View Full Version : Nguyễn An Ninh "Tôi chỉ làm cơn gió thổi"
Đến với Côn Đảo tôi được biết nhiều hơn về lịch sử đất nước, đặc biệt là giai đoạn trước cách mạng tháng tám với các nhân vật lịch sử như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Hà Huy Tập ... Nhân kỷ niệm 106 năm ngày sinh của Nguyễn An Ninh, xin giới thiệu với các bạn đôi điều về ông qua những trích đoạn trong cuốn Nguyễn An Ninh "Tôi chỉ làm cơn gió thổi".
http://www.vietlyso.com/forums/uploaded/1189_1158191061.jpg
Nguyễn An Ninh sinh ngày 15 – 9 - 1900 tại làng Long Thượng, tổng Phước Điền Thượng, tỉnh Chợ Lớn, ngày nay thuộc huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An trong một gia đình có truyền thống yêu nước.
Ông nội là Nguyễn An Nghi, đã tình nguyện vào nghĩa binh của tướng quân Trương Định khi quân Pháp đánh chiếm Nam Kỳ. Khi tướng quân hy sinh, nghĩa binh tan rã, ông và vợ con đưa nhau về sống tại Phước Quảng, ngày nay thuộc huyện Cần Giuộc tỉnh Long An.
Cha là Nguyễn An Khương. Ngoài dạy học để sinh sống, ông còn cùng người em trai chữa bệnh không lấy tiền cho bà con theo lời dặn của tổ tiên. Lúc rỗi rãi ông còn dịch sách Tàu ra chữ quốc ngữ. Bộ sách được dịch và in đầu tiên là bộ Tam quốc diễn nghĩa. Năm 1896, ông đưa gia đình lên Sài Gòn tìm cách khuyếch trương làm ăn và lo chuyện học hành cho con cái. Lúc đầu ông lập khách sạn cho thuê phòng trọ và mở thử tiệm may vì vợ ông và người chị gái may rất khéo. Tiệm may đông khách. Thấy chỗ này làm ăn tốt, ông bà khuyếch trương mở thêm tiệm cơm. Khách sạn lấy tên Chiêu Nam Lầu.
Chiêu Nam Lầu là nơi chiêu hiền đãi sỹ của người Việt Nam, nơi gặp gỡ của anh hùng hào kiệt ba miền, nơi tá túc của những nhà ái quốc Bắc, Trung lưu lạc vào Nam, nơi giúp đỡ phương tiện tiền bạc cho những thanh niên yêu nước tìm cách xuất dương.
Nguyễn An Khương cộng tác rất thân với các ông Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Chánh Sắt trong phong trào Đông Du, cộng tác làm báo Nông Cổ Mín Đàm và Lục tỉnh Tân Văn, là bạn của Phan Bội Châu, Cường Để, Phan Châu Trinh, Nguyễn Sinh Huy cùng nhiều thương gia, điền chủ thời bấy giờ. Ông tích cực tuyên truyền cho phong trào Duy Tân, cổ vũ truyền bá tài liệu của Đông Kinh Nghĩa Thục. Những ai lui tới Chiêu Nam Lầu, những người yêu nước chống Pháp đều là bạn của ông.
Năm sinh Nguyễn An Ninh, cha mẹ bận việc kinh doanh, nên vứa cứng cáp, Nguyễn An Ninh được gửi ở nhà ông bà ngoại. Sống xa cha mẹ, ông được ông bà thương yêu, lớn lên cùng bầu sữa với dì và cậu. Ông hay nghịch ngợm, bày trò nhưng được cả nhà thương yêu. Khi đi học ông thông minh, học đâu nhớ đó, nghe qua đã hiểu. Trong đám trẻ nhỏ ở nhà bao giờ ông cũng là người giỏi nhất. Năm 10 tuổi, Nguyễn An Ninh đã thông thạo chữ Nho, nhuần nhuyễn tứ thư ngũ kinh. Lúc này, ông bà ngoại mới để Nguyễn An Ninh lên ở với cha mẹ tại Chiêu Nam Lầu để chuẩn bị đến trường.
Năm sinh Nguyễn An Ninh, cha mẹ bận việc kinh doanh, nên vứa cứng cáp, Nguyễn An Ninh được gửi ở nhà ông bà ngoại. Sống xa cha mẹ, ông được ông bà thương yêu, lớn lên cùng bầu sữa với dì và cậu. Ông hay nghịch ngợm, bày trò nhưng được cả nhà thương yêu. Khi đi học ông thông minh, học đâu nhớ đó, nghe qua đã hiểu. Trong đám trẻ nhỏ ở nhà bao giờ ông cũng là người giỏi nhất. Năm 10 tuổi, Nguyễn An Ninh đã thông thạo chữ Nho, nhuần nhuyễn tứ thư ngũ kinh. Lúc này, ông bà ngoại mới để Nguyễn An Ninh lên ở với cha mẹ tại Chiêu Nam Lầu để chuẩn bị đến trường.
