PDA

View Full Version : TẢN MẠN VĂN HÓA VIỆT (thangcutang )


PhongVân
10-02-2006, 02:20 PM
Bài được viết bởi thangcutang bên TVLS ,thấy hay hay nên PhongVân mạn phép cọp dê qua đây để bà con đọc cho vui.
Sau đây là nguyên văn bài viết "

(Mến tặng qúy ông Địa Kỳ Tài, Thiên Khôi Tìm Vui, Thiên Sứ, Nắng Hoa... và và những người học Dịch. thangcutang)


TẢN MẠN VỀ VĂN HÓA VIỆT

Bài I: LÀM VĂN HÓA

Làm văn là duy trì kiên nhẫn
Nuôi chí bề dẫu cho tận ngàn sau
Vẫn một lòng, một ý chí sắc sâu
Cho dân tộc vững tin vào Viêt Đạo
Làm văn hóa là duy trì Việt giáo
Hồn thiêng còn là đất nước ta còn
Cho dẫu rằng cách bể với ngăn non
Kinh dòng tộc đừng bao giờ để mất
Thời vận chuyển xoay, nguười thay ngôi đổi bậc
Trăm ngàn năm sau TA vẫn là TA
Dòng máu Rồng Tiên, con cháu Ông Bà
Nửa oở lại, nửa theo Cha xuống biển…
Lật Việt sử ra tìm người đại diện
Lấy gương hùng, tôi luyện chí hùng
Rồng và Tiên muôn thuở một dòng chung
Hai trong một, tình keo sơn nội ngoại…
Đất có mất cũng coó ngày lấy lại
Dân phân ly cũng có lúc hợp quần
Văn hóa không còn, ta phải nhận chân
Là vĩnh viễn mất dân, mất nước!
Giặc Hán năm xưa trăm mưu ngàn chước,
Dẫu gian manh “đốt sách giết học trò”
Mười thế kỷ trôi qua, bao tình huống cam go
Nước không mất bởi ta còn văn hóa
Con cháu hôm nay dan tâm bôi xóa (*)
Đạo nghĩa tiền nhân cùng văn hóa giống nòi
Lập đảng tranh ăn dày mả tổ rước voi
Qua chủ thuyết vu vơ ngoại nhập (*)
Chúng nó còn, có nghĩa là chúng ta mất
Chúng ta còn, chúng nó vẫn trong ta
Bởi vì ta là văn hóa dung hòa
Không loại bỏ mà mở ra biên cưoơng mới…
Tân niên kỷ loài người đang mong đợi
Là tinh thần của văn hóa trăm con
Là tinh thần nửa biển, nửa trên non (1)
Dẫu muôn thuở vẫn vuông tròn trong một…


(*); Thangcutang tôi tự ý sửa một số chữ trong câu (1): Biển: Con đường của trí tuệ, của khoa học; non: con đường tâm linh đạo đức trong ý câu: “Trí giả nhạo thủy, nhân gỉa nhạo sơn”, huyền thoại gọi là: “Nửa theo cha xuống biển và nửa theo mẹ lên núi và cuối cùng cùng hợp nhau ở Cánh Đồng Tương”


Bài I I: TÔI MUỐN

Tôi muốn anh em cùng tôi cùng hảnh diện
Đạo Tiên Rồng: văn hóa giống nòi ta
Rồng và Tiên kết nên cặp Ông-Bà
Hệt như thể Âm Dương trong Thái Cực
Ông và Bà như Dương (__) Âm (_ _) làm thiên chức
Từ đó vuông , trai gái được sinh ra
Thể tựa như hình vẽ của Lạc Hà
Phần ở lại, phần theo cha xuống biển (1)…
Nhưng phải ứng cho nhau khi nguy biến
Nghĩa đồng bào núi biển hổ tương nhau
Để Rồng Tiên tự trước đến ngàn sau
Mãi tồn tại cùng đất trời tiếp diễn…
Tôi muốn anh em cùng tôi cùng nhận diện
Bát Quái, Lạc Hà: sách qúi của ông cha
Và Dịch kinh cũng tự đó mà ra
Các ngài muốn lưu truyền cho con cháu…
Sách viết gì được xem là qúi báu?
Mà ông cha lại trang trọng đem thờ?
Vạch rời (_ _), liền (__) phải mang nghĩa vu vơ
Dấu đen ( ) trắng ( ) (2), ý nghĩa gì qua đó?...
Tôi muốn anh em cùng tôi làm sáng tỏ
Cùng lập bàn thờ khôi phục đạo Rồng Tiên
Thường giáo vô ngôn, nên Thường giáo(3) vô biên
Gộp kim cổ và gói muôn loài, muôn sự
Bát nước, li hương chúng ta cùng nguyện giữ
Cho giống nòi, cho đất nước mãi còn
Cho đời nầy và cho và vạn kiếp cháu con
Biết sách tổ và biết dung sách tổ
Trị nước, tề gia đến triết, y, lý số…
Tất cả nằm trong đạo Dịch Âm Dương
Tiến bộ ngày nay và Mỹ quốc phú cường
Cũng xuất khởi từ phá`t huy Hà Lạc:
Hệ nhị phân (digital ) nào khác
Vạch rời (_ _) liền (___) chữ số sách Ông Bà?
Trăm trứng trắng đen Hà Lạc được viết ra
So hệ số thập phân nào khác?...
Bởi u tối cháu con làm mất mát
Tài sản giống nòi, văn hóa ông cha
Nhiễm thói vong thân, quên mất Phật nhà
Chạy đôn đáo tìm Thích Ca thờ lạy (4)
Tôi muốn anh em cùng tôi tìm nơi ấy
Trên bàn thờ và trong lễ vật hiến dâng
Nghi thức dân gian trong bái lạy mấy lần
Qua biểu tượng tìm mong nhằm đạt lý…
Tôi muốn anh em cùng tôi nuôi lấy chí
Khôi phục nhà Nam, làm rạng rỡ giống nòi ta
Đưa Đông Tây về chung mối hiệp hòa
Và tôn giáo cùng chung về một mối…
Tôi muốn anh em cùng tôi cùng tiếp nối
Sử mệnh kiêu hung dòng tộc giống nhà Nam
Chịu phân qua bền ý chí nhận làm
Đợt tổng hợp lần sau hơn lần trước
Tôn Giáo Đồng Nguyên: Tổ tiên ta làm được
Trịnh nguyễn phân tranh: mở them rộng cõi bờ
Tranh chấp Đông Tây làm đất nước xác xơ
Nhưng đã giúp địa cầu qua hiểm họa…
Nay theo cha hàng triệu con vất vả
Phải chăng vì sử mệnh giống Rồng Tiên?...
Tôi muốn anh em cùng im lặng ngẫm nghiền…
_________
(1): Muốn áp chỉ 100 chấm tròn đen trắng trên hai hình Hà Đồ 55 chấm, Lạc Thư 45 chấm tổng cộng là 100 chấm hay “100 con” của Cha Rồng Mẹ Tiên; (2): trên hai hình Hà Lạc (3) Tôn Giáo của người Việt Thường (người Việt cổ), cũng chính là Đạo Dịch

Bài III: ĐẠO ÔNG BÀ (1)

