PDA

View Full Version : Chư tổ Thiền Tông


Nhất Nguyên
09-08-2006, 11:07 PM
Bồ-đề-đạt-ma

Tổ thứ nhất Trung Hoa


<table style="border-style: none;" align="center" border="0" cellpadding="0" cellspacing="0" width="90%"><tbody><tr><td style="border: medium none ;" valign="top" width="72%"> Ngài dòng sát-đế-lợi ở Nam Ấn, cha là Hương chí vua nước này. Vua Hương Chí sanh được ba người con trai, Ngài là vương tử thứ ba. Thuở nhỏ, Ngài đã có chí siêu việt và đặc tài hùng biện. Nhân vua Hương Chí thỉnh Tổ Bát-nhã-đa-la vào cung cúng dường, Ngài mới có duyên gặp Tổ. Qua cuộc nghiệm vấn về hạt châu, Tổ đã biết Ngài là người siêu quần bạt tục sẽ kế thừa Tổ vị.
</td><td style="border: medium none ;" width="29%">
</td></tr></tbody></table>

<table id="AutoNumber1" border="0" cellpadding="0" cellspacing="0" width="90%"><tbody><tr><td width="100%">Sau khi vua cha băng, Ngài quyết chí xuất gia cầu xin Tổ Bát-nhã độ làm đệ tử, Tổ hoan hỉ làm lễ thế phát và truyền giới Cụ túc. Tổ bảo Ngài:
- Hoàng tử đối các pháp đã được thông suốt, nay nên đổi hiệu là Bồ-đề-đạt-ma. Từ đây, Ngài luôn hầu hạ bên thầy.
Một hôm, Tổ gọi Ngài đến truyền pháp và dặn dò:
- Ngươi tạm giáo hóa ở nước này, sau sang Trung Hoa mới thật là nhân duyên lớn. Song, đợi ta diệt độ khoảng sáu mươi năm sau sẽ đi. Nếu ngươi đi sớm, sau e có việc không tốt.
Những điều kiết hung về sự giáo hóa ở Trung Hoa sau này, Ngài đều cầu xin Tổ chỉ dạy. Tổ dùng những lời sấm ký tiên đoán sự kiết hung vận số Phật pháp ở Trung Hoa, nói có hơn mười bài kệ.
Tổ tịch rồi, Ngài vẫn ở tại nước nhà giáo hóa. Người huynh đệ đồng sư với Ngài là Phật Ðại Tiên cùng chung sức giáo hóa. Thời nhân gọi hai Ngài là “Mở hai cửa cam lồ”. Song, sau môn đồ của Phật Ðại Tiên lại chia làm sáu tông: 1.- Hữu tướng, 2.- Vô tướng, 3.- Ðịnh tuệ, 4.- Giới hạnh, 5.- Vô đắc, 6.- Tịch tịnh, đua nhau truyền bá. Ngài thấy sự chia ly ấy, ngại cho chánh pháp suy vi. Vì thế, Ngài dùng phương tiện cảm hóa họ hồi đầu quay về chánh pháp.
Vua Nguyệt Tịnh băng, con vua là Thái tử Dị Kiến nối ngôi. Dị Kiến lên ngôi không bao lâu lại tin theo tà thuyết bài bác Phật giáo. Ngài sai đệ tử là Ba-la-đề đến cung vua để nhiếp hóa. Sau khi cải tà qui chánh, vua Dị Kiến hỏi ra mới biết Ba-la-đề là đệ tử của chú mình. Nhà vua cho người thỉnh Ngài về cung giáo hóa.
Về cung giáo hóa một thời gian, Ngài thấy cơ duyên sang Trung Hoa đã đến, bèn đem lời huyền ký của Tổ Bát-nhã-đa-la thuật lại cho vua biết. Vua không còn lời gì dám ngăn cản, đành sắm một chiếc thuyền buôn, cho thủy thủ đưa Ngài sang Trung Hoa. Vua và quần thần tiễn đưa Ngài ra tới cửa biển.
Ngài ở trên thuyền gần ngót ba năm, thuyền mới cặp bến Quảng Châu, nhằm đời nhà Lương niên hiệu Phổ Thông năm đầu (520 sau T.C.), ngày hai mươi mốt tháng chín năm Canh Tý. Thích sử tỉnh này ra đón tiếp Ngài, đồng thời dâng sớ về triều tâu vua Lương Võ Ðế. Vua được sớ, liền sai sứ lãnh chiếu chỉ đến thỉnh Ngài về Kim Lăng (Kinh đô nhà Lương). Vua Võ Ðế hỏi:
- Trẫm từ lên ngôi đến nay thường cất chùa, chép kinh, độ tăng ni, không biết bao nhiêu, vậy có công đức gì chăng?
Ngài đáp:
- Ðều không có công đức.
- Tại sao không có công đức?
- Bởi vì những việc ấy là nhân hữu lậu, chỉ có quả báo nhỏ ở cõi người cõi trời, như bóng theo hình, tuy có mà chẳng phải thật.
- Thế nào là công đức chân thật?
- Trí thanh tịnh tròn mầu, thể tự không lặng, công đức như thế chẳng do thế gian mà cầu.
- Thế nào là thánh đế nghĩa thứ nhất?
- Rỗng rang không thánh.
- Ðối diện với trẫm là ai?
- Không biết.
Vua Lương Võ Ðế không lãnh ngộ được, lui về nghỉ. Ngài biết căn cơ chẳng hợp, tạm lưu lại đây ít hôm.
Ðến ngày mười chín, Ngài bỏ vua Lương, lén sang sông qua Giang Bắc. Ngài nhập cảnh nước Ngụy đi đến Lạc Dương nhằm đời Hậu Ngụy vua Hiếu Minh Ðế niên hiệu Chánh Quang năm đầu (520 sau T.C.) ngày hai mươi ba tháng mười một.
Ngài dừng trụ tại chùa Thiếu Lâm ở Tung Sơn, trọn ngày ngồi xây mặt vào vách im lặng. Tăng chúng đều không hiểu được. Người đời gọi Ngài là “Thầy Bà-la-môn ngồi nhìn vách” (Bích quán Bà-la-môn).
