PDA

View Full Version : Phượng hoàng hàm thư


Thiên Sứ
07-11-2006, 09:40 PM
Kính thưa quí vị và anh em quan tâm đến thuật phong thuỷ.
Những bài viết dưới đây của chị Anne Nguyen đã đăng tải trên tuvilyso.com từ 4 năm trước. Tôi chép lại làm tư liệu nghiên cứu. Nhận thấy bài viết tuy có mang một số yêú tố huyền thoại, nhưng cũng có rất nhiều chi tiết có giá trị học thuật. Bởi vậy, tôi đưa lại lên đây với hy vọng sẽ được anh chị em quan tâm tham khảo.
Xin chân thành cảm ơn chị Anne Nguyen đã cung cấp tư liệu này.
Kiểu đất
PHỤNG-HOÀNG HÀM THƯ

"Ngũ bách niên chi tiền, mạch tại thượng,
Ngũ bách niên chi hậu, mạch tại hạ,
Vị thùy vô mục, quả vô mục dã "

TẬP GIA PHẢ VỚI TÁM NGÔI TỔ MỘ !


Họ Nguyễn ở làng Báo Văn là một danh gia, lệnh tộc, không biết phát tích từ đời nào, nhưng người quanh vùng vẫn thường đồn đải với nhau rằng : từ trên một trăm năm nay, họ Nguyễn ở làng Báo Văn, chẳng đời nào là không có người làm quan to, hay đại hào phú, chủ nhân ông những ruộng vườn thẳng cánh cò bay, đất đai chồn chân, ngựa chạy.

Thiên hạ còn nói nhiều đến tám ngôi tổ mộ của họ Nguyễn táng song song ở giữa cánh đồng vùng Mông Sàng, Mông Phụ mà người ta tin chắc đó là những ngôi mả kết phát rất to tát, lâu dài.
Nhiều nhà phong thủy chính tông Hoa, Việt nghe thiên hạ đồn đải, đều không ngại vất vả, tốn kém, tìm đến tận nơi quan sát khu vực có mộ phần tổ phụ họ Nguyễn.
Hết thảy đều đồng ý tán thưởng sự tinh tế của cổ nhân : người đã có cặp mắt tinh đời, chọn được thửa đất hiếm có ấy, vì theo sách đia lý, đó chính là kiểu đất Phụng-Hoàng Hàm Thư, mà tám ngôi tổ mộ đều nằm vào đúng giữa bụng chim thần.
Nhưng vào đầu mùa thu năm Ất Mùi (1775) một ông già đầu, râu, tóc bạc, quần vải,áo nâu, bề ngoài trông rất tiều tụy, lam lũ, tìm đến tận nhà quan Án sát họ Nguyễn ở làng Báo Văn, để trình bày về sự nhận xét riêng của lão về tám ngôi tổ mộ.
Hồi ấy quan Án Sát tuy đã cáo lão hồi hưu, song dinh thự vẫn có người canh gác cẩn mật, không kém gì lúc chủ nhân đang còn tại chức.
Tên gia nhân gác cửa, thấy khách lạ hình dung cổ quái, y phục rách vá tứ tung, thì có ý khinh rẻ, yên trí là khách lạ, nếu không định đến xin tiền quan Án, thì hẳn cũng chỉ tới cầu cạnh một ân huệ chi đó, chứ dáng điệu ấy, người ngợm ấy thì hỏi còn có gì đáng bàn chuyện quan trọng về đất cát mồ mả với chủ nhân hắn, vốn là một vị đường quan, danh tiếng ở Bắc Hà !
Nghĩ vậy rồi, hắn liền dơ tay xua đuổi ông già, một mặt khép chặt hai cánh cổng gỗ lim nặng nề, khinh khỉnh nhìn khách lạ, như nhìn một quái vật hiểm nguy, nhơ nhớp !
Khách lạ chỉ hơi nhíu mày, ngỡ ngàng về cách xử sự phũ phàng của tên gia nhân, nhưng chỉ thoáng qua một chút, lão lại bình thản, mỉm cười ung dung nói lớn :
- Chú em đừng nên khinh người, rẻ của quá như vậy ? Lão đến đây với tất cả lòng thành khẩn, kính mến đức độ, uy danh của Cụ lớn nhà, chứ nào phải tới cầu xin ân huệ, tiền bạc chi đâu, mà chú em nở tâm xua đuổi cho đành ?
Lão nói thiệt : chú em nếu muốn cho Cụ lớn nhà đời đời vinh hiển, kế thế công khanh, thì hãy kíp vào bảo với Cụ lớn cho lão được diện kiến, còn nếu không thì thôi, lão càng khỏi phải tốn công, nhọc sức...
Tên gia nhân vẫn không thay đổi ý định : cương quyết đóng chặt cổng dinh, và lớn tiếng quát mắng :
- Lão già vô lý quá ! Khi không tới đây, bày đặt chuyện đất cát lôi thôi,. Nếu không khôn hồn cút mau đi lở ra đến tai Cụ lớn thì lão chắc chắn sẽ bị ăn đòn nứt thịt !
Đang lúc hai người điều qua tiếng lại, thì Cụ lớn từ tư thất bước ra, thấy vậy, vội tiến thẳng đến gần tên gia nhân, hỏi vội :
- Chi đó bây ! Nếu người ta lỡ độ đường thì đem ra chút ít tiền gạo, đãi người ta, chứ việc chi mà lớn tiếng vậy ?
Khách lạ chưa kịp nói gì, thì tên gia nhân đã sum soe tiến đến trước mặt quan Án, vái lạy, rồi tằng hắng liên tiếp mấy cái liền, mới rụt rè cất được tiếng :
- Bẫm Cụ lớn, lão già này không biết từ đâu tới đây, cứ nhất định một hai đòi vào yết kiến Cụ Lớn cho kỳ được, để trình bày đất cát mồ mả chi đó. Con đã đem tiền gạo cho lão và đuổi lão ra, nhưng lão ngang bướng lắm, cố tình muốn ăn vạ đấy ạ.
Quan Án Sát liếc nhanh cặp mắt sâu thẳm, sau lớp kiếng trắng, gọng bạc về phía khách lạ, bất giác phát sanh lòng kính phục con người bần hàn, lam lũ vô cùng, vì qua lớp y phục bẩn thỉu, vá rách, vị hưu quan ở làng Bác Văn đã như mường tượng thấy được một vẻ cao quý khác thường, ẩn hiện trên khuôn mặt già nua, cằn cổi, mà bộ râu ba chòm bạc phơ, in hệt mớ cước trắng của khách lạ, đã làm nổi bật hơn nữa, nét phong sương của một kẻ giang hồ phiêu lãng !
Quan Án nguýt dài tên gia nhân lỗ mảng, dơ tay ra hiệu cho nó lui vào phía trong, đoạn thong thả đi ra cổng, đến bên lão già niềm nở nói :
- Lão trượng phu chớ chấp kẻ thất phu vô lễ, và xin mời vào chơi trong nhà cho tiện đàm đạo.
Khách lạ gật đầu, có ý thỏa mản, ung dung xách khăn gói, kéo lê chiếc gậy trúc dài gần hai sải tay, đầu uốn cong thành hình một con cú đứng co một chân, cánh xoè rộng hẳn ra như muốn lấy đà tung bay, theo thế " Anh hùng độc lập", rồi thản nhiên đi ngang hàng với vị hưu quan, cùng bước qua một cái sân gạch Bát Tràng, rộng rải, vuông vắn, để lên thềm đại sảnh.
*
* *
Ngôi nhà chính của quan Án Sát hưu trí trông bề thế, cổ kính, như được xây cất từ mấy mươi đời trước bằng các thứ danh mộc, hầu hết đều chạm trổ cực kỳ công phu, tỷ mỷ do những thợ mộc tài hoa chuyên nghiệp ở các vùng Hà Nam, Ninh Bình đảm trách.
Tư thất kiến trúc theo lối Đông Phương cổ kính, tấm mái cong vút như sừng trâu, do mấy hàng cột lớn tay ôm, bóng lộn như gổ mun,, chống đỡ, được chia ra làm năm gian lớn, bài trí toàn đồ cổ ngoạn gia bảo, sập gụ, tủ chè, đỉnh đồng lớn, giá lọ bộ, chóe sứ, lọ Giang Tây, ánh vàng sơn rực rở từ những chiếc hoành phi, câu đối, sơn son thếp vàng, lộng lẫy tỏa ra, càng tăng thêm, màu sắc, huy hoàng, nguy nga, tráng lệ cho toà đại sảnh.
Quan Án Sát họ Nguyễn mời khách lạ ngồi trên chiếc cẩm đôn phủ nệm bọc gấm điều trước một án thư bằng gổ gụ, dưới một cặp tấm tía, lọng vàng, treo cao gần sát mái nhà.
Trên tường, một thanh bảo kiếm, chuôi ngà, vỏ bạc, nằm vắt chéo, giữa một đôi tay thước khảm xa cừ có tua đỏ dài lòng thòng, bên cạnh cái trống chầu sơn đỏ và đôi tù và làm bằng hai con ốc cực lớn, bóng lộn như sừng.
Quan Án Sát ngã người trên chiếc sập gổ chân quỳ, tựa tay lên chồng gối xếp màu hoàng anh, mắt tuy lơ đảng nhìn ra ngoài sân, song kỳ thực, vẫn luôn luôn chăm chú theo dõi từng nét biến chuyển trên khuôn mặt nhăn nheo của người khách lạ, đoạn vừa vuốt râu, vừa vui ve hỏi người đối diện :
- Nghe bày trẻ nói : lão trượng có nhả ý đến chơi để bàn chuyện về môn phong thủy.
- Hạ quan rất hoan nghênh và sẳn sàng kính cẩn nghe lời vàng ngọc.
Rất mong lão trượng đừng tiếc lời dạy bảo, thì không những may mắn cho hạ quan mà cả dòng họ Nguyễn ở làng Báo Văn cũng được đội ơn hà hải...
Khách lạ ngạo nghể nói :
- Lão đi qua vùng này, tình cờ được thấy một khu đất cực quý ở ngay ngoài cánh đồng làng ta. Lão hỏi thăm, thì bà con quanh đấy chỉ cho lão coi tám ngôi cổ mộ, và bảo rằng đó là phần mộ của tổ phụ đại nhân.
Vì vậy lão mới tìm tới đây, không ngoài ý muốn, được hầu chuyện với đại nhân về môn phong thủy.
Quan Án Sát chặn ngang :
- Lão trượng nói sao ?
Mấy ngôi mộ của dòng họ Nguyễn, táng tại cánh đồng xứ Cốt Đang, làng Báo Văn, cũng đã khá lâu ngày, không hề xảy ra sự nguy hại chi hết, sao giờ đây lão trượng lại có ý thắc mắc ? Xin hãy vui lòng cho lão phu biết rõ lý do ?
- Khách lạ không trả lời thẳng câu hỏi của vị hưu quan, mà lại nói lãng qua chuyện khác :
- Trước khi bàn về mấy ngôi cổ mộ, lão muốn biết sơ qua ít điều thắc mắc : chẳng hay đạo nhân bình thường có chuyên khảo cứu về khoa địa lý không ?
Quan Án sát nhìn khách lạ, như cố tìm hiểu xem trong sự hiếu kỳ của người đối thoại, có xen lẫn một dụng ý gí, khả dỉ gây được thiệt hại cho dòng họ Nguyễn nói chung, và cho bản thân quan Án Sát nói riêng.
Trên khuôn mặt dày dạn phong sương, đen cháy vì nắng mưa dầu giải, đôi mắt sâu thăm thẳm nằm dưới lớp kiếng lão của khách lạ, vẫn luôn luôn tiết ra một tinh thần khẳng khái trung thực : nền tảng căn bãn của tín đồ Khổng Mạnh, khiến cho bất cứ ai được tiếp xúc, dù chỉ mới là lần đầu tiên,cũng phải chân thành kính trọng, cảm mến, coi như bậc trưởng thượng trong gia đình.
