View Full Version : Bài đầu tiên
dungkq
17-11-2004, 11:16 AM
Phương pháp tửvi của tôi sở dĩ có thể tiến bộ nhanh cũng là nhờ vào phương pháp an sao nhanh không cần đến máy vi tính, khi an được lá số trong vòng 5 phút sẽ cho ta kiểm nghiệm thực tế nhanh chóng hiệu quả tức thời mà không bị quên hay bỏ trống lá số, tôi có thể cam đoan với các bạn đây là phương pháp an sao đơn giản và dễ học nhất mà tôi đã từng biết . Phương pháp này là tôi được thừa hưởng của thầy tôi và sau đó có cải tiến đôi chút .
Bài đầu tiên là các bạn cần phải học thuộc bảng Lục Thập Hoa Giáp. Bảng này còn gọi là bảng nạp âm của can chi, in trong khá nhiều sách, nhưng cách học đơn giản là các bạn chia ra từng giáp một rồi viết ra giấy và học thuộc . Với những người đã biết về mấy môn văn hoá Phương Đông cổ thì có thể học trong 15 ngày là thuộc còn không thì cần 30 ngày . Chỉ cần học thuộc bảng Lục Thập Hoa Giáp và phương pháp an sao là mọi người đã đi đuợc 1/3 quãng đường rồi.
Ai đã nhớ hết thì lên tiếng nhé, và bạn nào có khả năng post và cắt nghĩa về ngũ hành trong bảng Lục Thập Hoa Giáp cho mọi người cùng biết thì là một điều may mắn --g--
Thưa anh Dungkq
Em vẫn thắc mắc , tại sao 99% số người nghiên cứu tử vi đều tuân theo bảng Lục Thập Hoa Giáp của Tàu . Vậy mà bác TS ở TVLS lại không dùng bảng này mà dùng bảng gì đó theo Việt nam để giải đoán . Mà bác ấy thực sự em thấy là người có kinh nghiệm .
Chỉ là thắc mắc thôi . chứ không hề có ý tứ sâu xa gì .
dungkq
01-12-2004, 11:13 AM
Thưa anh Dungkq
Em vẫn thắc mắc , tại sao 99% số người nghiên cứu tử vi đều tuân theo bảng Lục Thập Hoa Giáp của Tàu . Vậy mà bác TS ở TVLS lại không dùng bảng này mà dùng bảng gì đó theo Việt nam để giải đoán . Mà bác ấy thực sự em thấy là người có kinh nghiệm .
Chỉ là thắc mắc thôi . chứ không hề có ý tứ sâu xa gì .
Không sao bạn cứ yên tâm đi, bảng LTHG mà tôi nói ở đây là thứ mà 99% người nghiên cứu tửvi đang dùng . Nó có tác dụng giúp bạn lập Cục, an sao rất nhanh nhưng không hề ảnh hưởng gì đến kết quả giải đoán trong lá số . Tôi vẫn đang dùng bảng LTHG này mà chưa thấy sai --cf-- .
Anh Dung ơi
Sao bài học đầu tiên học mãi thế hả anh ? Hay anh còn đợi mấy học viên chính thức lên tiếng ? Em sốt ruột quá , đang đợi bài học thứ 2 đây . Dạo này đang rỗi rãi , mong được tiếp tục công cuộc "mày mò" .
Các anh chị học viên chính thức ơi , các anh chị đâu rồi , lên tiếng đi để anh D tiếp tục nào ........................
dungkq
02-12-2004, 10:48 AM
Anh Dung ơi
Sao bài học đầu tiên học mãi thế hả anh ? Hay anh còn đợi mấy học viên chính thức lên tiếng ? Em sốt ruột quá , đang đợi bài học thứ 2 đây . Dạo này đang rỗi rãi , mong được tiếp tục công cuộc "mày mò" .
Các anh chị học viên chính thức ơi , các anh chị đâu rồi , lên tiếng đi để anh D tiếp tục nào ........................
em đã ăn mầm đá bao giừ chưa :D hi...hi....sắp song rồi , không phải đợi lâu nữa đâu . Thực ra dungkq tôi không thể chỉ cho các bạn biết tất cả các lá số, hay tất cả các cách cục trong tử vi vì có lẽ cả đời tôi cũng chưa chắc xem đủ 500 lá số, nhưng việc tôi cần làm là chỉ ra cho mọi người thấy phương pháp tư duy khi nhìn nhận một lá số tử vi ( giống như khi chơi cờ, tuy chỉ có 32 quân nhưng chắng có ván nào giống ván nào nhưng nếu ta đã nắm được cách chơi rồi thì cho dù thế cờ có biến ảo ra sao mình vẫn có thể giải được ) . Những gì tôi đang làm, những bài viết của tôi tuy không trực tiếp đi sâu vào tử vi nhưng nếu bạn để ý sẽ thấy được vấn đề tôi muốn truyền tải .
Còn về lý thuyết thực tế thì không nhiều đâu, đợi khi nào diễn đàn nâng cấp hoàn thiện tôi sẽ mang ra khoe khoang với các bạn.......hi.....hi...... :D .....mầm đá càng ăn càng ngon .....hi...hi..... -hihi- .......
namth
14-03-2006, 10:30 AM
Kính gửi các cao nhân, Namth là dân nhập môn. Theo ý kiến của anh Dungkq là nên bắt đầu với Lục Thập Hoa Giáp và có tìm ra giải thích dưới đây trong phần bài giảng. Có đôi chút tìm tòi xin được giải thích: Ta có 30 cặp chia làm 5 chu kỳ, mỗi chu kỳ bắt đầu ở Tý-Sửu và kết thúc ở Tỵ-Hợi. Mỗi chu kỳ tương ứng với một hành. Và trong mỗi chu kỳ đều khuyết một hành.
