Tịnh Ngọc
06-12-2004, 01:42 AM
Nguyễn Châu
Trong cuốn "Văn Minh VN" ở phần Sinh hoạt tình cảm, tácgiả Lê Văn Siêu đã băn khoăn đặt câu hỏi:
- Cái gì làm cho con người thành một con người?
Câu hỏi mới nghe qua thấy có phần ngờ nghệch, vì đã gọi là "con người" sao lại còn hỏi: cái gì làm "con người thành một con người?".
Trong quá trình tiến hóa của muôn loài trên trái đất, có lẽ loài người là phức tạp nhất. Chính vì sự phức tạp này mà từ thời thượng cổ, người ta đã đi tìm một định nghĩa cho con người. Câu hỏi: "Thế nào là người?" đã được đặt ra. Và trong Lịch sử Triết học, đã có khá nhiều chuyện lý thú về định nghĩa con người.
Chuyện thứ nhất: "Một hôm, nhà hiền triết Platon, khigiảng sách cho các môn đệ, đã bảo rằng "người là một con vật có hai chân, mà không có lông vũ. Triết gia Diogène đã châm biếm câu nói đó một cách tài tình và dí dỏm. Đó là vào hôm sau, ông mang đến một con gà sống, vặt trụi lông, quăng ra giữa lớp học của Platon mà bảo:
- "Đấy! Con người của Platon !"
Platon bị Diogène chế nhạo là vì đã đưa ra một định nghĩa quá ư thô thiển và thiếu sót về con người. Diogène là một nhà hiền triết Hy Lạp một thời được nhiều người biết đến, vì ngay giữa ban ngày sáng sủa, ông cầm đèn đi lang thang ở ngoài đường; hỏi đi đâu, Diogène đáp: "Tôi đi tìm con người".Thái độ này của Diogène đã làm cho nhiều người đương thời nghĩ rằng ông ta là một kẻ khùng. Vì đối với đa số thì chung quanh Diogène toàn là người cả, sao lại còn đi tìm người? Diogène khùng điên, ngớ ngẩn hay Diogène quá sâu sắc?
Thế nào là một con người đầy đủ nhân tính? Những sinh vật gọi là người trong xã hội đầy tranh chấp, hận thù, ngu muội, kiêu căng, hung tàn, độc ác và đầy dục vọng từ bản năng chung với loài thú, có xứng đáng với danh nghĩa con người đích thực chăng?
Thì ra công cuộc cầm đèn lang thang giữa ban ngày đi tìm "con người" của Diogène là một hành trình tìm nhân tính, tìm một con người đầy đủ đặc tính làm người.
Cũng nên biết thêm: Diogène là một hiền triết không có nhà cửa, vợ con, ông sống lang thang như một người tiền sử, mọi rợ, chỗ ở là một cái thùng đựng rượu trống.
Triết thuyết của Diogène là thuyết coi thường cuộc đời. Ông không có dụng cụ, đồ đạc gì ngoài cái bát để ăn cơm và uống nước. Nhưng, một hôm, nhân khi đi qua một con suối, ông thấy một người đàn bà chụm tay lại vốc nước lên uống, ông đã suy tư và nhận thấy cái bát của ông không còn là cần thiết nữa, ông đập vỡ cái bát và từ đó bốc cơm bằng tay, vốc nước uống.
Đông Phương xưa, Khổng Phu Tử đã từng than: "Vi nhơn nan! Vi nhơn nan!" Làm người khó thay! Cái Gì Làm Cho Con Người Thành Người Trở lại với nỗi băn khoăn của nhà nghiên cứu văn hóa dân tộc Lê Văn Siêu. Sau khi đặt câu hỏi trên, cụ Lê Văn Siêu đã đưa ra câu trả lời rằng: "- Không phải cái mặt, mà là cái lòng người ta ăn ở với nhaụ "- Vậy thì cái gì làm cho xã hội loài người thành một xã hội của loài người?
"- Nhất định cũng không phải những dụng cụ chứng tỏ một trình độ tiến hóa kỹ thuật mà là những tình người khi sử dụng những dụng cụ ấy trong cuộc sống chung với nhaụ" (Lê Văn Siêu, Văn Minh VN, trang 101).