Vốn nề nếp nho phong, trâm anh thế phiệt nên vị hưu quan nhận thấy ngay được nét tinh hoa đáng quý ấy trên gương mặt quắc thước của khách lạ.
Vì vậy, chẳng một chút ngại ngần, nghi kỵ, quan Án Sát sẳn sàng cởi mở ngay niềm tâm tư, ấp ủ thầm kín trong kẻ phổi, khe gan từ bao lâu nay, chưa có cơ hội nào thuận tiên, cũng như chưa gặp được bạn tri âm nào tâm đầu ý hiệp để giải tỏ can tràng :
- Ngay từ khi còn để chỏm, ngày ngày cắp sách đến tập làm văn tại trường Cụ Thám Hoa ở làng dưới, lão phu đã đặc biệt chú ý đến môn phong thủy, mỗi khi thấy người quanh vùng đem trầu rượu, lễ vật đến nhờ Cụ Thám Hoa tìm đất giúp.
Có nhiều lần được Cụ Thám cho theo hầu, lão phu thường nhìn ngắm say sưa chiếc tróc long hàng giờ không biết chán, nâng niu cái la kinh, thận trọng còn hơn một người chơi đồ cổ săn sóc đôi lọ từ đời Tống, đời Đường, đến nổi thấy lão phu ham mê môn phong thuỷ, Cụ Thám đã vui vẻ giảng dạy cho lão phu biết sơ qua về cách phân kim, án hướng, thế nào là án nga my, thế nào là tay long, tay hổ, thế nào là thuận nghịch, thế nào là quán khí.
Nhờ đấy, lão dù không am tường, thấu triệt một cách tinh vi khoa học, huyền bí, kỳ diệu ấy, cũng có thể hiểu đại cương sự chuyển vận của long mạch, để tìm trúng chánh huyệt tại các khu đất quý.
Khách lạ không chờ cho quan Án dứt lời, liền hỏi ngang :
- Thôi thế cũng tạm đủ ! nhưng có điều lão vẫn chưa hiểu : Vì nếu đại nhân đã biết rành mạch môn địa lý thì sao lại không nhận chân được sự sai lệch của tám ngôi tổ mộ ở xứ Cốt Đang ?
Vị hưu quan có vẻ sượng sùng, vội dơ tay phác một cử chỉ ngăn chận rồi nói nhanh :
- Thì lão phu có dám nhận mình là am hiểu tinh vi môn địa lý đâu ? Lão phu sở dĩ biết sơ qua chút ít, cũng là do sự chiếu cố của Cụ Thám Hoa, lúc còn đi học, thấy lão phu mê say khoa phong thủy, người mới giảng dạy đại cương cho lão phu nghe, sự kỳ bí, huyền diệu của mạch đất, có thế thôi ! Nào lão phu có biết gì hơn.
Vậy nếu những ngôi tổ mộ kia có chi sai lệch, xin lão trượng vui lòng chỉ dạy, lão phu nguyên tạc dạ, ghi xương, thề trọn đời không dám quên ơn lão trượng.
Khách lạ ha hả cười to, đầu gật lia lịa như vô cùng đắc ý :
- Được, Lão xin nhận lời giúp đở đại nhân.
Nhưng công việc xem xét mộ phần, phúc lại ! lúc tới tám ngôi mả, không phải là việc làm một sớm, một chiều mà xong được ?
Phải mất ít ra hàng tháng mới mong tìm được tất cả mọi sự khuyết điểm, không những ở bề ngoài căn cứ theo hình thức mộ phần, mà còn dùng thuật riêng đặc biệt bí truyền, để xem xét lòng huyệt cũng như hài cốt an táng ở trong tiểu...
Công việc phức tạp ấy, không phải một vài hôm hay năm, bảy bửa mà xong được đâu? Đại nhân là bậc danh sĩ, quán thông lý, số, y, nho, lại thấu triệt được cả lẽ huyền vi, kỳ bí của môn phong thủy, thỉ hẳn không cho lời lão là viển vong, vu khoát.
Quan Án Sát thong thả đứng lên, hướng về phía khách lạ, vái dài, chậm rải nói :
- Được nghe lời giảng dạy vàng ngọc, lão phu nhu kẻ đang lần mò đi trong đêm tối, bổng gặp được ánh đuốc soi đường !
Quả thật là vạn hạnh.
Lão phu tin rằng cuộc sơ kiến bửa nay, do lòng trời đưa lại, cũng là duyên kỳ ngộ từ kiếp trước, nên mới run rủi cho lão phu gặp đặng qúy nhân, để nghe lơi dạy bảo của bậc cao hiền, hầu biết đường họa phúc và lẽ thạnh suy của đời mình !
Vậy nhân dịp này, nếu lão trượng không chê hàn xá thô lậu, lão phu xin kính mời lão trượng tạm ngừng gót ở chơi tệ xá ít ngày, cho lão phu có cơ hội thuận tiện học hỏi thêm đạo lý cao siêu của thánh hiền, nhất là sự nhiệm mầu của khoa địa lý.
Khách lạ vui vẻ ngắt lời :
- Đại nhân bất tất phải quá khiêm, lão xin hoàn toàn tuân lệnh đại nhân sai khiến. Vả lại, lão không đến đây thì thôi, chứ một khi đã tới thăm quý phủ, được đại nhân dùng biệt nhản đón tiếp, không phân biệt giàu nghèo, quý tiện, lại cũng chẳng câu nệ bức tường ngăn cách quan ,dân, khiến cho tấm thân gìa nua, vô dụng gần kề miệng lỗ này được tiếp xúc với bậc quý nhân, trau dồi thêm cho mớ kinh nghiệm cằn cổi thêm phần quảng bác thì há chẳng phải là một cơ hội hãn hửu muôn thuở nhất thời cho lão ư ?
Vị hưu quan tươi nét mặt, vui mừng đáp rằng ?
- Được lão trượng nhậm lời, lão phu thật vô cùng cảm kích. Vậy trong thời gian tạm lưu tại tệ xá, nếu có cần gì, xin lão trượng cứ truyền gọi gia nhân, sai khiến chúng và coi chúng như nô bộc của lão trượng.
Khách lạ tiếp lời :
- Xin đa tạ thịnh tình của đại nhân. Có điều lão phu phải cần thưa trước : ngay từ sáng mai, kính xin đại nhân cho người hướng dẫn lão đi thăm lại một lần nữa, cánh đồng có an táng tám ngôi tổ mộ của dòng họ nhà ta, và nếu không có chi bất tiện, xin đưa lão đi thăm luôn cả các ngôi mả khác ỡ trong họ nữa.
Có thế, lão mới có thể quyết đoán đích xác được sự kết phát hay nguy hại của của các ngôi tổ mộ.
Quan Án Sát mỉm cười, ngăn cản :
- Lão trượng đi đâu mà vội vàng quá thế ? Xin hãy thong thả dạo thăm phong cảnh trong vùng ít bửa, rồi sau đấy, se lưu ý đến mồ mả, đất cát, tưởng cũng không phải là quá muộn.
Ông già, lắc đầu, tỏ ý bất mản :
- Đại nhân quá thương, muốn cho thân già này được ung dung, nhàn nhả, tấm tình tri ngộ ấy, lão xin ghi sâu trong phế phủ. Nhưng sô lão vất vả, ngay từ khi ra đời, vẫn phải luôn luôn vật lộn với sinh kế từng khắc, từng giờ, chẳng mấy lúc được thảnh thơi, rổi rãi !
Do đấy, nếu cho lão ngồi yên hưởng lạc, chỉ những hai bửa liền, là thế nào lão cũng bị đau đớn gân xương, chân tay ngứa ngáy, cơ hồ như có một mảnh lực kỳ bí thúc đẩy, lão phải chạy nhảy, hoạt động hăng hái hơn, để giữ cho sức khỏe được dồi dào bền bỉ lâu dài !
Vị hưu quan chợt nhìn trên án thư có đủ đồ văn phong tứ bảo. Nhớ tới một việc quan trọng, nên vội đưa tay cầm một cuốn sách bìa sơn đen dày cứng, rồi nhích mình qua phía khách lạ, đoạn hạ thấp giọng nói vừa đủ nghe :
- Lão phu có một điều tâm sự, liên can đến hạnh phúc, vận mạng của cả dòng họ Nguyễn ở làng Báo Văn, mà từ khi khôn lớn tới bây giờ, lão phu vẫn nhất định chôn sâu trong phế phủ, chưa hề dám thố lộ với một ai, kể cả những bạn bè, hay họ hàng thân thích !
Số là trong gia phả của tiền nhân lưu lại, từ đời Hậu Lê, có ghi một lời ký chú, đinh ninh dặn lại con cháu rằng :
" Tám ngôi tổ mộ, an táng tại xứ Cốt Đang thuộc cánh đồng làng Báo Văn, tuy kết phát, nhưng muốn cho dòng họ hưởng phúc lộc lâu dài, thì năm Ất Mùi (1775) phải nhờ thầy địa lý chính tông soay lại hướng mộ phần. Nếu không tuân theo lời trong gia phả, dòng họ sẽ bị suy tàn, mau chóng..."
Lời ghi chú trong gia phả, con cháu trong chi trưởng của dòng họ lão phu, phải luôn luôn chôn sâu nơi tâm khảm, coi đấy như nguồn sống chánh yếu của cả một dòng họ, không thể vì một lẽ gì lãng quên được !
Vì vậy ngay từ đầu năm nay, thấy đã tới hạn kỳ ghi trong thế phả, lão phu đã phải tìm thầy địa lý, nhờ phúc lại tám ngôi tổ mộ ở cánh đồng làng Cốt Đang.
Nhưng dù lão đã tốn nhiều công phu cũng như tiền bạc, cho gia nhân đi khắp mọi nơi, cố lùng kiếm cho được một nhà phong thủy chính tông, mà không hiểu vì nhà lão kém âm công, phúc đức hay sao, mà người đi tìm đã mấy tháng nay, vẫn chẳng sao kiếm nổi một thầy địa lý nào, khả dỉ có tài tìm được chánh huyệt trong một khu đất quý, chứ đừng nói là để mả kết phát nữa !
Lão phu đang lo buồn, thì lão trượng đến chơi !
Quả thật là đại hạnh cho dòng họ Nguyễn Nhà lão !
Do sự tình cờ, mà cũng là duyên kỳ ngộ ấy, lão phu thành khẩn yêu cầu lão trượng, hết lòng giúp đở cho lão phu, làm trọn vẹn được lời ký thác của tổ tiên,thì suốt đời, lão phu thề minh tâm, khắc cốt đức độ cao dày ấy của lão trượng.
Nói xong, quan Án Sát lại vái dài rất cung kính.
Khách lạ vội đứng phắt lên, dơ tay ngăn cản mà vui vẻ nói rằng :
- Đại nhân bất tất phải thủ lễ và quá khiêm nhường như vậy, khiến cho lão bị tổn thọ mất hàng kỷ đó !
Lão không đến đây, không được nghe chuyện đại nhân thuật lại về lời ký thác trong gia phả thì thôi, chứ một khi đã tới tận chỗ, được biết rõ tính cách quan trọng của tám ngôi mả thì có lẽ nào lão phu lại không hết lòng giúp đở.
Vậy ngay từ ngày mai này, yêu cầu Đại nhân hướng dẩn lão đi thăm những ngôi mộ kia một lần nữa cho thật cẩn thận, để lão mới có thời giờ nhận xét một cách chính xác hơn.
Sáng hôm sau, qua mấy tuần trà nước, vị hưu quan làng Báo Văn thân hành hướng dẩn thầy địa lý đi thăm các ngôi tổ mộ.
(Còn tiếp)
Thiên Sứ giới thiệu

