PDA

View Full Version : Tìm hiểu:Phong tục hôn nhân của dân Việt


Tịnh Ngọc
30-11-2004, 10:58 AM
Khải Chính Phạm Kim Thư

A. Hôn Nhân của Dân Việt

Theo phong tục Việt, cái gốc của gia đình gọi là hôn
nhân. Có hôn nhân mới có vợ chồng và con cái. Mục đích
của hôn nhân là để duy trì gia thống nên việc lập gia
đình là việc quan trọng của đại gia đình. Việc lấy vợ
lấy chồng gọi là hôn nhân, cưới xin, hôn thú, hôn thư,
hay giá thú. Trên các giấy tờ chứng nhận, người Việt
thường dùng chữ "giá thú.” "Giá” là lấy chồng, "thú”
là lấy vợ. Còn hôn thú chỉ có nghĩa là lấy vợ thôi.
"Hôn” có nghĩa là bố mẹ nàng dâu, "nhân” có nghĩa là bố
mẹ chàng rể. Nghĩa tổng quát của từ "hôn nhân” là
cưới xin (marriage). Theo truyền thống dân Việt, cha mẹ
thường lo cho con đầy đủ mọi thứ kể cả việc kén vợ
kén chồng cho con. Chính vì thế, việc hỏi vợ và gả
chồng là bổn phận của cha mẹ như đã trình bày trong các
câu tục ngữ sau đây: "Trai lớn dựng vợ, gái lớn gả
chồng, cha mẹ đặt đâu ngồi đấy.” Vì muốn gia đình
xứng hợp, tức là "môn đăng (đang, đương) hộ đối,”
nên đã có trường hợp ngay khi những đứa trẻ còn là
bào thai trong bung mẹ, đôi bên cha mẹ đã đính ước với
nhau rằng nếu về sau một bên sinh con trai và một bên
sinh con gái thì sẽ gả con cho nhau. Ngoài vấn đề hai gia
đình phải có "môn đăng hộ đối” (gia đình hai bên xứng
đáng với nhau), trai gái còn phải tốt nghiệp trường cao
đẳng thì mới thành vợ thành chồng vì "Phi cao đẳng
bất thành phu phụ.”

Ở Việt Nam trước đây, con trai mười sáu tuổi và con
gái mười ba tuổi đã bắt đầu có thể lấy vợ lấy
chồng vì vào lứa tuổi đó, trai gái đã hiểu sự đời,
bắt đầu có tinh khí, và biết giao cấu (to have sexual
intercourse). Chính vì thế mà người Việt ta có câu tục
ngữ là "nữ thập tam, nam thập lục.” Ở Bắc Mỹ này, trai
21 tuổi và gái 18 thì được quyền tự do lấy nhau. Nếu
gái 16 tuổi và trai 18 tuổi mà muốn lấy nhau thì phải
được phép của cha mẹ.

Từ ngàn xưa, ở Việt Nam chúng ta, tuy rằng việc dựng
vợ gả chồng là quyền của cha mẹ, nhưng cha mẹ vẫn hỏi
ý kiến con cái trước khi quyết định và việc thuận
tình của con cái ít khi bị cha mẹ cản trở. Vì cha mẹ hết
lòng thương yêu và lo cho con cái nên con cái đã hết sức
vâng lời cha mẹ và cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy. Ngày
nay, các bậc cha mẹ chỉ đóng vai trò cố vấn và thực
hiện cưới xin khi con cái đã đến tuổi hiểu biết trong
việc kén chọn nhau.

Theo truyền thống dân Việt, việc kén vợ kén chồng rất
quan trọng. Sau đây là các phong tục mà những gia đình
người Việt đã từng áp dụng để kén vợ kén chồng cho
con: lấy vợ xem tông, lấy chồng kén giống, kén con ông
cháu cha, và kén gia đình có luân lý đạo đức. Kén vợ
cho con, các bậc cha mẹ chú trọng đến đức hạnh hơn là
nhan sắc vì "cái nết đánh chết cái đẹp.” Thêm vào đó,
các bậc cha mẹ còn phải xem trai gái có hợp tuổi với
nhau không vì có hợp tuổi nhau thì mới hòa thuận, làm
ăn mới thịnh vượng, và sinh con mới tốt lành. Trai gái
không hợp tuổi nhau thì khi lấy nhau sẽ có rất nhiều
điều đáng tiếc như hay gây sự với nhau, làm ăn hay bị
thất bại, con cái bị hư hỏng, và vợ chồng sẽ bị ly thân
rồi ly dị. Trong sách tử vi tướng số có bốn nhóm tuổi
mà mỗi nhóm gồm có 3 loại tuổi hợp nhau gọi là tam hợp
và có ba nhóm tuổi mà mỗi nhóm có bốn loại tuổi xung
khắc nhau gọi là tứ hành xung.

Bốn nhóm tuổi tam hợp gồm có: "Thân, Tý, Thìn” hợp
nhau; "Tỵ Dậu, Sửu” hợp nhau; "Dần, Ngọ, Tuất” hợp nhau;
và "Hợi, Mão Mùi” hợp nhau.

Ba nhóm tuổi tứ hành xung gốm có: "Tý, Ngọ, Mão, Dậu”
xung khắc nhau; "Thìn, Tuất, Sửu, Mùi” xung khắc nhau; và
"Dần, Thân, Tỵ, Hợi” xung khắc nhau.

