View Full Version : Kinh Dịch-sản Phẩm Sáng Tạo Của Văn Hiến âu-lạc
khonglaai
21-10-2005, 10:55 PM
Chúng tôi đã làm xong công trình nghiên cứu Dich. Và hoàn toàn có chứng cớ chứng minh "KINH DỊCH LÀ SẢN PHẨM SÁNG TẠO CỦA NGƯỜI VIỆT". Chúng tôi rất vui khi ban quản trị mở mục VĂN HIẾN LẠC VIÊT. Vậy chúng tôi sẽ đăng ở đây. Thế nhưng để cho đúng mạch của công trình, chúng tôi mong muốn cho chúng tôi d9a8ng hết công trình vào một muc. Còn nếu muốn thảo luận, chúng ta mở mục khác.
Nếu đồng ý vậy xin ban quản trị cho biết.
Thân.
khonglaai
khonglaai
21-10-2005, 11:09 PM
Gởi ban quản trị!
Vì bài viết nhiều hình ảnh nếu có thể các anh giúp tôi download hình ảnh. Nếu được chúng tôi sẽ gởi từng trang đến ban quản trị, ban quản trị đưa lên.
Thân ái.
khonglaai
Quản Trị Viên 9
21-10-2005, 11:09 PM
Vâng kính mong bác Khonglaai viết.
Chủ đề này sẽ được thông suốt từ đầu đến cuối, những thảo luận sẽ ghi sang mục Hành lang
Trân trọng
Quản Trị Viên 9
21-10-2005, 11:11 PM
Tất cả hình ảnh phiền bác gửi đến địa chỉ E Mail sau:
vapensiero_vn@yahoo.de
Quản Trị sẽ đăng hình ảnh đầy đủ lên cho bác, sẽ tạo điều kiện thuận lợi nhất để bài viết của bác đến với bạn đoc.
Trân trọng
khonglaai
22-10-2005, 06:08 AM
KINH DỊCH, SẢN PHẨM SÁNG TẠO CỦA NỀN VĂN HIẾN ÂU LẠC
Lời nói đầu.
Chuyện về lịch sử đâu đến lượt anh chàng làm về tự nhiên như chúng tôi thực hiện. Thấy tranh luận của anh Thiên Sứ (Nguyễn Vũ Tuấn Anh) và các người khác về văn hiến Việt mà hứng khởi. Để rồi viết mà chê trách cái Hà Đồ. Hà Đồ hoàn toàn không hợp với Tiên Thiên. Vậy phải chăng Hà Đồ sai, hay Tiên Thiên sai?. Hay Hà Đồ được vẽ ra không dùng để ký hiệu Tiên Thiên?!
Rồi càng nghiên cứu, càng lý thú. Đầu tiên, tôi thử đặt một giả thiết: “Anh Thiên Sứ đúng”. Và lý luận tiếp: “Nếu anh Thiên Sứ đúng thì truy nguyên lại, người Trung Quốc hoàn toàn không nắm bắt được những tư tưởng Hà Đồ, Lạc Thư.”. Hà đồ thì khó, chứ Lạc Thư chả có gì đáng nói về toán học. Nó cũng chỉ là magic matrix đơn giản nhất thôi. Và trí tuệ người cổ đại hoàn toàn đạt được. Với bất cứ dân tộc nào!
Mốc đột phá đầu tiên nhất là khi chúng tôi thử nghiên cứu đối xứng của cái gọi là “Hậu Thiên Bát Quái Văn Vương”. Nó thật thảm hại, luộm thuộm và phi logic đến mức buồn cười. Rồi dần dần ý tưởng về trống đồng của anh Nguyễn Thiếu Dũng đã thôi thúc tôi. Ừ nhỉ? Tại sao không? Thế ông cha ta để lại thông điệp gì trên trống đồng. Thử dùng một thứ logic tự nhiên, đơn giản nhất để hiểu các cụ xem sao. Khoan nghĩ đến góc độ mỹ thuật để mà trầm trồ: “Ôi đẹp quá! Văn hiến Lạc Việt rực rỡ đấy chứ.”. Liệu có chăng một thứ triết lý nào đó trên trống đồng? Thay vì trầm trồ, thán phục vẻ đẹp của chúng (trống đồng), ta hãy lắng mình tìm những chi tiết nhỏ nhạnh nhất để thử tìm lại cái gì mà ông cha ta gởi gắm vào đó. Mặc dù, cái đẹp cũng là cái rất to tát rồi.
Nào ngồi xuống đây, tôi kể anh nghe. Việt Nam ta có bí quyết trống đồng. Qua bao nhiêu trầm luân, Hán thuộc, Tây thuộc đủ cả; nhất là thời kỳ Bắc thuộc tổ tiên ta chịu mất đi ngữ văn của mình, chịu mất đi một phần ngôn ngữ cổ truyền của mình, chịu mất đi bao tài năng xuất chúng cho kẻ xâm lược. Thế mà bí quyết trống đồng, phương bắc không thể nào chiếm đoạt được. Cái gì thiêng liêng đến mức vậy?. Cái gì mà tổ tiên tôi với anh dù có bị tù đày, tra tấn, nhục hình vẫn không khai? Nó phải là cái gì cao quý chứ. Ít ra đối với dân tộc chúng ta.
Tôi bắt đầu tìm lại “nền văn hiến mồ côi...” như ông Kim Định đã viết. Càng thôi thúc tôi hơn khi đọc được bài phỏng vấn của bà Patricia Pelley trên BBC:
BBC:Về vấn đề bản sắc dân tộc, chẳng phải đó đã luôn là quan tâm của mọi thế hệ sử gia hay sao?
Đúng vậy, nhưng trong các xã hội hậu thuộc địa, không chỉ riêng ở Việt Nam, vấn đề bản sắc mang một tầm quan trọng đặc biệt. Nhất là khi các sách thời thuộc địa của Pháp tỏ ra tiêu cực về Việt Nam. Chẳng hạn, khi các nhà khảo cổ Pháp khai quật vùng Đông Sơn và thấy sự rực rỡ của trống đồng, họ liền cho rằng đây không thể nào là thành quả của người Việt.
Người Pháp rõ ràng nghĩ họ đã chiếm được nước ta thì nước ta làm gì có nền văn hiến đáng kể!!! Hẳn nhiên, người Pháp với chủ quan của họ có quyền phán xét như vậy. Nhưng chúng ta có quyền nghĩ vậy không là điều đáng nói. Liệu chúng ta có thể nói văn hiến chúng ta không đáng kể trong khi dù bị đô hộ 1000 năm, dân tộc ta vẫn trường tồn không?...
Khá khen cho các học giả người Pháp chăm chú và một cách thành kính nghiên cứu văn hiến Maya, văn hiến Aztec. Nền văn hiến của một dân tộc đã biến mất trên thế gian này; đâu còn gì để so đo, ganh tỵ mà mình không khen cơ chứ. Còn văn hiến của một dân tộc mất nước, một dân tộc bị mình đô hộ thì có chi đáng kể. Nếu có gì đó rực rỡ hay vĩ đại quá ngược với thành kiến của ta, ta cứ phán là không phải thành quả của họ.
Người dân tộc khác cũng hoàn toàn logic khi nói: “Dân tộc Việt của các anh xướng ca vô loài, đàn bà đàn ông nhảy nhót với nhau, không ra thể thống gì. Làm gì có thể đặt vấn đề triết thuyết ra đây? Các anh làm ra trống đồng thật đấy. Nhưng há có một dân tộc nào không có một nghệ nhân khéo léo nào đó?! Người nghệ nhân của các anh chỉ vẽ thô sơ lại một vũ hội nào đấy mà thôi.”. Có thể như thế vậy chăng? Chuyện cơ ngẫu thì trong triết học từ Á sang Âu đều có viết. Nhưng người nghệ nhân làm ra một sản phẩm trí tuệ liệu có ngẫu nhiên phát họa những hình ảnh đập vào mắt mình không?...
Và tôi đã tìm ra những ngẫu nhiên đáng ngờ...
khonglaai
22-10-2005, 06:10 AM
Cảm ơn quý vị quan tậm Thật ra tôi chỉ có thể đăng lên chừng đó thội Còn lại có nhiều hình và nhiều bạng Thành ra cảm phiền quý vi.
Thân ại
khonglaai
khonglaai
22-10-2005, 06:12 AM
Tôi xin đưa lên đây, phần bài viết mà anh khonglaai đã chuyển cho tôi.
http://www.vietlyso.com/memup/upload/Dala/Bq1.JPG
Quản Trị Viên 9
24-10-2005, 06:10 PM
Trang 2
http://www.vietlyso.com/memup/upload/Dala/Bq2.JPG
Quản Trị Viên 9
24-10-2005, 06:11 PM
Trang 3
http://www.vietlyso.com/memup/upload/Dala/Bq3.JPG
Quản Trị Viên 9
24-10-2005, 06:11 PM
Trang 4
http://www.vietlyso.com/memup/upload/Dala/Bq4.JPG
Quản Trị Viên 9
24-10-2005, 06:12 PM
Trang 5
http://www.vietlyso.com/memup/upload/Dala/Bq5.JPG
khonglaai
24-10-2005, 11:01 PM
Chương hai.
Tính đối xứng của một số bát quái tiêu biểu.
Tiên Thiên Bát Quái.
Đối xứng qua biến đổi các f:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/1.jpg
Vòng quay bậc 2: ½
Tâm bậc hai: Có
Trục bậc 1: Trục cắt hai đường Tốn-Càn, Khôn-Chấn làm đôi.
Trục bậc 2: Trục nằm giữa hai đường Cấn-Ly, Khảm-Đoài.
Vậy: công thức biểu thị: ½VQ2-T2-1TR1-1TR2.
Qua f1,3:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/2.jpg
Vòng quay bậc 2: ½
Tâm bậc hai: Có
Trục bậc 2: 2 trục. 1 trục nằm giữa hai đường Cấn-Ly, Khảm-Đoài. Trục kia nằm giữa hai đường Tốn-Càn, Khôn-Chấn.
Vậy: công thức biểu thị: ½VQ2-T2-2TR2.
Qua f1,4:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/3.jpg
Vòng quay bậc 2: 1/4
Tâm bậc hai: Có
Trục bậc 2: 4 trục. 2 trục nằm giữa hai đường Cấn-Ly, Khảm-Đoài và Tốn-Càn, Khôn-Chấn. 2 trục chia đôi hai đường Chấn-Ly, Khảm-Tốn và Đoài-Càn, Khôn-Cấn.
Vậy: công thức biểu thị: 1/4VQ2-T2-4TR2.
Qua f1,5:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/4.jpg
Vòng quay bậc 2: 1/4
Tâm bậc hai: Có
Trục bậc 2: 4 trục. Nằm giữa hai đường Cấn-Ly, Khảm-Đoài; Tốn-Khôn, Càn-Chấn; Tốn-Ly, Khảm-Chấn và Đoài-Khôn, Càn-Cấn.
Công thức biểu thị: 1/4VQ2-T2-4TR2.
Qua f1,6:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/5.jpg
Vòng quay bậc 2: 1/2
Tâm bậc hai: Có
Trục bậc 2: 2 Trục. Nằm giữa hai đường Cấn-Ly, Khảm-Đoài và Tốn-Khôn, Càn-Chấn.
Công thức biểu thị: 1/2VQ2-T2-2TR2.
Qua f1,7:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/6.jpg
Vòng quay bậc 2: ½
Tâm bậc hai: Có
Trục bậc 1: Trục cắt hai đường Cấn-Khảm, Ly-Đoài làm đôi.
Trục bậc 2: Trục nằm giữa hai đường Tốn-Khôn, Càn-Chấn.
Vậy: công thức biểu thị: ½VQ2-T2-1TR1-1TR2.
Qua f1,8:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/7.jpg
Vòng quay bậc 2: 1/8
Tâm bậc một: Có
Trục bậc 2: 8. 4 nằm trên Khôn-Càn, Cấn-Đoài, Tốn-Chấn và Khảm-Ly. 4 nằm giữa hai đường Tốn-Khôn, Càn-Chấn; Khảm-Chấn, Tốn-Ly; Cấn-Ly, Khảm-Đoài; Khôn-Đoài, Cấn-Càn.
Vậy: công thức biểu thị: 1/8VQ2-T1-8TR2. Đây là đối xứng cao nhất của một hình bát quái có thể có được.
Qua f2,1:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/8.jpg
Đến đây, để rút gọn, chúng tôi chỉ đưa ra công thức biểu thị
Công thức biểu thị: 1/2VQ2-T2-2TR2.
Qua f2,2:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/9.jpg
Công thức biểu thị: 1/2VQ2-T2-1TR14-1TR2.
Qua f2,3:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/10.jpg
Công thức biểu thị: 1/2VQ2-T2-1TR14-1TR2.
Qua f2,4:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/11.jpg
Công thức biểu thị: 1/2VQ2-T2-2TR2.
Qua f2,5:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/12.jpg
Công thức biểu thị: 1/2VQ2-T2-2TR2.
Qua f2,6:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/13.jpg
Công thức biểu thị: 1/2VQ2-T2-1TR14-1TR2.
Qua f2,7:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/14.jpg
Công thức biểu thị: 1/2VQ2-T2-1TR14-1TR2.
Qua f2,8:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/15.jpg
khonglaai
26-10-2005, 02:50 PM
Công thức biểu thị: 1/2VQ2-T2-2TR2.
Qua f3,1:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/16.jpg
Công thức biểu thị: 1/2VQ2-T2-2TR2.
Qua f3,2:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/17.jpg
Công thức biểu thị: 1/2VQ2-T2-1TR14-1TR2.
Qua f3,3:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/18.jpg
Công thức biểu thị: 1/2VQ2-T2-2TR2.
Qua f3,4:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/19.jpg
Công thức biểu thị: 1/2VQ2-T2-1TR14-1TR2.
Qua f3,5:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/20.jpg
Công thức biểu thị: 1/2VQ2-T2-1TR14-1TR2.
Qua f3,6:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/21.jpg
Công thức biểu thị: 1/2VQ2-T2-2TR2.
Qua f3,7:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/22.jpg
Công thức biểu thị: 1/2VQ2-T2-1TR14-1TR2.
Qua f3,8:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/23.jpg
Công thức biểu thị: 1/2VQ2-T2-2TR2.
khonglaai
26-10-2005, 02:57 PM
Qua f4,1:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/24.jpg
Công thức biểu thị: 1/2VQ2-T2-2TR2.
Qua f4,2:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/25.jpg
Công thức biểu thị: 1/2VQ2-T2-2TR2.
Qua f4,3:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/26.jpg
Công thức biểu thị: 1/2VQ2-T2-1TR14-1TR2.
Qua f4,4:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/27.jpg
Công thức biểu thị: 1/2VQ2-T2-1TR14-1TR2.
Qua f4,5:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/28.jpg
Công thức biểu thị: 1/2VQ2-T2-1TR14-1TR2.
Qua f4,6:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/29.jpg
Công thức biểu thị: 1/2VQ2-T2-1TR14-1TR2.
Qua f4,7:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/30.jpg
Công thức biểu thị: 1/2VQ2-T2-2TR2.
Qua f4,8:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/31.jpg
Công thức biểu thị: 1/2VQ2-T2-2TR2.
khonglaai
26-10-2005, 03:07 PM
Qua f5,1:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/32.jpg
Công thức biểu thị: 1/2VQ2-T2.
Qua f5,2:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/33.jpg
Công thức biểu thị: 1/2VQ2-T16-1TR16-1TR2.
Qua f5,3:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/34.jpg
Công thức biểu thị: 1/2VQ2-T16.
Qua f5,4:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/35.jpg
Công thức biểu thị: 11/2VQ2-T16-1TR16-1TR2.
Qua f5,5:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/36.jpg
Công thức biểu thị: 1/2VQ2-T2-2TR2.
Qua f5,6:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/37.jpg
Công thức biểu thị: 1/2VQ2-T2.
Qua f5,7:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/38.jpg
Công thức biểu thị: 1/2VQ2-T2-2TR2.
Qua f5,8:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/39.jpg
Công thức biểu thị: 1/2VQ2-T16.
khonglaai
26-10-2005, 03:12 PM
Qua f6,1:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/40.jpg
Công thức biểu thị: 1/2VQ2-T2.
Qua f6,2:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/41.jpg
Công thức biểu thị: 1/2VQ2-T16-1TR16-1TR2.
Qua f6,3:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/42.jpg
Công thức biểu thị: 1/2VQ2-T16-1TR16-1TR2.
Qua f6,4:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/43.jpg
Công thức biểu thị: 1/2VQ2-T16.
Qua f6,5:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/44.jpg
Công thức biểu thị: 1/2VQ2-T2.
Qua f6,6:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/45.jpg
Công thức biểu thị: 1/2VQ2-T2-2TR2.
Qua f6,7:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/46.jpg
Công thức biểu thị: 1/2VQ2-T2-2TR2.
Qua f6,8:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/47.jpg
Công thức biểu thị: 1/2VQ2-T16.
Tổng kết:
-Theo công thức biểu thị:
+1/8VQ2-T1-8TR2: 1 (f1,8)
+1/2VQ2-T16-1TR16-1TR2: 4 (f5,2, f5,4, f6,2, f6,3)
+1/2VQ2-T16: 4 (f5,3, f5,8, f6,4, f6,8)
+½VQ2-T2-1TR1-1TR2: 2 (f1,2, f1,7)
+1/2VQ2-T2-1TR14-1TR2: 12 (f2,2, f2,3, f2,6, f2,7, f3,2, f3,4, f3,5, f3,7, f4,3, f4,4, f4,5, f4,6)
+1/4VQ2-T2-4TR2: 2 (f1,4, f1,5)
+1/2VQ2-T2-2TR2: 18 (f1,3, f1,6, f2,1, f2,4, f2,5, f2,8, f3,1, f3,3, f3,6, f3,8, f4,1, f4,2, f4,7, f4,8, f5,5, f5,7, f6,6, f6,7)
+1/2VQ2-T2: 4 (f5,1, f5,6, f6,1, f6,5)
-Tổng các chi tiết (elements) đối xứng:
+T1: 1
+T16: 8
+TR1: 2
+TR14: 12
+TR16: 4
+T2: 38
+TR2:70
-Tất cả các f đều cho sự biến đổi có tính đối xứng cao.
-Có tất cả các dạng hình đối xứng cao. (ở đây không nên tính VQ vì thực tế VQ có thể có từ số trục đối xứng hoặc tâm đối xứng rồi. Phải tính cả T2 và các trục vì có đồ hình đối xứng có T2 nhưng không có mặt đối xứng nào.
Đối xứng qua biến dịch từ Tiên Thiên: Không có.
Đối xứng qua vòng Âm Dương:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/48.jpg
T2-1TR1(4)-1TR2(4)
khonglaai
26-10-2005, 03:33 PM
2. Hậu Thiên Bát Quái Văn Vương.
Đối xứng qua biến đổi f:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/Hau%20Thien%20BQVV/1.jpg
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/Hau%20Thien%20BQVV/2.jpg
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/Hau%20Thien%20BQVV/3.jpg
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/Hau%20Thien%20BQVV/4.jpg
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/Hau%20Thien%20BQVV/5.jpg
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/Hau%20Thien%20BQVV/6.jpg
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/Hau%20Thien%20BQVV/7.jpg
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/Hau%20Thien%20BQVV/8.jpg
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/Hau%20Thien%20BQVV/9.jpg
khonglaai
26-10-2005, 03:40 PM
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/Hau%20Thien%20BQVV/10.jpg
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/Hau%20Thien%20BQVV/11.jpg
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/Hau%20Thien%20BQVV/12.jpg
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/Hau%20Thien%20BQVV/13.jpg
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/Hau%20Thien%20BQVV/14.jpg
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/Hau%20Thien%20BQVV/15.jpg
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/Hau%20Thien%20BQVV/16.jpg
Tổng kết và so sánh với Tiên Thiên BQ:
-Theo công thức biểu thị:
+1/8VQ2-T1-8TR2: 0
+1/2VQ2-T16-1TR16-1TR2: 0
+1/2VQ2-T16: 0
+½VQ2-T2-1TR1-1TR2: 0
+1/2VQ2-T2-1TR14-1TR2: 0
+1/4VQ2-T2-4TR2: 0
+1/2VQ2-T2-2TR2: 3 (f2,4, f3,8, f4,2)
+1/2VQ2-T2: 2 (f5,5, f6,7)
+1TR14: 6 (f2,6, f2,7, f3,5, f3,7, f4,5, f4,6)
+1TR2: 13 (f1,2, f1,3, f1,5, f1,6, f1,7, f2,2, f2,3, f2,8, f3,3, f3,6, f4,8, f5,6, f6,5)
+Không đối xứng: 23 (f1,4, f1,8, f2,1, f2,5, f3,1, f3,2, f3,4, f4,1, f4,3, f4,4, f4,7, f5,1, f5,2, f5,3, f5,4, f5,7, f5,8, f6,1, f6,2, f6,3, f6,4, f6,6, f6,8).
-Tổng các chi tiết (elements) đối xứng:
+T1: 0.
+T16: 0.
+TR1: 0.
+TR14: 6
+TR16: 0
+T2: 5
+TR2:19
-Các biến đổi của các f đều mang tính đối xứng thô. Ít gia trị đối xứng. Có đến 23/47 gần bằng 50% đồ hình biến đổi qua f không đối xứng. Không có hầu hết các T1, những hình thái đối xứng cao.
-Tổng các chi tiết đối xứng là 30 đối với 135 của Tiên Thiên Bát Quái.
-Nói tóm lại, đây là một đồ hình không đi từ đâu.
Đối xứng qua biến dịch từ Tiên Thiên:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/Hau%20Thien%20BQVV/17.jpg
Dạng đối xứng: TR1(4).
Đối xứng qua vòng Âm Dương:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/Hau%20Thien%20BQVV/18.jpg
Dạng đối xứng: Không đối xứng.
-Đối xứng của hai phần Trời và Đất chỉ dành cho Hậu Thiên:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/Hau%20Thien%20BQVV/19.jpg
Dạng đối xứng: TR1(4). Không có tính đối xứng cao.
khonglaai
26-10-2005, 03:59 PM
3. Hậu Thiên Bát Quái theo Nguyễn Vũ Tuấn Anh:
Đối xứng qua biến đổi f:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/HTBQTS/1.jpg
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/HTBQTS/2.jpg
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/HTBQTS/3.jpg
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/HTBQTS/4.jpg
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/HTBQTS/5.jpg
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/HTBQTS/6.jpg
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/HTBQTS/7.jpg
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/HTBQTS/8.jpg
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/HTBQTS/9.jpg
khonglaai
26-10-2005, 04:03 PM
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/HTBQTS/10.jpg
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/HTBQTS/11.jpg
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/HTBQTS/12.jpg
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/HTBQTS/13.jpg
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/HTBQTS/14.jpg
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/HTBQTS/15.jpg
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/HTBQTS/16.jpg
Tổng kết và so sánh với Tiên Thiên BQ:
-Theo công thức biểu thị:
+1/8VQ2-T1-8TR2: 1 (f3,8)
+1/2VQ2-T16-1TR16-1TR2: 0
+1/2VQ2-T16: 4 (f5,4; f 5,8; f6,2; f6,8)
+½VQ2-T2-1TR1-1TR2: 0
+1/2VQ2-T2-1TR14-1TR2: 4 (f3,2, f3,4, f3,5, f3,7)
+1/4VQ2-T2-4TR2: 2 (f1,6, f3,3)
+1/2VQ2-T2-2TR2: 6 (f1,3, f1,8, f3,1, f3,6, f5,1, f6,1)
+1/2VQ2-T2: 2 (f5,5, f6,7)
+1TR14: 4 (f2,6, f2,7, f4,5, f4,6)
+1TR2: 6 (f1,2, f1,4, f1,5, f1,7, f2,8, f4,8)
+Không đối xứng: 18 (f2,1, f2,2, f2,3, f2,4, f2,5, f4,1, f4,2, f4,3, f4,4, f4,7, f5,2, f5,3, f5,6, f5,7, f6,3, f6,4, f6,5, f6,6).
-Tổng các chi tiết (elements) đối xứng:
+T1: 1.
+T16: 4.
+TR1: 0.
+TR14: 8
+TR16: 0
+T2: 14
+TR2:38
-Có phần lớn các đồ hình biến đổi qua f mang tính đối xứng cao. Thế nhưng vẫn còn rất nhiều đố hình (đến 18) không đối xứng. Chính vì thế, tổng các chi tiết đối xứng chỉ được 65 xấp xỉ một nửa của Tiên thiên Bát Quái. Nếu so với Bát Quái Văn Vương thì bát quái này trội hơn hẳn. Ngoài 35 chi tiết đối xứng chênh lệch, bát quái này còn hơn hẳn về chất, như có T1, có T1(6), có nhiều T2….
-Về triết học, cũng có thể giải thích khá vẹn toàn: nếu cho Thiên và Địa và hai chiều đối nghịch nhau thì, bát quái hậu thiên mang đối xứng T1 qua biến đổi: vừa quay các quái một góc 180 độ vừa phủ định cả các vạch sẽ cho ra quái đối diện.
-Tuy nhiên, chúng tôi cho đây cũng không phải là Hậu Thiên Bát Quái nguyên thuỷ bởi nhiều lý do mà chúng tôi sẽ trình bày trong những chương sau. Sự khác xa khá bất thường của nó đối với Tiên Thiên cũng đủ để chúng ta nghi ngờ tính chuẩn xác của bát quái này.
Đối xứng qua biến dịch từ Tiên Thiên:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/HTBQTS/17.jpg
Dạng đối xứng: Không đối xứng.
Đối xứng qua vòng Âm Dương:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/HTBQTS/18.jpg
Dạng đối xứng: TR2(4)
-Đối xứng của hai phần Trời và Đất chỉ dành cho Hậu Thiên:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/HTBQTS/19.jpg
Dạng đối xứng: T2-1TR1(4)-1TR2(4).
Bát Quái Thiên Sứ có vòng Nòng không có đối xứng T2 chính xác theo chiều.
khonglaai
27-10-2005, 02:17 AM
Chương ba.
Huyền ảo f1,8.
Ở đây, chúng ta khoan nói đến những ý nghĩa triết học sâu xa. Chúng tôi chỉ mạn phép trình bày các khảo cứu toán học của các bát quái.
Thật dễ dàng suy ra, nếu kể cả phương vị của các quái thì có tổng cộng 8!=40320 bát quái. Theo trình bày ở trên và các thông số đối xứng của các phép biến đổi f, ta sẽ thấy các bát quái có tính đối xứng cao phải mang trong mình ít nhất một đối xứng T1-8TR2 (thật ra chỉ có tối đa một mà thôi).
Có 13 thông số đối xứng có thể cho ra đối xứng T1-8TR2 là 13 phép đối xứng 4(2) (bốn cặp bát quái qua biến đổi sẽ cho ra nhau). Như liệt kê dưới đây:
f1,2: Càn-Tốn, Đoài-Khảm, Ly-Cấn, Chấn-Khôn.
f1,3: Càn-Ly, Đoài-Chấn, Tốn-Cấn, Khảm-Khôn.
f1,4: Càn-Đoài, Ly-Chấn, Tốn-Khảm, Cấn-Khôn.
f1,5: Càn-Cấn, Đoài-Khôn, Ly-Tốn, Chấn-Khảm.
f1,6: Càn-Khảm, Đoài-Tốn, Ly-Khôn, Chấn-Cấn.
f1,7: Càn-Chấn, Đoài-Ly, Tốn-Khôn, Khảm-Cấn.
f1,8: Càn-Khôn, Đoài-Cấn, Ly-Khảm, Chấn-Tốn.
f2,4: Càn-Đoài, Ly-Khảm, Chấn-Tốn, Cấn-Khôn.
f2,8: Càn-Khôn, Đoài-Cấn, Ly-Chấn, Tốn-Khảm.
10. f3,3: Càn-Ly, Đoài-Cấn, Chấn-Tốn, Khảm-Khôn.
11. f3,8: Càn-Khôn,Đoài-Chấn,Ly-Khảm, Tốn-Cấn.
12. f4,2: Càn-Tốn, Đoài-Cấn, Ly-Khảm, Chấn-Khôn.
13. f4,8: Càn-Khôn, Đoài-Khảm, Ly-Cấn, Chấn-Tốn.
Để xây dựng một bát quái của một trong các nhóm này, ta lấy một cặp đầu tiên có chứa Càn. Đặt Càn vào phương vị Nam, phía dưới và quái cùng cặp với nó đặt phương đối diện-phương Bắc. Các cặp quái khác cũng đặt vào các phương vị đối xứng qua tâm còn lại. Ta định vị cặp đầu tiên bởi vì quan trong khi xét đối xứng là vị trí tương đối của các quái với nhau. Ví dụ Tiên thiên bát quái ta xoay một góc 45 độ: Càn nằm Đông Nam, Đoài-Đông, Ly-Đông Bắc, Chấn-Bắc, Khôn-Tây Bắc, Cấn-Tây, Khảm-Tây Nam, Tốn-Nam. Cho ra bát quái khác nhưng các kết quả đối xứng của nó cũng giống như của Tiên Thiên Bát Quái. Chính vì thế, ta chỉ cần xét các quái có cặp Càn-X nằm ở trục Nam Bắc mà thôi.
Gọi F1,2 là nhóm bát quái có các các cặp Càn-Tốn, Đoài-Khảm, Ly-Cấn, Chấn-Khôn nằm ở các phương vị đối xứng nhau qua tâm. Gọi F1,3, F1,4, ….cũng tương tự như thế. Có bao nhiêu quái trong một nhóm bát quái như vậy? Ví dụ, Tiên Thiên Bát Quái: Đầu tiên ta định vị Càn ở Nam, Khôn ở Bắc như sau:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/chuong3-1.jpg
Vậy cặp Đoài-Cấn có bao nhiêu cách nằm trong Bát quái: 6 cách. Cặp Ly-Khảm (khi đã có hai cặp trên còn bao nhiêu cách: 4 cách. Cặp còn lại còn 2 cách (cùng một trục nhưng lúc Chấn đầu này, lúc Chấn đầu kia của trục nên chi có 2 cách). Tổng cộng có 6x4x2=48 bát quái khác nhau. Mỗi bát quái này lại có 8 cách hoán đổi trục Càn-Khôn. Vậy, ta sẽ có 48x8=384 bát quái nằm trong một nhóm F nào đó. Tuy nhiên, như đã nói trên ta chỉ cần xét 48 quái tiêu biểu vì các quái khác sẽ có cùng kết quả đối xứng như một trong 48 bát quái này. Sự khác nhau về phương vị tương đối các quái mới làm cho các kết quả đối xứng khác nhau. Còn ngược lại, phương vị tương đối các quái không đổi thì không có thay đổi gì trong kết quả đối xứng.
Để xét 13x48=624 bát quái, chúng ta không cần vẽ 624x47=29328 hình như ở trên. Chúng tôi qua Visual Basic đã viết một chương trình để đưa kết quả đối xứng ra một cách nhanh chóng (tuy viết chương trình cũng có một ít khó khăn, vất vả vì không phải là programmist thật thụ). Chúng tôi sẽ kèm theo các file kết quả và chương trình cho tất cả ai quan tâm. Dưới đây chỉ đưa ra kết quả của nhóm F1,8 và lược giản các nhóm còn lại.
Vì chương trình không cho ra chữ tiếng Việt nên chúng tôi tạm ký hiệu: Càn-Can, Đoài-Doa, Ly-Ly , Chấn-Cha, Khôn-Kho, Cấn-Caa, Khảm-Kha, Tốn-Ton. Tên của bát quái là tên của các quái đọc từ phương Nam ứng với Càn theo thứ tự ngược chiều kim đồng hồ. Ví dụ, Tiên Thiên Bát Quái có tên CanDoaLy ChaKhoCaaKhaTon (in chữ xanh). Sau tên sẽ có 47 kết quả đối xứng qua 47 phép f biến đổi được đánh thứ tự ở cột thứ nhất. Cột thứ hai cho ra tính chất của biến đổi. Cột thứ ba cho ra kết quả đối xứng. Cột thứ tư là tên các trục đối xứng có được qua phép biến đổi f nào đó. Với 01: trục giữa phương vị Nam và Đông Nam, 12-giữa Đông Nam và Đông, 23- giữa Đông và Đông Bắc, 34- giữa Đông Bắc và Bắc. 04-trục đi qua Nam-Bắc, 15-trục Đông Nam-Tây Bắc, 26-Đông-Tây, 37-Đông Bắc-Tây Nam.
