PDA

View Full Version : nữ mệnh luận


Chính Ấn
30-09-2004, 11:28 PM
Bài viết dưới đây được ghi lại từ bài giảng của thầy Lâm Thế Đức.
Bảy cách lập thành và đoán số nữ mệnh.

Bảy cách đó là :
                        - Vượng Phu, thướng tử
                        - Vượng tử, thương phu
                        - Thương phu, khắc tử
                        - An tỉnh thủ phận
                        - Hoạnh tử, yểu chiết
                        - Phúc thọ song toàn
                        - Chánh, Phiến tự xử

1. Vượng Phu, thương tử (giúp cho chồng nhưng hại con)

Bính        Bính        Đinh        Tân
tuất        thân         tỵ          hợi

       Nhật nguyên chữ Đinh, âm hoả, sinh tháng thân, giờ hơi.
[align=justify:cee44b7c18]Trong chữ thân và giờ hợi có ẩn hai chữ Nhâm là quan tinh của đinh hỏa. Hai nhâm tức là hai chồng (xin các bạn đừng hiểu tất cả đều như vậy. Đây không phải là chân lý - chính ấn). Có ngày tỵ xung hợi, xung đi một chữ nhâm còn dùng một chữ nhâm tại thân là chánh phu của đinh, lộ lên chữ tân tại can giờ là tài tinh, có tài sinh quan là vượng phu (cũng xin quý vị cẩn thận, không phải lúc nào tài cũng sinh quan - chính ấn) là vượng phu. Đinh lấy chữ mậu làm tử tinh, ẩn tại tuất, thân, tỵ. Chẳng may giờ sinh là hợi có ẩn chữ Giáp dương mộc là ấn của đinh, khắc chế chữ mậu nên tử tinh không kiện toàn. Giờ sinh là cung tử, chữa mậu ở tuyệt địa, ngày tỵ, giờ hợi xung, cung tử tức bị sức mẻ, nên không có con, đó là thương tử hay là khắc tử vậy.[/align:cee44b7c18]
Còn tiếp

BinhThin76
07-10-2004, 10:53 AM
Sư huynh ơi, chủ đề này hấp dẫn quá!. Khi nào rảnh viết tiếp cho mọi người tham khảo, học hỏi với nha. Thanks!

Chính Ấn
07-10-2004, 06:57 PM
2 Vượng tử, thương phu
(Có con nhiều mà khắc chồng)

Tài Kiếp Tài
Kỷ Giáp Ất Mậu
Mão tuất mão dần

Mệnh chủ ngày Ất Âm Mộc, nên lấy chữ Canh Dương Kim làm Phu Tinh, không gặp phải nên chọn chữ TÂn là Thất Sát nằm trong tháng Tuất làm Phu tinh, được nhiều chữ Mậu, Kỷ là Tài Tinh sinh Tân Kim Thất Sát, ấy là vượng cho chồng,chẳng may Tân Kim (nhu kim), kỵ Hành Thổ quá nhiều hành thổ được gọi là “Thổ trọng mai Kim” tức là thổ nhiều chôn lấp hành Kim vậy. Sinh ngày mão là cung Phu Quân,Tân Kim đến Mão là Tuyệt Địa nên khắc chồng.

Tử tinh là Bính, Đinh ẩn tại Dần và Tuất, giờ sinh là Dần, Bính Hỏa được Trường Sinh, nên có còn nhiều. Số này dụng thần là chữ Mậu, Tài tinh, tài giỏi mà có tiền nuôi con, không được nhờ chồng, nên được gọi là vượng tử, thương phu.