Thiên Sứ
08-11-2006, 02:05 PM
Kiểu đất

PHỤNG-HOÀNG HÀM THƯ
Tiếp theo

Lũ trẻ mục đồng thấy quan Án hưu trí trịnh trọng trong chiếc áo gấm dài màu da đồng, chân mang văn hài thêu chỉ ngũ sắc, lộng lẫy đi sóng vai với một ông già, dáng điệu rất quê mùa, y phục rất thô lậu, thì kinh ngạc vô cùng, bỏ mặc cho trâu ăn cỏ ngoài đồng, nô nức rủ nhau chạy theo hai người tíu tít kêu gọi nhau vui mừng như được xem đám rước thần ở trong làng vậy.
Chúng càng ngạc nhiên hơn nữa, khi thấy hai người không noi theo con đường làng đi ra ngoài chợ, mà lại mang theo những bờ ruộng, đi ra xứ Cốt Đang ở cách xa cổng làng Báo Văn tới trên hai dặm, khu đất có an táng tám ngôi mộ của họ Nguyễn, cao gần như một cái gò lớn, chung quanh có một hàng rào cây khúc tần xanh om, chằng chịt những sợi giây tơ hồng vàng chói !
Cả tám ngôi mả đều không xây đắp chi hoa mỹ, nằm song song thành một dãy dài theo hình chữ nhất,chiếm rải rác cả chiều dài của thửa ruộng cao không kém một chiếc gò !
Điều đặc biệt, làm mọi người lưu ý hơn hết là cả tám ngôi mả, đều to cao, cỏ mọc xanh um, tươi tốt lạ thường, khác hẳn những mồ mả ở chung quanh thường xuyên bị chủ đất phát cỏ, đắp bờ mượn cớ xén cắt bớt ít nhiều những phía tiếp giáp khít ruộng đang trồng khoai hay cấy lúa cho rộng châu vi canh tác.
Vừa hướng dẫn khách lạ đi coi khắp nơi ngoài cánh đồng, quan Án vừa giơ tay tính nhẩm từng đốt, rồi bất giác thở dài nét mặt đượm vẻ ưu tư, hoảng hốt nói to :
- Mà Ât Mùi thì đúng là năm nay rồi lão trượng ạ !
Vậy mà từ tháng giêng đến bây giờ tốn công tốn của đã khá nhiều, vẫn chưa tìm được nhà phong thủy chính tông nào, khả dỉ có đủ tài năng phúc lại những ngôi mả này, để theo đúng lời ghi chú trong gia phả, xê dịch lại cho họp với sự di chuyển của long mạch.
Thầy địa lý nhìn quan Án Sát hỏi gặng lại :
- Đại nhân định tìm nhà phong thủy như thế nào ? Xê dịch tổ mộ thì cứ xê dịch, hà tất còn phải phúc lại mả cho mất công vô ích.
Vị hưu quan, lắc đầu đáp liền không cần nghĩ ngợi :
- Lão trượng nói thế là sai rồi. Thời buổi này, nho đạo mỗi ngày một suy vi, các môn lý, số, phong thủy cũng hầu như bị mai một lần hồi. Đốt đuốc đi tìm những thầy địa lý chính tông, ít ra cũng phải mất hàng năm mới kiếm được một người tài năng am hiểu đến nơi đến chốn cách để mả, và chọn đất, còn đa số đều mờ mờ, mịt mịt, chưa cầm vững chắc cái tróc long, chưa biết phương pháp sử dụng la kinh, cũng vỗ ngực tự nhận mình giỏi địa lý !
Bởi sự tìm kiếm nhân tài rất khó khăn như thế, nên lão mới bày ra cách phúc duyệt lại các ngôi tổ mộ, vừa để xét nghiệm khả năng của người ta, vừa muốn được hiểu rõ hiện trạng đích xác của các ngôi tổ mộ, vì nếu gặp kẻ mạo nhận danh nghĩa là nhà hong thủy chuyên môn, tất họ không sao biết rõ được phương hướng các bộ hài cốt nằm dưới lòng đất ?
Do đấy, lão phu mới có thể loại trừ được họ một cách dễ dàng !
Còn trái lại, nếu họ nói đúng được vị trí an táng, của tưng bộ hài cốt, như nằm nghiêng nằm ngửa hay đầu gối lên đầu, chân đạm vào đâu, đúng như lời ghi chú rành mạch trong cuốn gia phả của dòng họ Nguyễn, thì đây mới thiệt là thầy địa lý chành tông !
Lão phu có thể tin tưởng vào tài năng của người ấy để nhờ xê dịch mộ phần.

ĐỒ KHÔNG CÓ MẮT
Ngừng lại một lát như để suy nghĩ thêm, quan Án Sát nói tiếp :
- Lão phu không phải là thận trọng vô ích đâu ? Cả tương lai một dòng họ khá đông con cháu như dòng họ Nguyễn ở làng Báo Văn này, hết thảy đều trông cậy vào tám ngôi tổ mộ, mà theo sự truyền tụng, đã kết phát được tới trên một trăm năm rổi.
Nay nhất đán, đang yên, đang lành, lại đem xê dịch đi, hay hơn trước thì chẳng sao, nếu rủi lại bị đứt long mạch, hay động trệ, nay tai này, mai họa khác, cất đầu lên không nổi, chẳng còn mong gì nở mày, nở mặt được với dân làng, thì hỏi ai phải chịu trách nhiệm, không những với bà con trong họ mà còn luôn cả với tổ tiên nơi chín suối nữa !
Lão phu là ngành trưởng, phải gánh vác hậu quả nặng nề hơn hết của sự xê dịch di táng này !
Nhiều lúc lão phu cảm thấy lo âu, sợ hải trước công việc phức tạp, khó khăn mà tổ tiên từng trối trăn lại, nên có ý muốn giữ nguyên tình trạng hiện thời, được đến đâu hay đến đó, chờ khi nào trong họ có triệu chứng suy sụp, lúc bấy giờ sẽ lo liệu cũng không muộn gì !
Nhưng khốn nổi trong gia phả, các cụ đã đinh ninh ghi chú, đời nọ ký thác cho đời kia, dặn con cháu phải luôn luôn nhớ như in vào tâm tư, phế phủ là đến năm Ất Mùi, dù trong họ không xảy ra việc gì cũng phải nhờ thầy địa lý di tản cả tám ngôi tổ mộ, không được vì cớ gì trì hoãn hay trái lời trăn trối !
Lão phu bình sanh tôn trọng lễ nghi, đạo đức, nên không thể nào dám cưỡng lời tổ tiên truyền lại !
Tình cờ được gặp lão trượng, lại được lão trượng giảng dạy cho nghe sơ lược về môn phong thủy thần bí, khiến lão phu mừng rở vô cùng, tin tưởng mãnh liệt đó là trời xanh phù hộ, và tổ tiên họ Nguyễn khôn thiêng dung rủi cho lão trượng đến đây vừa đúng lúc, để giúp cho lão phu hoàn thành trọng trách đối với tổ tiên !
Sau này con cháu họ Nguyễn giữ vững được nền nếp của Ông Cha, hẳn chẳng bao giờ dám quên ơn sâu hà hải của lão trượng !
Thầy địa lý vừa thong thả dạo bước quanh khu ruộng cao, vừa chăm chú quan sát địa hình, địa thế khắp nơi, bỗng đứng khựng lại, ngơ ngác nhìn thẳng vào mấy ngôi mả nằm ở giữa ruộng, đoạn mở khăn gói lấy tróc long ra, thận trọng đặt xuống một mô đất cao nhất vùng, rồi bất giác vỗ đùi kêu lên một cách tức bực :
- Hừ ! Đồ mù ! Không biết một tí gì đến môn phong thủy mà cũng đòi để mả cho người ta, làm thiệt thòi nặng cho các gia đình mộ chủ !
Vị hưu quan kinh ngạc trước sự tức giận bất ngờ của khách lạ, hấp tấp hỏi vội :
- Thưa... Có việc gì xảy ra, mà lão trượng phải nặng lời như vậy.
Như được người "gãi đúng chỗ ngứa", nhà phong thủy dơ tay chỉ vào mấy ngôi mả nằm giữa ruộng, gàn giọng !
- Đấy, Đại nhân coi kìa ! Ai từng nghiên cứu về môn địa lý, cũng đều nhận thấy ngay được nơi tụ tập tinh khí của thửa đất, hay nói cho rõ nghĩa hơn : nơi quy tụ long mạch của ngôi đất quý !
Vậy mà người tìm đất, phụ trách về công việc phân kim, án hướng, lại lựa chọn chỗ quá cao kia, để an táng tám ngôi mả, thì quả là một chuyện lạ lùng ngoài sức tưởng tượng của những nhà địa lý chánh tông. Từ chỗ tám ngôi mả hiện thời đến nơi qui tụ long mạch, chỉ có chừng năm thước !
Nhà phong thủy, năm xưa, chỉ cần cho đào huyệt ở thửa ruộng thấp, là có thể táng mả trúng long mạch, tạo được sự kết phát vinh hiển hơn, oanh liệt hơn diểm phúc mà họ Nguyễn đã được hưởng thụ từ trước tới bây giờ.
Vị hưu quan tỏ ý hoài nghi :
- Lão trượng dạy thế, lão phu cũng biết thế thôi. Nhưng lão phu tin rằng : tổ tiên dòng họ Nguyễn, đa số là những danh nho, khoa bảng xuất thân, thấu triệt tinh tế lẽ huyền vi của môn địa lý, một khi đã tin tưởng vào sự lưa chọn của nhà phong thủy nào đó, ủy thác cho người ta trông coi một lúc tới tám ngôi mả, có tính cách quyết định vận mạng, phúc trạch của hàng mấy người, trong dòng họ, thì có lẽ đâu lại sai lầm cho được ?
Hơn thế, từ hơn một trăm năm nay, căn cứ theo lời ghi chú trong gia phả, đang còn lưu lại từ đường, do chính lão phu là chi trưởng gìn giữ, thì con cháu họ Nguyễn, ngay từ khi tám ngôi mả kia quán khí, đều phát tích, thi đậu, kế tiếp nhau làm quan, dù chẳng Tể Tướng, Trạng Nguyên, cũng nối đời Tiến sĩ, Cử Nhân, Tri Phủ, Án Sát...
Thầy địa lý trừng mắt nhìn quan Án Sát, đoạn cười nhạt trả lời :
- Đại nhân không tin ? Đó là quyền riêng của Đại Nhân ! Lão chẳng biết nói sao bây giờ ?
Tuy nhiên, muốn cho Đại Nhân tin lời lão là xác thiệt, chứ chẳng phải là lời viễn vong, vu khoát thốt ra trong một lúc cao hứng nhất thời, lão sẽ cắm một cành cây khô héo, có thể nói là một cành cây đã chết hẳn hoi, xuống chỗ có long mạch, lão vừa chỉ cho Đại Nhân coi, rồi sau ba ngày, ba đêm, đại nhân sẽ biết rõ ràng sự thực.
Nếu quả thực đó là nơi quy tụ long mạch, có đầy đủ khí thiêng nhật nguyệt, thì thời gian ba ngày, ba đêm, sẽ làm sống lại một cành cây khô héo, khiến cho cành khô đâm chồi, nẩy lá, tươi tốt mơn mởn, như đang được sống trên cây đại thụ, trồng vào nơi đất màu mở, phì nhiêu.
Trái lại, nếu đúng long mạch đang quy tụ ở trên cao, nhằm chỗ an táng tám ngôi tổ mộ, thì cành khô sẽ vẫn khô héo cằn cổi như lúc mới cấm xuống đất, chẳng tạo được một chút sinh khí nào hết !
Đến nước ấy, lão sẽ quăng bỏ tróc long, đập bể la kinh, để tự ý đi tìm nghề khác, chứ không còn mặt mũi nào, đóng vai thầy địa lý đi đâu.
Còn tiếp
Thiên Sứ giới thiệu

Thiên Sứ
09-11-2006, 08:59 AM
Kiểu đất
PHỤNG-HOÀNG HÀM THƯ
Tiếp theo
CÀNH CÂY KHÔ ĐÂM CHỒI NẨY LỘC
Phóng thẳng luồng nhởn tuyến, vào giữa mặt vị hưu quan, nhà phong thủy gay gắt tiếp lời :
- Ngay cả đến Đại Nhân, người được lão vô cùng kính trọng về tiết tháo, văn chương, lại tiếp đãi lão cực kỳ trọng hậu, ngay từ buổi đầu tiên, hội ngộ, lão cũng xin thề độc : cương quyết giả từ đại nhân, để đi âm thầm ở một nơi nào xa xôi hẻo lánh !
Bao nhiêu tình nghĩa dang dở ngày nay, kiếp lai sanh chúng ta sẽ nối tiếp cho thỏa tình tri kỷ tương phùng !
Quan Án Sát cảm động trước lời tâm huyết chí tình của khách lạ, vội dơ tay phác một cử chỉ ngăn chận, cất giọng trầm trầm như có vẻ nghẹn ngào, xúc cảm :
Lão trượng bất tất phải bi quan thái quá ! Lão phu sở dỉ phải phân trần khúc triết về những sự kiện kỳ dị bao phủ quanh tám ngôi tổ mộ, chỉ là muốn có dịp trình bày một sự thực hiển nhiên : đó là sự kết phát từ khi an táng những hài cốt ấy đến bây giờ, căn cứ theo gia phả dòng họ lão phu chưa hề có một đời nào bị gián đoạn trong khoa danh hay hoạn lộ !<?xml:namespace prefix = o ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:office" /><o:p></o:p>
Bảo rằng những ngôi mả ấy bị sai long mạch, thì sao lại kết phát được tới mức độ ấy, Lão phu e sự tính toán xem xét của lão trượng có một phần nào sai lầm chăng ?
Thầy địa lý châu mày, lộ vẻ bất bình :
- Bất tất phải tranh luận làm chi, vô ích ! Đại nhân nếu chưa hoàn toàn tin tưởng những lời lão vừa trình bày, thâm tâm còn một phần nào hoài nghi, thắc mắc, thì lão xin hiến thêm một phương pháp thử thách nữa, tiến hành cùng một lượt với việc cắm cành cây khô xuống nơi hiện đang quy tụ long mạch do lão mới tìm được.
Đó là cách đem một thân cây hết nhựa, cắm xuống cạnh ngôi tổ mộ, nằm chính giữa khu ruộng này, thử xem sau 3 ngày, nó có tươi tốt, khôi phục được nhựa sống như cành cây trồng ỡ nơi lão chỉ định không ?
Vị hưu quan vui vẻ gật đầu tán thành ý kiến ấy, rồi nhanh nhẹn tiến thẳng đến bụi khúc tần trước mặt, dơ tay bẻ luôn hai cành ổi lớn, tuốt bẻ hết mầm, lá đi, đem về chỗ cũ, đưa cho nhà phong thủy xét nghiệm.