Ai sao mặc Đạo Ông Bà ta giữ
Và tự hào dòng sử giống nòi ta
Buổi vàng thau thời lẫn lộn chánh tà
Ta giữ Đạo là giữ ta không mất gốc
Cây có tổ, nước có nguồn, người có tộc (2)
Tộc nhà Nam là dòng tộc Rồng Tiên (3)
Mẹ Âu Cơ là Tiên nữ diệu hiền
Cha Sùng Lãm vốn từ trời nhập thế
Thuở khai quốc Kinh Dương Vương Đại Đế
Cõi bờ ta là vùng đất thênh thang
Đầu gối nằm châu thổ Dương Tử Giang
Chân vươn tới chân trời Nam ấm áp
Đứng đầu gió qua bao cơn bão táp
Giống Rồng Tiên vẫn tồn tại hiên ngang
Giòng hùng anh không qụy lụy qui hàng
“Thà làm quỉ, không làm vương đất Bắc (4)
Toan đập li hương bát nước (5) ta thờ
Lòng gian tà với nguỵ thuyết vu vơ
Đâu thể sánh dòng nhất nguyên Việt Giáo
Ngã một phía, khuyết cùn sao gọi “Đạo”?
Lò tham tàn, sắc máu bảo rằng nhân?
“Sốn làm người không giữ lấy Tứ Ân
Thì đâu khác loài cỏ cây, cầm thú”? (6)
Ai sao mặc Đạo Ông Bà ta giữ
Và tự hào dòng sử giống nòi ta
Vì nhân quần chịu phân tán, can qua:
“Ta chịu khổ là khổ cho nhân loại” (7)
Hễ ngày nào thế gian còn nghèo đói
Còn ngông cuồng, kỳ thị Đông tây
Đám “theo Cha” còn phải chịu đoạ đầy
Vì sử mệnh dựng xây nền hợp nhất
Người anh em, nửa quê nhà bám đất
Có nghĩa là “theo Mẹ chọn dường nhân” (8)
Tình như tiên: Ôi Mẹ đep vô ngần
Và cao cả đám theo Cha trí dũng (9)
Gợi ta nhớ mỗi lần ta lạy cúng
Ba Ông Hoàng “Bi TRí Dũng Trong Ta” (10)
Ba Ông Hòang là Phật Tự Tánh (Thích Ca)
Tam tính ấy cũng là Ba Ngôi Chúa.
Hướng tương lai xanh tươi màu non lúa
Ta thấy long vơi bớt nỗi thương đau
Ta hòa mình với lớp lớp trước sau
Bước nối bước, bước trên đường Đạo Tổ (11)
__________
(1): Ông Bà: Nghĩa thông thông thường là những bậc trên trước cha mẹ, Đạo Ông Bà còn gọi là Đạo Tổ Tiên, là Ông Tổ Bà Tiên ám chỉ hai vị khai sang dóng Việt là Lạc Long Quân và Bà Âu Cơ, là Rồng Tiên mà nghĩa theo huyền tự là Càn (___) Khôn hay Âm Dương nên Đạo Ông Bà cũng có nghĩa là Đạo Dịch hay Đạo biến Dịch của dòng Việt nên còn gọi là Đạo Gia Tiên (Đạo của nhà Tiên Đạo được hình thành bọc Trăm trứng có từ hai hình Hà Lạc, do chiếc gậy thần đốt trúc của Thần Tảng Viên do Long Vương (LLQ) tặng cho. (2)”Cây có cội mới tốt canh xanh lá, nước có nguồn mới biển cả sông sâu” (3)Rồng Tiên: Rồng LLQ, Tiên: ÂC là hai vị Tiên Tổ dòng Bách Việt; Rồng Tiên như là huyền tự mang, mang lấy nghĩa là Càn Khôn hay Âm Dương. (4) Nguyễn Biểu trả lời quân giặc bắc khi chúng dụ hang (Li hương, bát nước: Biểu tương của âm dương trong Đạo ông Bà (6), (7): Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ (8): Theo Mẹ lên núi hay “Nhân gỉa Nhạo Sơn” (9) “Theo Cha ra biển” hay “trí gỉa nhạo thủy” ((10): Ba Ông Hoàng là Thiên Hoàng, Địa Hoàng và Nhân Hoàng trong thuyết Nhân Bản của Nho giáo cũng chỉ tam tính là Tính sang suốt hay sự sáng, Tính nồng ấm hay tình yêu và lực dũng hay khả năng dung hòa, nối kết (11) Đạo Tổ: Đạo Tổ Tiên cũng là Đạo Gia Tiên hay Đạo Ông Ông Bà

Bài IV: SÁCH ƯỚC
(Sách Ước trinh nguyên không một chữ
Gậy thần đốt trúc có hai đầu CA DAO)

Rằng : Sách Ước là bộ Kinh Vô Tự
Là chúc thư không chữ truyền dòng
Sách chỉ dung ký hiệu chứa ngầm trong
Những ý nghĩa của Âm Dương tương đối
Bởi không chữ nên ít người lãnh hội
Vì qúa xưa nên mất mối dò tìm
Lại lờ mờ như thể tựa màng đêm
Nên lắm kẻ cho là huyễn thoại (1)…
Rằng sách Ước gồm hai chương, đại khái
Nay thất phu xin dịch lại chép ra đây:
Loại đầu tiên: sách thể bánh chưng, dầy (2)
Chứa 100 trứng như trăm con đen trắng:
Sách hình vuông do Ông tạo nặn
“45 con” gởi tặng đám theo Bà (3)
Sách hình tròn là sách để cho Cha
55 trứng vốn do Bà tạo tác (4)…
Trong thiên hạ được xem là uyên bác
Hiểu sách nầy có lẽ mới có ba
Một: Tiết Liêu dung hình ảnh nhắc ta
Hình, ý sách được vua Cha chọn tuyển (5)
Người thứ hai dựa vào đây viết quyển
Bốc Dịch xưa còn dương xiển đến hôm nay (6)
người thứ ba, (có lẽ vị này
Khỏi cần nói thảy đều hay, đều rõ)
Đó là trạng dưới thời Hậu Lê đó (7)
Ông tiên tri là nhờ có Đồ Thư (8)…
Loại thứ hai: sách lưu lại đến chừ
Bằng chữ số rút ra từ lóng trúc
Đó là chữ âm dương liền đứt
Dương nghĩa mang giống đực, giống Càn
Chữ viết ra là một nét nằm ngang (___)
Còn chữ đứt (_ _) mang tên hôn, ý nghĩa mang tượng Mẹ
Là tượng hình sinh thực âm nứt, chẻ
Tách hờ ra như thể vẽ “cái bà” (9)
Nhờ vào đây Kinh Dịch được viết ra
Cùng Bát Quái để lưu truyền hậu thế…
Mang lấy tiếng là đám người hậu duệ
Không lẽ ta lại để “Sách” thất truyền?
Biết ai người còn mang máu Rồng Tiên
Mời nghiền ngẫm: Sách tiên hiền “Sách Ước”?
_______
(1): Huyễn Thoại : Chuyện kể vu vơ, huyễn hoặc khác với huyền thoại là chuyện kển ẩ dấu bên trong những điều huyền nhiệm (2):: Bánh chưng hình vuông chỉ hình Lạc thư, bánh dầy hình tròn tượng trưng cho Hà Đồ (3): Sách hình vuông là Lạc thư trên đó có chứa 45 chấm gồm 25 trắng 20 chấm đen, là chúc thư của Cha (bởi 45 có tổng số là 4+5 = 9 là số của Cha) gởi lại Mẹ và đám con theo Mẹ ở lại trị nước (4): 5+5 = 10: 10 là số của Mẹ và số 55 cũng là tổng số chấm đen trắng trên hình Hà Đồ (5): Nhắc chuyện Hùng Vương 6 mở cuộc thi tuyển chọn người kế vị và người trúng tuyển là Tiết Liêu khi ông nầy làm hai bánh chưng dầy tượng trưng cho hai hình Hà Lạc, là cơ sở hình thành nền văn hóa Hà Lạc cũng gọi là văn hóa Rồng Tiên… (6): Ông Trần Đoàn (7): Trạng Trình nổi tiếng với các lời sấm tiên tri về vận nước. Mở đầu sách tiên tri ông viết rằng: “Nước Nam từ thuở Hồng Bàng. đổi thay cuộc thế gian san chuyển vầ,. Từ Đinh Lê, Lý Trần thuở trước, đã bao lần vận nước đổi thay, núi song thiên định đặt bày, Đồ thư một quyển xem ngay mới rành” (8): Đồ thư: Hà Đồ và Lạc Thư (9): Nét Âm Khôn tượng trưng cho sinh thực vật cái mang lấy tượng hình “cái ấy” của giống cái, đối nghịch với cái ấy của giống đực là nét Càn. Từ hai chữ số Càn (___) Khôn (_ _) nầy mà hình thành được 8 con Lý số Bát Quái và 64 con Lý Số trong Kinh Dịch được gọi là 64 qủe.

