View Full Version : CÁC PHÉP TÍNH CƠ BẢN CỦA HỌC THUYẾT THÁI ẤT
nguyenvu
20-10-2004, 12:36 PM
Chào các bạn trên diễn dàn
Thái ất là một trong ba môn học xếp vào tam thức( Thái ất, Độn giáp, Lục nhâm đại độn).Hiện nay trên diễn đàn ít người bàn về Thái ất chính vì vậy tôi muốn trình bày lại toàn bộ các phép tính Thái ất một các có hệ thống làm cơ sở về sau cho phần luận giải Thái ất . Mong được các bạn tham gia cổ vũ .
Các phép tính TA chia làm 2 phần các phép tính về hệ thống các sao trong TA và phần 2 diễn quái Thái ất .
Tôi bắt đầu bài viết bằng đoạn bài viết trả lời của tôi về cách đọc Thái ất thần kinh trong trang TVLS.
Ðôi nét về Học thuyết Thái ất
I. Tài liệu nghiên cứu
Phần tiếng Việt
- Thái ất giản dị lục của Lê quí Ðôn
- Thái ất thần kinh tương truyền của Nguyễn Bỉnh Khiêm
- Thái ất diễn quái bí lục của Nguyễn Xuân Quang
Phần tiếng hán
- Thái ất kim kính thức kinh
- Thái ất thống tông bảo giám
- Thái ất thống tông ðại toàn
Dân gian biết ðến Thái ất và công dụng của nó phần nhiều qua các truyền thuyết về trạng trình Ngyễn Bỉnh Khiêm. Liên quan ðến các câu sấm ký , tài tiên tri của ông lúc sinh thời, ðến cả người Trung quốc cũng phải coi trọng “ An nam lý học hữu trình tuyền”. kể từ khi ông trạng này có kỳ duyên với thái ất do cụ Lương ðắc Bằng truyền lại sách cho ðến việc cụ khuyên nhà Mạc, nhà Nguyễn cách ứng xử ðể có thể trường tồn là những câu chuyện hy hữu trong lịch sủ VN.
Ở Trung quốc các cao sĩ như Trương Lương, Khương tử Nha, Lưu bá Ôn…vv những nhà thuật số trứ danh này ðã sử dụng Thái ất ðể phò vua giúp nước, lập nên công trạng hiển hách, sau tính ðến ðường tiến thoái của chính họ. Ngoài ra học còn ðóng góp rất nhiều công sức vào môn Thái ất.
Gần ðây ngýời Việt hay tiếp cận với Thái ất thông qua cuốn Thái ất giản dị lục của bảng nhãn Lê Quí Ðôn. Bảng nhãn ðánh giá rất cao Thái ất, ông cho rằng:” Thuyết Thái Ất phân nhiều nói về binh pháp. Ðịch ta, chủ khách, lợi hại ðược mất các cõ thịnh suy, trị loạn, cái thế thắng thua, yên nguy ðều ðược diễn giải rõ ràng…:
Những thực ra cuốn sách này chỉ ở mức dị giản lục, chưa ðủ các thông số tính toán về thái ất.
Còn về cuốn sách tương truyền của trạng trình cũng thiếu chưa thiết lập ðủ phương trình tính toán, lời văn rườm rà khó hiểu không hợp với phong cách của cụ trạng (Bác học có ðủ, dân dã có thừa- Ý kiến các nhân tôi)
Cuốn thứ ba tiếng Việt của TG Vũ xuân Quang(3 cuốn), quyển sách này dừng ở mức nghiên cứu Lý thuyết nhưng tương ðối ðủ thông số tính toán. Tiếc rằng sách có nhiều lỗi chính tả do in ấn.
Ðôi ðiều về Lương y Vũ xuân Quang:
Ngươi say mê các môn thuật số, Y học cổ truyền và ðã bỏ ra nhiều nãm NC các môn thuật sô một cách hết sức công phu, sáng tạo nhưng theo cá nhân tôi quan trọng là “ thông” về Lý thuyết, khiến cho chúng có ðầu ðuôi , tạo cơ sở ðể trở thành những môn hoc. Tất cả các môn học thuật số ðều ðược cụ diễn quái , bởi lẽ Kinh dịch là “Quần thư vi chi thủ”, lục hào là “ Chư thuật vi chi thủ”. Do vậy khi nghiên cứu T/A Phải có kiến thức về Lục hào, Kinh Dịch, Lịch pháp …vv . Ðôí với những người tự NC Phải xây dựng lộ trình kiến thức thích hợp trýớc khi NC T/ A có bước chuẩn bị về lục hào, Ðộn giáp ðể dễ tiếp cận T/A…vv
nguyenvu
20-10-2004, 12:38 PM
Một số ðiều lýu ý cần tránh:
-Không có ðủ tài liệu gốc và chú ý quá nhiều ðến thực dụng ( cách thức thục hành) và coi thực hành là tiêu trí cơ bản . Quan niện này không sai nhưng trở nên nguy hiểm nếu người NC chýa ðủ và ðúng lý thuyết, không biết PP thực hành KH dẫn người ta rơi vào chủ nghĩa Kinh nghiệm
- Vội vã xét lại lý thuyết của cổ nhân, muốn học tắt.
Như chúng ta biết cõ bản các nghành thuật số xuất phát từ TQ, nơi nền vãn minh Hoa Hạ phát triển rực rỡ. Thuật số là một bộ phận trong nền VH ấy cũng theo quy luật chung hàm chứa nhiều giá trị VH tinh hoa, rất khó nắm bắt.
Một số quan ðiểm khi NC Thuật số nói chung và T/A nói riêng
1.Các môn thuật số ra đời theo qui luật từ đơn giản đến phức tạp, mang tính kế thừa và do công sức của nhiều người góp phần đặc biệt là các nhà NC hàng đầu . Như Chu công, Thiệu khang tiết, Khổng tử ...vv.
2.Cùng một vấn đề có nhiều phương pháp khác nhau để tiếp cận, tạo nên rất nhiều nhiều trường phái. Trong mỗi một trường phái cũng có nhiều nhà NC khác nhau tạo nên những nét riêng độc đáo của họ. Đôi khi hình thành các phái gia truyền của một số giòng họ không được truyền ra ngoài. khiến cho nhiều môn thuật số trở nên bí truyền .
3.Các môn thuật số đều được Xây dựng theo các mô hình cụ thể, nhưng đều xử dụng các công cụ là các qui luật phổ biến ( Tiên thiên, hậu thiên, âm dương, ngũ hành) và các qui luật đặc thù của môn và từng mô hình của môn, các qui tắc suy diễn của từng môn mà đưa ra khả năng đoán định. Thông thường là kết quả của rất nhiều phép tính đơn lẻ.
4.Bất kỳ mô hình môn nào đều có sai số hệ thống ( nội tại) và sai số chủ quan. Các môn học của phương đông thường một Hàm có thể ứng với nhiều giá trị (các qui tắc suy diễn) kèm theo những điều kiện cụ thể với từng giá trị. Mà điều kiện này thường khó làm sáng tỏ. Một phần do lý thuyết một phần do người sử dụng. Do vậy muốn sử dụng tốt phải làm sáng tỏ lý thuyết một cách tương đối sau mới ứng dụng và kiểm nghiệm. Nhưng phải chấp nhậnmột điều bất kỳ môn nào cũng tồn tại sai số. Các trường phái khác nhau khi giải quyết cùng một vấn đề thì điều có những thế mạnh riêng. đương nhiên biết nhiều trường phái xử dụng mền dẻo là con đường tốt nhất để đạt hiệu quả cao. Tuy nhiên khó thực hiện và đôi khi xét thừa. Vậy thái độ của người NC ứng dụng là nhìn rõ giới hạn của môn, trong một số trường hợp sáng tạo bù thêm để giảm bớt giới hạn, sai số của môn.
Cách tiếp cận Thái ất qua cuốn Thái ất thần kinh
Xem ngay cuốn 2,3 ( Gom góp hạt châu ngoài biển) Xem tính chất từng sao và các sao kết hợp lại với nhau thì ý nghĩa tính chất ra sao. Thông thường trong phần này sẽ có giá trị của các sao có thể được nhận. đọc đến sao nào tìm đọc Q5 để tìm khoảng giá trị mà sao đó có thể nhận. Chính là "tiểu chu" mà sao đó có thể nhận.
Tiếp đến xem lại kỹ cuốn 5 phần các phép tính toán các sao.
Sau đó NC đến quyển 2,3,4 tiếp đến 6.
Trong phần phép tính sao Chú ý đến mốc thời gian tính sao, Doanh sai, và tính gần đúng của tích tháng, năm, ngày, giờ. Đa số các phép toán đều là lấy phần dư của phép chia tích niên, tháng, ngày , giờ cho đại, tiểu chu... thực chất là các chu kỳ vận động của sao, nhằm tìm ra vị trí của sao trong những chu kỳ nào.
5.Các môn thuật số dành một vị trí ðáng kể cho phần tâm linh, ở ðây tôi muốn nhấn mạnh ðến phần linh giác trên cõ sở học thuật sẽ hỗ trợ tốt hơn cho các phép tính chứ không thay thế các phép tính. Nên phân biệt giữa phần Tâm linh không liên hệ gì với các môn thuật số ví như một người có khả nãng ðặc biệt chãng hề biết gì về thuật số vẫn cứ dự ðoán ðược như các nhà thuật số, thậm trí lại có phần tinh vi hơn.
