PDA

View Full Version : TRƯỜNG SINH BẤT TỬ


DaoKy
01-09-2004, 02:10 PM
TRƯỜNG SINH BẤT TỬ .




Tư Âm Nguyễn Ðoài Sĩ , người làng Ðoài Xá , phủ Dạ Trạch tên tục là Nguyễn Lại , con nhà khá giả , được bố mẹ nuông cưng từ nhỏ , rồi cho sang làng bên theo thầy học đạo , vì thế cũng võ vẽ vài ba chữ thánh hiền , bụng thuộc dăm bảy câu thi phú , mà tự biểu là thế . Âu cũng là sính chữ đua đòi gọi hiệu cho sang .

Lớn lên , nhờ vãi tiền khắp trên dưới , vả lại khí chất cũng nhanh nhẹn nên lọt được vào phủ đường làm chân thư lại cỏn con , giúp việc kiện . Năm hai mươi tuổi lấy vợ . Vợ tên là Lý Hòa Liên , người cùng làng , phốp pháp , trắng , xinh xẻo . Trời phú cho thị họ Lý những bộ phận đàn bà có sự hơn người , với lại cũng biết cách chiều chồng , ăn ở mặn mà nên Nguyễn Lại yêu mê mệt . Trừ những lúc lo việc ở phủ đường , thời gian còn lại , chàng quấn quít bên vợ , ân ái say đắm . Ngày tháng qua đi êm ả , no đầy và dễ chịu . Cuộc sống yên vui tưởng như không có đáng lo nữa .

Một ngày nọ , gia đình họ Nguyễn gặp đại tang . Thân sinh chàng trúng cảm , qua đời ở tuổi năm mươi . Làm xong đạo hiếu , chàng vô cùng rẫu rĩ . Buồn vì mất bố là một lẽ . Nhưng chàng còn sợ hãi khi nghĩ rằng một ngày nào đó , đến lượt chàng lại cô lẻ nằm trơ trọi ngoài cánh đồng trống lạnh , mọi phú lộc làm ra , sự sung sướng trời ban đều không được hưởng nữa . Từ đấy chàng đâm ra lo buồn . Ðêm nằm thao thức nghĩ ngợi .

Một tối , người vợ quào chân sang hỏi :

- Chẳng hay chàng có điều gì khó ngủ ?

- Ta thấy tạo hóa vô lý quá , hà cớ gì con người cứ phải chết ? - chàng rầu rầu hỏi lại .

- Sự ấy có gì lạ . Sinh , lão , bệnh , tử , ai ai cũng phải chịu cái vòng ấy .

Chàng thở dài mà rằng :

- Than ôi , giá mà cứ được sống thế này mãi mãi .

Người vợ cười lớn rồi kéo khuôn mặt thẫn thờ của chàng mà áp vào bộ ngực trần phây phây quá cỡ nóng ran của thị .

- Thiếp nghĩ rằng , đã được sống thế này , có chết cũng thỏa .

Nói rồi , quờ tay tìm vật báu trên người chàng . Nguyễn Lại lịm đi . Nhưng càng hạnh phúc , càng sung sướng , chàng càng sợ chết , càng ham sống .

Tuy ngày ngày đi vợ tiễn , về vợ đón , cơm nóng canh ngọt , ủ ấp hằng đêm , chàng cứ thấy buồn buồn canh cánh một nỗi lo sợ . Ðêm nằm cạnh vợ chàng thường thở dài thườn thượt mà tự hỏi : Tại sao con người không sống mãi để hưởng cho hết lộc trời ?

Một hôm , dịp ấy đang là mùa xuân , cây cỏ đâm chồi nẩy lộc khoe sắc , người người hớn hở , rạng rỡ mặt mày , nơi nơi chốn chốn tưng bừng mở hội , chàng vẩn vơ ra phố ngắm cảnh . Chợt, lúc đó có một cụ già râu tóc bạc phơ từ phía trước hớt hải đi tới . Và có lẽ vì vội vã , cụ va phải Nguyễn Lại , đánh rơi cây thiền trượng .

Chàng cúi xuống nhặt lên , lễ phép hỏi :

- Ðang là ngày vui , có việc gì mà cụ phải gấp vậy ?

Ông già nói :

- Quí khách không rõ ư? Ta sợ chậm chân . Ðã đến dịp ta phải có mặt để nghe giảng đạo .

Họ Nguyễn bèn hỏi :

- Thưa, xin cụ cho biết cụ người ở đâu tới ? Và cụ đi thụ đạo ở nơi nào ?

Cụ già nhìn về phía dãy núi xa mờ trước mặt, nói :

- Ta người Thanh Liêm thuộc phủ Ðổng Quốc , hôm nay lên núi Phù Tiên để nghe Ðức Ðồng Chân Nhân Ðại Ðạo truyền thụ phép trường sinh bất tử .

Họ Nguyễn nghe vậy cả mừng , nghĩ rằng phải chăng đã tới lúc trời giúp , liền xoắn xít hỏi :

- Thưa, con hỏi khá đường đột , những người như con muốn thụ đạo trường sinh liệu có được ?