PhongVân
10-02-2006, 02:23 PM
VĂN HÓA CỔ VIỆT (TT)

Bài V: VĂN HÓA CHI BANG
(Duy ngã Đại Việt Quốc thực vi văn hóa chi bang _ Bình Ngô Đại Cáo Nguyễn Trãi)

Phải chăng vì tự ái
Giống Rồng Tiên nhắc mãi bốn ngà năm
“Văn Hóa Chi Bang” thuộc mấy chữ nằm lòng
Chờ có dịp đem khoe cùng thiên hạ
Nhưng đâu là đỉnh cao, đâu là văn hóa,
Tính đăc thù khác lạ của ta đâu ?
Chữ hữu, vô cóp nhặt chú Ba Tàu
Đường tâm đạo thuộc mấy câu anh Bảy!
Tính khôn vặt xem ra chừng bén nhạy
Đón gió trào lưu Duy Vật kém chi ai
Tài bẩm sinh ép cơm hẩm cõng khoai
Tính thủ lợi miệt mài đường mău sắt
Lịch sử sang trang, trao lưu chuyển ngoặc
Xếp hạng đàng sau xa lắc vẫn mơ hồ
Còn nủa kia vượt biển cả mưu đồ
Hay là cũng chạy theo đô của Mỹ?
Cấu cắn nhau dung toàn chiêu hiểm bí
Chuyện đồng bào, đồng bọc, chuyện vu vơ
Cha Mẹ Rồng Tiên hư thực biết đâu giờ ?
Lối dĩ vãng mập mờ trăng đáy nước!
“Lời không lời” (1) làm sao ai hiểu được
Huyền thoại “tam sao thất bổn” ích ơn gì ?
Hệ số Âm Dương thứ đó để làm chi ?
Đạo Thường Đạo (2) khác gì bao Đạo khác ?
Khoa học dang lên, tôn giáo đang cùn mạc
Câu “trí giả bất ngôn” (3) chừng bác đã quên rồi ?
Bẻ cây hòng trời cao chống được đâu (4)
Mà đem sách Ước (5) mưu cầu chấn hưng
Quen nhau khuyên bác thôi đừng!
_______

(1): Ngôn bất ngôn: Lão Tử (2): Đạo Thường Hằng cũng là Đạo của người Việt Thường, Cổ Việt không sử dụng ngôn ngữ qui ước mà được diễn đạt bằng hai chữ toán lý số tương đối là Càn (___) và Khôn (_ _) để hình thành các con Bát Quái và 64 Quái Dịch nhằm chỉ ra các qui luật thiên nhiên thưòng hằng gọi là Thiên Đạo và những qui luật tốt nhất về nhân văn mà con người nên theo gọi là Nhân Đạo; và bởi không thể diễn đạt bằng danh hay bằng chữ qui ước nên Lão Tử bảo rằng Thường Đạo Vô Ngôn và không thể dung danh để nói về nó: “Danh khả danh phi Thường danh” (3) “Trí giả bất ngôn, ngôn giả bất trí”: Lão tử, có nghĩa là người biết thì không nói và người nói thì không biết. (4) Chân ngôn Việt: “Bẻ nạn chống trời”, mang nghĩa là đơn thương độc mã làm chuyện không thể làm được (5) Được xem như là Kinh Vô Tự của dòng tộc được hình thành không bằng chữ viết mà bằng các nét rời đứt là chữ Càn (___) Khôn như những dấu trên đốt tre, trúc.

Bài VI: LỐI VÀO THƯỜNG ĐẠO

Bao lần cũng muỗn THÔI ĐỪNG
Nhưng sao thấy khó dửng dưng với đời
Xưa Nữ Oa đội đá vá trời
Thôi thì thôi, cứ thử chơi một lần
Nói không được? _ Đâu cần phải nói!
Đạo Thường xưa thuộc loại vô ngôn
Vì vô nên mới trường tồn
Hũu ngôn đâu gói Càn Khôn được nào
Vô gói cả trời cao đất thấp
Vô qua bao vùi dập không tan
Vì vô nên vượt thời gian
Nhờ vô nuôi được cả đàng trăm con:
“Vuông thì theo Mẹ lên non
Đường tâm giữ lấy, trí tròn theo Cha “(1)…
Trời đất không lập ra văn tự
Đạo Thường Hằng một chữ cũng không
Mà vòng Xuân, Hạ, Thu, Đông
Dẫu trăm năm vẫn một lòng thủy chung
Cho hay vô thật vô cùng
Hiểu vô mới thấy lạ lùng của vô
Lời đóng cột là đồ vứt bỏ
Hữu xưa nay đâu có trường tồn
Vạn kinh điển sách hữu ngôn
Ích gì lời thế mà tôn mà thờ
Hôm qua đúng bây giờ lại trật
Thế mới hay những bậc thượng thừa
Nói rồi lại nói rằng chưa
Phải điều mạc khải mới vừa lòng ta (2)
Đám học gỉa chưa là học thiệt
Thế cho nên càng viết càng sai
Thời gian rồi cứ qua hoài
Bây giờ mới thấy rõ tài ông cha
Không them một chữ viết ra
Chỉ dung hình số Ông Bà, Âm Dương
Nói lên tất cả Luật Thường (3)
Để cho mọi thứ làm gương soi vào
Mấy vần thơ muốn cao rao
Mong cho con cháu tự hào dòng ta
Và mong lập lại an hòa
Dẫu người “núi”, “biển” vẫn là anh em
Trở về văn hóa Đồng nguyên
Đưa con người lại một miền trờ xưa
Vô ngôn viết mấy cho vừa
Viết nhiều càng thấy như chưa viết gì
Lối Thường mời bác thử đi!
_____
(1) Nằm trong ý câu “Nhân giả nhạo sơn, trí giả nhạo thủy”, rút ra từ ý nghĩa của qủe Cấn (Đất mẹ cũng là con đường tu tâm đức); và con Khảm (Thuần Khảm) có nghĩa khó khăn, nguy hiểm và để đối đầu với cái nguy khó nầy phải dùng đến trí tuệ mà vượt qua như Thoán từ của Khảm viết: “Tậm Khảm hữu phụ, duy tâm thanh hành hữu thượng”. Đạo vuông tròn là Đạo của Cha Rồng Mẹ Tiên , của Âm Dương Hà Lạc (Hà đồ tròn, Lạc Thư vuông)
(2) “Ta nói nước thiên đàng cho các tong đồ bằng mạc khải và người ngoại đạo bằng dụ ngôn _ Đấng Christ
(3) Luật Thường Hằng , không thể diễn đạt bằng lời mà chỉ hiểu được nó qua Đạo Dịch, thể hiện qua Kinh Dịch tức qua hệ thống Lý Số được gọi là Dịch Lý

