View Full Version : Những Bệnh Lao Khác Ngoài Lao Phổi
Chân Trân
02-03-2007, 01:20 AM
<HR style="COLOR: #d1d1e1" SIZE=1><!-- / icon and title --><!-- message -->Tóm Tắt: Bài này tóm lược trình bày những bệnh lao ngoài lá phổi. Bệnh phát hiện dưới nhiều hình thức như: lao hạch, lao màng phổi, lao xương, lao não, và lao bụng như lao ruột, lao phúc mô, và lao bộ phận đường tiểu hay bộ phận sinh dục, lao vú, lao kê.
Bệnh lao ngoài phổi rất thông thường ở Việt Nam và nhiều lục địa khác trên thế giới như Phi Châu, Nam Mỹ Châu và Á Châu.
Mặc dầu lao ngoài phổi rất hiếm ở Mỹ, nhưng lác đác vẫn thấy trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Bệnh lao ngoài lá phổi càng ngày càng trở nên quan trọng, đặc biệt trong những năm gần đây, kể từ khi dịch HIV/AIDs phát hiện trên thế giới.
Summary: The present paper summarizes various forms of extrapulmonary tuberculosis, such as tuberculous lymphadenitis, pleural tuberculosis, skeletal tuberculosis, central nervous system tuberculosis, abdominal tuberculosis (gastrointestinal tuberculosis, tuberculous peritonitis, and genitourinary tuberculosis).
This disease is very commonly seen in Việt Nam and in many other continents in the world such as Africa, South America and Asia.
Extrapulmonay tuberculosis is very rare in the United States, but sometimes it is still seen in the Vietnamese community.
The recent epidemiology of HIV/AIDs has again brought extrapulmonary tuberculosis into focus.
Bệnh lao phổi vẫn còn là loại bệnh nguy hại nhất tại nhiều nước trên thế giới. Bệnh lao ngoài lá phổi thường thấy ở những bệnh nhân vùng Ðông Nam Á Châu, kể cả Việt Nam, nơi có bệnh nhân bị nhiễm HIV, và rất nhiều trẻ em.
Riêng tại Mỹ, trước năm 1985, cứ mỗi năm lại giảm tỉ lệ lao là 5%. Kể từ 1985 tới 1992, khi bệnh AIDS bùng phát thì bệnh lao tái phát trở lại. Ðặc biệt, lao bộc phát tại nhiều cơ quan khác trong cơ thể, ngoại trừ phổi. Bệnh lao cũng xâm nhập vào Mỹ từ những di dân mới tới Mỹ (53% năm 2003).
Bệnh lao ngoài phổi càng ngày càng trở nên trầm trọng và được lưu ý nhiều hơn là bởi nhiễm HIV hay bệnh AIDS hỗn hợp vơí lao ngoài phổi càng ngày càng nhiều. Bệnh lao ngoài phổi nguy hại lâm sàng như lao lá phổi.
Hiện giờ có tới 50% bệnh nhân vừa bị AIDS vừa bị lao ở Mỹ. Bệnh lao ngoài lá phổi cũng tăng cao vì hệ thống miễn dịch yếu kém do AIDS gây ra. Lao tại nhiều cơ quan khác trong cơ thể giải rác khắp nơi, tiến triển rất mau lẹ, đặc biệt lao hạch trong bụng, lao làm mủ và thử nghiệm lao âm tính. Hiện giờ ở Mỹ có khoảng 4,000 bệnh nhân bị lao nhiễm những cơ quan khác trong cơ thể ngoài lá phổi. Bệnh lao ngoài phổi có thể thấy riêng rẽ nhưng cũng có thể xuất hiện đồng lúc vơí lao phổi.
Khi khám bệnh lao phải luôn luôn lưu ý lao ngoài lá phổi.
Thí dụ:
1) Bụng báng có nước có nhiều tế bào trắng lymphocytes và cấy vi trùng lao âm tính.
2) Lao hạch kinh niên, đặc biệt ở cổ.
3) Nước tủy sống chứa nhiều tế bào trắng lymphocytes, chất bạch đản xuống thấp và đường glucose lên cao.
4) Cần phân biệt lao ngoài lá phổi vơí bệnh ruột Crohns và bệnh do ký sinh trùng amíb.
