PDA

View Full Version : Bùi Giáng - Thi sĩ 'điên và trí tuệ'


nguyen
11-10-2004, 08:10 PM
[align=justify:792dff3af5]Đã 6 năm từ khi Thi sĩ Bùi Giáng đã ra đi ... một thi sĩ tài hoa cuồng hận tuyệt trù vô ngã tử sinh trong cõi trần gian lãng đãng mù sương với trận cuồng viễn du nơi bình nguyên châu thổ...
Sinh thời và sau này, khi ông đã vĩnh viễn trở về với cát bụi, thơ ông vẫn còn là một bí ẩn cuồng loạn giữa muôn vàn tâm linh điên đảo trong chốn trần gian đầy cát bụi tân toan ...
Là thi sĩ , giảng viên triết học Phương Đông Đại Học Vạn Hạnh ngày nào, là tác giả của 'Tư Tưởng Hiện Đại', là dịch giả trác tuyệt của 'Hoàng Tử Bé' (Saint Exupéry) ... tất cả những cái đó hầu như đắm chìm vào CÁI ĐIÊN vĩ đại của ông ! một cái điên mà hậu thế hiện đại ít người dám bình luận !
Người ta chỉ bàng quan chiêm ngưỡng cái điên của ông để mong thấu hiểu một điều gì đó từ trong bí ẩn của cội nguồn vô tận mà ông không thể giải bày ! một điều gì đó như trong tận cùng của Vô ngã tử sinh chợt quay về tưởng niệm một chân trời 'cuồng si để sáng suốt' và trong sự tận cùng của cái cuồng si tư tưởng đó , ông đã nhìn lại về chính cái bản chất tồn tại của con người đang hiện hữu hôm nay:

Ngày sẽ hết tôi sẽ không ở lại
tôi sẽ đi và không biết đi đâu ...
(Phụng Hiến)
[/align:792dff3af5]

nguyen
11-10-2004, 09:00 PM
[align=justify:dea558735b]Ngày ông còn sinh thời, tôi có may mắn được vài lần diện kiến cùng ông tại nhà của anh Hoài, một người bà con của ông ở Gò Vấp. Có lúc ông tỉnh, có lúc ông say và cũng có lúc ông điên. Cũng có lúc tôi lang thang tìm ông nơi đầu đường xó chợ, quán rượu vỉa hè hay mấy ngôi chùa gần nơi ông cư ngụ.
Tôi tự nhận rằng mình hoàn toàn không hiểu gì về ông và thơ của ông. Tôi chỉ bị cuốn hút vào một cái dị thường nào đó trong thơ ca và triết học của ông. Những ngày được gặp và nói chuyện cùng ông, tôi có cái may mắn được có bản sao nhiều bài thơ do ông chép tay, viết vào lúc cuối đời và hình như cho đến giờ này cũng chưa được công bố ...

GIÀ NÊN NẾT

Già không nên nết già ôi !
mần răng mà sống giữa đời oái oăm !
Già ăn già nói cà lăm
già bê tha uống rượu đằm đìa ly
Già ngồi già đứng già đi
Già nằm duỗi cẳng vĩnh ly cuộc đời
Già nên nết đó già ôi !
Già về chín suối chào tôi già mừng ...[/align:dea558735b]

nguyen
12-10-2004, 01:18 PM
[align=justify:e0a303efb3]Một bài thơ đã xuất bản của Bùi Thi Sĩ

ĐỔ QUÁN

Thưa em từ bữa lạc đàng
đầu hai thứ tóc gió ngàn thổi tung
Nhớ em miệng đỏ vô cùng
hai môi khép mở một vùng cỏ hoa
Nhớ nghiêng ngửa dưới trăng ngà
Lối sương tố vọng canh gà sơ nguyên
Nhớ em anh rất có quyền
ngồi trên bãi rộng quàng xiên vẽ hình
Bốn bên đổ quán xiêu đình
ba bờ đờ đẫn ...
... một mình anh đi .[/align:e0a303efb3]

dungkq
12-10-2004, 08:15 PM
Ranh giới giữa người điên và vĩ nhân khó mà nhận biết rõ được, chỉ khi người điên chết rồi mới thấy họ là vĩ nhân.....hi...hi.....:D anh Nguyên thật là tài hoa đấy --g--

nguyen
12-10-2004, 11:41 PM
[align=justify:b39c2e148b]Một bài thơ của Bùi Thi Sĩ , hiện đang được minh họa bằng thư pháp của Bùi Hiến (anh chú bác của Bùi Giáng) tại Quán cà phê Cát Đằng, Trần Quang Khải, Sài Gòn.