Có vị tăng tên Thần Quang học thông các sách, giỏi lý diệu huyền, nghe danh Ngài tìm đến yết kiến. Thần Quang đã đủ lễ nghi mà Ngài vẫn ngồi lặng yên ngó mặt vào vách không màng đến. Quang nghĩ: “Người xưa cầu đạo chẳng tiếc thân mạng, nay ta chưa được một trong muôn phần của các ngài.” Hôm ấy, nhằm tiết mùa đông (mùng chín tháng chạp), ban đêm tuyết rơi lả tả, Thần Quang vẫn đứng yên ngoài tuyết chấp tay hướng về Ngài. Ðến sáng tuyết ngập lên khỏi đầu gối, mà gương mặt Thần Quang vẫn thản nhiên. Ngài thấy thế thương tình, xây ra hỏi:
- Ngươi đứng suốt đêm trong tuyết, ý muốn cầu việc gì?
Thần Quang thưa:
- Cúi mong Hòa thượng từ bi mở cửa cam lồ, rộng độ chúng con.
- Diệu đạo vô thượng của chư Phật, dù nhiều kiếp tinh tấn, hay làm được việc khó làm, hay nhẫn được việc khó nhẫn, còn không thể đến thay! Huống là, dùng chút công lao nhỏ này mà cầu được pháp chân thừa?
Thần Quang nghe dạy bèn lén lấy đao chặt cánh tay trái để trước Ngài để tỏ lòng thiết tha cầu đạo. Ngài biết đây là pháp khí bèn dạy:
- Chư Phật lúc ban đầu cầu đạo, vì pháp quên thân, nay ngươi chặt cánh tay để trước ta, tâm cầu đạo như vậy cũng khá.
- Pháp ấn của chư Phật con có thể được nghe chăng?
- Pháp ấn của chư Phật không phải từ người khác mà được.
- Tâm con chưa an, xin Thầy dạy pháp an tâm.
- Ngươi đem tâm ra đây, ta an cho.
- Con tìm tâm không thể được.
- Ta đã an tâm cho ngươi rồi.
Thần Quang nhân đây được khế ngộ. Ngài liền đổi tên Thần Quang là Huệ Khả.
Từ đây kẻ tăng người tục đua nhau đến yết kiến Ngài, tiếng tăm vang dậy. Vua Hiếu Minh Ðế nước Ngụy sai sứ ba phen thỉnh Ngài, Ngài đều từ chối. Nhà vua càng kính trọng, sai sứ đem lễ vật đến cúng dường: một cây tích trượng, hai y kim tuyến, bình bát, v.v... Ngài từ khước nhiều lần, nhưng nhà vua cố quyết cúng dường, rốt cuộc Ngài phải nhận.
Mở cửa phương tiện, Ngài có dùng bốn hạnh để giáo hóa môn đồ: 1.- Báo oán hạnh, 2.- Tùy duyên hạnh, 3.- Vô sở cầu hạnh, 4.- Xứng pháp hạnh(1) (http://thuong-chieu.org/uni/DuongLoiTuThien/Html/to_bo_de_dat_ma.htm#Ftn_1).
Ở Trung Hoa gần chín năm, Ngài thấy cơ duyên đã đến, liền gọi đồ chúng hỏi:
- Giờ ta trở về sắp đến. Các ngươi mỗi người nên nói chỗ sở đắc của mình.
Ðạo Phó ra thưa:
- Theo chỗ thấy của con, chẳng chấp văn tự, chẳng lìa văn tự, đây là dụng của đạo.
Ngài bảo:
- Ngươi được phần da của ta.
Bà ni Tổng Trì ra thưa:
- Nay chỗ hiểu của con, như Tổ A-nan thấy nước Phật A-súc, chỉ thấy một lần, không còn thấy lại.
Ngài bảo:
- Ngươi được phần thịt của ta.
Ðạo Dục ra thưa:
- Bốn đại vốn không, năm ấm chẳng có, chỗ thấy của con không một pháp có thể được.
Ngài bảo:
- Ngươi được phần xương của ta.
Ðến Huệ Khả bước ra đảnh lễ Ngài, rồi lui lại đứng yên lặng.
Ngài bảo:
- Ngươi được phần tủy của ta.
Ngài gọi Huệ Khả đến dặn dò:
- Xưa Như Lai đem đại pháp nhãn tạng trao cho Tổ Ca-diếp, lần lượt truyền đến ta. Nay ta đem trao lại cho ngươi, ngươi phải truyền trao không để dứt mất. Cùng trao cho ngươi y Tăng-già-lê và bát báu, để làm pháp tín. Mỗi thứ tiêu biểu cho mỗi việc, ngươi nên biết.
Huệ Khả thưa:
- Xin Thầy từ bi chỉ dạy mọi việc.
Ngài dạy:
- Trong truyền tâm ấn để khế hợp chỗ tâm chứng, ngoài trao ca-sa để định tông chỉ. Ðời sau có nhiều người cạnh tranh nghi ngờ, họ nói “Ta là người Ấn, ngươi là người Hoa, căn cứ vào đâu mà được pháp, lấy cái gì để minh chứng?” Ngươi gìn giữ pháp y này, nếu gặp tai nạn, ngươi đem ra làm biểu tín, thì sự giáo hóa không bị trở ngại. Hai trăm năm sau khi ta diệt độ, y bát này dừng lại không truyền, vì lúc đó, Phật pháp rất thạnh hành. Chính khi ấy, người biết đạo thật nhiều, người hành đạo quá ít, người nói lý thì nhiều, người ngộ lý thì ít. Tuy nhiên, người thầm thông lặng chứng có hơn ngàn vạn. Ngươi gắng xiển dương, chớ khinh người chưa ngộ. Nghe ta nói kệ:


Ngô bản lai tư độ,


Truyền pháp cứu mê tình.
Nhất hoa khai ngũ diệp,

Kết quả tự nhiên thành.