Trên đây là đoạn "Khai lối" của Lê Văn Siêu vào nếp sinh hoạt tình cảm của xã hội VN. Lê Văn Siêu đã bắt đầu từ tình vợ chồng, thứ đến là tình cha con, thứ ba là tình anh em, họ hàng, thứ tư là tình thầy tớ, thứ năm là tình thầy trò và bè bạn. Nội dung của năm chương sách tác giả Lê Văn Siêu đã phân tích và làm nổi bật những nét độc đáo và đặc thù của những mối liên hệ tình cảm và cách bộc lộ tình cảm trong cuộc sống. Theo Lê Văn Siêu, nếp sống tế nhị này của người Việt chỉ có thể cảm nhận bằng trái tim trong khung cảnh tế nhị của nếp sống dân tộc, không thể dùng phương pháp duy lý Tây Phương để phân tích một cách gọi là khoa học thực nghiệm được...
Theo Lê Văn Siêu thì "cái lòng ăn ở với nhau" là yếu tố cần thiết để con người thành người, nghĩa là biểu lộ đầy đủ nhân tính. Cái lòng ăn ở với nhau ở đây phải chăng là Tình, Nghĩa và Lòng Biết Ơn?
Ơn Là Gì ?
Ơn cũng thường gọi là Ân (gốc Hán Việt). Ơn là những việc làm, những hành vi giúp ích, đem lại phúc lợi cho người khác (tha nhân) do lòng thương yêu, từ ái thúc đẩy, chứ không bắt nguồn từ một ý chí vụ lợi nào cả. Ơn là một biểu lộ cao quý của tình yêu, một tình cảm ban bố vô điều kiện... Chữ Ân này Hán tự viết theo lối hội ý gồm chữ Nhân (có nghĩa là: do từ, bởi dọ..) phía dưới là chữ Tâm (có nghĩa là trái tim, là lòng yêu thương), như vậy "ơn" là hành động phát xuất từ lòng ["do tâm"]. Hán tự còn một chữ Ân có bộ Tâm nữa với ý nghĩa là sự lo lắng, là tình cảm đậm đà như trong từ ngữ "ân cần". Một chữ đồng âm "ân" khác có nghĩa là thịnh vượng, đầy đủ, chẳng hạn: "ân phú" là giàu có. Chữ "ân" này không có bộ tâm, nghĩa là không thuộc về tình cảm. Những Tiếng Kép Có "Ân" .Hình như Ơn hay Ân từ ngàn xưa và khắp đông tây đều đã rất phổ biến trong mọi sinh hoạt hàng ngày của loài người. Quốc gia nào dường như cũng có tiếng cảm ơn và có nhiều cách để bày tỏ lòng biết ơn. Có lẽ vì thế cho nên trong ngôn ngữ Trung Hoa và VN đã có khá nhiều từ ngữ để chỉ các hình khái khác nhau của hành vi gọi là Ơn hay Ân.
Theo thứ tự mẫu tự xin trình bày lần lượt như sau:
1. Ân ái: theo từ điển Thiều Chửu thì "ân ái" là vợ chồng cùng yêu nhau và cho nhau tất cả. Có khi nói là ái ân có nghĩa là những hạnh phúc, vui sướng vợ chồng ban cho nhaụ Từ điển Đào Duy Anh ghi là "ái tình rất thân thiết" (affection mutuelle).
2. Ân ba: nguồn ân lâu bền như sóng (bienfaits inépuisables)
3. Ân cần: lo lắng chu đáo.
4. Ân điển: Sự ban thưởng của vua nhân ngày khánh tiết (dịp vui mừng lớn).
5. Ân đức: Lòng hay làm ơn, ban ơn.
6. Ân hận: lòng thấy hối tiếc về hành vi sai phạm của mình kèm theo ý hướng muốn đền bù.
