View Full Version : Sưu tầm các bài viết hay
ThaiHoa
23-07-2004, 01:59 PM
Có rất nhiều bài viết hay từ các trang web khác mà ta đã từng đọc.... nếu bỏ qua luôn thì có người phải khổ công tìm kiếm mới đọc được. Do vậy tui lập ra post này để sưu tầm các bài viết, các kỹ thuật, các kinh nghiệm học được từ các trang web khác cho bà con tham khảo
SƯU TẦM CÁC BÀI VIẾT HAY
ThaiHoa
23-07-2004, 02:00 PM
15 Thủ Thuật với WINXP
Chuyển sang dùng Windows XP (XP) từ Windows 95/98 (Win9x) cũng giống như chuyển sang dùng Windows 95 từ Windows 3.1 năm năm trước đây. XP được xây dựng trên nền tảng của Windows NT và 2000 vốn có độ ổn định cao hơn nhiều so với Win9x. Ngoài ra, XP cũng sử dụng hệ thống file gống như của NT và 2000. Điều này khiến cho XP trở thành một hệ điều hành (HĐH) đa người dùng thực sự cho PC gia đình. Vì XP là một HĐH còn khá mới mẻ, cho nên bài viết này cố gắng đưa ra một số thủ thuật nhằm giúp người dùng thông thường tận dụng một cách tốt nhất khả năng của HĐH này.
Thủ thuật 1: HÃY DÙNG HỆ THỐNG FILE NTFS
Thật may mắn, XP hỗ trợ cả 2 hệ thống file FAT32 (được Win9x hỗ trợ) và NTFS (được NT và 2000 hỗ trợ). Điều này cho phép người dùng lựa chọn hệ thống file phù hợp với yêu cầu công việc của mình. Tuy nhiên NTFS cung cấp những mức độ bảo mật tốt hơn nhiều so với FAT32. Với FAT32 trong Win9x, ai cũng có thể xâm nhập vào PC của bạn và làm bất cứ điều gì mà họ thích. Với NTFS, bạn có quyền cho hay không cho ai đó sử dụng máy tính của bạn. Và người được phép sử dụng PC của bạn cũng chỉ có thể hoạt động trong khuôn khổ mà bạn cho phép.
Để kiểm tra xem bạn đang dùng NTFS hay FAT32, chọn ổ đĩa cứng trong My Computer, nhấn chuột phải và chọn Properties. Nếu đang dùng FAT và muốn chuyển sang dùng NTFS, bạn hãy thực hiện việc chuyển đổi này từ dấu nhắc DOS trong XP mà không phải lo ngại gì về việc mất mát dữ liệu. Để chuyển đổi sang NTFS từ FAT, bạn chọn Start – All Programs - Accessories, and Command Prompt. Tại dấu nhắc, bạn gõ convert x: /fs:ntfs (x là tên ổ đĩa mà bạn chọn). Cũng cần lưu ý rằng, một khi đã chuyển sang NTFS, bạn sẽ không thể quay trở lại dùng FAT trừ phi bạn định dạng (format) lại ổ đĩa
Thủ thuật 2: TẠO TÀI KHOẢN HẠN CHẾ
Có 2 loại tài khoản người dùng (user account) trong XP: tài khoản người quản trị hệ thống (administrator account) và tài khoản người dùng hạn chế (limited account). Sau khi cài đặt XP thành công, bạn nên ngay lập tức thiết đặt một tài khoản người dùng hạn chế để phục vụ cho các công việc hàng ngày nếu như bạn đang dùng hệ thống file NTFS.
Để tạo một tài khoản người dùng hạn chế, bạn phải đăng nhập vào tài khoản của người quản trị hệ thống (theo ngầm định XP tạo ra tài khoản này khi bạn cài đặt HĐH). Sau đó, chọn Start - Control Panel - User Accounts - Create A New Account. Đặt tên cho tài khoản mới này rồi nhấn Next. Trong hộp thoại mới, chọn Limited Account. Mỗi khi muốn tạo mới hay thay đổi thuộc tính của các tài khoản, bạn nhất quyết phải đăng nhập vào tài khoản người quản trị hệ thống.
Thủ thuật 3: SỬ DỤNG MẬT KHẨU
Sử dụng mật khẩu (password) là một hình thức bảo mật thông tin truyền thống và hiệu quả. Mặc dù Win9x có cung cấp cho bạn chế độ bảo vệ bằng mật khẩu, nhưng đối với đa số người dùng thì tính năng này không có một chút hiệu quả nào. Còn XP làm cho việc sử dụng mật khẩu thể hiện đúng ý nghĩa của nó.
Trong XP, việc bảo vệ các tài khoản bằng mật khẩu không có tính bắt buộc. Tuy nhiên, theo tôi, bạn nên sử dụng mật khẩu với các tài khoản, ít nhất là với tài khoản người quản trị hệ thống.
Theo ngầm định, XP coi tất cả các tài khoản người dùng tạo ra khi cài đặt HĐH là tài khoản người quản trị hệ thống và không yêu cầu mật khẩu khi người dùng đăng nhập vào hệ thống. Để thay đổi điều này, bạn cần phải tạo mật khẩu mới. Trong User Accounts, chọn Change An Account và nhấn vào tài khoản bạn muốn dùng mật khẩu để bảo vệ. Trong tài khoản này, chọn Create A Password và gõ mật khẩu 2 lần. Để việc sử dụng mật khẩu có hiệu quả hơn, theo chúng tôi bạn không nên dùng chế độ “gợi nhắc mật khẩu” (password hint) vì người dùng khác có thể căn cứ vào những gì bạn ghi ở đây để đoán ra mật khẩu của bạn. Sau khi nhấn nút Create Password, XP sẽ hỏi xem bạn có muốn để cho người dùng khác tiếp cận các thư mục và các file trong tài khoản của bạn hay không. Nếu muốn riêng tư hơn nữa, bạn hãy trả lời “KHÔNG” với câu hỏi nêu trên.
Thủ thuật 4: DỰNG TƯỜNG LỬA
Khác với các phiên bản trước, XP có kèm theo một chương trình tường lửa (Firewall) để bảo vệ bạn an toàn khi duyệt Web. Bức tường lửa này dường như là đáng tin cậy, bởi vì cho tới nay chưa thấy có người sử dụng nào phàn nàn về tính năng mới mẻ này trong XP
Có lẽ bạn đã từng tự hỏi: làm sao biết được bức tường đó đã được dựng lên chưa? Để kểm tra, bạn vào Control Panel - nhấn chuột phải vào biểu tượng Network Connections - chọn Properties - nhãn Advanced, và chọn Internet Connection Firewall.
Thủ thuật 5: CHẠY CHƯƠNG TRÌNH BẰNG QUYỀN CỦA NGƯỜI QUẢN TRỊ HỆ THỐNG
XP có chế độ Fast User Switching, chế độ cho phép người dùng chuyển đổi qua lại giữa các tài khoản mà không phải thoát ra và đóng các ứng dụng đang chạy. Để chế độ này hoạt động, bạn mở User Accounts và chọn Change The Way Users Log On Or Off. Trong hộp thoại mới bạn chọn cả Use The Welcome Screen và Use Fast User Switching.
Để chuyển đổi qua lại giữa các tài khoản người dùng, bạn chọn Start – Log Off - Switch User. Để chạy một chương trình với quyền của người quản trị hệ thống, bạn nhấn chuột phải vào biểu tượng của chương trình rồi chọn Run As. Trong hộp thoại mới, chọn tên của tài khoản quản trị hệ thống và nhập mật khẩu, và chương trình sẽ khởi động ngay lập tức. Bạn cũng cần lưu ý, có một số chương trình đòi hỏi bạn nhấn thêm phím Shift cùng với chuột phải.
Thủ thuật 6: CÁ NHÂN HOÁ THỰC ĐƠN START
So với các phiên bản trước, XP cung cấp nhiều khả năng thay đổi thực đơn Start hơn. Bạn có thể thêm, bớt hay thay đổi theo ý mình bất cứ thành phần nào của thực đơn Start. Để làm điều này, bạn nhấn chuột phải vào thực đơn Start và chọn Properties. Trong hộp thoại Task Bar and Start Menu Properties, nhấn nút Customize. Tại đây, bạn có thể lựa chọn dùng biểu tượng to hay nhỏ, cho phép hiển thị bao nhiêu chương trình vừa chạy, và đưa chương trình duyệt Web cùng chương trình e-mail ưa thích vào thực đơn Start. Trong nhãn Advanced bạn có thể chọn cách mà những thành phần như My Documents, My Computer, và Control Panel vv... xuất hiện cũng như nhiều tuỳ chọn khác mà bạn không thể có được ở các phiên bản Windows trước đây.
Nếu như không thích cách mà thực đơn Start của XP xuất hiện, bạn có thể quay trở về với thực đơn truyền thống bằng cách chọn Classic Start Menu trong hộp thoại Task Bar and Start Menu Properties.
Thủ thuật 7: SỬ DỤNG TÍNH NĂNG KHÔI PHỤC HỆ THỐNG
Giống như Windows ME, XP cũng cung cấp khả năng khôi phục hệ thống về điểm trước một sự kiện này đó (cài đặt mới phần mềm hoặc xung đột hệ thống...) Để tạo một mốc khôi phục, bạn mở (All) Programs trong thực đơn Start, chọn Accessories - System Tools - System Restore. Trong cửa sổ System Restore, nhấn Create A Restore Point, nhấn Next, nhập tên cho điểm khôi phục hệ thống, rồi nhấn Create. Để đưa hệ thống trở lại một thời điểm nào đó, trong cửa sổ System Restore, chọn Restore My Computer To An Earlier Time, rồi chọn một điểm phù hợp để tiến hành khôi phục hệ thống. Sau khi nhấn Next 2 lần, hệ thống của bạn sẽ bắt dầu khôi phục về thời điểm bạn chọn. Quá trình này chỉ hoàn tất sau khi HĐH tự khởi động lại.
Thủ thuật 8: KHÔNG CẦN CHỈNH LẠI ĐỒNG HỒ
Người dùng PC thường phàn nàn về việc đồng hồ hệ thống chạy sai sau một khoảng thời gian nào đó, và phải chỉnh sửa lại thời gian cho đúng một cách thủ công. Điều này sẽ không thể xảy ra trong XP nếu bạn thực hiện các bước sau để đồng bộ hoá đồng hồ hệ thống với đồng hộ quốc tế (với điều kiện bạn có kết nối Internet).
Bạn đăng nhập vào tài khoản quản trị hệ thống, kết nối Internet, rồi nhấn đúp vào biểu tượng đồng hồ trên thanh công cụ. Chọn nhãn Internet Time trong hộp thoại Date and Time Properties. Đánh dấu kiểm vào Automatically Synchronize With An Internet Time Server và chọn một đồng hồ thích hợp từ thực đơn thả xuống, rồi nhấn nút Update Now.