Chính vì thế, các bậc cha mẹ của hai gia đình bao giờ
cũng phải so đôi tuổi của cặp trai gái trước khi làm
lễ đính hôn, tức là Lễ Ăn Hỏi.
Khi hai bên gia đình nhà trai nhà gái ở xa nhau mà muốn
hiểu rõ về tình trạng mỗi gia đình và tính nết tài
năng và đức hạnh của con trai và con gái, họ phải nhờ
người làm mai mối (Ông Mai Bà Mối) để giúp việc
cưới xin. Người làm mai mối thường là người quen cả
đôi bên gia đình hoặc có liên hệ gia đình với một
bên. Lời nói của mai mối rất quan trọng và có ảnh
hưởng mãnh liệt để hai bên gia đình hiểu rõ nhau hầu
tiến tới việc quyết định hôn nhân cho con cái.

B. Tục Lệ (Customs) về Hôn Lễ (Marriage, Wedding Ceremony)
của Người Việt

Ở thời xa xưa, tục lệ về hôn lễ của nước Việt ta
rất phức tạp, tiền nhân ta đã có đến sáu (6) tiến
trình về hôn lễ: Lễ Nạp Thái (kén chọn), Lễ Vấn Danh
(hỏi tên tuổi và ngày sinh tháng đẻ của cô gái), Lễ Nạp
Cát (so đôi tuổi được tốt), Lễ Nạp Tệ (ăn hỏi), Lễ
Thỉnh Kỳ (xin cưới), và Lễ Thân Nghênh hay Nghênh Hôn
(lễ cưới). Tuy nhiên, từ đầu thế kỷ thứ 20 (1901)
đến nay (2004), nước Việt tự do của chúng ta chỉ có ba
tiến trình về hôn lễ như sau: Lễ Chạm Ngõ, Lễ Ăn Hỏi,
Lễ Cưới. Khi đã làm Lễ Cưới ở nhà, nếu sau đó
không nhờ nhà thờ hay nhà chùa chính thức làm Lễ Cưới
thì phải đến khai tại cơ quan chính quyền địa phương
để xin tờ giá thú (hôn thú hay hôn thư).

(còn tiếp)

admindungkq
30-11-2004, 09:57 PM
theo tôi thì sau này trang web mình phải tổng hợp những bài viết văn hoá hay của mọi người vào một mục riêng để mọi người dễ tìm hiểu . Cảm ơn chị tịnh Ngọc rất nhiều --g--

Tịnh Ngọc
01-12-2004, 09:55 AM
1. Lễ Chạm Ngõ (The Pre-engagement Ceremony, a Promise to Marry)
Sau khi hai bên gia đình đã ưng thuận việc hỏi vợ gả chồng cho con, Lễ Chạm Ngõ mới được cử hành. Lễ Chạm Ngõ còn được gọi là Lễ Xem Mắt vì đây là dịp để trai gái biết rõ nhau hơn và thân nhân của gia đình nhà trai có cơ hội tìm hiểu tuổi, thái độ, và tư cách của cô dâu tương lai lúc còn ở nhà gái ra sao để có quyết định làm Lễ Ăn Hỏi và Lễ Cưới.

Ở Việt Nam trước đây, khi tổ chức Lễ Chạm Ngõ, nhà trai thường đem trầu cau, rượu, trà, và các loại bánh để nhà gái dâng cúng gia tiên rồi đem biếu chú bác cô dì cậu mợ. Ở hải ngoại hiện nay, lễ vật Chạm Ngõ của
người Việt ta thường gồm có những bó hoa, những trái cây, những chai rượu, và những hộp trà, v.v. Sau khi đến nhà gái, vị đại diện nhà trai (ông bố của chú rể tương lai) ngỏ lời với nhà gái về Lễ Chạm Ngõ. Sau đó, vị đại diện của nhà gái (ông bố của cô dâu tương lai) đáp lời chào mừng và ưng thuận. Tiếp theo đó, việc cúng gia tiên của nhà gái được cử hành, các vị đại diện gia đình nhà trai và nhà gái cùng chú rể và cô dâu tương lai đều cùng nhau cúng bái. Sau khi cúng gia tiên nhà gái, mọi thân nhân của hai gia đình hiện diện trong buổi Lễ Chạm Ngõ đều được nhà gái mời dự tiệc trà ăn mừng Lễ Chạm Ngõ. Sau bữa tiệc trà, họ nhà trai ra về.

Từ Lễ Chạm Ngõ đến Lễ Ăn Hỏi không có khoảng thời hạn nhất định, tùy theo gia đình nhà trai và nhà gái định đoạt có khi trong vòng 3 tháng, nửa năm, hay cả năm trời. Sau ngày Lễ Chạm Ngõ, nhà trai thường lui tới nhà
gái vào những dịp lễ, tết, hoặc các ngày kỵ nhật (ngày giỗ) của nhà gái và mang các lễ vật đến để cúng lễ. Nếu sau Lễ Chạm Ngõ mà mọi việc đều tốt đẹp giữa nhà trai nhà gái, nhất là gia đình nhà trai hoàn toàn ưng
thuận nàng dâu tương lai, thì Lễ Ăn Hỏi sẽ được tiến hành.

2. Lễ Ăn Hỏi (Betrothal, An Engagement to Marry)
Lễ Ăn Hỏi (Lễ Đính Hôn) là lễ rất quan trọng của việc hôn nhân. Theo phong tục của Việt Nam, nhà trai phải đáp ứng lời đòi hỏi của nhà gái về việc đưa đầy đủ những phần lễ vật vào ngày Lễ Ăn Hỏi như những quả cau, những lá trầu, những hộp trà, những gói nem, bánh chưng, bánh dày, những hộp bánh quế, bánh bích quy, bánh ngọt, heo quay, xôi gấc, và rượu, v.v. để nhà gái làm lễ cúng gia tiên và biếu thân bằng quyến thuộc với mục đích báo tin mừng. Khi đem lễ vật đến nhà gái trong dịp Lễ Ăn Hỏi, nhà trai tổ chức dẫn lễ vật một cách thật trang trọng bằng cách để các lễ vật vào hộp, xếp vào mâm, và bao phủ bằng giấy bóng (glassine paper, cellophane) màu vàng và màu đỏ rồi cử người ăn mặc chỉnh tề để đi cùng với gia đình nhà trai đưa lễ vật đến nhà gái. Nếu nhà trai ở gần nhà gái thì đi bộ, nếu ở xa thì đi bằng xe hơi. Nếu đi bằng xe hơi thì khi gần đến nhà gái, mọi người phải xuống xe để đi bộ thành đoàn người mang lễ vật đến nhà gái một cách trang trọng và chỉnh tề.