Bài VII: CHÚC THƯ DÒNG TỘC
(Tâm thức Việt đang đơm bong kết trái _ Đem Rồng Tiên để viết lại sách kinh)

Có một điều rất lạ
Nghe hoang đường hơn cả chuyện hoang đường
Vào thời trước cả các Hùng Vương
Có hai vị “quán” (1) thông dòng lịch sử
Hai ngài viết di chúc không một chữ
Đặt tên là Sách Ước với Gậy Thần
Rồi truyền dòng lưu giữ nó trong dân
Bởi sẽ có lúc phải cần đến nó…
Sách gói cả trăm dòng trong bọc nọ
Mà dân gian gọi bọc đó “Đồng bào” (2)
Sách không lời nhưng ý nghĩa gồm bao
Được dấu kín trong tượng hình Hà Lạc
Một trăm trứng nở trăm con tản mát
Nửa theo cha: 55 trứng vuông tròn (3)
Mẹ ở nhà nhận lãnh nửa đám con
Cả trai gái gồm 45 cô cậu (4)
Hoàng tử Liêu Lang (5) xem kỳ thư hiểu thấu
Nên đã dùng hai tượng bánh chưng, dầy
Trong cuộc thi Hùng Vương 6 trước đây
Ông đã được chọn truyền ngôi cửu ngũ (6)
Qua hình tượng hai hình nói lên đủ
Tài của Ông và đức độ của Ông
Tài bởi vì ông chứng tỏ làu thông
Cái di chúc ẩn tàng trong Hà Lạc
Hiểu sách không lời qủa ông uyên bác
Thử nhẩm coi trong thiên hạ mấy ai ???
Hình cửu cung (7) di chức được an bài
Ở phương Bắc 9 dương cương trấn giữ (8)
Bởi phương nầy muôn đời mang lấy chữ
Khảm (hiểm nguy) trong Bát Quái hậu thiên
Đây là phương phải đối diện triền miên
Suốt dòng sử là phương Thiên Thủy Tụng (9)
Còn phương Đông 7 tượng dương (10) rõ đúng
Để đối đầu thường trực đám Tinh Ngư (11)
Từ Kinh Dương Vương, Sùng Lãm đến chừ
Biển vẫn động do kình ngư vẫy sóng!
Suốt dòng sủ biển Đông là điểm nóng
Phân bố dương như thế qủa không sai
7 dương Càn theo hệ số các Ngài
Với 6 nét viết ra là qủe Bỉ ( )
Đất phương Nam dương tận cùng dương chí
Một dương Nam ám chỉ đất đắp bồi (12)
Do phù sa tô điểm mũi Cà Mâu
Hình tượng Bát ( ) của 1 dương dịch số (13)
Nam tận cùng Tây Nam là sinh lộ
Mà Tây Nam là số 8 Lạc Thư
Học 8 Khiêm giữ lấy Đạo của Người (14)
Sách Cha viết rõ đúng mười như chục !
Lời của Cha là những lời di chúc
Nhằm định phương và định vị nước nhà
Còn Hà Đồ là do Mẹ viết ra
Viết để tặng đám “theo Cha ra biển”
Lịch sử nhìn xa là chu kỳ miên viễn
Của thịnh, suy như Xuân, Hạ, Thu, Đông
Trên đường đời đầy rẫy những gai chông
“Thư” của vợ nhằm nhắc chồng định tính
Dương cương cường, dương nhận mang mạnh lịnh
Chấp nhận thương đau cho nước mở mang ra (15)
Trên Hà đồ là con số 13
Là số Lữ nhằm nói ra tính ấy (16)
Mãi chuyện nhỏ, quên chuyện to là bậy
Tình quê hương, nghĩa đồng bào còn đấy
Số 12: Tiểu qúa nhớ chăng (17) ?
Xa cách mặt khó khăn ai vẫn đợi
Con 11 Dịch viết là tiến tới
Tiến từ từ, ngày một tiến dần dần
Gió trên đồi nhè nhẹ thổi lân lân
Như khích lệ bước chân người tiệm tiến (18)
Tình núi sông, nghĩa đồng bào trời biển
Trạch Sơn Hàm số 14: cảm nhau (19)…
Gẫm mà coi tự trước đến ngàn sau
Số Hà Lạc vẫn luôn luôn nghiệm ứng
Dẫu thăng trầm đất nhà Nam vẫn vững
Chân ra đi mà lòng muốn quay về
Hình mẹ già đứng ngóng đợi trời quê
Bóng vợ trẻ bồng con nơi núi Vọng…
Số Hà Lạc, số thay lời cô đọng
Lạc định hình, Hà định tính nói trên
Và hai hình nếu đem chúng chồng lên
Ta có toán rút ra từ 100 trứng (20):
_ Hệ bách phân mở đầu như ngữ vựng
Muốn tiến xa ta phải vững hệ nầy
Rằng cân, đo, đong, đếm được từ đây
Đó là hệ cả Đông Tây xài nó
Sau hệ nầy ngày nay ta them có
_ Hệ nhị phân còn gọi “đ i-gi-tồ” (digital)
Thay vì dùng mười con số viết vô
Nó sử dụng con 0 và con 1
Ông Leinitz (21) lấy Dịch làm mối chốt
Từ Âm Dương ông phát kiến chuyển sang
Bởi chỉ có âm Khôn (_ _) và chỉ có Dương Càn (___)
Mà Dịch viết với vô vàn con số
Ông ngạc nhiên, rồi bỗng ông tỉnh ngộ
Dùng 1, 0 để lập hệ nhị phân
Nhân loại ngày nay được ơn ích vô ngần
Ngành tin học bây giờ dung hệ đó
_ Hệ thứ ba: có từ thời Dịch có
Có từ thời vừa mới có “Tiên”, “Rồng “
(Nói khác đi là huyền tự “Bà, Ông”
Đó là hệ của Âm Dương Tương Đối
Hệ số nầy qủa ít người lĩnh hội
Nên xưa nay ít có kẻ biết dùng
Hay biết là cũng chỉ biết chung chung
Biết rằng Dịch và Dịch là tương đối
Giờ muốn rõ chúng ta làm phép đổi
Lấy Thập phân chuyển sang hệ nhị phân
Từ hệ nầy lại chuyển đổi sang dần
Bằng những nét Âm (_ _) Dương (___) hệ Dịch
Trong thơ ngõ về sau sẽ giải thích
(Muốn am tường xin xin đọc đến phần bên) (22)
100 con viết ra Dịch nói lên
Được tất cả Đạo Thường trong vũ trụ:
Chỉ tám số, chỉ tám con cũng đủ
Vạch nên hình Bát Quái kỳ thư
Từ khai thiên lập địa đến bây chừ
Luật Trời Đất vẫn y như Bát Quái!
Để rõ them phần nầy xin xem lại
Bài thơ về Đạo lý Việt cổ xưa (23)
Nhân tiện đây người viết cũng xin thưa
Rằng Kinh Dịch cũng từ 100 trứng nọ…
Việc chồng hình tạo ra hình “Rùa” đó
Rùa thần là Rùa di chúc Ông Cha
Nếu rút từ các số của “Rùa” ra
Ta sẽ có được con đường cứu nước:
Phương Bắc ta từ nhiều ngàn năm trước
Kể từ khi lập quốc đến bây giờ
Vẫn là phương nguy hiểm của kỳ thơ
Bởi mang số 23 Thiên Thủy Tụng ( ) (24)
Nên xuôi Nam là con đường mãi đúng
Khi quê nhà còn đang độ giá đông
Số 8 Khiêm ( ) vẫn là hướng chim Hồng (25)
Hướng phát triển, hướng hanh thông Nam tộc
Nay đang độ cơn giá đông tàn khốc
Năm 75 nửa đám phải “theo Cha” (26)
Trên đồ hình là con số 13
Là số Lữ ( ) mà chúng ta đã biết
Nửa còn lại chịu vô vàn cay nghiệt
Việc chồng hình chỉ rõ phải làm sao
Dựa vào đâu, lối giải ở phương nào?
Làm sao để khỏi rơi vào tử lộ?
Trên lưng “Rùa” sẵn giải bày chữ số:
6 Đông Nam Trạch Địa Tụy ( ): Hợp quân (27)
Số Rùa khuyên liên kết với đông lân
Tạo thêm lực, mở thêm dần vây cánh…
Con 20 nằm phương Đông sát cạnh
Là tượng hình Lôi Thủy Giải ( ) (28) giúp ta
Giữ Đạo Khiêm ( ) là mối chốt giải hòa
Là đường lối của quốc gia đại sự
Li ( ) là sáng nơi con 5 giữa trử
Trong Hà Đồ và trong cả Lạc Thư
Nếu chống lên chúng tạo được con 10
Là con Kiển ( ) chỉ phận người dân Việt
Con số 5, hệ 6 hào,ta viết
Nó thành ra Hỏa Địa tấn ( ): Tiến lên
Muốn thành công BI TRÍ DŨNG chớ quên
Phải sáng suốt mới làm nên đại sự…

