PDA

View Full Version : Vòng Lộc tồn với can Mậu và Kỷ


long nguyen quang
01-03-2006, 11:23 AM
--nn-- Tôi nhậnthấy cách an sao Kình, Đà và vong Lộc tồn đôi với các tuổi Mậu và Kỷ cũng như lý thuyết về vòng tràng sinh của Thổ cục nương nhờ theo Thủy cục là có vấn đề. trong thực tế cũng thấy không đúng. Không biết có bạn nào có ý kuến cung với tôi chăng?

dungkq
01-03-2006, 03:13 PM
Vấn đề an hai sao Kình dương - Đà la theo Lộc tồn thì tôi cũng thấy có nhiều mâu thuẫn khi theo trật tự " tiền Kình dương - hậu Đa la" trong sách vở của các tuổi có Can âm. Trước đây hình như cũng có topic bàn về vấn đề này thì phải. Còn chuyện Thuỷ - Thổ cục đồng cung thì hình như giống trong mon Độn Giáp khi bản khí ngũ hành Kim tàng trong chi vượng. Mong biết thêm kiến giải của anh long nguyen quang --nn--

long nguyen quang
01-03-2006, 03:39 PM
( xin trả lời anh Dung kq)
Có hai vấn đề được đặt ra:
- Thổ ngũ cục thì khởi tràng sinh tại cung thân, cùng chung vị trí với thủy nhị cuc.
- Người sinh năm Mậu thì lộc tồn ở cung tỵ, Kình dương ở ngọ, Đà la ở thìn , giống như người tuổi Bính.

long nguyen quang
01-03-2006, 03:53 PM
( vì lý do kỹ thuật , xin được tiếp tục)
Quan sát 2 cách khởi vòng tràng sinh ta thấy hành thổ khởi tràng sinh ở những vị trí rất ngược đời, tại sao hành thổ không được khởi tràng sinh tại những vị trí hợp lý hơn, thực tế đã kiểm nghiệm tại những vị trí này đã cho những luận giải chính xác. Đó là : Thổ khởi tràng sinh tại cung ngọ ( hỏa sinh thổ) và do đó thai ở thìn ( thổ), vượng ở cung tuất( thổ), tuyệt tại mão ( mộc). Nếu các bạn áp dụng nguyên tắc này thì vòng lộc tồn và vòng tràng sinh của thổ ngũ cục sẽ phải sửa lai và dĩ nhiên là bạn sẽ luận đoán lá số đúng hơn trong các trường hợp tuổi mậu , kỷ và vận hạn năm mậu, kỷ.
( Vài dòng chia sẻ)

KARAJAN
01-03-2006, 07:06 PM
Thân gửi anh long nguyen quang
Môn Thái Ất luôn khởi cho hành Thổ trường sinh ở Ngọ... Vượng ở Tuất , nhưng cũng nói rõ, Tuất là cung Địa Hộ là nơi đáy lửa (Mộ của Hoả). Nhưng Tử Vi Thổ Trường Sinh ở Thân, Tử Bình Thổ Trường Sinh ở Dần.... tôi không cho là đúng.
Anh an như thế tôi lần đầu thấy trong Tử Vi đấy...

Rất cảm ơn anh chia sẻ.

KARAJAN
01-03-2006, 07:24 PM
Còn tại sao lại Trường Sinh ở Ngọ, có cách lý giải bằng Lịch Pháp sẽ thấy việc Thổ Trường Sinh ở Ngọ là đúng đắn...

Thiên Sứ
01-03-2006, 07:42 PM
Anh Karajan thân mến.
Mấy hôm nay ko thấy anh lên diễn đàn.
Tôi có một quan niệm cho rằng:
Trường sinh Thổ cục nên khởi ở Tỵ. Điều này theo anh có hợp lý không?
Tôi cho rằng:
Sở dĩ Trường sinh của Thổ cục trong Tử Vi khởi ở cung Thân, chính vì cung Thân là cung Tây Nam, Khôn Thổ theo Hậu Thiên Văn Vương chính vị tại đấy, nền họ đã bắt đầu cho Thổ cục khởi Trường Sinh tại Thân cùng với Thuỷ Cục. Điều này là vô lý và anh em trong cac 1bài trên cũng nhận thấy.
Nhưng với Hậu Thiên Việt thì Khôn Thổ chính vị tại Tỵ - Âm Hoả/ Đông Nam, nên Trường sinh Thổ Cục từ đây là hợp lý.
Xin ý kiến của anh.
Cảm ơn anh nhiều.
Thiên Sứ

tubinh_giagia
02-03-2006, 04:22 AM
( vì lý do kỹ thuật , xin được tiếp tục)
Quan sát 2 cách khởi vòng tràng sinh ta thấy hành thổ khởi tràng sinh ở những vị trí rất ngược đời, tại sao hành thổ không được khởi tràng sinh tại những vị trí hợp lý hơn, thực tế đã kiểm nghiệm tại những vị trí này đã cho những luận giải chính xác. Đó là : Thổ khởi tràng sinh tại cung ngọ ( hỏa sinh thổ) và do đó thai ở thìn ( thổ), vượng ở cung tuất( thổ), tuyệt tại mão ( mộc). Nếu các bạn áp dụng nguyên tắc này thì vòng lộc tồn và vòng tràng sinh của thổ ngũ cục sẽ phải sửa lai và dĩ nhiên là bạn sẽ luận đoán lá số đúng hơn trong các trường hợp tuổi mậu , kỷ và vận hạn năm mậu, kỷ.
( Vài dòng chia sẻ)


long nguyen quang luận rằng: Thổ khởi tràng sinh tại cung ngọ (hỏa sinh thổ) xem ra hợp lý - thế, còn Kim khởi tràng sinh ở cung tỵ (hỏa khắc kim) lại rất ư ngược đời chăng??? :)


Tubinh_giagia

tubinh_giagia
02-03-2006, 04:24 AM
Anh Karajan thân mến.
Mấy hôm nay ko thấy anh lên diễn đàn.
Tôi có một quan niệm cho rằng:
Trường sinh Thổ cục nên khởi ở Tỵ. Điều này theo anh có hợp lý không?
Tôi cho rằng:
Sở dĩ Trường sinh của Thổ cục trong Tử Vi khởi ở cung Thân, chính vì cung Thân là cung Tây Nam, Khôn Thổ theo Hậu Thiên Văn Vương chính vị tại đấy, nền họ đã bắt đầu cho Thổ cục khởi Trường Sinh tại Thân cùng với Thuỷ Cục. Điều này là vô lý và anh em trong cac 1bài trên cũng nhận thấy.
Nhưng với Hậu Thiên Việt thì Khôn Thổ chính vị tại Tỵ - Âm Hoả/ Đông Nam, nên Trường sinh Thổ Cục từ đây là hợp lý.
Xin ý kiến của anh.
Cảm ơn anh nhiều.
Thiên Sứ

Vậy thì Thiên Sứ sẽ quan niệm như thế nào cho Kim cục??? Đâu là nơi khởi Trường Sinh của Kim?? :)

Tubinh_giagia

long nguyen quang
02-03-2006, 09:22 AM
( gửi Tubinh_giagia) Như chúng ta đã biết, chúng ta đều học cùng một sách mà ra cả, phải không? Ai cũng học Bính và Mậu khởi tràng sinh tại dần cung, Kình dương tại ngọ. Đinh và Kỷ thì lộc tồn đóng tại ngọ và Kình Đà đóng tại Tỵ và Mùi ( vấn đề tiền kình hậu Đà sẽ bàn ở một topic khác ). Thế nhưng, một lý thuyết được chấp nhận là đúng chỉ khi thực tiễn phù hợp với lý thuyết đó ).
Đối với vấn đề trường sinh ở tỵ cung thì tôi cho là đúng do những điểm sau:
- Trong thực tế tôi áp dụng vào môn tử vi , tử bình, bốc phệ... thấy đúng.
- Khi xét một trạng thái có khi ta xem ngọn có khi xét gốc, nếu ta thấy không ổn khi kim trường sinh ở tỵ thì ta có thể yên tâm khi kim lâm quan và đế vượng ở thân và dậu. Thân dậu là trạng thái hiện hình của kim vậy !
Khi tôi nêu vấn đề này ra, chính là tôi muốn thăm dò xem có ai có nhận xét như tôi không, có ai đã từng vướng vấn đề này không? Các bạn hãy áp dụng theo cách của tôi vào lá số có can Mậu, kỷ ( vấn đề thổ cục tôi sẽ bàn ở một topic khác ) và các bạn chiêm nghiệm xem cái nào đúng thì các bạn theo, riêng tôi áp dụng khoảng 100 lá số thấy đúng. Con số 100 chưa phải là con số thống kê lớn, nhưng nó tạo cơ sở để chúng ta tiếp tục quan tâm về vấn đề này một cách nghiêm túc với qui mô rộng hơn.
( Vài dòng chia sẻ )

Thiên Sứ
02-03-2006, 10:38 AM
Anh Tubinh_giagia thân mến.
Anh hỏi:
Vậy thì Thiên Sứ sẽ quan niệm như thế nào cho Kim cục??? Đâu là nơi khởi Trường Sinh của Kim??

Tubinh_giagia thân mến.
Theo thiển ý của tui nhận thấy rằng:
Theo phép khởi Tràng Sinh trong Tứ hành của cục thì:
1) Dần Ngọ Tuất - tam hợp Hoả cục - trong đó Dần Mộc sinh Ngọ Hoả mộ ở Tuất.
Tràng Sinh khởi từ Dần.

2) Thân Tý Thìn - Tam hợp Thuỷ cục - Trong đó Thân Kim sinh Tý Thuỷ mộ ở Thìnđược
Tràng Sinh khởi từ Thân.

3) Hợi Mão Mùi -Tam hợp Mộc cục - Trong đó Hợi Thuỷ sinh Mão Mộc mộ ở Mùi.
Tràng Sinh khởi từ Hợi.

4) Tỵ Dậu Sửu - Tam hợp Kim cục - Trong đó Tỵ Hoả sinh Dậu Kim mộ ở Sửu.
Tràng Sinh khởi từ Tỵ

5) Thổ cục - Tràng Sinh khởi từ Thân (Chung với hành Thuỷ?!).

Trên đây là qui ước cho phương pháp an sao Tràng Sinh trong các sách Tử Vi phổ thông về môn này, Và các Tử Vi gia từ hàng ngàn năm vẫn an như vậy, sau đó là luận đoán và họ cũng không quan tâm lắm: "Tại sao lại như vậy?". Bởi vì, như tôi đã nhiều lần tường trên diễn đàn:
Một nguyên lý lý thuyết đã thất truyền, chỉ còn phương pháp ứng dụng và hiệu quả của nó. Bởi vậy người ta không thể giải thích vì sao lại như vậy.
Nhưng gần đây, tư duy logic từ khoa học Tây Phương đã khiến cho nhiều nhà nghiên cứu Đông phương xét lại các cơ sở phương pháp ứng dụng Đông phương. Và họ có nhiều ý kiến khác nhau. Cụ thể như cụ Thiên Lương cho rằng Tràng Sinh không khởi từ tứ di mà phải khởi từ tứ chính là Tý Ngọ Mão Dậu và cũng còn nhiều ý kiến khác.
Bây giờ chúng ta nhận xét Tứ hành : Kim. Mộc, Thuỷ, Hoả (Không có Thổ) trên thì có hành Kim là "có vẻ" không tuân theo qui luật tương sinh của Ngũ hành:
Tỵ Hoả làm sao sinh Dậu Kim?
Chưa hết, còn hành Thổ thì sẽ bắt đầu như thế nào? Tại sao không có "Tam hợp cục Thổ"
Có thể sẽ có nhiều cao thủ tham gia giải thích. Nhưng vấn đề là: Chứng minh nó tại sao lại như vậy thì lại là vấn đề khác.
Bây giờ chúng ta xét đến Nguyên nhân nào để Tỵ Âm Hoả sinh Dậu Âm Kim?
Nếu chúng ta ứng dụng lý thuyết của tôi:
Hậu thiên Lạc Việt - đổi chỗ Tốn Khôn - và liên hệ với Hà Đồ -
thì vấn đề sẽ được giải thích một cách nhất quán và hoàn chỉnh từ lý thuyết đó như sau:
1) Tỵ Âm Hoả trên Hà Đồ chính vị của Khôn thổ nên sinh Dậu Kim. Tức là Thổ sinh Kim theo đúng thuận tự tương sinh của Ngũ hành: Thổ sinh Kim.
2) Xét 4 hành Kim Thuỷ, Mộc Hoả ở trên thì Qui luật của nó là:
Tràng Sinh bao giờ cũng xuất phát từ hành tương sinh cục. Thí dụ: Cục Thuỷ Tràng Sinh ở Thân Kim, Kim sinh Thuỷ. Bởi vậy, Tràng Sinh Thổ cục phải tuân theo qui luật đó để xuất phát từ Tỵ Âm Hoả sinh Thổ - Chính vị Khôn Thổ là hợp lý.
Trên thực tế, tôi luôn ứng dụng những phương pháp của tôi để xem Tử Vi.
Vài lời tường sở ngộ.
Không tự cho là đúng. Xin để tham khảo.
Thiên Sứ

tubinh_giagia
03-03-2006, 01:00 AM
( gửi Tubinh_giagia) Như chúng ta đã biết, chúng ta đều học cùng một sách mà ra cả, phải không? Ai cũng học Bính và Mậu khởi tràng sinh tại dần cung, Kình dương tại ngọ. Đinh và Kỷ thì lộc tồn đóng tại ngọ và Kình Đà đóng tại Tỵ và Mùi ( vấn đề tiền kình hậu Đà sẽ bàn ở một topic khác ). Thế nhưng, một lý thuyết được chấp nhận là đúng chỉ khi thực tiễn phù hợp với lý thuyết đó ).


Cùng một sách đây là cho khoa Tử Bình mới có cách khởi Trường Sinh tại Dần cung cho Bính, Mậu như thế.... chứ theo Tử Vi thì không; như vậy, long nguyen quang cho rằng Thổ khởi tràng sinh tại cung ngọ ( hỏa sinh thổ) là chính xác hợp lý về phương diện nào? Tử Bình, Tử Vi hay Bốc Phệ...???

Còn chuyện tiền Kình, hậu Đà.. vâng, lại là một họa đề khác khá thích thú đấy!


Đối với vấn đề trường sinh ở tỵ cung thì tôi cho là đúng do những điểm sau:
- Trong thực tế tôi áp dụng vào môn tử vi , tử bình, bốc phệ... thấy đúng.
- Khi xét một trạng thái có khi ta xem ngọn có khi xét gốc, nếu ta thấy không ổn khi kim trường sinh ở tỵ thì ta có thể yên tâm khi kim lâm quan và đế vượng ở thân và dậu. Thân dậu là trạng thái hiện hình của kim vậy !


Nếu lấy thực tế kiểm nghiệm và áp dụng "thấy đúng" chứ chưa lý giải được theo nguyên tắc định luật của âm dương ngũ hành về hành KIM khởi Trường Sinh ở Tỵ cung - thì sao long nguyen quang lại đem luật ngũ hành sinh khắc ra mà chỉ định cho Thổ khởi tràng sinh tại cung ngọ ( hỏa sinh thổ) là hợp lý, chính xác???

Phải chi, long nguyen quang cứ nhất quán về thực tế kiểm nghiệm thì không gia thêm phần trong ngoặc ( hỏa sinh thổ) thì mình cũng không chất vấn mà chi; thế thôi! :)

Vậy rồi, long nguyen quang càng đi sâu vào lý giải rằng nào là lâm quan, đế vượng của bốn hành: Kim, Thủy, Mộc, Hỏa theo thứ tự Thân-Dậu, Hợi-Tí, Dần-Mão, Tỵ-Ngọ như trên thì lâm quan, đế vượng của hành Thổ là ở đâu???

Thành ra, dường như thiếu đi sự nhất quán trong luận lý!



Khi tôi nêu vấn đề này ra, chính là tôi muốn thăm dò xem có ai có nhận xét như tôi không, có ai đã từng vướng vấn đề này không? Các bạn hãy áp dụng theo cách của tôi vào lá số có can Mậu, kỷ ( vấn đề thổ cục tôi sẽ bàn ở một topic khác ) và các bạn chiêm nghiệm xem cái nào đúng thì các bạn theo, riêng tôi áp dụng khoảng 100 lá số thấy đúng. Con số 100 chưa phải là con số thống kê lớn, nhưng nó tạo cơ sở để chúng ta tiếp tục quan tâm về vấn đề này một cách nghiêm túc với qui mô rộng hơn.
( Vài dòng chia sẻ )

Tác giả Thiên Lương trong quyển Tử Vi Nghiệm Lý và Tử Vi Nghiệm Lý Toàn Thư cũng có đề cập đến "Người thuộc Thổ Ngũ Cục Tràng Sinh xuất phát từ vị trí nào?" và đã suy luận rằng:

"Theo luật ngũ hành sinh khắc cho biết Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ. Vậy hỏa cung phải là nơi điều động sinh cho Thổ cục. Hỏa có 2 cung Ngọ và Tỵ. Tỵ đã đóng góp phần cho Kim tứ cục [:)]. Phải chăng chỉ còn 1 Ngọ. Với sinh lực dồi dào, ngôi vị cửu ngũ cao đẹp nhất trong địa bàn thuộc Thái Dương quang minh, 2 chữ Ngọ môn lộng lẫy, chiếu tỏ chánh danh góp cả 2 mặt âm dương thuận hay nghịch lý, vừa trúng tư cách của Thổ ở vị trí trung ương theo Hà Đồ."

Thế nhưng tác giả vẫn khởi Tràng Sinh thuận cho người thuộc Thổ Ngũ Cục ở cung Thân (+ nam, - nữ) và khởi Tràng Sinh nghịch từ cung Tí cho (- nam, + nữ)...


Tubinh_giagia

tubinh_giagia
03-03-2006, 01:18 AM
Anh Tubinh_giagia thân mến.
Anh hỏi:
Vậy thì Thiên Sứ sẽ quan niệm như thế nào cho Kim cục??? Đâu là nơi khởi Trường Sinh của Kim??

Tubinh_giagia thân mến.

Bây giờ chúng ta nhận xét Tứ hành : Kim. Mộc, Thuỷ, Hoả (Không có Thổ) trên thì có hành Kim là "có vẻ" không tuân theo qui luật tương sinh của Ngũ hành:
Tỵ Hoả làm sao sinh Dậu Kim?
Chưa hết, còn hành Thổ thì sẽ bắt đầu như thế nào? Tại sao không có "Tam hợp cục Thổ"
Có thể sẽ có nhiều cao thủ tham gia giải thích. Nhưng vấn đề là: Chứng minh nó tại sao lại như vậy thì lại là vấn đề khác.
Bây giờ chúng ta xét đến Nguyên nhân nào để Tỵ Âm Hoả sinh Dậu Âm Kim?
Nếu chúng ta ứng dụng lý thuyết của tôi:
Hậu thiên Lạc Việt - đổi chỗ Tốn Khôn - và liên hệ với Hà Đồ -
thì vấn đề sẽ được giải thích một cách nhất quán và hoàn chỉnh từ lý thuyết đó như sau:
1) Tỵ Âm Hoả trên Hà Đồ chính vị của Khôn thổ nên sinh Dậu Kim. Tức là Thổ sinh Kim theo đúng thuận tự tương sinh của Ngũ hành: Thổ sinh Kim.
2) Xét 4 hành Kim Thuỷ, Mộc Hoả ở trên thì Qui luật của nó là:
Tràng Sinh bao giờ cũng xuất phát từ hành tương sinh cục. Thí dụ: Cục Thuỷ Tràng Sinh ở Thân Kim, Kim sinh Thuỷ. Bởi vậy, Tràng Sinh Thổ cục phải tuân theo qui luật đó để xuất phát từ Tỵ Âm Hoả sinh Thổ - Chính vị Khôn Thổ là hợp lý.
Trên thực tế, tôi luôn ứng dụng những phương pháp của tôi để xem Tử Vi.
Vài lời tường sở ngộ.
Không tự cho là đúng. Xin để tham khảo.
Thiên Sứ

:) Thiên Sứ có thấy sự thiếu nhất quán khi nhẩy từ ngũ hành của Cung đến Quẻ vị hay không???

Nên nhớ, sau khi hoán vị Tốn - Khôn, thì Thiên Sứ phải lại sửa Ngũ Hành của Bát Quái là Khôn vẫn giữ tính chất Âm Thổ ở cung Tỵ mà Tốn vốn dĩ Âm Mộc nay trở thành Âm Kim ở cung Thân ... Vì sao vẫn phải cố giữ tính chất KIM cho cung Thân mà cung Tỵ lại không còn là chất HỎA à??? Thứ đến, ở cung Hợi mang tính chất THỦY lại là nơi quẻ Càn cư trú mang hành Dương Thổ theo cách suy luận của Hậu Thiên VIỆT - thì sao lại sinh cho Mộc để khởi Trường Sinh cho MỘC cục hở? Vẫn phải lấy ngũ hành của cung mà định ngũ hành sinh khắc thôi....

Đôi lời chất vấn để khởi nghi... Tiểu nghi tiểu ngộ - Đại nghi đại ngộ.



Tubinh_giagia

Thiên Sứ
03-03-2006, 03:27 AM
Tubinh_giagia thân mến.
Bạn viết:
Thiên Sứ có thấy sự thiếu nhất quán khi nhẩy từ ngũ hành của Cung đến Quẻ vị hay không???

Nên nhớ, sau khi hoán vị Tốn - Khôn, thì Thiên Sứ phải lại sửa Ngũ Hành của Bát Quái là Khôn vẫn giữ tính chất Âm Thổ ở cung Tỵ mà Tốn vốn dĩ Âm Mộc nay trở thành Âm Kim ở cung Thân ... Vì sao vẫn phải cố giữ tính chất KIM cho cung Thân mà cung Tỵ lại không còn là chất HỎA à??? Thứ đến, ở cung Hợi mang tính chất THỦY lại là nơi quẻ Càn cư trú mang hành Dương Thổ theo cách suy luận của Hậu Thiên VIỆT - thì sao lại sinh cho Mộc để khởi Trường Sinh cho MỘC cục hở? Vẫn phải lấy ngũ hành của cung mà định ngũ hành sinh khắc thôi....

Đôi lời chất vấn để khởi nghi.

Như vậy là bạn chưa hiểu hết ý của tôi trong những lập luận liên quan đến Hậu Thiên Lạc Việt liên hệ với Hà Đồ rồi.

@ Bạn cho rằng:
Nên nhớ, sau khi hoán vị Tốn - Khôn, thì Thiên Sứ phải lại sửa Ngũ Hành của Bát Quái là Khôn vẫn giữ tính chất Âm Thổ ở cung Tỵ mà Tốn vốn dĩ Âm Mộc nay trở thành Âm Kim ở cung Thân ...
Điều này tôi diễn giải với bạn như sau:
Về quái Tốn:
Theo sách Tàu: Tốn có độ số 4 là độ số của Hành Kim, toạ Đông Nam.
Nay theo sách Việt đổi Tốn sang Tây Nam và liên hệ với Hà Đồ thì Tốn vẫn độ số 4 là độ số của hành Kim. Tính chất của Tốn không thay đổi và chỉ thay đổi phương vị. Bạn vẫn có thể gọi Tốn là mộc, trưởng nữ, gió.....tuỳ theo sự tương tác của Tốn với các quái. Tôi cũng vậy và chỉ đặt vấn đề: Tính chất nguyên thuỷ của Tốn trong tương tác là Âm Kim.
Về quái Khôn:
Theo sách Tàu: Khôn có độ số 2 là độ số của Âm Hoả, toạ Tấy Nam.
Nay theo sách Việt đổi Khôn sang Đông Nam và liên hệ với Hà Đồ thì Khôn vẫn tương ứng với độ số 2 là độ số của Âm Hoả. Tính chất của Khôn không thay đổi và chỉ thay đổi phương vị. Tính chất của Khôn vẫn là Thổ, là mẹ....Tôi chỉ đặt vấn đề: Âm Hoả sinh Thổ.
Bởi vậy, khi bạn cho rằng: "Tốn vốn dĩ Âm Mộc nay trở thành Âm Kim ở cung Thân ...Vì sao vẫn phải cố giữ tính chất KIM cho cung Thân mà cung Tỵ lại không còn là chất HỎA à" là hiểu sai vấn đề mà tôi đặt ra.
Chính vì cung Tỵ là Âm Hoả - Thuận với Hà Đồ và cả Thiên Bàn tử vi (Chiều thuận tương sinh của Ngũ hành), nên đã có sự giải thích hợp lý trên.
@ Bạn cho rằng:
Thứ đến, ở cung Hợi mang tính chất THỦY lại là nơi quẻ Càn cư trú mang hành Dương Thổ theo cách suy luận của Hậu Thiên VIỆT - thì sao lại sinh cho Mộc để khởi Trường Sinh cho MỘC cục hở? Vẫn phải lấy ngũ hành của cung mà định ngũ hành sinh khắc thôi....
Điều này tôi diễn giải với bạn như sau:
Trong Hậu thiên Lạc Việt chưa bao giờ có khái niệm quẻ Càn mang hành Dương Thổ. Có thể bạn hiểu nhầm điều này. Trong sự ứng dụng của Hậu Thiên Lạc Việt & Hà Đồ chỉ khác sự ứng dụng của Hậu thiên Tàu & Lạc Thư ở phần từ Đông Nam đến chính Tây, tuỳ theo phương pháp ứng dụng.
Từ Tấy Bắc đến chánh Đông hoàn toàn giống như sách cổ chỉ bổ xung thêm tính chất quái nguyên Thuỷ. Bởi vậy, khi bạn cho rằng: quẻ Càn cư trú mang hành Dương Thổ theo cách suy luận của Hậu Thiên VIỆT là không có cơ sở. Tôi chưa bao giờ viết điều này trong các tiểu luận của mình. Tính chất quái nguyên thuỷ của Càn là Kim Đới Thuỷ và nằm trong cung Âm Thuỷ trên Hà Đồ tương đương cung Hợi trong Tử Vi. Nên ko có gì mâu thuẫn khi Mộc cục Trường sinh tại Hợi. Còn bạn và một số người khác đặt Thổ cục trường sinh tại Ngọ thì cũng là ý kiến tham khảo. Tôi không phản bác. Nhưng tôi đặt Thổ cục trường sinh tại Tỵ, vì là sự hợp lý của các vấn đề liên quan và thống nhất có qui luật với 4 hành: Trường sinh xuất phát từ tứ di.
Bạn có thể không đồng ý với tôi.
Và tôi cũng chỉ coi đó là ý kiến riêng để bạn tham khảo.
Thiên Sứ

KARAJAN
03-03-2006, 03:54 AM
Kính gửi anh THIÊN SỨ

Cảm ơn anh đã hỏi thăm. Tôi xin có ý kiến đóng góp như sau. Nếu cho cung Thân là quái KHÔN ( theo Văn Vương ) hay là quái TỐN ( theo Lạc Việt) thì đều chưa đủ mà nó là như thế này :
+ Quái KHẢM thuộc Thuỷ đặt ở phía Chính Bắc - đó là cung Tý
+ Quái LY thuộc Hoả đặt ở phía Chính Nam- đó là cung Ngọ
+ Quái CHẤN thuộc Mộc đặt ở phía Chính Đông - đó là cung Mão
+ Quái ĐOÀI thuộc Kim đặt ở phía Chính Tây- đó là cung Dậu
+ Quái CẤN thuộc Thổ đới Hoả đặt phía Đông Bắc- nó thông thần bao gồm cả 2 cung Sửu Dần
+ Quái TỐN thuộc Kim đặt ở phía Tây Nam- nó thông thần bao gồm cả 2 cung Thân Mùi.
+ Quái CÀN thuộc Kim đới Thuỷ đặt ở phía Tây bắc - nó thông thần bao gồm cả 2 cung Tuất Hợi.
+ Quaí KHÔN thuộc Thổ đặt ở phía Đông Nam- nó thông thần bao gồm cả 2 cung Tỵ và Thìn.

4 cung CÀN KHÔN CẤN TỐN hợp với 12 cung từ Tý đến Hợi là 16 thần của Thái Ất. Trong đó:
+Ở CÀN Kim sinh Thuỷ, Thuỷ vượng sẽ sinh Mộc cho nên Hợi là Trường Sinh của Mộc
+Ở cung CẤN đới Hoả là khí THỔ của núi non, là gốc vững chắc để Mộc vươn lên cực vượng và Hoả được khởi sinh cho nên Dần là Trường SInh của Hoả.
+Ở cung KHÔN nó thông thần với Tỵ mang tính Thổ , cho nên Kim sinh khởi từ Tỵ ( bản thân cung Tỵ cũng là Ám Hoả, tính Dương Tạp).
+Ở cung TỐN nó thông thần với THân, Kim đã vượng cho nên bắt đầu sinh Thuỷ.
+Ở cung Ngọ, Hoả cực vượng nơi khí thuần dương cho nến mới bắt đầu sinh Thổ.

Đó là lý giải của tôi.

Anh Thiên Sứ kính mến ,
Đổi cung KHÔN sang Tỵ thì lý giải được rất trọn vẹn tại sao Kim lại khởi Trường Sinh ở Tỵ. Cung Tỵ là cung Âm Hoả , Hoả chưa đủ mạnh để sinh THỔ. Đó là theo ý riêng tôi.
Một lần nữa xin nhấn mạnh là HẬU THIÊN LẠC VIỆT cho ta 1 lý giải rất đẹp về vòng Trường Sinh.

Thân mến chào anh
KARAJAN

tubinh_giagia
03-03-2006, 05:16 AM
Tubinh_giagia thân mến.
Bạn viết:
Thiên Sứ có thấy sự thiếu nhất quán khi nhẩy từ ngũ hành của Cung đến Quẻ vị hay không???

Nên nhớ, sau khi hoán vị Tốn - Khôn, thì Thiên Sứ phải lại sửa Ngũ Hành của Bát Quái là Khôn vẫn giữ tính chất Âm Thổ ở cung Tỵ mà Tốn vốn dĩ Âm Mộc nay trở thành Âm Kim ở cung Thân ... Vì sao vẫn phải cố giữ tính chất KIM cho cung Thân mà cung Tỵ lại không còn là chất HỎA à??? Thứ đến, ở cung Hợi mang tính chất THỦY lại là nơi quẻ Càn cư trú mang hành Dương Thổ theo cách suy luận của Hậu Thiên VIỆT - thì sao lại sinh cho Mộc để khởi Trường Sinh cho MỘC cục hở? Vẫn phải lấy ngũ hành của cung mà định ngũ hành sinh khắc thôi....

Đôi lời chất vấn để khởi nghi.

Như vậy là bạn chưa hiểu hết ý của tôi trong những lập luận liên quan đến Hậu Thiên Lạc Việt liên hệ với Hà Đồ rồi.

@ Bạn cho rằng:
Nên nhớ, sau khi hoán vị Tốn - Khôn, thì Thiên Sứ phải lại sửa Ngũ Hành của Bát Quái là Khôn vẫn giữ tính chất Âm Thổ ở cung Tỵ mà Tốn vốn dĩ Âm Mộc nay trở thành Âm Kim ở cung Thân ...
Điều này tôi diễn giải với bạn như sau:
Về quái Tốn:
Theo sách Tàu: Tốn có độ số 4 là độ số của Hành Kim, toạ Đông Nam.
Nay theo sách Việt đổi Tốn sang Tây Nam và liên hệ với Hà Đồ thì Tốn vẫn độ số 4 là độ số của hành Kim. Tính chất của Tốn không thay đổi và chỉ thay đổi phương vị. Bạn vẫn có thể gọi Tốn là mộc, trưởng nữ, gió.....tuỳ theo sự tương tác của Tốn với các quái. Tôi cũng vậy và chỉ đặt vấn đề: Tính chất nguyên thuỷ của Tốn trong tương tác là Âm Kim.
Về quái Khôn:
Theo sách Tàu: Khôn có độ số 2 là độ số của Âm Hoả, toạ Tấy Nam.
Nay theo sách Việt đổi Khôn sang Đông Nam và liên hệ với Hà Đồ thì Khôn vẫn tương ứng với độ số 2 là độ số của Âm Hoả. Tính chất của Khôn không thay đổi và chỉ thay đổi phương vị. Tính chất của Khôn vẫn là Thổ, là mẹ....Tôi chỉ đặt vấn đề: Âm Hoả sinh Thổ.
Bởi vậy, khi bạn cho rằng: "Tốn vốn dĩ Âm Mộc nay trở thành Âm Kim ở cung Thân ...Vì sao vẫn phải cố giữ tính chất KIM cho cung Thân mà cung Tỵ lại không còn là chất HỎA à" là hiểu sai vấn đề mà tôi đặt ra.
Chính vì cung Tỵ là Âm Hoả - Thuận với Hà Đồ và cả Thiên Bàn tử vi (Chiều thuận tương sinh của Ngũ hành), nên đã có sự giải thích hợp lý trên.


:) Có hiểu sai hay không thì chúng ta hãy đặt ra vấn đề lại về Hà Đồ, Lạc Thư với tính chất ngũ hành của các quẻ nhé!

Trung Hoa

Hà Đồ: Đông (3+,8-) ; Tây (4-,9+) ; Nam (2-,7+) ; Bắc (1+,6-) và trung cung (5+,10-)

Lạc Thư: Đông (3+), Đông Bắc (8-) ; Tây (7+), Tây Nam (-2) ; Nam (9+), Đông Nam (4-) ; Bắc (1+), Tây Bắc (6-) và trung cung (5+)

Ghi chú: chỉ có bộ số (4-,9+) Tây với Nam (2-,7+) hoán vị từ Hà Đồ cùng độ số của nó... và ngũ hành thì bao gồm Đông (Mộc), Tây (kim), Nam (Hỏa), Bắc (Thủy) và Trung Cung (Thổ).

Quẻ: Càn (Kim); Khôn (Thổ) ; Ly (Hỏa) ; Khảm (Thủy) ; Chấn (mộc) ; Cấn (Thổ) ; Tốn (Mộc) ; Đoài (Kim)

--- oOo ---

Lạc Việt

Hà Đồ: Đông (3+,8-) ; Tây (4-,9+) ; Nam (2-,7+) ; Bắc (1+,6-) và trung cung (5+,10-)

Lạc Thư: Đông (3+), Đông Bắc (8-) ; Tây (7+), Tây Nam (-2) ; Nam (9+), Đông Nam (4-) ; Bắc (1+), Tây Bắc (6-) và trung cung (5+)

Ghi chú: chỉ có Tây Nam với Đông Nam hoán vị cùng độ số của nó... và ngũ hành thì bao gồm Đông (Mộc), Tây (kim), Nam (Hỏa), Bắc (Thủy) và Trung Cung (Thổ).

Quẻ: Càn (Kim); Khôn (Thổ) ; Ly (Hỏa) ; Khảm (Thủy) ; Chấn (mộc) ; Cấn (Thổ) ; Tốn (Mộc) ; Đoài (Kim)

--- oOo ---

Bảng tóm lược... Trung Hoa


[PV] HĐ | LT | BQ | NH
-----------------------
[CB] 1,6 | 1 | Khảm | Thủy
[ĐB] #,#| 8 | Cấn | Thổ
[CĐ] 3,8 | 3 | Chấn | Mộc
[ĐN] #,#| 4 | Tốn | Mộc >>>> Lạc Việt: 2, Khôn, Thổ
[CN] 2,7 | 9 | Ly | Hỏa
[TN] #,#| 2 | Khôn | Thổ >>>> Lạc Việt: 4, Tốn, Mộc
[CT] 4,9 | 7 | Đoài | Kim
[TB] #,#| 6 | Càn | Kim
[TC] 5,10|5 | #-# | #-#

PV = Phương Vị
HĐ = Hà Đồ
LT = Lạc Thư
BQ = Bát Quái
NH = Ngũ Hành

CĐ,CT,CN,CB = Chính (Đông, Tây, Nam, Bắc)
ĐB, ĐN, TB, TN = Tứ di
TC = Trung cung


Như vậy, cung Tỵ thuộc Hỏa góc Đông Nam ôm [4,Tốn, Mộc] và góc Tây Nam ôm [2, Khôn, Thổ] theo Trung Hoa và Lạc Việt thì hoán vị 2 góc này!

Đến đây có điều gì là hiểu sai vấn đề mà Thiên Sứ đã đặt ra không và tính chất ngũ hành của các quẻ ???

Đợi Thiên Sứ hồi âm cái đã rồi mình đi thẳng vào vấn đề nhé.... :)


@ Bạn cho rằng:
Thứ đến, ở cung Hợi mang tính chất THỦY lại là nơi quẻ Càn cư trú mang hành Dương Thổ theo cách suy luận của Hậu Thiên VIỆT - thì sao lại sinh cho Mộc để khởi Trường Sinh cho MỘC cục hở? Vẫn phải lấy ngũ hành của cung mà định ngũ hành sinh khắc thôi....
Điều này tôi diễn giải với bạn như sau:
Trong Hậu thiên Lạc Việt chưa bao giờ có khái niệm quẻ Càn mang hành Dương Thổ. Có thể bạn hiểu nhầm điều này. Trong sự ứng dụng của Hậu Thiên Lạc Việt & Hà Đồ chỉ khác sự ứng dụng của Hậu thiên Tàu & Lạc Thư ở phần từ Đông Nam đến chính Tây, tuỳ theo phương pháp ứng dụng.
Từ Tấy Bắc đến chánh Đông hoàn toàn giống như sách cổ chỉ bổ xung thêm tính chất quái nguyên Thuỷ. Bởi vậy, khi bạn cho rằng: quẻ Càn cư trú mang hành Dương Thổ theo cách suy luận của Hậu Thiên VIỆT là không có cơ sở. Tôi chưa bao giờ viết điều này trong các tiểu luận của mình. Tính chất quái nguyên thuỷ của Càn là Kim Đới Thuỷ và nằm trong cung Âm Thuỷ trên Hà Đồ tương đương cung Hợi trong Tử Vi. Nên ko có gì mâu thuẫn khi Mộc cục Trường sinh tại Hợi. Còn bạn và một số người khác đặt Thổ cục trường sinh tại Ngọ thì cũng là ý kiến tham khảo. Tôi không phản bác. Nhưng tôi đặt Thổ cục trường sinh tại Tỵ, vì là sự hợp lý của các vấn đề liên quan và thống nhất có qui luật với 4 hành: Trường sinh xuất phát từ tứ di.
Bạn có thể không đồng ý với tôi.
Và tôi cũng chỉ coi đó là ý kiến riêng để bạn tham khảo.
Thiên Sứ

Thiên Sứ viết là: Tôi chưa bao giờ viết điều này trong các tiểu luận của mình thì những gì viết ở đây có ý nghĩa như thế nào?



Trên cơ sở này ta thấy Lục Nhâm chính là sự sắp xếp theo những cặp đối xứng nhau như Khảm/ Ly; Tốn Đoài / Cấn Chấn; Khôn /Càn theo chiều tương khắc của Ngũ Hành. Xin xem sự mô tả dưới đây:



KHẢM-----------------LY-----------------TỐN & ĐOÀI

Thuỷ-------------------Hoả-----------------Kim

LƯU NIÊN--------TỐC HỶ----------XÍCH KHẨU




CÀN------------------KHÔN--------------CẤN & CHẤN

Dương Thổ----------Âm Thổ-------------Mộc

ĐẠI AN----------VÔ VONG-------TIỂU CÁT



Như vậy, một lần nữa đã chứng tỏ rằng:
Lạc Việt độn toán hoàn toàn dựa vào nhưng những lý thuyết căn bản của thuyết Âm Dương Ngũ hành và Kinh Dịch từ văn minh Lạc Việt. Ở đây là Hậu thiên Lạc Việt.




Tubinh_giagia

tubinh_giagia
03-03-2006, 07:11 AM
Tôi xin có ý kiến đóng góp như sau. Nếu cho cung Thân là quái KHÔN ( theo Văn Vương ) hay là quái TỐN ( theo Lạc Việt) thì đều chưa đủ mà nó là như thế này :
+ Quái KHẢM thuộc Thuỷ đặt ở phía Chính Bắc - đó là cung Tý
+ Quái LY thuộc Hoả đặt ở phía Chính Nam- đó là cung Ngọ
+ Quái CHẤN thuộc Mộc đặt ở phía Chính Đông - đó là cung Mão
+ Quái ĐOÀI thuộc Kim đặt ở phía Chính Tây- đó là cung Dậu
+ Quái CẤN thuộc Thổ đới Hoả đặt phía Đông Bắc- nó thông thần bao gồm cả 2 cung Sửu Dần
+ Quái TỐN thuộc Kim đặt ở phía Tây Nam- nó thông thần bao gồm cả 2 cung Thân Mùi.
+ Quái CÀN thuộc Kim đới Thuỷ đặt ở phía Tây bắc - nó thông thần bao gồm cả 2 cung Tuất Hợi.
+ Quaí KHÔN thuộc Thổ đặt ở phía Đông Nam- nó thông thần bao gồm cả 2 cung Tỵ và Thìn.



Như vậy ngũ hành của bát quái nay đã nẩy sinh phát kiến mới bằng cách chuyển giới tính chất của Tốn là Mộc thành Kim cơ... Thế nên, lúc trước có:

1 Hỏa
1 Thủy
2 Mộc
2 Thổ
2 Kim

giờ thì có:

1 Hỏa
1 Thủy
1 Mộc
2 Thổ
3 Kim

thành ra Tây Nam, chính Tây, Tây Bắc đều mang hành KIM cả!?



4 cung CÀN KHÔN CẤN TỐN hợp với 12 cung từ Tý đến Hợi là 16 thần của Thái Ất. Trong đó:
+Ở CÀN Kim sinh Thuỷ, Thuỷ vượng sẽ sinh Mộc cho nên Hợi là Trường Sinh của Mộc
+Ở cung CẤN đới Hoả là khí THỔ của núi non, là gốc vững chắc để Mộc vươn lên cực vượng và Hoả được khởi sinh cho nên Dần là Trường SInh của Hoả.
+Ở cung KHÔN nó thông thần với Tỵ mang tính Thổ , cho nên Kim sinh khởi từ Tỵ ( bản thân cung Tỵ cũng là Ám Hoả, tính Dương Tạp).
+Ở cung TỐN nó thông thần với THân, Kim đã vượng cho nên bắt đầu sinh Thuỷ.
+Ở cung Ngọ, Hoả cực vượng nơi khí thuần dương cho nến mới bắt đầu sinh Thổ.

Đó là lý giải của tôi.

KARAJAN



+cung Hợi - CÀN Kim sinh Thủy Hợi --> Thủy sinh MỘC nên MỘC khởi Trường Sinh... ở cung Hợi

Thế nhưng cách lý giải cũng vẫn còn chưa được nhất quán, nên cho mình phản bác chất vấn như sau:

+cung Dần - CẤN Thổ sinh (?) Mộc Dần --> Mộc sinh HỎA nên HỎA khởi Trường Sinh... ở cung Dần

+cung Tỵ - KHÔN Thổ sinh (?) Hỏa Tỵ --> Hỏa sinh THỔ nên THỔ khởi Trường Sinh... ở cung Tỵ

+cung Dần - TỐN Kim sinh (?) Kim Thân --> Kim sinh THỦY nên THỦY khởi Trường Sinh... ở cung Thân

Ngoài ra những đặt định hành đới với câu thông tùy tiện không đủ sức lý giải chung; đó là sự nhận định của mình từ những lý giải trên của Karajan!



Tubinh_giagia

Thiên Sứ
03-03-2006, 10:06 AM
Bạn Tubinh_giagia nhầm rồi!
Bạn hãy xem lại đoạn nói về Lục Nhâm mà chính bạn trích dẫn sau đây:

Nguyên văn bởi Thiên Sứ
Trên cơ sở này ta thấy Lục Nhâm chính là sự sắp xếp theo những cặp đối xứng nhau như Khảm/ Ly; Tốn Đoài / Cấn Chấn; Khôn /Càn theo chiều tương khắc của Ngũ Hành. Xin xem sự mô tả dưới đây:
KHẢM-----------------LY-----------------TỐN & ĐOÀI

Thuỷ-------------------Hoả-----------------Kim
LƯU NIÊN--------TỐC HỶ----------XÍCH KHẨU


CÀN------------------KHÔN--------------CẤN & CHẤN
Dương Thổ----------Âm Thổ-------------Mộc
ĐẠI AN----------VÔ VONG-------TIỂU CÁT

Bạn đã trích dẫn hoàn toàn chính xác.
Nhưng bạn có thấy khi có sự tương tác thì không còn là tính nguyên thuỷ ban đầu của Hậu Thiên Lạc Việt nữa (Chỉ đổi chỗ Tốn Khôn và phối với Hà Đồ). Mà là - Tôi xin trích lại đoạn này:
chính là sự sắp xếp theo những cặp đối xứng nhau như Khảm/ Ly; Tốn Đoài / Cấn Chấn; Khôn /Càn theo chiều tương khắc của Ngũ Hành.
Bạn Tubinh_giagia thân mến.
Khi tính chất tương tác thay đổi thì sự vật và hiện tượng sẽ thay đổi. Bây giờ Hậu thiên Lạc Việt đã được sắp xếp theo những cặp đối xứngthì tính chất của quẻ Càn - Trong sự tương tác cụ thể này sự sắp xếp theo những cặp đối xứng - thì Càn mang tính chất của Dương Thổ.
Điều này cũng như trong Thuyết Quái của Kinh Dịch viết:
Càn là trời, là cha, là đàn ông, là con ngựa....
Vậy lúc nào Càn là Trời, lúc nào là Cha; lúc nào là con ngựa...?
Hoặc một ví dụ khác: Khôn trong Kinh Dịch là mẹ, là đàn bà...Nhưng trong Phong Thuỷ Khôn nhập Trung cung lại là Đàn ông. Điều này sẽ không có gì mâu thuẫn, vì Hậu Thiên bát quái lúc này là sự ứng dụng trong một phương phương pháp khác - Phương pháp phong Thuỷ. Tất nhiên nó chịu một tương tác khác.

Bởi vậy, tôi lưu ý bạn Tubinh_giagia và tất cả những quí vị và anh em quan tâm đến Lạc Việt độn toán là:
Lạc Việt độn toán là sự ứng dụng nguyên lý căn bản của mọi phương pháp ứng dụng là Hậu thiên Lạc Việt chứ không phải là chính nguyên lý đó.
Tôi đã giải thích xong về điều này, còn các vấn đề khác mà bạn đặt ra liên quan đến Lạc Thư & Hà Đồ cùng Hậu Thiên, vì tạm thời tôi chưa có thời gian và đã diễn giải rất kỹ trong các tiểu luận và sách viết của tôi, nên chưa thể trả lời bạn Tubinh_giagia. Bạn có thể xem lại.
Cảm ơn sự quan tâm của bạn

Thiên Sứ

Thiên Sứ
03-03-2006, 10:54 AM
Bạn TuBinh_giagia thân mến.
Bài viết của bạn ở trên về v/d này rất dài, mà tôi thì thời gian bận rộn. Nhưng xem kỹ lại thì kết luận của bạn chỉ có vấn đề sau:

Như vậy, cung Tỵ thuộc Hỏa góc Đông Nam ôm [4,Tốn, Mộc] và góc Tây Nam ôm [2, Khôn, Thổ] theo Trung Hoa và Lạc Việt thì hoán vị 2 góc này!

Đến đây có điều gì là hiểu sai vấn đề mà Thiên Sứ đã đặt ra không và tính chất ngũ hành của các quẻ ???


Như vậy tôi đã chứng tỏ bạn đã hiểu sai vấn đề do tôi đặt ra nên đã đưa ra một sự thắc mắc sai:
Bạn viết:
Như vậy, cung Tỵ thuộc Hỏa góc Đông Nam ôm [4,Tốn, Mộc] và góc Tây Nam ôm [2, Khôn, Thổ] theo Trung Hoa và Lạc Việt thì hoán vị 2 góc này!
@ Bạn có thể xem lại các sách viết và tiểu luận của tôi. Tôi chỉ hoán vị đồ hình Hậu Thiên Tàu là đổi chỗ quái Tốn và Khôn, đồng thời liên hệ với Hà Đồ, chứ không hề hoán vị hai góc này trên Hà Đồ.
@ Theo sách Tàu thì chưa bao giờ người Trung Hoa lấy đồ hình Hà Đồ làm cơ sở cho Hậu Thiên Tàu (Theo cổ thư Tàu thì Tiên thiên bát quái liên hệ với Hà Đồ). Nhưng bạn lại viết:
Như vậy, cung Tỵ thuộc Hỏa góc Đông Nam ôm [4,Tốn, Mộc] và góc Tây Nam ôm [2, Khôn, Thổ] theo Trung Hoa.
Chỉ có trên Hà Đồ thì mới có "cung Tỵ thuộc Hỏa góc Đông Nam" , với độ số 2.
Còn Lạc Thư thì Đông nam độ số 4 là độ số của hành Kim.Ở Lạc thư và Hậu thiên bát quái tàu thì không có cơ sở nào để cho rằng: cung Tỵ thuộc Hỏa góc Đông Nam. cho dù là không đổi chỗ hoặc đổi chỗ Tốn & Khôn,
Bởi vậy, bạn hãy xem lại.
Thiên Sứ

long nguyen quang
03-03-2006, 11:47 AM
Bất cứ môn khoa học nào cũng được phát triển từ sự tương tác giữa lý thuyết và thực tiễn, từ lý thuyết khai triển ra thực tiễn hay tù thực tiễn ta qui nạp và suy luận thành lý thuyết. Cặp phạm trù này phát triển dược mức nào thì khoa học mới tiến bộ theo mức nấy. Bạn có thấy chăng khi nhiều ngành khoa học hiện nay chỉ ở mức đô mô tả?
Trở lại tử vi, một lá số chỉ có 12 cung, sự hoán vị , mô phỏng được áp dụng nhiều tầng, nhiều lớp, sao lưu và sao cố định đầy dãy theo nhiều trường phái khác nhau tạo nên khu rừng nguyên sinh tử vi trở nên bí hiểm, liệu những điều kẻ đi trước thấy và kể lại đã chính xác chưa? người thám hiểm sau vẫn có thể tìm ra cái mới mà chính mình mắt thấy tai nghe, thì mính có quyền tin chứ? Dù cho những điều này có vẽ nghịch lý với người đi trước.

long nguyen quang
03-03-2006, 12:25 PM
Bất cứ một môn khoa học nào cũng được phát triển từ cặp phạm trù lý thuyết và thực tiễn. Từ lý thuyết chúng ta áp dụng vào thực tiễn và ngược lại. Bạn có thấy chăng, khi hiện nay nhiều môn khoa học chỉ đang ở mức độ mô tả và qui nạp? Môn tử vi cũng không nằm ngoại lệ. Với 12 cung trên một lá số, tử vi đã áp dung nguyên tắc mô phỏng, hoán vị , sao lưu, sao cố định trùng trùng lớp lớp theo nhiều trường phái khác nhau làm cho môn tử vi trở thành" khu rừng nguyên sinh" bí hiểm, lắm lúc người đoán số giống như "thầy bói sờ voi". Những gì người đi trước thám hiểm được đâu phải lúc nào cũng chính xác? và những gì người đi sau tìm thấy trong khu rừng bí hiểm kia, mặc dù mắt thấy tai nghe, thì không dám cho là đúng? Hiện nay có nhiều quyển sách tử vi mới ra, nhiều người cho là hay, là bảo bối, chứng tỏ nó có cái mới chứ?
Hành hỏa trường sinh tại ngọ là có lý chứ? Hỏa sinh thổ là có lý chứ? Hay là chúng ta cứ hồ nghi và nghỉ rằng còn nguyên lý nào cao siêu hơn nữa như là một với một không thể là hai mà là... một cái gì đó cao siêu lắm !
Có ai lý giải được trong Bốc phệ chánh tông và tử vi thì thổ cục và thủy cục khởi tràng sinh tại cung thân và trong môn tử bình Mậu thổ lại tràng sinh tại cung dần, rồi Kỷ thổ lại tử tại cung dần? Lộc tồn trong tử vi được xác định bằng nguyên tắc nào vậy, nếu không phải là nguyên tắc giống như Lâm quan trong tử bình? Quanh đi quẩn lại chỉ có 12 cung với ngũ hành mà sao phức tạp thế ! ( Anh Tubinh_giagia có thể giải thích chăng?)

Thiên Sứ
04-03-2006, 02:53 AM
Anh Karajan thân mến.
Anh viết:
Đổi cung KHÔN sang Tỵ thì lý giải được rất trọn vẹn tại sao Kim lại khởi Trường Sinh ở Tỵ. Cung Tỵ là cung Âm Hoả , Hoả chưa đủ mạnh để sinh THỔ. Đó là theo ý riêng tôi.

Anh Karajan thân mến.
Vấn đề anh đặt ra tuy có vẻ đơn giản: Cung Tỵ là cung Âm Hoả , Hoả chưa đủ mạnh để sinh THỔ.Nhưng để lý giải vấn đề này lại rất phức tạp.

