Caytre
30-09-2004, 05:43 PM
Bất cứ ai nghiên cứu Kỳ Môn đều thấy sự quan trọng của bảng Lục Nghi Tam Kỳ, nhưng người mới nghiên cứu Kỳ Môn đều dễ bị sa vào cách tính Chực Phù và Chực Sử trên Thiên Bàn và Địa Bàn rồi bị lộn xộn trong cái mơ hồ đó. Mà bản chất của Chực Phù chỉ là Cửu Tinh còn Chực Sử là Bát Môn trên Thiên Bàn và Địa Bàn.
Suy ngẫm kỹ về cái tên Kỳ Môn Độn Giáp ta thấy điểm quan trọng của môn học này là tìm Can Giáp ẩn ở Can nào trong bảng Kỳ Nghi, tức là nói đến Can Giáp và Chực Phù nên hai chữ Độn Giáp là nói đến Can Giáp và Chực Phù, còn hai chữ Kỳ Môn là nói đến Can Giáp và Chực Sử.
Bảng Kỳ Nghi chia làm hai phần: Lục Nghi và Tam Kỳ. Người mới nghiên cứu sẽ không nhìn thấy sự khác nhau giữa Lục Nghi và Tam Kỳ ra sao, nhưng thực ra 2 phần này khác nhau nhiều về cái dụng của nó khi dùng Kỳ Môn để tính toán cho từng sự việc cụ thể.
Vậy ta đi vào tìm hiểu Lục Nghi là gì và Tam Kỳ là gì .
Lục Nghi là 6 chu kỳ Giáp từ Giáp Tí đến Giáp Dần, trong mỗi chu kỳ Giáp, can Giáp ẩn tại một trong 6 Can là Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý .
Chu kỳ Giáp Tí can Giáp ẩn tại Mậu
Chu kỳ Giáp Tuất can Giáp ẩn tại Kỷ
Chu kỳ Giáp Thân can Giáp ẩn tại Canh
Chu kỳ Giáp Ngọ can Giáp ẩn tại Tân
Chu kỳ Giáp Thìn can Giáp ẩn tại Nhâm
Chu kỳ Giáp Dần can Giáp ẩn tại Quý
Trên bảng Lục Nghi ta thấy chỉ trình bày 6 Can mà Giáp ẩn tại đó chứ không trình bày tên chu kỳ, vì vậy mà người học khó hiểu về cái dụng của Lục Nghi . Bảng Lục Nghi bình thường chỉ trình bày như sau:
Mậu Tân
Kỷ Nhâm
Canh Quý
----------------------------
Nhưng nếu trình bày đầy đủ và dễ hiểu thì phải là:
Giáp Tí: Mậu Giáp Ngọ: Tân
Giáp Tuất: Kỷ Giáp Thìn: Nhâm
Giáp Thân: Canh Giáp Tuất: Quý
------------------------------------------
Còn bảng Tam Kỳ gồm có 3 Kỳ: Ất Bính Đinh, trong đó Ất tượng trưng cho Nhật Kỳ, Bính tượng trưng cho Nguyệt kỳ và Đinh tượng trưng cho Tinh Kỳ .
Trong bảng Tam Kỳ có Bính và Đinh làm Nguyệt và Tinh Kỳ, môn học này coi trọng Bính Đinh mà Nhâm Quý thì phá được Bính Đinh và Nhâm Quý chính là vị trí của sao Triệt trong môn Tử Vi .
Nói về sao Triệt thì cá nhân tôi căn cứ vào cách tính của Kỳ Môn cho rằng sao Triệt bắt nguồn từ môn Kỳ Môn và cách an Triệt là an theo lịch Kiến Tí chứ không phải Kiến Dần .
