PDA

View Full Version : Xem số mạng bằng Tử Bình.


Chính Ấn
04-10-2004, 10:24 PM
[align=justify:c11e3b86ff]Cách thức xem số mạng người nào, điều trước tiên là lấy tám chữ năm tháng ngày giờ sinh đủ cả can chi ghi ra giấy. Lấy nhật can làm chủ, năm làm gốc, coi như cung tài sản cơ nghiệp của tổ tiên, nhờ đó biết được sự thịnh suy  của các đời trước. Lấy tháng làm cành tức là cung phụ mẫu, do đó biết được số có nhờ cậy phúc ấm của cha mẹ không. Nhật can là bản thân, nhật chi là thê thiếp. Do đó,biết được vợ hiền hay dữ. Giờ là quả, tượng trưng cho con cái, biết được người nối dõi về sau.Phương pháp căn bản là phân biệt nguyệt khí sâu nông, đắc lệnh hay không đắc lệnh. Cột năm và giờ lộ tài và quan, thân cần gặp vượng. Nếu thân gặp suy mà tài vượng thời kết quả là phá tài, thương thê. Thân vượng mà tài nhiều mới tốt, của cải vợ con được thỏa lòng mong ước.[/align:c11e3b86ff]
Thông thường trong tứ trụ, người ta phân tích lục thân như sau :
- Niên can là tổ phụ, niên chi là tổ mẫu.
- Nguyệt can là cha, nguyệt chi là mẹ. Đồng thời anh em phụ thuộc vào cung này.
- Nhật can là bản thân, nhật chi là thê thiếp.
- Thời can là con trai, thời chi là con gái.

[align=justify:c11e3b86ff]Xét kỹ can chi kể trên về sinh vượng hình khắc ra sao, do đó mới có thể xác định được san hèn tốt xấu. Gốc cành hoa quả là dữ kiện căn bản để con người lập thân hành sự.[/align:c11e3b86ff]

Khảo luận về chính quan :
- Nguyên tắc tìm quan và sát là : “khắc ngã giả vi quan sát”.
1. Giáp lấy Tân làm chính quan
2. Ất lấy canh làm chính quan
3. Bính lấy quý…
4. Đinh ….nhâm
5. Mậu …. ất
6. Kỷ … Giáp
7. Canh …Đinh
8. Tân …Bính
9. Nhâm …Kỷ
10. Quý …Mậu