Tôi nghĩ rằng:
1) Bát quái trong cấu trúc Tiên Thiên đã xác định Khôn Thổ. Trong Hậu thiên Lạc Việt - Khôn Thổ chính vị tại Âm Hoả Đông Nam của Hà Đồ (Độ số 2).
2) Trong trang thái tương tác của Hà Đồ thì :
Xét hành Thuỷ:
Bắt đầu từ Âm Thuỷ độ số 6/ Tây Bắc (Chính vị Càn) sinh Dương Thuỷ độ số 1/ Chính Bắc (Chính vị Khảm).
Xét hành Mộc:
Thuỷ sinh Mộc - Bắt đầu từ Âm Mộc độ số 8 / Đông Bắc (Chính Vị Cấn) sinh Dương Mộc độ số 3/ Chính Đông (Chính vị Chấn).
Xét hành Hoả:
Mộc sinh Hoả - Bắt đầu từ Âm Hoả độ số 2/ Đông Nam (Chính vị Khôn/ Hậu Thiên Lạc Việt) sinh Dương Hoả độ số 7/ Chính Nam (Chính vị Ly).
Nhập trung - Hoả sinh Thổ (5/10).
Xét hành Kim:
Thổ sinh Kim - tiếp tục thuận chiều kim đồng hồ - Âm Kim độ số 4/ Tây Nam (Chính vị Tốn/ Hậu Thiên Lạc Việt) sinh Dương Kim độ số 9/ Chính Tây (Chính vị Đoài).
Chúng ta nhận thấy rằng: Phần từ Hoả sang Kim - nếu thuận theo chiều tương sinh của Hà Đồ thì độ số nhỏ (Âm) sinh độ số lớn. Ngược lại, phần từ Thuỷ sang Mộc - nếu thuận theo chiều kim đồng hồ thì độ số lớn (Âm) sinh độ số nhỏ. Vấn đề chính là : Nếu ta tiếp tục theo lý: số lớn sinh số nhỏ thì Dương Hoả độ số 7 sẽ sinh Âm Hoả độ số 2. Hoả Mộ sẽ sính Thổ. Do đó tiền nhân Lạc Việt đã đặt quái Khôn vào đấy.
# Tổng hợp hai điều đã dẫn 1 & 2 thì cung số Đông Nam ở Hà Đồ là Âm Hoả đới Thổ với sự xác định của Chính vị Khôn (Đã xác định định tính Thổ từ Tiên Thiên). Điều này giải thích vì sao Tỵ Âm Hoả lại sinh Dậu Âm kim thành Tam hợp cục Tỵ Dậu Sửu. Bởi vậy, nếu chỉ tách riêng Hà Đồ và không phối Hậu Thiên Lạc Việt thì sẽ không giải thích được vì sao Tỵ Âm Hoả chưa đủ mạnh để sinh Kim.
Còn nhiều vấn đề rất phức tạp liên quan đến đồ hình Hà Đồ mà chúng ta cần trao đổi riêng.
Kính thưa quí vị.
Đây chỉ là thiển ý của riêng cá nhân tôi trao đổi với anh Karajan. Tôi không tự cho là đúng, nên xin không phát triển những vấn đề đặt ra tiếp theo.
Thiên Sứ

tubinh_giagia
04-03-2006, 04:56 AM
Bạn TuBinh_giagia thân mến.
Bài viết của bạn ở trên về v/d này rất dài, mà tôi thì thời gian bận rộn. Nhưng xem kỹ lại thì kết luận của bạn chỉ có vấn đề sau:


Như vậy, cung Tỵ thuộc Hỏa góc Đông Nam ôm [4,Tốn, Mộc] và góc Tây Nam ôm [2, Khôn, Thổ] theo Trung Hoa và Lạc Việt thì hoán vị 2 góc này!

Đến đây có điều gì là hiểu sai vấn đề mà Thiên Sứ đã đặt ra không và tính chất ngũ hành của các quẻ ???


Như vậy tôi đã chứng tỏ bạn đã hiểu sai vấn đề do tôi đặt ra nên đã đưa ra một sự thắc mắc sai:
Bạn viết:
Như vậy, cung Tỵ thuộc Hỏa góc Đông Nam ôm [4,Tốn, Mộc] và góc Tây Nam ôm [2, Khôn, Thổ] theo Trung Hoa và Lạc Việt thì hoán vị 2 góc này!
@ Bạn có thể xem lại các sách viết và tiểu luận của tôi. Tôi chỉ hoán vị đồ hình Hậu Thiên Tàu là đổi chỗ quái Tốn và Khôn, đồng thời liên hệ với Hà Đồ, chứ không hề hoán vị hai góc này trên Hà Đồ.
@ Theo sách Tàu thì chưa bao giờ người Trung Hoa lấy đồ hình Hà Đồ làm cơ sở cho Hậu Thiên Tàu (Theo cổ thư Tàu thì Tiên thiên bát quái liên hệ với Hà Đồ). Nhưng bạn lại viết:
Như vậy, cung Tỵ thuộc Hỏa góc Đông Nam ôm [4,Tốn, Mộc] và góc Tây Nam ôm [2, Khôn, Thổ] theo Trung Hoa.
Chỉ có trên Hà Đồ thì mới có "cung Tỵ thuộc Hỏa góc Đông Nam" , với độ số 2.
Còn Lạc Thư thì Đông nam độ số 4 là độ số của hành Kim.Ở Lạc thư và Hậu thiên bát quái tàu thì không có cơ sở nào để cho rằng: cung Tỵ thuộc Hỏa góc Đông Nam. cho dù là không đổi chỗ hoặc đổi chỗ Tốn & Khôn,
Bởi vậy, bạn hãy xem lại.
Thiên Sứ



:) Cứ mãi bảo là sai vấn đề, chưa hiểu ý... vậy Thiên Sứ đã có bắt kịp lời mình đã đưa lên thảo luận với Thiên Sứ chưa vậy???

Chuyện quá đơn giản mà... Thiên Sứ lại phức tạp hóa; đương nhiên, cái chuyện Thiên Sứ đề khởi đổi chỗ Tốn & Khôn chẳng qua là "dời quẻ" thôi - nhưng điều đáng nói ở đây là mình đã lập lại cái bảng tóm lược Hà Đồ, Lạc Thư, Bát Quái, Ngũ Hành để tránh cái cảnh lấy râu ông nọ cắm càm bà kia... vậy mà Thiên Sứ đã có chú ý đâu???

Khi mình nói rằng: Như vậy, cung Tỵ thuộc Hỏa góc Đông Nam ôm [4,Tốn, Mộc] và cung Thân thuộc Kim góc Tây Nam ôm [2, Khôn, Thổ] theo Trung Hoa và Lạc Việt thì hoán vị 2 góc này! để rồi Thiên Sứ không bắt kịp ý.. LÀ VÌ mình không ghi thêm phần màu đỏ ở trong đó! Với lại "hoán vị" đây theo mạch văn và trong tiêu đề thảo luận là "vị trí của 2 quẻ Tốn & Khôn chỉ thay đổi phương vị" chứ đâu phải đem góc Tây Nam sang Đông Nam...


Vì rằng, chuyện chúng ta đang thảo luận là 4 cung góc khởi Trường Sinh của Tử Vi nên tính chất ngũ hành thuộc tính của các cung đã được định sẵn - rồi giờ đây vì để giải thích cung Tỵ thuộc Hỏa lý ra khắc Kim sao lại có thể khởi Trường Sinh ở đó thôi (?). Thế nên, Thiên Sứ mới viện dẫn sự "dời quẻ" Tốn & Khôn để Khôn sang góc Đông Nam Tỵ cung để lý giải quẻ Khôn hành Thổ mà sinh Kim... phải chăng mình đã có hiểu sai ý của Thiên Sứ không? :)

Muốn lý giải sao thì lý.. nhưng cần sự nhất quán và cũng cần thiết để ý rằng đây là đang áp dụng quẻ vị Hà Đồ, Lạc Thư lên trên Tử Vi nhé!


Hà Đồ thì ngoài trung cung, có 4 phương chính (Đông, Tây, Nam, Bắc) và mỗi phương vị gồm cả 2 số Âm Dương và sau đó Ngũ Hành được tra vào để cụ thể hóa sinh thành hoại diệt, tiêu trưởng của Âm Dương như sau:

Đông = Mộc (3,8)
Tây = Kim (4,9)
Nam = Hỏa (2,7)
Bắc = Thủy (1,6)

và Trung Cung = Thổ (5,10)

Phương hướng là ĐỊNH VỊ, các cặp độ số âm dương LUÂN VỊ nên khi sang Lạc Thư thì cặp độ số âm dương từ Hà Đồ phương vị Tây và Nam đã đổi chỗ NHƯNG phương hướng Ngũ Hành vẫn không thay đổi!

Điều này, cho ta thấy lời diễn giải của Thiên Sứ:


Về quái Tốn:
Theo sách Tàu: Tốn có độ số 4 là độ số của Hành Kim, toạ Đông Nam.
Nay theo sách Việt đổi Tốn sang Tây Nam và liên hệ với Hà Đồ thì Tốn vẫn độ số 4 là độ số của hành Kim. Tính chất của Tốn không thay đổi và chỉ thay đổi phương vị. Bạn vẫn có thể gọi Tốn là mộc, trưởng nữ, gió.....tuỳ theo sự tương tác của Tốn với các quái. Tôi cũng vậy và chỉ đặt vấn đề: Tính chất nguyên thuỷ của Tốn trong tương tác là Âm Kim.


về độ số của 4 mang Hành Kim tọa Đông Nam là có vấn đề! Hãy khoang mang Bát quái vào đây đã mà chỉ chú ý đến các con số và phương hướng - thì độ số 4 tọa ở hướng Chính Tây mang Hành Kim của Hà Đồ mà thội

Kế đến, ở Lạc Thư thì nẩy sinh Tứ Di với những con số như sau:

[ĐN: 4][CN: 9][TN: 2]
[CĐ: 3][TC: 5][CT: 7]
[ĐB: 8][CB: 1][TB: 6]

thì số 4 tọa ở Đông Nam. Còn việc số 4 mang Hành gì thì hãy chờ đã...

Nay xét, Ngũ Hành lập ra là chỉ định cho phương hướng - còn độ số tùy thuộc luân vị và dù có mang hơi xông hương ướp của Ngũ Hành hướng thì cũng là hạn định ở nơi chốn ấy; ví như Lạc vị Thư hiên hà xứ thì biến chất cũng là thường tình.

Nhưng mà vầy, nếu như gán đặt cho con số mang Hành ở Hà Đồ theo phương hướng thì:

Mộc (3,8)
Kim (4,9)
Hỏa (2,7)
Thủy (1,6)
Thổ (5,10)

ở Lạc Thư sẽ là như sau:

[ĐN: 4 Kim][CN: 9 Kim][TN: 2 Hỏa]
[CĐ: 3 Mộc][TC: 5 Thổ][CT: 7 Hỏa]
[ĐB: 8 Mộc][CB: 1 Thủy][TB: 6 Thủy]

để được NHẤT QUÁN phải không nào??? :)

Nếu ở đây mà hoán vị độ số 2 và 4 thì ta sẽ có:

[ĐN: 2 Hỏa][CN: 9 Kim][TN: 4 Kim]
[CĐ: 3 Mộc][TC: 5 Thổ][CT: 7 Hỏa]
[ĐB: 8 Mộc][CB: 1 Thủy][TB: 6 Thủy]

nên mới có chuyện dẫn giải của Thiên Sứ rằng:


Về quái Khôn:
Theo sách Tàu: Khôn có độ số 2 là độ số của Âm Hoả, toạ Tấy Nam.
Nay theo sách Việt đổi Khôn sang Đông Nam và liên hệ với Hà Đồ thì Khôn vẫn tương ứng với độ số 2 là độ số của Âm Hoả. Tính chất của Khôn không thay đổi và chỉ thay đổi phương vị. Tính chất của Khôn vẫn là Thổ, là mẹ....Tôi chỉ đặt vấn đề: Âm Hoả sinh Thổ.


để giải thích cho câu hỏi của mình "Vậy thì Thiên Sứ sẽ quan niệm như thế nào cho Kim cục??? Đâu là nơi khởi Trường Sinh của Kim??":


1) Tỵ Âm Hoả trên Hà Đồ chính vị của Khôn thổ nên sinh Dậu Kim. Tức là Thổ sinh Kim theo đúng thuận tự tương sinh của Ngũ hành: Thổ sinh Kim.

2) Xét 4 hành Kim Thuỷ, Mộc Hoả ở trên thì Qui luật của nó là:
Tràng Sinh bao giờ cũng xuất phát từ hành tương sinh cục. Thí dụ: Cục Thuỷ Tràng Sinh ở Thân Kim, Kim sinh Thuỷ. Bởi vậy, Tràng Sinh Thổ cục phải tuân theo qui luật đó để xuất phát từ Tỵ Âm Hoả sinh Thổ - Chính vị Khôn Thổ là hợp lý.


Nay trích dẫn lần hồi thứ lớp thì Thiên Sứ đã có nhận ra chỗ không NHẤT QUÁN của Thiên Sứ chưa???

Thiên Sứ bảo rằng Thổ sinh Kim là do ngũ hành cung sinh, do tính chất của Bát quái hay là hành của độ số về Trường Sinh của KIM khởi ở Tỵ cung?

Như xét ra, thì tính chất của Khôn là Thổ sinh KIM chứ Tỵ cung âm Hỏa độ số 2 không phải là hành tương sinh cục rồi đó nghen :)

Mà nè, khi Thiên Sứ viết là Tỵ Âm Hỏa là nói về âm dương thuộc tính của 12 cung địa chi hay là nói về độ số 2 Âm Hỏa hở??


Thứ đến Thân (Âm/Dương?) Kim trên Hà Đồ chính vị của Tốn mộc nên sinh Tí Thủy chứ lị???

Thiên Sứ còn quên 2 cung kia nữa...

Thứ đến Hợi (Âm/Dương?) Thủy trên Hà Đồ chính vị của Càn kim nên sinh Tí Mão Mộc chứ lị???

Thứ đến Dần (Âm/Dương?) Mộc trên Hà Đồ chính vị của Cấn thổ nên sinh Ngọ Hỏa chứ lị???


Với lại, Thiên Sứ cũng đã thừa nhận:



Trên thực tế, tôi luôn ứng dụng những phương pháp của tôi để xem Tử Vi.
Vài lời tường sở ngộ.
Không tự cho là đúng. Xin để tham khảo.



nên mình có những cuộc đối thoại này vậy!


Đến đây thì Thiên Sứ có còn lập luận cho rằng mình hiểu sai vấn đề của Thiên Sứ đặt ra không???

Còn chuyện tra ngũ hành vào Bát Quái:


KHẢM thuộc Thuỷ - Chánh Bắc
LY thuộc Hoả - Chánh Nam
CHẤN thuộc Mộc - Chánh Đông
ĐOÀI thuộc Kim - Chánh Tây
CẤN thuộc Thổ - Đông Bắc
TỐN thuộc Mộc - Đông Nam
CÀN thuộc Kim - Tây Bắc
KHÔN thuộc Thổ - Tây Nam


là từ Hà Đồ hay Lạc Thư hay là như thế nào đó lại là một chuyện khác ...



Tubinh_giagia

tubinh_giagia
04-03-2006, 08:13 AM
Bất cứ một môn khoa học nào cũng được phát triển từ cặp phạm trù lý thuyết và thực tiễn. Từ lý thuyết chúng ta áp dụng vào thực tiễn và ngược lại. Bạn có thấy chăng, khi hiện nay nhiều môn khoa học chỉ đang ở mức độ mô tả và qui nạp? Môn tử vi cũng không nằm ngoại lệ. Với 12 cung trên một lá số, tử vi đã áp dung nguyên tắc mô phỏng, hoán vị , sao lưu, sao cố định trùng trùng lớp lớp theo nhiều trường phái khác nhau làm cho môn tử vi trở thành" khu rừng nguyên sinh" bí hiểm, lắm lúc người đoán số giống như "thầy bói sờ voi". Những gì người đi trước thám hiểm được đâu phải lúc nào cũng chính xác? và những gì người đi sau tìm thấy trong khu rừng bí hiểm kia, mặc dù mắt thấy tai nghe, thì không dám cho là đúng? Hiện nay có nhiều quyển sách tử vi mới ra, nhiều người cho là hay, là bảo bối, chứng tỏ nó có cái mới chứ?


Như long nguyen quang có nói: đã là đang ở mức độ mô tả và qui nạp của những thống kê cho thấy - thì cứ như vậy mà thấy mà xét; như không thì lại phải lý giải cho NHẤT QUÁN mới gọi là học thuật chứ!




Hành hỏa trường sinh tại ngọ là có lý chứ? Hỏa sinh thổ là có lý chứ? Hay là chúng ta cứ hồ nghi và nghỉ rằng còn nguyên lý nào cao siêu hơn nữa như là một với một không thể là hai mà là... một cái gì đó cao siêu lắm !
Có ai lý giải được trong Bốc phệ chánh tông và tử vi thì thổ cục và thủy cục khởi tràng sinh tại cung thân và trong môn tử bình Mậu thổ lại tràng sinh tại cung dần, rồi Kỷ thổ lại tử tại cung dần? Lộc tồn trong tử vi được xác định bằng nguyên tắc nào vậy, nếu không phải là nguyên tắc giống như Lâm quan trong tử bình? Quanh đi quẩn lại chỉ có 12 cung với ngũ hành mà sao phức tạp thế ! ( Anh Tubinh_giagia có thể giải thích chăng?)


Nay nhìn ở 12 cung địa chi, ta thấy có từng cặp âm dương của (Mộc, Hỏa, Kim, Thủy) tứ hành dàn trải ở bốn góc và tứ chính - trong khi hành Thổ thì tản mác ở tứ mộ Thìn, Tuất (dương) và Sửu, Mùi (âm); nghĩa là chỉ có 4 Mộ là chính và Mộ có nghĩa "chôn vùi" mà (Mộc, Hỏa, Kim, Thủy) "chôn vùi" ở mô??? THỔ vậy!

Dưới hình thức mô tả trên thì ta dễ dàng nhìn thấy các cặp âm dương của (Mộc, Hỏa, Kim, Thủy) phải bắt đầu từ một trong 4 góc để đến Lâm Quan, Đế Vượng cung của (Mộc, Hỏa, Kim, Thủy) mà không phải qua diễn giải lý tương sinh...

Thế còn Thổ thì sao ?? Thật ra, không có lúc nào tử tuyệt nên xét cho cùng thì ngoài nguyên lý mẫu vượng, tử tướng thì 4 cung Thổ như:

Thìn - ôn noản mà nhuận
Tuất - cao kháng mà táo
Sửu - tỳ thấp mà hàn
Mùi - ôn noản mà táo

để tàng dư khí của (Mộc, Hỏa, Kim, Thủy) là MỘ khố của (Mộc, Hỏa, Kim, Thủy) ...

Như muốn đặt để thì Dần Thân là hai chỗ ký gửi sống nhơ của Thổ làm Trường Sinh ... đến Lâm Quan Lộc nhờ ở Tỵ Hợi ... nên có phân biệt VƯỢNG, SUY mà thôi; lấy Thìn, Tuất dương cung làm chổ VƯỢNG của dương Thổ nên đến Sửu, Mùi âm cung làm chỗ Suy - ngược lại cho âm Thổ, lấy Sửu, Mùi âm cung làm chổ VƯỢNG của âm Thổ nên đến Thìn, Tuất dương cung làm chỗ Suy thể theo âm dưong quy lý.

Thứ đến, theo Lạc Thư Hậu Thiên Bát Quái: Cấn - Khôn ở hai góc Đông Bắc (Dần) - Tây Nam (Thân) mang hành Thổ nên mới có việc dẫn giải chỗ ký gửi Trường Sinh đó vậy!

--- oOo ---

Về việc, Kỷ thổ TỬ ở Dần ... là theo nguyên lý "Dương tử Âm sinh" và ngược lại "Âm tử Dương sinh" miêu tả sự thuận nghịch của âm dương.

Vâng! Lộc Tồn trong Tử Vi theo qui luật Lâm Quan của Tử Bình và nhất là những sao an trong Tử Vi dựa theo thiên Can đều bắt nguồn từ nguyên lý trong Tử Bình đó thôi ...

Tubinh_giagia

tubinh_giagia
04-03-2006, 08:35 AM
Bạn Tubinh_giagia nhầm rồi!
Bạn hãy xem lại đoạn nói về Lục Nhâm mà chính bạn trích dẫn sau đây:


Trên cơ sở này ta thấy Lục Nhâm chính là sự sắp xếp theo những cặp đối xứng nhau như Khảm/ Ly; Tốn Đoài / Cấn Chấn; Khôn /Càn theo chiều tương khắc của Ngũ Hành. Xin xem sự mô tả dưới đây:
KHẢM-----------------LY-----------------TỐN & ĐOÀI

Thuỷ-------------------Hoả-----------------Kim
LƯU NIÊN--------TỐC HỶ----------XÍCH KHẨU


CÀN------------------KHÔN--------------CẤN & CHẤN
Dương Thổ----------Âm Thổ-------------Mộc
ĐẠI AN----------VÔ VONG-------TIỂU CÁT



Bạn đã trích dẫn hoàn toàn chính xác.
Nhưng bạn có thấy khi có sự tương tác thì không còn là tính nguyên thuỷ ban đầu của Hậu Thiên Lạc Việt nữa (Chỉ đổi chỗ Tốn Khôn và phối với Hà Đồ). Mà là - Tôi xin trích lại đoạn này:
chính là sự sắp xếp theo những cặp đối xứng nhau như Khảm/ Ly; Tốn Đoài / Cấn Chấn; Khôn /Càn theo chiều tương khắc của Ngũ Hành.


Như Thiên Sứ bảo là sự sắp xếp theo những cặp đối xứng thì không có gì đáng để chất vấn - nhưng một khi tra ngũ hành rồi ngôn rằng: theo chiều tương khắc của Ngũ Hành thì nó không mang ý nghĩa NHẤT QUÁN nhất như...

Thiên Sứ cũng không lý giải về việc Càn mang hành Dương Thổ và Cấn mang hành Mộc (mà không có phân định âm/dương)... :)



Bạn Tubinh_giagia thân mến.
Khi tính chất tương tác thay đổi thì sự vật và hiện tượng sẽ thay đổi. Bây giờ Hậu thiên Lạc Việt đã được sắp xếp theo những cặp đối xứngthì tính chất của quẻ Càn - Trong sự tương tác cụ thể này sự sắp xếp theo những cặp đối xứng - thì Càn mang tính chất của Dương Thổ.
Điều này cũng như trong Thuyết Quái của Kinh Dịch viết:
Càn là trời, là cha, là đàn ông, là con ngựa....
Vậy lúc nào Càn là Trời, lúc nào là Cha; lúc nào là con ngựa...?
Hoặc một ví dụ khác: Khôn trong Kinh Dịch là mẹ, là đàn bà...Nhưng trong Phong Thuỷ Khôn nhập Trung cung lại là Đàn ông. Điều này sẽ không có gì mâu thuẫn, vì Hậu Thiên bát quái lúc này là sự ứng dụng trong một phương phương pháp khác - Phương pháp phong Thuỷ. Tất nhiên nó chịu một tương tác khác.


Thiên Sứ nên rõ về lời mình nói khi bảo rằng: sự sắp xếp theo những cặp đối xứng - thì Càn mang tính chất của Dương Thổ thì Càn đối xứng với quẻ nào? Quẻ KHÔN ư? Thì có thể mang tính chất Dương vối với Âm nhưng còn ngũ hành thì sao? Khôn - Âm Thổ đối xứng với Càn - Dương Thổ là tương khắc của Ngũ Hành à???

Ví như Khảm / Ly thì có Thủy / Hỏa

Ví như Tốn Đoài / Cấn Chấn thì có Kim / Mộc... ok

Lạ nhỉ?!


Tubinh_giagia

Thiên Sứ
04-03-2006, 01:09 PM
Bạn Tubinh_giagia thân mến.
Tôi muốn trả lời rõ ràng cho từng câu hỏi của bạn. Nhưng thật sự không có thời gian. Mấy ngày hôm nay lo lắng và công việc bù đầu đến bệnh luôn. Tôi nghĩ hình như bạn chưa xem đầy đủ và chi tiết những tiểu luận và cuốn sách của tôi.
Tôi chỉ xin lưu ý bạn là:
Trong Lý thuyết của tôi về nguyên lý ứng dụng không hề có khái niệm Lạc Thư. Điều này chỉ có trong sách Hán. Tôi chỉ dùng Hà Đồ.
Hy vọng chúng ta nếu có duyên gặp, chúng ta sẽ có dịp trao đổi trực tiếp thì khối lương các vấn đề sẽ lớn và dễ hiểu hơn.
Thiên Sứ

Thiên Sứ
04-03-2006, 01:41 PM
Tubinh_giagia thân mến.
Trong khi chờ đợi cơm trưa, tôi có thể trả lời câu hỏi cuối cùng của bạn như sau:
Thiên Sứ nên rõ về lời mình nói khi bảo rằng: sự sắp xếp theo những cặp đối xứng - thì Càn mang tính chất của Dương Thổ thì Càn đối xứng với quẻ nào? Quẻ KHÔN ư? Thì có thể mang tính chất Dương vối với Âm nhưng còn ngũ hành thì sao? Khôn - Âm Thổ đối xứng với Càn - Dương Thổ là tương khắc của Ngũ Hành à???

Ví như Khảm / Ly thì có Thủy / Hỏa

Ví như Tốn Đoài / Cấn Chấn thì có Kim / Mộc... ok

Lạ nhỉ?!

Tubinh_giagia thân mến.
Về điều này, trước khi trả lời bạn, tôi xin lưu ý bạn một việc như sau:
#Trong cổ thư chữ Hán thì Giáp hợp kỷ. Giáp Mộc sao hợp Kỷ thổ?
Bạn có thấy lạ không?
# Trong Phong thuỷ: Tây Bắc là Âm Thuỷ, Bắc là Dương thuỷ. Tại sao lại thuộc về Đông Tây trạch khác nhau và tương khắc với nhau?
Bạn có thấy lạ không?
Riêng tôi không lạ và coi là điều tất nhiên. Vì từ nguyên lý căn bản của một lý thuyết, qua nhiều trang thái tương tác phức tạp đến một sự ứng dụng trong một phương pháp cụ thể nào đó thì tính chất tương tác sẽ thay đổi. Đấy là ý niệm tổngquan. Còn trên thực tế lý luận thì tôi đã chứng minh điều này, trong các sách và tiểu luận của mình.
Bởi vậy, Càn lúc này tương ứng với Dương Thổ và Khôn là Âm thổ theo lý sẽ khắc nhau theo chiều thuận. Âm Thổ khắc Dương thổ, Về lý thì:

Âm Hoả đới Thổ (Khôn độ số 2. Đông Nam trên Hà Đồ/ Theo lý thuyết của tôi) khắc Dương Kim đới Thuỷ (Càn độ số 6. Tấy Bắc trên Hà Đồ/ Theo Lý thuyết của tôi).
Tôi đã giải thích xong vì sao Âm Thổ khắc Dương Thổ trong Lạc Việt độn toán

Tôi cũng xin lưu ý quí vị và anh em quan tâm đến Lạc Việt độn toán là:
Trường hợp coi Càn là Dương Thổ (Đại An) bị Khôn là Âm Thổ (Vô vong) khắc theo chiều thuận. Chỉ ứng dụng trong lý thuyết của Lạc Việt độn toán.
Điều này cũng như Khôn dùng trong bốc Dịch là đàn bà , nhưng trong Phong Thuỷ lại tượng cho đàn ông. Khôn tượng cho Đàn ông chỉ ứng dụng trong phong Thuỷ. Tức là tính chất thay đổi chỉ ở một phương pháp ứng dụng cụ thể.
Cảm ơn sự quan tâm của bạn và quí vị.
Thiên Sứ

tubinh_giagia
07-03-2006, 01:26 AM
Bạn Tubinh_giagia thân mến.
Tôi muốn trả lời rõ ràng cho từng câu hỏi của bạn. Nhưng thật sự không có thời gian. Mấy ngày hôm nay lo lắng và công việc bù đầu đến bệnh luôn. Tôi nghĩ hình như bạn chưa xem đầy đủ và chi tiết những tiểu luận và cuốn sách của tôi.


:) Không cần gì vội đâu Thiên Sứ ạ!

Miễn sao khi lý giải được NHẤT QUÁN là mình vui rồi, nhớ nhé!

Về chuyện mình có xem đầy đủ và chi tiết những tiểu luận và cuốn sách của Thiên Sứ chưa hay là Thiên Sứ chưa lý giải đầy đủ và chi tiết trong những tiểu luận và cuốn sách - (??) cần nên làm sáng tỏ qua những lần đối thoại này đấy! :)


Tôi chỉ xin lưu ý bạn là:
Trong Lý thuyết của tôi về nguyên lý ứng dụng không hề có khái niệm Lạc Thư. Điều này chỉ có trong sách Hán. Tôi chỉ dùng Hà Đồ.
Hy vọng chúng ta nếu có duyên gặp, chúng ta sẽ có dịp trao đổi trực tiếp thì khối lương các vấn đề sẽ lớn và dễ hiểu hơn.
Thiên Sứ

Đừng nói rằng Thiên Sứ viết sách này nọ, tiểu luận nọ kia về Kinh Dịch, Hà Đồ, Lạc Thư, Bát Quái v.v... mà không rõ HÀ ĐỒ chỉ là những chấm đen trắng từng nhóm... chứ có sắp đặt thành cửu cung cùng với những con số bao giờ ???

Tôi chỉ dùng Hà Đồ. :)

Mà nè, lý do mà có Lạc Thư với những con số cộng chéo, ngang và dọc đều cùng là con số 15 lại là điều mà Thiên Sứ có điều nghiên chưa vậy?


Tubinh_giagia

tubinh_giagia
07-03-2006, 01:45 AM
Tubinh_giagia thân mến.
Trong khi chờ đợi cơm trưa, tôi có thể trả lời câu hỏi cuối cùng của bạn như sau:
Thiên Sứ nên rõ về lời mình nói khi bảo rằng: sự sắp xếp theo những cặp đối xứng - thì Càn mang tính chất của Dương Thổ thì Càn đối xứng với quẻ nào? Quẻ KHÔN ư? Thì có thể mang tính chất Dương vối với Âm nhưng còn ngũ hành thì sao? Khôn - Âm Thổ đối xứng với Càn - Dương Thổ là tương khắc của Ngũ Hành à???

Ví như Khảm / Ly thì có Thủy / Hỏa

Ví như Tốn Đoài / Cấn Chấn thì có Kim / Mộc... ok

Lạ nhỉ?!

Tubinh_giagia thân mến.
Về điều này, trước khi trả lời bạn, tôi xin lưu ý bạn một việc như sau:
#Trong cổ thư chữ Hán thì Giáp hợp kỷ. Giáp Mộc sao hợp Kỷ thổ?
Bạn có thấy lạ không?
# Trong Phong thuỷ: Tây Bắc là Âm Thuỷ, Bắc là Dương thuỷ. Tại sao lại thuộc về Đông Tây trạch khác nhau và tương khắc với nhau?
Bạn có thấy lạ không?


:) Mấy vấn đề này thì mình chẳng có gì lạ... nhưng LẠ thay ở phần dưới đây cơ....


Riêng tôi không lạ và coi là điều tất nhiên. Vì từ nguyên lý căn bản của một lý thuyết, qua nhiều trang thái tương tác phức tạp đến một sự ứng dụng trong một phương pháp cụ thể nào đó thì tính chất tương tác sẽ thay đổi. Đấy là ý niệm tổngquan. Còn trên thực tế lý luận thì tôi đã chứng minh điều này, trong các sách và tiểu luận của mình.
Bởi vậy, Càn lúc này tương ứng với Dương Thổ và Khôn là Âm thổ theo lý sẽ khắc nhau theo chiều thuận. Âm Thổ khắc Dương thổ, Về lý thì:

Âm Hoả đới Thổ (Khôn độ số 2. Đông Nam trên Hà Đồ/ Theo lý thuyết của tôi) khắc Dương Kim đới Thuỷ (Càn độ số 6. Tấy Bắc trên Hà Đồ/ Theo Lý thuyết của tôi).
Tôi đã giải thích xong vì sao Âm Thổ khắc Dương Thổ trong Lạc Việt độn toán


Đã có hỏi Thiên Sứ đính chính "Âm Hoả" đây là nói về "độ số 2" theo Hà Đồ hay là cung Tỵ???

Theo Hà Đồ thì vậy, "độ số 2" là "Âm Hoả" nhưng về "độ số 6" lại là "Âm Thủy" cơ; vậy thì lý gì lại giải rằng: " Âm Hoả đới Thổ (Khôn độ số 2. Đông Nam trên Hà Đồ/ Theo lý thuyết của tôi) khắc Dương Kim đới Thuỷ (Càn độ số 6. Tấy Bắc trên Hà Đồ/ Theo Lý thuyết của tôi)."??

:)




Tôi cũng xin lưu ý quí vị và anh em quan tâm đến Lạc Việt độn toán là:
Trường hợp coi Càn là Dương Thổ (Đại An) bị Khôn là Âm Thổ (Vô vong) khắc theo chiều thuận. Chỉ ứng dụng trong lý thuyết của Lạc Việt độn toán.
Điều này cũng như Khôn dùng trong bốc Dịch là đàn bà , nhưng trong Phong Thuỷ lại tượng cho đàn ông. Khôn tượng cho Đàn ông chỉ ứng dụng trong phong Thuỷ. Tức là tính chất thay đổi chỉ ở một phương pháp ứng dụng cụ thể.
Cảm ơn sự quan tâm của bạn và quí vị.
Thiên Sứ

Thiên Sứ đã nói đến Khôn trong Phong Thủy lại là tượng cho đàn ông - đã 2 lần rồi và là thể theo Phong Thủy nào vậy?


Tubinh_giagia

Thiên Sứ
07-03-2006, 06:03 AM
Tubinh_giagia thân mến.
Tất cả những điều bạn hỏi ở trên, tôi đều đã viết trong các sách và tiểu luận của mình ngay trong website này. Bạn có thể tham khảo.
Riêng câu cuối cùng bạn hỏi:
Thiên Sứ đã nói đến Khôn trong Phong Thủy lại là tượng cho đàn ông - đã 2 lần rồi và là thể theo Phong Thủy nào vậy?
Bạn có thể xem và nghiền ngẫm trong cuốn "Bát tranh minh cảnh" - đây là một cuốn sách nói về một phương pháp ứng dụng đơn giàn nhất trong các mối tương tác của Phong thuỷ.
Cảm ơn sự quan tâm của bạn.
Thiên Sứ

tubinh_giagia
07-03-2006, 06:56 AM
Tubinh_giagia thân mến.
Tất cả những điều bạn hỏi ở trên, tôi đều đã viết trong các sách và tiểu luận của mình ngay trong website này. Bạn có thể tham khảo.


Câu chất vấn rất... đơn giản mà Thiên Sứ, và không cần đến các cuốn sách và tiểu luận đâu... :)



Âm Hoả đới Thổ (Khôn độ số 2. Đông Nam trên Hà Đồ/ Theo lý thuyết của tôi)


Đã có hỏi Thiên Sứ đính chính "Âm Hoả" đây là nói về "độ số 2" theo Hà Đồ hay là cung Tỵ???


Và cũng là để lập lại câu hỏi trước đó vẫn chưa được Thiên Sứ giải bày chi cả:


Mà nè, khi Thiên Sứ viết là Tỵ Âm Hỏa là nói về âm dương thuộc tính của 12 cung địa chi hay là nói về độ số 2 Âm Hỏa hở??


Chẳng lẽ Thiên Sứ lại làm khó mình đi tìm các cuốn sách và tiểu luận của Thiên Sứ chỉ vì câu hỏi trên à???



Riêng câu cuối cùng bạn hỏi:
Thiên Sứ đã nói đến Khôn trong Phong Thủy lại là tượng cho đàn ông - đã 2 lần rồi và là thể theo Phong Thủy nào vậy?

Bạn có thể xem và nghiền ngẫm trong cuốn "Bát tranh minh cảnh" - đây là một cuốn sách nói về một phương pháp ứng dụng đơn giàn nhất trong các mối tương tác của Phong thuỷ.
Cảm ơn sự quan tâm của bạn.
Thiên Sứ


:) "Bát trạch minh cảnh" ??? Của tác giả Kim Oanh Ký phải không? Mình cũng có cuốn này mà... để kiếm ra đọc lại xem có phần này không hay là bị gỏ sai đấy Thiên Sứ?! "Đàn Bà" mà gỏ lộn ra "Đàn Ông"... (?)


Tubinh_giagia

Thiên Sứ
07-03-2006, 07:21 AM
Tubinh- gia gia thân mến.
Bạn viết:
"Bát trạch minh cảnh" ??? Của tác giả Kim Oanh Ký phải không? Mình cũng có cuốn này mà... để kiếm ra đọc lại xem có phần này không hay là bị gỏ sai đấy Thiên Sứ?! "Đàn Bà" mà gỏ lộn ra "Đàn Ông"... (?)
Trong cuốn sách này sẽ không ghi cụ thể là: Đàn ông - cung Khôn. Đàn bà - cung Cấn. Nhưng tôi tin rằng bạn có thể nhận ra điều này trong bảng phi tinh của Bát trạch minh cảnh. Bạn sẽ thấy họ gõ rất chính xác. Nếu bạn vẫn cho rằng họ sai chính tả thì bạn phải lập hẳn ra một phương pháp phi tinh mới riêng cho bạn đấy!

Tubinh- gia gia thân mến.
Thực ra tôi không có ý làm khó bạn. Ngược lại tôi rất muốn giải thích tường tận để bạn và anh em trên diễn đàn thấy được tính hợp lý trong các lập luận của tôi. Nhưng để có được một luận điểm giải thích một hiện tượng trong Lý học Đông phương, không thể chỉ một vài câu qua loa. Tôi phải viết tất cả đến nay là 7 cuốn sách. Thiên Sứ tôi không tự đặt ra được nếu không có những dẫn giải hợp lý. Mong bạn và các quí vị lưu ý rằng:
Tôi có quan điểm chứng minh nguồn gốc Kinh Dịch và thuyết Âm Dương Ngũ hành là của Việt Nam, không phải của văn minh Hoa Hạ.
Nếu lập luận của tôi không chặt chẽ và hợp lý, chắc không cần đến sự phản bác của các nhà nghiên cứu, mà tôi sẽ không còn hân hạnh gặp quí vị và anh em nơi đây. Trước đây, anh Trumetin - học vị Tiến Sĩ khoa học tại Hoa Kỳ, một nhà nghiên cứu Lý học nổi tiếng bên tuvilyso.com - có khuyên mọi người trong nhóm hội viên đặc biệt của Tuvilyso.com, nên xem cuốn: "Tìm về cội nguồn Kinh Dịch". Lúc ấy, anh Trumetin không biết tôi chính là tác giả của cuốn sách này. Bởi vậy hy vọng bạn sẽ thông cảm với tính qui mô khi trả lời câu hỏi của bạn mà bớt chút thời gian xem những tiểu luận của tôi.
Chúc bạn vạn sự an lành.
Thiên Sứ

long nguyen quang
07-03-2006, 10:00 AM
Bạn Tubinh_giagia đã viết:
" Nay nhìn ở 12 cung địa chi, ta thấy có từng cặp âm dương của (Mộc, Hỏa, Kim, Thủy) tứ hành dàn trải ở bốn góc và tứ chính - trong khi hành Thổ thì tản mác ở tứ mộ Thìn, Tuất (dương) và Sửu, Mùi (âm); nghĩa là chỉ có 4 Mộ là chính và Mộ có nghĩa "chôn vùi" mà (Mộc, Hỏa, Kim, Thủy) "chôn vùi" ở mô??? THỔ vậy!

Dưới hình thức mô tả trên thì ta dễ dàng nhìn thấy các cặp âm dương của (Mộc, Hỏa, Kim, Thủy) phải bắt đầu từ một trong 4 góc để đến Lâm Quan, Đế Vượng cung của (Mộc, Hỏa, Kim, Thủy) mà không phải qua diễn giải lý tương sinh...

Thế còn Thổ thì sao ?? Thật ra, không có lúc nào tử tuyệt nên xét cho cùng thì ngoài nguyên lý mẫu vượng, tử tướng thì 4 cung Thổ như:

Thìn - ôn noản mà nhuận
Tuất - cao kháng mà táo
Sửu - tỳ thấp mà hàn
Mùi - ôn noản mà táo

để tàng dư khí của (Mộc, Hỏa, Kim, Thủy) là MỘ khố của (Mộc, Hỏa, Kim, Thủy) ...

Như muốn đặt để thì Dần Thân là hai chỗ ký gửi sống nhơ của Thổ làm Trường Sinh ... đến Lâm Quan Lộc nhờ ở Tỵ Hợi ... nên có phân biệt VƯỢNG, SUY mà thôi; lấy Thìn, Tuất dương cung làm chổ VƯỢNG của dương Thổ nên đến Sửu, Mùi âm cung làm chỗ Suy - ngược lại cho âm Thổ, lấy Sửu, Mùi âm cung làm chổ VƯỢNG của âm Thổ nên đến Thìn, Tuất dương cung làm chỗ Suy thể theo âm dưong quy lý.

Thứ đến, theo Lạc Thư Hậu Thiên Bát Quái: Cấn - Khôn ở hai góc Đông Bắc (Dần) - Tây Nam (Thân) mang hành Thổ nên mới có việc dẫn giải chỗ ký gửi Trường Sinh đó vậy!"

Theo cách nói của bạn thì hành thổ là một hành đặc biệt, chẳng theo qui luật của vòng tràng sinh. Ngay cả các sách " khảo nguyên " hay gần đây là " Hiệp kỷ biện phương thư " cũng có đề cập vấn đề này nhưng chẳng sách nào dám nói như bạn - hành thổ không có trạng thái tử tuyệt.
Cách lý luận của bạn cũng như nhiều người cho rằng : vị trí của thìn tuất sửu mùi nằm tản mác bốn góc , tương ứng với tứ quí của bốn mùa và trong 4 loai tam hợp không có tam hợp của thổ và thổ là mộ địa của các hành khác...
Nhưng bạn nên nhớ một điều là thiên can thì thuần khí còn địa chi là tạp khí, trong mỗi địa chi có nhiều nhân nguyên. Thìn tuất sửu mùi là mộ kho nên mang nhiều tạp khí, và do đó thìn tuất sửu mùi không mang trọn vẹn tính chất của hành thổ, chỉ có thiên can Mậu kỷ mới mang trọn vẹn những đặc trưng về hành thổ mà thôi.
Hành thổ cũng là một trạng thái vật chất trong 5 trạng thái vật chất mà chúng ta thường gọi là ngũ hành. Vòng tràng sinh chính là qui luật : Sinh, trụ, di, diệt ". Đã là vật chất thì phải tuân theo qui luật đó. Do vậy bạn nói hành thổ không có trạng thái tử tuyệt là sai !
Và do đó hành thổ việc gì phải nương nhờ ký gửi vào dần thân làm gì? Tại sao chúng ta có cách nhìn nhận về hành thổ một cách hời hợt và tùy tiện vậy? Hành thổ cũng có vòng tràng sinh đặc trưng của nó chứ? và đương nhiên là thổ khởi tràng sinh tại ngọ. Theo qui luật dương sinh âm tử thì Mậu sinh tại ngọ, Kỷ tử tại ngọ là đúng. Thổ cục cũng khởi tràng sinh tại ngọ là đúng lý. Bạn có thấy trong lý luận của tử bình : tính chất sinh khắc chế hóa của hành thổ với các hành có gì khác với các hành khác không? Chắc chắn là không. Thế thì cái lý luận về cung khởi tráng sinh của thổ khi thì ở dần, khi thì ở thân quả là chướng tai gai mắt !

Cách lý luận về hành thổ dưới sự ngộ nhận về 4 cung thìn tuất sửu mùi vốn không phải là đặc trưng của hành thổ đã dẫn đến cách khởi tràng sinh không đúng vị trí. Đã đến lúc chúng ta phải nhìn nhận một cách nghiêm túc về hành thổ!

ThuongSu2005a
07-03-2006, 07:05 PM
Xin chào tất cả các thành viên!
Tôi vẫn đang điều trị và dưỡng bệnh, nội lực còn đang suy nên chưa dám ra diễn đàn. Lâu ngày không luyện nội công nên cũng hơi cuồng chân, thấy các anh bàn luận hay quá nên Sư tôi mạo muội ra đây góp vui cùng các anh về các quan điểm trên.
Các anh thân mến!
Tử vi cùng các môn khác là một môn khoa học truyền thống, ta nên giữ gìn những cái gì cơ bản để cho nó là Tử Vi chứ không phải là một môn suy diễn tùy tiện.Tuy nhiên, nó phải có tính kế thừa và phát huy theo đúng quy luật phát triển của tự nhiên và xã hội. Khi xã hội đã chuyển qua những hình thái kinh tế khác nhau, dẫn đến tất cả thế giới quan và nhân sinh quan phải thay đổi cho phù hợp. Một số quan điểm trước đây của Tử Vi cũng nên thay đổi để cho nó phản ánh đúng với hiện thực của cuộc sống. Giá trị hữu dụng của Tử Vi vẫn là tính hiện thực.Có những điều ta phát hiện thấy nó vô lý, thực tế kiểm nghiệm thấy đúng thì ta cứ nên mạnh dạn sửa đổi.
Tính của tôi sưa nay rất thích khám phá cái mới lạ, không bao giờ chịu bó mình trước những gì định sẵn bắt mình phải tuân theo. Tôi cũng đang nghiên cứu về các quan điểm trên mà các bạn đang tranh luận, chỉ tiếc rằng chưa đến đầu đến ngọn nên không thể khẳng định ngay được.Một thời gian không lâu nữa tôi sẽ kiểm chứng nó bằng khoa học kỹ thuật và sẽ đưa ra diễn đàn nhiều quan điểm mới, hiện đại về Tử Vi.
Tôi rất cảm ơn sự quan tâm của BQT và các thành viên của diễn đàn tới tình hình sức khoẻ của tôi.Những lá số mà các bạn gửi trong hộp thư của tôi sẽ được giải lần lượt theo thứ tự.Các bạn cứ yên tâm!

Thiên Sứ
07-03-2006, 10:12 PM
Kính chào anh Thương Sứ.
Rất mừng khi anh quay lại diễn đàn.
Chân thành chúc anh vạn sự an lành và mau chóng bình phục sức khoẻ.
Thiên Sứ

tubinh_giagia
08-03-2006, 04:23 AM
Tubinh- gia gia thân mến.
Bạn viết:
"Bát trạch minh cảnh" ??? Của tác giả Kim Oanh Ký phải không? Mình cũng có cuốn này mà... để kiếm ra đọc lại xem có phần này không hay là bị gỏ sai đấy Thiên Sứ?! "Đàn Bà" mà gỏ lộn ra "Đàn Ông"... (?)
Trong cuốn sách này sẽ không ghi cụ thể là: Đàn ông - cung Khôn. Đàn bà - cung Cấn. Nhưng tôi tin rằng bạn có thể nhận ra điều này trong bảng phi tinh của Bát trạch minh cảnh. Bạn sẽ thấy họ gõ rất chính xác. Nếu bạn vẫn cho rằng họ sai chính tả thì bạn phải lập hẳn ra một phương pháp phi tinh mới riêng cho bạn đấy!



:) À! Thì ra Thiên Sứ muốn nói đến nam Khôn nữ Cấn khi nhập trung cung ở Lạc Thư mà phải dùng Khôn - Thổ độ số 2 hoặc Cấn - Thổ độ số 8 để phân định cho nam nữ NHƯNG Thiên Sứ chỉ chủ trương Hà Đồ thôi thì lý giải chuyện này thế nào được hà; tuy nhiên, Thiên Sứ có biết luật Tam Nguyên mà Hà Lạc Bát Tự có nói đến như sau:

* Sinh vào THƯỢNG NGUYÊN (1864-1923) thì bất luận ÂM-DƯƠNG cứ Nam là CẤN, Nữ là KHÔN.

* Sinh vào TRUNG NGUYÊN (1924-1983) thì luận ÂM-DƯƠNG cứ Dương Nam - Âm Nữ là KHÔN, Âm Nam - Dương Nữ là CẤN.

* Sinh vào HẠ NGUYÊN (1984-2043) thì bất luận ÂM-DƯƠNG cứ Nam là LY, Nữ là ĐOÀI.

cho thấy, quẻ Khôn không phải bị BIẾN CHẤT từ tượng cho Mẹ, đàn bà, bà già v.v... thành Cha, đàn ông, ông già mà chỉ dùng để lập hướng chọn quẻ cho người nam hoặc nữ sinh năm tính ra nhập trung cung [số 5 - không có quẻ nào phối với nó cả]; thế thôi! Như để định Đông, Tây tứ trạch thì Khôn, Cấn đều nằm trong Tây tứ trạch cả nói lên sự đồng thinh đồng hướng một cách thích đáng đó mà... mà nè, sao Thiên Sứ cứ lang bang mãi xa rời câu hỏi giản dị của mình vậy há???

Câu chất vấn rất... đơn giản mà Thiên Sứ, và không cần đến các cuốn sách và tiểu luận đâu... :)


Trích:
Nguyên văn bởi tubinh_giagia
Trích:
Nguyên văn bởi Thiên Sứ
Âm Hoả đới Thổ (Khôn độ số 2. Đông Nam trên Hà Đồ/ Theo lý thuyết của tôi)




Đã có hỏi Thiên Sứ đính chính "Âm Hoả" đây là nói về "độ số 2" theo Hà Đồ hay là cung Tỵ???




Và cũng là để lập lại câu hỏi trước đó vẫn chưa được Thiên Sứ giải bày chi cả:


Trích:
Nguyên văn bởi tubinh_giagia
Mà nè, khi Thiên Sứ viết là Tỵ Âm Hỏa là nói về âm dương thuộc tính của 12 cung địa chi hay là nói về độ số 2 Âm Hỏa hở??


Chẳng lẽ Thiên Sứ lại làm khó mình đi tìm các cuốn sách và tiểu luận của Thiên Sứ chỉ vì câu hỏi trên à???





Tubinh- gia gia thân mến.
Thực ra tôi không có ý làm khó bạn. Ngược lại tôi rất muốn giải thích tường tận để bạn và anh em trên diễn đàn thấy được tính hợp lý trong các lập luận của tôi. Nhưng để có được một luận điểm giải thích một hiện tượng trong Lý học Đông phương, không thể chỉ một vài câu qua loa. Tôi phải viết tất cả đến nay là 7 cuốn sách. Thiên Sứ tôi không tự đặt ra được nếu không có những dẫn giải hợp lý. Mong bạn và các quí vị lưu ý rằng:
Tôi có quan điểm chứng minh nguồn gốc Kinh Dịch và thuyết Âm Dương Ngũ hành là của Việt Nam, không phải của văn minh Hoa Hạ.
Nếu lập luận của tôi không chặt chẽ và hợp lý, chắc không cần đến sự phản bác của các nhà nghiên cứu, mà tôi sẽ không còn hân hạnh gặp quí vị và anh em nơi đây. Trước đây, anh Trumetin - học vị Tiến Sĩ khoa học tại Hoa Kỳ, một nhà nghiên cứu Lý học nổi tiếng bên tuvilyso.com - có khuyên mọi người trong nhóm hội viên đặc biệt của Tuvilyso.com, nên xem cuốn: "Tìm về cội nguồn Kinh Dịch". Lúc ấy, anh Trumetin không biết tôi chính là tác giả của cuốn sách này. Bởi vậy hy vọng bạn sẽ thông cảm với tính qui mô khi trả lời câu hỏi của bạn mà bớt chút thời gian xem những tiểu luận của tôi.
Chúc bạn vạn sự an lành.
Thiên Sứ

Sao Thiên Sứ lại đem đến văn bằng học vị ai đó này nọ mà nêu "Nếu" nọ kia về lập luận của Thiên Sứ có chặt chẽ và hợp lý hay không??? Trumetin thì sao, vì y vẫn nào phải là Tubinh_giagia mình đây đang chất vấn tính NHẤT QUÁN chặt chẽ và hợp lý trong lập luận của Thiên Sứ chứ!?

Chỉ có một vài câu đơn giản về độ số của Hà Đồ và tính chất ngũ hành thuộc tính của nó liên hệ tới Bát Quái thôi mà Thiên Sứ cũng dông dài... gớm! :)


Tubinh_giagia

tubinh_giagia
08-03-2006, 04:46 AM
[QUOTE=tubinh_giagia]
" Nay nhìn ở 12 cung địa chi, ta thấy có từng cặp âm dương của (Mộc, Hỏa, Kim, Thủy) tứ hành dàn trải ở bốn góc và tứ chính - trong khi hành Thổ thì tản mác ở tứ mộ Thìn, Tuất (dương) và Sửu, Mùi (âm); nghĩa là chỉ có 4 Mộ là chính và Mộ có nghĩa "chôn vùi" mà (Mộc, Hỏa, Kim, Thủy) "chôn vùi" ở mô??? THỔ vậy!

Dưới hình thức mô tả trên thì ta dễ dàng nhìn thấy các cặp âm dương của (Mộc, Hỏa, Kim, Thủy) phải bắt đầu từ một trong 4 góc để đến Lâm Quan, Đế Vượng cung của (Mộc, Hỏa, Kim, Thủy) mà không phải qua diễn giải lý tương sinh...

Thế còn Thổ thì sao ?? Thật ra, không có lúc nào tử tuyệt nên xét cho cùng thì ngoài nguyên lý mẫu vượng, tử tướng thì 4 cung Thổ như:

Thìn - ôn noản mà nhuận
Tuất - cao kháng mà táo
Sửu - tỳ thấp mà hàn
Mùi - ôn noản mà táo

để tàng dư khí của (Mộc, Hỏa, Kim, Thủy) là MỘ khố của (Mộc, Hỏa, Kim, Thủy) ...

Như muốn đặt để thì Dần Thân là hai chỗ ký gửi sống nhơ của Thổ làm Trường Sinh ... đến Lâm Quan Lộc nhờ ở Tỵ Hợi ... nên có phân biệt VƯỢNG, SUY mà thôi; lấy Thìn, Tuất dương cung làm chổ VƯỢNG của dương Thổ nên đến Sửu, Mùi âm cung làm chỗ Suy - ngược lại cho âm Thổ, lấy Sửu, Mùi âm cung làm chổ VƯỢNG của âm Thổ nên đến Thìn, Tuất dương cung làm chỗ Suy thể theo âm dưong quy lý.

Thứ đến, theo Lạc Thư Hậu Thiên Bát Quái: Cấn - Khôn ở hai góc Đông Bắc (Dần) - Tây Nam (Thân) mang hành Thổ nên mới có việc dẫn giải chỗ ký gửi Trường Sinh đó vậy!"


:) Phải chăng mình đã có nói với long nguyen quang rằng: đã là đang ở mức độ mô tả và qui nạp của những thống kê cho thấy - thì cứ như vậy mà thấy mà xét; như không thì lại phải lý giải cho NHẤT QUÁN mới gọi là học thuật chứ!

Mà để lý giải theo đúng nghĩa NGŨ HÀNH TƯƠNG SINH TƯƠNG KHẮC luật thì Hành KIM khởi Trường Sinh ở Tỵ (Hỏa) cung sao long nguyen quang lại có thông qua chưa hay chưa có bàn đến??



Theo cách nói của bạn thì hành thổ là một hành đặc biệt, chẳng theo qui luật của vòng tràng sinh. Ngay cả các sách " khảo nguyên " hay gần đây là " Hiệp kỷ biện phương thư " cũng có đề cập vấn đề này nhưng chẳng sách nào dám nói như bạn - hành thổ không có trạng thái tử tuyệt.