Rồi dòng Việt sẽ viết trang kỳ sử
Đưa Đông Tây về chung mối hiệp hòa
Cả loài người cùng chung khúc hoan ca
Mừng huyền thoại thăng hoa thành hiện thực

_______
(1): Phong Đ5a Quán: từ Dịch lý, có nghĩa là quan sát chính những gì sự vật tự nó thể hiện ra (2): Đồng bào có nghĩa là cùng một bọc, nhắc về Huyền Thoại chia con với hai hình đồ Hà Lạc được chồng lên nhau tạo thành trăm trứng của bọc Mẹ Âu Cơ. (3): 55 chấm tròn đen trắng trên hình Hà Đồ (gồm 25 chất trắng và 30 chấm đen), được xem như là hình của Mẹ (55 có số tổng là 5+5=10, là số của Mẹ) gởi cho cha để chỉ ra định tính và định luật, trong lần chia tay và chia con. (4): 45 là số của Lạc thư, được xem đây là đồ hình của cha (45 có số tổng 4+5 = 9, là số của Cha được thiết trí trên hình vuông mang tính âm để chỉ ra định hình và định vị) gởi cho Mẹ và đám con theo Mẹ ở lại trị nước, nên ngôi trị nước (vua) là ngôi cửu (9) ngũ (5) (9x5=45). (5) : Liêu Lang tức Tiết Liêu có sách viết là tiết Liệu là người con thứ 18 của Hùng Vương 6, chính ông nầy đã thắng trong cuộc thi tuyển chọn vua qua việc làm hai bánh chưng, dầy mang tượng hình Hà Đồ (tròn) và Lạc Thư (vuông) (6): Ngôi cửu ngũ: Ngôi vua (7): Cửu Cung: tên gọi khác của Lạc Thư (8): Trên Lạc Thu ở phía Bắc của hình được thiết trí 9 chấm tròn trắng mang tượng ý như là rải binh đội nhiều nhất để đối đầu với phương nầy. (9): Khi hai hình Hà Lạc một vuông, một tròn chồng lên nhau, các chấm trên hai hình nầy sẽ tạo ra hình Ruà Thần mà ở phương Bắc là 23 chấm và con 23 viết ra hệ lý số là con Thiên Thủy tụng chỉ ra nghĩa có sự tranh tụng thường xuyên ở phương nầy (xem hình) (10): Phương Đông của Lạc Thư là con 7 (11): Nhắc chuyện Kinh Dương Vương và Sùng Lãm (về sau lên ngôi lấy hiệu là Lạc Long Quân) đã tiểu trừ loài tinh nầy (có lẽ là các tộc dân nằm ngoài biển Nam Hải (Biển của người Nam) (12), (13): Con 1 (1 chấm trắng) nằm phía Nam hình Lạc Thư và khi viết con 1 nầy ra Dịch số sẽ là con Sơn Địa Bát, có hình tượng một nét dương Càn (___) vừa tồn đọng trên 5 con âm Khôn (_ _) (14): Địa Thiên Khiêm là cái Đức khiêm nhường mà Hán nho chữ nghĩa hóa nó ra là: “Dĩ đức động thiên, vô viễn phất giới, mãn chiêu tổn, khiếm thụ đắt, thời nãi thiên Đạo” (15): Tính của dương là li tâm, hướng ngoại, bung ra …, Hán nho chữ nghĩa hóa là “Nam chủ ngoại, nữ chủ nội” (16): Số 13 nằm trên Hà Đồ khi chuyển sang lý số là con Hỏa Sơn Lữ, mang tượng ý là lửa cháy (chiến tranh) trên quê hương đất mẹ khiến con dân phải bỏ xứ ra đi thành người lữ thứ. Điều này nghiệm ứng với việc chia con trong huyền thoại, với thời Lý Long Tường trốn nhà Trần và với sự ra đi của hàng triệu con dân Việt trong sự kiện sau 30 tháng 4 năm 1975. (17): Con 12 là tổng số các chấm nằm trên Hà Đồ về hướng Nam, viết ra lý số là con Lôi Sơn Tiểu Qúa, mang nghĩa là nhỏ qúa, vì trong đó ngôi Nhân Hoàng (Ngôi hai, cả nội quái cũng như ngoại quái, là âm vị lại được thiết trí bằng hào âm nên nhân hoàn bị xem nhẹ, nhỏ qúa, không tốt! Đám theo Cha bung ra ngoài mà quên mất mẹ già và vợ trẻ bồng con chờ đợi ở nhà… (18): Con 11 nằm chính Tây của Hà Đồ, viết ra lý số là con Phong Sơn Tiệm, mang nghĩa tiến tới từ từ (19): con 14 chính Bắc Hà Đồ viết ra lý số là con Trạch Sơn Hàm, có nghĩa là yêu nhau, cảm nhau, tuy xa cách ngàn trùng nửa theo Cha và Mẹ vẫn không quên nhau mà luôn luôn mong ngày đoàn tụ như lời dạy của Cha Rồng Mẹ Tiên là tìm hợp nhau ở “Cánh Đồng Tương” (20): Trăm trứng nầy là trăm trứng 50 trắng + 50 đen, tượng trưng cho Rồng Tiên hay âm dương nên khi viết 100 nầy sẽ cho ra ba dạng tóan số là Bách phân (hay thập phân), hệ nhị phân nếu dung 0 là đen và 1 và trắng và hệ Dịch số nếu viết với nét Khôn (_ _) là đen và Càn (___) là trắng. (21): Leibnitz, nhà toán học kiêm triết học người Đức đã sang chế ra hệ nhị phân bằng cách dùng con 0 thay cho con Khôn (_ _) và con 1 thay cho con Càn (___) của Dịch số (22): sẽ post lên trong những kỳ tới (23): sẽ được đưa lên trong bài “Bát Quái và Đạo Lý Cổ Việt” (24): 23 nằm chính Bắc của Rùa Thần, viết ra lý số là Thiên thủy Tụng, là tranh tụng, tranh chấp (25): con 8 nằm hướng Tây Nam Rùa thần viết ra lý số là con Địa Sơn Khiêm, nghĩa của nó đã được đề cập ở trên. Và để truyền dòng, dòng Việt tự nhận mình là giống thiên di Hồng Lạc xuôi Nam tìm nắng ấm, như bài thơ của Ngu Ý Nguyễn Hữu Ngư, bên dưới:
“Mặt đất Bắc nặng dày băng tuyết
Sự sống còn le lói tợ ma trơi
Giống chim Hồng, chim lạc khắp nơi nơi
Vội vỗ cánh xuôi Nam tìm nắng ấm
Và tự hẹn đến mùa xuân khoe thắm
Người tung tăng và chim véo von ca
Sẽ cùng nhau ngược dòng Nam tiến
Trở về thăm quê cũ đợi ai mà”
(26): “Theo Cha ra biển”: lời truyền dòng được tải chuyển qua huyền thoại chia con của Cha Rồng Mẹ Tiên (27): 6 viết ra Dịch số là Trạch Địa Tụy, nghĩa của nó là nhóm hợp, xin xem hình (28): Giải là giải tỏa, giải quyết; ở đây giải quyết vấn đề truân chuyên Thủy Lôi truant được chỉ ra bởi hình Tiên Thiên chồng trên Hậu Thiên bát Quái, ở hướng Đông nầy của đám con theo Cha.