Thủ thuật 9: KIỂM TRA TÍNH TƯƠNG THÍCH
Không phải chương trình nào cũng chạy tốt trong XP. Nếu không rõ về tính tương thích, bạn hãy thử dùng Program Compatibility Wizard. Chọn Start - All Programs – Accessories - Program Compatibility Wizard.
XP cung cấp cho bạn nhiều khả năng để thử tính tương thích của chương trình. Nếu chương chình chạy tốt ở một điều kiện nào đó, XP sẽ gợi ý bạn dùng các thiết đặt phù hợp nhất để chạy chương trình. Tất nhiên, XP cũng cho bạn biết liệu chương trình có hoạt động cùng HĐH không.
Thủ thuật 10: TẠO ĐĨA MỀM KHỞI ĐỘNG CHO XP
Tạo một đĩa khởi động trong Win9x không hề khó khăn chút nào. Nhưng Microsoft đã loại bỏ tính năng này trong Win 2000 và XP. Bạn cần có một đĩa mềm khởi động để khôi phục lại hệ thống trong các trường hợp như hỏng rãnh khởi động (boot sector), hỏng bảng ghi khởi động chính (Master Boot Record), bị nhiễm virus, mất hoặc hỏng file NTLDR, NTDETECT.COM, hoặc để khởi động trong trường hợp XP không thể khởi động được cả ở chế độ Safe Mode.
Để tạo đĩa mềm khởi động trong XP (và Win2000), bạn làm như sau: Chuẩn bị một đĩa mềm đã được định dạng. Chuyển tới ổ đĩa C:\, chép các file sau boot.ini, ntldr, ntdetect.com, bootsect.dos, NTBOOTDD.SYS (nếu có) sang đĩa mềm.
Thủ thuật 11: THIẾT ĐẶT LẠI BỘ NHỚ ẢO
Cho dù bạn có bao nhiêu RAM đi nữa thì Windows vẫn tạo ra thêm bộ nhớ ảo (paging files) trên đĩa cứng để tối ưu hóa hoạt động của hệ thống. Tối ưu hóa các file paging bằng cách cố định dung lượng sẽ làm cho tốc độ tìm dữ liệu trên đĩa cứng nhanh hơn, HĐH cũng không phải đặt lại dung lượng bộ nhớ ảo, giảm thiểu quá trình phân mảnh, và tiết kiệm được đĩa cứng.
Để biết bạn cần dành bao nhiên megabyte cho bộ nhớ ảo, bạn hãy chạy một số chương trình thường dùng, rồi mở Task Manager (nhấn Ctrl – Alt – Del), nhấn vào nhãn Performance, và xem số megabyte ở khung Commit Charge là bao nhiêu. Đây là số lượng bộ nhớ mà hệ thống của bạn cần lúc này. Dung lượng bộ nhớ ảo tối thiểu sẽ là số megabyte này cộng thêm với 32 MB (nhưng nhiều người cộng thêm với 64 MB). Thiết đặt hợp lý nhất là dung lượng tối thiểu và tối đa của bộ nhớ ảo phải bằng nhau để XP không đặt lại dung lượng bộ nhớ này nữa.
Để thực hiện việc đặt lại dung lượng bộ nhớ ảo, bạn nhấn chuột phải vào My Computer, chọn Properties – nhãn Advanced - nhấn vào Settings của khung Performance - chọn Advanced trong hộp thoại Performance Options. Bạn nhấn tiếp vào nút Change - chọn ổ đĩa thích hợp - nhập dung lượng bộ nhớ ảo tối thiểu và tối đa, rồi nhất Set. Bạn lặp lại các bước nêu trên với các ổ đĩa còn lại và các thay đổi sẽ có hiệu lực sau khi hệ thống khới động lại.
Thủ thuật 12: SỬ DỤNG SYSTEM CONFIGURATION UTILITY
Nếu bạn không muốn một chương trình nào đó khởi động cùng với XP, muốn tăng tốc độ khởi động của HĐH, muốn loại bỏ những dịch vụ hệ thống không cần thiết, muốn tìm hiểu những trục trặc của hệ thống... và nhiều điều khác, thì bạn hãy sử dụng tiện ích System Configuration.
Nếu đã sử dụng Win 98 và khai thác tính năng System Configuration Utility thì bạn có thể băn khoăn tại sao XP lại không có tính năng tuyệt vời này. Câu trả lời là XP có nhưng Microsoft không để tiện ích này trong System Information vì không muốn người sử dụng can thiệp quá sâu vào hệ thống.
Muốn khởi động System Configuration Utility, bạn chọn Start – Run – gõ “mscomfig” hoặc chọn Start - Help and Support - chọn Use Tools to view your computer information and diagnose problems trong cửa sổ mới. - dưới hộp Tools, chọn System Configuration Utility.
Thủ thuật 13: SỬ DỤNG TỪ ĐIỂN THUẬT NGỮ CỦA WINDOWS
Nếu bạn không hiểu bản chất một thuật ngữ chuyên ngành nào đó, và bạn không tìm thấy hoặc không thỏa mãn với giải thích của các từ điển khác, thì từ điển thuật ngữ của XP (Windows Glossary) có thể làm bạn hài lòng.
Để sử dụng từ điển, bạn chọn Start – Help and Support – nhấn vào bất kỳ một chủ đề nào dưới Pick A Help Topic – Windows Glossary - gõ thuật ngữ cần được giải thích vào hộp Search. Bạn cũng có thể chọn Start – Help and Support – gõ thuật ngữ cần được giải thích vào hộp Search và XP sẽ liệt kê một số thành phần liên quan tới thuật ngữ đó, bao gồm cả từ điển (Glossary).
Thủ thuật 14: LOẠI BỎ MSN MESSENGER
Rất nhiều người sử dụng XP không dùng và cũng không thích dịch vụ MSN Messenger. Rất tiếc Microsoft lại không nghĩ vậy, và thậm chí còn không cung cấp cách gỡ cài đặt chương trình này, Tuy nhiên, vẫn có cách để không phải khó chịu với MSN Messenger. Bạn làm như sau: Tìm tới file SYSOC.INF trong thư mục Windows\INF (chú ý: cả file và thư mục đều ở chế độ Hidden). Mở file này bằng Notepad, tìm tới dòng msmsgs=msgrocm.dll,OcEntry,msmsgs.inf,hide,7 và xóa chữ “hide” đi. Lưu file và khởi động lại PC, rồi tìm tới Control Panels - Add and Remove Programs – Add/Remove Windows Components. Lúc này tùy chọn cho phép gỡ cài đặt MSN Messenger đã xuất hiện.
Nếu cách trên hơi rắc rối và đang sử dụng bản XP Professional, thì bạn hãy làm theo cách sau: chọn Start – Run – gõ GPEDIT.MSC để mở Group Policy - chọn Computer Configuration - Administrative Templates - Windows Components - Windows Messenger. Tại đây, bạn có thể ngăn dịch vụ này hoạt động hoặc lựa chọn cho phép nó hoạt động theo yêu cầu của bạn. Theo cách này, bạn cần lưu ý, mặc dù dịch vụ đã bị vô hiệu hóa, nhưng một số chương trình khác của Microsoft (Outlook, Outlook Express) vẫn có thể khiến dịch vụ hoạt động.
Thủ thuật 15: TĂNG TỐC CHO XP
Mở Registry Start – Run – gõ regedit và tìm tới khóa
HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft\Windows\Curr entVersion\Explorer\RemoteComputer\NameSpace
Chọn nhánh {D6277990-4C6A-11CF-8D87-00AA0060F5BF} và xóa nó đi. Tuy nhiên, trước khi xóa nhánh này bạn nên sao lưu lại phòng trường hợp hệ thống có vấn đề. Để làm việc này, bạn nhấn chuột phải vào nhánh cần sao lưu, và chọn Copy Key Name rồi lưu vào một file văn bản.
Khóa trên đòi hỏi XP phải tìm kiếm tất cả các chương trình làm việc theo lịch (Scheduled Tasks). Điều này khiến cho tốc độ duyệt của XP bị chậm lại. Mặc dù thủ thuật trên nhằm tăng tốc độ duyệt cho các hệ thống chạy Win2000 và XP trong mạng LAN, nhưng nó cũng cải thiện tốc độ duyệt một các bất ngờ cho Windows ngay trên máy trạm. Thay đổi này có tác dụng tức thì và chúng ta có thể cảm nhận được sự cải thiện tốc độ ngay lập tức.
ThaiHoa
23-07-2004, 02:02 PM
1-Bạn hãy vào command prompt trong Accessories từ All Programs>>Nút Start đánh vào lệnh systeminfo bạn sẽ được Windows đưa ra rất là nhiều những thông tin hữu ích về hệ thống cho bạn, bạn có thể lưu lại những thông tin này để xem sau cũng được bằng lệnh systeminfo >info.txt chẳng hạn. bạn sẽ tìm thấy file này ở C:documents and settings ên profile của bạn(tên logon)info.txt (dùng cho Windows XP Pro only)
2-Bạn có thể DELETE ngay lập tức tất cả các file mà không cần cho nó vào recycle bin bằng cách vào Start>>Run đánh vào lệnh gpedit.msc sau đó chọn User ConfigurationAdministrative TemplatesWindows ComponentsWindows Explorer ìm file có tên Do not move DELETE files to the Recycle Bin setting, chọn enable nó lên là từ nay nó sẽ không vào Recycle Bin nữa. Ngoài tính năng trên gpedit.msc còn có rất nhiều lựa chọn khác cho bạn để tối ưu hoá, hạn chế không cho chạy một số phần mềm, thêm Java Script vào logon hay Shutdown rất hay.
Để không cho chạy một phần mềm ứng dụng nào mà bạn thích thì hãy vào User ConfigurationAdministrative TemplatesSystemDo not Run The Specified Windows Application và enable chức năng này lên sau đó chọn SHOW và thêm vào những lệnh mà bạn có thể gọi nó từ Menu StartRun ví dụ như winword.exe, poledit.exe....vv. Ngoài ra vẫn còn nhiều lựa chọn khác đang chờ bạn khám phá.(Windows XP Pro và Windows 2K Pro)
3- Bạn có thể khoá XP station với hai lần click chuột, hãy tạo một shortcut mới trên desktop bằng cách bấm chuột phải chọn NewShortcuttrong trường Location Field hãy điền vào hàng 'rundll32.exe user32.dll,LockWorkStation' sau đó đặt tên shortcut mà bạn thích từ nay trở đi chỉ cần click chuột vào shortcut trên desktop thì bạn có thể khoá máy lại được rồi ngoài ra bạn cũng có thể sử dụng Windows Key + phím L với tính năng tương tự.
