t Nam l m?t kh?i m - duong : ?T NU?C. ?t - Nu?c, Ni - Nu?c , Non - Nu?c, L?a - Nu?c l nh?ng c?p khi ni?m thu?ng tr?c . ? Ty Nguyn, ph?n l?n cc d?a danh d?u b?t d?u b?ng chu (= ni ,v d? nhu: Chu S ) v krng, dak (= sng, nu?c, v d?: Kroong Pa, Dak B'la). M?t th?i, ? Ty Nguyn d t?ng t?n t?i cc vuong qu?c c?a vua L?a ( Potao Pui) v vua Nu?c( Potao La).
d) Ngay nh?ng khi ni?m vay mu?n don d?c, khi vo Vi?t Nam cung du?c nhn di thnh c?p: ? Trung Hoa, th?n mai m?i l m?t ng To H?ng th vo Vi?t Nam du?c bi?n thnh ng To - b Nguy?t; ? n ? ch? c Ph?t ng th vo Vi?t Nam xu?t hi?n Ph?t ng - Ph?t B( ngu?i Mu?ng g?i l B?t d?c - B?t ci)....
e) bi?u tu?ng m - duong dng ph? bi?n hi?n nay m?i du?c d?t ra t? d?u Cng nguyn. Trong khi d th ngu?i Vi?t v?n gi? du?c truy?n th?ng m - duong c truy?n th?ng lu d?i hon - bi?u tu?ng vung - trn. C vung c trn, t?c l c m c duong; ni "vung trn" t?c l ni dn s? hon thi?n. Thnh ng? c cu: M? trn con vung , ba vung b?y trn, ......ca dao th c : ba vung snh v?i b?y trn, ?i cha vinh hi?n, do con sang giu; L?y tr?i cho d?ng vung trn, Tram nam cho tr?n lng son v?i chng!.Trong truy?n Ki?u, Nguy?n Du vi?t : Tram nam tnh cu?c vung trn, Ph?i d cho t?n ng?n ngu?n l?ch sng; Nghi mnh ph?n m?ng cnh chu?n, Khun xanh bi?t c vung trn m hay?
M?t di?u r?t l th, l g?n dy cc nh khoa h?c d pht hi?n ra r?ng ? ra ngoi m?t tr?ng d?ng Yn B?ng ( L?c Thu?, Ho Bnh) v tr?ng d?ng Thn M?ng ( Nho Quan, Ninh Bnh) c cc hnh bi?u tu?ng m - duong vung trn v trn vung l?ng vo nhau. Ti?n d?ng c? Vi?t Nam qua cc th?i d?i v?i l? vung ? chnh gi?a l d?u v?t truy?n th?ng c?a bi?u tu?ng m - duong ny. Trn ci n?n r?ng nhu th? m?i hi?u du?c r?ng cch gi?i thch quan ni?m " tr?i trn d?t vung" theo l?i dn gian (" tr?i trn nhu ci bt p, d?t vung nhu ci mm vung") ch? l m?t cch l gi?i ngy tho, th?c ra d l m?t cch ni v? tri?t l m duong mang tnh hnh tu?ng. S? di tro trn l duong, m bi?u tu?ng l trn, d?t vung v d?t l m, m bi?u tu?ng c?a m l vung.
1.3.3. Ngu?i Vi?t Nam cn nh?n th?c r v? hai quy lu?t c?a tri?t l m duong. Nh?ng quan ni?m dn gian ki?u : ' Trong r?i c may, trong d? c hay, trong ho? c phc"; "Chim sa, c nh?y ch? m?ng, nh?n sa, x dn xin d?ng c lo".....l g n?u khong ph?i l s? di?n d?t c? th? c?a quy lu?t " trong duong c m" v "trong m c duong"? Nh?ng nh?n th?c dn gian v? quan h? nhn qu? ki?u: su?ng l?m kh? nhi?u; tro cao ng dau; yu nhau l?m, c?n nhau dau; nh?tu si nh nng, h?t g?o ch?y rng, nh?t nng nh si; Con vua th l?i lm vua, Con si ? cha l?i qut l da, Bao gi? dn n?i can qua, Con vua th?t th? l?i ra qut cha....l g n?u khng ph?i l s? di?n d?t c? th? c?a quy lu?t " m duong chuy?n ho"?.
Chnh nh? l?i tu duy m duong t? trong mu th?t m ngu?i Vi?t Nam c du?c tri?t l s?ng qun bnh: Trong cu?c s?ng, g?ng khng lm m?t lng ai; trong vi?c an ?, g?ng gi? s? hi ho m duong trong co th? v hi ho v?i mi tru?ng t? nhin...Tri?t l s?ng qun bnh m - duong du?c v?n d?ng khng ch? cho ngu?i s?ng m ngay c? cho ngu?i ch?t: Trong nh?ng ngi m? c? ? L?ch Tru?ng( Thanh Ho) c nin d?i vo th? k? 3 trCN du?c ging theo hu?ng nam - b?c, cc d? v?t b?ng g? (duong) du?c d?t ? pha b?c(m) v, ngu?c l?i, cc v?t b?ng g?m d?t ( m ) du?c d?t ? pha nam( duong. Cch s?p x?p m duong b tr? nhau ny r rng l d? t?o ra s? qun bnh. Do tri?t l qun bnh m - duong, ngay c? h? php ? cha cung c ng Thi?n ng Ac( Thi?n tru?c Ac sau).
Tri?t l qun bnh m duong ny t?o ra ? ngu?i Vi?t m?t kh? nang thch nghi cao v?i m?i hon c?nh ( l?i s?ng linh ho?t), d kh khan d?n du cung khng chn n?n. Ngu?i Vi?t Nam l dn t?c s?ng b?ng tuong lai( tinh th?n l?c quan): th?i tr? kh? th tin r?ng v? gi s? su?ng, su?t d?i kh? th tin r?ng d?i con mnh s? sung( khng ai giu ba h?, khng ai kh ba d?i; ngho th lu, giu m?y ch?c....).
Khi l gi?i l s? T?vi, tu duy linh ho?t ( kh? nang thch nghi cao) c?a ngu?i Vi?t th? hi?n r?t r. Cc sao thay d?i tnh ch?t v tc d?ng tu? theo t?ng v? tr m n du?c an: v d? d?i v?i sao ?u Qun bi?u hi?n c?a s? c d?c, nghim kh?c, c?a b?nh tim khi dng ? cung T?t; nhung khi dng ? cung Quan th d?y l?i l bi?u hi?n c?a m?t d?a v? v?ng ch?c, c uy quy?n.
dungkq
26-08-2004, 01:09 PM
1.4 Hai hu?ng pht tri?n c?a tri?t l m - Duong
Cng xu?t pht t? nguyn l m - duong, ngu?i xua d theo hai ng? khc nhau d? c hai s?n ph?m l Ngu Hnh v Bt qui.
1.4.1. M?t hu?ng g?i m - duong l Lu?ng nghi v, b?ng php phn di th?n tu, d s?n sinh ra nh?ng m hnh vu tr? ch?t ch? v?i s? lu?ng thnh t? ch?n: 2 ( lu?ng nghi) sinh 4 ( t? tu?ng), 4 sinh 8(bt qui)....Kinh Dich trnh by nguyn l hnh thnh vu tr? du?i d?ng: Thi c?c sinh lu?ng nghi, lu?g nghi sinh t? tu?ng, t? tu?ng sinh bt qui, bt qui bi?n ho v cng. Trong chu?i ny khng c ch? d?ng cho ngu hnh. i?u ny cho th?y quan ni?m ph? bi?n xua nay cho r?ng m - duong, ngu hnh, bt qui d?u l nh?ng s?n ph?m c?a cng m?t dn t?c l sai l?m bi?t ch?ng no!(Theo ti th s? k?t h?p c?a cc qu? Bt qui v ngu hnh d di?n ra khi nh?ng mn khoa h?c d? don c? Phuong ng ra d?i. V s? d?ng m?t phuong php khng l gi?i h?t du?c s? vi?c nn d c s? k?t h?p c?a hai m hnh (hai phuong php tu duy v?a t?ng h?p linh ho?t - ch tr?ng dn m?i quan h? c?a s? v?t ; v?a phn tch, l tnh - ch tr?ng d?n cc thnh t?, c?u t?o c?a s? v?t) ny d? dua ra dp s? r rng hon. S? k?t h?p chnh xc s? t?o du?c s? b? tr? cho l?n nhau gi?a hai m hnh khi cng ph?n nh nh?ng quy lu?t t?t y?u c?a s? v?t, hi?n tu?ng).
Quan st th?ng k cho th?y ngu?i phuong B?c du?ng nhu r?t thch nh?ng cch ni khi qut v?i nh?ng con s? ch?n 4, 6, 8; T? bng( 4 bn hng xm); t? d?c ( 4 d?c cng, dung,
ngn, h?nh c?a ngu?i ph? n? theo Nho gio); t? h?i(4 bi?n); t? m(xe 4 ng?a); t? ph?i(4 ngu?i du?c th? chung v?i Khng T?); T? thanh(4 thanh cung, thuong, gi?c, chu?, vu trong ti?ng Hn); t? tr?(4 v? d?i th?n); L?c b?( 6 b? trong tri?u dnh); l?c c?c ( 6 di?u kh?); l?c ngh?( 6 mn h?c l? - nh?c - x? - ng? - thu - s?); l?c sc(6 loi v?t nui ng?a, b, d, g, ch, l?n); l?c t?c ( 6 th? gi?c); l?c thu( 6 cch d?t ch? Hn); l?c v? (6 v? thu?c qu); bt m( 8 lo?i nh?c c?); bt b?u( 8 v?t bu ); bt tin( 5 v? tin); bt trn( 8 mn an ngon); bt v?( bi thu?c 8 v?)...