Nếu mã hoá 1=Thuỷ, 2=Mộc, 3=Hoả, 4=Kim, 5=Thuỷ. Thì ta có sắp xếp theo các chu kỳ:
432543
154215
321432
543154
125321
Không thấy có quy luật. Nhưng nếu đổi vị trí của thuỷ cho hoả thì thấy có sự đối xứng
412541
352435
123412
541354
235123
Có vài phát hiện nhỏ nhưng không biết giải thích làm sao, mong kiến giải của các cao nhân
“Giáp Tí-Ất Sửu là Hải Trung Kim. Tí thuộc Thuỷ lại là cái hồ, lại là đất vượng của Thuỷ, kiêm Kim tử ở Tí, Mộ ở Sửu, Thuỷ vượng mà Kim tử Mộ, vì vậy đặt là Hải Trung Kim (vàng dưới biển).
Bính Dần-Đinh Mão là Lô Trung Hỏa, Dần là tam Dương, Mão là tứ Dương (thuộc quẻ Đại Tráng của 12 quẻ tiêu tức) nên Hỏa đã đắc địa, lại được Mộc của Dần Mão mà sinh ra như thế thời đó trời đất như mở lò ra, vạn vật bắt đầu sinh vì vậy gọi là Lô Trung Hỏa (lửa trong lò).
Mậu Thìn-Kỷ Tỵ là Đại Lâm Mộc. Thìn là chốn thôn dã. Tỵ là lục Dương (thuần Dương, Tỵ là quẻ Càn của 12 quẻ tiêu tức), Mộc đến lục Dương thì cành tốt tươi, lá rậm rạp phong phú. Lấy sự tốt tươi thịnh vượng của Mộc mà vốn tại chốn thôn dã, vì vậy đặt là Đại Lâm Mộc (cây rừng lớn).
Canh Ngọ-Tân Mùi là Lộ Bàng Thổ, Mộc ở trong Mùi (vì Mùi tàng Can Ất) mà sinh vượng Hỏa của ngôi vị Ngọ. Hỏa vượng thì Thổ bị đốt khô đi, Mùi có thể nuôi nấng vạn vật, giống như lộ bàng thổ, vì vậy đặt là Lộ Bàng Thổ (đất bên đường).
Nhâm Thân-Quý Dậu là Kiếm Phong Kim. Thân Dậu là chính vị của Kim, Kim Lâm Quan ở Thân, Đế Vượng ở Dậu, Kim đã sinh vượng thì thành cương (là thép) vậy, cương thì vượt hơn ở kiếm phong, vì vậy đặt là Kiếm Phong Kim (kim mũi kiếm).
Giáp Tuất-Ất Hợi là Sơn Đầu Hỏa. Tuất Hợi là thiên Môn, Hỏa chiếu thiên môn, ánh sáng của nó lên rất cao, chí cao vô thượng, vì vậy đặt là Sơn Đầu Hỏa (lửa đầu núi).
Bính Tí-Đinh Sửu là Giản Hạ Thuỷ. Thuỷ vượng ở Tí, suy ở Sửu, vượng màlật lại là suy thì không thể là giang hà (sông lớn) được, vì vậy đặt là Giản Hạ Thuỷ (nước dưới khe).
Mậu Dần-Kỷ Mào là Thành Đầu Thổ. Thiên Can Mậu Kỷ thuộc thổ của Dần là Cấn sơn, thổ tích lại mà là núi, vì vậy đặt là Thành Đầu Thổ (đất đầu thành).
Canh Thìn-Tân Tỵ là Bạch Lạp Kim (hợp Kim của thiết và chì), Kim Dưỡng ở Thìn, Sinh ở Tỵ hình chất mới sơ thành, chưa thể vững chắc ích lợi được, vì vậy đặt là Bạch Lạp Kim (kim trong nến).
Nhâm Ngọ-Quý Mùi là Dương Liễu Mộc. Mộc Tử ở Ngọ, Mộ ở Mùi, Mộc đã Tử Mộ tuy được Thuỷ của Thiên Can Nhâm Quý sinh để sống, chung lại là nhu nhược, vì vậy đặt là Dương Liễu Mộc (cây dương liễu).
Giáp Thân-Ất Dậu là Tỉnh Tuyền Thuỷ. Kim Lâm Quan ở Thân, Đế Vượng ở Dậu, Kim đã vượng thì Thuỷ do đó sinh ra, như vậy là mới đang lúc sinh ra, lực lượng chưa lớn, vì vậy đặt là Tỉnh Tuyền Thuỷ (nước dưới suôi).
Bính Tuất-Đinh Hợi là Ốc Thượng Thổ. Bính Đinh thuộc Hỏa, Tuất Hợi là thiên môn, Hỏa đốt cháy ở trên thì Thổ không ở dưới mà sinh ra được, vì vậy đặt là Ốc Thượng Thổ (đất trên nóc nhà).
Mậu Tí-Kỷ Sửu là Tích Lịch Hỏa. Sửu Tí thuộc Thuỷ, Thuỷ cư ở chính vị mà nạp âm chính là Hỏa, Hỏa ở trong Thuỷ nếu không phại là Thần Long thì không thể làm được, vì vậy đặt là Tích Lịch Hỏa (lửa sấm sét).
Canh Dần-Tân Mão là Tùng Bách Mộc. Mộc Lâm Quan ở Dần, Đế Vượng ở Mão, Mộc đã vượng thì không thể nhu nhược được, vì vậy đặt là Tùng Bách Mộc (gổ cây tùng, bách).