Bánh Chưng &n bsp; Bánh Dầy



Lạc thư &nbs p; Hà Đồ



Rùa Thần

Xin có lời cáo lỗi là tôi đã không post lên được các con dịch số và các đồ hình minh họa. thangcutang

PhongVân
11-02-2006, 08:42 AM
Bài VIII: THƠ NGÕ VỀ BÁT QUÁI VÀ ĐẠO LÝ CỔ VIỆT

Rằng: Bát Quái chỉ là 8 số
Nhưng bởi quen theo lối cổ ông cha
Rồi thất truyền nên nhuộm vẻ ma tà
Nào: Càn, Khảm, Tốn, Li, Đoài, Khôn, Cấn, Chấn
Giờ đề nghị chúng ta nên ghi nhận
Tám từ trên là tám số âm dương
Hệ số nầy khác với hệ thông thường
Không phải dùng để cân, đo, đong đếm
Mà nó dùng giúp cho ta chiêm nghiệm
Đạo luật, qui trình biến dịch âm dương
Nói khác đi là mở lối, chỉ đường
Cho ta thấy Đạo Thường trong vũ trụ
Chỉ tám con và tám con là đủ
Bởi nếu thêm nó lập lại từ đầu
Con 9 kia với 1 nọ khác đâu
Nếu dùng hệ digital để giải:
Rằng con 1 viết nhị phân có phải (001)?
Và 9 là 1001, phải không?
Nếu đem thay bằng tượng số Tiên Rồng
Với những nét Âm (_ _), Dương (___) sẽ rõ:
Cấn là 1, hệ âm dương viết nó ( ; )
Mang tượng hình dương quan khí đọng cô
Do chuyển từ nguyên khởi khí hư vô
Mà có kẻ gọi là Thái Cực
Khảm là 2, gồm 1 liền (___) 2 đứt (_ _)
Mang bên ngoài vẽ nên tượng nước âm ( &nb sp; )
Cũng từ đây sinh vật được nẩy mầm
Vì hội đủ bốn điều ắt có
(Bốn điều đó như mọi người điều rõ:
Đất phát sinh như đã nói phần trên
Lửa từ trời, từ lòng đất bốc lên
Và nước có từ nơi sao Bắc đẩu
Giờ nhiều nơi hiện vẫn còn in dấu
Như trên trăng hay sao hỏa hôm nay…
Bởi chu trình Thái Dương Hệ khi quay
Đã có lúc tiến gần sao Bác Đẩu)
Gió do khí từ các miền chuyển đổi
Nó mang theo những nguyên khí tối cần
Thảy muôn loài, muôn vật phải chịu ân
Bởi sự sống là phải cần khí (gió)
Tốn là 3, hệ âm dương viết nó ( ; ;)
Gồm hai dương (___) và dưới có một âm (_ _)
Hiểu gió thôi là hiểu Tốn còn lầm
Nó còn nghĩa mở ra tầm phát triển
Sinh vật khởi sinh từ nơi nước (biển)
Rồi từ từ lan trên đất, trên rừng
Rồi tiến lên người vượn đứng hai chưn
Như học thuyết của Darwin đề cập
Cho đến khi hệ mặt trời quay tấp
Tận phương Nam vũ trụ cận Nam Tào
Qủa đất nầy nhận dương khí chòm sao
Làm biến đổi DNA trong khỉ…
(Tất cả đều theo chu trình Dịch lý
Chẳng có Ông, có Đấng nào làm!
Khỉ thành người từ dương khí phương Nam
Làm biến đổi DNA như đã rõ)
Trong Bát Quái là thời con 4 đó ( ;)
Nó nói lên đợt đột biến Tiên Thiên
Là thời kỳ xuất hiện giống Rồng Tiên
Như huyền thoại giống nòi ta đề cập
Theo Dịch số: 1 dương (___) nằm dưới thấp
Kế liền theo hai vạch đứt (_ _) sắp trên
Theo tượng hình Chấn là tiếng gọi tên
Theo nhị tiến, 4 là hai không rồi đến 1 (100 )
Qua thời gian con người dần đổi lớp
Dũ bỏ dần những nét của mang di
Con số 5 có tên gọi là LI ( ; )
Li là sáng, là văn minh, tiến bộ
Con số 6 hệ âm dương là số &nbs p; ( &nb sp; )
Vạch rời trên, dưới có hai vạch liền
Tên là Đoài, nghĩa đẹp tựa như tiên
Là thời diểm người sống trong quần hợp
(Bởi Âm (_ _) dương (___) sắp chồng lên 6 lớp
Nó là con Trạch Địa Tụy ( ;): Hợp quần)
Số 7 Càn ( ;): tượng dương khí đã gần
Lúc cực điểm nó chuyển dần sang Bỉ ( ;)
Cùng tắt biến, dương cực dương, dương hủy
Dương tận cùng, dương lại chuyển sang âm
Luật Thường Hằng muôn thuở vẫn không lầm
Nó biến mãi trong chu trình sinh diệt
(Diệt với Dịch không nghĩa là diệt tuyệt
Bởi dẫu âm nó vẫn có dương trong)
Con 8 là con 1 với ba không (1000) ( ;)
(0, không nghĩa: không là không có
Con 1 dương ngoài ba con không đó
Nó cho ta thấy được ý nghĩa nầy
Chút Dương còn tồn tại ở nơi đây
Sẽ biến Dịch để trở thành ra 1)
Hàng tỉ số lấy 8 con lõi cốt
Qui muôn loài, muôn vật vào trong
Tổ tiên ta dùng 8 số để mong
Truyền di chúc cho tổ tiên dòng Lạc
Bởi 8 con nên gọi tên là bát
Và quái là chữ vẽ số âm dương
Gọi Tiên Thiên là nhằm nhắc có hai chương:
Tiên chương một và hậu là chương kế
Cả hai chương, như âm dương, dùng để
Nêu định hình và định tính chứa trong
Luật biến thiên vật chất tựa cái vòng
Hình trôn ốc Cổ Loa Thành xưa cũ
Chỉ 8 số và 8 con là đủ
Lập hai hình thiết trí ở kế bên
Hình đầu tiê, tiên thiên đó, nói lên
Thật đầy đủ luật biến thiên vật chất
Biến dịch mãi, biến dịch hoài mọi vật
Nhưng biết theo với qui luật qui luật Thường Hằng:
Luật đầu tiên từ có trở về không
Rồi lại biến từ không sang đến có
Biến dịch mãi trong chu trình của nó
Như chu trình của Xuân, Hạ, Thu, Đông
Luật thứ hai là qiu luật “Tắt thong”
Do mọi vật tới khì cùng đều biến
Cũng nhờ thế chu trình trên mien viễn
Trên đồ hình là 7 trở về 0 (1)
(Nói rằng 0 hay 8 cũng tương đồng
Dùng 3 nét nên số không khác mấy)
Luật thứ ba: trên đồ hình ta thấy:
1 biến từ cái có nhỏ trong 0
Rồi từ từ dương ngày một chất chồng
Từ con 1 ( ) chuyển dần lên đến 7 ( )
Từ một nét dương trên cùng ta thấy
Dương bây giờ là ba nét dương cương (2)
Nhìn vào đây ta thấy được luật thường
Có thể gọi luật nầy là Tiệm tiến
Luật thứ tư được gọi là đột biến
Như trứng gà phút chốc nở ra con
Như qủa banh bị phát nổ chẳng còn
Mang hình thể thuở ban đầu của nó
Nhìn đồ hình thấy hai lần luật đó
Ba (3) sang tư (4) và bốn (4) trở về không (0)
Luật thứ năm là biến bởi chẳng đồng
Trong mọi vật chứa âm dương khác thể
Như lửa nước trong đồ hình không dễ
Tiêu diệt nhau tiêu diệt nhau vì đối xứng qua tâm
Đối lực nầy tạo quán tính xoay vòng
Nên khởi động được chu trình biến dịch
Còn tám số âm dương sắp xếp như trên
Cái hay là có thể nói lên
Rằng mọi vật từ đâu mà có
Rằng loài người và vô vàn vật nọ
Khởi từ đâu và sẽ trở về đâu
Tám con số đơn sơ nhưng tám số nhiệm mầu
Thảy muôn vật gói tròn trong bát Quái!
Còn hình sau cũng tám con xếp lại
Gọi đồ hình là Bát Quái Hậu Thiên
(Nhưng bởi chưng của dòng giống Rồng Tiên
Nên còn gọi là Việt Thường Bát Quái (3)
Dù vũ trụ có chuyển vần xoay mãi
Dẫu Rồng tiên có lúc thịnh lúc suy
Muôn ngàn năm dẫu có biến động gì
Bắc qủa đất vẫn hướng về Bắc Đẩu!
Hình nước Việt vẫn bao lần chuyển đổi
Phía bắc ta vẫn “cát”: ít hung nhiều
Con số 2 là quái Khảm ( ) được nêu
Ở phía Bắc hình đồ mang ý đó
Và phương Nam như mọi người đều rõ
Vẫn là phương phát triển của giống nòi
Hãy lặng thinh ngồi thử ngẫm mà coi
Nó vẫn đúng trong tương lai nữa đó
Li ( ): ấm, sáng thuộc phương Nam hình nọ
Nhằm nêu lên: “định phận tại thiên thư” (4)
Phải xuôi Nam khi đất Bắc bây chừ
Vẫn còn ở trong chu kỳ băng giá
Di chúc giống còn nhiều điều lạ
Nếu hai hình ta lấy chồng lên nhau
(Nhưng ở đây không thể tỏ nhiệm màu
Cho hết thảy mọi người điều biết)
Và nếu Dịch giải theo tinh thần Việt
Thì Dịch Kinh là Sách Ước gậy thần
Cho Việt ta và hết thảy muôn dân
Được ơn ích rút ra từ sách đó…