Đương nhiên là phải ĐẶC BIỆT! :)

Sách nào chẳng dám nói là chuyện của sách vỡ đó; chuyện mình nói là nằm trên phương diện quan sát, ở mức độ mô tả và qui nạp vì như thừa nhận không chất vấn những sách vỡ đó thì Giáp cũng gật mà Ất cũng ừ thì xong chuyện... chứ thảo luận, suy luận với bàn luận mà chi!?

Mà nè, nói hành Thổ có tử, tuyệt thì trạng thái nó ra sao hà???


Cách lý luận của bạn cũng như nhiều người cho rằng : vị trí của thìn tuất sửu mùi nằm tản mác bốn góc , tương ứng với tứ quí của bốn mùa và trong 4 loai tam hợp không có tam hợp của thổ và thổ là mộ địa của các hành khác...
Nhưng bạn nên nhớ một điều là thiên can thì thuần khí còn địa chi là tạp khí, trong mỗi địa chi có nhiều nhân nguyên. Thìn tuất sửu mùi là mộ kho nên mang nhiều tạp khí, và do đó thìn tuất sửu mùi không mang trọn vẹn tính chất của hành thổ, chỉ có thiên can Mậu kỷ mới mang trọn vẹn những đặc trưng về hành thổ mà thôi.


:) Có phải long nguyen quang đang lang thang ở vùng phụ cận Tử Bình mà luận bình về tạp khí của địa chi đó???

Nhìn vào 12 cung của Tử Vi chuyển tiếp của Kim, Thủy, Mộc, Hỏa là những cung Thổ thì long nguyen quang có quán ra được điều gì chăng?



Hành thổ cũng là một trạng thái vật chất trong 5 trạng thái vật chất mà chúng ta thường gọi là ngũ hành. Vòng tràng sinh chính là qui luật : Sinh, trụ, di, diệt ". Đã là vật chất thì phải tuân theo qui luật đó. Do vậy bạn nói hành thổ không có trạng thái tử tuyệt là sai !


Nên tránh xác định "đúng, sai" về điều mà chưa minh liễu... hầu bít ngõ thăng tiến trên bước đường học thuật long nguyen quang nhé! :)



Và do đó hành thổ việc gì phải nương nhờ ký gửi vào dần thân làm gì? Tại sao chúng ta có cách nhìn nhận về hành thổ một cách hời hợt và tùy tiện vậy? Hành thổ cũng có vòng tràng sinh đặc trưng của nó chứ? và đương nhiên là thổ khởi tràng sinh tại ngọ. Theo qui luật dương sinh âm tử thì Mậu sinh tại ngọ, Kỷ tử tại ngọ là đúng. Thổ cục cũng khởi tràng sinh tại ngọ là đúng lý. Bạn có thấy trong lý luận của tử bình : tính chất sinh khắc chế hóa của hành thổ với các hành có gì khác với các hành khác không? Chắc chắn là không. Thế thì cái lý luận về cung khởi tráng sinh của thổ khi thì ở dần, khi thì ở thân quả là chướng tai gai mắt !

Cách lý luận về hành thổ dưới sự ngộ nhận về 4 cung thìn tuất sửu mùi vốn không phải là đặc trưng của hành thổ đã dẫn đến cách khởi tràng sinh không đúng vị trí. Đã đến lúc chúng ta phải nhìn nhận một cách nghiêm túc về hành thổ!

Phải đi gấp... tí trở lại vếit tiếp...

tubinh_giagia
08-03-2006, 07:36 AM
Và do đó hành thổ việc gì phải nương nhờ ký gửi vào dần thân làm gì? Tại sao chúng ta có cách nhìn nhận về hành thổ một cách hời hợt và tùy tiện vậy? Hành thổ cũng có vòng tràng sinh đặc trưng của nó chứ? và đương nhiên là thổ khởi tràng sinh tại ngọ. Theo qui luật dương sinh âm tử thì Mậu sinh tại ngọ, Kỷ tử tại ngọ là đúng. Thổ cục cũng khởi tràng sinh tại ngọ là đúng lý.


:) Trở lại edit không cho phép nên viết trả lời phần này riêng vậy!

Này nhé, vùng Lâm Quan-Đế Vượng cho Kim, Thủy, Mộc, Hỏa thì hiển minh ở các cung Thân-Dậu, Hợi-Tí, Dần-Mão và Tỵ-Ngọ rõ ràng rồi; vậy vùng Lâm Quan-Đế Vượng của Thổ thì long nguyên quang có chỉ định ra được cung nào chưa?

Từ Trường Sinh đến Lâm Quan chỉ trong vòng 4 cung MÀ theo sự gợi ý nhìn nhận một cách nghiêm túc về hành Thổ của long nguyen quang đưa lên từ Ngọ cung thì chúng ta hãy theo dõi diễn tiến trạng thái của hành Thổ này nhé:

[+] NGỌ cung Thổ can MẬU - TrSinh khởi thuận thì đến DẬU cung phải là Lâm Quan, kế đến TUẤT cung là Đế Vượng và Mộ ở cung DẦN... {Đế Vượng ở TUẤT cung cũng khả dĩ chấp nhận được NHƯNG còn Lâm Quan và Mộ thì lý giải thế nào đây?}

Và theo luật "Dương Tử Âm Sinh" thì can MẬU thuận khởi Tr.Sinh từ NGỌ cung sẽ Tử ở Sửu thì:

[+] SỬU cung Thổ KỶ - TrSinh khởi nghịch thì đến TUẤT cung phải là Lâm Quan, kế đến DẬU cung là Đế Vượng, rồi Tử ở cung NGỌ và Mộ ở cung TỴ...{Lâm Quan ở TUẤT cung cũng khả dĩ chấp nhận được NHƯNG còn Lâm Quan và Mộ thì lý giải thế nào đây?}

Xét ra hành THỔ nghiêng hẳn về hướng Tây để được Lâm Quan, Đế Vượng một cách ĐẶC BIỆT đó nha... long nguyen quang! :)


Bạn có thấy trong lý luận của tử bình : tính chất sinh khắc chế hóa của hành thổ với các hành có gì khác với các hành khác không? Chắc chắn là không. Thế thì cái lý luận về cung khởi tráng sinh của thổ khi thì ở dần, khi thì ở thân quả là chướng tai gai mắt !


Dần cung khởi Tr.Sinh cho hành Thổ của Tử Bình là dựa trên nguyên lý "mẫu vượng, tử tướng"...



Thân cung khởi Tr.Sinh cho hành Thổ của Tử Vi là dựa trên Lạc Thư số (5) là số Tham Thiên Lưỡng Địa (3,2) mà con số 2 là độ số của quẻ Khôn - Thổ an vị ở góc Tây Nam...

Phải chăng lý luận này đã làm cho long nguyen quang chướng tai gai mắt à?! :)


Cách lý luận về hành thổ dưới sự ngộ nhận về 4 cung thìn tuất sửu mùi vốn không phải là đặc trưng của hành thổ đã dẫn đến cách khởi tràng sinh không đúng vị trí. Đã đến lúc chúng ta phải nhìn nhận một cách nghiêm túc về hành thổ!

Vậy thì long nguyen quang trình bày sở kiến ra đi...


Tubinh_giagia

Thiên Sứ
08-03-2006, 02:31 PM
Tu binh_giagia viết:
Sao Thiên Sứ lại đem đến văn bằng học vị ai đó này nọ mà nêu "Nếu" nọ kia về lập luận của Thiên Sứ có chặt chẽ và hợp lý hay không??? Trumetin thì sao, vì y vẫn nào phải là Tubinh_giagia mình đây đang chất vấn tính NHẤT QUÁN chặt chẽ và hợp lý trong lập luận của Thiên Sứ chứ!?

Chỉ có một vài câu đơn giản về độ số của Hà Đồ và tính chất ngũ hành thuộc tính của nó liên hệ tới Bát Quái thôi mà Thiên Sứ cũng dông dài... gớm! :)

Tu bình_giagia thân mến.
Những điều bạn hỏi tôi đã nhiều lần tường trong các bài viết trên diễn đàn, trong các tiểu luận và sách của tôi. Bạn hãy chịu khó xem, nếu bạn thật sự quan tâm.
Nếu như bây giờ tôi trả lời bạn thì tôi gần như phải viết lại những gì tôi đã viết. Cho rằng may mắn tôi được bạn công nhận. Nhưng e rằng nay mai lại xuất hiện một Tuvi - cachcach khác, họ cũng hỏi y như bạn, rồi đến Bocdich - langlang...vv, thế thì tôi thời gian đâu mà trả lời? Nên bạn cũng thông cảm cho tôi vậy.

Tubinh - giagia thân mến.
Bạn xem Bát trạch minh cảnh chưa? Bạn có ý kiến gì về cung Khôn tượng cho đàn ông trong Phong Thuỷ và cung Cấn tượng cho đàn bà không? Bạn có thấy lạ là trong bốc Dịch - Cấn là Thiếu Nam mà trong Phong Thuỷ lại là đàn bà không?
Thiên Sứ

tubinh_giagia
09-03-2006, 12:07 AM
Tu binh_giagia viết:
Sao Thiên Sứ lại đem đến văn bằng học vị ai đó này nọ mà nêu "Nếu" nọ kia về lập luận của Thiên Sứ có chặt chẽ và hợp lý hay không??? Trumetin thì sao, vì y vẫn nào phải là Tubinh_giagia mình đây đang chất vấn tính NHẤT QUÁN chặt chẽ và hợp lý trong lập luận của Thiên Sứ chứ!?

Chỉ có một vài câu đơn giản về độ số của Hà Đồ và tính chất ngũ hành thuộc tính của nó liên hệ tới Bát Quái thôi mà Thiên Sứ cũng dông dài... gớm! :)

Tu bình_giagia thân mến.
Những điều bạn hỏi tôi đã nhiều lần tường trong các bài viết trên diễn đàn, trong các tiểu luận và sách của tôi. Bạn hãy chịu khó xem, nếu bạn thật sự quan tâm.


Hình như Thiên Sứ muốn mình đọc những gì Thiên Sứ viết MÀ Thiên Sứ thì lại không chú ý đọc những gì mình đã viết :)

Câu hỏi của mình chỉ cần dăm ba câu hay một đoạn cũng đủ trả lời NHƯNG vì mình nhìn thấy được sự thiếu NHẤT QUÁN trong lý giải của Thiên Sứ nên Thiên Sứ cứ kì kèo mình phải đọc những sách những tiểu luận của Thiên Sứ - để lảng tránh vấn đề mình đang chất vấn chăng?



Âm Hoả đới Thổ (Khôn độ số 2. Đông Nam trên Hà Đồ/ Theo lý thuyết của tôi)


Đã có hỏi Thiên Sứ đính chính "Âm Hoả" đây là nói về "độ số 2" theo Hà Đồ hay là cung Tỵ???

Và cũng là để lập lại câu hỏi trước đó vẫn chưa được Thiên Sứ giải bày chi cả:

Mà nè, khi Thiên Sứ viết là Tỵ Âm Hỏa là nói về âm dương thuộc tính của 12 cung địa chi hay là nói về độ số 2 Âm Hỏa hở??


:)



Nếu như bây giờ tôi trả lời bạn thì tôi gần như phải viết lại những gì tôi đã viết. Cho rằng may mắn tôi được bạn công nhận. Nhưng e rằng nay mai lại xuất hiện một Tuvi - cachcach khác, họ cũng hỏi y như bạn, rồi đến Bocdich - langlang...vv, thế thì tôi thời gian đâu mà trả lời? Nên bạn cũng thông cảm cho tôi vậy.


Như có người hỏi: Trong Tử Vi có mấy Cục? và là những Cục gì?
Trả lời: Có 5 Cục và đó là: Kim tứ Cục, Thủy nhị Cục, Mộc tam Cục, Hỏa lục Cục và Thổ ngũ Cục

Có viết đi viết lại cũng là điều đơn giản NHẤT NHƯ chứ có gì mà phiền toái đến thế nhỉ? Vả lại, câu hỏi của mình lại càng đơn giản hơn thế... :)

Còn thật sự Thiên Sứ có lòng cầu học và hoàn thiện sự NHẤT QUÁN trong lý giải của Thiên Sứ - thì Thiên Sứ cần để ý đến chỗ chất vấn của người khác chứ, phải không?

Nếu như Thiên Sứ vẫn còn vướng mắc trên một vài thành quả và khích lệ của học vị ai kia mà lùi sụt trên con đường trao dồi học thuật Đông Phương thì... quả là tiếc vậy!



Tubinh - giagia thân mến.
Bạn xem Bát trạch minh cảnh chưa? Bạn có ý kiến gì về cung Khôn tượng cho đàn ông trong Phong Thuỷ và cung Cấn tượng cho đàn bà không? Bạn có thấy lạ là trong bốc Dịch - Cấn là Thiếu Nam mà trong Phong Thuỷ lại là đàn bà không?
Thiên Sứ

Như mình đã có nói: "Hình như Thiên Sứ muốn mình đọc những gì Thiên Sứ viết MÀ Thiên Sứ thì lại không chú ý đọc những gì mình đã viết :)"

Trích lại cho Thiên Sứ đọc nè... mà nè, có kỷ thuật vi tính gọi là "trích dẫn" hoặc "cắt-và-dán" để Thiên Sứ khỏi phải gần như phải viết lại những gì tôi đã viết đó nhé! :)



:) À! Thì ra Thiên Sứ muốn nói đến nam Khôn nữ Cấn khi nhập trung cung ở Lạc Thư mà phải dùng Khôn - Thổ độ số 2 hoặc Cấn - Thổ độ số 8 để phân định cho nam nữ NHƯNG Thiên Sứ chỉ chủ trương Hà Đồ thôi thì lý giải chuyện này thế nào được hà; tuy nhiên, Thiên Sứ có biết luật Tam Nguyên mà Hà Lạc Bát Tự có nói đến như sau:

* Sinh vào THƯỢNG NGUYÊN (1864-1923) thì bất luận ÂM-DƯƠNG cứ Nam là CẤN, Nữ là KHÔN.

* Sinh vào TRUNG NGUYÊN (1924-1983) thì luận ÂM-DƯƠNG cứ Dương Nam - Âm Nữ là KHÔN, Âm Nam - Dương Nữ là CẤN.

* Sinh vào HẠ NGUYÊN (1984-2043) thì bất luận ÂM-DƯƠNG cứ Nam là LY, Nữ là ĐOÀI.

cho thấy, quẻ Khôn không phải bị BIẾN CHẤT từ tượng cho Mẹ, đàn bà, bà già v.v... thành Cha, đàn ông, ông già mà chỉ dùng để lập hướng chọn quẻ cho người nam hoặc nữ sinh năm tính ra nhập trung cung [số 5 - không có quẻ nào phối với nó cả]; thế thôi! Như để định Đông, Tây tứ trạch thì Khôn, Cấn đều nằm trong Tây tứ trạch cả nói lên sự đồng thinh đồng hướng một cách thích đáng đó mà... mà nè, sao Thiên Sứ cứ lang bang mãi xa rời câu hỏi giản dị của mình vậy há???




Tubinh_giagia

Thiên Sứ
09-03-2006, 01:20 AM
Tu bình_giagia thân mến.
Những điều bạn hỏi tôi đã nhiều lần tường trong các bài viết trên diễn đàn, trong các tiểu luận và sách của tôi. Bạn hãy chịu khó xem, nếu bạn thật sự quan tâm.
Nếu như bây giờ tôi trả lời bạn thì tôi gần như phải viết lại những gì tôi đã viết. Cho rằng may mắn tôi được bạn công nhận. Nhưng e rằng nay mai lại xuất hiện một Tuvi - cachcach khác, họ cũng hỏi y như bạn, rồi đến Bocdich - langlang...vv, thế thì tôi thời gian đâu mà trả lời? Nên bạn cũng thông cảm cho tôi vậy.
Thiên Sứ

tubinh_giagia
09-03-2006, 03:00 AM
Tu bình_giagia thân mến.
Những điều bạn hỏi tôi đã nhiều lần tường trong các bài viết trên diễn đàn, trong các tiểu luận và sách của tôi. Bạn hãy chịu khó xem, nếu bạn thật sự quan tâm.
Nếu như bây giờ tôi trả lời bạn thì tôi gần như phải viết lại những gì tôi đã viết. Cho rằng may mắn tôi được bạn công nhận. Nhưng e rằng nay mai lại xuất hiện một Tuvi - cachcach khác, họ cũng hỏi y như bạn, rồi đến Bocdich - langlang...vv, thế thì tôi thời gian đâu mà trả lời? Nên bạn cũng thông cảm cho tôi vậy.
Thiên Sứ

Có viết đi viết lại cũng là điều đơn giản NHẤT NHƯ chứ có gì mà phiền toái đến thế nhỉ? Vả lại, câu hỏi của mình lại càng đơn giản hơn thế... :)

Còn thật sự Thiên Sứ có lòng cầu học và hoàn thiện sự NHẤT QUÁN trong lý giải của Thiên Sứ - thì Thiên Sứ cần để ý đến chỗ chất vấn của người khác chứ, phải không?

Nếu như Thiên Sứ vẫn còn vướng mắc trên một vài thành quả và khích lệ của học vị ai kia mà lùi sụt trên con đường trao dồi học thuật Đông Phương thì... quả là tiếc vậy!


Tubinh_giagia

long nguyen quang
09-03-2006, 11:28 AM
Bạn Tubinh_ giagia đã viết :
":) Phải chăng mình đã có nói với long nguyen quang rằng: đã là đang ở mức độ mô tả và qui nạp của những thống kê cho thấy - thì cứ như vậy mà thấy mà xét; như không thì lại phải lý giải cho NHẤT QUÁN mới gọi là học thuật chứ!

Mà để lý giải theo đúng nghĩa NGŨ HÀNH TƯƠNG SINH TƯƠNG KHẮC luật thì Hành KIM khởi Trường Sinh ở Tỵ (Hỏa) cung sao long nguyen quang lại có thông qua chưa hay chưa có bàn đến??

Theo dõi những lý luận của bạn từ trước đến nay, tôi nhận thấy bạn đã dùng Tiên thiên bát quái - hà đồ và hậu thiên bát quái- Lạc thư một cách triệt để vào tử vi để giải thích vòng tràng sinh của ngũ hành. Điều này không sai nhưng chưa đúng!
Chúng ta nhìn về lịch sử của kinh dịch thấy cuộc tranh cãi giữa các nhà dịch học về sự khác biệt giữa hậu thiên và tiên thiên là tốn biết bao nhiêu giấy bút, thậm chí chính vì sự khác biệt đó mà có người đã sáng tác ra trung thiên đồ. Nhưng cuối cùng đã đi đến kết luận: Tiên thiên là thể và hậu thiên là dụng.
Nhưng ít ai để ý rằng Tiên thiên - hậu thiên là Thể còn Lục khí - ngũ vận là Dụng.
Với môn tử vi là môn khoa học nghiên cứu về vận khí của con người thì việc giải thích những vấn đề liên quan thì ta phải dùng cái cái Dụng Lục khí -Ngũ vận mới tương thích. (Bạn nào chưa đọc lục khí - ngũ vận thì tìm đọc quyển " Hoàng đế nội kinh " sẽ rõ.)
Và chắc là bạn đã biết : Trời có phong khí thì tương ứng dưới đất có mộc khí, trời có thử nhiệt thì đất có hỏa khí, Trên trời có thấp khí thì dưới đất có thổ khí, trời có táo khí thì đất có kim khí, trời có hàn khí thì đất có thủy khí. Một năm chia làm 6 chủ khí tương ứng với ngũ hành là do hỏa được chia thành quân hỏa và tướng hỏa.
Nhiệt hỏa nóng quá sinh ra thấp thổ, thổ khô táo quá sinh kim. Hai hành thổ kim đều có quan hệ hữu cơ với hành hỏa. Do vậy vào tháng tư âm lịch ứng với tháng tỵ hỏa đã có cái mầm của táo kim , đến tháng tám ,tháng chín thì hành kim lộ rõ. Tháng năm âm lịch ứng với tháng ngọ hỏa, nhiệt đến cực độ sinh thấp thổ. Do vậy thổ trường sinh tại ngọ hỏa đến tháng 9 âm lịch thổ hiện hình rõ cao kháng mà táo. Tại tháng tám tương ứng với dậu cung, đây là thời điểm khô táo thì mậu thổ lâm quan ở đây là đúng chớ có gì đâu phải băn khoăn.

Trích:
Nguyên văn bởi long nguyen quang
Theo cách nói của bạn thì hành thổ là một hành đặc biệt, chẳng theo qui luật của vòng tràng sinh. Ngay cả các sách " khảo nguyên " hay gần đây là " Hiệp kỷ biện phương thư " cũng có đề cập vấn đề này nhưng chẳng sách nào dám nói như bạn - hành thổ không có trạng thái tử tuyệt.




Đương nhiên là phải ĐẶC BIỆT! :)

Sách nào chẳng dám nói là chuyện của sách vỡ đó; chuyện mình nói là nằm trên phương diện quan sát, ở mức độ mô tả và qui nạp vì như thừa nhận không chất vấn những sách vỡ đó thì Giáp cũng gật mà Ất cũng ừ thì xong chuyện... chứ thảo luận, suy luận với bàn luận mà chi!?

Mà nè, nói hành Thổ có tử, tuyệt thì trạng thái nó ra sao hà???"

Dần cung khởi Tr.Sinh cho hành Thổ của Tử Bình là dựa trên nguyên lý "mẫu vượng, tử tướng"...



Thân cung khởi Tr.Sinh cho hành Thổ của Tử Vi là dựa trên Lạc Thư số (5) là số Tham Thiên Lưỡng Địa (3,2) mà con số 2 là độ số của quẻ Khôn - Thổ an vị ở góc Tây Nam...

Phải chăng lý luận này đã làm cho long nguyen quang chướng tai gai mắt à?! :)

Chắc bạn đã biết định luật bảo toàn năng lượng :" năng lượng không mất đi mà chỉ biến từ trạng thài này sang trạng thái khác ". Vậy thì thổ tử tuyệt thì chuyển thành kim là trạng thái quá độ của hành thổ chứ có gì mà thắc mắc.
Còn chuyện vị trí của thìn tuất sửu mùi trong bảng 12 địa chi không chỉ thể hiện vòng sinh hóa của vật chất mà còn có tính chất diễn tả không gian nữa.
Tôi nghĩ rằng : vấn đề kim trường sinh tại tỵ , thổ trường sinh tại ngọ là hợp lý , nền tảng của nó dựa vào học thuết lục khí -ngũ vận là rất phù hợp với môn tử vi và tử bình - hai môn học nghiên cứu về vận khí đời người. Nếu ta áp dụng tiên thiên bát quái và hậu thiên bát quái chính là áp dụng cái thể vào tử vi nói riêng cũng như tử bình nói chung, cho nên tạo ra sự gượng ép về cách khởi tràng sinh thổ cục tại thân trong tử vi và tại dần cho can Mậu trong môn tử bình.
Cũng là vị trí khởi tràng sinh của hành thổ mà phải vận dụng 2 nguyên tắc để biện minh cho 2 vị trí tràng sinh. Chẳng lẻ hành thổ trong môn tử vi và hành thổ trong môn tử bình khác nhau chăng? như vậy thì có chướng tai gai mắt chăng?--nn--

Chính Ấn
09-03-2006, 11:45 AM
(Bạn nào chưa đọc lục khí - ngũ vận thì tìm đọc quyển " Hoàng đế nội kinh " sẽ rõ.)


Chắc mình cũng phải đọc thôi. Các cao thủ ai cũng đọc sách này.

Thiên Sứ
09-03-2006, 03:12 PM
Tubinh_giagia thân mến.
Bạn viết:
Có viết đi viết lại cũng là điều đơn giản NHẤT NHƯ chứ có gì mà phiền toái đến thế nhỉ? Vả lại, câu hỏi của mình lại càng đơn giản hơn thế... http://vietlyso.com/forums/images/smilies/smile.gif
Đúng như bạn nói. Kể từ năm đầu tiên viết sách 1998 cho đến lần tái bản 2001 - Thiên Sứ tôi vẫn nhất như với quan điểm của mình và chỉ bổ sung và mở rộng trong cả lý thuyết lẫn ứng dụng. Nhưng để viết lại cho một mình bạn xem thì tôi thật sự ko có thời gian. Tại sao bạn không thể với một cái nhấp chuột để xem các tiểu luận của tôi mà lại yêu cầu tôi chứng minh lại cho một mình bạn. Có vô lý quá không?
Bạn thông cảm vậy.
Chúc bạn vui.
Thiên Sứ

tubinh_giagia
10-03-2006, 04:14 AM
Bạn Tubinh_ giagia đã viết :
":) Phải chăng mình đã có nói với long nguyen quang rằng: đã là đang ở mức độ mô tả và qui nạp của những thống kê cho thấy - thì cứ như vậy mà thấy mà xét; như không thì lại phải lý giải cho NHẤT QUÁN mới gọi là học thuật chứ!

Mà để lý giải theo đúng nghĩa NGŨ HÀNH TƯƠNG SINH TƯƠNG KHẮC luật thì Hành KIM khởi Trường Sinh ở Tỵ (Hỏa) cung sao long nguyen quang lại có thông qua chưa hay chưa có bàn đến??

Theo dõi những lý luận của bạn từ trước đến nay, tôi nhận thấy bạn đã dùng Tiên thiên bát quái - hà đồ và hậu thiên bát quái- Lạc thư một cách triệt để vào tử vi để giải thích vòng tràng sinh của ngũ hành. Điều này không sai nhưng chưa đúng!
Chúng ta nhìn về lịch sử của kinh dịch thấy cuộc tranh cãi giữa các nhà dịch học về sự khác biệt giữa hậu thiên và tiên thiên là tốn biết bao nhiêu giấy bút, thậm chí chính vì sự khác biệt đó mà có người đã sáng tác ra trung thiên đồ. Nhưng cuối cùng đã đi đến kết luận: Tiên thiên là thể và hậu thiên là dụng.
Nhưng ít ai để ý rằng Tiên thiên - hậu thiên là Thể còn Lục khí - ngũ vận là Dụng.
Với môn tử vi là môn khoa học nghiên cứu về vận khí của con người thì việc giải thích những vấn đề liên quan thì ta phải dùng cái cái Dụng Lục khí -Ngũ vận mới tương thích. (Bạn nào chưa đọc lục khí - ngũ vận thì tìm đọc quyển " Hoàng đế nội kinh " sẽ rõ.)
Và chắc là bạn đã biết : Trời có phong khí thì tương ứng dưới đất có mộc khí, trời có thử nhiệt thì đất có hỏa khí, Trên trời có thấp khí thì dưới đất có thổ khí, trời có táo khí thì đất có kim khí, trời có hàn khí thì đất có thủy khí. Một năm chia làm 6 chủ khí tương ứng với ngũ hành là do hỏa được chia thành quân hỏa và tướng hỏa.
Nhiệt hỏa nóng quá sinh ra thấp thổ, thổ khô táo quá sinh kim. Hai hành thổ kim đều có quan hệ hữu cơ với hành hỏa. Do vậy vào tháng tư âm lịch ứng với tháng tỵ hỏa đã có cái mầm của táo kim , đến tháng tám ,tháng chín thì hành kim lộ rõ. Tháng năm âm lịch ứng với tháng ngọ hỏa, nhiệt đến cực độ sinh thấp thổ. Do vậy thổ trường sinh tại ngọ hỏa đến tháng 9 âm lịch thổ hiện hình rõ cao kháng mà táo. Tại tháng tám tương ứng với dậu cung, đây là thời điểm khô táo thì mậu thổ lâm quan ở đây là đúng chớ có gì đâu phải băn khoăn.


Mới ban đầu long nguyen quang chỉ định "Bạn có thấy chăng, khi hiện nay nhiều môn khoa học chỉ đang ở mức độ mô tả và qui nạp? Môn tử vi cũng không nằm ngoại lệ" tức là đang ở mức độ mô tả và qui nạp nên mình chìu ý trình bày các cặp âm dương cung địa bàn Tử Vi thuộc [Kim, Thủy, Mộc, Hỏa] ở bốn góc (lâm quan) và tứ chính (đế vượng) một cách thích đáng để phải khởi Trường sinh cho 4 hành đó ở 4 góc vậy! Đơn giản là thế!

Ậy, :) giờ đây long nguyen quang muốn đi vào chi tiết hơn viện dẫn những là Hoàng Đế Nội Kinh, Lục khí - Ngũ vận v.v... được thôi và cũng may là mình cũng đã có đọc và biết qua để hầu chuyện với long nguyen quang tiếp hỉ...

Lục khí có tam dương: Hàn (thủy) - Táo (kim) - Hỏa (tướng) và tam âm: Thử (quân hỏa) - Phong (mộc) - Thấp (thổ); nên không thể nào thổ khô táo quá sinh kim nên đọc câu này của long nguyen quang... mình SỬNG! :) Vì sở học của mình chưa thấu đáo chăng nên có lời thỉnh cầu:

Sách vở, nội kinh, đông y - y án nào bảo rằng: thổ khô táo quá sinh kim, long nguyen quang có thể cho mình biết để đọc không?

Còn nói về tháng 4 Tỵ hỏa hỉ được thủy nhuận căn nhưng bất hỉ táo Thổ (không may gặp đất khô) nếu không sẽ tự đốt cháy lấy mình; kế đến tháng 5 Hỏa đế vượng đến cực điểm nhưng chưa sinh cho thấp thổ được mà phải đợi qua tháng 6 dư hỏa khí mới nên - do đó, trục Mùi-Sửu ứng với kinh Thái Âm thuộc Thấp khí trong lục khí mới có cái gọi là Thấp thổ (Sửu-Mùi) vậy!

Chẳng lẽ long nguyen quang đọc Hoàng Đế Nội Kinh lại quên phần này hay sao?



Trích:
Nguyên văn bởi long nguyen quang
Theo cách nói của bạn thì hành thổ là một hành đặc biệt, chẳng theo qui luật của vòng tràng sinh. Ngay cả các sách " khảo nguyên " hay gần đây là " Hiệp kỷ biện phương thư " cũng có đề cập vấn đề này nhưng chẳng sách nào dám nói như bạn - hành thổ không có trạng thái tử tuyệt.




Đương nhiên là phải ĐẶC BIỆT! :)

Sách nào chẳng dám nói là chuyện của sách vỡ đó; chuyện mình nói là nằm trên phương diện quan sát, ở mức độ mô tả và qui nạp vì như thừa nhận không chất vấn những sách vỡ đó thì Giáp cũng gật mà Ất cũng ừ thì xong chuyện... chứ thảo luận, suy luận với bàn luận mà chi!?

Mà nè, nói hành Thổ có tử, tuyệt thì trạng thái nó ra sao hà???"

Dần cung khởi Tr.Sinh cho hành Thổ của Tử Bình là dựa trên nguyên lý "mẫu vượng, tử tướng"...



Thân cung khởi Tr.Sinh cho hành Thổ của Tử Vi là dựa trên Lạc Thư số (5) là số Tham Thiên Lưỡng Địa (3,2) mà con số 2 là độ số của quẻ Khôn - Thổ an vị ở góc Tây Nam...

Phải chăng lý luận này đã làm cho long nguyen quang chướng tai gai mắt à?! :)

Chắc bạn đã biết định luật bảo toàn năng lượng :" năng lượng không mất đi mà chỉ biến từ trạng thài này sang trạng thái khác ". Vậy thì thổ tử tuyệt thì chuyển thành kim là trạng thái quá độ của hành thổ chứ có gì mà thắc mắc.
Còn chuyện vị trí của thìn tuất sửu mùi trong bảng 12 địa chi không chỉ thể hiện vòng sinh hóa của vật chất mà còn có tính chất diễn tả không gian nữa.
Tôi nghĩ rằng : vấn đề kim trường sinh tại tỵ , thổ trường sinh tại ngọ là hợp lý , nền tảng của nó dựa vào học thuết lục khí -ngũ vận là rất phù hợp với môn tử vi và tử bình - hai môn học nghiên cứu về vận khí đời người. Nếu ta áp dụng tiên thiên bát quái và hậu thiên bát quái chính là áp dụng cái thể vào tử vi nói riêng cũng như tử bình nói chung, cho nên tạo ra sự gượng ép về cách khởi tràng sinh thổ cục tại thân trong tử vi và tại dần cho can Mậu trong môn tử bình.
Cũng là vị trí khởi tràng sinh của hành thổ mà phải vận dụng 2 nguyên tắc để biện minh cho 2 vị trí tràng sinh. Chẳng lẻ hành thổ trong môn tử vi và hành thổ trong môn tử bình khác nhau chăng? như vậy thì có chướng tai gai mắt chăng?http://www.vietlyso.com/forums/images/smilies/beerchug.gif

" năng lượng không mất đi mà chỉ biến từ trạng thài này sang trạng thái khác " là khá rồi đấy longnguen quang ạ! Thế nhưng, cách suy luận của long nguyen quang như sau mới là có vấn đề đó nghen...

long nguyen quang: "Vậy thì thổ tử tuyệt thì chuyển thành kim là trạng thái quá độ của hành thổ chứ có gì mà thắc mắc."

Phải thắc mắc chứ :) vì rằng như bảo Tỵ cung khởi trường sinh cho Kim, vậy (là nơi thổ tử tuyệt thì chuyển thành) Kim rồi phải không? Thế rồi, long nguyen quang đề xướng Thổ tràng sinh ở Ngọ thì Tỵ cung phải là DƯỠNG đã qua thời Tử, Tuyệt, Thai (lại) rồi Dưỡng cơ mà (?)... dựa trên cơ sở lý luận của long nguyen quang để chất vấn đấy nhé! :)

Thứ đến, " năng lượng không mất đi mà chỉ biến từ trạng thài này sang trạng thái khác " rồi " thì X tử tuyệt thì chuyển thành Y là trạng thái quá độ của hành X " là một định luật... thì ái ngại thay cho ngũ hành Cục của Tử Vi hết sức ... vì rằng:

Thủy Tr.Sinh ở cung Thân nên Tuyệt ở cung Tỵ... lý ra phải chuyển thành Mộc có phải không nào?

Mộc Tr.Sinh ở cung Hợi nên Tuyệt ở cung Thân... lý ra phải chuyển thành Hỏa có phải không nào?

Hỏa Tr.Sinh ở cung Dần nên Tuyệt ở cung Hợi... lý ra phải chuyển thành Thổ có phải không nào?

Thổ Tr.Sinh ở cung Ngọ nên Tuyệt ở cung Mão... lý ra phải chuyển thành Kim có phải không nào?

Kim Tr.Sinh ở cung Tỵ nên Tuyệt ở cung Dần... lý ra phải chuyển thành Thủy có phải không nào?

mà thể theo lời xác nhận rất hợp lý từ long nguyen quang:

"vấn đề kim trường sinh tại tỵ , thổ trường sinh tại ngọ là hợp lý , nền tảng của nó dựa vào học thuết lục khí -ngũ vận là rất phù hợp với môn tử vi và tử bình - hai môn học nghiên cứu về vận khí đời người"

là hợp lý như thế nào vậy!?



Tubinh_giagia

tubinh_giagia
10-03-2006, 05:05 AM
Tubinh_giagia thân mến.
Bạn viết:
Có viết đi viết lại cũng là điều đơn giản NHẤT NHƯ chứ có gì mà phiền toái đến thế nhỉ? Vả lại, câu hỏi của mình lại càng đơn giản hơn thế... http://vietlyso.com/forums/images/smilies/smile.gif
Đúng như bạn nói. Kể từ năm đầu tiên viết sách 1998 cho đến lần tái bản 2001 - Thiên Sứ tôi vẫn nhất như với quan điểm của mình và chỉ bổ sung và mở rộng trong cả lý thuyết lẫn ứng dụng. Nhưng để viết lại cho một mình bạn xem thì tôi thật sự ko có thời gian. Tại sao bạn không thể với một cái nhấp chuột để xem các tiểu luận của tôi mà lại yêu cầu tôi chứng minh lại cho một mình bạn. Có vô lý quá không?
Bạn thông cảm vậy.
Chúc bạn vui.
Thiên Sứ

Thiên Sứ khéo bày vẽ :)

Câu hỏi của mình đơn giản bắt nguồn từ lý luận của Thiên Sứ như sau: " Âm Hoả đới Thổ (Khôn độ số 2. Đông Nam trên Hà Đồ/ Theo lý thuyết của tôi) "

Nên mình mới hỏi:

Đã có hỏi Thiên Sứ đính chính "Âm Hoả" đây là nói về "độ số 2" theo Hà Đồ hay là cung Tỵ???

thì tiếc chi hay phiền toái chi mà không trả lời!?


Và cũng là để lập lại câu hỏi trước đó vẫn chưa được Thiên Sứ giải bày chi cả:


Trích:
Nguyên văn bởi tubinh_giagia
Mà nè, khi Thiên Sứ viết là Tỵ Âm Hỏa là nói về âm dương thuộc tính của 12 cung địa chi hay là nói về độ số 2 Âm Hỏa hở??




--- oOo ---

Sẳn đây, xin hỏi các bạn - có ai đã đọc qua các sách, các tiểu luận của Thiên Sứ liên hệ đến câu hỏi trên của mình - chỉ mình để mình nhanh chóng thưởng lãm rồi bàn luận tiếp; chứ như không Thiên Sứ cứ đẩy đưa kiểu này... mệt gớm!? Cám ơn nhiều!


Để cho các bạn hiểu khái quát vấn đề mình đang chất vấn Thiên Sứ, nhưng Thiên Sứ thì đẩy đưa chuyện đi tìm các sách, các tiểu luận của Thiên Sứ để tìm câu trả lời trong sự luận lý NHẤT QUÁN mà Thiên Sứ khẳng định rằng: "Kể từ năm đầu tiên viết sách 1998 cho đến lần tái bản 2001 - Thiên Sứ tôi vẫn nhất như với quan điểm của mình và chỉ bổ sung và mở rộng trong cả lý thuyết lẫn ứng dụng."



Nói về Hà Đồ thì ngoài trung cung, có 4 phương chính (Đông, Tây, Nam, Bắc) và mỗi phương vị gồm cả 2 con số Âm Dương và sau đó Ngũ Hành được tra vào để cụ thể hóa sinh thành hoại diệt, tiêu trưởng của Âm Dương như sau:

Đông = Mộc (3,8)
Tây = Kim (4,9)
Nam = Hỏa (2,7)
Bắc = Thủy (1,6)

và Trung Cung = Thổ (5,10)

Phương hướng là ĐỊNH VỊ, các cặp độ số âm dương LUÂN VỊ nên khi sang Lạc Thư thì cặp độ số âm dương từ Hà Đồ phương vị Tây và Nam đã đổi chỗ NHƯNG phương hướng Ngũ Hành vẫn không thay đổi!

Qua đến Lạc Thư thì nẩy sinh Tứ Di (4 phương 8 hướng) với những con số như sau:

|ĐN: [4]|CN: [9]|TN: [2]
===================
|CĐ: [3]|TC: [5]|CT: [7]
===================
|ĐB: [8]|CB: [1]|TB: [6]

CĐ,CT,CN,CB = Chính (Đông, Tây, Nam, Bắc)
ĐB, ĐN, TB, TN = Tứ di
TC = Trung cung

tương đương với phương vị Bát Quái như sau:

|ĐN: Tốn [4]|CN: Ly [9]|TN: Khôn [2]
==============================
|CĐ: Chấn [3]|TC: ĐT [5]|CT: Đoài [7]
==============================
|ĐB: Cấn [8]|CB: Khảm [1]|TB: Càn [6]


ĐT = Để Trống, không có quẻ nào


Các bạn đã có thấy, Hà Đồ chưa có bàn đến tứ di (4 hướng góc); thế nhưng Thiên Sứ lại nhiều lần xác định là Hậu thiên Lạc Việt - đổi chỗ Tốn Khôn - và liên hệ với Hà Đồ thì Hậu Thiên đây là Lạc Thư mới có 2 quẻ Tốn ở Đông Nam và Khôn ở Tây Nam để mà có sự việc đổi chỗ Tốn Khôn; thế nhưng liên hệ với Hà Đồ như thế nào thì mời các bạn tiếp tục theo dõi... :)

Vì rằng độ số 2 của quẻ Khôn ở Lạc Thư hay là Hậu Thiên được Thiên Sứ duy trì bản chất ngũ hành ở Hà Đồ hay là Tiên Thiên là Âm Hoả nên độ số 4 của quẻ Tốn ở Lạc Thư hay là Hậu Thiên cũng được Thiên Sứ duy trì bản chất ngũ hành ở Hà Đồ hay là Tiên Thiên là Âm Kim - nên mình muốn Thiên Sứ thừa nhận và xác định thôi; vậy mà Thiên Sứ cũng đẩy đưa không trả lời thẳng vấn đề http://www.vietlyso.com/forums/images/smilies/wbyim04.gif ...

Tại sao?

Nếu như Thiên Sứ thừa nhận thì sẽ rơi vào sự lý luận không còn NHẤT QUÁN nữa mà Thiên Sứ đã tự đề cao trước đó; vì như vầy:



1) Tỵ Âm Hoả trên Hà Đồ chính vị của Khôn thổ nên sinh Dậu Kim. Tức là Thổ sinh Kim theo đúng thuận tự tương sinh của Ngũ hành: Thổ sinh Kim.


là Thiên Sứ phải dùng đến tính chất Thổ của quẻ Khôn ở cung Tỵ để khai triển định luật ngũ hành tương sinh Thổ sinh Kim chứ không phải là độ số 2 Âm Hỏa (Hà Đồ) - và kế đến thì lại dùng độ số 4 Âm Kim (Hà Đồ) để lý giải cho Kim sinh Thủy ở cung Thân; vì quẻ Tốn vẫn còn mang tính chất Mộc (sao lại Mộc sinh Thủy đây?!)


--- oOo ---


Có lẽ đến đây các bạn đã hiểu được sự chất vấn của mình, nên nếu như các bạn nào đã từng đọc các sách, các tiểu luận của Thiên Sứ nói về vấn đề này một cách NHẤT QUÁN xin chỉ chỗ cho mình biết để thưởng lãm.

Với lại, các bạn có thấy lời yêu cầu Thiên Sứ trả lời cho câu hỏi của mình có VÔ LÝ không... huống là chưa hỏi gì Thiên Sứ để chứng minh điều gì cả :) mà Thiên Sứ lại ngỏ lời: "yêu cầu tôi chứng minh lại cho một mình bạn. Có vô lý quá không?"

Cám ơn nhiều,


Tubinh_giagia

Zero
10-03-2006, 05:56 AM
Đọc đến đây thì tôi mới hiểu câu "lấy râu ông cắm càm bà", mà tôi đã được đọc đâu đó trên diễn đàn bao lần. Cám ơn và chúc mọi người có một ngày thật vui.

dungkq
10-03-2006, 09:42 AM
Thiên Sứ khéo bày vẽ http://vietlyso.com/forums/images/smilies/smile.gif


Tôi đọc những bài viết của bạn tubinh_giagia thì thấy bạn là người cũng khá giỏi, nhưng hình như với cách trình bày như trên thì không hẳn là hợp lý, vì trước tiên bác Thiên Sứ không có nhiều thời gian để trình bày với bạn những gì mà đã từng nhiều lần bàn luận trên VLS cũng như trên TVLS. Và có lẽ bạn cũng nên hiểu điều này, một bài toán có nhiều cách giải, miễn là ra kết quả đúng, kể cả phương pháp không giống với thông thường, hoặc giả là cho nó là "sai" theo nề nếp cổ truyền đi chăng nữa nhưng nó lại tuân theo một quy luật khác và 1 hệ quy chiếu khác. Tức là cả 1 hệ thống "sai" nhưng "sai" có quy luật thì nó vẫn có thể ra kết quả đúng - đạt mục đích, cái này mới là cái khó và không phải đơn giản mà làm được đâu.

long nguyen quang
10-03-2006, 10:13 AM
Ha..ha..ha ! Bạn Tubinh_giagia rất có khiếu hài hước !/^\

(Bạn đã viết : "Thứ đến, " năng lượng không mất đi mà chỉ biến từ trạng thài này sang trạng thái khác " rồi " thì X tử tuyệt thì chuyển thành Y là trạng thái quá độ của hành X " là một định luật... thì ái ngại thay cho ngũ hành Cục của Tử Vi hết sức ... vì rằng:

Thủy Tr.Sinh ở cung Thân nên Tuyệt ở cung Tỵ... lý ra phải chuyển thành Mộc có phải không nào?

Mộc Tr.Sinh ở cung Hợi nên Tuyệt ở cung Thân... lý ra phải chuyển thành Hỏa có phải không nào?

Hỏa Tr.Sinh ở cung Dần nên Tuyệt ở cung Hợi... lý ra phải chuyển thành Thổ có phải không nào?

Thổ Tr.Sinh ở cung Ngọ nên Tuyệt ở cung Mão... lý ra phải chuyển thành Kim có phải không nào?

Kim Tr.Sinh ở cung Tỵ nên Tuyệt ở cung Dần... lý ra phải chuyển thành Thủy có phải không nào? ")


Tuy nhiên tôi muốn nhắc bạn đôi điều : Khi tranh luận để tìm ra một vấn đề mới, chúng ta nên hiểu " Ý tại ngôn ngoại " không nên " Từ chương trích cú " mà làm hỏng đi dòng tư tưởng của cả đôi bên.
Khi bạn hỏi tôi :" Hành thổ tử tuyệt ra sao? ". Chẳng lẻ tôi lại giải thích tử là chết, tuyệt là không còn gì nữa , giải thích như vậy thì đứa con nít lên ba cũng nói đước chứ đâu cần gì chúng ta?! Mà tôi đem hình tượng hành thổ tuyệt thì kim đến của lục khí trong năm, đại ý là cái này đi thì cái kia đến, thấy cái kia đến thì hiểu rằng cái này đã đi, đó là cái lẽ tuần hoàn sinh tử nói chung vậy. Hơn nữa, bạn cũng biết là vòng tràng sinh được thể hiện trên lá số đâu chỉ để nói lên cái vòng sinh ,lão , bệnh, tử nói chung như là vòng đời của con người, mà vòng tràng sinh ở đây thể hiện độ mạnh yếu của hành cục , tại cung mà hành cục bị tử tuyệt thì hành khí của cục tại cung đó bị yếu đi thế thôi ! Sao bạn lại đi diễn ra cái ý là thổ tuyệt kim sinh, kim tuyệt thủy sinh..., bạn viết như vậy thì mất thời giờ của bạn và của người đọc thôi chứ chẳng phải là một lý luận sáng giá gì cả !

Bạn lại viết : "Còn nói về tháng 4 Tỵ hỏa hỉ được thủy nhuận căn nhưng bất hỉ táo Thổ (không may gặp đất khô) nếu không sẽ tự đốt cháy lấy mình; kế đến tháng 5 Hỏa đế vượng đến cực điểm nhưng chưa sinh cho thấp thổ được mà phải đợi qua tháng 6 dư hỏa khí mới nên - do đó, trục Mùi-Sửu ứng với kinh Thái Âm thuộc Thấp khí trong lục khí mới có cái gọi là Thấp thổ (Sửu-Mùi) vậy!

Chẳng lẽ long nguyen quang đọc Hoàng Đế Nội Kinh lại quên phần này hay sao? "
Lần trước tôi hỏi bạn : " sách nào nói hành thổ không có tử tuyệt? " lúc đó bạn trả lời :
"Sách nào chẳng dám nói là chuyện của sách vỡ đó; chuyện mình nói là nằm trên phương diện quan sát, ở mức độ mô tả và qui nạp vì như thừa nhận không chất vấn những sách vỡ đó thì Giáp cũng gật mà Ất cũng ừ thì xong chuyện... chứ thảo luận, suy luận với bàn luận mà chi!?

Mà nè, nói hành Thổ có tử, tuyệt thì trạng thái nó ra sao hà???"
Tôi chưa đồng ý với Hoàng đế nội kinh ở điểm đó đâu nhé ! Sao bạn không nhìn thấy lúc thổ hiện hình ở mùi thì có phải cái mầm đã có ở ngọ hỏa không? Như vậy thì mùi chính là chổ trạng thái mộc dục của thổ. Do đó Thổ tràng sinh tại ngọ, mộc dục tại mùi và đế vượng tại tuất là hợp lý chứ sao?/^\

( lại có việc bận , hẹn tái ngộ ! )

Thiên Sứ
10-03-2006, 10:36 AM
DungKq thân mến.
Chú không muốn tranh luận trên diễn đàn. Bởi vì với một lý thuyết cho đến ngay Thiệu Vị Hoa và hầu hết các học giả trên thế giới ở tất cả các môn khoa học- cho đến ngày hôm nay - cũng phải thừa nhận là huyền bí và không hiểu nổi. Nhưng có một số người xem được dăm ba cuốn sách, bói được vài quẻ đúng thì lại cứ tưởng mình đã hiểu nó một cách sâu sắc và biết hết cả. Dẫn điều này điều kia mà chính họ chẳng hiểu tại sao để văn vẹo. Tranh luận với họ mệt lắm. Có một lần chú xem bói cho một cặp trai Tân Dậu lấy gái Giáp Tý, chú bào là lấy nhau được. Bà mẹ chồng làm nghề bán tiết canh cháo lòng,i trợn mắt phản biện chú:
- Ông không hiểu là Tý Ngọ Mão Dậu tứ hành xung hả, đã vậy cái con kia (Cô Giáp Tý) mạng Kim khắc mạng con trai tôi là Mộc ông không biết sao?
Chú không thể bảo vệ luận chứng của mình được vì thời gian không cho phép, nên đành trả lời:
- Thế bà có biết tại sao mạng con bà hành Mộc không? Bà có biết tại sao Tý, Ngọ, Mão Dậu tứ hành xung không?
Bà này trả lời:
- Này! Ông đừng tưởng ông làm thày thì muốn nói gì thì nói nha! Nhà tôi có hẳn một cuốn Tam Tông miếu nói vậy đó. Ai cũng nói vậy, chỉ có mình ông bảo được.
Chú đành buồn bã mà trả lời:
- Tuỳ bà! Cuốn sách ấy của bà tôi cũng xem từ hồi còn nhỏ. Lúc ấy tôi cũng hiểu như bà vậy.
Thế là chia tay, chú chẳng bao giờ ăn cháo lòng, tiết canh ở nhà bà ấy nữa.

Nhưng riêng với DũngKQ, chú có sự lưu ý sau đây:

DũngKQ viết:
Một bài toán có nhiều cách giải, miễn là ra kết quả đúng, kể cả phương pháp không giống với thông thường, hoặc giả là cho nó là "sai" theo nề nếp cổ truyền đi chăng nữa nhưng nó lại tuân theo một quy luật khác và 1 hệ quy chiếu khác.
Riêng trong trường hợp của chú so với cách hiểu cố hữu trong sách cổ viết bằng chữ Hán từ hàng ngàn năm nay - thì - Giữa luận điểm của chú và những điểm tương quan trong sách cổ viết bằng chữ Hán là sự phủ định lẫn nhau. Chú đúng thì sách cổ viết bằng chữ Hán sai và ngược lại. Giữa luận điểm của chú và vấn đề liên quan trong bản văn cổ viết bằng chữ Hán không phải là hai phương pháp khác nhau cho việc giải một bài toán.
Hy vọng DungKQ sẽ tham khảo ý kiến của chú trên con đường học thuật.
Cảm ơn DũngKQ và thân chúc vạn sự an lành.
Thiên Sứ

dungkq
10-03-2006, 11:49 AM
Cảm ơn chú Thiên Sứ đã giải thích, nhưng nói thật là ban đầu dungkq cũng không tin vào học thuyết của chú lắm vì thấy nó vừa mới, vừa lạ, và cũng chưa có đủ thời gian để xem chú chứng minh. Nhưng lâu dần chứng kiến những giải đoán và tiên tri chính xác của chú thì thấy cần phải xét lại học thuyết Lạc Việt và so sánh với sách Hán cổ. Hịên nay cả học thuyết của chú và của sách vở cổ đều có những hiệu quả nhất định và chắc chú cũng nhận thấy là để muốn xây dựng hay phá vỡ một tổ chức có truyền thống hàng trăm nghìn cũng đã là rất khó nói chi là một hệ tư tưởng đã ăn sâu vào trong đầu mọi người giống như là tờ giấy trắng đã thấm mực. Nên việc học thuyết của chú chưa được mọi người dễ dàng chấp nhận là điều dễ hiểu thôi. Và chú sẽ còn phải làm việc rất nhiều để chứng minh. Những gì chú làm được trong khoảng thời gian ngắn như vậy thì cũng rất lớn rồi, nhưng muốn phá vỡ nền tảng tư tưởng và hệ thống sách vở của hàng nghìn năm nay thì không đơn giản và chú sẽ còn phải bỏ công sức phải chứng minh nhiều. Vì cháu không phải là người có nền tảng kiến thức thâm căn cố đế về lĩnh vực này, đồng thời tư duy cũng rất thoáng, không quan tâm là phương pháp gì, như thế nào, mà trước tiên quan tâm xem hiệu quả ra sao, đúng hay sai, sau đó mới xét lại hệ thống, được nhiều lần tận mắt chứng kiến sự linh nghiệm của quẻ Lạc Việt độn toán thì dungkq tin là học thuyết của chú có lý. nên vẫn theo dõi sát những giải đoán cùng những lời tiên tri của chú để đánh giá lại sự đúng sai của 2 hệ thống cũ và mới. Hy vọng tương lai không xa học thuyết của chú sẽ được xem xét đúng mức với vai trò như là một di sản về tinh thần của nền VHLV.

thiendia04
10-03-2006, 12:05 PM
Ôi! Học thuyết chỉ là cái bộ não con người sinh ra để mô tả lại vũ trụ của chúng ta mà thôi.
Ngay cả đến nền văn minh phương tây hiện nay, hai thuyết lớn nhất của họ là thuyết lượng tử và thuyết tương đối cũng là hai thứ không thể dung hoà với nhau.
Khi công thức E = M.c2 được tìm ra, thì ta có thể thấy vật chất cũng là không (năng lượng), mà không cũng là vật chất.
Chỉ vì nền văn hoá huyền bí của châu á chưa được tìm ra hay đã bị ẩn dấu đi, mà những người phương đông chúng ta phải tranh luận nhau suốt bao năm qua.
Thật là đáng tiếc.