6. Ðừng vội tán ðồng cũng như phủ nhận kiến thức của ngýời xưa. Bởi sự ra ðời và tồn tại của bất kỳ ðiều gì cũng có lý của nó. Do vậy việc ðầu tiên là phải hiểu ðuợc cái lý ðó, sau mới xét ðến tính phù hợp mang tính thời ðiểm. Hõn nữa các môn thuật số cổ còn tồn tại khá nhiều qui tắc dưới dạng các câu khẩu quyết, khó làm rõ bản chất. nhiều kiến thức hết sức tinh vi, phức tạp. Ðây cũng là một trong những lý do cơ bản khiến các môn thuật số phương ðông chưa ðủ tiêu trí ðược coi là khoa học. (Tất nhiên ðể tiến ðến nhận thức thế giới thì KH cũng không thể là Người phán xét hết thảy mọi việc)
7.Nên tiếp cận với các môn thuật số môt cách khoa học, và kèm theo ðó là một tri giác linh mẫn , có người hướng dẫn, trao ðổi. Một trong những khâu rất quan trọng của vấn ðề học tập và NC ðó là tài liệu, gần như nó quyết ðịnh toàn bộ sự thành bại, vậy phải ðặt lên quan tâm hàng ðầu.
8. Ðọc kỹ lưỡng vãn bản nhiều lần, vì cùng một khái niệm có nhiều tầng nhận thức khác nhau, phụ thuộc vào vấn ðề ta tìm hiểu. Ví dụ về ngũ hành nếu cõ bản chi cần biết qui luật sinh khắc, tinh vi hơn cần biết nịch , kháng ,thiết…vv.Ví dụ như nạp âm, ðõn giản ta chỉ cần học các tra bảng, tinh vi hơn ta phải hiểu ý nghĩa nạp âm, cách thức nạp âm, ứng dụng.
Caytre
20-10-2004, 01:08 PM
Hoan hô anh Nguyên Vũ viết bài rất có giá trị này, không những về môn Thái Ất mà còn lợi ích trong việc tiếp cận các môn Lý Số một cách khoa học.
Cám ơn anh đã cho diễn đàn một bài viết ngoạn mục
Kính
CT
dungkq
20-10-2004, 02:17 PM
Viết hay lắm, anh Nguyenvu --g--
nguyen
20-10-2004, 04:47 PM
Hoan hô các bài viết có giá trị như thế này. Càng nhiều càng tốt ...
HaiDang
21-10-2004, 12:45 AM
Bài của nguyenvu rất hay, mới lạ vì ít nguời biết về môn Thái Ất
== 5.Các môn thuật số dành một vị trí ðáng kể cho phần tâm linh, ở ðây tôi muốn nhấn mạnh ðến phần linh giác trên cõ sở học thuật sẽ hỗ trợ tốt hơn cho các phép tính chứ không thay thế các phép tính. Nên phân biệt giữa phần Tâm linh không liên hệ gì với các môn thuật số ví như một người có khả nãng ðặc biệt chãng hề biết gì về thuật số vẫn cứ dự ðoán ðược như các nhà thuật số, thậm trí lại có phần tinh vi hơn. ==
Tác giả Đằng Sơn từng than là ông ta từ lúc nghiên cứu Tử Vi kiểu hệ thống Khoa Học thì mất đi cảm ứng sắc bén trong giải đoán lá số Tử Vi.
Theo thiễn ý của HD, muốn coi cấp cao thì phải có cảm ứng vì không có sách nào, lý thuyết nào rõ ràng chỉ cho chúng ta cách coi trúng như thần đuợc. Ngay cả kinh nghiệm dầy dạn cùng lý thuyết cao sâu cũng nhiều khi không coi ra vì không cảm ứng hay Tổ không cho lộ Thiên Cơ.
Lấy ví dụ quẻ Dịch, nếu quả thật có nguời gieo quẻ linh ứng bách phát bách trúng thì các sòng bạc Las Vegas hay các tay cá độ giàu có đã dùng Dịch để đánh cá làm tan tành các sòng đối thủ.
Năm 2003 các thầy bên Thái Lan dùng đủ biện pháp tiên đoán chiến tranh Iraq sẽ xãy ra trong tháng 4 2003 nhưng trận chiến đã mở màn ngày 19 tháng 3. Vậy thử hỏi Thiên Cơ đâu dễ tiết lộ cho dù cả nhóm đã dùng đủ biện pháp tiên đóan. Còn đóan sẽ đánh Iarq ư, cũng dễ vì biết ông Bút chủ chiến.
Ngay cả tiên đoán ai sẽ thắng cữ Tổng Thống Mỹ năm 2004 thì đã thấy 2 phe rõ ràng, có một phe chỉ gồm 2 nguời đóan Kerry thắng, trong đó có một thầy nổi tiếng, còn phe kia đôn ghơn cho là Bút. Phải chăng Thiên Cơ không dễ thấy cho dù lấy lá số (tranh chấp giờ sinh) và quẻ ra gieo.
Vào dòng chia xẽ,
HD
NguyenTri
21-10-2004, 05:38 AM
Kính chào NguyenVu,
Cám ơn đã chia sẽ những học thức vô cùng giá trị về Thái Ất. Những tài liệu sách vở hiện tại rất khó để học và thực hành môn này. Rất mong được sự nghiên cứu lý số của các vị học giả như bạn đã không ngại phổ biến học thuật để làm sáng thêm môn học của tiền nhân. Tôi rất hân hạnh được đọc các bài nghiên cứu lý số rất có giá trị như trên. Cám ơn nhiều.
Kính,
Nguyên Trí thư sinh
dungkq
21-10-2004, 12:27 PM
Theo thiễn ý của HD, muốn coi cấp cao thì phải có cảm ứng vì không có sách nào, lý thuyết nào rõ ràng chỉ cho chúng ta cách coi trúng như thần đuợc. hi...hi...theo ý ngắn của dungkq tôi cũng thấy là như vậy :D .
Chính Ấn
21-10-2004, 02:12 PM
Tiểu đệ xin chào anh Nguyên Vũ -clap-
nguyenvu
22-10-2004, 10:53 AM
Nguyên vũ xin cảm ơn sự quan tâm của các bạn trên diễn đàn Chân thuyên . Chắc phải vài hôm nữa NV mới đưa bài lên mạng được vì cần phải có thời gian sắp đặt lại ý tưởng viết . Nhờ Dungkq hộ mình đưa bài Kinh dịch với đại số bool mình viết cách đây chừng 4 ,5 năm rồi ( chỉ đưa phần liên quan đến KD). Tiếp sau đó tôi sẽ đưa phần kinh dịch giáo trình mà tôi đã học từ nhiều năm trưóc tuy vậy tôi vẫn thấy có rất nhiều giá trị để các bạn tham khảo .
nguyenvu
28-10-2004, 02:46 PM
-Những quy định về thời gian trong Thái ất
Vận: là một đơn vị thời gian quy định 360đơn vị nhỏ hơn nữa( "có thể là năm, tháng, ngày giờ" )
Một vận lại được chia ra làm 5 phần, mỗi phần gọi là một "Nguyên tý". Như vậy mỗi nguyên tý có 72 đvtg. Tên của các nguyên tý như sau:
+ Giáp tý
+ Bính tý
+ Mậu tý
+ Canh tý
+ Nhâm tý
Mỗi vận cũng có thể chia làm 6 phận . Mỗi phần lại có 60 đvtg
+ Hai phần đầu của 60đvtg gọi là " Thượng nguyên"
+ Hai phần giữa của 60đvtg gọi là " Trung nguyên"
+ Hai phần cuối của 60đvtg gọi là " Hạ nguyên
Thời gian được chia ra làm thời gian dương và thời gian âm. theo quy định từ năm 1324 đến năm 2403 thuộc dương. Thừ năm 2404 đến năm 3483 thuộc ậm hiện nay chúng ta đang sống trong khoảng tg dượng Khoảng thời gian của bán chu kỳ thời gian âm, dương này là 1080 năm. Như vậy ta có thể suy ra thời gian từ 3484 đến ( 3483+1080) thuộc khoảng thời gian âm. Khoảng tg từ (1324-1808) đến 1323 thuộc tg âm.
Như vậy bán chu kỳ 1080 năm có (1080:72), tức là 15 nguyên tý.
Cục: là con số thuộc 72 nguyên tý .Trong cục chia ra âm cục và dương cuc.Tính chất âm dương phị thuộc vào đơn vị thời gian của cục. Tức là niên cục, nhật cục, hay nhật cục, thời cục .
Bốn loại cục trên còn gọi là "tứ kế". Niên kế, Nguyệt kế, Nhật kế, Thời kế.
Theo sách Thái ất giản dị lục
Xem thái ất có 4 phép xem:
+ Một là tuế kế, để xem sự lành dữ của quốc gia . Đó là việc của vua và hoàng hậu làm, để sáng chính hoá, sửa đức giáo, xét cơ động, tĩnh.
+ Hai là nguyệt kế : Để xem lành dữ . Đó là bậc công khanh xem, để xét biện được hay mất mà điều hoà sự goà gay trị .
+ Ba là nhật kế : để đo lường hoạ phúc trong nhân gian, để sử dụng cho mọi người, để xét lớn hay nhỏ, hưng hay suy, để cư sử đúng với Tam cương, đủ với ngũ luân .
+ Bốn là thời kế: để vận trù mưu kế, sách lược, xác định về chủ khách, thắng thua, đó là bậc tướng soái phải rõ .Phàm thiên văn đổi khác, các nước xung quanh động hay tĩnh, thế trận hai bên có tương đương nhau không, xã hội có bình thường hay có giặc cướp, đều dùng thời kế mà xẹm
dungkq
01-11-2004, 09:23 PM
Nguyên vũ xin cảm ơn sự quan tâm của các bạn trên diễn đàn Chân thuyên . Chắc phải vài hôm nữa NV mới đưa bài lên mạng được vì cần phải có thời gian sắp đặt lại ý tưởng viết . Nhờ Dungkq hộ mình đưa bài Kinh dịch với đại số bool mình viết cách đây chừng 4 ,5 năm rồi ( chỉ đưa phần liên quan đến KD). Tiếp sau đó tôi sẽ đưa phần kinh dịch giáo trình mà tôi đã học từ nhiều năm trưóc tuy vậy tôi vẫn thấy có rất nhiều giá trị để các bạn tham khảo .