[align=justify:c11e3b86ff]Như vậy, chính quan là âm khắc dương hay dương khắc âm. Như Giáp lấy Tân làm chính quan, ất lấy canh làm chính quan.Đó là lấy lẽ âm dương phối hợp để thành đạo (nhất âm nhất dương chi vị đạo).Nói chung là muốn biết quan vượng thì phải xem nguyệt lệnh. Nguyệt lệnh tức là đề cương đều chỉ tháng sinh và phải xem cột tháng. Xem tử bình thì trước hết phải coi đề cương, sau đó xét đến các cột khác. Khi đã gọi là chính quan, vận hành gặp quan vượng hoặc gặp địa chi hợp thành quan cục, không gặp vận thương quan mà gặp tài vận vượn thì đó là thời gian phát phúc.
Chính Quan là quý khí nên rất kỵ bị hình xung phá hại, và trên các can năm tháng giờ đều ẩn hay lộ quan tinh, như vậy đường  công danh thật là mờ mịt. Ngoài ra lại phải xét kỹ năm và giờ sinh có thành cách gì không ? rồi mới đoán điều hung cát, không nên một mực cố chấp. Cần phải biến thông, nếu không thì dễ sai một ly, đi một dặm. Vì thế mà kinh có câu “ thông biến dĩ vi thần ”.
Chính Quan quá nhiều không phải là tốt vì lẽ : nguyên tắc cơ bản là cần được khí trung hòa. Thái quá và bất cập đều có chung kết quả là xấu (lưu ý là phải trừ ngoại cách ra : 300 lá số cổ về ngoại cách tôi sẽ trình bày ở cuối chương, như vậy bạn đọc sẽ dễ dàng tìm hiểu. Vấn đề cần tìm khí trung hòa là cách giải chung của tử bình, nhưng không phải là cách giải đúng cho mọi trường hợp). Nếu thiên lệch mất quân bình thì trở thành tai ương.
Đã dùng đề cương làm chính quan, trên cột năm, giờ trong can chi lại có thiên quan, đó là tạp cách (gọi là quan sát hỗn tạp). Do đó, cần phải suy xét kỹ lưỡng.
Về danh từ nguyệt lệnh có thể hiểu như sau :
- Năm tượng trưng cho vua mà ta thường gọi là tuế quân, tháng là bầy tôi thi hành lệnh của vua. Từ ý nghĩa đó mới phát sinh ra danh từ nguyệt lệnh.
Chính quan xuất hiện trong nguyệt lệnh là đúng cách nhất. Lúc đó, nếu có thêm ấn thụ thì rất tốt (vì quan ấn tương sinh). Thí dụ : giáp lấy tân làm quan, rất ưa thổ vì thổ sinh quan. Rất kỵ bị hình xung phá hại và dương nhận, thất sát. Gặp trường hợp này là : số nghèo hèn.
Nếu can giờ gặp sát tức là bị quan sát hỗn tạp. Trong nguyệt lệnh có chính quan. Can chi cua giờ lại gặp thiên quan thì không được coi là chính quan cách. Thí dụ : Giáp dùng Tân làm quan, sinh nhằm tháng 8 là tháng dậu, kim vượng ở dậu thời gọi là chính quan. Nếu thiên can không lộ ra chữ Tân mà địa chi lại hợp thành tỵ dậu sửu, dù không sinh vào tháng 8 cũng gọi là quan. Nói chung là thân cần được vượng, sinh nhằm vào ảnh hưởng của mộc. Nếu năm và giờ có quan tinh xuất hiện, địa chi lại thành quan cách cũng không bắt buộc phải sinh nhằm tháng 8. Đại khái quan tinh cần có ấn thụ, thân vượng sẽ phát phúc. Nếu không có thương quan phá ấn, thân không bị suy nhược (vì ấn sinh cho thân, không có ấn sinh mà lại bị quan khắc nên suy nhược, nếu thân vốn đã suy nhược nữa thời sinh họa). Số như vậy chắc chắn được quý hiển. Nếu trong mệnh có quan tinh, vận gặp thương quan thời không tốt, phải gặp vận hành đến ấn thụ, quan tinh thời mới phát, công danh nhẹ bước.
(Tỵ dậu sửu hợp thành kim cục là quan tinh của giáp, rất kỵ gặp đinh mão vì : Đinh thuộc hỏa khắc chế quan tinh trong khi đó, mão lại xung dậu. Mão là nơi đế vượng của mộc, dậu là nơi đế vượng của kim. Hai hành đã lên đến mức đế vượng xung nhau thì rất nguy hiểm, vì đế vượng là đã lên cao chót vót, trong cái cao đã ẩn chứa sự suy đồi, đi xuống.)[/align:c11e3b86ff]

Chính Ấn
05-10-2004, 11:40 PM
Bài viết này trích từ tử bình chân thuyên. Người viết sẽ tiếp tục đăng tải đầy đủ 6 cuốn tử bình chân thuyên (nguyên bản - không sửa đổi thêm thắt gì cả) để bạn đọc nắm rõ về sách tử bình chân thuyên.