Thiên Sứ
10-03-2006, 01:22 PM
DungKQ thân mến.
Cảm ơn sự ủng hộ của DungKQ và anh em. Chú đang chờ một cuộc tranh luận quốc tế để dứt điểm vấn đề.
Hiện Trung Hoa đang đề nghị cơ quan văn hoá Liên hiệp quốc công nhận Đông Y là một di sản văn hoá phi vật thể của thế giới (Tin các báo 10/ 3. 2006).
Nếu cơ quan văn hoá Liên hiệp quốc công nhận Đông y là một di sản văn hoá phi vật thể thì người Trung Quốc phải chứng minh - ít nhất về mặt lý thuyết theo tiêu chí khoa học hiện đại - cơ sở lý luận của Đông y trong cuốn Hoàng Đế Nội kinh tố vấn. Không làm được điều này thì quên đi.
Thiên Sứ

Hoa Loc
10-03-2006, 04:09 PM
tubinh_giagia là một đại đại cao thủ Tử Vi, Tử Bình, Dịch lý phương đông trên mạng Internet đó, chào mừng !

Thiết nghĩ, ý kiến chất vấn của tubinh_giagia rất hữu ích cho anh Thiên Sứ củng cố và chứng minh quan điểm cũng như hệ thống lý luận của mình, nhất là khi anh muốn đem nó chứng minh trên bình diện quốc tế, bước đầu tiên phải qua được những ý kiến phản biện của người Việt đã, sau này còn biện luận với mấy thằng mắt một mí sẽ còn gay go hơn nhiều đó.

Hóa Lộc

PS. Trumetin có gì là ghê gớm đâu, cũng vào loại kha khá thôi, có tài revise sách nhưng không có chủ kiến và ý tưởng sáng tạo, nhất là về Dịch thì anh ta cũng còn non nõn.....

Chính Ấn
10-03-2006, 04:16 PM
Tôi cũng nghĩ như anh Hóa Lộc.

Thiên Sứ
10-03-2006, 04:31 PM
Tôi thật sự không có thời gian. Thành thật xin lỗi.
Quí vị chỉ cần xem lại những bài viết của tôi và của anh tubinh_giagia trong topic này và có thể tự suy luận.
Thiên Sứ

tphong
11-03-2006, 12:19 AM
hi...hi..các bạn ui sao ở đây lại có TMT vậy,các bài của bạn TS đều có giá trị về học thuật cho sự học hỏi và tham khào,còn việc đồng ý hay không còn phải có thời gian để xác định chỗ đúng hay sai nữa mà,ngày rộng tháng dài mừ hi..hi....xin chào...

Zero
11-03-2006, 01:56 AM
Chất vấn, theo ý của tôi, là một điều vinh dự. Đâu phải ai muốn được chất vấn là cũng được đâu! Thí dụ như những quốc gia tự do, những khi Tổng Thống hay Thủ Tướng đề cử một nhân vật có tài nào vào trong bộ máy điều hành của họ đều được chất vấn qua Thượng Viện hay các Đảng cùng và khác phái . Điển hình như tại nước Mỹ vừa rồi, ông Bush đề cử ông Alito vào Tòa Án Tối Cao hoặc bà Rice cho chức vụ State Secrectary, họ đều phải qua các cuộc chất vấn tại Thượng Viện.

Những tác phẩm mới ra lò của các nhà văn, thi sĩ thì thường có những cuộc họp báo. Nơi đó họ sẽ được hỏi và chất vấn về tác phẩm của mình. Và cũng chính vì nhờ như vậy, mà họ (những nhà văn, thi sĩ..v..v) có cơ hội tôt để quảng bá tác phẩm của mình rộng rãi nơi công chúng.

tubinh_giagia
11-03-2006, 04:43 AM
Tôi đọc những bài viết của bạn tubinh_giagia thì thấy bạn là người cũng khá giỏi, nhưng hình như với cách trình bày như trên thì không hẳn là hợp lý, vì trước tiên bác Thiên Sứ không có nhiều thời gian để trình bày với bạn những gì mà đã từng nhiều lần bàn luận trên VLS cũng như trên TVLS. Và có lẽ bạn cũng nên hiểu điều này, một bài toán có nhiều cách giải, miễn là ra kết quả đúng, kể cả phương pháp không giống với thông thường, hoặc giả là cho nó là "sai" theo nề nếp cổ truyền đi chăng nữa nhưng nó lại tuân theo một quy luật khác và 1 hệ quy chiếu khác. Tức là cả 1 hệ thống "sai" nhưng "sai" có quy luật thì nó vẫn có thể ra kết quả đúng - đạt mục đích, cái này mới là cái khó và không phải đơn giản mà làm được đâu.

:) dungkq như đã có đọc điều mình viết thì LẠ THAY!

Ví như, hỏi rằng: "Cung Mão thuộc hành gì?" Lại rất tốn nhiều thời gian để trả lời: "Thuộc hành Mộc" chăng?

Nếu như vậy, thì mình không dám làm phiền chi nữa....

Còn về phần diễn giải suy luận của dungkq về bài toán có nhiều cách giải .... đã được Thiên Sứ khẳng định lưu ý cho dungkq biết rồi đó. :)



Tubinh_giagia

tubinh_giagia
11-03-2006, 07:10 AM
Ha..ha..ha ! Bạn Tubinh_giagia rất có khiếu hài hước !http://www.vietlyso.com/forums/images/smilies/035.gif


long nguyen quang khéo nói :)... chẳng qua mình chỉ dùng chính "lý luận" của long nguyen quang mà "hồi vấn" thôi!



(Bạn đã viết : "Thứ đến, " năng lượng không mất đi mà chỉ biến từ trạng thài này sang trạng thái khác " rồi " thì X tử tuyệt thì chuyển thành Y là trạng thái quá độ của hành X " là một định luật... thì ái ngại thay cho ngũ hành Cục của Tử Vi hết sức ... vì rằng:

Thủy Tr.Sinh ở cung Thân nên Tuyệt ở cung Tỵ... lý ra phải chuyển thành Mộc có phải không nào?

Mộc Tr.Sinh ở cung Hợi nên Tuyệt ở cung Thân... lý ra phải chuyển thành Hỏa có phải không nào?

Hỏa Tr.Sinh ở cung Dần nên Tuyệt ở cung Hợi... lý ra phải chuyển thành Thổ có phải không nào?

Thổ Tr.Sinh ở cung Ngọ nên Tuyệt ở cung Mão... lý ra phải chuyển thành Kim có phải không nào?

Kim Tr.Sinh ở cung Tỵ nên Tuyệt ở cung Dần... lý ra phải chuyển thành Thủy có phải không nào? ")


Tuy nhiên tôi muốn nhắc bạn đôi điều : Khi tranh luận để tìm ra một vấn đề mới, chúng ta nên hiểu " Ý tại ngôn ngoại " không nên " Từ chương trích cú " mà làm hỏng đi dòng tư tưởng của cả đôi bên.


Ý tại ngôn ngoại, khi mà ngoài ngôn ngữ kia ra - 2 người có cùng hiểu biết như nhau, thì longnguyen quang đã không cần phải viết lên thành ngữ ấy! :) Vì là đang thảo luận về một luận điểm cần sự NHẤT QUÁN và MINH BẠCH nên rất cần thiết "trích dẫn lý luận" của long nguyen quang đã dẫn giải như vầy, như vậy, hay thế kia v.v.... để chúng ta không phải hiểu lệch hoặc sái ý nhau. Chứ như không, ông nói gà - bà nói vịt; thì mệt thay!



Khi bạn hỏi tôi :" Hành thổ tử tuyệt ra sao? ". Chẳng lẻ tôi lại giải thích tử là chết, tuyệt là không còn gì nữa , giải thích như vậy thì đứa con nít lên ba cũng nói đước chứ đâu cần gì chúng ta?! Mà tôi đem hình tượng hành thổ tuyệt thì kim đến của lục khí trong năm, đại ý là cái này đi thì cái kia đến, thấy cái kia đến thì hiểu rằng cái này đã đi, đó là cái lẽ tuần hoàn sinh tử nói chung vậy. Hơn nữa, bạn cũng biết là vòng tràng sinh được thể hiện trên lá số đâu chỉ để nói lên cái vòng sinh ,lão , bệnh, tử nói chung như là vòng đời của con người, mà vòng tràng sinh ở đây thể hiện độ mạnh yếu của hành cục , tại cung mà hành cục bị tử tuyệt thì hành khí của cục tại cung đó bị yếu đi thế thôi ! Sao bạn lại đi diễn ra cái ý là thổ tuyệt kim sinh, kim tuyệt thủy sinh..., bạn viết như vậy thì mất thời giờ của bạn và của người đọc thôi chứ chẳng phải là một lý luận sáng giá gì cả !


Mình tóm lượt lý luận của long nguyen quang lại một lần nữa - cũng như long nguyen quang cũng đã đại ý là cái này đi thì cái kia đến như sau:

" năng lượng không mất đi mà chỉ biến từ trạng thài này sang trạng thái khác " rồi " thì X tử tuyệt thì chuyển thành Y là trạng thái quá độ của hành X "

thì long nguyen quang lý luận sao cho những hành khác và nơi chốn khởi phát Trường Sinh của Ngũ Hành một cách Nhất Quán chứ?!

Vì rằng lý luận trên không lý giải thỏa đáng Ngũ Hành khởi Trường Sinh trong Tử Vi được hợp lý thích đáng.

Còn bảo rằng mình đi diễn ra cái ý là thổ tuyệt kim sinh :) - thì phải chăng là mình hay chính long nguyen quang đã đề khởi:

" năng lượng không mất đi mà chỉ biến từ trạng thài này sang trạng thái khác " rồi " thì X tử tuyệt thì chuyển thành Y là trạng thái quá độ của hành X " và " tôi đem hình tượng hành thổ tuyệt thì kim đến của lục khí trong năm, đại ý là cái này đi thì cái kia đến, thấy cái kia đến thì hiểu rằng cái này đã đi "
???


:) Mình chỉ triển khai thôi!



Bạn lại viết : "Còn nói về tháng 4 Tỵ hỏa hỉ được thủy nhuận căn nhưng bất hỉ táo Thổ (không may gặp đất khô) nếu không sẽ tự đốt cháy lấy mình; kế đến tháng 5 Hỏa đế vượng đến cực điểm nhưng chưa sinh cho thấp thổ được mà phải đợi qua tháng 6 dư hỏa khí mới nên - do đó, trục Mùi-Sửu ứng với kinh Thái Âm thuộc Thấp khí trong lục khí mới có cái gọi là Thấp thổ (Sửu-Mùi) vậy!

Chẳng lẽ long nguyen quang đọc Hoàng Đế Nội Kinh lại quên phần này hay sao? "
Lần trước tôi hỏi bạn : " sách nào nói hành thổ không có tử tuyệt? " lúc đó bạn trả lời :
"Sách nào chẳng dám nói là chuyện của sách vỡ đó; chuyện mình nói là nằm trên phương diện quan sát, ở mức độ mô tả và qui nạp vì như thừa nhận không chất vấn những sách vỡ đó thì Giáp cũng gật mà Ất cũng ừ thì xong chuyện... chứ thảo luận, suy luận với bàn luận mà chi!?


http://www.vietlyso.com/forums/images/smilies/wbyim04.gif Ngộ ghê...!!! long nguyen quang ba hồi đem Hoàng Đế Nội Kinh ra bàn rằng: "Nhiệt hỏa nóng quá sinh ra thấp thổ, thổ khô táo quá sinh kim. Hai hành thổ kim đều có quan hệ hữu cơ với hành hỏa. Do vậy vào tháng tư âm lịch ứng với tháng tỵ hỏa đã có cái mầm của táo kim , đến tháng tám ,tháng chín thì hành kim lộ rõ", và vì mình cũng có đọc qua Hoàng Đế Nội Kinh nên thấy LẠ nên mới hỏi:


Lục khí có tam dương: Hàn (thủy) - Táo (kim) - Hỏa (tướng) và tam âm: Thử (quân hỏa) - Phong (mộc) - Thấp (thổ); nên không thể nào thổ khô táo quá sinh kim nên đọc câu này của long nguyen quang... mình SỬNG! :) Vì sở học của mình chưa thấu đáo chăng nên có lời thỉnh cầu:

Sách vở, nội kinh, đông y - y án nào bảo rằng: thổ khô táo quá sinh kim, long nguyen quang có thể cho mình biết để đọc không?


và bàn thêm về lục khí trong đoạn mà long nguyen quang trích dẫn ở trên. Thế nhưng, thay vì trả lời hoặc cho mình thông tin về vấn đề này - thì long nguyen quang đem mình bỏ chợ và nhắc lại chuyện xửa xưa gì đâu không hà?? :)




Mà nè, nói hành Thổ có tử, tuyệt thì trạng thái nó ra sao hà???"
Tôi chưa đồng ý với Hoàng đế nội kinh ở điểm đó đâu nhé ! Sao bạn không nhìn thấy lúc thổ hiện hình ở mùi thì có phải cái mầm đã có ở ngọ hỏa không? Như vậy thì mùi chính là chổ trạng thái mộc dục của thổ. Do đó Thổ tràng sinh tại ngọ, mộc dục tại mùi và đế vượng tại tuất là hợp lý chứ sao?http://www.vietlyso.com/forums/images/smilies/035.gif

( lại có việc bận , hẹn tái ngộ ! )

Như long nguyen quang bận thì để rảnh rỗi rồi hãy thảo luận tường tận hơn đi nhé!


Tubinh_giagia

Thiên Sứ
11-03-2006, 02:19 PM
Long Nguyen Quang thân mến.
Tôi chưa xem các bài viết của bạn. Nhưng trên cơ sở những tựa của các topic mà bạn mở ra, cho thấy bạn quả là có bản lĩnh và tự tin vào khả năng của mình khi đưa ra những đề tài rất đáng quan tâm.
Tôi ủng hộ việc làm của bạn, nhưng rất tiếc , có một số chất vấn khi đề tài chưa hoàn chỉnh đã làm loãng chủ đề của bạn. Bởi vậy, tôi nghĩ bạn nên viết hoàn chỉnh đề tài của bạn và mở một topic khác để đưa lên. Hy vọng sẽ được nhiều người quan tâm.
Bạn Tubinh_giagia thân mến.
Gần đây, qua bạn Hoá Lộc giới thiệu, bạn là một đại đại cao thủ trong lĩnh vực lý học. Như vậy tôi sẽ rất hân hạnh được một người như bạn chất vấn. Nhưng rất tiếc vì tôi thật sự bận rộn. Trước khi có lời chất vấn của bạn, tôi đã than phiền là không có cả thời gian để tức giận: "Nếu có tức giận ai, cũng phải chờ thư thả vài bữa!". Cũng vì áp lực công việc mà tôi đã bệnh cả tuần lễ. Đấy là sự thật xảy ra mà tôi cũng đã đề cập trên diễn đàn trước khi có lời chất vấn của bạn. Chắc bạn thông cảm. Tôi không có ý định tránh né những lời chất vấn của bạn.
Nhưng tôi nghĩ: Nếu bạn quả là một đại cao thủ trong lý học, bạn có thể thể hiện khả năng đó của mình để giúp cho bao nhiêu con người đang cần đến những tài năng như bạn. Bạn có thể giải đoán giúp họ hoạc cứu họ qua những cơn hoan nạn mà họ đề nghị giúp đỡ trên diễn đàn. Hoặc bạn có phát kiến gì mới có thể mở hẳn một topic riêng như bạn Long Nguyen Quang để chứng tỏ bản lĩnh và khả năng của mình.
Như vậy tôi cho rằng sẽ có ích hơn là bạn chất vấn mọi người. Để chất vấn thì không cần phải đến trình độ cao thủ. Một người chăn cừu cũng có thể chất vấn một tổng thống. Bởi vậy, tôi rất hy vọng bạn sẽ chứng tỏ tài năng của bạn đúng với danh hiệu mà Hoá Lộc tặng bạn: "Đại đại cao thủ". Trong những website liên quan đến Lý học mà tôi biết thì chỉ có một vài người đượpc coi là "cao thủ": Thiên Cơ, Thiên Kỳ Quí, VDTT, Hải Đăng - Lão Ngoan Đồng, Quảng Đức, Trumetin và một vài cao thủ ẩn danh khác. Chưa có ai được coi là "Đại đại cao thủ" như bạn. Điều này chứng tỏ trên thực tế ngoài đời bạn đã chứng tỏ tài năng xuất chúng của bạn.
Tôi rất hy vọng bạn sẽ chứng tỏ tài năng đó ở đây và chẳng cần phải chất vấn làm gì. Điều đó không xứng đáng với danh hiệu mà Hoá Lộc tặng bạn.
Cảm ơn sự chú ý của bạn.
Chúc các bạn vui vẻ.
Thiên Sứ

Hoa Loc
13-03-2006, 06:31 PM
Tất nhiên tôi đã có hân hạnh được thưởng thức nhiều chiêu của anh tubinh_giagia, phải nói là rất siêu, học thuật rất cao thâm, nhất là Tử Bình thì có lẽ vào diện Number One rồi, lâu mới thấy anh xuất hiện trở lại. Có thể cách phản biện của anh không nhẹ nhàng dễ chịu nhưng cũng là những vấn đề chúng ta cần suy nghĩ.

Tất nhiên tôi nói tubinh_giagia là đại đại cao thủ thì theo như tôi biết về kiến thức của anh (có thể tôi may mắn hơn nhiều người khác vì có nhiều cơ hội được thưởng thức nên biết) thì trên tầm các cao thủ như anh Thiên Sứ đã biết rồi. Nhưng nói thêm tôi chỉ xếp Thiên Cơ, Quang Duc với Trumetin vào diện cao thủ thôi, Thiên Kỷ Quý cũng khá, nhưng còn thua 3 vị này, còn hài đăng, VDTT tôi không xếp hạng cao thủ nào hết.

Tôi vẫn mong các anh sẽ tiếp tục trao đổi thẳng thắn để tôi cũng được mở rộng thêm tầm nhìn. Mong lắm thay!!!

Nhất Chi Viên
13-03-2006, 09:22 PM
Chào HoaLoc,

Anh bạn viết sai một điểm : Thiên Kỷ Quí công lực trên hẵn TruMeTin người chỉ chép sách, không có kinh nghiệm lâm sàng, chưa bao giờ giải công khai, có lần giải mà tôi mục kích thì lệch lạc. Nếu họ Thiên không bị Tẩu Hỏa Nhập Ma thì Thiên Cơ chưa chắc sánh bằng hắn đâu. Còn Quảng Đức thì Tử Vi còn kém lắm, miễn bàn về Dịch và Phong Thủy vì tôi không rành.

Nhất Chi Viên

Thiên Sứ
13-03-2006, 11:34 PM
Anh Nhất Chi Viên cho tôi hỏi thăm:
Thiên Kỳ Quí bị tẩu hoả nhập ma hồi nào vậy?
Cảm ơn anh quan tâm câu hỏi của tôi.
Thiên Sứ

Nhất Chi Viên
14-03-2006, 12:32 AM
Anh Thiên Sứ hỏi thì tôi phải đáp,

Chúng ta không nên quá phân biệt cao thấp, thành ra ghi ra cấp bậc chẳng qua theo cảm quan mà thôi, không trúng gì cả.

Hỏa nhiều mà không điều chế được thì thành cao ngạo, hiếu chiến, tốt thì là người trọng lễ, hiếu nghĩa, còn xấu thì là ác ma.

Lúc thật đúng lúc thật sai là vì kinh mạch chạy không đều, hỗn loạn chân khí, tuổi trẻ đã sớm thành công vì cung số của năm sinh đầy mộc hỏa trong Can Chi và Nạp Âm lẫn bố trí của Mệnh Thân, ôm hoài bảo lớn lao trở thành dục vọng. Phật Ma chỉ cách một ly ông cụ. Quan sát kỹ thì biết hỏa đã thấu tâm can thiêu đốt đương số từ lúc vào vận Thái Tuế cung Hỏa.

Nhất Chi Viên

Thiên Sứ
14-03-2006, 01:18 AM
Anh Nhất Chi Viên thân mến.
Cảm ơn anh đã cho biết. Qua luận đoán của anh thì tôi đoán anh phải thuộc hàng cao thủ. Trong tôi cũng không phân biệt cao thấp như anh nói. Nhưng người ta giỏi thì phải thừa nhận chứ làm sao. Anh Quảng Đức tuy không giỏi Tử Vi, nhưng về Phong Thuỷ và Dịch thì đáng bậc cao thủ. Anh Trumetin và VDTT tuy xem tử vi không giỏi nhưng lý luận sâu sắc, anh Hải Đăng thì giỏi cả biện luận như nước chảy, hoa trôi lẫn phán đoán như thần về Tử Vi. Thiên Cơ thì đoán chính xác đến cả ngày xảy ra cuộc chiến vùng Vịnh,chính xác ngày Sadam Hussen bị bắt thì đâu phải loại tầm thường....Riêng Tubinh_giagia thì tôi không biết. Nhưng được ca ngợi như vậy thì nếu chưa phải xuất chúng thì cũng hàng cao thủ. Nhưng nếu thật là Anh Thiên Kỳ Quý bệnh nặng như vậy thì cũng thật là điều buồn, ít nhất là trong tôi. Dù sao cũng nhờ anh ấy cùng mấy người tâm huyết mở ra tuvilyso.com mà bắt đầu từ đấy, tôi mới có dịp nói về nên văn hoá Việt gần 5000 năm văn hiến. Nếu anh Nhất Chi Viên có thể giúp cho tôi biết tuổi anh Thiên Kỳ Quí, tuổi vợ và con út anh ấy, may ra tôi giúp được gì chăng. Anh có thể gửi tin nhắn qua hộp thư diễn đàn.
Quẻ Lạc Việt độn toán cho biết bệnh anh ấy bây giờ cũng rắc rối, nhưng có cơ may chữa khỏi. Tôi vẫn có thể viết điều này lên thẳng tuvilyso.com. Nhưng biết làm sao, khi vẫn thấy cái khoá ở mục Văn Hiến Lạc Việt làm tôi khó sử.
Cầu chúc anh ấy được vạn sự an lành.
Cảm ơn anh Nhất Chi Viên quan tâm giúp đỡ.
Thiên Sứ

alcalcalc
14-03-2006, 01:35 AM
Kính gửi Quý Anh Thiên Sứ , Tử Bình Gia Gia ,Dungkq ,Long Nguyen Quang,Quý Cao Nhân,...

ALC mạn phép nói lên vài điều :

ALC thấy Quý Vị đều là những kỳ nhân ,ALC chân thành ngưỡng mộ Quý Vị .

Tất cả hệ tư tưởng , triết thuyết , phương pháp luận, các môn khoa học đều nhằm mô tả và khám phá quy luật vũ trụ hay một phần của vũ trụ .

“Đối với con người , sai lầm là quy luật còn chân lý là ngoại lệ “

Sự tranh biện để đến gần chân lý .Người tài tất có người tài hơn , mỗi người có sở trường về một lãnh vực , không ai có thể am tường hết mọi lãnh vực .

Mục đích cuối cùng của mọi hành vi(suy nghĩ nói năng và hành động ) là giúp ích cho nhiều người , nói rộng ra là muôn loài chúng sanh mười phương thế giới .

Nền tảng phán đoán của loài người xưa nay là : Hể ai cũng suy nghĩ , nói năng và hành động sao cho thế giới sẽ yên vui , hạnh phúc (tiến gần đến chân -thiện- mỹ )thì người đó sẽ được coi là anh hùng ,danh nhân ,vĩ nhân hay là thánh ! Hể ai làm ngược lại sẽ bị nhân loại không chấp nhận .

Trí tuệ ,thời gian và sức khỏe của Quý vị nên dùng chủ yếu vào việc giúp ích cho bá tánh chúng sanh vì không phải ai cũng có đủ phúc và đức tích lũy tri thức , kiến thức uyên bác như QUÝ VỊ .

Chân lý không thể dùng lời mà mô tả được , cần sự trực nhận .

Người học võ , khi đã tinh thông thi không còn lệ thuộc chiêu thức .

Kính chúc Quý Vị luôn mạnh khỏe , yên vui và hạnh phúc .

ALC kính mong Quý Vị lượng thứ và chỉ bày cho ALC .

Kính ,

ALC

Nhất Chi Viên
14-03-2006, 01:43 AM
Anh Thiên Sứ thân mến,

Không sao cả, năm nay vào hạn mới có điều ức (điều hòa và ức chế) thì vừng đông đã ló dạng. Mọi việc đến rồi đi, tất cả đều nằm trong sự ước tính của người (sư phụ của tôi) và soạn thảo bởi bản huyền cơ. Hình như kinh mạch bắt đầu điều hòa trở lại cho hắn ta mà tôi không có liên quan gì cả.

Cám ơn anh quan tâm, chúc anh thật nhiều nghị lực và sáng suốt trong công việc, đừng để hao tổn nguyên khí mà lâm bịnh.

Rất tiếc không còn thấy Thiên Cơ lần nữa.

Nhất Chi Viên

tubinh_giagia
14-03-2006, 07:38 AM
Bạn Tubinh_giagia thân mến.
Gần đây, qua bạn Hoá Lộc giới thiệu, bạn là một đại đại cao thủ trong lĩnh vực lý học. Như vậy tôi sẽ rất hân hạnh được một người như bạn chất vấn. Nhưng rất tiếc vì tôi thật sự bận rộn. Trước khi có lời chất vấn của bạn, tôi đã than phiền là không có cả thời gian để tức giận: "Nếu có tức giận ai, cũng phải chờ thư thả vài bữa!". Cũng vì áp lực công việc mà tôi đã bệnh cả tuần lễ. Đấy là sự thật xảy ra mà tôi cũng đã đề cập trên diễn đàn trước khi có lời chất vấn của bạn. Chắc bạn thông cảm. Tôi không có ý định tránh né những lời chất vấn của bạn.


:) Ai nói ai xem mình đây là cao thủ, thấp thủ hay đại cao thủ gì đó - thì đó là chuyện của họ không mắc mớ gì đến chuyện mình đang chất vấn Thiên Sứ cả! Với lại chuyện mình chất vấn Thiên Sứ là trên tinh thần học thuật, nhưng Thiên Sứ lại bận đến đỗi "không có cả thời gian để tức giận" nhưng lại có thời gian để phát biểu về những "sở ngộ của Thiên Sứ" cơ:


Theo tôi:
Qui luật nạp âm 60 hoa giáp lấy căn bản trên Hà Đồ:

1) Bắt đẩu từ hành Kim: Giáp Tý Ất Sửu + 8 năm Nhâm Thân Quí Dậu + 8 năm Canh Thìn Tân Tỵ.
2) Hết 24 năm của hành Kim, nghịch chuyển trên Hà Đồ đến 24 năm tiếp theo là Hoả trên Hà Đồ.
3) Hết 24 năm của hành Hoả, nghịch chuyển trên Hà Đồ đến 24 năm tiếp theo là hành Mộc trên Hà Đồ.
4) Hết 24 năm của hành Mộc , nghịch chuyển trên Hà Đồ đến 24 năm tiếp theo là hành Thuỷ trên Hà Đồ.
5) Hết 24 năm của hành Thuỷ, nghịch chuyển trên Hà Đồ đến 24 năm của hành Thổ trên Hà đồ.
Tóm lai Bảng 60 hoa giáp trong sách Tàu theo Qui luật:
Nghịch chuyển trên Hà Đồ..

Lưu ý:
Bảng Lạc thư Hoa giápcủa người Việt cũng căn cứ theo Hà Đồ,nhưng thuận chuyển.

1) Bắt đẩu từ hành Kim: Giáp Tý Ất Sửu + 8 năm Nhâm Thân Quí Dậu + 8 năm Canh Thìn Tân Tỵ.
2) Hết 24 năm của hành Kim, thuận chuyển trên Hà Đồ đến 24 năm tiếp theo là Thuỷ trên Hà Đồ.
3) Hết 24 năm của hành Thuỷ, thuận chuyển trên Hà Đồ đến 24 năm tiếp theo là hành Mộc của Hà Đồ.
4) Hết 24 năm của hành Mộc , thuận chuyển trên Hà Đồ đến 24 năm tiếp theo là hành Hoả trên Hà Đồ
5) Hết 24 năm của hành Hoả, thuận chuyển trên Hà Đồ đến 24 năm của hành Thổ.
Bởi vậy có Thuỷ Hoả ở vị trí không giống sách Tàu từ hàng ngàn năm trước.

Chính người Tàu cũng không hiểu ngay cà nguyên lý này.
Thiệu Vĩ Hoa - một nhà nghiên cứu nổi tiếng Trung Hoa hiện đại; đã phải thừa nhận rằng:
Nạp âm ngũ hành trong bảng 60 Giáp tý căn cứ theo nguyên tắc gì để xác định; người xưa tuy có bàn đến nhưng không có căn cứ rõ ràng và cũng chưa bàn được minh bạch. Do đó vẫn là huyền bí khó hiểu. Bảng 60 Giáp tý biến hoá vô cùng; đối với giới học thuật của Trung Quốc cho đến nay vẫn là huyền bí khó hiểu”
(Trích trong sách:Chu Dịch và dự đoán học. Trang 68. Thiệu Vĩ Hoa. Nxb Văn Hoá Thông Tin 1996.


:) Trong khi ấy, Thiên Sứ có biết tại sao phải "nghịch chuyển" hay không?

Lại một điều chất vấn nữa đấy; nhưng có lẽ Thiên Sứ lại bận đến đỗi "không có cả thời gian để tức giận" nhưng lại có thời gian để phát biểu về những "sở ngộ khác của Thiên Sứ" nữa cơ, phải không?

Cứ giành lấy làm Văn Minh của nước mình rồi không ngại hoán vị, thuận chuyển v.v... môn lý học một cách chủ quan mà Thiên Sứ lại không nghĩ rằng: Sách vở, tài nguyên, nhân tài của Việt Nam đã bị cống sang Thiên triều phương Bắc (Hoa Hạ) biết bao nhiêu, nên cho rằng Hà Đồ là trong Văn Minh Lạc Việt - thì trước tiên Thiên Sứ phải tìm hiểu khám phá giải mã tại sao nó như vậy cái đã: vì rằng,

Chính người Tàu cũng không hiểu ngay cả nguyên lý này

mà, phải không?

Chưa đến phiên Thiên Sứ hoán đổi, sửa chửa hay san định lại điều gì mà Thiên Sứ chưa thật sự biết tại sao nó lại như thế đâu nhé!

Tại sao Lục Thập Hoa Giáp phải nghịch chuyển?

Trong hai bảng Tiên Thiên và Hậu Thiên bát quái đều có sự đối xứng mà không cần Thiên Sứ phải hoán vị Tốn, Khôn.... Thiên Sứ đã có thấy được sự đối xứng đó chưa?

Ngay cả những con số trong Lạc Thư cộng chéo ngang có cùng con số 15, có lý do gì?

v.v...

:)




Nhưng tôi nghĩ: Nếu bạn quả là một đại cao thủ trong lý học, bạn có thể thể hiện khả năng đó của mình để giúp cho bao nhiêu con người đang cần đến những tài năng như bạn. Bạn có thể giải đoán giúp họ hoạc cứu họ qua những cơn hoan nạn mà họ đề nghị giúp đỡ trên diễn đàn. Hoặc bạn có phát kiến gì mới có thể mở hẳn một topic riêng như bạn Long Nguyen Quang để chứng tỏ bản lĩnh và khả năng của mình.


Phát kiến của Thiên Sứ đang bị chất vấn đây MÀ Thiên Sứ còn chưa bảo vê,. chu toàn (lý do: Bận) lại đi bàn đến chuyện phát kiến của ai khác mà chi...??? :)

Chuyện phát kiến của long nguyên quang cũng đang được mình chiếu cố... nhưng lại cũng bị (lý do: Bận) mà long nguyên quang cũng bặt vô âm tín... có sự trùng hợp ghê vậy đó!


Còn về việc, mình có giúp được ai - giúp được như thế nào, thì Thiên Sứ không cần phải bận tâm đâu vì sự thảo luận của chúng ta đang ở trên sự phát kiến của Thiên Sứ đó mà. Không nên lạc đề như phận biện luận dưới đây:


Như vậy tôi cho rằng sẽ có ích hơn là bạn chất vấn mọi người. Để chất vấn thì không cần phải đến trình độ cao thủ. Một người chăn cừu cũng có thể chất vấn một tổng thống. Bởi vậy, tôi rất hy vọng bạn sẽ chứng tỏ tài năng của bạn đúng với danh hiệu mà Hoá Lộc tặng bạn: "Đại đại cao thủ". Trong những website liên quan đến Lý học mà tôi biết thì chỉ có một vài người đượpc coi là "cao thủ": Thiên Cơ, Thiên Kỳ Quí, VDTT, Hải Đăng - Lão Ngoan Đồng, Quảng Đức, Trumetin và một vài cao thủ ẩn danh khác. Chưa có ai được coi là "Đại đại cao thủ" như bạn. Điều này chứng tỏ trên thực tế ngoài đời bạn đã chứng tỏ tài năng xuất chúng của bạn.
Tôi rất hy vọng bạn sẽ chứng tỏ tài năng đó ở đây và chẳng cần phải chất vấn làm gì. Điều đó không xứng đáng với danh hiệu mà Hoá Lộc tặng bạn.
Cảm ơn sự chú ý của bạn.
Chúc các bạn vui vẻ.
Thiên Sứ

Phát kiến của Thiên Sứ đang bị mình chất vấn vậy mà còn chưa biết tài năng của mình ra sao và chẳng lẽ đến khi phát kiến trên bị phá tan do sự thiếu NHẤT QUÁN và hiểu chưa đến của Thiên Sứ xảy ra rồi thì Thiên Sứ mới bừng ngộ à!? :)

Vậy, khi nào bớt bận thì tranh thủ thảo luận và trả lời những chất vấn của mình đi để sớm thấy tài năng xuất chúng của mình nhé!



Tubinh_giagia

Zero
14-03-2006, 08:01 AM
Theo tôi nghĩ thì chú Thiên Sứ đã tự biết sự thiếu NHẤT QUÁN trong cách hoán vị Tốn, Khôn từ lâu rồi! Ngoài ra, tất cả những người am hiểu Tiên Thiên và Hậu Thiên bát quái tường tận cũng đều thấy sự khiếm khuyết đó.

Còn lý do tại sao không can đảm nhìn nhận sự thiếu lô-gic và nhất quán của nó, thì tôi để tự mọi người suy luận.

trananh2004
14-03-2006, 10:08 AM
Thưa chú Thiên sứ

Cháu thấy có vẻ như chú lại bận lòng vì những chuyện không đâu - Không nên thế chú ạ _ Chú nên giữ gìn sức khỏe và tâm tĩnh để tiếp tục công việc và giúp đỡ người khác

Về vấn đề " cao thủ " _ qua theo dõi các site lý số từ trước tới nay _ cháu thấy CHÍNH CHÚ là một đại cao thủ _ Không cần bàn cãi _ còn những người mà chú nhắc đến _ Một vài người thì cháu cũng nghĩ là cao thủ nhưng " nủa tin nửa ngờ "

Còn loại " cứ tưởng mình là cao thủ " thì nhiều lắm chú ạ _ chú cứ nhớ anh chàng Thienkhoitimvui trước đây_ võ vẽ dăm ba chữ_ cũng tranh luận và phân tích

Cháu mong chú không bị phân tâm

Chào chú

Trần anh

Note: Ở đời vẽ Thần thánh ma quỷ thì dễ _ nhưng vẽ chó, mèo thì thật là khó

Thiên Sứ
14-03-2006, 10:57 AM
Tubinh_giagia thân mến!
Tôi xin được phép thành thật nói với bạn là:
Tôi không có thời gian để tranh luận với bạn. Thời gian đó tôi để dùng chứng minh nền Văn Hiến Lạc Việt trải gần 5000 văn hiến. Nhưng bạn lưu ý cho tôi là:
Đã có kẻ chụp cho tôi một cái mũ rất lớn: Ảnh hưởng đến quan hệ hữu nghị Việt Trung, ảnh hưởng chính trị - mặc dù tôi chỉ nhân danh khoa học - Đủ hiểu tôi phải đem chính sinh mạng của tôi để bảo chứng việc này. Nếu lập luận tôi không chặt chẽ, hợp lý và nhất quán thì - xin lỗi bạn - nếu chỉ một người cỡ như bạn mà cũng vạch ra được cái sai của tôi thì tôi chắc chưa thể xuất bản một cuốn sách nào và đi nghỉ mát từ lâu rồi. Ở nước Việt hiện nay cũng không ít cao thủ cỡ bạn trở lên. Vậy mà họ còn phải thừa nhận lập luận của tôi là sáng tạo và hợp lý, nhất quán (Mặc dù họ có thể chưa công nhận).
Thành thực khuyên bạn không nên tiếp tục chất vấn làm gì cho mất thời giờ của bạn và của tôi. Bây giờ tôi đã thư thả, nhưng thời gian dùng làm việc khác, như tôi đã nói.
Tôi rất biết và biết rất rõ tôi đang làm gì và cái gì sẽ xảy ra với tôi, khi tôi dấn thân làm việc này: Chứng minh cội nguồn Lý học Đông phương thuộc về người Việt và không phải thuộc về văn minh Hoa Hạ với tinh thần khoa học.
Bởi vậy, bạn hãy chửng tỏ khả năng của bạn bằng cách bạn hãy mở một topic cho riêng bạn và chứng minh sách Tàu đúng. Còn chất vấn? Tôi từ chối trả lời cho cá nhân bạn.
Bạn hãy thông cảm và đừng nên nhắc lại chuyện này. Vì nếu tôi không có thì giờ trả lời bạn, bạn đừng nghĩ rằng tôi không đề cao bạn.
Tôi sẽ nhận lời chất vấn của bạn, nếu bạn tổ chức được một cuộc hội thảo quốc tế được Liên hợp Quốc công nhận. Tôi sẵng sàng trả lời tất cả các câu hỏi của bạn liên quan đến các luận điểm của tôi. Còn nếu bạn không thể làm được việc đó thì bạn hãy thông cảm. Tôi hứa: nếu bạn có một giấy mời tôi tham gia một cuộc hội thảo quốc tế do Liên hiệp quốc tài trợ - thì tôi sẽ ưu tiên trả lời chất vấn của bạn trước tiên, trước khi trả lời các học giả quốc tế khác.
Chúc bạn vui.
Thiên Sứ

Nhất Chi Viên
14-03-2006, 11:15 AM
Chúng ta nên yên nghĩ RIP (rest in peace) vì đây là chủ đề của bạn longnguyenquang.
Đúng và sai có thể từ từ ló dạng qua thời gian, còn bây giờ mong hai bạn lui ra nhường đất cho chủ nhân chứ.

Thân ái,

Nhất Chi Viên

Hoa Loc
14-03-2006, 11:35 AM
Chào HoaLoc,

Anh bạn viết sai một điểm : Thiên Kỷ Quí công lực trên hẵn TruMeTin người chỉ chép sách, không có kinh nghiệm lâm sàng, chưa bao giờ giải công khai, có lần giải mà tôi mục kích thì lệch lạc. Nếu họ Thiên không bị Tẩu Hỏa Nhập Ma thì Thiên Cơ chưa chắc sánh bằng hắn đâu. Còn Quảng Đức thì Tử Vi còn kém lắm, miễn bàn về Dịch và Phong Thủy vì tôi không rành.

Nhất Chi Viên

Anh NCV,
Thực ra đánh giá tổng quát chung (nhiều mặt, nhiều môn, cả lý thuyết sách vở lẫn thực hành) thì tôi cảm thấy như vậy, còn đi vào chi tiết từng môn thì mỗi người có mặt mạnh mặt yêu riêng tôi cũng đồng ý anh đánh giá rành rẽ chi tiết hơn vậy. Trumetin về kiến thức sách vở thì giỏi đấy, nhưng kỹ thuật dùng tinh hoa của sách thì còn yếu, vẫn còn lan man chưa đi được vào bản chất , chưa chốt được cốt lõi của vấn đề nên thực hành còn chưa xuất xắc lắm, hy vọng trong tương lai anh sẽ hoàn thiện nâng cao hơn mặt này. TKQ cũng có sức học tốt, ham học đọc nhiều, nhưng anh còn quá nóng nảy, quá nôn nóng và háo thắng nên làm mất đi độ tĩnh lặng sáng suốt để xét đoán chính xác, và đấy là điểm rất quan trọng để giúp người học thuật biết đúc rút hoàn thiện tiến lên phía trước thành ra tôi vẫn xếp anh ta kém hơn 3 nhân vật kia khi xét chung tất cả mọi mặt, tất nhiên có mặt nào đó anh ta trội hơn, nhưng tổng hợp lại thì vẫn thấp hơn là vậy đó.

Tất nhiên mọi đánh gia đều là tương đối, mọi thứ đều có vận động biến đổi không ngững, trong tương lai có thể lại có sự đổi ngôi các cao thủ khi sự học tập trui gièn của mỗi người đi nhanh hay chậm, cho nên ý kiến của tôi cũng chỉ cho thời điểm hiện nay, có sau này cục diện có thây đổi thì tôi cũng lại có đánh giá khác vào thời điểm khác trong tương lai.

Hóa Lộc

nguoidepsaigon
14-03-2006, 11:40 AM
nguoidepsaigon ngua mieng qua cung gop vai loi, he he. Vấn đề " cao thủ hay đại cao thủ" gì đó, do người này ngưỡng mộ người kia mà ' hô ' lên thôi! Tiêu chuẩn về khái niệm 'cao thủ ' hay 'đại cao thủ ' chưa đưa ra, nên biết thế nào mà xếp loai. Người có lòng tự trọng khi người nào đó tâng bốc mình lên ' cao thủ ' thường cảm thấy xấu hổ trong lòng, còn người hám danh khi được ai tâng bốc mình lên 'cao thủ hay đại cao thủ ' thường cảm thấy sướng cái bụng! Muốn chứng minh, Lý học đông phương của người Việt (người Giao Chỉ chứ không phải người Việt như Việt vương Câu Tiển...) trước hết chứng minh người Giao Chỉ xuất hiện từ thời đồ đá, tệ lắm cũng chứng minh được người Việt cổ có riêng chử viết! Sau đó muốn chứng minh cái gì thì chứng. nguoidepsaigon là phận nữ nhi chỉ biết vậy, để xem các đấng "trượng phu ' tranh luận thế nào, tranh gì thì tranh đừng để ' nữ nhi ' cười thầm trong bung, mong lắm thay. Trong tranh luận, nên đừng để những cảm xúc riêng tư như ' giận ' ' hờn ' ' đố kỵ ' chi phối những tranh cải của minh.....Cuối cùng nguoidepsaigon chúc mọi người tiếp cận được chân lý hì hi...

long nguyen quang
14-03-2006, 03:31 PM
Chào các bạn ! Tôi mới đi công tác và chỉ vắng mặt trên diễn đàn có 3 ngày ( T7,CN ,T2 ) mà bạn Tubinh_giagia lại viết :

"...Chuyện phát kiến của long nguyên quang cũng đang được mình chiếu cố... nhưng lại cũng bị (lý do: Bận) mà long nguyên quang cũng bặt vô âm tín... có sự trùng hợp ghê vậy đó! "
Tôi chỉ vào diễn đàn những khi rảnh rỗi, những gì tôi viết ra là đã được kiểm nghiệm thực tế rất nhiều và đều có lý luận rõ ràng, tôi viết những chủ đề trên diễn đàn nhằm giúp những bạn đang nghiên cứu tử vi với tư cách là người đã trãi qua , việc có tiếp thu hay không là tùy các bạn, còn tôi đã dám viết lên diễn đàn thì cũng chẳng việc gì phải "bận" theo cách hiểu bạn Tubinh_giagia. Trong chủ đề " Giải quyết rốt ráo cái vụ Tiền Kình hậu đà " tôi hỏi thăm Tubinh_giagia hoài mà không thấy hồi âm, chắc có lẽ là bạn ấy cũng bị " bận". /^\
Tôi cũng lấy làm thích thú khi có bạn Tubinh_giagia chất vấn tôi và tôi rất mong được tiếp tục như thế ở những chủ đề khác.
Còn chuyện bạn Hoa loc ca ngợi Tubinh_giagia là đại đại cao thủ thì lại càng làm tôi thấy hứng thú ! Nếu trên diễn đàn này cáng có nhiều người thực sự như thế thì càng tốt chứ sao.
Từ nay tôi sẽ tung thật nhiều " Chưởng " để xem công lực của Tubinh_giagia cao tới đâu. Đến lúc đó thì Tubinh_giagia vắng mặt ngày nào thì tôi sẽ kết bạn vào lý do : Bận nhé ! --nn--

khonglaai
14-03-2006, 04:54 PM
Muốn chứng minh, Lý học đông phương của người Việt (người Giao Chỉ chứ không phải người Việt như Việt vương Câu Tiển...) trước hết chứng minh người Giao Chỉ xuất hiện từ thời đồ đá.
Lạ, người Giao chỉ và người Việt có khác không nhỉ? Ai đã chứng minh được điều đó thưa bạn? Có khi nhờ nguoidepsaigon giải thích luôn là vì sao người Triết Giang họ gọi mình là người Việt và người Việt Nam ta cũng gọi mình là người Việt. Chắc người Việt mình thấy sang bắt quàng làm họ nhỉ? NguoidepSG đọc Đông Chu Liệt Quốc chưa? Nếu chưa thì ráng đọc sẽ thấy người Trung Hoa có những thứ cần giấu diếm lắm đấy.
Còn chứng minh người Giao Chỉ xuất hiện từ thời đồ đá là sao, thưa bạn? Thật tình tôi không hiểu? Nếu bạn hỏi có người sống ở vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam từ thời đồ đá chưa thì thưa bạn là đã có. Nhiều học giả tài ba đã chứng minh vụ này rồi.
tệ lắm cũng chứng minh được người Việt cổ có riêng chử viết! Sau đó muốn chứng minh cái gì thì chứng.
Ủa, dựa trên logic nào mà nguoidepSG đặt ra điều kiện quái dị vậy cà? Kinh Dịch bắt buộc phải có sau chữ viết hả, thưa bạn. Lạy Chúa tôi, thế thì ngài Phục Hi ơi, ngài đừng khoe cái Hà Đồ làm gì vì cái đó có khi chưa có chữ viết thì làm sao là kinh Dịch được. Mà cái Lạc Thư cũng liệu hồn đấy.
À, thấy nguoidepSG nói hay vậy, tôi muốn hỏi luôn là cần chứng minh có bao nhiêu chữ mới có thể nói là ngưới Việt có chữ viết? Ví dụ, chứng minh có bản văn sau: "Anh yêu em lắm! Mặt trời lặn ở Phương Tây. Ngày đêm thương nhớ anh gầy tấm thân." thì đã đủ để giải quyết xong điều kiện của nguoidepSG chưa nhỉ?
Thân.
khonglaai

Thiên Sứ
15-03-2006, 12:33 AM
Anh Không Là Ai thân mến.
Ngay cả Thiệu Vĩ Hoa và tất cả các học giả Trung Hoa vẫn không thể nào biết được qui luật nào tạo ra bảng 60 hoa giáp. Nhưng có không ít người - chính họ cho rằng - Lý học Đông phương từ Tàu mà ra, ai phản bác lại họ không chịu. Nhưng thật là buồn cười , khi những người tự nhận là "học trò Tàu" ấy, lại tỏ ra giỏi hơn cả những người Tàu chính cống, để chứng minh tất cả cái gì khác Tàu là sai, khi chính những học giả bậc thày của Tàu cũng chưa biết đâu mà lần. Híc! Thật là vô lý đến độ khôi hài.
Anh bận tâm làm gì.
Thân
Thiên Sứ

tubinh_giagia
15-03-2006, 06:41 AM
Tubinh_giagia thân mến!
Tôi xin được phép thành thật nói với bạn là:
Tôi không có thời gian để tranh luận với bạn. Thời gian đó tôi để dùng chứng minh nền Văn Hiến Lạc Việt trải gần 5000 văn hiến. Nhưng bạn lưu ý cho tôi là:

Đã có kẻ chụp cho tôi một cái mũ rất lớn: Ảnh hưởng đến quan hệ hữu nghị Việt Trung, ảnh hưởng chính trị - mặc dù tôi chỉ nhân danh khoa học - Đủ hiểu tôi phải đem chính sinh mạng của tôi để bảo chứng việc này. Nếu lập luận tôi không chặt chẽ, hợp lý và nhất quán thì - xin lỗi bạn - nếu chỉ một người cỡ như bạn mà cũng vạch ra được cái sai của tôi thì tôi chắc chưa thể xuất bản một cuốn sách nào và đi nghỉ mát từ lâu rồi. Ở nước Việt hiện nay cũng không ít cao thủ cỡ bạn trở lên. Vậy mà họ còn phải thừa nhận lập luận của tôi là sáng tạo và hợp lý, nhất quán (Mặc dù họ có thể chưa công nhận).
Thành thực khuyên bạn không nên tiếp tục chất vấn làm gì cho mất thời giờ của bạn và của tôi. Bây giờ tôi đã thư thả, nhưng thời gian dùng làm việc khác, như tôi đã nói.



Khi đọc mấy chữ Văn Hiến Lạc Việt này thì mình đang mở 2 trang Vietlyso và Tuvilyso nên đã mở chủ đề này ra đọc ở Tuvilyso thì gặp phải câu này của Thiên Sứ như sau:


Msg 12 of 32: Đã gửi: 28 June 2005 lúc 12:30am | Đã lưu IP http://www.tuvilyso.com/forum/forum_images/quote_icon.gif (http://www.tuvilyso.com/forum/edit_post.asp?M=Q&PID=93880&TPN=2)
Tôi hoàn toàn đồng ý với ban điều hành:
Cho hiển thị nhưng khoá chủ đề lại.
Có thể không cần sửa chữa thêm bớt gì cả. Chỉ cần khoá lại thôi.

Xin có lời chân tình nhắn các bậc trí giả và cao nhân:
Tôi rất mong được tranh biện về quan điểm - tạm gọi tắt là:Thuỷ /Hoả - Tốn /Khôn. Chắc quí vị cũng biết đó thực sự là ước nguyện của tôi. Sự tranh biện này có thể ở đây và bất cứ đâu. Nhưng tôi thực sự buồn khi phải chấp nhận không thể bàn luận tiếp với chủ đề này. Chính vì sự sai lạc trong phản biện học thuật có thể dẫn tới rối loạn trong diễn đàn.
Chỉ có thể có hai phương pháp phản biện:
1) Thiên Sứ sai.
2) Sách cổ Hán đúng.
Phương pháp 1 không thể phản biện lúc này thì quí vị có thể mở chủ đề chứng minh tính hợp lý của sách Hán liên quan đến Lý học Đông phương với bất cứ phương pháp luận nào. Nếu hợp lý thì có thể Thiên Sứ sai.
Chân thành cảm ơn sự quan tâm của quí vị.

Thiên Sứ


:) Ấy vậy! mà vấn đề thiếu NHẤT QUÁN trong quan điểm phát kiến trên của Thiên Sứ được mình phơi bày chất vấn thì Thiên Sứ lại đi viện cớ này nọ rằng không có thời gian VÀ thứ đến lại đi phạm một lỗi căn bản khác là xúc phạm nhân cách của kẻ đối thoại... "Nếu lập luận tôi không chặt chẽ, hợp lý và nhất quán thì - xin lỗi bạn - nếu chỉ một người cỡ như bạn mà cũng vạch ra được cái sai của tôi thì tôi chắc chưa thể xuất bản một cuốn sách nào và đi nghỉ mát từ lâu rồi"

Thiên Sứ đã tự đề cao Thiên Sứ rồi đó, trong khi vẫn tịt lời trước những chất vấn của mình... :)

Xuất bản một cuốn sách, có tiền thì tự xuất bản thôi - đâu có gì là khó; nhưng vì vậy mà tự cho mình không sai trong những điều mình viết thì quả là có phần khôi hài http://www.vietlyso.com/forums/images/smilies/wbyim04.gif.

Kế đến, "Ở nước Việt hiện nay cũng không ít cao thủ cỡ bạn trở lên. Vậy mà họ còn phải thừa nhận lập luận của tôi là sáng tạo và hợp lý, nhất quán (Mặc dù họ có thể chưa công nhận)" đó cũng còn là điều may mắn khi họ vẫn còn chút hoài nghi, nước Việt chưa đến độ cạn kiệt nhân tài.... nhưng họ còn phải thừa nhận lập luận của tôi là sáng tạo và hợp lý, nhất quán (đây chỉ là lời xác định ?% của Thiên Sứ thôi)... chứ thật ra, tám mươi mấy triệu dân Việt mà cũng phải thừa nhận mới đáng ta thán!


Phew! Thiên Sứ làm mình xém lo bò trắng răng! :)




Tôi rất biết và biết rất rõ tôi đang làm gì và cái gì sẽ xảy ra với tôi, khi tôi dấn thân làm việc này: Chứng minh cội nguồn Lý học Đông phương thuộc về người Việt và không phải thuộc về văn minh Hoa Hạ với tinh thần khoa học.
Bởi vậy, bạn hãy chửng tỏ khả năng của bạn bằng cách bạn hãy mở một topic cho riêng bạn và chứng minh sách Tàu đúng. Còn chất vấn? Tôi từ chối trả lời cho cá nhân bạn.
Bạn hãy thông cảm và đừng nên nhắc lại chuyện này. Vì nếu tôi không có thì giờ trả lời bạn, bạn đừng nghĩ rằng tôi không đề cao bạn.
Tôi sẽ nhận lời chất vấn của bạn, nếu bạn tổ chức được một cuộc hội thảo quốc tế được Liên hợp Quốc công nhận. Tôi sẵng sàng trả lời tất cả các câu hỏi của bạn liên quan đến các luận điểm của tôi. Còn nếu bạn không thể làm được việc đó thì bạn hãy thông cảm. Tôi hứa: nếu bạn có một giấy mời tôi tham gia một cuộc hội thảo quốc tế do Liên hiệp quốc tài trợ - thì tôi sẽ ưu tiên trả lời chất vấn của bạn trước tiên, trước khi trả lời các học giả quốc tế khác.
Chúc bạn vui.
Thiên Sứ

Thiên Sứ lại cứ nhầm lẫn cần phải được cầm tay chỉ việc mới thấy chăng?

Điều mình chất vấn là ngay trên sự không NHẤT QUÁN trong lập luận của Thiên Sứ đó chứ... ví dụ như:

Đề tài: Lạc Việt Độn Toán


Như Thiên Sứ bảo là sự sắp xếp theo những cặp đối xứng thì không có gì đáng để chất vấn - nhưng một khi tra ngũ hành rồi ngôn rằng: theo chiều tương khắc của Ngũ Hành thì nó không mang ý nghĩa NHẤT QUÁN nhất như...

Thiên Sứ cũng không lý giải về việc Càn mang hành Dương Thổ và Cấn mang hành Mộc (mà không có phân định âm/dương)... :)

.
.