Thành thật xin lỗi tất cả các bạn và anh Nguyênvu, vì thời gian trước bỏ bê học thuật nên dungkq tôi dã làm thất lạc bài viết đó nhưng tôi sẽ cố gắng tìm lại để post lên đây cho các bạn tham khảo .
nguyenvu
12-11-2004, 04:22 PM
Các bảng dưới đây tương ứng với năm thuộc chu kỳ âm, dương
Số nguyên tý từ năm 1324 đến năm 2403( 1080) Thuộc dương
Nguyên Giáp tý 1324-1395 1684-1755 2044-2115
Nguyên Bính tý 1396-1467 1756-1827 2116-2187
Nguyên Mậu tý 1468-1539 1828-1899 2188-2259
Nguyên Canh tý 1540-1611 1900-1971 2260-1331
Nguyên Nhâm tý 1612-1683 1972-2043 2332-2403
Số nguyên tý từ năm 2404 đến năm 3483 ( 1080) thuộc âm
Nguyên Giáp tý 2404-2475 2764-2835 3124-3195
Nguyên Bính tý 2476-2547 2836-2907 3196-3267
Nguyên Mậu tý 2548-2619 2908-2979 3268-3339
Nguyên Canh tý 2620-2691 2980-3051 3340-3411
Nguyên Nhâm tý 2692-2763 3052-3123 3412-3483
Số nguyên tý từ năm 244 đến năm 1323 ( 1080) thuộc âm
Nguyên Giáp tý 244-315 604-675 964-1035
Nguyên Bính tý 316-387 676-747 1036-1107
Nguyên Mậu tý 388-459 748-819 1108-1179
Nguyên Canh tý 460-531 820-891 1180-1251
Nguyên Nhâm tý 532-603 892-963 1252-1323
SỐ NIÊN CỤC
Mỗi nguyên tý có 72 năm. Niên cục là số từ 1 đến 72 trong mỗi nguyên tý
Để tính số niên cục của một năm ta sử dụng công thức
1. Tích niên chia 3600
2. Phần dư của phép chia trên chi 360
3. Phần dư của phép thứ 2 chia 72 số dư chủa phép chia này chính là số niên cục
Tích niên được định nghĩa =số năm hiện tại + 10.153917
Tức là người ta dung mốc tính tích niên từ năm giáp tý đời Thiên hoàng. Có một số thuyết tính cộng với số khác 10.153.917 sau này khi viết CT thì kiểm nghiệm lại điều này là việc làm trước đây tiền nhân rất khó làm.
Ví dụ năm 2004 (Giáp thân)
Tra bảng thuộc năm dương cho nên là dương cục
Tích niên=2004+10.10.153.917
Chia tích niên cho 3600, phần dư lại chi tiếp 360, phần dư lại chia tiếp 72 được 33
Vậy là số niên cục dương 33
SỐ NGUYỆT CỤC
Cục tương ứng với tháng gọi là nguyệt cục.
Công thức:
1.Tính số tháng từ định tính so với mốc
2.Chia số tháng tính được cho 360
3. Phần dư của phép chi trên chia tiếp cho 72 Dư bao nhiêu chính là nguyệt cục
Gốc tính nguyệt cục là ngày mồng một tháng giáp tý, năm giáp tý thuộc triều đại nguyên gia thời nhà Tống Trung quốc (Tương ứng với ngày 7 tháng 12 năm 424 sau công nguyên)
Ví dụ:
Tính nguyệt cụ của tháng mậu dần năm canh thìn (2000)
Từ tháng Giáp tý năm giáp tý ( năm 424) đến tháng quý hợi ( trước tháng giáp tý) năm kỷ mão ( năm 1999)
Ta có: 1999-424= 1575 năm
12*1575=18.900 tháng ( 1 năm 12 tháng)
Từ tháng giáp tý năm kỷ mão(1999) đến tháng mậu đần năm canh thìn (2000) có 3 tháng
Vậy số tổng tháng =18.900+3=18.903
18.903:360 dư 183
183 :72 dư 39.
Vậy ta nói Năm 2000 thuộc nguyên Nhâm tý dương tháng bính dần có nguyệt cục dương 39
Nguyên tắc:niên cụ dương thì nguyệt cục cũng dương.
nguyenvu
14-11-2004, 03:40 PM
(tiếp) Niên cục âm thì nguyệt cục cũng âm.
Số nhật cục
Phương pháp tính:
1. tính số ngày Từ mốc của nhật cục đến ngày ta định tính
2.Chia số ngày đó cho 360 phần dư lại tiếp tục chia cho 72, còn dư lại bao nhiêu chính là nhật cục.
3. Cục âm, dương tính như sau: Từ Đông chí đến trước ngày Hạ chí,là dương cục.Từ Hạ chí đến trước ngày Đông chí, thuộc âm cục (chú ý tính ngày phải xét đến cả giờ chuyển tiết, khí)
Mốc tính ngày cho nhật cục: ngày mồng 1 tháng giáp tý, năm quý hợi thuộc triều đại Cảnh bình đời Tống ( TQ) tương ứng với ngày 19/2/423 dương lịch.
Thí dụ: Tính nhật cục ngày 14/12/1992 dương lịch.Đầu tiên ta tính số ngày từ gốc 19/2/423 đến 18/1/1992 trước. vậy ta tính tròn số năm phải xét 1992-423 =1569 năm
Tiếp đó ta sử dụng công thức tính ngày làm tròn ngày
(1569*365,2422)-10=573.055 ngày
Bước tiếp theo ta tính số ngày từ 19/1/1992 đến ngày 14/12/1992.
Từ 19/1/92 đến 31/1/92 có 13 ngày. Tháng 2 có 29 ngày
Tháng 3 có 31 ngày, tháng 4 có 30 ngày, tháng 5 có 31 ngày, tháng 6 có 30 ngày, tháng 7 có 31 ngày, tháng 8 có 31 ngày, tháng 9 có 30 ngày, tháng 10 có 31 ngày, tháng 11 có 30 ngày.
Từ 1/12/92 đến 14/12/92 có 14 ngày
Cộng lại 331 ngày
Tổng số ngày là 573.055+331=573.386 ngày chia 360 dư 266
,lại chia tiếp 72 dư 50. Vậy ngày 14/2/1992 sau đông chí nên có dương cục 50.
Số thời cục
Cách tính:
1.Cục âm dương của thời cục cũng tính như Nhật cục
2.Số giờ từ ngày giáp tý gần nhất đến ngày, giờ muốn tính
3. Chia số giờ đó cho 360, số dư lại chia tiếp 72 số dư chính là Thời cục.
Ví dụ:
Tính thời cục giờ Giáp tý, ngày giáp thìn (23/1/1992)
Trước giáp thìn là quý mão. Từ Ngày giáp tý gần nhất đến quý mão có 40 ngày, có 40*12=480 giờ.
Cộng thêm 1 giờ của ngày giáp thìn là 481 giờ
481 chia 360 dư 121, lại chia 121 cho 72 dư 49
Ngày 31/1/1992 sau Đông chí thuộc dương cục. vậy dương cục 49 là Thời cục.
Cách tính số niên cục, Ngyệt cục, Nhật cục, Thời cục gọi là Tứ kế ( Tuế kế, Nguyệt kế, Nhật kế, Thời kế)
nguyenvu
18-11-2004, 01:28 PM
Các sao cơ bản trong Thái ất gồm:
Sao Thái ất
Sao Kế thần
Sao văn xương
Sao thuỷ kích
Độn giáp là can giáp ẩn đi. Đứng về phương diện sử dụng thì khi gặp can giáp ta phải thay bằng can ất( đối với trường phái thông dụng Nhật gia kỳ môn độn giáp, ta thay can ngày gặp TH giáp bằng ất).Còn với Thái ất thì lại giống với Tử vi ở chỗ môn TV lấy sao đứng đầu trong môn làm tên cho môn, vậy là Thái ất là lấy tên sao quan trong bậc nhất của TA Làm tên môn, chứ không suy luận như độn giáp, về phần chức năng của từng môn đã được giới thiệu ở trên.
Công thức tính sao Thái ất:
1. Lấy tích niên chia 3600
2. Phần dư của phép tính trên chia 240
3. Phần dư của phép tính (2) chia 24
4. Chia phân dư của phép tính (3) cho 3
Sao thái ất vận hành qua 8 cung của bát quái hậu thiên đồ không vào trung cung. Tại mỗi cung thái ất cư trú 3 năm. Năm thứ nhất gọi là lý thiên, năm thứ hai gọi là lý địa, năm thứ ba gọi là lý nhân.
Độ số của hậu thiên đồ dùng trong TA có sự khác biệt liệt kê dưới đây:
Càn - 1
Ly - 2
Cấn - 3
Chấn - 4
( không vào 5)
Đoài- 6
Khôn- 7
Khảm- 8
Tốn - 9
Cứ ba năm thì chuyển vị trí mới, trong ba năm, năm thứ nhất lý thiên, năm thứ 2 lý địa, năm thứ ba lý nhân.Thực chất là ta xét chu kỳ 24 năm của TA tính từ mốc thời gian tính tích niên.
Ví dụ tính sao thái ất của năm 2000.