Chính Ấn
09-10-2004, 10:14 AM
3. Thương Phu, khắc tử:

(Khắc chồng, hại con )

Thương Quan Thương
Bính Canh Ất Bính
tý tý hợi tý

Ấn Ấn Ấn Ấn

Nhật Nguyên chữ Ất, Âm Mộc, Ngũ hợp với Can tháng là Canh, nên hóa Kim cách, chẳng may sinh tháng Tý và giờ Tý, hóa Kim không htành cục, Canh là phu tinh của Ất,bị hai chữ Bính là tử tinh của Ất khắc hãm, ấy là số khắc chồng.
Bính hỏa nhiều chắc có nhiều con, chẳng may giờ sinh là Tý, Thủy Vượng khắc Hỏa,sinh nhiều nuôi ít, sau cùng cũng không có con.
Giờ sinh là cung tử tức, ngày là cung phu, Bính hỏa là tử tinh Thai Địa yếu ớt, Canh kim phu tinh0 tại bệnh địa chồng con cũng không được nhờ.
Ất Mộc bị 4 chữ Địa Chi là Tý và Hợi thuộc Thủy, Nguyên cục kém hành thổ, Thủy vượng Mộc phù, không có chỗ tựa, rốt cục làm ăn mày,chết không quan quách.

4 An tỉnh thủ phận:
(An tỉnh là yên ổn, thủ phận là nội trợ)

Ấn Quan Thực
Quý Canh hợp Ất Đinh
tỵ thân mão hợi

Nhật Nguyên chữ Ất, Âm mộc, lấy ương Kim chữ Canh làm phu tinh, Ất Canh hợp hóa Kim. Sinh tháng Thân Vượng địa là hóa Kim cách, bị giờ Đinh hợi là kim hỏa khắc nên thành Cục mà bị phá cục hóa Kim cách tan vỡ không được quý.
Nhưng tình thương vợ chồng hòa hợp, Ất có lộc tại giờ mão, hợp chũ Hợi tại giờ sinh thành Mộc cục, Nhật nguyên mạnh sinh Đinh hỏa là tử tinh. Giờ Hợi, Đinh hỏa Thai địa có mộc là chữ Giap sinh Đinh cũng được sáng lên, nên có con phu tinh đắc thời ( canh lộc tại Thân) tử tinh đắc sinh, có chồng hiền con thảo. Vì bản cục thiếu Mậu, kỷ tài tinh hiển lộ, là người đàn bà bình thường, thủ phận làm nội trợ mà thôi.
Nếu có chữ Mậu hợac chữ Kỷ lộ lên Thiên Can chắc là Phu Vinh Tử Quý.

Chính Ấn
17-10-2004, 08:26 AM
5. Hoạch tử, yểu chiết:
( Chết sớm vì tai nạn)

Quan Thương Sát
Đinh Quý Canh Bính
mão sửu thìn tý
Tài Ấn Ấn thương

[align=justify:9d7f40c249]Nhật Nguyên chữ Canh Dươgn Kim, nên lấy chữ Đinh là Âm hỏa làm phu tinh, chẳng may bịo thương quan là Quý thúy khắc, bất đắc dĩ phải lấy chữ Bính là Thất Sát ;àm phu tih, tháng sửu là mùa đông thủy vượng hỏa yếu, phu tinh không kiện toàn. Ngày Thìn, giừo Tý hợp thành Thủy cục, Bính Đinh đều bị khắc hết nên không có chồng, tử tinh là Tý lộ lên Nguyên Thần chữ hoach hành khắc hỏa, nguyên cục thiếu chữ Mậu tại can, Thủy mạnh phiến lạm Canh chắc bị Thủy lôi cuốn mà chìm dưới đáy nước, nên bị chết vì tai nạn sông nước .[/align:9d7f40c249] Sách rằng: “ Thủy Đa kim trầm” ắt bị chết vậy.

6 Phúc thọ song toàn:

Quan Kiếp Thực
Bính Canh Tân Quý
dần tý dậu tỵ
[align=justify:9d7f40c249]Nhật nguyên Tân âm kim, ngày Dậu được Lộc, lấy Bính hỏa làm phu tinh, trường sinh tại Dần, có Lộc tại Tỵ, ấy là phu tinh vượng thịnh, Tử tinh là quý âm thủy, vượng tại tháng Tý, con có vượng khí, chồng có lộc, thân có lộc, ấy gọi là hộii lộc cách, nên lấy chữ Giáp dương Mộc ẩn tại Dần làm Dụng thần thì được thủy tinh sinh mộc,.mộc sinh hỏa, Dụng thần kiện toàn suốt đời bình an Phu vinh Quý tử, phúc thọ song toàn.[/align:9d7f40c249]
7 Chánh phiến tự xử:
(Số lấy kế, lấy lẽ)