Hu?ng th? hai t?o nn nh?ng m hnh vu tr? b ?n v?i s? lu?ng thnh t? l?: 2 sinh 3( Tam ti), 3 sinh 5( ngu hnh).
Tu duy s? l? du?ng nhu l nt d?c th c?a ngu?i nng nghi?p phuong Nam. Dn gian Vi?t Nam r?t thch dng nh?ng cch ni v?i cc con s? l?: 3 m?t 1 l?i, 3 xi nh?i m?t ch, 3 thung cung vo 1 d?u, mua danh 3 v?n bn danh 3 d?ng, 3 b 7 m?i, 3 h?n 7 va, 3 dy 7 to, 3 lo 7 li?u, 3 vnh 7 v?, 3 v? 7 nng h?u, 3 vung 7 trn, 3 chm 7 n?i 9 lnh dnh, 3 h?n 9 va, 3 b 9 tru, tm 5 t?m 3, 5 cha 3 m?, 5 b 7 m?i, 5 l?n 7 lu?t, l?a 7 l?c, 5 th 7 thi?p...cc s? 18 ( 18 chim bay kh?c trn nhi?u tr?ng d?ng; 18 d?i Hng vuong, 18 ? ho? cng ? thnh C? Loa, 18 thn vu?n tr?u ? Hc Mn) , s? 27 ( d?i tang 3 nam th?c ra ch? c 27 thng), s? 36( 36 con chim c? bay v d?ng trn m?t tr?ng d?ng Ng?c Lu; 36 ph? phuong H N?i; 36 chu?c, chu?c chu?n l hon; 36 ci n nu?ng...).. th?c ch?t d?u l nh?ng b?i s? c?a cc con s? 3 v 9 ( 9 * 2, 9 * 3, 9 * 4).
Ngu?i Vi?t thch s? l?, nhung d?ng th?i cung s? s? l? (tm l con ngu?i ci g cng thch th cng s?), nn r?t king cc s? 3, 5, 7 v cc s? c t?ng b?ng 5( 1 + 4, 2 + 3): ch? di ngy 7, ch? v? ngy 3, m?ng 5, 14, 23, di choi cung l? n?a l di bun; M?ng nam, mu?i b?n, hai ba, tr?ng cy cy d?, lm nh nh xiu....
H?n mang (1) Thi c?c
m duong (2) Lu?ng nghi
Tam ti (3) (4) T? tu?ng
Ngu hnh(5) (8) Bt qui
So d? Hai hu?ng pht tri?n c?a tri?t l m - duong
2. C?u trc khng gian c?a vu tr?: m hnh tam ti - ngu hnh.
2.1. Tam ti:
Tam ti l m?t khi ni?m b? ba, "ba php" ( ti = php, phuong php): Thin - ?a - Nhn. Song, c l? dy l m?t tn g?i xu?t hi?n v? sau cng d? g?i s? v?n d?ng c? th? m?t quan ni?m tri?t l c? xua v? c?u trc khng gian c?a vu tr? du?i d?ng m?t m hnh ba y?u t?. Con du?ng di t? m duong d?n tam ti cls l? d di?n ra nhu sau: v?i tu duy t?ng h?p v bin ch?ng quen thu?c, ngu?i xua d s?m nh?n ra r?ng cc c?p m duong tu?ng ch?ng ring r? nhu tro - d?t, tr?i - ngu?i, d?t - ngu?i th?c ra c m?i lin h? r?t ch?t ch? v?i nhau, t?o nn m?t lo?i m hnh h? th?ng g?m 3 thnh t?:
[align=center:c616ceca40] NGU?I - TR?I - ?T[/align:c616ceca40]
Trong tam ti " Tr?i - ?t - Ngu?i" ny, Tr?i duong, ?t m, cn Ngu?i ? gi?a ( m so v?i Tr?i nhung duong so v?i ?t). Tr?i - ?t - Ngu?i ch? l m?t b? ba di?n hnh, d?i di?n cho hng lo?t nh?ng b? ba khc nhu: tr?i - d?t - nu?c( tn ngu?ng tam ph?), cha - m? - con, con ngu?i - khng gian - th?i gian, Son tinh - Thu? tinh - M? nuong, b? ba v? - ch?ng - em ch?t di bi?n thnh b? ba tr?u - cau - vi, b? ba v? - ch?ng cu - ch?ng m?i ch?t di bi?n thnh b? ba ng d?u rau ?ng v?i b? ba th?n d?t - th?n nu?c - th?n ch? ba....Trn tr?ng d?ng, Tr?i - ?t - Ngu?i du?c th? hi?n b?ng b? ba Chim - Huou - Ngu?i kh?c trn ba vnh t? ngoi vo trong. Trn nh?ng chi?c ru ng Son c cc hnh trang tr th? hi?n con du?ng chuy?n ti?p t? tu duy m duong ( c?p c s?u - R?ng dang giao nhau) sang tu duy con s? 3 - tam ti ( m?t gia dnh huou, m?t gia dnh ngu?i - 2 b? m? 1 con) .
( Ba ch dng ty vi?t thm)
2.2. Nh?ng d?c trung trong khi qut c?a Ngu hnh
Trong cu?c s?ng, ngu?i nng nghi?p ti?p xc v?i d?t tr?ng tr?t(th?), cy(m?c) nui s?ng con ngu?i, nu?c(thu?) tu?i cy, l?a(ho?) d?t tro nui d?t, s?t d(kim) cho ta cng c? lao d?ng nhung lm cy c?i c?n c?i khng m?c du?c....T? nh?ng v?t ch?t c? th? v thi?t th?c ban d?u, nghia c?a chng du?c ph?c t?p ho d?n thnh cc ni?m tr?u tu?ng, da nghia k?t h?p trong hai b? tam ti"Thu? - Ho? - Th?" v "M?c - Kim - Th?", trong d c Th? l y?u t? chung. K?t h?p chng l?i, ta du?c m?t B? Nam v?i s? m?i quan h? da d?ng v phong ph hon h?n, trong d "Thu? - Ho?" l m?t c?p m duong d?i l?p nhau r?t r r?t, "M?c - Kim" l c?p th? hai, "Th?" ? gi?a di?u ho. V d?n ngu?i nng nghi?p cung d?nh hnh r du?c cc m?i quan h? tuong sinh tuong kh?c gi?a cc y?u t? ny.: Thu? sinh M?c( nu?c gip cytuoi t?t); M?c sinh Ho?(g? lm nhin li?u cho l?a chy); Ho? sinh Th?(l?a d?t tro b?i lm cho d?t mu m?); Th? sinh Kim (trong lng d?t sinh ra kim lo?i); Kim sinh Thu?(kim lo?i b? nung nng ch?y ra tr? v? th? l?ng). Ngu?c l?i: Thu? kh?c Ho?(nu?c d?p l?a t?t); Ho? kh?c Kim(l?a nung ch?y kim lo?i); Kim kh?c M?c(dao ch?t d? cy); M?c kh?c Th?( cy ht ch?t mu m? c?a d?t, lm cho d?t kh c?n); Th? kh?c Thu?(d?p d ngan nu?c). T?t c? m?i ho?t d?ng d?y d?u di?n ra trn m?t d?t v d?i v?i ngu?i nng nghi?p khng g quan tr?ng hon d?t, cho nn hnh Th? du?c coi nhu l trung tm cai qu?n b?n phuong. Sau ny khi sng t?o ra H ? hnh Th? cung du?c d?t vo gi?a v?i con s? bi?u trung l 5 - s? tham thin lu?ng d?a. Sau d?t th d?n nu?c, lm nng nghi?p th khng g quan tr?ng hon d?t v nu?c, cho nn sau d?t, nu?c tr? thnh quan tr?nh s? m?t( nh?t nu?c, nh phn, tam c?n...).Trong H ?, hnh Thu? ?ng v?i s? 1, l kh?i d?u( nguyn thu?, thu? chung); Theo tri?t l m - duong, Thu? l m, cho nn ? phuong B?c; cn hnh Ho? l duong, d?i ngh?ch, tuong kh?c t?t s? ? phuong Nam. Cn l?i c?p M?c - Kim th hnh M?c(duong) b?i cy c?i l s? s?ng, xanh t?t vo bu?i sng, ma xun - ?ng v?i phuong ng duong tnh, hu?ng m?t tr?i m?c; Cn hnh Kim (m, b?i v kim lo?i tinh l?i xung kh?c v?i M?c) nn ?ng v?i phuong Ty m tnh.
T? nh?ng hi?u bi?t ban d?u don gi?n nhu v?y nhung cng ti?p xc v?i t? nhin, cng quan st, n?m b?t nh?ng quy lu?t c?a t? nhin v cu?c s?ng ngu?i nng nghi?p d d?n d?n hnh thnh nn h?c thuy?t m duong - ngu hnh v?i m?c d? tr?u tu?ng ho cao. Ngu hnh khng ch? don thu?n l 5 "y?u t?" ( kim, m?c, thu?, ho?, th?) m l 5 lo?i v?n d?ng (hnh = v?n d?ng); v d? nhu Thu?, Ho?....khng ch? v khng nh?t thi?t l "nu?c", "l?a" m cn l r?t nhi?u th? khc nhu phuong B?c, phuong Nam; ma ng, ma H?; v? m?n, v? d?ng; mu den, mu d?; th?n v tim( thu?c ngu t?ng), ra v chim (v?t bi?u trung).....