Nhâm Thìn-Quý Tỵ là Trường Lưu Thuỷ. Thìn là Mộ của Thuỷ, Tỵ là nơi Kim Sinh, Kim sinh thì Thuỷ tính đã giữ lại, lấy Mộ Thuỷ mà gặp sinh Kim thì nguồn suối không cạn, vì vậy đặt là Trường Lưu Thuỷ (nước nguồn).
Giáp Ngọ-Ất Mùi là Sa Thạch Kim. Ngọ là đất Hỏa Vượng, Hỏa vượng thì Kim chảy ra, Mùi là đất Hỏa Suy, Hỏa suy thì Kim Quan Đái. Hỏa Suy mà Kim Quan Đái thì Mùi có thể thịnh mãn, vì vậy đặt là Sa Thạch Kim (kim trong cát).
Bính Thân-Đinh Dậu là Sơn Hạ Hỏa. Dậu là cửa nhập của nhật (mặt trời lặn), nhật đã đến ở thời đó thì ánh sáng tàng ẩn, vì vậy đặt là Sơn Hạ Hỏa (lửa dưới núi).
Mậu Tuất-Kỷ Hợi là Bình Địa Mộc. Tuất nguyên là chốn thôn dã, Hợi là đất Mộ sinh ra, Mộc sinh ra ở chốn thôn dã thì không thể là một rễ cây, một gốc cây, vì vậy đặt là Bình Địa Mộc (cây ở đồng bằng).
Canh Tí-Tân Sửu là Bích Thượng Thổ. Sửu tuy là chính vị nhà của Thổ, mà Tí là đất của Thuỷ vượng, Thổ gặp Thuỷ nhiều thành là bùn, vì vậy đặt là Bích Thượng Thổ (đất trên vách).
Nhâm Dần-Quý Mão là Kim Bạc Kim. Dần Mão là đất của Mộc vượng, Mộc vượng thì Kim gầy yếu; lại nữa, Kim Tuyệt ở Dần, Thai ở Mão. Kim đã vô lực vì vậy đặt là Kim Bạc Kim (kim pha bạc).
Giáp Thìn-Ất Tỵ là Phú Đăng Hỏa. Thìn là thực thời (giờ ăn), Tỵ là ở trong khu vực, trong tướng của nhật, Dương rực rỡ, thế sáng sủa, phong quang ở thiên hạ, vì vậy đặt là Phú đăng Hỏa (lửa đèn lồng).
Bính Ngọ-Đinh Mùi là Thiên Hà Thuỷ. Bính Đinh thuộc Hỏa, Ngọ là đất Hỏa vượng, mà nạp âm chính là Thuỷ, Thuỷ từ Hỏa xuất ra, nếu không phải là ngân hà thì không thể có nước nầy, vì vậy đặt là Thiên Hà Thuỷ (nước trên ngân hà, nước sông trên trời).
Mậu Thân-Kỷ Dậu là Đại Dịch Thổ. Thân là Khôn, Khôn là địa, Đậu là Đoài, Đoài là trạch (đầm). Thổ của Mậu Kỷ gia lên trên địa trạch nầy chẳng phải cái nào khác là Thổ phù bạc, vì vậy đặt là Đại Dịch Thổ (khu đất rộng lớn).
Canh Tuất-Tân Hợi là Thoa Xuyến Kim. Kim đến Tuất mới Suy, đến Hợi mới Bệnh thì đúng thật là nhu vậy, vì vậy đặt là Thoa Xuyến Kim (kim trâm thoa hay vàng trang sức).
Nhâm Tí-Quý Sửu là Tang Chá Mộc. Tí thuộc Thuỷ, Sửu thuộc Kim, Thuỷ sinh Mộc còn Kim khắc Mộc (Mộc mới sinh thì yếu giống như cây tang chá), vì vậy đặt là Tang Chá Mộc (gỗ cây dâu).
Giáp Dần-Ất Mão là Đại Khê Thuỷ, Dần là góc Đông Bắc, Mão là chính Đông, Thuỷ chảy chính Đông (“chúng thuỷ triều Đông” – muôn nhánh sông đều chảy về phương Đông) thì thuận tính nó, mà sông suối, khe, ao, đầm, hồ đều hợp với nhau mà quay trở về, vì vậy đặt là Đại Khê Thuỷ (nước ở khe lớn, nước lũ).
Bính Thìn-Đinh Tỵ là Sa Trung Thổ. Thổ Mộ ở Thìn, Tuyệt ở Tỵ mà Hỏa của Thiên Can Bính Đinh đến Thìn là Quan Đái, đến Tỵ là Lâm Quan, Thổ đã Mộ Tuyệt, vượng Hỏa quay lại sinh Thổ, vì vậy đặt là Sa Trung Thổ (đất lẫn trong cát).
Mậu Ngọ-Kỷ Mùi là Thiên Thượng Hỏa, Ngọ là đất Hỏa vượng, Mộc ợ trong Mùi lại phục sinh, tính Hỏa cháy ở trên, lại gặp sinh địa, vì vậy đặt là Thiên Thượng Hỏa (lửa trên trời).
Canh Thân-Tân Dậu là Thạch Lựu Mộc. Thân là tháng 7, Dậu là tháng 8, thời ấy thì là Mộc tuyệt vậy, duy mộc của thạch lựu, trái lại bền chắc , vì vậy đặt là Thạch Lựu Mộc (gỗ cây thạch lựu).