Phần tiếp theo màu đỏ là phần thống kê. Vì tính độc đáo của nhóm F1,8 nên chúng tôi thống kê thành 7 hàng:
Hàng 1 có 9 số theo thứ tự: tổng số trục đối xứng, tổng các các trục đối xứng từng trục: 04, 15, 26, 37, 01, 12, 23, 34.
Hàng 2 có 7 số theo thứ tự: tổng các đối xứng qua tâm cả T1 lẫn T2, T1-chỉ có một cho 13 nhóm này, Trục đối xứng TR1, T1(4), T1(6), những sao kèm theo T1 hoặc T2 và không đối xứng.
Hàng 3,4,5,6,7 liệt kê các trục đối xứng theo các phân nhóm tính chất đối xứng cũng cùng thứ tự như ở hàng 1.
Các nhóm F tiếp theo chúng tôi chỉ đưa ra con số của hai hàng đầu.
khonglaai
27-10-2005, 02:19 AM
Kết quả đối xứng của F1,8:
1 CanDoaLy ChaKhoCaaKhaTon
1 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
2 4(2) T2-2TR2 1234
3 4(2) T2-4TR2 01122334
4 4(2) T2-4TR2 01122334
5 4(2) T2-2TR2 1234
6 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
7 4(2) T1-8TR2 0415263701122334
8 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
9 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
10 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
11 4(2) T2-2TR2 0123
12 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
13 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
14 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
15 4(2) T2-2TR2 0123
16 4(1)2(2) T2-2TR2 0426
17 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
18 4(2) T2-2TR2 1537
19 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
20 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
21 4(1)2(2) T2-2TR2 1537
22 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
23 4(2) T2-2TR2 0426
24 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
25 4(2) T2-2TR2 1234
26 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
27 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
28 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
29 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
30 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
31 4(2) T2-2TR2 1234
32 2(1)2(3) T2
33 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
34 1(2)1(6) T1(6)
35 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
36 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
37 2(1)2(3) T2
38 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
39 1(2)1(6) T1(6)
40 2(1)2(3) T2
41 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
42 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
43 1(2)1(6) T1(6)
44 2(1)2(3) T2
45 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
46 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
47 1(2)1(6) T1(6)
88 7 7 7 7 7 23 7 23
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 5 9 5 9
Truc 24: 0 0 0 0 0 12 0 12
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
2 CanDoaLy TonKhoCaaKhaCha
1 4(2) T2-4TR2 01122334
2 4(2) T2-2TR2 0123
3 4(2) T2-1TR1-1TR2 0123
4 4(2) T2-1TR1-1TR2 0123
5 4(2) T2-2TR2 0123
6 4(2) T2-4TR2 01122334
7 4(2) T1-8TR2 0415263701122334
8 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
9 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
10 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
11 4(2) T2-2TR2 0123
12 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
13 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
14 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
15 4(2) T2-2TR2 0123
16 4(1)2(2) T2-2TR2 0426
17 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
18 4(2) T2-2TR2 1537
19 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
20 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
21 4(1)2(2) T2-2TR2 1537
22 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
23 4(2) T2-2TR2 0426
24 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
25 4(2) T2-2TR2 1234
26 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
27 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
28 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
29 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
30 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
31 4(2) T2-2TR2 1234
32 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
33 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
34 1(2)1(6) T1(6)
35 1(2)1(6) T1(6)
36 2(1)2(3) T2
37 2(1)2(3) T2
38 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
39 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 2604
40 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
41 1(2)1(6) T1(6)
42 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
43 1(2)1(6) T1(6)
44 2(1)2(3) T2
45 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
46 2(1)2(3) T2
47 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 2604
88 7 7 7 7 23 7 23 7
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 9 5 9 5
Truc 24: 0 0 0 0 12 0 12 0
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
3 CanDoaKhaChaKhoCaaLy Ton
1 4(2) T2-4TR2 01122334
2 4(2) T2-2TR2 0123
3 4(2) T2-1TR1-1TR2 0123
4 4(2) T2-1TR1-1TR2 0123
5 4(2) T2-2TR2 0123
6 4(2) T2-4TR2 01122334
7 4(2) T1-8TR2 0415263701122334
8 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
9 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
10 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
11 4(2) T2-2TR2 0123
12 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
13 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
14 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
15 4(2) T2-2TR2 0123
16 4(1)2(2) T2-2TR2 0426
17 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
18 4(2) T2-2TR2 1537
19 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
20 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
21 4(1)2(2) T2-2TR2 1537
22 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
23 4(2) T2-2TR2 0426
24 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
25 4(2) T2-2TR2 1234
26 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
27 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
28 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
29 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
30 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
31 4(2) T2-2TR2 1234
32 2(1)2(3) T2
33 1(2)1(6) T1(6)
34 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 1537
35 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
36 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
37 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
38 2(1)2(3) T2
39 1(2)1(6) T1(6)
40 2(1)2(3) T2
41 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
42 1(2)1(6) T1(6)
43 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 1537
44 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
45 2(1)2(3) T2
46 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
47 1(2)1(6) T1(6)
88 7 7 7 7 23 7 23 7
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 9 5 9 5
Truc 24: 0 0 0 0 12 0 12 0
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
khonglaai
27-10-2005, 02:20 AM
4 CanDoaKhaTonKhoCaaLy Cha
1 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
2 4(2) T2-2TR2 1234
3 4(2) T2-4TR2 01122334
4 4(2) T2-4TR2 01122334
5 4(2) T2-2TR2 1234
6 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
7 4(2) T1-8TR2 0415263701122334
8 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
9 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
10 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
11 4(2) T2-2TR2 0123
12 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
13 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
14 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
15 4(2) T2-2TR2 0123
16 4(1)2(2) T2-2TR2 0426
17 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
18 4(2) T2-2TR2 1537
19 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
20 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
21 4(1)2(2) T2-2TR2 1537
22 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
23 4(2) T2-2TR2 0426
24 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
25 4(2) T2-2TR2 1234
26 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
27 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
28 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
29 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
30 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
31 4(2) T2-2TR2 1234
32 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
33 1(2)1(6) T1(6)
34 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 1537
35 1(2)1(6) T1(6)
36 2(1)2(3) T2
37 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
38 2(1)2(3) T2
39 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 2604
40 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
41 1(2)1(6) T1(6)
42 1(2)1(6) T1(6)
43 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 1537
44 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
45 2(1)2(3) T2
46 2(1)2(3) T2
47 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 2604
88 7 7 7 7 7 23 7 23
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 5 9 5 9
Truc 24: 0 0 0 0 0 12 0 12
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
5 CanCaaLy ChaKhoDoaKhaTon
1 4(2) T2-4TR2 01122334
2 4(2) T2-2TR2 0123
3 4(2) T2-1TR1-1TR2 0123
4 4(2) T2-1TR1-1TR2 0123
5 4(2) T2-2TR2 0123
6 4(2) T2-4TR2 01122334
7 4(2) T1-8TR2 0415263701122334
8 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
9 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
10 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
11 4(2) T2-2TR2 0123
12 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
13 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
14 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
15 4(2) T2-2TR2 0123
16 4(1)2(2) T2-2TR2 0426
17 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
18 4(2) T2-2TR2 1537
19 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
20 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
21 4(1)2(2) T2-2TR2 1537
22 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
23 4(2) T2-2TR2 0426
24 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
25 4(2) T2-2TR2 1234
26 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
27 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
28 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
29 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
30 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
31 4(2) T2-2TR2 1234
32 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
33 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
34 1(2)1(6) T1(6)
35 1(2)1(6) T1(6)
36 2(1)2(3) T2
37 2(1)2(3) T2
38 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
39 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 2604
40 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
41 1(2)1(6) T1(6)
42 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
43 1(2)1(6) T1(6)
44 2(1)2(3) T2
45 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
46 2(1)2(3) T2
47 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 2604
88 7 7 7 7 23 7 23 7
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 9 5 9 5
Truc 24: 0 0 0 0 12 0 12 0
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
6 CanCaaLy TonKhoDoaKhaCha
1 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
2 4(2) T2-2TR2 1234
3 4(2) T2-4TR2 01122334
4 4(2) T2-4TR2 01122334
5 4(2) T2-2TR2 1234
6 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
7 4(2) T1-8TR2 0415263701122334
8 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
9 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
10 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
11 4(2) T2-2TR2 0123
12 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
13 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
14 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
15 4(2) T2-2TR2 0123
16 4(1)2(2) T2-2TR2 0426
17 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
18 4(2) T2-2TR2 1537
19 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
20 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
21 4(1)2(2) T2-2TR2 1537
22 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
23 4(2) T2-2TR2 0426
24 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
25 4(2) T2-2TR2 1234
26 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
27 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
28 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
29 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
30 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
31 4(2) T2-2TR2 1234
32 2(1)2(3) T2
33 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
34 1(2)1(6) T1(6)
35 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
36 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
37 2(1)2(3) T2
38 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
39 1(2)1(6) T1(6)
40 2(1)2(3) T2
41 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
42 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
43 1(2)1(6) T1(6)
44 2(1)2(3) T2
45 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
46 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
47 1(2)1(6) T1(6)
88 7 7 7 7 7 23 7 23
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 5 9 5 9
Truc 24: 0 0 0 0 0 12 0 12
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
khonglaai
27-10-2005, 02:21 AM
7 CanCaaKhaChaKhoDoaLy Ton
1 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
2 4(2) T2-2TR2 1234
3 4(2) T2-4TR2 01122334
4 4(2) T2-4TR2 01122334
5 4(2) T2-2TR2 1234
6 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
7 4(2) T1-8TR2 0415263701122334
8 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
9 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
10 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
11 4(2) T2-2TR2 0123
12 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
13 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
14 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
15 4(2) T2-2TR2 0123
16 4(1)2(2) T2-2TR2 0426
17 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
18 4(2) T2-2TR2 1537
19 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
20 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
21 4(1)2(2) T2-2TR2 1537
22 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
23 4(2) T2-2TR2 0426
24 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
25 4(2) T2-2TR2 1234
26 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
27 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
28 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
29 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
30 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
31 4(2) T2-2TR2 1234
32 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
33 1(2)1(6) T1(6)
34 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 1537
35 1(2)1(6) T1(6)
36 2(1)2(3) T2
37 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
38 2(1)2(3) T2
39 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 2604
40 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
41 1(2)1(6) T1(6)
42 1(2)1(6) T1(6)
43 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 1537
44 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
45 2(1)2(3) T2
46 2(1)2(3) T2
47 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 2604
88 7 7 7 7 7 23 7 23
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 5 9 5 9
Truc 24: 0 0 0 0 0 12 0 12
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
8 CanCaaKhaTonKhoDoaLy Cha
1 4(2) T2-4TR2 01122334
2 4(2) T2-2TR2 0123
3 4(2) T2-1TR1-1TR2 0123
4 4(2) T2-1TR1-1TR2 0123
5 4(2) T2-2TR2 0123
6 4(2) T2-4TR2 01122334
7 4(2) T1-8TR2 0415263701122334
8 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
9 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
10 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
11 4(2) T2-2TR2 0123
12 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
13 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
14 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
15 4(2) T2-2TR2 0123
16 4(1)2(2) T2-2TR2 0426
17 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
18 4(2) T2-2TR2 1537
19 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
20 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
21 4(1)2(2) T2-2TR2 1537
22 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
23 4(2) T2-2TR2 0426
24 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
25 4(2) T2-2TR2 1234
26 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
27 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
28 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
29 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
30 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
31 4(2) T2-2TR2 1234
32 2(1)2(3) T2
33 1(2)1(6) T1(6)
34 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 1537
35 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
36 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
37 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
38 2(1)2(3) T2
39 1(2)1(6) T1(6)
40 2(1)2(3) T2
41 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
42 1(2)1(6) T1(6)
43 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 1537
44 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
45 2(1)2(3) T2
46 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
47 1(2)1(6) T1(6)
88 7 7 7 7 23 7 23 7
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 9 5 9 5
Truc 24: 0 0 0 0 12 0 12 0
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
9 CanDoaChaLy KhoCaaTonKha
1 4(2) T2-2TR2 1234
2 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
3 4(2) T2-4TR2 01122334
4 4(2) T2-4TR2 01122334
5 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
6 4(2) T2-2TR2 1234
7 4(2) T1-8TR2 0415263701122334
8 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
9 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
10 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
11 4(2) T2-2TR2 0123
12 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
13 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
14 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
15 4(2) T2-2TR2 0123
16 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
17 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
18 4(2) T2-2TR2 1234
19 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
20 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
21 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
22 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
23 4(2) T2-2TR2 1234
24 4(1)2(2) T2-2TR2 0426
25 4(2) T2-2TR2 1537
26 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
27 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
28 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
29 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
30 4(1)2(2) T2-2TR2 1537
31 4(2) T2-2TR2 0426
32 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
33 1(2)1(6) T1(6)
34 1(2)1(6) T1(6)
35 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 1537
36 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
37 2(1)2(3) T2
38 2(1)2(3) T2
39 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 2604
40 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
41 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 1537
42 1(2)1(6) T1(6)
43 1(2)1(6) T1(6)
44 2(1)2(3) T2
45 2(1)2(3) T2
46 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
47 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 2604
88 7 7 7 7 7 23 7 23
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 5 9 5 9
Truc 24: 0 0 0 0 0 12 0 12
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
khonglaai
27-10-2005, 02:22 AM
10 CanDoaTonLy KhoCaaChaKha
1 4(2) T2-2TR2 0123
2 4(2) T2-4TR2 01122334
3 4(2) T2-1TR1-1TR2 0123
4 4(2) T2-1TR1-1TR2 0123
5 4(2) T2-4TR2 01122334
6 4(2) T2-2TR2 0123
7 4(2) T1-8TR2 0415263701122334
8 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
9 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
10 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
11 4(2) T2-2TR2 0123
12 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
13 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
14 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
15 4(2) T2-2TR2 0123
16 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
17 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
18 4(2) T2-2TR2 1234
19 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
20 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
21 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
22 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
23 4(2) T2-2TR2 1234
24 4(1)2(2) T2-2TR2 0426
25 4(2) T2-2TR2 1537
26 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
27 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
28 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
29 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
30 4(1)2(2) T2-2TR2 1537
31 4(2) T2-2TR2 0426
32 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
33 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
34 1(2)1(6) T1(6)
35 1(2)1(6) T1(6)
36 2(1)2(3) T2
37 2(1)2(3) T2
38 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
39 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 2604
40 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
41 1(2)1(6) T1(6)
42 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
43 1(2)1(6) T1(6)
44 2(1)2(3) T2
45 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
46 2(1)2(3) T2
47 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 2604
88 7 7 7 7 23 7 23 7
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 9 5 9 5
Truc 24: 0 0 0 0 12 0 12 0
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
11 CanDoaChaKhaKhoCaaTonLy
1 4(2) T2-2TR2 0123
2 4(2) T2-4TR2 01122334
3 4(2) T2-1TR1-1TR2 0123
4 4(2) T2-1TR1-1TR2 0123
5 4(2) T2-4TR2 01122334
6 4(2) T2-2TR2 0123
7 4(2) T1-8TR2 0415263701122334
8 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
9 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
10 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
11 4(2) T2-2TR2 0123
12 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
13 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
14 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
15 4(2) T2-2TR2 0123
16 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
17 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
18 4(2) T2-2TR2 1234
19 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
20 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
21 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
22 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
23 4(2) T2-2TR2 1234
24 4(1)2(2) T2-2TR2 0426
25 4(2) T2-2TR2 1537
26 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
27 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
28 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
29 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
30 4(1)2(2) T2-2TR2 1537
31 4(2) T2-2TR2 0426
32 2(1)2(3) T2
33 1(2)1(6) T1(6)
34 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
35 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 1537
36 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
37 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
38 2(1)2(3) T2
39 1(2)1(6) T1(6)
40 2(1)2(3) T2
41 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 1537
42 1(2)1(6) T1(6)
43 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
44 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
45 2(1)2(3) T2
46 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
47 1(2)1(6) T1(6)
88 7 7 7 7 23 7 23 7
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 9 5 9 5
Truc 24: 0 0 0 0 12 0 12 0
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
12 CanDoaTonKhaKhoCaaChaLy
1 4(2) T2-2TR2 1234
2 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
3 4(2) T2-4TR2 01122334
4 4(2) T2-4TR2 01122334
5 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
6 4(2) T2-2TR2 1234
7 4(2) T1-8TR2 0415263701122334
8 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
9 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
10 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
11 4(2) T2-2TR2 0123
12 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
13 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
14 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
15 4(2) T2-2TR2 0123
16 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
17 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
18 4(2) T2-2TR2 1234
19 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
20 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
21 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
22 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
23 4(2) T2-2TR2 1234
24 4(1)2(2) T2-2TR2 0426
25 4(2) T2-2TR2 1537
26 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
27 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
28 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
29 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
30 4(1)2(2) T2-2TR2 1537
31 4(2) T2-2TR2 0426
32 2(1)2(3) T2
33 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
34 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
35 1(2)1(6) T1(6)
36 2(1)2(3) T2
37 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
38 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
39 1(2)1(6) T1(6)
40 2(1)2(3) T2
41 1(2)1(6) T1(6)
42 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
43 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
44 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
45 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
46 2(1)2(3) T2
47 1(2)1(6) T1(6)
88 7 7 7 7 7 23 7 23
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 5 9 5 9
Truc 24: 0 0 0 0 0 12 0 12
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
khonglaai
27-10-2005, 04:08 AM
13 CanCaaChaLy KhoDoaTonKha
1 4(2) T2-2TR2 0123
2 4(2) T2-4TR2 01122334
3 4(2) T2-1TR1-1TR2 0123
4 4(2) T2-1TR1-1TR2 0123
5 4(2) T2-4TR2 01122334
6 4(2) T2-2TR2 0123
7 4(2) T1-8TR2 0415263701122334
8 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
9 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
10 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
11 4(2) T2-2TR2 0123
12 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
13 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
14 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
15 4(2) T2-2TR2 0123
16 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
17 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
18 4(2) T2-2TR2 1234
19 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
20 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
21 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
22 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
23 4(2) T2-2TR2 1234
24 4(1)2(2) T2-2TR2 0426
25 4(2) T2-2TR2 1537
26 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
27 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
28 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
29 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
30 4(1)2(2) T2-2TR2 1537
31 4(2) T2-2TR2 0426
32 2(1)2(3) T2
33 1(2)1(6) T1(6)
34 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
35 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 1537
36 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
37 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
38 2(1)2(3) T2
39 1(2)1(6) T1(6)
40 2(1)2(3) T2
41 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 1537
42 1(2)1(6) T1(6)
43 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
44 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
45 2(1)2(3) T2
46 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
47 1(2)1(6) T1(6)
88 7 7 7 7 23 7 23 7
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 9 5 9 5
Truc 24: 0 0 0 0 12 0 12 0
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
14 CanCaaTonLy KhoDoaChaKha
1 4(2) T2-2TR2 1234
2 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
3 4(2) T2-4TR2 01122334
4 4(2) T2-4TR2 01122334
5 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
6 4(2) T2-2TR2 1234
7 4(2) T1-8TR2 0415263701122334
8 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
9 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
10 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
11 4(2) T2-2TR2 0123
12 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
13 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
14 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
15 4(2) T2-2TR2 0123
16 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
17 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
18 4(2) T2-2TR2 1234
19 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
20 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
21 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
22 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
23 4(2) T2-2TR2 1234
24 4(1)2(2) T2-2TR2 0426
25 4(2) T2-2TR2 1537
26 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
27 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
28 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
29 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
30 4(1)2(2) T2-2TR2 1537
31 4(2) T2-2TR2 0426
32 2(1)2(3) T2
33 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
34 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
35 1(2)1(6) T1(6)
36 2(1)2(3) T2
37 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
38 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
39 1(2)1(6) T1(6)
40 2(1)2(3) T2
41 1(2)1(6) T1(6)
42 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
43 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
44 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
45 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
46 2(1)2(3) T2
47 1(2)1(6) T1(6)
88 7 7 7 7 7 23 7 23
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 5 9 5 9
Truc 24: 0 0 0 0 0 12 0 12
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
15 CanCaaChaKhaKhoDoaTonLy
1 4(2) T2-2TR2 1234
2 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
3 4(2) T2-4TR2 01122334
4 4(2) T2-4TR2 01122334
5 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
6 4(2) T2-2TR2 1234
7 4(2) T1-8TR2 0415263701122334