5) Thũng nước trong màng phổi (khoảng chống giữa phổi và xương sườn), nhiều tế bào trắng lymphocytes và khi cấy vi trùng thấy âm tính.
6) Nhiễm siêu vi trùng HIV.
7) Một khớp xương bị viêm và khi cấy vi trùng không thấy gì.
8) Mủ lao không có vi trùng.
9) Người bị lao di dân từ vùng có lao tơí Mỹ.
10) Bao tim có nước mà không biết nguyên do, viêm bao phổi co lại hoặc đọng chất vôi.
11) Viêm xương trong cột sống, xương ngực.
Trong việc chẩn bệnh, cần phải lưu ý lao phát hiện ngoài lá phổi trong những trường hợp như sau (nhất là ở Mỹ):
1) Tất cả mọi bệnh nhân bị lao đều phải thử nghiệm HIV,
2) Tất cả mọi bệnh lao đều phải tường trình Sở Y tế,
3) Cần điều trị bằng corticosteroids khi bệnh nhân bị lao màng óc, lao bao tim và lao kê, từng hạt nhỏ rải rác trong phổi hay cuống phổi (miliary tuberculosis),
4) Cần phải theo dõi bệnh nhân kỹ lưỡng để chắc chắn bệnh nhân vẫn tiếp tục uống thuốc đều đặn và xem bệnh lao có bị đề kháng thuốc hay không,
5) Trước khi dùng thuốc TNF-alpha inhibitor trong việc điều trị, phải phân biệt đây là lao tiến triển nhanh hay chậm. Khi bệnh nhân vừa bị lao phổi vừa bị lao thanh quản thì cần phải cách biệt bệnh nhân cho tới khi nào an toàn.
Phân biệt từng bệnh lao rất quan trọng trong việc điều trị lao ngoài lá phổi.
Chân Trân
02-03-2007, 01:22 AM
Lao Hạch : Nếu nói về tất cả mọi loại lao ngoài lá phổi thì phải kể lao hạch thông thường nhất. Lao hạch thấy nhiều ở cổ, hai bên háng, nách, ruột, trung thất trong phổi, và ở vú phụ nữ. Tại những nước bị dịch lao thì lao hạch cổ thường thấy nhiều nhất.
Ngày xưa, lao hạch thường thấy nơi trẻ em hay những ngưòi còn trẻ. Bây giờ, lao hạch có thể xuất hiện ở những người lớn tuổi từ 20 tới 40, đặc biệt ở Mỹ, nhất là phụ nữ và những di dân từ những nước khác có bệnh lao vào Mỹ. Phát hiện lao hạch giữa bệnh nhân bị HIV và không nhiễm HIV khác nhau.
Bệnh nhân lao hạch không nhiễm HIV nổi hạch không đau và kinh niên. 2/3 bệnh nhân nhiễm HIV bị lao hạch ở cổ. Tiếp đó thường thất ở nách hay ở bẹn. Bệnh nhân lao hạch, nhiễm HIV, thường bị nóng sốt, ra mồ hôi đêm, và mất cân lượng. Nhưng cũng có trường hợp chẳng có triệu chứng gì. Lao hạch lúc đầu còn nhỏ và cứng, không đau. Sau đó từ từ lớn lên và thấy hiện rõ.
Nếu không điều trị, hạch lao diễn biến chia thành 5 giai đoạn:
1) giai đoạn 1: hạch lớn lên, cứng lại, và khi rờ thấy hạch di chuyển,
2) giai đoạn 2: hạch lao lớn lên, không di động, bao vây bởi những lớp viêm xung quanh hạch,
3) giai đọan 3: vùng giữa hạch lao mềm ra vì làm mủ,
4) giai đoạn 4: hạch lao bể và
5) hạch lao đục lỗ, thành đường mương, chảy mủ ra ngoài.
Ngoài ra, nếu không điều trị thì hạch lao càng ngày càng mọc nhiều thêm.
Cần lưu ý là thường rờ hạch lao không đau, nhưng nếu bị đau tức là bị nhiễm thêm vi trùng khác.