Nhâm Tuất-Quý Hợi là Đại Hải Thuỷ. Thuỷ Quan Đái ở Tuất, Lâm Quan ở Hợi, Thuỷ vượng thì lực hậu (dầy), kiêm Hợi là giang (sông lớn) nên lực mạnh thế tráng, không phải Thuỷ ấy thì không thể như thế, vì vậy đặt là Đại Hải Thuỷ (nước trong biển lớn).
thichmactien
29-03-2008, 05:52 PM
ô, hôm nay tôi mới thấy bài này của bạn namth. Việc bạn phát hiện ra sự đối xứng khi đổi chỗ thủy hỏa có khi nó liên quan tới bản Lạc Thư Hoa Giáp của chú Thiên Sứ đấy.
Tan_nguyet
30-03-2008, 10:57 PM
Tuyệt quá khi được thày hướng dẫn từ những bước ban đầu. Tân Nguyệt đang học thuộc bảng Lục Thập Hoa Giáp và cố gắng trả bài thày càng sớm càng tốt ạ!
danglam
31-03-2008, 11:38 AM
Kính chào thầy,
Danglam đang nạp tài liệu và sẽ cố học thuộc bảng Lục thập hoa giáp trước. Đệ tử mới nhập môn Tử vi nên còn chậm chạp lắm, mong thầy kiên nhẫn chỉ bảo thêm.
Danglam
tridungvietnam
31-03-2008, 12:25 PM
Chúc mừng anh Danglam
Mong anh học thành công nhé. Em kg có duyên nên kg được anh Dungkq chọn vào học rồi. Đành đứng ngoài cửa mà nhìn vậy.hihi
trongchutam
31-03-2008, 01:23 PM
TCT xin chúc mừng anh chị được thầy dungkq nhận làm trò. Tôi vốn có đam mê về tử vi và phong thủy đang tầm sư học đạo nhưng kiến thức và lý luận còn hạn hẹp nên không được thầy dungkq nhận làm trò. TCT lấy làm buồn nhưng tôi còn nhiều cơ hội để học hỏi. Tuy không được thầy dungkq nhận nhưng thầy cho TCT được vào lớp dự bị cho kì tuyển sinh sau được không ạ? Anh chị nào có tinh thần chia sẻ kiến thức để phát triển lý học phương đông thì có thể cho tôi mượn tài liệu để tôi nghiên cứu thêm. Xin chân thành cảm ơn anh chị và chúc anh chị cố gắng học thật tốt.
thichmactien
31-03-2008, 01:34 PM
TCT xin chúc mừng anh chị được thầy dungkq nhận làm trò. Tôi vốn có đam mê về tử vi và phong thủy đang tầm sư học đạo nhưng kiến thức và lý luận còn hạn hẹp nên không được thầy dungkq nhận làm trò. TCT lấy làm buồn nhưng tôi còn nhiều cơ hội để học hỏi. Tuy không được thầy dungkq nhận nhưng thầy cho TCT được vào lớp dự bị cho kì tuyển sinh sau được không ạ? Anh chị nào có tinh thần chia sẻ kiến thức để phát triển lý học phương đông thì có thể cho tôi mượn tài liệu để tôi nghiên cứu thêm. Xin chân thành cảm ơn anh chị và chúc anh chị cố gắng học thật tốt.
Tài liệu học tử vi đang có rất nhiều trong thư viện của diễn đàn và từ các topic trao đổi của các hội viên. Bạn còn cần những tài liệu gì nữa nhỉ? Ngoài ra có thể liên hệ với BDH diễn đàn tại hộp thư vietlyso_group@yahoo.com về sách Tử vi Chân Thuyên. Còn bài giảng của thầy cho các bạn trong lớp học, nếu không có sự đồng ý của thầy thì làm sao dám chia sẻ -^_^- Bạn nói thế thì khó quá đấy.
Về bảng Hoa giáp, GDCD có cách này biết đâu sẽ giúp các bạn nhớ nhanh hơn
Dưới đây là bảng Nạp âm sáu mươi hoa giáp tý GDCD trích từ "Chu dịch với dự đoán học" TVH - trang 109. GDCD có thay đổi chút xíu:
http://www.vietlyso.com/forums/uploaded/3795_1206976270.jpg
Từ bảng trên ta có thể nhận thấy rằng Các năm Tý và sửu đều có nạp âm giống nhau, các năm giáp, ất cũng đều có nạp âm giống nhau ... nên ta có thể đối bảng trên thành:
http://www.vietlyso.com/forums/uploaded/3795_1206976428.jpg
Ở đây ta nhận thấy rằng: các năm Tý sửu và Ngọ mùi cũng có nạp âm giống nhau:
http://www.vietlyso.com/forums/uploaded/3795_1206976525.jpg
Ta qui ước: Giáp ất = 1, Bính đinh = 2 ... nhâm quý = 5
Tý, sửu, Ngọ, mùi = 0, ... Thìn tỵ tuất hợi = 2
Kim = 1, Thủy = 2, Hỏa = 3, Thổ = 4, mộc = 5.
Ví dụ, tìm nạp âm của năm Mậu Tý: = 3 + 0 = 3 ==> Hỏa
Tìm nạp âm của năm Mậu Thân: = 3 + 1 = 4 ==> Thổ
Năm Quí Hợi: = 5 + 2 = 7 vì >5 nên = 7 - 5 = 2 ==> Thủy
Hy vọng sẽ giúp ích được cho các bạn!
mylam
01-04-2008, 05:51 AM
Hic hic lọt sổ rồi, chúc 2 người còn lại học cho tốt .
Học xong thì nhớ phải coi cho tui nhé .
MyLam
trongchutam
01-04-2008, 11:11 AM
Em cảm ơn chị thichmactien.