À ơi ! con ngủ cho ngoan
để mẹ đi chợ dặm đàng còn xa.
Mua cho con một con gà
về nuôi với lũ vịt nhà cho vui.
Mua cho con một đười ươi
về nhà nó nói nó cười liên miên.
Mua cho con một nỗi niềm
Vui thì ắt có !
buồn phiền ắt không ![/align:b39c2e148b]

nguyen
12-10-2004, 11:53 PM
[align=justify:a7b087bb92]Sinh thời Bùi Giáng rất yêu mến nhà thơ Phạm Thiên Thư , tức là Thích Tuệ Sĩ. Tác giả bài thơ nổi tiếng : 'ngày xưa có gã từ quan ... lên non tìm động hoa vàng thiên thai ...'
Xin trân trọng giới thiệu bài viết của ông về Tuệ Sĩ

ĐI VÀO CÕI THƠ TUỆ SĨ
Bùi Giáng

Tuệ Sĩ một vị sư. Ông viết văn quá nghiêm túc, những sở tri của ông về Phật học quả thật quảng bác vô cùng. Thấy ông vẻ người khắc khổ, không ai ngờ rằng linh hồn kia còn ẩn một nguồn thơ thâm viễn u u.... Một bữa ông đọc cho tôi nghe hai câu thơ chữ Hán của ông :
Thâm dạ phong phiêu nghiệp ảnh tùy
Hiện tiền vị liễu lạc hoa phi
Ông bảo làm sao tiếp cho hai câu để nên một bài tứ tuyệt. Tôi đề nghị với ông nên nhờ ni cô Trí Hải tiếp giùm. Ông ngượng nghịu bảo tôi đừng nên rỡn đùa như thế. Vậy tôi xin lai rai thử viết :
Thâm dạ phong phiêu nghiệp ảnh tùy
Hiện tiền vị liễu lạc hoa phi
Phiêu bồng tâm sự tân toan lệ
Trí Hải đa tàm trúc loạn ty
Và xin ông chả nên lấy thế làm bực mình.
Nhưng ai có ngờ đâu nhà sư kín đáo e dè kia, không hề bao giờ có vướng lụy, lại còn mang một nguồn thơ Việt phi phàm? Một bài thơ "Không đề" của ông đủ khiến ta khiếp vía mất ăn mất ngủ :

Ðôi mắt ướt tuổi vàng khung trời hội cũ
Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang
Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ
Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn
Mới nghe bốn câu thôi, tôi đã cảm thấy lạnh buốt linh hồn, tê cóng cả cõi dạ.
Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Ðỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan
Cười với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng
Ðếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ
Bụi đường dài gót mỏi đi quanh
Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ
Suối nguồn xa ngược nước xuôi ngàn
Tôi hoảng vía đề nghị : Ðại Sư nên gác bỏ viết sách đi. Và làm thơ tiếp nhiều cho, Nếu không thì nền thi ca Việt mất đi một thiên tài quá lớn.
Ông đáp : - Ðể về hỏi lại cô Trí Hải xem có đúng như lời thế chăng.

Ðôi mắt ướt tuổi vàng
Cung trời
Hội cũ
Xin xuống giòng thư thả như thế. Ắt nhìn thấy chất trang trọng dị thường của hoài niệm. Hoài niệm gì? - Cung trời hội cũ.
Một hội đạp thanh? Một hội nao nức? - "Giờ nao nức của một thời trẻ dại?".