Tích niên= 2000 +10.153.917=10.155.487 năm chia 3600
dư 247 chia 360 vẫn dư 247 chia 240 dư 7
7 chia 3 được 2 lần dư 1 tức là vào cung thứ 3 năm thứ nhất ứng với lý thiên.
Các bạn thử tính sao TA năm nay?
nguyenvu
22-11-2004, 03:59 PM
Trước đây ở ví dụ trên ta đã tính năm 2004 ( Giáp thân) là dương cục 33, ta lấy 33 chia 24 dư 9,
9/3 3 lần dư 0. Tức là ứng Thái ất nằm ở cấn cung, lý nhân.
giải thích hai cách tính toán trên là tương đương, rất có giá trị trong việc hiểu sử dụng trong thái ất. ta biết rằng, Tính cục thực chất là tính chu kỳ của đơn vị thời gian ta muốn tính từ mốc thời quy định với chu kỳ của cục là 72, đáng lẽ ta chia luôn cho 72 lấy phần dư, nhưng tiền nhân chia 3600, rồi lại chia tiếp 360, và gọi 3600 là Đại chu, 360 là tiểu chu-Tức là chu kỳ lớn và chu kỳ bé. Con số 360 cũng là bội của 72, con số 3600 gấp 10 lần 360.Để tìm chu kỳ của sao thái ất 24 năm hết một vòng ở 8 cung mô tả ở trên,theo đn ta cũng chia cho đại tiểu chu, sau còn chia 240, rồi chia 24. tất cả các phép toán này đều lấy phần dư, chỉ có phép toán cuối cùng mới chú ý đến cả phần nguyên và phần dư của phép chia. vì 72 là bội của 24 vì vậy mà nói chung các phép toán về sau của sao nếu chu kỳ vận động mà 72 chia hết( ví dụ 18) thì ta cứ việc tính từ cục ra.
Để tiện cho việc trước an các sao, sau là phân tích, tôi xin phép mô tả bản đồ thái ất:
Chúng ta vẽ 3 vòng trong đồng tâm, vòng 1,2 tính từ trong ra khẩu độ bằng nhau, vòng thứ 3 khẩu độ gấp từ 4 đến 5 lần. Chia ba vòng tròn này thành 16 cung đều nhau. Ta điền vào vòng trong cùng bắt đầu từ: càn, hợi , tý(khảm),sửu, cấn, dần, mão(chấn),thìn, tốn, tỵ, ngọ( ly),mùi, khôn, thân, dậu(đoài), tuất.Độ số của các cung như sau:Càn :1,khảm:8,cấn:3, chấn:4, tốn:9,ly:2, khôn:7,Đoài:6.
Phương vị và tiết khí tương ứng như sau:
Ngọ(ly) nam, hạ chí;
Mùi, khôn, Thân: Tây nam, lập thu;
Dậu(đoài): Tây,thu phân
Tuất, càn, hợi :Tây bắc , lập đông
Tý(khảm): Bắc, đông chí
Sửu, cấn, dần: Đông bắc, lập xuân
Mão(chấn) :Đông, xuân phân
Thìn, tốn, tị:Đông nam, lập hạ
An ở vòng thứ 2 như sau: càn:Ân đức, Hợi:Đại nghĩa, Tý:Địa chu, Sửu:Dương đức,Cấn:Hoà đức, Dần:La hầu, Mão:Cao tùng, Thìn:Thái dương, Tốn:Đại trắc, Tị:Đại thần, Ngọ:Thiên uy, Mùi:Thiên đạo, Khôn:Đại vũ, Thân:Vũ đức, Dậu: Thái thốc, Tuất:Âm chủ
Vòng thứ 3 để an các sao tính sau.
nguyenvu
26-11-2004, 08:11 PM
Trong một số sách hay sử dụng niên hiệu các triều đại Phong kiến cả Việt nam, TQ
Một số niên hiệu trích trong sách của cố GS Hoàng Phương
Năm thứ nhất Triều Đại Năm dương lịch tương ứng
Mậu ngọ Chính Trị 1558
Canh thân Cảnh Hưng 1740
Quý sửu Cảnh Thịnh 1793
Quý mão Cảnh Trị 1663
canh thân Chính Hoà 1680
Quý sửu long Khánh 1373
Quý mùi Phúc Thái 1643
Mậu thìn Quang Thái 1383
mậu dần Quang Hưng 1578
Ất mão Vĩnh Hựu 1735
Kỷ dậu Vĩnh Khánh 1729
Ất dậu Vĩnh Thịnh 1705
Kỷ mùi Vĩnh Tộ 1619
Ví dụ khi người nói Năm Vĩnh Tộ thứ 3 thì túc là năm (1619-1) + 3,Tân dậu .Vì năm đầu tính từ 1619.
Năm Phúc Thái thứ 6, tức là năm 1643-1+6, Mậu Tý.
Sao Kế thần
Công thức tính: Tích niên chia 12, lấy phần dư
Chu kỳ của Kế thần là 12 . Kế thần đóng (nằm) ở Gián thần vị.
Gián thần vị cung gồm: Tý, sửu, dần, mão, thìn,tỵ, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi.
Chính thần vị: Càn, khôn, cấn, tốn cũng là tứ ngung ( bốn góc).
Sử dụng số dư sau phép chia tích niên cho 12 như sau:
Giả sử số dư là :A ( A lớn hơn hoặc bằng 0, nhỏ hơn 12)
Ta lấy mốc từ cung dần, tính nghịch, đếm 1, mão sửu đếm 2... đến A, ở cung nào thì kế thần đóng tại cung đó.Vì ta biết mốc tính tích niên từ năm Tý, do đó số A cũng chính là số thứ tự của chi trong 12 chi, cũng chính là chi năm ta đang tính.
Ví dụ 1:
Tìm kế thần của năm canh ngọ, niên hiệu Chính Trị thứ 13 triều Lê.
Tích niên=1558 + 12 +10.153.917=10.155487 năm, chia 12, dư 7. tính từ dần là 1 tính ngược đến 7 thấy Canh ngọ ở cung Thân, vậy kế thần đóng tại cung Thân.
Tích cục của năm Canh ngọ nói trên được 31 nguyên canh tý dương.
Lấy 31 chia 12 dư 7 cũng là một cách tính.
Ví dụ 2
Tìm kế thần năm 1592
Tích niên 10.155.509, cục 53 chia 12 dư 5
Kế thần đóng tại Tuất cung.
Ví dụ 3 Tìm kế thần năm 1599
Tích niên 10.155.516
Niên cục 60 chia 12 dư 0
Kế thần đóng tại cung mão
nguyenvu
27-11-2004, 03:55 PM
Đơn giản nhất không cần tính toán gì vẫn có thể biết vị trí Kế thần đóng. Ta chi cần biết chi năm cần tính. Tính từ dần khởi Tý, tính nghịch đến chi của năm muốn tính.
Ví dụ năm G.thân(2004), Khởi từ dần đếm tý, sửu đếm sửu, tý đếm dần, hợi đếm mão, tuất đếm thìn,dậu đếm tị,...ngọ đếm thân. tức là kế thần của năm gthân đóng ở ngọ cung.
Sao văn xương
Sao văn xương còn gọi là "Thiên mục"
Công thức tính:
Tích niên chia cho 18 dư bao nhiêu an trên bản đồ Thái ất, khởi từ "Thân" tính "thuận" đến số dư, ở cung nào thì đó là cung văn xương đóng.
Chú ý: riêng hai cung Càn, Khôn tính 2 lần.
Như vậy là chu kỳ của Văn xương là 18, đóng ở tất cả các vị trí trên bản đồ Thái ất ( cả chính thần vị và gián thần vị). Riêng hai cung Càn, Khôn tính hai lần.
Ví dụ:
Năm 1570 dương lịch. Được số tích niên là 10.155.487 chia 18 dư 13.
Khởi từ thân đếm 1, dậu đếm 2,tuất đếm 3,càn đếm 3,4,hợi đếm 5,...Tốn đếm 13. Vậy tốn là cung văn xương đóng
Ví dụ 2:
Tìm văn xương năm 1592 dương lịch
Tích niên 10.155.509 chia 18 dư 17
Khởi từ thân đếm 1, đến 13 ở tốn, 14 ở tị,...,17 ở khôn. Văn xương đóng ở khôn.
Ta cũng có thể tính từ cục chia 18 ra vị trí đóng của văn xương ( Thiên mục)
Sao khách mục thuỷ kích ( Thuỷ kích)
Khách mục thuỷ kích còn có tên là "Địa mục"
Công thức tính:
1. Đếm theo chiều thuận trên bản đồ Thái ất, từ cung Kế thần đóng đến vị trí của sao văn xương có bao nhiêu vị trí.
2. Khởi từ cung "Cấn" tính "thuận" đến số vừa đếm được ở bước 1, dừng ở cung nào cung ấy là vị trí đóng của Thuỷ kích.
Ví dụ:
Tìm vị trí của Thuỷ kích năm 1570 dương lịch ( năm Chính Trị thứ 13)
Như ở phần trên ta tính được vị trí của kế thần nằm ở "Thân". Văn xương đóng ở cung Khôn. Tính thuận từ thân đến khôn có 12 vị trí. Ta khởi từ "Cấn" tính 1, dần tính 2,...Tuất tính 12. Như vậy Thuỷ kích đóng tại Tuất cung.
Ví dụ 2: Tìm sao thuỷ kích năm 1592 dương lịch.
Kế thần ở Tuất
Văn xương ở khôn
Đếm được 14 vị trí. Khởi từ "Cấn" tính thuận 14 vị trí thì Hợi là vị trí của Văn xương.