V?i tu duy thin v? phn tch l tnh mang b?n ch?t c?a ngu?i du m?c, lun lun mu?n s?p x?p m?i th? theo h? th?ng v dua ra nh?ng nguyn t?c d? qu?n l, s? d?ng c hi?u qu? nh?t nn nh?ng h?c gi? c?a ngu?i Hn m m?t d?i di?n tiu bi?u l Tr?n on, sau khi d ho nh?p v?i van ho nng nghi?p ? pha Nam sng Duong T? m di?n hnh l Vi?t Nam d gp nh?t nh?ng y?u t? mang tnh ch?t n?n t?ng can b?n c?a T?vi phuong ng d t?n t?i trong dn gian v s?p x?p chng vo h? th?ng d? hnh thnh nn mn T?vi v tr?i qua nhi?u th? h? v?i s? dng gp cng s?c c?a nhi?u ngu?i Nam - B?c d? hnh thnh nn h? th?ng T?vi nhu ngy nay.
dungkq
26-08-2004, 01:27 PM
dungkq
26-08-2004, 01:34 PM
dungkq
26-08-2004, 01:54 PM
VuDangKhoa
26-08-2004, 06:57 PM
Khánh Hỷ
27-08-2004, 01:07 AM
VuDangKhoa
27-08-2004, 05:25 PM
Nguyen Phong
27-08-2004, 09:45 PM
Tho Ngoc
28-08-2004, 09:17 AM
Khánh Hỷ
28-08-2004, 10:37 AM
Khánh Hỷ
28-08-2004, 10:41 AM
dungkq
29-08-2004, 03:59 PM
Chào Khánh Hỷ
Nội dung bài viết của dungkq có tốt hay không thì các thành viên sẽ nhận xét , tôi không lạm bàn cùng tác giả . Tôi cũng hiểu được công sức của tác giả đã viết bài trên diễn đàn . Mỗi người do nhân duyên sẽ tiếp thu , tích lũy một mảng kiến thức khác nhau vì thế mọi sự so sánh sẽ khập khểnh . Người khôn ngoan thì luôn biết khiêm tốn , lắng nghe , tiếp thu học hỏi và trình bày những điều mình biết một cách có chọn lọc .
Vài dòng chia sẻ cùng bạn .
Vũ Đăng Khoa
Cảm ơn VuDangKhoa đã chia xẻ những điều trăn trở cùng Khánh Hỉ...
Kiến thức là của nhân loại .Thiết nghĩ cũng nên tranh luận để đi đến điều tốt đẹp hơn .
Vài dòng chia xẻ cùng VuDangKhoa.
______________
Khánh Hỉ.
[hr:d5dc2946c1][hr:d5dc2946c1]
Hì ..hì...tiến sỹ VuDangKhoa, tôi thấy KhanhHỉ nói đúng đấy, nói xuông mãi cũng chán. Tôi và bạn cùng đọc sách, có khi tôi còn đọc ít hơn bạn và chưa hề được cấp bằng tiến sỹ, mới xóa được nạn mù kiến thức một thời gian nhưng ít ra thì tôi cũng mang lại cho bạn và mọi người những góc nhìn khác nhau về TỬVI, một chút về Dịch, còn bạn tiến sỹ thì sao, muốn làm đươc tiến sỹ thì cũng phải có cái gì đó chứ. Hãy cho tôi một bài viết để chứng minh cái tài sao chép sách của tiến sỹ có bằng tôi không. Hì...hì...chuyện này không biết có làm khó cho tiến sỹ không nhỉ.
Dungkq này ngạo mạn...hì...hì...chắc là đúng, tại sao lại không ngạo mạn khi đó là quyền được sống của tôi nhỉ, càng nhiều ân oán càng làm cho con người ta vững vàng hơn trong cuộc sống. hì...hì... Tôi chỉ khiêm tốn với người tôi yêu mà thôi. Nếu bạn VDK đủ tài dạy bảo dungkq thì dungkq sẽ hết ngạo mạn mà tôn VDK làm thầy. Hì...hì....dungkq này chỉ ngạo mạn khi cần phải ngạo mạn thôi, thân tâm lúc nào cũng an lạc. Nếu quả tim của bạn VDK to thêm một chút sẽ hiểu rõ những gì dungkq này đang làm, khà...khà.... Thôi bay giờ mời bạn VDK xuất chiêu đi, hãy chứng minh những gì tôi nói là lủng củng, là sao chép nói chuyện xuông mãi chán lắm.
dungkq
29-08-2004, 04:27 PM
Gửi Dungkp ,
Tôi thấy tội nghiệp cho sự ngông cuồng của bạn Dungkq . Thật là hết thuốc chữa . Dung kq tự đang làm con rối buồn cười trước mặt tất cả mọi người trên diễn đàn . Người ta nếu có viết bài là do cảm hứng chứ không do khích tướng của bạn . Nếu Dungkq không hoàn thiện con người mình thì suốt đời cũng chỉ là con rối trong tay người khác thôi .
Tôi tạm dừng ở đây , tôi biết đối tượng nào mà tôi cần giao du hay không trong cuộc sống .
Vũ Đăng Khoa
Ôkìa VDK tôi đâu có cần giao du với bạn. Ở trên mạng ảo, tôi là dungkq, là người không thích nói xuông như bạn, bạn nhớ đấy. Cần phải luyện tập 100 năm nữa mới đủ công lực để đấu với tôi. :D
Mai tôi chọn cái nick Quạ đen nhảy vô đây để giao du với bạn nhé hi...hi... :D . Tôi chỉ tôn trọng sự thật và hiệu quả khà....khà...tôi đi đây...khà...khà...
YvesRocher
29-08-2004, 06:20 PM
E hèm! Tranh luận nhẹ nhàng hơn một chút ! Thanks !
VuDangKhoa
29-08-2004, 07:52 PM
Bạn YvecRocher thân mến ,
VDK cám ơn bạn đã nhắc nhở , có lẽ Khoa đã vào nhầm địa chỉ rồi . Khoa thấy ở trang đầu có ghi TÂM VÀ ĐỨC nên mạnh dạn góp ý . Nay VDK xin cáo lui . Chúc các bạn vui vẽ .
Tình thân
Vũ Đăng Khoa
Nguyen Phong
29-08-2004, 09:14 PM
LINH TẠI NGÃ, BẤT LINH TẠI NGÃ
alpha_TP
29-08-2004, 09:39 PM
bạn Vũ Đăng Khoa !
Chắc chưa hiểu ông bạn Dungkq này !!! Hihì hắn được đấy chứ ... ta nên vì Học Thuật còn ng ta là gì thì đâu có ảnh hưởng gì đến "hòa bình thế giới" đâu... Thôi hai nhà xí xóa cho...
huangmei
30-08-2004, 11:10 AM
Tôi là người mù tịt về tử vi, nên đựơc đọc bài viết của anh Dungkq tôi thấy hay lắm và dần dần khai tâm cho tôi hiểu biết chút ít về Tử vi Việt nam. Mong anh Dungkq hãy chuyên tâm nghiên cứu và tiếp tục viết bài để cho tôi và những ai thích tìm hiểu TV được hiểu biết nhiều hơn về môn khoa học này. Chúc anh luôn bình an và vui vẻ
YvesRocher
30-08-2004, 01:27 PM
VDK đi đâu đấy, chưa kịp hỏi nốt mấy câu :( :(
dungkq
01-09-2004, 01:40 PM
VDK đi đâu đấy, chưa kịp hỏi nốt mấy câu :( :(
VDK sợ quá nên chuồn rồi, ông bạn đừng tìm nữa :D
VuDangKhoa
02-09-2004, 06:26 PM
dungkq
02-09-2004, 09:17 PM
cay dua
03-09-2004, 06:14 AM
Ủa, anh Vũ Đăng Khoa đâu có phải tiến sĩ ĐS. Có phải anh DungKq nghi VĐK là tiến sĩ ĐS không vậy? nếu thế thì sai rồi vì văn phong, khẩu khí đâu thấy giống chút nào đâu.
dungkq
03-09-2004, 02:48 PM
Ủa, anh Vũ Đăng Khoa đâu có phải tiến sĩ ĐS. Có phải anh DungKq nghi VĐK là tiến sĩ ĐS không vậy? nếu thế thì sai rồi vì văn phong, khẩu khí đâu thấy giống chút nào đâu.
VDK đâu có bằng được TS Đằng Sơn...hi...hi...... :D
Caytre
04-09-2004, 08:26 AM
Chào DKQ và tất cả các bạn tham gia tranh luận mục này (Vì topic này do DKQ mở ra để phổ biến những hiểu biết của mình, nên cho CT xin phép được để riêng tên DKQ trước)
Kính mong các bạn tham gia tranh luận trong tinh thần hòa ái, những bất đồng học thuật nên gói gọn trong học thuật, tránh khen chê cá nhân ai, để giữ cái tình riêng mai này có dịp gặp nhau còn cafe cà pháo được.