Ở Việt Nam trước đây, trầu cau, trà, và rượu là các lễ vật chính yếu của Lễ Ăn Hỏi. Hiện này ở hải ngoại này, những lễ vật ăn hỏi của người Việt ta thường gồm có những bó hoa, những trái cây, những chai rượu, những hộp bánh, và những hộp trà, v.v. Khi các thân nhân của nhà trai đến nhà gái để làm Lễ Ăn Hỏi, cả nhà trai và nhà gái phải cử người đứng ra giới thiệu các thân nhân của mình trước khi cha mẹ của nhà trai ngỏ lời về Lễ Ăn Hỏi. Sau đó, cha mẹ nhà gái đáp lời ưng thuận và chào mừng nhà traị Tiếp đó, cha mẹ nhà trai và nhà gái cùng chú rể và cô dâu tương lai đều cúng gia tiên của nhà gái. Sau khi cúng gia tiên tại nhà gái, mọi người hiện diện sẽ được cha mẹ nhà gái mời ăn tiệc trà ngay ở đó.

Khi nhà gái nhận Lễ Ăn Hỏi tức là đã chính thức chấp nhận việc gả con gái cho nhà trai .Sau ngày Lễ Ăn Hỏi, khi nhà gái đem các lễ vật ăn hỏi như quả cau đi biếu thân bằng quyến thuộc thì phải biếu mỗi phần 3 quả hay một quả chứ không bao giờ biếu hai quả vì hai quả có ý nghĩa thô tục. Ngày nay, nhà gái còn kèm theo lễ vật một tấm thiệp báo hỷ để tặng thân bằng quyến thuộc.

Sau Lễ Ăn Hỏi, chàng rể tương lai còn phải đem lễ vật đi lễ tết (sêu tết, to present gifts to one’s bride’s family) bố mẹ vợ tương lai vào những ngày tết và vào 4 mùa bằng cách mùa nào thức ấy. Điều này có nghĩa là vào dịp Tết Nguyên Đán, Tết Thanh Minh, Tết Đoan Ngọ, Tết Trung Nguyên, Tết Trung Thu, và những ngày giỗ chính của nhà gái, chàng rể tương lai phải mang đồ lễ tới gia đình nhà vợ tương lai để biếu và lễ bái; vào mỗi mùa có hoa quả bánh trái đặc biệt, chẳng hạn như vào tháng ba có quả vải vỏ đỏ vị ngon ngọt; vào tháng năm có dưa hấu; vào tháng bảy có quả na và quả nhãn; vào cuối tháng chín sang tháng mười có cốm, hồng, và gạo mới,v.v.; và vào tháng chạp thì có cam có mứt. Sau khi chàng rể tương lai mang lễ vật lại, bao giờ nhà gái cũng lấy một nửa số lễ vật, còn một nửa lễ vật nhà gái biếu lại nhà trai, gọi là "lại quả.”

Ngày xưa, sau Lễ Ăn Hỏi, ở một vài nơi tại Việt Nam còn có tục lệ "gửi rể” (a future son in law living in his future wife’s family). Chú rể tương lai phải đến ở nhà gái và đi học trong vòng bốn năm năm để thi đỗ rồi mới được cưới vợ. Chính vì thế mà ta mới có câu tục ngữ: "Phi cao đẳng bất thành phu phụ.” Sau Lễ Ăn Hỏi và sêu tết, nhà trai phải bàn thảo và đề nghị với nhà gái đề ấn định ngày làm Lễ Cưới.


(còn tiếp)

Chân Trân
02-12-2004, 10:40 AM
3. Lễ Cưới (Wedding, The Ceremony of Marriage with its Accompanying Festivities)

a)Thách Cưới
Hồi trước đây ở Việt Nam, khi đồng ý để nhà trai làm Lễ Cưới, nhà gái có lệ "thách cưới” nhà trại "Thách cưới” có nghĩa là nhà gái đòi các thứ cho cô
dâu và gia đình nhà gái gồm các đồ trang sức và quần áo cưới cho cô dâu và các đồ lễ cưới cho gia đình nhà gái như tiền bạc, trà rượu, trầu cau,bánh trái, thịt heo thịt bò, và gạo nếp gạo tẻ, v.v. để làm tiệc thết đãi bà con và bạn hữu. Việc thách cưới này có khi làm cho nhà trai thật đau buồn; nhiều khi, nhà trai phải yêu cầu nhà gái để giảm bớt việc thách cưới đi vì không có đủ tiền bạc để rước dâu. Nếu nhà gái không đồng ý thì nhà trai phải đi vay mượn tiền bạc để lo đám cưới. Việc thách cưới đã làm cho nhiều người dân buồn phiền nên họ đã làm các câu ca dao hài hước như sau:
"Em là con gái nhà giầu,
Mẹ cha thách cưới ra màu xinh saọ .
Cưới em trăm tấm gấm đào,
Một trăm hòn ngọc hai mươi tám ông sao trên trời.”

"Con gái là con người ta
Con dâu mới thật mẹ cha mua về.”