Góp lời quê trong mấy vần thơ ngõ
Mong “đồng thanh tương ứng” (5) bạn năm châu
Ngày cuối đông “trâu mong được gặp trâu” (6)
Cùng trở lại phục hồi văn hóa Việt
Nơi trời tây vẫn một lòng da giết
Cùng Nữ Oa “đội đá vá trời”…

_________

(1): Hay CÀN trở về KHÔN (2): Con CÀN hêệ Bá t Quá i (3): Hậu Thiên Việt Thường (Việt Thường là người cổ Việt trong tộc dân Bách Việt (4): “Nam quốc sơn hà Nam đế cư _ Tuyệt nhiên định phận tại thiên thư…” Lý Thường Kiệt (5): Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu: Qui luật của Đạo Dịch (6): Ngưu tầm ngưu, mã tầm mà (trâu tìm trâu, ngựa tìm ngựa; đồng loại, đồng chí hướng cùng tìm gặp nhau

PhongVân
12-02-2006, 09:20 AM
Bài IX: HUYÊN THOẠI, DỊCH VÀ DI SẢN VĂN HÓA DÒNG TỘC
(Tôi muốn cất tiếng mà kêu to, kêu thực to để ai nấy cùng nghe. Tôi muốn có một giọng tha thiết, thực tha thiết để ai nấy cùng cảm. Tôi muốn có một luận điệu đanh thép, thực đanh thép để ai nấy đều tin: Nghe được, cảm thấy và tin tưởng để cùng tôi đem cái vinh quan của văn hóa Việt về cho dân tộc Việt (Học giả Hồ Hữu Tường)


Huyền thoại là những lời kể lại
Mong cháu con phải mãi mãi ghi lòng
Bởi dấu che những bí ẩn bên trong
Phải thành kính ta mới mong thấu hiểu (1)
Và chữ Rồng Tiên chỉ là biểu hiệu
Mà người xưa mượn để chỉ Âm (_ _) Dương (___)
“Ông” và “Bà” là hai thể nghịch thường
Nhưng kết chặt cùng chung trong một cặp
(Như thể là Âm Dương trong Thái Cực
Rồi trăm dòng từ đó được sinh ra
Thể tựa như hình vẽ của Lạc Hà
Từ Thái cực nẩy sinh ra trăm trứng…(2)
Trứng” hai hình, như âm dương, phải ứng:
“Đông có mầy và tây lại có tao”(3)
Như còn vang lời dạy của ca dao
Và Hà Lạc với lời răn LI ( ), LÍ ( )) (4)
Bị đô hộ ngót hơn 10 thế kỷ
Làm thế nào để truyền lại cháu con
Làm thế nào để di chúc mãi còn
Nếu không gửi ý truyền qua huyền thoại ?
Hùng Vương 6 muốn truyền di chúc lại
Cho Tiết Liêu trao hai bánh chưng, dầy
Hình Đồ Thư (5) được gợi ý qua đây
Để con cháu nhớ Rùa thần vật tổ (6)
Là Sách Ước không lời xưa cổ
Chấm rỗng đầy trên mu giáp Rùa Thần
Trăm trứng nầy là hệ của thập phân
Dùng hào vẽ thành âm dương số Dịch
Leibnitz, về sau, làm điều ơn ích
Dựa vào đây chế tác digital
Để mở màng cho nhân loại bước vô
Ngưỡng cửa mới của ngành tin học
Vì không lời nên Dịch kinh khó đọc
Bởi cao siêu nên lắm kẻ tranh giành
Vì qúa xưa nên lắm bọn lưu manh
Sửa sách sử để đoạt quyền trước tác
Sự tương đồng “sách” cổ xưa Hà Lạc
Với bao nhiêu huyền thoại của nước nhà
Mấy điều nầy cũng qúa đủ nói ra
Cội nguồn của Đạo Ông bà: Đạo Dịch!
Dẫu có kẻ cho mị ma đả kích:
Cổ hũ rồi, còn ơn ích gì đây
Bảo Tiết Liêu mượn hai bánh chưng, dầy
Để tỏ rõ rằng đủ tài trị nước
Và Hùng Vương qua đây đã chọn được
Người hiền tài để thay thế ngôi vua?
Lục lại chuyện xưa, tôi muốn phân bua
Rằng “Sách Ước” là Dịch Kinh dòng Việt…
Hãy nuôi lấy một tinh thần bất diệt
Hãy tiến lên như quái Tấn ( ) khuyên ta
Hổ tương nhau như LI ( ), LÍ ( ), Ông, Bà
Đừng để mất di chúc nhà truyền lại:
Hoàng, Trường Sa phải ghi long nhớ mãi
Bất động sản nầy là khẳn định của Ta
Và Dịch Kinh là Sách Ước Ông Bà
Là di Sản Tinh Thần dòng giống Việt!