Riêng DKQ là chủ nhân topic này, DKQ có thiện chí chia xẻ những gì mình có thì mong DKQ tiếp tục chia xẻ, đường ta ta đi.
Các bạn có ý kiến bất đồng, xin mở riêng một topic phổ biến đường hướng ngược lại với DKQ
Tình thân
CT
"Con gà ganh nhau vì tiếng gáy"
Nhưng
"Kẻ Sĩ trọng nhau vì tài"
dungkq
04-09-2004, 02:57 PM
Bất đồng nhưng trình độ có hạn không làm gì được nên gáy loạn xạ đấy mà. :D
À thông báo với mọi người cùng chia vui với dungkq, sau mấy ngày tu luyện trên núi đọc hết 3 kg sách tôi chính thức tự phong cho mình danh hiệu Giáo sư cho oai phong để dọa người khác dễ sợ hơn he....he..... :D Mời bà con cô bác nâng cốc chúc mừng nào. :D
dungkq
05-09-2004, 02:33 PM
Trong thời gian này vì vướng bận công việc, chưa có khám phá gì mới tôi tạm thời post lên đây những bài trước đây đã đăng ở TVLS.com để mọi người tiện theo dõi.
1- tinh thần chủ đạo khi nghiên cứu tửvi
" Người Thượng cổ đọ nhau về đạo đức, người Trung cổ đọ nhau về mưu trí, người thời nay đọ nhau về thực lực. Thời xưa ít việc, thiết bị đơn giản, khí cụ giản lậu mà không tinh xảo, dùng vỏ trai làm cuốc và dùng cả khúc gỗ làm bánh xe. người thời xưa ít mà thân ái lẫn nhau, đồ vật nhiều mà xem nhẹ tài lợi, dễ khiêm nhường cho nên dám đem cả quyền lực thống trị thiên hạ trao cho người khác. Sống ở thời đại nhiều việc mà sử dụng khí cụ thiển lậu của thời đại ít việc, đó không phải là biện pháp của người thông minh; đối mặt với xã hội tranh đoạt kịch liệt, mà tuân theo lối chấp tay vái nhường nhịn xưa, đó không phải là đạo trị quốc của thánh nhân. Bởi vậy, người thông minh không đi xe của thời đại nguyên thuỷ, bậc thánh nhân không dùng biện pháp chính trị của thời nguyên thuỷ"- thiên Bát Thuyết ( Hàn Phi Tử)
Đây là tư tưởng trị quốc, dạy làm vua của Hàn Phi Tử nhưng tôi cho rằng nó vẫn có giá trị khi đem ứng dụng vào việc nghiên cứu Tửvi.
dungkq
05-09-2004, 02:35 PM
2-phương pháp nghiên cứu:
a- Đọc tất cả các loại sách báo viết về lịch sử, văn hoá, tư tưởng, tử vi, kinh dịch , các trắc nghiệm và nghiên cứu con người của phương Tây, kể cả tư tưởng của K.Mác...để hiểu rõ một số quy luật chung về con người, xã hội và tự nhiên - tiêu chí đọc sách là không cần hiểu ngay những vấn đề chưa hiểu, để tránh sự luẩn quẩn rối trí. nếu như có thể nên tham gia và lắng nghe những cuộc thảo luận về các vấn đề có liên quan đến văn hoá phương Đông (sau một thời gian các bạn sẽ thấy tư duy của người phương Đông và người phưng Tây khi giải quyết vấn đề dự đoán con người không khác nhau nhiều về phương pháp tư duy khoa học mà chỉ khác nhau về phương pháp nghiên cứu và cách thể hiện). Theo tôi các bạn có thể tìm đọc những quyển sách tử vi sau:
-tửvi thực hành - bên ngoài có dòng chữ nhỏ " dịch lý huyền cơ"
-tửvi hàm số, tử vi tổng hợp- Nguyễn Phát Lộc
-tử vi đẩu số tân biên.
-tử vi áo Bý- Việt Viêm Tử
-tử vi đẩu số toàn thư - Vũ Tài Lục
-tử vi nghiệm lý, tửvi thực hành- cụ Thiên Lương
-tử vi khảo luận-Hoàng Thường và Hàm Chương( sách mới xuất bn)
-tử vi chỉ nam - Song An Đỗ Văn Lưu
-và một số quyển khác của Thái Thứ Lang
-đọc thêm tứ trụ của Thiệu Vĩ Hoa; mệnh lý thám nguyên( phần bàn về âm dưng ngũ hành).
Đọc kỹ quyển Tử vi tổng hợp ( tư duy lôgic rất đáng để tiếp thu), tử vi thực hành -" dịch lý huyền cơ" ( hệ thống những câu phú đoán tương đối hoàn chỉnh). sau khi đã có kiến thức cơ bản trong môn tử vi các bạn cố gắng tìm ra sự hạn chế của từng quyển sách, của các câu phú nằm ở đâu thì sẽ tiến bộ rất nhanh.
b- Cần nắm được tính chất cơ bản của các sao, các quy luật an sao trong Tửvi, các quy luật của âm dương ngũ hành, nhưng không nhất thiết phải nhớ hết từng câu phú vì như vậy sẽ rất mất thời gian và tư duy bị cứng nhắc, sau khi đã đạt đến một trình độ nhất định sẽ quay lại đọc kỹ hơn. Và đặc biệt phải tìm cho mình một người thầy có kinh nghiệm thực tiễn trong nghề tửvi, nhất là những người thầy dùng tử vi để kiếm tiền thật sự. Tìm hiểu xem đâu là sở trường, đâu là sở đoản của thầy để phát huy cái đúng bổ túc cái sai .Như vậy sẽ rút ngắn thời gian nghiên cứu.
c- Học thuộc lá số của mình trong lòng bàn tay để kiểm nghiệm tính chất, sự kết hợp và tác động của các sao trong từng ngày, từng tháng ứng với những việc quan trọng nào. Khi gặp lá số khó xem mà mình biết khá rõ đưng sự thì cũng cần học thuộc để kiểm nghiệm so sánh.
d- Tự đặt ra những câu hỏi khó và tìm cách giải đáp. " tại sao trong lá số tử vi chỉ có hơn 100 sao mà ngưòi ta có thể nhận biết sự việc của cuộc cuộc đời? ". Có thể không giải đáp được ngay nhưng sẽ có mục đích làm việc.
e- Thực hiện các chuyến đi thực tế:
- đầu tư công sức và tiền bạc tìm thầy giỏi để xem cho mình hoặc người thân mà mình biết khá rõ. Ngoài việc tìm thầy tửvi giỏi để xem thì những người thầy tướng, thầy bói Dịch, bói tú, xem lá trầu.... cũng không nên bỏ qua. Ghi nhớ những gì họ nói để kiểm nghiệm. Nếu sự việc xảy ra đúng thì mang ra so sánh với vận hạn trong lá số tửvi để tìm lời giải đáp tại sao sự việc lại xảy ra như thế và các sao nào biểu hiện điều đó?.
- sau một thời gian học hỏi thì tự xem mình có hứng thú đoán việc gì nhất, linh cảm về vấn đề nào tốt nhất hoặc quan tâm đến vấn đề nào nhất - như thích đoán hạn cưới xin, hạn chết, đoán nghề nghiệp, đoán cung phúc đức, đoán cung mệnh...thì nên có những chuyến đi thực tế để tìm hiểu cho rõ. Ví dụ nếu chú tâm nghiên cứu về cung phúc đức thì nếu có dịp thăm viếng mồ mả của người quen, người nhà nên ghi nhớ : hình thế, người trong mộ, sự ứng hợp với lá số.....còn nếu chú tâm nghiên cứu về hạn chết thì cũng cần đi xin giờ sinh tháng đẻ của những ngưòi chêt. Xác định rõ lá số của họ (để tránh tình trạng giải đoán gượng ép) tìm hiểu về hạn chết và cách người ta chết như thế nào. Sau đó tổng hợp những kinh nghiệm đó lại cộng với so sánh nghiên cứu kỹ lá số khi dự đoán thì các bạn sẽ dự đoán chính xác. Chỉ cần đoán tốt một cung theo từng vận hạn cũng phi mất rất nhiều thời gian nghiên cứu.
Có thể nói Tửvi (cũng như tứ trụ, lục hào kinh phòng, mai hoa... ) là một hệ thống xử lý thông tin mở. Nó được xây dựng dựa trên những quy luật vận hành của thế giới tự nhiên trên Trái Đất, Trái Đất này hàng ngàn vạn năm nay vẫn quay quanh mặt Trời, mặt Trăng vẫn quay quanh Trái Đất.