Thiên Sứ nên rõ về lời mình nói khi bảo rằng: sự sắp xếp theo những cặp đối xứng - thì Càn mang tính chất của Dương Thổ thì Càn đối xứng với quẻ nào? Quẻ KHÔN ư? Thì có thể mang tính chất Dương vối với Âm nhưng còn ngũ hành thì sao? Khôn - Âm Thổ đối xứng với Càn - Dương Thổ là tương khắc của Ngũ Hành à???

Ví như Khảm / Ly thì có Thủy / Hỏa

Ví như Tốn Đoài / Cấn Chấn thì có Kim / Mộc... ok

Lạ nhỉ?!


--- oOo ---

Để rồi Thiên Sứ tùy tiện.... http://www.vietlyso.com/forums/images/smilies/wbyim04.gif


Bởi vậy, Càn lúc này tương ứng với Dương Thổ và Khôn là Âm thổ theo lý sẽ khắc nhau theo chiều thuận. Âm Thổ khắc Dương thổ, Về lý thì:

Âm Hoả đới Thổ (Khôn độ số 2. Đông Nam trên Hà Đồ/ Theo lý thuyết của tôi) khắc Dương Kim đới Thuỷ (Càn độ số 6. Tấy Bắc trên Hà Đồ/ Theo Lý thuyết của tôi).
Tôi đã giải thích xong vì sao Âm Thổ khắc Dương Thổ trong Lạc Việt độn toán

Tôi cũng xin lưu ý quí vị và anh em quan tâm đến Lạc Việt độn toán là:
Trường hợp coi Càn là Dương Thổ (Đại An) bị Khôn là Âm Thổ (Vô vong) khắc theo chiều thuận. Chỉ ứng dụng trong lý thuyết của Lạc Việt độn toán.





Đề tài: Kim khởi Trường Sinh ở cung Tỵ


Để cho các bạn hiểu khái quát vấn đề mình đang chất vấn Thiên Sứ, nhưng Thiên Sứ thì đẩy đưa chuyện đi tìm các sách, các tiểu luận của Thiên Sứ để tìm câu trả lời trong sự luận lý NHẤT QUÁN mà Thiên Sứ khẳng định rằng: "Kể từ năm đầu tiên viết sách 1998 cho đến lần tái bản 2001 - Thiên Sứ tôi vẫn nhất như với quan điểm của mình và chỉ bổ sung và mở rộng trong cả lý thuyết lẫn ứng dụng."



Nói về Hà Đồ thì ngoài trung cung, có 4 phương chính (Đông, Tây, Nam, Bắc) và mỗi phương vị gồm cả 2 con số Âm Dương và sau đó Ngũ Hành được tra vào để cụ thể hóa sinh thành hoại diệt, tiêu trưởng của Âm Dương như sau:

Đông = Mộc (3,8)
Tây = Kim (4,9)
Nam = Hỏa (2,7)
Bắc = Thủy (1,6)

và Trung Cung = Thổ (5,10)

Phương hướng là ĐỊNH VỊ, các cặp độ số âm dương LUÂN VỊ nên khi sang Lạc Thư thì cặp độ số âm dương từ Hà Đồ phương vị Tây và Nam đã đổi chỗ NHƯNG phương hướng Ngũ Hành vẫn không thay đổi!

Qua đến Lạc Thư thì nẩy sinh Tứ Di (4 phương 8 hướng) với những con số như sau:

|ĐN: [4]|CN: [9]|TN: [2]
===================
|CĐ: [3]|TC: [5]|CT: [7]
===================
|ĐB: [8]|CB: [1]|TB: [6]

CĐ,CT,CN,CB = Chính (Đông, Tây, Nam, Bắc)
ĐB, ĐN, TB, TN = Tứ di
TC = Trung cung

tương đương với phương vị Bát Quái như sau:

|ĐN: Tốn [4]|CN: Ly [9]|TN: Khôn [2]
==============================
|CĐ: Chấn [3]|TC: ĐT [5]|CT: Đoài [7]
==============================
|ĐB: Cấn [8]|CB: Khảm [1]|TB: Càn [6]


ĐT = Để Trống, không có quẻ nào


Các bạn đã có thấy, Hà Đồ chưa có bàn đến tứ di (4 hướng góc); thế nhưng Thiên Sứ lại nhiều lần xác định là Hậu thiên Lạc Việt - đổi chỗ Tốn Khôn - và liên hệ với Hà Đồ thì Hậu Thiên đây là Lạc Thư mới có 2 quẻ Tốn ở Đông Nam và Khôn ở Tây Nam để mà có sự việc đổi chỗ Tốn Khôn; thế nhưng liên hệ với Hà Đồ như thế nào thì mời các bạn tiếp tục theo dõi... :)

Vì rằng độ số 2 của quẻ Khôn ở Lạc Thư hay là Hậu Thiên được Thiên Sứ duy trì bản chất ngũ hành ở Hà Đồ hay là Tiên Thiên là Âm Hoả nên độ số 4 của quẻ Tốn ở Lạc Thư hay là Hậu Thiên cũng được Thiên Sứ duy trì bản chất ngũ hành ở Hà Đồ hay là Tiên Thiên là Âm Kim - nên mình muốn Thiên Sứ thừa nhận và xác định thôi; vậy mà Thiên Sứ cũng đẩy đưa không trả lời thẳng vấn đề http://www.vietlyso.com/forums/images/smilies/wbyim04.gif ...

Tại sao?

Nếu như Thiên Sứ thừa nhận thì sẽ rơi vào sự lý luận không còn NHẤT QUÁN nữa mà Thiên Sứ đã tự đề cao trước đó; vì như vầy:



Trích:
Nguyên văn bởi Thiên Sứ
1) Tỵ Âm Hoả trên Hà Đồ chính vị của Khôn thổ nên sinh Dậu Kim. Tức là Thổ sinh Kim theo đúng thuận tự tương sinh của Ngũ hành: Thổ sinh Kim.




là Thiên Sứ phải dùng đến tính chất Thổ của quẻ Khôn ở cung Tỵ để khai triển định luật ngũ hành tương sinh Thổ sinh Kim chứ không phải là độ số 2 Âm Hỏa (Hà Đồ) - và kế đến thì lại dùng độ số 4 Âm Kim (Hà Đồ) để lý giải cho Kim sinh Thủy ở cung Thân; vì quẻ Tốn vẫn còn mang tính chất Mộc (sao lại Mộc sinh Thủy đây?!)

--- oOo ---

Phần này thì Thiên Sứ đã viện cớ quá ư là bận rộn... rồi bây giờ thì "từ chối trả lời cho cá nhân bạn [mình]" luôn...



Phải chi số người họ có thể chưa công nhận đó được đọc những chất vấn trên của mình mà thấy lập luận của tôi [Thiên Sứ] là sáng tạo và hợp lý, nhất quán chăng?

Phải chi.... :)


À! Còn cái chuyện Liên Hiệp Quốc có cần phải nghe đến những lập luận còn thiếu NHẤT QUÁN của Thiên Sứ hay không thì tùy họ thôi mà....



Tubinh_giagia

tubinh_giagia
15-03-2006, 08:13 AM
Chào các bạn ! Tôi mới đi công tác và chỉ vắng mặt trên diễn đàn có 3 ngày ( T7,CN ,T2 ) mà bạn Tubinh_giagia lại viết :

"...Chuyện phát kiến của long nguyên quang cũng đang được mình chiếu cố... nhưng lại cũng bị (lý do: Bận) mà long nguyên quang cũng bặt vô âm tín... có sự trùng hợp ghê vậy đó! "
Tôi chỉ vào diễn đàn những khi rảnh rỗi, những gì tôi viết ra là đã được kiểm nghiệm thực tế rất nhiều và đều có lý luận rõ ràng, tôi viết những chủ đề trên diễn đàn nhằm giúp những bạn đang nghiên cứu tử vi với tư cách là người đã trãi qua , việc có tiếp thu hay không là tùy các bạn, còn tôi đã dám viết lên diễn đàn thì cũng chẳng việc gì phải "bận" theo cách hiểu bạn Tubinh_giagia.


Vậy thì long nguyen quang lại quên lửng đi điều mình đã hỏi ở trong chủ đề này (trang 7):


http://www.vietlyso.com/forums/images/smilies/wbyim04.gif Ngộ ghê...!!! long nguyen quang ba hồi đem Hoàng Đế Nội Kinh ra bàn rằng: "Nhiệt hỏa nóng quá sinh ra thấp thổ, thổ khô táo quá sinh kim. Hai hành thổ kim đều có quan hệ hữu cơ với hành hỏa. Do vậy vào tháng tư âm lịch ứng với tháng tỵ hỏa đã có cái mầm của táo kim , đến tháng tám ,tháng chín thì hành kim lộ rõ", và vì mình cũng có đọc qua Hoàng Đế Nội Kinh nên thấy LẠ nên mới hỏi:


Trích:
Nguyên văn bởi tubinh_giagia

Lục khí có tam dương: Hàn (thủy) - Táo (kim) - Hỏa (tướng) và tam âm: Thử (quân hỏa) - Phong (mộc) - Thấp (thổ); nên không thể nào thổ khô táo quá sinh kim nên đọc câu này của long nguyen quang... mình SỬNG! :) Vì sở học của mình chưa thấu đáo chăng nên có lời thỉnh cầu:

Sách vở, nội kinh, đông y - y án nào bảo rằng: thổ khô táo quá sinh kim, long nguyen quang có thể cho mình biết để đọc không?


</FONT>

và bàn thêm về lục khí trong đoạn mà long nguyen quang trích dẫn ở trên. Thế nhưng, thay vì trả lời hoặc cho mình thông tin về vấn đề này - thì long nguyen quang đem mình bỏ chợ và nhắc lại chuyện xửa xưa gì đâu không hà?? :)



Đừng quên mình nghen longnguyen quang!



Trong chủ đề " Giải quyết rốt ráo cái vụ Tiền Kình hậu đà " tôi hỏi thăm Tubinh_giagia hoài mà không thấy hồi âm, chắc có lẽ là bạn ấy cũng bị " bận". http://www.vietlyso.com/forums/images/smilies/035.gif


:) long nguyen quang có thấy chủ ý " Giải quyết rốt ráo cái vụ Tiền Kình hậu đà " là theo quan điểm của ai vậy? Của long nguyen quang - thì long nguyen quang đã có chủ trương riêng; người khác cũng vậy thôi, nhưng xem ra thì:



Tôi khẳng định là cách an " Lộc tiền nhất vị thị Kình dương" của tiền nhân là đúng 100%.Thật ra nguyên lý an sao Kình Đà dựa trên nguyên tắc Dương nhẫn của tử bình, là trạng thái đế vượng của thiên can năm sinh, điều này thì các tiền bối cũng đã nhắc đến, tuy nhiên lại không lý giải về sao Đà la , thế là nhiều tay hậu học lại suy luận Đà la ứng với trạng thái quan đới của thiên can năm, rồi lại cho lý giải đó là khoa học , theo mới nới cũ dẫn đến giải đoán lung tung !
Thật ra, Đà la là phần âm của Dương nhẫn và Kình dương là phần dương của Dương nhẫn , lộc tồn là điểm cân bằng âm dương, quan niệm này rất chính xác ! Đây là cái thâm thúy của môn Tử vi mà môn Tử bình không theo kịp !
Như vậy sao Đà la là sao do suy lý mà ra, chứ không phải tương ứng với trạng thái quan đới trong vòng tràng sinh như một số người đã lầm tưởng. Chính vì thế mà vị trí của Kình dương luôn ở trước sao lộc tồn và Đà là luôn nằm sau sao lộc tồn , lấy chiều thuận của lá số làm chuẩn. Vị trí an sao cũng do suy lý mà ra.


Chỉ là do suy lý mà ra thôi - thì ai lại chẳng suy lý được, nhưng long nguyen quang lại giở thói chê bai sau đó:


Có một vị tiền bối đã viết sách với kết luận: "sao Kình dương luôn đứng chung với sao Lực sĩ " làm nhiều môn đệ nhập tâm đem đi đoán trật không biết bao lá số !


Chắc gì longnguyen quang đoán theo điều long nguyen quang khẳng định là cách an " Lộc tiền nhất vị thị Kình dương" của tiền nhân đó là đúng 100%?

Đương nhiên, trong trường hợp Dương Nam là vậy, nhưng còn niên âm cho nam, nữ và ngay cả niên dương can của nữ nữa...???

Như long nguyen quang tuyệt đối khẳng định thì mình sẽ đưa cho long nguyen quang vài lá số để kiểm nghiệm nhé! :)

--- oOo ---

Nói về nguyên lý , " Thật ra nguyên lý an sao Kình Đà dựa trên nguyên tắc Dương nhẫn của tử bình, là trạng thái đế vượng của thiên can năm sinh, điều này thì các tiền bối cũng đã nhắc đến " vậy thì long nguyen quang dựa vào tài liệu nào của Tử Vi để có 2 sao Kình, Đà kia vậy?

Nếu như, dùng Kình Đà dựa trên nguyên tắc Dương nhẫn của tử bình, thì phải tuân thủ theo nguyên tắc, nguyên lý đó chứ sao long nguyen quang lại đả phá bình phẩm vô căn cứ vậy?

Lộc Tồn là vị trí Lâm Quan của vòng Trường Sinh ngũ hành - Đế vượng là cực điểm của vòng Trường Sinh ấy trước khi tiến bước trên đà Suy, Bệnh mà theo nguyên lý "Dương tử Âm sinh" nên thiên can Âm nghịch chuyển dẫn đến vị trí Kình dương Đế Vượng theo nguyên tắc của nó....

Nay như bảo: bất kể nam nữ, âm dương - "Lộc tiền nhất vị thị Kình dương" thì ta sẽ thấy:

Dương can bao giờ cũng có Kình ở tứ chính (Tí, Ngọ, Mão, Dậu) là bại địa và Đà ở tứ mộ (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi) của những ai sinh năm Dương can...

Âm can bao giờ cũng có Kình ở tứ mộ (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi) và Đà ở tứ sinh (Dần, Thân, Tỵ, Hợi) của những ai sinh năm Âm can...

... Ấy vậy mà vẫn có những câu phú đến ngờ nghệch:


Kình hãm tại Dần, Thân tai hại nhất cho các tuổi Giáp, Mậu. Thường phá tán tổ nghiệp, trong mình mang tật, phải lìa bỏ quê quán, cuộc đời không mấy khi sung sướng. Nếu có thêm nhiều Cát Tinh dù có cực khổ nhưng vẫn là người khéo léo, có tay nghề Thủ Công, nếu ly hương chịu khó phấn đấu thì hậu vận cũng được an nhàn.


Ở Dần, Thân bao giờ có Kình cho các tuổi Giáp, Mậu mà chú giải như thế?


Kình nhập miếu tại Tứ Mộ gặp Hỏa lại có thêm Tham, Vũ tất là bậc anh hùng cái thế, trấn giữ biên cương, quân giặc nghe danh đã phải mất vía. Cách này đặc biệt tốt cho các tuổi Thìn Tuất Sửu Mùi.


Kình nhập miếu tại Tứ Mộ thì có đó, nhưng chỉ có cho người sinh niên can Âm (Sửu, Mùi) thôi chứ làm gì có cho tuổi Dương (Thìn, Tuất) mà phú giải thế?


Kình Dương Tí Ngọ Mão Dậu phi yểu chiết nhi hình thương...


Thì các người sinh năm Dương và nhất là lên ngôi cữu ngũ NGỌ cung đều bị phi yểu chiết nhi hình thương à?



Tôi cũng lấy làm thích thú khi có bạn Tubinh_giagia chất vấn tôi và tôi rất mong được tiếp tục như thế ở những chủ đề khác.
Còn chuyện bạn Hoa loc ca ngợi Tubinh_giagia là đại đại cao thủ thì lại càng làm tôi thấy hứng thú ! Nếu trên diễn đàn này cáng có nhiều người thực sự như thế thì càng tốt chứ sao.
Từ nay tôi sẽ tung thật nhiều " Chưởng " để xem công lực của Tubinh_giagia cao tới đâu. Đến lúc đó thì Tubinh_giagia vắng mặt ngày nào thì tôi sẽ kết bạn vào lý do : Bận nhé ! http://www.vietlyso.com/forums/images/smilies/beerchug.gif

Chủ đề: về lục khí còn chưa trả lời đó nha.. chừ mình tung "Y Dịch Lục Khí" kim châm cứu thì mệt đằng ấy đó nghen... long nguyen quang!


Tubinh_giagia

Nhất Chi Viên
15-03-2006, 08:41 AM
Chào TuBinh_GiaGia,

======Nguyên văn bởi Vân Đằng Thái Thứ Lang
Kình hãm tại Dần, Thân tai hại nhất cho các tuổi Giáp, Mậu. Thường phá tán tổ nghiệp, trong mình mang tật, phải lìa bỏ quê quán, cuộc đời không mấy khi sung sướng. Nếu có thêm nhiều Cát Tinh dù có cực khổ nhưng vẫn là người khéo léo, có tay nghề Thủ Công, nếu ly hương chịu khó phấn đấu thì hậu vận cũng được an nhàn.
===============================================

Xin hỏi sách của Vân Đằng Thái Thứ Lang đăng đoạn trên ở trang nào?

Bạn viết rất hay, đáng nể, ngọai trừ đoạn trên thì tôi không rõ xuất xứ !

Nhất Chi Viên

Nhất Chi Viên
15-03-2006, 09:19 AM
1. Kình hãm tại Dần, Thân tai hại nhất cho các tuổi Giáp, Mậu.

Cách thức trên về Kình cư Dần Thân ghi trong sách Tử Vi Hàm Số trang 354, và cùng trang thấy ghi sai Kình an Mão Dậu nguy khốn cho tuổi Giáp Mậu.

Rất có thể tác giả lập lại cái sai của người đi trước, rất có thể trong cơn mệt mỏi có người ghi nhầm can này qua can kia và chi này thành chi kia là chuyện bình thường.

2. Kình Dương Tí Ngọ Mão Dậu phi yểu chiết nhi hình thương...

Cần phải thận trọng trong lúc dùng phú đoán.

Ý của tiền nhân đôi khi ngắn gọn, cường điệu thành ra khó hiểu, có vẽ cứng ngắc.
Ngay trang 156 và 157 của sách Thái Thứ Lang, có phần nói rõ về Kình Dương cư Ngọ khi phối hợp với những sao khác cho cung Ngọ.

Ngô Thời Nhậm (Bính Dần tháng 9, ngày 11 AL, giờ Thìn) mệnh ôm Kình Dương tại Ngọ, đắc 2 hóa Khoa Quyền hiển hách, thiếu Lộc nên không giàu lừng lẫy về văn và võ nghiệp, duy cũng bị đánh đến chết (về nhà chết hay chết ngay tại văn miếu) là do cung Tật xấu (VCD Kỵ Riêu Không Hỏa) có nhiều sao mờ ám nên thiên hạ đồn ông đó cũng hành động bất phân minh, làm chết tam phụ (3 nguời cha). Kình Dương nằm trong mệnh chủ hình thương yểu triết làm đương số không qua nổi chặng đường lượn dốc bị Thiên Thương ra tay đánh trọng thương bầm dập trong cung Nô đem lại tai họa nát thân (Kình Dương sát thủ hình thương) mặc dù có Khoa cứu giúp nhưng không chịu nổi ân oán đằng đằng.

Xấu hay tốt của lời phú là do mình vận dụng mà thôi, chớ nên bắt bẽ tiền nhân khi không đọc hết 2 trang trong sách !

Nhất Chi Viên

Thiên Sứ
15-03-2006, 09:29 AM
Tubinh-giagia viết:
Nguyên văn bởi Thiên Sứ
Msg 12 of 32: Đã gửi: 28 June 2005 lúc 12:30am | Đã lưu IP (http://www.tuvilyso.com/forum/edit_post.asp?M=Q&PID=93880&TPN=2)
Tôi hoàn toàn đồng ý với ban điều hành:
Cho hiển thị nhưng khoá chủ đề lại.
Có thể không cần sửa chữa thêm bớt gì cả. Chỉ cần khoá lại thôi.
Quí vị quan tâm thân mến.
Cái chủ đề mà tôi đề nghị khoá ở trên là topic liên quan đến cuộc tranh luận vô bổ giữa tôi với một người trên tuvilyso.com, chứ không đề nghị khoá mục "Văn hiến Lạc Việt". Xin lưu ý để quí vị không hiểu lầm tôi.
Ở đây, có một số người đã biết tôi đã nhiều lần có những cuộc tranh luận trên về các luận điểm của tôi. Nhưng những cuộc tranh luận ấy, có một vài kẻ ngang ngược, hợm hĩnh đã phá ngang làm mất tính chất học thuật nghiêm túc. Bởi vậy tôi từ chối tranh luận.
Nay anh Tubinh_giagia nêu lại vấn đề này. Rút kinh nghiệm và qua văn phong của anh ta, tôi thấy khổng thể coi anh ta là một đối tượng tranh luận.
Anh ta chưa hề thể hiện khả năng có một lý luận cao cấp đủ để bàn về những vấn đề liên quan. Nếu một người với những lập luận thể hiện trong các bài viết ở ngay trong topic này như anh Tubinh-giagia mà phản biện được tôi thì chắc tôi không còn như ngày nay.
# Nhưng tôi sẵn sàng chỉ dẫn một cách tường tận cho những ai ham hiểu biết và tôn trong lý thuyết của tôi.
# Tôi sẵng sàng tranh luận với các học giả có tinh thần khoa học nghiêm túc.
# Tôi sẵn sàng trình bày và tranh luận trước các cuộc hội thảo trong và ngoài nước.
Kính thưa quí vị.
Tôi không có thời gian để quan tâm và tham gia đến các cuộc tranh luận với một hai cá nhân mà tôi chưa thấy thể hiện tài năng, ngoài một vài người ca ngợi.
Hy vọng được sự thông cảm của quí vị,
Thiên Sứ

Chính Ấn
15-03-2006, 09:34 AM
Các bác hạ hỏa giùm em tí. Tranh luận vui thôi mà.

nguoidepsaigon
15-03-2006, 10:19 PM
Khonglaai viết:
"Ủa, dựa trên logic nào mà nguoidepSG đặt ra điều kiện quái dị vậy cà? Kinh Dịch bắt buộc phải có sau chữ viết hả, thưa bạn. Lạy Chúa tôi, thế thì ngài Phục Hi ơi, ngài đừng khoe cái Hà Đồ làm gì vì cái đó có khi chưa có chữ viết thì làm sao là kinh Dịch được. Mà cái Lạc Thư cũng liệu hồn đấy.
À, thấy nguoidepSG nói hay vậy, tôi muốn hỏi luôn là cần chứng minh có bao nhiêu chữ mới có thể nói là ngưới Việt có chữ viết? Ví dụ, chứng minh có bản văn sau: "Anh yêu em lắm! Mặt trời lặn ở Phương Tây. Ngày đêm thương nhớ anh gầy tấm thân." thì đã đủ để giải quyết xong điều kiện của nguoidepSG chưa nhỉ?"

khonglaai hãy lắng tai nghe lời của gió nè:
Hà Đồ, Lạc Thư xuất hiện chì là truyền thuyết thôi, vua Phục Hy (2852-2737 TCN) đang đi dạo chơi trên sông Hoàng Hà (Không phải sông Hồng đâu nha!) thấy xuất hiện con Long mã có nhiều vẫy sắp xếp sau đó được gọi là Hà đồ, tượng tự như vậy vua Vũ Đế (2205-2197) cũng được con rùa thần, trên lưng cũng có lấm chấm từ đó Lạc thư ra đơì , hì hi..Giống như lực vạn vật hấp dẩn, nó có khi xuất hiện vũ trụ, nhưng người phát hiện ra nó là Newton thế kỹ 19!. Kinh dịch, Hà Đố, Lạc Thư là những ký hiệu của con người phát hiện ra những định luật của vũ trụ. Vậy phải chăng, người Trung Quốc là người đầu tiên tìm ra những định luật âm dương phổ quát này? Các thé hệ Nho gia, Khổng gia...lẵng lặng chấp nhận cho tới ngày nay! không một lời phản ứng, trong đó có khonglaai! Nhưng nếu nghiên cứu qua Ma phương, ta thấy người Do Thái phát hiện trước luôn người Trung Quốc, họ phát hiện nhiều Ma phương liên quan đến vủ trụ , mổi Ma phương liên quan đến mổi Thiên tinh (Sao Thổ, Mặt trời, sao môc...). Ma phương Sao thổ trùng với Lạc thư. Người Do Thái, phát hiện nhiều ma phương nhưng họ chỉ giữ 7 ma phương quan trọng thuộc hệ mặt trời chịu ảnh hưởng trực tiếp từ chòm sao Bắc đẩu. Nếu các bạn nghiên cứu kỹ các ma phương này, sẽ trở thành đại cao thủ, độc cô cầu bại trong lĩnh vực kinh dịch, tử vi..Cao hơn một bực hiểu được đặc tính tôpô lá Mebius (là sư phát triển Ma phương) thì gần như minh chủ vỏ lâm.
- Còn lịch sử nguồn gốc của người Việt, khonglaai "hơi" bị tẩu hỏa nhập ma rùi, Khonglaai cho rằng người việt là người nước Việt trong "Việt vương Câu Tiển", lấy 'Đông châu liệt quốc" ra chứng minh! úi trời ơi, Đông châu Liệt quốc là truyện giả sử mà! Một số nhà "sử" học Việt nam, Trung quốc cho rằng người Việt là dân Bách Việt, có nguồn gốc từ Động đình Hồ bên Trung quốc, có số cho rằng gốc người Tam Miêu, rồi một bầy chim diệc bay ầm ầm qua Việt nam sinh sống...rồi đọc trại ra diệc là Việt, rồi cho rằng trống đồng có một bầy chim lạc rồng rắn chạy vòng quanh trống Đồng là nền văn hóa người Việt cổ có nguồn gốc từ Hán...Thậm chí, có nhà "sử" học ở Đà lạt có tên gọi Trương Thái Du viết : '
' Giao Chỉ nguyên nghĩa là một khái niệm nói về vùng đất phía nam vương quốc của Đường Nghiêu – Ngu Thuấn. Giao Chỉ đầu thời Chu chính là Đan Dương (nay thuộc Hồ Bắc, Trung Quốc). Sau hàng ngàn năm nam tiến của các đoàn quân đế quốc, khái niệm Giao Chỉ cũng dịch chuyển dần về phương nam. Chỉ đến thời Đông Hán, Giao Chỉ mới biến thành địa danh cố định và xác thực trên địa đồ " úi trời ơi nhà " Sử " học này muốn nói người Việt là người Trung Quốc, Việt nam là của Trung Quôc...hì hi
- Để "giải độc" cho Khonglaai và chửa bệnh 'tẩu hỏa nhập ma", Khonglaai đọc bài nghiên cứu sau đây: (Chú ý dòng mực đỏ)
Hải-Quân và nếp sống Thủy-sinh
trong dòng sinh-mệnh dân-tộc

Hải-Sử dân ta không những dài như trường-giang, rộng tựa đại-dương mà đã khởi đi từ sáu bảy chục ngàn năm về trước.

Vũ Hữu San

Sử-ký ở nước ta

Cụ Lệ-thần Trần-Trọng-Kim viết trong phần Tựa của cuốn "Việt-Nam Sử-Lược," quyển 1 như sau:

"Chủ-đích (của việc ghi chép Sử) là để làm một cái gương chung-cổ cho ngư(c)i cả nước được đời đời soi vào đấy mà biết cái sinh-họat của người trước đã phải lao-tâm lao-lực những thế nào, mới chiếm giữ được cái địa-vị ở dưới bóng mặt trời này. Người trong nước có thông-hiểu những sự-tích nước mình mới có lòng yêu nước yêu nhà, mới biết cố gắng học-hành, hết sức làm-lụng, để vun-đắp thêm vào cái nền xã-hội của tiên-tổ đã xây-dựng nên mà để lại cho mình ..."

Chủ-đích của vị Sử-gia tăm-tiếng họ Trần cũng là niềm mong ước của mọi người chúng ta khi đọc Việt-Sử. Tuy thế người lính thủy hay người thường-dân hành thủy hay cả những người yêu sông nước, biển cả - muốn thông-hiểu sự-tích nước mình, dân mình liên-hệ ra sao với sinh-hoạt nước - lại không được cái may mắn như vậy. Cầm cuốn Sử nước ta lên mà xem cho hết, người đọc chỉ thấy các sinh-hoạt quá-khứ của tiền-nhân ở trên đất, trên bờ; tương-tự như trong những cuốn sách sử-ký của các dân-tộc khác nằm trong lục-địa.

Sử-gia Trần-Trọng-Kim nhận-xét về chuyện "Sử nước ta được chép theo lối sử Tàu" một cách xác-đáng như sau: "Cái lối làm sử của ta theo lối biên-niên của Tàu, nghiã là năm nào tháng nào có chuyện gì quan-trọng thì nhà làm sử chép vào sách. Mà chép một cách rất vắn tắt cốt để ghi lấy chuyện ấy mà thôi, chứ không giải-thích cái gốc-ngọn và sự liên-can việc ấy với việc khác là thế nào." Vì thế, sinh-hoạt thực-sự của đại-đa-số dân-chúng không được nói đến trong Việt-sử.

Donald Worster đã một lần chê trách các nhà viết sử. Chúng ta cũng có thể bắt chước Ông mà phát-biểu một câu "nhẹ-nhàng" như sau: "Viết sử mà không có nước ở trong, đó là một thiếu sót lớn. Kinh-nghiệm nhân-loại (và đặc-biệt là của nguời "nước" ta) đâu có khô khan đến như vậy!"

Cách ghi chép chính-sử là như vậy. Tuy nhiên may mắn hơn cho dân ta, những sinh-hoạt thủy-sinh được kể lại khá nhiều qua dã-sử, cổ-tích và thần-thoại. Ngoài ra trong một số sách cổ-văn hiếm hoi, ta cũng thấy người xưa ghi-nhận được những sinh-hoạt. Sách Tàu cũng nói "Người Việt-cổ sinh hoạt dưới nước nhiều hơn ở trên cạn nên bơi lội rất giỏi, biết làm các thứ thuyền nhỏ là Linh và thứ thuyền nhỏ thân dài là Đĩnh, thuyền lớn gọi là Tu-lự, thuyền có lầu tức Lâu-thuyền và thứ thuyền có gắn mũi qua tức là Qua-thuyền... Theo Hoài-Nam-Vương Lưu-An đời Hán, thì người Việt rất thạo thủy-chiến, rất quen dùng thuyền, ở trên cạn ít mà ở dưới nước nhiều. Họ cắt tóc, xâm mình, đóng khố ngắn để tiện bơi lội, tay áo cộc để tiện chèo thuyền."

Hồn "Nước" dựng nước Việt-Nam

Biển Đông bao quanh một nửa đất nước chúng ta. Theo Bernard Philippe Groslier, biển cả đã gợi ra trong trí óc người dân Đông-Dương cái ấn-tượng về nguồn gốc của muôn loài, một tâm-tưởng đến cả thế-giới trước khi khai-thiên lập-địa và cũng là nơi quê-hương cho người chết (tổ-tiên) trở về.

Mỗi khi đề-cập đến đất nước quê-hương, mọi người Việt chúng ta đều có một ý-thức sâu xa về "hồn nước linh-thiêng". Một học-giả ngoại-quốc, Tiến-sĩ Keith Weller Taylor có lẽ là người đầu-tiên nhận ra điều này. Ông phân-tích chính-xác nhiều điều về tính-thần tự-chủ của dân Việt-Nam rất đúng. Taylor cho rằng: "Nước (Water) có hồn nước (Aquatic Spirit) linh-thiêng, có năng-lực tạo dựng nên dân-tộc, nên nước Việt-Nam chính-thống..." Chúng tôi rất thích đoạn-văn của Ông, tuy ngắn gọn nhưng ý-tứ uyên-bác, khó dịch sao cho chính-xác được. Vậy xin chép lại nguyên-văn như sau: "The idea of an aquatic spirit's being the source of political power and legitimacy, which attended the formation of the Vietnamese people in prehistoric times, is the earliest hint of the concept of the Vietnamese as a distinct and self-conscious people".

Hải-Sử, nơi chất chứa những (truyền-thống) cực kỳ quan-yếu của dân-tộc

Tại các nước Âu-Mỹ, Hải-sử (Maritime History) là một ngành khoa-học được khai-sinh từ lâu. Nhưng ở xứ ta, danh-từ "Hải-sử" ít khi được nghe nói tới, và cũng chưa có một cuốn Sử nào ghi chép thuần các sinh-hoạt thủy-sinh. Tuy vậy nếu xét cho kỹ, chúng ta thấy rằng Hải-Sử đúng là nơi cần-thiết cho việc ghi chép các thành-tích lẫy-lừng và truyền-thống cực-kỳ quan-yếu của dân-tộc.

Một phần của bài viết, phần "Tiền Hải-Sử" Việt-Nam mà chúng tôi trình-bày tiếp đây là những kiến-thức mới mẻ. Nhờ tiến-bộ trong nhiều ngành khoa-học, ngày nay nhân-loại hiểu biết nhiều hơn về quá-khứ. Tuy một số chi-tiết nhỏ còn là giả-thuyết, nhưng nói một cách tổng-quát, có nhiều nét độc-đáo về sinh-hoạt nước của tiền-nhân chúng ta đáng nói và đã có nhiều học-giả quốc-tế đổ xô đến nghiên-cứu.

Không ở một nơi nào khác trên địa-cầu, Khoa Tiền-hải-sử có nhiều vấn-đề cần tìm hiểu như tại khu-vực Biển Đông.

Riêng với dân-tộc Việt-Nam, Tiền-hải-sử phải được coi là một ngành học quan-trọng vì nhiều lý-do sau đây:

- Truyền-thống hàng-hải lâu đời của dân-tộc hiện-diện trong mọi sinh-hoạt dân-tộc.

- Bờ biển Việt-Nam và Hoa-Nam từ xưa đến nay chính là nơi quy-tụ nhiều kiểu ghe thuyền phong-phú hơn bất cứ nơi nào khác trên thế-giới. Kiến-trúc tàu bè Việt-Nam rất độc-đáo và đã đạt đến trình-độ kỹ-thuật cao ngay từ cổ-thời. Clinton Edwards cho rằng những Người Biển (Orang Laut) ở Đông-Nam-Á thuộc những bộ-lạc Hải-du (Sea nomads) phát-triển truyền-thống hàng-hải trước khi chính họ mở mang nông-nghiệp.

- Những nền văn-minh "nước" từ Hoà-Bình đến Đông-Sơn xuất-hiện liên-tục trong tiến-trình sinh-hoạt văn-hoá của người Việt-Nam. Nền văn-minh Hoà-Bình đã tiến-triển trong khoảng thời-gian 9,000- 5,600 năm TTL., chuyển sang Bắc-Sơn 8,300-5,900 năm TTL., liên-tục qua nhiều nền văn-minh; sau này tới thời Đồ Đồng của Phùng-Nguyên 3,000-1500 năm TTL., rồi Đông-Sơn 500 năm TTL., rõ ràng nhuốm mầu sắc hàng-hải."

- Theo Bernard Philippe Groslier, và dân-cư Đông-Dương (trong đó đại-biểu chính là Việt-Nam) đã đóng vai trò quan-trọng trong vùng Đông-Nam-Á. Cho dù Java có thể là nơi con người xuất-hiện trước hết, nhưng Đông-Dương luôn luôn là cái kho chứa nhân-lực mà từ đó gửi đi khai-hoá khắp vùng.

- Wilhelm G. Solheim II viết rằng: nh-hưởng của văn-minh Hoà-Bình tạo-lập lên các nền văn-minh Yangshao (Ngưỡng-Thiều, miền bắc Trung-Hoa.) và cả nền văn-minh Lungshan (Long-Sơn) cũng từ phiá Nam đem lại.

Solheim còn đi xa hơn nữa, Ông cho rằng Đông-Nam-Á thời cổ chính là nơi phát-sinh những đường hàng-hải giao-tiếp với khắp các nơi ở dọc bờ biển Á-Châu, Âu-Châu, Phi-Châu, Đại-Dương-Châu và ở cả Mỹ-Châu. Solheim lý-luận rằng chỉ có sự kiện Đông-Nam-Á giữ vai-trò trung-tâm phân-tán như trục một cái bánh xe toẻ ra khắp phía, người ta mới giải thích được hiện-tượng lịch-sử là tại sao các chủng-tộc khác biệt của loài người sống xa cách nhau trên khắp thế-giới lại có nhiều sự tương-đồng giữa những sinh-hoạt văn-hoá như vậy.

Bài viết này nằm trong chủ-đề "Hải-Sử", chúng tôi xin trình-bày về những sinh-hoạt thủy-sinh của dân ta trên sông nước (thủy), biển Đông (hải) và ngoài Đại-(dương). Đặc-biệt, hoạt-động Thủy, Hải, (Tuần-) Dương-quân đươc đặc-biệt kể đến như là những thành-tích cực-kỳ quan-trọng trong dòng sinh-mệnh của dân-tộc.

Những Thuyền-nhân Đầu-tiên của Nhân-loại

Trước hết, ta phải kể đến vấn-đề thật cổ-kính của thời-gian mà ít ai tưởng-tượng nổi. Phải có một thứ "văn-minh nước" nào đó đã xuất-hiện từ lâu tại vùng đồng-bằng Sunda. Kỹ-thuật thuyền bè của dân-cư Biển Đông đủ tiến-bộ để giúp di-dân đường biển từ Đông-Nam-Á sang Úc-Châu từ 60,000 năm trước. Chứng-cớ hiển-nhiên này không những đã được những nhà Úc-Châu-học công-nhận, mà các khoa-học-gia mọi ngành khoa-học khác cũng đồng-ý.

Văn-minh Nước thời Băng-Đá

Trong khoảng 60,000 năm cho đến nay, Trái Đất trải qua nhiều giai-đoạn nóng và lạnh chen kẽ nhau. Mực nước biển đã dâng lên hạ xuống nhiều lần, sự sai-biệt có tới 150m. Cách nay chừng 18,000 năm, diện-tích Biển Đông chỉ bằng phân nửa hiện nay. Khi băng đá hai cực địa-cầu tan rã thì nước biển dâng lên nhanh. Cho đến khoảng 4,000 năm trước Tây-lịch (TTL), hàng trăm ngàn dậm vuông lục-địa đã bị ngập dưới Biển Đông. Vì diện-tích đất đai bị suy-giảm nên mật-độ dân-số gia-tăng. Nhiều sự tiếp-xúc, trao đổi, va chạm giữa những giống người khác nhau đã xảy ra. Lúc xưa dân-cư sống rải rác khắp nơi trong vùng đất thấp rộng lớn Sunda, nay cùng gặp nhau trong một môi-trường sinh-hoạt mới vùng đồi núi. Tiến-bộ khởi-sự từ đó.

Theo ý-kiến của một số nhà khảo-cổ, khi nước ngập nơi cư-trú, dân-chúng từ vùng Sunda (kể cả Hoàng-Sa, Trường-Sa) đã chạy lên các vùng cao. Học-giả Thái-Lan Sumet Jumsai cho hay vào khoảng 16,000 năm trước đây, khi mực nước biển dâng lên nhanh thì số lớn dân-cư đã di-chuyển về khu-vực phía Bắc của Biển Đông. Có lẽ vì nhờ tập-trung nhiều nhân-lực, văn-minh Hoà-Bình bộc-phát. Peter Bellwood tường-trình công-trình chinh-phục Thái-Bình-Dương của dân-cư Hoà-Bình (Hoabinhians) trong cuốn sách nổi-danh của ông, cuốn "Man's Conquest of the Pacific"

Chester Norman cho rằng vịnh Bắc-phần và vịnh Thái-Lan mà lúc trước là hai vùng đồng-bằng trũng và cạn, nay biến thành hai vịnh biển mới. Văn-minh Hòa-Bình được tạo-dựng trong thời-gian thềm lục-địa Sunda bị ngập nước. Người ta phải di-chuyển đi khai-phá đồng-bằng. Yếu-tố quan-trọng nhất của đà phát-triển là sự ra đời của các giống cây cho hạt. Những loại ngũ-cốc thuần-hóa sau này thích-hợp cho ruộng nước. Khoảng 5,500 năm trước, cây lúa nước đã được trồng trọt.

Sinh-hoạt Biển Đông thời hậu Băng-Đá

Theo những ghi-nhận của ngành Địa-Chất-học, vào thời xa xưa, khoảng 16,000 năm trước, nuớc đại-đương dâng cao với đà gia-tăng nhanh nhất. Tại vùng Biển Đông vào thời Hău Băng-Đá, sự thay đổi của địa-thế rất mãnh-liệt. Những thay đổi đĩa-thế đã lôi-cuốn theo những thay đổi lớn về môi-sinh con người. Sự tiến-bộ vượt bực của văn-hoá người Việt (Yủeh) trong bối-cảnh bể dâu đó đã được William Meacham nghiên-cứu và trình-bày trong một bài viết rất nổi-tếng của Ông, nhan-đề "Origins and Development of the Yủeh Coastal Neolithic: A Microcosm of Culture Change on the Mainland of East Asia".

Một số kết-quả khảo-cứu trực-tiếp liên-hệ đến sinh-hoạt thủy-sinh như sau:

- Vì nguồn gốc và địa-bàn riêng biệt, sinh-hoạt người Việt ở duyên-hải khác-biệt với người Tàu ở Trung-thổ. Không thể nào vì thấy một vài ảnh-hưởng văn-hoá giống nhau mà người ta có thể coi dân Bách-Viêt như một thứ dân Tàu được. Nhiều chúng-cớ cho hay là loài người dã có mặt trên Sunda Land mười mấy ngàn năm trước. Những đồng-bằng thấp, được gọi tên chung là Sunda Land đó, nằm ngoài Biển Đông ngày nay đã hoàn-toàn bị ngập nước. Những dân-cư thời đó chính là tiền-nhân người (Bách-) Việt sau này. Họ sinh sống bằng cách thu-nhặt hải-sản như tôm cua, hào nghêu... , săn bát tôm cá ngoài hồ, ao, sông, biển. Trong khoảng từ 15,000 năm đến 4,000 năm trước đây, nước biển dâng lên, làm thay đổi môi-trường sinh-hoạt và tạo nên sự dồn ép mật-độ dân-số.

- Văn-minh Hoà-Bình xuất-hiện 11,000 - 7,600 trước đây, văn-minh Bắc-Sơn, khoảng 8,300 - 5,900 năm trước Tây-Lịch (TTL.).

- Bè tre và có thể cả loại ghe thuyền sơ-đảng được dùng khắp nơi, 10,000 năm TTL.

Người Việt và những Phát-minh thiết-yếu đóng góp cho Nhân-loại

Trái đất chúng ta đang ở có tới gần ba phần tư bề mặt che phủ bởi nước. Các nhà văn-minh-học đều đồng-ý rằng văn-minh loài người tiến-triển được là nhờ sự chuyển-vận.

Các sách Bách-Khoa Từ-Điển đồng-ý rằng cho đến ngày nay, chuyển-vận đường thủy vẫn quan-trọng hơn đường bộ và đường hàng-không. Nếu so với sự phát-triển đường biển thì "chuyển-vận trên đất liền phát-triển với một mức-độ chậm chạp hơn nhiều... Sự chuyển-vận đường bộ được cải-thiện rất ít cho mãi tới năm 1825, khi kỹ-sư người Anh George Stephenson áp-dụng máy hơi nước để chạy một đầu máy xe lửa ...

Sinh-hoạt trên địa-bàn "Nước", dân Việt là tác-giả hầu hết những phát-minh thiết-yếu về đường thủy. Bè, thuyền độc-mộc, mái chèo, cánh buồm, bánh lái, thuyền nhiều thân (outriggers) cây xiếm ... là những công-trình sáng-tạo mà tiền-nhân ta đóng góp cho sự tiến-bộ của nhân-loại.

Về đẩy thuyền (propulsion), kể từ việc dùng bè thả trôi cho đến cả kỹ-thuật cao như việc đi ngược gió hay lái thuyền tự-động cũng đều do tiền-nhân chúng ta tạo-dựng. Thành-quả đáng kể nhất có lẽ là cách sử-dụng phối-hợp tài-tình hai hệ-thống buồm và xiếm. Nhờ vậy, một số loại ghe thuyền ở Việt-Nam có thể tự nó lái lấy và giữ hướng đi trong nhiều ngày dài, không cần phải sửa đổi tay lái.

Người Việt "vượt" từ Ngư-nghiệp sang thẳng Nông-nghiệp

Sau khi duyệt-xét lại những biến-chuyển về địa-thế bờ biển Đông-Á vào khoảng thời-gian từ 15,000 năm TTL. đến 4,000 TTL., nhà địa-lý-học Carl Sauer đi đến kết-luận: Đông-Nam-Á là nơi khởi-sự nông-nghiệp.

Theo một số học-giả Việt-Nam, danh-tự "Việt" có nghiã là tiến lên, vượt trội lên... Tính kiên-quyết của dân ta vượt mọi khó khăn trở ngại biểu-lộ ngay từ trong những ngày đầu sinh-hoạt. Nhà địa-lý-học Carl Sauer đã đề-cao tinh-thần tiến-bộ của dân-cư giống Việt (Yủeh) vào giai-đoạn khởi-nguyên nền văn-hoá Hoà-Bình ở vùng đất "Sunda -Hoà Bình" như sau: "Mực nước biển dâng cao làm tăng thêm nhịp bồi đắp phù-sa lên những khu thung-lũng duyên-hà trong khi các vùng đất thấp tiếp-tục bị ngập lụt. Dân-cư khi xưa ở rải rác thì lúc này thu lại thành các vùng cư-trú dọc theo những nguồn nước... Một thế-giới mới đã thành hình, sự thay đổi môi-trường vật-lý địa-dư đã trở thành cơ-hội thuận-tiện tối-đa cho những dân thích phiêu-lưu và mong tiến-bộ... Người dân bỏ sự nhàn rỗi và nhờ trí óc tò mò để tìm thử-nghiệm, một cộng-đồng như vậy chỉ cần một thời-gian ngắn để chuyển-tiếp từ ngư-nghiệp sang thẳng nông-nghiệp."

Người Việt Nông-nghiệp và Thương-Mại

Trong sinh-hoạt nông-nghiệp, người ta thường chia người Đông-Nam-Á làm hai loại: dân miền cao và dân miền xuôi. Dân miền cao trồng các loại hoa màu hợp cho vùng đất khô ráo. Dân miền xuôi canh-tác lúa nước, cần dẫn nước vào ruộng. Phải cần kỹ-thuật cao và có tổ-chức điều-hành tốt thì số lượng thực-phẩm sản-xuất mới gia-tăng.

Xã-hội miền xuôi lại có thể phân-biệt thành hai thành-phần: là nông-dân và thương-gia. Đạc-điểm sinh-hoạt này được Donald G. McCloud trình-bày. Ông viết rằng: Dân-cư đồng bằng có hai nghề canh-nông và thương-mại, tức là cầy bừa ruộng nương và buôn bán viễn-dương. Nhóm hải-hành viễn-dương trao đổi hàng-hoá có nhiều cơ-hội trở nên giàu sang và thường nắm giữ thế-lực chính-trị. Nếu thế xã-hội Việt ngày xưa, rất có thể chỉ gồm hai giới Nông và Công

Khi xem xét tình-trạng Đông-Nam-Á từ thế-kỷ thư 9 đến 14, các nhà nghiên-cứu hợp-biên một sộ sách nhan đề: "Southeast Asia in the 9th to 14th Centuries," (edited by David G. Marr and A. C. Milner), Institute of Southeast Asian Studies, Singapore, phát-hành năm 1986. Các báo-cáo của nhóm này cho thấy xã-hội Đại-Việt vẫn còn mang nhiều nét văn-hoá địa-phương Đông-Nam-Á hơn là văn-hoá Trung-Hoa. Hệ-thống xã-hội "Sĩ Nông Công Thương" mới thành-hình khi nước ta nhiễm cái ảnh-hưởng văn-hoá Trung-Hoa một cách nặng-nề mà thôi.

Người Tàu lúc xưa rất run sợ trước những chuyến hải-hành xuyên-dương như: phải đi tàu Man, sợ cướp, sợ bị giết, sợ chết đuối, sợ xa nhà nhiều năm... Trong khi đó, sách sử Trung-Hoa ghi chép nhiều chi-tiết về hoạt-động thương mại của người Bách-Việt. Sinh-hoạt của những thương-gia Việt giầu có kiểu "phú-gia địch-quốc" nhờ thương-mại viễn-duyên được ghi lại khá nhiều. Theo học-giả Sterling Seagrave thì những người Trung-Hoa trong nước và hải-ngoại giầu có ngày nay là nhờ đươc thừa-hưởng truyền-thống thương-mại từ người Việt thời chiến-quốc. Seagrave không ngại-ngần, đã sử-dụng những "chữ lớn" như Roots (gốc rẽ), Children of Yueh (con cháu người Việt) để đề-cập đến nhiều nhân-vật kim cổ nổi danh như vậy.

Địa-bàn Cư-trú của Tổ-tiên và Nhu-cầu của Quân Thủy

Địa-bàn cư-trú chủ-yếu của tổ-tiên ta là khu-vực mới được phù-sa sông Hồng, sông Mã bồi đắp. Vùng đất này nằm giữa một bên là núi cao, một bên là biển cả.

Địa-bàn sinh-hoạt thời cổ cũng là nơi giao-tiếp giữa hai môi-trường: núi và biển. Có hai đặc-điểm nổi bật lên như sau:

- Hệ-thống sông ngòi thoát nước dày đặc, có hình-dạng nan quạt ở đầu thượng nguồn.

- Mưa lũ hàng năm tràn lan khắp nơi. Nước chảy đến mấy chỗ trũng, tạo ra vô số đầm lầy, hồ ao chi chít.

Địa-hình tạo nên một 'thế-giới nước' tác-động trực-tiếp đến cuộc sống hàng ngày của người Việt cổ. Các di-tích khảo-cổ cho chúng ta biết rằng tất cả các địa-điểm cư-trú đều nằm trên các gò bãi. Có thể nói nước bao quanh làng xã Viêt-Nam. Nước tạo nên biên-giới thiên-nhiên chia cắt từng vùng đất. Nước là môi-trường sinh-sống của người Viêt-Nam.

Từ lâu, khái-niệm về quê-hương, xứ sở, về lãnh-thổ, tổ-quốc đã được tổ-tiên ta thể-hiện bằng tên của môi-trường gắn chặt với cuộc sống của mình: Nước !

Phương-tiện di-chuyển chính-yếu của người dân Việt thời cổ suốt mấy chục ngàn năm là thuyền bè. Ngay khi một tập-hợp võ-trang nào đó được hình-thành, thuyền bè đương-nhiên trở nên phương-tiện đầu tiên và căn-bản của các cuộc hành-quân. Những trang-bị trên thuyền lập tức biến thành khí-cụ cơ-hữu của quân thủy.

Những người lính Việt đầu tiên của quân-ngũ có lẽ không mang nặng nhiệm-vụ bảo-vệ "diện-địa". Những quân-nhân này nằm lòng phần trọng-trách giữ an-ninh "đường thủy" nhiều hơn. Từ-ngữ "giữ nước" có thể đã ghi lại dấu vết rằng "các người lính đầu tiên phục-vụ dưới cờ nước ta là những người lính thủy".

Có nhiều lý-lẽ tạo nên sự tin-tưởng rằng Thủy-quân của ta ra đời trước Lục-quân.

Huyền-sử "Nước" và Thần-thoại Dân-tộc

Các truyền-thuyết xưa nhất của dân-tộc đều là những truyện cổ-tích mà nội-dung có gốc rễ sâu đậm về hàng-hải. Xin lược-kê một số nhỏ như sau:

- Dân ta khởi đi từ Động-Đình-Hồ, dòng dõi Long-Quân với các vua Kinh-Dương-Vương, Lạc-Long-Quân.

- Bọc trăm trứng sinh trăm con: 50 con lên núi, 50 con xuống biển.

- Người Văn-Lang làm nghề chài lưới, vua bắt dân lấy chàm vẽ mình để thuồng luồng tưởng rằng đồng-loại mà không làm hại.

- Thuyền của dân ta vẽ hai con mắt, có ý để cho các thủy-quái ở sông, ở bể không quấy-nhiễu đến.

- Truyện Thủy-tinh đánh nhau với Sơn-Tinh...

Bàn về danh-hiệu của Kinh-Dương Vương và Lạc-Long Quân ta không thể quên chữ Kinh tức là đất Kinh và Dương là đất Dương, hai châu thuộc địa-bàn của giống Giao-Chỉ chúng ta. Với chữ Lạc-Long Quân cũng vậy. Danh-hiệu này chỉ có nghiã là vua của giống Lạc-Long cũng như Kinh-Dương Vương là vua miền châu Kinh, châu Dương. Lạc-Long Quân lấy Âu-Cơ tức nàng con gái đất Âu. Chữ Âu là tên một con sông nước Việt (Chiết-Giang) ngày nay vẫn còn. Nó nhắc chữ Âu-Lạc, Âu-Việt, Đông-Âu, Tây Âu ... Tất cả địa-đanh đều ở miền Biển, chằng chịt nhiều sông hồ.

Huyền-sử nước ta đưa ra nhiều hình-ảnh về những chuyến di-dân từ Biển Đông vào cư-trú dọc duyên-hải, chẳng hạn như các chuyện sau đây:

Truyện Lạc-Long-Quân kể rằng: Ông vua Rồng này có quê Mẹ từ ngoài biển cả đi vào, giúp dân trừ yêu-quái trên đất liền, dạy dân cách trồng lúa để ăn, may quần áo để mặc. Sau này dù Lạc-Long-Quân đã bắt cóc và lấy Âu-Cơ thuộc giống tiên làm vợ, nhưng ông thường trở về lại Thủy-Cung.

Huyền-thoại Sơn-tinh Thủy-tinh làm chứng cho giai-đoạn giao-tiếp giữa những "người đường biển" và những "người đường cao". Cảnh-trí tuy ghi lại từ thời những Vua Hùng dựng nước, nhưng chứng-tích khảo-cổ lại tiết-lộ rằng thời-gian đã có thể xảy ra từ hàng chục ngàn năm trước.

Thần-thoại "Ông Thần Độc-Cước" vùng Sầm Sơn, Thanh-Hoá cũng vậy. Vị thần loại-trừ bọn cướp từ biển vào, toán giặc từ núi xuống, giữ cho dân vùng duyên-hải được yên ổn làm ăn.