Chính Ấn
06-10-2004, 01:14 PM
Luận về Quan tinh thái quá :

Đó là trường hợp người sinh nhằm vào ngày nhâm, quý. Trong tứ trụ gặp nhiều chữ thìn tuất sửu mùi tỵ ngọ. Thiên can không lộ lên quan tinh và thất sát, trái lại quan sát ẩn tàng trong địa chi rất nhiều. Nếu t ứ trụ có chế phục mới tốt, nếu không có chế phục tất phải đi đến mộc vận, hoặc tam hợp mộc cục rất tốt (theo chính ấn, đi đến tam hợp hội cục cũng rất tốt vậy, hoặc giả không đi đến các đại vận có thiên can hợp bớt quan tinh cũng rất tốt, nói chung là phải linh hoạt, không nên khuôn mẫu – tuy nhiên, ở bước ban đầu, bạn cứ chú tâm đến những gì sách nói. Những gì chính ấn nói chỉ là phần thêm thắt, lưu ý để sau này các bạn dễ di vào phần cao hơn sẽ khỏi bở ngỡ vì có những điều sẽ ngược lại với những gì chính ấn viết hôm nay. Đó chính là cái hay của Tử Bình Chân Thuyên, tạo ra sự mâu thuẫn để người học tự nghiền ngẫm.). Nói chung là quan tinh quá nhiều thành ra hỗn tạp cần được loại trừ bớt, thanh lọc bớt thì mới phát phúc được. Nếu nhiều quan tinh, lại gặp quan vận, tất nhiên hỏng việc

Thất sát hay là Thiên Quan ?

Hơi khác với chính quan, thiên quan là dương khắc dương, âm khắc âm:
- Giáp gặp Canh
- Ất gặp Tân
- Bính gặp Nhâm
- Đinh gặp Quý
- Mậu gặp Giáp
- Kỷ gặp ất
- Canh gặp Bính
- Tân gặp Đinh
- Nhâm gặp Mậu
- Quý gặp Kỷ
Dương Âm hợp mới thành phối ngẫu, còn dương với dương, âm với âm là bất thành phối ngẫu, như Kinh thường nói : “Hai gái khó ở chung, hai trai khó cùng sống”. Thiên Quan hay thất sát đều rất cần được chế phục vì thiên quan hay thất sát tượng trưng cho tiểu nhân, thành phần ít hiểu biết, ưa hung bạo, không kiêng dè, thường dùng sức của mình để nuôi dưỡng quân tử, thêm vào đó còn làm công tác phục dịch, bảo vệ…Là tiểu nhân, nếu không được chế phục, răn đe thời khó bề khống chế như ngựa bất kham và trở thành vô dụng. Thế cho nên ông Dương Tử có câu : “Sửa trị đúng pháp thời có thể sai khiến và xử dụng, sửa trị trái phép thời trái lại thành kẻ ngăn trở, thù địch. Bản chất của kẻ tiểu nhân là gian trá cần phải chế ngự đúng phép, chế ngự sai phép, kẻ tiểu nhân nắm được quyền bính trong tay thời tai họa đến liền. Kinh có nói : số người gặp thiên quan, như ôm cọp mà ngủ, tuy tạm thời mượn oai cọp, mọi dã thú khác không dám đến gần, nhưng chỉ một phút sở hở là bị cọp ăn thịt liền, thật đáng lo ngại.