*
* *

Hai người hì hục một lúc lâu, vẫn không làm cách nào trồng được hai cành cây, vì ngoài một chiếc khăn gói nhỏ trên vai thầy địa lý, cả hai người đều không ai mang theo một thứ dụng cụ gì, khả dỉ đào được hai hố sâu để trồng cây, như lời đề nghị của nhà phong thủy là … Trồng hai cành cây xuống hai nơi xa cách nhau không quá ba sải tay : một cành ở giữa địa khu an táng tám ngôi tổ mộ nằm trên gò cao, một cành ở dưới ruộng thấp nơi chánh huyệt mà thầy địa lý vừa khám phá được.
Vừa dùng gót chân, nện chặt những tảng đất ẩm ướt gần đó, để cho hai cành cây tựa vào, nhà phong thủy vừa cất giọng gay gắt mỉa mai :
- Làm thầy thiên hạ kể ra cũng chẳng có chi là khó khăn cho nó lắm !
Chỉ cần chuẩn bị đủ lệ bộ : cố mua sắm cho kỹ được mấy cái tróc long, la kinh và vài ba cuốn sách, đem xếp gọn tất cả vào một chiếc khăn gói là đã có thể nghiểm nhiên vỗ ngực : tự xưng mình là địa lý chánh tông, tìm đất để mả cho mọi người một cách rất tự nhiên, làm như mình là con cháu những vị thánh sư địa lý, được thừa hưởng cả một kho tàng vô giá về môn phong thủy thần kỳ !
Ngừng lại một lát lão lui hẳn về phía sau ba bước, nghiêng nghiêng mái đầu bạc phơ, nhìn sững cành cây, đoạn quơ tay, như muốn diển tả sự bất bình !
- Hừ, Thật là quái dị long mạch từ các phía đổ dồn cả về đây hết sức rõ ràng như thế này rồi mà ông " thầy gà mờ " nào đó lại còn nhận định sai lầm, đem tất cả tám ngôi tổ mộ táng hết ở phía trên, thì liệu có đáng tiếc không ở trời !
Nhưng sự sai lầm ấy, kể ra cũng còn tạm tha thứ được phần nào, chứ cái lối xếp đặt vị trí mộ phần, theo hình chữ nhất, thì... quả thiệt là bất khả thứ dã ! Chẳng cần phải bỏ công phu nghiên cứu, học hành về môn địa lý mới biết rõ, mà ngay đến những người chẳng bao giờ cầm đến cuốn sách, giảng dạy về các kiểu đất, với cách dò tìm long mạch, chánh huyệt, chỉ khẻ liếc qua địa hình, địa thế khu vực này, cũng nhận thấy ngay được tính cách cẩu thả của ông thầy địa lý mà chẳng hề biết gì về môn địa lý !
Chính nhờ đấy, lão mới nẩy ra ý định tìm tới quý phủ để bàn luận với đại nhân hầu kiếm phương pháp cứu vản cho tám ngôi tổ mộ đắc địa hơn, vì kiểu đất Phụng Hoàng Hàm Thư đâu có phải là một kiểu đất tầm thường, có thể tìm thấy được ở bất cứ chỗ nào, mà thực ra, nó có nhiều đặc điểm quý báu lạ lùng, dù không kết phát được tới đế vương, công hầu, khanh tướng song cũng làm đến Bố Chánh, Án Sát, đời này qua đời nọ, kéo dài hàng vài trăm năm mới bị suy giảm lần hồi, nếu người để mả biết rành về khoa phong thủy.
Mới trông sơ qua hình thế khu gò Cốt Đang với vị trí tám ngôi mả, lão cũng tưởng nó chỉ phạm vào chút khuyết điểm tầm thường không đáng kể mà nếu có ảnh hưởng đến sự kết phát thì cũng chẳng gây được tai hoạ chi nặng nề, khả dỉ làm tổn thương cho con cháu dòng họ Nguyễn sau này.
Nhưng quả thực là một việc quá bất ngờ, khi lão có cái may mắn được theo hẳn Đại Nhân hôm nay, qua vùng này, vì nhờ đó lão mới có cơ hội thuận tiện quan sát kỹ lưỡng, toàn thể khu cánh đồng xứ Cốt Đang, để nhận chân ra sự sai lệch, không những về vị trí an táng, mà còn luôn cả đến long mạch nữa !
Mà nói đến long mạch, thì Đại Nhân hẳn cũng hiểu rằng : đó là vấn đề then chốt, một yếu điểm cực kỳ của môn địa lý !
Bất cứ ai, một khi dã am hiểu khoa phong thủy, cũng đều phải công nhận một sự thật hiển nhiên : tay long, tay hổ, minh đường, án, trầm v.v...tất cả các điều kiện cần thiết của một mộ phần đắc địa, dù cho có đủ hết cả, mà chỉ sai lệch chánh huyệt, hài cốt không táng được đúng vào nơi quy tụ long mạch, thì nhất định ngôi mả ấy chẳng còn mong gì kết phát được nữa !
Trái lại, có khi còn gây thêm sự động trệ, nguy hại cho gia đình mộ chủ là khác !
Hậu quả ấy, chính là do âm công phúc trạch của tiền nhân, cũng như của chính bản thân mộ chủ, hãy còn đơn bạc quá, chưa đáng được hưởng ân huệ của Phật Trời, nên Tạo Hóa an bài, mới xui khiến cho mộ phần táng không nhằm chánh huyệt !
Tính cách quan trọng của sự dò tìm chánh huyệt, đã làm cho lão nhớ đến công trình học tập năm xưa về môn địa lý : Suốt ngày lão phải dò xét, tìm kiếm cho được những đồng tiền điếu, dấu kín dưới các mâm gạo, mà sư phụ lão, đã dàn xếp, bố trí theo hình thể núi sông, gò đống, ruộng nương để giảng dạy học trò.
Khi nào tìm thấy được đủ cả trăm lần, không sai lệch một lần nào, dù chỉ cách nhau một đường tơ, một sợi tóc, lúc bấy giờ mới được kể là thành tài, có đủ điều kiện đi để mả cho thiên hạ !
Trong những ngày đầu, thấy địa hình, địa thế, do sư phụ lão bày ra trên mâm gạo, không có gì khó khăn lắm, lão cũng như các bạn đồng môn hết thảy đều coi thường, nhiều khi đùa nghịch bịt mắt lại, cũng kiếm được ngay tức khắc đồng tiền điểm dấu tại chánh huyệt !
Nhưng rồi, địa thê, địa hình, theo đà tiến bộ của sự học hỏi, cứ mỗi ngày một phức tạp thêm, bí hiểm thêm, đòi hỏi lão cùng các bạn đồng môn phải khổ công nghiên cứu, đến quên ăn, quên ngũ mỗi khi gặp phải những kiểu đất lạ lùng, hóc hiểm.
Kiểu đất Phụng Hoàng Hàm Thư này, cũng thuộc vào loại bí hiểm mà lão vừa trình bày, nên có lẽ vì thế, thầy địa lý nào đó, năm xưa, mới mắc phải những lổi lầm đáng tiếc ! Tuy nhiên, ở trên cỏi đời, nếu đã có bệnh trọng thì lẽ tất nhiên cũng phải có thuốc hay !
Đây là công lệ của Tạo Hóa !
Người ta chỉ lo không biết rõ căn bệnh, không biết đích xác bệnh chứng phát ra từ đâu, chứ nếu đã tìm được rành mạch bệnh căn, thì nhất định, sự điều trị không còn phải là chuyện viển vong nan trị nữa !
Tám ngôi mả của dòng họ Nguyễn cũng vậy !
Nhà phong thủy ngày xưa đã tìm được đúng kiểu đất quý, xứng đáng là thầy địa lý chính tông, nhưng tiếc thay, lại táng sai chánh huyệt, khiến cho long mạch chảy dồn cả xuống phía dưới .
Tám bộ hài cốt chôn ở khu ruộng trên cao, vì vậy, chẳng có ngôi mả nào được long mạch tưới vào.
Sự kết phát nếu có, hẳn chỉ là nhờ những khí thiêng tỏa ra, tạo ảnh hưởng ít nhiều cho cho các mộ phần kế cận !
Trước những lý luận đanh thép, và lời phán đoán sâu sắc, minh bạch của khách lạ, vị hưu quan cảm thấy kính phục nhà phong thủy một cách chân thành, coi lão như một nhân vật phi thường, thông kim, bác cổ ! Quan Án Sát gạt bỏ tất cả những ý nghĩ không tốt đẹp đối với thầy địa lý, hoàn toàn tin tưởng vào khả năng của khách lạ để xoay sở, thay đổi một tình trạng có thể gọi được là vô cùng trở ngại cho con cháu họ Nguyễn ở làng Báo Văn.
Nghĩ thế, rồi vị hưu quan không chút ngần ngại gì , hướng thẳng vào nhà phong thủy mà chấp tay kính cẩn nói rằng :
- Được lão trượng giảng dạy cho nghe những lởi vàng ngọc, lão phu như kẻ tối tăm, được vén mây, thấy ánh mặt trời !
Càng nghĩ, lão phu lại càng thầm cảm ân huệ của Phật Tròi, đã dung rủi cho lão trượng dời gót ngọc đến đây, ban phúc trạch cho lão phu và luôn cả con cháu dòng họ Nguyễn ở làng Báo Văn !
Lão phu chẳng còn biết dùng lời lẻ gì để chứng tỏ lòng tri ân chân thành của lão phu đối với một bậc cao
hiền có chân tài thực học như lão trượng !
Vậy chỉ xin kính cẩn nhờ lão trượng mở lượng hải hà, thay đổi lại chiều hướng cho ngôi tổ mộ của lão phu được yên vị như như lời tiền nhân ghi chú trong gia phả, thì ơn ấy, lão phu thề chẳng bao giờ dám lãng quên !
Hai người nhìn nhau, cùng mỉm cười, rồi bất giác nắm chặt lấy tay nhau, xiết mạnh, như muốn truyền vào cơ thể của nhau, niềm thông cảm sâu sa giữa đôi bạn già, dù chỉ mới gặp nhau trong buổi sơ giao, nhưng lại biết trọng nhau vì nết, quý nhau về tài, qua những thử thách gay go phức tạp !
Trồng được hai cành cây khô xuống đất ở hai địa điểm khác nhau, nhưng vẫn không cách xa nhau tới ba sải tay, tuy không phải là việc khó nhưng tuổi già sức yếu, hai người đành rủ nhau, men theo đường cũ, trở về trong làng để gọi thêm một tên gia nhân trong nhà quan Án ra giúp sức.
<o:p>Còn tiếp
Thiên Sứ giới thiệu </o:p>

Thiên Sứ
11-11-2006, 07:27 AM
Kiểu đất
PHỤNG-HOÀNG HÀM THƯ
Tiếp theo
NGƯỜI TÌM RA KIỂU ĐẤT PHỤNG HOÀNG HÀM THƯ
QUẢ NHIÊN BỊ MÙ THIỆT
Nội bọn trở lại cánh đồng có chôn tám ngôi mã thì mặt trời đã đứng bóng.
Tám gia nhân lực lưỡng, không hề phí một chút giây nào vô ích, ngay khi được nhà phong thủy chỉ cho biết chỗ phải đào để trồng hai cành cây khô, vội bắt tay ngay vào công việc một cách rất mải mê, chăm chú.