Hình-bóng Thần-kỳ của Hải-quân

Truyện Sơn-tinh Thủy-tinh làm chứng cho giai-đoạn giao-tiếp giữa những "người đường biển" và những "người đường cao". Huyền-thoại được kể như ghi lại trong thời những Vua Hùng dựng nước, nhưng chứng-tích khảo-cổ lại có thể tiết-lộ khác-biệt: thời-gian hai sinh-hoạt của cư-dân từ Biển Đông đi lên và từ Núi Rừng đi xuống, giao-tiếp nhau đã xảy ra từ hàng chục ngàn năm trước. Và cũng có thể là ... tiền-thân của những người chiến-sĩ biển đã xuất-hiện qua vai trò Thủy-Tinh

Trong giai-đoạn sáu chục ngàn năm, tính từ các chuyến đi Úc của người Đông-Nam-Á đến khi Vua Hùng dựng nước Văn-Lang, chắc chắn đã có nhiều tổ-chức hay lực-lượng trên Biển Đông của dân ta được thành-lập. Trong sứ-mạng bảo-vệ các hoạt-động thủy-sinh cho đồng-bào, những tổ-chức quân thủy này chắc chắn là các nhóm võ-trang đầu-tiên của nhân-loại chiến-đấu trên mặt nước.

Sinh-hoạt trong môi-trường "nước Biển Đông", quân thủy của ta ngay từ những ngày đầu đã là hải-quân nước xanh thuần-tuý. Ý-tưởng "Nước Nâu trước, Nước Xanh sau" của Đại-tá Thủy-Quân Lục-Chiến Mỹ chỉ đúng cho các khu-vực ngoài Đông-Nam-Á mà thôi.

Vua Hồng Lạc (Bua, Bố Rồng) từ biển vào bờ, định-quốc an-dân, mang hình-ảnh hào-hùng của một vị Tổ tiên-khởi Hải-quân ngày nay. Theo ý ông Trần-Quốc-Vượng, Lạc-Long-Quân là vị anh-hùng văn-hoá lớn nhất của Thần-thoại Việt-Nam, từ biển tới, từ sông lên, diệt "Ngư-tinh", "Mộc-tinh", "Hồ-tinh", khai-sáng miền châu-thổ sông Hồng. Lạc-Long-Quân cũng là vị anh-hùng văn-hoá đầu tiên chống sự xâm-lấn của phương Bắc (Đế-Lai), bảo hộ lãnh-thổ riêng cho con cháu dựng nước..."

Những Đường Thuyền-nhân Di-tản

Dân Việt là giống dân bản-địa của Biển Đông. Tuy yêu quê-hương, nhưng cũng có ngườI vì hoàn-cảnh ngặt nghèo mà phải ly-hương.

Di-cư đường biển là đề-tài đã được nhiều học-giả nghiên-cứu. Elden Best tìm ra nhiều nguyên-nhân đã khiến người ta phải rời bỏ quê-hương đi xa. Trường-hợp "Thuyền-nhân Việt ly-hương" ngày nay và 4,000 năm trước, cũng nằm trong những lý-lẽ tương-tự.

Học-giả Mỹ Stephen C. Jett có cùng ý-kiến với Elden Best, nhận thấy nhiều chứng-tích rằng người tị-nạn cũng thực-hiện những chuyến xuyên Thái-Bình-Dương. Các áp-lực của dân Tàu tại vùng Đông-Á, những sự bành-trướng lãnh-thổ của nước Trung-Hoa đã tạo nên nhiền đợt di-dân đông đảo đi về Nam, chạy ra các đảo, và lang bạt ra xa cho tới tận Phi-Châu và Mã-Đảo. Jett cũng như nhiều nhà khảo-cứu tiếng-tăm khác cho rằng nhiều ít phải có những nhóm di-tản đã vượt đại-dương qua Mỹ-Châu.

Một số Học-giả tiền-tiến người Trung-Hoa cũng nhận thấy rằng dân Bách-Việt đã tới Mỹ-Châu. Theo Paul Shao, tuy người ta thấy có dấu-vết văn-minh Trung-Hoa trên đất Mỹ nhưng những di-dân Á-Đông mang văn-minh đi truyền-bá phần lớn lại không phải người Trung-hoa thuần-túy mà là các giống dân khác như Đông-Di, Nam-Man...

Nhân dịp phổ-biến các kết-quả khảo-cứu, Paul Shao đã kêu gọi mọi người nghiên-cứu kỹ-lưỡng vai trò khai-phá Mỹ-châu của tị-nạn Việt chúng ta, đặc-biệt là các "thuyền-nhân" trốn chạy ngoại-xâm.

Nước Văn-Lang , Văn-minh Đông-Sơn và Thế-lực trên Biển

Văn-Lang là danh-hiệu nước ta thời-đại Hùng-Vương. Đồ Đồng và nhất là các trống Đông-Sơn được sản-xuất vào thiên-kỷ thứ nhất TTL. tiêu-biểu cho nền văn-hoá của dân-tộc thời-kỳ mở nước và dựng nước.

"Không-gian của xã-hội Văn-Lang - Âu-Lạc là không-gian của Văn-Hoá Đông-Sơn, cũng là không-gian tìm được nhiều trống Đông-Sơn nhất và tồn-tại nhiều trống cổ nhất. Đó là vùng Bắc Việt-Nam và khu-vực Nam Hoa-Nam." Thời-gian là thời-đại Hùng-Vương. Những sinh-hoạt (dân-gian) lúc đó được ghi nhận qua nhiều hình ảnh trên trống đồng.

Sử-gia D. G. E. Hall nhận-xét về người Việt thời Hùng-Vương như sau: "Dân thuộc văn-hoá Đông-Sơn phát-triển cao-độ khả-năng hàng-hải và kiến-trúc Tàu bè, họ là những nhà hàng-hải gan dạ với số vốn hiểu biết nào đó về Thiên-văn-học." Trong khi nghiên-cứu, Peter Bellwood lấy thêm tái-liệu của Spiegel (197, Badner (1972) để chứng-minh và đi đến kết-luận là những kiểu mẫu kỷ-hà đặc-biệt của Đông-Sơn tìm thấy ở vùng Sepik, quần-đảo Admiralties, New Ireland, và Trobriand Islands...

Khi khảo-sát văn-hoá thời Đông-Sơn, nhiều học-giả gồm cả Đông-phương lẫn Tây-phương như Chikamouri, Bezacier, Manuel, và nhất là Keith Weller Taylor, đã đồng-ý rằng: "Các hình vẽ và trang-trí trên trống đồng Đông-Sơn luôn luôn tạo nên ý-tưởng về những biểu-tượng của nghệ-thuật hàng-hải, đồng-thời minh-chứng một cách không thể lầm lẫn về tầm ảnh-hưởng của một thế-lực dựa trên căn-bản của biển cả."

Thủy-quân của Vua Hùng và Trống Đồng-cổ Đan-Nê

Huyền-thoại sớm-sủa nhất về chiến-công của Thủy-quân Văn-Lang được nhắc nhở qua chứng-tích một ngôi đền cổ tại tỉnh Thanh-Hoá. Sau chuyến viễn-chinh thắng giặc vùng duyên-hải phiá Nam mà sau này là đất Chiêm-Thành, một vị vua Hùng đã cho đúc trống đồng kỷ-niệm và lập đền thờ Đồng-Cổ trên núi Tam-Thai, xã Đan-Nê. Gần 3,000 năm trước, vùng châu thổ chưa được phù-sa bồi đắp, sông ngòi đầm lầy, ao hồ khắp nơi. Từ kinh-đô Phong-Châu (huyện Bạch-Hạc, tỉnh Vĩnh-Yên ngày nay) khi muốn viễn-chinh tiễu-trừ giặc miền biển (Trung-Việt ngày nay), nhà Vua chỉ có mỗi một phương-tiện là sử-dụng thủy-quân để có thể di-chuyển, tiếp-liệu, bất-thần tấn-công và truy-sát kẻ địch tận ngoài khơi mà thôi.

Chiến-tích của Thủy-Quân cũng ngẫu-nhiên mang lại vinh-dự cho Trống Đồng Đan-Nê. Những ghi chép về trống đồng cổ trong sử sách Việt Nam còn lại rất ít, và thật ra cũng chỉ xoay quanh hai chiếc trống mà thôi. Nguyễn Duy Hinh trong bài "Trống Đồng trong Sử Sách" cũng nhắc đến tình trạng này. Trống Đan Nê đã được các sách nhắc đến: Việt Điện U linh (1029) , Đại Việt Sử ký Toàn thư (1479) , Lĩnh Nam chích quái (1492-1493) Đại Nam Nhất thống Chí . Những đoạn văn ghi chép trong các sách này khẳng định, bổ sung nhau và được xác định chắc chắn thêm qua tư liệu dân tộc học. Một chiếc khác có khả năng là trống Miếu Môn I, có thể đã được ghi nhận trong thần tích của làng Thượng Lâm, do Đinh Tiên Hoàng ban thưởng để làm trống thờ.

Pháo-tiễn đầu tiên trên Chiến-thuyền

Trong các trống đồng Đông-Sơn, trống đồng Ngọc Lũ I là một sản phẩm đã xuất hiện hồi thế kỷ VII trước công nguyên. Chiến-thuyền phải có trước trống đồng một thời gian và có cơ sở để giả định rằng trước đây khoảng 2800 năm hoặc 2900 năm hay hơn nữa, người Việt Nam hoặc 2900 năm hay hơn nữa, người Việt Nam cổ đại đã biết chế tạo ra chiến-thuyền có pháo-tháp nỏ thần cho thủy-quân.

Huyền-thoại "Nỏ Thần" đã được tiền-nhân chúng ta kể đi kể lại từ nhiều nghìn năm qua. Tuy vậy, chỉ mới vào thế-kỷ thứ 20, người ta mới tìm được chứng-tích trên trống đồng. Và hiển-nhiên hơn nữa, các nhà khảo-cổ đã đào được hàng ngàn mũi tên đồng ở Đồng-Đậu, Gò Mun và Cổ-Loa.

Các chiến-thuyền đời Hùng-Vương với Nỏ Thần được ghi lại rất rõ nét trên nhiều chiếc trống đồng. Nỏ Thần đặt trên Pháo-tháp là thượng-tầng kiến-trúc của chiến-thuyền. Nét vẽ tuy ít nhưng cho thấy cơ-quan máy móc để nạp pháo-tiễn liên-hoàn. - Vào thời đó, vũ-khí này rất lợi hại vì có tầm xa, bắn cả tên bằng đồng hay tên lửa. Cánh nỏ và mũi tên lớn quá khổ, có tới 2-3m.

Cổ-Loa thành, Căn-cứ Hải-Quân

Cuối thời đại Hùng Vương, cụ thể là thời kỳ nước Âu Lạc của An Dương Vương Thục Phán, thủy quân của nước Việt Nam cổ đại lại được tổ chức quy mô hơn. Các công trình nghiên cứu về thành Cổ Loa cho chúng ta biết rằng: Bao quanh thành Cổ Loa có ba con hào ăn thông với nhau và thông với sông Hoàng Giang. Nhờ vậy thuyền bè có thể đi lại xung quanh cả ba vòng thành và có thể ra sông Hoàng Giang, sông Hồng, sông Cầu, sông Lục Đầu để tiến ra biển Đông. Truyền thuyết nói An Dương Vương thường ngự thuyền đi khắp các hào rồi ra sông Hoàng Giang.

Như vậy thành Cổ Loa không chỉ là một căn cứ bộ binh mà con là một căn cứ thủy binh nữa. Khu Đầm và cả khu "Vườn thuyền" của miền Cổ Loa xưa có đủ chỗ cho hàng trăm chiếc thuyền đậu và đi lại.

Cổ-Loa có vị-trí thuận-lợi hơn bất kỳ ở đâu tại đồng-bằng Bắc-Bộ vào thời nhà Thục (257-207 TTL.). Căn-cứ thủy-binh này chính là vị-trí chiến-lược, nối liền mạng lưới đường thủy của sông Hồng cùng với mạng lưới của sông Thái-Bình. Hai mạng lưới này chi phối toàn bộ hệ-thống đường thủy tại Bắc Bộ. Qua con sông Hoàng, chiến-thuyền có thể toả đi khắp nơi, nếu ngược lên sông Hồng, có thể thâm-nhập vào vùng Bắc hay Tây Bắc của Bắc-Bộ. Nếu xuôi sông Hồng, chiến-thuyền có thể ra đến Biển Đông. Còn muốn đến vùng Đông Bắc-Bộ thì dùng con sông Cầu để thâm-nhập vào hệ-thống sông Thái-Bình đến tận sông Thương và sông Lục-Nam.

Thành-tích viễn-dương của tiền-nhân Việt

Trên quan-điểm của một người Á-Đông, Wang Gungwu đã làm một cuộc nghiên-cứu về giao-thương thời cổ trong biển Nam-Hải. Sau đó, vào tháng 6 năm 1956, để phổ-biến kết-quả của công-trình đó, cơ-sở xuất-bản của Journal of the Malayan Branch Royal Asiatic Society cho phát-hành một cuốn sách nhan-đề "The Nanhai Trade - A Study of the Early History of the Chinese Trade in the South China Sea".

Wang mô-tả khá đầy đủ về những hoạt-động hàng-hải trong khoảng 11 thế-kỷ trước khi thành-lập triều-đại nhà Tống, năm 960. Theo đó, thổ-dân người Việt, sau khi đế-quốc Nam-Việt của nhà Triệu bị sụp đổ, vẫn tiếp-tục nắm giữ hầu hết ngành hàng-hải dọc duyên-hải hay đường viễn-duyên đến các nước Đông-Nam-Á và „n-Độ, như đã từng nắm giữ trước kia.

Thương-cảng sầm uất ngày xưa

Về các thương-cảng, Wang cho rằng từ thời cổ xưa cho đến đời Tống, cảng sầm-uất hàng đầu vùng Đông-Á và Đông-Nam-Á đều ở Bắc-phần nước ta. Đặc-biệt là Luy-Lâu hay Long-Biên (Hà-Nội ngày nay) với vùng hậu-cảng trù-phú nhất đế-quốc Hán là quận Giao-Chỉ.

Con đường biển buôn bán các đồ gia vị (Spice route) cổ-thời không qua đến Tầu mà chỉ đến Trung và Bắc Việt Nam rồi mới theo đường bộ mà sang nam Trung Hoa.

G. R. G. Worcester cho rằng Hà-Nội đúng là trạm hải-hành cuối cùng giữa Tây-phương và Đông-Á trong cổ-thời. Worcester hình-dung một "hải-trình tơ lụa" như sau: "...có thể đã có những ảnh-hưởng qua giao-tiếp đường biển rất sớm sủa với dân Địa-trung-Hải, vì người ta tin rằng những thương-gia Phoenicia trên hải-trình tìm kiếm "đường tơ lụa", đã tới Đông-Dương vào năm 650 TTL."

Ptolemy (khoảng 100-170) phát-triển và viết sách địa-lý. Ông hình-dung ra một bản-đồ thế-giới mà tận-cùng về phía Đông-Đông-Nam là bán-đảo Vàng Chersonese, biển Sinus Magnus với hải-cảng Kattigara. Không còn nghi-ngờ gì, Sinus Magnus chính là Biển Đông nước ta. Có người cho rằng bán-đảo Vàng là Đông-Dương và Kattigara (hay Catigara hay Cattigara) chỉ Kẻ Chợ (Kesho), Long-Biên (Lugin) hay Hà-Nội ngày nay.

Sau khi nước ta thâu-hồi được nền tự-chủ, các sách Việt-sử ghi-nhận những hoạt-động hải-thương sầm-uất nơi các hải-cảng như Hoa-Lư, Vân-Đồn, Phố-Hiến Hội-An...

Thủy-quân thời Trưng-Vương

Các sách sử giáo-khoa ghi chép sơ sài về triều-đại Trưng-Vương. Những khám-phá gần đây tìm ra các hoạt-động của thủy-quân thời đó. Cả tên của các vị chỉ-huy quân thủy cũng đã được mang ra ánh-sáng.

Lạc-tướng Cao-Đoan là một tên tuổi hãn-hữu còn sót lại như là vị Bộ-Trưởng Thủy-Quân kiêm Đô-Đốc Tư-Lệnh Hạm-Đội đầu tiên của nước ta. Tham-khảo một số tài-liệu mới, các nhà sưu-tầm sử liệu tìm thấy như sau:

Tướng Cao-Đoan là người làng Hạ-Lôi, cùng huyện Châu-Phong với hai vua Trưng. Ông tự chiêu-mộ nghĩa-quân nổi lên đánh quân Tàu, sau theo phò Trưng-Vương. Ông lập được nhiều công-trạng thủy-chiến. Phu-Nhân họ Cao là trợ-thủ đác-lực cho chồng. Tướng Cao-Đoan nắm trọng-trách thủy-quân trong suốt triều-đại Trưng-Vương. Khi Hán-Đế sai Mã-Viện đem quân sang xâm-lược, Ông cùng vợ đem quân thủy chống giữ các nơi hiểm-yếu. Tướng Cao-Đoan bị tử-thương, Ông chết ngày 20 tháng 7 năm 43. Dân ta nhớ ơn, lập đền thờ hương khói cả hai vợ chồng.

Ngoài chiến-công của các nữ-tướng về bộ-chiến, nhiều thành-tích thủy-chiến vào thờI Hai Vua Bà cũng đang được các nhà viết sử thu-nhặt. Qua tài-liệu của các thần-phả, nhiều lần Bác-sĩ Trần-Đại-Sĩ đã tôn-vinh các chiến-công thủy-chiến thời xưa trong pho thiểu-thuyết "Anh-Hùng Lĩnh-Nam."

Tướng-lãnh Thủy-quân và đền thờ Rồng, Rắn

Thờ-kính và noi gương anh-hùng dân-tộc là truyền-thống dân-tộc. Vì ảnh-hưởng của sinh-hoạt đi vào tín-ngưỡng, dân ta lập đền thờ Rồng Rắn khắp nơi, đồng-hoá thủy-quái với danh-nhân cứu-quốc. Giáo-sư Trần-Quốc-Vượng nhận ra rằng:

"Dọc sông ngòi miền Bắc - sông con, sông cái - đâu chẳng có đền thờ rắn hay rồng (cho dù với xu-hướng "lịch sử-hoá", rắn rồng đã hoá thành tướng Hùng-Vương, tướng bà Trưng, tướng Triệu Việt Vương...). Và bao quanh những đền thờ đó là hội nước, hội đua thuyền cầu mưa. Rắn rồng, thuồng luồng, cá sấu... là biểu-tượng của Nước, của Thần Nước, của Mưa Dông."

Thủy-quân Việt kháng-chiến thời Đô-Hộ

Sau khi Triệu Đà đánh chiếm nước Âu Lạc (năm 180 trước công nguyên) cho đến đầu thế kỷ X, nước Việt Nam cổ đại bị đặt dưới nền đô hộ của giai cấp phong kiến phương Bắc. Thời gian đen tối này dài đến hơn mười thế kỷ. Hơn mười thế kỷ này là hơn mười thế kỷ nước Việt Nam mất chủ quyền, nhưng trong thời gian đó nhân dân Việt Nam vẫn không ngừng đấu tranh nhằm giành lại nền độc lập đã bị mất. Vì vậy trong suốt hơn mười thế kỷ đó, bằng các trận đánh giặc cứu nước, nhân dân Việt Nam không thể không dùng thủy quân. Trong các trận chiến đấu chống quân Lương. Lý Bôn, Triệu Quang Phục đã dùng thủy quân.

Thủy-quân Dạ-trạch và chiến-thuật Du-kích trên sông rạch

Người Việt chúng ta có lẽ là giống dân đầu-tiên biết khai-thác thành-công kỹ-thuật du-kích-chiến trên đồng lầy, hồ ao, sông rạch. Về bằng-chứng, người viết xin kể đến truyện ông Triệu-Quang-Phục, vị anh-hùng có công giải-phóng dân-tộc khỏi ách thống-trị của nhà Lương bên Tàu vào thế-kỷ thứ 5. Chuyện Thủy-Hử, nếu mang ra so-sánh, thành-tích của chiến-dịch Dạ-Trạch thực-sự to lớn hơn nhiều.

Chiến-công lừng-lẫy nhất của vị "vua đầm lầy" này (458-47 nhờ việc dùng thủy-quân thật hữu-hiệu ở đầm Dạ-Trạch. Sử-gia Trần-Trọng-Kim viết như sau:

"Dạ-Trạch là chỗ đồng-lầy, chung quanh cỏ mọc như rừng, ở giữa có bãi cát làm nhà ở được. Triệu-Quang-Phục vào ở đấy ngày nấp ẩn, tối thì cho lính chở thuyền độc-mộc ra đánh quân của tướng Tàu Trần-Bá-Tiên, cướp lấy lương-thực về nuôi quân-sĩ. Trần-Bá-Tiên đánh mãi không được. Người thời bấy giờ gọi Triệu-Quang-Phục là Dạ-Trạch-Vương".

Thủy-quân và Công-trạng giành lại quyền Tự-Chủ

Năm 905 Khúc Thừa Dụ đánh bại quân Đường, giành được độc lập dân tộc. Từ đấy các nhân vật lãnh đạo nước Việt Nam độc lập chú ý nhiều đến xây dựng thủy-quân. Chúng ta ngờ rằng dưới thời Khúc Thừa Dụ, Khúc Thừa Hạo và Khúc Thừa Mỹ, thủy quân đã được tổ chức; đến thời Dương Đình Nghệ thủy quân đã được tổ chức khá quy mô, và đã tỏ ra thiện chiến. Cho nên tháng 9 năm Mậu Thân (938) khi Hoằng Thao mang quân Nam Hán vào cửa Bạch Đằng, đã bị thủy quân của Việt Nam do Ngô Quyền chỉ huy đánh cho tan tành đến không còn một mống nào.

Đinh Tiên-Hoàng-Đế và chiến-thuyền

Đôi khi chúng ta thấy tranh vẽ Đinh-Bộ-Lĩnh oai-phong trong bộ giáp-trụ nặng nề. Có sách ghi vị Hoàng-Đé đầu tiên của nước ta là "nhà Tướng ngồi trên lưng ngựa". Điều này tương-phản hẳn sự thực: Vua Đinh ăn mặc dản-dị, chiến-đãu trên thuyền.

Vào thế-kỷ thứ X, phần lớn vùng châu-thổ sông Hồng, sông Mã còn ngập chìm trong biển nước. Mùa nước lụt thường kéo dài tới 5 tháng trong một năm. Người ta chỉ thấy làng xóm và gò đống lơ thơ nổi lên, trong khi đồng ruộng ngập chìm trong làn nước đục ngầu phù-sa. Hoa-Lư dựa lưng vào núi, phía trước bao bọc bởi nước. Dù là vua chúa mỗi khi bước ra khỏi kỉnh-đô, ai ai cũng phải đi thuyền.

Hai học-giả ngoại-quốc, Pierre Huard và Maurice Durand diễn-tả cảnh hành-quân của vua nhà Đinh khác hẳn với các sách sử của ta. Các Vị này nghĩ rằng nhờ có quân thủy, vua nhà Đinh đã toàn-thắng địch-quân. Đội chiến-thuyền thời đó có khả-năng chuyên chở quân-sĩ vượt sông ngòi, đầm lầy để đổ-bộ thần-tốc. Các loại thuyền như ghe thúng chài, thúng cái, thuyền nan, thuyền thúng... đã thay cho bộ-binh và chiến-mã. Thủy-Quân và Hạm-Đội tạo thành chủ-lực-quân giúp nhà Vua tung-hoành khắp một vùng sông nước rộng lớn của Đại-Cồ-Việt.

Trần-Ứng-Long và Thuyền Mê

Một danh-nhân Việt-Nam, một vị tướng thủy-quân được nhiều sách vở ngoại-quốc ghi-nhận là một khoa-học-gia, một nhà phát-minh lớn mà dân ta ít nhắc nhở tới. Đó là ông Trần-Ứng-Long.

Bách-khoa Từ-Điển của Nhật, tuy có ít từ-mục về Viêt-Nam, nhưng lại có ghi tên Trần-Ứng-Long. Từ-Điển "Encyclopaedia of Asian Civilizations" chép những dòng như sau: Ông Trần-Ứng-Long là "xảo-thủ" đóng chiếc thuyền đầu tiên có vỏ mê mềm dẻo ở Hà-Đông năm 968.

Theo sách "Thanh-thư về Tàu thuyền Cận-duyên miền Nam Việt-Nam", thuyền có đáy mê là loại thuyền Việt-Nam thông-dụng nhất. Hai lối kiến-trúc thường được dùng là đáy mê với mạn thuyền bằng ván be và vỏ thuyền hoàn toàn bằng mê. Loại thuyền có vỏ bằng tre đan này nhẹ hơn loại gỗ, dễ thấm dầu chai, chịu đựợc sóng cồn, sức dội khi ủi bãi và không bị mọt ăn. Hơn nữa tre rất dễ tìm và rẻ hơn loại gỗ tốt, còn đáy tre đan lại dễ thay, vừa nhanh lại vừa rẻ tiền. Đáy nan dùng được chừng 5 năm. Kiến-trúc đan lát bằng nan tre phổ-cập rất rộng rãi với các cỡ ghe thuyền lớn nhỏ, nhiều kiểu như canoes, dinghies, thuyền thúng, thuyền buôn và thuyền đánh cá các loại."

Tương-truyền, ông Long là bộ-tướng của vua Đinh-Tiên-Hoàng (960-980). Khi Sứ-quân Đỗ-Cảnh-Thạc bị đuổi gấp phải chạy trốn qua Nhuệ-Giang. Thạc qua được sông, ra lệnh đốt hết thuyền bè. Tướng Trần-Ứng-Long nghĩ ra cách cho lính đốn tre để đan thứ thuyền nan rồi lấy nhựa bôi vào thân thuyền. Nhờ đó, Ông đưa được quân lính qua sông và đuổi bắt được Đỗ-Cảnh-Thạc.

Quân-đội và Thủy-quân thời Lý

Sự kiện quân-đội nhà Lý đặt nặng về hải-quân không thấy Việt-Sử mô-tả chi-tiết.

Hồi gần đây, chúng ta đựợc đọc một số nhận-xét mới mẻ của Giáo-Sư Lê-Đình-Thông tại Pháp về chiến-lược và chiến-thuật của Hải-Quân Việt-Nam. Theo đó, lưu-động-tính của quân-đội triều Lý đặt căn-bản trên hạm-đội. Và do đó, toàn-thể quân-đội hiển-nhiên được coi như một tổ-chức Thủy-Quân.

Hải-Quân đánh Tống

Như mọi người đã biết, ngày 27 tháng 10 năm 1075, để phá các căn cứ xâm lược của Tống ở trên đất Tống. Lý Thường Kiệt đã cho tướng Tôn Đàn chỉ tuy quân Tầy- Nùng vượt biên giới đánh vào đất Quảng Tây, sau đó đến cuối tháng 12 năm 1075, ông thân dẫn thủy quân xuất phát từ Vĩnh An đánh Khăm Châu và Liêm Châu.

Hoàn thành nhiệm vụ; Lý Thường Kiệt đã chủ động rút quân về nước để ngăn cản quân Tống sắp kéo sang xâm lược Đại Việt. Ông đã xây dựng một phòng tuyến rất vững chắc ở bờ Nam sông Cầu nhầm ngăn chặn quân Tống qua sông để đánh vào Thăng Long.

Lý Thường Kiệt lại biết rằng để hỗ trợ cho bộ binh do Quách Quỳ và Triệu, Tiết chỉ huy, Tống Thần tôn và Vương An Thạch cho một đạo thủy quân do Dương Tùng Tiên chỉ huy: đạo thủy quân này có nhiệm vụ tiến vào sông Bạch Đằng rồi vào sông Lục Đầu để cuối cùng vào sông Cầu giúp bộ binh của Quách Quỳ và Triệu Tiết qua sông. Ông đã sai tướng mang chu sư đóng ở Đông Kênh để chặn đường tiến của thủy quân Tống. Tướng Lý Kế Nguyên đã hoàn thành nhiệm vụ một cách vẻ vang: ông đã đánh bại thủy quân của Dương Tùng Tiên. Chiến thắng của tướng Lý Kế Nguyên đã góp phần quan trọng vào việc làm phá sản mọi kế hoạch tiến công của Quách Quỳ, buộc họ Quách cuối cùng phải chấp nhận rút quân về nước.

Thủy quân của nước Đại Việt dưới triều Lý là một lực lượng hùng mạnh, nó đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp phá Tống Bình Chiêm vô cùng hiển hách. Suốt thế kỷ XII và đầu thế kỷ XIII, nó vẫn là một nguồn tự hào của cả dân tộc.

Quốc-nạn từ đường biển: Chiêm-thành

Dân Chiêm-Thành là những thủy-thủ lành nghề, một số làm hải-tặc hay cướp bóc ngoài biển. Quân-đội Chiêm-Thành quen cậy hùng mạnh thường hay quấy-nhiễu dân ta, ngay từ thế-kỷ thứ hai đời vua Hoà-Đế (102 sau Công-lịch) nhà Đông-Hán.

Từ khi nước ta giành được độc-lập, việc đánh Chiêm-Thành trở nên nhiệm-vụ thường-xuyên của quân thủy. Cuộc đụng-độ Việt-Chiêm xảy ra ngay từ giai-đoạn hai triều vua Đinh-Lê. Sứ-quân Ngô-Nhật-Khánh không chịu thần-phục nhà Đinh, chạy qua Chiêm-Thành xui Chiêm đem quân tấn-công vào đất Việt. Năm Kỷ-Mão (979) hơn một ngàn chiến-thuyền Chiêm tiến vào cửa Đại-An sông Đáy. Không may cho họ, một trận bão nổi lên đánh chìm cả hạm-đội. Nhật-Khánh cùng phần lớn quân Chiêm làm mồi cho cá. Quân Chiêm gặp trận "Thần-Phong" không đánh đã tan. Thủy-quân Việt tại kinh-đô Hoa-Lư tuy sẵn sàng tác-chiến nhưng không phải ra tay.

Trong cuộc Nam-tiến, lực-lượng địch trực-tiếp đối đầu với ta thường là hải-quân Chiêm-Thành. Sách "Việt-sử xứ Đàng Trong" nói đến khả-năng của họ như sau:

"Thuỷ-quân Chiêm-Thành gồm những thuyền lớn, trên có pháo-tháp và những thuyền nhẹ. Trong nhiều trận đánh, người ta thấy hạm-đội gồm hơn trăm chiến-thuyền yểm-trợ lục-quân... Người Chàm là giống người hung-bạo, gan-dạ, và là những thủy-thủ cang-cường. Sống ở những thung-lũng chật hẹp dọc theo duyên-hải, phía Tây ngăn-chận bởi núi cao, phía Đông là bể cả, họ phải đi tìm những gì đất họ không có. Vì vậy họ thường mưu-đồ tiến ra phía Bắc, tiến vào phía Nam, xâm-chiếm những đồng-bằng phì-nhiêu của Việt-Nam và của Chân-Lạp. Với những ghe nhẹ lướt trên biển cả, họ cũng thường tấn-công các thương-thuyền đi ngang qua hải-phận họ để cướp bóc.

Người Chiêm-Thành: Thuyền-nhân thời cổ

Khảo-cổ-học cho biết tính-cách liên-tục của nền văn-minh nước ta. Dân-tộc ta cũng được minh-chứng là dân bản-địa. Trường-hợp người Chàm hơi khác, người ta biết chắc chắn Tổ-tiên họ là thuyền-nhân đã di-cư đến bờ biển Trung-Việt ngày nay sau khi người Việt Văn-Lang chúng ta lập-quốc rất lâu.

Giáo-sư Phan-Khoang viết về những ngày đầu của nước Chiêm-Thành như sau:

Tổ-tiên người Chàm từ các hải-đảo Mã-Lai, Nam-Dương tràn lên bờ biển Trung-Việt ngày nay từ nhiều thế-kỷ trước Tây-lịch kỷ-nguyên. — đây, họ tiếp-xúc với thổ-dân là người Kiritas, thuộc giống Indonésiens; số người Kiritas không chịu họ chế-ngự nên dồn lên các miền núi Trường-Sơn, những người ấy sau này chúng ta gọi là Mọi. (Việt-Sử Xứ Đàng Trong 1558-1777, Sài-Gòn, 1967, trang 35.)

Căn-cứ trên những tài-liệu của Blust (The Austronesian Homeland, 57), của W. G. Solheim ('Pottery and the Malayo-Polynesians', Current Anthropology, 5 (1964); Peter Bellwood đưa ra giả-thuyết là nhờ đi theo những đường giao-thương và trao-đổi văn-hoá ngang qua Biển Đông trong khoảng một thiên-kỷ trước Công-nguyên, người Chàm đã dùng thuyền di-cư đến sinh sống tại vùng Sa-Huỳnh, Trung-Việt ngày nay (Sách "The Cambridge History of Southeast Asia", Vol. 1- From Early times to C 1800-, edited by Nicholas Tarling, Cambridge University Press, 1992, p. 130.) Dân Chiêm-Thành như vậy, rất có thể phát-triển từ các bộ-lạc Hải-Du vùng đảo Bornéo.

Hải-Quân Vua Lý-Thái-Tông đánh Chiêm.

Ngay thời Lý-Thái-Tổ, tháng chạp năm Canh-Thân (1020) vua đã sai Khai-Thiên-Vương và Đào-Thác-Phụ đi dẹp loạn Chiêm-Thành tại trại Bố-Chính (Quảng-Bình ngày nay). Quân ta chém được tướng Chiêm là Bồ Linh. Quân Chiêm đại-bại.

Khi Thái-Tông lên làm vua dã hơn 25 năm mà nước Chiêm-Thành không chịu thông sứ, lại cứ quấy-nhiễu mặt biển. Thái-Tông bèn sắp-sửa binh-thuyền sang đánh Chiêm-Thành.

Năm Giáp-Thân (1044) vua ngư-giá đi dánh. Quân Chiêm-Thành dàn trận ở phía nam sông Ngũ-Bồ (?), Thái-Tông truyền thúc quân đánh tràn sang. Quân Chiêm-Thành thua chạy. Quân ta bắt được hơn 5,000 người và 30 con voi.

Tướng Chiêm-Thành là Quách-Gia-Di chém Quốc-Vương là Sạ-Đẩu đem đầu sang xin hàng.

Quan quân chém giết người bản-xứ rất nhiều. Vua Thái-Tông động lòng thương, xuống lệnh cấm không được giết ngưới Chiêm-Thành, hễ ai trái lệnh thì theo phép quân mà trị tội.

Thái-Tông đưa binh-thuyền tiến đến quốc-đô là Phật-Thệ (nay ở làng Nguyệt-Biều, huyện Hương-Thủy, tỉnh Thừa-Thiên), vào thành bắt được Vương-Phi là Mị-Ê và các cung-nữ đem về. Khi đoàn thuyền xa-giá về đến sông Lý-Nhân, Thái-Tông cho đòi Mị-Ê sang chầu bên thuyền ngự, Mị-Ê giữ tiết không chịu, quấn chiên lăn xuống sông mà tự-trầm. Nay ở phủ Lý-Nhân còn có đền thờ.

Thủy-Quân bình Chiêm thời Lý-Thánh-Tôn

Trong các đời vua trước, cái cớ đánh Chiêm-Thành là vì tội bỏ tiến cống. Đến đời Lý-Thánh-Tôn, vua dựa vào tội Chiêm thờ hai chủ: vừa xưng thần với Việt nay lại thần-phục nhà Tống.

Năm 1068, vua Lý Thánh Tôn ra lệnh sửa soạn thuyền chiến dùng hải-đạo đánh Chiêm. Mỗi chiến-thuyền chở 250 quân-sĩ. Tổng số thuyền chở lương-thực có tất cả 200 chiếc. Quân viễn-chinh vào khoảng 30,000 người đặt dưới quyền điều-khiển của Lý Thường Kiệt.

Từ biên giới Việt - Chiêm đến cửa Thị Nại tức cửa biển Quy Nhơn sau này, Chiêm Thành có các cửa biển sau đây: Cửa Di Luân tức cửa Ròn ở cực bắc. Cửa biển này nhỏ nên không thể là một căn cứ thủy quân. Cửa biển thứ hai là cửa Bồ Chánh hay cửa Gianh. Cửa biển này rộng, nhưng lại cạn, nên cũng không thể là một căn cứ thủy quân quan trọng được. Cửa biển thứ ba là cửa Nhật Lệ, sau này là cửa Đông Hà. Nhật Lệ là một cửa biển lớn. Chế Củ đã tập trung một phần quan trọng thủy quân ở đây, Cửa biển thứ tư là cửa Tư Dung sau gọi là Tư Hiền. Tại cửa biển này không có thủy quân Chiêm hay có nhưng không đáng kể. Cửa biển thứ năm là cửa Thi Nại tức cửa biển Quy Nhơn. Đây là cửa ngõ vào cánh đồng bằng Bình Định, nơi có kinh đố Chà Bàn (Vijaya) của Chế Củ.

Một bộ phận quan trọng của thủy quân Chiêm đóng ở cửa Thi Nại. Còn đại bộ phận bộ binh đóng ở Chà Bàn và cánh đồng bằng Bình Định.

Ngày 8 tháng 3 năm 1086, vua Lý Thánh Tôn giao việc nước cho  Lan nguyên-phi và tể tướng Lý Đạo Thành rồi xuống thuyền xuôi dòng sông Hồng bắt đầu cuộc Nam chinh.

Chiến-thuật của thủy-quân Đại-Việt

Cuộc hành quân của Lý Thánh Tôn và Lý Thường Kiệt tỏ ra phía Đại Việt nắm rất rõ việc bố trí lực lượng của nước Chiêm Thành, cho nên thủy quân Đại Việt không đánh cửa Di Luân và cũng không vào cửa Bố Chánh, mà tiếp thẳng vào cửa Nhật Lệ và đã đánh tan thủy quân Chiêm ở đây, Thủy quân Chiêm bị phá hoàn toàn ở Nhật Lệ có nghĩa là thủy quân Đại Việt có thể cứ giương buồm thuận gió tiến thẳng vào Nam, mà không sợ bất cứ lực lượng nào đánh vào lưng mình nữa. Cho nên sau khi đánh thắng thủy quân Chiêm, thủy quân Đại Việt không chiếm đất và cũng không đổ bộ: quân Đại Việt thuận buồn tiến xuống phía Nam rồi vào cửa Tư Dung để nghỉ ngơi ở đó để chuẩn bị một trận quyết chiến sắp diễn ra. Ngày 3 tháng 4 năm 1069, thủy quân Đại Việt vào cửa Thi Nại rồi đổ bộ ở ven bờ vũng Nước mặn. Sau đó quân Đại Việt tiếp đến sông Tu Mao để đánh tan quân Chiêm ở đó ...

Đã giành lại quyền Tự-chủ, Thủy-quân còn mở rộng Biên-cương

Việt-Sử không những đã khiếm-khuyết trong việc trình-bày thành-tích hải-quân mà còn sai lạc khi bình-luận về vai trò của quân-chủng này về viêc mở rộng biên-cương:

- Thủy-quân nhà Lý mạnh, biên-cương nuớc ta ăn sâu vào Trung-Quốc hàng 3, 400 cây số. Có thể vì sau này thủy-quân cứ suy-thoái, dân Việt không bao giờ còn trở lại đất xưa, ta đành cam nhận chịu ranh giới như hiện nay.

- Sau khi Bắc-tiến bị chận lại, thủy-quân chính là nỗ-lực trong mũi dùi Nam-tiến. Nhìn chung những sử sách cận-đại dã không chấp-nhận một sự kiện hiển-nhiên rằng: Hải-quân nhà Nguyễn nối cánh tay dài, bảo vệ toàn-dân trải dài cuộc định-cư từ Quảng-Nam đến mũi Cà-Mâu. Về phía Tây, lực-lượng ấy bao trùm an-ninh tận Hà-Tiên. Phía Đông Hải-quân đã tuần-phòng Hoàng-Sa Trường-Sa, trước khi bị giặc Pháp tiêu-diệt.

Nói tóm lại, nếu không có hải-quân hùng-mạnh, Việt-quân không thể Bắc-tiến đánh Tống và Nam-tiến bình Chiêm được.

Trường-hợp Hoàng Thân Lý Long Tường

Nhưng vào khoảng năm 1226 một việc đáng tiếc đã xảy ra.

Chúng ta đều biết rằng tháng chạp năm „t Dậu (1225) do mưu mô của Trần Thủ Đô, Lý Chiêu Hoàng lấy Trần Cảnh rồi nhường ngôi vua cho chàng. Khi ngôi vua đã về tay họ Trần. Trần Thủ Độ tìm cách hãm hại những người họ Lý. Thủy sư Đô-đốc chỉ huy toàn bộ chu sư của nhà Lý bấy giờ là Lý Long Tường. Lý Long Tường cho rằng do cương vị trọng yếu của ông (tư lệnh thủy quân toàn quốc), sớm muộn ông có thể bị Trần Thủ Độ sát hại. Cho nên vào một ngày nào đó năm Bính Tuất (1226), sau một thời gian chuẩn bị, ông đã đem vợ con, gia nhân đầy tớ, tướng lĩnh cùng hạm đội rời đất nước Đại Việt tiến lên phía Bắc và cuối cùng đã xin cư trú ở nước Triều Tiên (theo tạp chí Sử học của Nhật Bản số 2 năm 1941.

Sử của Việt Nam không hề nói đến việc trên. Nhưng chúng ta tin rằng việc đó là có thực. Tình hình xã hội Đại Việt sau khi nhà Trần lên thay nhà Lý rất dễ đề ra những nhân vật như Lý Long Tường.

Bước đầu của họ Trần: Dân Di-Cư đường Biển

Họ Trần được tiếng oanh-liệt vì những trận thủy-chiến thắng Nguyên Mông. Tuy vậy ít ai đã lưu-tâm đến nguồn gốc di-dân đường biển của tiền-nhân dòng Vua này. nh-hưởng thuyền-nhân như vậy đôi lần đã tác-dụng mạnh mẽ trên lịch-sử nước ta

Việt-Nam Sử-Lược của Trần-Trọng-Kim viết rất ít câu sơ sài về những ngày đầu của họ Trần như sau:

Khi Thái-Tử Sam, con vua Lý-Cao-Tông chay loạn, về Hải-„p vào ở nhà Trần-Lý. Nguyên Trần-Lý là người làng Tức-Mạc (huyện Mỹ-Lộc, phủ Xuân-Trường, tỉnh Nam-Định) làm nghề đánh cá, nhà giàu, có nhiều người theo phục. Sau nhân buổi loạn cũng đem chúng đi cướp phá...

Tìm hiểu kỹ hơn nữa, các nhà nghiên-cứu tìm thấy tổ-tiên Trần-Lý là nhóm người Phước-Kiến mới đến Tức-Mặc không lâu. Dòng họ này tiếp-tục giữ những cổ-tục riêng, khác với hầu hết dân Đại-Việt cho đến nhiều đời sau.

Ông Cl. Madrolle trong bài "Le Tonkin Ancien" đã phát-biểu ý-kiến là ở Phước-Kiến có một nhóm Việt-tộc làm nghề chài-lưới, hàng-hải đã dùng thuyền gỗ hay mảng tre có buồm, hàng năm theo gió mùa, nhân gió bấc phiêu-lưu theo dọc miền duyên-hải rồi ghé vào miền trung-châu sông Nhị, sông Mã (Việt-Nam.) Nhóm này cũng có phen xuống cả Nam-Dương, rồi lại nhân tiết gió nồm quay về căn-cứ. Một số đã ở lại sinh sống...

Tục vẽ chàm và tinh-thần quyết-tử của quân đội đời Trần

Nhà quân-sử Phạm-văn-Sơn viết rằng : Xét lại các cuộc xung-đột với giặc Nguyên, ta co thể nói lực-lượng thủy-quân của Việt-Nam đời Trần thuở đó khá mạnh. Nhờ đó , ta đã thắng địch oanh-liệt ở các bến Chương-Dương Hàm-Tử, Vân-Đồn, Bạch-Đàng. Duy quân-số bao nhiêu, sử ta không cho biết. (Quân-lực Việt-nam dưới các Triều-đại Phong-kiến (Từ Thượng-cổ đến Cận-kim) quyển I, Phạm-Văn-Sơn, Bộ Tổng Tham-Mưu QL/VNCH, 1968, trang 63.)

Trong thủy-quân, có các đội Trạo-Nhi gồm những trai tráng khỏe mạnh (trang 64)

Từ xưa, người Việt-Nam, kẻ cả hoàng-thân quốc-thích và vua chúa đều giữ cổ-tục của thủy-dân là vẽ chàm trên mình. Về đời Trằn, Việt-sử ghi chép thêm một vài hình-thức đặc-biệt khác.

Người lính trong quân-đội đời Trần đều có thích chàm ở cánh tay hai chữ 'Sát-Thát' để tỏ ý quyết-tâm sống mái với giặc Mông-Cổ. Như vậy họ chỉ có một sống một chết với giặc, giặc bắt được thấy 2 chữ 'Sát-Thát' ắt không khi nào có sự dung tha.

Đời Trần-Anh-Tôn (1293-1314), binh-sĩ phải thích ba chữ trên trán như "Thượng chân độ", "Toả-Kim-Cương", "Thủy-dạ-soa" ngoài sự thích rồng ở lưng và ở đùi. Ba chữ 'Thủy-Dạ-Soa' có lẽ dành riêng cho các thủy-thủ.

Vai trò Thủy-quân trong những trận kháng giặc Nguyên-Mông

Sau khi trừ xong các tôn thất nhà Lý. Trần Thủ Độ tính ngay đến việc tăng cường lực lượng vũ trang. Năm 1246, ông đã tuyển thêm quân mới lấy thêm người để chèo các thuyền chiến của nhà nước. Nhờ vậy cho nên ngày 24 tháng chạp năm Mậu Ngọ tức ngày 29 tháng 1 năm 1258, chiến thuyền nhà Trần từ căn cứ Thiên Mạc đã ngược dòng sông Hồng trở về Thăng Long đánh bại quân Mông Cổ ở Đông Bộ Đầu, buộc quân giặc phải rút khỏi Thăng Long chạy về Văn Nam để khỏi bị tiêu diệt hoàn toàn.

Tháng 8 năm Giáp Thân (1284), sau khi được cử giữ chức Quốc Công tiết chế thống lĩnh toàn quân đội, Trần Quốc Tuấn đã tổ chức một cuộc duyệt binh lớn ở Đông Bộ Đầu. Sau đó ông lại hội quân trong đó có thủy quân ở Vạn Kiếp.

Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai (1285), sử cũ của ta chỉ nói Chiêu Thành Vương, Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản, Nguyễn Khoái và Trần Nhật Duật đem quân đánh quân giặc ở Tây Kết, Hàm Tử. Chương Dương, mà không cho biết quân đó là quân bộ hay quân thủy. Do chỗ Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương đều là những địa điểm nằm ở bên tả hoặc ở bên hữu sông Hồng, chúng tôi đoán rằng các cánh quân đánh các địa điểm nói trên trước hết có thủy quân. Như thế có nghĩa là quân Trần, chủ yếu là thủy quân đã ngược dòng sông Hồng đánh Tây Kết, rồi đánh Hàm Tử, rồi đánh Chương Dương. Sau khi quân Trần giải phóng Chương Dương, thì Thoát Hoan bỏ Thăng Long vượt sông chạy sang bờ Bắc, nếu không thì quân Trần cứ thẳng dòng sông mà tiến lên đánh Thăng Long rồi.

Mùa xuân năm Mậu Tý (1288), Trần Khánh Dư cả phá đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ chở 70 vạn thạch lương qua vùng biển Vân Đồn. Mở đường cho đoàn thuyền lương là 500 chiến thuyền hùng mạnh do Ô Mã Nhi chỉ huy. Trần Khánh Dư đã để cho đoàn chiến thuyền cửa Ô Mã Nhi qua vùng biển Vân Đồn. Đoàn chiến thuyền qua Vạn Ninh (Mống Cái), núi Ngọc mà không gặp một sức chống cự nào đáng kể cả. Sau đó đoàn chiến thuyền đến An Bang, và chỉ thấy thủy quân Đại Việt chống cự một cách yếu ớt mà thôi. Ô Mã Nhi chủ quan cho lực lượng thủy quân Đại Việt chỉ có thế, cho nên sau khi vào cửa An Bang, y cho đoàn chiến thuyền vào cửa Bạch Đằng để vào Vạn Kiếp, bỏ lại đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ ở đằng sau không có chiến thuyền bảo vệ.

Khi đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ lọt vào trận địa phục kích ở vùng biển Vân Đồn, Trần Khánh Dư ra lệnh cho chiến thuyền Đại Việt đổ ra đánh. Bị đánh bất ngờ, đoàn thuyền rối loạn, nhiều chiếc bị đấm, nhiều chiếc khác bị bắta. Trương Văn Hổ phải đổ thóc xuống biển rồi chạy trốn về Quỳnh Châu thuộc đảo Hải Nam. Chiến thắng vào tháng 1 hoặc đầu tháng 2 năm 1288 là một đòn rất nặng nệ giáng vào quân xâm lược, không những làm cho chúng mất hết lương ăn mà con làm cho chúng tiêu tan hết ý chí chiến đấu. Các tướng lĩnh đã nói với Thoát Hoan: "— Giao Chỉ không có thành trì để giữ, không có lương thực để ăn mà thuyền lương của Trương Văn Hổ lại không đến. Vả lại khi trời đã nóng nực, sợ lương hết quân mệt không lấy gì chống giữ lâu được, làm hổ thẹn cho triều đình, nên toàn quân mà về thì hơn" Thần nỗ tổng quản là Giả Nhược Ngu cũng nói: "quân nên về không nên giữ".

Cuối cùng Thoát Hoan chia quân Mông Cổ ra làm hai đạo: Đạo thủy binh do Ô Mã Nhi chỉ huy theo đường biển về trước. Sau đó đạo bộ binh do Thoát Hoan chỉ huy sẽ về sau.

Ngày mồng 7 tháng 3 năm Mậu Tý tức ngày 8 tháng 4 năm 1288, đoàn chiến thuyền của Ô Mã Nhi đến Trúc Động trên sông Giá. Sáng ngày 8 tháng ba tức ngày 9 tháng 4, Ô Mã Nhi đến sông Bạch Đằng, quân Trần trên thuyền nhẹ ra đón đánh rồi giả thua chạy nhử quân giặc vào bãi cọc mà Trần Quốc Tuấn đã cho đóng từ trước. Đoàn chiến thuyền giặc vào trận địa phục kích của quân ta vào lúc nước triều đang rút. Phục binh Đại Việt từ các phía thủy bộ đổ ra đánh. Thuyền giặc vướng phải cọc bị vỡ rồi bị đắm rất nhiều, nước triều càng xuống nhanh, thuyền giặc càng bị vỡ và bị đắm càng nhiều. Toàn bộ đoàn chiến thuyền bị tiêu diệt. Vạn bộ thủy quân Trương Ngọc bị giết ngay tại trận. Phàn Tiếp bị bắt sống. Ô Mã Nhi cũng bị bắt sống. Số thuyền giặc bị quân ta bắt được lên đến trên bốn trăm chiếc.

Đây là chiến thắng Bạch Đằng lần thứ ba. Trước đó là chiến thắng Bạch Đằng lần thứ nhất năm 938, và chiến thắng Bạch Đằng lần thứ hai năm 981. Chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 là một chiến thắng trên thủy vào cỡ lớn nhất trong lịch sử Việt Nam.

Thủy quân Việt Nam hồi thế kỷ XIII là một quân chủng tài giỏi đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp bảo vệ đất nước. Trong thủy quân đó nổi bật lên vai trò của Yết Kiêu và Dã Tượng. Yết Kiêu và Dã Tượng vốn là gia nô của Trần Quốc Tuấn được Quốc Tuấn nuôi nấng và giáo dục, rồi trở thành những kiện tướng đánh giặc công rất tài tình ở dưới nước. Yết Kiêu và Dã Tượng thường lặn dưới nước đến đục phá chiến thuyền của quân Nguyên hoặc kéo chiến thuyền địch xa rời vị trí của chúng rồi bất ngờ cướp chiến thuyền địch. Trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, Yết Kiêu và Dã Tượng nổi bật lên những chiến sĩ mở đầu lối đánh đặc công: Lối đánh cực kỳ táo bạo chỉ dùng rất ít lực lượng mà có thể gây cho địch những tổn thất rất nặng nề.

Trận Thủy-Chiến cuối cùng của Chế Bồng Nga

Như mọi người đã biết, từ Trần Dụ Tôn (1341-1369) nhà Trần suy yếu nhanh chóng, khởi nghĩa của gia nô đã bùng ra ở nhiều nơi. rong bối cảnh lịch sử đó, thủy quân của nước Đại Việt cũng càng ngày càng mất dần tình chiến đấu.

Chúa Chiêm Thành dò biết được tình hình đó, cho nên tháng ba năm Tân Sửu (136, thủy quân Chiêm đột nhiên vượt biển tiến ra Bắc đánh Lâm Bình, nhưng bị quân Đại Việt đánh lui.

Năm Tân Hợi (137 thủy quân Chiêm Thành bất ngờ tiến vào sông Hồng rồi cướp phá Thăng Long.

Năm Dinh Tị (1377) thủy quân Chiêm lại đánh chiếm Thăng Long lần thứ hai, chúng cướp của, bắt người rồi rút về.

Những hành động xâm lược của quân Chiêm làm cho nhà Trần lo ngại. Năm Quý Sửu (1373) ngay khi vừa lên ngôi vua, Trần Duệ Tôn đã cho tuyển thêm quân đội sửa soạn chiến thuyền để đánh Chiêm Thành.

Tháng giêng năm Đinh Tị (1377) nhà vua thân cầm quân đi đánh Chiêm Thành, bị vua Chiêm là Chế Bồng Nga đánh bại Nhà vua chết tại trận.

Trận đại bại của Trần Duệ Tôn (1377) khuyến khích mưu mô xâm lược của Chế Bồng Nga. Tháng 5 năm Mậu Ngọ (1378) thủy quân Chiêm do Chế Bồng Nga chỉ huy vượt biển tiến vào Đại hoàng giang, rồi ngược dòng sông đánh chiếm Thăng Long. Quân Chiêm vơ vét tài sản, bắt nhiều người rồi lại xuống thuyền rút về nước.