Ông già nhìn từ đầu đến chân viên thư lại, rồi nói :

- Ðược ! Nhưng quí khách đã nghĩ chín chưa ?

Nguyễn Lại đáp ngay :

- Dạ thưa , đó là điều tâm niệm của con bấy lâu nay mà con chưa có dịp - Chàng khẩn khoản - Mong cụ rộng lòng giúp cho , ơn này trời biển , con không dám quên .

Ông già nói :

- Ðạo là việc của trời ban cho mọi người . Ta vân du cùng khắp thiên hạ cũng là đạ thu nạp môn đệ cho Ðức Ðồng Chân Nhân Ðại Ðạo , dám đâu từ chối một ai .

Nguyễn Lại bàn quỳ xuống vái ông già :

- Vạn phúc cho con quá ! - Rồi hỏi : Con muốn báo cho vợ con là Thị Liên biết , chẳng hay có tiện ?

Ông già nhìn ra xa, nói :

- Còn quyến luyến bụi trần , e rằng khó đắc đạo ! Nếu thành tâm , xin đi ngay kẻo chậm .

Nguyễn Lại không chút đắn đo, liền khấp khởi bám gót ông già . Chẳng mấy lúc hai người ra khỏi phố phủ .

Tối ấy Thị Liên không thấy chồng về , chẳng rõ đã xảy ra cơ sự gì , chỉ biết tựa cửa ngóng ra . Ngày một ngày hai vẫn bằn bặt . Thị liền bỏ nhà , cất công dò hỏi . Nhưng tìm kiếm khắp , vẫn chẳng một tung tích của chồng . Thị buồn bã , vật vã khóc lóc , rồi cuối năm ấy , không thể thiếu vắng được đàn ông , bèn đi lấy người khác .

Nói về Nguyễn Lại , sau khi ra khỏi phủ , cảm thấy đôi chân mình nhẹ tênh liền bước gấp theo cụ già như bay . Ðêm hôm đó , hai người đến chân núi Phù Tiên . Ông già dẫn Nguyễn Lại đi men theo con đường mòn . Ðến một cửa hang sau lưng chừng núi thì dừng lại . Họ Nguyễn ngước lên thấy hàng chữ "Ðức Ðồng Ðại Ðạo Tôn miếu" lấp lánh ánh vàng thì mừng lắm . Hai người bước qua cửa , chỉnh đốn lại áo mũ , rồi theo hành lang rộng , đi vào . Phía cuối hành lang , thấy tỏa ra ánh hào quang rực rỡ . Ðến cửa thứ hai , cụ già ra hiệu cho Nguyễn Lại dừng bước . Bốn tiểu đồng nhận ra ông già liền vào trong bẩm báo . Ðức Ðồng truyền cho dẫn hai người vào . Ông già cùng Nguyễn Lại đi sâu vào Tôn miếu . Tới nơi , thấy Ðức Ðồng Chân Nhân Ðại Ðạo đang tọa trên sập vàng . Xung quanh , lung linh ngũ sắc , hương khói thơm lừng . Ông già quỳ xuống , Nguyễn Lại quỳ theo .

Chân Nhân Ðại Ðạo chỉ Nguyễn Lại và hỏi :

- Người này là ai ?

Ông già đáp :

- Thưa Ðức Ðồng , đây là họ Nguyễn , phủ Dạ Trạch muốn làm môn đồ theo học pháp trường sinh .

Chân Nhân Ðại Ðạo nói :

- Pháp trường sinh phải dày công tu luyện, người có kiên tâm không ?

Viên thư lại vội vàng thưa :

- Con kiên tâm !

- Liệu có quên được chuyện đời ?

- Dạ, con quên được, xin Ðức Ðồng cho thụ giáo .

- Ðạo của ta không được vương vấn trần ai , ta thấy ngươi thành tâm , ta chấp nhận .

Nguyễn Lại liền vái tạ .

Từ hôm ấy , họ Nguyễn ăn chay , ngày ngày ngồi cạnh vân sàng của Ðức Ðồng Chân Nhân Ðại Ðạo nghe giảng , tụng kinh... Tháng nọ nối năm kia , chỉ một chu trình : ăn , đọc kinh , buổi chiều đi dạo quanh sườn núi . Thấy công việc lặp đi lặp lại một cách đơn điệu tẻ nhạt , họ Nguyễn đâm ra chán , nhớ nhà , nhớ vợ . Nhưng cũng chỉ là nghĩ trong bụng mà không dám lộ ra . Việc đàn hương đọc kinh vì thế có phần sao nhãng . Ðược thụ pháp trường sinh như mơ ước của chàng , nhưng Nguyễn Lại bắt đầu chán nản . Chàng thấy cuộc sống xưa kia của chàng mới thú vị làm sao ! Và vì vậy chàng luôn bị cảnh giường chiếu cùng vợ ám ảnh . Ðêm đêm chàng trở mình , giấc ngủ chập chờn . Rồi chàng nghĩ: thà được sống như trước đây , bên vợ một hôm rồi chết còn hơn "trường sinh" một cách nhàm chán ở chốn này .