Ngày nay, việc thách cưới không là vấn đề quan trọng vì nhà trai và nhà gái thường cộng tác tích cực với nhau để làm Lễ Cưới cho cô dâu chú rể thật chu đáo.

b- Chọn Ngày Làm Đám Cưới
Sau khi nhà trai và nhà gái đã thỏa thuận mọi việc, hai bên phải ấn định ngày làm đám cưới bằng cách chọn ngày tốt có ghi rõ trong âm lịch. Trong các tấm lịch ta (âm lịch), ở mỗi tờ lịch, các chi tiết sau đây đều
được ghi rõ: ngày này là ngày nào trong năm, các tuổi nào kỵ với ngày này, ngày này nên làm những việc gì và nên kiêng cữ (không nên làm) những việc gì, giờ tốt là giờ nào, và giờ xấu là giờ nào, v.v. Tuy trong lịch
có ngày được ghi là nên làm đám cưới (nên cưới gả) nhưng đồng thời cũng có ghi về việc kỵ (không hợp) tuổi cho một số tuổi. Nếu cô dâu chú rể có tuổi kỵ trong ngày đó thì không nên cử hành lễ cưới trong ngày đó dù là ngày đó được ghi là nên "cưới gả.” Tóm lại là ngày làm Lễ Cưới phải không xung không kỵ với các tuổi của chú rể và cô dâu. Trước năm 1954, ở Miền Bắc Việt Nam, mọi người chỉ làm đám cưới vào các tháng mười, tháng một (tháng 11), tháng chạp (tháng 12), và tháng giêng (tháng 1) vì các tháng này có thời tiết rất tốt và thuận tiện cho đám cưới. Hầu hết các nơi ở Miền Bắc không tổ chức đám cưới vào tháng bảy ta (tháng ngâu) vì tháng này có mưa dầm suốt tháng (mưa ngâu) và hay có gió bão. Ngoài ra, mọi người phải kiêng cữ tổ chức đám cưới trong tháng bảy ta vì
theo sự tích, vợ chồng Ngưu Lang Chức Nữ bị trời phạt không cho sống gần nhau, vợ chồng chỉ được phép gặp nhau mỗi năm một lần vào ngày mưa ngâu mùng 7 tháng 7 ta mà thôi.
Mỗi năm tháng bảy trời đổ mưa ngâu,
Yêu nhau xin hãy nhớ nhau một vài,
Lất phất mưa ngâu ướt đẫm bờ vai,
Tơ duyên chẳng trọn thương hoài nhớ lâu.

c). Thiệp Báo Hỷ và Thiệp Mời
Hiện nay, sau khi ấn định ngày làm đám cưới, nhà trai và nhà gái còn cùng nhau làm những tấm thiệp báo hỷ và thiệp mời để gửi cho thân nhân, bằng hữu, và đăng báo. Muốn có tấm thiệp báo hỷ và thiệp mời đúng cách, chúng ta phải nhờ chuyên viên làm chọ Thông thường thì tấm thiệp báo hỷ và thiệp mời có nội dung viết bằng song ngữ, tiếng Việt và tiếng Anh.

d). Chuẩn Bị Lễ Rước Dâu và Đưa Dâu
Sau khi đã ấn định ngày làm đám cưới và đã gửi thiệp báo hỷ và thiệp mời, nhà trai phải chuẩn bị Lễ Cưới, tiệc cưới, tiệc trà, máy chụp ảnh, máy quay phim, mua nhẫn cưới cho cả chú rể và cô dâu, và chuẩn bị lễ rước dâu. Nhà gái cũng phải chuẩn bị việc đón tiếp nhà trai đến rước dâu, chuẩn bị máy chụp ảnh và máy quay phim, chuẩn bị lễ gia tiên, lễ Tế Tơ Hồng, tiệc trà, và lễ đưa dâu.

Hiện nay, tiệc cưới thường do nhà trai và nhà gái cộng tác tổ chức tại nhà hàng sau khi đã làm lễ cưới để thết đãi bà con và bằng hữu. Nếu nhà trai và nhà gái theo Đạo Phật hay Đạo Thiên Chúa, sau khi rước dâu về
nhà chồng, hai gia đình còn phải làm hẹn với Nhà Thờ (Catholic Church) hay nhà Chùa (Buddhist Temple) để nhờ các cha hay các thầy chùa làm lễ cưới ngay tại nhà thờ hay tại chùa để chính thức có giấy giá thú.

(còn tiếp)

Tịnh Ngọc
06-12-2004, 01:26 AM
đ). Rước Dâu
Nếu nhà trai ở gần nhà gái trong cùng làng xóm thì khi các thân nhân của nhà trai đem các lễ vật đi đón dâu,mọi người đi bộ thành đoàn người tề chỉnh; nếu ở xa thì dùng xe hơi hay thuyền (ở vùng quê) để chở lễ
vật và thân nhân đến nhà gái. Nếu dùng xe di đón dâu, xe đón cô dâu phải được kết hoa ở phía ngoài xe cho đẹp vì "xe hoa” tượng trưng cho xe đám cưới. Người Việt ta thường tin là nếu đi ra ngõ mà gặp đàn bà con gái thì thật là xui xẻo. Chính vì thế mà khi gia đình nhà trai bắt đầu mang lễ cưới đi đón dâu, gia đình nhà trai phải nhờ người đàn ông vui vẻ và dễ tính ra đón ngõ để khi mọi người vừa đi ra đón dâu thì được gặp đàn ông con trai ngay trước ngõ cho may mắn. Nếu đi bằng xe hơi để đón dâu thì khi đến gần nhà gái, cách khoảng độ 200 thước Tây, mọi người phải xuống xe để xếp thành đoàn người đi cho chỉnh tề để dẫn lễ cưới đến nhà gái. Người đi đầu đám rước dâu phải là một ông già cầm hương hoạ Để có
người chính danh dẫn đầu đám rước dâu này, nhà trai phải nhờ một ông già hiền lành, phúc hậu, có địa vị, có vợ chồng song toàn, có lắm con nhiều cháu, và không có tang để dẫn đầu đoàn người đến nhà gái rước
dâu về nhà traị Sự lựa chọn này có ý mong cho cô dâu chú rể khi lấy nhau sẽ được bách niên giai lão (vợ chồng cùng sống với nhau đến già), có lắm con nhiều cháu, và công thành danh toại. Ông già này mặc áo dài
khăn đống hay áo thụng xanh, che lọng, và cầm một bó hoa cùng một bó hương thắp cháy hay bưng một lư hương nhỏ có đốt trầm. Đi liền sau ông già này là ba của chú rể và những người mang lễ vật dẫn cưới. Tiếp theo đó là chú rể, hai cậu phù rể, và chú bác cô dì cậu mợ của chú rể, v.v.
Chú rể mặc quần áo và đội khăn hay đội mũ rất lịch sự. Quần áo cưới của chú rể mặc vào ngày cưới không giống quần áo mặc thường ngày. Ở Việt Nam chú rể thường mặc quần trắng, mặc áo the hay áo đoạn kép, đội khăn đống, đội khăn lượt, hay nón chóp quai tua; chân đi đôi giày Gia Định bóng ngời. Hiện nay ở hải ngoại, chú rể thường mặc quần áo theo kiểu Tây Phương hay mặc áo dài đội khăn đống theo phong tục Việt. Y phục của hai cậu phù rể cũng tương tự như y phục của chú rể.