Ví dụ 3: Tìm vị trí sao thuỷ kích năm 1599 dương lịch
Kế thần đóng tại mão
Văn xương đóng tại hợi
Đếm được 12 vi trí. vậy thuỷ kích đóng tại tuất cung.
nguyenvu
02-12-2004, 11:03 AM
Tìm chủ khách từng năm
1. Chủ toán
Công thức tính:
1.Xác định vị trí của Văn xưng, và Chính thần trước Thái ất 1 cung tính theo chiều “ Thuận”
2.Nếu văn xưng ở gián thần vị tính =1, nếu ở chính thần vị tính luôn số của của vị trí đó theo bn đồ Thái ất
3. Cộng tất c các số từ Văn xưng đến trước Thái ất đóng 1 cung theo chiều thuận. chỉ tính “chính thần vị trừ vị trí ban đầu của văn xưng”
Ví dụ 1: tính chủ toán của năm 1570
Ta biết: văn xung đóng tại tốn 9
Cấn là cung thái ất đóng. khm là cung trước cung thái ất đóng
9( tốn)+2(ly)+7(khôn)+6(đoài)+1(càn)+8(khm)=33
2.Khách toán
Công thức tính:
1.Xác định vị trí của Thuỷ kích, và Chính thần trước Thái ất 1 cung tính theo chiều “ Thuận”
2.Nếu Thuỷ kích ở gián thần vị tính =1, nếu ở chính thần vị tính luôn số của của vị trí đó theo bn đồ Thái ất
3. Cộng tất c các số từ Thuỷ kích đến trước Thái ất đóng 1 cung theo chiều thuận. chỉ tính “chính thần vị trừ vị trí ban đầu của Thuỷ kích”
Thí dụ:
tính chủ toán, khách toán của năm 1599 dưng lịch. Dưng niên cục 60, nguyên canh tý dưng, trung nguyên.
Thái ất đóng tại cung Chấn 4
Văn xưng đóng ở hợi
Thuỷ kích đóng tại tuất
1. Chủ toán
1(hợi)+8(khm)+3(cấn)=12
2.khách toán
1(tuất)+1(càn)+8(khm)+3(cấn)=13
Tìm chủ, khách Đại tướng tham tướng
có các sao dưới đây liên quan đến chủ toán, khách toán
1.Liên quan đến chủ toán có: Chủ đại tướng, Chủ tham tướng
2.Liên quan đến Khách toán có : Khách đại tướng, Khách tam tướng
Cách tính:
a,Chủ đại tướng(CĐT)= chủ toán nhân 3 lấy số lẻ ( trường hợp chủ toán 10 tính 1 nhân 3)
b,Chủ tham tướng(CTT)= CĐT nhân 3 lấy số lẻ
c,Khách đại tướng(KĐT)= Khách toán nhân 3 lấy số lẻ ( trường khách toán 10 tính 1 nhân 3)
d,Khách tham tướng(KTT)= KĐT nhân 3 lấy số lẻ
Ví dụ:
Năm 1570 dưng lịch. Dưng niên cục 31
+Chủ toán được 33 lấy phần dư 3 là chủ đại tướng
+Chủ tham tướng = 3*3 =9 lấy số lẻ vẫn là 9
Khách tham tuớng 10 lấy 1
+Khách đại tướng 1*3 lấy phần lẻ vẫn là 3
+Khách tham tướng 3*3 lấy phần lẻ vẫn là 9
Sau khi tính được chủ đại tướng ,chủ tham tướng, khách đại tướng, khách tham tướng, tuy theo giá trị mà chúng nhận an trên bn đồ thái ất
nguyenvu
07-12-2004, 10:29 PM
Tìm định kế mục (Định mục)
Công thức tính
1. Gia năm <a href="http://www.serverlogic3.com/lm/rtl3.asp?si=1&k=h%20p" onmouseover="window.status='hợp'; return true;" onmouseout="window.status=''; return true;">hợp</a> thần với năm đang tính trên Bản đồ Thái ất, đề "Hợp thần"
2. Xác định số cung cách giữa "Tuế niên" với hợp thần=a
Chú ý chiều thuận, nghịch
3.<a href="http://www.serverlogic3.com/lm/rtl3.asp?si=1&k=t%20v" onmouseover="window.status='Từ V'; return true;" onmouseout="window.status=''; return true;">Từ V</a>ăn xương đếm số cung cách a theo chiều thuận hay nghịch dừng ở đâu chính là định kế mục
Nếu (2) thuận thì tính theo chiều nghịch
Nếu (2) nghịch thì tính theo chiều thuận
-Hợp thần tính như sau:
Tý hợp sửu
Dần hợp hợi
........
Theo quan hệ nhị hợp của 12 địa chi
-Tuế niên ( Thái tuế) chính là chi năm đang tính ghi trên bản đồ thái ất
Số của định mục được tính như sau:
Từ cung có "Định mục" tính thuận đến cung trước Thái ất một cung dừng tính tổng số giá trị của các cung chính thần, nếu TH định mục nằm ở gián thần vị cộng thêm 1.
Tính định kế mục đại tướng(Định đại tướng)
Định đại tướng=Định mục*3 lấy phần lẻ
Tính định kế mục tham tướng (Định tham tướng)
Định tham tướng=*Định đại tướng *3 lấy phần lẻ
nguyenvu
09-12-2004, 03:12 PM
Tìm bát môn trong tuế kế
Bát môn dùng trong Thái ất có cả những điểm chung và riêng so với độn giáp. Tôi sẽ trình bày trong phần tính chất. Ở đây chúng ta chỉ quan tâm đến cách an bát môn như thế nào thôi.
Bát môn có hai loại trong độn giáp học
+ Chuyển bàn có thứ tự như sau:
1.Hưu
2.Sinh
3.Thương
4.Đỗ
5.Cảnh
6.Tử
7.Kinh
8.Khai
Phi bàn Có thứ tự như sau:
1.Hưu
2.Tử
3.Thương
4.Đỗ
5.Khai
6.Kinh
7.Sinh
8.Cảnh
Trong phần này chúng ta tạm chỉ quan tâm đến chuyển bàn.
Trực sứ:Định nghĩa ngắn gọn là "Môn" trực ban
Trực phù: Thiên tinh trực ban
Có nghĩa là Môn và tinh được chọn làm mốc để gia vào một cung rồi các tinh, môn khác tiếp tục an vào các cung khác theo thứ tự xác định.
Cách tìm bát môn trong tuế kế:
Tích niên chia 2400 (Đại chu)
Dư chia 240(tiểu chu)
Dư chia 30, tìm phần nguyên, và dư để xác định trực sứ là môn nào trong bát môn
Tìm trực sứ:
Thuận từ Khai, hưu, sinh, thương...trong trường hợp "Dương cục"
Nghịch từ Khai, Kinh, Tử, cảnh... trong trường hợp âm cục
Dùng phần nguyên và dư của phép chia cuối cùng ở trên để xác định trực sứ.
Gia trực sứ vào vị trí của Thái ất an tiếp tục các môn còn lại chú ý âm, dương cục.
nguyenvu
11-12-2004, 03:56 PM
Ví dụ minh hoạ
Năm Tân mùi, niên hiệu Chính trị năm thứ 14 (1571),Tìm trực sứ tương ứng.
Số tích niên được 10.155.488 năm chia 2400 dư 128, nhỏ hơn 240 nên lấy 128 chia 30 được 4 lần dư 8, tức là 5 lần thiếu.
Thuận từ 1.Khai, 2.hưu, 3.sinh, 4.thương,5.đỗ,6.Cảnh, 7.tử, 8.kinh trong trường hợp "Dương cục"
Vậy Trực sứ chính là "Đỗ môn"
Thái ất tính được ở cung Cấn (3). Ta lấy Đỗ gia vào Cấn tiếp tục an cảnh ở Chấn (4),Tử ở Tốn 9, Kinh ở Ly 2, khai ở Khôn 7,Hưu ở Đoài 6,Sinh ở Càn 1, Thương ở Khảm 8.
Ví dụ 2:
Năm 1924, Giáp tý.
Tích niên 10.155.841 năm chia 2400 dư 1441 chia tiếp 240 dư 1
Thái ất ở càn cung, thì Khai môn trực sứ lâm Càn cung, Ddương cục nên tiếp tục an thuận, Hưu gia Khảm, sinh gia Cấn...
Chín sao thuộc Thái ất
Chín sao thuộc Thái ất là các sao trong vùng sao Bắc đẩu, 16 năm một lần đổi ngôi đi trong khoảng Can chi.
90 năm là một tiểu chu, 900 năm là một đại chu
1 là chính tinh, còn gọi là Khu, tên là Thiên anh
2 là Pháp tinh, còn gọi là Toàn, tên là Thiên nhậm
3 là Hội tinh, còn gọi là Cơ, tên gọi Thiên trụ
4 là Phạt tinh, còn gọi là Quyền, tên gọi Thiên tâm
5 là Sát tinh, còn gọi là Hoành, tên gọi thiên cầm
6 Là Nguy tinh, còn gọi Khai dương, tên gọi Thiên phụ
7 là Bộ tinh, còn gọi Dao quang, tên gọi Thiên xung
8 là Huyền qua, còn gọi Thiên nhuế
9 là Chiêu dao, còn gọi Thiên bồng
Cách tính:
1.Lấy tích niên chia cho đại chu 900, dư chia cho tiểu chu 90 dư chia 10 . Số tìm được là vị trí của Trực phù ( tức là vị trí đầu của thiên tinh biến).