Vào một ngày nọ , cũng là tiết xuân , Nguyễn Lại cùng tiểu đồng đi vãn cảnh . Chợt nghe nhiều tiếng cười dưới chân núi vọng lên, liền dừng lại . Dưới đó , hội xuân đang kỳ rộ . Chỗ này kéo co , múa lân . Chỗ nọ đánh vật , quay đu . Náo nức , vui vầy . Nguyễn Lại dừng mắt lâu bên một cây đu . Nơi ấy , một trai một gái , quần nâu váy lĩnh đang quấn lấy nhau mà nhún . Váy người con gái tốc cao , lộ rõ cặp đùi trắng . Nguyễn Lại vội quay mặt , thở dài . Hôm sau , một mình chàng ra chỗ cũ , trông xuống . Ngày trước , mình cũng được sống vui vẻ như họ , chàng chợt nghĩ , và hình ảnh Thị Liên lại hiện ra . Ðêm đó , về đến Tôn miếu chàng bỏ cơm .

Hôm thứ ba , chàng dậy sớm , ăn mặc gọn gàng và xăm xăm lẻn xuống núi . Những tiếng cười trong trẻo của đám con trai con gái và sự trêu đùa của họ khiến chàng vui thú . Chàng lẫn vào đám đông đi hội lúc nào không hay .

Quê nhà cũng đang vào xuân , ta thử về đó một lần xem sao ! Nghĩ vậy , chàng liền cất bước .

Quê hương khác xưa nhiều quá ! Chàng có rõ đâu rằng một năm trên núi Phù Tiên là mấy chục năm nơi cõi đời - Chàng lạ lẫm như Từ Thức về làng . Chàng dò hỏi mãi , vẫn chẳng một người rõ Thị Liên là ai . Tới một ngôi nhà nọ , gặp bà cụ đã trên bảy mươi tuổi , tóc bạc trắng nhưng lại có những nét quen quen , chàng ngờ ngợ hỏi thăm . Bà lão không trả lời , chăm chú nhìn chàng rồi ngạc nhiên hỏi lại:

- Người là... có phải Thư Âm Nguyễn Ðoài Sĩ... Ngày xưa ?

- Thưa, cụ là...

- Tôi là... Lý Hòa Liên .

Nguyễn Lại thất kinh , khuôn mặt méo xệch , liền hét to một tiếng , và chàng choàng tỉnh , trong lòng vô cùng sợ hãi . Thì ra đó là một giấc mơ .

- Có gì khiến chàng run rẩy vậy ? - Người vợ bật dậy , ái ngại nhìn chàng và hỏi .

Nguyễn Lại ra khỏi giường , giật khăn thấm mồ hôi đang ướt đầm trán , rồi ngồi xuống , thở , và hổn hển kể lại mọi việc với vợ .

Thị Liên nghe xong cả cười , bèn thốc váy , phủ kín khuôn mặt chàng thư lại .....

DaoKy
13-12-2004, 02:36 PM
Jonh Christophe

Chổ Hẹn




Công ty cố thuyết phục tôi nghỉ một kỳ hè dài sau khi Helen chết đuối. Nhưng rồi họ đồng ý với tôi là tôi cần làm việc hơn là nghỉ ngơi. Sáu tháng sau họ lặp lại đề nghị cũ. Họ yêu cầu tôi tới nghỉ cuối tuần với gia đình Ashtons ở ngoại ô thành phố Luân Đôn. Ngoài tính hiếu khách, Freddy và Paula còn cố thúc đẩy tôi một cách thân hữu nhưng kiên trì. Họ đồng ý là “toa thuốc” của tôi có lẽ hợp lý. Nhưng đồng thời cơ thê cũng như trí não tôi có những giới hạn và tôi đã làm việc quá nặng nhọc, Paula dịu dàng vạch ra là tôi đã hướng về một cái gì chẳng mơ mộng chút nào chỉ là những năm cố tình biến thành vô nghĩa và không ích lợi gì. Dĩ nhiên lúc đó với tôi mọi sự đã thay đổi. Vết thương lòng từng là một điêm yếu đáng ngại nay đã có phần gắn lại. Vết thương này còn nhức nhối nhưng có thê chịu đựng được. Freddy bảo họ đã mua vé cho tôi dự một chuyến du ngoạn mươi ngày bằng tàu biên tới Nam Phi và tôi đã không cưỡng lại ông bạn của mình.

Suốt ngày tôi chìm đắm trong một trạng thái mơ màng mà tôi cố tình suy nghĩ đê khỏi phải quen biết với những hành khách cùng chuyến đi. Từ khi Helen qua đời, tôi chỉ gặp người khác với lý do duy nhất là làm việc. Thật là khó chịu và đáng sợ khi phải nhìn ngắm họ dưới khía cạnh thực tế của mỗi cá nhân riêng biệt: những người có hoặc không có một cá tính, đặc điêm nào đó. Tôi uống khá nhiều rượu, nhưng uống một mình. Chúng tôi chuyên từ vùng biên và mây một màu xám lạnh sang một vùng xanh thẳm, tươi sáng và ấm áp hơn. Và tôi đang ngồi trên một ghế đẩu cao lênh khênh cuối quầy rượu. Đêm nào tôi cũng yên lặng uống và chỉ tỉnh hẳn vào lúc 11 giờ sáng hôm sau. Tôi chẳng buồn lên bờ với những người khác khi tàu ghé bến.