Theo phong tục Việt, người mẹ của chú rể không bao giờ đi đón dâu tại nhà gái, người mẹ chỉ ở nhà chờ khi rước dâu về tới nhà thì bà mẹ chú rể mới ra đón con dâu vào nhà. Hiện này ở hải ngoại, có một số gia đình
khi đi rước dâu và đưa dâu về nhà chồng thì cả bố mẹ chú rể đều đi cho vui vẻ và trang trọng. Khi đám rước dâu đến trước cửa nhà gái, có khi cả
nhà trai nhà gái đều đốt pháo ăn mừng và bắt đầu quay phim và chụp hình trong suốt Lễ Vu Quy. Khi vào trong nhà gái, xướng ngôn viên của nhà trai và nhà gái giới thiệu các thành viên của mỗi gia đình kể cả chú rể và cô dâu tương laị Sau khi trao lễ vật rước dâu, người chủ hôn, bố chú rể, đứng ra ngỏ lời là đã chọn được ngày lành tháng tốt để xin đón dâu. Sau đó, gia trưởng nhà gái, bố cô dâu, đứng lên đáp lời chào mừng, ưng thuận, và cám ơn. Tiếp theo đó, gia trưởng nhà gái làm lễ cáo gia tiên và mời gia trưởng nhà trai cùng chú rể tương lai và con gái ông ta, cô dâu tương lai, đến lễ gia tiên nhà gái. Sau khi lễ gia tiên nhà gái, có đôi khi nhà gái yêu cầu chú rể và cô dâu Lễ Tơ Hồng ngay tai nhà gái. Thường thường thì việc Lễ Tơ Hồng chỉ được tổ chức tại nhà trai mà thôi. Sau khi
lễ gia tiên nhà gái, chú rể và cô dâu lại phải đến chào mừng ông bà và bố mẹ vợ cùng các thân nhân của nhà gái. Khi chú rể đến chào mừng ông bà, bố mẹ vợ, và chú bác cô dì cậu mợ nhà gái, các vị này thường tặng chú rể một món tiền hoạc vàng bạc hay các món quà.

Sau khi chú rể và cô dâu đã lễ gia tiên và chào mừng mọi thân nhân của nhà gái, nhà gái mời mọi người của nhà trai và nhà gái đến dự bữa tiệc trà. Sau bữa tiệc trà này và đến giờ hoàng đạo (giờ tốt), nhà trai xin rước dâu. Lúc này cô dâu đã mặc quần áo và trang điểm thật chỉnh tề. Cô dâu thường mặc quần lĩnh hoa tranh, mặc áo dài, và đội khăn vành hay nón
thúng quay thao và đi dép nhung cong. Ngày nay ở hải ngoại, cô dâu có thể mặc quần áo theo lối Tây phương cũng được. Đồng thời cô dâu cũng đã xếp những đồ của mình trong những cái "va li” (suitcase) để mang ra xe về nhà chồng. Những đồ của cô dâu gồm có áo quần, chăn gối, nữ trang, sách vở, và các dụng cụ cá nhân, v.v. Theo phong tục Việt, ở thôn quê, họ nhà gái cử một số người đi tiễn cô dâu về nhà chồng trong khi cha mẹ cô dâu không bao giờ đưa con về nhà chồng. Tuy nhiên, ở các tỉnh thành trong nước trước đây, nhất là ngày nay ở hải ngoại, cha mẹ cô dâu thường đi theo con gái về nhà chồng để cho vui vẻ và trang trọng. Trong số những người tiễn cô dâu về nhà chồng có hai cô phù dâu. Y phục của các cô phù dâu cũng na ná như y phục của cô dâu. Theo tục lệ Việt, những cô phù dâu và những cậu phù rể phải là những người độc thân, tức là chưa lập gia đình. Chính vì lý do này mà sau khi phù dâu phù rể, các cậu phù rể có thể kết duyên với các cô phù dâu. Trước khi đi về nhà chồng, cô dâu đến chào và lậy cha mẹ đẻ. Đã có nhiều cô dâu khóc sướt mướt khi rời cha mẹ để về nhà chồng vì thương nhớ cha mẹ.