4-Windows XP đã che đi một số phần mềm hệ thống mà bạn muốn remove nó ra khỏi máy ví dụ như là Windows Messenger. Bạn chọn ToolsFolder options ab Viewchọn SHOW hiden files and folder sau đó thì vào C:Windowsinfsysoc.inf hãy mở file này bằng notepad và tìm tất cả những chữ hide xoá đi sau đó lưu lại và vào StartSettingsControl PannelAdd and Remove Programsadd emove Windows Components để bỏ đi chức năng Windows Messenger.
5-Windows XP hỗ trợ IPv6 là thế hệ IP kế tiếp nhưng đáng tiếc là các nhà cung cấp dịch vụ internet chưa sử dụng IPv6 này. bạn có thể thử trong mạng LAN bằng lệnh "ipv6 install" trong StartRun nó sẽ không huỷ bỏ hệ thống hiện tại của bạn, sau đó đánh lệnh ipv6 /? để biết thêm chi tiết.
6-XP có thêm một số lệnh rất là thú vị trong DOS batch file ví dụ như lệnh "eventcreate","eventtriggers" dùng để tạo và theo dõi events của hệ thống "typeperf" dùng để theo dõi hoạt động của nhiều trình phụ và cuối cùng là "schtasks" dùng để điều khiển Task Schedule. cũng giống như các lệnh khác thì bạn có thể dùng công cụ hỗ trợ /? để tham khảo thêm những lựa chọn cho phép của lệnh.
7-Bây giờ bạn có thể bỏ đi một số chức năng đang thực thi trên máy tính của bạn bằng lệnh "taskkill /pid" hay tskill và số task mà bạn muốn dừng lại.Để biết được số task đang chạy thì bạn dùng lệnh tasklist để tham khảo, nó sẽ hiển thị những hoạt động trong hệ thống.
8-Windows XP được tích hợp hệ thống nén zip, đối với máy chạy nhanh thì không sao nhưng nếu máy bạn chạy chậm và bạn muốn bỏ chức năng này đi thì ở dòng command line đánh lệnh : 'regsvr32 /u zipfldr.dll' nếu bạn thay đổi ý kiến muốn sử dụng lại thì có thể dùng lệnh : 'regsvr32 zipfldr.dll'
9-XP có một chức năng đó là chống hiện tượng răng cưa (anti-alias) của font chữ, chức năng này nguyên thuỷ không được bật lên cho nên bạn phải bật nó lên trong màn hình desktop ight click chọn propertiesAppearanceEffect chọn Cleartype kết quả có thể hiển thị tốt đối với máy Laptop. Nếu bạn muốn sử dụng chức năng ClearType đối với cả màn hình Login thì bạn hãy làm như sau : vào StartRun egedit chọn key HKEY_USERS/.DEFAULT/Control Panel/Desktop/chọn String FontSmoothing cho giá trị 2. bạn nhớ sử dụng quyền administrator để chỉnh sửa registry nhé.
10-Sử dụng chức năng Remote Assistance để nối mạng với một ai đó đang sử dụng mạng ở nhà (NAT) trước tiên bạn phải yêu cầu người đó gởi một Remote Assistance Invitation bằng mail cho bạn và bạn phải hiệu chỉnh lại file ở dưới thuộc tính RCTICKET sẽ là NAT IP address chẳng hạn như là 192.168.1.10 hãy thay thế với số địa chỉ IP thực của người bạn mà bạn sẽ kết nối. bạn có thể tham khảo tại chi tiết thêm tại http://www.whatismyip.com/ và chắc chắn rằng cỗng mở sẽ là 3389 để có thể mở firewall và vào máy.
11-Bạn có thể chạy ứng dụng với nhiều user khác nhau mà không cần phải logout và login trở lại bằng cách bấm chuột phải vào icon rồi chọn Run As sau đó nhập vào user name và password mà bạn muốn sử dụng. một số chương trình đòi hỏi bạn phải có quyền của administrator mới được cài đặt hay chạy bạn có thể nhập vào password của admin để chạy ứng dụng.
12-XP được trang bị hệ thống tự động upgrade, đăng ký passport hay sử dụng Windows Messenger và nó sẽ mở một balloon tip ở system tray hay program khi bạn cài đặt một phần mềm ứng dụng mới để bỏ nó đi hãy mở Regedit theo đường dẫn sau HKEY_CURRENT_USER/Software/Microsoft/Windows/Current Version/Explorer/Advanced tạo một Dword có tên là EnableBalloonTips với giá trị bằng 0
13-Bạn có thể khởi động vào Windows XP mà không cần phải nhập user name hay password, hãy vào StartRun nhập vào 'control userpasswords2' nó sẽ mở cho bạn một cửa sổ ứng dụng của user account, trong user tab bỏ đi CHECK box của dòng Users Must Enter A User Name And Password To Use This Computer chọn ok, một bảng Automatically Log On sẽ xuất hiện, hãy nhập vào user name và password mà bạn muốn nó tự động logon.
14-Internet Exporer Version 6.0 sẽ tự động xoá những temporary internet files nếu như bạn muốn, hãy vào ToolsInternet optionsAdvanced tabSecurity chọn hàng Empty Temporary Internet Files folder when browser is closed.
15-XP cung cấp khả năng theo dõi network nếu như bạn không thấy được đèn led hoạt động của card mạng thì bạn có thể right click vào My Network Places chọn Properties ight click vào Local Area ConnectionProperties chọn dòng Show icon in notification area when connected trong system tray sẽ xuất hiện một màn hình kết nối giống như dial up để cho bạn theo dõi hoạt động của card mạng.
16-Bạn có thể chỉnh sửa lại thời gian mà menu có thể xuất hiện nhanh hơn bằng cách vào registry HKEY_CURRENT_USER/Control Panel/Desktop/tìm REG-SZ có tên MenuShowDelay cho nó giá trị từ 0 tới 999 tuỳ bạn đơn vị được tính bằng milliseconds.
17-Bạn có thể thay đổi tên tập tin hàng loạt bằng cách chọn tất cả các tập tin cần chọn sau đó bấm chuột phải vào một folder và chọn Rename tất cả các tập tin sẽ được đổi tên và đánh dấu theo thứ tự số để phân biệt.
18-Trong trình duyệt Window Media Player sẽ thể hiện cover của CD trong khi chơi nhạc, nếu như Windows Media Player tìm thấy những file ảnh này trong qua trình copy đĩa nhạc vào thì nó sẽ thể hiện hình đó, nếu bạn có nhiều file Pre-WMP bạn cũng có thể copy một file hình dạng JPG chép vào folder chứa track để thể hiện hình ảnh cover. Window Media Player sẽ thể hiện hình ảnh đó vào album cho bạn.
19-Những phím tắt để gọi System Properties (Windows key + Break), Desktop (Windows key + D), Task bar bottom (Windows key + tab)
20-XP cung cấp cho chúng ta một chương trình screensaver ở dạng slide rất tiện bạn có thể bỏ hình ảnh của mình để chạy slide tuỳ thích
ThaiHoa
26-07-2004, 01:56 PM
Khắc phục lỗi "Dumping Phisical memory" trong Win XP
Trong quá trình sử dụng Windows XP, không phải lúc nào hệ thống của bạn cũng chạy “êm” và chẳng có vấn đề gì xảy ra. Một ngày nào đó, trong lúc bạn đang bận rộn với những công việc trên màn hình thì bỗng dưng chiếc máy dở chứng, tự dưng khởi động lại mà không có bất cứ một thông báo nào. Nếu bạn đã từng trong hoàn cảnh đó, bạn sẽ thấy rằng sau đó một vài ngày, chiếc máy tính của bạn sẽ không thể khởi động được nữa và quá trình cài lại Win XP sẽ rất khó khăn. Hiện tượng bạn gặp phải được gọi là lỗi ““dumping physical memory “ hay còn gọi là lỗi tự dưng khởi động của Win XP. Để khắc phục tình trạng này, chúng ta hãy tiến hành các bước sau:
* Thay đổi kích thuớc file “Swap”
Khi máy bạn gặp một trục trặc nghiêm trọng, hệ thống sẽ tự động lưu lại trạng thái hiện thời vào một file có tên là Swap để có thể phục hồi sau này. Tuy nhiên, file này đôi khi lại gây ra nhiều phiền toái hơn là lợi ích. Điều bạn cần làm là thay đổi kích thước của file này.
Bấm chuột phải vào biểu tượng My Computer trên màn hình và chọn thuộc tính Properties. Tiếp sau đó chọn tab Advanced, rồi bấm vào Settings của tuỳ chọn Performance. Tiếp đến là chọn thẻ Advanced của bảng Performance Options, chọn mục Virtual memory (nhấn vào nút Change). Đến đây bạn có thể thay đồi kích thuớc của file ảo, cụ thể là thay đổi Initial Size và Maximum Size. Bạn hãy để hai giá trị này bằng nhau (có thể đặt giá trị cao hơn giá trị mặc định; nếu có thể, để khoảng 2GB).
Sau đó bấm vào nút Set, hệ thống sẽ yêu cầu bạn khởi động lại, sau đó bạn OK tất cả rồi khởi động lại máy.
* Xoá Minidump files và Sysdata.xml
Bạn tìm đến thư mục C:\Windows\Minidump và sau đó xoá tất cả những gì bạn thấy trong thư mục này (Bạn phải chọn chế độ “Show hidden files “)
Bạn tiếp tục tìm đến thư mục C:\Documents and Settings, sau đó tìm và xóa file Sysdata.xml.
Sau đó khởi động máy lại một lần nữa .
* Xoá bỏ chế độ Auto Restart của Win XP
Bấm chuột phải vào My Computer, sau đó chọn Properties.
Chọn thẻ Advanced, sau đó bấm vào nút Settings của tuỳ chọn “Start-up and Recovery“
Sau đó bạn bỏ tuỳ chọn “Automatically Restart”, rồi bấm OK
Máy bạn sẽ không bao giờ tự động Restart lại nữa .
* Vô hiệu Memory Dump
Bấm chuột phải vào My Computer và chọn Properties. Chọn thẻ Advanced, và bấm vào nút Settings của tùy chọn “Start-up and Recovery“.
Tại thẻ “Write debugging information”, bạn chọn thuộc tính “none”, rồi bấm Ok
OK, đến đây máy tính của bạn sẽ không bao giờ bị lỗi "Dumping Phisical Memory" nữa!
ThaiHoa
26-07-2004, 02:10 PM
Khởi động nhanh WinXP
Sau đây là các mà tôi sẽ chỉ cho các bạn cách khởi động WinXP một cách nhanh chóng,chúng ta chỉ cần sữa các giá trị trong register là ok....
Để giúp WindowsXP khởi động nhanh hơn, bạn có thể tăng tốc độ hiển thị menu Start của nó.