8 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
9 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
10 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
11 4(2) T2-2TR2 0123
12 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
13 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
14 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
15 4(2) T2-2TR2 0123
16 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
17 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
18 4(2) T2-2TR2 1234
19 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
20 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
21 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
22 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
23 4(2) T2-2TR2 1234
24 4(1)2(2) T2-2TR2 0426
25 4(2) T2-2TR2 1537
26 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
27 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
28 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
29 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
30 4(1)2(2) T2-2TR2 1537
31 4(2) T2-2TR2 0426
32 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
33 1(2)1(6) T1(6)
34 1(2)1(6) T1(6)
35 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 1537
36 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
37 2(1)2(3) T2
38 2(1)2(3) T2
39 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 2604
40 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
41 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 1537
42 1(2)1(6) T1(6)
43 1(2)1(6) T1(6)
44 2(1)2(3) T2
45 2(1)2(3) T2
46 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
47 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 2604
88 7 7 7 7 7 23 7 23
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 5 9 5 9
Truc 24: 0 0 0 0 0 12 0 12
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
khonglaai
27-10-2005, 04:14 AM
16 CanCaaTonKhaKhoDoaChaLy
1 4(2) T2-2TR2 0123
2 4(2) T2-4TR2 01122334
3 4(2) T2-1TR1-1TR2 0123
4 4(2) T2-1TR1-1TR2 0123
5 4(2) T2-4TR2 01122334
6 4(2) T2-2TR2 0123
7 4(2) T1-8TR2 0415263701122334
8 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
9 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
10 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
11 4(2) T2-2TR2 0123
12 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
13 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
14 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
15 4(2) T2-2TR2 0123
16 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
17 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
18 4(2) T2-2TR2 1234
19 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
20 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
21 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
22 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
23 4(2) T2-2TR2 1234
24 4(1)2(2) T2-2TR2 0426
25 4(2) T2-2TR2 1537
26 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
27 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
28 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
29 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
30 4(1)2(2) T2-2TR2 1537
31 4(2) T2-2TR2 0426
32 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
33 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
34 1(2)1(6) T1(6)
35 1(2)1(6) T1(6)
36 2(1)2(3) T2
37 2(1)2(3) T2
38 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
39 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 2604
40 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
41 1(2)1(6) T1(6)
42 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
43 1(2)1(6) T1(6)
44 2(1)2(3) T2
45 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
46 2(1)2(3) T2
47 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 2604
88 7 7 7 7 23 7 23 7
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 9 5 9 5
Truc 24: 0 0 0 0 12 0 12 0
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
17 CanLy DoaChaKhoKhaCaaTon
1 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
2 4(2) T2-4TR2 01122334
3 4(2) T2-2TR2 1234
4 4(2) T2-2TR2 1234
5 4(2) T2-4TR2 01122334
6 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
7 4(2) T1-8TR2 0415263701122334
8 4(1)2(2) T2-2TR2 0426
9 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
10 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
11 4(2) T2-2TR2 1537
12 4(1)2(2) T2-2TR2 1537
13 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
14 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
15 4(2) T2-2TR2 0426
16 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
17 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
18 4(2) T2-2TR2 0123
19 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
20 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
21 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
22 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
23 4(2) T2-2TR2 0123
24 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
25 4(2) T2-2TR2 1234
26 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
27 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
28 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
29 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
30 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
31 4(2) T2-2TR2 1234
32 2(1)2(3) T2
33 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
34 1(2)1(6) T1(6)
35 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
36 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
37 2(1)2(3) T2
38 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
39 1(2)1(6) T1(6)
40 2(1)2(3) T2
41 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
42 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
43 1(2)1(6) T1(6)
44 2(1)2(3) T2
45 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
46 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
47 1(2)1(6) T1(6)
88 7 7 7 7 7 23 7 23
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 5 9 5 9
Truc 24: 0 0 0 0 0 12 0 12
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
18 CanLy DoaTonKhoKhaCaaCha
1 4(2) T2-4TR2 01122334
2 4(2) T2-1TR1-1TR2 0123
3 4(2) T2-2TR2 0123
4 4(2) T2-2TR2 0123
5 4(2) T2-1TR1-1TR2 0123
6 4(2) T2-4TR2 01122334
7 4(2) T1-8TR2 0415263701122334
8 4(1)2(2) T2-2TR2 0426
9 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
10 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
11 4(2) T2-2TR2 1537
12 4(1)2(2) T2-2TR2 1537
13 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
14 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
15 4(2) T2-2TR2 0426
16 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
17 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
18 4(2) T2-2TR2 0123
19 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
20 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
21 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
22 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
23 4(2) T2-2TR2 0123
24 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
25 4(2) T2-2TR2 1234
26 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
27 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
28 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
29 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
30 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
31 4(2) T2-2TR2 1234
32 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
33 1(2)1(6) T1(6)
34 1(2)1(6) T1(6)
35 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
36 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
37 2(1)2(3) T2
38 2(1)2(3) T2
39 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 2604
40 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
41 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
42 1(2)1(6) T1(6)
43 1(2)1(6) T1(6)
44 2(1)2(3) T2
45 2(1)2(3) T2
46 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
47 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 2604
88 7 7 7 7 23 7 23 7
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 9 5 9 5
Truc 24: 0 0 0 0 12 0 12 0
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
khonglaai
27-10-2005, 04:16 AM
19 CanKhaDoaChaKhoLy CaaTon
1 4(2) T2-4TR2 01122334
2 4(2) T2-1TR1-1TR2 0123
3 4(2) T2-2TR2 0123
4 4(2) T2-2TR2 0123
5 4(2) T2-1TR1-1TR2 0123
6 4(2) T2-4TR2 01122334
7 4(2) T1-8TR2 0415263701122334
8 4(1)2(2) T2-2TR2 0426
9 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
10 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
11 4(2) T2-2TR2 1537
12 4(1)2(2) T2-2TR2 1537
13 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
14 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
15 4(2) T2-2TR2 0426
16 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
17 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
18 4(2) T2-2TR2 0123
19 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
20 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
21 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
22 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
23 4(2) T2-2TR2 0123
24 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
25 4(2) T2-2TR2 1234
26 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
27 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
28 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
29 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
30 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
31 4(2) T2-2TR2 1234
32 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
33 1(2)1(6) T1(6)
34 1(2)1(6) T1(6)
35 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
36 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
37 2(1)2(3) T2
38 2(1)2(3) T2
39 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 2604
40 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
41 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
42 1(2)1(6) T1(6)
43 1(2)1(6) T1(6)
44 2(1)2(3) T2
45 2(1)2(3) T2
46 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
47 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 2604
88 7 7 7 7 23 7 23 7
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 9 5 9 5
Truc 24: 0 0 0 0 12 0 12 0
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
20 CanKhaDoaTonKhoLy CaaCha
1 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
2 4(2) T2-4TR2 01122334
3 4(2) T2-2TR2 1234
4 4(2) T2-2TR2 1234
5 4(2) T2-4TR2 01122334
6 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
7 4(2) T1-8TR2 0415263701122334
8 4(1)2(2) T2-2TR2 0426
9 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
10 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
11 4(2) T2-2TR2 1537
12 4(1)2(2) T2-2TR2 1537
13 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
14 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
15 4(2) T2-2TR2 0426
16 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
17 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
18 4(2) T2-2TR2 0123
19 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
20 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
21 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
22 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
23 4(2) T2-2TR2 0123
24 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
25 4(2) T2-2TR2 1234
26 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
27 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
28 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
29 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
30 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
31 4(2) T2-2TR2 1234
32 2(1)2(3) T2
33 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
34 1(2)1(6) T1(6)
35 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
36 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
37 2(1)2(3) T2
38 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
39 1(2)1(6) T1(6)
40 2(1)2(3) T2
41 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
42 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
43 1(2)1(6) T1(6)
44 2(1)2(3) T2
45 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
46 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
47 1(2)1(6) T1(6)
88 7 7 7 7 7 23 7 23
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 5 9 5 9
Truc 24: 0 0 0 0 0 12 0 12
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
21 CanLy CaaChaKhoKhaDoaTon
1 4(2) T2-4TR2 01122334
2 4(2) T2-1TR1-1TR2 0123
3 4(2) T2-2TR2 0123
4 4(2) T2-2TR2 0123
5 4(2) T2-1TR1-1TR2 0123
6 4(2) T2-4TR2 01122334
7 4(2) T1-8TR2 0415263701122334
8 4(1)2(2) T2-2TR2 0426
9 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
10 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
11 4(2) T2-2TR2 1537
12 4(1)2(2) T2-2TR2 1537
13 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
14 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
15 4(2) T2-2TR2 0426
16 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
17 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
18 4(2) T2-2TR2 0123
19 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
20 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
21 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
22 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
23 4(2) T2-2TR2 0123
24 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
25 4(2) T2-2TR2 1234
26 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
27 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
28 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
29 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
30 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
31 4(2) T2-2TR2 1234
32 2(1)2(3) T2
33 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
34 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 1537
35 1(2)1(6) T1(6)
36 2(1)2(3) T2
37 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
38 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
39 1(2)1(6) T1(6)
40 2(1)2(3) T2
41 1(2)1(6) T1(6)
42 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
43 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 1537
44 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
45 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
46 2(1)2(3) T2
47 1(2)1(6) T1(6)
88 7 7 7 7 23 7 23 7
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 9 5 9 5
Truc 24: 0 0 0 0 12 0 12 0
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
khonglaai
27-10-2005, 04:18 AM
22 CanLy CaaTonKhoKhaDoaCha
1 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
2 4(2) T2-4TR2 01122334
3 4(2) T2-2TR2 1234
4 4(2) T2-2TR2 1234
5 4(2) T2-4TR2 01122334
6 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
7 4(2) T1-8TR2 0415263701122334
8 4(1)2(2) T2-2TR2 0426
9 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
10 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
11 4(2) T2-2TR2 1537
12 4(1)2(2) T2-2TR2 1537
13 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
14 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
15 4(2) T2-2TR2 0426
16 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
17 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
18 4(2) T2-2TR2 0123
19 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
20 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
21 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
22 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
23 4(2) T2-2TR2 0123
24 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
25 4(2) T2-2TR2 1234
26 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
27 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
28 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
29 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
30 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
31 4(2) T2-2TR2 1234
32 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
33 1(2)1(6) T1(6)
34 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 1537
35 1(2)1(6) T1(6)
36 2(1)2(3) T2
37 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
38 2(1)2(3) T2
39 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 2604
40 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
41 1(2)1(6) T1(6)
42 1(2)1(6) T1(6)
43 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 1537
44 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
45 2(1)2(3) T2
46 2(1)2(3) T2
47 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 2604
88 7 7 7 7 7 23 7 23
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 5 9 5 9
Truc 24: 0 0 0 0 0 12 0 12
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
23 CanKhaCaaChaKhoLy DoaTon
1 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
2 4(2) T2-4TR2 01122334
3 4(2) T2-2TR2 1234
4 4(2) T2-2TR2 1234
5 4(2) T2-4TR2 01122334
6 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
7 4(2) T1-8TR2 0415263701122334
8 4(1)2(2) T2-2TR2 0426
9 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
10 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
11 4(2) T2-2TR2 1537
12 4(1)2(2) T2-2TR2 1537
13 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
14 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
15 4(2) T2-2TR2 0426
16 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
17 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
18 4(2) T2-2TR2 0123
19 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
20 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
21 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
22 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
23 4(2) T2-2TR2 0123
24 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
25 4(2) T2-2TR2 1234
26 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
27 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
28 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
29 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
30 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
31 4(2) T2-2TR2 1234
32 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
33 1(2)1(6) T1(6)
34 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 1537
35 1(2)1(6) T1(6)
36 2(1)2(3) T2
37 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
38 2(1)2(3) T2
39 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 2604
40 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
41 1(2)1(6) T1(6)
42 1(2)1(6) T1(6)
43 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 1537
44 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
45 2(1)2(3) T2
46 2(1)2(3) T2
47 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 2604
88 7 7 7 7 7 23 7 23
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 5 9 5 9
Truc 24: 0 0 0 0 0 12 0 12
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
24 CanKhaCaaTonKhoLy DoaCha
1 4(2) T2-4TR2 01122334
2 4(2) T2-1TR1-1TR2 0123
3 4(2) T2-2TR2 0123
4 4(2) T2-2TR2 0123
5 4(2) T2-1TR1-1TR2 0123
6 4(2) T2-4TR2 01122334
7 4(2) T1-8TR2 0415263701122334
8 4(1)2(2) T2-2TR2 0426
9 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
10 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
11 4(2) T2-2TR2 1537
12 4(1)2(2) T2-2TR2 1537
13 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
14 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
15 4(2) T2-2TR2 0426
16 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
17 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
18 4(2) T2-2TR2 0123
19 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
20 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
21 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
22 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
23 4(2) T2-2TR2 0123
24 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
25 4(2) T2-2TR2 1234
26 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
27 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
28 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
29 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
30 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
31 4(2) T2-2TR2 1234
32 2(1)2(3) T2
33 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
34 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 1537
35 1(2)1(6) T1(6)
36 2(1)2(3) T2
37 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
38 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
39 1(2)1(6) T1(6)
40 2(1)2(3) T2
41 1(2)1(6) T1(6)
42 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
43 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 1537
44 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
45 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
46 2(1)2(3) T2
47 1(2)1(6) T1(6)
88 7 7 7 7 23 7 23 7
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 9 5 9 5
Truc 24: 0 0 0 0 12 0 12 0
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
khonglaai
27-10-2005, 04:19 AM
25 CanChaDoaLy KhoTonCaaKha
1 4(2) T2-4TR2 01122334
2 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
3 4(2) T2-2TR2 1234
4 4(2) T2-2TR2 1234
5 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
6 4(2) T2-4TR2 01122334
7 4(2) T1-8TR2 0415263701122334
8 4(1)2(2) T2-2TR2 0426
9 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
10 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
11 4(2) T2-2TR2 1537
12 4(1)2(2) T2-2TR2 1537
13 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
14 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
15 4(2) T2-2TR2 0426
16 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
17 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
18 4(2) T2-2TR2 1234
19 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
20 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
21 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
22 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
23 4(2) T2-2TR2 1234
24 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
25 4(2) T2-2TR2 0123
26 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
27 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
28 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
29 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
30 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
31 4(2) T2-2TR2 0123
32 2(1)2(3) T2
33 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
34 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
35 1(2)1(6) T1(6)
36 2(1)2(3) T2
37 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
38 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
39 1(2)1(6) T1(6)
40 2(1)2(3) T2
41 1(2)1(6) T1(6)
42 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
43 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
44 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
45 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
46 2(1)2(3) T2
47 1(2)1(6) T1(6)
88 7 7 7 7 7 23 7 23
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 5 9 5 9
Truc 24: 0 0 0 0 0 12 0 12
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
26 CanTonDoaLy KhoChaCaaKha
1 4(2) T2-1TR1-1TR2 0123
2 4(2) T2-4TR2 01122334
3 4(2) T2-2TR2 0123
4 4(2) T2-2TR2 0123
5 4(2) T2-4TR2 01122334
6 4(2) T2-1TR1-1TR2 0123
7 4(2) T1-8TR2 0415263701122334
8 4(1)2(2) T2-2TR2 0426
9 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
10 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
11 4(2) T2-2TR2 1537
12 4(1)2(2) T2-2TR2 1537
13 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
14 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
15 4(2) T2-2TR2 0426
16 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
17 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
18 4(2) T2-2TR2 1234
19 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
20 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
21 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
22 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
23 4(2) T2-2TR2 1234
24 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
25 4(2) T2-2TR2 0123
26 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
27 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
28 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
29 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
30 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
31 4(2) T2-2TR2 0123
32 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
33 1(2)1(6) T1(6)
34 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
35 1(2)1(6) T1(6)
36 2(1)2(3) T2
37 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
38 2(1)2(3) T2
39 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 2604
40 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
41 1(2)1(6) T1(6)
42 1(2)1(6) T1(6)
43 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
44 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
45 2(1)2(3) T2
46 2(1)2(3) T2
47 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 2604
88 7 7 7 7 23 7 23 7
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 9 5 9 5
Truc 24: 0 0 0 0 12 0 12 0
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
27 CanChaDoaKhaKhoTonCaaLy
1 4(2) T2-1TR1-1TR2 0123
2 4(2) T2-4TR2 01122334
3 4(2) T2-2TR2 0123
4 4(2) T2-2TR2 0123
5 4(2) T2-4TR2 01122334
6 4(2) T2-1TR1-1TR2 0123
7 4(2) T1-8TR2 0415263701122334
8 4(1)2(2) T2-2TR2 0426
9 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
10 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
11 4(2) T2-2TR2 1537
12 4(1)2(2) T2-2TR2 1537
13 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
14 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
15 4(2) T2-2TR2 0426
16 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
17 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
18 4(2) T2-2TR2 1234
19 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
20 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
21 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
22 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
23 4(2) T2-2TR2 1234
24 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
25 4(2) T2-2TR2 0123
26 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
27 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
28 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
29 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
30 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
31 4(2) T2-2TR2 0123
32 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
33 1(2)1(6) T1(6)
34 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
35 1(2)1(6) T1(6)
36 2(1)2(3) T2
37 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
38 2(1)2(3) T2
39 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 2604
40 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
41 1(2)1(6) T1(6)
42 1(2)1(6) T1(6)
43 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
44 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
45 2(1)2(3) T2
46 2(1)2(3) T2
47 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 2604
88 7 7 7 7 23 7 23 7
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 9 5 9 5
Truc 24: 0 0 0 0 12 0 12 0
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
khonglaai
27-10-2005, 04:21 AM
28 CanTonDoaKhaKhoChaCaaLy
1 4(2) T2-4TR2 01122334
2 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
3 4(2) T2-2TR2 1234
4 4(2) T2-2TR2 1234
5 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
6 4(2) T2-4TR2 01122334
7 4(2) T1-8TR2 0415263701122334
8 4(1)2(2) T2-2TR2 0426
9 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
10 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
11 4(2) T2-2TR2 1537
12 4(1)2(2) T2-2TR2 1537
13 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
14 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
15 4(2) T2-2TR2 0426
16 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
17 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
18 4(2) T2-2TR2 1234
19 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
20 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
21 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
22 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
23 4(2) T2-2TR2 1234
24 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
25 4(2) T2-2TR2 0123
26 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
27 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
28 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
29 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
30 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
31 4(2) T2-2TR2 0123
32 2(1)2(3) T2
33 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
34 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
35 1(2)1(6) T1(6)
36 2(1)2(3) T2
37 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
38 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
39 1(2)1(6) T1(6)
40 2(1)2(3) T2
41 1(2)1(6) T1(6)
42 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
43 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
44 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
45 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
46 2(1)2(3) T2
47 1(2)1(6) T1(6)
88 7 7 7 7 7 23 7 23
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 5 9 5 9
Truc 24: 0 0 0 0 0 12 0 12
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
29 CanChaCaaLy KhoTonDoaKha
1 4(2) T2-1TR1-1TR2 0123
2 4(2) T2-4TR2 01122334
3 4(2) T2-2TR2 0123
4 4(2) T2-2TR2 0123
5 4(2) T2-4TR2 01122334
6 4(2) T2-1TR1-1TR2 0123
7 4(2) T1-8TR2 0415263701122334
8 4(1)2(2) T2-2TR2 0426
9 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
10 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
11 4(2) T2-2TR2 1537
12 4(1)2(2) T2-2TR2 1537
13 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
14 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
15 4(2) T2-2TR2 0426
16 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
17 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
18 4(2) T2-2TR2 1234
19 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
20 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
21 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
22 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
23 4(2) T2-2TR2 1234
24 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
25 4(2) T2-2TR2 0123
26 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
27 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
28 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