Tuy&n bsp; tửvi không thay đổi về bản chất và quy luật vận hành âm dương ngũ hành nhưng vì nó là một hệ thống mang tính khái quát cao nên có thể biến đổi những giá trị chi tiết quy ước ở trong đó cho sao cho phù hợp vói thời đại để có tính ứng dụng cao.Ta có thể ví nó như cái máy xay đa năng, cùng cái máy đấy, cùng một quy luật vận hành nhưng nếu muốn ăn bột thì cho gạo, còn muốn ăn chả thì cho thịt. Đó là cơ sở để giải thích tại sao hiện nay có người nhìn trên lá số có thể miêu tả đúng một trân đánh quân sự hiên đại với đầy đủ xe tăng, trọng pháo, nói rõ đương sự chết như thế nào, hoặc nói rõ đương sự sẽ chết vì tai nạn xe máy, người này làm nghề lái xe, người kia làm nghề điện tử. Khi cổ nhân phát minh ra tửvi thì làm gì có những thứ này. Từ phương pháp nghiên cứu thực nghiệm ta cũng có thể lý giải được tại sao ông thầy này xem về nghề nghiệp rất giỏi còn xem về cưới xin thì kém, và ông thầy kia thì ngược lại. Tại sao người ta đưa ra câu phú này, giá trị sử dụng đến đâu và nó có phải là của cổ nhân hay của người hiện đại. Chúng ta khi nghiên cứu về tử vi cũng có thể làm được những việc như vậy nếu biết cách thay đổi những giá trị tượng trưng trong hệ thống tửvi mà cổ nhân đã để lại, nhưng phải luôn luôn tuân theo những quy luật an sao tử vi và quy luật của âm dương ngũ hành bởi vì nó chỉ có thể đúng khi nó nằm trong hệ thống thích hợp.
Để có thể dự đoán chính xác khi dùng tửvi theo tôi cần có những điều kiện sau:
- phương pháp nghiên cứu đúng đắn.
- kinh nghiệm thực tế.
- tính cá biệt của mỗi cá nhân (có thể tạm hiểu là linh cảm)- ở môn tử vi điều kiện này có thể được kinh nghiệm thực tế lâu năm và tư duy cân nhắc lá số bù đắp.
dungkq
06-09-2004, 03:14 PM
3 - CƠ SỞ KHOA HỌC KHI XÁC ĐỊNH GIỜ SINH:
Trong quyển "Dự đoán theo tứ trụ" của Thiệu Vĩ Hoa của NXB Văn Hoá Thông Tin -8/1996 ; trang 57, có viết "khi các bạn nước ngoài dự đoán thì cho dù giờ sinh ở nước nào đều phải đổi thành giờ của Bắc Kinh mà dự đoán tứ trụ, nếu không thì không chuẩn"
Tôi đã làm theo nhưng không chuẩn. Tôi đổi giờ sinh sang giờ Việt Nam để giải đoán thì thấy ứng nghiệm. Tôi tự đặt ra câu hỏi, nếu vạn vật trên Trái Đất này đều được hình thành từ các quy luật vận động của âm dương ngũ hành kim- mộc - thuỷ - hỏa - thổ thì tại sao lại phải đổi ra giờ Bắc Kinh trong khi có người da vàng, người da trắng, người da đen, da đỏ? tại sao những đứa trẻ sinh cùng một giờ tại cùng một điểm ( thậm chí đẻ sinh đôi) mà lại có hình dáng, trọng lượng khác nhau, tính cách và cuộc sống sau này cũng khác nhau? ở mỗi đất nước thì con người đều có những tính cách đặc trưng riêng - sự lạnh lùng kiểu Anh, sự thực dụng kiểu Mỹ, tính kỷ luật cao của người Đức, tính cộng đồng của người Việt....
Và tôi được hai người bạn phong thuỷ cung cấp cho một số kiến thức quan trọng. Linh khí của trời đất tại các điểm trên Trái Đất này không giống nhau về mức độ và cường độ ảnh hưởng, kể cả tại một điểm thì sự ảnh hưởng trong 1 ngày, một giờ, một tháng, một năm, một thế kỷ....cũng khác nhau. Năm nay thế đất này sẽ kết huyệt mạnh mẽ, sang năm khí sẽ giảm hoặc đại huyệt này 30 năm trước đây khí rất mạnh nhưng bây giờ sắp tuyệt, và có trong có đục khác nhau. Một điều quan trọng nữa các anh cung cấp cho tôi là trong cùng một địa huyệt nhưng các bộ xương khác nhau thì sự hấp thu và truyền tải năng lượng cũng khác nhau. Những điều này càng khẳng định rõ âm dương ngũ hành của Trời -Đất luôn luôn biến đổi, không khi nào là bất định. Địa lý khác nhau, không gian khác nhau thì thời gian khác nhau và sự ảnh hưởng của âm dương ngũ hành lên mỗi cá thể tại một điểm và tại những điểm khác nhau là hoàn toàn khác nhau. Không thể dùng hệ quy chiếu thời gian, không gian của nơi này áp đặt cho nơi khác được
- con người sinh ra ở đâu thì phải lấy giờ sinh tại nơi đó để tính toán.
(đối với những người trên cùng một đất nước hoặc một múi giờ thì điều này đôi khi không cần thiết).
- những người sinh cùng một giờ tại cùng một điểm thì cũng chịu sự ảnh hưởng khác nhau của âm dương ngũ hành phải dùng kỹ thuật cân nhắc lá số để xác định giờ sinh.
Những kết luận trên tôi đã có sự kiểm chứng. Các bạn cũng có thể kiểm tra bằng thực tế. Nếu bạn nào có phát hiện khác thì có thể cùng chia xẻ và nghiên cứu.
Nhân đây tôi cũng có vài kinh nghiệm tư duy khi đọc sách muốn đem ra bàn luận với các bạn. Đối với Thiệu Vĩ Hoa, con người đã được mọi người nhìn nhận là tài giỏi về mặt học thuật thì không thể không biết điều đó. Nhưng vì muốn truyền bá tư tưởng Trung Quốc là trung tâm thế giới của Nhà nước Trung Quốc nên ông ta đã nói dối (nhiều khi chính trị làm cho sự thật bị méo mó). Còn khi lập lá số cho một người ở trường hợp như thế thì ông ta sẽ vẫn dựa trên những thông tin họ cung cấp, nhưng bí mật dùng phương pháp riêng thay đổi giờ sinh của đương sự cho phù hợp và dùng tài năng của mình giải đoán chính xác nhằm tạo nên uy tín cho riêng mình .Trong khi ngưòi khác dùng phương pháp ông ta cung cấp thì không thể làm được điều đó nếu không có sự may mắn nhất thời - gặp "thời". . Nhưng dù sao Thiệu Vĩ Hoa cũng là người đáng được tôn trọng vì học thuật và vì tinh thần dân tộc của ông ta.
Caytre
20-09-2004, 06:27 PM
kính gửi Ban Quản trị LSCT ,
Vũ Đăng Khoa xin cáo lỗi cùng Ban Quản trị và các thành viên trên diễn đàn về các nhận định của Khoa về các bài viết trên diễn đàn .
VDK xin phép được cáo lui để không ảnh hưởng đến không khí vui vẽ trên diễn đàn LSCT .
Chúc Diễn đàn LSCT luôn vui vẽ , thành công tốt đẹp !
Tình thân
VDK
Thân chào VDK
Việc gì mà bạn phải cáo lui sớm vậy, không khí vui vẻ hay ảm đạm là do tất cả hội viên cùng xây dựng nên, chứ có phải do một mình bạn làm nên đâu mà bạn khéo lo xa hihi. Không có ngày buồn thì làm sao ta biết quý những ngày vui, không có những ngày vui thì sao ta biết tránh những ngày buồn hihi.
Hy vọng bạn tiếp tục vui vẻ trên diễn đàn và có dịp được đàm đạo cùng bạn.
Thân
CT
dungkq
22-02-2005, 12:05 PM
Đây là một đoạn trong bản thảo, tôi post lên đây để mọi người cùng đọc và tham khảo.
Trên lá số Tử vi cung Mệnh là cung quan trọng nhất, " Số hồ thiên Mệnh", nó thể hiện thọ yểu, sang hèn và tính cách xử sự của con người trong cuộc sống. Toàn bộ lá số bị chi phối khá lớn bởi cung Mệnh, khi luận đoán cần kết hợp cung Mệnh với tất cả các cung khác và với các Đại - Tiểu vận, vì con người là thực thể luôn thay đổi theo thời gian và không gian dưới sự tác động của từng vận khí khác nhau.
Cung Mệnh thể hiện hình ảnh bên ngoài của con người trong cuộc sống, khi luận về Mệnh không chỉ căn cứ vào các sao trong cung Mệnh mà phải kết hợp với các sao hội tụ từ cung Thiên di, cung Quan, cung Tài. Bởi vì cuộc đời con người bị chi phối bởi môi trường sống (những người mà cung thiên di bị Tuần hoặc triệt thường phải xa quê lập nghiệp), công việc, tài chính. Mệnh - Tài - Quan - Thiên di luôn có sự liên thông với nhau. Một người làm công tác ngoại giao thì phong cách đi đứng, ăn mặc sẽ khác với một người làm nghề phu xe . Người mà cung Tài rất tốt ( triệu phú, tỷ phú) cuộc sống vật chất đầy đủ thì phong cách cũng đầy đặn, phưng phi khác với những người nghèo, không những khác nhau về cách hành xử mà còn khác nhau cả về khiếu thẩm mỹ và ẩm thực. Người làm quan cao sẽ có vẻ bề ngoài cao sang, có quý tướng được trọng vọng hoặc người có danh tiếng trong xã hội thì thường có vẻ thanh cao ắt cũng được sự kính nể của mọi người....Một cung Mệnh không thể hiện được địa vị quan chức trong xã hội hay sự giàu nghèo của một cá nhân mà phải kết hợp với cung Tài, cung Quan. Người mệnh tốt chính tinh miếu địa vẫn có thể nghèo hoặc chẳng có quan chức gì nếu cung Tài, cung Quan xấu và ngược lại, cung Mệnh tuy xấu nhưng cung Tài, cung Quan tốt thì vẫn phú quý. Mệnh chỉ có tác dụng hỗ trợ hoặc triết giảm tính chất của các cung khác.