Khi lên ở Chiêu Nam Lầu, Nguyễn An Ninh học ở trường Taberd. Trường này dạy kỹ, chăm sóc chu đáo, ngày xưa dạy cho con Tây, cho người theo đạo, sau này cho cả người Việt không có đạo. Vào trường này là phải học lễ đạo, kinh thánh và tiếng Pháp nhiều nên nhờ đó Nguyễn An Ninh giỏi tiếng Pháp và thuộc nhiều kinh thánh. Nguyễn An Ninh vốn thông minh, nghe giảng ở trường đã hiểu, về nhà chỉ đọc thêm sách. Ông mê mẩn với tủ sách của Chiêu Nam Lầu. Có bao nhiêu tiền đều lục tìm mua sách đem về. Ở trường học nhiều sách về Chúa Giêsu, ở nhà mua sách về Phật Thích ca đọc thêm, hai đấng cứu thế ấy được Nguyễn An Ninh tôn sùng. Thì giờ còn lại ông giúp cha trong việc dịch sách. Cha ông đọc chữ Hán dịch luôn ra quốc ngữ, Nguyễn An Ninh ghi lại. Sau đó, cha ông sửa sang lại câu chữ cho ổn rồi đưa cho người cộng tác để lo in ấn.
Nguyễn An Ninh ở Chiêu Nam Lầu được 1 năm thì mẹ ông đau nặng, liệt giường rồi mất. Cha ông buồn lắm, quyết định về Hóc Môn, quê hương của Mười tám thôn vườn trầu nổi danh để định cư cuối đời, để lo cho Nguyễn An Ninh và các cháu tương lai. Kinh doanh Chiêu Nam Lầu được bao nhiêu tiền, cha ông đều mua đất. Mua rồi vẫn để cho chủ cũ cầy cấy trồng tỉa mà không phải nộp tô nộp tiền gì cho ông hết nên bà con kính trọng và biết ơn. Sau này, họ là những người bảo vệ cho gia đình Nguyễn An Ninh hoạt động cách mạng.
Nguyễn An Ninh ở lại Chiêu Nam Lầu để đi học. Hàng tuần ông về để vấn an cha và để cha an tâm. Mỗi lần về Hóc Môn ông đều cưỡi ngựa đi khắp làng ngắm cảnh và quan sát cuộc sống của bà con.
Học hết tiểu học ở Taberd, thi đậu Certificat, ông vào học trường Chasseloup Laubat học trung học. Đỗ điểm cao và được học bổng nhưng Nguyễn An Ninh không ở nội trú, hàng ngày đi về Chiêu Nam Lầu cho bà cô đỡ hiu quạnh. Bà cô không chồng không con, thương ông như con ruột. Bà cô sắm cho ông chiếc xe đạp. Chiều chiều Nguyễn An Ninh rong ruổi khắp thành phố. Ngoài thú đọc sách, Nguyễn An Ninh còn thú đi đấy đó để biết cuộc sống người dân và ngắm nhìn phong cảnh. Chiều thứ bảy ông lại về Hóc Môn thăm cha cũng bằng xe đạp.
Năm 1916, học xong Trung học cơ sở, đậu Brevet élémentaire loại ưu. Trong thời gian chờ thì vào Cao đẳng, ông đến tòa soạn Courier Saigonnais xin việc. Nhìn cậu bé non choẹt đến xin viết tin, họ ngạc nhiên đưa tờ giấy bảo ông viết thử. Ông viết rành rẽ một mẩu tin ngắn vài hàng bằng tiếng Pháp đúng văn phong Pháp và được nhận để viết “tin vỉa hè”. Vài tháng sau, ông nhận được giấy báo của trường cho biết được ra Hà Nội học Cao đẳng mà không phải thi. Lúc đó trường Cao đẳng đóng cửa trong thế chiến thứ nhất, mới mở lại nên sinh viên còn vắng. Toàn quyền Đông Dương cho phép tuyển thẳng các học sinh đậu trung học hạng ưu.