e). Lễ Vu Quy
Lễ đưa dâu cũng được gọi là Lễ Vu Quy, nghĩa là lễ đưa con gái về nhà chồng. Khi đưa dâu về nhà chồng, nhà gái cũng nhờ một ông già cầm hương hoa đi trước cùng với ông già dẫn cưới của họ nhà trai. Đoàn người đưa dâu về nhà chồng đông đảo gấp đôi vì có thêm nhiều người của họ nhà gái. Trước khi khởi hành, nhà trai và nhà gái cũng đốt pháo ăn mừng. Nếu đón dâu bằng xe thì sau khi đi bộ từ nhà gái ra xe, mọi người đều lên xe, xe đi đầu là xe của các cụ già cằm hương hoa, xe kế tiếp là xe hoa dành cho cô dâu chú rể. Cũng có nơi, xe hoa dành riêng cho cô dâu với các cô phù dâu, còn chú rể ngồi một xe khác với các cậu phù rể. Tiếp theo đó là các xe của thân nhân nhà trai và nhà gái. Ở Việt Nam trước đây có trường hợp là đôi khi nhà trai ở cùng một đường phố với nhà gái, chỉ cách nhau vài trăm thước, nhà trai vẫn dùng xe hơi để rước dâu để đi vòng vo qua những đường phố khác trước khi rước dâu về nhà. Đây là cách để phô trương cho mọi người biết. Trong khi rước dâu ngoài phố và khi làm lễ cưới ở nhà trai, việc quay phim và chụp hình đều tiến hành để có hình ảnh làm kỷ niệm suốt đời cho cô dâu chú rể. Khi về đến ngõ nhà trai, nhà trai thường đốt pháo để tỏ vẻ vui mừng đón cô dâu vì tiếng pháo nổ là tượng trưng cho sự vui mừng. Tiếp đó là bà mẹ chồng ra đón tiếp con dâu và thân nhân nhà gái. Có nhiều nơi, khi cô dâu về nhà chồng, bà mẹ chồng không ra đón con dâu mà trước đó đã xách bình vôi đi lánh mặt một lúc rồi mới về để chào mừng và tiếp khách. Vì bình vôi tượng trưng cho sự coi sóc gia đình, nên bà mẹ mang bình vôi về để giao trách nhiệm cho cô dâu hoàn thành nhiệm vụ: "Lấy chồng gánh vác giang sơn nhà chồng.”

g). Lễ Gia Tiên tại Nhà Chồng
Sau khi được đón tiếp về tới nhà chồng, cô dâu theo chú rể đến chào ông bà và cha mẹ chồng rồi vào lễ gia tiên. Sau khi lễ gia tiên xong, chủ hôn nhà trai và nhà gái đeo nhẫn cưới cho cô dâu chú rể. Có nhiều nơi, việc đeo nhẫn cưới cho cô dâu chú rể được thực hiện trong khi Lễ Tơ Hồng, và còn được đeo nhẫn cưới ở nhà thờ và ở nhà chùa nữa. Sau khi chào ông bà cha me chồng, lễ gia tiên nhà trai, và đeo nhẫn cưới, cô dâu và chú rể lại đến Lễ Tơ Hồng.

h). Lễ Tơ Hồng
Theo truyền thống người Việt ta, Nguyệt Lão là vị thần chủ của hôn sự nên các đám cưới đều có tục lệ lễ Tơ Hồng để tỏ lòng biết ơn Nguyệt Lão đã dùng dây tơ hồng xe cho cô dâu chú rể nên duyên vợ chồng. Bàn thờ Tơ Hồng có thể lập ở trong nhà hay giữa sân. Trên bàn thờ Tơ Hồng có lư hương, đèn, nến, hoa quả, xôi gà, ly rượu, và cơi trầu. Cô dâu chú rể đứng hàng ngang trên chiếu trải trước hương án để lạy 4 lạy, vái 3 vái, rồi quỳ nghe người đại diện nhà trai đọc văn tế Tơ Hồng (xem mục Cước Chú số 2 ở phía dưới bài này về Văn Tế Tơ Hồng). Khi người ta đọc xong văn tế, chú rể cô dâu lại lễ tạ Nguyệt Lão rồi cùng uống chung một ly rượu và ăn một miếng trầu đã có sẵn trên bàn thờ Tơ Hồng. Uống chung ly rượu này có nghĩa là hai người sẽ là một và sống tới khi đầu bạc răng long. Sau khi Tế Tơ Hồng, cô dâu chú rể đều đến chào mừng chú bác, cô dì, cậu mợ, thím, và anh chị em của chú rể. Khi đến chào mừng ông bà, cha mẹ, cô dì, bác, cậu mợ, chú thím, và anh chị em nhà trai, cô dâu chú rể đều được quý vị này tặng tiền hay quà và ngỏ lời khuyên mừng như: " Ăn ở thuận hòa, trên kính dưới nhượng Sắt cầm hòa hợp, bách niên giai lao. Bằng rày sang năm có cháu cho bà bế . Đầu năm sinh con trai, cuối năm sinh con gái, v.v.”

i). Tiệc Cưới Tại Nhà Trai
Sau khi cô dâu chú rể lễ bái và chào mừng mọi người, chủ nhà trai mời những người hiện diện của nhà trai và nhà gái trong đám cưới vào dự tiệc cưới tại nhà traị Sau buổi tiệc cưới ở nhà trai, các thân nhân của nhà
gái ra về. Sau lễ cưới ở nhà và ở nhà thờ hay nhà chùa, các bằng hữu, thân nhân, và quan khách của hai họ đều được mời đi dự tiệc cưới tại tiệm ăn, cao lâu, hay quán cơm (restaurant). Thiệp mời tiệc cưới này đã đã
được gửi đến cho mọi người trước khi làm đám cưới.