Đối với những trường hợp cung Mệnh bị Tuần hoặc Triệt thì có nghĩa là Tuần -Triệt đã ngăn cản sự chi phối qua lại giữa cung Mệnh với Quan, Di, Tài. ở những trường hợp này qua dáng vẻ bề ngoài ta khó mà nhận biết được đối tượng là người giàu, nghèo, quan chức hay là thường dân. Ví dụ:
- nếu cung Mệnh xấu bị Tuần Triệt nhưng cung Tài hoặc cung Quan rất tốt thì người đó vẫn có địa vị lớn hoặc rất giàu có mặc dù trông dáng vẻ bề ngoài xấu xí hoặc tướng mạo bần tiện. Thường rơi vào trường hợp của những người trọc phú hoặc quan chức có dị tướng nhưng thoáng nhìn có dáng điệu như nông dân. Lúc này muốn biết rõ hơn về cuộc sống và diện mạo của đối tượng thì chỉ cần xét các sao trong cung bản cung và các sao hạn. Nếu các sao trong cung Mệnh tốt, có nhiều cát tinh thì cuộc sống người đó vẫn thỏai mái và hình dáng trông vẫn có phong độ phú quý.
- trường hợp gặp Tuần, các sao vẫn được xét như bình thường; trường hợp gặp Triệt, cần chiết giảm 1/2 tính chất của các sao.
- Nếu cung Mệnh đẹp, có nhiều cát tinh mà cung Tài, Quan , Di xấu lại bị Tuần hay Triệt thì người đó cho dù tướng mạo tốt nhưng vẫn không phải là kẻ có quan chức hay giàu có. Mặc dù bị Tuần - Triệt, không được sự hỗ trợ của cát tinh từ cung Mệnh nhưng các sao trong cung Tài, Quan, Di tốt tạo thành cách cục giàu hoặc sang quý, người đó vẫn giàu hoặc có địa vị cao.
Cung Mệnh phản ánh hình ảnh thể hiện ra bên ngoài của một cá nhân trong cuộc sống thọ yểu, sang hèn hay là người hiền lành, dữ tợn hay đa cảm, nhân hậu, người trí thức, thương gia, lương thiện, võ biền, thanh cao, phúc hậu, phong độ uy nghi, hình dáng đẹp đẽ hay cả dị tật, bệnh tật trên cơ thể.
Một số cách cục thể hiện từ cung Mệnh:
- Tang Môn - Bạch Hổ , Thiên khốc - Thiên Hư đóng mệnh nét mặt không tưi. Nếu Mệnh hội đủ cả khốc, hư, tang, mã thì là người khắc thân nhân( khắc ở đây là tính theo lý ngũ hành,về sinh học mặc dù có thể người đó rất hiếu thuận). Và trong cuộc đời thường hay gặp chuyện buồn về tinh thần, tình cảm. Nếu Mệnh tốt, cung Quan tốt có Sát Phá Liêm Tham miếu địa kèm theo những sao chỉ quyền lực như Thái tuế, Đẩu quân, Hoá quyền, Hoá khoa, Hoá lộc, Thiên khôi, Thiên việt, Quốc ấn..... và các hung sát tinh miếu địa thì thường là người hoạt động binh nghiệp hoặc chính trị. Thể hiện tính cách mạnh mẽ dám vượt mọi khó khăn, gian khổ - Thường là cách cục của những lá số của những người làm chính trị hay là võ tướng lẫy lừng. Những người gây dựng được sự nghiệp lớn thì Mệnh - Tài - Quan - Di thường có đủ cả cát tinh lẫn hung tinh như Kình, Đà, Không, Kiếp.
Hung tinh đắc địa phát dã như lôi
Cát tinh đắc địa tầm tầm sự nghiệp.
dungkq
24-02-2005, 12:37 PM
Tôi đã nhận được tin nhắn, nhưng mấy hôm nay tôi phải đi cầy rồi nên không có thời gian hồi âm lại cho các bạn được, mong mọi người thông cảm. Những vấn đề về cuộc sống con người theo tôi các bạn có thể nhờ các bác buikimdinh, TrầnNgocai, Chính ấn hay bác Thiênkhoitimvui luận giúp vì những người này có nhiều kinh nghiệm hơn tôi. Riêng về Tửvi, Chính ấn sẽ thay tôi viết tiếp phần còn lại.
dungkq
28-02-2005, 01:56 PM
Chắc là có vấn đề kỹ thuật khi di chuyển, bộ phận kỹ thuật sẽ giúp bạn làm việc này. Bây giờ tôi xin phép tiếp tục bài viết.
Ngược lại, mệnh xấu, chính tinh hãm địa, kèm theo Địa kiếp, Địa Không, Thiên không,Thiên hình, Kiếp sát thiếu các sao cát tinh trợ lực thì là trộm cướp, hại người.
- Khi mệnh có các sao văn tinh, đài các hội tụ như Hoá khoa, Văn khúc, văn Xưng, Thiên khôi, Thiên Việt, Long trì, Phượng các, Phong cáo, Thai phụ, hung sát tinh ít xâm phạm thì đó là người thông minh, học giỏi - cách cục của những văn nhân, trí thức tài năng.
- Mệnh có Thiên quan, Thiên phúc, cô thần - qu tú, Thiên không, Thanh long, Hoa cái, Thiên riêu, tam - tứ Đức (Thiên đức, Nguyệt đức, Long đức, Phúc đức) là người mộ đạo, tu hành, ưa làm việc thiện, có trực giác tốt, giỏi các môn khoa học thần bí.
- - Mệnh gặp Kình dương, Lực sỹ, Địa không, Địa kiếp, thường là người phi lao động vất vả nhất là khi chính tinh hãm địa, càng lớn tuổi càng gặp nhiều khó khăn. Nếu Kình dương, Lực sỹ gặp Thanh Long, Hoa cái thể hiện là người có khả năng đặc biệt hoặc luyện khí công có thành tựu - cách cục của những võ sư giỏi.
- Mệnh gặp Địa kiếp (Địa Không), Thiên không, Lưu hà, Thiên trù, Hoa cái, Đà la, cung Tài - Quan xấu là số của những người nghèo khổ, tha hương khất thực (Thiên trù là sao chủ sự ăn uống gặp cát tinh là người thường được người khác mời ăn, khả năng ẩm thực tốt nhưng gặp hung tinh thì ám chỉ đồ ăn của thiên hạ).
Một số tính chất cơ bản của cung Mệnh phản ánh ra bên ngoài trong con mắt của mọi người ( những câu phú kinh nghiệm kèm theo sự chọn lọc trong sách tham khảo Dịch lý huyền cơ ):
Tử vi mặt đỏ lưng dầy
Tính thời trung hậu, mặt đầy phương phi.
Thiên cơ thanh tú, mình dài
Tâm từ tính cấp, đa tài đa mưu.
Thái dương mặt hóp, thân dài
Thông minh tươm tất, thảo ngay, hiền hoà.
Vũ khúc mà ở mệnh cung
Ngoài thì đầu nhỏ, bên trong nốt ruồi,
Lại thêm cô - qu, Kiếp - Không
Chung thân cô độc chẳng nhờ được ai.
Thiên đồng đầu lớn lưng dầy
Hình thời phì mãn, tượng rày phương viên,
Ôn lương mà lại hiền hoà.
Liêm trinh hỏa diện thân trường,
Đắc địa đoan chính phân minh
Còn thời hãm địa khá kinh
Lộ hầu, lộ nhãn, mặt mày vàng xanh
Tính thời táo bạo tương tranh
Khi dữ khi lành du đãng hạ tiện, cô hàn.
Thiên phủ miếu vượng khá thông
Mặt tròn da trắng ôn dung thuần hoà.
Quiet Sea
02-03-2005, 07:11 AM
Sát Kình ở tại Ngọ cung,
Tai ưng thảm khốc chờ trong cuộc đời.
Nhưng Giáp Kỷ là người cái thế,
Bậc anh hùng địa vị thênh thang.
(Tửvi thực hành - dịch lý huyền cư)
mệnh ở cung Ngọ có Thất Sát, Kình Dương thì trong cuộc đời phi gặp tai ưng thảm khốc, có sách còn chú giải là chết chém. Nhưng nếu người tuổi Giáp, tuổi Kỷ thì lại là bậc anh hùng có địa vị lớn.
Trường hợp Tuổi Giáp Kỷ thì sai vì Tuổi Giáp Lộc tại Dần, Kình tại Mão, tuổi Kỷ Lộc tại Ngọ Kình tại Mùi. Không có trường hợp Kình tại Ngọ cho 2 tuổi Giáp Kỷ.
Gửi người có duyên,
Câu phú này không sai đâu, với cách an bình thường không có gì thay đổi.
Thử soi nó ở một góc khác, có thể sẽ thấy!
tình thân.
dungkq
07-03-2005, 12:26 PM
Bác QS em đâu có cho rằng mấy câu phú đó là đúng, chúng sai đấy chứ. Nếu bác có kiến giải gì riêng thì chỉ dẫn giúp vài lời nhé.
dungkq
07-03-2005, 12:31 PM
Vũ khúc mà ở mệnh cung
Ngoài thì đầu nhỏ, bên trong nốt ruồi,
Lại thêm cô - quả, Kiếp - Không
Chung thân cô độc chẳng nhờ được ai.