Nếu có đầy đủ tam hình, dương nhận xuất hiện ở cột ngày và giờ, lại gặp lục hại và khôi cương tương xung, trường hợp này hung tai không kể xiết.
Được chế phục đúng cách, vận hành lại được chế phục thời đúng là thời kỳ đại quý. Cũng trường hợp trên nhưng lại bị hung thần quy tụ, vận gặp sát vượng thời hung tai không thể lường được.
Nếu chỉ có một sát mà chế phục lại đến hai, ba vận hành lại gặp chế phục tất nhiên sẽ không phát vì lẽ bị chế phục thái quá cũng không tốt, thành ra vô dụng. ( ý của phật : mọi vật khắc nhau để thành cái hữu dụng chớ không phải khắc nhau để mà diệt nhau – chính ấn ). Tóm lại, đã dùng việc chế phục thì phải cân nhắc bên trọng, bên khinh theo đúng mức độ, không thái quá mà cũng không bất cập, thời việc xác định số mệnh mới thập phần chính xác.
Để dễ bề phân biệt hai từ ngữ thiên quan và thất sát (tuy hai mặt mà một) thì bạn đọc nên nhớ : gặp chế phục thì gọi là thiên quan ( tức là quân tử, là hữu dụng – chính ấn), không gặp chế phục thời gọi là thất sát (giết chóc, mưu hại, nóng nảy, tiểu nhân …-chính ấn). Ví như kẻ tiểu nhân được chế phục đúng phép thời trở thành đắc dụng, chế ngự sai phép thời thành thù địch. Tóm lại đều tùy thuộc vào phương pháp chế ngự mà thành tốt hoặc xấu. Cho nên khi gặp sát, chớ vội cho là xấu, trái lại, nhiều lá số chính nhờ sát mà được quý hiển. Đặc biệt : Sát gặp tam hình, lục hại hoặc dương nhận, khôi cương tương xung, hung tinh quy tụ như vậy không phải là chế phục. Chỉ có đến vận chế phục mới được phú quý. Cũng trong trường hợp hung tinh quy tụ kể như trên, nếu vận hành đến sát vượng thời tai họa ập đến khó lường. (người có sát ở trụ ngày, sinh ra đã gặp bệnh, khó nuôi – chính ấn)
Tóm lại, thiên quan hay thất sát cần nhất là thân phải vượng (để chế ngự - chính ấn) và có chế phục mới là tốt nhất. Nguyên cục có sẵn chế phục, vận hành gặp sát vượng là rất tốt. Nguyên cục không có sẵn chế phục, nên gặp vận hành chế phục được thất sát.
Thân mà vượng thì biến thành thiên quan, thân mà nhược thì biến thành thất sát. Ấy là tuy hai mà một vậy.
Tưởng cũng cần phải giải thích thêm danh từ Thất sát : Vì tính cách “ khắc ngã giả vi quan sát” thí dụ giáp lấy canh làm quan sát, từ chữ giáp đến chữ canh được 7 cung nên gọi là thất, còn sát có nghĩa là khắc chế. Do đó mà có danh từ thất sát.

Chính Ấn
06-10-2004, 01:15 PM
Luận về thất sát :