Viên sĩ quan trưởng giao tế nhân sự có khéo léo ngỏ một hai lời gì đó với tôi, kê cho tôi nghe về một vài điều thú vị đáng xem và đáng làm ở Nam Phi, nhưng rồi ông ta bỏ ngay ý định khuyên tôi nên hành động một cách hợp lý như thế. Ông ta ra vẻ đã từng gặp nhiều người như tôi rồi.

Chính trong chuyến trở về tôi gặp Cynthia Parker. Một buổi sáng tôi đang ngồi ở chỗ quen thuộc nơi quầy rượu và vừa đốt điếu thuốc thì một giọng nói cất lên ngay đằng sau. Tôi xoay người lại, tay vẫn cầm que diêm đang cháy đỏ và thấy nàng giật lùi.
- Tôi rất lấy làm tiếc. - Tôi nói.
- Kỳ cục thật! - Giọng nàng thật cứng cỏi, có phần khàn khàn nhưng dê chịu. "Tôi sợ lửa từ lúc còn nhỏ. Ngay cả một que diêm cũng vậy. Tôi muốn hỏi ông có ai ngồi ở chiếc ghế này không!"

Tôi gọi cho nàng một ly rượu gừng và chỉ mười lăm phút sau nàng đã vượt qua bức tường bất hợp tác từng giúp tôi tách khỏi những người khác. Nàng có một lối nói thẳng không ngần ngại của một người tự tin mạnh mẽ. Ngoài ra nàng còn thông minh, có một óc khôi hài bén nhọn - những đức tính ít khi thấy cùng một lúc - và rất ấm áp có thê làm cháy lòng với một nụ cười, của một sắc đẹp tuyệt vời. Vì như đã tiết lộ trong 15 phút đầu tiên đó, nàng đã 66 tuổi.

Bề ngoài thì đây có vẻ là một kết hợp kỳ cục dù theo tiêu chuẩn của những chuyến hải du. Ngoài việc có gần 30 năm ngăn cách thì chúng tôi còn có rất ít điêm giống nhau. Tôi là một nhà doanh nghiệp tầm thường, đã làm việc như điên suốt thời tuổi trẻ và ngoi lên được, như người ta thường nói, nhờ những năm dài cực nhọc. Chỉ với Helen tôi mới biết những thú vui của cuộc sống, nhưng lại không kéo dài được quá ba năm ngắn ngủi. Cynthia ngược lại sinh ra trong nhung lụa và tiếp tục sống giữa giàu sang cho tới bây giờ. Bà ta đã kết hôn ba lần, trong đó có một lần ly dị và hai lần góa chồng. Tôi có cảm giác họ đều là những người giàu có và bà ta cũng là một người đàn bà “tiền rừng bạc bê”. Cynthia biết nhiều về tiền bạc. Một tối chúng tôi bàn về thị trường chứng khoán và tôi nhận ra tôi chẳng biết là bao so với bà ta. Cynthia còn là người kê chuyện khá hay và nghe chuyện cũng rất sáng trí. Và cái lối vượt qua mau mắn bức rào ngăn cách do tôi dựng lên kê ra cũng rất đáng kê. Hơn nữa bà ta tượng trưng cho mẫu người đầy nữ tính mà không cần pha thêm tình dục, một người an ủi lý tưởng cho những người đang ở tâm trạng như tôi. Còn vì sao bà ta tìm tới tôi thì khó xác định hơn. Không phải chỉ đê thoát cô đơn với bất cứ giá nào. Bà ta là người đàn bà chưa bao giờ và có lẽ sẽ không bao giờ cô đơn.

Cynthia uống rất khá nhưng không quá nhiều rượu. Bà ta đã tách tôi khỏi quầy rượu và trong nhiều giờ đáng lẽ tôi đã dùng làm bạn với ma men, thì chúng tôi lại nằm trên hai chiếc ghế phơi nắng cạnh nhau, ngắm sóng vỗ và nói chuyện. Hai ngày đầu tôi nói về công việc làm và tuổi niên thiếu của tôi. Ngày thứ ba tôi nói về Helen. Cynthia lắng nghe và sau cùng nói:
- Thì ra như vậy. Tôi đang tự hỏi việc gì đang đè nặng lên ông và tàn phá ông như vậy.

Bà ta nói như một tay y sĩ, có vẻ hài lòng vì đã gỡ rối được một trường hợp khó khăn. Có cái lạ là điều đó và việc bà ta không tỏ ra buồn bã một cách giả tạo như tôi thường gặp lại làm tôi dê chịu. Tỏ ra cảm tình với sự đau khổ là tự kỷ, là tìm cách kết thân. Bà ta thì như phản ứng cho thấy, có lẽ không bao giờ biết đau khổ vì mất một người nào. Điều là một địa ngục với tôi thì với bà ta chỉ là một câu chuyện nhỏ kỳ cục hay một ảo ảnh mà thôi. Cynthia kê cho tôi nghe câu chuyện nhỏ của chính bà ta sau bữa cơm tối hôm đó.