Chị hiểu được ý của em. Tài liệu thư viện có đầy đủ em đã dowd xuống rồi. chỉ mổi cuốn tử vi chân thuyên em tìm mải không ra nên mới có ý xin được chia rẻ để tham khảo. Thầy dungkq có đồng ý không ạ?
dungkq
01-04-2008, 11:30 AM
Em cảm ơn chị thichmactien.
Chị hiểu được ý của em. Tài liệu thư viện có đầy đủ em đã dowd xuống rồi. chỉ mổi cuốn tử vi chân thuyên em tìm mải không ra nên mới có ý xin được chia rẻ để tham khảo. Thầy dungkq có đồng ý không ạ?
Không được. Nếu cần upload lên thư viện thì tôi đã làm rồi.
Bạn chú ý lần sau trước khi post bài và sau khi post bài nên kiểm tra lại lỗi chính tả. Chữ tâm cần đi liền với tính cẩn thận, nếu không có đức tính đó thì chữ tâm chỉ là vấn đề của hình thức.
xttran23
11-07-2008, 03:56 PM
Kính chào thầy,
Danglam đang nạp tài liệu và sẽ cố học thuộc bảng Lục thập hoa giáp trước. Đệ tử mới nhập môn Tử vi nên còn chậm chạp lắm, mong thầy kiên nhẫn chỉ bảo thêm.
Danglam
"LỤC THẬP HOA GIÁP" - NẠP ÂM NGŨ HÀNH- Thực chất chỉ cần nhớ 15 hoa giáp là được.
Chỉ cần học thuộc đoạn trên:
* "GIÁP" - "KIM", "THỦY" & HỎA"
* "BÍNH" - "THỦY", "HỎA" &"THỔ"
* "MẬU" - "HỎA","THỔ" & "MỘC"
* "CANH" - "THỔ", "MỘC" & "KIM"
* "NHÂM" - "MỘC", "KIM" & "THỦY"
Thuộc được cài này là thuộc được NẠP ÂM của 60 HOA GIÁP. Vì vậy chỉ cân vài ngày là thuộc được cái này..
Ví dụ: Bạn nhờ GIÁP: "KIM -THỦY - HỎA". Bạn có thể dùng bàn tay để định: (1) GIÁP TÝ: "KIM" - xung chiếu TÝ là NGỌ ví thế GIÁP NGỌ cũng là KIM.. Thì ẤT SỬU & ẤT MÙI cũng là KIM.. (2) GIÁP DẦN:- "THỦY" -xung chiếu là THÂN, vậy GIÁP THÂN chắc chắn cũng là THỦY. ẤT MÃO & ẤT DẬU cũng chắc chắn là THỦY.. (3) GIÁP THÌN: - "HỎA", xung chiếu là TUẤT, vậy GIÁP TUẤT ắt phải là HỎA & ẤT TỴ & ẤT HỢI cũng chắc chán là HỎA..
Đối với các thiên can sau chỉ càn nhờ 20 CHỮ kia là biết được NẠP ÂM của 60 HOA GIÁP..
Nhìn đồ lặp thì GIÁP là "KIM-THỦY-HỎA". Chuyển BÍNH thì "KIM" không còn mà THỔ đẩy vô. Chuyển sang MẬU thì THỦY không còn mà MỘC được xếp hàng vào phía sau, cứ như vậy..
~Vài lời chia sẻ ~
Chính Ấn
11-07-2008, 09:17 PM
"LỤC THẬP HOA GIÁP" - NẠP ÂM NGŨ HÀNH- Thực chất chỉ cần nhớ 15 hoa giáp là được.
Chỉ cần học thuộc đoạn trên:
* "GIÁP" - "KIM", "THỦY" & HỎA"
* "BÍNH" - "THỦY", "HỎA" &"THỔ"
* "MẬU" - "HỎA","THỔ" & "MỘC"
* "CANH" - "THỔ", "MỘC" & "KIM"
* "NHÂM" - "MỘC", "KIM" & "THỦY"
Thuộc được cài này là thuộc được NẠP ÂM của 60 HOA GIÁP. Vì vậy chỉ cân vài ngày là thuộc được cái này..
Ví dụ: Bạn nhờ GIÁP: "KIM -THỦY - HỎA". Bạn có thể dùng bàn tay để định: (1) GIÁP TÝ: "KIM" - xung chiếu TÝ là NGỌ ví thế GIÁP NGỌ cũng là KIM.. Thì ẤT SỬU & ẤT MÙI cũng là KIM.. (2) GIÁP DẦN:- "THỦY" -xung chiếu là THÂN, vậy GIÁP THÂN chắc chắn cũng là THỦY. ẤT MÃO & ẤT DẬU cũng chắc chắn là THỦY.. (3) GIÁP THÌN: - "HỎA", xung chiếu là TUẤT, vậy GIÁP TUẤT ắt phải là HỎA & ẤT TỴ & ẤT HỢI cũng chắc chán là HỎA..
Đối với các thiên can sau chỉ càn nhờ 20 CHỮ kia là biết được NẠP ÂM của 60 HOA GIÁP..
Nhìn đồ lặp thì GIÁP là "KIM-THỦY-HỎA". Chuyển BÍNH thì "KIM" không còn mà THỔ đẩy vô. Chuyển sang MẬU thì THỦY không còn mà MỘC được xếp hàng vào phía sau, cứ như vậy..
~Vài lời chia sẻ ~
Rất hay --g--
xttran23
12-07-2008, 07:00 AM
Em chỉ đang học tự học TỬ VI. Cũng chỉ muốn chỉ sẻ cho các bạn cách shortcut của em để dễ nhớ hơn dựa vào logic quy nạp thôi anh Chính Ẩn ạ..