Phần lớn bệnh nhân chụp hình phổi không thấy gì nhưng khi thử lao ngoài da thì thấy có “dương” tính. Chẩn bệnh là phải làm sinh thiết hạch lao, cấy lao, phân tích mô học. Nên thử nghiệm phản ứng “Polymerase chain reaction, PCR) cho vi trùng lao Mycobaterium tuberculosis bằng cách hút kim sinh thiết từ hạch lao sẽ có hiểu quả khá hơn.
Khi hạch lao bị làm mủ và bể thì cần phải rạch và nặn mủ.
Chân Trân
02-03-2007, 01:23 AM
Lao Bao Màng Phổi (Pleural tuberculosis) : Lao bao màng phổi ở Mỹ chỉ có khoảng 5%. Nước trong bao màng phổi xuất hiện ngay từ lúc lao bắt đầu sau khi mơí chớm lao, bị lao kinh niên, hay nổi thành từng hạt kê trong phổi. Nước màng phổi thường xuất hiện khi bị lao cấp tính và triệu chứng phát hiện từ vài ngày tơí vài tuần lễ.
Triệu chứng lao màng phổi gồm có: ho, đau ngực nơi màng phổi, nóng và khó thở. Trong trường hợp nhẹ, bệnh nhân bị sốt nhẹ, ít đau ngực, ho, mất cân, và ăn không ngon. Khi bị lao màng phổi có mủ, bệnh nhân thấy khó thở, đau ngực, ho có đờm, nóng, và người như trong tình trạng trúng độc.
Chụp hình quang tuyến thấy có nước trong màng phổi, nhiều hay ít, cùng lúc vơí vết lao trong phổi (chừng 20%). Chụp hình phổi cắt lớp CT thấy lao hạch rõ ràng hơn, ngoài ra còn thấy những vết nám trong phổi, hay lủng phổi.
Trong trưòng làm mủ, chụp hình thấy như có bướu.
Thử nghiệm nước từ màng phổi cho biết hơn 50% là tế bào trắng, nhiều nhất là tế bào lymphocytes. Mức đường và độ cường toan pH trong nước màng phổi bình thường.
Ðặc biệt, hóa chất IFN-gamma tăng cao trong nước lao màng phổi.
Nhìn thẳng vào nước màng lao (kính phết, smears) chỉ thấy 5% vi trùng lao dương tính. Nếu cấy vi trùng lao thì dương tính lên tơí 40%. Nếu tổng hợp cả 3 cách sinh thiết như nhìn vi trùng lao trực tiếp lấy từ mô trong màng phổi, kính phết AFB, hay cấy vi trùng lao thì tỉ lệ dương tính có thể lên tơí 90%.
Thử lao ở da chỉ dương tính khoảng 2/3. Thử nghiệm sinh hóa học như đo lường adenosine deaminase, interferon gamma, và lysozyme trong nước màng phổi cũng góp phần quan trọng trong việc chuẩn định lao. Thí dụ, adenosine deaminase có thể tìm thấy trong nước màng phổi lao, 99%. Thử nghiệm PCR cho nước màng phổi lao nhạy cảm 80% và đặc thù 100%.
Ðiều trị lao nước màng phổi hiệu quả trong vòng 6 tới 12 tuần lễ.
Chân Trân
02-03-2007, 01:26 AM
Lao Hệ Thống Thần Kinh : Ðây là lao viêm màng não, lao não bộ, hay lao màng nhện sống lưng. Phần lớn lao hệ thống thần kinh xuất hiện sau khi bị lao một nơi nào khác trước đó. Viêm lao màng não thông thường nhất. Phần lớn viêm màng não do vi trùng lao M. tuberculosis. Bướu lao có thể mọc trong não bộ. Nguy hiểm nhất là lao màng não nặng bị viêm nặng làm bể lấn từng vùng màng nhện.
Viêm lao màng nhện đụng giây thần kinh não và mạch máu gây tê liệt giây thần kinh não và “tràn dịch não thông não thất” (communicating hydrocephalus). Viêm mạch máu não làm hư từng vùng não. Sưng não bộ làm hư nhận thức, kinh phong, tăng cao áp xuất trong não hoặc những triệu chứng như có u bướu nén ép não. Bệnh nhân thấy mệt mỏi, bứt rứt, ăn không ngon.