Dịch:
Ta sang đến cõi này,
Truyền pháp cứu mê tình.
Một hoa nở năm cánh,
Nụ trái tự nhiên thành.
Ngài lại bảo:
- Ta có bộ kinh Lăng-già bốn quyển, là Phật nói tột pháp yếu, cũng giúp cho chúng sanh mở, bày, ngộ, nhập kho Tri kiến Phật, nay ta trao luôn cho ngươi. Ta từ Nam Ấn sang đây đã năm phen bị thuốc độc mà không chết, vì thấy xứ này tuy có khí Đại thừa mà chưa ứng hợp, nên ta lặng lẽ ngồi lâu chờ đợi. Nay đã truyền trao xong, đã có thủy ắt phải có chung vậy.
Xong rồi, Ngài cùng đồ chúng đi đến Võ môn ở chùa Thiên Thánh dừng lại ba hôm. Quan thái thú thành này tên Dương Huyễn Chi là người sùng mộ Phật pháp. Nghe tin Ngài đến, liền tới đảnh lễ. Ông hỏi:
- Thầy ở Ấn Ðộ được kế thừa làm Tổ, vậy thế nào là Tổ, xin Thầy dạy cho?
Ngài đáp:
- Rõ được tâm tông của Phật, không lầm một mảy, hạnh và giải hợp nhau, gọi đó là Tổ.
- Chỉ một nghĩa này hay còn nghĩa nào khác?
- Cần rõ tâm người, biết rành xưa nay, chẳng chán có không, cũng chẳng cố chấp, chẳng hiền chẳng ngu, không mê không ngộ. Nếu hay hiểu như thế, cũng gọi là Tổ.
Huyễn Chi lại thưa:
- Ðệ tử vì bị nghiệp thế tục, ít gặp được tri thức, trí nhỏ bị che lấp không thể thấy đạo. Cúi xin Thầy chỉ dạy, con phải noi theo đạo quả nào? dùng tâm gì được gần với Phật, Tổ?
Ngài vì ông nói kệ:

Diệc bất đổ ác nhi sanh hiềm,
Diệc bất quán thiện nhi cần thố,
Diệc bất xả trí nhi cận ngu,
Diệc bất phao mê nhi tựu ngộ.
Ðạt đại đạo hề quá lượng,
Thông Phật tâm hề xuất độ,
Bất dữ phàm thánh đồng triền,
Siêu nhiên danh chi viết Tổ.


Dịch:

Cũng đừng thấy dữ mà sanh chê,
Cũng đừng thấy lành mà ái mộ,
Cũng đừng bỏ trí mà gần ngu,
Cũng đừng ném mê mà về ngộ.
Ðạt đạo lớn chừ quá lượng,
Thông Phật tâm chừ vô kể,
Chẳng cùng phàm thánh đồng vai,
Vượt lên, gọi đó là Tổ.



Huyễn Chi nghe dạy hoan hỉ đảnh lễ, lại thưa:
- Xin Thầy chớ vội tạ thế, để làm phước lợi cho quần sanh.
Ngài bảo:
- Ðời mạt pháp, kẻ tệ ác quá nhiều, dù ta còn ở lâu e chẳng lợi ích, mà thêm tai nạn, làm tăng trưởng tội ác cho người.
- Từ Thầy đến đây ai thường hại Thầy, xin Thầy chỉ họ, con sẽ sắp xếp.
- Nói ra ắt có tổn hại, ta nên đi vậy. Ðâu cam hại người để mình được vui.
Huyễn Chi nài nỉ thưa:
- Con không hại người, chỉ muốn biết đó thôi.
Ngài bất đắc dĩ nói bài kệ:

Giang tra phân ngọc lãng,
Quản cự khai kim tỏa.
Ngũ khẩu tương cộng hành,
Cửu thập vô bỉ ngã.


Dịch:

Thuyền con rẽ sóng ngọc,
Ðuốc soi mở khóa vàng.
ăm miệng đồng cùng đi,
Chín, mười không ta người.