Thiên đồng đầu lớn lưng dầy
Hình thời phì mãn, tượng rày phương viên,
Ôn lương mà lại hiền hoà.
Liêm trinh hỏa diện thân trường,
Nguyệt miếu vượng người to lớn, mặt hiền
Gặp hãm cung hi ốm mà cao
Tính ưa ngâm vịnh tiêu dao
Danh tài nếu có nhờ vào văn tinh.
Tham lang chỉ thích ăn sang
Miếu thời người lớn là dòng lược thao
Hãm cung Tỵ Hợi xấu sao
Nhỏ người mê mệt tiêu hao phong tình
Hiểm độc mà lại đa kinh
Tham tình tham sức quen mình bạc hung.
Cự môn mình tròn, da trắng, tóc mây
Cát tinh hội tụ thực đầy vinh xưng
Cự hãm địa là người đa ngôn
Đa nghi tính toán thêm phần tối tăm,
Nếu không có Đào Hồng tưng hội
Người môi thâm số ấy hiếm con.
Thiên tướng đứng đắn lạ thường
Miếu địa tướng mạo uy nghi thanh nhàn
Tính thời chẳng chịu nói càn
Lòng thời nhiệm nhặt mọi đàng ung dung.
Thiên lưng lòng lành, cẩn thận, thanh cao ai tày
Hãm cung ngộ sát (tinh) ưu phiền
Nam đa lận đận, nữ duyên ưu phiền.
Thất sát mắt lớn dọi đèn
Việc làm muốn chóng một phen cho rồi
Tính thời hay động hay thôi
Lại thêm tính nóng thẳng ngay
Bạo hổ băng hà nào sợ có ai
Miếu cung mệnh lớn thanh cao
Ri vào hãm địa bạo hung điêu tàn.
Phá quân lưng đầy, mình thấp lại là mi thưa
Tính cưng chẳng có ai ưa
Miếu cung c trí hn người
Hãm thời bạc ác chẳng vừa được đâu.
Vũ Tham đầu nhỏ mình to.
Phá Liêm xốc xếch sức đo hn người.
Khúc Xưng là bậc thông minh, đa tài.
Thật thà đứng đắn là làng Đồng - Lưng.
Việt Khôi là cách văn chưng
Thiên Khôi - trong nhà con trưởng, ra ngoài bậc trên
Thiên Việt, Không ( Kiếp ) da đen.
Mặt sáng ấy hội Khoa Quyền
Vũ Tham, Hoá Lộc râu liền đến tai.
Phong cáo - Thai phụ giao hoan
Nếu không danh tiếng cũng người ngợi khen
Long trì - Phượng các ấy ai dịu dàng.
Đẹp thay T - Hữu một phưng
Tính thời trung hậu thường hay giúp người.
Thiên mã nhập mệnh đa năng mẫn tiệp
Khốc Hư Tang Mã mặt thường không tưi,
Thân nhân khắc kỵ chẳng ai lâu bền.
Tham - Đào tốt tóc xanh râm
Mắt đen Vũ - Kỵ chẳng nhầm một ai.
Phá ( toái) - Thái tuế lợi khẩu nói to .
Hoá kỵ lắm chuyện đa nghi bực mình.
Trường sinh - Lực sỹ thọ trường thiên địa.
Mộc dục làm dáng ai bì
Hay khoe cũng là bởi vì Lâm quan.
Quý ( Thiên quý) - Ân ( quang) là khách phong tao
Trên nào cũng mến dưới nào cũng yêu.
Thanh Long c biến đủ điều
Trong đời sẽ có một lần đổi cung
(thay cung đổi mệnh, hoặc thay đổi họ tên)
Tấu thư nói ngọt người theo ngay về.
Hỷ thần - Thiên hỷ hai sao
Đóng đâu thì đó là ni vui cười.
Ân quang, Thiên quý đẹp thay,
Quý nhân phù trợ những ngày khó khăn.
Đào, Hồng mặt mũi xinh tưi,
Lại gia Không - Kiếp là người yểu vong
Đào, Hồng, Riêu, Hỷ trong ngoài
Lại gia Binh, Tướng gái trai hoang tàn.
Ho Linh mặt khó sầu đăm đêm ngày.
Kình dưng tai kém mình gầy.
Đà la mắt lớn, chân tay thì dài
Giáp Kình - giáp Đà e thân phi gầy.
Đào - Hồng mặt mũi xinh tưi
Kình, Đà, Kiếp ( Không), Kị ấy người tật thưng.
Vũ, Riêu, Phá toái nói ngọng lẽ thường
Lại thêm Việt Kỵ ấy phường điếc câm.
Tham Lang hãm địa ấy là
Người trong hai nách mồ hôi một lò.
Âm - Dưng lạc hãm không nên
Lại thêm Riêu Kị mắt thường tật thưng
(Thái âm mắt phi, Thái dưng mắt trái).
Đà la, Văn khúc hắc chí( nốt ruồi) điểm to.
Cự Môn, Hoá kị đa nghi hão huyền.
Cô thần - Qủa tú ni cung mệnh
Tính người cô độc chẳng gần được ai.
Việc làm táo bạo những toan hn người.
Làm xong lại thấy âu lo
Âý người Vũ( khúc) - Thất (sát) tưng phò mệnh viên.
Thiên khôi Đế vượng tinh trần
Nốt ruồi điểm ở trong thân khá nhiều.
Linh tinh hà tiện bao nhiêu
Phá quân lai lại tính liều tiêu vung.
Thiên khôi Hình kỵ một nhà
Trên đầu có vết dễ mà sai đâu.
Thái tuế Hoá kỵ liệt hòi
Chua ngoa miệng lưỡi ấy người đa ngôn.
Cô - Qủa Quan Phúc hội miền
Lại không Tuần - Triệt cửa thiền định thân.
Thiên mã mà ngộ Đà la
Lại gia Không - Kiếp tật thưng ấy là.
Song hao Vũ khúc mệnh cung
Ây người gầy nhỏ chẳng sai chút nào.
Cô - Qủa Hình Kiếp lâm vào
Mệnh cung ấy sẵn có ngày ngục trung.
Tấu thư, Hoa cái thanh kỳ
Mộc, Riêu, Hoa cái ắt thì dâm bôn .
Tứ linh: Hổ, Cái, Phượng, Long
Công danh, quyền thế lẫy lừng một khi.
Quiet Sea
08-03-2005, 06:02 AM
Giáp = dương mộc, Kỷ = âm thổ.
Cách người xưa nói ngắn gọn là thế; vì vậy khi đọc phú, nên để ý đến những cách nói ngụ ý này.
Chúc vui.
Độc Hoạt
08-03-2005, 11:24 AM
Nói sai cũng được , nói đúng cũng OK ;
SAI : Giáp Thân & Kỷ Sửu ( Kỷ Sửu còn tệ bại hơn Giáp Thân)
ĐÚNG : CÒN TÙY THUỘC VÀO YẾU TỐ GIỜ SINH
Quiet Sea
08-03-2005, 02:02 PM
Gửi Độc Hoạt,
Nội lực của bạn khá lắm! Lâu lắm rồi mới gặp được người có thể tâm giao. Chúc mừng diễn đàn Chân Thuyên có sự hiện diện của bạn. Hy vọng có ngày được đọc sách tử vi của bạn một ngày gần đây.
Tình thân.
Độc Hoạt
09-03-2005, 09:51 AM
Tuổi Kỷ Sửu thì Tuần đóng tại Ngọ-Mùi (Thất Sát bị Tuần thì chằng còn gì là sát cả) lại thêm Tử Phù ;
Tử Phù là cái thẻ bài gắn đằng sau gáy của tử tội thời xưa khi ra pháp trường , xung chiếu cung Thiên Di có Trực Phù là lệnh Chết
(cái thẻ bài mà viên quan khi ra lệnh chém tử tù thì ném xuống đất)
(Tử Vi Đại Toàn / chương Hình Tượng và Ngũ Sự)
Tuổi Kỷ Lộc Tồn tại Ngọ , Kỷ Sửu thì Lộc Tồn + Tử Phù : cái Lộc để lại sau khi đã chết !!!! mong gì mà ham
Chưa bàn đến Lộc Tồn Ngộ Tuần : là cái hộp rỗng , kho tàng rỗng
Phúc đức ngộ Triệt !!!!
dungkq
10-03-2005, 09:39 AM
Hai bac QS va DH co the giai thich ro hon nua ve van de nay duoc khong a, em van dang theo doi cuoc thao laun cua hai bac --g--
Độc Hoạt
10-03-2005, 04:18 PM
DungKQ cứ viết tiếp đi , cái gì cần nói thì ĐH nói ,
(xin lỗi nhé hôm vừa rồi hẹn với DungKQ mà không gặp được , thôi cho ĐH hẹn dịp khác ,chắc chắn sẽ có một chuyến du Bắc Hà đó )
dungkq
10-03-2005, 05:38 PM
Bac DH cu yen tam, bac ra Bac ha khi nao thi em thit cho khi do.