Mới trông toàn thể cánh đồng, ai cũng tưởng đất ở nơi này cũng không đến nổi khó đào cho lắm, nhưng chỉ nhìn qua những nét nhăn nhó, in hằn trên khuôn mặt đen sạm của tên gia nhân từ khi y vừa đào hết được lớp đất thứ nhất, sâu chưa tới một thép mai, những người đứng gần đây, cũng đều biết là y đang gặp phải loại đất cứng rắn, dù chẳng bền bỉ như đá, gạch, song cũng tốn nhiều công phu mới có thể đào sâu được gần tới long mạch, như lời căn dặn của thầy địa lý. Đào xong được chiếc hố sâu thứ nhất ở trên gò cao để chôn cành cây khô, thử xem khu vực này có đúng thiệt là linh địa không thì đã sang giờ Mùi khá lâu.
Tên gia nhân lại cắm cúi đào thêm hố thứ hai ở dưới ruộng thấp, nơi thầy địa lý cả quyết là đang tập trung tất cả linh khí và long mạch của kiểu đất Phụng Hoàng Hàm Thư.
Mặt đất chỗ này mới đào có vẻ như dễ dàng lắm, vì tên gia nhân chỉ cần ấn nhẹ luỡi mai xuống cũng đã bắt sang bên cạnh được một tảng đất khá to.
Nhưng càng đào sâu xuống phía dưới, đất lại càng như khô quánh, rắn chắc lại, đến nổi người lực điền có hai cánh tay gân guốc nổi lên cuồn cuộn như thừng chân, mà cũng phải mím môi, nín thở, dồn hết cả sức lực vào cán mai, mới đào được những miếng đất nhỏ không bằng nửa viên gạch chỉ !
Vị hưu quan và thầy địa lý đứng gần đây, hình như thông cảm nổi khó khăn vất vả của tên gia nhân đã luôn miệng khuyến khích y, và thay đổi nhau, kể lại những chuyện cổ tích ân đền oán trả, ở hiền gặp lành, ở ác gặp dữ cho y nghe, hầu y tạm lãng quên sự khổ cực, để mong hoàn thành cho chóng xong công việc, vì thực ra, hai người mải mê đi quan sát kiểu đất suốt từ sáng, cũng đã cảm thấy mỏi mệt lắm rồi !
Đúng lúc hai người đang uể oải vươn vai ngáp dài tỏ vẻ mệt nhọc sau gần nửa ngày đi đứng vất vả thì tên gia nhân chợt kêu to một cách cực kỳ sửng sốt :
- Ồ này lạ ! Có cái gì đây này các Cụ ơi !
Tiếng kêu giật giọng của người lực điền đã khiến thầy địa lý giật mình, cặp mắt đang nặng trĩu như có vẻ buồn ngũ ghê ghớm của lão chợt mở to thao láo hẳn ra, rồi không cần chờ coi thái độ của quan Án Sát hưu trí, lảo nhảy ngay đến bên hố sâu hấp tấp hỏi vội :
- Có chi lạ mà chú em la hoảng thế hử ?
Tên gia nhân vẩn chăm chú thận trọng đưa nhẹ lưỡi mai đào sâu thêm chút nữa, không buồn ngẫng đầu lên, mà chỉ trả lời cộc lốc :
- Không biết là cái gì ? Hình như là viên đá thì phải...
Vị hưu quan cũng đã theo kịp bạn, đứng sát bên mình thầy địa lý, rồi cả hai cùng nghiêng đầu, phóng một lượt bốn luồng nhởn tuyến, theo đà chuyển động của lưỡi mai sắc bén sáng ngời. Anh lực điền bỗng quăng chiếc mai lên mặt đất, cúi rạp người xuống, lấy tay bới những mảnh đất vụn, gạt ra chung quanh, để lộ ra một màu trắng đục, khác hẳn màu đất thịt pha trộn cát sỏi ở phía trên.
Hai ông già bất giác cùng reo lên một lượt.
- Đúng là có tảng đá thật rồi.
Trong lúc tên gia nhân phủi tay đứng thẳng dậy, nhìn hai người như có ý thăm hỏi anh ta phải làm gì bây giờ, thì thầy địa lý đã dõng giạc nói to :
- Cứ trông qua tình hình, tảng đá này chắc cũng khá to, chứ chẳng phải tầm thường đâu ? ta bắt buộc phải đào lên cho kỳ được để bỏ đi, thì mới có thể trồng được cành cây vào đúng nơi có long mạch quy tụ.
Vậy chú em hãy chịu khó đào rộng ra chung quanh, theo diện tích tảng đá xem sao ?
Người lực điền không nói gì, lẳng lặng quơ ngay lấy cái mai, cặm cụi làm theo lời sai khiến của nhà phong thủy.
Bề mặt phía trên tảng đá không to lắm như sự tiên đoán của thầy địa lý, vì tên gia nhân chỉ đào rộng ra bốn phía, bằng diện tích một cái thúng lớn, đã thấy lộ ra đầu một tấm bia đá.
Hắn lại tiếp tục đào sâu xuống, bới gạt đất sang hai bên để moi hẳn tấm bia lên.
Hai Ông già thấy dưới lòng đất khu Phụng Hoàng Hàm Thư có tấm bia đá, biết trước là sẽ có những chuyện bất ngờ kỳ dị lạ lùng sắp xảy ra, nên cũng mất hết vẻ mệt nhọc, uể oải lúc trước, nhìn chòng chọc cả xuống hố sâu, theo dõi từng tảng đất của người lực điền sắn ra.
Đào sâu thêm chừng ngót một thước nữa (thước ta) thì tên gia nhân có vẻ thấm mệt, mồ hôi chảy giòng giòng trên hai gò má, chiếc áo cánh nâu dày cộm ướt sủng như vừa ngâm dưới nước đem lên, anh ta thơ phì phò, dồn dập in hệt người vừa bắt buộc phải nín hơi, để vận dụng hết sức lực, chạy thi một quảng đường dài !
Tên gia nhân chống cán mai, đứng lặng người nhìn sửng tấm bia đá như muốn ước lượng xem bề sâu của nó còn độ bao nhiêu nửa, rồi thẩn thờ đưa cặp mắt ngao ngán nhìn trộm chủ nhân.
Vị hưu quan bất chợt bắt gặp cái nhìn thất vọng, mệt mỏi ấy của người lực điền, hiểu ngay tâm trạng anh ta, liền nói với nhà phong thủy :
- Cứ xem qua tấm bia, lão phu tin chắc rằng nó còn được chôn sâu hơn nhiều nữa ! Mà tên gia nhân thì lại có vẻ mệt mỏi lắm rồi ! Vì vậy, lão phu thiết tưởng chúng ta nên tạm hoãn việc làm trong chốc lát, để cho nó về nhà, gọi thêm vài người nữa ra giúp sức.
Như thế, có lẽ vừa chóng xong, lại vừa đở cho tên gia nhân được một phần nào sự nhọc nhằn vất vả.
Tuy nóng ruột, muốn biết ngay xem tấm bia đá có những chữ chi kỳ lạ, nhưng trước những lời lẽ chí lý, rất xác đáng của vị hưu quan, nhà phong thủy tự xét, không còn có một giải pháp nào khác, đành phải miễn cưỡng gật đầu.
Quan Án Sát liền vỗ vai người lục điền, giọng thân mật :
- Mi khá về trong nhà, kêu ra đây hai người nữa, với đủ các thứ thuổng, cuốc, nghe ! Mau lên, kẽo mặt trời sắp xế bóng rồi đấy !
Tên gia nhân, dạ một tiếng rồi lanh lẹ nhảy khỏi miệng hố sâu, vừa đi vừa rủ những lớp đất cát bám đầy bộ quần áo nâu dày cộm !
Thầy địa lý kín đáo, liếc trông vị hưu quan, đang đi đi, lại lại chung quanh chiếc hố đào dở, mắt không rời khỏi tảng đá nằm im lìm ở giữa đống đất ngỗn ngang.
Lão hiểu rõ hơn ai hết, sự nóng lòng, sốt ruột của quan Án Sát hưu trí ! Vì mới mấy giờ trước đây, không nghe lão tỏ ý lo ngại về nạn đất rắn, không thể nào, chỉ dùng tay không mà trồng nổi được hai cành cây xuống tận nơi có long mạch đang quy tụ, vị hưu quan cũng nhất định không chịu nghe lời, cứ cương quyết đòi trồng ngay cho kỳ được.
Nhưng loay hoay, soay sở mãi, hai cành khô vẫn nghiêng ngã muốn đè rạp cả về phía trước, khiến ông ta cuống quít, phải vội vàng dùng gót chân, nện mạnh chung quanh gốc cây khô, mong nó có thể đứng vững được.
Nhưng chỉ trong chớp mắt, nó lại lảo đảo theo chiều những cơn gió giật và cuối cùng bật tung hẳn lên, kèm theo ít mảnh đất vụn !
Thấy đã tốn công: Ba lần trồng xuống mà cả ba lần đều bật tung cả lên, vị hưu quan mới chịu trở về gọi người nhà ra giúp sức.
Vậy mà có ai ngờ đâu, đất nơi đây chẳng những đã pha cát sỏi, rắn chắc như gạch ngói, mà mới đào hố tới nửa chừng, lại còn gặp phải một tảng đá khá to ngăn chận, khiến cho một tên gia nhân lực lưỡng, vẫn không đủ sức làm được trọn vẹn công việc : đào tấm bia đem lên cho mọi người xem, để lấy chỗ trồng cành cây khô, thử coi chỗ này có long mạch thật không, hay đó chỉ là lời ức đoán vu vơ của nhà phong thủy ?








*

* *



P
hải cho tên gia nhân chạy về kêu thêm hai hay ba người khỏe mạnh nữa đến giúp sức, thầy địa lý hiểu rõ nỗi khổ tâm của vị hưu quan trong sự đợi chờ bất đắc dĩ này lắm, vì mộ chủ rất băn khoăn về những việc xãy ra, nhất là muốn biết ngay tức khắc xem tấm bia kỳ lạ kia có viết những chữ gì ? Liệu có liên can chi tới sự kết phát của dòng họ Nguyễn hay không ?



Quan Án Sát hưu trí đi quanh chiếc hố đào dỡ không biết đã đến mấy chục vòng rồi, mà trí óc hình như vẫn còn trĩu nặng niềm ưu tư, phiền muộn, nên ngao ngán, tiến đến bên cạnh nhà phong thủy, hỏi vội, sau một tiếng thở dài não nuột :
- Lão trượng tính sao về tấm bia quái dị kia ? sao nó lại nằm trong khu vực an táng mộ phần họ Nguyễn ? Liệu nó có dính líu chi đến kiểu đất Phụng Hoàng Hàm Thư không ? Do ai khắc bia với chôn bia hở lão trượng ?
Trước những câu hỏi dồn dập, đượm vẻ lo âu, băn khoăn đến tột độ của vị hưu quan, nhà phong thủy như cảm thấy ái ngại, rồi bất giác, nắm chăt lấy bàn tay khẳng khiu, nóng hỏi như bàn tay một người đang lên cơn sốt trầm trọng mà an ủi rằng :
- Đại nhân bất tất phải băn khoăn; thắc mắc làm chi cho hao tổn tinh thần. Bất cứ việc gì, dù lớn nhỏ tầm thường hay quan trọng đến đâu, cũng đều do sự an bài của Tạo hóa, thu gọn trong luật nhân quả của Phật Trời !
Sức người dù mạnh thế nào, cũng không sao cưỡng lại được ?
Việc phải đến, sẽ đến ! Người hiền lương có bao giờ gặp phải tai ương đâu ? Dòng họ Nguyễn, từ bao đời nay, được nối tiếp hiển vinh, dù là bằng cớ hiển nhiên do âm công tích thiện của các Cụ nhà ta ngày xưa cấu tạo nên !
Đại nhân có thể vững tin vào đấy, mà trau dồi tô điểm thêm cho âm đức được cao dày hơn nữa thì lo gì con cháu không được nối đời hưởng thụ giàu sang !
Quan Án Sát hưu trí, tươi nét mặt hớn hở tạ rằng :
- Đội ơn lão trượng chỉ dạy, lão phu như người đang đi trong đêm tối, được vén mày trong thây thái dương ! Nhờ có những lời vàng ngọc ấy, từ nay lão phu có thể vui sống theo số mạng, lấy việc tu thâu, tích đức làm phương châm duy nhất và lẽ sống tối thượng ở đời, hy vọng con cháu sau này, nở mày, nở mặt được với thiên hạ !
Hai người còn đang mải mê đàm đạo, thì từ xa, ba người lực điền đã vác cuốc, vác thuổng lần theo con đường đất gồ ghề ra khỏi cổng làng rồi men bờ ruộng, lầm lủi đi tới.
Ra đến nơi, mấy chú gia nhân, không chịu bỏ phí một giây phút nào bắt tay ngay vào công việc, phân công nhau kẽ đào đất người xúc đất lên miệng hố.
Chỉ chừng đầu giờ Thân, toàn thể tấm bia đá phơi hẳn mình dưới ánh hoàng hôn êm dịu.
Nhưng ba người lực điền bỗng cùng một lúc kêu lên hoãng hốt :
Ô hay, Sao lại thế này ? Không phải chỉ có một tấm bia mà thôi đâu ? Hình như còn có cả một tảng đá lớn nữa, nằm ngang ở dưới đáy này các cụ ạ !
Còn tiếp
Thiên Sứ giới thiệu

dienbatn
11-11-2006, 08:03 AM
Thiê sứ ơi - Những bài này dienbatn đăng lâu rùi mà .
http://vietlyso.com/forums/showthread.php?t=5683
dienbatn .