Huyễn Chi nghe rồi ghi nhớ, đảnh lễ Ngài lui ra.
Ở đây đúng ba hôm, Ngài ngồi an nhiên thị tịch. Hôm ấy là ngày mùng chín tháng mười năm Bính Thìn, nhằm niên hiệu Ðại Thông năm thứ hai nhà Lương (529 T.C.). Ðến ngày mười tám tháng chạp năm này, làm lễ đưa nhục thân của Ngài nhập tháp tại chùa Ðịnh Lâm, núi Hùng Nhĩ.
Sau, vua Hậu Ngụy sai Tống Vân đi sứ Ấn Ðộ về, gặp Ngài tại núi Thông Lãnh, thấy Ngài tay xách một chiếc dép, một mình đi nhanh như bay. Tống Vân hỏi:
- Thầy đi đâu?
Ngài đáp:
- Về Ấn Ðộ.
Ngài lại nói thêm:
- Chủ ông đã chán đời rồi.
Tống Vân ngẩn ngơ, từ giã Ngài về triều. Ðến triều thì vua Minh Ðế đã băng. Hiếu Trang Ðế lên ngôi. Ông đem việc ấy tâu lại, Vua ra lệnh mở cửa tháp giở quan tài ra, quả nhiên là quan tài không, chỉ còn một chiếc dép. Vua sắc đưa chiếc dép về thờ ở chùa Thiếu Lâm. Ðến đời Ðường niên hiệu Khai Nguyên năm thứ mười lăm (728 sau T.C.) môn đồ lại dời chiếc dép về thờ ở chùa Hoa Nghiêm.
Vua phong Ngài hiệu Viên Giác thiền sư, tháp hiệu Không Quán.
Tập Thiếu Thất Lục Môn nói là tác phẩm của Ngài.



</td></tr></tbody></table>

Chính Ấn
10-08-2006, 12:49 PM
TỒ HUỆ KHẢ (494 - 601)

Sau khi ngài Huệ Khả được Tổ Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma) nhận làm đệ tử mà lòng vẫn còn thao thức, tại sao tâm mãi lăng xăng trong lúc ngồi thiền. Một hôm đến trước Tổ, Ngài bạch: “Bạch Hòa thượng, tâm con chẳng an, xin Hòa thượng dạy con pháp an tâm.” Tổ Ðạt-ma nhìn thẳng, bảo: “Ðem tâm ra ta an cho.” Ngài sửng sốt quay lại tìm tâm, không thấy bóng dáng, bạch Tổ: “Con tìm tâm không được.” Tổ bảo: “Ta an tâm cho ngươi rồi.” Ngay đây ngài Huệ Khả biết được đường vào.
Chỗ biết được đường vào của ngài Huệ Khả là một pháp tu mà không có pháp. Bởi vì từ xưa đến nay, tất cả chúng ta đều nhận cái suy nghĩ phân biệt lăng xăng là tâm của mình, ngài Huệ Khả cũng chung một thông lệ ấy. Cho nên ngồi lại tu, muốn cho tâm an mà nó không chịu an, khiến chúng ta rất khổ sở về vấn đề này. Cầu pháp an tâm là điều cấp thiết của người quyết chí tu hành. Ở đây Tổ Ðạt-ma không dạy phương pháp gì, Ngài chỉ bảo “Ðem tâm ra ta an cho”. Câu này là một tiếng sấm dẹp tan mê lầm muôn thuở của ngài Huệ Khả.
Bình thường chúng ta nhận cái hay suy nghĩ là tâm của mình, chịu sự sai sử lôi kéo của nó. Bất thần chúng ta tìm lại nó thì nó mất tăm mất dạng. Khi nó không còn tăm dạng thì không an là gì? Cho nên Tổ nói “Ta an tâm cho ngươi rồi”. Ngài Huệ Khả sáng ý nhận ra được lẽ này nên biết đường vào. Như vậy, Tổ Ðạt-ma có dạy phương pháp gì an tâm không? Nếu không, tại sao ngài Huệ Khả biết đường vào? Rõ ràng pháp an tâm mà không có pháp, chỉ xoay ánh sáng trí tuệ soi rọi xem cái tâm bất an ấy thế nào thì nó biến mất. Thuật ngữ nhà Thiền gọi là “Hồi quang phản chiếu”. Chúng tôi gọi “Biết vọng không theo”. Chính đây là “Biết được đường vào” của ngài Huệ Khả.
Tại sao nhà Thiền không chấp nhận cái tâm suy nghĩ so tính ấy? Bởi vì, nếu chấp nhận nó làm tâm mình sẽ mắc phải những lầm lỗi như sau:
1. Cái tâm suy nghĩ ấy khi có khi không, còn chúng ta thì lúc nào cũng hằng hữu. Nếu chấp nhận nó là mình thì khi không suy nghĩ là không có mình sao?
2. Bình thường nó suy nghĩ lăng xăng, khi nhìn lại tìm kiếm nó thì mất tăm mất dạng. Nếu nó là thật mình thì lúc nào cũng phải có. Trái lại khi tìm thì mất, chẳng qua nó chỉ là bóng dáng mà thôi. Chấp nhận cái bóng làm mình thì thật là đau khổ cho con người.
3. Chúng ta ai cũng thừa nhận mình trước sau vẫn là mình, mình là một từ bé đến già. Thế mà, tâm suy nghĩ ấy lại trăm ngàn thứ, có khi nghĩ lành như Hiền Thánh, có nghĩ dữ như cọp sói... thì cái nào là mình?
4. Lúc đang suy nghĩ, chúng ta biết mình đang suy nghĩ, lúc không suy nghĩ biết không suy nghĩ. Cái suy nghĩ ấy là đối tượng bị biết của chúng ta. Ðã là đối tượng tức là khách, là cái bên ngoài không phải mình. Nếu cái suy nghĩ là thật mình, lúc không suy nghĩ, ai biết không suy nghĩ? Ðã có cái biết lúc không suy nghĩ thì làm sao nhận cái suy nghĩ làm mình được?
Cái không phải mình mà lầm nhận là mình, trong kinh Phật gọi là “Nhận giặc làm con”, tai họa không thể lường được. Cho nên bao nhiêu kinh điển, bao nhiêu pháp tu, đức Phật đều dạy xoay quanh cái trục “Chận đứng tâm suy nghĩ lăng xăng này”. Tụng kinh phải nhiếp tâm, niệm Phật phải nhất tâm, tọa thiền phải định... Song đặc biệt là Thiền tông, chư Tổ không dùng phương tiện để đè bẹp, để ngăn chận nó, mà dùng trí biết rõ bản chất không thật của nó thì nó hết tác quái. Chính câu “Ðem tâm ra ta an cho” của Tổ Ðạt-ma đủ thể hiện ý nghĩa này.
“Biết đường vào” chưa phải là kẻ đến nhà, phải trải thời gian lâu xa, ngài Huệ Khả mới bạch với Tổ Ðạt-ma: “Từ đây trở đi con dứt hết các duyên.” Tổ Ðạt-ma bảo: “Chớ rơi vào đoạn diệt.” Huệ Khả thưa: “Không rơi.” Tổ Ðạt-ma hỏi: “Con làm thế nào?” Huệ Khả thưa: “Con thường biết rõ ràng, nói không thể đến.” Tổ Ðạt-ma dạy: “Ðây là chỗ truyền của chư Phật, chớ nên hoài nghi.” Ðến đây mới thật là người về tới nhà, không còn nghi ngờ gì nữa.
Khi Tổ Ðạt-ma sắp tịch, hỏi lại chỗ sở ngộ của các đồ đệ, đến lượt Huệ Khả, Ngài chỉ bước ra đảnh lễ ba lạy rồi lui. Tổ Ðạt-ma nói: “Ông được phần tủy của ta.” Ðến chỗ cứu kính không còn ngôn ngữ để trình bày, vì ngôn ngữ là phương tiện tương đối, không thể diễn tả được cái chân thật tuyệt đối. Từ đó ngài Huệ Khả được truyền y bát làm Tổ thứ hai ở Trung Hoa.