Ðôi mắt ướt tuổi vàng khung trời hội cũ...
Mở lời ra, nguồn thơ trực nhập vào trung tâm cơn mộng chiêm niệm. Ðầy đủ hết mọi yếu tố bát ngát : một cung trời xán lạn bao la, một hội cũ xao xuyến, một tuổi vàng long lanh.... Một đôi mắt ướt ngậm ngùi của hiện tại.
Nhưng mạch thơ đi ngầm. Tiết nhịp âm thầm nhiếp dẫn. Thi sĩ không cần tới một hình dung từ nào cả, vẫn nói được hết mọi người đều "phải nói" với mọi người "muốn nghe" với riêng mình "không thiết chi chuyện nói".

Người thi sĩ xuất chúng xuất thần thường có phong thái khác thường đó. Họ nói tất ít mà nói rất nhiều. Họ nói rất nhiều mà chung quy hồ như chẳng thấy gì hết. Họ nói cho họ, mà như nói hết cho mọi người. Nói cho mọi người mà cơ hồ chẳng bận tâm gì tới chuyện thiên hạ nghe hay chẳng nghe. Nỗi vui, nỗi buồn của họ, dường như chẳng phi giống lối vui buồn của chúng ta. Do đó chúng ta trách móc họ một cách lệch lạc hết cả (par manque de justice interne).

Trong một cuộc vui, ta hỏi họ vài điều. Họ lơ đễnh thờ ơ, ta tưởng họ kiêu bạc. Trong lúc mọi người đang gào khóc giữa đám tang, họ phiêu nhiên đi qua, trông có vẻ như mỉm cười, niêm hoa vi tiếu. Ta tưởng họ tàn nhẫn thô bạo.

Vua Gia Long ngày xưa đã từng lấy làm quái dị về thái độ Nguyễn Du :

"Trẫm dùng người, không phân biệt kẻ Nam kẻ Bắc. Ai có tài thì trẫm trọng dụng (... ...). Cớ sao khanh lại u sầu ít nói suốt năm như thế?".

Ông vua kia lấy làm lạ là phải lẽ lắm, hợp với lương tri thói thường thiên hạ lắm. Ông không thể hiểu vì sao vị di thần kia cứ miên man như nằm trong cõi mộng thần di, hồn dịch!

Vua đã ban cho chan hòa mưa móc, lộc trọng quyền cao đặc ân thâm hậu như thế, cớ sao Liệp Hộ chưa vừa lòng, vẫn chưa cứ thả mộng chạy lang thang về chân trời hướng khác.

Ðáp : Ấy chính bởi đôi mắt nhìn đây mà thấy những đâu đâu.

Ðôi mắt ướt tuổi vàng
Khung trời hội cũ
Ðôi mắt ướt? Ðôi mắt của ai? Vì sao ướt? Vì lệ trào, hay là vì quá long lanh?
Thi sĩ không nói rõ. Ấy là giữ một khoảng trống vắng lặng phóng nhiệm cho thơ.

Tha hồ chúng ta tự do nghĩ hai ba lối. Hoặc là đôi mắt thi nhân ướt trong hiện tại vì nhớ nhung một trời hội cũ. Hoặc là đôi mắt giai nhân nào long lanh dịu mật như nước suối chan hòa, soi bóng một khung trời hội cũ bất tuyệt nào, mà ngày nay tại hạ đã đánh mất rồi chăng?

"Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang"
Áo nào màu xanh? Màu xanh màu chàm của cô gái Mán gái Mường, gái núi nào xưa kia băng rừng và thi nhân đã ngẫu nhiên một lần nhìn đắm đuối?
Tôi nói không sai sự thật mấy đâu. Vì Tuệ Sỹ vốn xưa kia ở Lào. Cha mẹ ông kiều cư trên đất Thượng Lào Trung Việt. Bà mẹ ông thỉnh thoảng cũng trở về Sài Gòn tới chùa viếng ông đem quà cho ông một đôi dép riêng biệt, một tấm khăn quàng riêng tây.

Ðôi mắt ướt tuổi vàng
Khung trời hội cũ
Áo màu xanh
Không xanh mãi
Trên đồi hoang
Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ.
Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn
Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ ?
Mình là thân Bồ tát, quanh năm kinh kệ trai chay, thế sao bỗng nhiên một phút vội vã lại dám làm thân du thủ ? Dám gác bỏ kệ kinh? Dám mở cuộc thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn?