Thiên Sứ
11-11-2006, 09:10 AM
Uh. Vậy thì viết nốt bài này tôi sẽ dừng lại.
Đây là những bài của Anne Nguyên post lần đầu tiên tiên ở tuvilso.com ngày xưa. Tôi muốn gửi bài này như một kỷ niệm với cố nhân trên mạng.Thời chị Anne Nguyen quản lý tuvilyso.com là thời thịnh vượng nhất cùa web này. Bây giờ quay lại nới cũ , cũng thấy ngậm ngùi....
Thiên Sứ

Thiên Sứ
11-11-2006, 02:10 PM
Kiểu đất
PHỤNG-HOÀNG HÀM THƯ
Tiếp theo
Hai ông già cùng nhảy vội xuống hố, cúi rạp mình quan sát, thì thấy rõ ràng tấm bia, bề cao độ thước rưỡi (ta), bề ngang chừng một thước, được đặt dựng đứng trên một phiến đá to hơn nhiều.
Chân bia được lồng hẳn vào phiến đá lớn, bằng một lỗ đục vừa vặn, như người đóng mộng kẹp vào, mà đất cát, qua năm tháng thời gian, đã nêm chặt lại, vững vàng, kiên cố còn hơn gắn bằng các chất vôi cát pha trộn với mật, mà các cụ ngày xưa thường dùng xây cất nhà cửa, bể đựng nước v.v...
Mấy chú lực điền xúm nhau lại, mím môi nín thở cùng vận dụng toàn lực cố lay tấm bia, định nhắc bổng hẳn lên trên mặt đất, nhưng vô ích, tấm bia vẫn đứng trơ không nhúc nhíc, hàn gắn liền với khối đá nằm ngang, toàn thể chỉ là một phiến, được chia ra làm mấy bộ phận khác nhau.
Với dáng điệu bồn chồn khắc khoải của một người nóng nảy, vị hưu quan không cần câu nệ, giữ gìn phong độ oai nghiêm, bệ vệ lúc thường nhật, ngồi xổm luôn dưới hố sâu, lấy tay thoa đi, thoa lại nhiều lần lên mặt tấm bia, cố ý muốn đọc ngay những dòng chữ chi chít, ghi trên, xem người chôn bia viết những gì, có dụng ý gì mà lại chịu tốn công, chôn tấm bia một cách cực kỳ bí mật như thế ?
Song mặc dầu đã lau chùi rất kỹ lưỡng, hai bàn tay gầy đét nhăn nheo, chỉ còn trơ da với xương của quan Án Sát hưu trí, lại bị đỏ ửng, sưng phồng lên nhiều chỗ vì bị cọ sát mạnh trên một vật cực kỳ cứng rắn, vị hưu quan vẫn không sao đọc được chữ nào, ví ánh sáng buổi hoàng hôn dưới hố sâu, không đủ soi rõ những hàng chữ đục trên đá, mà hầu hết những nét ngang dọc, chấm phảy đều bị bùn đất che lấp, sờ lên chỉ thấy nhẳn lỳ và mát rượi, cơ hồ như một tấm ván mới được bào gọt rất tinh vi kỹ lưỡng !
Đứng vụt thẳng người lên, quan Án Sát lắc đầu, nói qua giọng tức bực :
- Không đọc nổi chữ nào hết ! bây giờ bọn mình phải ráng sức, đào rộng và sâu thêm chút nữa đi ! Mau tay lên kẽo không kịp đó !
Ba chú lực điền, thấy chủ cau có, cũng có ý sợ hải, vội hè nhau tiếp tục làm việc.
Với tất cả sức cố gắng, bọn gia nhân cũng hăm hở, kẻ đào, người xúc, chẳng chút nề hà, quản ngại, nên chỉ một lát sau, toàn thể tảng đá đã lộ hẳn ra.
Thì ra đó là một con rùa khá lớn tạc bằng một phiến vân thạch tuyệt đẹp, mà trên mai rùa, có đục một lổ thủng, vừa vặn đủ chỗ để đặt tấm bia.
Phải tốn nhiều công phu, mãi tới gần tối, sáu người lực điền mới đem được "con rùa đội tấm bia đá " lên khỏi hố sâu, để sau khi lấy nước lau chùi thật sạch sẽ kỹ lưỡng, quan Án Sát và thầy địa lý mới sai gia nhân đốt đuốc lên, để cùng đọc những hàng chữ viết theo đủ các kiểu : chân, thảo, triện, lộ, nét bút tung hoành như rồng bay, phượng múa !
Dưới ánh mấy bó đuốc làm bằng nhựa thông, bốc cháy ngùn ngụt, soi sang cả một vùng đồng ruộng, gò đống chập trùng, thầy địa lý cất cao giọng đọc :
" Ngũ bách niên chi tiền , mạch tại thượng "
" Ngũ bách niên chi hậu, mạch tại hạ "
" Vị thùy vô mục, quả vô mục dả "
Phía dưới có mấy hàng chữ nhỏ :
" Dương Đức nguyên niên"
" Thanh Lã bi ký ".
Đọc xong mấy hàng chữ trên bia, quan Án Sát hưu trí mỉm cười, liếc mắt nhìn trộm thầy địa lý.
Nhưng nhà phong thủy, ngay từ khi mới được đọc hết mấy hàng chữ lớn, đã đỏ bừng mặt mày, mồ hôi ướt đẩm trán mặc dầu gió đêm ở cánh đồng mông mênh hiu quạnh, thổi tới ào ào lạnh buốt, làm tê dại cả thịt da những thanh niên cường tráng !
Lão lẩm bẩm :
- Hừ ! Lạ thật ! Thế này là nghĩa lý gì ? Chẳng lẽ cụ Thanh Lã từ mấy trăm năm trước, lại có thể biết được đích xác là long mạch kiểu đất Phụng Hoàng hàm Thư bắt đầu từ ngày này, tháng này, năm này, lại di chuyển từ trên cánh đồng cao quy tụ xuống cả dưới ruộng thấp sao ?
Thật là khó hiểu !
Nhà phong thủy cứ lầm bầm đọc đi, đọc lại mãi mấy hàng chữ trên tấm bia, trí óc hoang mang, vấn vương trăm ngàn cau hỏi, cơ hồ lãng quên cả những người đứng chung quanh.
Cho mãi đến lúc quan Án Sát lên tiếng hỏi, lão mới gật mình, bâng khuâng như đang chìm đắm trong một giấc mơ quái dị.
Lão trượng nghĩ sao về tấm bia này ? Chẳng lẽ cụ Thanh Lã, từ mấy trăm năm trước, đã tiên đoán được sự di chuyển long mạch, từ trên cao xuống dưới thấp sao ?
Thầy địa lý ngơ ngác nhìn bạn đáp bằng giọng cáu kỉnh, tức bực :
- Thì bằng cớ hiển nhiên đấy rồi, Đại nhân còn nghi ngờ chi nữa ! Cụ Thanh Lã năm xưa, nếu không biết rõ ràng thế vận chuyển của long mạch, thì sao cụ lại bí mật chôn tấm bia này, để gián tiếp báo cho người đời biết rằng : từ mấy trăm năm trước cũng đã có một vị thánh sư địa lý, quán triệt địa lý của luật âm dương, thông suốt được sư hưng vong, thịnh suy, bỉ thái của các dòng họ...
Đoạn thở dài não nuột, nhà phong thủy chép miệng, vừa lắc đầu, vừa ngao ngán nói tiếp :
- Lão nghĩ lại mà thấy hổ thẹn vô cùng ! Mình tài học vốn không bằng ai, sự hiểu biết lại cũng chỉ thu hẹp trong phạm vi mấy cuốn sách : chi hồ giả giả, cũ rích, vậy mà trong lúc bồng bột sôi nổi, lại dám lớn tiếng chỉ trích, chê bai cả cổ nhân, tài năng, đức độ, xứng đáng là bậc thầy của mình, thì quả thiệt là mình ngu dốt lạ lùng, nếu không phải là đứa ngông nghênh thì cũng chẳng khỏi mang tiếng cuồng ngôn, loạn ngữ, làm trò cười cho người thức giả !
Rồi, vò đầu, bứt tai, mắt môi đỏ gay như người say rượu, thầy địa lý lầm bầm như chỉ nuốn nói riêng với chính mình :
- Hừ ! thiệt không còn trời đất nào ?
Mình ngốc nghếch đã chẳng tự biết thân, lại dám công khai mở miệng phê bình người tìm được kiểu đất Phụng Hoàng Hàm Thư là đồ mù, đồ hữu nhãn vô châu, thì hỏi còn gì điên rồ hơn nữa không ?
Như chợt nhớ tới một điều gì quan trọng, thầy địa lý vội cúi sát đầu gần chạm mặt tấm bia đá, hai ba lầ giụi mắt chăm chú, đọc đi, đọc lại câu cuối cùng :
"... Vị thùy vô mục, quả vô mục dã " Rồi lại lẩm bẩm tự hỏi :
- Thế là nghĩa thế nào ? Người viết văn bia có dụng ý gì, khi trách thiên hạ bảo mình mù rồi lại chính tự nhận mình là... không có mắt thiệt ?
Sao lại có chuyện rắc rối kỳ dị như vậy ? Khó hiểu quá trời đất ơi !
Thấy người bạn già đột nhiên đổi hẳn thái độ, đang hiền hòa vui vẻ, bỗng biến thành buồn phiền, ủ rủ, hết nói lẩm bẩm một mình, lại đến kêu trời, kêu đất, giọng điệu cực kỳ chán nản, thì kinh ngạc, nhìn sửng nhà phong thủy với nét mặt lo âu, sợ hải, rụt rè, mãi mới dám đặt nhe bàn tay khẳng khiu của mình lên trên vai bạn, dịu dàng cất tiếng :
- Lão trượng có điều chi bất như ý, mà thần sắc lại vụt biến đổi nhanh chóng dị thường như thế ? Vào cở tuổi chúng mình mà lo buồn thái quá lão trượng há không sợ hao tổn tinh thần sao ?
Thầy địa lý có vẻ xúc động trước sự săn sóc chu đáo của bạn cũng vội đưa bàn tay run run xiết chặt lấy cánh tay của vị hưu quan, như muốn biểu lộ niềm thâm cảm sâu sa, rồi mới chậm rải trả lời :
- Lão không buồn phiền sao được khi nhớ tới thái độ ngạo mạn, và lời nói hổn xược của mình hôm trước trong lúc đại nhân đưa lão đi phúc lại mấy ngôi tổ mộ ở cánh đồng xứ Cốt Đang ?
Đem rìu múa rối ở trước cửa Lổ Ban, lão đã làm một việc rất vô ý thức, mà nếu lọt tai các bạn đồng nghiệp, lão tránh đâu cho khỏi mang tiếng là người thiển cận ?
Lão không còn biết làm cách nào, để có thể tạ tội được với cổ nhân ?
Mà nào đã hết đâu ? Mấy câu đầu khắc trên bia đá, nói về sự chuyển dịch của long mạch : năm trăm trước long mạch quy tụ ở trên cao, còn năm trăm sau, long mạch lại quay chiều, quy tụ ở dưới thấp, thì ý nghĩa đã rõ ràng lắm rồi !
Chẳng cứ chúng ta, mà có thể nói là bất cứ ai ai, một khi đã học hết cuốn Tam Tự Kinh, cũng đều hiểu được rành mạch ý nghĩa của văn bia. Nhưng còn câu nói cuối cùng thì sao ?
Đại nhân thử đọc kỹ lại một lần nữa, rồi cho lão phu biết qua tôn ý ?
Vị hưu quan không nói gì, cẩn thận đọc từng chữ, như cố tình nghiền ngẩm toàn thể bản văn, muốn tìm một ý nghĩa xác thực về câu cuối cùng, xem nó có liên quan gì đến khu đất quý có táng tám ngôi tổ mộ của họ Nguyễn ở làng Báo Văn không ?
Nhưng không ? Càng đọc, quan Án Sát càng đi sâu vào sự bâng khuâng, hoang mang, chẳng biết đâu mà phỏng đoán nữa.
Nếu nói rằng thiên hạ bảo người tìm được kiểu đất Phung Hoàng Hàm Thư là...mù, không biết long mạch quy tụ ở phía ruộng thấp, lại đem táng một lúc cả tám ngôi tổ mộ ở trên đồi cao, hai địa điểm dù chỉ cách nhau vài sải tay, song ảnh hưởng kết phát, nếu đúng như lời tiên đoán, sẽ khác biệt nhau một vực, một trời, nhưng sao chính thầy địa lý, người tìm được kiểu đất ấy cũng tự nhận mình không có mắt !
Thật là vô cùng kỳ dị, khó hiểu lạ lùng !...
*
* *