29 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
30 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
31 4(2) T2-2TR2 0123
32 2(1)2(3) T2
33 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
34 1(2)1(6) T1(6)
35 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 1537
36 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
37 2(1)2(3) T2
38 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
39 1(2)1(6) T1(6)
40 2(1)2(3) T2
41 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 1537
42 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
43 1(2)1(6) T1(6)
44 2(1)2(3) T2
45 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
46 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
47 1(2)1(6) T1(6)
88 7 7 7 7 23 7 23 7
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 9 5 9 5
Truc 24: 0 0 0 0 12 0 12 0
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
30 CanTonCaaLy KhoChaDoaKha
1 4(2) T2-4TR2 01122334
2 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
3 4(2) T2-2TR2 1234
4 4(2) T2-2TR2 1234
5 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
6 4(2) T2-4TR2 01122334
7 4(2) T1-8TR2 0415263701122334
8 4(1)2(2) T2-2TR2 0426
9 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
10 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
11 4(2) T2-2TR2 1537
12 4(1)2(2) T2-2TR2 1537
13 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
14 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
15 4(2) T2-2TR2 0426
16 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
17 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
18 4(2) T2-2TR2 1234
19 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
20 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
21 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
22 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
23 4(2) T2-2TR2 1234
24 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
25 4(2) T2-2TR2 0123
26 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
27 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
28 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
29 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
30 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
31 4(2) T2-2TR2 0123
32 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
33 1(2)1(6) T1(6)
34 1(2)1(6) T1(6)
35 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 1537
36 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
37 2(1)2(3) T2
38 2(1)2(3) T2
39 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 2604
40 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
41 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 1537
42 1(2)1(6) T1(6)
43 1(2)1(6) T1(6)
44 2(1)2(3) T2
45 2(1)2(3) T2
46 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
47 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 2604
88 7 7 7 7 7 23 7 23
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 5 9 5 9
Truc 24: 0 0 0 0 0 12 0 12
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
khonglaai
27-10-2005, 04:23 AM
31 CanChaCaaKhaKhoTonDoaLy
1 4(2) T2-4TR2 01122334
2 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
3 4(2) T2-2TR2 1234
4 4(2) T2-2TR2 1234
5 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
6 4(2) T2-4TR2 01122334
7 4(2) T1-8TR2 0415263701122334
8 4(1)2(2) T2-2TR2 0426
9 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
10 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
11 4(2) T2-2TR2 1537
12 4(1)2(2) T2-2TR2 1537
13 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
14 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
15 4(2) T2-2TR2 0426
16 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
17 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
18 4(2) T2-2TR2 1234
19 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
20 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
21 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
22 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
23 4(2) T2-2TR2 1234
24 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
25 4(2) T2-2TR2 0123
26 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
27 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
28 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
29 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
30 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
31 4(2) T2-2TR2 0123
32 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
33 1(2)1(6) T1(6)
34 1(2)1(6) T1(6)
35 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 1537
36 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
37 2(1)2(3) T2
38 2(1)2(3) T2
39 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 2604
40 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
41 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 1537
42 1(2)1(6) T1(6)
43 1(2)1(6) T1(6)
44 2(1)2(3) T2
45 2(1)2(3) T2
46 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
47 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 2604
88 7 7 7 7 7 23 7 23
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 5 9 5 9
Truc 24: 0 0 0 0 0 12 0 12
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
32 CanTonCaaKhaKhoChaDoaLy
1 4(2) T2-1TR1-1TR2 0123
2 4(2) T2-4TR2 01122334
3 4(2) T2-2TR2 0123
4 4(2) T2-2TR2 0123
5 4(2) T2-4TR2 01122334
6 4(2) T2-1TR1-1TR2 0123
7 4(2) T1-8TR2 0415263701122334
8 4(1)2(2) T2-2TR2 0426
9 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
10 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
11 4(2) T2-2TR2 1537
12 4(1)2(2) T2-2TR2 1537
13 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
14 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
15 4(2) T2-2TR2 0426
16 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
17 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
18 4(2) T2-2TR2 1234
19 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
20 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
21 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
22 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
23 4(2) T2-2TR2 1234
24 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
25 4(2) T2-2TR2 0123
26 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
27 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
28 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
29 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
30 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
31 4(2) T2-2TR2 0123
32 2(1)2(3) T2
33 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
34 1(2)1(6) T1(6)
35 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 1537
36 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
37 2(1)2(3) T2
38 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
39 1(2)1(6) T1(6)
40 2(1)2(3) T2
41 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 1537
42 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
43 1(2)1(6) T1(6)
44 2(1)2(3) T2
45 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
46 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
47 1(2)1(6) T1(6)
88 7 7 7 7 23 7 23 7
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 9 5 9 5
Truc 24: 0 0 0 0 12 0 12 0
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
33 CanLy ChaDoaKhoKhaTonCaa
1 4(2) T2-2TR2 1234
2 4(2) T2-4TR2 01122334
3 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
4 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
5 4(2) T2-4TR2 01122334
6 4(2) T2-2TR2 1234
7 4(2) T1-8TR2 0415263701122334
8 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
9 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
10 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
11 4(2) T2-2TR2 1234
12 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
13 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
14 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
15 4(2) T2-2TR2 1234
16 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
17 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
18 4(2) T2-2TR2 0123
19 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
20 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
21 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
22 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
23 4(2) T2-2TR2 0123
24 4(1)2(2) T2-2TR2 0426
25 4(2) T2-2TR2 1537
26 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
27 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
28 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
29 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
30 4(1)2(2) T2-2TR2 1537
31 4(2) T2-2TR2 0426
32 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
33 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 1537
34 1(2)1(6) T1(6)
35 1(2)1(6) T1(6)
36 2(1)2(3) T2
37 2(1)2(3) T2
38 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
39 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 2604
40 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
41 1(2)1(6) T1(6)
42 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 1537
43 1(2)1(6) T1(6)
44 2(1)2(3) T2
45 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
46 2(1)2(3) T2
47 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 2604
88 7 7 7 7 7 23 7 23
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 5 9 5 9
Truc 24: 0 0 0 0 0 12 0 12
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
khonglaai
27-10-2005, 04:23 AM
34 CanLy TonDoaKhoKhaChaCaa
1 4(2) T2-2TR2 0123
2 4(2) T2-1TR1-1TR2 0123
3 4(2) T2-4TR2 01122334
4 4(2) T2-4TR2 01122334
5 4(2) T2-1TR1-1TR2 0123
6 4(2) T2-2TR2 0123
7 4(2) T1-8TR2 0415263701122334
8 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
9 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
10 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
11 4(2) T2-2TR2 1234
12 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
13 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
14 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
15 4(2) T2-2TR2 1234
16 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
17 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
18 4(2) T2-2TR2 0123
19 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
20 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
21 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
22 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
23 4(2) T2-2TR2 0123
24 4(1)2(2) T2-2TR2 0426
25 4(2) T2-2TR2 1537
26 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
27 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
28 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
29 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
30 4(1)2(2) T2-2TR2 1537
31 4(2) T2-2TR2 0426
32 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
33 1(2)1(6) T1(6)
34 1(2)1(6) T1(6)
35 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
36 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
37 2(1)2(3) T2
38 2(1)2(3) T2
39 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 2604
40 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
41 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
42 1(2)1(6) T1(6)
43 1(2)1(6) T1(6)
44 2(1)2(3) T2
45 2(1)2(3) T2
46 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
47 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 2604
88 7 7 7 7 23 7 23 7
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 9 5 9 5
Truc 24: 0 0 0 0 12 0 12 0
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
35 CanKhaChaDoaKhoLy TonCaa
1 4(2) T2-2TR2 0123
2 4(2) T2-1TR1-1TR2 0123
3 4(2) T2-4TR2 01122334
4 4(2) T2-4TR2 01122334
5 4(2) T2-1TR1-1TR2 0123
6 4(2) T2-2TR2 0123
7 4(2) T1-8TR2 0415263701122334
8 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
9 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
10 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
11 4(2) T2-2TR2 1234
12 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
13 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
14 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
15 4(2) T2-2TR2 1234
16 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
17 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
18 4(2) T2-2TR2 0123
19 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
20 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
21 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
22 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
23 4(2) T2-2TR2 0123
24 4(1)2(2) T2-2TR2 0426
25 4(2) T2-2TR2 1537
26 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
27 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
28 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
29 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
30 4(1)2(2) T2-2TR2 1537
31 4(2) T2-2TR2 0426
32 2(1)2(3) T2
33 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 1537
34 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
35 1(2)1(6) T1(6)
36 2(1)2(3) T2
37 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
38 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
39 1(2)1(6) T1(6)
40 2(1)2(3) T2
41 1(2)1(6) T1(6)
42 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 1537
43 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
44 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
45 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
46 2(1)2(3) T2
47 1(2)1(6) T1(6)
88 7 7 7 7 23 7 23 7
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 9 5 9 5
Truc 24: 0 0 0 0 12 0 12 0
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
36 CanKhaTonDoaKhoLy ChaCaa
1 4(2) T2-2TR2 1234
2 4(2) T2-4TR2 01122334
3 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
4 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
5 4(2) T2-4TR2 01122334
6 4(2) T2-2TR2 1234
7 4(2) T1-8TR2 0415263701122334
8 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
9 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
10 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
11 4(2) T2-2TR2 1234
12 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
13 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
14 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
15 4(2) T2-2TR2 1234
16 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
17 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
18 4(2) T2-2TR2 0123
19 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
20 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
21 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
22 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
23 4(2) T2-2TR2 0123
24 4(1)2(2) T2-2TR2 0426
25 4(2) T2-2TR2 1537
26 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
27 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
28 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
29 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
30 4(1)2(2) T2-2TR2 1537
31 4(2) T2-2TR2 0426
32 2(1)2(3) T2
33 1(2)1(6) T1(6)
34 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
35 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
36 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
37 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
38 2(1)2(3) T2
39 1(2)1(6) T1(6)
40 2(1)2(3) T2
41 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
42 1(2)1(6) T1(6)
43 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
44 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
45 2(1)2(3) T2
46 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
47 1(2)1(6) T1(6)
88 7 7 7 7 7 23 7 23
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 5 9 5 9
Truc 24: 0 0 0 0 0 12 0 12
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
khonglaai
27-10-2005, 04:25 AM
37 CanLy ChaCaaKhoKhaTonDoa
1 4(2) T2-2TR2 0123
2 4(2) T2-1TR1-1TR2 0123
3 4(2) T2-4TR2 01122334
4 4(2) T2-4TR2 01122334
5 4(2) T2-1TR1-1TR2 0123
6 4(2) T2-2TR2 0123
7 4(2) T1-8TR2 0415263701122334
8 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
9 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
10 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
11 4(2) T2-2TR2 1234
12 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
13 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
14 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
15 4(2) T2-2TR2 1234
16 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
17 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
18 4(2) T2-2TR2 0123
19 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
20 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
21 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
22 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
23 4(2) T2-2TR2 0123
24 4(1)2(2) T2-2TR2 0426
25 4(2) T2-2TR2 1537
26 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
27 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
28 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
29 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
30 4(1)2(2) T2-2TR2 1537
31 4(2) T2-2TR2 0426
32 2(1)2(3) T2
33 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 1537
34 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
35 1(2)1(6) T1(6)
36 2(1)2(3) T2
37 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
38 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
39 1(2)1(6) T1(6)
40 2(1)2(3) T2
41 1(2)1(6) T1(6)
42 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 1537
43 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
44 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
45 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
46 2(1)2(3) T2
47 1(2)1(6) T1(6)
88 7 7 7 7 23 7 23 7
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 9 5 9 5
Truc 24: 0 0 0 0 12 0 12 0
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
38 CanLy TonCaaKhoKhaChaDoa
1 4(2) T2-2TR2 1234
2 4(2) T2-4TR2 01122334
3 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
4 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
5 4(2) T2-4TR2 01122334
6 4(2) T2-2TR2 1234
7 4(2) T1-8TR2 0415263701122334
8 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
9 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
10 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
11 4(2) T2-2TR2 1234
12 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
13 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
14 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
15 4(2) T2-2TR2 1234
16 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
17 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
18 4(2) T2-2TR2 0123
19 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
20 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
21 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
22 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
23 4(2) T2-2TR2 0123
24 4(1)2(2) T2-2TR2 0426
25 4(2) T2-2TR2 1537
26 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
27 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
28 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
29 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
30 4(1)2(2) T2-2TR2 1537
31 4(2) T2-2TR2 0426
32 2(1)2(3) T2
33 1(2)1(6) T1(6)
34 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
35 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
36 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
37 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
38 2(1)2(3) T2
39 1(2)1(6) T1(6)
40 2(1)2(3) T2
41 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
42 1(2)1(6) T1(6)
43 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
44 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
45 2(1)2(3) T2
46 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
47 1(2)1(6) T1(6)
88 7 7 7 7 7 23 7 23
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 5 9 5 9
Truc 24: 0 0 0 0 0 12 0 12
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
39 CanKhaChaCaaKhoLy TonDoa
1 4(2) T2-2TR2 1234
2 4(2) T2-4TR2 01122334
3 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
4 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
5 4(2) T2-4TR2 01122334
6 4(2) T2-2TR2 1234
7 4(2) T1-8TR2 0415263701122334
8 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
9 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
10 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
11 4(2) T2-2TR2 1234
12 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
13 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
14 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
15 4(2) T2-2TR2 1234
16 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
17 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
18 4(2) T2-2TR2 0123
19 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
20 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
21 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
22 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
23 4(2) T2-2TR2 0123
24 4(1)2(2) T2-2TR2 0426
25 4(2) T2-2TR2 1537
26 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
27 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
28 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
29 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
30 4(1)2(2) T2-2TR2 1537
31 4(2) T2-2TR2 0426
32 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
33 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 1537
34 1(2)1(6) T1(6)
35 1(2)1(6) T1(6)
36 2(1)2(3) T2
37 2(1)2(3) T2
38 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
39 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 2604
40 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
41 1(2)1(6) T1(6)
42 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 1537
43 1(2)1(6) T1(6)
44 2(1)2(3) T2
45 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
46 2(1)2(3) T2
47 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 2604
88 7 7 7 7 7 23 7 23
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 5 9 5 9
Truc 24: 0 0 0 0 0 12 0 12
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
khonglaai
27-10-2005, 04:27 AM
40 CanKhaTonCaaKhoLy ChaDoa
1 4(2) T2-2TR2 0123
2 4(2) T2-1TR1-1TR2 0123
3 4(2) T2-4TR2 01122334
4 4(2) T2-4TR2 01122334
5 4(2) T2-1TR1-1TR2 0123
6 4(2) T2-2TR2 0123
7 4(2) T1-8TR2 0415263701122334
8 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
9 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
10 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
11 4(2) T2-2TR2 1234
12 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
13 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
14 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
15 4(2) T2-2TR2 1234
16 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
17 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
18 4(2) T2-2TR2 0123
19 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
20 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
21 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
22 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
23 4(2) T2-2TR2 0123
24 4(1)2(2) T2-2TR2 0426
25 4(2) T2-2TR2 1537
26 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
27 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
28 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
29 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
30 4(1)2(2) T2-2TR2 1537
31 4(2) T2-2TR2 0426
32 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
33 1(2)1(6) T1(6)
34 1(2)1(6) T1(6)
35 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
36 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
37 2(1)2(3) T2
38 2(1)2(3) T2
39 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 2604
40 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
41 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
42 1(2)1(6) T1(6)
43 1(2)1(6) T1(6)
44 2(1)2(3) T2
45 2(1)2(3) T2
46 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
47 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 2604
88 7 7 7 7 23 7 23 7
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 9 5 9 5
Truc 24: 0 0 0 0 12 0 12 0
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
41 CanChaLy DoaKhoTonKhaCaa
1 4(2) T2-4TR2 01122334
2 4(2) T2-2TR2 1234
3 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
4 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
5 4(2) T2-2TR2 1234
6 4(2) T2-4TR2 01122334
7 4(2) T1-8TR2 0415263701122334
8 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
9 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
10 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
11 4(2) T2-2TR2 1234
12 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
13 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
14 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
15 4(2) T2-2TR2 1234
16 4(1)2(2) T2-2TR2 0426
17 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
18 4(2) T2-2TR2 1537
19 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
20 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
21 4(1)2(2) T2-2TR2 1537
22 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
23 4(2) T2-2TR2 0426
24 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
25 4(2) T2-2TR2 0123
26 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
27 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
28 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
29 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
30 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
31 4(2) T2-2TR2 0123
32 2(1)2(3) T2
33 1(2)1(6) T1(6)
34 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
35 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
36 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
37 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
38 2(1)2(3) T2
39 1(2)1(6) T1(6)
40 2(1)2(3) T2
41 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
42 1(2)1(6) T1(6)
43 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
44 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
45 2(1)2(3) T2
46 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
47 1(2)1(6) T1(6)
88 7 7 7 7 7 23 7 23
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 5 9 5 9
Truc 24: 0 0 0 0 0 12 0 12
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
42 CanTonLy DoaKhoChaKhaCaa
1 4(2) T2-1TR1-1TR2 0123
2 4(2) T2-2TR2 0123
3 4(2) T2-4TR2 01122334
4 4(2) T2-4TR2 01122334
5 4(2) T2-2TR2 0123
6 4(2) T2-1TR1-1TR2 0123
7 4(2) T1-8TR2 0415263701122334
8 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
9 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
10 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
11 4(2) T2-2TR2 1234
12 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
13 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
14 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
15 4(2) T2-2TR2 1234
16 4(1)2(2) T2-2TR2 0426
17 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
18 4(2) T2-2TR2 1537
19 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
20 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
21 4(1)2(2) T2-2TR2 1537
22 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
23 4(2) T2-2TR2 0426
24 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
25 4(2) T2-2TR2 0123
26 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
27 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
28 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
29 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
30 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
31 4(2) T2-2TR2 0123
32 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
33 1(2)1(6) T1(6)
34 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
35 1(2)1(6) T1(6)
36 2(1)2(3) T2
37 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
38 2(1)2(3) T2
39 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 2604
40 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
41 1(2)1(6) T1(6)
42 1(2)1(6) T1(6)
43 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
44 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
45 2(1)2(3) T2
46 2(1)2(3) T2
47 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 2604
88 7 7 7 7 23 7 23 7
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 9 5 9 5
Truc 24: 0 0 0 0 12 0 12 0
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
khonglaai
27-10-2005, 04:28 AM
43 CanChaKhaDoaKhoTonLy Caa
1 4(2) T2-1TR1-1TR2 0123
2 4(2) T2-2TR2 0123
3 4(2) T2-4TR2 01122334
4 4(2) T2-4TR2 01122334
5 4(2) T2-2TR2 0123
6 4(2) T2-1TR1-1TR2 0123
7 4(2) T1-8TR2 0415263701122334
8 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
9 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
10 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
11 4(2) T2-2TR2 1234
12 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
13 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
14 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
15 4(2) T2-2TR2 1234
16 4(1)2(2) T2-2TR2 0426
17 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
18 4(2) T2-2TR2 1537
19 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
20 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
21 4(1)2(2) T2-2TR2 1537
22 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
23 4(2) T2-2TR2 0426
24 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
25 4(2) T2-2TR2 0123
26 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
27 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
28 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
29 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
30 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
31 4(2) T2-2TR2 0123
32 2(1)2(3) T2
33 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 1537
34 1(2)1(6) T1(6)
35 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
36 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
37 2(1)2(3) T2
38 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
39 1(2)1(6) T1(6)
40 2(1)2(3) T2
41 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
42 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 1537
43 1(2)1(6) T1(6)
44 2(1)2(3) T2
45 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
46 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
47 1(2)1(6) T1(6)
88 7 7 7 7 23 7 23 7
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 9 5 9 5
Truc 24: 0 0 0 0 12 0 12 0