Thương Quan Quan
Nhâm Bính Tân Bính
tý ngọ dậu thân

[align=justify:9d7f40c249]Nhật Nguyên chữ Tân âm kim hợp với giờ Can bính là hóa Thủy cách nhưng chẳng may sinh tháng Ngọ hỏa vượng, không được thành hóa cục. Lấy Bính hỏa làm phu tinh, có hai chữ Bính hợp với Tân là 2 chồng. Thí dụ 1 người con gái gặp hai người đàn ông tranh giành lấy làm vợ vậy.Tân kim đứng ở giữa không biết lấy chữ bính nào làm phu tinh. Nếu lấy chữ Bính tại can tháng, có Ngọ vượng cho Bính là tốt, nhưng chẳng may bị năm Nhâm Tý khắc xung Bính Ngọ là phu tinh không kiện toàn. Nếu lấy chữ Bính tại can giờ nhưng gặp chữ Thân, Bính hỏa Bịnh Địa Phu Tinh cũng không mạnh.Cho nên lưỡng lự không biết lấy chữ Bính nào làm phu tinh, nên duyên phối chậm phải ở kế thất làm vợ bé không được yên thân.Nếu Nguyên cục có thêm 1 chữ Giáp hay Ất, có mộc rút Thủy sinh Bính hỏa chắc phu tinh kiện toàn hơn. Tuy lấy chồng trẻ cũng được vượng phu.[/align:9d7f40c249]

Trích bài giảng của cụ Lâm Thế Đức

Duc-Hue
27-10-2004, 09:36 AM
Bài viết dưới đây được ghi lại từ bài giảng của thầy Lâm Thế Đức.
Bảy cách lập thành và đoán số nữ mệnh.
1. Vượng Phu, thương tử (giúp cho chồng nhưng hại con)

Bính        Bính        Đinh        Tân
tuất        thân       tỵ          hợi

       Nhật nguyên chữ Đinh, âm hoả, sinh tháng thân, giờ hơi.
[align=justify:991c500056]Trong chữ thân và giờ hợi có ẩn hai chữ Nhâm là quan tinh của đinh hỏa..... Có ngày tỵ xung hợi, xung đi một chữ nhâm còn dùng một chữ nhâm tại thân là chánh phu của đinh, lộ lên chữ tân tại can giờ là tài tinh, có tài sinh quan là vượng phu (cũng xin quý vị cẩn thận, không phải lúc nào tài cũng sinh quan - chính ấn) là vượng phu. Đinh lấy chữ mậu làm tử tinh, ẩn tại tuất, thân, tỵ. Chẳng may giờ sinh là hợi có ẩn chữ Giáp dương mộc là ấn của đinh, khắc chế chữ mậu nên tử tinh không kiện toàn. Giờ sinh là cung tử, chữa mậu ở tuyệt địa, ngày tỵ, giờ hợi xung, cung tử tức bị sức mẻ, nên không có con, đó là thương tử hay là khắc tử vậy.[/align:991c500056]
Xin anh Chính Ấn , nếu có thể giải thích thêm về 2 chữ Nhâm ẩn nấp trong
điạ chi thân và hợi . Theo chỗ hiểu nông cạn của ĐH thì Nhâm thuộc hành
Thủy , nếu nói giờ hợi có ẩn chữ Nhâm thì phải , nhưng tháng thân lại thuộc hành Kim , vậy chữ Nhâm từ đâu mà có ?
Để khỏi làm loạn bài đang viết của anh đang nói về thất cách lập thành
đoán số nữ mệnh tại đây , xin anh vui lòng chuyển phần thắc mắc của ĐH
vào trong mục hành lang , để trước là giải đáp , sau là mấy bạn trong lớp
có thấy gì cần hỏi hay bổ sung thêm để việc học tử bình thêm phong phú
Kính ,
Đức Huệ