Làm nghề gì mà thiếu cặp mắt tinh tường cũng còn không phân biệt được sự xấu tốt, đẹp đẻ, hay thô sơ, chứ một khi đã đi tìm đất để mả cho thiên hạ mà không may lại bị mục tật, hai mắt không trông thấy thì còn biết đâu là tay long, tay hổ, nơi nào là chánh huyệt để ban phước lành cho mộ chủ ? Vậy mà trên văn bia, chính nhà phong thủy, sau khi phiền trách thiên hạ bảo mình là " đồ không có mắt " lại củng tự nhận luôn mình quả nhiên không có mắt thật thì còn biết thế nào mà xét đoán nữa ?
Trong lúc hai ông già mãi suy nghĩ trầm ngâm về ý nghĩa mấy câu văn bia hóc hiểm, mà chưa tìm được một lời giải đáp nào khả dĩ gọi là vững vàng, chắc chắn, thì đám thanh niên trong dòng họ Nguyễn, ngồi xúm quanh con rùa đá, người thì tò mò lấy luỡi dao nậy đất ở chung quanh chân tấm bia, người thì đưa tay vào mồm rùa, sờ nắng coi có chi khác lạ ở phía trong không, chàng trai thứ ba chợt đưa tay lay mạnh tấm bia, thấy tấm đá nặng nề chuyển động thì kêu lên sững sốt :
- Tấm bia chỉ gắn trên mai rùa thôi, chứ không phải là một khối nguyên vẹn với con rùa đâu ?
Nghe chàng trai này nói thế, thanh niên đang dùng lưỡi dao nạy đất ở chân tấm bia, vội nhanh tay cạo mạnh thêm.
Đồng thời, tên gia nhân kia cũng tiếp tay, giúp sức bạn.
Chỉ trong chốc lát, họ đã lấy ra được tất cả đất bùn, cát sỏi, bám chặt dưới chân bia, nên tấm đá đang dựng đứng, bỗng nghiêng hẳn về phía trước.
Ba thanh niên vội đứng vùng dây, đở lấy tấm bia, khiêng đặt ra bên cạnh.
Trên mai rùa lớn, lúc bấy giờ, để lộ ra một hóc to đen ngòm.
Thầy địa lý không mãi mê theo dõi những dòng chữ trên văn bia, mà lại cúi đầu nhìn xuống mai rùa.
Chợt lão thò tay vào hóc sâu, lôi ra một ống đồng dài chừng hai gang, chung quanh sét rỉ, nham nhở, chứng tỏ chiếc ống này nằm trong lòng rùa đá cũng khá lâu ngày !
Loay hoay mãi, thầy địa lý vẫn không sao mở được nắp chiếc ống đồng qúai dị, chỉ không to hơn miệng cái chén cỡ trung bình, nhưng sét rỉ lại bám đầy, không còn phân biệt phía nào là đáy, phía nào là nắp nữa.
Một chàng trai đứng gần đấy, thấy thế, liền lễ phép xin lão trao lại mình chiếc ống, để anh ta dùng đá sỏi đánh kỹ lên lớp đồng hoen rỉ thì có thể mở được dễ dàng.
Quả nhiên chỉ trong chốc lác,chiếc ống đồng bẩn thỉu, nhơ nhớp đã biến thành một chiếc ống xinh xắn với nước đồng bóng lộn, sáng như gương, làm nổi bật một đường hằn nhỏ như sợi tóc, ngăn cách hai phần : nắp và đáy chiếc ống !
Thầy địa lý phải lấy lưỡi dao mỏng, luồn theo đường hằn nhỏ kia, để cạo dần những đất cát bám ở phía trong, hầu như được kết tụ lại có vẽ rắn chắc, không kém gì một chất nhựa đặc biệt, mà cổ nhân vẫn dùng để hàn gắn các loại kim khí, hay đồ sành sứ vậy !
Khi chiếc nắp đồng được bật tung ra, hai ông già lại càng kinh ngạc hơn nữa, vì người nào cũng yên trí rằng sẽ được trông thấy một bảo vật kỳ lạ chi đó ở bên trong. Nào ngờ đâu phía trong lại chỉ có một chiếc ống tre già nữa, bọc sáp khá dày, bao quanh khúc tre giống hệt như ruột khúc cây bào gọt nhẳn nhụi.
Mọi người truyền tay nhau xem xét khúc cây rất kỹ lưỡng một lúc lâu, mới lấy dao, gạt bỏ lớp sáp ngoài, đễ lộ ra một lần giấy bẩn phết nhựa cây và nhựa sơn đen kịt, láng bóng như quang dầu.
Trong lúc thầy địa lý còn đang ngấm nghía, muốn tìm đầu mối của cuộn giây nhựa để mở ra cho dể, thì vị hưu quan chừng như nóng ruột, không thể nào chờ đọi được lâu nữa, liền mạnh tay dằn lấy lưỡi dao của chàng thanh niên đứng kế cận vạch thẳng một đường dài từ trên xuống dưới.
Lớp giấy sơn dày tới nửa ngón tay theo đà cắt của lưỡi dao, mở tung ra, để lộ màu nâu sẩm của chiếc ống tre, mà qua năm tháng thời gian, đã không còn giữ được màu xanh tươi thuở ban đầu
Đó là một cái ống quyển thô sơ, mà ngày xưa người ta thường dùng, để cất giữ những giấy tờ cần thiết như văn tự hay gia phả của dòng họ.
Các thầy khóa thời mực tàu, giấy bản cũng dùng ống quyển để đựng kinh sách. Nhiều người còn chăm lo cho chiếc ống quyển của mình một cách cực kỳ mỹ miều, diêm dúa như sơn đỏ, kẻ một vài đường kim nhũ hay ngân nhũ ở trên nắp.
Nắp chiếc ống quyển bằng tre già được mở ra, vị hưu quan vội đưa hai ngón tay vào, nhẹ nhàng nhưng thận trọng, lôi ra cuốn sách cuộn dài theo chiều chiếc ống quyển.
Thấy dáng điệu nóng nảy, hấp tấp của quan Án Sát, nhà phong thủy cười thầm, càng chăm chú theo dõi hành vi của bạn.
Vị hưu quan cầm cuốn sách không dày lắm lên tay một cách trìu mến, lật ngược, lật xuôi xem xét rất cẩn thận thì thấy hai tấm bìa bồi rất công phu, toàn phết bằng nhựa cây, dày cứng như mo cau.
Cố đưa về phía trước mặt, để đọc qua mấy hàng chữ ghi ở trang đầu, nhưng quan Án Sát đành thở dài, buông thỏng tay xuống, vì ánh sáng không đủ chiếu rõ những hàng chữ nhỏ, mà muốn đọc, quan Án Sát cần phải có một thứ kiếng riêng chỉ dùng để xem sách.
Thầy địa lý ái ngại an ủi :
- Đại nhân để về nhà rồi chúng ta coi, cũng không muộn gì ?
Điều cốt yếu, ta nên cho khiêng luôn cả con rùa đá với tấm bia này về làm kỹ niệm, để ghi nhớ một giai thoại liên quan đến kiểu đất dị kỳ, ít khi thấy trong môn phong thủy.
Thứ nhứt dinh cơ, thứ nhì mồ mả !
Cuốn sách nhà phong thủy tìm thấy trong mai rùa bằng đá, cùng với tấm bia của vị thánh sư địa lý Thanh Lã, chôn vùi trong khu vực kiểu đất Phụng Hoàng Hàm Thư : nơi an táng tám ngôi tổ mộ của họ Nguyễn ở làng Báo Văn, ngoài sự ghi chú rành mạch về phương hướng chuyển vận long mạch, từ trên cao xuống dưới thấp, trong mỗi thời hạn năm trăm năm, còn biên chép thâm cả tiểu sử và vận hạn của vị thánh sư địa lý, từng nổi tiếng là kỳ tài trong thiên hạ từ bấy giờ.
Vị hưu quan càng đọc thêm phụ chú nói về tai họa của Cụ Thanh Lã, vì nhà phong thủy trứ danh về đời Lê, không những đã có biệt tài tìm đất, để mả, mưu hạnh phúc giúp người đời, khiến cho nhiều gia đình đang nghèo khổ, khốn quẫn, nhờ có một ngôi mả kết phát, chỉ trong một thời gian ngắn ngủi đã có thể võng lọng nghênh ngang, ngựa xe đủng đỉnh, bạc vàng đầy đủ, danh giá lẫy lừng, mà còn có tài để hướng nhà cũng linh nghiệm, có khi còn hay hơn cả việc an táng hài cốt người quá vãng !
Một ngôi dinh cơ khoáng đảng, tả hữu, tiền hậu có đủ những cảnh trí thiên nhiên, tốt tươi đẹp đẽ, nóc nhà nhờ thầy địa lý chính tông đặt cho thật đúng chỗ, đúng hướng, cổng mở phải phép, bếp làm đúng kiểu thì nhât định sự kết phát không còn là chuyện hoài nghi, viễn vong nữa.
Chính vì vậy, mà các cụ nhà ta ngày xưa, mới có câu cửa miệng : "Thứ nhất dinh cơ, thứ nhì mồ mả " !
Nhưng thường tình thiên hạ, người ta phần nhiều chỉ chú trọng vào việc mồ mả, lo tìm kiếm, xây đắp mộ phần cho ông bà, cha mẹ thật chu đáo, chứ chẳng ai nghĩ tới sự tìm đất làm nhà, mặc dầu thanh niên nào, khi lập gia đình, cũng phải cố xây dựng cho kỳ được, một mái nhà, vừa để làm tổ ấm uyên ương cho đôi vợ chồng son mới cưới, vừa để tập cho quen một đời sống tự lập, không cần đến sự giúp đỡ của cha mẹ, anh em !
Nói thế, không có nghĩa là người ta làm nhà cẩu thả, thích hướng nào làm hướng ấy đâu ?
Mà sự thực, người ta cũng xem xét kỹ lưỡng lắm, nào là chọn ngày đổ nền, khởi công đào móng, nào là nhờ người cất nóc, trấn yểm quỷ quái, tà ma ! nếu gặp phải một ngôi nhà nào khác, hay đình, chùa đền, miểu chi đó, đâm thẳng vào giữa nhà mình, gia chủ còn phải rước thầy về cúng vái yểm trừ bằng một lá bùa bát quái hay một tấm gương nhỏ có thư phù cẩn thận đặt đúng ngay vào nơi phản chiếu với chướng ngại vật nọ !
Nhưng công việc tìm kiếm nền nhà, xây dựng tường mái, dù thận trọng đến đâu, so với sự an táng hài cốt người quá vảng, cũng vẫn bị thua kém xa.
Sự kiện ấy, cũng không có gí là lạ, khi người ta quan niệm rằng : kiếp sống của con người chỉ là một chuổi ngày tạm bợ,, phù du, dù cho vua chúa, khanh tướng, công hầu, phu nhân, mang phụ hay cùng đinh, phú hộ, đến khi tắt thở, nhắm mắt buông tay cũng phải trở về với cát bụi, bỏ mặc trên trần thế tất cả tiền bạc, của cải.
Lúc đó, mới là nơi an nghĩ vĩnh viễn theo đúng lời thánh hiền truyền lại : sinh ký tử quy, dich nôm là ("sống gửi thác về ").
Mớ tàn cốt chôn sâu dưới đất, vì thế mới có liên hệ mật thiết với những thân nhân trên dương thế.
Hài cốt an táng ở một địa điểm mát mẻ, có cảnh trí kỳ tú bao quanh, thì con cháu cũng được mát mặt phong lưu.
Trái lại, nếu phần mộ nằm vào nơi u uất, như chôn giữa vùng đất vôi, hoặc có rễ cây, đâm từ trên cao xuống, làm thương tổn đến tiểu đựng hài cốt, thì thế nào thân nhân cũng gặp phải tai họa nặng nhẹ tùy theo số mạng và trường hợp mộ phần bị động trệ !
Hơn nữa do tinh thần tôn trọng tổ tiên, theo tục lệ cổ truyền bất di, bất dịch của Đông phương, các cụ nhà ta ngày xưa đã coi việc săn sóc mộ phần tổ tiên như một bổn phận thiêng liêng của bất cứ ai trong dòng họ.
Nhiều người không may làm ăn bị thất bại, có thể lìa bỏ dễ dàng cửa nhà, để đi nơi khác lập nghiệp. Nhưng họ lại rất băn khoăn, tỏ vẻ đau đớn vô cùng, khi phải xa cách phần mộ tổ tiên, không còn được tới thường, săn sóc, chăm nom đến nơi an nghỉ cuối cùng của người quá vãng nữa !
Thiên hạ thường tin tưởng mãnh liệt rằng : chỉ khi nào những linh hồn dưới chính suối được an nghĩ mát mẻ thì thân nhân nơi trần tục mới có thể lạc nghiệp an cư !
Nhiều giai thoại về mồ mả kết phát hay động trệ, đã được truyền tụng, phổ biến khắp noi, để chứng minh cho lẽ huyền bí kỳ dị của môn địa lý ! Cuốn sách tìm được trong mai rùa đá, không phải là thủ bút của cụ Thanh Lã, tác giả tấm Văn bia, được chôn trong khu đất Phụng Hoàng Hàm Thư từ năm Dương Đức đầu tiên (nhằm đời vua Lê Gia Tôn), mà chính do tổ phụ quan Án Sát họ Nguyễn sưu tầm, ghi chép, để người đời sau biết rõ đức tài lỗi lạc, trí óc siêu việt của một vị túc nho, quán thông kim cổ, không may bị nhà vua nghi ngờ, kết tội khi quân, đến nổi uổng phí cả một kiếp hào hoa, phong nhả !
Cứ theo mấy lời ghi chú mở đầu trong cuốn sách, thì sau khi tìm giúp được cho dòng họ Nguyễn ở làng Báo Văn khu đất Phung Hoàng Hàm Thư, để an táng tám ngôi tổ mộ, Cụ Thanh Lã có tiên đoán số phận đen tối của mình cho mọi người biết.
Dân làng, nhất là tổ phụ họ Nguyễn thuở ấy, không một ai chịu tin là có thể xãy ra việc đó. Cụ Thanh Lã thấy mọi người tỏ ý hoài nghi, tức mình quá, liền mướn thợ đá, khắc một tấm bia, nói rõ sự chuyển hướng long mạch từ trên cao xuống dưới thấp, và không quên nhấn mạnh cả lời chê bai của thiên hạ : sẽ có người bảo mình là đồ không có mắt, nên tuy làm nghề địa lý mà lại không biết rõ nơi nào quy tụ long mạch !
Đồng thời vị thánh sư địa lý dưới triều Hậu Lê, cũng nhận luôn là mình ... không có mắt thật sự !
Nhưng tại sao lại có sự tiên đoán kỳ dị ấy ?
Đó là cả một thiên thảm tử vô cùng đau thương, mà tổ phụ quan Án Sát họ Nguyễn đã dụng công ghi chép, hai mươi năm sau, khi tám ngôi tổ mộ, do cụ Thanh Lã táng giúp đang bắt đầu kết phát, còn Cụ thì bị tai hoạ khốc liệt, tàn phế trọn đời.
Nguyên thuở thiếu thời, Thanh Lã tiên sanh, vốn tài cao học rộng, kiến văn quảng bác, nhưng tâm tính hào sảng, quanh năm chỉ thích lê gót giang hồ đi khắp đó đây, mong tìm gặp bạn rượu thơ tri kỷ : chớ không nghĩ đến sự giùi mài kinh sử, để tranh lèo giật giải với sĩ tử bốn phương !
Vì vậy mấy lần mang lều, xách chõng vào trường thi, vị túc nho, dù văn chương thi phú có thừa, mà phận hẩm, duyên hôi, cả mấy bận đi thi đều không thấy có tên ghi trên bảng hổ !
Người nào thi rớt mà không buồn phiền, tủi hận ?
Chỉ duy có Thanh Lã tiên sanh là không tỏ ý chán nản hay âu sầu chi hết, vì đối với tiên sinh, sự đậu, rớt đâu có phải là lẽ sống ở đời ?
Nhiều bạn đồng môn khi còn đi học, vẫn phải nhờ tiên sinh "gà" giúp cho những bài kinh sách khó khăn không ngờ " học tài, thi phận" những thầy khóa " dốt lòi đuôi" ấy, lại nhẹ gót thanh vân, thi đâu đổ đấy, dễ dàng như người ta ăn cơm, uống nước vậy !
Một vài người bạn thân của tiên sinh thấy thế, thường tỏ ý bất bình, cho rằng các quan chấm trường thi, nếu chẳng có tư vị, thì cũng là những kẻ gà mờ không có mắt xanh, phân biệt được hạt châu với mắt cá, nên mới không đủ tài thưởng thức những áng văn chương xuất sắc, cũng như không biết gạt bỏ những bài văn viễn vong, rỗng tuếch chẳng có một chút giá trị về văn chương cũng như về tư tưởng vậy !
Thanh Lã tiên sinh chỉ cười, chắp tay cảm tạ thịnh tình săn sóc của bạn nhưng rồi lại yêu cầu bạn không nên coi đó là một việc quan trọng có thể làm cho mình hao tổn tinh thần !
Tiên sinh còn nhấn mạnh : người nào được sanh ra trong trời đất, cũng đều có số mạng hết !
Số được làm quan thì dù có ngu đần, dốt nát đến đâu, cũng được chểm chệ trên ghế phụ mẫu chi dân, mặc dầu khi cắp sách đến trường chưa bao giờ đọc trôi một bài văn sách !
Trái lại, nếu chỉ là số bạch đinh, thì dù trí cả, tài cao, học quán năm xe, làu thông kinh sử, xuất khẩu thành chương, thấu triệt cổ kim, họ cũng không sao vào lọt được cả ba trường, để hưởng thụ lộc nước, ân vua, áo bào, đai tía, xem hoa thượng uyển, dụ yến vua ban, bái tổ vinh quy, được dân làng đón rước trọng thể như đón rước một vị đường quan đi kinh lý.
Với lối sống khoáng đạt của một vị quân tử nho, tiến không mừng, thoái không nãn thành công không kiêu bạc, thất bại chẳng chịu hạ mình làm điều thương tổn đến giá trị nho phong. Thanh Lã tiên sinh, sau mấy phen đua tài thử sức, trong trường văn, trận bút, sẳn sàng lãng quên món nợ công danh, để lao mình vào công trình nghiên cứu các môn nho,y, lý số, coi đó là môn giải trí duy nhất trên đời.