Chúng tôi ra quầy rượu làm một chầu trước khi đi ngủ và bà ta có vẻ rất khỏe khoắn, phê bình chua cay những hành khách cùng chuyến đi lọt vào cặp mắt sắc bén và cay độc của bà. Đối với một người sống hết mình như bà, ý tưởng đào thoát qua một chuyến hải du không thê chấp nhận được. Bà ta không hiêu mà cũng không tha thứ việc bỏ phí thời giờ dù dưới hình thức nào hay vì bất cứ lý do gì đi nữa. Đối với Cynthia những người đàn ông ăn mặc chải chuốt lịch sự chung quanh chúng tôi thì không khác gì những thanh thiếu nữ trong mấy bộ hippy, bụi đời đứng ngồi lê lết ở các quán cà phê, các góc phố. Họ đều là những người sa đọa, đáng khinh.

Tôi nghĩ tôi đã tìm ra một yếu điêm trong lời chỉ trích của Cynthia và tôi chộp ngay lấy. Dù sao bà ta cũng đang ở đây với họ cơ mà. Bà ta đã bảo tôi phần lớn bà ta sống ở Mỹ. Bà vừa đi thăm một người chị có gia đình ở gần Johannesburg và cần trở về Luân Đôn đê dự một buổi họp về vấn đề làm ăn. Tôi bảo như vậy bà ta đâu có cần dự chuyến hải du này. Thay vào đó bà ta có thê dùng máy bay tới Luân Đôn, và chuyến đi sẽ chỉ kéo dài vài giờ thay vì vài ngày.
Cynthia ngưng lại trước khi trả lời, ra hiệu cho người bồi rót thêm rượu. Rồi bà ta nói: "Trong đời tôi, tôi chưa bao giờ đi máy bay và sẽ không bao giờ đi".

Dĩ nhiên chúng ta có thê gặp những bà già không chịu hòa mình với tiến bộ tân kỳ, nhưng bà ta không thê thuộc hạng này. Bà ta đã kê cho tôi nghe là có một chiếc xe Thunderbird ở nhà và rất mê thuyền đua. Sự phủ nhận mạnh mẽ và bình thản phương tiện hàng không này làm tôi ngạc nhiên. Tôi hỏi:
- Tại sao vậy?
Bà ta cầm lấy ly rượu, nâng lên và nhìn tôi qua vành ly.
- Vì sợ. - Bà ta trả lời.
Tôi lắc đầu: "Khó tin quá".
Lại một lúc yên lặng và tôi nghĩ bà ta đang tìm cách đổi đề tài. Nhưng một lát sau bà ta bắt đầu nói với một giọng thật nhỏ nhẹ và tôi lắng nghe.

Thời gian là gần 50 năm về trước, thời mà cuộc Đại chiến thứ nhất đang lê lết kéo dài và chậm chạp tàn lụi dần. Lúc đó bà ta mới là một thiếu nữ mười tám tuổi. Ngay từ thời đi học nàng đã không thiếu người ái mộ và đầy hy vọng bước vào một thời toàn thịnh. Đứng trên quan điêm này thì chiến tranh thật là nản. Nhưng nếu trên khía cạnh khác thì chiến tranh lại là một nguồn cung cấp không bao giờ cạn những chàng trẻ tuổi đẹp trai trong quân phục, và một chút lòng ái quốc trong việc chấp thuận đi chơi và đê họ hiến dâng những giờ phút vui đùa, thoải mái. Những giờ phút thực sự thoải mái vẫn có ngay vào năm 1917 miên là đầy đủ phương tiện.

Có khoảng hàng tá chàng trẻ tuổi, một số nàng buồn hơn khi thấy phải xa rời họ so với kẻ khác, nhưng không người nào tạo cho nàng một cảm giác đặc biệt cho tới khi Tony Anderson xuất hiện. Tôi không tin là nàng yêu anh chàng vì tôi không nghĩ là có một lúc nào nàng lại không tự kiềm chế được mình tới mức đó, nhưng nàng có bị anh chàng mê hoặc thật và sự mê hoặc này sau bốn mươi tám năm vẫn còn biêu hiện rõ trong cách nàng đề cập tới anh chàng.

Chàng là một thanh niên cao lớn, hơi đen với một bộ râu mép rậm rạp sẫm màu, một cái mũi cong và đôi mắt xanh biếc sâu thẳm. Chàng rất khỏe mạnh và quyến rũ: lần đầu khi bắt tay chàng, nàng đã thấy ngay hai ưu điêm đó. Ngoài ra chàng còn nhiều điều đáng kê nữa. Chàng là cháu ngoại một ông quận công, con trai một trong những nhà tỷ phú trong ngành thép. Theo cha mẹ nàng cũng như chính nàng, chàng là người đầy đủ mọi điều kiện nhất. Sáu tuần sau lần gặp nhau họ đính hôn.