Dùng lệnh Run trong menu Start, gõ vào lệnh Regedit. Nhấn Enter.
Mở mục HKEY_CURRENT_USER rồi tiếp theo đường dẫn Control PanelDesktop.
Bạn sẽ thấy ở ô bên phải dòng "MenuShowDelay"=dword:400.
40 chính là giá trị mặc định của tác vụ hiển thị menu Start.
Bạn hãy click chuột phải lên tên mục này, chọn lệnh Modify. Gõ vào mục Value data trong hộp Edit String giá trị mới là 00000000 (tức 8 số 0).
Nhấn OK.
Lúc này, key sẽ được hiển thị là : "MenuShowDelay"=dword:00000000
Đóng cửa sổ Registry Editor lại.
- Shutdown nhanh :
Bạn gõ vào hộp Open của lệnh Run trong menu Start lệnh regedit rồi nhấn OK hay Enter. Trong cửa sổ Registry Editor, bạn mở dần theo path :
HKEY_CURRENT_USERControl PanelDesktop.
Bạn thay giá trị của các key như sau (bằng cách click chuột phải lên tên từng key, chọn lệnh Modify trên menu chuột phải, điền giá trị mới vào hộp Value data của hộp thoại Edit String rồi nhấn OK) :
AutoEndTasks=1
HungAppTimeout=5000
MenuShowDelay=00000000(mặc định là 400)
WaitToKillAppTimeout=4000 (mặc định là 20000)
WaitToKillServiceTimeout=4000(mặc định chưa có)
Giá trị key AutoEndTasks là 1 sẽ tự động “giết” các chương trình đang treo cho bạn. Thời gian chờ để khử các ứng dụng được giảm còn 4000 (mặc định tới 20000).
Bạn cũng cần giảm thời gian “giết” các dịch vụ Windows XP xuống tương đương. Nhưng cần phải tạo thêm key này bằng cách click chuột phải lên nền cửa sổ bên phải. Chọn trong menu pop-up lệnh New/String Value. Click chuột phải lên key mới xuất hiện có tên “New Value #1”, chọn Rename và thay tên mới cho nó là WaitToKillServiceTimeout. Click chuột phải lên tên này, chọn lệnh Modify và xác lập giá trị Value data của nó là 4000, nhấn OK.
Sau đó, bạn xử tiếp cái khoản thứ hai. Đó là mở theo path HKEY_LOCAL_MACHINESYSTEMCurrentControlSetControl.
Click chuột phải lên tên WaitToKillServiceTimeout, chọn lệnh Modify và xác lập giá trị Value data của nó là 4000, nhấn OK.
Thoát khỏi Registry Editor và restart lại máy cho các giá trị mới có hiệu lực thi hành.
ThaiHoa
26-07-2004, 02:17 PM
Làm sao để có thể tự vệ trước những tay phá phách, thóc mách và quấy nhiễu.
Trừ khi người ta cho bạn ngủ trong trạng thái đông lạnh suốt mấy năm vừa qua, nếu không, chắc chắn bạn đã nghe nói nhiều về máy tính và những mối đe dọa từ Internet đối với sự riêng tư của bạn. ở đâu lại chẳng nghe những chuyện về mạo nhận danh tánh, những ông chủ cay cú thọc mũi vào mọi thông tin của nhân viên, những kẻ cắp mật khẩu, kẻ quấy nhiễu chẳng bao giờ chịu buông tha bạn. Ngay chính phủ Mỹ cũng thừa nhận việc lướt trên Web có thể gây nguy hiểm đến sự riêng tư của bạn. Cứ như thể người ta đang theo dõi từng động tác nhấn chuột của bạn vậy. Mà đúng thế thật.
Mọi thứ bạn làm trên máy và mạng đều để lại dấu vết. Bạn muốn lướt trên Web? Các site bạn ưa thích đều giám sát chặt chẽ bạn đến thăm trang Web nào, xem loại thông tin gì, tất cả thông tin này được ghi lại trong những tập văn bản gọi là cookies và lưu ngay trên máy của bạn. Bạn gửi thông điệp đến một nhóm tin liên quan đến chính trị? Nó sẽ được lưu lại. Các ông chủ muốn (và có quyền) biết liệu nhân viên của mình có đang vung vãi bí mật của công ty không, vì thế họ đọc e-mail của bạn. Trong khi đó, những kẻ đầu cơ (marketer) có cả một bộ sưu tập chết người sẵn sàng bán cho bất cứ ai gồm mọi thông tin liên quan đến thói quen tiêu dùng, sở thích, bệnh vặt và ngay cả tín ngưỡng của bạn. Càng nhiều thông tin cá nhân về bạn bị người khác biết, bạn càng có nguy cơ bị người ta mạo nhận danh tánh hay làm giả thẻ tín dụng lấy tên của bạn.
Bạn thấy sợ rồi sao? Bình tĩnh lại đi! Vẫn có thể dùng máy tính liên lạc với mọi người và lướt trên Web tương đối an toàn, miễn sao bạn tiến hành một vài bước thông thường để bảo đảm sự riêng tư của mình. Dưới đây là những mẹo nhỏ để giúp bạn bảo vệ máy tính của mình, bảo mật giao dịch e-mail, và lướt an toàn trên Web và lấy lại một số dữ liệu bạn đã mất vào tay những tên gián điệp. Nếu không muốn "vạch áo cho người xem lưng" nữa, bạn phải coi lại quan niệm của mình về bảo mật. Bọn gián điệp, tay quậy phá và phường quấy nhiễu chẳng cuốn xéo đi đâu cả, nhưng họ sẽ gặp khó khăn hơn nhiều nếu muốn xỏ mũi bạn.
Bảo vệ máy tính
Trước khi tập trung vào việc bảo vệ sự riêng tư khi lướt trên Internet, bạn hãy xét đến một thứ căn cơ hơn nhiều: đó là máy tính của bạn. Hãy nhớ rằng máy tính văn phòng và nội dung của nó không phải là sở hữu của bạn. Ông chủ có t hể theo sát từng đường đi nước bước của bạn trên Net nhờ một phần mềm gián điệp truy tìm URL tinh vi. Họ có thể chắn (intercept) để đọc e-mail của bạn, sao lưu dữ liệu trên hệ thống, xóa ổ đĩa cứng, thậm cí lấy đi luôn máy tính bạn đang dùng. Và khi bạn rời văn phòng ra về, vào buổi tối, các đồng nghiệp thóc mách có thể lục tung máy bạn nếu họ chưa làm như vậy ngay trên mạng. Sau đây là những gì bạn có thể làm để tránh phải bối rối và bẽ mặt tại cơ quan.
Ðối phó với các quy định nội bộ
Trước khi đưa bất cứ thông tin nhạy cảm nào vào máy, cần hỏi ý kiến bộ phận nhân sự hay tin học về chính sách của công ty đối với sự riêng tư. Công ty có thể thường xuyên chắn (intercept) hoặc theo dõi các giao dịch e-mail của nhân viên, có thể lưu trữ các tập tin e-mail và thông tin trong máy tính của bạn. Dù muốn hay không, sự giám sát như thế có thể vẫn trong quyền hạn hợp pháp của các ông chủ.
Nếu không muốn ông chủ biết rằng bạn tôn thờ Sa Tăng hay sùng bái Elvis Presley, chớ tìm những trang đó trên Internet ở nơi làm việc. Cũng thế, nếu đang tìm chỗ làm mới mà chưa cho sếp biết, thì đừng ghé thăm các ngân hàng môi giới làm trên Internet từ máy của cơ quan.
Mật khẩu BIOS là hơn cả
Mặc dù đây chẳng phải là phương pháp thần hiệu, cách tốt nhất để ngăn không cho ai dùng máy tính của bạn khi đi vắng vẫn là thay hệ thống mật khẩu trong chương trình thiết lập BIOS. Bởi chước này làm treo máy trong quá trình khởi động trước khi nạp hệ điều hành nên bao giờ nó cũng hữu hiệu. Tuy nhiên, bạn cần biết rằng một số nhà sản xuất phần cứng cung cấp những mật khẩu "cửa sau" giúp ông chủ "đi đường vòng" để vượt qua các biện pháp bảo mật của bạn; hơn nữa, một tay quậy có đẳng cấp thừa sức khuất phục bất cứ mật khẩu BIOS nào bằng cách mở hộp chứa máy tính rồi ngắt cục pin cấp năng lượng cho chip BIOS.
Ðừng cậy vào các mật khẩu Windows
Mỗi khi bạn rời bàn làm việc, máy của bạn là mồi ngon cho bất cứ tay gián điệp nào lai vãng qua. Windows cho phép tạo một mật khẩu login bằng cách chọn Start.Settings. Control Panel, nháy kép biểu tượng Password rồi chọn Change Windows Password. Nhưng không may, bất cứ ai cũng chỉ cần Cancel trong hộp thoại login là có thể thoải mái vào hệ thống như người dùng mặc định. Và bất cứ ai cũng có thể tạo một account và mật khẩu login mới. Ngoài sử dụng mật khẩu BIOS, bạn còn cách bảo mật khác: System Policy Editor của Microsoft (xem phần kế bên) giúp bạn không cho người khác mở các tập tin hay thư mục, chạy ứng dụng hay làm bất cứ gì khác trên máy của bạn.
Dù không có những biện pháp bảo mật bổ sung khác, các account người dùng trong Windows 9x cũng có kha khá tính năng bảo mật rồi. Nếu bạn đánh dấu hộp Save Passwork khi dùng kết nối mạng theo kiểu quay số hoặc log lên máy chủ thì chỉ những ai biết tên login và mật khẩu của bạn mới có thể tự động kết nối nhờ dùng mật khẩu đã lưu đó. Tuy nhiên, nếu ai đó thật sự muốn mạo danh bạn trêng mạng - và có quyền truy cập máy của bạn, hắn có thể xác định và giải mã tập tin mật khẩu nhờ một phần mềm hoàn toàn miễn phí trên Internet.
Screen Saver chẳng giúp được gì
Sau đây là một kiểu bảo mật dởm khác. Bạn có thể bảo mật bằng screen saver của Windows với mật khẩu, sao cho anh chàng thóc mách nào đó không ghé mắt vào bức thư "nhạy cảm" bạn gửi cho người yêu. Nhưng anh chàng đó có thể "né" cái barrie này bằng cách khởi động lại máy bạn rồi nhập vào như người dùng mặc định (trừ khi bạn đã phong tỏa đường truy cập bằng một công cụ bảo mật của bên thứ ba, ví dụ System Policy Editor hay mật khẩu BIOS chẳng hạn).