Sau đó, bệnh nhân bị nhức đầu, nóng sốt, triệu chứng như bị viêm màng óc, muốn ói, đầu óc lẫn lộn hay có triệu chứng tê liệt thần kinh từng vùng (20%).
Tê liệt thường thấy nhiều nhất nơí thần kinh số 6. Bệnh nhân có thể mù mắt một phần hay toàn diện. Khoảng 20-30% bệnh nhân bị kinh phong. Nếu không kịp điều trị, bệnh nhân sẽ bị hôn mê. Trường hợp nặng làm mủ lao màng óc gây nhận thức suy yếu, lãng quên, tràn vào viêm não, lên kinh phong. Bệnh nhân có thể chết trong vòng 5 tơí 8 tuần lễ.
Trong việc định bệnh thông thường nhất là lấy nước tủy sống thử nghiệm đếm bạch huyết cầu lymphocyte (tăng cao từ 100 tới 500 tế bào trong một microL). Bạch đản trong nước tủy sống từ 100 tới 500mg/dL. Mức đường trong nước tủy sống thấp hơn 45mg/dL. Truy tầm đếm vi trùng lao trong nước tủy sống “dương tính” từ 10 tới 90%. Cấy vi trùng lao (4 tới 6 tuấn lễ) trong nước tủy sống “dương tính” từ 40-90%. Lấy nhiều nước tủy sống 2-3 lần nhiều hơn sẽ định bệnh nhạy cảm khá hơn. Thử nghiệm PCR cho nước tủy sống có độ nhạy cảm 56% và đặc thù 98%. Phân hóa tố adenosine deaminase trong nước tủy sống tăng cao, giúp phần thêm cho việc định lao tủy sống.
Chụp CT não để truy tầm màng nhện não có bị viêm, nhồi máu não, nước tủy sống trong não hay tràn dịch não, hoặc u bướu lao trong não. Khi đã định được lao màng não thì phải điều trị ngay bằng thuốc. Ðiều trị thuốc trong vòng 9-12 tháng. Thêm kích thích tố corticosteroids như Dexamethasone cho 6-8 tuần lễ đầu.
Lao não từng cục u bướu có thể phát hiện lúc đầu kích thước chỉ bằng vài millimét, dần dần lớn lên có thể đo khoảng 3-4cm. Trẻ em hoặc thanh niên dưới 20 tuổi thường bị lao trong vỏ não (tentorium). Người lớn hay bị lao ngoài vỏ não. Lao trong não vẫn thấy những vùng có dịch lao, khoảng 5-10%. Chụp hình cắt lớp não khám phá lao não, đôi khi có nước xung quanh.
Lao não thường thấy nơi bệnh nhân nhiễm HIV, gấp 5 lần nhiều hơn bệnh nhân không bị nhiễm HIV. Những bệnh nhân chích gân ma túy tăng cao nguy cơ lao não và làm mủ trong não.
Chân Trân
02-03-2007, 01:30 AM
Lao Xương : Lao xương chiếm khoảng 35% trong tất cả mọi thứ lao ngoài lao phổi. Lao xương là do vi trùng lao từ máu dẫn vào xương. Lao xương thường thấy ở đốt xương lưng, đôi khi vài xương khác nữa, như xương háng, khớp xương đầu gối, xương chân, xương cùi chỏ, và xương tay.
Lao xương sống còn gọi là bệnh Pott ở xương sống trên, thấy nhiều nhất. Lúc đầu chỉ ccó những triệu chứng như ăn không ngon, xuống cân, sốt nhẹ vào buổi chiều tối, ra mồ hôi đêm, trước khi xuất hiện triệu chứng lưng. Thường định bệnh khám phá lao xương lưng dưới 30 tuổi.
Khởi đầu, phần trước đốt xương bị hư rồi lan tới đĩa sụn nằm giữa 2 đốt xương lưng và các đốt xương khác. Do đó khi chụp hình quang tuyến thì thấy phần trước đốt xương lưng như xẹp lại. Lao xương lưng làm mủ tràn vào bắp thịt hai bên sống lưng và chảy vào bắp thịt psoas dưới mông. Lao xương sống gây đau lưng hay tê liệt chân (30%).