Nàng cảm thấy nơi chàng một cái gì man rợ và chính điều này đã lôi cuốn nàng nhưng chỉ tới một mức độ nào đó thôi. Chàng là một người nhiều bốc đồng và muốn thực hiện cho kỳ được chúng mới nghe. Có lần định mua cho nàng một chuỗi vòng đeo tay vào một giờ sáng, chàng liền dựng một ông chủ tiệm ở đường Bond đang ngủ trên giường dậy và kêu ngay một chiếc taxi tới đê đi. Chàng đưa nàng đi pic-nic trên một con sông - chỉ có chàng, nàng, rượu sâm banh ướp đá và một thùng trái cây hiệu Fortnum - nhưng khi đặt chân đến một hòn đảo nhỏ gần một bãi biên hoang vắng, tiếng nhạc êm dịu đã vang vọng lên: cả nhóm đàn dây của dàn nhạc Đại Hòa Tấu Hoàng Gia Luân Đôn đã có mặt đê sẵn sàng giúp vui. Tất cả những trò này thì rất hấp dẫn và kích thích, nhưng cũng nhuốm màu đáng sợ nữa. Vì nếu rất rộng rãi chàng cũng lại rất đòi hỏi. Và đã hiến dâng trọn vẹn cho nàng, chàng cũng đòi hỏi nàng tương tự. Chàng bảo nàng là của chàng cho đến muôn đời.
Nàng rùng mình, mỉm cười và nói:
- Anh à, có lẽ anh hơi mơ mộng quá so với truyền thống dân Anh mình đó. Ngay kinh thánh cũng chỉ nói: tới khi cái chết chia rẽ chúng ta thôi mà.
Cặp mắt màu xanh nhìn nàng chăm chú, chiếc miệng đầy đặn không hé một nụ cười. Chàng bảo nàng:
- Đê anh kê em nghe một câu chuyện này.
- Thơ mộng chứ hả anh!
- Nếu em thích. Chuyện về bà ngoại anh.
Nàng là con gái một nhà quý tộc đính hôn với một vị quận công. Cha nàng được bổ làm Đại Sứ tại triều đình Hoàng Đế thành Vienne và nàng theo cha tới đó. Nàng gặp - không ai biết rõ tại sao - một chàng trai Hungari. Chàng ta thật chẳng có gì hấp dẫn, là một tay cách mạng chàng còn thuộc sắc dân gypsy, một sắc dân thiêu số sống thành bộ lạc và nổi tiếng giang hồ. Cả hai yêu nhau. Và tới gần ngày thành hôn thì nàng đã có bầu. Nàng thổ lộ cùng người tình và anh chàng hân hoan ra mặt. Họ sẽ cùng bỏ trốn và sẽ sống một cách yên lành tại một vùng đất an bình. Nàng là của chàng và chàng là của nàng. Chàng tin tưởng nơi nàng và tình yêu của hai người. Nhưng nàng yếu đuối và lo sợ những gì sẽ xảy ra cho mình. Nàng thú tội cùng cha và ông ta đem chuyện kê lại với vị quận công. Vị này thì vốn rất thực tế. Ông ta quá nghèo dù là quận công, trong khi cha nàng lại rất giàu dù chỉ là một ông bá tước. Của hồi môn đã lớn lao của nàng bây giờ lại càng rộng rãi gấp bội. Hôn lê giữa nàng và ông quận công được cử hành như đã dàn xếp. Và cặp vợ chồng mới cưới đầy hạnh phúc cùng nhau tới sống tại một biệt thự yên tĩnh và hẻo lánh ở Thụy Sĩ. Đứa con chào đời ở đây là một bé gái. Mọi sự tốt đẹp hơn là mong đợi. Tương lai gia đình đã yên ổn và bây giờ tới lượt các cậu con trai.

Phải nói là đã tới lượt nếu nàng còn sống.
Cha nàng vẫn làm Đại Sứ. Hai vợ chồng nàng tới Vienne vào mùa xuân, gần đúng một năm sau khi nàng rời bỏ nơi này với người yêu. Thay vì ở tòa đại sứ, họ ở tại một căn nhà nhỏ dùng đê săn bắn trong rừng. Đây là nơi người tình của nàng đã từng bị gia nhân viên quận công bắt giữ. Giường của đôi vợ chồng kê ngay trong căn phòng nơi chàng trẻ tuổi bị hai người giữ chặt hai tay trong khi vị quận công đâm chàng tới chết. Ông này giấu vợ chuyện giết tình địch, định sáng mai sẽ kê, vì như mọi người thực tế khác, ông ta hãnh diện về óc khôi hài của mình. Bà quận công đi ngủ trước trong lúc ông chồng ngồi lại uống nốt ly rượu nho. Khi ông vào với vợ thì nàng đã chết giữa đám máu đông tuôn ra từ một vết dao găm nơi ngực.