k). Lễ Động Phòng hay Giao Duyên
Ngay buổi tối hôm đám cưới, có lễ động phòng hay giao duyên cho cô dâu chú rể. Theo tục lệ, trước khi động phòng (phòng cưới tức là phòng của đêm tân hôn để cô dâu chú rể nằm ngủ với nhau lần đầu tiên sau đám
cưới), một bà già vẫn còn có chồng và đông con nhiều cháu đứng ra phụ trách sắp đặt giường chiếu chăn gối màn, mâm rượu, cơi trầu cho cô dâu chú rể dùng. Sau đó cô dâu chú rể dắt nhau vào trong phòng làm lễ hợp cẩn, tức là cùng nhau uống chung một chén rượu và cùng ăn một miếng trầu trước khi ngủ với nhau trong đêm cưới. Sau đó uống rượu và ăn trầu, cô dâu lạy chồng hai lạy và chồng đáp lại một vái. Trước khi vợ chồng ngủ với nhau trong đêm tân hôn, cô dâu thường kiếm cách ngồi trên đầu giường và vắt quần áo của mình lên trên quần áo của chồng. Việc làm này cô dâu có ý là làm cho chồng chiều chuộng và phục tòng mình trong suốt cuộc đời làm vợ.

l). Lễ Cưới Tại Nhà Thờ (Catholic Church) hay Nhà Chùa
(Buddhist Temple)
Sau khi rước dâu về nhà chồng, ngay ngày hôm sau nhà trai và nhà gái còn có hẹn đến làm lễ cưới tại chùa hay nhà thờ. Mọi nghi lễ đều do vị hòa thượng của chùa hay đức cha của nhà thờ định đoạt. Lễ cưới ở nhà chùa
hay nhà thờ cũng có nghi lễ đeo nhẫn cưới cho chú rể và cô dâu. Nếu chú rể và cô đâu đã đeo nhẫn cưới ở nhà thì trước khi đến nhà thờ hay nhà chùa, phải tháo nhẫn cưới đó ra trước khi lên gặp các cha hay các thầy để đeo nhẫn cưới chọ Ở hải ngoại này, nếu lễ cưới được cử hành ở nhà chùa hay nhà thờ thì nhà chùa hay nhà thờ đã thừa lệnh của chính phủ địa phương để làm giấy giá thú cho chú rể cô dâu ngay tại nhà thờ hay nhà chùa trong khi làm lễ cưới.


m). Lễ Từ Đường
Tại làng xóm Việt Nam trước tháng 4 năm 1975, dân Việt đều có lập đền thờ cho mỗi họ với cái tên là "từ đường” (ancestral hall). Như thế, họ nhà trai và họ nhà gái đều có từ đường riêng của họ. Chính vì thế mà ở làng xóm tại Miến Bắc Việt Nam trước năm 1945, khi nhà trai đến nhà gái rước dâu thì chú rể và cô dâu đều phải đến từ đường của họ nhà gái để lễ xong
rồi mới trở về nhà gái để lễ gia tiên nhà gái. Khi cô dâu về tới nhà trai thì chú rể và cô dâu cũng lại phải ra từ đường của nhà trai để lễ trước rồi mới
về làm lễ gia tiên tại nhà chú rể. Ở hải ngoại này chúng ta không có từ đường cho mỗi họ nên cô dâu chú rể chỉ cần lễ gia tiên của nhà gái và
nhà trai tại nhà mà thôi.

n). Tiệc Cưới Tại Nhà Hàng Dành Cho Bằng Hữu, Thân Nhân,
và Quan Khách của Nhà Trai Nhà Gái
Khi làm lễ vu quy ở nhà gái và lễ cưới ở nhà trai, chỉ những thân nhân và những bằng hữu của hai họ đã tham dự lễ vu quy và lễ cưới ở nhà gái và nhà trai mới được mời tham dự tiệc trà hay tiệc cưới ngay sau buổi lễ gia tiên tại mỗi gia đình nhà trai và nhà gái. Còn đối với bằng hữu, thân nhân, và quan khách không đến tham dự lễ vu quy và lễ cưới thì sau khi làm lễ
cưới ở nhà trai và nhà thờ hay nhà chùa, các bằng hữu, thân nhân, và quan khách của nhà trai và nhà gái kể các cha và các thầy đều được mời đến dự tiệc cưới tại nhà hàng, tiệm ăn, quán cơm, hay cao lâu (restaurant). Trong tiệc cưới ở nhà hàng, ngoài bằng hữu và quan khách, mọi thân nhân của hai họ cũng được mời tham dự tiệc cưới tại nhà hàng này. Ngày tháng tổ chức tiệc cưới và địa điểm của nhà hàng dùng để
tổ chức tiệc cưới này đã ghi trong thiệp mời gửi bằng hữu, bà con, và các quan khách trước khi làm lễ cưới cả tháng.

Về việc tổ chức tiệc cưới tại nhà hàng, nhà trai và nhà gái phải nhờ thân nhân làm ban tổ chức để tiếp tân và điều khiển nghi lễ. Công việc của ban tiếp tân là ghi danh các quan khách, bằng hữu, và thân nhân đến dự, nhận quà do mọi người biếu cô dâu chú rể, và chụp hình cùng quay phim khi gặp mọi người đến tham dự. Việc chụp hình và quay phim còn thực hiện trong suốt buổi tiệc cưới tại nhà hàng để có tài liệu làm kỷ niệm cho cô dâu chú rể. Cần phải có ban nhạc để giúp thân nhân của hai họ cùng bằng hữu và cô dâu chú rể tình nguyện trong việc hát giúp vui cho tiệc cưới. Trước khi bắc đầu tiệc cưới, cha mẹ cô dâu và cha mẹ chú rể phải lên sân khấu chào mừng và giới thiệu quan khách, bằng hữu, cùng thân hân hai họ nhà trai và nhà gái. Sau đó, ban tổ chức phải đặc biệt giới thiệu cô dâu và chú rể.