Lao khớp xương nằm một bên háng hay đầu gối. Triệu chứng thấy đau khớp xương, sưng khớp xương và giảm độ di chuyển khớp xương. Lao khớp xương cũng giống như một loại phong thấp khớp xương. Trong trường hợp kinh niên, mủ lao khớp xương cũng có thể chảy ra. Chụp hình quang tuyến không thấy gì đặc biệt: chỉ thấy sưng khớp xương, đầu xương mất chất vôi, như loãng xương nhẹ, khớp xương xẹp thấp, và sụn xương bị rữa. Lao xương những vùng khác cũng làm nhức xương, ép giân thần kinh như hội chứng đường hầm cổ tay (carpal tunnel syndrome), viêm bao xung quanh khớp xương, hay tê liệt mặt.
Khoảng 50% bệnh nhân lao xương bị lao phổi. Chụp hình cộng hưởng từ trường (MRI) có thể biết thêm chi tiết lao xương như độ hư xương bao nhiêu, lao có lan vào bắp thịt hay xâm phạm những vùng bao quanh cột sống. Cấy vi trùng lao lấy từ nước, mủ khớp xương có “dương tính” 80%. Làm sinh thiết, cấy vi trùng lao, và nghiên cứu mô học là những phương pháp căn bản định bệnh lao xương. Có thể giải phẫu để lấy mủ ra ngoài, cắt bỏ những chỗ bị lao ăn vào, hay đôi khi phải bó bột làm cho cột sống lưng khỏi di chuyển.
Trường hợp lao cột sống không làm hư thần kinh, không ép thần kinh, cột sống không vững vàng, chưa có gì trầm trọng, có thể điều trị lao xương bằng thuốc.
Chân Trân
02-03-2007, 01:31 AM
Lao Bụng : Lao bụng có thể là lao bộ máy tiêu hóa, phúc mạc, hạch bạch huyết trong mạc treo ruột, hay bộ phận đường tiểu. Những bộ phận khác trong cơ thể như gan, lá lách, tụy tạng, hay nang thượng thận có thể bi lao trong trường hợp lao cấp tính toàn diện gây những hạt kê nhỏ lỗ chỗ trong phổi.
Lao Ruột phát hiện khi bệnh nhân nuốt vi trùng lao hay đờm vào bụng hay ăn đồ ăn có vi trùng lao, do vi trùng lao phân tán trong máu hay do vi trùng lao từ nhiều cơ quan khác trong cơ thể lan vào ruột. Vết lao trong ruột có thể lở loét hay sưng lên hoặc lẫn lộn sưng và lở loét ruột.
Triệu chứng lao ruột gồm có: đau bụng, tiêu chảy, mất cân và nóng, ăn không ngon, mệt mỏi, đổ mồ hôi trộm. Bệnh nhân có thể bị chảy máu ruột và rờ bụng thấy đau, đặc biệt vùng bụng dưới bên phải. Khoảng 25-30% rờ bụng dưới bên phải bệnh nhân thấy có cục bướu. Lao ruột xuất hiện nhiều nhất trong vùng tiếp nối ruột ileocecal hay ruột non vùng jejunoileum. Biến chứng lao ruột gồm có: nghẹt ruột, lủng ruột. Xung quanh hậu môn cũng có thể bị mạch lươn hay làm mủ. Lao ruột thường phân biệt với nhiều bệnh ruột khác như: bệnh Crohn, ung thư ruột, nhiễm ký sinh trùng amib, nhiễm trùng Tersinia hay nấm actinomycosis. Ðặc biệt ung thư đại tràng.
Nội soi ruột thấy màng nhày bị lở loét, từng vùng màng ruột dầy lên hay thấy những đường xơ trong ruột. Sinh thiết màng ruột có thấy vi trùng lao, đặc biệt sau khi cấy trùng lao. Những phương pháp định bệnh thường dùng như nội soi trực tràng hay chụp hình quang tuyến đại tràng. Cũng có thể dùng chụp hình quang tuyến cắt lớp. Biến chứng lao ruột gây nghẹt ruột, lủng ruột hay chảy mủ mạch lươn.