Phải có nhìn thấy khuôn mặt khắc khổ chân tu của Tuệ Sỹ, mới kinh hoàng vì lời nói thăm thẩm đơn sơ nọ. Lời nói như ngân lên từ đáy sâu linh hồn tiền kiếp, từ một quê hương trên thượng du bao la rừng núi gió sương canh chiều nguyệt rung rinh trong đêm lạnh.

Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Ðỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan
Cười với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng
Mối tình rộng thả suốt biển non im lìm lạnh lẽo. Một hạt muối vẫn chưa tan. Một nếp u ẩn của lòng mình bơ vơ không gột rửa.
Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Ðỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan
Ta tưởng như nghe ra "cao cách điệu" bi hùng của một Liệp Hộ, một Nerval, một chỗ trầm thanh nhất trong cung bậc Nietzche.
Thy nhân đã mấy phen ngồi ngó trăng tàn? Ngồi trên một đỉnh đá? Bốn bề rừng thiêng giăng rộng ngút ngàn màu trăng xanh tiếp giáp tới chân trời xa xuôi đại hải?

Ðỉnh đá và hạt muối là hai chốn kết tụ tinh thể của núi và biển. Ðỉnh đá quy tụ về mọi hương màu trời mây rừng rú. Hạt muối chứa chất cái lượng hải hàm của trùng dương. Ðó là cái bất tận của tâm tình dừng sững tại giữa tuết nguyệt phiêu du :

Cười với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng
Một tiếng "buồn chăng" lơ lửng nửa như chất vấn, nửa như ngậm ngùi ta thán, dìu về cả một khúc tâm thanh đoạn trường :
Sen tàn cúc lại nở hoa
Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân
Ðếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ
Bụi đường dài gót mỏi đi quanh
Tiết nhịp lời thơ lại biến đổi :
Ðếm tóc bạc
tuổi đời
chưa đủ
Bụi
đường dài
Gót mỏi
đi quanh

Tiết điệu rạc rời như gót mỏi đi quanh. Một tuổi đời chưa đủ ? Một tuổi xuân chưa vừa? Một tuổi vàng sớm chấm dứt? Một tuổi "đá" sớm từ giã mọi yêu thương?
Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ
Suối nguồn xa
Ngược nước
Xuôi ngàn
Bài thơ dừng lại. Dư âm bất tuyệt kéo dài trong đềm lữ thư khép mình trong bốn bức tường với nhạt nhòa ủ rũ ngục tù.
Chỉ một bài thơ, Tuệ Sỹ đã trùm lấp hết chân trời mới cũ Ðường Thi Trung Hoa tới Siêu Thực Tây Phương./.

Bùi Giáng[/align:a7b087bb92]

nguyen
12-10-2004, 11:54 PM
ĐI VÀO CÕI THƠ TUỆ SĨ
Bùi Giáng

nguyen
13-10-2004, 05:20 PM
Xin trân trọng giới thiệu một số bài thơ của Bùi Giáng trong cảm đề 'Khung Cửa Hẹp' của nhà văn Pháp: André Gide

XUÂN ALISA

Em nằm với lá trong cây
bữa hôm nay mộng thấy ngày hôm qua
Môi cười ở cuối sân ga
phố nào cố quận xưa là tiễn nhau
Lệ vàng xanh mắt mai sau
chùm bông tuyết mỏng pha màu vĩnh ly

THU JULIET

Đào nguyên mù mịt mưa tuôn
Em sầu tố nữ, em buồn tiên nga
Ta về ngóng lại mưa sa
Giọt dài ly biệt nghe ra giọng chào

****

Nguyên từ đức dũng có thừa
Âm thanh vội tạc giữa mùa hoài trông
Ngày mai cá sóng phiêu bồng
Ngàn trăng ngậm bóng sương đồng ra đi ...

work07
13-10-2004, 05:41 PM
Work07 đã xoá bớt bài post trùng về Thi Sĩ Bùi Giáng theo yêu cầu của anh Nguyen