_________
(1): Lấy ý câu: “Chí thành thông thánh”
(2): Đoạn văn nầy nhắc chuyện huyền thoại “Tiên” (Bà: Khôn (_ _): Âm), “Rồng” (Ông Càn (___): Dương) “đẻ con” và “chia con” nhằm gợi ý: Âm dương kết hợp sinh ra mọi loài và gợi ý tổng số chấm đen trắng trên Rùa Thần hay Bọc Âu Cơ và số chấm trên hai hình Hà đồ (55 chấm), là số của Mẹ đi “theo cha ra biển” (hình nêu lên định tính và định luật mang tính dương) và Lạc Thư (45 chấm) của cha trao Mẹ mà huyền thoại bảo rằng nửa con (nửa tương đối) theo Mẹ lên núi, nhằm chỉ ra định hình và định vị của vật chất trong không gian. Tổng số “con này đều mang gene “Rồng” (trắng) và “Tiên” (đen) nói lên vật chất đều chúa bên trong tính của cha mẹ Càn Khôn.
(3): Lời Cha Rồng trong huyền thọi chia con
(4): Li ( ): mang số của Lạc thư là con 45, nghĩa của nó là sáng, cũng còn có nghĩa là lệ là lệ thuộc, là vơ; Lí:THIÊN tRẠCH lÝ( ): là số 55 của Hà Đồ, khi viết ra Dịch số là con Thiên Trạch Lí; Lí có nghĩa là chồng lên hay là chồng. Đạo Li Lí là đao vợ chồng và cũng là Đạo của Hà Lạc và vì Hà Lạc một hình vuông, một hình tròn nên Đạo LI LÍ cũng là đạo vuông tròn.
(5): Đồ Thư: Hà Đồ và Lạc Thư, cũng gọi là Hà Lạc
(6): Hình tạo ra bởi Hà Lạc , vuông tròn chồng lên nhau.

(Còn tiếp)

PhongVân
12-02-2006, 09:21 AM
Bài X: CÓ MỘT CHÚC THƯ

Có một chúc thư
Cũng thời xưa huyền thoại
Của Mẹ nào buổi khó phải chia con
Bao ngàn năm di chúc mãi vẫn còn
Sách không chữ mà chấm tròn đen trắng:
Một trăm chấm trên hai hình vừa vặn
55 con được sắp trên tượng Hà (1)
Là hình đồ cho nửa đám theo Cha
Di chúc đó là do Bà (2) viết tặng
Lập di chúc còn kèm theo lời dặn:
“Đông có mầy và Tây lại có tao (3)
Dẫu theo Cha hay Mẹ vẫn đồng bào
Tựa như thể bầy gà cùng chung Mẹ (4)
Và tựa như bánh chưng, dầy riêng rẽ
Mỗi đồ hình mang mỗi ý bên trong”
Chúc thư Cha (5) do Mẹ viết hầu mong
Nhằm nhắc nhớ Hà Đồ mang định tính
Hình Hà lạc số 45 thiên định
Là của ông để tặng đám ở nhà
Nhằm định phương và định vị nước ta
Cho dẫu đã trải qua bao niên kỷ
Hình Đồ Thư Mãi vẫn còn huyền bí
Huyền bí vô cùng và mầu nhiệm vô song!
Trạng Trình xưa phải chăng được truyền dòng
Ông đã “Quán” (6), đã thong dòng vô tự:
“Sách Ước trinh nguyên không một chữ
Gậy thần đốt trúc có hai đầu”
Sách để đời (7) ông viết được nhờ đâu ?
Chúng ta hãy lắng nghe ông tâm sự
Khi ông viết sấm truyền dòng Việt sử
Xin trích ra để bạn tự định toan:
“Nước Nam tự thuở Hồng Bàng
Đổi thay cuộc thế gian san chuyển vần
Từ Đinh, Lê, Lý Trần thuở trước
Đã bao lần vận nước đổi thay
Núi sông thiên định đặt bày
Đồ Thư một quyển xem ngay mới rành” (8) …
Nay mấy dòng mời anh, mời bác
Cùng trở về với Hà Lạc chúc thư
Giống Rồng Tiên đâu phải đám con hư
Đồ bất hiếu hay lũ người vong bản
Di chúc mãi vẫn là con đường sáng
Mong thư xưa soi rạng bước chân nay…

_________
(1): Hà đồ
(2): Mẹ Âu Cơ
(3): Lời Mẹ Âu Cơ nói với đám con theo Cha ra biển. Đông hướng biển, Tây hướng núi của dòng Việt từ thời lập quốc cho đến nay, thế nên, cũng như thế, từ Biển Mam (hay Nam Hải )là biển của người Mam (để phân biệt với Hán tộc phương Bắc). Và cũng vậy, từ Ải Nam Quan là chữ dùng chỉ địa danh (nói lên tên xứ, vùng của người Nam, chứ lhông có nghĩa là quan sát về phương Nam), nói thế để xác định Nam Hải và Nam Quan là thuộc lãnh thổ Việt tộc
(4): Mượn ý của câu “Khôn ngoan đối đáp người ngoà, gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”
(5): Chỉ hình Hà Đồ gồm 55 chấm (25 trắng 30 đen. Đen mang tính âm chỉ mẹ trội hôn (30) số chấm trắng của cha là 25) ngược lại Lạc Thư 45 chấm bả rằng của Cha vì số chấm trắng (dương) trội hơn 25 chấm trắng và chấm đen chỉ có 20). Cũng xin nhắc lại Hà Đồ hình tròn, mang tính dương nhằm định tính và định luật như là lời nhắc nhở của Mẹ cho Cha và đám con theo Cha; Lạc Thư hình vuông nói lên tính âm để định định vị cho Mẹ và đám con theo Mẹ ở sự dụng.
(6): Qủe Phong Địa Quán: Mang nghĩa quan sát chính những gì sự vật tự nó thể hiện ra qua biểu hiệu của các con lý số (hay dịch số)
(7): Sấm ký của Trạng Trình về vận mạng đất nước
(8): Lời mở đầu tập sấm ký của Trạng Trình Nguyễn Bính Khiêm


(còn tiếp)