7. Ân huệ: Việc tốt, phúc lợi đem lại cho tha nhân vì lòng thương bao dung... Chữ "Huệ" cũng có nghĩa là lòng thương cao quý đối với con người. "Huệ" là cho ơn, thể hiện Ơn bằng hành vi cụ thể (faveur, favor).
8. Ân khoa: Khoa thi đặc biệt dành cho sĩ tử thời quân chủ nhân dịp vui mừng của quốc giạ
9. Ân nghĩa: Mối tương quan giữa người ra ơn và người nhận ơn. (sẽ bàn thêm trong phần Ân Nghĩa).
10. Ân nhân: người làm ơn (cũng gọi là ân gia).
11. Ân sủng: Ơn huệ từ vua ban xuống (faveur impériale).
12 Ân tình: những cho nhận, ban phát do tình yêu (favors of love).
13. Ân trạch: Ơn vua dành cho triều thần.
14. Ân tứ: Ơn vuạ
15. Ân xá: tha thứ một cách quảng đại, vô điều kiện.
Những Thứ Ân Hay Ơn Trong Cuộc Đời
Đời sống tình cảm của con người ở đời rất phong phú và phức tạp. Sự phức tạp của tình cảm thường phát xuất từ vấn đề tình nghĩa. Tình là lòng yêu thương và nghĩa là ý thức về điều hay lẽ phải, về những cái nên làm, đáng làm. Tình là những biểu lộ của trái tim, nghĩa là những hành vi từ khối óc, trí tuệ. Con người có đủ tâm trí thì tình nghĩa mới điều hòa và cuộc đời mới hạnh phúc an vui .Xưa nay, người đời sợ nhất là những kẻ vô tình và bất nghĩa, hoặc những người bội nghĩa vong ân. Vì nhân loại đã chịu biết bao nhiêu nỗi đau thương do hành vi vô ơn bạc nghĩa gây nên! Do đó vấn đề "Ơn nghĩa" rất cần tìm hiểu sâu xạ Tuy xuất phát từ Tâm, nhưng mỗi hoàn cảnh biểu lộ đều có một số dị biệt, cho nên cần khảo sát xem có bao nhiêu thứ Ơn trong cuộc đời.
(còn tiếp)
Trong cuốn "Văn Minh VN" ở phần Sinh hoạt tình cảm, tácgiả Lê Văn Siêu đã băn khoăn đặt câu hỏi:
- Cái gì làm cho con người thành một con người?
Câu hỏi mới nghe qua thấy có phần ngờ nghệch, vì đã gọi là "con người" sao lại còn hỏi: cái gì làm "con người thành một con người?".
Trong quá trình tiến hóa của muôn loài trên trái đất, có lẽ loài người là phức tạp nhất. Chính vì sự phức tạp này mà từ thời thượng cổ, người ta đã đi tìm một định nghĩa cho con người. Câu hỏi: "Thế nào là người?" đã được đặt ra. Và trong Lịch sử Triết học, đã có khá nhiều chuyện lý thú về định nghĩa con người.
Chuyện thứ nhất: "Một hôm, nhà hiền triết Platon, khigiảng sách cho các môn đệ, đã bảo rằng "người là một con vật có hai chân, mà không có lông vũ. Triết gia Diogène đã châm biếm câu nói đó một cách tài tình và dí dỏm. Đó là vào hôm sau, ông mang đến một con gà sống, vặt trụi lông, quăng ra giữa lớp học của Platon mà bảo:
- "Đấy! Con người của Platon !"
Platon bị Diogène chế nhạo là vì đã đưa ra một định nghĩa quá ư thô thiển và thiếu sót về con người. Diogène là một nhà hiền triết Hy Lạp một thời được nhiều người biết đến, vì ngay giữa ban ngày sáng sủa, ông cầm đèn đi lang thang ở ngoài đường; hỏi đi đâu, Diogène đáp: "Tôi đi tìm con người".Thái độ này của Diogène đã làm cho nhiều người đương thời nghĩ rằng ông ta là một kẻ khùng. Vì đối với đa số thì chung quanh Diogène toàn là người cả, sao lại còn đi tìm người? Diogène khùng điên, ngớ ngẩn hay Diogène quá sâu sắc?