Chuyển sang Windows NT
Dù có áp dụng bao nhiêu công cụ bảo mật cho Windows 95 hay 98 đi nữa, một tay gián điệp thành thạo chẳng cần quyết tâm nhiều lắm cũng có thể truy cập các tập tin của bạn trong vài phút. Windows NT có bảo mật login-in tốt hơn. Thế nhưng NT đắt hơn Windows 95, khó cấu hình hơn và có thể không làm việc được với mọi phần mềm và phần cứng bạn dùng. Muốn dùng bảo mật tối đa của NT, bạn sẽ phải chuyển phần cứng thành hệ thống tập tin NTFS và khước từ khởi động lại đối với bất cứ hệ điều hành nào khác. Lợi điểm: vì Windows NT có bảo mật log-in "thứ thiệt" nên mật khẩu bảo vệ màn hình cũng là "thứ thiệt".
Xóa mọi dấu vết của tập tin
Nếu bạn muốn triệt ti êu cái gì đó đang lưu trong một tập tin trên máy, thì xóa tập tin đó bằng thao tác Delete chưa đủ. Những tập tin bạn cứ tưởng đã mất hẳn có thể vẫn còn trong Recycle Bin (thùng rác) của Windows. Và việc xóa các tập tin không có nghĩa là tống khứ chúng khỏi ổ đĩa: chúng vẫn ở đó, và vẫn có thể đọc bằng những công cụ đặc biệt, chừng nào chưa có một tập tin khác chép đè lên vị trí mà các tập tin "đã xóa" vẫn còn chiếm.
Ðể tránh việc các tập tin cứ nằm lây lất mãi trong Recycle Bin (nơi mà phần mềm sao lưu của công ty có thể sẽ tìm ra chúng), hãy nhấn kép vào recycle Bin trong Windows Explorer rồi chon Do not move deleted items to Recycle Bin (không chuyển các dữ liệu đã xóa vào Thùng Rác).
Lướt an toàn trên Web
Trừ khi bạn có biện pháp phòng ngừa, nếu không, mỗi Web site bạn đến thăm đều có khả năng thu thập ít nhiều dữ liệu về bạn và lưu chúng trong những tập tin "cookie" ngay trên máy của bạn. Mặc dù hầu hết cookie kiểu đó đều vô hại, bạn vẫn cần biết làm sao và khi nào phải kiểm soát chúng. Các Web site còn thu thập - đôi khi cho dùng chung thoải mái hay thậm chí rao bán - những loại thông tin khác về bạn nữa. Dưới đây là những gì bạn có thể làm để xóa bớt dấu vết của mình trong khi lướt trên Internet.
Cứ vào, nhưng đừng ký tên
Nhiều Web site yêu cầu bạn phải đăng ký trước khi truy cập nội dung của chúng. Nhưng nếu bạn vào sổ khách (guest book) hay chỉ đơn thuần nhập địa chỉ e-mail của mình vào một site dành cho bệnh viêm khớp chẳng hạn, thế là bạn đã bổ sung chính mình vào cơ sở dữ liệu của những kẻ khác quan tâm đến bệnh viêm khớp. Rồi cơ sở dữ liệu đó có thể được bán cho những tay đầu cơ, chẳng hạn kẻ chuyên mua bán thông tin về liệu pháp trị bệnh viêm khớp. Nếu không muốn thông tin cá nhân về mình bị phân phát vô tội vạ, bạn chớ ký tên vào sổ khách hay tự nguyện hiến thông tin về mình bằng bất cứ cách nào. Chủ nhân các trang Web vẫn có thể cóp nhặt chút thông tin về bạn (như địa chỉ IP), nhưng họ sẽ khó lòng từ thông tin đó truy ra tên tuổi, địa chỉ, số điện thoại...
Dĩ nhiên, không phải trang Web nào cũng muốn bán lý lịch chi tiết về bạn cho trường trung học hay một tay cá mập đầu cơ thông tin gần nhất.
Nhưng bạn cần biết chính sách của một site nào đó là gì và chỉ đăng ký tên vào những site biết giữ kín thông tin về bạn mà thôi.
Mặc đồ giả trang
Giả sử bạn không tiết lộ thông tin gì về mình tại một trang Web. Bạn có đang lướt trên Web hoàn toàn nặc danh không? Chưa chắc. Nếu truy cập Internet từ cơ quan, có thể bạn đi qua một proxy server, nghĩa là server đóng vai trò như bức tường lửa (firewall) giữa máy tính của bạn với Internet và giúp che dấu danh tánh của bạn. Nhưng nếu truy cập Net qua một kết nối dạng quay số (dial-up connection), các thao tác viên trên Web site có thể truy xem bạn đang duyệt cái gì và vào lúc nào, tên chủ (host name) và địa chỉ IP của máy bạn, phiên bản trình duyệt và loại máy tính bạn đang dùng và URL của trang Web mới nhất mà bạn đã thăm.
Nếu chừng đó thông tin là hơi nhiều so với những gì bạn sẵn sàng chia sẻ cho hàng trăm Web site bạn ghé thăm, hãy dùng Anonymizer (www.anonymizer.com); tiện ích này hoạt động như một proxy server che giấu danh tánh của bạn. Dịch vụ miễn phí của Anonymizer có thể làm chậm, (thậm chí rất chậm, tùy theo mật độ trên Internet) tốc độ tải các trang Web; còn dịch vụ tính tiền thì nhanh hơn và chỉ tốn 15 USD mỗi ba tháng.
Xóa History
Các trình duyệt Web rất sốt sắng trong việc giúp bạn trở lại các trang Web thăm thường xuyên bằng cách duy trì một danh sách tức thời (running list) các địa chỉ bạn vừa đến. Không may, bất cứ ai truy cập vào hệ thống của bạn - sếp, người quen, đồng nghiệp - đều có thể biết tỏng bạn thích nhất những Web site nào bằng cách xem qua History lít (danh sách Web site vừa thăm gần nhất) trong trình duyệt của bạn. Nếu không muốn để ai biết bạn đã thăm những đâu và xem những gì, thì cần xóa sạch sẽ mọi dấu vết sau lưng mình. Nhưng việc đó không dễ.
Muốn xóa History list của Netscape Navigator 4.0, đầu tiên chọn Edit. Preferences, kế đó chọn Navigator trong cửa sổ Category, rồi nhấn nút Clear History. Trong Navigator 3.0, cần thoát chương trình mới xóa được. Có một vấn đề: những thao tác này không xóa các URL từ danh mục thả xuống trong cửa sổ định vị (location window) của trình duyệt. Trong Navigator 4.0, các URL được lưu trong tập tin PREFS.JS của thư mục người dùng (trong hầu hết trường hợp là C: \Program Files\Netscape\Users\Tên người dùng, trong đó tên người dùng là tên bạn dùng để đăng nhập vào Windows). Mở tập tin trong Notepad, chọn các dòng URL lưu mà bạn muốn xóa, chẳng hạn: user-pref ("browser.url_history. URL_1"www.pcworld.com/"), nhấn , rồi lưu tập tin và thoát khỏi Notepad.
Navigator 3.0 lưu thông tin đó trong Registry của Windows. Muốn xóa các URL, thoát Navigator, chọn Start.Run. đánh regedit rồi nhấn (để kích hoạt Registry Editor), và nhấn . Nhớ đánh dấu chọn hộp Value; sau đó nhập URL_1 vào trường "Find what", nhấn OK. Chọn dất cả các URL mà bạn muốn xóa khỏi danh mục trong cánh bên phải của Registry Editor, nhấn và OK để xác nhận; cuối cùng thoát khỏi Registry Editor.
Cũng may, xóa History của Internet Explorer cũng là xóa luôn danh mục các URL. Trong IE 4.0, chọn View.Internet Option. General, nhấn Clear History và OK. Trong IE 3.0, chọn View.Options. Navigation rồi nhấn Clear History.
Dọn sạch cache
Các trình duyệt còn làm việc này nữa để nâng cao tốc độ du hành trên mạng: giấu các tập tin chứa Web site, kể cả đồ họa vào một tập tin hay thư mục gọi là hòm lưu trữ (cache) trên máy của bạn. Nhờ vậy bạn có thể quay lại một site vừa mới thăm nhanh hơn, nhưng cũng chính vì vậy bạn đã xem cái gì thì các tên gián điệp cũng có thể xem cái nấy. Cũng may, chỉ cần trút sạch mọi thứ khỏi cache, mà việc này rất dễ. Trong Navigator 4.0, chọn Edit. Preferences, chọn Cache trong Advanced, nhấn nút Clear Memory Cache, rồi OK. Lặp lại như thế với nút Clear Disk Cache rồi nhấn OK lần nữa để đóng cửa sổ Preferences. Ðể truy cập cùng những nút đó trong Navigator 3.0, chọn Options. Preferences.Cache.
Muốn xóa các tập tin Cache trong Internet Explorer 4.0, chọn View. Internet Options. General, nhấn nút Delete Files, kế đó nhấn OK hai lần để hoàn tất. Trong IE 3.0, chọn
View. Options.Advanced, đầu tiên nhấn nút Settings, sau đó là Empty Folder. Nhấn Yes rồi OK hai lần.
Ắn cho hết "bánh quy" của bạn
Các Web site lưu những gì bạn ưa nhất, số chứng minh thư và mật khẩu trong những tập tin văn bản gọi là cookie (bánh quy). Mặc dù nội dung của hầu hết cookie là an toàn, thậm chí hữu ích, hẳn bạn vẫn không nên để cho những phường nhiễu sự thoải mái nhấm nháp hạt đậu hay trái nho khô trên cái "bánh quy" của mình sau giờ làm việc. Giải pháp đơn giản nhất là xóa các cookie. Tuy nhiên, cần nhớ rằng nếu làm việc này các Web site bạn đến thăm thường xuyên sẽ khó nhận ra bạn hơn, việc theo dõi các lần đến thăm của bạn cũng khó khăn hơn; bạn cũng sẽ không giữ được bất cứ tùy chọn hay cài đặt nào đã chọn trong những lần thăm trước.
Ðể xóa sổ các cookie trong Navigator 3.0 hay 4.0, cho Start.Find.Files or Folders, tìm tập tin COOKIES.TXT trong ổ đĩa C: rồi xóa, kể cả các thư mục con. Bạn cũng có thể mở COOKIES.TXT trong một trình soạn thảo văn bản rồi xóa tất cả những dòng không muốn ai khác xem Internet Explorer (mọi phiên bản) lưu các cookie trong thư mục \Windows\ COOKIES. Bạn có thể yên tâm xóa mọi thứ trong thư mục này, cũng có thể chỉ xóa những tập tin nào coi bộ "có vấn đề" hơn cả.