Chính Ấn
10-08-2006, 12:50 PM
SƠ TỒ TRÚC LÂM (1258 - 1308)

Chỗ sở ngộ của Tổ Huệ Năng là do nghe kinh Kim Cang Bát-nhã. Sau khi được Ngũ tổ Hoằng Nhẫn cho vào thất và nghe giảng kinh Kim Cang đến đoạn Tôn giả Tu-bồ-đề hỏi: “Khi phát tâm cầu Vô thượng Chánh giác, làm sao an trụ tâm?” Phật đáp: “Chẳng nên trụ sắc, chẳng nên trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp mà sanh tâm kia; nên không chỗ trụ mà sanh tâm ấy.” Ngài đại ngộ kêu lên: “Ðâu ngờ tánh mình vốn tự thanh tịnh! Ðâu ngờ tánh mình vốn không sanh diệt! Ðâu ngờ tánh mình vốn tự đầy đủ! Ðâu ngờ tánh mình vốn không dao động! Ðâu ngờ tánh mình hay sanh muôn pháp!” Ngũ Tổ bảo: “Chẳng biết Bản tâm học pháp vô ích, nếu nhận được Bản tâm mình, gọi là Trượng phu, Thiên nhân sư, Phật...” Thế là Ngài được Ngũ Tổ truyền y bát làm Tổ thứ sáu.
Qua câu chuyện ngộ đạo của Lục Tổ, chúng ta thấy từ lý Bát-nhã không cho sáu căn dính mắc (trụ) với sáu trần là phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, Lục Tổ không dừng ở chỗ không dính mắc, mà nhảy vọt vào Thể tánh thanh tịnh, bất sanh bất diệt của chính mình. Chính Thể tánh này gọi là Pháp thân hay Bản lai diện mục, đã có sẵn từ vô thủy nơi tất cả chúng ta. Thấy tột chỗ này và sống được với nó là Ðốn ngộ, là Kiến tánh. Bản thân Lục Tổ được như vậy, song khi dạy người Ngài cũng có phương tiện.
Lục Tổ vì phương tiện lập Tam vô: Vô niệm làm tông, Vô tướng làm thể, Vô trụ làm bổn. Theo Lục Tổ giải: Ðối trên các pháp mỗi niệm không trụ, tức là không phược, đây là lấy Vô trụ làm gốc. Ngoài lìa tất cả tướng gọi là Vô tướng, hay lìa tướng tức là pháp thể thanh tịnh, đây là lấy Vô tướng làm thể. Ðối trên các cảnh tâm không nhiễm, gọi là Vô niệm (Kinh Pháp Bảo Ðàn, phẩm Ðịnh Huệ). Không nhiễm các pháp, không kẹt các tướng, không dính mắc các pháp, đây là chủ trương của Lục Tổ. Không nhiễm, không kẹt, không dính, ngay khi tiếp xúc với sáu trần là thiền định. Không phải chạy trốn cảnh trần, rồi sau tâm mới an định như các lối thiền định khác.

Chính Ấn
10-08-2006, 12:51 PM
SƠ TỒ TRÚC LÂM (1258 - 1308)