Cynthia ngừng lại và tôi kêu cho bà ta một ly rượu nữa.
- Ghê quá, nhưng có vẻ không thật. Chắc nàng đã tự tử?
- Không. Tại sao nàng lại phải tự tử? Nàng đâu có biết người tình của mình đã chết. Chính trong ngày hôm đó nàng đã nhờ một người tớ gái dò hỏi tin tức của chàng. Yên ổn mọi bề rồi nàng lại muốn thêm một chút mơ mộng. Hơn nữa nàng là người rất sợ máu.
- Vậy chắc ông chồng đã giết nàng.
- Cũng không phải nữa. Vì có một điều khoản về của hồi môn định số tiền được giữ lại cho con gái nàng. Ông ta có bị nghi ngờ một thời gian, nhưng ông cũng thấy, không có dấu vết một con dao găm nào cả.
- Vậy thì...?
- Một vụ ăn trộm, cảnh sát kết luận. Một kẻ vô danh đã lén vào, bất chợt gặp bà quận công trên giường và giết bà ta đê khỏi bị lộ. Rồi bỏ trốn.
Tôi nhấm nháp ly rượu:
- Có vẻ có lý lắm.
- Tôi cũng đã nói như vậy.
- Thế ông ta - vị hôn phu của bà - không đồng ý à?
- Anh ấy là một người có máu gypsy chắc ông còn nhớ. Chính phần nhỏ này của tổ tiên đã ảnh hưởng mạnh tới anh ấy chứ không phải là những phần còn lại. Anh ấy đã sang Hungari tìm ra bộ lạc và sống với họ một thời gian, học biết dần những tín điều của họ. Một trong số đó là cái chết dữ sẽ giữ chặt linh hồn người quá cố tại nơi chết đã xảy ra. Và nếu nguyên do còn là mối tình lớn hay một hận thù vĩ đại, linh hồn đó có thê đòi đền bồi khi người đã gây ra ghé ngang qua đó. Đó là một thứ tin tưởng có một giá trị xã hội nào đó. Trong trường hợp sát nhân, kẻ tình nghi bị trói tại nơi án mạng. Việc sáng hôm sau thấy những tay này chết tại chỗ là chuyện thường tình.
- Cũng không có gì đáng ngạc nhiên lắm. - Tôi nói - Vậy theo ý ông ta thì ông cố tình trở lại trả thù người tình không trung thành? Và đâm chết nàng với một con dao vô hình nào đó?
- Phải. Anh ấy tin như vậy.
- Bà vẫn chưa cho tôi biết là tại sao bà lại sợ đi máy bay?
- Anh ấy là một phi công trong Không Lực Hoàng Gia. Đó là thời của những khinh khí cầu bay trên thành phố Luân Đôn. Một đêm anh ấy tấn công và bắn cháy một chiếc. Đó là một cuộc tấn công gan dạ vượt quá mức can đảm thường tình. Phải nói là liều lĩnh nữa. Anh ấy cũng bị rớt và cháy cùng kinh khí cầu. Họ truy tặng anh ấy huy chương Victoria Cross.
- Đến đây tôi vẫn chưa hiêu.
Bà ta chậm rãi:
- Anh ấy nói với tôi là tôi là của anh ấy, thuộc về anh ấy suốt đời và cả sau khi chết nữa. Khi anh ấy kê cho tôi nghe về ông ngoại và bà ngoại mình là có ý muốn nói sẽ tới tìm tôi nếu tôi phản bội. Và tôi đã phản bội thật.
Cặp mắt vẫn còn tuyệt vời của bà chăm chú nhìn tôi.
- Tôi cũng có thai. Một tháng sau khi anh ấy tử trận, tôi tự hiến mình và đứa con trai của anh ấy cho một người đàn ông khác.
Tôi phản đối:
- Làm sao bà có thê bảo đó là phản bội? Bà có trách nhiệm gì về cái chết của ông ấy đâu.
Bà ta nhún vai:
- Cái chết không thành vấn đề với anh ấy. Quan trọng là tình yêu và danh dự. Anh ấy đã dự phòng trường hợp mình qua đời, và hy vọng tôi sẽ nuôi con, sống như một góa phụ cho tới khi cái chết kết hợp lại hai đứa chúng tôi. Thay vì vậy tôi lại kết hôn và đó chính là một sự phản bội.
Tôi lắc đầu:
- Và bà nghĩ là vì vậy...
- Anh ấy chết trên không. Nên anh ấy có đợi tôi thì chắc là ở trên không. Tôi cũng có thê đối diện cái chết như bất cứ ai, nhưng không phải là trên một chiếc máy bay bốc cháy. Không phải chết đê kết hợp lại với anh ấy.
- Gần năm mươi năm trước - Tôi nói - và dựa trên một truyện truyền kỳ xưa hơn năm mươi năm nữa.
- Năm mươi năm có nghĩa gì? - Bà ta chăm chú nhìn hàng chai sau quầy rượu. - Tôi nhớ anh ấy rõ hơn là tôi nhớ ông sau khi chúng ta rời khỏi chiếc tàu này.

Chúng tôi từ biệt nhau ở Southampton, và không hy vọng gì sẽ gặp lại nhau. Quả vậy. Tôi trở lại làm việc. Thỉnh thoảng tôi có nhớ tới bà ta trong những giờ phút yên lặng ban đêm khi không ngủ được và tôi đi xuống nhà dưới tìm một chai rượu. Chính sự trớ trêu đánh mạnh vào tâm trí tôi nhất. Hai người gặp nhau trên một chuyến tàu chẳng có gì giống nhau trừ nỗi ám ảnh của cái chết. Một thì ước gì những người chết được an nghỉ nhưng sợ họ sống lại. Người kia thì sẵn lòng hy sinh tất cả đê những người đã qua đời được hồi sinh, nhưng lại biết là họ chết thật rồi.