Thất sát cũng tức là thiên quan, cần thân vượng hợp với sát, cần được chế phục, cần có dương nhận, tối kỵ là thân bị suy nhược, kỵ gặp tài và kỵ không bị chế phục. Thân vương hữu khí là thiên quan, thân nhược vô khí là thất sát. Gặp thất sát chớ nên vội kết luận là xấu. Nhiều khi có chính quan lại không bằng có thiên quan. Chính gặp thất sát lại trở thành đại phú quý, miễn là thân vượng gặp được sát thời rất tốt.
Thí dụ :
Giáp lấy canh làm sát, nếu được bính đinh chế phục hoặc có ất để ất hợp đi canh thời rất quý hiển (trường hợp này chính ấn đã minh họa bằng lá số của Tống Nguyên Soái Nhạc Phi trên tử vi lý số hồi trước), đó là trường hợp tham hợp vong sát (vì tham hợp mà quên đi sát). Đã đành, thất sát cần chế phục nhưng không nên bị chế phục thái quá, theo lẽ vật cùng thời biến (cái này ông Đằng Sơn cũng hay nói trong tử vi của ông– chính ấn) nên dễ gây tai họa. Thân được vượng, vận hành gặp hạn làm cho thân vượng lên thời phát phúc (chẳn hạn như hạn gặp ấn làm cho thân vượng – chính ấn). Nếu  ngược lại, thân nhược mà vận hành lại gặp hạn làm cho thân nhược (như hành vận gặp tài, quan) thời tai họa triền miên. Trong tứ trụ có sẵn chế phục, vận hành thất sát thời rất tốt. Nguyên cục không có chế phục, vận hành gặp sát thời tai họa nguy hiểm. Nếu vận hành thân vượng lại được dương nhận nữa thời quý hiển vô cùng (thường làm võ tướng trấn ngự biên cương vì tính của thất sát và dương nhận đều có tính ưa sát phạt, giết chóc … - chính ấn). Tuy nhiên, rất kỵ gặp tài vượng vì lẽ tài sinh sát, tuế vận lâm tài dù thân vượng cũng hay bị tai họa, thân nhược thời càng nguy hơn.
Sinh nhằm 7 ngày Giáp thân, Ất dậu, Đinh sửu, Mậu dần, Kỷ mão, tân mùi, quý mùi, sát ở đây có đặc tính nóng nảy nhưng lanh lợi, khéo léo, thông minh. Nếu gặp nhiều sát quá thời yểu mạng, nghèo hèn. Sát ở cột tháng ảnh hưởng nặng, cột giờ nhẹ hơn. Lý do tại sao ? Chỉ có thất sát ở cột ngày duy nhất mà thôi, nếu cột năm hay giờ có thất sát là nhiều sát, dễ gây tai họa, trừ phi có chế phục mới giảm thiểu ảnh hưởng xấu. Nếu thân vượng để chế phục sát thời có thể biến sát thành quyền. Sợ nhất là gặp xung và dương nhận. Trên cột giờ có thất sát độc nhất thời thân cần phải vượng, nếu ở 3 cột năm tháng giờ có chế phục thời được hưởng phúc. Vận hành gặp sát vượng hoặc được tam hợp tài cục đắc địa thời phát đạt vô cùng. Nếu trong cục không có chế phục thời vận hành được chế phục mới tốt. Vận hành gặp sát vượng không được chế phục là tai họa.

Thất sát ở cột giờ không sợ Dương Nhận, không sợ xung.
Sau đây là một số lá số mẫu.
Sát tỷ thương
Tân Ất Ất Bính
Sửu Mùi Mão Tý


Số này thân vượng, sinh tháng 6, tuế can lộ lên chữ tân sửu làm thất sát, được Bính tý hợp với tân sửu nên vừa quý hiển, vừa có quyền.

Lá số sau đây, thân nhược gặp sát
Tài Sát Sát
Giáp Bính Canh Bính
Ngọ Dần  Tý Tý

Số này thân nhược, gặp hỏa cục , nguyệt lệnh là bính dần có thất sát , gặp giờ sinh Bính tý, hỏa khắc canh kim, kim tử ở tý. Thân nhược sát vượng, lại không được chế phục nen nghèo hèn bệnh hoạn.
Số sau đây được thân vượng nên quý hiển :
Tài sát Sát
Đinh Mậu Nhâm Mậu
Tỵ thân  tý thân

Số này thân vượng, gặp hai chữ mậu làm sát, cột năm có đinh hợp với nhâm, mậu hợp với quý, kim lại sinh ở tỵ, mậu có lộc ở tỵ, vậy hai chữ nhâm và mậu đều vượng, vì thế được quý hiển.

Tóm lại : Lá số thứ nhất được quý hiển là nhờ sát bị hợp
Số thứ hai sát trọng thân khinh nên nghèo hèn bệnh hoạn
Số thứ ba thân sát đều vượng nên quý hiển

Sau đây là bài thơ tóm tắt về thất sát :
Thiên quan thất sát tối nan minh
(Thiên quan và Thất sát thật khó phân biệt)
Thượng, hạ tương sinh kiến lợi danh
(Trên dưới cùng được sinh thời số có danh có lợi)
Tứ trụ sinh thời nghi chủ quý
(Trong tứ trụ, giờ sinh gặp thất sát thường được quý hiển)