Khi đã quét sạch rác rưởi để lại từ cuộc du ngoạn trước, bạn có thể kiểm soát xem trình duyệt xử lý ra sao với những cookie mới. Cả Netscape Navigator và Internet Explorer đều cho bạn ba tùy chọn: bác bỏ mọi, chấp nhận mọi cookie, bác bỏ hay chấp nhận tùy ý từng cookie. Trong Navigator 4.0, các thiết lập này đặt trong Edit.Preferences.Advanced cooki settings. Trong Navigator 3.0, tìm thiết lập Warn before accepting cookies (cảnh báo trước khi chấp nhận cookie) rồi cuộn xuống cho đến khi thấy các thiết lập của cookie. Trong IE 3.0, tìm thiết lập Warn before accepting cookies trong View.Options.Advanced. Nếu không chỉ định để trình duyệt cảnh báo mỗi khi có một Web site muốn dúi cho bạn một cookie, bạn chẳng bao giờ biết số cookie mình phải nhận là vô thiên lủng như thế nào. Nếu phát mệt vì hết chấp nhận lại bác bỏ không biết bao giờ mới dứt, nhưng lại chẳng muốn buông lơi cảnh giác, hãy thử dùng một tiện ích của bên thứ ba dành cho cookie chẳng hạn như Cookie Pal 1.2.
Thoát khỏi Usenet
Nếu thường xuyên tham gia các nhóm tin trong Usenet, hẳn bạn cũng biết người ta hay chia sẻ cảm nghĩ, lai lịch, ý kiến, đôi khi cả số liệu khám sức khỏe ở trên đó. Nhưng có thể bạn không biết rằng những thông điệp đó đều được lưu trữ và có thể truy tìm dễ dàng. Muốn không để thông điệp của mình bị lưu trữ trên DejaNews Website, hãy chèn x-no-archive:yes, lấy chính nó làm dòng đầu của người (body) hay địa chỉ (post) mà bạn tạo. Dĩ nhiên, việc này chẳng ngăn được ai đó giữ một bản sao, nhưng ít ra người ta sẽ không thể tiếp cận bằng cách truy tìm trên DejaNews.
Nếu trong một trận lôi đình, bạn đã gửi thông điệp nảy lửa cho nhà lập pháp địa phương, nhưng giờ hối tiếc cơn điên của mình, bạn có thể xóa thông điệp đó khỏi kho lưu trữ của DejaNews bằng cách dùng Article Nuke Form tại www.dejanews.com/forms/nuke.shtml. Sau khi nhập địa chỉ e-mail (đó phải là địa chỉ bạn đang dùng), bạn sẽ được một danh sách những gì đã gửi. Bạn sẽ phải xóa các thông điệp bằng tay, lần lượt từng cái một, nhưng công sức ấy chẳng phải thừa nếu bạn không muốn quá nổi danh vì sự nói thẳng nói thật của mình. Không may, thông điệp của bạn có thê vẫn được lưu trong những Web site khác như Alta Vista, vốn không có tính năng nào như Nuke của DejaNew.
Gửi e-mail nặc danh
Bất cứ ai có thể truy cập trực tiếp PC của bạn đều có thể đọc thư từ của bạn, chẳng hạn như sếp hay người quản lý mail server của công ty. Khi e-mail rời khỏi văn phòng bạn và bắt đầu chu du trên Internet, nó sẽ dễ dàng thành con mồi của các tay quậy (hacker) tại từng server tiếp vận trên đường đi. Nói vậy không có nghĩa là bạn không thể gửi thông điệp an toàn cho ra an toàn. Chỉ cần theo những bước sau.
Nghĩ kỹ rồi hãy gửi
Nếu bạn cho rằng tay quản lý là một gã gàn dở, hay nếu bạn nóng lòng muốn kể ngay với thằng bạn nối khố về cuộc chinh phục người đẹp lúc ăn trưa, chớ có gửi những chuyện hay ho đó qua e-mail. Không chỉ sếp có thể đọc mail của bạn (giả dụ là họ đọc), mà còn không thể biết người nhận sẽ giữ kín thông điệp đó đến mức nào. Vậy nếu bạn không muốn trêu ngươi số phận thì hãy đi mà ký thác bí mật của mình cho người tâm phúc ở nơi giữ xe tối tăm nào đó (đừng quên trùm áo mưa và giả giọng người khác đấy).
Mã hóa
Có một cách bảo đảm không ai đọc được e-mail của bạn trên đường đến người nhận là mã hóa nó. Muốn mã hóa, bạn dùng những khóa công cộng (public keys) của người nhận. Người nhận sẽ dùng khóa cá nhân của họ để giải mã thông điệp. Hiềm một nỗi, trước hết bạn phải có khóa công cộng của người nhận (và một chương trình gửi mail có tính năng mã hóa) thì mới gửi thông điệp được. Netscape Mail, Outlook Express và Eudora đều hỗ trợ mã hóa, nhưng thông điệp được mã hó bằng chương trình này có thể không đọc được trong chương trình kia, vì vậy bạn có thể cần một chương trình của bên thứ ba như PGP for Personal Privacy.
Gửi qua một máy chủ khác
Các tay quậy có thể dùng thông điệp của bạn để định vị và đột nhập vào máy bạn; bạn càng thẳng thắn, càng khét tiếng hay hấp dẫn bao nhiêu, càng dễ thành đích ngầm bấy nhiêu. Nếu muốn trước sau vẫn là vô danh trong nhóm tin thượng vàng hạ cám trên Usenet, hãy dùng công cụ gọi là "nặc danh hóa thông điệp". Các công cụ này xóa bỏ tên và địa chỉ e-mail của bạn, nhờ đó bạn có thể gửi e-mail đến một nhóm tin Usenet, một danh mục gửi hàng (mailing list) hoặc cá nhân nào đó mà không bị lộ tung tích. Anonymizer là một công cụ tốt (xem "Mặc đồ giả trang"), cũng như WorldWideWebAnonymous Remailer (www.replay.com/remailer/anonhtml). Muốn có nhiều thứ để chọn hơn, hãy thăm List of Reliable Anonymous Remailers tại ww.cs.berkeley.edu/~raph/remailer-list.html.
Ký tên vào thông điệp
Ðể giúp người nhận kiểm chứng có phải mail họ nhận được là của bạn gửi không, bạn có thể "ký tên" vào e-mail bằng một chữ ký số. Trước hết cần có một mã cá nhân kỹ thuật số (digital ID) rồi cài vào trình duyệt của bạn. Thế là mỗi khi tạo một thông điệp, bạn có thể ký bằng kỹ thuật số nhờ khóa riêng của digital ID. Người nhận sẽ giải mã hoặc kiểm chứng thông điệp được ký (mã hóa) bằng khóa công cộng do bạn cung cấp. Dĩ nhiên, người nhận cần phải có khóa công cộng (và một chương trình thư điện tử hỗ trợ chữ ký số) mới đọc được thông điệp của bạn. Ngoài ra, mã cá nhân kỹ thuật số chẳng phải là miễn phí: VeriSign (www.verisign.com) chẳng hạn, giá 10 USD một năm.
Muốn mua mã cá nhân kỹ thuật số trong Navigator 4.0, chọn Communicator, Security Info, sau đó chọn Yours dưới dòng Certificates, rồi nhân nút Obtain New Certificate. Trong IE 4.0, đầu tiên lấy một digital ID từ Web site của VeriSign (hay một nhà cung cấp mã cá nhân khác.). Kế đó, chọn View.Internet Options. Content, nhấn nút Edit Profile và tạo một địa chỉ e-mail cho chính bạn. Cuối cùng, nhấn tab Digital Ids, chọn địa chỉ e-mail mà bạn muốn áp dụng mã cá nhân này, nhấn Import rồi duyệt lại xem mã cá nhân đã có trong ổ cứng chưa.Ðứng tán gẫu hàng giờ Tán gẫu trực tiếp ngay trên Internet rất thú vị, điều đó đã hẳn. Thế nhưng, chính các chương trình cho phép tán gẫu như ICQ và AOL Instant Messenger lại khiến hệ thống của bạn mất an toàn một cách nghiêm trọng là đằng khác. Nhằm nhấn mạnh những hiểm họa này, ICQ khuyến cáo mạnh mẽ trong Ðiều Kiện Hợp Ðồng như sau: "... dữ liệu và thông tin trên ICQ Services và Information có thể là đối tượng cho những hành vi xâm phạm sự riêng tư và an toàn cá nhân; các hành vi này gồm có - nhưng không phải chỉ có.- những hành vi tội phạm như xâm phạm điện tử (electronic trespassing), do thám (nguyên văn: to sniff, đánh hơi, ND), chơi xỏ, mạo danh, nghe lén, phá mật khẩu, quấy rối và lừa đảo". Sự thật lạnh lùng và khắc nghiệt là thế. Quả tình không có cách nào cho bạn tán gẫu trên Internet hoàn toàn bình an vô sự cả. Vậy vấn đề là: bạn có thấy vui vẻ không? Nếu không, đừng tán gẫu nữa.
Bắt kẻ quấy phá phải ngậm miệng
Ít nhất, những thông điệp quảng cáo bất tận làm cho bạn bực mình. Nhưng tệ nhất, chúng sẽ khiến trì trệ công việc vì bạn phải phân loại hàng trăm thông điệp đủ thứ, hay buộc gia đình bạn và chính bạn phải phơi mình ra nhận hàng đống mẫu quảng cáo ba láp và tài liệu ấm ớ. Nhưng đâu hẳn cứ phải vậy. Hãy làm theo những bước sau để tự giải thoát khỏi đống hổ lốn này.
Lướt trên Internet bằng tên khác
Nếu nhà cung cấp dịch vụ dành cho bạn nhiều hơn một account với cùng một khoản cước hàng tháng, hãy dành một trong số account đó làm địa chỉ e-mail chính của bạn. In địa chỉ đó lên danh thiếp và cho bạn bè đồng nghiệp biết. Nhưng đừng dùng địa chỉ đó để lướt trên Internet, đừng nhập nó vào profile người dùng e-mail trong trình duyệt, cũng đừng đả động tới nó khi đăng ký vào các Web site. Thay vào đó, hãy dùng một địa chỉ thứ hai cho những việc này. Sau đó ngồi xem những mail ba lắp theo nhau đổ vào. Chẳng sao cả, chỉ có điều ít lâu sau, hộp thư của account dành cho Internet sẽ đầy ắp, lâu lâu bạn nhớ đổ một lần mà thôi.
Ðừng mở các mail vớ vẩn
Kẻ quấy nhiễu thường xuyên gõ cửa các e-mail, hy vọng sẽ gặp ai đó ở nhà. Những kẻ quấy nhiễu có hạng có thể gửi mail có yêu cầu hồi đáp. Chỉ cần mở thông điệp tức là bạn đã hồi đáp và mặc nhiên cho kẻ quấy nhiễu biết bạn sẵn sàng nhận nhiều thông điệp hơn nữa. Trước tiên hãy quét các tiêu đề thông điệp để tìm dấu hiệu không thể chối cãi của quảng cáo vớ vẩn (chẳng hạn "Ngồi ngay ở nhà mà có thể kiếm đô la!"); tìm ra thì xóa không thương tiếc.