Nhà Trần lúc này đang suy yếu nghiêm trọng. Đó là điều kiện thuận lợi để quân Chiêm luôn luôn ra xâm lược nước Đại Việt.

Tháng 2 năm Nhâm Tuất (1382) thủy quân Chiêm lại ra đánh Thanh Hóa, nhưng bị thất bại.

Tháng sáu năm Quý Hợi (1383), thủy quân Chiêm bất ngờ tiến ra đổ bộ vào một nơi nào đó của nước Đại Việt, rồi đi đường núi đánh vào miền Quảng Oai làm cho kinh thành Thăng Long náo động, thượng hoàng Nghệ Tôn phải lánh sang Đông Ngàn ở bờ Bắc sông Hồng.

Tháng 10 năm Kỷ Tị (138, thủy quân Chiêm Thành tiến ra đánh Thanh Hóa. Hồ Quý Ly mang thủy quân ra chóng cự. Quý Ly cho đóng cọc gỗ ở sông Lương, rồi đem thuyền vây chung quanh. Quân Chiêm đắp đập ở thượng lưu để mai phục quân và voi chiến, rồi giả vờ dọn dẹp quanh trại để kéo quân về. Quý Ly cho quân xô ra đánh. Quân Chiêm phá đập rồi lùa voi chiến ra trận. Chiến thuyền của Quý Ly bị nước từ thượng lưu dồn vào một chỗ, không sao tiến lên được, bộ binh của Quý Ly bị quân Chiêm giết hết Quý Ly phải bỏ quân đội trốn về.

Tháng 11 năm Kỉ Tị, quân Chiêm tiến ra Hoàng Giang, vua Trần Thuận Tôn sai đô tướng là Trần Khát Chân mang quân ra chống cự. Lúc này, một tôn thất nhà Trần là Trần Nguyên Diệu đầu hàng quân Chiêm Thành.

Chúa Chiêm Thành là Chế Bồng Nga liền dùng ngay Nguyên Diệu làm kẻ dẫn đường để đi xem xét tình hình. Chiến thuyền Chiêm đang tập hợp, thì một tiểu thần của chúa Chiêm là Ba Lậu Kê bị bồng Nga quở trách. Ba Lậu Kê sợ, tội chạy sang hàng Đại Việt. Y báo cho Trần Khát Chân biết, rằng Chế bồng Nga ngồi trên một chiếc thuyền sơn màu lục.

Trần Khát Chân sai tập trung hỏa pháo nhất tê bắn báo chiến thuyền đó. Đạn bắn trúng vào giữa thân Chế Bồng Nga.

Thấy chủ tướng bị giết, quân Chiêm tan vỡ...

Từ đấy biên giới nước Đại Việt về phía Nam được yên. Vì sau khi Chế Bồng Nga chết, nước Chiêm Thành ngày một yếu đi quân Chiêm không đủ sức xâm lấn nước Đại Việt nữa.

Tháng 2 năm Canh Thìn (1400), Hồ Quý Ly cướp ngôi vua của nhà Trần, đặt tên nước là Đại Ngu, niên hiệu là Thánh Nguyên.

Tháng 8 năm ấy, thấy chúa Chiêm Thành là La Ngai chết, con là Ba Đích Lại mới được lập làm chúa, Quý Ly thừa cơ sai Đỗ Mẫn làm đô tướng thủy quân, Trần Vấn làm phó, Trần Tùng làm đô tướng bộ quân, Đỗ Nguyên Thái làm phó, đem 15 vạn quân thủy lục đi đánh Chiêm Thành. Quân của Quý Ly bị quân Chiêm đánh bại phải rút về.

Năm Quý Mùi (1403), Hồ Quý Ly lại đánh Chiêm Thành một lần nữa. Phạm Nguyên Côi được cử làm đô tướng thủy quân, Hồ Vân làm phó: Đỗ Mẫn làm đô tướng quân bộ, Đỗ Nguyên Thái làm phó, thống lĩnh 20 vạn quân thủy bộ, chia đường vào đánh Chiêm Thành nhưng không có kết quả.

Hồ-Quý-Ly và Hải-Quân

Hồi này ở nước Minh, Chu Đê đã đoạt được ngôi vua và đã lên ngôi hoàng đế (Minh Thành tổ). Dã tâm của Minh Thành tổ là xâm lược Việt Nam, biến Việt Nam thành quận huyện cả nước Minh.

Ngay từ đầu thế-kỷ 15, khi Hồ-Quý-Ly đã nắm trọn binh-quyền, Ông khuyếch-trương mạnh mẽ việc quân vì biết rằng sớm muộn quân Minh cũng sẽ lần sang. Thủy-quân là một tổ-chức lớn. Ông chia quân-đội ra làm 4 mà Hải-quân được tổ-chức thành một quân-chủng. Bốn quân-chủng đó là : Vệ-quân, Đại-quân, Cấm-quân và Thủy-Quân. (Quân-Lực Việt-nam dưới các Triều-đại Phong-kiến (Từ Thượng-cổ đến Cận-kim) quyển I, Phạm-Văn-Sơn, Bộ Tổng Tham-Mưu QL/VNCH, 1968, trang 69.)

Cha con Hồ Quý Ly đã nhìn rõ âm mưu của Minh Thành tổ, cho nên từ năm 1404. Quý Lý đã cho tuyển thêm lính mới và cho đóng nhiều thuyền chiến. Những thuyền chiến nay gọi là "tải lương cổ lâu", bên trên bắc tre làm đường đi lại, bên dưới cứ hai người chèo một mái chèo. Tuy gọi là"tải lương cổ lâu", nhưng đúng ra là những thuyền chiến thực sự, rất tiện cho việc chiến đấu trên thủy.

Hồ Quý Ly là nhà chính trị biết đề ra các biện pháp nhằm đẩy mạnh sản xuất kinh tế. Nhưng trong hành động, ông đã làm nhiều việc khiến cho "nhân tâm oán phản". Do đó khi Minh Thành Tổ sai Trương Phụ mở cuộc xâm lược vào Việt Nam. Hồ Quý Ly đã thua trận một cách quá dễ dàng, mặc dầu ông có một lực lượng vũ trang lớn mạnh trong đó có những thuyền chiến gọi là "tải lương cổ lâu".

Sau khi hạ thành Đa Bang vào cuối năm Bính Tuất (1406), tháng 2 năm Đinh Hợi (1407), Mộc Thạnh cả phá 300 chiến thuyền của Hồ Nguyên Trừng ở sông Mộc Hoàn. Tháng 3 năm Đinh Hợi, Hồ Nguyên Trừng đem đại binh đến đón quân Minh ở cửa Hàm Tử. Hồ Xạ, Trần Đĩnh chỉ huy đạo quân đóng ở bờ anm sông. Đỗ Nhân Giám, Trần Khắc Trang chỉ huy đạo quân đóng ở bờ bắc: Đỗ Nhẫn, Hồ Vấn chỉ huy thủy quân gồm bảy vạn người, nói phao lên là 21 vạn. Các chiến thuyền đều kéo đến cửa Hàm Tử, nối đuôi nhau dài đến hơn mười dặm, chắn ngang cả mặt sông. Quân thủy và quân bộ của Trương Phụ biết lực lượng quân thủy của Quý Ly mạnh, chúng chờ khi quân của Quý Ly tỏ ra chủ quan, trễ nải, mới xông ra đánh. Quân của Quý Ly thua to.

Bị thua nặng ở cửa Hàm Tử. Quý Ly và Hồ Hán Thương đem trăm quân theo đường biển chạyvào Thanh Hóa. Quân Minh đuổi theo. Đến Lỗi Giang thì quân của Quý Ly tan vỡ. Sau đó cha con Quý Ly chạy đến cửa biển Kỳ La, rồi bị bắt tại đó cùng với con cháu và các quan.

Trong hai mươi năm thuộc Minh, bọn đô hộ vơ vét rất nhiều tài sản của dân tộc Việt Nam. Chúng đã cướp của Việt Nam 8.670 chiếc thuyền và 2.539.500 vũ khí các loại. Hai mươi năm thuộc Minh, vì vậy, là hai mươi năm dân tộc Việt Nam không có thủy quân. Trần Ngỗi, Trần Quý Khoáng, Lê Lợi cũng có một ít thủy quân, nhưng lực lượng không có gì mạnh lắm.

Quân thủy nhà Lê và những ngày tàn của Chiêm-Thành

Tháng 12 năm Mậu Thân (1428). Lê Thái Tổ định ra quy chế cho quân thủy quân bộ. Ta có thể tin rằng sau đó không lâu, nước Đại Việt đã có một đạo thủy quân lớn mạnh. Cho nên đến năm „t Mão (1435) Lê Thái Tôn sau khi đi xem quân bộ diễn tập ở Bạo Động, đã xem quân thủy diễn tập ở sông Hồng: Tháng giêng năm: Mậu Ngọ (1438), Lê thái Tôn lại sai chiến thuyền của năm đạo quân diễn tập thủy chiến.

Năm Bính Dần (1446), thấy chúa Chiêm thành là Bí Cái hay cho quân đội ra xâm phạm biên giới. Lê Nhân Tôn sai Lê Thụ, Lê Khả đem thủy quân đánh Chiêm Thành, Quân Đại Việt đánh chiếm cửa biển Thi Nại rồi tiến lên đánh chiếm thành Cha Bàn, bắt được vua Chiêm là Bí Cái.

Tháng 11 năm Canh Dần (1470), Lê Thánh tôn thân chính Chiêm Thành. Quân đội có đến 26 vạn, chiến thuyền có đến hàng ngàn chiếc.

Khi quân Đại Việt đến cửa biển Tân „p và cửa biển Cựu tọa, vua Chiêm là Trầ Toàn sai em đem sáu viên tướng cùng 5.000 quân lên đến sát doanh trại của Lê Thánh Tôn. Lê Thánh tôn mật sai tả du kích tướng quân là Lê Hi Cát đem 500 chiến thuyền lẻn vào cửa biển Sa Kỳ chặn đường về của quân Chiêm. Rôi Lê Thánh Tôn dẫn hơn một ngàn chiến thuyền tiến thẳng vào doanh trại quân Chiêm. Quân Chiêm tan vỡ, chúng toan chạy về thành Lê Hi Cái chặn đường. Lê Niệm và Ngô Hồng tung quân ra đánh thốc vào quân Chiêm, quân Chiêm đại bại.

Trà Toàn sợ quá dâng biểu xin hàng. Lê Thánh Tôn bảo bọn Lê Quyết Trung rằng: "Chí khí chiến đấu của giặc đã rã rời, khí c đánh thành của ta đã đầy đủ. Nay quân sĩ trèo lên thành, chỉ thúc một hồi trống cũng có thể phá được thành". Rồi nhà vua lại dụ các tướng sĩ: "Trong lúc thành Trà Bận đã bị hạ, các kho tàng đều phải niêm phong, canh giữ không được thiêu hủy, bắt sống chúa Chiêm Thành là Trà Toàn giải đến hành doanh không được giết hại".

Rồi nhà vua ra lệnh đánh thành. Thành Chà Bàn bị vỡ. Quân Đại Việt loại ra ngoài vòng chiến hơn bảy vạn người. Trà Toàn cũng bị bắt sống và bị giải đến trước Lê Thánh Tôn.

Chiến thắng năm 1471 của Lê Thánh Tôn đối với Trà Toàn là một đòn chí tử làm cho nước Chiêm Thành đi đến chỗ bị tiêu diệt.

Thành-phần quân Thủy triều Lê-Thánh-Tôn

Dưới triều Lê Thánh Tôn, thủy quân của nước Đại Việt càng ngày càng hùng mạnh và đã lập được nhiều chiến công. Nhà Lê có nhiều loại chiến thuyền lớn nhỏ, có chiến thuyền được trang bị bằng hỏa khí. Năm 1465 Lê Thánh tôn đã ban phép trận đồ cho thủy quân và bộ binh thao-dượt.

Thủy-quân nhà Lê (1428-1527) tổ-chức quy-củ, thành-phần là các trai tráng khoẻ mạnh, giỏi nghề bơi lội. Thủy-quân chia ra làm 4 đội, có danh như sau:

- Hải-Hồng-Quân
- Hải-Mã-Quân
-Hải-Kình-Quân
-Hải-Điểu-Quân.

Thủy-quân thời chiến tranh Lê-Mạc

Như mọi người đều biết năm 1527, Mạc Đăng Dung giết hoàng đệ Xuân cướp ngôi vua của nhà Lê. Năm 1529 Nguyễn Kim khởi nghĩa ở Sầm Châu chống lại nhà Mạc. Từ đấy bùng ra cuộc nội chiến giữa một bên là nhà Mạc, một bên là nhà Lê. Chiến tranh Lê - Mạc chưa chấm dứt, thì từ năm 1627 đến năm 1672 lại bng ra chiến tranh Trịnh - Nguyễn.

Trong chiến tranh Lê - Mạc, chúng ta thấy họ Mạc nhiều lần dùng quân thủy đánh quân Lê. Tháng 9 năm „t Sửu (1563) tướng Mạc là Mạc Kinh Điển đem chiến thuyền vượt biển đánh vào Thanh Hóa. Thủy quân Mạc vào cửa Linh Tràng rồi thừa thắng đánh phá các huyện Thuần Hựu, Hoằng Hóa, giết quân Lê - Trịnh đến mấy ngàn người.

Tháng giêng năm Nhâm Thân (1572), tướng Mạc là Lập Bạo đem hơn sáu mươi chiến thuyền vượt biển đánh vào đất Thuận Hóa. Lập Bạo bị Nguyễn Hoàng dùng mưu giết chết.

Tháng 7 năm Mậu Dần (1578), Mạc Kinh Điển lại vượt biển đánh vào Thanh Hóa, nhưng thất bại.

Năm Kỷ Mão (1579) Mạc Kinh Điển, năm Tân Tị (158 Mạc Đôn Nhượng lại đem thủy quân vào đánh Thanh Hóa, nhưng bị thua to.

Tháng 11 năm Nhâm Thìn (1592), Trịnh tùng cho đem 500 chiến thuyền đi đánh Mạc Mậu Hợp ở Kim Thành. Quân Mạc thua to, Mậu Hợp bỏ quân doanh chạy trốn.

Thủy-quân thời Nhà Lê trung-hưng

Nhà Lê trung-hưng, vua Lê làm vì và chúa Trịnh nắm quyền. Hệ-thống quân-lực trở nên phong-phú.

Đơn-vị thấp nhất là Đội, có 20 người.

Cơ có 20 đội (400 người).

Vệ gồm 5 hay 6 Cơ (2000 đến 2400 ngườI)

Ngoài ra bên Vệ có Tứ là đơn-vi có 100 người.

Thuyền có từ 40 đến 50 người.

Tổng-số quân-đội khi động-viên có 115.000 ngườI, 10,000 ngựa và 600 voi trận. Thủy-quân có 500 chiến-thuyền đàu mũi sơn son thếp vàng, mỗi chiến-thuyền có 26 tay chèo và được bố-trí 3 đại-bác 14 livres gọi là thần-công. Thuyền chiến của nhà Lê thuở đó có cái lớn hơn chiến thuyền của các nước Âu-châu. Các giáo-sĩ Alexandre De Rhodes và Tisannier trong ký-sự khen quân-lực của chúa Nguyễn hùng-hậu hơn cả Pháp và Bồ-Đào-Nha.

Theo Cố Alexandre De Rhodes, chiến-thuyền của Thủy-quân chúa Trịnh vận-chuyển mau lẹ, trang-bị hoả-lực hùng-hậu có thể khuất-phục được cả những chiến-hạm Âu-Châu thường lai-vãng trên Biển Đông hồi đó.

Chiến tranh Trịnh - Nguyễn

Chiến tranh Trịnh - Nguyễn lần thứ nhất kéo dài đến 45 năm. Trong 45 năm này, nói chung họ Trịnh khởi thế công, họ Nguyễn chủ yếu chỉ làm cái công việc bảo vệ đất đai của họ. Trong tất cả các đợt tấn công, họ Trịnh chủ yếu dùng quân bộ. Năm 1774 khi Hoàng Ngũ Phúc vâng lệnh Trịnh Sâm mang quân vào Nam đánh chúa Nguyễn, quân đội của Trịnh cũng tiến theo đường bộ. Nghĩa là sau khi chiếm châu Bố Chính, quân Trịnh vượt sông Gianh, rồi tiến đến Bồ Đề huyện Minh Linh. Đến đây, Ngũ Phúc cho người cầm thư đưa cho chúa Nguyễn là Nguyễn Phúc Thuần khuyên Phúc Thuầm sớm đầu hàng.

Nguyễn Phúc Thuần một mặt sai bắt Trương Phúc Loan nộp cho Hoàng Ngũ Phúc, và dâng vàng bạc để xin bãi binh, nhưng một mặt khác vẫn đem quân ra chống cự: Nhưng rồi chúa Nguyễn vẫn phải bỏ Phú Xuân. Sau khi chiếm được Phú Xuân, quân Trịnh lại vượt đèo Hải Vân tiến vào Quảng Nam. Đến Quảng Nam, quân Trịnh hầu như kiệt sức. Binh sĩ ốm đau rất nhiều. Chừng một nửa binh sĩ đã chết vì bệnh dịch.

Giả sử quân Trịnh tiến đánh miền Nam theo đường biển, thì quân sĩ đâu có đến nỗi vất vả, khó nhọc như thế.

Như thế không có nghĩa là họ Trịnh quân có thủy quân. Khi lên làm chúa, Trịnh Doanh đã chú ý đến thủy quân. Tháng 6 năm Giáp Tuất (1759), Trịnh Doanh đã tổ chức một cuộc diễn tập thủy quân ở sông Hồng. Sử cũ chép rằng: "Thủy binh bày hàng chiến thuyền ở giữa sông, dung nghi quân sĩ rất chỉnh tề, bơi chèo ngược dòng nước, thuyền phóng đi như bay". Nhưng nói chung, thủy quân xứ Đường ngoài không có gì là hùng mạnh cả. Đó là lý do chủ yếu khiến cho trong tất cả các lần đánh miền Nam, họ Trịnh không dám dùng thủy quân làm lực lượng chính.

Hồi nửa cuối thế kỷ XVIII, Nguyễn Hữu Chỉnh cũng nổi tiếng là một viên tướng có tài chiến đấu trên mặt nước. Khi theo Hoàng Đình Bảo, Nguyễn Hữu Chỉnh lập nhiều chiến công trên mặt biển, cho nên được cử sang chỉ huy đội tuần hải, rồi được cử sang chỉ huy cơ Tiền Ninh thuộc Nghệ An.

Những trận thủy-chiến thời Tây-Sơn

Trong lịch sử Việt Nam, quân Tây Sơn nổi tiếng là đội quân đánh bộ cũng giỏi, mà đánh thủy cũng giỏi.

Năm 1782, Nguyễn Huệ chỉ huy chiến thuyền tiến vào cửa Cần Giờ đánh quân Nguyễn ở Ngã bảy. Quân Nguyễn thua to phải rút về thủ hiểm ở Ba Giòng. Sau đó, Nguyễn Huệ lại đem chiến thuyền đến Lữ Phụ, bày trận quay lưng ra sông đánh quân của Nguyễn Ánh, Quân Tây Sơn đánh rất hăng, phá tan quân Nguyễn. Nguyễn Ánh phải chạy trốn ra đảo Phú Quốc.

Năm 1783, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ lại dẫn thủy quân Tây Sơn vào cửa Cần Giờ đi ngược dòng sông đánh quân của Chu Văn Tiếp. Quân của Chu Văn Tiếp tan vỡ. Nguyễn Ánh lại chạy về Ba Giồng. Nguyễn Hoàng Đức đi hộ vệ Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn bắt sống. Nguyễn Ánh phải cưỡi thuyền chạy ra đảo Côn Lôn. Phó mã Tây Sơn là Trương Văn Đa mang chiến thuyền đuổi theo, suýt bắt được Nguyễn Ánh.

Xem bên trên, chúng ta thấy thủy quân Tây Sơn mỗi lần vào Gia Định, họ tung hoàng ở khắp mọi nơi, họ đánh đâu thắng đấy.

Trận cả phá quân xâm lược Xiêm và quân bản bộ của Nguyễn Ánh đầu năm 1785 lại càng làm cho mọi người phải khâm phục.

Theo yêu cầu của Nguyễn Ánh, vua Xiêm là Chất Tri năm 1784 đã cho hai tướng là Chiêu Tăng và Chiêu Sương đem năm vạn quân và 300 chiến thuyền sang xâm lược miền Gia Định.

Năm 1784 sau khi kéo vào Gia Định, thủy quân Xiêm chiếm Kiên Giang, rồi Trấn Giang, Sa Đéc. Cuối cùng quân Xiêm và quân của Nguyễn Ánh đánh chiếm Trà Tân và Ba Lai, Ba Lai là miền đất thuộc tỉnh Bến Tre sau này nằm ở bờ Nam sông Ba Lai đối diện với thị xã Mỹ Tho nằm ở bờ Bắc. Trà Tân nằm ở tả ngạn sông Mỹ Tho đối diện với mỏm tây của cù lao Năm Thôn.

Chiếm được Trà Tân và Ba Lai, quân Xiêm và quân của Nguyễn Ánh có căn cứ để đánh tỏa ra chiếm địa điểm ngày nay là thị xã Mỹ Tho, Sài Gòn và các địa điểm khác thuộc ba tỉnh miền Đông.

Sau khi đem chiến thuyền vào Sài gòn, Nguyễn Huệ đã nghiên cứu rất kỹ tình hình ta và địch. Ông quyết định muốn tiêu diệt quân Xiêm, phải đánh nhanh, và phải tiêu diệt chúng ở Rạch Gầm - Xoài Mút. Chủ lực quân Xiêm đóng Long Hồ và Trà tân, lừa chúng ra khỏi Long Hồ và Trà Tân rồi nhử chúng vào khúc sông Mỹ Tho từ Rạch Gầm đến Xoài Mút để tiêu diệt chúng là tốt nhất.

Bố trí xong trận địa phục kích Rạch Gầm - Xoài Mút, Nguyễn Huệ cho một đội khinh thuyền ngược dòng sông Mỹ Tho tiến đến Trà Tân hoặc tiến đến gần Long Hồ (Vịnh Long) khiêu chiến. Từ ngày vào Gia Định, quân Xiêm thắng trận luôn luôn; quân của Nguyễn Ánh cùng thắng trận luôn luôn và chưa hề thất trận một lần nào. Thấy quân Tây Sơn kéo đến khiêu chiến, tướng Chiêu Tăng và tướng Chiêu Sương dốc toàn lực ra đuổi đánh với ý định là sau khi đai tiêu diệt cánh quân Tây Sơn đến khiêu chiến, sẽ thừa thắng đánh Mỹ Tho và Sài Gòn để tiêu diệt toàn bộ quân Tây Sơn hay đuổi chúng ra ngoài biển cả.

Khi tung lực lượng ra đánh quân Tây Sơn, tướng Chiêu Tăng và tướng Chiêu Sương lại thấy quân Tây Sơn thua chạy. Họ lại càng chủ quan khinh địch, thúc quân Xiêm đuổi theo quân Tây Sơn. Đến ngã ba sông Cửu Long và sông Cái Bé, quân Tây Sơn men theo cù lao Cồn Tiên, cù lao Cồn Ông mà chạy để rồi rẽ vào sông Mỹ Tho.

Vào sông Mỹ Tho, quân Xiêm thấy khúc sông này quang đãng, họ lại càng thúc chiến thuyền tiến nhanh đuổi quân Tây Sơn. Khi đoàn chiến thuyền Xiêm đã lọt vào trận địa phục kích Rạch Gầm - Xoài Mút, thì từ cửa Rạch Gầm, chiến thuyền Tây Sơn đổ ra đánh quân Xiêm bằng súng lớn. Từ trên bờ sông Mỹ Tho, bộ binh Tây Sơn cũng dùng súng lớn bắn vào chiến thuyền Xiêm. Đội hình đoàn chiến thuyền Xiêm rối loạn. Giữa lúc quân Xiêm đang hoảng hốt, thì từ cửa Xoài Mút, lại có một đoàn chiến thuyền Tây Sơn đổ ra đánh thúc vào giữa, cắc đoàn chiến thuyền Xiêm ra làm hai khúc. Quân Xiêm đang bị đánh tơi bời như thế, thì Nguyễn Huệ lại mang chiến thuyền đến tăng viện cho quân mình. Lực lượng chiến đấu của quân Tây Sơn lại càng dồi dào, tinh thần chiến đấu của họ lại càng phấn chấn.

Toàn bộ chiến thuyền Xiêm bị dồn vào một trận địa chỉ dài có năm hay sáu kí-lô-mét và rộng độ một hoặc hai hai ki-lô-mét trên một khúc sông quang đãng. Việc tiêu diệt chúng bằng súng từ các phía rất thuận lợi.

Quân Xiêm bị hãm vào một tình thế hết sức hiểm nghèo, họ chỉ có thể chọn một trong hai để rồi bị bắn chết hay bị chết đuối ngay tại trận, hoặc nhảy xuống sông liều chết bơi vào bờ để tìm đường chạy trốn. Cuối cùng một toán quân Xiêm chừng độ hai ngàn người trong đó có tướng Chiêu Tăng và tướng Chiêu Sương liều chết đổ bộ lên một địa điểm nào đó trên bờ sông Mỹ Tho để rôi có sống có chết ....... về phía ngày nay là ấp Thượng, ấp Trung. „p Nam, ấp Tây để chạy về địa điểm ngày nay là ấp Bắc. Từ ấp Bắc họ chạy về phía Đồng Tháp Mười rồi vượt Đồng Tháp Mười chạy về Châu Lạp, để rồi từ Châu Lạp chạy về nước.

Như vậy là chỉ trong một trận, quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy đã diệt năm vạn quân Xiêm và hầu như toàn bộ quân bản bộ của Nguyễn Ánh.

Chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút đầu năm 1785 được ghi vào lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam như một trận tiêu diệt chiến lớn vào bậc nhất trong lịch sử dân tộc chúng ta: Chỉ trong một trận, quân Tây Sơn đã tiêu diệt 48000 quân Xiêm và mấy ngàn quân bản bộ của Nguyễn Ánh.

Trận Rạch Gầm - Xoài Mút như một đòn sấm sét đánh vào toàn bộ quân địch, nó làm cho quân bản bộ của Nguyễn Ánh đóng ở Trấn Giang, Trà Ôn, Mân Thít, Sa Đéc, Ba Xắc Ba Lai, Long Hồ tan rã hoàn toàn.

Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập quyển 30 chép rằng sau chiến thằng Rạch Gầm - Xoài Mút, người Xiêm sợ quân Tây Sơn như cọp.

Năm 1786, Nguyễn Huệ lại dùng thủy quân tiến ra Bắc đánh họ Trịnh. Ông sai Nguyễn Hữu Chỉnh đem thủy quân vượt biển ngược dòng sông vào chiếm Vị Hoàng (thị xã Nam Định ngày nay). Chiến thuyền Tây Sơn vào Vị Hoàng, viên trấn thủ Vị Hoàng bỏ chạy. Chỉnh đoạt được tất cả các kho lương có đến một trăm vạn hộc thóc. Chỉnh sai đốt lửa báo tin cho Nguyễn Huệ. Ngày ấy là mồng 6 tháng 6 năm Bính Ngọ (1786).

Nguyễn Huệ dẫn đại đội chiến thuyền đi sau Nguyễn Hữu Chỉnh. Đoàn chiến thuyền của Nguyễn Huệ ra đến Nghệ An, thì gặp gió nồm. Mấy trăm chiến thuyền của ông lướt trên mặt biển như bay, khí thế thật là hùng vĩ. Phụ lão Nghệ An và Thanh Hóa đã chứng kiến các khí thế ấy, họ thua:

- Thật là một hành động ít có ở đời!

Việc quân Tây Sơn chiếm Vị Hoàng làm chấn động Thăng Long và các trấn. Chúa Trịnh Khải vội sai Thái đình hầu Trịnh tự Quyền đem bộ binh xuống Sơn Nam. Định Tích Nhưỡng được lệnh đem thủy quân đến Lỗ Giang đón quân Tây Sơn. Đinh Tích Nhưỡng dàn chiến thuyền thành hàng chữ nhất để đón đánh chiến thuyền Tây Sơn. Đến đêm, Nguyễn Huệ cho năm chiến thuyền tiến thẳng vào hàng trận chiến thuyền của Đinh Tích Nhưỡng. Quân lính của Tích Nhưỡng tranh nhau bắn. Năm chiến thuyền của Tây Sơn không bắn trả lại. Đến sáng, Tích Nhưỡng mới biết năm chiếc thuyền ấy là năm chiếc thuyền không. Thuốc đạn của Tích Nhưỡng đã hết cả rồi. Lúc ấy, chiến thuyền Tây Sơn thuận gió tiến lên, đại bác của Tây Sơn nổ ầm trời. Một cây cổ thụ trúng đạn đổ. Quân của Trịnh Tự Quyền tan vỡ. Đinh Tích Nhưỡng vội chạy trốn. Trấn thủ Sơn Nam là Đỗ thế Dận cũng chạy trốn.

Chiến thuyền Tây Sơn thừa thắng tiến thẳng đến Hiến Doanh (tức Phố Hiến thuộc Hưng Yên cũ). Thăng Long náo động. Trịnh Khải phải gọi lão tướng Hoàng Phùng Cơ trấn thủ Sơn Tây về để chống giữ Thăng Long. Phùng Cơ cho bộ binh đóng ở hồ Vạn Xuân, thủy quân đóng ở bến Thúy Ái nhằm chặn đường quân Tây Sơn tiến vào Thăng Long. Nhưng bộ binh và thủy binh Trịnh bị quân Tây Sơn phá tan. Nguyễn Huệ cho binh sĩ ở trên thuyền vừa hò reo vừa đánh trống tiến thẳng đến bến Tây Luông. Hoàng Phùng Cơ vội chạy trốn. Trịnh Khải mang kiêu binh ra chống cự, nhưng kiêu binh bị quân Tây Sơn đánh bại. Trịnh Khải phải bỏ chạy lên phía Sơn Tây và cuối cùng bị bắt ở làng Hạ Lòi, huyện Yên Lãng, tỉnh Vĩnh Phú.

Năm Mậu Thân (1788-1789) trên dãy Tam Điệp, Nguyễn Huệ tổ chức cuộc hành quân đánh đuổi quân Thanh. Trong ba đạo quân có hai đạo thủy quân. Một đạo do đô đốc Tuyết chỉ huy vượt biển đánh vào miền Hải Dương để diệt quân Thanh ở đó; một đạo do đô đốc Lộc chỉ huy vượt biển tiến vào sông Bạch Đằng, rồi sông Lục Đầu để cuối cùng đổ bộ lên miền Phương Nhỡn (Lục Ngạn) để chặn đánh Tôn Sĩ Nghị ở đấy.

Tài liệu lịch sử không cho biết gì về đạo thủy quân do đô đốc Tuyết chỉ huy. Nhưng về cuộc hành quân của đô đốc Lộc, thì chúng ta được biết rằng đến huyện Phương Nhỡn, bọn Tôn Sĩ Nghị vừa xuống ngựa nghỉ, thì bỗng có tin báo quân Tây Sơn do đô đốc Lộc chỉ huy đang tiến nhanh đến chỗ Tôn Sĩ Nghị đang nghỉ! Thế là Sĩ Nghĩ vội quẳng cả sắc thư, ấn tin, cờ hiệu, bài lệnh, bản đồ rồi cùng bộ hạ chạy trốn cho nhanh để khỏi bị bắt sống cả lũ!

Trong các trận đánh địch, thủy quân Tây Sơn cũng biết sử dụng đặc công và nhờ vậy dễ làm cho địch hoang mang, tan rã.

Sau khi quân Xiêm bị quân Tây Sơn đánh bại vào đầu năm 1785, Nguyễn Ánh dựa vào giai cấp tư bản phương Tây. Bọn tư bản phương Tây đã giúp Nguyễn Ánh súng đạn, người và kỹ thuật đóng tàu biển. Khi Nguyễn Huệ mất, Nguyễn Ánh mở cuộc tấn công quy mô vào lực lượng Tây Sơn. Quân đội của y khi thắng, khi bại. Đến khi mâu thuẫn nội bộ trong phong trào Tây Sơn trầm trọng đến mức bùng ra thành cuộc xung đột công khai, thì Nguyễn Ánh phản công thắng lợi, đánh chiếm được Phú Xuân, rồi đánh chiếm Bắc Hà. Nhà Tây Sơn sụp đổ.

Nguyễn-Huệ với cuộc cách-mạng về Chiến-Lược Thủy-Quân

Trước giai-đoạn suy-tàn của quân-thủy Việt-Nam, chúng ta cũng dã có một cuộc cách-mạng về Chiến-Lược Thủy-Quân. Chỉ tiếc rằng công-trình đó không có người thừa kế

Nhìn các bức họa của Quang-Trung Hoàng-Đế, không ai thấy nhà vua từng tác-chiến trên tàu thuyền. Nhưng theo Giáo-sư Nguyễn-Nhã, Nguyễn-Huệ đã làm một cuộc cách-mạng quân-sự quan-trọng: đó là việc sử-dụng 'Thủy-quân Chiến-Luợc'.

Cuộc tương-tranh Trịnh-Nguyễn kéo dài 45 năm, 7 lần đại-chiến; bất phân thắng bai. Hai bên không có bên nào thắng vì cả hai đều áp-dụng chiến-thuật, chiến-lược cổ-điển. Một khi đới đàu với Chiến-lược mới của Nguyễn-Huệ, cả hai quân-đội đều bị tan rã.

Không phải quân Trịnh hay quân Nguyễn đã không có Thủy-quân. Theo Alexandre de Rhode (Rhode du Vietnam... ), lực-lượng chúa Nguyễn có khoảng 200 chiến-thuyền, còn thủy-quân chúa Trịnh còn nhiều hơn tới ba lần. Tuy vậy thủy-quân của hai Chúa chỉ đóng vai phụ-thuộc hay yểm-trợ, không bao giờ được nắm giữ vị-thế tối quan-trọng như thủy-quân Tây-Sơn.

Trong các cuộc đánh chiếm Gia-Định, Phú-Xuân cũng như ra Bắc-Hà để diệt hai họ Nguyễn, Trịnh; Nguyễn-Huệ luôn tiến đại-quân bằng đường thủy. Nguyễn-Huệ là chiến-lược-gia đại-tài về 'chiến-lược gió mùa', lợI-dụng đường biển và mùa gió đại-thắng địch-quân.

Nguyễn-Huệ thấy rõ vai trò quyết-định của thủy-quân đối với một chiến-trường có bờ biển dài như bờ biển Việt-Nam. Vào thời bấy giờ, đường thủy là phương tiện chính, chuyên chở được nhiều nhất và mau lẹ nhất, rất thích-hợp với đánh nhanh, đánh mạnh và bất ngờ.

Dùng đường thủy lại có thể đánh tập-kích sâu vào hậu-tuyến địch một cách dễ dàng.

Nếu xưa kia, quân Trịnh cũng dùng đường thủy là cốt yếu tiến đánh thốc vào thành Phú-Xuân và hậu-tuyến của đối-phương thì quân Nguyễn thật khó lòng chống đỡ, và chiến-lũy Trường-Dực tất sẽ thành vô-dụng...

Vũ Hữu San

khonglaai
16-03-2006, 12:01 AM
Chào nguoidepSG
Đọc một thôi một hồi cuối cùng khonglaai chả tìm được cái mình cần. Vậy tôi muốn viết vài lời để tỏ tường hơn:
Lời thứ nhất: NDSG chứng minh cho tôi biết cái Đông Chu Liệt Quốc dã sử kia cùng với mấy bài của Vũ Hữu San và Trần Trọng Kim cái nào sử thiệt hơn cái nào?
Lời thứ hai: khonglaai chả lấy Đông Chu Liệt Quốc ra chứng minh cái gì bao giờ. Chỉ bảo nguidepSG đọc mà ngẫm nghĩ thui mà. Nhưng NDSG lại bảo khonglaai tẩu hỏa nhập ma là bị tẩu hỏa nhập ma chỗ nào? Cái mà khonglaai thấy có dịp khonglaai sẽ nói.
Lời thứ ba: Dẫn cho nhiều nhưng NDSG vẫn chưa trả lời ba câu hỏi chính mà khonglaai đã đặt ra: 1. Người Giao chỉ khác với người Việt Câu Tiễn? Dẫn bằng chứng ra. 2. Vì sao chứng minh Kinh Dịch của người Việt phải cần chứng minh người Việt có chữ viết. 3. Cần có bao nhiêu chữ Việt để tuyên bố người Việt có Việt ngữ riêng?
Mong bạn đừng trích dẫn linh tinh. Trả lời trọng tâm cho. Mấy bài viết của mấy ông Trần Trọng Kim và Vũ Hữu San cũng chưa phải là bằng chứng lịch sử đâu. Và càng không phải là bằng chứng để trả lời những câu hỏi của khonglaai đã hỏi cho bạn.
Thân
khonglaai

Chính Ấn
16-03-2006, 12:07 AM
Thực ra chưa hẳn có chữ viết mới có kinh dịch. Lịch sử của loài người đã từng có hơn 1 nền văn minh vô cùng rực rỡ nhưng lại không có chữ viết. Chờ mai tôi trích dẫn cho các bạn đọc.

Chính Ấn
16-03-2006, 11:24 PM
Thực ra chưa hẳn có chữ viết mới có kinh dịch. Lịch sử của loài người đã từng có hơn 1 nền văn minh vô cùng rực rỡ nhưng lại không có chữ viết. Chờ mai tôi trích dẫn cho các bạn đọc.

Em gái xinh đẹp cho anh khất 1 ngày nữa. Hôm nay đi học về trễ quá em ạ.

tubinh_giagia
17-03-2006, 04:15 AM
Tubinh-giagia viết:
Nguyên văn bởi Thiên Sứ
Msg 12 of 32: Đã gửi: 28 June 2005 lúc 12:30am | Đã lưu IP
Tôi hoàn toàn đồng ý với ban điều hành:
Cho hiển thị nhưng khoá chủ đề lại.
Có thể không cần sửa chữa thêm bớt gì cả. Chỉ cần khoá lại thôi.
Quí vị quan tâm thân mến.
Cái chủ đề mà tôi đề nghị khoá ở trên là topic liên quan đến cuộc tranh luận vô bổ giữa tôi với một người trên tuvilyso.com, chứ không đề nghị khoá mục "Văn hiến Lạc Việt". Xin lưu ý để quí vị không hiểu lầm tôi.


:) Thiên Sứ xem ra rất quan tâm chuyện Chủ Đề của Thiên Sứ (của mình mà) bị hiểu lầm này nọ v.v... hén VÀ cũng rất chủ quan khi phán đoán về kẻ đang chất vấn Thiên Sứ đó nghen...


Ở đây, có một số người đã biết tôi đã nhiều lần có những cuộc tranh luận trên về các luận điểm của tôi. Nhưng những cuộc tranh luận ấy, có một vài kẻ ngang ngược, hợm hĩnh đã phá ngang làm mất tính chất học thuật nghiêm túc. Bởi vậy tôi từ chối tranh luận.
Nay anh Tubinh_giagia nêu lại vấn đề này. Rút kinh nghiệm và qua văn phong của anh ta, tôi thấy khổng thể coi anh ta là một đối tượng tranh luận.


Chuyện ai đã từng " ngang ngược, hợm hĩnh đã phá ngang làm mất tính chất học thuật nghiêm túc " thì là chuyện giữa họ và Thiên Sứ, nhưng giữa chúng ta thì mình chỉ đang dùng chính lý luận của Thiên Sứ mà chất vấn tính NHẤT QUÁN của Thiên Sứ lập luận đó thôi mà???

Thay vì "thảo luận học thuật nghiêm túc" thì Thiên Sứ dùng lời khiếm nhã, đả kích nhân cách mình hết lần này đến lần khác... chỉ vì mình đã chất vấn đến điểm thiếu NHẤT QUÁN trong lập luận của Thiên Sứ. :)

Qua văn phong của mình: có phải là mình " ngang ngược, hợm hĩnh đã phá ngang làm mất tính chất học thuật nghiêm túc " hay không hay chỉ là sự phán đoán chủ quan của Thiên Sứ để né tránh lời chất vấn của mình hả?



Anh ta chưa hề thể hiện khả năng có một lý luận cao cấp đủ để bàn về những vấn đề liên quan. Nếu một người với những lập luận thể hiện trong các bài viết ở ngay trong topic này như anh Tubinh-giagia mà phản biện được tôi thì chắc tôi không còn như ngày nay.


:) Lại tự đề cao bản thân của Thiên Sứ một cách đặc chất Thiên Sứ nữa đó nha.... và có phần khôi hài; nhưng mình sẽ hỏi như vầy:

Đã có ai trong những kẻ " ngang ngược, hợm hĩnh đã phá ngang làm mất tính chất học thuật nghiêm túc " hoặc có những người thảo luận nghiêm túc (không chừng là những kẻ mà theo Thiên Sứ báo cáo lại rằng: Mặc dù họ có thể chưa công nhận - nhưng - còn phải thừa nhận lập luận của tôi là sáng tạo và hợp lý, nhất quán) đưa ra lời chất vấn như mình như sau:


Đề tài: Kim khởi Trường Sinh ở cung Tỵ


Trích:
Nguyên văn bởi Tubinh_giagia
Để cho các bạn hiểu khái quát vấn đề mình đang chất vấn Thiên Sứ, nhưng Thiên Sứ thì đẩy đưa chuyện đi tìm các sách, các tiểu luận của Thiên Sứ để tìm câu trả lời trong sự luận lý NHẤT QUÁN mà Thiên Sứ khẳng định rằng: "Kể từ năm đầu tiên viết sách 1998 cho đến lần tái bản 2001 - Thiên Sứ tôi vẫn nhất như với quan điểm của mình và chỉ bổ sung và mở rộng trong cả lý thuyết lẫn ứng dụng."



Nói về Hà Đồ thì ngoài trung cung, có 4 phương chính (Đông, Tây, Nam, Bắc) và mỗi phương vị gồm cả 2 con số Âm Dương và sau đó Ngũ Hành được tra vào để cụ thể hóa sinh thành hoại diệt, tiêu trưởng của Âm Dương như sau:

Đông = Mộc (3,8)
Tây = Kim (4,9)
Nam = Hỏa (2,7)
Bắc = Thủy (1,6)

và Trung Cung = Thổ (5,10)

Phương hướng là ĐỊNH VỊ, các cặp độ số âm dương LUÂN VỊ nên khi sang Lạc Thư thì cặp độ số âm dương từ Hà Đồ phương vị Tây và Nam đã đổi chỗ NHƯNG phương hướng Ngũ Hành vẫn không thay đổi!

Qua đến Lạc Thư thì nẩy sinh Tứ Di (4 phương 8 hướng) với những con số như sau:

|ĐN: [4]|CN: [9]|TN: [2]
===================
|CĐ: [3]|TC: [5]|CT: [7]
===================
|ĐB: [8]|CB: [1]|TB: [6]

CĐ,CT,CN,CB = Chính (Đông, Tây, Nam, Bắc)
ĐB, ĐN, TB, TN = Tứ di
TC = Trung cung

tương đương với phương vị Bát Quái như sau:

|ĐN: Tốn [4]|CN: Ly [9]|TN: Khôn [2]
==============================
|CĐ: Chấn [3]|TC: ĐT [5]|CT: Đoài [7]
==============================
|ĐB: Cấn [8]|CB: Khảm [1]|TB: Càn [6]


ĐT = Để Trống, không có quẻ nào


Các bạn đã có thấy, Hà Đồ chưa có bàn đến tứ di (4 hướng góc); thế nhưng Thiên Sứ lại nhiều lần xác định là Hậu thiên Lạc Việt - đổi chỗ Tốn Khôn - và liên hệ với Hà Đồ thì Hậu Thiên đây là Lạc Thư mới có 2 quẻ Tốn ở Đông Nam và Khôn ở Tây Nam để mà có sự việc đổi chỗ Tốn Khôn; thế nhưng liên hệ với Hà Đồ như thế nào thì mời các bạn tiếp tục theo dõi... :)

Vì rằng độ số 2 của quẻ Khôn ở Lạc Thư hay là Hậu Thiên được Thiên Sứ duy trì bản chất ngũ hành ở Hà Đồ hay là Tiên Thiên là Âm Hoả nên độ số 4 của quẻ Tốn ở Lạc Thư hay là Hậu Thiên cũng được Thiên Sứ duy trì bản chất ngũ hành ở Hà Đồ hay là Tiên Thiên là Âm Kim - nên mình muốn Thiên Sứ thừa nhận và xác định thôi; vậy mà Thiên Sứ cũng đẩy đưa không trả lời thẳng vấn đề http://www.vietlyso.com/forums/images/smilies/wbyim04.gif ...

Tại sao?

Nếu như Thiên Sứ thừa nhận thì sẽ rơi vào sự lý luận không còn NHẤT QUÁN nữa mà Thiên Sứ đã tự đề cao trước đó; vì như vầy:



1) Tỵ Âm Hoả trên Hà Đồ chính vị của Khôn thổ nên sinh Dậu Kim. Tức là Thổ sinh Kim theo đúng thuận tự tương sinh của Ngũ hành: Thổ sinh Kim.






là Thiên Sứ phải dùng đến tính chất Thổ của quẻ Khôn ở cung Tỵ để khai triển định luật ngũ hành tương sinh Thổ sinh Kim chứ không phải là độ số 2 Âm Hỏa (Hà Đồ) - và kế đến thì lại dùng độ số 4 Âm Kim (Hà Đồ) để lý giải cho Kim sinh Thủy ở cung Thân; vì quẻ Tốn vẫn còn mang tính chất Mộc (sao lại Mộc sinh Thủy đây?!)

--- oOo ---

Phần này thì Thiên Sứ đã viện cớ quá ư là bận rộn... rồi bây giờ thì "từ chối trả lời cho cá nhân bạn [mình]" luôn...



Và những lời chất vấn ngoài lề:


Tại sao Lục Thập Hoa Giáp phải nghịch chuyển? (Thiên Sứ thì suy luận ra là phải thuận chuyển)

Trong hai bảng Tiên Thiên và Hậu Thiên bát quái đều có sự đối xứng mà không cần Thiên Sứ phải hoán vị Tốn, Khôn.... Thiên Sứ đã có thấy được sự đối xứng đó chưa?

Ngay cả những con số trong Lạc Thư cộng chéo ngang có cùng con số 15, có lý do gì?

v.v...


Cứ thành thật mà trả lời mình đi nhé! :)





# Nhưng tôi sẵn sàng chỉ dẫn một cách tường tận cho những ai ham hiểu biết và tôn trong lý thuyết của tôi.
# Tôi sẵng sàng tranh luận với các học giả có tinh thần khoa học nghiêm túc.
# Tôi sẵn sàng trình bày và tranh luận trước các cuộc hội thảo trong và ngoài nước.
Kính thưa quí vị.
Tôi không có thời gian để quan tâm và tham gia đến các cuộc tranh luận với một hai cá nhân mà tôi chưa thấy thể hiện tài năng, ngoài một vài người ca ngợi.
Hy vọng được sự thông cảm của quí vị,
Thiên Sứ

:) tôn trọng lý thuyết của tôi - Đương nhiên là tôn trọng lý thuyết đó của Thiên Sứ chứ; nên mới có sự chất vấn của mình. Tôn trọng chứ đâu phải ất cũng gật mà giáp cũng ừ đâu... trong khi lý thuyết của Thiên Sứ cần sự NHẤT QUÁN (không phải chỉ giới hạn ở tầm mức cá nhân của Thiên Sứ đâu nha) mà lại còn đang bị chất vấn thế kia - sao Thiên Sứ lại đi phán đoán một cách chủ quan và dùng lời khiếm nhã đả kích kẻ đối thoại thế nhỉ???

Chẳng lẽ, phải ất cũng gật mà giáp cũng ừ mới là tôn trọng lý thuyết của Thiên Sứ, mới được Thiên Sứ để mắt xanh tới mà tranh luận à??? :)



Tubinh_giagia

tubinh_giagia
17-03-2006, 07:55 AM
Chào TuBinh_GiaGia,

======Nguyên văn bởi Vân Đằng Thái Thứ Lang
Kình hãm tại Dần, Thân tai hại nhất cho các tuổi Giáp, Mậu. Thường phá tán tổ nghiệp, trong mình mang tật, phải lìa bỏ quê quán, cuộc đời không mấy khi sung sướng. Nếu có thêm nhiều Cát Tinh dù có cực khổ nhưng vẫn là người khéo léo, có tay nghề Thủ Công, nếu ly hương chịu khó phấn đấu thì hậu vận cũng được an nhàn.
===============================================

Xin hỏi sách của Vân Đằng Thái Thứ Lang đăng đoạn trên ở trang nào?

Bạn viết rất hay, đáng nể, ngọai trừ đoạn trên thì tôi không rõ xuất xứ !

Nhất Chi Viên


Chắc rằng Nhất Chi Viên đã đọc thấy đoạn trên qua phần đối đáp dưới đây rồi vậy!


1. Kình hãm tại Dần, Thân tai hại nhất cho các tuổi Giáp, Mậu.

Cách thức trên về Kình cư Dần Thân ghi trong sách Tử Vi Hàm Số trang 354, và cùng trang thấy ghi sai Kình an Mão Dậu nguy khốn cho tuổi Giáp Mậu.

Rất có thể tác giả lập lại cái sai của người đi trước, rất có thể trong cơn mệt mỏi có người ghi nhầm can này qua can kia và chi này thành chi kia là chuyện bình thường.



Quả nhiên Rất có thể tác giả Tử Vi Đẩu Số Tân Biên (VĐTTL) trong cơn mệt mỏi hoa mắt Kình hãm tại Dần, Thân tai hại nhất cho các tuổi Giáp, Mậu nhưng kế đến tác giả Tử Vi Hàm Số (NPL) trang 354 lại ghi sai Kình an Mão Dậu nguy khốn cho tuổi Giáp Mậu lập đi lập lại câu phú đoán trên hoặc họ cũng chưa bao giờ có cơ hội lập lá số nào rồi luận qua Kình hãm tại Dần, Thân tai hại nhất cho các tuổi Giáp, Mậu hay sao? ... :)

Trừ phi, sao Kình từng có được an ở Dần, Thân vì rằng âm Can theo Tử Bình thì Kình có ở Tứ Sinh vậy!

Cũng cần nên chú ý câu phú này: Dương cư Đoài (Dậu cung) Chấn (Mão cung), lục Mậu lục Giáp phúc nan toàn âm hưởng chuyện lạ lẩm về chỗ an Kình cho lục Mậu lục Giáp vậy! Thế nhưng các tác giả sách Tử Vi lại cứ hình như mệt mỏi hoa mắt hoặc lại ghi sai mãi thôi... :) và kẻ hậu học không bao giờ phản hồi thông báo để sửa chửa ư!?




2. Kình Dương Tí Ngọ Mão Dậu phi yểu chiết nhi hình thương...

Cần phải thận trọng trong lúc dùng phú đoán.

Ý của tiền nhân đôi khi ngắn gọn, cường điệu thành ra khó hiểu, có vẽ cứng ngắc.
Ngay trang 156 và 157 của sách Thái Thứ Lang, có phần nói rõ về Kình Dương cư Ngọ khi phối hợp với những sao khác cho cung Ngọ.

Ngô Thời Nhậm (Bính Dần tháng 9, ngày 11 AL, giờ Thìn) mệnh ôm Kình Dương tại Ngọ, đắc 2 hóa Khoa Quyền hiển hách, thiếu Lộc nên không giàu lừng lẫy về văn và võ nghiệp, duy cũng bị đánh đến chết (về nhà chết hay chết ngay tại văn miếu) là do cung Tật xấu (VCD Kỵ Riêu Không Hỏa) có nhiều sao mờ ám nên thiên hạ đồn ông đó cũng hành động bất phân minh, làm chết tam phụ (3 nguời cha). Kình Dương nằm trong mệnh chủ hình thương yểu triết làm đương số không qua nổi chặng đường lượn dốc bị Thiên Thương ra tay đánh trọng thương bầm dập trong cung Nô đem lại tai họa nát thân (Kình Dương sát thủ hình thương) mặc dù có Khoa cứu giúp nhưng không chịu nổi ân oán đằng đằng.

Xấu hay tốt của lời phú là do mình vận dụng mà thôi, chớ nên bắt bẽ tiền nhân khi không đọc hết 2 trang trong sách !

Nhất Chi Viên

Phán đoán chủ quan thế, :) vậy thì chỉ có mình Nhất Chi Viên mới đọc xong 2 trang đó à? Thế Nhất Chi Viên hiểu ý tiền nhân ra sao?

Chỉ có cách Đồng, Âm phùng Phượng, Giải và vắng bóng lục Sát tinh, Hình, Thất sát mới được thôi??

Giả hoặc có bộ Hóa - Khoa, Quyền như Ngô Thời Nhậm vẫn không thoát họa nát thân... thì còn tai họa nào hơn cho những ai sinh năm can Dương chứ!???




Tubinh_giagia

Takenoeda
21-03-2006, 02:09 PM
TB_GiaGia ớ ơ,

Cậu chỉ giỏi đánh trống lãng, đọc thì nhiều nhưng lúc vận dụng hay chứng minh thì nhãm nhí lắm đó nghen, TB_GiaGia gán cho cố tiền bối Vân Đằng Thái Thứ Lang là người ngờ nghệch tức là chê sư phụ đó ngu, dõm quá hén, bây giờ Mổ lập lại lần nữa cho TB_GiaGia thấy vết chân của mình méo xẹo trên cát đó,

Ấy vậy mà vẫn có những câu phú đến ngờ nghệch:

Trích: Nguyên văn bởi Vân Đằng Thái Thứ Lang


Kình hãm tại Dần, Thân tai hại nhất cho các tuổi Giáp, Mậu. Thường phá tán tổ nghiệp, trong mình mang tật, phải lìa bỏ quê quán, cuộc đời không mấy khi sung sướng. Nếu có thêm nhiều Cát Tinh dù có cực khổ nhưng vẫn là người khéo léo, có tay nghề Thủ Công, nếu ly hương chịu khó phấn đấu thì hậu vận cũng được an nhàn.

Dần, Thân bao giờ có Kình cho các tuổi Giáp, Mậu mà chú giải như thế?