Ở hải ngoại này, nếu các gia đình người Việt dốc lòng tranh đấu cho tự do dân chủ và nhân quyền của đồng bào trong nước, họ đều tổ chức lễ chào cờ bản xử và cờ VN Tự Do trong các buổi tiệc cưới ở nhà hàng vì đây là trường hợp tập thể của người Việt sum họp với nhau đông đảo tại cộng đồng thì phải có lễ chào cờ.

Trong khi mọi người đang ăn uống tại bữa tiệc cưới này, bố mẹ chú rể cùng với bố mẹ cô dâu phải dẫn cô dâu chú rể đi đến từng bàn ăn để chào mừng quan khách, bạn bè, và thân nhân. Trong lúc này, người phụ trách chụp hình và quay phim cần phải thực hiện cho chu đáo.

Sau khi mọi người ăn uống xong trong tiệc cưới tại nhà hàng, có những gia đình nhà trai và nhà gái tổ chức khiêu vũ hay nhảy đầm ngay tại đây để giúp cho kết quả tiệc cưới vui vẻ một cách hoàn hảo. Khi quan khách và bằng hữu cùng thân nhân ra về, bố mẹ cô dâu cùng với bố mẹ chú rể cần phải ra đứng ở cửa để cám ơn và tiễn quan khách, bằng hữu, và thân
nhân.

o). Lễ Lại Mặt
Theo lệ thường của dân Việt, sau khi cưới được 3 ngày, hai vợ chồng phải đem xôi, chè, rượu, và trầu cau về nhà bố mẹ vợ để cúng gia tiên. Lễ này được gọi là Lễ Lại Mặt hay Tứ Hỷ. Nếu vợ chồng đem lễ về nhà bố mẹ vợ ngay hôm sau ngày cưới thì tên lễ này cũng được gọi là Lễ Lại Mặt hay Nhị Hỷ. Sau khi cô dâu chú rể lễ gia tiên, bố mẹ vợ có lời dặn dò cô con gái (cô dâu) phải đối xử trọn vẹn bổn phận với chồng và gia đình nhà chồng vì từ nay cô dâu sẽ là người của nhà chồng. Chính vì thế mà ca dao Việt có
câu: " Con gái là con người ta . Con dâu mới thật mẹ cha mua về.”

p). Giấy Giá Thú (marriage license)
Giấy giá thú hay giấy hôn thú rất quan trọng để vợ chồng sống với nhau một cách hợp pháp hầu hưởng mọi quyền lợi của gia đình và trợ cấp của chính phủ, nhất là ở nơi hải ngoại này. Ở hải ngoại này, khi đã làm lễ cưới tại chùa hay nhà thờ, giấy giá thú của cô dâu chú rể đều được nhà
thờ hay chùa cấp cho vì nhà thờ hay nhà chùa đều được chính phủ địa phương chấp thuận cho làm việc này. Nếu không làm lễ cưới tại chùa và nhà thờ thì gia đình nhà trai và nhà gái phải tới văn phòng "City Clerk’s Office” của "City Hall” (Tòa Đô Chánh) hay văn phòng luật pháp ở địa phường để làm giấy giá thú (marriage license).Còn ở Việt Nam trước ngày 30 tháng 4 năm 1975, sau khi làm lễ cưới, chủ nhà trai và nhà gái phải đến văn phòng hộ tịch tại địa phương để làm giấy giá thú cho con, nếu không thì việc hôn nhân có thể bị tiêu hủy.

q).Tuần Trăng Mật (Honeymoon)
Sau khi cưới, vợ chồng thường nghỉ một tuần hay một tháng để đi chơi chung với nhaụ. Đi chơi chung với nhau một tuần gọi là hưởng tuần trăng mật, đi chơi chung một tháng với nhau gọi là hưởng tháng trăng mật. Suốt
một tháng trời sau ngày cưới là tháng ngọt ngào tuyệt vời (the first month of marriage is the sweetest). Ở Bắc Mỹ , trong 30 ngày của tháng đầu tiên sau ngày cưới, vợ chồng đều uống ly thuốc bổ có mật ong để hưởng thú vui hợp cẩn (a newly married couple drink a potion containing honey on each of the first 30 days of the marriage to enjoy the pleasure of wedding feast). Tuần trăng mật hay tháng trăng mật này rất quan trọng cho hạnh phúc của cuộc đời đội vợ chồng từ sau ngày cưới cho đến khi đầu bạc răng
long.

r). Cưới Chạy Tang
Trước đây, tiền nhân ta có luật pháp cấm nhà trai nhà gái không được làm lễ cưới gả trong khi gia đình để tang thân nhân kể từ tiểu tang cơ niên (để tang 1 năm) đến đại tang (để tang 3 năm). Chính vì thế mà sau Lễ Ăn Hỏi, nếu nhà trai hay nhà gái có ông, bà, cha, me,. hoặc chú bác bị bệnh nặng có thể chết thì gia đình phải lo làm lễ cưới cho con trước khi nhà có người chết. Khi gặp trường hợp bất đắc dĩ, gia đình phải làm lễ cưới ngay sau khi có ông, bà, cha, hay mẹ chết bất thình lình. Việc làm lễ cưới vội vã trước khi làm đám tang có tên là cưới chạy tang. Đám cưới chạy tang rất giản dị và nhanh chóng đối với cả hai gia đình nhà trai và nhà gái vì mọi người còn phải dành thì giờ để lo đám tang cho thân nhân


Hết

admindungkq
06-12-2004, 12:56 PM
Chị Tịnh Ngọc, sau này người chồng của chị chắc vui mừng lắm --dl-- :D

Tịnh Ngọc
06-12-2004, 09:00 PM
Chị Tịnh Ngọc, sau này người chồng của chị chắc vui mừng lắm  --dl--  :D


--el-- Ủa ....tại sao Dũng lại nói như vậy ? TN không nghĩ là mình sẽ lấy chồng đâu à . -hihi- --dl--