Thế nào là một con người đầy đủ nhân tính? Những sinh vật gọi là người trong xã hội đầy tranh chấp, hận thù, ngu muội, kiêu căng, hung tàn, độc ác và đầy dục vọng từ bản năng chung với loài thú, có xứng đáng với danh nghĩa con người đích thực chăng?
Thì ra công cuộc cầm đèn lang thang giữa ban ngày đi tìm "con người" của Diogène là một hành trình tìm nhân tính, tìm một con người đầy đủ đặc tính làm người.
Cũng nên biết thêm: Diogène là một hiền triết không có nhà cửa, vợ con, ông sống lang thang như một người tiền sử, mọi rợ, chỗ ở là một cái thùng đựng rượu trống.
Triết thuyết của Diogène là thuyết coi thường cuộc đời. Ông không có dụng cụ, đồ đạc gì ngoài cái bát để ăn cơm và uống nước. Nhưng, một hôm, nhân khi đi qua một con suối, ông thấy một người đàn bà chụm tay lại vốc nước lên uống, ông đã suy tư và nhận thấy cái bát của ông không còn là cần thiết nữa, ông đập vỡ cái bát và từ đó bốc cơm bằng tay, vốc nước uống.
Đông Phương xưa, Khổng Phu Tử đã từng than: "Vi nhơn nan! Vi nhơn nan!" Làm người khó thay! Cái Gì Làm Cho Con Người Thành Người Trở lại với nỗi băn khoăn của nhà nghiên cứu văn hóa dân tộc Lê Văn Siêu. Sau khi đặt câu hỏi trên, cụ Lê Văn Siêu đã đưa ra câu trả lời rằng: "- Không phải cái mặt, mà là cái lòng người ta ăn ở với nhaụ "- Vậy thì cái gì làm cho xã hội loài người thành một xã hội của loài người?
"- Nhất định cũng không phải những dụng cụ chứng tỏ một trình độ tiến hóa kỹ thuật mà là những tình người khi sử dụng những dụng cụ ấy trong cuộc sống chung với nhaụ" (Lê Văn Siêu, Văn Minh VN, trang 101).
Trên đây là đoạn "Khai lối" của Lê Văn Siêu vào nếp sinh hoạt tình cảm của xã hội VN. Lê Văn Siêu đã bắt đầu từ tình vợ chồng, thứ đến là tình cha con, thứ ba là tình anh em, họ hàng, thứ tư là tình thầy tớ, thứ năm là tình thầy trò và bè bạn. Nội dung của năm chương sách tác giả Lê Văn Siêu đã phân tích và làm nổi bật những nét độc đáo và đặc thù của những mối liên hệ tình cảm và cách bộc lộ tình cảm trong cuộc sống. Theo Lê Văn Siêu, nếp sống tế nhị này của người Việt chỉ có thể cảm nhận bằng trái tim trong khung cảnh tế nhị của nếp sống dân tộc, không thể dùng phương pháp duy lý Tây Phương để phân tích một cách gọi là khoa học thực nghiệm được...
Theo Lê Văn Siêu thì "cái lòng ăn ở với nhau" là yếu tố cần thiết để con người thành người, nghĩa là biểu lộ đầy đủ nhân tính. Cái lòng ăn ở với nhau ở đây phải chăng là Tình, Nghĩa và Lòng Biết Ơn?
Ơn Là Gì ?