Kính

work07

Chính Ấn
13-10-2004, 08:53 PM
Anh nguyên cũng là một kỳ tài, danh vang thiên hạ vậy. Nhìn khuôn mặt anh qua yahoo messenger thấy vầng trán cao đẹp nên đoán đại như vậy. Tuy nhiên, trên vầng trán anh hình như có vết khuyết hãm, là dấu hiệu khắc mẹ từ rất sớm. Em nhìn qua webcam, không thấy rõ được cho lắm...
!`_

nguyen
14-10-2004, 12:04 PM
[align=justify:bcb64dd409]Xin chào Chính Ấn Đại Hiệp ! Trang chủ Quảng Nam Sơn Trang.

Tại hạ rất ngưỡng mộ trang chủ vì hiến thân cho sự nghiệp nghiên cứu võ học nên chấp nhận hy sinh tự thiến để sáng chế ra công phu 'Chúng Thủy Triều Đông' nhằm khắc chế với 'Hấp Tinh Đại Pháp' của bọn Song Hao Ma Nữ để góp phần tiêu diệt bọn hắc đạo, mang lại thái bình cho võ lâm thiên hạ !
Ôi ! nghĩa cử đó thật là đáng quý lắm thay ! công đức vô bờ bến ! tại hạ xin thay mặt cho Đừng Kéo Quần chưởng môn cùng toàn thể võ lâm hôm nay thành tâm xin ghi nhận công ơn trời biển này và xin gởi lời an ủi vô biên đến đại hiệp. -hihi-
À ! trên trán của tại hạ có vết thẹo nhỏ là do hồi năm 14 tuổi tại hạ đá banh nên đã lãnh thẹo. Lúc đó khi tại hạ dẫn bóng vào khu vực cấm địa của đối phương thì húc phải một chiếc ba gác chở củi của bọn Không Kiếp Thần Ma nên cái trán bị lãnh thẹo. May thay nhờ hồng phúc của đại hiệp nên cũng không có sao, chỉ để lại một cái thẹo nho nhỏ.[/align:bcb64dd409]

DaoKy
18-10-2004, 12:19 PM
Bùi Giáng

Bùi Giáng - Tiểu sử tự ghi




1926 - được bà mẹ đẻ ra đời



1928 - bị té bể trán, vết sẹo còn nguyên kỷ niệm,hai năm trời chết đi sống lại



1933 - bắt đầu đi học a, b, c... trường làng tại Thanh Châu với Thầy Cù Đình Qúy



1936 - học trường Bảo An với thầy Lê Trí Viễn



1939 - ra Huế học tư thục với những thầy Cao Xuân Huy, Trần Đình Đàn, Hoài Thanh Nguyễn đức Nguyên, Đào duy Anh, vân vân



1940 - về Quảng Nam chăn bò



1942 - trở ra Huế, vì nhớ nhung gái Huế



1949 - nhập ngũ , bộ đội công binh. Hai năm sau giải ngũ



1952 - vào Sài gòn, 1955 (57) khởi sự viết về Nguyễn Du và một vài nhận xét về Truyện Kiều và một vài nhận xét về Bà Huyền Thanh Quang, một vài nhận xét về Chinh Phụ Ngâm ...(TÂN VIỆT xuất bản)



1957 - TÂN VIỆT xuất bản :giảng luận về Tản Đà Nguyên Khắc Hiếu, giảng luận về Chú Mạnh Trinh, giảng luận về Tôn Tho Trường và Phan Văn Trì



1962
Tập thơ Mưa Nguồn
Tư Tưởng Hiện Đại



1963
Lá Hoa Cồn (thơ)
Ngân Thu Rớt Hột (thơ)
Màu Hoa Trên Ngàn (thơ)
Martin Heidegger và Tư Tưởng Hiện Đại (hai tập) (do đứa em ..)



1965 - nhà cháy mất trụi bản thảo



In vội vàng Sa Mạc Phát Tiết (An Tiêm)



Dialogue (viết Avantpropos (viết giúp cho Nhất Hạnh, Lá Bối) và Letre à René char) (Lá Bối in)



Sa Mạc Trường Ca (An Tiêm in bản)



1968 - 68



Dịch Martin Heidegger Erlauteninger gu Heidergger dich. Giảng giải về thơ.