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
44 CanTonKhaDoaKhoChaLy Caa
1 4(2) T2-4TR2 01122334
2 4(2) T2-2TR2 1234
3 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
4 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
5 4(2) T2-2TR2 1234
6 4(2) T2-4TR2 01122334
7 4(2) T1-8TR2 0415263701122334
8 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
9 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
10 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
11 4(2) T2-2TR2 1234
12 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
13 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
14 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
15 4(2) T2-2TR2 1234
16 4(1)2(2) T2-2TR2 0426
17 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
18 4(2) T2-2TR2 1537
19 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
20 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
21 4(1)2(2) T2-2TR2 1537
22 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
23 4(2) T2-2TR2 0426
24 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
25 4(2) T2-2TR2 0123
26 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
27 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
28 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
29 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
30 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
31 4(2) T2-2TR2 0123
32 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
33 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 1537
34 1(2)1(6) T1(6)
35 1(2)1(6) T1(6)
36 2(1)2(3) T2
37 2(1)2(3) T2
38 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
39 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 2604
40 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
41 1(2)1(6) T1(6)
42 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 1537
43 1(2)1(6) T1(6)
44 2(1)2(3) T2
45 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
46 2(1)2(3) T2
47 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 2604
88 7 7 7 7 7 23 7 23
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 5 9 5 9
Truc 24: 0 0 0 0 0 12 0 12
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
45 CanChaLy CaaKhoTonKhaDoa
1 4(2) T2-1TR1-1TR2 0123
2 4(2) T2-2TR2 0123
3 4(2) T2-4TR2 01122334
4 4(2) T2-4TR2 01122334
5 4(2) T2-2TR2 0123
6 4(2) T2-1TR1-1TR2 0123
7 4(2) T1-8TR2 0415263701122334
8 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
9 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
10 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
11 4(2) T2-2TR2 1234
12 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
13 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
14 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
15 4(2) T2-2TR2 1234
16 4(1)2(2) T2-2TR2 0426
17 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
18 4(2) T2-2TR2 1537
19 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
20 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
21 4(1)2(2) T2-2TR2 1537
22 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
23 4(2) T2-2TR2 0426
24 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
25 4(2) T2-2TR2 0123
26 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
27 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
28 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
29 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
30 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
31 4(2) T2-2TR2 0123
32 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
33 1(2)1(6) T1(6)
34 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
35 1(2)1(6) T1(6)
36 2(1)2(3) T2
37 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
38 2(1)2(3) T2
39 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 2604
40 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
41 1(2)1(6) T1(6)
42 1(2)1(6) T1(6)
43 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
44 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
45 2(1)2(3) T2
46 2(1)2(3) T2
47 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 2604
88 7 7 7 7 23 7 23 7
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 9 5 9 5
Truc 24: 0 0 0 0 12 0 12 0
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
khonglaai
27-10-2005, 04:29 AM
46 CanTonLy CaaKhoChaKhaDoa
1 4(2) T2-4TR2 01122334
2 4(2) T2-2TR2 1234
3 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
4 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
5 4(2) T2-2TR2 1234
6 4(2) T2-4TR2 01122334
7 4(2) T1-8TR2 0415263701122334
8 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
9 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
10 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
11 4(2) T2-2TR2 1234
12 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
13 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
14 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
15 4(2) T2-2TR2 1234
16 4(1)2(2) T2-2TR2 0426
17 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
18 4(2) T2-2TR2 1537
19 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
20 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
21 4(1)2(2) T2-2TR2 1537
22 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
23 4(2) T2-2TR2 0426
24 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
25 4(2) T2-2TR2 0123
26 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
27 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
28 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
29 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
30 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
31 4(2) T2-2TR2 0123
32 2(1)2(3) T2
33 1(2)1(6) T1(6)
34 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
35 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
36 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
37 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
38 2(1)2(3) T2
39 1(2)1(6) T1(6)
40 2(1)2(3) T2
41 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
42 1(2)1(6) T1(6)
43 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
44 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
45 2(1)2(3) T2
46 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
47 1(2)1(6) T1(6)
88 7 7 7 7 7 23 7 23
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 5 9 5 9
Truc 24: 0 0 0 0 0 12 0 12
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
47 CanChaKhaCaaKhoTonLy Doa
1 4(2) T2-4TR2 01122334
2 4(2) T2-2TR2 1234
3 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
4 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
5 4(2) T2-2TR2 1234
6 4(2) T2-4TR2 01122334
7 4(2) T1-8TR2 0415263701122334
8 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
9 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
10 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
11 4(2) T2-2TR2 1234
12 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
13 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
14 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
15 4(2) T2-2TR2 1234
16 4(1)2(2) T2-2TR2 0426
17 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
18 4(2) T2-2TR2 1537
19 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
20 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
21 4(1)2(2) T2-2TR2 1537
22 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
23 4(2) T2-2TR2 0426
24 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
25 4(2) T2-2TR2 0123
26 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
27 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
28 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
29 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
30 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
31 4(2) T2-2TR2 0123
32 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
33 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 1537
34 1(2)1(6) T1(6)
35 1(2)1(6) T1(6)
36 2(1)2(3) T2
37 2(1)2(3) T2
38 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
39 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 2604
40 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
41 1(2)1(6) T1(6)
42 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 1537
43 1(2)1(6) T1(6)
44 2(1)2(3) T2
45 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
46 2(1)2(3) T2
47 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 2604
88 7 7 7 7 7 23 7 23
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 5 9 5 9
Truc 24: 0 0 0 0 0 12 0 12
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
48 CanTonKhaCaaKhoChaLy Doa
1 4(2) T2-1TR1-1TR2 0123
2 4(2) T2-2TR2 0123
3 4(2) T2-4TR2 01122334
4 4(2) T2-4TR2 01122334
5 4(2) T2-2TR2 0123
6 4(2) T2-1TR1-1TR2 0123
7 4(2) T1-8TR2 0415263701122334
8 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
9 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
10 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
11 4(2) T2-2TR2 1234
12 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
13 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
14 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
15 4(2) T2-2TR2 1234
16 4(1)2(2) T2-2TR2 0426
17 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
18 4(2) T2-2TR2 1537
19 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
20 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
21 4(1)2(2) T2-2TR2 1537
22 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
23 4(2) T2-2TR2 0426
24 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
25 4(2) T2-2TR2 0123
26 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
27 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
28 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
29 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 0123
30 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
31 4(2) T2-2TR2 0123
32 2(1)2(3) T2
33 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 1537
34 1(2)1(6) T1(6)
35 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
36 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
37 2(1)2(3) T2
38 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
39 1(2)1(6) T1(6)
40 2(1)2(3) T2
41 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
42 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 1537
43 1(2)1(6) T1(6)
44 2(1)2(3) T2
45 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
46 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
47 1(2)1(6) T1(6)
88 7 7 7 7 23 7 23 7
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 9 5 9 5
Truc 24: 0 0 0 0 12 0 12 0
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
khonglaai
27-10-2005, 04:33 AM
F1,2
1 CanDoaLy ChaTonKhaCaaKho
84 1 1 1 1 5 23 5 47
23 1 2 4 0 8 0
2 CanDoaLy KhoTonKhaCaaCha
64 1 1 1 1 23 7 23 7
23 1 2 4 0 8 16
3 CanDoaCaaChaTonKhaLy Kho
64 1 1 1 1 23 7 23 7
23 1 2 4 0 8 16
4 CanDoaCaaKhoTonKhaLy Cha
84 1 1 1 1 5 47 5 23
23 1 2 4 0 8 0
5 CanKhaLy ChaTonDoaCaaKho
63 1 1 1 1 22 7 23 7
23 1 2 4 0 8 17
6 CanKhaLy KhoTonDoaCaaCha
84 1 1 1 1 5 47 5 23
23 1 2 4 0 8 0
7 CanKhaCaaChaTonDoaLy Kho
84 1 1 1 1 5 23 5 47
23 1 2 4 0 8 0
8 CanKhaCaaKhoTonDoaLy Cha
63 1 1 1 1 22 7 23 7
23 1 2 4 0 8 17
9 CanDoaChaLy TonKhaKhoCaa
68 3 3 3 3 5 23 5 23
23 1 2 4 0 8 16
10 CanDoaKhoLy TonKhaChaCaa
68 3 3 3 3 23 5 23 5
23 1 2 4 0 8 16
11 CanDoaChaCaaTonKhaKhoLy
68 3 3 3 3 23 5 23 5
23 1 2 4 0 8 16
12 CanDoaKhoCaaTonKhaChaLy
67 3 3 3 3 5 22 5 23
23 1 2 4 0 8 17
13 CanKhaChaLy TonDoaKhoCaa
67 3 3 3 3 22 5 23 5
23 1 2 4 0 8 17
14 CanKhaKhoLy TonDoaChaCaa
68 3 3 3 3 5 23 5 23
23 1 2 4 0 8 16
15 CanKhaChaCaaTonDoaKhoLy
67 3 3 3 3 5 22 5 23
23 1 2 4 0 8 17
16 CanKhaKhoCaaTonDoaChaLy
67 3 3 3 3 22 5 23 5
23 1 2 4 0 8 17
17 CanLy DoaChaTonCaaKhaKho
84 1 1 1 1 5 23 5 47
23 1 2 4 0 8 0
18 CanLy DoaKhoTonCaaKhaCha
64 1 1 1 1 23 7 23 7
23 1 2 4 0 8 16
19 CanCaaDoaChaTonLy KhaKho
63 1 1 1 1 22 7 23 7
23 1 2 4 0 8 17
20 CanCaaDoaKhoTonLy KhaCha
84 1 1 1 1 5 47 5 23
23 1 2 4 0 8 0
21 CanLy KhaChaTonCaaDoaKho
64 1 1 1 1 23 7 23 7
23 1 2 4 0 8 16
22 CanLy KhaKhoTonCaaDoaCha
84 1 1 1 1 5 47 5 23
23 1 2 4 0 8 0
23 CanCaaKhaChaTonLy DoaKho
84 1 1 1 1 5 23 5 47
23 1 2 4 0 8 0
24 CanCaaKhaKhoTonLy DoaCha
63 1 1 1 1 22 7 23 7
23 1 2 4 0 8 17
25 CanChaDoaLy TonKhoKhaCaa
64 1 1 1 1 7 23 7 23
23 1 2 4 0 8 16
26 CanKhoDoaLy TonChaKhaCaa
84 1 1 1 1 47 5 23 5
23 1 2 4 0 8 0
27 CanChaDoaCaaTonKhoKhaLy
84 1 1 1 1 23 5 47 5
23 1 2 4 0 8 0
28 CanKhoDoaCaaTonChaKhaLy
63 1 1 1 1 7 22 7 23
23 1 2 4 0 8 17
29 CanChaKhaLy TonKhoDoaCaa
84 1 1 1 1 23 5 47 5
23 1 2 4 0 8 0
30 CanKhoKhaLy TonChaDoaCaa
64 1 1 1 1 7 23 7 23
23 1 2 4 0 8 16
31 CanChaKhaCaaTonKhoDoaLy
63 1 1 1 1 7 22 7 23
23 1 2 4 0 8 17
32 CanKhoKhaCaaTonChaDoaLy
84 1 1 1 1 47 5 23 5
23 1 2 4 0 8 0
33 CanLy ChaDoaTonCaaKhoKha
68 3 3 3 3 5 23 5 23
23 1 2 4 0 8 16
34 CanLy KhoDoaTonCaaChaKha
68 3 3 3 3 23 5 23 5
23 1 2 4 0 8 16
35 CanCaaChaDoaTonLy KhoKha
67 3 3 3 3 22 5 23 5
23 1 2 4 0 8 17
36 CanCaaKhoDoaTonLy ChaKha
68 3 3 3 3 5 23 5 23
23 1 2 4 0 8 16
37 CanLy ChaKhaTonCaaKhoDoa
68 3 3 3 3 23 5 23 5
23 1 2 4 0 8 16
38 CanLy KhoKhaTonCaaChaDoa
67 3 3 3 3 5 22 5 23
23 1 2 4 0 8 17
39 CanCaaChaKhaTonLy KhoDoa
67 3 3 3 3 5 22 5 23
23 1 2 4 0 8 17
40 CanCaaKhoKhaTonLy ChaDoa
67 3 3 3 3 22 5 23 5
23 1 2 4 0 8 17
41 CanChaLy DoaTonKhoCaaKha
64 1 1 1 1 7 23 7 23
23 1 2 4 0 8 16
42 CanKhoLy DoaTonChaCaaKha
84 1 1 1 1 47 5 23 5
23 1 2 4 0 8 0
43 CanChaCaaDoaTonKhoLy Kha
84 1 1 1 1 23 5 47 5
23 1 2 4 0 8 0
44 CanKhoCaaDoaTonChaLy Kha
64 1 1 1 1 7 23 7 23
23 1 2 4 0 8 16
45 CanChaLy KhaTonKhoCaaDoa
84 1 1 1 1 23 5 47 5
23 1 2 4 0 8 0
46 CanKhoLy KhaTonChaCaaDoa
63 1 1 1 1 7 22 7 23
23 1 2 4 0 8 17
47 CanChaCaaKhaTonKhoLy Doa
63 1 1 1 1 7 22 7 23
23 1 2 4 0 8 17
48 CanKhoCaaKhaTonChaLy Doa
84 1 1 1 1 47 5 23 5
23 1 2 4 0 8 0
khonglaai
27-10-2005, 04:35 AM
F1,3
1 CanDoaTonKhaLy ChaCaaKho
84 1 1 1 1 5 23 5 47
23 1 2 4 0 8 0
2 CanDoaTonKhoLy ChaCaaKha
64 1 1 1 1 23 7 23 7
23 1 2 4 0 8 16
3 CanDoaCaaKhaLy ChaTonKho
64 1 1 1 1 23 7 23 7
23 1 2 4 0 8 16
4 CanDoaCaaKhoLy ChaTonKha
84 1 1 1 1 5 47 5 23
23 1 2 4 0 8 0
5 CanChaTonKhaLy DoaCaaKho
63 1 1 1 1 22 7 23 7
23 1 2 4 0 8 17
6 CanChaTonKhoLy DoaCaaKha
84 1 1 1 1 5 47 5 23
23 1 2 4 0 8 0
7 CanChaCaaKhaLy DoaTonKho
84 1 1 1 1 5 23 5 47
23 1 2 4 0 8 0
8 CanChaCaaKhoLy DoaTonKha
63 1 1 1 1 22 7 23 7
23 1 2 4 0 8 17
9 CanDoaKhaTonLy ChaKhoCaa
68 3 3 3 3 5 23 5 23
23 1 2 4 0 8 16
10 CanDoaKhoTonLy ChaKhaCaa
68 3 3 3 3 23 5 23 5
23 1 2 4 0 8 16
11 CanDoaKhaCaaLy ChaKhoTon
68 3 3 3 3 23 5 23 5
23 1 2 4 0 8 16
12 CanDoaKhoCaaLy ChaKhaTon
67 3 3 3 3 5 22 5 23
23 1 2 4 0 8 17
13 CanChaKhaTonLy DoaKhoCaa
67 3 3 3 3 22 5 23 5
23 1 2 4 0 8 17
14 CanChaKhoTonLy DoaKhaCaa
68 3 3 3 3 5 23 5 23
23 1 2 4 0 8 16
15 CanChaKhaCaaLy DoaKhoTon
67 3 3 3 3 5 22 5 23
23 1 2 4 0 8 17
16 CanChaKhoCaaLy DoaKhaTon
67 3 3 3 3 22 5 23 5
23 1 2 4 0 8 17
17 CanTonDoaKhaLy CaaChaKho
84 1 1 1 1 5 23 5 47
23 1 2 4 0 8 0
18 CanTonDoaKhoLy CaaChaKha
64 1 1 1 1 23 7 23 7
23 1 2 4 0 8 16
19 CanCaaDoaKhaLy TonChaKho
63 1 1 1 1 22 7 23 7
23 1 2 4 0 8 17
20 CanCaaDoaKhoLy TonChaKha
84 1 1 1 1 5 47 5 23
23 1 2 4 0 8 0
21 CanTonChaKhaLy CaaDoaKho
64 1 1 1 1 23 7 23 7
23 1 2 4 0 8 16
22 CanTonChaKhoLy CaaDoaKha
84 1 1 1 1 5 47 5 23
23 1 2 4 0 8 0
23 CanCaaChaKhaLy TonDoaKho
84 1 1 1 1 5 23 5 47
23 1 2 4 0 8 0
24 CanCaaChaKhoLy TonDoaKha
63 1 1 1 1 22 7 23 7
23 1 2 4 0 8 17
25 CanKhaDoaTonLy KhoChaCaa
64 1 1 1 1 7 23 7 23
23 1 2 4 0 8 16
26 CanKhoDoaTonLy KhaChaCaa
84 1 1 1 1 47 5 23 5
23 1 2 4 0 8 0
27 CanKhaDoaCaaLy KhoChaTon
84 1 1 1 1 23 5 47 5
23 1 2 4 0 8 0
28 CanKhoDoaCaaLy KhaChaTon
63 1 1 1 1 7 22 7 23
23 1 2 4 0 8 17
29 CanKhaChaTonLy KhoDoaCaa
84 1 1 1 1 23 5 47 5
23 1 2 4 0 8 0
30 CanKhoChaTonLy KhaDoaCaa
64 1 1 1 1 7 23 7 23
23 1 2 4 0 8 16
31 CanKhaChaCaaLy KhoDoaTon
63 1 1 1 1 7 22 7 23
23 1 2 4 0 8 17
32 CanKhoChaCaaLy KhaDoaTon
84 1 1 1 1 47 5 23 5
23 1 2 4 0 8 0
33 CanTonKhaDoaLy CaaKhoCha
68 3 3 3 3 5 23 5 23
23 1 2 4 0 8 16
34 CanTonKhoDoaLy CaaKhaCha
68 3 3 3 3 23 5 23 5
23 1 2 4 0 8 16
35 CanCaaKhaDoaLy TonKhoCha
67 3 3 3 3 22 5 23 5
23 1 2 4 0 8 17
36 CanCaaKhoDoaLy TonKhaCha
68 3 3 3 3 5 23 5 23
23 1 2 4 0 8 16
37 CanTonKhaChaLy CaaKhoDoa
68 3 3 3 3 23 5 23 5
23 1 2 4 0 8 16
38 CanTonKhoChaLy CaaKhaDoa
67 3 3 3 3 5 22 5 23
23 1 2 4 0 8 17
39 CanCaaKhaChaLy TonKhoDoa
67 3 3 3 3 5 22 5 23
23 1 2 4 0 8 17
40 CanCaaKhoChaLy TonKhaDoa
67 3 3 3 3 22 5 23 5
23 1 2 4 0 8 17
41 CanKhaTonDoaLy KhoCaaCha
64 1 1 1 1 7 23 7 23
23 1 2 4 0 8 16
42 CanKhoTonDoaLy KhaCaaCha
84 1 1 1 1 47 5 23 5
23 1 2 4 0 8 0
43 CanKhaCaaDoaLy KhoTonCha
84 1 1 1 1 23 5 47 5
23 1 2 4 0 8 0
44 CanKhoCaaDoaLy KhaTonCha
64 1 1 1 1 7 23 7 23
23 1 2 4 0 8 16
45 CanKhaTonChaLy KhoCaaDoa
84 1 1 1 1 23 5 47 5
23 1 2 4 0 8 0
46 CanKhoTonChaLy KhaCaaDoa
63 1 1 1 1 7 22 7 23
23 1 2 4 0 8 17
47 CanKhaCaaChaLy KhoTonDoa
63 1 1 1 1 7 22 7 23
23 1 2 4 0 8 17
48 CanKhoCaaChaLy KhaTonDoa
84 1 1 1 1 47 5 23 5
23 1 2 4 0 8 0
khonglaai
27-10-2005, 04:35 AM
F1,4
1 CanLy TonCaaDoaChaKhaKho
84 1 1 1 1 5 23 5 47
23 1 2 4 0 8 0
2 CanLy TonKhoDoaChaKhaCaa
64 1 1 1 1 23 7 23 7
23 1 2 4 0 8 16
3 CanLy KhaCaaDoaChaTonKho
64 1 1 1 1 23 7 23 7
23 1 2 4 0 8 16
4 CanLy KhaKhoDoaChaTonCaa
84 1 1 1 1 5 47 5 23
23 1 2 4 0 8 0
5 CanChaTonCaaDoaLy KhaKho
63 1 1 1 1 22 7 23 7
23 1 2 4 0 8 17
6 CanChaTonKhoDoaLy KhaCaa
84 1 1 1 1 5 47 5 23
23 1 2 4 0 8 0
7 CanChaKhaCaaDoaLy TonKho
84 1 1 1 1 5 23 5 47
23 1 2 4 0 8 0
8 CanChaKhaKhoDoaLy TonCaa
63 1 1 1 1 22 7 23 7
23 1 2 4 0 8 17
9 CanLy CaaTonDoaChaKhoKha
68 3 3 3 3 5 23 5 23
23 1 2 4 0 8 16
10 CanLy KhoTonDoaChaCaaKha
68 3 3 3 3 23 5 23 5
23 1 2 4 0 8 16
11 CanLy CaaKhaDoaChaKhoTon
68 3 3 3 3 23 5 23 5
23 1 2 4 0 8 16
12 CanLy KhoKhaDoaChaCaaTon
67 3 3 3 3 5 22 5 23
23 1 2 4 0 8 17
13 CanChaCaaTonDoaLy KhoKha
67 3 3 3 3 22 5 23 5
23 1 2 4 0 8 17
14 CanChaKhoTonDoaLy CaaKha
68 3 3 3 3 5 23 5 23
23 1 2 4 0 8 16
15 CanChaCaaKhaDoaLy KhoTon
67 3 3 3 3 5 22 5 23
23 1 2 4 0 8 17
16 CanChaKhoKhaDoaLy CaaTon
67 3 3 3 3 22 5 23 5
23 1 2 4 0 8 17
17 CanTonLy CaaDoaKhaChaKho
84 1 1 1 1 5 23 5 47
23 1 2 4 0 8 0
18 CanTonLy KhoDoaKhaChaCaa
64 1 1 1 1 23 7 23 7
23 1 2 4 0 8 16
19 CanKhaLy CaaDoaTonChaKho
63 1 1 1 1 22 7 23 7
23 1 2 4 0 8 17
20 CanKhaLy KhoDoaTonChaCaa
84 1 1 1 1 5 47 5 23
23 1 2 4 0 8 0
21 CanTonChaCaaDoaKhaLy Kho
64 1 1 1 1 23 7 23 7
23 1 2 4 0 8 16
22 CanTonChaKhoDoaKhaLy Caa
84 1 1 1 1 5 47 5 23
23 1 2 4 0 8 0
23 CanKhaChaCaaDoaTonLy Kho
84 1 1 1 1 5 23 5 47
23 1 2 4 0 8 0
24 CanKhaChaKhoDoaTonLy Caa
63 1 1 1 1 22 7 23 7
23 1 2 4 0 8 17
25 CanCaaLy TonDoaKhoChaKha
64 1 1 1 1 7 23 7 23
23 1 2 4 0 8 16
26 CanKhoLy TonDoaCaaChaKha
84 1 1 1 1 47 5 23 5
23 1 2 4 0 8 0
27 CanCaaLy KhaDoaKhoChaTon
84 1 1 1 1 23 5 47 5
23 1 2 4 0 8 0
28 CanKhoLy KhaDoaCaaChaTon
63 1 1 1 1 7 22 7 23
23 1 2 4 0 8 17
29 CanCaaChaTonDoaKhoLy Kha
84 1 1 1 1 23 5 47 5
23 1 2 4 0 8 0
30 CanKhoChaTonDoaCaaLy Kha
64 1 1 1 1 7 23 7 23
23 1 2 4 0 8 16
31 CanCaaChaKhaDoaKhoLy Ton
63 1 1 1 1 7 22 7 23
23 1 2 4 0 8 17
32 CanKhoChaKhaDoaCaaLy Ton
84 1 1 1 1 47 5 23 5
23 1 2 4 0 8 0
33 CanTonCaaLy DoaKhaKhoCha
68 3 3 3 3 5 23 5 23
23 1 2 4 0 8 16
34 CanTonKhoLy DoaKhaCaaCha
68 3 3 3 3 23 5 23 5
23 1 2 4 0 8 16
35 CanKhaCaaLy DoaTonKhoCha
67 3 3 3 3 22 5 23 5
23 1 2 4 0 8 17
36 CanKhaKhoLy DoaTonCaaCha
68 3 3 3 3 5 23 5 23
23 1 2 4 0 8 16
37 CanTonCaaChaDoaKhaKhoLy
68 3 3 3 3 23 5 23 5
23 1 2 4 0 8 16
38 CanTonKhoChaDoaKhaCaaLy
67 3 3 3 3 5 22 5 23
23 1 2 4 0 8 17
39 CanKhaCaaChaDoaTonKhoLy
67 3 3 3 3 5 22 5 23
23 1 2 4 0 8 17
40 CanKhaKhoChaDoaTonCaaLy
67 3 3 3 3 22 5 23 5
23 1 2 4 0 8 17
41 CanCaaTonLy DoaKhoKhaCha
64 1 1 1 1 7 23 7 23
23 1 2 4 0 8 16
42 CanKhoTonLy DoaCaaKhaCha
84 1 1 1 1 47 5 23 5
23 1 2 4 0 8 0
43 CanCaaKhaLy DoaKhoTonCha
84 1 1 1 1 23 5 47 5
23 1 2 4 0 8 0
44 CanKhoKhaLy DoaCaaTonCha
64 1 1 1 1 7 23 7 23
23 1 2 4 0 8 16
45 CanCaaTonChaDoaKhoKhaLy
84 1 1 1 1 23 5 47 5
23 1 2 4 0 8 0
46 CanKhoTonChaDoaCaaKhaLy
63 1 1 1 1 7 22 7 23
23 1 2 4 0 8 17
47 CanCaaKhaChaDoaKhoTonLy
63 1 1 1 1 7 22 7 23
23 1 2 4 0 8 17
48 CanKhoKhaChaDoaCaaTonLy
84 1 1 1 1 47 5 23 5
23 1 2 4 0 8 0
khonglaai
27-10-2005, 04:36 AM
F1,5
1 CanDoaLy ChaCaaKhoTonKha
96 3 3 3 3 19 23 19 23
23 1 4 8 0 8 0
2 CanDoaLy KhaCaaKhoTonCha
108 3 3 3 3 23 13 47 13
23 1 2 8 0 12 0
3 CanDoaTonChaCaaKhoLy Kha
108 3 3 3 3 23 13 47 13
23 1 2 8 0 12 0
4 CanDoaTonKhaCaaKhoLy Cha
96 3 3 3 3 19 23 19 23
23 1 4 8 0 8 0
5 CanKhoLy ChaCaaDoaTonKha
108 3 3 3 3 47 13 23 13
23 1 2 8 0 12 0
6 CanKhoLy KhaCaaDoaTonCha
95 3 3 3 3 19 22 19 23
23 1 4 8 0 8 1
7 CanKhoTonChaCaaDoaLy Kha
95 3 3 3 3 19 22 19 23
23 1 4 8 0 8 1
8 CanKhoTonKhaCaaDoaLy Cha
108 3 3 3 3 47 13 23 13
23 1 2 8 0 12 0
9 CanDoaChaLy CaaKhoKhaTon
96 3 3 3 3 19 23 19 23
23 1 4 8 0 8 0
10 CanDoaKhaLy CaaKhoChaTon
100 3 3 3 3 23 9 47 9
23 1 2 8 0 12 0
11 CanDoaChaTonCaaKhoKhaLy
100 3 3 3 3 23 9 47 9
23 1 2 8 0 12 0
12 CanDoaKhaTonCaaKhoChaLy
96 3 3 3 3 19 23 19 23
23 1 4 8 0 8 0
13 CanKhoChaLy CaaDoaKhaTon
100 3 3 3 3 47 9 23 9
23 1 2 8 0 12 0
14 CanKhoKhaLy CaaDoaChaTon
96 3 3 3 3 19 23 19 23
23 1 4 8 0 8 0
15 CanKhoChaTonCaaDoaKhaLy
96 3 3 3 3 19 23 19 23
23 1 4 8 0 8 0
16 CanKhoKhaTonCaaDoaChaLy
100 3 3 3 3 47 9 23 9
23 1 2 8 0 12 0
17 CanLy DoaChaCaaTonKhoKha
76 3 3 3 3 9 23 9 23
23 1 2 8 0 10 16
18 CanLy DoaKhaCaaTonKhoCha
84 3 3 3 3 23 13 23 13
23 1 2 8 0 10 16
19 CanTonDoaChaCaaLy KhoKha
84 3 3 3 3 23 13 23 13
23 1 2 8 0 10 16
20 CanTonDoaKhaCaaLy KhoCha
76 3 3 3 3 9 23 9 23
23 1 2 8 0 10 16
21 CanLy KhoChaCaaTonDoaKha
84 3 3 3 3 23 13 23 13
23 1 2 8 0 10 16
22 CanLy KhoKhaCaaTonDoaCha
75 3 3 3 3 9 22 9 23
23 1 2 8 0 10 17
23 CanTonKhoChaCaaLy DoaKha
75 3 3 3 3 9 22 9 23
23 1 2 8 0 10 17
24 CanTonKhoKhaCaaLy DoaCha
84 3 3 3 3 23 13 23 13
23 1 2 8 0 10 16
25 CanChaDoaLy CaaKhaKhoTon
84 3 3 3 3 13 23 13 23
23 1 2 8 0 10 16
26 CanKhaDoaLy CaaChaKhoTon
75 3 3 3 3 22 9 23 9
23 1 2 8 0 10 17
27 CanChaDoaTonCaaKhaKhoLy
75 3 3 3 3 22 9 23 9
23 1 2 8 0 10 17
28 CanKhaDoaTonCaaChaKhoLy
84 3 3 3 3 13 23 13 23
23 1 2 8 0 10 16
29 CanChaKhoLy CaaKhaDoaTon
74 3 3 3 3 22 9 22 9
23 1 2 8 0 10 18
30 CanKhaKhoLy CaaChaDoaTon
84 3 3 3 3 13 23 13 23
23 1 2 8 0 10 16
31 CanChaKhoTonCaaKhaDoaLy
84 3 3 3 3 13 23 13 23
23 1 2 8 0 10 16
32 CanKhaKhoTonCaaChaDoaLy
74 3 3 3 3 22 9 22 9
23 1 2 8 0 10 18
33 CanLy ChaDoaCaaTonKhaKho
100 3 3 3 3 9 23 9 47
23 1 2 8 0 12 0
34 CanLy KhaDoaCaaTonChaKho
96 3 3 3 3 23 19 23 19
23 1 4 8 0 8 0
35 CanTonChaDoaCaaLy KhaKho
96 3 3 3 3 23 19 23 19
23 1 4 8 0 8 0
36 CanTonKhaDoaCaaLy ChaKho
100 3 3 3 3 9 23 9 47
23 1 2 8 0 12 0
37 CanLy ChaKhoCaaTonKhaDoa
96 3 3 3 3 23 19 23 19
23 1 4 8 0 8 0
38 CanLy KhaKhoCaaTonChaDoa
100 3 3 3 3 9 47 9 23
23 1 2 8 0 12 0
39 CanTonChaKhoCaaLy KhaDoa
100 3 3 3 3 9 47 9 23
23 1 2 8 0 12 0
40 CanTonKhaKhoCaaLy ChaDoa
96 3 3 3 3 23 19 23 19
23 1 4 8 0 8 0
41 CanChaLy DoaCaaKhaTonKho
108 3 3 3 3 13 23 13 47
23 1 2 8 0 12 0
42 CanKhaLy DoaCaaChaTonKho
95 3 3 3 3 22 19 23 19
23 1 4 8 0 8 1
43 CanChaTonDoaCaaKhaLy Kho
95 3 3 3 3 22 19 23 19
23 1 4 8 0 8 1
44 CanKhaTonDoaCaaChaLy Kho
108 3 3 3 3 13 23 13 47
23 1 2 8 0 12 0
45 CanChaLy KhoCaaKhaTonDoa
94 3 3 3 3 22 19 22 19
23 1 4 8 0 8 2
46 CanKhaLy KhoCaaChaTonDoa
108 3 3 3 3 13 47 13 23
23 1 2 8 0 12 0
47 CanChaTonKhoCaaKhaLy Doa
108 3 3 3 3 13 47 13 23
23 1 2 8 0 12 0
48 CanKhaTonKhoCaaChaLy Doa
94 3 3 3 3 22 19 22 19
23 1 4 8 0 8 2
khonglaai
27-10-2005, 04:37 AM
F1,6
1 CanDoaLy ChaKhaTonKhoCaa
76 3 3 3 3 9 23 9 23
23 1 2 8 0 10 16
2 CanDoaLy CaaKhaTonKhoCha
84 3 3 3 3 23 13 23 13
23 1 2 8 0 10 16
3 CanDoaKhoChaKhaTonLy Caa
84 3 3 3 3 23 13 23 13
23 1 2 8 0 10 16
4 CanDoaKhoCaaKhaTonLy Cha
75 3 3 3 3 9 22 9 23
23 1 2 8 0 10 17
5 CanTonLy ChaKhaDoaKhoCaa
84 3 3 3 3 23 13 23 13
23 1 2 8 0 10 16
6 CanTonLy CaaKhaDoaKhoCha
76 3 3 3 3 9 23 9 23
23 1 2 8 0 10 16
7 CanTonKhoChaKhaDoaLy Caa
75 3 3 3 3 9 22 9 23
23 1 2 8 0 10 17
8 CanTonKhoCaaKhaDoaLy Cha
84 3 3 3 3 23 13 23 13
23 1 2 8 0 10 16
9 CanDoaChaLy KhaTonCaaKho
100 3 3 3 3 9 23 9 47
23 1 2 8 0 12 0
10 CanDoaCaaLy KhaTonChaKho
96 3 3 3 3 23 19 23 19
23 1 4 8 0 8 0
11 CanDoaChaKhoKhaTonCaaLy
96 3 3 3 3 23 19 23 19
23 1 4 8 0 8 0
12 CanDoaCaaKhoKhaTonChaLy
100 3 3 3 3 9 47 9 23
23 1 2 8 0 12 0
13 CanTonChaLy KhaDoaCaaKho
96 3 3 3 3 23 19 23 19
23 1 4 8 0 8 0
14 CanTonCaaLy KhaDoaChaKho
100 3 3 3 3 9 23 9 47
23 1 2 8 0 12 0
15 CanTonChaKhoKhaDoaCaaLy
100 3 3 3 3 9 47 9 23
23 1 2 8 0 12 0
16 CanTonCaaKhoKhaDoaChaLy
96 3 3 3 3 23 19 23 19
23 1 4 8 0 8 0
17 CanLy DoaChaKhaKhoTonCaa
96 3 3 3 3 19 23 19 23
23 1 4 8 0 8 0
18 CanLy DoaCaaKhaKhoTonCha
108 3 3 3 3 23 13 47 13
23 1 2 8 0 12 0
19 CanKhoDoaChaKhaLy TonCaa
108 3 3 3 3 47 13 23 13
23 1 2 8 0 12 0
20 CanKhoDoaCaaKhaLy TonCha
95 3 3 3 3 19 22 19 23
23 1 4 8 0 8 1
21 CanLy TonChaKhaKhoDoaCaa
108 3 3 3 3 23 13 47 13
23 1 2 8 0 12 0
22 CanLy TonCaaKhaKhoDoaCha
96 3 3 3 3 19 23 19 23
23 1 4 8 0 8 0
23 CanKhoTonChaKhaLy DoaCaa
95 3 3 3 3 19 22 19 23
23 1 4 8 0 8 1
24 CanKhoTonCaaKhaLy DoaCha
108 3 3 3 3 47 13 23 13
23 1 2 8 0 12 0
25 CanChaDoaLy KhaCaaTonKho
108 3 3 3 3 13 23 13 47
23 1 2 8 0 12 0
26 CanCaaDoaLy KhaChaTonKho
95 3 3 3 3 22 19 23 19
23 1 4 8 0 8 1
27 CanChaDoaKhoKhaCaaTonLy
94 3 3 3 3 22 19 22 19
23 1 4 8 0 8 2
28 CanCaaDoaKhoKhaChaTonLy
108 3 3 3 3 13 47 13 23
23 1 2 8 0 12 0
29 CanChaTonLy KhaCaaDoaKho
95 3 3 3 3 22 19 23 19
23 1 4 8 0 8 1
30 CanCaaTonLy KhaChaDoaKho
108 3 3 3 3 13 23 13 47
23 1 2 8 0 12 0
31 CanChaTonKhoKhaCaaDoaLy
108 3 3 3 3 13 47 13 23
23 1 2 8 0 12 0
32 CanCaaTonKhoKhaChaDoaLy
94 3 3 3 3 22 19 22 19
23 1 4 8 0 8 2
33 CanLy ChaDoaKhaKhoCaaTon
96 3 3 3 3 19 23 19 23
23 1 4 8 0 8 0
34 CanLy CaaDoaKhaKhoChaTon
100 3 3 3 3 23 9 47 9
23 1 2 8 0 12 0
35 CanKhoChaDoaKhaLy CaaTon
100 3 3 3 3 47 9 23 9
23 1 2 8 0 12 0
36 CanKhoCaaDoaKhaLy ChaTon
96 3 3 3 3 19 23 19 23
23 1 4 8 0 8 0
37 CanLy ChaTonKhaKhoCaaDoa
100 3 3 3 3 23 9 47 9
23 1 2 8 0 12 0
38 CanLy CaaTonKhaKhoChaDoa
96 3 3 3 3 19 23 19 23
23 1 4 8 0 8 0
39 CanKhoChaTonKhaLy CaaDoa
96 3 3 3 3 19 23 19 23
23 1 4 8 0 8 0
40 CanKhoCaaTonKhaLy ChaDoa
100 3 3 3 3 47 9 23 9
23 1 2 8 0 12 0
41 CanChaLy DoaKhaCaaKhoTon
84 3 3 3 3 13 23 13 23
23 1 2 8 0 10 16
42 CanCaaLy DoaKhaChaKhoTon
75 3 3 3 3 22 9 23 9
23 1 2 8 0 10 17
43 CanChaKhoDoaKhaCaaLy Ton
74 3 3 3 3 22 9 22 9
23 1 2 8 0 10 18
44 CanCaaKhoDoaKhaChaLy Ton
84 3 3 3 3 13 23 13 23
23 1 2 8 0 10 16
45 CanChaLy TonKhaCaaKhoDoa
75 3 3 3 3 22 9 23 9
23 1 2 8 0 10 17
46 CanCaaLy TonKhaChaKhoDoa
84 3 3 3 3 13 23 13 23
23 1 2 8 0 10 16
47 CanChaKhoTonKhaCaaLy Doa
84 3 3 3 3 13 23 13 23
23 1 2 8 0 10 16
48 CanCaaKhoTonKhaChaLy Doa
74 3 3 3 3 22 9 22 9
23 1 2 8 0 10 18
khonglaai
27-10-2005, 04:41 AM
F1,7
1 CanDoaTonKhaChaLy KhoCaa
76 3 3 3 3 9 23 9 23
23 1 2 8 0 10 16
2 CanDoaTonCaaChaLy KhoKha
84 3 3 3 3 23 13 23 13
23 1 2 8 0 10 16
3 CanDoaKhoKhaChaLy TonCaa
84 3 3 3 3 23 13 23 13
23 1 2 8 0 10 16
4 CanDoaKhoCaaChaLy TonKha
75 3 3 3 3 9 22 9 23
23 1 2 8 0 10 17
5 CanLy TonKhaChaDoaKhoCaa
84 3 3 3 3 23 13 23 13
23 1 2 8 0 10 16
6 CanLy TonCaaChaDoaKhoKha
76 3 3 3 3 9 23 9 23
23 1 2 8 0 10 16
7 CanLy KhoKhaChaDoaTonCaa
75 3 3 3 3 9 22 9 23
23 1 2 8 0 10 17
8 CanLy KhoCaaChaDoaTonKha
84 3 3 3 3 23 13 23 13
23 1 2 8 0 10 16
9 CanDoaKhaTonChaLy CaaKho
100 3 3 3 3 9 23 9 47
23 1 2 8 0 12 0
10 CanDoaCaaTonChaLy KhaKho
96 3 3 3 3 23 19 23 19
23 1 4 8 0 8 0
11 CanDoaKhaKhoChaLy CaaTon
96 3 3 3 3 23 19 23 19
23 1 4 8 0 8 0
12 CanDoaCaaKhoChaLy KhaTon
100 3 3 3 3 9 47 9 23
23 1 2 8 0 12 0
13 CanLy KhaTonChaDoaCaaKho
96 3 3 3 3 23 19 23 19
23 1 4 8 0 8 0
14 CanLy CaaTonChaDoaKhaKho
100 3 3 3 3 9 23 9 47
23 1 2 8 0 12 0
15 CanLy KhaKhoChaDoaCaaTon
100 3 3 3 3 9 47 9 23
23 1 2 8 0 12 0
16 CanLy CaaKhoChaDoaKhaTon
96 3 3 3 3 23 19 23 19
23 1 4 8 0 8 0
17 CanTonDoaKhaChaKhoLy Caa
96 3 3 3 3 19 23 19 23
23 1 4 8 0 8 0
18 CanTonDoaCaaChaKhoLy Kha
108 3 3 3 3 23 13 47 13
23 1 2 8 0 12 0
19 CanKhoDoaKhaChaTonLy Caa
108 3 3 3 3 47 13 23 13
23 1 2 8 0 12 0
20 CanKhoDoaCaaChaTonLy Kha
95 3 3 3 3 19 22 19 23
23 1 4 8 0 8 1
21 CanTonLy KhaChaKhoDoaCaa
108 3 3 3 3 23 13 47 13
23 1 2 8 0 12 0
22 CanTonLy CaaChaKhoDoaKha
96 3 3 3 3 19 23 19 23
23 1 4 8 0 8 0
23 CanKhoLy KhaChaTonDoaCaa
95 3 3 3 3 19 22 19 23
23 1 4 8 0 8 1
24 CanKhoLy CaaChaTonDoaKha
108 3 3 3 3 47 13 23 13
23 1 2 8 0 12 0
25 CanKhaDoaTonChaCaaLy Kho
108 3 3 3 3 13 23 13 47
23 1 2 8 0 12 0
26 CanCaaDoaTonChaKhaLy Kho
95 3 3 3 3 22 19 23 19
23 1 4 8 0 8 1
27 CanKhaDoaKhoChaCaaLy Ton
94 3 3 3 3 22 19 22 19
23 1 4 8 0 8 2
28 CanCaaDoaKhoChaKhaLy Ton
108 3 3 3 3 13 47 13 23
23 1 2 8 0 12 0
29 CanKhaLy TonChaCaaDoaKho
95 3 3 3 3 22 19 23 19
23 1 4 8 0 8 1
30 CanCaaLy TonChaKhaDoaKho
108 3 3 3 3 13 23 13 47
23 1 2 8 0 12 0
31 CanKhaLy KhoChaCaaDoaTon
108 3 3 3 3 13 47 13 23
23 1 2 8 0 12 0
32 CanCaaLy KhoChaKhaDoaTon
94 3 3 3 3 22 19 22 19
23 1 4 8 0 8 2
33 CanTonKhaDoaChaKhoCaaLy
96 3 3 3 3 19 23 19 23
23 1 4 8 0 8 0
34 CanTonCaaDoaChaKhoKhaLy
100 3 3 3 3 23 9 47 9
23 1 2 8 0 12 0
35 CanKhoKhaDoaChaTonCaaLy
100 3 3 3 3 47 9 23 9
23 1 2 8 0 12 0
36 CanKhoCaaDoaChaTonKhaLy
96 3 3 3 3 19 23 19 23
23 1 4 8 0 8 0
37 CanTonKhaLy ChaKhoCaaDoa
100 3 3 3 3 23 9 47 9
23 1 2 8 0 12 0
38 CanTonCaaLy ChaKhoKhaDoa
96 3 3 3 3 19 23 19 23
23 1 4 8 0 8 0
39 CanKhoKhaLy ChaTonCaaDoa
96 3 3 3 3 19 23 19 23
23 1 4 8 0 8 0
40 CanKhoCaaLy ChaTonKhaDoa
100 3 3 3 3 47 9 23 9
23 1 2 8 0 12 0
41 CanKhaTonDoaChaCaaKhoLy
84 3 3 3 3 13 23 13 23
23 1 2 8 0 10 16
42 CanCaaTonDoaChaKhaKhoLy
75 3 3 3 3 22 9 23 9
23 1 2 8 0 10 17
43 CanKhaKhoDoaChaCaaTonLy
74 3 3 3 3 22 9 22 9
23 1 2 8 0 10 18
44 CanCaaKhoDoaChaKhaTonLy
84 3 3 3 3 13 23 13 23
23 1 2 8 0 10 16
45 CanKhaTonLy ChaCaaKhoDoa
75 3 3 3 3 22 9 23 9
23 1 2 8 0 10 17
46 CanCaaTonLy ChaKhaKhoDoa
84 3 3 3 3 13 23 13 23
23 1 2 8 0 10 16
47 CanKhaKhoLy ChaCaaTonDoa
84 3 3 3 3 13 23 13 23
23 1 2 8 0 10 16
48 CanCaaKhoLy ChaKhaTonDoa
74 3 3 3 3 22 9 22 9
23 1 2 8 0 10 18
khonglaai
27-10-2005, 04:42 AM
F2,4
1 CanLy ChaCaaDoaKhaTonKho
46 3 1 5 1 9 7 13 7
19 1 0 0 4 12 18
2 CanLy ChaKhoDoaKhaTonCaa
48 1 1 1 1 1 19 1 23
19 1 2 0 4 12 8
3 CanLy TonCaaDoaKhaChaKho
60 3 5 5 3 1 23 1 19
19 1 2 0 4 12 4
4 CanLy TonKhoDoaKhaChaCaa
46 1 5 1 3 9 7 13 7
19 1 0 0 4 12 18
5 CanKhaChaCaaDoaLy TonKho
48 1 1 1 1 1 23 1 19
19 1 2 0 4 12 8
6 CanKhaChaKhoDoaLy TonCaa
46 3 1 5 1 13 7 9 7
19 1 0 0 4 12 18
7 CanKhaTonCaaDoaLy ChaKho
46 1 5 1 3 13 7 9 7
19 1 0 0 4 12 18
8 CanKhaTonKhoDoaLy ChaCaa
60 3 5 5 3 1 19 1 23
19 1 2 0 4 12 4