Lao tuyến tụy tạng có những triệu chứng như ung thư hay viêm tuyến tụy tạng. Lao lá lách rất hiếm thường thấy trong trường hợp cấp tính lao kê. Lao lá lách có thể giống như viêm lá lách, u bướu hay lá lách làm mủ. Vài trưòng hợp hiếm có trong bệnh nhân nhiễm HIV xuất hiện lao rải rác nhiều nơi trong bụng.
Lao Phúc Mạc thường thấy ở bệnh nhân bị HIV, hay xơ gan, hoặc bệnh nhân thường xuyên lọc thận. Bệnh nhân có những triệu chứng như: bụng báng, nước tụ trong bụng, đau bụng, và nóng sốt. Phân tích nước trong phúc mạc thấy bạch đản thấp hơn 1.1g/dL, tế bào trắng từ 150 tới 4000/mm3, rất nhiều tế bào trắng thuộc lymphocytes. Ðịnh bệnh lao bằng cách cấy nước bụng báng hay truy tầm vi trùng lao. Cũng có thể đo phân hóa tố Adenosine deaminase trong nước bụng báng >33U/L. Ðịnh bệnh lao phúc mạc bằng sinh thiết, chính xác ít nhất 95%.
Chân Trân
03-03-2007, 01:31 AM
Lao Bộ Phận Sinh Dục và Ðường Tiểu : Lao bộ phận sinh dục phụ nữ thường hiếm thấy, nhưng lao cơ quan sinh dục phụ nữ thường phát hiện sau bị lao bộ phận nào đó trong cơ thể. Vi trùng lao nhiễm qua đường máu hay bạch huyết. Nhiễm trùng ống dẫn trứng có thể phát xuất từ lao bụng. Lao thận tăng nguy cơ bệnh muộn, làm đau bụng dưới hay đau vùng chậu.
Lao Da : 2.5% bệnh nhân bị lao gây lao da. Phần lớn do vi trùng M. Tuberculosis.
Lao kê hay lở lao có thể xuất hiện ngoài da. Lao da thường xuyên nhất dưới dạng lupút. Lao da bệnh nhân nhiễm HIV nổi thành cục nhỏ, bao bọc nước hay vết da dầy cứng. Ðôi bị lở và chảy mủ. Thử nghiệm sinh thiết da khi nghi ngờ bị lao da.
Lao Tai Mũi Họng : Trước đây khi chưa có thuốc chữa lao hữu hiệu, lao phổi lây lan sinh bệnh lao tai mũi họng, như lao thanh quản, lao tai, mũi hay xoang mũi. Lao thanh quản thường thấy trong vùng dịch lao. Tại những vùng dịch lao, cứ 100 bệnh nhân lại có 4% bị lao thanh quản.
Lao cổ họng như lao thịt dư cổ họng (tonsuls) tương đối hiếm thấy. Thường bị lao vách từ cổ họng tơí mũi, đôi khi cổ bị làm mủ. Lao cổ họng thường do vi trùng lao khi khạc đờm trong cổ họng. 50% bệnh nhân lao cổ họng bị lao lưỡi. Ðôi khi từng vùng hay lỗ chỗ nhiều vùng như hàm ếch hay lưỡi gà.
Lao tai mũi họng thường bị đau tai, khan tiếng, đôi khi bị thêm ung thư thanh quản. Ngoài ra, lao tai hay lao xoang mũi hoặc lao vùng mũi và cổ họng đều rất hiếm.
Lao Mắt : Khoảng 2-30% bệnh nhân lao phổi bị lao mắt. Lao mắt theo đường máu dẫn vi trùng vào mắt. Tất cả mọi bộ phận mắt bị lao mắt, đặc biệt màng mạch mắt. Lao kết mạc thường xuất hiện lao giai đoạn đầu còn lao cục (tuberculids) thường xuất hiện trong lao giai đoạn sau. Lao lốm đốm như lao kê trong màng mạch mắt.
Lao Vú Phụ Nữ: Lao vú có thể phát hiện lần đầu hay sau khi đã bị lao. Lao vú trực tiếp do vi trùng lao M. Tuberculosis truyền qua đường máu hiếm thấy.
Lao vú sau khi xuất hiện lao từ nơi khác thông thường hơn. Truyền vi trùng lao vào vú qua ngả bạch huyết hay mạch máu, hoặc trực tiếp từ lao xương sườn hay lao bao phổi. Vi trùng lao vú cũng có thể xuấtt phát từ hạch bạch huyết ở nách, cổ hay giữa lồng ngực.