Vua Trần Nhân Tông lúc còn làm Thái tử đã thông suốt Thiền tông do sự giáo dục của Tuệ Trung Thượng Sĩ. Sau khi bỏ ngôi đi xuất gia, lấy hiệu là Hương Vân Ðại Ðầu-đà, Ngài hòa hội các phái thiền Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Ðường đã truyền bá trên đất nước Việt Nam, lập thành phái thiền Trúc Lâm Yên Tử. Ðây là phái thiền hoàn toàn Việt Nam. Ở đây chúng tôi chỉ chắt lọc một vài nét nổi bật trong sự chỉ dạy của Ngài để làm tiêu chuẩn, đó là bài kệ Hữu Cú Vô Cú:
<table id="table1" border="0" cellpadding="0" cellspacing="0" width="90%"> <tbody><tr> <td align="left" valign="top" width="50%"> Hữu cú vô cú
Đằng khô thọ đảo
Cơ cá nạp tăng
Chàng đầu khái não.
Hữu cú vô cú
Thể lộ kim phong
Hằng hà sa số
Phạm nhẫn thương phong.
Hữu cú vô cú
Lập tông lập chỉ
Đả ngỏa toản qui
Đăng sơn thiệp thủy.
Hữu cú vô cú
Phi hữu phi vô
Khắc chu cầu kiếm
Sách ký án đồ.
Hữu cú vô cú
Hỗ bất hồi hỗ
Lạp tuyết hài hoa
Thủ chu đãi thố.
Hữu cú vô cú
Tự cổ tự kim
Chấp chỉ vong nguyệt
Bình địa lục trầm.
Hữu cú vô cú
Như thị như thị
Bát tự đả khai
Toàn vô bả tỹ.
Hữu cú vô cú
Cố tả cố hữu
A thích thích địa
Náo quát quát địa.
Hữu cú vô cú
Đao đao phạ phạ
Tiệt đoạn cát đằng
Bỉ thử khoái hoạt.
</td> <td align="left" valign="top" width="50%"> Câu có câu không
Bìm khô cây ngã
Mấy kẻ nạp tăng
U đầu sứt trán.
Câu có câu không
Thể bày gió thu
Hằng hà sa số
Va đao chạm bén.
Câu có câu khôngLập tông lập chỉ
Đập ngói dùi rùa
Trèo non lội nước.
Câu có câu không
Chẳng có chẳng không
Khắc thuyền mò kiếm
Tìm ngựa bản đồ.
Câu có câu không
Hồi hỗ hay không
Nón tuyết giày hoa
Ôm cây đợi thỏ.
Câu có câu không
Tự xưa tự nay
Nhìn tay quên trăng
Đất bằng chết chìm.
Câu có câu không
Như thế như thế
Chữ bát mở ra
Sao không nắm mũi.
Câu có câu không
Ngó tả ngó hữu
Lau chau mồm mép
Ồn ào náo động.
Câu có câu không
Đau đáu lo sợ
Cắt đứt sắn bìm
Đó đây vui thích.
</td> </tr> </tbody></table> Qua bài kệ này chúng ta thấy Ngài phản đối cái chấp hai bên biểu trưng bằng Có và Không. Song cái chấp hai bên có vô số loại: có không, phải quấy, hơn thua, tốt xấu, thắng bại, hay dở, lành dữ v.v... và v.v... Chính cái chấp hai bên là mầm tranh đấu, là nhân phiền não, kết quả khổ đau không thấy chân lý.
Cho nên chín đoạn trong bài kệ này, Ngài vừa quở trách, vừa chỉ dạy rất đầy đủ. Như đoạn một: “Mấy kẻ nạp tăng, u đầu sứt trán”, đoạn hai: “Hằng hà sa số, va đao chạm bén”, đoạn ba: “Ðập ngói dùi rùa, trèo non lội nước”, đoạn bốn: “Khắc thuyền mò kiếm, tìm ngựa bản đồ”, đoạn năm: “Nón tuyết giày hoa, ôm cây đợi thỏ”, đoạn sáu: “Nhìn tay quên trăng, đất bằng chết chìm”, đoạn bảy: “Chữ bát mở ra, sao không nắm mũi”, đoạn tám: “Lau chau mồm mép, ồn ào náo động”, đoạn chín: “Cắt đứt sắn bìm, đó đây vui thích”.
Ðoạn một và hai, Ngài quở người chấp hai bên là tự chuốc khổ vào mình. Ðoạn ba và bốn, Ngài chê kẻ chấp hai bên là dại khờ, chỉ nhọc nhằn luống công. Ðoạn năm và sáu, Ngài trách những phương tiện tạm bợ mà người vì cố chấp hai bên nên không thấy chân lý. Ðoạn bảy và tám, Ngài chỉ thẳng chân lý ngay trước mắt như lỗ mũi nằm sẵn dưới chân mày mà người ta không nhận, cứ lý luận ồn ào vô ích. Ðoạn chín, Ngài nói ai dứt chấp hai bên mới thật vui thích. Ngay đoạn chín này hẳn là chỗ Nhị Tổ trình kiến giải bằng ba lễ mà không có một lời. Không kẹt hai bên là căn bản của Thiền tông, cũng chính là cốt tủy của Phật giáo.
Lại một bài kệ kết thúc bài phú “Cư Trần Lạc Ðạo” của Sơ tổ Trúc Lâm là cô đọng những gì Lục Tổ đã thấy và ứng dụng: Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
Cơ tắc san hề khốn tắc miên.
Gia trung hữu bảo hưu tầm mích
Ðối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.
Ở đời vui đạo hãy tùy duyên
Ðói đến thì ăn, mệt ngủ liền.
Trong nhà có báu, thôi tìm kiếm
Ðối cảnh không tâm chớ hỏi thiền.
Chỉ hai câu chót trong bài kệ cũng đủ kết thúc chỗ sở ngộ và mục tiêu dạy tu hành của Lục Tổ một cách kỳ diệu. Thấy hòn ngọc sẵn có trong nhà, chính là chỗ Lục Tổ thốt lên “Ðâu ngờ tánh mình vốn tự thanh tịnh!...” Thiền là đối cảnh không tâm thì làm gì có niệm nhiễm, là vô niệm; không tâm thì đâu kẹt cảnh bên ngoài, là lìa tướng tức vô tướng; không tâm thì lấy gì để dính mắc, là vô trụ. Một câu kết này đã bao gồm cả Vô niệm, Vô tướng, Vô trụ hay Tông, Thể, Bổn của Lục Tổ dạy. Thiền là đối cảnh không nhiễm, không kẹt, không mắc, chính đây là chủ trương của Lục Tổ. Ngài Trúc Lâm Ðầu-đà đã ứng dụng tuyệt vời chỗ thấy của Nhị Tổ, chỗ ngộ và hành của Lục Tổ. Chúng ta là kẻ hậu học, tự hãnh diện ở Việt Nam xuất phát một phái thiền trọn vẹn mang dấu ấn của chư Tổ tiền bối và dung hội tài tình đường lối tu hành của người xưa, làm kim chỉ nam cho hành giả Việt Nam chúng ta.