Nhung de viet tiep thi can lam ro nhung van de ma hai bac dang thao luan da. Theo em thi nhung cau phu tren hoan taon la sai, vi khi da an sao xong roit hi tuoi nao cung nhu tuoi nao va khong nhat thiet Tu phu luc nao cung la cai lenh chet, vi neu vay thi ngay trong la so cua em cung The co Tu phu vay thi vo em bi mac toi lon vay sao. Tu phu la mot sao thuoc vong Thai tue thi dau co the coi do la cai an phai mang duoc. Mong hai bac tiep tuc cung em lam ro vu nay de loai bot mot so sach vo nguy thu cho ke hau hoc do roi long.
Độc Hoạt
14-03-2005, 05:07 PM
1/ Có thể nói rằng trong 110 sao , 12 sao trong vòng Thái tuế nói riêng đềi có một ý nghiã, hình tượng cụ thể . Như trường hợp cặp sao Trực Phù - Tử Phù đã nêu ở trên thì trong bộ Tử Vi Đại Toàn trong chương Hình Tượng và Ngũ Sự có đề cập đến ( Dà La , Kình Dương , Hoá Kỵ đã có nói rồi) ngoài ra các vị thâm nho nghiên cưú TV trước 75 trong miền Nam trong khi bàn về vòng Thái Tuế cũng có nói đến hình tượng này , kể cả cụ TL ( nhưng trong 4 cuốn sác mà cụ là tác giả thì lại không thấy nói đến điều này ???).
2/Tuy nhiên các ý nghĩa này đa phần khi đề cập đến NẾU không xác định rõ là ở cung nào ( tài, quan ,di ...) thì ngẩm hiểu là tính chất đó áp dụng khi sao đó đóng tại Mệnh . Cho nên không thể nào áp dụng y chang, một cách máy móc ý nghĩa đó cho các cung khác được !!!!
mà cần phải có sự tìm hiểu lâu dài - KINH NGHIỆM , ví dụ như Tang Môn thủ mệnh thì người đó luôn luôpn có nét mặt u buồn lo lắng, nếu giả sử Tang môn đóng cung khác như Nô Bộc chẳng hạn thì chẳng lẽ người này chơi với bạn có nét mặt u buồn hay sao !!!
3/ Mạch văn trên đang nói về Sát Kình ở tại Ngọ cung , tại ương thảm khốc CHỜ trong cuộc đời , có nghĩa là sẽ xẩy ra khi HỘI THÊM MỘT SỐ YẾU TỐ NỮA, vậy thì khi nào thì điều này xẩy ra , VÀ phải hội thêm các YẾU TỐ NÀO ???
4/ TO DungKQ , câu hỏi không khó trả lời đâu nhưng chờ có dịp sẽ nói .
dungkq
15-03-2005, 09:38 AM
Nhung gi bac noi o tren em dong y, nhung tai sao bac Doc Hoat lai cu phai cho dip moi noi nhi, em muon bac noi luon o de em va moi nguoi con hoc hoi.
Rieng ve viec:/ Mạch văn trên đang nói về Sát Kình ở tại Ngọ cung , tại ương thảm khốc CHỜ trong cuộc đời , có nghĩa là sẽ xẩy ra khi HỘI THÊM MỘT SỐ YẾU TỐ NỮA, vậy thì khi nào thì điều này xẩy ra , VÀ phải hội thêm các YẾU TỐ NÀO ??? thi em cung dong y. Nhung neu cho rang 2 tuoi Giap - Ky nam ngoai le thi cau phu viet khong dung. Tuvi khong phan biet tuoi tac, ngay gio, da len la so thi tat ca deu co co hoi nhu nhau tuy thuoc vao la so. Vi vay nhung cau phu Tuvi ma co su phan biet nhu vay thi chung to nguoi viet cung chua hieu het van de nen can loai bo de tranh su lang nhang rac roi.
dungkq
17-03-2005, 12:17 PM
Chú ý:
Các chính tinh trong Mệnh chỉ phan ánh được nét chung nhất mang tính khái quát của một người nên cần phai xét ca các phụ tinh. Nếu không tạo được cách cục rõ ràng thì trường hợp cung mệnh có 2 chính tinh, sẽ thể hiện tính chất của ca hai chính tinh. Mệnh gặp Tử Phủ Vũ Tướng, Sát Phá Liêm Tham, hay C Nguyệt Đồng Lưong, Âm Dưong đều có thể là người tu hành hay quan chức, thư lại, văn nhân, ông chủ.... Quan sát chính tinh sẽ thấy được diện mạo và cuộc sống đặc trưong của mỗi người. Người mệnh Tử Phủ Vũ Tướng thường có hình dáng khuôn mặt phưong phi đầy đặn, mệnh của những ông chủ hay quan chức hoặc đi tu cũng dễ đạt địa vị cao. Mệnh Sát Phá Liêm Tham thường có khuôn mặt góc cạnh. Mệnh Co Nguyệt Đồng Lung có hình dáng thanh cao, đầy đặn. Nhưng nhiều khi tuỳ vào từng lá số mà tính chất thể hiện ra bên ngoài không hoàn toàn như vậy.
Ví dụ: mệnh Cự Môn mà gặp ( hoặc hạn gặp) Địa không (Địa Kiếp) Song hao thì không còn mình tròn da trắng tóc mây nữa mà dáng gầy, da trắng, miệng xấu; Tử vi, Thất sát bị Triệt thì dáng người gầy nhỏ.......hoặc:
Thiên mã mà ngộ Đà la
Lại gia Không - Kiếp tật thưong ấy là.
Cô - Qủa, Quan - Phúc hội miền
Lại không Tuần - Triệt cửa thiền định thân.
Không phai cứ gặp cách cục như vậy là khẳng định được ngay, cuộc sống của con người luôn thay đổi theo từng vận trình khác nhau, những tính chất thể hiện ở Mệnh chỉ mang tính khuôn hình định trước và không cố định. Chỉ khi nào hội tụ đủ những điều kiện cần thiết thì mới thành kết qua. Mệnh hội Thiên mã, Đà la, Không - Kiếp nếu vận gặp Khoa - Quyền - Lộc thì có địa vị, tiền bạc, dễ xuât ngoại; gặp Thiên hình, Kiếp sát thiếu cát tinh cứu gii thì mới bị tật thưng. Mệnh gặp Cô thần, Qủa tú, Thiên quan, Thiên phúc không phi sinh ra đã là người tu hành mà chỉ là có điều kiện, tố chất tu hành, nhưng phai gặp vận gặp Thiên riêu, Đào hoa, Hoa cái, Thiên không, dâm tinh không xâm phạm thì mới tu hành. Mệnh Tử Phủ Vũ Tướng cho thấy trước sự phú quý nhưng chỉ khi gặp cát tinh trợ giúp mới phú quý, ngược lại gặp vận Địa kiếp, Thiên không, Đà la, Linh - Ho thì cũng phai bôn ba, lao khổ không bằng mệnh Cự môn hãm gặp Khôi - Việt, Khoa - Quyền - Lộc. Cũng giống như:
Tứ linh: Hổ, Cái, Phượng, Long
Công danh, quyền thế lẫy lừng một khi.
Tứ linh chỉ là những yếu tố nền tang định trước chứ không nhất định là có công danh quyền thế lẫy lừng, chỉ khi vận gặp thêm hoặc nhiều cát tinh hội tụ như: Khoa - Quyền - Lộc, Thiên khôi, Thiên việt, Xưong - Khúc, Quốc ấn mới thành cách cục rõ ràng. Ngược lại nếu vận trình kém, hoặc gặp nhiều hung tinh hoặc gặp Thiên riêu, cô - qua, Tứ đức, Thiên không thì cũng dễ trở thành thầy cúng, tu hành, bói toán....
Mỗi khi luận Mệnh cần phi xem xét kỹ lưỡng các sao tại mệnh và các sao hội tụ để cân nhắc chính xác, không nên bị gò bó bởi lý thuyết của sách vở.
hopthu.com
03-06-2005, 11:54 PM
trường hợp gặp Tuần, các sao vẫn được xét như bình thường; trường hợp gặp Triệt, cần chiết giảm 1/2 tính chất của các sao.
.
nghĩa là các sao trong cung chỉ chiết giảm 1/2 khi gặp Triệt, gặp Tuần thì không chiết giảm sao?
hung06
20-04-2006, 11:52 PM
qun = vua, t? = ch?t > qun t? = vua ch?t , nhu th? ny l sao h? ng Chnh ?n :shock: khi qun, ph?m thu?ng hi...hi... :D chuy?n ny m d?n ra ngoi th ng nguy to r?i :D hi...hi....
Chào anh dungkq
Tôi đang theo dõi loạt bài Tửvi Việt Nam của anh thì đến trang 4 tự nhiên không thể đọc được chữ Việt nữa, không biết tại sao ? Bài rất hay, tức quá không đọc được !
Mong Anh có thể gửi qua email cho tôi được không ? lathoihung@yahoo.com.vn
Sẳn tiện Anh cho tôi xin các soft Kinhdich và Tuvi cua Anh Votri được không ? Tôi biết trễ quá chắc hết phần rồi. Cảm ơn Anh nhiều lắm.
Chúc Anh nhiều sức khoẻ và nhiều hứng thú để có nhiều bài viết bổ ích.
Hoa xuan
23-04-2006, 12:59 PM
Bài của chú Dungkq hay quá mà trang 4 và 5 không đọc được. Xin ban kỷ thuật sửa dùm. Cháu nghỉ là rất nhiều người cũng mong được đọc như cháu.
vBulletin® v3.6.11, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.