Mùa tựu trường năm 1916, Nguyễn An Ninh chuẩn bị hành trang ra Hà Nội. Nghe nói ngoài xứ Bắc lạnh lắm nên bà cô bắt ông phải sắm sửa cho đủ ấm. Dòng họ này chỉ còn mình Nguyễn An Ninh, giờ sắp đi xa, bà buồn lắm. Nguyễn An Ninh có bốn anh chị em, ông là con út. Cuộc sống vất vả ngày ấy khiến mẹ ông bốn lần sinh nở chỉ nuôi được có hai là ông anh cả Nguyễn An Thái và ông. Năm 1905, anh cả Nguyễn An Thái 13 tuổi, đang học trung học ở Mỹ Tho thì bị một trận tiêu chảy, nhà trường thiếu quan tâm nên bệnh trở nên nguy kịch. Lúc cha mẹ ông xuống đến nơi thì không còn cứu kịp, chỉ còn biết chở xác con về chôn cất.
Bà cô tuy là phận gái nhưng tinh thông Hán học và quốc ngữ, biết làm thơ phú và lại giàu lòng yêu nước. Bà hết lòng hộ trợ em trai, là cha của Nguyễn An Ninh từ lúc hoạt động phong trào Đông Du của cụ Phan Bội Châu và Cường Để, rồi đến phong trào Duy Tân rồi đến nhóm Đông Kinh Nghĩa Thục. Những người yêu nước lui tới Chiêu Nam Lầu đều được bà cô ân cần lo lắng chu đáo.
Có lần, ông hoàng Miến Điện tên là Mangoon vì chống lại bọn cầm quyền Anh ở Miến Điện mà bị trục xuất khỏi nước mình. Ông sang Sài Gòn ở nhà hàng sang nhất của Pháp là Continetal. Chẳng bao lâu hết tiền, ông bị đuổi ra đường. Có một anh bồi người Việt Nam nói nhỏ với ông: “Ngài hãy đến khách sạn Chiêu Nam Lầu, bà chủ ở đó là một người phúc hậu”. Ông đến Chiêu Nam Lầu và được bà cô cưu mang, đến ngày sắp mất ông lấy trong người ra một túi nhỏ và bảo: “Đây là toa thuốc của Hoàng gia để nấu dầu cù là. Bà hãy giữ nó. Tôi mang theo để phòng thân khi đói khổ. Đa tạ bà đã giúp tôi, tôi không có gì để đền đáp công ơn đó”. Sau này vợ chồng Nguyễn An Ninh nấu dầu cù là để bán và mới có chuyện “ông Ninh đi bán dầu cù là”.
Năm 1918 Nguyễn An Ninh sang đến <?xml:namespace prefix = st1 ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:smarttags" /><st1:City w:st="on"><st1:place w:st="on">Paris</st1:place></st1:City>. Ông tìm chỗ trọ rẻ nhất theo sự hướng dẫn của các thủy thủ. Xóm này phần lớn là người bình dân, có công chức, nghệ sỹ, nhà báo, phần đông là công nhân, ở gần đường Villa des Gobelins nên rất tiện lợi qua thăm viếng cụ Phan. Thân sinh của Nguyễn An Ninh quen thân với cụ Phan Châu Trinh lúc cụ ghé Chiêu Nam Lầu tìm cách xuất dương. Ông lớn hơn cụ Phan cả chục tuổi nhưng kính trọng cụ là bậc ái quốc. Còn cụ Phan cũng quý mến ông là người hào kiệt, hết lòng vì đất nước, vì bạn bè.<?xml:namespace prefix = o ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:office" /><o:p></o:p>
Thu xếp xong nơi ăn chốn ở, Nguyễn An Ninh đến ra mắt cụ Phan. Nhờ đến thăm cụ Phan mà Nguyễn An Ninh được quen với một cụ Phan nữa. Đó là luật sư Phan Văn Trường, chủ ngôi nhà số 6 Villa des Gobelins. Nguyễn An Ninh mừng lắm, đây mới là người ông cần đến sự chỉ dẫn trong những năm học hành ở Pháp. Từ hôm đó Nguyễn An Ninh đến hằng ngày ngôi nhà số 6. Ông Trường lớn hơn Nguyễn An Ninh 24 tuổi nên Nguyễn An Ninh gọi là “ông Trường”. Còn cụ Phan, Nguyễn An Ninh vẫn gọi bằng cụ, sau này khi cụ yêu thương Nguyễn An Ninh như con thì cụ bảo gọi bằng cậu. Thấy Nguyễn An Ninh còn trẻ mà nói tiếng Pháp rất chuẩn, ông Trường mến ngay, lại biết đây là con của cụ Nguyễn An Khương nên ông hết lòng giúp đỡ.<o:p></o:p>