TB_GiaGia chê bai người đã chết tức cố tiền bối Vân Đằng vốn dĩ không viết câu đó trong sách của cụ thì TB_GG tội nặng đó, nhất là cậu là người theo Hán (không G) Học chỉ cách làm người quân tử thì phải rất cẫn thận để không người khác tưởng cậu là đại cao thủ chê người khác thì người khác sẽ bị tiêu tán đường, ai tin liền thì mất cả bồ lúa giống thành tội của ai hở ?

Cậu phải xin lỗi công khai là cậu lỡ chê bai Vân Đằng là sai, chớ nhập nhằng kẻo người đời cười bạn chỉ muốn đem tên tuổi tiền bối ra làm trò hề để cậu nổi danh đó hén. --hu--


Nếu cậu nhận cái sai đó thì tôi còn chỉ thêm cho cậu còn không thì tôi im vì đem bí quyết võ công truyền ra trúng kẻ gian học vá chỗ hổng sử dụng hại người thì thành hổ dữ biết bay làm sao đây. hihi.

Thiên Sứ
21-03-2006, 02:11 PM
Tử Bình_giagia thân mến.
Tôi thấy bạn thể hiện mình ở chỗ đòi chất vấn người này người nọ và cả với tôi.
Thành thật mà nói với bạn nhiều lần: Tôi khuyên bạn nên tự chất vấn mình đi đã: Bạn đã thể hiện tính xứng đáng được chất vấn người khác như thế nào. Nếu tôi nhận thấy bạn quả là xứng đáng thì tôi sẽ trả lời chất vấn của bạn.
Tôi không có ý làm bạn buồn. Nhưng tôi thành thật nói với bạn là:
Nếu tầm cỡ như bạn mà chất vấn được tôi trên tinh thần khoa học thì chắc tôi không có mặt ở trên web ngay cả từ thời Tử Vi Lý số.
Tôi nhận thấy bạn chẳng đóng góp được gì cho diễn đàn này. Sự chất vấn của bạn không hề làm sảng tỏ tính học thuật của khoa Tử Bình mà bạn lấy tên là Tubinh_giagia.
Bạn nên xem lại bạn đi.
Thông cảm nha.
Tôi lại bận rồi.
Thiên Sứ

Huyền Không
22-03-2006, 01:12 AM
TB_GiaGia chê bai người đã chết tức cố tiền bối Vân Đằng vốn dĩ không viết câu đó trong sách của cụ thì TB_GG tội nặng đó, nhất là cậu là người theo Hán (không G) Học chỉ cách làm người quân tử thì phải rất cẫn thận để không người khác tưởng cậu là đại cao thủ chê người khác thì người khác sẽ bị tiêu tán đường, ai tin liền thì mất cả bồ lúa giống thành tội của ai hở ?
.

Đừng vội nói bạn tb_giagia vậy, nhỡ đâu :" thục nữ yểu điệu" thì cần gì phải quân tử với lại khổng G _!_

tubinh_giagia
22-03-2006, 02:44 AM
TB_GiaGia ớ ơ,

Cậu chỉ giỏi đánh trống lãng, đọc thì nhiều nhưng lúc vận dụng hay chứng minh thì nhãm nhí lắm đó nghen, TB_GiaGia gán cho cố tiền bối Vân Đằng Thái Thứ Lang là người ngờ nghệch tức là chê sư phụ đó ngu, dõm quá hén, bây giờ Mổ lập lại lần nữa cho TB_GiaGia thấy vết chân của mình méo xẹo trên cát đó,


:) Takenoeda hãy giở tự điển ra xem chữ "ngờ nghệch" có giống như sự suy diễn "tức là....." của Takenoeda không nha...



Ấy vậy mà vẫn có những câu phú đến ngờ nghệch:

Trích: Nguyên văn bởi Vân Đằng Thái Thứ Lang


Kình hãm tại Dần, Thân tai hại nhất cho các tuổi Giáp, Mậu. Thường phá tán tổ nghiệp, trong mình mang tật, phải lìa bỏ quê quán, cuộc đời không mấy khi sung sướng. Nếu có thêm nhiều Cát Tinh dù có cực khổ nhưng vẫn là người khéo léo, có tay nghề Thủ Công, nếu ly hương chịu khó phấn đấu thì hậu vận cũng được an nhàn.

Dần, Thân bao giờ có Kình cho các tuổi Giáp, Mậu mà chú giải như thế?

TB_GiaGia chê bai người đã chết tức cố tiền bối Vân Đằng vốn dĩ không viết câu đó trong sách của cụ thì TB_GG tội nặng đó, nhất là cậu là người theo Hán (không G) Học chỉ cách làm người quân tử thì phải rất cẫn thận để không người khác tưởng cậu là đại cao thủ chê người khác thì người khác sẽ bị tiêu tán đường, ai tin liền thì mất cả bồ lúa giống thành tội của ai hở ?


Dần, Thân bao giờ có Kình cho các tuổi Giáp, Mậu mà chú giải như thế?

là một câu hỏi hàm ý phủ định cái chuyện Kình ở Dần, Thân cho các tuổi Giáp, Mậu - thế thôi! :) Chứ tội tình gì ở mình mà Takenoeda hăm với he...


Cậu phải xin lỗi công khai là cậu lỡ chê bai Vân Đằng là sai, chớ nhập nhằng kẻo người đời cười bạn chỉ muốn đem tên tuổi tiền bối ra làm trò hề để cậu nổi danh đó hén. --hu--


Nếu cậu nhận cái sai đó thì tôi còn chỉ thêm cho cậu còn không thì tôi im vì đem bí quyết võ công truyền ra trúng kẻ gian học vá chỗ hổng sử dụng hại người thì thành hổ dữ biết bay làm sao đây. hihi.

Muốn làm gì thì mặc tình Takenoeda, cũng như điều mình muốn viết - VIẾT; thế là xong!

Hết chuyện... :)


Tubinh_giagia

tubinh_giagia
22-03-2006, 03:14 AM
Tử Bình_giagia thân mến.
Tôi thấy bạn thể hiện mình ở chỗ đòi chất vấn người này người nọ và cả với tôi.


:) Thiên Sứ hiểu cái nghĩa chất vấn một cách hạn hẹp hay đã sẵn Thiên Kiến về mình?


Thành thật mà nói với bạn nhiều lần: Tôi khuyên bạn nên tự chất vấn mình đi đã: Bạn đã thể hiện tính xứng đáng được chất vấn người khác như thế nào. Nếu tôi nhận thấy bạn quả là xứng đáng thì tôi sẽ trả lời chất vấn của bạn.
Tôi không có ý làm bạn buồn. Nhưng tôi thành thật nói với bạn là:
Nếu tầm cỡ như bạn mà chất vấn được tôi trên tinh thần khoa học thì chắc tôi không có mặt ở trên web ngay cả từ thời Tử Vi Lý số.



chất vấn chỉ là một cách đối thoại mà hỏi lý do để rõ phải trái thôi VÀ nhất là sự NHẤT QUÁN của Thiên Sứ có vấn đề cần làm sáng tỏ - vậy mà ngoài cái chuyện thể hiện bản thân Thiên Sứ, đề cao tinh thần khoa học để đả kích nhân cách mình thì chả có tí khoa học nào cả :) cũng như chưa hồi đáp được sự chất vấn của mình mà..., phải không nào?

Đó là một sự việc hiển nhiên!



Tôi nhận thấy bạn chẳng đóng góp được gì cho diễn đàn này. Sự chất vấn của bạn không hề làm sảng tỏ tính học thuật của khoa Tử Bình mà bạn lấy tên là Tubinh_giagia.
Bạn nên xem lại bạn đi.
Thông cảm nha.
Tôi lại bận rồi.
Thiên Sứ

Vô duyên! :) Thiên Sứ lại làm mình phải mắng yêu Thiên Sứ đấy và phải phì cười... Bây chừ định attack luôn cả cái nick của mình nữa đấy à?! http://www.vietlyso.com/forums/images/smilies/wbyim04.gif

Mà nè, không phải tự đề cao bản thân lên là Thiên Sứ bổng dưng ở trên cao đâu nhé... trong khi:


Đề tài: Kim khởi Trường Sinh ở cung Tỵ

Để cho các bạn hiểu khái quát vấn đề mình đang chất vấn Thiên Sứ, nhưng Thiên Sứ thì đẩy đưa chuyện đi tìm các sách, các tiểu luận của Thiên Sứ để tìm câu trả lời trong sự luận lý NHẤT QUÁN mà Thiên Sứ khẳng định rằng: "Kể từ năm đầu tiên viết sách 1998 cho đến lần tái bản 2001 - Thiên Sứ tôi vẫn nhất như với quan điểm của mình và chỉ bổ sung và mở rộng trong cả lý thuyết lẫn ứng dụng."



Nói về Hà Đồ thì ngoài trung cung, có 4 phương chính (Đông, Tây, Nam, Bắc) và mỗi phương vị gồm cả 2 con số Âm Dương và sau đó Ngũ Hành được tra vào để cụ thể hóa sinh thành hoại diệt, tiêu trưởng của Âm Dương như sau:

Đông = Mộc (3,8)
Tây = Kim (4,9)
Nam = Hỏa (2,7)
Bắc = Thủy (1,6)

và Trung Cung = Thổ (5,10)

Phương hướng là ĐỊNH VỊ, các cặp độ số âm dương LUÂN VỊ nên khi sang Lạc Thư thì cặp độ số âm dương từ Hà Đồ phương vị Tây và Nam đã đổi chỗ NHƯNG phương hướng Ngũ Hành vẫn không thay đổi!

Qua đến Lạc Thư thì nẩy sinh Tứ Di (4 phương 8 hướng) với những con số như sau:

|ĐN: [4]|CN: [9]|TN: [2]
===================
|CĐ: [3]|TC: [5]|CT: [7]
===================
|ĐB: [8]|CB: [1]|TB: [6]

CĐ,CT,CN,CB = Chính (Đông, Tây, Nam, Bắc)
ĐB, ĐN, TB, TN = Tứ di
TC = Trung cung

tương đương với phương vị Bát Quái như sau:

|ĐN: Tốn [4]|CN: Ly [9]|TN: Khôn [2]
==============================
|CĐ: Chấn [3]|TC: ĐT [5]|CT: Đoài [7]
==============================
|ĐB: Cấn [8]|CB: Khảm [1]|TB: Càn [6]


ĐT = Để Trống, không có quẻ nào


Các bạn đã có thấy, Hà Đồ chưa có bàn đến tứ di (4 hướng góc); thế nhưng Thiên Sứ lại nhiều lần xác định là Hậu thiên Lạc Việt - đổi chỗ Tốn Khôn - và liên hệ với Hà Đồ thì Hậu Thiên đây là Lạc Thư mới có 2 quẻ Tốn ở Đông Nam và Khôn ở Tây Nam để mà có sự việc đổi chỗ Tốn Khôn; thế nhưng liên hệ với Hà Đồ như thế nào thì mời các bạn tiếp tục theo dõi... :)

Vì rằng độ số 2 của quẻ Khôn ở Lạc Thư hay là Hậu Thiên được Thiên Sứ duy trì bản chất ngũ hành ở Hà Đồ hay là Tiên Thiên là Âm Hoả nên độ số 4 của quẻ Tốn ở Lạc Thư hay là Hậu Thiên cũng được Thiên Sứ duy trì bản chất ngũ hành ở Hà Đồ hay là Tiên Thiên là Âm Kim - nên mình muốn Thiên Sứ thừa nhận và xác định thôi; vậy mà Thiên Sứ cũng đẩy đưa không trả lời thẳng vấn đề http://www.vietlyso.com/forums/images/smilies/wbyim04.gif ...

Tại sao?

Nếu như Thiên Sứ thừa nhận thì sẽ rơi vào sự lý luận không còn NHẤT QUÁN nữa mà Thiên Sứ đã tự đề cao trước đó; vì như vầy:



1) Tỵ Âm Hoả trên Hà Đồ chính vị của Khôn thổ nên sinh Dậu Kim. Tức là Thổ sinh Kim theo đúng thuận tự tương sinh của Ngũ hành: Thổ sinh Kim.





là Thiên Sứ phải dùng đến tính chất Thổ của quẻ Khôn ở cung Tỵ để khai triển định luật ngũ hành tương sinh Thổ sinh Kim chứ không phải là độ số 2 Âm Hỏa (Hà Đồ) - và kế đến thì lại dùng độ số 4 Âm Kim (Hà Đồ) để lý giải cho Kim sinh Thủy ở cung Thân; vì quẻ Tốn vẫn còn mang tính chất Mộc (sao lại Mộc sinh Thủy đây?!)

--- oOo ---

Phần này thì Thiên Sứ đã viện cớ quá ư là bận rộn... rồi bây giờ thì "từ chối trả lời cho cá nhân bạn [mình]" luôn...


Và những lời chất vấn ngoài lề:



Tại sao Lục Thập Hoa Giáp phải nghịch chuyển? (Thiên Sứ thì suy luận ra là phải thuận chuyển)

Trong hai bảng Tiên Thiên và Hậu Thiên bát quái đều có sự đối xứng mà không cần Thiên Sứ phải hoán vị Tốn, Khôn.... Thiên Sứ đã có thấy được sự đối xứng đó chưa?

Ngay cả những con số trong Lạc Thư cộng chéo ngang có cùng con số 15, có lý do gì?

v.v...



Cứ thành thật ăn ngay nói thẳng mà trả lời mình đi nhé! :) Không biết thì nói không biết; biết thì nói biết OK!?


Tubinh_giagia

Thiên Sứ
22-03-2006, 08:23 AM
Tubinh_giagia viết:
Cứ thành thật ăn ngay nói thẳng mà trả lời mình đi nhé! :) Không biết thì nói không biết; biết thì nói biết OK!?
Thành thật hay giả dối không phải là vấn đề tôi phải đặt ra với bạn. Tôi thật sự chưa hề giao tiếp với bạn trên diễn đàn. Nhưng qua văn phong chê bai, chất vấn người này người khác chính là sự hợm hĩnh tự đề cao mình.
Bạn phải chứng tỏ bạn rất xứng đáng chất vấn người khác thì người ta mới trả lời bạn chứ nhỉ! Ngoài Hoá Lộc xưng tụng bạn là "Đại đại cao thủ" thì tôi chẳng thấy bạn làm được cái gì chứng tỏ điều này. Thí dụ như xem dùm cho một người nào đó gặp cảnh khó khăn trên diễn đàn chẳng hạn. Hay là bạn sợ sai nên nó không vinh quang lắm. Còn mấy cái lý luận mơ hồ kiểu như bạn thì đầy rẫy trên thế gian.
Khi nào tôi thấy bạn dám coi giúp người khác thì dù bạn coi sai tôi cũng còn nể bạn có tâm thì mới trả lời bạn được.
Tôi không thiếu gì người chất vấn nặng ký hơn bạn nhiều. Mọi chuyện đã ngã ngũ, bây giờ lại phải chứng minh lại với một người như bạn mà tôi chẳng hiểu mô tê gì thì ngay chính bạn cũng thấy mất thời giờ.
Bạn thông cảm nha.
Thiên Sứ

Takenoeda
22-03-2006, 09:33 AM
Mấy ngày nay qua lại mấy chưởng với TuBinh_GiaGia, Takenoeda đã thấm mệt, lại có bạn mách coi chừng đụng nhằm Lã Mai Nương. Lòng sợ hãi, nhìn lại lòng bàn tay của mình đã dính đầy son phấn của kiều nữ hóa trang thành ông nội của mình và mọi người. Trời đất, chắc phải về đọc đại bi chú để cầu an giải nạn vì kiếp số của mình vốn bị khốn khổ vì phái nữ.

Tuyên bố còn đánh nhau với Nàng thì mình đúng là 'ngờ nghệch' nhất tại đây.

Thôi mình đi kiếm chỗ rữa mặt, nói tóm lại kỳ này thiệt tình nàng coi bộ 'hết giờ' khi vu cáo sư phụ Vân Đằng sai ra làm sao trong sách của cụ ấy.

hihi,

Takenoeda

long nguyen quang
22-03-2006, 09:52 AM
-hihi- Chào Takenoeda, Bạn phát hiện Tubinh_giagia là Lã mai nương hả? Thật không bạn? Mình là Cam Tử Long đây, mình đang đi tìm Lã mai nương mờ mắt mà chưa thấy, may mà bạn chỉ ra, cảm ơn bạn nhé , hihi -hihi-

Takenoeda
22-03-2006, 10:05 AM
hihi,

Chiện quân cơ tối mật cần giữ phải sụyt sụyt, lại còn khai cả sổ quân bạ thì cở song long cũng tiêu luôn, nào Cam nào Quít đừng có giỡn, coi chừng 'hết giờ ' với nàng !

Cỡ người đẹp võ công cái thế với Kình là đao thần tôi luyện trong miếu linh còn Đà chính là dược liệu mê hồn thả nhẹ làm ngây ngất lòng cao thủ đường mây xứ lạnh, làm tiên tán đường anh hào hảo ngọt giai nhân. Đao pháp quá lợi hại, thoát chết là may, Mổ chỉ chụp được cái hài màu hồng lúc nàng nhảy bay qua tường chạy trốn, còn cái túi thơm của nàng rơi ra, chắc các hạ đang ôm vào lòng hít hà mãi.

Takenoeda

Chính Ấn
22-03-2006, 03:11 PM
He he, các bác cứ tán chuyện mãi. Không phải con gái đâu, nhà ngươi đừng tung hỏa mù nhé. Không phải thánh nữ hay ma nữ gì, toàn dân chữ Thái cả.

tubinh_giagia
25-03-2006, 12:20 AM
Chẳng lẽ già rồi lẩm cẩm.. nhớ mấy hôm trước có viết bài này đăng lên rồi sao giờ lại chẳng thấy nữa.. có thể bị xóa chăng.. hay là mình lẩn.. thôi thì viết lại viết thêm chút đỉnh...


Tubinh_giagia viết:
Cứ thành thật ăn ngay nói thẳng mà trả lời mình đi nhé! :) Không biết thì nói không biết; biết thì nói biết OK!?
Thành thật hay giả dối không phải là vấn đề tôi phải đặt ra với bạn.


:) Đương nhiên, đây là vấn đề mình đặt ra yêu cầu Thiên Sứ mà - vì rằng, Thiên Sứ cứ lẩn quẩn lãng tránh sự chất vấn của mình qua việc phát kiến của Thiên Sứ còn chưa được NHẤT QUÁN đấy!

Không biết, hay chưa có câu trả lời hoặc còn đang hoản binh thì cứ thành thật mà cho mình biết.. để mình có nên chờ hay không chứ!



Tôi thật sự chưa hề giao tiếp với bạn trên diễn đàn. Nhưng qua văn phong chê bai, chất vấn người này người khác chính là sự hợm hĩnh tự đề cao mình.
Bạn phải chứng tỏ bạn rất xứng đáng chất vấn người khác thì người ta mới trả lời bạn chứ nhỉ! Ngoài Hoá Lộc xưng tụng bạn là "Đại đại cao thủ" thì tôi chẳng thấy bạn làm được cái gì chứng tỏ điều này. Thí dụ như xem dùm cho một người nào đó gặp cảnh khó khăn trên diễn đàn chẳng hạn. Hay là bạn sợ sai nên nó không vinh quang lắm. Còn mấy cái lý luận mơ hồ kiểu như bạn thì đầy rẫy trên thế gian.




Nhưng không được cơ! Vì phát kiến của Thiên Sứ còn lủng củng thiếu NHẤT QUÁN mà lại đi khen láo thế - thì mình lại không làm được..Sorry nha! :)

Mà nè, sao chúng ta lại chẳng đã có thật sự "giao tiếp" trao đổi lời qua tiếng lại chứ hả Thiên Sứ? Ngôn ngữ là công cụ "giao tiếp" mà lị! hihihi....


Xem ra, Thiên Sứ "khó chịu" đủ thứ ở mình hén... nào là mình chê bai, chất vấn người này người khác chính là sự hợm hĩnh tự đề cao mình MÀ có phải thật sự như những gì Thiên Sứ đã SUY DIỄN không?

Mình đã chê bai ai? Chê câu phú ngờ nghệch diễn chú lệch lạc của Vân Đằng Thái Thứ Lang à? Chỉ vì, tìm đâu ra Dần, Thân bao giờ có Kình cho các tuổi Giáp, Mậu mà chú giải như thế?

Mà đâu phải chỉ có một tác giả đó thôi, còn nhiều tác giả Tử Vi khác nữa; Có gì là đề cao mình một cách hợm hĩnh đây.. chỉ vì chỉ có mình mới thấy ra được cái "bất khả thiết lập" đó trong cách an sao của môn Tử Vi à - mà những người khác thì chỉ biết thấy viết sao đọc vậy ???

Mình đã chất vấn ai? Chất vấn Thiên sứ vì sự thiếu NHẤT QUÁN trong phát kiến của Thiên Sứ và yêu cầu Thiên Sứ hồi âm làm sáng tỏ mà Thiên Sứ vẫn biền biệt nơi mô.... viện đủ lý do né trả lời mình và chẳng những thế còn đả kích nhân cách mình nữa... lại là một hành vi gì vậy hả Thiên Sứ? Có phải đó là sự hợm hĩnh tự đề cao mình không hở?



Khi nào tôi thấy bạn dám coi giúp người khác thì dù bạn coi sai tôi cũng còn nể bạn có tâm thì mới trả lời bạn được.
Tôi không thiếu gì người chất vấn nặng ký hơn bạn nhiều. Mọi chuyện đã ngã ngũ, bây giờ lại phải chứng minh lại với một người như bạn mà tôi chẳng hiểu mô tê gì thì ngay chính bạn cũng thấy mất thời giờ.
Bạn thông cảm nha.
Thiên Sứ

Nhớ nhé! Giữ lời đấy nhé Thiên Sứ!



Tubinh_giagia

tubinh_giagia
25-03-2006, 03:49 AM
Phần trả lời trước thiếu đoạn in đậm, sửa không kịp - quá hạn nên chức năng sửa không còn nữa... nên viết lại ở đây...


Tubinh_giagia viết:
Tôi thật sự chưa hề giao tiếp với bạn trên diễn đàn. Nhưng qua văn phong chê bai, chất vấn người này người khác chính là sự hợm hĩnh tự đề cao mình.
Bạn phải chứng tỏ bạn rất xứng đáng chất vấn người khác thì người ta mới trả lời bạn chứ nhỉ! Ngoài Hoá Lộc xưng tụng bạn là "Đại đại cao thủ" thì tôi chẳng thấy bạn làm được cái gì chứng tỏ điều này. Thí dụ như xem dùm cho một người nào đó gặp cảnh khó khăn trên diễn đàn chẳng hạn. Hay là bạn sợ sai nên nó không vinh quang lắm. Còn mấy cái lý luận mơ hồ kiểu như bạn thì đầy rẫy trên thế gian.


Thiên Sứ "khó chịu" với lời xưng tụng mình là "Đại đại cao thủ" của Hóa Lộc à!? Thấy thương quá mợi! Hay là để mình cũng khen tặng Thiên Sứ với danh "Đại đại cao thủ" cho Thiên Sứ "khó chịu" hơn nhé!?

Nhưng không được cơ! Vì phát kiến của Thiên Sứ còn lủng củng thiếu NHẤT QUÁN mà lại đi khen láo thế - thì mình lại không làm được..Sorry nha! :)


Tubinh_giagia

Thiên Sứ
25-03-2006, 08:52 AM
Tubinh_giagia viết:
Thiên Sứ "khó chịu" với lời xưng tụng mình là "Đại đại cao thủ" của Hóa Lộc à!?
Đối với bạn, tôi thật sự không quan tâm đến bạn là ai. Việc gì tôi phải khó chịu và hay dễ chịu với lời nói của bạn. Chính vì những suy nghĩ của bạn thể hiện trong cách ứng sử và học thuật, nên tôi đã từ chối tranh luận với bạn.
Tôi lên mạng và coi đây là một phương tiện hữu hiệu nhằm chứng minh cho một nền văn hiến Việt trải gần 5000 năm. Đâu phải để tranh hơn thua với một người như bạn. Bạn có thể coi tôi là "Đại đại cao thủ", hoặc "tuyệt đại đại cao thủ", hay là "đồ giẻ rách" thì tôi cũng không quan tâm. Tôi cũng chẳng có thời gian quan tâm để xoá bài của bạn.
Điều tôi đáng tiếc ở đây là:
Một người có tài như anh Nhất Chi Viên vì bị bạn xúc phạm mà không tham gia sinh hoạt.
Nhân đây, tôi xin thành tâm và trân trọng mới anh Nhất Chi Viên quay trở lại sinh hoạt trên diễn đàn. Anh có thể mở một topic riêng để truyền bá học thuật của anh. Tôi đề nghị ai có thắc mắc hoặc phản biện xin mở topic khác và không được phép chen ngang vào topic của anh. Nếu vi phạm điều này tôi sẽ xoá bài hoặc chuyển sang topic thích hợp.
Thân chúc anh và gia quyến vạn sự an bình.
Thiên Sứ

dung dung
25-03-2006, 11:50 AM
Dừng lại được chưa ? Bao nhiêu đó quá đủ rồi , sao cứ phải hơn thua nhau mới mát dạ àh ? Thà rằng để dành thời gian giải tử vi cho bà con được nhờ còn hơn tối ngày cứ vào đây khẩu chiến nhau , ngày nào cũng vậy không biết chán hả , không biết chán nhưng bà con ở đây ai cũng chán ngắt rồi , ở ngoài kia nhiều người kêu gọi nhờ xem tử vi dùm chẳng ma nào thèm coi chỉ lo hơn thua nhau , cuối cùng chẳng giải quyết được cái gì mà cứ lãi nhãi suốt ngày . Tranh luận vui vẻ để giúp nhau cùng tiến bộ và các hội viên đọc cảm thấy hứng thú được học hỏi chứ không phải tranh luận để lật đổ nhau . Không biết có phải do giọng văn hay không mà làm cho người đọc có cảm giác nơi đây đang xiên xỏ kiếm chuyện gây hấn nhau . Đúng là tuổi trẻ hiếu thắng ghanh đua , không điềm tĩnh . Núi này cao còn có núi khác cao hơn . Khiêm tốn đi đừng bon chen dù mình đúng , sai , hay , dở .
Ban quản trị diễn đàn đang ở đâu ? nếu tranh cãi mãi không đi đến kết quả được thì dàn xếp để vui vẻ nội bộ , nếu để như vậy hoài topic này sẽ lên đến 100 trang mà vẫn không giải quyết được vấn đề gì .

Thiên Sứ
25-03-2006, 12:39 PM
Dungdung thân mến.
Tôi chẳng hơi đâu mà hơn thua ở đây. Tôi đã từ chối từ đầu với những lời lẽ rất tế nhị. Nhưng bạn Tubinh_giagia cố tình vặn vẹo hơn thua. Chất vấn cho bằng được. Bạn có thể xem từ đầu topic nay.
Tôi có thể xoá, di chuyển và dời bài, chưa cần đến quản trị viên. Nhưng nếu làm vậy thì rất phiền. Bởi vậy tôi cứ để vậy cho....vui. Cho diễn đàn thêm sinh động.
Tôi cũng yêu cầu bạn tubinh_giagia chấm dứt mọi chuyện thách đố chất vấn để giữ hoà khí trên diễn đàn.
Tôi không có thời gian để trả lời bạn cũng như các cá nhân khác trong các vấn đề liên quan đến học thuyết của tôi. Nếu bạn cảm thấy sách Tàu đúng thì bạn thì cứ việc trình bày những ý tưởng của bạn chứng minh sách Tàu đúng. Mọi người sẽ xem và họ tự suy nghiệm.
Thiên Sứ

Nhất Chi Viên
25-03-2006, 01:08 PM
Chào tất cả,

Mấy ngày nay buồn bực trong lòng, nghiệp Tử Vi bói toán không dễ cho mình rứt áo ra đi. Tại chỗ này tôi đã quen đường xưa lối cũ thì viết bao nhiêu chẳng được y như lấy đồ trong túi, vậy mà đường đi không sợ vì ngăn sông cách núi mà lại sợ lòng người đố kỵ ganh đua. Tại chỗ khác tôi cũng là tôi, cũng bạo hùng bạo phá nhưng trong không khí nhà Phật mà cảm thấy ấm tấm lòng khi các bạn Phật Tử hiểu tôi và giúp đỡ tôi.

Tối nay tôi lấy cây đàn guitar ra gãy, dùng 'nội lực' thúc đẩy 10 ngón tay chạy dài trên mặt dây mặt phím, tuông những âm ba khiến tâm hồn tôi nhẹ nhàng hơn, hình như đa phần tôi tìm lại những tâm tình cũ qua các bản nhạc của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, người mà tôi cho rằng là nhạc sĩ trên các nhạc sĩ trong lịch sử Việt Nam cận đại. Nhờ vậy mà tôi cảm giác thoải mái hơn, tái xuất hiện tại đây để cám ơn anh Thiên Sứ có lòng ưu ái đối với tôi. Từ lâu tôi đã biết anh qua tuvilyso và anh là người hiếm hoi mà tôi chưa hề 'đụng' tới và anh vuivui từng nói với tôi : tôi là nguời yêu thương rạch ròi, tức là thích thì nói thích, không thích thì đem lên bàn mổ.

Diễn đàn tại đây thiết nghĩ cũng phải hạ giọng để các độc giả khác còn theo kịp, không thể để các bạn bịt mũi nín thở khi vào đây đọc các thứ lao xao gấu ó. Có người chắc cũng muốn tôi giải lá số chứ gì ? Thưa rằng tôi rất muốn nhưng đối với tôi nhu cầu nghiệm lý các thứ cũ để củng cố học thuật Tử Vi là điều nên làm trước khi 'hạ sơn' giúp đời, vả lại muốn tôi giải thì đương số phải cộng tác đáp ứng nhiều đòi hỏi của tôi, thí dụ như cung cấp chút ít về gia thế, hoàn cảnh hiện tại, v.v., chưa kể đến tôi cũng cần xem diện mạo ít nhất là qua ảnh chụp hay qua nói chuyện để bắt được đầu mối (get a handle) đối với người lạ hoắc mới quen.

Dông dài đã nhiều rồi, tôi lấy lại nick Nhất Chi Viên và dẹp Takenoeda (vì nick đó đã làm xong nhiệm vụ ngắn hạn đặc biệt), từ nay về sau gọi tôi là Viên hay Khỉ là được mà tôi vẫn thích thú như thường.

Thân tình,

Nhất Chi Viên

Thiên Sứ
25-03-2006, 01:26 PM
Cảm ơn anh Nhất Chi Viên.
Hy vọng anh sẽ tham gia với chúng tôi. Những bài viết về học thuật của anh nên mở một topic riêng. Ai thắc mắc thì mở một mục "hành lang..." và trả lời hay không là quyền của anh.
Hy vọng với tài năng của anh sẽ giúp được cho nhiều con người cần đến anh.
Chúc anh và gia đình vạn sự an bình.
Thân
Thiên Sứ

dung dung
25-03-2006, 01:47 PM
Gửi chú Thiên Sứ : Vâng , cháu biết rất rõ vì cháu là hội viên và cũng đã theo dõi topic này ngay từ lúc đầu . Chú đừng buồn lòng vì dung dung không hồ đồ . Chỉ vì lịch sự nên cháu không thể ghi đích danh ra người đó mà chỉ nói chung chung nhằm mong mọi người tự chủ, nhịn lời để giữ hòa khí với nhau , xem nhau như bạn học thuật .

agape
26-03-2006, 01:00 AM
Chào tất cả,

Mấy ngày nay buồn bực trong lòng, nghiệp Tử Vi bói toán không dễ cho mình rứt áo ra đi. Tại chỗ này tôi đã quen đường xưa lối cũ thì viết bao nhiêu chẳng được y như lấy đồ trong túi, vậy mà đường đi không sợ vì ngăn sông cách núi mà lại sợ lòng người đố kỵ ganh đua. Tại chỗ khác tôi cũng là tôi, cũng bạo hùng bạo phá nhưng trong không khí nhà Phật mà cảm thấy ấm tấm lòng khi các bạn Phật Tử hiểu tôi và giúp đỡ tôi.

Tối nay tôi lấy cây đàn guitar ra gãy, dùng 'nội lực' thúc đẩy 10 ngón tay chạy dài trên mặt dây mặt phím, tuông những âm ba khiến tâm hồn tôi nhẹ nhàng hơn, hình như đa phần tôi tìm lại những tâm tình cũ qua các bản nhạc của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, người mà tôi cho rằng là nhạc sĩ trên các nhạc sĩ trong lịch sử Việt Nam cận đại. Nhờ vậy mà tôi cảm giác thoải mái hơn, tái xuất hiện tại đây để cám ơn anh Thiên Sứ có lòng ưu ái đối với tôi. Từ lâu tôi đã biết anh qua tuvilyso và anh là người hiếm hoi mà tôi chưa hề 'đụng' tới và anh vuivui từng nói với tôi : tôi là nguời yêu thương rạch ròi, tức là thích thì nói thích, không thích thì đem lên bàn mổ.

Diễn đàn tại đây thiết nghĩ cũng phải hạ giọng để các độc giả khác còn theo kịp, không thể để các bạn bịt mũi nín thở khi vào đây đọc các thứ lao xao gấu ó. Có người chắc cũng muốn tôi giải lá số chứ gì ? Thưa rằng tôi rất muốn nhưng đối với tôi nhu cầu nghiệm lý các thứ cũ để củng cố học thuật Tử Vi là điều nên làm trước khi 'hạ sơn' giúp đời, vả lại muốn tôi giải thì đương số phải cộng tác đáp ứng nhiều đòi hỏi của tôi, thí dụ như cung cấp chút ít về gia thế, hoàn cảnh hiện tại, v.v., chưa kể đến tôi cũng cần xem diện mạo ít nhất là qua ảnh chụp hay qua nói chuyện để bắt được đầu mối (get a handle) đối với người lạ hoắc mới quen.

Dông dài đã nhiều rồi, tôi lấy lại nick Nhất Chi Viên và dẹp Takenoeda (vì nick đó đã làm xong nhiệm vụ ngắn hạn đặc biệt), từ nay về sau gọi tôi là Viên hay Khỉ là được mà tôi vẫn thích thú như thường.

Thân tình,

Nhất Chi Viên

Chào anh Nhất Chi Viên,

Tôi rất vui khi thấy anh tham gia trở lại sinh hoạt chung với Diễn Đàn. Đã là mang cái nghiệp Tử Vi vào Thân thì tôi mời anh cùng cụng ly. http://www.vietlyso.com/forums/images/smilies/beerchug.gif
Rất mong được đọc bài của anh.

Thân tình

agape

Nhất Chi Viên
26-03-2006, 02:08 AM
Chào Thất Sát và agape,

Một khu vườn cần có nhiều loại hoa, ai thích gì thì trồng đó, ai thích thưởng ngoạn hoa gì thì cứ dzung dzăng dzung dzẽ lướt qua các cụm, các cành.

Có người muốn tôi cưỡi ngựa như bậc tướng quân vượt qua hàng rào cỏ tiến về Kỳ Sơn để tụ họp với quần hùng, cám ơn Thất Sát, còn có người thích đọc bài của tôi mà người nay cũng là một danh thủ đương kim thì đúng là tam sinh hữu hạnh, cám ơn agape. Tuy không còn uống được bia rượu như mấy chục năm về trước nhưng cỡ 4-5 chai Heineken đô (dose) của Mỹ nốc vào thì tôi vẫn còn ngồi vững như thường. http://www.vietlyso.com/forums/images/smilies/beerchug.gif

Thân tình

Viên

long nguyen quang
27-03-2006, 11:37 AM
Trích:
Cảm ơn anh Nhất Chi Viên.
Hy vọng anh sẽ tham gia với chúng tôi. Những bài viết về học thuật của anh nên mở một topic riêng. Ai thắc mắc thì mở một mục "hành lang..." và trả lời hay không là quyền của anh.
Hy vọng với tài năng của anh sẽ giúp được cho nhiều con người cần đến anh.
Chúc anh và gia đình vạn sự an bình.
Thân
Thiên Sứ
Nhất chi viên dạo này được "cưng như cưng trứng, hứng như hứng hoa", sướng nhé ! rán viết cho hay đấy nhé !
Chào thiên sứ! Anh dành cho Nhất chi viên một sự tôn trọng như vậy là rất tốt , đó cũng là mong muốn của nhiều người trong đó có tôi. Nhưng theo ý tôi, trong một cuộc thuyết trình nào đó, thính giả cũng có quyền chất vấn diễn giả - một chất vấn có tính học thuật, đúng trọng tâm và lịch sự là điều có thể, chứ đâu việc gì thính giả phải chạy ra "hành lang" đứng mới có thể nói được? Tôi nghĩ rằng anh Nhất chi Viên cũng không thích như thế đâu, bởi vì anh ta đã nói một mình ở trang tử vi nghiệm lý lâu rồi, phải có đối đáp thì mới là diễn đàn chứ?
Ý tôi là như thế. Còn chuyện quyết định là quyền của ban quản trị diễn đàn.
Thân ái !<!-- / message -->

Nhất Chi Viên
27-03-2006, 12:26 PM
Đừng nói vậy chứ, tôi là người mà có lẽ nhiều người biết tính khí ngang tàng như thế nào, chưa biết kiêng nể ai. Có lúc tôi cũng phải xin lỗi 1-2 người vì tôi quá lời và tôi chẳng thấy xấu hổ khi đập đầu binh binh tạ lỗi vì tôi nghĩ xin lỗi là điều khó làm nhất mà tôi còn làm được thì mới tỏ cái tâm thành của tôi. Đâu phải tôi thích nịnh nhà cầm quyền để làm gì, khi tôi ưa thì tôi dốc sức làm, còn không ưa tôi gấu ó. Thiên Sứ là người tôi quí mến từ lâu truớc khi đóng trụ tại đây, cũng như Thiên Cơ Ất, Đằng Sơn, Tuấn Kiệt, Pháp Vân v.v. là những người tôi rất trọng đâu phải là viết sách mà tôi nể, chính là cái tư cách thể hiện qua văn phong. Tôi đã tránh bàn cải trong chủ đề của bạn là để giữ hòa khí vì tôi cũng mến tinh thần tìm tòi và chất vấn đúng sai của longnguyenquang, có điều tôi còn rất nhiều thứ viết ra không liên quan đến Kình Đà gì cả nên tôi dành thì giờ làm việc khác hay hơn như viết bài nghiên cứu hay giải đáp thắc mắc nếu có thể được cho người hoạn nạn.

Thân,

Viên

NguyenTheHiep
27-03-2006, 10:48 PM
Tubinh_giagia viết:
Thiên Sứ "khó chịu" với lời xưng tụng mình là "Đại đại cao thủ" của Hóa Lộc à!?
Đối với bạn, tôi thật sự không quan tâm đến bạn là ai. Việc gì tôi phải khó chịu và hay dễ chịu với lời nói của bạn. Chính vì những suy nghĩ của bạn thể hiện trong cách ứng sử và học thuật, nên tôi đã từ chối tranh luận với bạn.
Tôi lên mạng và coi đây là một phương tiện hữu hiệu nhằm chứng minh cho một nền văn hiến Việt trải gần 5000 năm. Đâu phải để tranh hơn thua với một người như bạn. Bạn có thể coi tôi là "Đại đại cao thủ", hoặc "tuyệt đại đại cao thủ", hay là "đồ giẻ rách" thì tôi cũng không quan tâm. Tôi cũng chẳng có thời gian quan tâm để xoá bài của bạn.
Thiên Sứ

Anh THIÊN SỨ thân mến ,

Khi sinh hoạt trên diễn đàn cần xác định đối tượng có tâm đức để trao đổi học thuật. Ngày trước ở Diễn Đàn cũ anh đã mất nhiều thời gian vô bổ khi tranh luận với người chẳng ra gì ,ảnh hưởng đến anh rất nhiều.
Ngày nay anh cần xem xét và dành thời gian có ích cho những người thực sự hữu tình thiện tâm ,cầu học thuật lý số hay học văn hiến lạc việt.

Tình thân

Nguyễn Thế Hiệp Tiên Sinh

Thiên Sứ
27-03-2006, 11:20 PM
Anh Thế Hiệp thân mến.
Rất cảm ơn sự chia sẻ và thông cảm của anh đối với tôi.
Hy vọng thường xuyên được gặp anh trên diễn đàn và cả ngoài đời.
Chân thành chúc anh và gia đính vạn sự an lành.
Thiên Sứ

tubinh_giagia
28-03-2006, 03:19 AM
Tubinh_giagia viết:
Thiên Sứ "khó chịu" với lời xưng tụng mình là "Đại đại cao thủ" của Hóa Lộc à!?
Đối với bạn, tôi thật sự không quan tâm đến bạn là ai. Việc gì tôi phải khó chịu và hay dễ chịu với lời nói của bạn.


Lạc đề rồi Thiên Sứ ạ! :)

Trong câu hỏi trên, mình có hỏi là Thiên Sứ khó chịu hay dễ chịu với lời mình nói đâu.. MÀ là lời của Hóa Lộc đó thôi! Một lần...


Bởi vậy, tôi rất hy vọng bạn sẽ chứng tỏ tài năng của bạn đúng với danh hiệu mà Hoá Lộc tặng bạn: "Đại đại cao thủ". Trong những website liên quan đến Lý học mà tôi biết thì chỉ có một vài người đượpc coi là "cao thủ": Thiên Cơ, Thiên Kỳ Quí, VDTT, Hải Đăng - Lão Ngoan Đồng, Quảng Đức, Trumetin và một vài cao thủ ẩn danh khác. Chưa có ai được coi là "Đại đại cao thủ" như bạn. Điều này chứng tỏ trên thực tế ngoài đời bạn đã chứng tỏ tài năng xuất chúng của bạn.
Tôi rất hy vọng bạn sẽ chứng tỏ tài năng đó ở đây và chẳng cần phải chất vấn làm gì. Điều đó không xứng đáng với danh hiệu mà Hoá Lộc tặng bạn.


rồi lại lần khác... :)


Bạn phải chứng tỏ bạn rất xứng đáng chất vấn người khác thì người ta mới trả lời bạn chứ nhỉ! Ngoài Hoá Lộc xưng tụng bạn là "Đại đại cao thủ" thì tôi chẳng thấy bạn làm được cái gì chứng tỏ điều này.


Tại sao lại bận tâm quá đỗi về ai đó khen tụng ai kia trong khi điều mình chất vấn Thiên Sứ có tính cách học thuật thì Thiên Sứ viện dẫn hết lý do này đến lý do khác vậy?

Nói rằng trong quá khứ Thiên Sứ đã gặp phải:


Chuyện ai đã từng " ngang ngược, hợm hĩnh đã phá ngang làm mất tính chất học thuật nghiêm túc " thì là chuyện giữa họ và Thiên Sứ, nhưng giữa chúng ta thì mình chỉ đang dùng chính lý luận của Thiên Sứ mà chất vấn tính NHẤT QUÁN của Thiên Sứ lập luận đó thôi mà???

Thay vì "thảo luận học thuật nghiêm túc" thì Thiên Sứ dùng lời khiếm nhã, đả kích nhân cách mình hết lần này đến lần khác... chỉ vì mình đã chất vấn đến điểm thiếu NHẤT QUÁN trong lập luận của Thiên Sứ. :)

Qua văn phong của mình: có phải là mình " ngang ngược, hợm hĩnh đã phá ngang làm mất tính chất học thuật nghiêm túc " hay không hay chỉ là sự phán đoán chủ quan của Thiên Sứ để né tránh lời chất vấn của mình hả?


http://www.vietlyso.com/forums/showthread.php?p=44095#post44095

mà mình có thấy trả lời thẳng thắn gì đâu?

Trái lại, với cái quan kiến cá nhân không có nền tảng ví dụ cho:


Chính vì những suy nghĩ của bạn thể hiện trong cách ứng sử và học thuật, nên tôi đã từ chối tranh luận với bạn.


rằng những suy nghĩ của mình thể hiện trong cách ứng sử và học thuật là như thế nào cả... :) Chỉ là sự bình phẩm khơi khơi mà thôi!



Tôi lên mạng và coi đây là một phương tiện hữu hiệu nhằm chứng minh cho một nền văn hiến Việt trải gần 5000 năm. Đâu phải để tranh hơn thua với một người như bạn. Bạn có thể coi tôi là "Đại đại cao thủ", hoặc "tuyệt đại đại cao thủ", hay là "đồ giẻ rách" thì tôi cũng không quan tâm. Tôi cũng chẳng có thời gian quan tâm để xoá bài của bạn.
Điều tôi đáng tiếc ở đây là:
Một người có tài như anh Nhất Chi Viên vì bị bạn xúc phạm mà không tham gia sinh hoạt.


Thứ đến, Thiên Sứ lại đi trách cứ vu khống mình này nọ là xúc phạm đến Nhất Chi Viên để rồi NCV không tham gia sinh hoạt v.v... MÀ chả biết Takenoeda là hóa thân của NCV nguậy ngọ tiếp... cho đến khi Takenoeda thừa nhận:


Dông dài đã nhiều rồi, tôi lấy lại nick Nhất Chi Viên và dẹp Takenoeda (vì nick đó đã làm xong nhiệm vụ ngắn hạn đặc biệt), từ nay về sau gọi tôi là Viên hay Khỉ là được mà tôi vẫn thích thú như thường.


Ngay cả cái chuyện nhỏ nhặt ấy, Thiên Sứ cũng chưa thể phán đoán nhưng lại thích đi đả kích nhân cách mình và né tránh lời mình chất vấn thôi... :)

Mà nè, sao lại chẳng giữ lời vậy Thiên Sứ...


Khi nào tôi thấy bạn dám coi giúp người khác thì dù bạn coi sai tôi cũng còn nể bạn có tâm thì mới trả lời bạn được.
Tôi không thiếu gì người chất vấn nặng ký hơn bạn nhiều. Mọi chuyện đã ngã ngũ, bây giờ lại phải chứng minh lại với một người như bạn mà tôi chẳng hiểu mô tê gì thì ngay chính bạn cũng thấy mất thời giờ.
Bạn thông cảm nha.
Thiên Sứ


Bộ không có check cái nick của mình để thấy rằng mình đã có coi giúp người khác ở bên mục "giải đoán" rồi à (từ lâu trước khi mình chất vấn Thiên Sứ đó nghen)? Hay là nói chỉ là nói cho có nói thôi hả Thiên Sứ?!

Nhớ giữ lời đó nghen..... :)


Tubinh_giagia

tubinh_giagia
28-03-2006, 03:24 AM
Dông dài đã nhiều rồi, tôi lấy lại nick Nhất Chi Viên và dẹp Takenoeda (vì nick đó đã làm xong nhiệm vụ ngắn hạn đặc biệt), từ nay về sau gọi tôi là Viên hay Khỉ là được mà tôi vẫn thích thú như thường.

Thân tình,

Nhất Chi Viên

:) Sao rồi, Nhất Chi Viên.. mình đã xúc phạm gì ở Nhất Chi Viên để mà Thiên Sứ vu khống mình thế?


Điều tôi đáng tiếc ở đây là:
Một người có tài như anh Nhất Chi Viên vì bị bạn xúc phạm mà không tham gia sinh hoạt.




Tubinh_giagia

vuivui
28-03-2006, 04:04 AM
Vào Topic này, thấy rôm rả. Dù chưa thu được lợi ích gì về mặt học thuật, nhưng cũng thấy "khoái" !!! Chợt nhớ đến cuốn TU VI VAN LANG mà bạn LIONE vừa đưa lên mạng bên TVLS. Nhận thấy hình như ở VN ta cũng sắp có phong trào "trăm hoa đua nở" trong lĩnh vực Tử vi giống như ở Đài loan trong suốt 20 năm qua hay sao ấy. Thấy xuất hiện toàn những lý thuyết "kinh hồn" cả. Đấy mới chỉ là phần SAN ĐỊNH thôi, mà đọc xong, thấy mồ hôi - xin lỗi - "vãi" cả ra đầy người. Dụi mắt mấy lần, cứ ngỡ mình nằm mơ, đọc được tác phẩm của "TRẦN ĐOÀN" tái thế, nhưng mà ông Trần Đoàn này bị bệnh mất trí nhớ. Thành ra lòng vừa ngưỡng mộ, lại vừa kinh hãi.
Khổ thế, sáng tạo thì cứ sáng tạo, nhưng mỗi khi sáng tạo thì cứ Nghiệm lý luôn cho Bà con nhờ. Sau đó, nếu đúng, dẫu có lý luận hơi trúc trắc cũng dễ thông. Chứ đằng này, phang luôn phép chia đôi 14 chính tinh, âm một nửa, dương một nửa và lôi kéo Liểm trinh từ bỏ không đi theo Thái hậu nữa, về phe với Vua cho trong triều ngoài nội được cân bằng âm dương. Ấy chẳng khác gì điều ông quan toà liêm chính chí công vô tư đi theo vua ra trận, đánh nhau cho thoả chí bình sinh???. Sao khổ thế, hết tướng tài rồi à mà phải đưa cả văn quan ra "đánh nhau".
Ra thế đấy, cứ tưởng lấy một hai nguyên lý, xem có vẻ như là tổng quát, "ôm được cả vũ trụ" rồi áp dụng vào Tử vi, lật tung Tử vi lên, "bón phân vào" rồi reo mạ, ngồi chờ vụ tới bội thu, năng suất lúa leo lên 20 tấn một ha. Sướng thật. lại dụi mắt một lần nữa để xem các loại lý thuyết "kinh tâm động phách".
Văn viết, ẩn dụ lung tung, các bạn đọc có rối mắt thì cũng xem đó như "tiếu lâm" vậy.
Thân ái.

tubinh_giagia
28-03-2006, 04:12 AM
Dungdung thân mến.
Tôi chẳng hơi đâu mà hơn thua ở đây. Tôi đã từ chối từ đầu với những lời lẽ rất tế nhị. Nhưng bạn Tubinh_giagia cố tình vặn vẹo hơn thua. Chất vấn cho bằng được. Bạn có thể xem từ đầu topic nay.
Tôi có thể xoá, di chuyển và dời bài, chưa cần đến quản trị viên. Nhưng nếu làm vậy thì rất phiền. Bởi vậy tôi cứ để vậy cho....vui. Cho diễn đàn thêm sinh động.
Tôi cũng yêu cầu bạn tubinh_giagia chấm dứt mọi chuyện thách đố chất vấn để giữ hoà khí trên diễn đàn.
Tôi không có thời gian để trả lời bạn cũng như các cá nhân khác trong các vấn đề liên quan đến học thuyết của tôi. Nếu bạn cảm thấy sách Tàu đúng thì bạn thì cứ việc trình bày những ý tưởng của bạn chứng minh sách Tàu đúng. Mọi người sẽ xem và họ tự suy nghiệm.
Thiên Sứ

:) Đi đọc lại mấy bài ngày trước thì thấy bài này....

Thiên Sứ không thành thật tóm tắt lại những việc đã qua nghen;

chuyện là, nhân cái chuyện Thiên Sứ đề xướng việc đem quẻ Khôn dời từ góc Tây Nam qua góc Đông Nam để giải thích Kim cục khởi Trường Sinh ở đó [Tỵ cung] chỉ vì lý giải sự hợp lý từ Thân (kim) cung khởi Thủy cục TS, Hợi (thủy) cung khởi Mộc cục TS, Dần (mộc) cung khởi Hỏa cục TS cho đến Tỵ (hỏa) cung sao lại khởi TS cho Kim cục được - không còn NHẤT QUÁN nữa;

Vì rằng: cho là Khôn (thổ) sinh Kim là lấy tính chất ngũ hành của quẻ chứ đâu phải tính chất ngũ hành của cung như ở Dần, Thân, Hợi trong khi Dần ôm quẻ Cấn (thổ : sinh sao đặng cho Hỏa cục) , Thân ôm quẻ Tốn (vốn mộc nay biến tính theo sở thích cá nhân thành kim để sinh khởi Thủy cục) và Hợi ôm quẻ Càn (kim : sao lại có thể sinh khởi Mộc cục) v.v...

chứ hơn thua chỗ nào?

Thiên Sứ đã viện cớ bận rộn, rồi yêu cầu mình đọc các tiểu luận, sách vỡ gì đó đó (nhưng chẳng lý giải được điều gì khi mình đã đọc qua những tiểu luận đó trên trang nhà này) nên mình mới chất vấn tiếp ngõ hầu còn điều gì mà Thiên Sứ chưa trình bày trong các tiểu luận đó chăng?

Thế nhưng, ngoài việc Thiên Sứ đả kích nhân cách mình này nọ, phao vu vô lối và nhất là lảng tránh vấn đề một cách đặc biệt thì chả có lời gì để giải thích cả?

Bây giờ, Thiên Sứ còn lại phân trần rằng mình cố tình vặn vẹo hơn thua nữa chứ! Tại sao vậy Thiên Sứ!?


--- oOo ---

Còn việc sách Tàu đúng hay sai, chưa phải là điều cần đề cập đến nhưng lại có phần liên hệ vì rằng cái gọi là phát kiến của Thiên Sứ - có sự thiếu NHẤT QUÁN - nên mới đặt nghi vấn, chất vấn từ kết quả Thiên Sứ chứng minh rằng sách Tàu là sai. Phát kiến của Thiên Sứ mới là đúng lý, hợp nguyên tắc v.v...

Nhưng ngay cả nguyên tắc, nguyên lý trong luận giải của Thiên Sứ còn có vấn đề mà khi chất vấn thì Thiên Sứ viện đủ lý do.... cơ :)


Nếu như đến đây, Thiên Sứ vẫn giữ lập trường cho rằng Thiên Sứ vẫn còn NHẤT QUÁN trong luận giải của Thiên Sứ - thì sự không NHẤT QUÁN đã được mình chất vấn rõ ràng; thế thôi! Mình bỏ qua vậy!



:) Tubinh_giagia

Nhất Chi Viên
28-03-2006, 04:28 AM
Bạn Tubinh_giagia thật sự không có làm tôi buồn phiền chút nào, trái lại tôi cũng thích đọc những vấn đề cần phải làm rõ ràng trong Tử Vi, và tôi rất vui khi bạn đem những thứ sai trong Tử Vi ra bàn để tôi xem xét và học hỏi. Tôi nặng lo chuyện khác (ref : Đông A Di Sự) không liên quan đến longnguyenquang và Tubinh_giagia. Bây giờ tôi vui trở lại nên tiếp tục cầm bút.

Rõ ràng rồi đó nghen,

Viên

PS : người xúc phạm đến tôi tên là Takenoeda mà tôi đã dẹp rồi, vất vào thùng chứa cặn bả của ký ức.--tth--