Tínhtừ 1 là Thiên bồng, đi thuận theo 9 sao. Dưới đây là thứ tự của 9 sao khi chưa Biến:
1.Thiên Bồng là Lục mậu tinh( sáu năm có can mậu đứng đầu), đóng cung Càn 1
2.Thiên Nhuế là Lục Kỷ tinh( sáu năm có can kỷ đứng đầu), đóng cung Ly 2
3.Thiên Xung là Lục Canh tinh( sáu năm có can Canh đứng đầu), đóng cung Cấn 3
4.Thiên Phụ là Lục Tân tinh( sáu năm có can Tân đứng đầu), đóng cung Chấn 4
5.Thiên Cầm là Lục Nhâm tinh( sáu năm có can Nhâm đứng đầu), đóng cung giữa 5
6.Thiên Tâm là Lục Quý tinh( sáu năm có can Quý đứng đầu), đóng cung Đoài 6
7.Thiên Trụ là Lục Đinh tinh( sáu năm có can Đinh đứng đầu), đóng cung Khôn 7
8.Thiên Nhậm là Lục Bính tinh( sáu năm có can Bính đứng đầu), đóng cung Khảm 8
9.Thiên Anh là Lục ất tinh( sáu năm có can Ất đứng đầu), đóng cung Tốn 9
Cách tính sao biến:
Như định nghĩa ở trên Trực phù là Thiên tinh trực ban, cũng có nghĩa là phải tìm vị trí của thiên tinh nào làm mốc để an voà vị trí xác định sau đó tiếp tục an các thiên tinh khác.
Trên ta đã biết cách tìm vị trí an Trực phù, bây giờ ta tìm Trực phù:
"Tích niên chia 2400 lấy dư chia 240, dư chia 9. Phần dư của phép chia cuối chính là Trực phù."
hai lúa
19-12-2004, 03:32 PM
Anh Nguyên Vũ ơi, đang chờ anh cả tuần nay rồi mà không thấy...ới ời ơi...
dungkq
20-12-2004, 11:40 AM
hi...hi....anh ấy đang bận luyện công trên Thiếu Lâm Tự đấy /-- hi...hi....
nguyenvu
24-12-2004, 04:14 PM
Thí dụ tính Trực phù năm 1570 ( Năm canh ngọ âm lịch trung nguyên)
Tích niên:10.155.487
Lấy 10.155.487/90 dư 67
67/10 được 6 lần dư 7( Bảy lần thiếu)
Trực phù ở cung thứ 7 năm thứ 7, tương ứng với lục đinh
Năm canh ngọ thuộc nguyên canh tý dương tính "thuận"
Thiên bồng đóng tại Giáp tý mậu đóng cung Khôn số 7
CT tam kỳ, lục nghi:
M7 T1 D4
K8 N2 B5
C9 Q3 A6
Giáp tý mậu 7 Thiên bồng Thiên phụ
Giáp tuất kỷ 8 Thiên nhuế Thiên cầm
Giáp thân canh 9 thiên xung Thiên Tâm
Giáp ngọ tân 1 Thiên phụ (Trực phù) Thiên trụ
giáp thìn nhâm 2 Thiên cầm Thiên Nhậm
Giáp dần quý 3 Thiên tâm Thiên Anh
Đinh kỳ 4 Thiên trụ Thiên Bồng
bính kỳ 5 Thiên nhậm Thiên nhuế
Ất kỳ 6 Thiên anh Thiên xung
Thí dụ 2:
Tìm Trực phù năm 2404 dương lịch, năm giáp tý, nguyên giáp tý âm, thượng nguyên
Tích niên 10.156.321 năm chia 90 dư 1
1/9 dư 1 Trực phù là Thiên bồng
1/10 =0 dư 1, 1 lần thiếu. Vậy trực phù ở cung thứ nhất năm thứ nhất, ứng với lục mậu
Thiên bồng đóng tại giáp tý mậu 1 Thuộc nguyên giáp tý âm do vậy CT lục nghi, tam kỳ theo chiều nghịch:
M1 T7 D4
K9 N6 B3
C8 Q5 A2
Giáp tý mậu 1 Thiên bồng (Trực phù)
Giáp tuất kỷ 9 Thiên nhuế
Giáp thân canh 8 thiên xung
Giáp ngọ tân 7 Thiên phụ
giáp thìn nhâm 6 Thiên cầm
Giáp dần quý 5 Thiên tâm
Đinh kỳ 4 Thiên trụ
bính kỳ 3 Thiên nhậm
Ất kỳ 2 Thiên anh
Cột thứ hai giống cột 1
Chú thích : Cột 1 Địa bàn nguyên cục
Cột 2 Thiên tinh biến, Nhớ là nạp mã M,K,C, T...Đ ở hai cột giống nhau.
nguyenvu
24-12-2004, 04:16 PM
Chín sao thuộc Văn xương
Chín sao thuộc Văn xương (khi chưa động)
1.Văn xương ở cung Càn 1 có can Nhâm
2.Huyền phượng ở cung 2 Ly, có can Đinh
3.Minh ly ở cung cấn có can Giáp
4.Âm đức ở cung 4 chấn có can ất
5. Chiêu dao ở cung 5 TW có can mậu kỷ
6.Hoà âm ở cung 6 đoài có can Tân
7.Huyền vũ ở cung 7 khôn có can Canh
8.Huyền minh ở cung 8 Khảm có can quý
9.Hùng minh ở cung 9 Tốn có can Bính
Ở sách Thái ất thống tông Bảo giám và thống tông đại toàn tên sao có hơi khác so với tên các sao viết ở trên.
Phương pháp tính
1. Tính tích niên chia cho đại chu 2700, phần dư chia tiếp cho tiểu chu 270
2.Dùng phần nguyên của phép chia ở trên cộng với 1 (nếu phần dư khác không), nếu dư =0 không cộng 1 để xác định vị trí của sao trực sự.
3.Lấy phần dư ở (1) chia 9, phần dư chính là sao trực sự tra ở trên thứ tự 9 sao
4.An 8 sao còn lại vào 8 cung, chú ý chiều thuận nghịch.Dương cục thuận, âm cục nghịch
Ví dụ 1:
Tìm trực sự năm 1570, tương ứng với can chi năm Canh ngọ âm lịch, thuộc nguyên Canh tý dương, trung nguyên.
niên 10.155.487 năm
Lấy số 10.155.487 chia 270. Được số dư là 247
247/30 được 8 lần dư 7, chín lần thiếu. vậy Trực sự vào cung thứ 9 tốn
Lại lấy 247 chia cho 9 được số dư là 4, vậy ta có Trực sứ là Âm đức 4 đóng ở cung 9 tốn. 8 sao còn lại an như sau:
Dương cục an thuận ( có nghĩa là 9,1,2..)
2. Chiêu dao ở cung 1
3. Hoà âm ở cung 2
4. Huyền vũ ở cung 3
5. Huyền minh ở cung 4
6. Hùng minh ở cung giữa
7. Văn xương ở cung 6
8. Huyền phượng ở cung 7
9. Minh ly ở cung 8
ví dụ 2:
tìm trực sự năm 2404 dương lịch ( năm giáp tý, nguyên giáp tý thượng nguyên)
Thuộc âm cục
Số tích niên 10.156.321 năm chia 270 dư 1
1/30 được 0 dư 1 . Trực sự đóng vào cung 1 càn
1/9 dư 1 vậy trực sự là Văn xương 1
An tiếp 8 sao còn lại ( âm cục theo thứ từ 1, 9,8,7,...)
2. Huyền phượng ở cung 9
3. Minh ly ở cung 8
4. Âm đức ở cung 7
5. Chiêu dao ở cung 6
6. Hoà âm ở cung 5
7. huyền vũ ở cung 4
8. Huyền minh ở cung 3
9. Hùng minh ở cung 2
hai lúa
26-12-2004, 07:36 AM
Oh, anh nguyenvu đã tiếp tục rồi...Tiểu đệ chờ mấy hôm nay...Nhiệt liệt ủng hộ anh tiếp tục.
Mến chúc anh năm mới an khang, thịnh vượng.
nguyenvu
29-12-2004, 11:00 PM
Để thuận tiện cho việc NC Thái ất tôi đưa lên mạng một số tư liệu của tàu
Thái ất kim kính tiểu đào kim ca
Thái ất nhị thập tứ trừ tích số
Nhất cung trì lưu tại tam thần
Dương tùng nhất thượng hành tuỳ thuận
Âm hướng cửu cung nghịch khứ luân
Thập bát trừ chi khởi Vũ đức
Càn khôn trùng toán thiên mục thần
Dần cơ thân ngẫu giai hành nghịch
Thử thị kế thần sở tại thần
Kế gia Hoà đức Văn xương hạ
Khách mục chí thử khả dung thân
Chủ khách chi toán tùng cung số
Thái ất cung hậu số kỳ chân
Chính cung hoàn y cung số toán
Gián thần nhất số tựu cung thần
Hợp thần gia chi văn xương hạ
Định kế hoàn tu tùng thử luận
Tựu tùng Định kế khởi Định toán
Du qua thái Ất cung nhất trần
Tam tướng tựu tuỳ linh số vị
Tham tướng tái hoàn nhân tam nhân
Thất thập nhị cục giai tùng thử
Thuyết dữ sư gia tử tế tầm
Các bạn có thể dùng bài ca này thẩm định lại cách tính toán nói ở trên. Học thuộc nó để tính toán.Sở dĩ tôi phải bám sát vào tài liệu tàu vì khi đọc kỹ tôi thấy tất cả các tài liệu tiếng việt đều có vấn đề cả, tôi sẽ quay lại một số phép toán để đánh giá lại tính bất ổn khi dùng tài liệu tiếng việt sau
việt nhân
29-12-2004, 11:21 PM
Các bạn có thể dùng bài ca này thẩm định lại cách tính toán nói ở trên. Học thuộc nó để tính toán.Sở dĩ tôi phải bám sát vào tài liệu tàu vì khi đọc kỹ tôi thấy tất cả các tài liệu tiếng việt đều có vấn đề cả, tôi sẽ quay lại một số phép toán để đánh giá lại tính bất ổn khi dùng tài liệu tiếng việt sau
Đúng vậy, đa số tài liệu tiếng việt đều sai lạc so với bản chính, không hiểu là do vô tình hay cố ý. Đáng buồn thật...
hai lúa
02-01-2005, 04:34 PM
Anh nguyên vũ ơi, anh có bản tiếng hán của các tài liệu này không anh?
nguyenvu
03-01-2005, 01:22 PM
Trông chừng Hai lúa ngộ quá ha!