9 CanLy CaaChaDoaKhaKhoTon
48 3 7 3 11 9 1 13 1
19 1 0 0 4 12 16
10 CanLy KhoChaDoaKhaCaaTon
48 3 11 3 7 1 13 1 9
19 1 0 0 4 12 16
11 CanLy CaaTonDoaKhaKhoCha
48 3 7 3 11 1 9 1 13
19 1 0 0 4 12 16
12 CanLy KhoTonDoaKhaCaaCha
48 3 11 3 7 9 1 13 1
19 1 0 0 4 12 16
13 CanKhaCaaChaDoaLy KhoTon
48 3 7 3 11 1 13 1 9
19 1 0 0 4 12 16
14 CanKhaKhoChaDoaLy CaaTon
48 3 11 3 7 13 1 9 1
19 1 0 0 4 12 16
15 CanKhaCaaTonDoaLy KhoCha
48 3 7 3 11 13 1 9 1
19 1 0 0 4 12 16
16 CanKhaKhoTonDoaLy CaaCha
48 3 11 3 7 1 9 1 13
19 1 0 0 4 12 16
17 CanChaLy CaaDoaTonKhaKho
46 1 5 1 3 13 7 9 7
19 1 0 0 4 12 18
18 CanChaLy KhoDoaTonKhaCaa
60 3 5 5 3 1 19 1 23
19 1 2 0 4 12 4
19 CanTonLy CaaDoaChaKhaKho
60 3 5 5 3 1 23 1 19
19 1 2 0 4 12 4
20 CanTonLy KhoDoaChaKhaCaa
46 1 5 1 3 9 7 13 7
19 1 0 0 4 12 18
21 CanChaKhaCaaDoaTonLy Kho
48 1 1 1 1 1 23 1 19
19 1 2 0 4 12 8
22 CanChaKhaKhoDoaTonLy Caa
46 3 1 5 1 13 7 9 7
19 1 0 0 4 12 18
23 CanTonKhaCaaDoaChaLy Kho
46 3 1 5 1 9 7 13 7
19 1 0 0 4 12 18
24 CanTonKhaKhoDoaChaLy Caa
48 1 1 1 1 1 19 1 23
19 1 2 0 4 12 8
25 CanCaaLy ChaDoaKhoKhaTon
48 1 1 1 1 23 1 19 1
19 1 2 0 4 12 8
26 CanKhoLy ChaDoaCaaKhaTon
46 3 1 5 1 7 13 7 9
19 1 0 0 4 12 18
27 CanCaaLy TonDoaKhoKhaCha
46 3 1 5 1 7 9 7 13
19 1 0 0 4 12 18
28 CanKhoLy TonDoaCaaKhaCha
48 1 1 1 1 19 1 23 1
19 1 2 0 4 12 8
29 CanCaaKhaChaDoaKhoLy Ton
46 1 3 1 5 7 13 7 9
19 1 0 0 4 12 18
30 CanKhoKhaChaDoaCaaLy Ton
60 3 3 5 5 19 1 23 1
19 1 2 0 4 12 4
31 CanCaaKhaTonDoaKhoLy Cha
60 3 3 5 5 23 1 19 1
19 1 2 0 4 12 4
32 CanKhoKhaTonDoaCaaLy Cha
46 1 3 1 5 7 9 7 13
19 1 0 0 4 12 18
33 CanChaCaaLy DoaTonKhoKha
48 3 7 3 11 13 1 9 1
19 1 0 0 4 12 16
34 CanChaKhoLy DoaTonCaaKha
48 3 11 3 7 1 9 1 13
19 1 0 0 4 12 16
35 CanTonCaaLy DoaChaKhoKha
48 3 7 3 11 1 9 1 13
19 1 0 0 4 12 16
36 CanTonKhoLy DoaChaCaaKha
48 3 11 3 7 9 1 13 1
19 1 0 0 4 12 16
37 CanChaCaaKhaDoaTonKhoLy
48 3 7 3 11 1 13 1 9
19 1 0 0 4 12 16
38 CanChaKhoKhaDoaTonCaaLy
48 3 11 3 7 13 1 9 1
19 1 0 0 4 12 16
39 CanTonCaaKhaDoaChaKhoLy
48 3 7 3 11 9 1 13 1
19 1 0 0 4 12 16
40 CanTonKhoKhaDoaChaCaaLy
48 3 11 3 7 1 13 1 9
19 1 0 0 4 12 16
41 CanCaaChaLy DoaKhoTonKha
60 3 3 5 5 23 1 19 1
19 1 2 0 4 12 4
42 CanKhoChaLy DoaCaaTonKha
46 1 3 1 5 7 9 7 13
19 1 0 0 4 12 18
43 CanCaaTonLy DoaKhoChaKha
46 3 1 5 1 7 9 7 13
19 1 0 0 4 12 18
44 CanKhoTonLy DoaCaaChaKha
48 1 1 1 1 19 1 23 1
19 1 2 0 4 12 8
45 CanCaaChaKhaDoaKhoTonLy
46 1 3 1 5 7 13 7 9
19 1 0 0 4 12 18
46 CanKhoChaKhaDoaCaaTonLy
60 3 3 5 5 19 1 23 1
19 1 2 0 4 12 4
47 CanCaaTonKhaDoaKhoChaLy
48 1 1 1 1 23 1 19 1
19 1 2 0 4 12 8
48 CanKhoTonKhaDoaCaaChaLy
46 3 1 5 1 7 13 7 9
19 1 0 0 4 12 18
khonglaai
27-10-2005, 04:43 AM
F2,8
1 CanDoaLy TonKhoCaaChaKha
60 5 5 3 3 19 1 23 1
19 1 2 0 4 12 4
2 CanDoaLy KhaKhoCaaChaTon
46 1 5 1 3 7 13 7 9
19 1 0 0 4 12 18
3 CanDoaChaTonKhoCaaLy Kha
46 5 1 3 1 7 9 7 13
19 1 0 0 4 12 18
4 CanDoaChaKhaKhoCaaLy Ton
48 1 1 1 1 19 1 23 1
19 1 2 0 4 12 8
5 CanCaaLy TonKhoDoaChaKha
46 1 5 1 3 7 9 7 13
19 1 0 0 4 12 18
6 CanCaaLy KhaKhoDoaChaTon
60 5 5 3 3 23 1 19 1
19 1 2 0 4 12 4
7 CanCaaChaTonKhoDoaLy Kha
48 1 1 1 1 23 1 19 1
19 1 2 0 4 12 8
8 CanCaaChaKhaKhoDoaLy Ton
46 5 1 3 1 7 13 7 9
19 1 0 0 4 12 18
9 CanDoaTonLy KhoCaaKhaCha
60 5 5 3 3 19 1 23 1
19 1 2 0 4 12 4
10 CanDoaKhaLy KhoCaaTonCha
46 5 1 3 1 7 9 7 13
19 1 0 0 4 12 18
11 CanDoaTonChaKhoCaaKhaLy
46 1 5 1 3 7 13 7 9
19 1 0 0 4 12 18
12 CanDoaKhaChaKhoCaaTonLy
48 1 1 1 1 19 1 23 1
19 1 2 0 4 12 8
13 CanCaaTonLy KhoDoaKhaCha
46 1 5 1 3 7 9 7 13
19 1 0 0 4 12 18
14 CanCaaKhaLy KhoDoaTonCha
48 1 1 1 1 23 1 19 1
19 1 2 0 4 12 8
15 CanCaaTonChaKhoDoaKhaLy
60 5 5 3 3 23 1 19 1
19 1 2 0 4 12 4
16 CanCaaKhaChaKhoDoaTonLy
46 5 1 3 1 7 13 7 9
19 1 0 0 4 12 18
17 CanLy DoaTonKhoChaCaaKha
48 11 3 7 3 9 1 13 1
19 1 0 0 4 12 16
18 CanLy DoaKhaKhoChaCaaTon
48 7 3 11 3 1 13 1 9
19 1 0 0 4 12 16
19 CanChaDoaTonKhoLy CaaKha
48 7 3 11 3 1 9 1 13
19 1 0 0 4 12 16
20 CanChaDoaKhaKhoLy CaaTon
48 11 3 7 3 13 1 9 1
19 1 0 0 4 12 16
21 CanLy CaaTonKhoChaDoaKha
48 11 3 7 3 1 9 1 13
19 1 0 0 4 12 16
22 CanLy CaaKhaKhoChaDoaTon
48 7 3 11 3 9 1 13 1
19 1 0 0 4 12 16
23 CanChaCaaTonKhoLy DoaKha
48 7 3 11 3 13 1 9 1
19 1 0 0 4 12 16
24 CanChaCaaKhaKhoLy DoaTon
48 11 3 7 3 1 13 1 9
19 1 0 0 4 12 16
25 CanTonDoaLy KhoKhaCaaCha
48 11 3 7 3 9 1 13 1
19 1 0 0 4 12 16
26 CanKhaDoaLy KhoTonCaaCha
48 7 3 11 3 1 9 1 13
19 1 0 0 4 12 16
27 CanTonDoaChaKhoKhaCaaLy
48 7 3 11 3 1 13 1 9
19 1 0 0 4 12 16
28 CanKhaDoaChaKhoTonCaaLy
48 11 3 7 3 13 1 9 1
19 1 0 0 4 12 16
29 CanTonCaaLy KhoKhaDoaCha
48 11 3 7 3 1 9 1 13
19 1 0 0 4 12 16
30 CanKhaCaaLy KhoTonDoaCha
48 7 3 11 3 13 1 9 1
19 1 0 0 4 12 16
31 CanTonCaaChaKhoKhaDoaLy
48 7 3 11 3 9 1 13 1
19 1 0 0 4 12 16
32 CanKhaCaaChaKhoTonDoaLy
48 11 3 7 3 1 13 1 9
19 1 0 0 4 12 16
33 CanLy TonDoaKhoChaKhaCaa
46 5 1 3 1 9 7 13 7
19 1 0 0 4 12 18
34 CanLy KhaDoaKhoChaTonCaa
60 5 3 3 5 1 19 1 23
19 1 2 0 4 12 4
35 CanChaTonDoaKhoLy KhaCaa
48 1 1 1 1 1 19 1 23
19 1 2 0 4 12 8
36 CanChaKhaDoaKhoLy TonCaa
46 1 3 1 5 13 7 9 7
19 1 0 0 4 12 18
37 CanLy TonCaaKhoChaKhaDoa
48 1 1 1 1 1 23 1 19
19 1 2 0 4 12 8
38 CanLy KhaCaaKhoChaTonDoa
46 1 3 1 5 9 7 13 7
19 1 0 0 4 12 18
39 CanChaTonCaaKhoLy KhaDoa
46 5 1 3 1 13 7 9 7
19 1 0 0 4 12 18
40 CanChaKhaCaaKhoLy TonDoa
60 5 3 3 5 1 23 1 19
19 1 2 0 4 12 4
41 CanTonLy DoaKhoKhaChaCaa
46 5 1 3 1 9 7 13 7
19 1 0 0 4 12 18
42 CanKhaLy DoaKhoTonChaCaa
48 1 1 1 1 1 19 1 23
19 1 2 0 4 12 8
43 CanTonChaDoaKhoKhaLy Caa
60 5 3 3 5 1 19 1 23
19 1 2 0 4 12 4
44 CanKhaChaDoaKhoTonLy Caa
46 1 3 1 5 13 7 9 7
19 1 0 0 4 12 18
45 CanTonLy CaaKhoKhaChaDoa
48 1 1 1 1 1 23 1 19
19 1 2 0 4 12 8
46 CanKhaLy CaaKhoTonChaDoa
46 5 1 3 1 13 7 9 7
19 1 0 0 4 12 18
47 CanTonChaCaaKhoKhaLy Doa
46 1 3 1 5 9 7 13 7
19 1 0 0 4 12 18
48 CanKhaChaCaaKhoTonLy Doa
60 5 3 3 5 1 23 1 19
19 1 2 0 4 12 4
khonglaai
27-10-2005, 04:44 AM
F3,3
1 CanDoaChaKhaLy CaaTonKho
46 3 1 5 1 9 7 13 7
19 1 0 0 4 12 18
2 CanDoaChaKhoLy CaaTonKha
48 1 1 1 1 1 19 1 23
19 1 2 0 4 12 8
3 CanDoaTonKhaLy CaaChaKho
60 3 5 5 3 1 23 1 19
19 1 2 0 4 12 4
4 CanDoaTonKhoLy CaaChaKha
46 1 5 1 3 9 7 13 7
19 1 0 0 4 12 18
5 CanCaaChaKhaLy DoaTonKho
48 1 1 1 1 1 23 1 19
19 1 2 0 4 12 8
6 CanCaaChaKhoLy DoaTonKha
46 3 1 5 1 13 7 9 7
19 1 0 0 4 12 18
7 CanCaaTonKhaLy DoaChaKho
46 1 5 1 3 13 7 9 7
19 1 0 0 4 12 18
8 CanCaaTonKhoLy DoaChaKha
60 3 5 5 3 1 19 1 23
19 1 2 0 4 12 4
9 CanDoaKhaChaLy CaaKhoTon
48 3 7 3 11 9 1 13 1
19 1 0 0 4 12 16
10 CanDoaKhoChaLy CaaKhaTon
48 3 11 3 7 1 13 1 9
19 1 0 0 4 12 16
11 CanDoaKhaTonLy CaaKhoCha
48 3 7 3 11 1 9 1 13
19 1 0 0 4 12 16
12 CanDoaKhoTonLy CaaKhaCha
48 3 11 3 7 9 1 13 1
19 1 0 0 4 12 16
13 CanCaaKhaChaLy DoaKhoTon
48 3 7 3 11 1 13 1 9
19 1 0 0 4 12 16
14 CanCaaKhoChaLy DoaKhaTon
48 3 11 3 7 13 1 9 1
19 1 0 0 4 12 16
15 CanCaaKhaTonLy DoaKhoCha
48 3 7 3 11 13 1 9 1
19 1 0 0 4 12 16
16 CanCaaKhoTonLy DoaKhaCha
48 3 11 3 7 1 9 1 13
19 1 0 0 4 12 16
17 CanChaDoaKhaLy TonCaaKho
46 1 5 1 3 13 7 9 7
19 1 0 0 4 12 18
18 CanChaDoaKhoLy TonCaaKha
60 3 5 5 3 1 19 1 23
19 1 2 0 4 12 4
19 CanTonDoaKhaLy ChaCaaKho
60 3 5 5 3 1 23 1 19
19 1 2 0 4 12 4
20 CanTonDoaKhoLy ChaCaaKha
46 1 5 1 3 9 7 13 7
19 1 0 0 4 12 18
21 CanChaCaaKhaLy TonDoaKho
48 1 1 1 1 1 23 1 19
19 1 2 0 4 12 8
22 CanChaCaaKhoLy TonDoaKha
46 3 1 5 1 13 7 9 7
19 1 0 0 4 12 18
23 CanTonCaaKhaLy ChaDoaKho
46 3 1 5 1 9 7 13 7
19 1 0 0 4 12 18
24 CanTonCaaKhoLy ChaDoaKha
48 1 1 1 1 1 19 1 23
19 1 2 0 4 12 8
25 CanKhaDoaChaLy KhoCaaTon
48 1 1 1 1 23 1 19 1
19 1 2 0 4 12 8
26 CanKhoDoaChaLy KhaCaaTon
46 3 1 5 1 7 13 7 9
19 1 0 0 4 12 18
27 CanKhaDoaTonLy KhoCaaCha
46 3 1 5 1 7 9 7 13
19 1 0 0 4 12 18
28 CanKhoDoaTonLy KhaCaaCha
48 1 1 1 1 19 1 23 1
19 1 2 0 4 12 8
29 CanKhaCaaChaLy KhoDoaTon
46 1 3 1 5 7 13 7 9
19 1 0 0 4 12 18
30 CanKhoCaaChaLy KhaDoaTon
60 3 3 5 5 19 1 23 1
19 1 2 0 4 12 4
31 CanKhaCaaTonLy KhoDoaCha
60 3 3 5 5 23 1 19 1
19 1 2 0 4 12 4
32 CanKhoCaaTonLy KhaDoaCha
46 1 3 1 5 7 9 7 13
19 1 0 0 4 12 18
33 CanChaKhaDoaLy TonKhoCaa
48 3 7 3 11 13 1 9 1
19 1 0 0 4 12 16
34 CanChaKhoDoaLy TonKhaCaa
48 3 11 3 7 1 9 1 13
19 1 0 0 4 12 16
35 CanTonKhaDoaLy ChaKhoCaa
48 3 7 3 11 1 9 1 13
19 1 0 0 4 12 16
36 CanTonKhoDoaLy ChaKhaCaa
48 3 11 3 7 9 1 13 1
19 1 0 0 4 12 16
37 CanChaKhaCaaLy TonKhoDoa
48 3 7 3 11 1 13 1 9
19 1 0 0 4 12 16
38 CanChaKhoCaaLy TonKhaDoa
48 3 11 3 7 13 1 9 1
19 1 0 0 4 12 16
39 CanTonKhaCaaLy ChaKhoDoa
48 3 7 3 11 9 1 13 1
19 1 0 0 4 12 16
40 CanTonKhoCaaLy ChaKhaDoa
48 3 11 3 7 1 13 1 9
19 1 0 0 4 12 16
41 CanKhaChaDoaLy KhoTonCaa
60 3 3 5 5 23 1 19 1
19 1 2 0 4 12 4
42 CanKhoChaDoaLy KhaTonCaa
46 1 3 1 5 7 9 7 13
19 1 0 0 4 12 18
43 CanKhaTonDoaLy KhoChaCaa
46 3 1 5 1 7 9 7 13
19 1 0 0 4 12 18
44 CanKhoTonDoaLy KhaChaCaa
48 1 1 1 1 19 1 23 1
19 1 2 0 4 12 8
45 CanKhaChaCaaLy KhoTonDoa
46 1 3 1 5 7 13 7 9
19 1 0 0 4 12 18
46 CanKhoChaCaaLy KhaTonDoa
60 3 3 5 5 19 1 23 1
19 1 2 0 4 12 4
47 CanKhaTonCaaLy KhoChaDoa
48 1 1 1 1 23 1 19 1
19 1 2 0 4 12 8
48 CanKhoTonCaaLy KhaChaDoa
46 3 1 5 1 7 13 7 9
19 1 0 0 4 12 18
khonglaai
27-10-2005, 04:45 AM
F3,8
1 CanDoaLy TonKhoChaKhaCaa
48 11 3 7 3 9 1 13 1
19 1 0 0 4 12 16
2 CanDoaLy CaaKhoChaKhaTon
48 7 3 11 3 1 13 1 9
19 1 0 0 4 12 16
3 CanDoaKhaTonKhoChaLy Caa
48 11 3 7 3 1 9 1 13
19 1 0 0 4 12 16
4 CanDoaKhaCaaKhoChaLy Ton
48 7 3 11 3 9 1 13 1
19 1 0 0 4 12 16
5 CanChaLy TonKhoDoaKhaCaa
48 7 3 11 3 1 9 1 13
19 1 0 0 4 12 16
6 CanChaLy CaaKhoDoaKhaTon
48 11 3 7 3 13 1 9 1
19 1 0 0 4 12 16
7 CanChaKhaTonKhoDoaLy Caa
48 7 3 11 3 13 1 9 1
19 1 0 0 4 12 16
8 CanChaKhaCaaKhoDoaLy Ton
48 11 3 7 3 1 13 1 9
19 1 0 0 4 12 16
9 CanDoaTonLy KhoChaCaaKha
46 5 1 3 1 9 7 13 7
19 1 0 0 4 12 18
10 CanDoaCaaLy KhoChaTonKha
60 5 3 3 5 1 19 1 23
19 1 2 0 4 12 4
11 CanDoaTonKhaKhoChaCaaLy
48 1 1 1 1 1 23 1 19
19 1 2 0 4 12 8
12 CanDoaCaaKhaKhoChaTonLy
46 1 3 1 5 9 7 13 7
19 1 0 0 4 12 18
13 CanChaTonLy KhoDoaCaaKha
48 1 1 1 1 1 19 1 23
19 1 2 0 4 12 8
14 CanChaCaaLy KhoDoaTonKha
46 1 3 1 5 13 7 9 7
19 1 0 0 4 12 18
15 CanChaTonKhaKhoDoaCaaLy
46 5 1 3 1 13 7 9 7
19 1 0 0 4 12 18
16 CanChaCaaKhaKhoDoaTonLy
60 5 3 3 5 1 23 1 19
19 1 2 0 4 12 4
17 CanLy DoaTonKhoKhaChaCaa
60 5 5 3 3 19 1 23 1
19 1 2 0 4 12 4
18 CanLy DoaCaaKhoKhaChaTon
46 1 5 1 3 7 13 7 9
19 1 0 0 4 12 18
19 CanKhaDoaTonKhoLy ChaCaa
46 1 5 1 3 7 9 7 13
19 1 0 0 4 12 18
20 CanKhaDoaCaaKhoLy ChaTon
60 5 5 3 3 23 1 19 1
19 1 2 0 4 12 4
21 CanLy ChaTonKhoKhaDoaCaa
46 5 1 3 1 7 9 7 13
19 1 0 0 4 12 18
22 CanLy ChaCaaKhoKhaDoaTon
48 1 1 1 1 19 1 23 1
19 1 2 0 4 12 8
23 CanKhaChaTonKhoLy DoaCaa
48 1 1 1 1 23 1 19 1
19 1 2 0 4 12 8
24 CanKhaChaCaaKhoLy DoaTon
46 5 1 3 1 7 13 7 9
19 1 0 0 4 12 18
25 CanTonDoaLy KhoCaaChaKha
46 5 1 3 1 9 7 13 7
19 1 0 0 4 12 18
26 CanCaaDoaLy KhoTonChaKha
48 1 1 1 1 1 19 1 23
19 1 2 0 4 12 8
27 CanTonDoaKhaKhoCaaChaLy
48 1 1 1 1 1 23 1 19
19 1 2 0 4 12 8
28 CanCaaDoaKhaKhoTonChaLy
46 5 1 3 1 13 7 9 7
19 1 0 0 4 12 18
29 CanTonChaLy KhoCaaDoaKha
60 5 3 3 5 1 19 1 23
19 1 2 0 4 12 4
30 CanCaaChaLy KhoTonDoaKha
46 1 3 1 5 13 7 9 7
19 1 0 0 4 12 18
31 CanTonChaKhaKhoCaaDoaLy
46 1 3 1 5 9 7 13 7
19 1 0 0 4 12 18
32 CanCaaChaKhaKhoTonDoaLy
60 5 3 3 5 1 23 1 19
19 1 2 0 4 12 4
33 CanLy TonDoaKhoKhaCaaCha
60 5 5 3 3 19 1 23 1
19 1 2 0 4 12 4
34 CanLy CaaDoaKhoKhaTonCha
46 5 1 3 1 7 9 7 13
19 1 0 0 4 12 18
35 CanKhaTonDoaKhoLy CaaCha
46 1 5 1 3 7 9 7 13
19 1 0 0 4 12 18
36 CanKhaCaaDoaKhoLy TonCha
48 1 1 1 1 23 1 19 1
19 1 2 0 4 12 8
37 CanLy TonChaKhoKhaCaaDoa
46 1 5 1 3 7 13 7 9
19 1 0 0 4 12 18
38 CanLy CaaChaKhoKhaTonDoa
48 1 1 1 1 19 1 23 1
19 1 2 0 4 12 8
39 CanKhaTonChaKhoLy CaaDoa
60 5 5 3 3 23 1 19 1
19 1 2 0 4 12 4
40 CanKhaCaaChaKhoLy TonDoa
46 5 1 3 1 7 13 7 9
19 1 0 0 4 12 18
41 CanTonLy DoaKhoCaaKhaCha
48 11 3 7 3 9 1 13 1
19 1 0 0 4 12 16
42 CanCaaLy DoaKhoTonKhaCha
48 7 3 11 3 1 9 1 13
19 1 0 0 4 12 16
43 CanTonKhaDoaKhoCaaLy Cha
48 11 3 7 3 1 9 1 13
19 1 0 0 4 12 16
44 CanCaaKhaDoaKhoTonLy Cha
48 7 3 11 3 13 1 9 1
19 1 0 0 4 12 16
45 CanTonLy ChaKhoCaaKhaDoa
48 7 3 11 3 1 13 1 9
19 1 0 0 4 12 16
46 CanCaaLy ChaKhoTonKhaDoa
48 11 3 7 3 13 1 9 1
19 1 0 0 4 12 16
47 CanTonKhaChaKhoCaaLy Doa
48 7 3 11 3 9 1 13 1
19 1 0 0 4 12 16
48 CanCaaKhaChaKhoTonLy Doa
48 11 3 7 3 1 13 1 9
19 1 0 0 4 12 16
khonglaai
27-10-2005, 04:46 AM
F4,2
1 CanDoaLy ChaTonCaaKhaKho
60 3 5 5 3 1 23 1 19
19 1 2 0 4 12 4
2 CanDoaLy KhoTonCaaKhaCha
46 1 5 1 3 9 7 13 7
19 1 0 0 4 12 18
3 CanDoaKhaChaTonCaaLy Kho
46 3 1 5 1 9 7 13 7
19 1 0 0 4 12 18
4 CanDoaKhaKhoTonCaaLy Cha
48 1 1 1 1 1 19 1 23
19 1 2 0 4 12 8
5 CanCaaLy ChaTonDoaKhaKho
46 1 5 1 3 13 7 9 7
19 1 0 0 4 12 18
6 CanCaaLy KhoTonDoaKhaCha
60 3 5 5 3 1 19 1 23
19 1 2 0 4 12 4
7 CanCaaKhaChaTonDoaLy Kho
48 1 1 1 1 1 23 1 19
19 1 2 0 4 12 8
8 CanCaaKhaKhoTonDoaLy Cha
46 3 1 5 1 13 7 9 7
19 1 0 0 4 12 18
9 CanDoaChaLy TonCaaKhoKha
48 3 7 3 11 1 9 1 13
19 1 0 0 4 12 16
10 CanDoaKhoLy TonCaaChaKha
48 3 11 3 7 9 1 13 1
19 1 0 0 4 12 16
11 CanDoaChaKhaTonCaaKhoLy
48 3 7 3 11 9 1 13 1
19 1 0 0 4 12 16
12 CanDoaKhoKhaTonCaaChaLy
48 3 11 3 7 1 13 1 9
19 1 0 0 4 12 16
13 CanCaaChaLy TonDoaKhoKha
48 3 7 3 11 13 1 9 1
19 1 0 0 4 12 16
14 CanCaaKhoLy TonDoaChaKha
48 3 11 3 7 1 9 1 13
19 1 0 0 4 12 16
15 CanCaaChaKhaTonDoaKhoLy
48 3 7 3 11 1 13 1 9
19 1 0 0 4 12 16
16 CanCaaKhoKhaTonDoaChaLy
48 3 11 3 7 13 1 9 1
19 1 0 0 4 12 16
17 CanLy DoaChaTonKhaCaaKho
60 3 5 5 3 1 23 1 19
19 1 2 0 4 12 4
18 CanLy DoaKhoTonKhaCaaCha
46 1 5 1 3 9 7 13 7
19 1 0 0 4 12 18
19 CanKhaDoaChaTonLy CaaKho
46 1 5 1 3 13 7 9 7
19 1 0 0 4 12 18
20 CanKhaDoaKhoTonLy CaaCha
60 3 5 5 3 1 19 1 23
19 1 2 0 4 12 4
21 CanLy CaaChaTonKhaDoaKho
46 3 1 5 1 9 7 13 7
19 1 0 0 4 12 18
22 CanLy CaaKhoTonKhaDoaCha
48 1 1 1 1 1 19 1 23
19 1 2 0 4 12 8
23 CanKhaCaaChaTonLy DoaKho
48 1 1 1 1 1 23 1 19
19 1 2 0 4 12 8
24 CanKhaCaaKhoTonLy DoaCha
46 3 1 5 1 13 7 9 7
19 1 0 0 4 12 18
25 CanChaDoaLy TonKhoCaaKha
46 3 1 5 1 7 9 7 13
19 1 0 0 4 12 18
26 CanKhoDoaLy TonChaCaaKha
48 1 1 1 1 19 1 23 1
19 1 2 0 4 12 8
27 CanChaDoaKhaTonKhoCaaLy
48 1 1 1 1 23 1 19 1
19 1 2 0 4 12 8
28 CanKhoDoaKhaTonChaCaaLy
46 3 1 5 1 7 13 7 9
19 1 0 0 4 12 18
29 CanChaCaaLy TonKhoDoaKha
60 3 3 5 5 23 1 19 1
19 1 2 0 4 12 4
30 CanKhoCaaLy TonChaDoaKha
46 1 3 1 5 7 9 7 13
19 1 0 0 4 12 18
31 CanChaCaaKhaTonKhoDoaLy
46 1 3 1 5 7 13 7 9
19 1 0 0 4 12 18
32 CanKhoCaaKhaTonChaDoaLy
60 3 3 5 5 19 1 23 1
19 1 2 0 4 12 4
33 CanLy ChaDoaTonKhaKhoCaa
48 3 7 3 11 1 9 1 13
19 1 0 0 4 12 16
34 CanLy KhoDoaTonKhaChaCaa
48 3 11 3 7 9 1 13 1
19 1 0 0 4 12 16
35 CanKhaChaDoaTonLy KhoCaa
48 3 7 3 11 13 1 9 1
19 1 0 0 4 12 16
36 CanKhaKhoDoaTonLy ChaCaa
48 3 11 3 7 1 9 1 13
19 1 0 0 4 12 16
37 CanLy ChaCaaTonKhaKhoDoa
48 3 7 3 11 9 1 13 1
19 1 0 0 4 12 16
38 CanLy KhoCaaTonKhaChaDoa
48 3 11 3 7 1 13 1 9
19 1 0 0 4 12 16
39 CanKhaChaCaaTonLy KhoDoa
48 3 7 3 11 1 13 1 9
19 1 0 0 4 12 16
40 CanKhaKhoCaaTonLy ChaDoa
48 3 11 3 7 13 1 9 1
19 1 0 0 4 12 16
41 CanChaLy DoaTonKhoKhaCaa
46 3 1 5 1 7 9 7 13
19 1 0 0 4 12 18
42 CanKhoLy DoaTonChaKhaCaa
48 1 1 1 1 19 1 23 1
19 1 2 0 4 12 8
43 CanChaKhaDoaTonKhoLy Caa
60 3 3 5 5 23 1 19 1
19 1 2 0 4 12 4
44 CanKhoKhaDoaTonChaLy Caa
46 1 3 1 5 7 9 7 13
19 1 0 0 4 12 18
45 CanChaLy CaaTonKhoKhaDoa
48 1 1 1 1 23 1 19 1
19 1 2 0 4 12 8
46 CanKhoLy CaaTonChaKhaDoa
46 3 1 5 1 7 13 7 9
19 1 0 0 4 12 18
47 CanChaKhaCaaTonKhoLy Doa
46 1 3 1 5 7 13 7 9
19 1 0 0 4 12 18
48 CanKhoKhaCaaTonChaLy Doa
60 3 3 5 5 19 1 23 1
19 1 2 0 4 12 4
khonglaai
27-10-2005, 04:47 AM
F4,8
1 CanDoaLy ChaKhoKhaCaaTon
48 1 1 1 1 1 23 1 19
19 1 2 0 4 12 8
2 CanDoaLy TonKhoKhaCaaCha
46 5 1 3 1 9 7 13 7
19 1 0 0 4 12 18
3 CanDoaCaaChaKhoKhaLy Ton
46 1 3 1 5 9 7 13 7
19 1 0 0 4 12 18
4 CanDoaCaaTonKhoKhaLy Cha
60 5 3 3 5 1 19 1 23
19 1 2 0 4 12 4
5 CanKhaLy ChaKhoDoaCaaTon
46 5 1 3 1 13 7 9 7
19 1 0 0 4 12 18
6 CanKhaLy TonKhoDoaCaaCha
48 1 1 1 1 1 19 1 23
19 1 2 0 4 12 8
7 CanKhaCaaChaKhoDoaLy Ton
60 5 3 3 5 1 23 1 19
19 1 2 0 4 12 4
8 CanKhaCaaTonKhoDoaLy Cha
46 1 3 1 5 13 7 9 7
19 1 0 0 4 12 18
9 CanDoaChaLy KhoKhaTonCaa
48 11 3 7 3 1 9 1 13
19 1 0 0 4 12 16
10 CanDoaTonLy KhoKhaChaCaa
48 11 3 7 3 9 1 13 1
19 1 0 0 4 12 16
11 CanDoaChaCaaKhoKhaTonLy
48 7 3 11 3 9 1 13 1
19 1 0 0 4 12 16
12 CanDoaTonCaaKhoKhaChaLy
48 7 3 11 3 1 13 1 9
19 1 0 0 4 12 16
13 CanKhaChaLy KhoDoaTonCaa
48 7 3 11 3 13 1 9 1
19 1 0 0 4 12 16
14 CanKhaTonLy KhoDoaChaCaa
48 7 3 11 3 1 9 1 13
19 1 0 0 4 12 16
15 CanKhaChaCaaKhoDoaTonLy
48 11 3 7 3 1 13 1 9
19 1 0 0 4 12 16
16 CanKhaTonCaaKhoDoaChaLy
48 11 3 7 3 13 1 9 1
19 1 0 0 4 12 16
17 CanLy DoaChaKhoCaaKhaTon
48 1 1 1 1 1 23 1 19
19 1 2 0 4 12 8
18 CanLy DoaTonKhoCaaKhaCha
46 5 1 3 1 9 7 13 7
19 1 0 0 4 12 18
19 CanCaaDoaChaKhoLy KhaTon
46 5 1 3 1 13 7 9 7
19 1 0 0 4 12 18
20 CanCaaDoaTonKhoLy KhaCha
48 1 1 1 1 1 19 1 23
19 1 2 0 4 12 8
21 CanLy KhaChaKhoCaaDoaTon
46 1 3 1 5 9 7 13 7
19 1 0 0 4 12 18
22 CanLy KhaTonKhoCaaDoaCha
60 5 3 3 5 1 19 1 23
19 1 2 0 4 12 4
23 CanCaaKhaChaKhoLy DoaTon
60 5 3 3 5 1 23 1 19
19 1 2 0 4 12 4
24 CanCaaKhaTonKhoLy DoaCha
46 1 3 1 5 13 7 9 7
19 1 0 0 4 12 18
25 CanChaDoaLy KhoKhoKhaCaa
36 1 1 2 1 2 12 5 12
10 1 0 4 0 5 22
26 CanKhoDoaLy KhoChaKhaCaa
50 4 1 1 1 20 2 18 3
10 1 0 4 0 5 17
27 CanChaDoaCaaKhoKhoKhaLy
51 4 1 4 1 16 4 18 3
9 1 0 4 0 4 15
28 CanKhoDoaCaaKhoChaKhaLy
38 3 1 1 1 3 16 4 9
9 1 0 4 0 4 20
29 CanChaKhaLy KhoKhoDoaCaa
48 1 1 2 1 18 2 20 3
10 1 0 4 0 5 16
30 CanKhoKhaLy KhoChaDoaCaa
40 4 1 1 1 4 13 4 12
10 1 0 4 0 5 19
31 CanChaKhaCaaKhoKhoDoaLy
39 4 1 2 1 3 14 5 9
9 1 0 4 0 4 20
32 CanKhoKhaCaaKhoChaDoaLy
48 3 1 1 1 18 4 17 3
9 1 0 4 0 4 16
33 CanLy ChaDoaKhoCaaTonKha
34 9 0 3 1 0 8 1 12
8 1 0 0 0 5 23
34 CanLy TonDoaKhoCaaChaKha
32 9 1 3 2 6 1 9 1
8 1 0 0 0 5 26
35 CanCaaChaDoaKhoLy TonKha
28 5 0 4 1 9 1 7 1
7 1 0 0 0 4 27
36 CanCaaTonDoaKhoLy ChaKha
34 5 1 6 2 1 7 1 11
7 1 0 0 0 4 25
37 CanLy ChaKhaKhoCaaTonDoa
29 5 0 4 1 6 1 11 1
8 1 0 0 0 5 26
38 CanLy TonKhaKhoCaaChaDoa
32 5 1 4 2 0 12 1 7
8 1 0 0 0 5 27
39 CanCaaChaKhaKhoLy TonDoa
36 9 0 5 1 1 12 1 7
7 1 0 0 0 4 22
40 CanCaaTonKhaKhoLy ChaDoa
33 9 1 5 2 9 1 5 1
7 1 0 0 0 4 24
41 CanChaLy DoaKhoKhoCaaKha
40 2 1 1 1 2 14 5 14
10 1 0 4 0 5 22
42 CanKhoLy DoaKhoChaCaaKha
54 6 1 2 1 20 2 18 4
10 1 0 4 0 5 14
43 CanChaCaaDoaKhoKhoLy Kha
45 2 1 2 1 16 2 18 3
9 1 0 4 0 4 18
44 CanKhoCaaDoaKhoChaLy Kha
40 4 1 2 1 3 13 4 12
9 1 0 4 0 4 19
45 CanChaLy KhaKhoKhoCaaDoa
54 6 1 2 1 18 2 21 3
10 1 0 4 0 5 14
46 CanKhoLy KhaKhoChaCaaDoa
41 2 1 1 1 3 17 4 12
10 1 0 4 0 5 19
47 CanChaCaaKhaKhoKhoLy Doa
41 4 1 2 1 3 14 6 10
9 1 0 4 0 4 19
48 CanKhoCaaKhaKhoChaLy Doa
46 2 1 2 1 18 2 17 3
9 1 0 4 0 4 17
khonglaai
27-10-2005, 04:48 AM
Tổng kết:
-Nhóm F1,2, F1,3, F1,4: Các trục đối xứng lệch nhau trong các quái với tổng trục 84, 68, 67, 64, 63. Có 8 đồ hình trong mỗi bát quái co chú thích (*) chỉ sự ngược chiều của vòng quay đối xứng. Các đồ hình “không đối xứng” cũng tồn tại nhiều. Chỉ có 23 đồ hình biến đổi có tâm đối xứng. Tổng các chi tiết đối xứng cũng khác nhau và luôn luôn nhỏ hơn 135 – là tổng các chi tiết trong Tiên Thiên Bát Quái.
- Nhóm F1,5, F1,6, F1,7: Các trục đối xứng lệch nhau trong các quái với tổng trục 108, 100, 96, 95, 94, 84, 75, 74. Trong mỗi bát quái, số đồ hình qua biến đổi f có chú thích (*) cũng khá nhiều và thay đổi giữa 8, 10 và 12. Các đồ hình “không đối xứng” cũng tồn tại nhiều và không đồng nhất trong nhóm. Có một số bát quái có nhiều trục đối xứng đến 108 trục. Tuy nhiên đổi lại các đối xứng nghịch chiều với nhau qua tâm cũng có đến 12 đơn vị. Chỉ có 23 đồ hình biến đổi có tâm đối xứng. Tổng các chi tiết đối xứng cũng khác nhau và luôn luôn nhỏ hơn 135 – là tổng các chi tiết trong Tiên Thiên Bát Quái.
- Các nhóm còn lại ta cũng có thể quan sát thấy một sự không đồng nhất rất lớn giữa tổng số trục đối xứng và tâm đối xứng. Các chi tiết đối xứng rất ít và số lượng không đối xứng cao.
Nói tóm lại, trong các nhóm bát quái trừ nhóm F1,8 ta thấy có sự không đồng nhất trong các đồ hình, luôn luôn tồn tại đồ hình không đối xứng và tổng các chi tiết đối xứng luôn ít hơn 135.
Quan sát nhóm F1,8 ta thấy các bát quái có các thông số đối xứng nằm một trong hai trường hợp sau:
88 7 7 7 7 7 23 7 23
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 5 9 5 9
Truc 24: 0 0 0 0 0 12 0 12
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
88 7 7 7 7 23 7 23 7
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 9 5 9 5
Truc 24: 0 0 0 0 12 0 12 0
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
Mỗi trường hợp có 24 bát quái chuẩn hay 24x8=192 bát quái kể cả phương vị. Những bát quái có thông số giống Tiên Thiên Bát Quái mang những số thứ tự sau: 1(Tiên Thiên), 4, 6, 7, 9, 12, 14, 15, 17, 20, 22, 23, 25, 28, 30, 31, 33, 36, 38, 39, 41, 44, 46, 47. Hiệu số của các số thứ tự thay đổi như sau: 3, 2, 1, 2, 3, 2, 1, 2….Chúng tôi sẽ nói tiếp vấn đề này trong những chương sau.
Từ trên chúng ta có thể rút ra được ưu điểm của các bát quái thuộc nhóm F1,8 so với các bát quái nhóm khác:
-Có sự đồng nhất trong nhóm bát quái.
-Không có bát quái nào có biến đổi không đối xứng.
-Tất cả biến đổi dù thế nào đi chăng nữa đều có đối xứng qua tâm. Điều này chứng tỏ sự hài hoà và cân bằng của nhóm bát quái này
-Không có sao trong các biến đổi tâm.
-Tổng các chi tiết đối xứng bằng 135 luôn luôn cao hơn các bát quái khác.
-Có thể nói đây là các bát quái tuy khác Tiên Thiên về phương vị các quái nhưng lại giống Tiên Thiên một cách hoàn hảo. Quy luật vận hành của chúng cũng là quy luật vận hành của Tiên Thiên.
khonglaai
27-10-2005, 02:04 PM
Chương bốn.
Hệ thập phân và bốn bộ số 1-6, 2-7, 3-8, 4-9.
Có thể nói hệ thập phân là phát hiện đầu tiên của toán học. Tuy bây giờ, qua khảo cổ học người ta đã phát hiện ra ở Ấn Độ đã ghi hệ thập phân vào những cổ văn đầu tiên, nhưng tôi tin chắc thuở xưa ở hầu hết các dân tộc, con người đã biết dùng hệ thập phân để đếm. Thật ra cũng khá dễ hiểu, nếu ta xem mắt là cánh cửa của tư duy, tư tưởng thì cái gì trên cơ thể con người có thể được nhìn thấy rõ ràng nhất như đôi tay mười ngón?!
Người Trung Hoa thì từ thuở xa xưa đã đọc: yi, er, san, si, wủ,..., shử. Sau đó đọc shử yi, shử er...Còn người Việt Nam chúng ta cũng có hẳn các chữ khác nhau để chỉ thị một, hai, ba, bốn, năm, sáu,..., mười. Và cũng tiếp theo là mười một, mười hai...Có nhiều ý kiến, đặc biệt là của Nguyên Nguyên trong bài “Thử tìm hiểu số đếm 1-10 trong văn minh Đông Sơn” (trong www.khoahoc.net (http://www.khoahoc.net/)) cho rằng người Việt xưa không đếm theo hệ thập phân. Nhưng sự khác nhau rõ ràng trong cách đọc (và dĩ nhiên về sau khi có chữ thì về cách viết), hơn nữa là cách đọc của ngôn ngữ độc âm, của các con số trong Tiếng Việt cho thấy lý luận này không có cơ sở vững chắc. Ví dụ cho hệ đếm của dân tộc ta xưa là hệ lục phân thì cách đếm như sau: một, hai, ba, bốn, năm, sáu, nhưng đến số 7 ngày nay phải đếm thành sáu một và tiếp tục như thế sáu hai, sáu ba. Cứ cho rằng có cụm chữ hai âm nào đó như sáu hai chẳng hạn cho ra số tám, thì cần phải tìm ra nguyên cớ ngôn ngữ (nguyên cớ biến âm) nào mà sáu hai thành tám. Tôi thấy chưa ai làm được điều đó và dân tộc ta vẫn cứ đếm một là một, hai là hai,...., mười là mười.
Ngày nay, nhiều đồng bào ta ở Bắc Bộ vẫn còn đọc ngày trăng tròn là mười rằm một biến thể của mười lăm (năm). Điều này hầu như chứng tỏ, dân tộc Việt đã biết về lịch và hệ thập phân khá lâu đời. Tuy nhiên, khi có những luồng giao lưu văn hóa Hoa-Việt; và lịch sử mất nước đến nghìn năm, thì chúng ta lại mập mờ về nguồn gốc số mười lăm của mười rằm. Và chúng ta đành chấp nhận lịch của chúng ta đang dùng là do những người khỏe hơn ta về vũ lực ban tặng. Đó cũng là tâm lý rất bình thường của hầu hết các dân tộc mất nước. Kẻ chiếm được nước ta chắc chắn phải giỏi hơn ta. Trong tất cả mọi bình diện!!!
Hai đồ hình quan trọng để dựng nên Kinh Dịch là Hà Đồ và Lạc Thư như hình vẽ dưới đây:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong4-1-Hado.jpg
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong4-2-Lacthu.jpg
Đồ hình Lạc Thư thật ra là một magic matrix vuông 3x3. Đồ hình này khá đơn giản về mặt Toán học và thiết nghĩ từ xa xưa, mọi dân tộc trên thế giới này đều có thể lập nên ma phương này một cách đơn giản. Đồ hình Hà Đồ gồm bốn (nếu xét do đồ hình này mà có thể thiết lập ra bát quái thì chỉ cần bốn bộ số ngoài mà thôi) bộ số 1-6, 2-7, 3-8, 4-9. Nếu sắp xếp vào hình vuông theo nguyên tắc số lẻ đứng lại, số chẵn ra đi theo chiều ngược kim đồng hồ, ta có thể được hình như sau:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong4-3-Hadovuong.jpg
Bốn bộ số của Hà đồ đều có một số chẵn và một số lẻ, hiệu của hai số luôn bằng 5. Tuy nhiên có hai bộ bắt đầu từ con số lẻ 1-6, 3-8 và hai bộ số từ số chẵn: 2-7, 4-9. Sư cân bằng chẳn lẻ khá chuẩn: 2+4+6+8=20 và 1+3+7+9=20. Mặc dù, so với Toán học ngày nay đây chỉ là một trò chơi vớ vẩn, nhưng phải công nhận người xưa khi nghĩ ra bốn bộ số này từ 10 chữ số đầu tiên đã lồng vào đó những tư tưởng triết học vĩ đại.
khonglaai
27-10-2005, 02:05 PM
Nhà triết học vĩ đại Hy lạp Platon từ 10 con số đầu tiên cũng đưa ra thuyết monada thật lý thú:
1- m : Monada-Thượng đế, Thể thống nhất. Monada nguyên thuỷ có nghĩa Tất cả chứa Thể nhất thống. Monada đồng nghĩa với Thể nhất thống đồng thời cũng là Tất cả. Monada là vĩnh cửu, không thời gian, không có quá khứ và tương lai. Tượng trưng cho tình yêu, hoà hợp và danh dự bởi vì nó không thể chia cắt. Là Chân Lý và Sức mạnh ở ngay trung tâm vũ trụ và điều khiển chuyển động các hành tinh. Là Trí Khởi Nguyên bởi vì nó là khởi thuỷ của các Ý nghĩ của vũ trụ.
2- m m : Duada-Mẹ Vĩ đại. Chủ thể của không cân đối, không ổn định và chuyển động.
3- m
m m : Triada. Chủ thể cân bằng đầu tiên. Số lẻ đầu tiên được sinh ra. Tượng trưng cho thông thái, hiểu biết. Pithagor dạy Triada là con số thần linh, bởi nó được tạo ra bởi Thượng Đế và Mẹ vĩ đại. Đây là con đầu lòng của Thượng Đế. Chính thể, khuôn sáng tạo của Thượng Đế mang hình dáng tam giác. Pithagor cho rằng, mọi vật trong thiên nhiên được chia làm ba phần và không ai có thể thật sự thông tuệ nếu như không đặt vấn đề dưới cấu đồ (diagram) tam giác. Ông nói: “Hãy nhận thức được Tam Giác, và vấn đề đã được giải quyết hai phần ba. Mọi vật được tạo thành từ ba phần.”. Ông cũng phân vũ trụ làm ba phần: Tối Thượng Giới, Thượng Giới và Hạ Giới. Tối Thượng Giới là một thể tâm linh có thể thẩm thấu qua tất cả mọi vật và là đại diện của Đấng Tối thượng. Thượng Giới là nơi của những linh hồn bất tử. Hạ Giới là nơi của những sinh linh được tạo thành từ vật chất hoặc của những thần linh điều khiển các sinh linh vật chất.
4- m m
m m : Tetrada. Biểu tượng của Thương đế, bởi vì biểu tượng cho 4 số đầu tiên thiết lập nên Decada (1+2+3+4=10). Theo Pithagor, linh hồn con người được cấu thành bởi bốn lực: Trí, Khoa học, Ý tưởng và Cảm giác.
5- m m
m m
m : Pentada. Liên minh giữa chẵn và lẻ, nó là tổng của hai số chẵn lẻ đầu tiên. Bởi vậy, nó tương trưng cho Cân Bằng và Hài hoà. Ngoài ra nó còn chia cho Decada ra đúng hai phần bằng nhau. Chính vì thế, phái Pithagor cho số 5 tượng trưng cho Thiên nhiên, nơi lúc nào cũng tồn tại hai mặt đối kháng nhau liên tục.
6- m
m’ m’
m m
m’ : Hexada. Hiện thân của sự Sáng Tạo. Nó là liên minh của hai tam giác thiêng liêng (mmm và m’m’m’), tam giác đàn ông và tam giác đàn bà. Biểu tượng của Hôn nhân và Thời gian.
7- m m
m m m
m m : Heptada. Hiện thân của tôn giáo. Bởi vì, số 7 là số thánh thiện đối với nhiều dân tộc trên thế giới. Pithagor rất coi trọng số 7. Số 7 là tổng của 3 và 4- một liên kết chặt chẽ giữa con người và Thượng Đế và là hình ảnh của định luật tiến hoá. Tự tính huyền bí con người được cấu tạo bởi linh vật tam thể và hình tượng tứ phân (Trí, Khoa, Ý, Cảm) được giới hạn bởi 6 mặt, biểu tượng 6 chiều của ánh sáng hay 6 chất nguồn chính: Đất, Không khí, Lửa, Nước, Thần và Vật (matery). Ở giữa có một điểm (số 1-monada) bí ẩn biểu tượng cho một người đứng ở trung tâm điều khiển 6 tam giác (6 triada).
8- m m
m m
m m
m m : Ocdoada. Số lập phương đầu tiên. Cứ chia nó cho hai liên tục sẽ dẫn về 4: linh hồn vật chất, 2-mẹ, 1- Monada, Thượng Đế. Vì thế nó biểu tượng cho Tình thương, Phân bố, Định luật và Hài hoà.
9- Ênneada. Số bất toàn. Biểu tượng cho sai lầm, thiếu sót và không hoàn hảo vì thiếu 1 nữa mới đạt đến số hoàn hảo 10.
10- m
m m
m m m
m m m m : Decada. Số hoàn hảo.Là tổng của 1-monada, Thượng Đế, 2-Mẹ vĩ đại, 3-Linh thể, 4- hồn vật chất. Cấu trúc Decada chứa đựng tất cả với số 7 ở trung tâm. Vì thế nó chính là Nguyên thể kiến trúc của vũ trụ. Nó chứa đựng cả Trời và Đất, các tỷ lệ hình học và số học, Chẵn và Lẻ, Thiện và Ác. Như vậy, decada là Tự tính của các số, con người trở lại với số 10 và nếu đạt được nó họ lại quay về với Monada.
khonglaai
27-10-2005, 11:43 PM
Trở lại với Hà đồ và Lạc Thư. Nếu xét về khía cạnh Toán học (trong việc tìm ra bát quái) thì Hà Đồ và Lạc Thư hoàn toàn giống nhau, bởi vì cả hai đều thuộc cụm số nằm lại là lẻ và là số to, còn số ra đi về bên phải là số chẵn và luôn nhỏ hơn số nằm lại là 5. Bây giờ ta lại xét xem Hậu Thiên Bát Quái Văn Vương được dựng từ Lạc Thư như thế nào (theo truyền thuyết):
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong4-4-HauthienbatquaiVV.jpg
Với Khảm nằm phương vị 1, Càn -6, Đoài-7, Khôn-2, Ly-9, Tốn-4, Chấn-3, Cấn-8. Hiện nay, các cuộc tranh luận chung quanh phương vị Tốn-Khôn. Ta thử xét xem có quy luật logic nào để từ Lạc Thư xây dựng nên Bát Quái không? Chúng tôi đã tìm ra một điều lý thú:
Ta hãy cho Càn theo cách đếm nhị phân là 7, Đoài-6, Ly-5, Chấn-4, Tốn-3, Khảm-2, Cấn-1, Khôn-0. Và...Khảm phương vị 1 có số là 2 và Càn phương vị 6 có số là 7, 7-2=5. Còn Chấn phương vị 3, số 4, Cấn phương vị 8, số 1; 4+5=9 mod 8=1. Rõ ràng đã có một logic số học thống nhất cho hai cặp Khảm-Càn và Chấn Cấn.
Logic: Cặp quái theo chiều ngược kim đồng hồ (quái đứng đúng giữa các hướng có ký hiệu số lẻ và quái tiếp theo đó theo chiều ngược kim đồng hồ có ký hiệu số chẵn) có mối quan hệ số học theo đúng các số ký hiệu chúng thông qua mod 8. Nếu gọi a là số ở đúng hướng (Đông Tây Nam Bắc), b là số tiếp theo theo chiều ngược kim đồng hồ, Na và Nb là số ký hiệu chúng thì ta có phương trình số học đơn giản sau:
a-b (mod 8) = Na-Nb (mod 8). (chú ý -3=5 (mod 8))
Liệu đây chính là logic đơn giản nhất để xây dựng bát quái. Chúng tôi cho là như vậy và sẽ chứng minh trên thực tế trong các chương sau. Ở đây chúng tôi chỉ giải thích điều ràng buộc cho lý luận này là người làm nên bát quái phải biết mod 8 là gì.
Thật ra có gì bác học đâu. Thứ nhất, ngày xưa khi toán học vẫn còn sơ khởi, một người xây dựng bát quái dựa trên những điều siêu phàm hay họ sẽ dựa trên những lý luận số học tầm thường?. Chúng tôi cho rằng họ chọn số học đơn giản, tức đầu tiên họ chỉ tính toán đơn giản một bài toán số học, và sau đó khi nhận được các hình tượng trong bát quái họ sẽ lý luận và đưa tiếp các tư tưởng triết học vào đó. Chứ không phải ngược lại. Thứ hai, đối với sắc dân nào không rõ, nhưng tôi tin chắc những sắc dân chuyên dùng ngôn ngữ nòng nọc, chẵn lẻ, nhị nguyên sẽ dễ dàng nhận thấy mod 8. Vì sao? Vì họ đơn giản cho nọc là 1 và nòng là 0, khi chồng lên nhau như các hình tượng bát quái rồi, có nghĩa là từ 0 đến 7, họ tiếp tục tự hỏi thế số 8 sẽ viết như thế nào? 8=7+1 và dễ dàng nhận ra qua ngôn ngữ nòng nọc, nó là nọcnòngnòngnòng. Vì Bát quái xây dựng trên ba lớp (tôi không muốn nói là vạch vì bài này tôi muốn chứng minh sự đạo tư tưởng.) chồng lên nhau thì họ sẽ lấy ba lớp sau cùng là nòngnòngnòng=Khôn. Vậy số 8 trong ngôn ngữ bát quái sẽ chỉ thị cho Khôn như 0, cũng như 9 chỉ thị cho Cấn như 1. Hay đơn giản hơn, họ biết mod số nào đó qua việc dựng một vòng tròn sau (ví dụ như mod 8):
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong4-5-mod8.jpg
Sau đó đếm ngược chiều kim đồng hồ bắt đầu từ Khôn (số 0). Số 7 ứng với Càn vậy số 8 ứng với Khôn, cứ tiếp tục thế đến vô cùng.
Đến đây, ta tiếp tục dùng logic này xét tiếp hai cụm kia. Chú ý, nếu có một cặp quái nào thỏa mãn 1-6 thì cũng thỏa mãn 3-8, cũng như nếu thỏa mãn 7-2 thì cũng thỏa mãn 9-4. Và ngược lại. Đoài phương vị 7, số 6, nếu trừ đi 5 thì được 1. Có nghĩa, phương vị 2 sẽ là Cấn. Vậy Hậu Thiên Bát Quái không đồng nhất về logic. Hay, Ly phương vị 9, số 5, trừ đi 5=0. Có nghĩa, phương vị 4 phải là Khôn. Nhưng trong Hậu Thiên là Tốn, số 3!!! (Đây là số từ Lạc Thư, nhưng theo logic đơn giản này thì dùng số Lạc Thư hay số Hà Đồ vẫn có các kết quả như nhau.).
Vậy, liệu theo cách tính số học đơn giản này có bát quái nào thỏa mãn không, với điều kiện giữ các phương vị Càn Khảm Cấn Chấn Ly (Ly cần giữ lại vì nó đã đóng vai trò rất lớn trong Kinh Dịch vì nằm trên trục Khảm-Ly, Thủy (1), Hỏa (2)). Đoài không thể nằm trên phương vị 7 vì sẽ cho ra Cấn đã định vị ở phương vị 8. Ly phương vị 9, số 5 trừ đi 5=0. Vậy phượng vị 4 sẽ là Khôn. Như vậy chỉ còn có Tốn có thể nằm phương vị 7. Tốn pv 7, số 3 hay 11(mod 8) trừ đi 5=6, chính xác là Đoài nằm phương vị 2. Vậy ta có bát quái thỏa mãn logic số học bình thường đó tính từ Khảm là: KhảmCànTốnĐoàiLyKhônChấnCấn như sau:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong4-6-HTBQAL.jpg
khonglaai
28-10-2005, 06:13 AM
Nhưng đây chỉ là một trong những đồ hình thỏa mãn logic đấy mà thôi. Ta thử xem nếu vận dụng logic số học này thì có bao nhiêu quái thỏa mãn. Vì có 4 bộ số nhưng chỉ có 2 nhóm khác nhau nên chúng ta chỉ cần tìm hai nhóm bộ số mà thôi, sau đó đổi qua đổi lại. Kết quả tìm được như sau:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong4-7-HTBQTH.jpg
*Hai số một bộ, số đầu là số đứng lại và số sau là số nằm cạnh theo chiều ngược kim đồng hồ.
Có tất cả 192 đồ hình trên 40320 đồ hình thỏa mãn điều kiện ma phương 3x3. Tuy nhiên, nếu thêm điều kiện chắc chắn một bộ số 1-6 phải nằm ở phương vị Bắc-Tây Bắc, 3-8 nằm ở Đông-Đông Bắc, 7-2 ở Nam-Đông Nam, 9-4 ở Tây-Tây Nam như Lạc Thư và Hà Đồ (Lạc Thư và Hà Đồ khác nhau về phương vị bộ số 7-2 và 9-4, nhưng theo logic số học đơn giản trên thì không đóng vai trò gì trong việc thiết lập bát quái) thì có 48 bát quái như sau (Theo thứ tự từ Nam ngược chiều kim đồng hồ đến Tây Nam:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong4-8-HTBQTH1.jpg
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong4-9-HTBQTH2.jpg
*Ở giữa tô màu đỏ vì đó là hai bộ số chỉ 1-6 và 3-8. Quái ra đi=Quái ở lại+5 mod 8
Rất thú vị, các bát quái thỏa Hà Đồ (hay Lạc Thư theo logic số học đơn giản trên) chỉ nằm trong bốn nhóm đối xứng: F1,4, F1,7, F1,8 và Không có đối xứng T1. Có 8 bát quái trong mỗi nhóm F1,4, F1,7, F1,8 và 24 bát quái không đối xứng T1. Và các bát quái trong hai nhóm F1,4, F1,8 lại trùng tất cả các số thứ tự trong bảng nghiên cứu đối xứng chương trên: 10, 13, 20, 23, 26, 29, 36 và 39. Nếu trục Nam-Bắc là Ly-Khảm thì nhóm F1,8 chỉ có hai bát quái: LyKhônĐoàiTốnKhảmCànCấnChấn và LyKhônChấnCấnKhảmCànTốnĐoài.
Kết luận, nếu theo logic số vô cùng đơn giản này thì bát quái Hậu Thiên Văn Vương không thoả mãn.
Qua chương ba và chương bốn có thể thấy: Hậu Thiên Văn Vương không nằm trong nhóm đối xứng cao, hiển nhiên càng không nằm trong nhóm huyền ảo F1,8 và không thoả theo quy luật số học giản đơn trên. Điều tối quan trọng làm chúng ta phân tích xem thật sự bát quái Hậu Thiên có nằm trong quy luật số học này không là nếu có một bát quái được suy ra từ chuỗi logic (chúng tôi sẽ phân tích ở chương 7) mà thuộc nhóm F1,8 và cũng thoả quy luật số học giản đơn này thì chúng ta có thể hầu như nắm chắc Hà Đồ được làm ra để mã hoá bát quái này. Và dẫn đến một logic đúng đắn là Hà Đồ dùng để mã hoá Bát Quái này chứ không phải từ Hà Đồ để suy luận ra một Bát quái nào khác. Tối quan trọng bởi vì nếu chứng minh được như thế thì cũng bằng logic ta suy ra có cả một hệ thống suy diễn để đi đến Hậu Thiên Bát Quái rồi người ta nghĩ cách mã hoá nó (cách đó chính là Hà Đồ), như vậy nói từ Hà Đồ để đi đến Tiên Thiên Bát Quái là không đi từ cội rễ và không nắm bắt hết những tiên đề đầu tiên của Dịch. Để đi dần đến chứng minh cho tính đúng đắn của logic luận này, chúng tôi mới quý vị cùng nhau xem xét lại một số nghi án của Kinh Dịch.
khonglaai
29-10-2005, 06:53 AM
Chương 5.
Các nghi án Kinh Dịch.
Trước tiên, muốn xét các nghi án Kinh Dịch, chúng ta hãy xem lại cái logic hình thành nó (chỉ dành cho Kinh Dịch thôi). Đầu tiên, khi loài người mới được hình thành, họ đã biết nhìn cây, nhìn lá, nhìn đá, nhìn hoa... Sau đó, họ bắt đầu thử và biết vẽ những hình tượng thô sơ, giống như tượng nòng và nọc vậy. Tiếp đến, họ bắt đầu thả hồn bay bổng lên các vì sao để suy ngẫm, để diễn giải mọi việc xảy ra với họ. Rồi, họ thử trật tự hóa các tư tưởng của mình qua các hình vẽ trên một đồ hình hình học (Ví dụ hình tròn chẳng hạn, vì hình tròn rất dễ vẽ, dễ bắt chước: đó là những vòng sóng lăn tăn trong hồ khi ta thả một viên đá vào đó. Hay đơn giản hơn là vòng tròn của con ngươi) nào đó. Để cuối cùng, họ mới mã hóa chúng qua những hình tượng mang tính số học. Phức tạp nhất là mã hóa bằng ngôn ngữ số học nhưng lồng tư tưởng triết học vào đó. Các chương dưới, tôi sẽ chứng minh con đường xây nên kinh Dịch này.
Tại sao gọi là nghi án? Tại vì đúng phải gọi là nghi án. Nếu quý vị thấy cách giải thích này quá tăm tối thì chúng tôi xin giải thích thêm không có một tiên đề nào của Kinh Dịch của sách Trung Quốc viết ra mà không có nghi vấn. Ví dụ, tiên đề đầu tiên từ Hà Đồ là một đồ hình số khá phức tạp mà làm ra cái Tiên Thiên Bát Quái đơn giản thì thật không hiểu logic từ đâu. Còn nếu bảo thấy con gì đó có sứt, có sẹo mà làm ra Tiên Thiên Bát Quái thì nghe có vẻ có lý. Nhưng như vậy cũng chả thấy sự liên quan nào giữa Hà Đồ với Tiên Thiên. Hơn nữa, nhìn cả một hệ thống Kinh Dịch bất cứ người bình thường nào cũng có thể nghĩ nó liên quan đến Toán học và hệ nhị phân. Những các hệ quả được suy ra như Tiên Thiên và Hậu Thiên Bát Quái thì lại được đưa ra chả dựa theo một hệ thống logic nào cả. Tất cả cứ như từ trên trời rơi xuống vậy. Từ đó, ta phải gọi chúng là nghi án vì nếu như có một hệ thống logic luận khác rất chặt chẽ để dẫn đến một Kinh Dịch khác thì chúng ta sẽ chọn loại Kinh Dịch nào. Hay chúng ta sẽ cho Kinh Dịch nào đúng đắn và Kinh Dịch nào chỉ là sự giả mạo. Chân giả, nhất là cái Chân và cái Giả từ xa xưa chỉ có thể phát hiện ra dựa trên những tiêu chí “tốt hơn, logic hơn, đúng hơn” mà thôi.
Nhưng thôi, chúng ta cứ dần xét những nghi án của Kinh Dịch xem sao. Và tuỳ độc giả suy xét có nên gọi là nghi án hay là không.
1. Nghi án Âm Dương và Tiên Thiên Bát Quái:
Trong Hệ Từ Hạ có viết: “Vua Phục Hy (2850? BC) ngửa xem tượng trời, cúi xem phép tắc dưới đất, xem các văn vẻ của chim muông cùng những thích nghi của trời đất. Gần thì lấy thân mình, xa thì lấy ở vật, thế rồi mới làm ra Bát Quái để thông suốt cái đức của thần minh và phân loại các tính của vật.”. Hay như ngài Dịch học khác của Trung Hoa Khổng An Quốc viết: “Đời vua Phục Hy có con Long Mã xuất hiện ở sông Hoàng Hà. Trên mình có những đốm xoáy trắng đen (Hà Đồ). Nhà vua bắt chước các vết vằn của nó mà vạch nên Bát Quái (Tiên Thiên).”. Hầu hết, tất cả sách viết về Kinh Dịch đều viết nôm na như sau: “Tương truyền, vào thời Phục Hy có con Long Mã xuất hiện trên Hoàng Hà. Trên mình có những đốm gồm các xoáy trắng đen. Vua Phục Hy dựa theo các xoáy đó mới vạch một vạch http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/Duong.jpg để tượng trưng cho Dương và một vạch rời http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/Am.jpg để tượng trưng cho Âm. Nhận thấy vạn vật tồn tại, hình thành do vận hành lên xuống của Dương và Âm và ông đã lập nên Tiên thiên bát quái.”. Vậy Hà Đồ có dáng dấp như thế nào? Dưới đây là hai trong các hình vẽ có được:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong4-1-Hado.jpg
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/Chuong5-Hadotron.jpg
a. Truyền thuyết và sự thật:
Chúng tôi cho rằng trong truyền thuyết có chuyển tải một phần sự thật. Tuy nhiên truyền thuyết cần phải nhìn nhận lại theo một trình tự logic nhất định. Ngoài ra, cần phải lượng định cái giá trị truyền thuyết đối với những gì trong thực tế được xây dựng từ nó.
Ví dụ: câu chuyện trăm trứng trăm con của Mẹ Âu Cơ và Cha Lạc Long. Ta suy luận: làm sao có ai đẻ ra bọc trăm trứng, nở trăm con. Nhưng như vậy các cụm từ “bọc trứng” và “nở” cũng nói lên một thuyết sự hình thành nên dân tộc ta dính dáng đến loài chim nào đó. Có nghĩa, người Việt ta gắn bó với một sinh vật nào đó và có thể suy ra từ Việt nguyên thuỷ liên hệ với thuyết này. Hay như trăm con cũng khó có, nhưng thật vô lý khi cho rằng không có chuyện đó thì làm sao có chuyện chia con lên rừng, xuống biển. Ta thử suy luận logic như sau: Dân Việt sống nơi có nhiều thứ chim và một vật sống dưới nước (ví dụ cá sấu chẳng hạn). Vì chúng khá nhiều nên họ nghĩ chuyện hình thành ra họ (hay dân tộc họ) có dính dáng gì đến các động vật này. Và họ suy tôn chúng lên thành linh vật của mình. Hay họ cho là họ từ chúng mà ra (bằng suy luận logic, ông Darwin cũng cho rằng chúng ta phát sinh từ khỉ đấy sao). Một hôm, vợ chồng thủ lĩnh, hay vua, hay trưởng bản, hay tổng thống, hay là tên gọi gì đó để chỉ thị người có quyền uy cao nhất lúc ấy tập họp những thanh niên ưu tú lại (ví dụ 50 hay 100 hay lớn hơn 1000 chẳng hạn) và nói: Chúng ta sống ở vùng có sông, có núi. Kẻ giỏi săn bắn, người giỏi đi thuyền. Bởi vậy, ta chia thành hai nhóm để khai thác triệt để thiên nhiên. Vậy, cái truyền thuyết con rồng, cháu tiên có sai không? Hoàn toàn đúng và logic.
Còn chuyện Kinh Dịch thì sao? Ai trong chúng ta đều biết Kinh Dịch là một triết thuyết lớn của Á Đông ta. Thế nhưng, cái tiên đề khởi thuỷ của nó là truyền thuyết có con long mã in 4 cụm số. Làm sao có thể có con long mã như thế?!! Con long mã như thế không có thì lấy đâu ra việc ngài Phục Hy vạch bát quái từ nó. Cũng có thể chúng ta cho rằng: “Ngài Phục Hy nhìn thấy con long mã có các đốm xoáy kỳ lạ mà vẽ nên Âm nên Dương. Rồi ngài mới lập nên Tiên Thiên nhờ trí thông minh của mình.”. Vậy thì, câu chuyện Tiên Thiên khó ăn nhằm gì đến Hà Đồ. Thế nhưng, sử sách Trung Hoa khẳng định có điều như vậy. Ngay chuyện Âm Dương, suy luận logic ta tạm cho ngài Phục Hy làm ra hai vạch Âm Dương khi nhìn thấy con long mã có mấy cái xoáy. Thế nhưng nhìn con long mã, chúng ta cũng dễ thấy bước lập ra Âm Dương đơn giản nhất là theo hình con long mã như sau: Dương: http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/Noc.jpg, Âm: http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/Nong.jpg. Hay suy nghĩ đơn giản hơn là chỉ có hai thể gọi là nọc và nòng, hay hai thể chẵn và lẻ. Có nghĩa chẵn lẻ là hai khái niệm đầu tiên của triết thuyết dịch chứ không phải Âm và Dương. Người ta lại dũng cảm lý luận chẵn thuộc Âm, lẻ thuộc Dương!!! Mà phải đâu xa, trong Hệ Từ Hạ viết: “Gần thì lấy thân mình,…”. Hiển nhiên cần phải lấy thân của bà vợ nữa. Đàn bà thuộc Âm, hiển nhiên là vậy vì đàn bà có hai lỗ (không tròn thì cũng gần tròn). Còn đàn ông thuộc dương. Cũng phải, vì chàng có cây gậy và và chỉ một lỗ tròn thôi như sau http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/Noc1.jpg. Thật hoàn toàn logic khi cho rằng, các thánh nhân Trung Hoa (có lẽ là sau này chứ không phải là Phục Hy) khi nhìn các hình trên đã thay hình tròn màu trắng thành vạch màu đen còn vạch màu đen thì chuyển thành trắng để thành hai vạch Âm, Dương như bây giờ. Nhưng điều đó cũng không quan trọng. Quan trọng ở đây, chúng tôi muốn nói hai hình trên đã có một dân tộc dùng nó rồi, vẽ rất nhiều vào trong các di vật của họ và nó hoàn toàn giải nghĩa được vì sao chẵn lại là Âm mà lẻ là Dương, hay đàn bà là Âm, đàn ông là Dương, cũng như vì sao Dương lại có tính đi lên đi ra ngoài, con Âm lại đi xuống, thu nhận vào (chuyện giao hợp của hai sinh vật làm rõ vụ này). Còn những vạch Âm, Dương kia là quá trình copy, sửa đổi and past. Chuyện đạo văn hoá đã có nguồn gốc xa xưa là vậy.
b. Ngoài ra, đồ hình nào giải thích được hai vấn đề: Dương nhẹ bay lên, Âm ô trọc, nặng có tính đi xuống. Thứ hai làm sao 9 có tính dương cao hơn 1 và 8 có tính âm hơn 2. Vẽ như ngài Phục Hy thì chúng tôi không thể dùng được bất cứ logic nào để giải thích được vì sao một vạch đứt thì nặng nề hơn vạch liền. Còn vẽ theo kiểu nòng nọc thì hoàn toàn giải thích được. Khi vẽ nòng và nọc, người xưa đã hàm ý về trọng lượng trong đó. Đồng thời cũng hàm ý sự liên kết để tạo ra trọng lượng. Âm số càng cao thì hình của nó càng nặng, càng trôi xuống (mà quan sát điều này thường xuyên nhất có lẽ là các cư dân sống ở vùng sông nước). Còn Dương số càng cao, nhưng vì nó không liên kết với nhau nên tốc độ đi lên của nó cũng không thấp hơn khi có một. Tính Dương nó mạnh do nhiều cái Dương hợp lại và bao trùm hơn giống như việc đống lửa to nóng hơn và cao hơn đống lửa nhỏ vậy. Hơn nữa, khi bay lên cái nọc này đụng vào nọc kia đẩy nọc kia bay lên cao hơn. Tuy một nọc phải chùng lại một ít nhưng nó vẫn bay lên. Kết quả tất cả đều đi lên, nhưng khi Dương số lớn sẽ có một số nọc bay nhanh hơn bình thường. Các bạn nghĩ đấy là bây giờ khi ta biết Vật Lý mới giải thích được chăng? Chúng tôi cho rằng, người xưa hoàn toàn quan sát được hiện tượng này khi nhìn những cụm bông gòn bay lên trời.
c. Hình, số hay số hình: Bằng logic suy luận chúng tôi đã giới thiệu trên, chúng ta dễ thấy hai vạch Âm http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/Am.jpg và Dương http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/Duong.jpg hay nọc http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/Noc.jpg và nòng http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/Nong.jpg phải được hình thành trước. Sau đó, người ta thử các tổ hợp (gồm ba vạch chồng lên nhau) để lập ra Tiên Thiên và cuối cùng là mã hoá chúng bằng số như Hà Đồ. Mà Hà Đồ có đơn giản gì đâu? Nó hàm chứa cả hình, số và cả những hàm ý triết lý sâu xa bên trong. Thế mà người ta lại bảo, ông Phục Hy lại làm hai vạch Âm Dương ra từ Hà Đồ. Hà Đồ có khi nền tư tưởng triết lý kinh Dịch đã được xây dựng. Chứ không phải ngược lại.
khonglaai
30-10-2005, 03:20 AM
2. Nghi án Hà Đồ và Tiên Thiên:
Hà Đồ nếu có thật có lẽ có dạng sau:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/Chuong5-Hadotron1.jpg
Vì sao lại gọi là nghi án? Vì những hình vẽ trong các cổ sử Trung Quốc không có cái hình vẽ này. Thế nhưng, có một dân tộc lại có mã của Bát Quái Hậu Thiên với kiểu logic này (logic: Âm kết vào nhau và Dương thì tách rời riêng lẻ.).
Ngoài ra, theo chúng tôi cần phải gọi đây là đại trọng án vì người Trung Hoa khăng khăng bảo Tiên Thiên Bát Quái được suy luận từ Hà Đồ nhưng lại không có một giải thích tối thiểu nào cho suy diễn này. Họ hoàn toàn không dẫn ra logic luận nào để giải thích mối quan hệ hỗ tương giữa Hà Đồ và Tiên Thiên Bát Quái. Nếu như nói, ông Phục Hy nhìn thấy các xoáy từ 1, 2,…,8 và đã tạo ra bát quái Tiên thiên thì cũng còn có lý. Nhưng có lý với hai điều kiện: thứ nhất, cần giải thích vì sao quái này cần phải tương ứng với số này, quái nọ cần phải tương ứng với số nọ; thứ hai, cần giải thích rõ vì sao phải đặt thứ tự như Tiên Thiên bây giờ. Ngay cả hai điều kiện tối thiểu này, Kinh Dịch Trung Hoa cũng chưa đưa ra giải thích thoả đáng. Vậy nếu có một hệ thống suy luận khác đặt trên nền móng toán học và hệ nhị phân có thể tạo ra chuỗi quan hệ hỗ tương giữa Tiên Thiên Bát Quái và Hà Đồ thì chúng ta có thể phân biệt Chân Giả chăng? Và nếu có chuỗi suy luận logic này thì liệu chúng ta có thể suy ra: người Trung Hoa đã thấy đâu đó Hà Đồ và Tiên Thiên; họ không hiểu chúng có quan hệ dây mơ rễ má thế nào, chỉ thấy chúng đặt gần bên nhau thì họ liền quy chụp ngay Tiên Thiên Bát Quái được suy từ Hà Đồ chăng?
Trước đây, chúng tôi có chứng minh phải đổi hai cụm 9-4 và 8-3 với nhau thì mới giải thích hợp lý việc Tiên Thiên Bát Quái được dựng bởi Hà Đồ được:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/Chuong5-HadoTienThien.jpg
Khi đưa ra thay đổi cụm (8-3) cho cụm (9-4) chúng tôi dựa trên những lý sau:
1. Lý Tượng số:
Chữ Hán là chữ tượng hình. Tức là thấy hình thì hiểu tượng. Rút ra hiểu cái nghĩa của hình đó. Và cũng như thế, cái quan hệ Tượng Số cũng khắng khít không kém. Thấy số là hiểu Tượng. Nếu nói Đông hợp ứng với Thiếu Dương của Tứ Tượng và Mộc là hành đặc trưng cho Đông (phía đông cây cối mọc tốt tươi, đồng thời cây cối tuy có gốc rễ dưới đất nhưng ngọn của chúng vươn lên trời nên Mộc đặc trưng cho bên Dương Nghi là hợp lẽ). Như vậy, nhìn cụm 8 khoen đen và 3 khoen trắng khó có thể hình dung ra tính Dương của Mộc. Vì thế, đổi Mộc có 9 khoen trắng, 4 khoen đen là hợp lý, là nhìn số mà thấy Tượng vậy.
2. Lý của Hình:
Tôi cho các màu đen trắng của các khoen là hợp lý. Vì số 8 thuộc Âm không thể nào tô trắng được. Phép tô màu cho chúng ta thấy ngay Tượng của số Âm hay Dương. Ngoài ra trong Thái Cực đồ cũng phân phần đen là Âm, phần trắng là Dương. Vì thế phép tô màu cho các số là hợp lẽ Âm Dương và hợp theo Thái Cực đồ.
3. Lý của Số:
Rõ ràng lẻ thuộc dương, chẵn thuộc Âm. Vậy vì lẽ gì cụm (7-2) vòng ngoài là 7 thuộc Dương mà khi qua cung Đông, Mộc thuộc Dương vòng ngoài lại là 8. Vậy cụm (9-4) biểu thị cho Dương là hợp lý hơn (8-3).
4. Lý của Thái cực đồ và Tiên Thiên:
Theo Thái cực đồ và Tiên Thiên thì phần Dương Nghi thuộc tính Dương tăng từ Đông Bắc đến Nam và phần Âm nghi thuộc tính Âm tăng từ Tây Nam đến Bắc. Cần lưu ý, người Trung Quốc cổ đại đã phát minh ra số hữu tỷ từ lâu vậy những số hữu tỷ 7/9, 8/11, 9/13 không lạ với họ. Và cũng dễ hiểu về mặt toán học, người xưa có thể dùng một hình chữ nhật cố định và cho vào đó những phần đỏ (7,8,9) và những phần đen (2, 3, 4) tương ứng. Và họ suy ra: tính Dương tương đối của 7/9>8/11>9/13. Ở đây lưu ý, các hướng kết hợp như Đông Bắc, Tây Bắc, Đông Nam, Tây Nam là kết quả của hai thành phần của nó hợp thành. Vậy từ đó nếu dùng (9-4) thuộc Mộc sẽ hợp với chiều tăng (mũi tên màu đỏ ngoài) từ Đông Bắc sang Nam cho Dương và chiều tăng (mũi tên màu xanh ngoài) từ Tây Nam sang Bắc cho Âm hơn khi dùng (8-3). Và vòng tăng của Âm (mũi tên màu xanh trong) trong Dương nghi, của Dương (mũi tên màu đỏ trong) trong Âm Nghi cũng thay đổi hài hoà hơn. Cho Dương Nghi là (2,3,4,5) còn cho Âm nghi là (1,2,3,5). Thực ra số 5 của Âm phần Dương Nghi tôi cho là ngẫu nhiên. Nhưng có một cách giải thích Vì Tây Nam và Đông Bắc là giai đoạn chuyển hoá từ Âm sang Dương từ Dương sang Âm nên sự lệch biến hoàn toàn có thể.
5. Lý của cân bằng Âm Dương:
Ta không thể phủ nhận số khoen Âm lớn hơn số khoen Dương. Một phần vì khi vũ trụ hình thành thì nó đã có Hình thuộc Âm nên chuyện Âm lớn hơn là hợp lẽ. Nhưng cơ chế nào bù đắp cho cái dôi ra của Âm này. Các bác hãy chú ý, không phải vô tình mà người ta dùng 7,9 là số lẽ tượng trưng cho Dương. Chung quy sự vật tồn tại khi nó thành, nên vòng tròn Thành(phía ngoài) của Hà Đồ đóng vai trò chủ đạo. Nó chủ đạo còn vì lẽ nó mang trong mình cái khí Âm hay khí Dương của nó. Nếu vòng ngoài màu đen thì Tượng ở đó mang tính Âm, nếu màu Trắng thì Tượng mang tính Dương. Như vậy cho vòng ngoài là vòng chủ đạo là hợp lý. Các phần ở giữa các cực ta tính là trung bình của hai cực bên nó (Rõ ràng trong các sách về Kinh Dịch cũng nói mối quan hệ giữa các quái nằm giữa với hai quái nằm hai bên nó). Ví dụ hướng Đông nam bên trái là Đông (9-4) bên phải Nam (7-2) lấy trung bình ta được (8-3). Tuy nhiên, hướng Đông Bắc và Tây Nam cùng có dạng (5-5). Nhưng như tôi đã nói, vòng chủ đạo là vòng ngoài nên ta so sánh hai số vòng ngoài. Ví dụ, Đông Bắc có vòng ngoài phía Đông là 9 và vòng ngoài phía Bắc là 6. Vậy với vai trò chủ đạo vòng ngoài thì Đông Bắc thêm một chênh lệch tương trưng nữa là 3. Phân tích như thế chúng ta có vòng ngoài của Đông Bắc là 8, còn Tây Nam là 6. Chúng ta cộng lại các giá trị thành của các quái trong Tiên Thiên: phần Dương Nghi ta có 7+8+9+8=32, phần Âm Nghi ta có 6+7+8+6=27. Như vậy, ngay trong vòng chủ đạo Dương Nghi lại thắng Âm Nghi là 5. Chính số 5 Dương này khắc chế số 5 Âm dôi thừa ra. Nếu các cụm khoen không thay đổi thì khó giải thích được điều này.
Vậy từ đây, ta có thể rút ra một trong hai kết luận:
Hoặc Hà Đồ sai, Hà đồ đúng để hợp với Tiên Thiên phải có hai cụm số 3-8 và 4-9 đổi cho nhau.
Hoặc Hà Đồ đúng nhưng chúng dùng để mã hoá đồ hình khác.
Lý luận nào cũng chỉ ra Hà Đồ theo sách chữ Hán không ăn nhập gì với Tiên Thiên Bát Quái cả. Đến bây giờ, chúng tôi thiên về kết luận hai. Hà Đồ dùng để mã hoá một đồ hình khác quan trọng hơn.
Từ đây, lại sản sinh thêm một nghi án: Vậy đồ hình số nào để biểu thị cho Tứ Tượng, cho Tiên Thiên? Sử sách Trung Hoa không có đồ hình này. Theo lý luận logic , chúng ta cũng dễ thấy từ Thái Cực Đồ có thể vẽ ra Tiên Thiên Bát Quái. Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể thấy độ phức tạp của Thái Cực Đồ đối với Tiên Thiên: Tiên Thiên là Bát Quái được dựng từ những quái sắp xếp theo cách chồng các vạch Âm Dương lên nhau.
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/Chuong5-STienThien.jpg
Tại sao lại sắp xếp như vậy? Tại sao không dùng cách đơn giản nhất là CànĐoàiLyChấnTốnKhảmCấnKhôn thứ tự ngược chiều kim đồng hồ mà phải là hình chữ S. Dĩ nhiên, chúng ta có thể giải thích thì phải theo quy luật dương nhiều đối Âm nhiều và Dương ít đối Âm ít. Hay đơn giản hơn, chúng ta lý giải cần phải đặt các quái vào vòng tròn như thế nào đó để cho tổng các lượng số của nó bằng 7. Như vậy, từ lý luận đó ta thấy Tiên Thiên Bát Quái được xây dựng khá đơn giản theo quy luật đối xứng và sau đó theo số mà người ta lập ra đường chữ S. Từ đường chữ S này ta có thể vẽ Thái Cực Đồ như theo kiểu Trung Hoa:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/ThaicucTrungHoa.jpg
Hay theo kiểu vẽ trong dân gian Việt:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/ThaicucVietNam.jpg
Vậy Thái Cực có sau Tiên Thiên và chúng không dùng để ký hiệu Tiên Thiên. Chúng chỉ là một hệ quả của Tiên Thiên. Vậy đồ hình số nào dùng để biểu thị Tiên Thiên, Tứ Tượng. Sách Dịch Trung Hoa từ cổ chí kim không có đồ hình đó.
khonglaai
30-10-2005, 03:36 AM
3. Nghi án Thái Cực Đồ, Chữ S, chiều chuẩn cho việc khởi đầu và chiều chữ S:
Như trên đã viết, Thái Cực Đồ là hệ quả của Tiên Thiên. Nhưng chữ S chỉ là một đường cong thôi không có hai vòng tròn nào khác. Vẽ như thế nào? Tại sao người Trung Hoa phải chua thêm hai vòng tròn vào? Để hiểu thêm về nghi án Thái Cực Đồ ta nghiên cứu hình của nó. Vì Thái Cực là hình tròn nên thật công bằng khi ta chia Thái Cực bằng 4 đường thẳng như sau:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/ThaicucTrungHoapt.jpg
Chúng ta được 8 phần, và rất tự nhiên do cái quái nằm trên đỉnh của các đường thẳng (đúng hơn là đoạn thẳng) nên chúng ta cho các phần của các quái là tổng hai phần đối xứng qua trục có đỉnh đó. Ví dụ, quái nằm ở trên chứa phần 1 và 8. Quái nằm bên trái nó chứa phần 8 và 7,…Từ suy luận lượng số, chúng tôi thấy nếu dùng bát quái này thì không thế đặt các quái nằm đâu để thể hiện đúng tinh thần chiều quay Âm Dương của chữ S. Ví dụ, nếu dùng Càn là đỉnh trên cùng thì hoá ra Ly là thành phần nhiều Dương nhất. Như vậy, dùng Càn là hướng chính Trái là tốt nhất. Nếu như thế thì nó không thể hiện đúng phần chữ S và Tốn lại là phần nhiều Dương hơn cả Đoài, Ly, Chấn. Như vậy, ta thấy có ba nghi vấn:
Từ Tiên Thiên Bát Quái ta có thể dễ dàng vạch ra chữ S, nhưng tại sao phải cần chua thêm hai vòng tròn nhỏ vào. Có thể người Trung Hoa lý luận là như thế mới tỏa ra cái ý trong Âm có Dương và trong Dương có Âm. Vô lý, vậy cái thuần chủng của hai lưỡng nghi thì sao? Thuần chủng của hai lưỡng nghi là tối cần thiết vì chúng toát nên hai cực đối nhau của Thái Cực. Nếu cho rằng không có thuần chủng lưỡng nghi thì ngài Phục Hy sao không vẽ như sau: http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/Amktch.jpg Âm và http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/Duongkhtc.jpg Dương . Còn chuyện trong Âm có Dương thì là chuyện khác: có nghĩa không có gì tồn tại mà toàn Âm hay toàn Dương. Ứng Dụng vào Bát Quái: ngay cả Càn được xây dựng nên bởi ba vạch Dương cũng phải có chứa Âm. Vẽ đường chữ S không cần thêm hai vòng tròn cũng có thể biểu diễn được điều đó. Vậy phần thêm vào đã được diễn giải, thêm vào sau này.
Vẽ như trên thì Thái Cực đồ không hàm chứa tiên đề đầu tiên là lưỡng nghi. Nếu có một Thái Cực Đồ khác có hàm chứa Lưỡng Nghi thí liệu ta có thể phát hiện ra Chân Giả chăng?
Vẽ như hình trên không diễn tả được đúng thứ tự của Bát Quái.
Còn nếu vẽ đúng sao cho lượng Dương giảm từ CànàĐoàiàLyàChấn thì lại không thỏa đáng hình chữ S. Đồng thời Tốn lại có tính Dương chỉ sau Càn. Vô lý.
Vậy, ta có thể suy ra: các thánh nhân Trung Hoa đã nhìn thấy Thái Cực Đồ ở đâu đó, hoàn toàn không hiểu được phép logic lượng số trong nó cần phải ứng với Tiên Thiên (vì các thánh nhân đấy cũng đã ù ù cạc cạc cho là Tiên Thiên được vẽ từ Hà Đồ), nên đã nghĩ: “Ừ thì S nào không S. Miễn sao là S thì được. Còn muốn cho nó có vẽ uyên bác, mỹ thuật (hay nói đúng ra cho nó khác với cái đồ hình của cái bọn man di kia) ta chua thêm hai vòng tròn là xong. Như thế là mỹ mãn. Ta an lòng mặc nhiên tọa thị hưởng thành quả của người khác.”. Đây là chứng cớ một lần nữa của sự copy, change and past but not clearly understand của các thánh nhân Trung Hoa.
Ngày nay, ta thấy trong các sách vở các nhà Dịch gia phóng tác vẽ đường S khác nhau để thể hiện chiều đi của Tiên Thiên Bát Quái. Hầu hết các phóng tác đều do các tác giả tự ý thêm vào. Và có thể nói, chữ S đó chưa bao giờ được ghi nhận như một sản phẩm của Tiên Thiên. Ngoài ra, cái gì khiến người ta vẽ được chữ S vậy. Sách Dịch Trung Hoa tự dưng đưa vào các số 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 để chỉ Càn, Đoài, Ly, Chấn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn. Một lần nữa sửa đổi bản thật, hay ít ra không chú ý về hàm ý số của các quái. Vậy chữ S đó đã có ai vẽ chưa?. Không những có mà còn vẽ với những ẩn ý thâm thúy khôn lường.
Chiều chuẩn có được ghi không? Sách Trung Hoa không có thấy.
Chiều chữ S một bên đối xứng thuận chiều chuẩn và một bên đối xứng ngược chiều chuẩn cũng có ai nói đến không? Chưa thấy!!!
Tất cả các chiều này chúng tôi xin được đề cập ở chương sau.
khonglaai
30-10-2005, 03:44 AM
4. Nghi án Lạc Thư.
Khổng An Quốc viết: “Đời vua Vũ có con thần quy xuất hiện ở sông Lạc. Nhà vua nhân đó sắp xếp lại thành 9 loài, gọi là Lạc Thư.”. Trong Hệ Từ Thượng có viết: “Thị cố thiên sinh thần vật, thiên địa biến hóa, thánh nhân hiệu chi; thiên thùy tượng, hiện cát hung, thánh nhân tượng chi. Hà xuất Đồ, Lạc xuất Thư, thánh nhân tắc chi.”. Đoạn văn này có thể dịch như sau: “Trời sinh ra thần vật, thánh nhân áp dụng theo; trời đất biến hóa thánh nhân bắt chước; trới bày ra hình tượng hiện ra sự tốt xấu, thánh nhân phỏng theo ý tượng. Đồ hiện ra ở sông Hoàng Hà. Thư hiện ra ở sông Lạc, thánh nhân áp dụng theo.”.
Lại một lần nữa người Trung Hoa lại dùng chuyện thần thoại để dựng nên sự việc có thật. Không phải sự thật đơn giản mà là kinh Dịch-một triết thuyết lớn của thế giới. Chả có thần quy nào xuất hiện ở sông Lạc. Nếu nói ngài Đại Vũ đã thấy con rùa và nhờ trí thông minh của mình đã làm nên được cái Lạc Thư thì có thể có lý. Tuy nhiên, gọi cái Lạc Thư đó là thành tựu lớn của Trung Hoa thì có vẻ hơi quá. Chúng tôi cho rằng khi loài người biết đếm, rồi biết dùng hệ thập phân thì bất kỳ dân tộc nào cũng có thể vẽ ra ma phương 3x3 như Lạc Thư. Lạc Thư không hề phức tạp. Có các nhà sử học còn dũng cảm cho rằng vì Lạc Thư được phát hiện ở Trung Đông nên Lạc thư có thể được du nhập từ Trung Hoa!!! Thật quả nực cười! Mọi dân tộc trên thế giới đều có thể làm nên Lạc Thư.
Điều quan trọng ở đây là vì sao người Trung Hoa lại có nhu cầu phủ bức màn thần bí lên câu chuyện Lạc Thư?. Họ muốn che giấu sự thật gì? Sự thật gì đó có dính dáng đến việc mà người Trung Hoa khó chối cãi: trong Giao Châu Ký có viết: “dân Việt biết dùng mu rùa để đoán chuyện tương lai”. Hay có sự ngẫu nhiên một cách lạ lùng: ngài Đại Vũ bắt buộc phải làm ra Lạc Thư vì ngài sống trước ngài Chu Văn Vương. Và chờ đến khi ông Văn Vương nằm chơi xơi nước ở nhà tù Diễu lý mới có thời gian nghiên cứu Tiên Thiên và dựa vào Lạc thư sắp xếp thành Hậu Thiên!!! Thế mới lạ!
Ý đồ của người Trung Hoa thứ nhất nhằm ca ngợi những ông tổ của họ. Những ông tổ phải là người tài nhất giỏi nhất. Thứ hai, thâm độc hơn là để tất cả đều quên đi nguồn gốc những cái mu rùa, những con rùa của một dân tộc khác. Và thật ra, cái con rùa hay mu rùa vẽ chuyện tương lai mà các ông thấy được chính là vật đã được cống của dân tộc này.
Trên phương diện logic toán học, để xây dựng Bát Quái thì ý nghĩa của Lạc Thư không khác Hà Đồ. Tuy nhiên về ý nghĩa triết học thì Lạc Thư không mang hàm ý trùng quái như Hà Đồ. Cũng như không mang triết lý “trong Âm có Dương, trong Dương có Âm.”. Ngoài ra thật là lủng củng khi người ta xây dựng nên thuyết Âm Dương, Ngũ Hành hoàn chỉnh thì 1-Thủy, 2-Hỏa, 3 Mộc, 4-Kim, 5-Thổ dựa trên đồ hình Hậu Thiên (không có một sử sách nào nói độ số Ngũ Hành được xây từ Tiên Thiên); mà Hậu Thiên nếu từ Lạc Thư thì ta thấy không phù hợp (vì so với Hà Đồ nó đã đổi hai cụm 7-2 và 9-4). Vậy Lạc Thư chẳng qua là một sự trùng lặp ngẫu nhiên. Có thể xây dựng Bát quái từ đó nhưng không hàm chứa một triết lý nào của Dịch cả. Người Trung Hoa vẫn khăng khăng là từ Lạc Thư, ngài Văn Vương (hay ngài nào khác) xây nên Hậu Thiên. Có gì lạ lùng không? Có đấy. Vì Lạc Thư giống Hà Đồ thì chuyện xây bát quái từ nó hay từ Hà Đồ đều có kết quả như nhau. Mà Lạc Thư thì ai ai cũng có thể làm được, ta có thể nhập nhằng bảo Lạc Thư của ta nên chuyện xây bát quái từ Lạc Thư chứng tỏ là ta đã xây dựng một triết thuyết từ đầu đến đuôi. Còn Hà Đồ có nguồn gốc bất định, khó có thể cho là của ta được nên ta cần phải làm lu mờ giá trị của nó đi. (người Trung Hoa đâu ngờ chỉ 1000 năm sau họ đã nô dịch được hoàn toàn người Âu Lạc về văn hóa đến nỗi sỹ phu Âu-Lạc cũng tin mình học được Kinh Dịch từ Trung Quốc!!!. Tuy nhiên, họ càng không ngờ tổ tiên người Việt đã khôn khéo đưa Kinh Dịch vào dân gian, đồng thời giấu đi một số thành tựu vĩ đại nhất của mình.). Chính vì lý luận tai hại này, nên họ đã quên mất hay không chú trọng cái ẩn ý trùng quái trong Hà Đồ. Dẫn đến một hệ quả là họ đã xây dựng nên một cái Hậu Thiên sai. Chúng tôi sẽ viết về việc này ở những chương sau.
khonglaai
30-10-2005, 03:58 AM
5. Nghi án Hậu Thiên Bát Quái Văn Vương:
Ngày nay, hầu hết các nhà Dịch học (tuy có nghi vấn) đều công nhận là Hậu Thiên Bát Quái được xây dựng bởi ngài Chu Văn Vương. Tuy nhiên, như chúng tôi đã phân tích đối xứng ở các chương đầu thì Hậu Thiên Bát Quái luộm thuộm một cách kỳ lạ. Có một số lý giải bề ngoài có vẻ có lý về vấn đề này. Trong Dịch học khái quát của tác giả Trừ Mê Tín có viết nguyên tắc dựng Âm Dương như sau: “trong Hậu Thiên thì Âm Dương không cần bằng theo mọi hướng”. Thế nhưng lại trừ chiều Khảm-Ly. Với nguyên tắc đó, người ta có thể vẽ hàng loạt quái nó không cần bằng cả 4 hướng chứ đừng nói chi 3 hướng. Đã xây dựng theo nguyên tắc lộn xộn thì sao không lộn xộn cho đến cùng? Đã thế, còn thêm một số cân bằng kỳ quái: “Trong Tiên Thiên Bát Quái thì cứ hai quẻ đối nhau cộng lại bằng 9…Ở Hậu Thiên, cứ hai quẻ đối nhau ngoài trừ Ly-Khảm là trục của trời thì cộng bằng 9, đều cộng lại bằng 6 (Càn Tốn (1+5=6), Khôn Cấn=8+7=15, 1+5=6, Chấn Đoài (4+2=6)). Quả lủng củng: thứ nhất-tại sao trừ Ly-Khảm, thứ hai-đã không muốn cân bằng cho mọi hướng thì việc gì phải chú ý đến chuyện tổng các độ số bằng hay không? Thứ ba-Tại sao các độ số trong Lạc thư thì Dương lớn nhất là 9 (Lão Dương) mà 8 lại không phải là Lão Âm. Mà phải bắt buộc là 6. Thứ tư, cứ cho Lão Âm là 6 thì tại sao Hậu Thiên khác với Tiên Thiên thì Lão Dương (9) phải đối đầu với Lão Âm mà không đối luôn cho trọn vẹn: Lão Dương đối với Tiểu Âm là 2. Thứ 5, Khôn Cấn bằng 8+7=15, 1+5=6, thật chất là gì? Là 6=8+7(mod 9). Dùng mod để xây dựng thì cũng phải chỉ ra nguyên nhân khả dĩ. Có thể cho rằng, vì Lão Dương là 9 nên, số 9 là trung tâm vậy ta phải dùng hệ cửu phân. Có vẻ có lý. Nhưng cũng có thể lý luận như sau: Vì Càn là quái thuần dương tuy độ số là 1 nhưng có lượng dương là 7 nêu ta phải lấy hệ thất phân làm chuẩn. Và…ta cứ lấy nguyên anh chàng Tiên Thiên Bát Quái làm chuẩn sẽ thấy tổng các độ số nghịch chiều =9 mod 7=2=Tiểu Âm. Như vậy Hậu Thiên Bát Quái =Tiên Thiên Bát Quái đối với Tiên Thiên Bát Quái theo quy luật đối nhau triệt để Lão Dương đối Tiểu Âm!!! Thứ sáu, rõ ràng các thánh nhân Trung Hoa có ý dùng mod 9 khi xây dựng đồ hình Hậu Thiên, thế nhưng họ lại quá hồ đồ và khập khiễng khi luận bởi vì trục Khảm-Ly là trục tượng trưng cho Trời nên nó =9. Thế nhưng nếu quán chiếu theo mod cơ số 9 ta thấy, 9=0 (mod 9) thì các ngài ấy cho trục dương vĩ đại này chính là trục âm vĩ đại. Còn nếu các ngài đó lại biện hộ “ồ không, đây là 1 vì 9=1 (mod 8) hay là 9 vì 9=9(mod 10) thì quý vị độc giả thấy ngay trong một đồ hình mà các ngài đấy phải luận bằng hai mod có cơ số khác nhau!!! Điều này xin quý vị cho chúng tôi dùng hai chữ “Không lời”.
Rõ ràng lý luận này không có cơ sở vững chắc. Khó có thể tạo ra một logic toán học nào để tìm ra mối ràng buộc khắng khít giữa Lạc Thư và Hậu Thiên. Có chăng là vì tổng các số trên hàng ngang, hàng dọc và hàng chéo của Lạc Thư đều bằng nhau và bằng 15: 1+5=6, nên ngài Văn Vương mới cố tạo ra đồ hình để có tổng các độ số hai quái đối xứng bằng 6. Tuy nhiên, ngài quên dặn mọi người là cần phải quán chiếu qua hệ cửu phân. Và ngài cũng bí vì không thể nào có đồ hình như thế, nếu như không biến hóa cho “trục Khảm-Ly là trục tượng trưng cho trời nên tổng độ số phải bằng 9.”. Hóa ra, Lạc Thư có đến 8 đường cần có tổng các độ số như nhau, còn Hậu Thiên đến 4 đường cũng không có nỗi. Vậy Hậu Thiên đi từ Lạc Thư ở chỗ nào? Liệu có một logic toán học đơn giản nào khác để suy bát quái từ Lạc Thư chăng?
Khoan nói chuyện về nghi án “Khảm” và nghi án “Trùng quái”, cứ cho trục Khảm-Ly phải là trục Bắc-Nam, ta hãy xét lý luận logic nào để tạo ra bát quái từ Lạc Thư. Có ba quy ước chính:
1. Khảm-Ly nằm trục Bắc-Nam.
2. Có một logic toán học x nào đó để xây các quái còn lại. Trong trường hợp Hậu Thiên Văn Vương đó là tổng các độ số các quái đối xứng lấy mod 9 bằng 6.
3. Bát quái chia ra hai cụm tứ quái có tổng các độ số bằng nhau và bằng 18.
Với các điều kiện này thì có đến 24 bát quái thỏa mãn. Dưới đây là Văn Vương Bát Quái và các anh em của nó:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/Chuong5-Hauthienbatquaianhem1.jpg
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/Chuong5-Hauthienbatquaianhem2.jpg
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/Chuong5-Hauthienbatquaianhem3.jpg
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/Chuong5-Hauthienbatquaianhem4.jpg
Chưa có một tài liệu nào của Trung Hoa đưa ra một logic nào để chọn ra Hậu Thiên Văn Vương từ 24 bát quái này. Sự không thống nhất trong logic luận chứng tỏ cho chúng ta thấy, các thánh nhân Trung Hoa đã không có hướng đi từ cội rễ. Họ đã hoàn toàn không có một logic xây dựng Kinh Dịch chặt chẽ thống nhất từ khi vạch ra hai vạch Âm và Dương.
khonglaai
30-10-2005, 04:01 AM
6. Nghi án trùng quái.
Nhiều cổ sử Trung Hoa, đặc biệt là Tư Mã Thiên sử ký cho rằng chính ông Chu Văn Vương trùng quái. Điều quan trọng để ta suy ra từ thông tin này là, thời nhà Chu đã có biến cố quan trọng cho Kinh Dịch (có thể đó là một sứ thần nào đó đã dâng lên nhà Chu một đồ hình nào đó. Đồ hình đó vẽ bằng những ngôn ngữ ngoằn nghèo khó hiểu nên các học giả thời Chu không thể luận được là cái gì. Tuy nhiên những cái luận được của họ là có một bát quái nào đó có dính dáng đến trùng quái.). Và việc trùng quái có liên quan mật thiết đến Bát quái Hậu Thiên. Chưa có sử sách nào viết về mối liên hệ này. Chính vì không hiểu mối liên hệ mật thiết này nên người Trung Hoa tuy tin chính Văn Vương trùng quái nhưng vẫn có người bán tín bán nghi cho rằng chính ông Phục Hy trùng quái khi tìm ra Tiên Thiên.
Cứ cho rằng có ông X nào đó làm ra Tiên Thiên (bắt buộc phải có trước Hậu Thiên). Sau đó ông ta trùng quái theo kiểu Tiên Thiên. Và rất tự nhiên khi ta cho rằng ông ta đã thử đặt kết quả trùng quái vào một vòng tròn theo thứ tự và tổng hai quái đối xứng bằng 63. Ông ta nhận được cái gì??? Không nhận được cái gì cả!!! Ngoài đồ hình Tiên Thiên cũ nhưng với quy mô to hơn và độ số lớn hơn mà thôi. Đến đây, chúng ta thiên về giả thiết nào: 1. Ông vứt ngay đồ hình cồng kềnh này vào sọt rác vì chính tay ông đã xây dựng được đồ hình giống thế mà lại gọn ghẽ hơn. 2. Hay là ông ta giữ cho hậu thế xem thấy ông ta đã làm ra hai đồ hình bát quái giống nhau như thế nào?.
Ý nghĩa của trùng quái có được khi có bát quái Hậu Thiên! Có cổ sử Trung Hoa nào chứng minh được mối quan hệ này chưa??? Hoàn toàn không có.
khonglaai
30-10-2005, 04:21 AM
6. Nghi án trùng quái.
Nhiều cổ sử Trung Hoa, đặc biệt là Tư Mã Thiên sử ký cho rằng chính ông Chu Văn Vương trùng quái. Điều quan trọng để ta suy ra từ thông tin này là, thời nhà Chu đã có biến cố quan trọng cho Kinh Dịch (có thể đó là một sứ thần nào đó đã dâng lên nhà Chu một đồ hình nào đó. Đồ hình đó vẽ bằng những ngôn ngữ ngoằn nghèo khó hiểu nên các học giả thời Chu không thể luận được là cái gì. Tuy nhiên những cái luận được của họ là có một bát quái nào đó có dính dáng đến trùng quái.). Và việc trùng quái có liên quan mật thiết đến Bát quái Hậu Thiên. Chưa có sử sách nào viết về mối liên hệ này. Chính vì không hiểu mối liên hệ mật thiết này nên người Trung Hoa tuy tin chính Văn Vương trùng quái nhưng vẫn có người bán tín bán nghi cho rằng chính ông Phục Hy trùng quái khi tìm ra Tiên Thiên.
Cứ cho rằng có ông X nào đó làm ra Tiên Thiên (bắt buộc phải có trước Hậu Thiên). Sau đó ông ta trùng quái theo kiểu Tiên Thiên. Và rất tự nhiên khi ta cho rằng ông ta đã thử đặt kết quả trùng quái vào một vòng tròn theo thứ tự và tổng hai quái đối xứng bằng 63. Ông ta nhận được cái gì??? Không nhận được cái gì cả!!! Ngoài đồ hình Tiên Thiên cũ nhưng với quy mô to hơn và độ số lớn hơn mà thôi. Đến đây, chúng ta thiên về giả thiết nào: 1. Ông vứt ngay đồ hình cồng kềnh này vào sọt rác vì chính tay ông đã xây dựng được đồ hình giống thế mà lại gọn ghẽ hơn. 2. Hay là ông ta giữ cho hậu thế xem thấy ông ta đã làm ra hai đồ hình bát quái giống nhau như thế nào?.
Ý nghĩa của trùng quái có được khi có bát quái Hậu Thiên! Có cổ sử Trung Hoa nào chứng minh được mối quan hệ này chưa??? Hoàn toàn không có.
7. Nghi án đường chia hai nghi của bát quái Hậu Thiên.
Ngày nay, tất cả các Dịch gia đều cho rằng Hậu Thiên được phân ra làm hai nghi: nghi Dương Càn, Khảm, Cấn, Chấn còn nghi Âm Đoài, Khôn, Ly, Tốn. Đó là về sau này người ta mới luận được như thế. Nhưng ngày xưa sử sách nào của Trung Hoa có ghi đường chia hai nghi này không? Ngoài ra tổng các độ số trong các nghi đầu bằng 18. Lại có một nghi án nữa, dân tộc Trung Hoa có yêu chuộng con số 18 không?!
Sự thiết lập nên bảng số các trùng quái một cách lộn xộn, tùy tiện cho chúng ta thấy, tuy chia ra hai nghi như vậy như sự chia này chả đóng vài trò gì lớn cho việc đánh số các trùng quái. Bởi vậy vẽ đường phân hai nghi này quả là việc xa xỉ!!!
8. Nghi án Khảm bắt đầu.
Cũng có câu hỏi, tại sao sắc dân du mục Mông cổ lại yêu chuộng nước đến vậy? Liệu có đồ hình nào của Trung Hoa được vẽ nên để mã hóa nhiều tư tưởng triết học Dịch nhưng lại tôn vinh nước một cách đặt biệt không? Chắc chúng ta khó tìm ra được đồ hình này trong sử sách Trung Hoa.
9. Nghi án viết quái từ trong ra.
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong4-4-HauthienbatquaiVV.jpg
Hiện nay, người ta hay viết các quái từ trong ra như hình trên, không vẽ như sau:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/Chuong5-Hauthienbatquaivietngang.jpg
Thật ra theo chúng tôi, nếu vẽ như hình sau thì dễ nhận ra các quái hơn. Thế nhưng, cần phải vẽ như hình trên. Tại sao? Kinh Dịch Trung Hoa có giải thích điều này không? Còn nếu có một đồ hình khác có cách vẽ này trên các di vật của họ với những lý giải rõ ràng thì chúng ta có thể phân biệt được Chân Giả chăng?
Đến đây, tôi xin kết thúc phần nghi án. Mặc dù có những nghi án nhỏ nhặt và tủn mủn, nhưng không có gì xây dựng nên bức tranh sự thật hoàn chỉnh như những nghi án này. Bởi vì, điều này chứng minh được một sự thật rất quan trọng: Người Trung Hoa đã được cống, dâng hay trong quá trình xâm lược họ đã chiếm được những đồ hình quan trọng của triết thuyết Dịch. Đầu tiên họ không hiểu nó được dùng để làm gì, nhưng về sau một số học giả Trung hoa hiểu ra (đồng thời cũng do các học giả dân tộc bị xâm chiếm khác đã chỉ bảo một phần) ý nghĩa của các đồ hình thì một vài đồ hình đã mất (hoặc đơn giản hơn họ chỉ có trong tay cái mã số học của nó). Từ những đồ hình mã hóa vì không biết logic hình thành triết thuyết Dịch từ cội rễ, người Trung Hoa đã dựng nên đồ hình Hậu Thiên sai. Chính vì người Trung Hoa chỉ có những đồ hình mã hóa cành lá xum xuê của Dịch nên khi luận ra một số phần họ chỉ nhận được cành lá đó hoặc một phần của nó (tuy có lệch lạc một ít) nên họ không thể nào có cái cội rễ của cây được.
Phần sau, chúng tôi sẽ chứng minh hoàn toàn các nghi án này. Trong việc giải các nghi án này, xin nghiêng mình dưới các Dịch gia tiền bối, tuy bị bắt giữ vẫn không chỉ cho người Trung Hoa thấy họ sai chỗ nào. Đồng thời cũng cảm ơn các vị đã cố công cất giấu những bí mật kỳ vĩ của dân tộc Việt.
khonglaai
30-10-2005, 09:17 PM
Chương 6.
Bí mật kỳ vĩ của các cổ vật, đặc biệt của trống đồng Việt Nam. Tiên Thiên.
Điểm qua các tài liệu từ trước đến nay của các tác giả Việt Nam về nguồn gốc Kinh Dịch. Trong bài viết của Linh Mục Triết gia Kim Định (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/kimdinh4/gocre15.htm), ông cho rằng trên hình trống đồng có biểu thị Tứ Tượng và gợi ý cho ta thấy lịch âm của Việt Nam: 14 cánh của mặt trời bên trong chính là hai tuần trăng. Con số 18 cũng được ông Kim Định đưa ra tuy nhiên chưa giải thích thỏa đáng vì sao người Việt ta lại thích số 18 đến thế:
18 ngàn năm Bàn Cổ.
18 đời Hùng Vương.
18 thước cao của ngựa Thánh Gióng v.v...
Một ý trong bài viết của ông cũng rất đáng chú ý:
Ðình là cái nhà có ba tầng kiểu nhà sàn: nóc có chim đậu chỉ trời, người ở sàn giữa, bên dưới là đất. Trong đình cũng thi hành 3 tầng như vậy tức gồm cả tế tự cho trời, hành chánh chia ruộng đất, còn người thì vui sống đình đám chơi xuân. Nơi các văn minh khác thì phải có ba nhà:
"Một nhà để cầu kinh.
Một nhà để làm tình.
Một nhà để hành chánh".
Nhưng bài viết của ông khá sơ sài và chưa chuyển tải hầu hết các nghi án Kinh Dịch. Những ý ở dưới và cách thức ba nhà cũng rất hay nhưng chưa thấy sự liên hệ của nó với Kinh Dịch.
Trong bài “Việt Nam, trung tâm nông nghiệp lúa nước và công nghiệp đá xưa nhất thế giới” bác sỹ tiến sỹ Nguyễn Thị Thanh có dẫn những chứng tích biết đoán tương lai bằng mu rùa của người Việt Nam cổ cũng như đề cập về linh vật tổ của người Trung Hoa và người Việt Nam:
Tuy người Tàu vẫn biết tổ tiên của người Hán có nguồn gốc Mông-Cổ, có con vật tổ là cọp trắng, với nhà truyền thống cổ là nhà gốc du mục hình tròn. (Xem Les premières civilisations LA CHINE ANCIENNE, trang 28-29, của ông William Watson xuất bản năm 1969 tại Grande Bretagne). (Xem hình 3 của Bs Thanh vẽ lại dựa theo hình nhà khảo cổ của ông William Watson). Trong lúc đó nhà cổ của Bách-Việt là nhà sàn hình chữ nhật làm bằng tranh và tre cong cho chắc chắn, dần dà sinh ra mái cong. (Xem hình 4 của Bs Nguyễn Thị Thanh vẽ, phỏng theo loại nhà minh khí {nhà chôn theo người chết} bằng đất nung thời Hùng-Vương tìm thấy trong văn hóa Ðông-Sơn 2.000 ans tr T-C).
Ngày nay thế giới và cả người Việt-Nam cũng đều lầm tưởng rằng rồng (chỉ là hiện thân của con cá sấu) và chim phụng hoàng (chim trĩ) vật tổ của Trung-Hoa, và mái nhà cong là văn hóa cổ truyền của họ luôn. Ngày nay nhờ khảo cổ học mới có thế chứng minh được sự thật.
Trong báo Thanh Niên Điện Tử (http://www.thanhnien.com.vn/Khoahoc/2005/4/4/80330.tno), tác giả Nguyễn Thiếu Dũng đã đưa ra khá nhiều chứng cứ Kinh Dịch được tổ tiên Việt Nam sáng tạo nên. Ông cũng khẳng định có chứng lý về trùng quái:
Tại di chỉ xóm Rền, thuộc nền Văn hoá khảo cổ Phùng Nguyên, các nhà khảo cổ đã đào được một chiếc nồi bằng đất nung (11, tr 642) trên có trang trí bốn băng hoa văn, mỗi băng nầy tương đương với một hào trong quẻ Dịch, theo phép đọc Hổ thể thì đây chính là hình khắc của quẻ Lôi Thuỷ Giải. Đây có thể xem là chứng tích xưa nhất trên toàn thế giới hiện chúng ta đang có được về Kinh Dịch. Chiếc nồi báu vật vô giá này mang trên mình nó lời cầu nguyện của tổ tiên chúng ta về cảnh mưa thuận gió hòa, mong sao được sống một đời an bình không có họa thuỷ tai. Lôi Thuỷ Giải là mong được giải nạn nước quá tràn ngập (lũ lụt), hay nước quá khô cạn (hạn hán). Niên đại của Văn hoá Phùng Nguyên được Hà Văn Tấn xác định: ”Phùng Nguyên và Xóm Rền đều là các di chỉ thuộc giai đoạn giữa của văn hoá Phùng Nguyên.
Đồng thời cũng khẳng định tìm thấy Trung Thiên Bát Quái được chứa đựng trong truyền thuyết và trống đồng. Tuy nhiên, chứng cứ vật thể của Bát Quái này, tác giả vẫn chưa đưa ra được.
Đáng để ý hơn cả là công trình của ông Đoàn Nam Sinh có phân tích được ẩn giấu Hà Đồ trong trống đồng Ngọc Lũ được đăng một phần trong tuvilyso.com (diễn đàn Văn Hiến Lạc Việt). Ở chính diễn đàn này cũng đề cập đến sách của ông Bùi Huy Hồng có phát hiện đồ hình trên trống đồng Ngọc Lũ vào năm 1972. Chúng tôi không có các tác phẩm này nên xin phép không bình luận.
Tất cả các dẫn chứng dưới đây chúng tôi xin khẳng định trống đồng Việt Nam là các bản văn chứa đựng những bí mật kