View Full Version : Thơ Lê Thánh Tông
banmai
28-05-2006, 11:57 AM
Lê Thánh Tông (25/7/1442-3/3/1497)
Là vị vua thứ năm của triều Lê, là con thứ 4 của vua Lê Thái Tông và bà Tiệp dư Ngô Thị Ngọc Dao. Vốn bà Tiệp Dư có mang Tư Thành bị bà phi Nguyễn Thị Anh mưu hại. Nguyễn Trãi và vợ là Nguyễn Thị Lộ đã cứu giúp và đưa đi lánh nạn, sinh ra ông ở chùa Huy Văn (quận Đống Đa, Hà Nội). Thuở nhỏ Tư Thành sống ngoài cung, 4 tuổi được bà Nguyễn Thị Anh (lúc ấy là nhiếp chính cho vua Lê Thánh Tông) đón về phong vương, cho học hành cùng các thân vương. Cuối năm 1459, Nghi Dân cùng phe đảng giết chết mẹ con Nhân Tông đoạt ngôi vua. Giữa năm 1460, triều thần làm chính biến phế Nghi Dân lập Tư Thành. Ông lên ngôi năm 38 tuổi, đặt niên hiệu là Quang Thuận (1460-1469) và Hồng Đức (1470-1497). Sử gia đời sau coi Thánh Tông là vị vua "tư trời cao siêu, anh minh quyết đoán, có hùng tài đại lược" (Vũ Quỳnh). Lê Thánh Tông là người yêu thơ văn, ông đã đề xướng các cuộc xướng họa cung đình, triệu tập 28 văn thần tạo thành tao đàn nhị thập bát tú. Ông là một nhà vua anh minh, có nhiều cuộc cải cách cả về chính trị lẫn văn hóa đánh dấu một giai đoạn phát triển rực rỡ của đất nước.
banmai
28-05-2006, 12:02 PM
Đề Miếu Bà
Nghi ngút đầu nghềng toả khói hương
Miếu ai như miếu vợ chàng Trương
Ngọn đèn dầu tắt đừng nghe trẻ
Làn nước chi cho lụy đến nàng
Chứng quả có đôi vừng nhật nguyệt
Giải oan chi mượn đến đàn tràng
Qua đây mới biết nguồn cơn ấy
Khá trách chàng Trương khéo phủ phàng
Chú Thích: Tích sự bà Trương
Bên giòng sông Hoàng Giang (nay thuộc tỉnh Hà Nam) có một miếu của bà Trương. Tục truyền bà Trương là một giai nhân gả cho họ Trương. Lấy nhau được nửa năm thì chàng Trương nhập ngũ chống giặc bắc khi vợ mới có thai vài tháng. Nàng sanh được một đứa con đặt tên là Đản.
Ngày qua đêm lại, chồng nàng vẫn miệt mài ngoài biên giớị Dưới ánh đèn đêm chợp choàng, nàng chỉ vào bóng mình trên vách tường để trả lời câu hỏi ngây thơ của Đản "cha con đâủ". Dần rồi đứa trẻ tưởng bóng đêm là cha nó.
Khi người chồng trở về, đứa con không nhận chàng là cha mà cứ la "ông không phải là cha tôi". Oan nghiệp cho nàng Trương, chồng nàng tưởng nàng đã ngoại dâm khi chàng không có ở nhà nên đã nghi kỵ đay nghiến hành hạ nàng. Chịu không nổi sự nghen tuông oan ức, nàng gieo mình xuống sông Hoàng Giang tự vẫn.
Một đêm kia, chàng Trương ngồi chơi với con dưới ánh đèn thì đứa nhỏ tự nhiên vui mừng chỉ vào bóng đêm mà réo "cha tôi về kià". Lúc đó chàng mới biết đã vu oán cho người vợ trung thành, đáng thương. Để chuộc tội với người vợ qúa cố, chàng lập miếu thờ nàng bên giòng sông Hoàng Giang . Sự tiết trinh oan ức của nàng Trương đã động lòng thánh hoàng và ngài đề bài thơ trên lưu truyền cho đến naỵ
banmai
28-05-2006, 12:10 PM
Vua Lê Thánh Tôn ngồi trên ngai vàng nguy nga vương giả nhưng tâm hồn của ngài vẫn là một hồn thơ rất dễ rung động trước những tiểu cảnh thiên nhiên của trời đất. Ngắm nhìn một con cóc trong hang động, ngài đã để lại bốn câu thơ bất hủ sau:
Con Cóc
Thơ nôm của vua Lê Thánh Tôn
Bác mẹ sinh ra vốn áo sồi (1)
Chốn nghiêm(2), thăm thẳm một mình ngồi
Nghiến răng ba cái nghiêng trời động(3)
Tắc lưỡi vài hồi chúng kiến lui(4).
(có bản chép câu 3, 4 như sau)
Tép miệng năm ba con kiến gió
Nghiến răng chuyển động bốn phương trờị
Chú Thích:
(1). Áo sồi - áo dệt bằng loại tơ xấu hạng có nhiều mấu
(2). Chốn nghiêm - chốn nghiêm trang như cung đường, điện vua (hang cóc).
(3). Nghiến răng - Khẩu truyền trong dân gian là mỗi khi cóc nghiến răng là điềm trời sắp có giông bão... cũng như kiến kéo vào nhà trước hurricane season.
(4) - Cóc thè lưỡi ăn kiến
Thằng Mõ
Mõ này cả tiếng lại dài hơi,
Mẫn cán (1) ra tay chẳng phải chơị
Mộc đạc (2) vang lừng trong bốn cõi,
Kim thanh (3) rền-rĩ khắp đòi nơi (4)
Trẻ già chốn chốn đều nghe lệnh,
Làng nước ai ai phải cứ lờị
Trên dưới quyền hành tay cắt đặt,
Một mình một chiếu thảnh thơi ngồị
Chú Thích
(1). Mẫn cán: Nhanh nhẹn, giỏi dang
(2). Mộc đạc: Mõ băng gỗ
(3). Kim thanh: tiếng kêu như tiếng lọai kim (đồng, vàng) (4). Đòi nơi: nhiều nơi, đòi là chữ cổ, có nghĩa là nhiềụ
Đạo Làm Vua
Đạo lớn đế vương nghĩ đã tinh
Thương yêu dân chúng kính trời xanh
Tìm tòi kế sách xây đời thịnh
Bỏ hẳn chơi bời giữ nếp thanh
Cân nhắc anh tài phô đức đẹp
Chăm lo võ bị trọng quyền binh
Điều hoà muôn việc theo mùa tiết
Khắp chốn hân hoan hưởng thái bình
banmai
28-05-2006, 12:22 PM
Năm 1468, vào dịp mùa xuân, năm Quang Thuận thứ 9, đời vua Lê Thánh Tông - cháu nội của Lê Lợi - đưa quân đi tuần ở vùng biển Đông Bắc, có dừng thuyền ở chân núi Truyền Đăng, phía giáp với Vịnh Hạ Long, để uống rượu ngâm thợ
Xúc động trước cảnh đẹp sơn thủy hữu tình của thiên nhiên, nhà thơ - nhà vua Lê Thánh Tông đã cho khắc một bài thơ lên vách đá tạm dịch như sau: Núi Bài Thơ - dịch
Nước lớn mênh mông, trăm sông chầu vào
Núi non, la liệt rải rác như quân cờ, vách đá liền trời
Có tráng trí, nhưng lúc mới dựng nghiệp vẫn theo người, như quẻ Hàm hào cửu tam (đã định)
Nay một tay mặc sức tung hoành, quyền uy như thần gió
Phía bắc, bọn giặc giã như hùm beo đã dẹp yên
Vùng biển phía đông, khói chiến tranh đã tắt
Muôn thuở trời Nam, non sông bền vững
Bây giờ chính là lúc giảm việc võ, tu sửa việc văn.
Bài thơ này được khắc trên một vách đá khá phẳng, cách mặt đất chừng 2,5 m, gồm 56 chữ Hán, khắc liền một mạch, không phân câu như hiện nay ta chép lạị Trong 56 chữ trên có 21 chữ đã mờ hẳn, không thể đọc nổi, những chữ còn lại rất mờ. Trước phần thơ có phần lạc khoản (đề tựa) gồm 49 chữ, cũng bị phân hóa gần như hoàn toàn. May mắn, bài thơ trên có chép trong thư tịch cổ, nên đó chính là chỗ dựa của các nhà nghiên cứụ
261 năm sau, vào năm 1729 chúa An đô vương Trịnh Cương, một nhà thơ có tiếng thời Lê - Trịnh, cũng đem quân đi tuần qua đâỵ Ông cho đóng quân đồn trú dưới chân núi Truyền Đăng. Đọc thấy bài thơ của vua Lê, chúa Trịnh bèn họa lại bằng một bài thốt ngôn bát cú, lấy theo vận "yên" của bài trước, dùng lại 4 chữ "thiên" "quyền" "yêu" niên" trong bài của vua Lệ
Bản dịch thơ như sau:
Biển rộng mênh mang, nước dâng đầy
Núi chìm xuống nước, nước tràn mây
Bàn tay tạo hóa sao khéo dựng
Cảnh đẹp thần tiên một chốn nàỵ
Mùi tanh giặc thác còn đâu đó
Cỏ hoa sương khói vẫn còn đây
Ba quân tướng sĩ đều vui vẽ
Bữa tiệc biển khơi chén rượu đầỵ
(Bản dịch của Hào Minh)<SCRIPT><!--D(["mb","
Tự Thuật
Ngũ thập niên hoa thất xích khu
Cương trường như thiết khước thành nhu
Phong xuy vọng ngoại hoàng hoa tạ
Lộ ấp đình tiền lục liễu cù
Bích hán vọng cùng vân diểu diểu \n
Hoàng lương mộng tỉnh dạ du du
Bồng lai sơn thượng âm dung đoạn
Băng ngọc u hồn nhập mộng vô
Bản dịch:
Tấm thân bảy thước tuổi năm mươi
Dạ sắt ta nay bỗng rũ-rời
Ngoài cửa hoa tàn vì gió thổi \n
Trước sân liễu ốm bởi sương rơi
Trông mây bích hán chừng mờ mịt
Tỉnh giấc hoàng lương vẫn tối hoài
Bồng đảo thần tiên xa tiếng điệu
Mộng hồn trong trắng luống chơi vơi
\n",0]);D(["ce"]);D(["ms","31c"]);//--></SCRIPT>
Tự Thuật
Ngũ thập niên hoa thất xích khu
Cương trường như thiết khước thành nhu
Phong xuy vọng ngoại hoàng hoa tạ
Lộ ấp đình tiền lục liễu cù
Bích hán vọng cùng vân diểu diểu
Hoàng lương mộng tỉnh dạ du du
Bồng lai sơn thượng âm dung đoạn
Băng ngọc u hồn nhập mộng vô
Bản dịch:
Tấm thân bảy thước tuổi năm mươi
Dạ sắt ta nay bỗng rũ-rời
Ngoài cửa hoa tàn vì gió thổi
Trước sân liễu ốm bởi sương rơi
Trông mây bích hán chừng mờ mịt
Tỉnh giấc hoàng lương vẫn tối hoài
Bồng đảo thần tiên xa tiếng điệu
Mộng hồn trong trắng luống chơi vơi </P>(bản dịch không rõ tên tác giả )
banmai
28-05-2006, 12:28 PM
Tự Thuật
Ngũ thập niên hoa thất xích khu
Cương trường như thiết khước thành nhu
Phong xuy vọng ngoại hoàng hoa tạ
Lộ ấp đình tiền lục liễu cù
Bích hán vọng cùng vân diểu diểu
Hoàng lương mộng tỉnh dạ du du
Bồng lai sơn thượng âm dung đoạn
Băng ngọc u hồn nhập mộng vô
Bản dịch:
Tấm thân bảy thước tuổi năm mươi
Dạ sắt ta nay bỗng rũ-rời
Ngoài cửa hoa tàn vì gió thổi
Trước sân liễu ốm bởi sương rơi
Trông mây bích hán chừng mờ mịt
Tỉnh giấc hoàng lương vẫn tối hoài
Bồng đảo thần tiên xa tiếng điệu
Mộng hồn trong trắng luống chơi vơi
(xin lỗi bản dich NPQ không rõ tên tác giả )
vBulletin® v3.6.11, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.