Nếu vô tình mở một mẩu quảng cáo vớ vẩn, đừng thử trả lời, cho dù thông điệp chỉ thị bạn làm như vậy, nếu muốn gạch tên bạn khỏi danh sách nhận quảng cáo. Trả lời thông điệp chỉ có nghĩa là xác nhận bạn là con mồi kẻ quấy nhiễu có thể làm tới, một đỉa chỉ hắn có thể bán lại cho những phường quấy nhiễu khác, cứ thế liên tục và bất tận.
Khiếu nại với người quản lý
Nếu nhận được một e-mail chướng tai, hãy khiếu nại lên nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP - Internet Service Provider) của bạn. Trong một số trường hợp, ISP sẽ bổ sung kẻ quấy nhiễu đó vào hệ thống "tiễu trừ quấy nhiễu" của chính họ, nếu có. Trong các trường hợp khác, ISP có thể mang khiếu nại đó đến thẳng ISP của nhà phần cứng. Giả sử địa chỉ hồi đáp của kẻ quấy nhiễu đó không hoàn toàn giả mạo, ISP của y có thể buộc y ngưng ngay trò đó, nếu không sẽ bị phong tỏa account. Muốn biết thêm chi tiết về kẻ quấy nhiễu và ISP của họ, bạn có thể tham khảo thêm trang Spam Patrol’s Tracking Spam to Its Source (Truy tìm tận hang ổ kẻ quấy nhiễu) trên địa chỉ Internet: www.fmp.com/spam_patrol/tracking.html).
ThaiHoa
28-07-2004, 09:30 AM
CHE DẤU IP KHI LÊN MẠNG
Chao cac anh em! gan day co mot so anh em hoi em ve van de che IP khi len mang. Sau khi di dao boi tren Internet mot thoi gian thi em thay mot so tai lieu co de cap den cac chuong trinh nhu: DC_JS, Genius, Stealth Anonymizer, Multiproxy....Theo em thi chang can den nhung chuong trinh nay. Tat ca nhung gi ma anh em can la Browser, Telnet va mot chut ky nang ve mang. Em xin man phep dem chut it hieu biet nong can cua minh ra chia se voi anh em. Duoi day la cach che IP khi hanh su (Web, E-mail, FTP, Telnet). Chac nhieu anh em se nghi la bai don gian nhu vay ma cung send len, mong anh em thong cam....Em send len cho cac anh em Beganner.
Che IP khi duyet Web: Qua don gian khoi noi anh em cung biet...Chi can dung Proxy la Ok lien. Kiem cac trang Web Proxy da duoc Config san. Anh em chi viec len do go dia chi trang Web ma anh em muon Visit an danh vao-Ok. Neu anh em len Internet kiem duoc mot cai Proxy dai loai nhu sau: 208.57.0.100:80...Port 80, o dung day la Proxy cho Web roi. Anh em khoi dong Inernet Explorer. Vao Tools/Internet Options/ Connection/Lan Setting. Nhan vao Use a Proxy Setting/Advance....O day co cac Form de cau hinh Proxy cho Web, FTP.... Anh em Copy 208.57.0.100 vao Address va =
80 vao Port. FTP anh em xem kiem duoc cai Proxy nao thi copy vao not (FTP co Port mac dinh la 21). De cho chac cop anh em cu chon xai cac Anonymous Proxy.
Che IP send Mail: Anh em co the dung chuong trinh Dnd...No co the tao IP gia cung nhu gia mao luon duoc ca Host nua. Anh em nao ngai Down no thi cu xai Webmail. Roi dung Proxy de truy cap vao Webmail de Send mail. IP cua anh khi truy cap vao Webmail cung nhu tren Header cua cai Mail send di se la IP cua cai Proxy ma anh em dung.
Che IP khi Telnet va FTP: Den day thi anh em co the lam theo nhu cach ma ban camaptrang@ da de cap den hom no. Kiem cai Wingate Sever, Telnet vao no....Tiep do Telnet, hoac FTP vao muc tieu ma anh em muon che IP. Ip ma Server no log duoc chinh la Ip cua Wingate Server. Cac lenh cua Telnet thi tuy, neu Server xai Winnt thi cac dong lenh cua no giong nhu cac dong lenh DOS, neu Sever xai Unix/Linux thi cac dong lenh cua no lai giong nhu Unix/Linux. Con FTP thi co cac dong lenh chuan sau (bat cu Server xai OS nao)
Dau tien anh em go: ftp host de connect vao Server FTP, neu la Server Anonymous thi User/Pass anh co the nhap Guest, Anonymous hoac cai gi cung OK het(doi voi cac Server loai nay anh chi co the down, dir, cd thoi...noi chung la khong co quyen sua doi cac File tren Server), neu la Server Normal thi no se doi User/Pass....Anh em phai co User/Pass truoc khi Connect (voi Server loai nay anh em co toan quyen sua doi, di chuyen, del....khong gioi han cac file tren Server). Sau khi thanh cong anh em se thay dang.
ftp>
OK! anh em da connect duoc vao FTP Server roi do. Duoi day la cac lenh FTP. Neu quen co khi anh em khoi can dung cac chuong trinh FTP nhu Cute FTP, WS FTP pro...nua. Cu type lenh la xong.
dir-hien thi thu muc va file tren Server.
cd-chuyen doi giua cac thu muc tren Server.
get-Down 1 file tu Server.
mget-Down nhieu file tu Server.
put-up 1 file len Server.
mput-up nhieu file len Server.
pwd-hien thi thu muc hien hanh tren Server.
mkdir-tao thu muc.
rmdir-xoa thu muc
chmod-thiet lap tuy chon cho thu muc/file
hash-hien thi chi tiet thong tin ve viec truyen nhan du lieu.
ascii-chuyen sang che do ascii.
binary-chuyen sang che do nhi phan.
close-cham dut ket noi.
quit-thoat khoi moi truong FTP.
ThaiHoa
28-07-2004, 09:31 AM
BA CÁCH TẤN CÔNG VÀO WEBSITE
Kinh nghiem em con hoi non kem! em co nghe noi la co 3 cach tan cong vao trang Web:
Cach 1: Hack Pass, co nghia la ta chom duoc Pass de truy nhap vao va sua doi duoc noi dung cua trang Web do. Co kha nhieu ky thuat phuc tap, nhung co mot chuong trinh duoc nhieu anh em nghiep du su dung la Webcrack. Anh em co the Down ve tu dia chi http://webcrack.home.ml.org/ hoac mot so chuong trinh be pass theo kieu Brute Force.
Cach 2: Lam ngap trang Web bang ky thuat (Distributed Denial Of Service), muc dich lam trang Web ngung tre, anh em co the dung chuong trinh Smurf ma em da gioi thieu...Hoac nhieu chuong trinh khac.
Cach 3: Hack Domain, cach nay em khong biet ro nua. Hinh nhu nam truoc trang chu cua Vitranet cung bi Hacker o nuoc ngoai tan cong bang cach nay thi phai.
ThaiHoa
28-07-2004, 09:33 AM
HAI CÁCH TẤN CÔNG BẰNG BACK ICE
SNMP BackDoor: Don gian la tan cong hay noi chinh xac hon la dot nhap bang Back Door Trojan (hay con co ten la cua sau). Back Door la mot chuong trinh, khi nhiem vao may cua nan nhan no se mo mot Port nao do o may nan nhan khi ho Online...Ta co the dung Client cua con Back Door do de dot nhap vao may cua nan nhan. Khi dot nhap duoc vao may ho ta co the toan quyen dieu khien may ho. Co rat nhieu Back Door nhu: Netbus, Sub 7, Back Orifice....Vay lam sao de biet khi nao ho Online de ta dot nhap???Chang han nhu ban da lay duoc Server cua Sub7 vao may nan nhan. Sub 7 mac dinh dung 2 Port 27374 va 27573. Ban hay dung bat cu mot chuong trinh Scanner nao do. Ban Scan IP va Port 27374, 27573...Neu may nao bi nhiem Server ma hien dang Online thi no se mo mot trong 2 Port tren va bao cho ta biet. Luc nay ta chi viec vac Client cua con Sub7 ra, Copy IP cua ho vao va Connect.
NetBIOS Port Probe: Windows hoac cac phan mem chi se file, cong nghe noi mang cua Windows, NetBios va NetBeui duoc thiet ke va ung dung trong moi truong mang LAN de chia se cac tai nguyen, file, Print...Len tinh an toan rat kem. Ban chi can dung chuong trinh Region 2.1 de Scanner Ip cua cac may tren Internet. Neu may nao co cai cac tinh nang noi tren thi chuong trinh se cho phep ban dot nhap vao o cung cua may do, dot nhap vao may chu (may co cai Modem va su dung Win9x trong mang LAN - may dang Online ) de dung cac tai nguyen co trong mang LAN do.
P/S: Ca hai cach tren deu kho thuc hien duoc neu nan nhan xai Firewall.
ThaiHoa
28-07-2004, 09:36 AM
Mẹo nhỏ bảo mật PHP trong môi trường Web-Hosting
--------------------------------------------------------------------------------
Bạn là một admin trông coi các web-hosting. Bạn muốn các vhost chỉ được phép truy cập đến các file của vhost đó và cấm tất cả các vhost thực thi các lệnh gọi hệ thống qua PHP. File php.ini có sẵn 3 tùy chọn cấu hình để bạn hoàn thành việc này:
safe_mode=on // bật chế độ an toàn
open_basedir= <open_dir> // cô lập truy cập file trong thư mục <open_dir>
safe_mode_exec_dir=<exec_dir> // cô lập lệnh gọi hệ thống trong thư mục <exec_dir>
Đây là ví dụ mẫu dành cho bạn tham khảo:
# mkdir /usr/local/none
# vi /usr/local/apache/conf/php.ini
safe_mod=on
safe_mode_exec_dir=/usr/local/none
# vi /usr/local/apache/conf/httpd.conf
NameVirtualHost 10.0.0.1:80
<VirtualHost 10.0.0.1:80>
ServerName *.domain1.com
DocumentRoot /home/vhost/domain1.com/htdocs
CustomLog /home/vhost/domain1.com/logs/access_log combined
ErrorLog /home/vhost/domain1.com/logs/error_log
<IfModule mod_php4.c>
php_admin_flag engine on
php_admin_value open_basedir "/home/vhost/domain1.com/htdocs:/tmp"
</IfModule>
</VirtualHost>
<VirtualHost 10.0.0.1:80>
ServerName *.domain2.com
DocumentRoot /home/vhost/domain2.com/htdocs
CustomLog /home/vhost/domain2.com/logs/access_log combined
ErrorLog /home/vhost/domain2.com/logs/error_log
<IfModule mod_php4.c>
php_admin_flag engine on
php_admin_value open_basedir "/home/vhost/domain2.com/htdocs:/tmp"
</IfModule>
</VirtualHost>
# /usr/local/apache/bin/apachectl restart
Đầu tiên bạn tạo thư mục trống /usr/local/none bằng lệnh mkdir. Các vhost có thể gọi hàm gọi hàm system(), exec() hoặc passthru(), ... nhưng do bạn đã đặt safe_mode_exec_dir=/usr/local/none trong file php.ini nên họ không thể chạy ls, cat, ... ngoài thư mục /usr/local/none (root.root - dwrx-rx-rx). domain1.com chỉ có thể mở các file trong thư mục /home/vhost/domain1.com/htdocs và /tmp. domain1.com không được phép truy cập đến các file trong thư mục /home/vhost/domain2.com/htdocs của domain2.com do bạn đã set open_basedir cho domain1.com là "/home/vhost/domain1.com/htdocs:/tmp". domain2.com cũng tương tự như vậy.