Hôm nay em sẽ chia sẻ cho các bạn tìm vị trí TỬ VI theo cách của mình. Thực ra chỉ cần nhờ vị trí TỬ VI cho 6 ngày (từ ngày mông 1 đến ngày mồng 6) đầu tiên đối với HỎA LỤC CỤC là ra hết các ngày còn lại..
http://www.vietlyso.com/forums/%3Ca%20href=%22http://picasaweb.google.com/xttran23/Uh/photo#5221887599433921794%22%3E%3Cimg%20src=%22htt p://lh4.ggpht.com/xttran23/SHffGt1GtQI/AAAAAAAAAck/rGg-Q4MdOxE/s400/HLC.jpg%22%20/%3E%3C/a%3E
Các cục còn lại chỉ cần lấy các vị trí trong hình trên rồi trừ cho số trên lệch giữa cục đó với hỏa lục cục. Ví KIM TỨ CỤC thì trừ đi 2 sau cho vị trí ở DẦN luôn bằng với số cục rồi cái nào nhỏ hơn hoặc bằng 0 thì bỏ đi..
Sau khi nhờ được biết được vị trí TỬ VI ở các ngày nhỏ hơn hoặc bằng số cục. Bạn lấy số ngày sinh chia cho số cục dư bao nhiêu tìm vị trí số dư đó. Sau đó tính dần lên mỗi cung tăng lên thì công với số của cục..
Ví dụ bạn MỘC TAM CỤC sinh ngày 13.. 13/3 dư 1.. Ngày mồng 1 ở MỘC TAM CỤC, TỬ VI ở vị trí THÌN [1+ (3+3+3+3)]. Vậy ngày 13, TỬ VI ở THÂN..
Cái này các bạn nhìn dung lá số trên tay một vài lần là quen. Có nhiều cách nhớ khác nhau nhưng mỗi người tìm cho mình một cách nhớ riêng cho mình.. Với mình thì thấy là đưa nó về một quy nạp nào đó thì dễ nhớ hơn.
~Vài lời chia sẻ ~ Không biết insert pic có work không nữa..
xttran23
12-07-2008, 07:02 AM
Sorry là mình thử insert hình rồi. Nhưng mà không thấy WORK.. Để mình thử lại..
http://lh4.ggpht.com/xttran23/SHffGt1GtQI/AAAAAAAAAck/rGg-Q4MdOxE/s400/HLC.jpg (http://picasaweb.google.com/xttran23/Uh/photo#5221887599433921794)
tuvithienphu
17-08-2008, 06:50 PM
[quote=xttran23;128293]"LỤC THẬP HOA GIÁP" - NẠP ÂM NGŨ HÀNH- Thực chất chỉ cần nhớ 15 hoa giáp là được.
Chỉ cần học thuộc đoạn trên:
* "GIÁP" - "KIM", "THỦY" & HỎA"
* "BÍNH" - "THỦY", "HỎA" &"THỔ"
* "MẬU" - "HỎA","THỔ" & "MỘC"
* "CANH" - "THỔ", "MỘC" & "KIM"
* "NHÂM" - "MỘC", "KIM" & "THỦY"
mình thấy xttran23 có cách nhớ LTHG rất nhanh, thật đáng khâm phục.
Ở đây mình thấy có điều hay khi mã số hóa ngũ hành thì thành một ma trận dễ nhớ.
Kim : 1
Thủy : 2
Mộc : 3
Hỏa : 4
Thổ : 5
viết theo quy luật tương sinh, bắt đầu là kim.
và từ 20 chữ của anh xttran23 ta lập một ma trận (3x5) gồm 15 con số như sau :
1 2 4
2 4 5
4 5 3
5 3 1
3 1 2
5 can ( giáp, bính, mậu , canh, nhâm ) được viết bên cạnh sau khi lập ma trận cho đỡ rối mắt -^_^-
Quan trọng nhất là ta phải nhớ 3 số đầu : 124
Từ đó ma trận (3x5) trên sẽ cho quy luật :
viết theo hình dấu sắc , mỗi số được xuất hiện 3 lần, " lên núi xuống đèo " -^_^- tăng rồi giảm .
đầu tiên ta viết 3 số đầu 1 2 4
theo dấu sắc, số 2 chéo xuống chỉ có 1 ô , viết 2,
số 4 chéo xuống có 2 ô , viết 2 số 4. được 3 số 4 chéo liền nhau
theo quy luật tăng dần thì trên 4 là 5, viết liền 3 con số 5 chéo nhau.
5 là to nhất, không tăng được nữa thì giảm -^_^-
ở vị trí chéo liền nhau này có nguyên 3 chỗ, vậy chỉ có số 3 là chưa xuất hiện lần nào. viết 3 số 3 chéo nhau liên tiếp.
theo đến số 1 còn thiếu 2 lần, thì viết 2 số 1 sau số 3,
và số cuối cùng là số 2, để mỗi số đều được xuất hiện 3 lần.
đây chỉ là cách nhớ của tvtp thôi, có lẽ các bạn khác sẽ có cách nhớ tốt hơn, nhưng vì tvtp nhớ chữ kém, nhớ số dễ hơn nên thấy nó hợp với mình.
vậy là rút ngắn lại chỉ còn 5 số , lập 1 ma trận là nhớ được hành của 60 con giáp rồi, thật cảm ơn bạn xttran23 nhiều lắm --g--
nhưng có điều mình phải thuộc được vị trí các cung trong lá số, để biết đối xung và thuộc thập thiên can, nhị thập địa chi. Điều này không khó với các cao thủ, nhưng có lẽ với các bạn mới đọc tử vi thì nhìn bài viết của xttran23 không hiểu đâu. Vài lời chia sẻ mong thầy dungkq và các bạn hiểu biết đi trước chỉ giáo thêm.
thân ái
tvtp
bibobibo81
20-08-2008, 10:03 AM
Kính chào thầy Dungkq!