Tứ Linh
16-04-2008, 09:56 AM
Chính ấn có vẻ khoái món thiên tông nhỉ
Sư tổ Đạt Ma khi sáng lập có nói Thiền tông chỉ truyền được đến 6 đời thôi, đến lục tổ Huệ Năng là đã hết rồi, ko còn gì nữa, thế mà bây giờ vẫn rất có nhiều người theo Thiền tông

Chính Ấn
16-04-2008, 06:51 PM
Chính ấn có vẻ khoái món thiên tông nhỉ
Sư tổ Đạt Ma khi sáng lập có nói Thiền tông chỉ truyền được đến 6 đời thôi, đến lục tổ Huệ Năng là đã hết rồi, ko còn gì nữa, thế mà bây giờ vẫn rất có nhiều người theo Thiền tông

Hễ cái gì mà phật đã từng nói, đã từng dạy là chánh pháp. Các pháp môn khác như xuất hồn...thì chưa thấy đức phật đề cập.

Phật cũng chẳng nói thiền tông truyền 6 đời.

nguyenle
16-04-2008, 09:58 PM
Chính ấn có vẻ khoái món thiên tông nhỉ
Sư tổ Đạt Ma khi sáng lập có nói Thiền tông chỉ truyền được đến 6 đời thôi, đến lục tổ Huệ Năng là đã hết rồi, ko còn gì nữa, thế mà bây giờ vẫn rất có nhiều người theo Thiền tông
Nguyenle xen ngang chút xíu.
Thiền có nhiều lối tu. Lối tu theo Phật gọi là Thiền Tông, cũng gọi là Tự Tính Thanh Tịnh Thiền. Thiền tông có 33 vị tổ. Từ Phật truyền cho ngài Đại Ca Diếp, dùng Y và Bát làm ấn chứng. Y và Bát được truyền đến vị Tổ thứ 28 là Bồ Đề Đạt Ma. Bồ Đề Đạt Ma sang Trung Hoa truyền bà Thiền Tông và làm Sơ tổ Trung hoa và truyền Y, Bát ấn chứng cho nhị Tổ Huệ Khả. Y, Bát được truyền đến Lục Tổ Huệ Năng thì Thiền Tông không dùng Y, Bát làm ấn chứng bởi vì lòng tham chiếm hữu Y, Bát sẽ gây tai họa. Vì vậy, có lẽ Tổ Đại Ca Diếp đã thu lại Y, Bát đợi đến Phật Di Lặc ra đời thì sẽ trao cho Phật Di Lặc. Thiền Tông từ Tổ Huệ Năng về sau có 5 Tông phái. Tuy không có Y, Bát làm ấn chứng nhưng vẫn có các tổ sư tiếp nối đến đời thứ 45 là Tổ Tuyên Hóa truyền Phật giáo sang bên Mỹ.
Thiền tông Việt nam, có lịch sử bắt đầu từ Tổ Khương Tăng Hội, tổ tiên người Khương Cư (Sogdiane, Bắc Ấn)...Tổ thành lập đạo tràng, huấn luyện Tăng chúng, phiên dịch kinh điển tại trung tâm Luy Lâu (Chùa Dâu, chùa Pháp Vân, chùa Phi Tướng...thuộc huyện Thuận Thành Tỉnh Bắc Ninh ngày nay) . Năm 280 Tổ viên tịch, đồ chúng xây tháp thờ, vua ban thụy hiệu là Siêu hóa Thiền Sư.
Tu thiền theo Thiền Tông, thời nay không có Phật, không có Tổ nhưng còn các tác phẩm của các Tổ để lại, và Kinh Lăng Nghiêm, Kinh Pháp Hoa, nương theo đó làm bản đồ để khám phá cái chỗ Chư Phật tán thán vậy, cái chỗ các Bồ Tát đang thực hành, cái chỗ các Tổ đang soi sáng.
Như Đại Lão Thiền Sư Thích Thanh Từ hiện nay đã thực hiện được việc khôi phục Thiền Tông đời Trần. Trước đây, Hòa thượngc cũng đã mộng thấy ngũ tổ ấn chứng cho vậy. Cho tới thời điểm hiện tại 2008, cả ba miền Bắc, Trung, Nam Việt nam cũng như ở Mỹ, Canada, Úc, Pháp...đều đã có thiền viện tu theo Thiền Tông.

nguyenle
16-04-2008, 10:02 PM
Y và Bát của Phật có tác dụng gây lòng tin về nguồn mạch tông pháp. Cho đến đời thứ 33 là Tổ Huệ Năng, nhiều người đã tin và thực hành Thiền tông vì vậy cũng không cần Y, Bát nữa. Đâu phải không có Y, Bát là không có Tổ, không có Pháp. Hì hì.