(Lời, Cố Quận (An Tiêm) Lễ Hội Tháng Ba) (Quế sơn Võ Tánh)



Con Đường Ngã Ba (An Tiêm)
Bài Ca Quần Đạo (Nguyễn Đình Vương)



1969 - Bắt đầu điên rực rỡ



1970



1. Lang Thang Du hành Lục Tỉnh (Khách sạn Long xuyên Bà Chủ cho ở đầy đủ tiện nghi không lấy tiền)



2. Gái Châu Đốc Thương yêu và Gái Long Xuyên Yêu dấu



3. Gái Chợ Lớn Khiến bị bịnh lậu (bịnh hoa liễu)



1971 - 75 - 93



Điên rồ lừng lẫy chết đi sống lại vẻ vang



Rong chơi như hài nhi (con nít)



Được gia đình ông Phó Chủ Tịch (482) Lê Quang Định, Hội Đồng Thành Phố đối xử thơ mộng thênh.



Kính dâng Kim Thúy, Kim Hồng, Kim Hoa, đôi lời rốt cuộc.....



Bình sinh mộng tưởng vấp phải niềm thương yêu của Kim Cương Nương Tử, Hà Thanh Cố Nương và Mẫu Thân Phùng Khánh (tức Trí Hải Ni Cô)



Do đâu mà ra được như thế ?



Đáp: Có lẽ đầu tiên kỳ tuyệt là do ân nghĩa bốn bề thiên hạ đi về tập họp tại Già Lam, Vạn Hạnh và Long Huê và Tịnh Xá Trung Tâm và Pháp Vân và xiết bao Chùa Chiền Miền Nam nước Việt, không biết nói sao cho hết.



22-8-93

Sưu tầm

nguyen
18-10-2004, 12:39 PM
Đa tạ ! đa tạ Đạo Kỵ tiên sinh ... --g--

nguyen
22-10-2004, 06:43 PM
MỘT SỐ CÂU VÀ ĐOẠN THƠ CỦA BÙI THI SĨ ĐƯỢC ƯA THÍCH

Mộng lay lắt ghé đêm kề
chiêm bao phiến hoặc lối về tồn sinh
Ngửa ngang gió lá trong mình
cánh chim khép mở mảnh hình hài suông
Trổ bông là nụ môi hường
hé răng là để não nường đuốc hoa
Nội đồng cỏ mọc tháng ba
rừng cô tịch trút nước pha phôi nguồn
Vai ngần với tóc xanh buông
dựng càn khôn giữa loạn cuồng si mê ....
Đổ xiêu tồn hoạt ê chề
đẫm khăn hồng lệ khóc Tề Tuyên Vương
Ngậm ngùi sầu mộng Kim Cương ...
-----------
Én đầu Xuân, tuyết đầu Đông
rừng cô tịnh ngóng nội đồng trổ hoa
-----------
Ngày về sum họp quê khơi
xin chàng hãy nhớ ai người dưới kia
Tương giao để hận chia lìa
bờ xanh gió thổi đầm đìa lệ em
-----------
Em về mấy thế kỷ sau
nhìn trăng có thấy nguyên màu ấy không?
Ta đi còn gởi đôi dòng
Lá rơi có dội ở trong sương mù
-----------
Con chim mang lá về trời
rừng ong rót mật lại đời nhân gian
Tôi về mây gió trong thân
tìm Xuân tinh thể chịu phân ly rồi
Đầu khe núi ngủ yên đồi
liễu ru thành tượng trong lời ra đi
-----------
Trận cuồng tận diệt tử lâm
rung rinh trái đỏ chín bầm hoa tai
Mộng trường rớt hột Như Lai
tình dâng ý loạn lạc mai cuối mùa
Khói vàng lễ hội già nua
tượng hoàng hậu đẹp vì vua điêu tàn
Thượng thừa chín chục thiều quang
vành môi bé chị thu ban bao giờ ?
-----------