Em có ước muốn được tham dự lớp học tử vi chân thuyên, vậy em cần phải hội đủ những yếu tố nào và đăng ký ở đâu ạ?
Nhatnguyet_79
21-08-2008, 01:48 AM
Kính chào thầy Dungkq!
Em cũng có mong muốn được tham gia lớp học tử vi của thầy. Xin thầy cho biết điều kiện nhâp học ạ. E cũng có tìm đọc các tài liệu liên quan đến bộ môn này nhưng nếu chỉ đọc thôi thì sẽ chẩng thể tiến bộ được nhanh.
Xin cảm ơn thầy và mong nhận được tin ạ.
Huyền_Không
12-01-2009, 03:11 PM
Các bạn xem các cách tính nhanh Bảng lạc thưa hoa giáp này!
Về bảng Hoa giáp, GDCD có cách này biết đâu sẽ giúp các bạn nhớ nhanh hơn
Dưới đây là bảng Nạp âm sáu mươi hoa giáp tý GDCD trích từ "Chu dịch với dự đoán học" TVH - trang 109. GDCD có thay đổi chút xíu:
http://www.vietlyso.com/forums/uploaded/3795_1206976270.jpg
Từ bảng trên ta có thể nhận thấy rằng Các năm Tý và sửu đều có nạp âm giống nhau, các năm giáp, ất cũng đều có nạp âm giống nhau ... nên ta có thể đối bảng trên thành:
http://www.vietlyso.com/forums/uploaded/3795_1206976428.jpg
Ở đây ta nhận thấy rằng: các năm Tý sửu và Ngọ mùi cũng có nạp âm giống nhau:
http://www.vietlyso.com/forums/uploaded/3795_1206976525.jpg
Ta qui ước: Giáp ất = 1, Bính đinh = 2 ... nhâm quý = 5
Tý, sửu, Ngọ, mùi = 0, ... Thìn tỵ tuất hợi = 2
Kim = 1, Thủy = 2, Hỏa = 3, Thổ = 4, mộc = 5.
Ví dụ, tìm nạp âm của năm Mậu Tý: = 3 + 0 = 3 ==> Hỏa
Tìm nạp âm của năm Mậu Thân: = 3 + 1 = 4 ==> Thổ
Năm Quí Hợi: = 5 + 2 = 7 vì >5 nên = 7 - 5 = 2 ==> Thủy
Hy vọng sẽ giúp ích được cho các bạn!
Thứ sáu, 21/11/08, 10:41:45 GMT+7
Công thức tính nhanh bảng Lạc thư Hoa Giáp
Vô Trước - Trần Quang
Trung Tâm nghiên cứu lý học Đông Phương
Tính qui luật là một yếu tố cần trong tiêu chí khoa học cho một phương pháp được coi là khoa học. Bảng Lục Thập hoa giáp lưu truyền trong cổ thư chữ Hán thể hiện tính quy luật qua sự tính toán trong Tinh Lịch Khảo nguyên để tìm hành của năm trong bảng Lục Thập hoa giáp. Nhưng đây là qui luật phiến diện, vì chỉ mình quy luật này được thực hiện - do tính ngược chiều kim đồng hồ của Hà Đồ trong nạp âm - còn các qui luật khác như : Cách Bát sinh tử, Sinh Vương Mộ không thực hiện được. Điều này đã được chứng minh trong cuốn sách "Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt".
Tuy nhiên, để chứng tỏ tính hoàn chỉnh của bảng Lạc Thư hoa giáp - nhân danh nền văn hiến huyền vĩ Việt - thì bảng Lạc Thư hoa giáp cũng cần một công thức tính toán tìm hành khí của năm để chứng tỏ tính qui luật của nó.
Công thức tính này đã được anh Vo Truoc - Trần Quang thực hiện. Chúng tôi biên tập và trình bày lại như sau:
Công thức tính nhanh bảng Lạc thư Hoa Giáp
(Chu kỳ hành khí 60 năm của nền văn minh Lạc Việt)
Trong công thức này số của Thiên Can và Địa chi được qui định như sau:
1 - Số Thiên Can
Giáp Ất = 1
Bính Điinh = 2
Mậu Kỷ = 3
Canh Tân = 4
Nhâm Quý = 5
2 - Số Địa Chi:
Tý Sửu = 1
Dần Mão = 2
Thìn Tị = 3
Ngọ Mùi = 4
Thân Dậu = 5
Tuất hợi = 6
3 - Số hành khí trong năm theo Lạc Thư hoa giáp trong phương pháp tính:
(theo chiều tương khắc ngũ hành)
Thủy = 4
Hỏa = 3
Kim = 2
Mộc = 1
Thổ = 0
4 - Công thức tính:
1. Số địa chi =< 3
(Số thiên can + Số địa chi) : 5 = x + Số dư
2. Số địa chi > 3
(Số thiên can + Số địa chi - 3) : 5 = x + Số dư
Căn cứ vào số dư tra bảng số quy ước ở phần 3, ta sẽ có hành khí theo bảng Lạc Thư hoa giáp.
5 - Thí dụ:
5 - 1. Giáp tý
Giáp = 1
Tý = 1 < 3
=> 1 + 1 = 2 => 2 : 5 = 0 dư 2.
Ta có: 2 = Kim
5 - 2. Bính Thân ( Sách Tàu là Hỏa)
Bính = 2
Thân = 5 > 3
=> 2 + 5 - 3 = 4.