An Triệt theo lịch Kiến Tí ta có:
Can Giáp Kỷ, Triệt tại Thân Dậu
Can Ất Canh, Triệt tại Ngọ Mùi
Can Bính Tân, Triệt tại Thìn Tỵ
Can Đinh Nhâm, Triệt tại Dần Mão
Can Mậu Quý, Triệt tại Tí Sữu
Tại sao là lịch Kiến Tí mà không phải Kiến Dần, ta thấy rằng cách tính số Cục trong Kỳ Môn dựa vào Tiết Khí và Dương Độn khởi thuận từ tiết Đông Chí quẻ Khảm, Âm Động khởi nghịch từ tiết Hạ Chí quẻ Ly. Tiết Đông Chí vào khoảng giữa tháng Tí, còn tiết Hạ Chí vào khoảng giữa tháng Ngọ. Hơn nữa, cách tính Tiết Khí là dựa vào đường Hoàng Đạo của Thái Dương, lấy khoảng giữa của 2 tiết Đông Chí làm một năm. Lịch pháp theo Tiết Khí xây dựng trên sự di chuyển của Mặt Trời nên là dương lịch, còn tháng âm lịch xây dựng trên cơ sở của Mặt Trăng, lấy khoảng thời gian giữa 2 điểm Sóc (29,5 ngày) làm một tháng, bộ môn Tử Vi xây dựng trên nền tảng Âm Lịch.
Trong Kỳ Môn, tháng âm lịch chỉ dùng để tính vượng tướng hưu tử tù của Chực Phù theo ngũ hành mà lấy mùa làm chủ. Ngoài ra phần lớn tính theo Tiết Khí. Ba tiết khí là một quẻ, một năm chia ra làm Tám quẻ.
Và ta cũng biết là Lịch Kiến Tí có trước Lịch Kiến Dần, từ nhà Hạ trở về trước lấy tháng Tí làm tháng Giêng. Từ nhà Hạ về sau mới lấy tháng Dần làm tháng Giêng.
Vì Giáp phải ẩn đi nên Ất làm việc của Giáp vì vậy trong bảng Tam Kỳ cho ta thấy cái ngụ ý của môn Thái Ất .
Như vậy qua bảng Lục Nghi Tam Kỳ và tính số Cục theo âm dương, ta biết Can Giáp ẩn tại Nghi nào trên Thiên Bàn và có độ số Cục bao nhiêu, từ số cục ta tính ra được Can Giáp đó có Chực Phù và Chực Sử là gì trên Thiên Bàn .
Suy ngẫm kỹ về cái tên Kỳ Môn Độn Giáp ta thấy điểm quan trọng của môn học này là tìm Can Giáp ẩn ở Can nào trong bảng Kỳ Nghi, tức là nói đến Can Giáp và Chực Phù nên hai chữ Độn Giáp là nói đến Can Giáp và Chực Phù, còn hai chữ Kỳ Môn là nói đến Can Giáp và Chực Sử.
Bảng Kỳ Nghi chia làm hai phần: Lục Nghi và Tam Kỳ. Người mới nghiên cứu sẽ không nhìn thấy sự khác nhau giữa Lục Nghi và Tam Kỳ ra sao, nhưng thực ra 2 phần này khác nhau nhiều về cái dụng của nó khi dùng Kỳ Môn để tính toán cho từng sự việc cụ thể.
Vậy ta đi vào tìm hiểu Lục Nghi là gì và Tam Kỳ là gì .
Lục Nghi là 6 chu kỳ Giáp từ Giáp Tí đến Giáp Dần, trong mỗi chu kỳ Giáp, can Giáp ẩn tại một trong 6 Can là Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý .
Chu kỳ Giáp Tí can Giáp ẩn tại Mậu
Chu kỳ Giáp Tuất can Giáp ẩn tại Kỷ
Chu kỳ Giáp Thân can Giáp ẩn tại Canh
Chu kỳ Giáp Ngọ can Giáp ẩn tại Tân
Chu kỳ Giáp Thìn can Giáp ẩn tại Nhâm
Chu kỳ Giáp Dần can Giáp ẩn tại Quý
Trên bảng Lục Nghi ta thấy chỉ trình bày 6 Can mà Giáp ẩn tại đó chứ không trình bày tên chu kỳ, vì vậy mà người học khó hiểu về cái dụng của Lục Nghi . Bảng Lục Nghi bình thường chỉ trình bày như sau:
Mậu Tân
Kỷ Nhâm
Canh Quý
----------------------------
Nhưng nếu trình bày đầy đủ và dễ hiểu thì phải là:
Giáp Tí: Mậu Giáp Ngọ: Tân
Giáp Tuất: Kỷ Giáp Thìn: Nhâm
Giáp Thân: Canh Giáp Tuất: Quý
------------------------------------------
Còn bảng Tam Kỳ gồm có 3 Kỳ: Ất Bính Đinh, trong đó Ất tượng trưng cho Nhật Kỳ, Bính tượng trưng cho Nguyệt kỳ và Đinh tượng trưng cho Tinh Kỳ .
Trong bảng Tam Kỳ có Bính và Đinh làm Nguyệt và Tinh Kỳ, môn học này coi trọng Bính Đinh mà Nhâm Quý thì phá được Bính Đinh và Nhâm Quý chính là vị trí của sao Triệt trong môn Tử Vi .
Nói về sao Triệt thì cá nhân tôi căn cứ vào cách tính của Kỳ Môn cho rằng sao Triệt bắt nguồn từ môn Kỳ Môn và cách an Triệt là an theo lịch Kiến Tí chứ không phải Kiến Dần .
An Triệt theo lịch Kiến Tí ta có:
Can Giáp Kỷ, Triệt tại Thân Dậu
Can Ất Canh, Triệt tại Ngọ Mùi
Can Bính Tân, Triệt tại Thìn Tỵ
Can Đinh Nhâm, Triệt tại Dần Mão
Can Mậu Quý, Triệt tại Tí Sữu
Tại sao là lịch Kiến Tí mà không phải Kiến Dần, ta thấy rằng cách tính số Cục trong Kỳ Môn dựa vào Tiết Khí và Dương Độn khởi thuận từ tiết Đông Chí quẻ Khảm, Âm Động khởi nghịch từ tiết Hạ Chí quẻ Ly. Tiết Đông Chí vào khoảng giữa tháng Tí, còn tiết Hạ Chí vào khoảng giữa tháng Ngọ. Hơn nữa, cách tính Tiết Khí là dựa vào đường Hoàng Đạo của Thái Dương, lấy khoảng giữa của 2 tiết Đông Chí làm một năm. Lịch pháp theo Tiết Khí xây dựng trên sự di chuyển của Mặt Trời nên là dương lịch, còn tháng âm lịch xây dựng trên cơ sở của Mặt Trăng, lấy khoảng thời gian giữa 2 điểm Sóc (29,5 ngày) làm một tháng, bộ môn Tử Vi xây dựng trên nền tảng Âm Lịch.
Trong Kỳ Môn, tháng âm lịch chỉ dùng để tính vượng tướng hưu tử tù của Chực Phù theo ngũ hành mà lấy mùa làm chủ. Ngoài ra phần lớn tính theo Tiết Khí. Ba tiết khí là một quẻ, một năm chia ra làm Tám quẻ.
Và ta cũng biết là Lịch Kiến Tí có trước Lịch Kiến Dần, từ nhà Hạ trở về trước lấy tháng Tí làm tháng Giêng. Từ nhà Hạ về sau mới lấy tháng Dần làm tháng Giêng.
Vì Giáp phải ẩn đi nên Ất làm việc của Giáp vì vậy trong bảng Tam Kỳ cho ta thấy cái ngụ ý của môn Thái Ất .
Như vậy qua bảng Lục Nghi Tam Kỳ và tính số Cục theo âm dương, ta biết Can Giáp ẩn tại Nghi nào trên Thiên Bàn và có độ số Cục bao nhiêu, từ số cục ta tính ra được Can Giáp đó có Chực Phù và Chực Sử là gì trên Thiên Bàn .