Suốt những năm từ 1918 đến 1920 Nguyễn An Ninh chỉ chúi đầu vào học hành. Trong thời gian này thỉnh thoảng Nguyễn An Ninh có gặp và quen hai nhân vật khác là Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn Thế Truyền. Thời gian này Nguyễn Ái Quốc đã ở <st1:City w:st="on">Paris</st1:City> lâu rồi nhưng thay đổi địa chỉ nhiều lần, đến giữa năm 1919 mới dọn đến ở chung với cụ Phan và ông Trường. Còn Nguyễn Thế Truyền thì ở <st1:City w:st="on">Toulouse</st1:City>, thỉnh thoảng mới lên <st1:City w:st="on"><st1:place w:st="on">Paris</st1:place></st1:City> ghé nhà ông Trường.<o:p></o:p>
Theo chỉ dẫn của ông Trường, Nguyễn An Ninh đến <st1:City w:st="on"><st1:place w:st="on">Bordeaux</st1:place></st1:City>, nơi có nhiều sinh viên các nước thuộc địa theo học, để xin chứng chỉ tú tài mà ông được miễn chuẩn ở An Nam. Ông nộp hồ sơ vào đại học Sorbonne ở <st1:City w:st="on"><st1:place w:st="on">Paris</st1:place></st1:City>, xin học ngành luật như ý định từ quê nhà. Học đại học Sorbonne không bị gò bó, miễn có đầy đủ văn bằng chứng chỉ. Nhà trường lại thường xuyên tổ chức thi định kỳ ba tháng, ai có khả năng thì đăng ký đi thi, thi đậu đầy đủ thì cấp chứng chỉ.<o:p></o:p>
Nhờ vậy mà Nguyễn An Ninh quyết tranh thủ thời gian để học. Học say mê, học ngày học đêm, học cho đến lúc buồn ngủ gục xuống, ngã lăn ra đất cũng không hay, nhiều đêm lạnh quá ngủ mê mệt nên thường bị cảm sốt. Ngoài bị cảm sốt, những năm ở Pháp may mắn chẳng ốm đau gì nặng. Ăn uống thì đến quán ăn bình dân của sinh viên giá rẻ, khi nào làm biếng thì chỉ mấy lát bánh mì với bơ, mấy trái cà chua cũng xong. Sống qua loa nhưng học hành rất cần mẫn. Học hết tài liệu của trường, Nguyễn An Ninh vào thư viện đọc thêm. Cứ ba tháng nhà trường tổ chức thi một lần thì ông lại ghi danh. Học đâu nhớ đó, thi đâu đậu đó, có trí nhớ kỳ lạ. Nguyễn An Ninh nói nhờ lúc ở Pháp tra tự điển để hiểu từ ngữ mà thuộc gần hết quyển Larousse, thuở nhỏ học tứ thư ngũ kinh và kinh thánh mà mấy chục năm sau còn thuộc làu. Tài nói và viết tiếng Pháp thì sinh viên cả trường đều biết tiếng và nể. Tuy mới đến nước Pháp, còn trẻ nhưng ông đã chứng tỏ có sự hiểu biết rộng. Không chỉ nghiên cứu về luật, còn nghiên cứu sang lãnh vực văn chương và triết học. Việc học hành đối với Nguyễn An Ninh không có gì là khó khăn.<o:p></o:p>
Thì giờ còn lại Nguyễn An Ninh đến số 6 Villa des Gobelins thăm cụ Phan, ông Trường. Nguyễn An Ninh cũng thích dạo phố, thích tìm đến các nơi có người Việt Nam sinh sống, thích kết bạn với những người có đầu óc cách mạng, nhất là thích nghe ý kiến của các giáo sư tiến bộ, các nhà báo nổi tiếng của Pháp. Cứ biết ở đâu có tổ chức nói chuyện là Nguyễn An Ninh đến nghe. Đi đâu, gặp ai họ cũng thương cậu sinh viên trẻ, thông minh, có tài nói năng lưu loát và pha trò có duyên. Mấy bác công nhân Việt <st1:country-region w:st="on"><st1:place w:st="on">Nam</st1:place></st1:country-region> thương Ninh lắm, họ gom tiền lại cho Ninh nhưng Ninh không lấy. Sau này khi Ninh tham gia hoạt động, cần gì là mấy bác giúp ngay như vận động đi nghe nói chuyện, vận động mua báo, gia nhập Hội người Việt Nam yêu nước … Ninh đi đến đâu là mang lại sự vui vẻ và không khí đoàn kết đến đó, anh em đang gây gổ nhau chỉ cần Ninh đến, nói một câu vui là giảng hòa.<o:p></o:p>