Ơn cũng thường gọi là Ân (gốc Hán Việt). Ơn là những việc làm, những hành vi giúp ích, đem lại phúc lợi cho người khác (tha nhân) do lòng thương yêu, từ ái thúc đẩy, chứ không bắt nguồn từ một ý chí vụ lợi nào cả. Ơn là một biểu lộ cao quý của tình yêu, một tình cảm ban bố vô điều kiện... Chữ Ân này Hán tự viết theo lối hội ý gồm chữ Nhân (có nghĩa là: do từ, bởi dọ..) phía dưới là chữ Tâm (có nghĩa là trái tim, là lòng yêu thương), như vậy "ơn" là hành động phát xuất từ lòng ["do tâm"]. Hán tự còn một chữ Ân có bộ Tâm nữa với ý nghĩa là sự lo lắng, là tình cảm đậm đà như trong từ ngữ "ân cần". Một chữ đồng âm "ân" khác có nghĩa là thịnh vượng, đầy đủ, chẳng hạn: "ân phú" là giàu có. Chữ "ân" này không có bộ tâm, nghĩa là không thuộc về tình cảm. Những Tiếng Kép Có "Ân" .Hình như Ơn hay Ân từ ngàn xưa và khắp đông tây đều đã rất phổ biến trong mọi sinh hoạt hàng ngày của loài người. Quốc gia nào dường như cũng có tiếng cảm ơn và có nhiều cách để bày tỏ lòng biết ơn. Có lẽ vì thế cho nên trong ngôn ngữ Trung Hoa và VN đã có khá nhiều từ ngữ để chỉ các hình khái khác nhau của hành vi gọi là Ơn hay Ân.
Theo thứ tự mẫu tự xin trình bày lần lượt như sau:
1. Ân ái: theo từ điển Thiều Chửu thì "ân ái" là vợ chồng cùng yêu nhau và cho nhau tất cả. Có khi nói là ái ân có nghĩa là những hạnh phúc, vui sướng vợ chồng ban cho nhaụ Từ điển Đào Duy Anh ghi là "ái tình rất thân thiết" (affection mutuelle).
2. Ân ba: nguồn ân lâu bền như sóng (bienfaits inépuisables)
3. Ân cần: lo lắng chu đáo.
4. Ân điển: Sự ban thưởng của vua nhân ngày khánh tiết (dịp vui mừng lớn).
5. Ân đức: Lòng hay làm ơn, ban ơn.
6. Ân hận: lòng thấy hối tiếc về hành vi sai phạm của mình kèm theo ý hướng muốn đền bù.
7. Ân huệ: Việc tốt, phúc lợi đem lại cho tha nhân vì lòng thương bao dung... Chữ "Huệ" cũng có nghĩa là lòng thương cao quý đối với con người. "Huệ" là cho ơn, thể hiện Ơn bằng hành vi cụ thể (faveur, favor).
8. Ân khoa: Khoa thi đặc biệt dành cho sĩ tử thời quân chủ nhân dịp vui mừng của quốc giạ
9. Ân nghĩa: Mối tương quan giữa người ra ơn và người nhận ơn. (sẽ bàn thêm trong phần Ân Nghĩa).
10. Ân nhân: người làm ơn (cũng gọi là ân gia).
11. Ân sủng: Ơn huệ từ vua ban xuống (faveur impériale).
12 Ân tình: những cho nhận, ban phát do tình yêu (favors of love).
13. Ân trạch: Ơn vua dành cho triều thần.
14. Ân tứ: Ơn vuạ
15. Ân xá: tha thứ một cách quảng đại, vô điều kiện.
Những Thứ Ân Hay Ơn Trong Cuộc Đời
Đời sống tình cảm của con người ở đời rất phong phú và phức tạp. Sự phức tạp của tình cảm thường phát xuất từ vấn đề tình nghĩa. Tình là lòng yêu thương và nghĩa là ý thức về điều hay lẽ phải, về những cái nên làm, đáng làm. Tình là những biểu lộ của trái tim, nghĩa là những hành vi từ khối óc, trí tuệ. Con người có đủ tâm trí thì tình nghĩa mới điều hòa và cuộc đời mới hạnh phúc an vui .Xưa nay, người đời sợ nhất là những kẻ vô tình và bất nghĩa, hoặc những người bội nghĩa vong ân. Vì nhân loại đã chịu biết bao nhiêu nỗi đau thương do hành vi vô ơn bạc nghĩa gây nên! Do đó vấn đề "Ơn nghĩa" rất cần tìm hiểu sâu xạ Tuy xuất phát từ Tâm, nhưng mỗi hoàn cảnh biểu lộ đều có một số dị biệt, cho nên cần khảo sát xem có bao nhiêu thứ Ơn trong cuộc đời.
(còn tiếp)