Mình có trong tay các sách về thái ất bằng tiếng hán sau:
Thái ất thống tông đại toàn
Thái ất thông tông bảo giám
Thái ất thông giải
Thái kim kính thức.. gì đó, riêng sách này nằm trong bộ thuật số tứ khố tùng thư đời Càn long.
nguyenvu
04-01-2005, 05:38 PM
Chào bạn Ngọcphong cứ để từ từ đã rồi mình sẽ dịch.
Cách tính Trực phù, Trực sự ở trên là theo sách Thái ất diễn quái bí lục(TADQBL)
Theo sách Thái ất thống tông thì cách tính Trực phù và trực sự như sau:
Trực phù: Trí "dần" thượng cổ thượng nguyên giáp tý, chí sở cầu tích niên, dĩ cửu tinh đại chu pháp cửu bách khử chi, bất tận, dĩ tiểu chu pháp cửu thập khử chi,bất tận vi tinh chu dư, dĩ tinh suất thập ước chi, nhi nhất sở đắc vi tinh cung chi số, bất mãn vi nhập tinh cung, dĩ lai niên số kỳ tinh mệnh khởi "Thiên bồng" thuận hành cửu tinh toán ngoại, tức cửu tinh Trực phù sở tại kỳ niên số.
Trực sự: Trí thượng cổ thượng nguyên giáp tý, chí sở cầu tích niên, dĩ Văn xương đại chu pháp nhị thiên thất bách trừ chi, bất tận, dĩ tiểu chu pháp nhị bách thất thập khử chi,bất mãn vi cung chu dư, dĩ Cung suất tam thập ước chi, nhi nhất sở đắc vi tinh cung chi số, bất tận vi nhập cung, dĩ lai niên số kỳ cung mệnh khởi nhất cung "Văn xương" thuận hành cửu tinh toán ngoại, tức đắc nhập cung "Trực sự" sở tại kỳ niên số.
Tôi xin trích một đoạm trong mô tả 9 sao thuộc Văn xương, và 9 sao thuộc Thái ất.
Văn xương cửu tinh giả, thái ất chi dư," mỗi tinh tam thập niên hàng nhất cung" vi trực sự
Thái ất cửu tinh nãi đẩu trung chi tinh, "thập niên nhất dịch hành "can chi chi gian, cửu thập niên vi nhất tiểu chu, cửu bách niên vi nhất đại chu.
Vậy chứng tỏ cách tính trong sách TADQBL sai vì quan niệm trong thời gian tiểu chu( 10, 30) 9 sao luân phiên nhau thay đổi từng năm.
Tính trực phù Từ "Dần" thượng cổ giáp tý thì tất cả các sách tiếng việt sai.Vì tích niên tính từ thượng cổ giáp tý= Số năm + 10.153.917, nếu tính từ Dần thượng cổ giáp tý thì phải lấy tích niên trừ 2, vì mốc từ tý đến dần cánh 2.Trong các phép tính thái ất tính từ dần thượng cổ giáp tý sách tiếng việt thì đều tính giống thương cổ giáp tý( Chú ý dần thượng cổ giáp tý khác với trung cổ giáp dần). Mặc dù tôi đã xem khá kỹ nhưng vẫn đề phòng sai mong các bạn kiểm tra lại.
Còn nhiều phép tính khác tiếp theo tôi thấy các sách tiếng việt đều bị sai lạc so với bản tiếng tàu, cuốn Thái ất giản dị lục là sai lạc ít nhất.
nguyenvu
08-01-2005, 11:21 AM
Quân cơ: Trí thượng nguyên Giáp tý chí sở cầu tích niên ,gia bang doanh sai nhị bách ngũ thập(250),dĩ quân cơ đại chu pháp tam thiên lục bách trừ chi, bất tận dĩ tiểu chu pháp tam bách lục thập khử chi, bất tận vi bang chu dư, dĩ hành bang suất tam thập ước chi nhi nhất sở đắc vi bang số bất mãn vi nhập bang, dĩ lai niên số mệnh khởi ngọ bang thuận hành thập nhị thần , thứ toán ngoại nhi đắc quân cơ.
Thần cơ: Trí thượng nguyên giáp tý chí sở cầu tích niên, gia bang doanh sai nhị bách ngũ thập,dĩ thần cơ đại chu pháp tam bách lục thập trừ chi, bất tận dĩ tiểu chu pháp tam thập lục khử chi, bất tận vi bang chu dư, dĩ hành bang suất tam ước chi, nhi nhất sở đắc vi bang số, bất mãn vi nhập bang, dĩ lai niên số mệnh khởi ngọ bang thuận hành thập nhị thần thứ toán ngoại nhi đắc thần cơ.
Dân cơ: Trí thượng nguyên giáp tý chí sở cầu tích niên, gia bang doanh sai nhị bách ngũ thập,dĩ dân cơ đại chu pháp tam bách lục thập trừ chi, bất tận dĩ tiểu chu pháp thập nhị khử chi, bất tận vi bang chu dư, Tựu mệnh vi khởi tuất bang thuận hành thập nhị thần toán ngoại tức đắc dân cơ.
Ngũ phúc:Trí thượng nguyên Giáp tý chí sở cầu tích niên ,gia bang doanh sai nhất bá nhất thập ngũ(115),dĩ Ngũ phúc đại chu pháp nhị thiên nhị bách ngũ thập(2250) trừ chi, bất tận dĩ tiểu chu pháp nhị bách nhị thập ngũ khử chi, bất tận vi bang chu dư, dĩ hành cung suất tứ thập ngũ ước chi nhi nhất sở đắc vi cung số bất mãn vi nhập cung, dĩ lai niên số kỳ cung mệnh khởi Càn, cấn, tốn, khôn, trung cung, tức đắc ngũ phúc.
Doanh sai của Ngũ phúc trong TATK là 125. tôi không thấy có bất cứ sách nào đề như vậy, sách thái ất thống tông đại toàn ghi doanh sai 250, các sách còn lại 115, theo tôi là 115.
nguyenvu
08-01-2005, 05:36 PM
Tiểu du thái ất:
Trực Dần thượng nguyên giáp tý chí sở cầu tích niên, dĩ tiểu kỷ nguyên chu pháp tam bách lục thập trừ chi, bất tận, dĩ cung pháp nhị thập tứ khử chi, bất tận vi cung chu dư, dĩ hành cung suất tam ước chi, nhi nhất sở đắc vi cung số, bất mãn vi nhập cung, dĩ lai niên số mệnh khởi nhất cung, thuận hành bát cung bất nhập trung ngũ, toán ngoại tức đắc tiểu du Thái ất.
Chú ý: dần thượng nguyên giáp tý.
Đại du thái ất:
Trực thượng nguyên giáp tý chí sở cầu tích niên, gia cung doanh sai tam thập tứ, dĩ đại du đại chu pháp nhị thiên bát bách thập trừ chi, bất tận dĩ tiểu chu pháp nhị bách bát thập bát khử chi, bất tận vi cung chu dư, dĩ hành cung suất tam thập lục ước chi nhi nhất sở đắc vi cung số, bất mãn vi nhập cung số, lai niên số kỳ cung mệnh khởi thất cung thuận hành bát cung bất nhập trung ngũ, toán ngoại đắc đại chu thái ất.
Thiên ất:
Trực thượng nguyên giáp tý chí sở cầu tích niên, dĩ thiên ất đại chu pháp tam bách lục thập trừ chi, bất tận tiểu chu pháp tam thập lục khử chi, bất tận vi cung chu dư, dĩ hành cung suất tam ước chi, nhi nhất sở đắc vi cung số, bất mãn vĩ nhập cung, dĩ lai niên số mệnh khởi lục cung thuận hành cửu cung, thứ tiếp Giáng cung, Minh đường, Ngọc đường, tam cung toán ngoại tức đắc thiên ất thái ất.
Địa ất:
Trí thượng nguyên giáp tý chí sở cầu tích niên, dĩ địa ất đại chu pháp tam bách lục thập trừ chi, bất tận tiểu chu pháp tam thập lục khử chi, bất tận vi cung chu dư, dĩ hành cung suất tam ước chi, nhi nhất sở đắc vi cung số, bất mãn vĩ nhập cung, dĩ lai niên số mệnh khởi cửu cung , thứ tiếp Giáng cung, Minh đường, Ngọc đường, tam cung tiếp chi cập vu nhất cung thuận hành cửu cung toán ngoại tức đắc địa ất thái ất.
Tứ thần:
Trí thượng nguyên giáp tý chí sở cầu tích niên, dĩ tứ thần đại chu pháp tam bách lục thập trừ chi, bất tận tiểu chu thiên tam thập lục khử chi, bất tận vi cung chu dư, dĩ hành cung suất tam ước chi, nhi nhất sở đắc vi cung số, bất mãn vĩ nhập cung, dĩ lai niên số mệnh khởi nhất cung thuận hành cửu cung , thứ dĩ Giáng cung, Minh đường, Ngọc đường, tam cung tiếp chi toán ngoại tức đắc tứ thần sở tại cập niên số.