Rồi tình cờ tôi thấy tên Cyathia trên mặt báo và đọc được bài tường thuật về cái chết của bà ta. Bà đã qua đời trong một căn phòng ở khách sạn. Theo bài báo thì có lẽ vì nằm hút thuốc trong giường rồi ngủ quên.

Nhưng Cynthia có hút thuốc bao giờ đâu và bà ta sợ mọi thứ lửa, ngay cả ngọn lửa của một que diêm. Chủ khách sạn chứng minh ngay là không có một sự sơ suất nào về phần họ. Mỗi tầng, mỗi phòng đều được bọc chất kỵ lửa, các đường dây điện không thê nào chê được. Và hơn nữa đây là một khách sạn vừa mới xây xong. Vậy mà bà ta lại chết cháy.

Vì Cynthia đã quên là sau năm mươi năm mặt đất đã cao dần tiến lên gặp gỡ bầu trời. Đó là một khách sạn rất mới, khách sạn Metropolitan Towers, và ngôi nhà này vượt lên hẳn khỏi đám mái ngói dầy đặc của thành phố Luân Đôn. Bốn mươi lăm tầng cả thảy và phòng bà ta ở tầng thứ bốn mươi hai. Khoảng 500 bộ. Tôi kiêm chứng lại trong tờ The Illustrate - London News cũ. Chiếc kinh khí cầu đã bị hạ và mất độ cao khi ông ta quay lại tấn công lần chót. Người ta ước chừng lúc đó vào khoảng 500 bộ...

DaoKy
13-12-2004, 02:47 PM
Trương Vĩnh Ký

Cường Từ Thức truyện




Năm Quang-thái đời Trần, ở trong xứ Hóa-châu (Huế, ngũ quang) có tên Từ-Thức vốn dòng-trâm anh. Cha người xưa dự bực công khanh, nhờ ơn vua nên mạng tù thân, làm quang Tể-huyện coi hạt Tiên-du. Gần miền có một chùa tên là Lam-tích, góp thâu cảnh bầu thiên, mẫu-đơn một đóa sen mấy nhành, tiếng đồn khắp hết gần xa, trẻ già náo-nức yến anh dập diều.



Từ-Thức cũng ra đi coi cho biết, tới nơi hoa mẫu-đơn, bỗng đâu xảy gặp một người xinh tốt lịch-sự quá chừng quá đỗi, trên trời cũng ít có, dưới đời thì hản không. Thấy nàng (Giáng-hương) bị kẻ giữ hoa bắt cầm, thì thương mới đòi trẻ tùy-nhi mà biểu nó đi hỏi vì cớ làm sao làm vậy? Người ta nói nàng coi hoa nên bị bắt. Từ-Thức rằng trọng vọng gì thứ ấy, mà khách tiên phải tay phàm nhủm-nha như vậy. Bèn bước tới cổi áo gấm ra cho thằng canh, mà xin tha cho nàng đi.



Nàng tiên cám ơn Từ-Thức hết lòng. Rồi từ tạ trở về cõi tiên. Chàng Từ-Thức từ ấy những thương những nhớ luôn luôn, nên buồn đi chơi mãi, những say cảnh vật thú vui. Sau treo ấn-tín từ chức quờn đi. Sắm thuyền tớ thầy đi lưu-linh dạo cảnh chơi, đụng hang nào ghé hang nấy coi; khỏi Xích-bích tới Viên-đào, trải qua non nước khắp nơi. Ngày kia trông ra cửa Thần-phù, (7) ngoài xa biển, ở bắc quấc chạy qua nam phương, mới nói với nàng Giáng-hương mà xin về thăm quê đặng có phú trối việc nhà cho an rồi hãy trở lại non tiên mà ở mãn kiếp cùng nhau. Nàng Giáng-hương mới năn nỉ cầm ở lại, mà chàng Từ-Thức rằng-rằng quyết một xin về. Đem nhau vào chầu chúa Tiên coi thử người phán dạy lẽ nào. Chúa tiên phán rằng chàng còn lòng tục chưa dời, còn nhớ tưởng sự đời bấy lâu thì thôi, về thì cho về, cho xe tiên đưa về. Giáng-hương mới trao một bức thơ phong làm của đưa chàng.



Chàng Từ-Thức cầm thơ từ tạ ra về. Tới nơi thì đã vật đổi sao dời khác xưa. Tìm nhà nhà chẳng còn; tìm người, người những mặt lạ cả; không thấy lấy một người quen, hỏi ông bà già cả, thì nói không biết, nói tên nói họ ra cũng không ai biết; các ông già nói: từ thuở nhỏ có nghe nói tên ấy họ ấy mà biết đã mấy đời rồi bây-giờ còn ở đâu mà tìm?



Từ-thức ngơ ngáo không biết làm sao, muốn trở lại non tiên cùng nàng Giáng-hương, hay đâu sự dở-dang ra rồi; xe mây đưa mình nó đã đi mất đi. Một mình bơ vơ ngao ngán, mới mở thơ ra mà coi, thì biết đã đành cách-biệt, không còn lẽ trở lại nữa được. Thở than than thở ra đi, chun vào ở núi Huỳnh-sơn, ở ăn đó làm sao thì biệt tích không rõ đặng.