Tứ Linh
17-04-2008, 09:08 AM
Sư tổ Đạt ma là đệ tử đời thứ 28 của Phật Thích Ca Mâu Ni. Phật Thích Ca Mâu Ni đạt đến quả vị Như Lai, nhưng Đạt ma không đạt đến đó mà chỉ đạt đến quả vị La Hán thôi (quả vị La Hán là khi vừa ra khỏi tam giới, nhưng chưa phải là Phật). Nên những gì Đạt Ma nói không phải Phật nói.
Cảnh giới của Sư tổ Đạt Ma là La Hán nên những ai theo thiền tông cũng chỉ hạn cuôc trong tầng La Hán thôi, nhưng thực tế thì từ xưa đến giờ có mấy ai đến đến đấy chứ.
Những ai đạt đến cảnh giới La hán thì cái gì cũng là KHÔNG. Vì thế những ai nghiên cứu thiền tông sẽ thấy cái gì trong đấy cũng là KHÔNG. Những gì bên Thiền tông nói dễ được người ta chấp nhận vì quả vị la hán là vừa mới ra khỏi tam giới tương đối gần với con người hơn so với Quả vị Như Lai, nên người ta dễ hiểu mà tu theo. Mà Đạt Ma cũng có nói là Thiền tông chỉ truền được đến 6 đời thôi. Chính Ấn có thể đọc Chuyển Pháp Luân , và cả Chuyển Pháp luân quyển 2 nữa (mới dịch) nói rõ về Thiền tông đấy (chịu khó ngâm cứu đi) www.********.org (http://www.********.org)

Tứ Linh
17-04-2008, 11:08 AM
Tôi đến với Đại Pháp như thế nào


[Chánh Kiến] Vào khoảng tuổi 17, tôi bắt đầu luyện tập Thiền Tông. Một cái tâm mạnh mẽ và một bản năng xác định đã giúp tôi rất nhiều trong sự tu luyện. Sức khỏe của tôi đã có nhiều tiến bộ. Tôi bị chứng rối loạn cật và cũng dễ bị đau ốm khi thời tiết thay đổi, việc này thường gây ra nhiều trở ngại về tim và tuần hoàn. Dần dần, tất cả những sự rối loạn này biến mất. Tâm tôi ngày càng trở nên tĩnh và trong sạch. Sức chịu đựng của tôi cũng đã được đề cao. Sự tu luyện này cũng mang lại vài sự hiểu biết và đã khởi đầu sự ngộ thức của tôi. Nhưng vẫn còn nhiều thắc mắc trong tâm tôi mà đã không thể lý giải được. Lúc đầu, tôi nghe về Pháp Luân Đại Pháp từ một người bạn, một đệ tử Đại Pháp. Anh ta cũng đã là một đồng tu trong nhóm Thiền Tông trước khi chuyển sang Pháp Luân Đại Pháp. Nói thật, tôi không thích thú cho lắm. Sự luyện tập Thiền Tông của tôi đã đang mang nhiều hứa hẹn. 10 năm cố gắng bền bỉ của tôi đã bắt đầu mang lại kết quả. Tại sao tôi lại phải từ bỏ và chuyển sang cái thật là mơ hồ?

Nhưng rồi, một ngày trong lúc tôi thiền, tôi đã nghe một tiếng nói từ Sư Phụ cao niên của tôi nói, “Hỡi người học trò thân thương, hãy bắt đầu học Pháp Luân Đại Pháp cho chính mình và cho tương lai của mình! Đây chính là thời điểm.” Tôi đã thật sự bị lay động vào lúc đó. Đó phải là cái gì thật sự đặc biệt và tinh tiến mà Sư Phụ tôi đã thúc dục tôi nhìn vào. Nhưng tôi đã không nghe lời khuyên của ông ấy ngay lập tức. Tôi vẫn thấy bình thường với sự luyện tập Thiền Tông. Tôi đã nghĩ tôi không cần sự thay đổi nào hết. Tôi đã nghĩ tôi sẽ xem thử nó thế nào.

Tôi nghĩ, “Có lẽ tôi có thể học vài điều từ nó theo cách tôi thường làm, từ việc đọc các bài viết và những cuốn sách khác.” Tôi đã yêu cầu Sư Phụ Lý cho học Pháp của ông ấy nhưng không luyện tập Công của ông ta. Ông ta cười với tôi và không nói lời nào.

Một lần nữa, khi tôi thiền tịnh, Sư Phụ của tôi đã xuất hiện, nói rằng ông ta cũng là một đệ tử của Sư Phụ Lý và tầng thứ của ông ta thấp xa so với Sư Phụ Lý. Lời nhắn nhủ của ông ta đã đánh thức tôi. Tôi đã biết rằng tôi phải bắt đầu suy nghĩ về điều này một cách nghiêm túc. Kết cục, tôi đã bắt đầu đọc Chuyển Pháp Luân.

Sau khi đọc chỉ vài trang, tôi đã khóc lên. Tôi khóc bởi vì tôi đã tìm thấy những câu trả lời về những thắc mắc trong suốt cuộc đời của tôi và bởi vì tôi đã biết rằng tôi sẽ từ bỏ lớp học Thiền Tông và Sư Phụ của tôi. Từng từ trong cuốn sách đó đã ngộ thức tôi. Chỉ hai ngày sau tôi đã bắt đầu đọc Chuyển Pháp Luân, tôi đã quyết định trở thành một đệ tử Đại Pháp

cuong_1503
18-04-2008, 07:38 PM
Làm sao mà Ngài Đạt Ma tọa thiền diện bích 9 năm trời được nỉ. Ngài đã dùng phương pháp gì vậy hả các bạn?

Câu nói mà: "Phiền não tức bồ đề, Bồ đề tức phiền não". "Niết bàn tức luân hồi, luân hồi tức niết bàn" có phải là của Tổ Sư không hả các bạn?