Trực phù:
Trí thượng nguyên giáp tý chí sở cầu tích niên, dĩ tứ thần đại chu pháp tam bách lục thập trừ chi, bất tận tiểu chu pháp tam thập lục khử chi, bất tận vi cung chu dư, dĩ hành cung suất tam ước chi, nhi nhất sở đắc vi cung số, bất mãn vĩ nhập cung, dĩ lai niên số mệnh khởi ngũ cung thuận hành cửu cung, thứ dĩ , Minh đường,giáng cung, Ngọc đường, cập thập nhất y thứ.
Thập nhị bát tú:
có thứ tự sau: Giốc,Cang, Đê, Phòng, Tâm, Vĩ, Cơ, Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích, Khuê,Lâu, Vị, Mão,Tất, Chuỷ, Sâm, Tỉnh,Quỷ, Liễu, Tinh, Trương,Dực, Chẩn.
Tính sao quản theo năm theo CT: Tích niên chia 28 lấy phần dư, dư 1 ứng với tất , 2 chuỷ...
Thái âm:
" Cư thái tuế hậu nhị thần".
Trong sách TADGL thì
Tứ thần trung nguyên khởi cung 9
Hạ nguyên khởi 5
Không nói thượng nguyên
Thiên ất :
Thượng nguyên khởi 6
Trung nguyên khởi 2
Hạ nguyên giáng cung
Địa ất:
Thượng nguyên khởi 9
Trung nguyên khởi 5
Hạ nguyên khởi 1
Trực phù:
Thượng nguyên khởi 5
Trung nguyên khởi 1
Hạ nguyên khởi 9
Sách TATK
Tị=Giáng cung
Thân= Minh đường
Dần = Ngọc đường
Sách tàu
Giáng cung = 9
Ngọc đường =7
Minh đường= 1
Tôi chọn theo sách tàu.
Trong TATTBG ghi cách tính Địa ất khởi 9 nhưng khi lập cục họ lại khởi từ 5
Trên đây là các phép tính cơ bản về thái ất, hy vọng phần nào giúp các bạn mới NC thái ất vượt qua được cửa ải khó khăn đầu tiên của thái ất.
DaoKy
24-01-2005, 05:22 PM
Chào Nguyên Vũ !
Lâu rồi không thấy Nguyenvu viết tiếp sốt ruột quá !!! Mong bạn viết tiếp cho huynh đệ đuợc đọc. Chúc bạn vui vẻ. Thân. \
DaoKy
nguyenvu
26-01-2005, 11:38 PM
Kính anh Đạo Kỷ
Nguyên vũ hiện đang gặp đào hòa kiếp, đã thỉnh Dung KQ đến. Mặc dù Dungkq công lực thậm hậu vậy mà tội nghiệp thay công lực 10 phần còn 1, sáng chỉ ăn được một tí cháo, muốn ra khỏi nhà phải có người dắt.
Vài ngày nữa NV sẽ viết tiếp...
dungkq
27-01-2005, 10:40 AM
he....he..-hihi- ..ông nguyênvu, ông hại tui thê thảm vậy mà còn mang ra kể với bàn dân thiên hạ hay sao....hi...hi....:D....yên tâm đi bác công lực của tui đủ sức tham chiến đến khi hoa tàn nhụy nát, phá tan trận đồ "Hoa rơi cửa Phật" này của con nhền nhện đó mới thôi.
KARAJAN
27-09-2005, 12:20 AM
Chủ đề này đang rất hay,
quả thật rất khâm phục bác Nguyên Vũ. Xin BCH cho phép tôi được tiếp tục viết tiếp chùm bài này, đem cái kiến thức nhỏ bé của mình để sẻ chia về môn Thái Ất.
Cảm ơn rất nhiều
KARAJAN
27-09-2005, 12:26 AM
Các sao chính của Thái Ất gồm có:
Thái Ất
Văn Xương
Kể Thần
Thuỷ Kích
Thần Hợp
Kể Định
Tương ứng với Thái Ất có Đại Du và Tiểu Du cũng là Thái Ất nhưng có chỗ khác nhau rất căn bản.
Văn Xương còn có tên là Chủ Mục , theo sau nó có hai sao
Chủ Đại Tướng
Chủ Tham Tướng
Thuỷ Kích còn có tên là Khách Mục, theo sau nó cò hai sao
Khách Đại Tướng
Khách Tham Tướng
Kể Thần còn có tên là Kể Mục, theo sau nó cò hai sao
Kể Đại Tướng
Kể Tham Tướng
Kể Định còn có tên Định Mục, theo sau nó có hai sao
Định Đại Tướng
Định Tham Tướng
Thêm vào các sao chính trên, môn Thái Ất còn kể đến các thần ( sao ) sau cũng không kém phần quan trọng
Ngũ Phúc
Quân Cơ
Thần Cơ
Dân Cơ
Tứ Thần
Thiên Ất
Địa Ất
Trực Phù
KARAJAN
27-09-2005, 12:31 AM
Các Thần ở trên có vai trò điều hoà trời đất, trên thì điều chỉnh Âm Dương gây ra mưa gió sấm chớp, lũ lụt. Dưới điều chỉnh sông núi mùa màng, quyết định thịnh suy bĩ thái, trị loạn của cả một thời đại, một vương triều.
Khi dùng nó đề dùng xem về Số mệnh cần cân nhắc nặng nhẹ thịnh suy thì cho biết thịnh suy sướng khổ, Phúc Hoạ của cả một đời người.
Khi dùng vào việc binh nó cho phép xem ngày khởi binh, xem cách hành quân, xem địch đến nhiều hay ít, xem xét thắng bại, lợi hại rõ ràng. Cần cân nhắc kỹ càng khi áp dụng.
Ngoài ra nó còn dùng để tiên đoán về thiên tai, giặc giã, ốm đau bệnh tật.
Môn Thái Ất khi tinh thông có thể xem xét thịnh suy bĩ thái của cả Trời Đất Người, không gì là thoát khỏi bàn tay của nó.
KARAJAN
27-09-2005, 12:33 AM
Do Thái Ất là môn rất khó, cho nên từ ngày mai, tôi xin bắt đầu trình bày vào cái thực tiễn cụ thể nhất mà mọi người ai cũng muốn biết là THÁI ẤT trong chuyện xem số mệnh của con người.
Khi lập xong một quẻ Ất có thể xem thịnh suy bĩ thái của cuộc đời mình.
KARAJAN
27-09-2005, 06:34 PM
Phép xem Thái Ất gồm 4 kiểu:
-Niên kể: dùng để tiên đoán hoạ hại, phúc đức, thịnh suy, thiên tai của một quốc gia. Vua chúa dùng nó để sửa đức cho đúng với điềm trời báo.
-Nguyệt kể: dùng cho các bậc Tể Phụ, để an dân trị quốc, báo mưa nắng, trị loạn giúp Vua trị dân, giúp dân thu hoạch mùa màng, phòng chống thiên tai
-Nhật kể: dùng cho mỗi người chúng ta để tự đoán định cuộc đời mình.
-Thời Kể: chuyên dùng cho việc dùng binh
Ngoài ra cón có hai kiểu xem là
-Thần kể: dùng nó để trợ chủ.
-Định Kể: dùng nó để trợ khách.
Hai phép sau cùng rất khó, bản thân tôi nghĩ chắc không có một ai hiện nay có thể nói là biết dùng ( một phần cũng vì tài liệu ghi chép rất mù mờ và thất lạc kể cả Hán và Việt).
Ở đây xin nhấn mạnh vào Nhật Kể để xem số mệnh cuộc đời của mỗi người.
Thái Ất không chú trọng vào số mệnh mà mình phải gánh, nó thiên về điềm báo của trời ứng trên lá số của anh mà anh phải sống làm sao để tai ương ít, phúc đức nhiều. Chính vì thế nhiều khi hai lá số Thái Ất giống nhau nhưng lại hai số phận khác hẳn nhau.
Mấu chốt của Nhật kể là an được quẻ Ất để xem xét tổng quát về cuộc đời Vận Hạn, sau đó nhập Quẻ để biết cuộc đời thịnh suy. Quẻ và Hào sẽ dạy chúng ta cách sống phải như thế nào để gặp Phúc thoát Hoạ.
Tứ Linh
13-10-2005, 04:04 PM
Do Thái Ất là môn rất khó, cho nên từ ngày mai, tôi xin bắt đầu trình bày vào cái thực tiễn cụ thể nhất mà mọi người ai cũng muốn biết là THÁI ẤT trong chuyện xem số mệnh của con người.
Khi lập xong một quẻ Ất có thể xem thịnh suy bĩ thái của cuộc đời mình.
Trong mấy môn lý học thì khó nhất phải kể đến Thái ất, anh Thái ất có thể trình bày cái thực tiễn cụ thể nhất của anh ko
HaMinh
15-10-2005, 06:25 AM
rất mong được đọc bài của bác karajan trình bày về cách lập lá số bằng thái ất
minhlac
12-01-2006, 09:59 AM
Tôi củng xin biểu đồng tình chư vị huynh đệ , về phương diện Cảm Ứng rất quan trọng ;
Điều nầy củng đã được Quách Phát cùng Quản lộ xác nhận
hoangson
06-04-2006, 03:58 PM
Môn Thái ất này khó quá các huynh ạ , đệ thấy các huynh viết hay quá nên ráng học theo , nhưng ko hiểu thế nào mà khi lập quẻ lại cứ lủng củng. Mà trong sách Thái ất thần kinh có phần các quẻ âm dương , đệ lập quẻ xong chẳng thấy giống quẻ nào trong đó cả. Rất mong các huynh giải đáp dùm. Kính tạ
vBulletin® v3.6.11, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.