Cuộc sống của Ninh tuy kham khổ nhưng không lo đói. Ở Pháp kiếm việc làm sang trọng, nhàn hạ thì khó, chứ đi làm thêm kiếm tiền lẻ thì không thiếu việc: rửa chén, rửa ảnh, xếp chữ, lon-ton, làm mẫu cũng kiếm cơm sống được. Cụ Phan, bác Quốc cũng phải làm thêm, ông Trường nhiều nơi mời dạy nhưng vẫn nghèo, không có tiền để mở văn phòng luật sư, tiền làm ra chỉ đủ ăn và trả tiền thuê nhà.<o:p></o:p>
Đầu năm 1920, Ninh chuẩn bị thi cử nhân Luật nên thường hay đến gặp ông Trường. Mấy năm nay biết cụ Phan, ông Trường là nhà yêu nước lớn, do hoàn cảnh phải sinh sống ở Pháp nhưng vẫn mong muốn về nước hoạt động. Ông cũng có biết Nguyễn Ái Quốc là đảng viên Xã hội Pháp, hoạt động rất tích cực ở Pháp để tranh thủ sự ủng hộ của các nước cho việc giải phóng đất nước. Bác Quốc viết báo, viết truyện, viết yêu sách thường đến nhờ ông Trường sữa chữa ngữ văn Pháp. Nhiều lần ông Trường bận nhờ Ninh sửa giúp. Với cụ Phan, ông Trường, bác Quốc, ai có việc nhờ Ninh làm, Minh đều sẵn lòng. Bác Quốc luôn bị mật thám bám chặt nên bác hay nhờ Ninh làm liên lạc giùm bác, dần dần tình cảm giữa Ninh và bác Quốc ngày càng nhiều hơn. Còn cụ Phan từ ngày Ninh sang Pháp cụ vui lắm, cần viết gì cũng gọi Ninh đến viết cho, cần đi đâu cũng bảo Ninh theo làm phiên dịch, gặp cai cũng giới thiệu Ninh là cháu cụ.<o:p></o:p>
Qua việc giúp cụ Phan mà Ninh có dịp tiếp xúc với nhiều quan chức của Pháp. Ninh học được cách viết báo của bác Quốc, tranh thủ đến nhà in xin học xếp chữ, sửa mô-rát, xin làm không công.<o:p></o:p>
Cũng trong thời gian này, sự tranh cãi của ba nhà yêu nước Việt <st1:country-region w:st="on"><st1:place w:st="on">Nam</st1:place></st1:country-region> thường hay xảy ra. Cuối cùng vẫn là sự bế tắc. Sau này, khi nhắc lại thời gian ở bên Pháp lúc còn mày mò tìm hướng đi, ông đã kể lại với vợ “mỗi lần nghe các vị tranh cãi nhau, tôi nghĩ: tinh thần yêu nước và sự nhiệt thành ai cũng có nhưng cái khó là làm sao để biến nó thành sức mạnh đấu tranh để đạt những điều ta mong muốn. Nhiều đêm không ngủ được, tôi luôn nghĩ đến Gandhi, người đấu tranh không mệt mỏi cho nền độc lập của Ân Độ ngay trên nước Ấn Độ”.<o:p></o:p>
Cũng trong năm 1920 Ninh đã đậu bằng Cử nhân Luật, định đánh dây thép về báo tin cho cha và bà cô sẽ ở lại tiếp tục làm luận án tiến sỹ. Mấy năm nay do đi Pháp lén lút, sợ cha ở nhà bị nhà chức trách làm khó dễ nên cần lắm Ninh mới viết thư và mượn đường dây thủy thủ quen biết để liên lạc cho an toàn. Nhưng không ngờ Ninh nhận được dây thép cha nhắn về gấp để đi hỏi vợ. Ninh ngỡ ngàng nhưng phải vâng lịnh cha quay về.<o:p></o:p>
Tran Anh Dung
13-10-2006, 12:02 PM
Cảm ơn bác chip nhiêu..
Bác nghỉ một lát rùi post tiếp cho đệ và mọi người đọc tiếp nha. câu chuyện rất hấp dẫn và lần đầu tiên đệ được đọc đó.nhanh lên Bác chip nha.....
thi sĩ cóc
14-10-2006, 12:38 PM
Có nhiều người đánh giá cụ Nguyễn An Ninh là nhà hùng biện đại tài vì cụ có thể tuyên truyền tư tưởng cách mạng ngay trước tai mắt của bọn mật thám trong những khu chợ của người lao động với những đề tài hết sức gần gũi nhưng thức tỉnh được tinh thần yêu nước của những người dân lao động với trình độ học vấn thấp.
vBulletin® v3.6.11, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.