ThaiHoa
28-07-2004, 02:20 PM
CÁC LỖI THƯỜNG GẶP TRONG WORD
1. Hiện tượng chữ sau cách xa chữ trước khi gõ font Unicode:
Nhiều khi, văn bản bạn soạn thảo sẽ bị cách ra sau khi gõ dấu, dù chưa hề nhấn phím cách. Để khắc phục tình trạng này, bạn vào Tools > Options > Edit rồi bỏ dấu chọn dòng “Smart cut and paste”, nhấn OK.
2. Chữ hoa đầu câu là nguyên âm có dấu tiếng Việt bị thụt xuống:
Trước khi gõ từ có chữ hoa nguyên âm ở đầu câu, bạn vào Tools > AutoCorrect Options > AutoCorrect rồi bỏ dấu kiểm ở dòng Correct Two Intial Capital và OK.
3. Muốn gõ chữ thường ở đầu dòng nhưng Word tự sửa thành chữ hoa:
Bạn vào Tools > AutoCorrect Options > AutoCorrect rồi bỏ dấu kiểm ở dòng Capitalize first Letter of Sentence.
4. Bỏ dấu gạch chân dạng sóng dưới dòng chữ.
Thực ra đây không phải là lỗi mà là chức năng soát lỗi chính tả và ngữ pháp tiếng Anh. Nó cũng không xuất hiện trong bản in. Tuy nhiên, nhìn vào đó khá rối mắt nên bạn có thể bỏ đi bằng cách vào Tools > Options > Spelling and Grammar, bỏ dấu kiểm ở dòng Check grammar as you type.
ThaiHoa
29-07-2004, 02:53 PM
ĐỘT NHẬP BẰNG BACKDOOR
Lai ban ve cach dot nhap qua mang....OK! hom nay toi xin trao doi cung cac ban mot cach dot nhap het suc "Farmer" nhung kha de va hieu qua. Chung ta hay bat dau.
Neu ban hoi cac Hacker chuyen nghiep cung nhu cac Hacker nghiep du rang cach thuc dot nhap nao la de nhat. Thi chac chan ban se nha duoc cau tra loi do la dot nhap bang BackDoor...OK!
BackDoor la gi?
Backdoor la ten mot cong cu thuoc ho Trojan. Dung nhu ten goi "Backdoor" dich tu tieng anh sang tieng viet co nghia la cua sau. Nguyen ly hoat dong cua cong cu nay kha don gian, khi duoc chay tren may nan nhan, no se thuong truc tren bo nho va mo mot Port (do ta dat, hoac mac dinh)....Cho phep ta de dang dot nhap vao may nan nhan thong qua Port ma no da mo...Ta co the toan quyen dieu khien may nan nhan.
Bay gio chung ta bat dau di vao van de chinh....
Su dung Backdoor nhu the nao ?
Dau tien ban can kiem mot Backdoor tot, co kha nhieu cong cu dang nay tren cac Site Hacker....Tuy nhien toi thay Best nhat van la Sub7 (Ver moi nhat la 2.2). Chay doc Readme de xem Port mac dinh cua no (Port se Open tren may nan nhan cho ta dot nhap). Da so cac Backdoor deu da duoc cau hinh o che do de dung nhat. Tuy nhien neu can ban co the chay file Client de Config lai thong so cho Server, VD: nhu Pass cua Server, doi Port khac....Ban nao con it kinh nghiem thi len dung cac Backdoor co giao dien do hoa cho de dung. Ban nao co kinh nghiem ve Network or Unix thi co the dung cac Backdoor Telnet (khong co giao dien do hoa - tat ca thao tac deu dua tren dong lenh).
Lay nhiem Backdoor vao may nan nhan.
Co rat nhieu cach de lay nhiem Backdoor vao may cua nan nhan. Ban co the dung Godwill, Godmessage, HKC....de nhung Server cua Backdoor vao file *.html (Server phai <=50 KB). Tuy nhien neu Server qua lon thi ban co the dung chuong Downloader, no se downloader server ve may nan nhan va run no tu dia chi chua no ma ta da Config. Sau khi nhung, dang ky mot Site, up no len thanh index.html....Ru nan nhan vao (co rat nhieu cach). OK nan nhan da nhiem.
Lam the nao de dot nhap?
De dot nhap vo may ho thi dieu truoc tien can xac dinh la thoi gian ho Online....Boi vi neu ho khong Online thi cach duy nhat de dot nhap vao nha ho co le la treo tuong vo, pha khoa roi den cho dat may tinh cua ho thoi. Sub7 co tinh nang tuyet voi la no se mail, ICQ, AIM...cho ta khi nao nan nhan Online. Con cac Backdoor khac khong co tinh nang nay thi ban phai dung mot chuong trinh Scanport nhu Scanner chang han. Scan mot day cac IP tren mang voi Port la POrt cua Backdoor. VD: Toi dung Backdoor Undetect no co Port la 777. Toi Scan mot khoang IP voi Port la 777 (co nhieu kha nang Port thuong bi trung voi cac Port ung dung, Port cua Trojan khac...Tuy nhien vi adyla bai viet co tinh huong dan len toi khong de cap den). Neu may nao bi dinh Undetect no se Open Port 777 va bao ve cho toi beit IP cua ho. OK! Biet duoc IP cua ho roi, dieu con lai ban chi viec mo Client cua no ra copy IP cua ho vao, nhan Connect....OK! ban da nam trong tay toan quyen dieu khien may nan nhan khi ho Online.
Mot so tinh nang cua Sub7
Toi khuyen cac ban len dung Sub7 no rat tuyet voi.
- Ngoai quyen dieu khien, lam nhung tro vui ve tren may nan nhan ra no con co the lam nhieu tro khac nua.
- Server cuc nho.
- Lam Plugin va do phu tro.
- De dung.
- Co ho tro Sock 4,5 va Proxy de an danh tung tich khi dot nhap.
- Bien may nan nhan thanh Zombine de ho tro cac cuoc tan cong DOS voi quy mo lon.
- Newbie co the dung GUI, sanh dieu co the dung Console.
....Va con nhieu tinh nang khac toi chua kham pha ra xin de danh cho cac ban.
Back Orifice 2k (BO2k) la mot Backdoor noi tieng, no cung co cac tinh nang tuong tu nhu Sub7 nhung lai hoi kho dung. Tuy nhien neu ban nao am hieu ve Networking va cac giao thuc thi len su dung BO2k vi no co tinh tuy bien kha cao theo yeu cau cua nguoi su dung.
Chuc cac ban thanh cong.
ThaiHoa
29-07-2004, 06:22 PM
Hiện 200 Mail Yahoo 1 Lúc
Và mửi lần xem thư bạn thấy rất tức vì Yahoo chỉ cho hiện xem có 25 bức thư một lần, và những bức thư trước đó thì đã bị che khuất không nhìn thấy, bạn phải next để hiện lần lượt những trang tiếp theo. Như vậy rất lâu và có vẻ cũng chưa thích cho lắm. Và nhất là khi bạn bị dính bomb thư thì sao, chẳng hạn kẻ trót bỏ bomb ta mà đã trót đánh những vài nghìn lá thì mửi lần phải xoá chỉ được có 25 bức thì bạn sẽ phải mất đến hàng trăm lần xoá thì kể cũng mệt và tốn tiền trả cước phí truy nhập Internet thật, giờ đây bạn chỉ cần mất có vài phút để xoá hàng 200 bức thư một lần trong Inbox với cách làm dưới đây, ngoài ra bạn cũng có thể viết tên của mình bằng tiếng việt( Tên của bạn đi kèm theo địa chỉ khi bạn viết thư cho ai ấy mà, ví dụ tôi viết thư cho ai đó thì cái tên đi kèm của tôi là ( to: dthoabk@yahoo.com ), rất hay và thích phải không . Hôm nay tôi sẽ giới thiệu với các bạn cách giải quyết như trên bằng hình ảnh và hướng dẫn tượng trưng dưới đây nhé, thật dễ hiệu và đơn giản thôi.
Trước tiên bạn hãy phải vào hòm thư của mình đã và khi vào được rồi thì bạn thấy đúng là bạn chỉ nhìn thấy có 25 bức thư phải không, hãy yên tâm đi và bạn hãy nhìn hình và nhắp vào Mail Options ở bên phải màn hình
Bây giờ thì bạn đã vào trong Mail Options và bạn có thể thay đổi được rồi, bạn hãy nhìn lên và hãy nhắp chuột vào General Preferences nhé và chờ tiếp cho đến khi hình sau xuất hiện:
Bây giờ bạn hãy thay đổi như tôi hướng dẫn nhé:
Bạn nhìn thấy phần Message per Page chứ , bạn nhắp chuột vào menu thả Show nó sẽ hiện ra list cho bạn chọn số bức thư được hiện, theo tôi thì bạn nên chọn 50 bức thôi vì như thế mửi lần check mail sẽ nhanh hơn, chỉ khi nào bị bomb thư mới cần chọn 200,sau đó bạn nhắp chuột vào Save thế là xong. Nhưng còn điều thứ 2 là bạn đã vào đây rồi thì cũng nên việt hoá tên của bạn, nghĩa là như dòng tên From name ấy, bây giờ bạn cũng nên đánh tên của mình vào đó bằng cách dùng Việt key chọn cách gõ telex và chọn mã 42 trong việt key, khi đánh nó sẽ hiện ra như kiểu là Hoàng Dũng nhưng sau đó sẽ được đó yên tâm đi. Cuối cùng bạn chỉ việc nhìn lên trên và chọn Save như trên là xong. Bây giờ bạn chọn Finish và sau đó Check mail là thấy hiệu nghiệm ngay mà Khà khà, bây giờ thì có 1000 bức thư chẳng hạn thì bạn chỉ việc xoá có 10 lần thôi, hãy kiểm nghiệm nhé.
vBulletin® v3.6.11, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.