Càng tìm được những cuốn cổ văn, giảng dạy về huyền vi của Tạo hóa, sự cấu tạo mầu nhiệm của luật âm dương với bao nhiêu chi tiết biến ảo phi thường, hầu như ly kỳ, quái đản, mê tín, hoang đường, tiên sinh càng say sưa, không quản ngại tốn kém, vui lòng bỏ ra hàng trăm lạng bạc một lúc, để có mua cho kỳ được những áng cổ văn hiếm có của Trung Hoa, Nhựt Bổn, đem về ngày đêm khảo cứu, suy gẩm những lời vàng ngọc của cổ nhân.

Ngoài ra với tinh thần cầu tiến, lúc nào cũng tha thiết học hỏi, một cách cần cù, khắc khổ, tiên sinh mỗi khi nghe đồn nơi nào có thầy hay,, bạn giỏi, là tức khắc tìm đến tận chỗ, dùng hết phương kế để kết giao cho kỳ được.

Với bậc trưởng thượng, tiên sinh vui vẻ, tôn kính như bậc sư phụ, phụng thờ có khi còn chu đáo hơn cả mẹ cha, để mong được túc nho đạo đức ấy, truyền thụ cho cái học sở trường.

Với những người đồng trang lứa, không phân biệt giàu nghèo, quý tiện, tiên sinh niềm nở kết liên, quý trọng như anh em ruột thịt.

Gặp bạn phong lưu, phú quý thì chẳng nói làm gì, nếu người bạn mới bần hàn, khốn quẩn, tiên sinh sẳn sàng chia sẽ bạc tiền, thóc gạo để anh em có thể chung sống dưới một mái nhà, chung sách, chung đèn, cùng nghiên cứu, khảo luận những lý lẽ nhiệm mầu, kỳ ảo của các môn lý, số, nho, y.

Nhờ vậy, chẳng bao lâu, tiên sinh đã nổi tiếng là bậc kỳ tài, không những tướng số như thần mà chữa bệnh cũng kỳ diệu không kém những tay danh y thuở trước, quyết đoán được sự sanh tử của các loại chứng bệnh nan trị.

Nhưng đặc biệt hơn hết, tiên sinh vẫn chỉ sở trường và chăm chú trao đổi, nghiên cứu về riêng môn phong thủy.

Nhờ những kết quả hiển nhiên về sự kết phát mấy ngôi mả trong vùng, thiên hạ đồn đải, một đồn mười, mười đồn trăm, chỉ ít ngày sau, tiên sinh đã được mọi người suy tôn là Thánh Sư Địa Lý !

Nhưng " sinh nghề, tử nghiệp ", cái công lệ của Hóa Công mà ít ai tránh khỏi đó, không ngờ lại nhằm ngay đúng vị túc nho, thánh sư địa lý nước Nam mà báo ứng, không những khiến cho Thanh Lã tiên sinh bị mục tật, tàn phế trọn đời mà trong hàng ngũ danh nhân nghèo nàn của ta cũng mất đi một ngôi sao sáng chói !
Kiểu đất LƯỠNG LONG TRANH CHÂU

Nguyên tiên sinh là dòng trưởng trong họ, từ khi học được kỳ thuật về lý số, thường được nghe bà con, anh em trong họ yêu cầu tiên sinh phải cố gắng tìm cho kỳ được một ngôi đất thật quý, để hoạc chôn cất hài cốt tổ phụ, hoặc xây dựng nhà thờ họ, tuỳ theo địa điểm và địa thế hầu con cháu trong họ sau này, có hy vọng mở mày mở mặt được với thiên hạ.

Tiên sinh vốn dững dưng với bã vinh hoa, coi công danh, phú quý như đám mây trôi nổi giữa nền trời giông tố, mà luôn cả cuộc đời cũng không hơn gì một giấc chiêm bao, hợp tan ,tan hợp nào có gì là vững bền vĩnh cữu đâu ?

Nhưng trước lời yêu cầu của các bậc phụ chấp trong họ, tiên sinh tự thấy không tiện chối từ.

Vả lại, tiên sinh cũng không có quyền gì và cũng không thế nào bắt buộc được mọi người phải chán ghét sự bon chen danh lợi như mình, nên đành phải nhận lời.

Từ đấy, ngoài việc chửa bệnh cho dân làng và để mả giúp cho những người quen biết trong vùng, tiên sinh ngày chăm chú vào việc tìm kiếm một kiểu đất thật đặc biệt, để làm mộ phần tổ phụ, cho trọn lời cam kết, hứa hẹn với họ hàng.

Đất tốt tuy không hiếm, song nếu được hào này lại hỏng hào khác, chỗ kết ngành nọ, lại hại ngành kia, suy đi xét lại rất kỷ lưỡng tiên sinh vẫn không được toại nguyện, chút nào, nên hầu hết những thửa đất lựa chọn, được tiên sinh đều đem tặng cho những gia đình nghèo khổ nhưng có tiếng là trung hậu trong vùng.

Những gia đình này đang khốn quẩn đến cực độ, sau khi tổ mộ quán khí, bỗng phấn khởi hẵn lên, có gia đình con cháu thi đậu làm quan, có nhà thì tự nhiên làm ăn, sinh sôi nẩy nở, hưng thịnh lạ lùng. Họ mừng rở kéo nhau đem lễ vật đến nhà tạ ơn Thanh Lã tiên sinh.

Còn tiếp
Thiên Sứ giới thiệu

Thiên Sứ
11-11-2006, 02:16 PM
Kính thưa quí vị quan tâm.
Loạt bài viết này - gốc nguyên thuỷ là do chị Anne Nguyên. tuvilyso.com bỏ công đánh máy và đưa lên mạng để mọi người tham khảo. Mặc dù anh Dienbatn đã có đưa lên, nhưng xét thấy bài của anh Dienbatn thứ tự bị đảo ngược. Bởi vậy, tôi cũng xin cố gắng tiếp tục hoàn chỉnh nốt topic này, để quí vị tiện tham khảo.
Thiên Sứ