Lao rải rác và lao kê: Khi lao xuất hiện từ 2 chỗ trở lên thì gọi là lao rải rác. Vi trùng lao phân phát tơí những cơ quan chứa nhiều máu như gan, lá lách, tủy xương và xương. Phần lớn khi lành, những vùng lao lỗ chỗ chất vôi. Trong trường hợp lao kê, vết lao không kịp đóng vôi. Khi không lành, làm mủ, và hư hại mạch máu, nghẹt mạch máu. Triêu chứng lao kê gồm có nóng nhẹ, ho và khó thở. Khi lao nhiễm vào cơ quan trong cơ thể thì cơ quan bị sưng lớn. Lao có thể lan vào da, nổi cục. Khi lao vào gan thì gây bệnh vàng da và lớn gan.
Khi vi trùng lao xâm nhập bộ thần kinh thì gây viêm màng não và cục lao. Lao có thể vào tim, thận hay nang thượng thận, nhưng hiếm thấy.
Khi lao kê vào phổi gây triệu chứng như khó thở. Lao phổi có thể làm hư hại mạch máu phổi. Tử vong vì lao kê, khá cao, 40-60%. Ðịnh bệnh lao hạch bằng bệnh lý học như sinh thiết hạch bạch huyết, thử nước như nước trong bao phổi, nước trong bụng báng, nước trong tủy sống hay mô lao. Bây giờ người ta có thể dùng chụp hình cắt lớp (CT scan) hay chụp hình cộng hưởng từ trường (MRI scan), hay siêu âm, phối hợp với nội soi bao tử, đại tràng, nội soi bụng, hay soi bọng đái. Thử nghiêm sinh thiết rất thông thường.
Nói tóm lại, lao phổi và lao những bộ phận ngoài lá phổi được y tế Mỹ lưu ý gần đây sau dịch HIV/AIDs. Lao ngoài lá phổi rất thông thường ở những vùng có dịch lao tại Phi Châu, Nam Mỹ Châu, và Á Châu, kể cả Việt Nam.
Bài này viết vơí mục đích muốn nhắc nhở chúng ta nên lưu tâm một loại lao ngoài lá phổi, đôi khi vẫn thấy phát hiện ở người Việt tại hải ngoại.
Tham Khảo:
1) Voahangry Rasolofo Razanaparany et al.: Extrapulmonary and pulmonary Tuberculosis in Antananarivo (Madagascar) High Clustering Rate in Females, J. Clin Microbiology, 40: 3964, 2002.
2) Jay. B. Mehta et al.: Epidemiology of extrapulmonary tuberculosis: a comparative analysis with pre-AIDS era, Chest, 99: 1134, 1991.
S.K. Sharma and A. Mohan: Extrapulmonary tuberculosis, Indian J. Med. Reseach: 120, 316, 2004.
3) S. Honoré-Bouakline et al.: Rapid diagnosis of extrapulmonary tuberculosis by PRC: Impact of sample preparation and DNA extraction, J. of Clinical Microbiology, 41: 2323, 2003.
4) M. P. Golden et al.: Extrapulmonary tuberculosis: An Overview, American Family Physician, 72: 1761, 2005.
5) H. L. Rider et al.: Extrapulmonary tuberculosis in the United States, Am. Rev Respir Dis, 141: 347, 1990.
6) AW Artenstein et al.: Isolated peripheral tuberculous lymphadenitis. Clin Infect Dis 15: 601, 1995.
7) L Valdes, et al.: Tuberculous pleurisy; a study of 254 patients. Arch Int Med, 158: 2017, 1998.
8) HG Watts et al.: Tuberculosis of bones and joints. J Bone Joint Surg Am, 78: 288, 1996.
A Molavi et al.: Tuberculous meningitis, Med Clin North Am, 69: 315, 1985.
9) JB Marshall et al.: Tuberculosis of the gastrointestinal tract and peritoneum, Am J Gastroenterol 88: 989, 2003.
Trần Mạnh Ngô, M.D., Ph.D.<!-- / message --><!-- sig -->
vBulletin® v3.6.11, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.