Ta có 4 = Thủy
5 - 3. Quý Mùi
Nhâm = 5
Mùi = 4 > 3
=> 5 + 4 - 3 = 6. => 6 : 5 = 1 dư 1
Ta có dư 1 = Mộc
5 - 4. Đinh Mùi (Sách Tàu là Thủy)
Đinh = 2
Mùi = 4 > 3
=> 2 + 4 - 3 = 3 => 3 : 5 = 0 dư 3.
Ta có 3 = Hỏa
5 - 5. Canh Tý
Canh = 4
Tý = 1 < 3
=> 4 + 1 = 5 => 5 : 5 = 1 dư 0.
Ta có: 0 = Thổ
Vô Trước - Trần Quang
Nguồn: Trung Tâm nghiên cứu lý học Đông Phương
fa_mix
22-01-2009, 01:00 AM
Chào cả nhà,
Hôm nay đọc bài này về Thiên Can, Địa Chi, Lục Thập Hoa Giáp fa_mix có thử tìm cách tổng hợp, hệ thống lại sao cho dễ nhớ xem sao, và kết quả sau mấy tiếng liên tục sắp xếp thì mình rút ra được một số quy tắc nhớ trình bày dưới đây, mình thấy với cách này thì các bạn mới học có thể đổi năm Dương Lịch sang Can Chi và tìm Hoa Giáp tương ứng khá nhanh và chính xác. --sc--
(Ghi chú: fa_mix tình cờ vào trang vietlyso cách đây mấy ngày trong một lần dạo web, và lại cũng rất may mắn được đăng ký thành viên mặc dù CHƯA bít tý gì về các chủ đề mà mọi người đang trao đổi trong này, mong rằng sau này sẽ có duyên tìm hiểu TVCT)
I. Bảng tổng kết cần nhớ
Bảng 1: Mã hóa 10 Thiên Can từ 0 ~ 9 theo bảng sau (cần nhớ 2 cột bên trái):
http://i723.photobucket.com/albums/ww235/fa_mix/ThienCan.jpg
Bảng 2: Mã hóa 12 Địa Chi từ 0 ~ 11 theo bản sau (cần nhớ 2 cột bên trái):
http://i723.photobucket.com/albums/ww235/fa_mix/DiaChi.jpg
Bảng 3: Bảng chuyển đổi lục thập hoa giáp cần nhớ như sau:
http://i723.photobucket.com/albums/ww235/fa_mix/60Giap.jpg
II. Sử dụng 3 bảng tổng kết để thực hiện một số phép tính cơ bản
1. Đổi năm dương lịch (NDL) sang Can Chi:
Can = Số dư của NDL khi chia cho 10 - vì có 10 Thiên Can
(ký hiệu là NDL % 10)
Chi = NDL % 12 - vì có 12 Địa Chi
VD: Năm 1986
1986 chia 10 dư 6, tra bảng suy ra 1986 có Can là Bính
1986 chia 12 dư 6, tra bảng suy ra 1986 có Chi là Dần
Kết luận 1986 là năm Bính Dần
2. Tìm Can của tháng theo Can của năm:
Công thức tại bảng 1: (2 x Can của năm - 2) % 10
VD: Năm Kỷ (Kỷ Sửu,...)
Kỷ có mã là 9 suy ra Can của tháng đầu tiên trong năm là: (9 x 2 - 2) % 10 = 6
6 là mã của Bính vậy năm Kỷ sẽ có tháng đầu là tháng Bính
3. Tìm Can của giờ theo Can của ngày:
Công thức tại bảng 1: (2 x Can của năm - 4) % 10
VD: Ngày Tân (Tân Mùi,...)
Tân có mã là 1 suy ra Can của giờ đầu tiên trong ngày là: (1 x 2 - 4) % 10 = 8
8 là mã của Mậu vậy ngày Tân sẽ có giờ đầu là giờ Mậu
4. Tra cứu lục thập Hoa Giáp
- Lấy Can của năm cần tra - mã Can của Giáp (4)
- Lấy Chi của năm cần tra trừ đi hiệu số vừa tìm được ở trên thì sẽ ra Chi của mã tra cứu bảng 4 (sẽ là 1 trong 6 kết quả: Tý, Ngọ, Tuất, Thìn, Thân hoặc Dần)
- Từ Can Chi của khóa gốc, tra bảng 3 lần lượt theo hiệu số sẽ ra Hành của năm đó :)
VD: Năm Quý Hợi
(Quý - Giáp) % 10 = 9
(Hợi - 9) % 12 = 6 (Dần)
Như vậy năm Quý Hợi thuộc chu kỳ Giáp Dần
Tra bảng 3: Giáp Dần lần lượt 9 nhát: Thủy Thủy Thổ Thổ Hỏa Hỏa Mộc Mộc THỦY --> a đây rồi Quý Hợi thuộc THỦY
Trên đây là cách mình hệ thống lại, cách giải thích có thể chưa rõ ràng dẫn đến lằng nhằng nhưng theo mình thi khi hiểu công thức rồi thì sẽ rất dễ nhớ, với ai giỏi tính nhẩm nữa thì tình sẽ càng nhanh.
Mọi người góp y và hiệu đính nếu có sai sót nhé.
trungfq
22-01-2009, 03:44 PM
Tôi thấy có "món" này dễ nhớ (theo tuần), chỉ cần bấm trên bàn tay:
Tý - Ngọ: Ngân - Đăng - Giá - Bích - Câu
Thìn - Tuất : Yên- Mãn - Tự- Chung - Lâu
Dần - Thân : Hán - Địa - Thiêu - Sài - Thấp
vBulletin® v3.6.11, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.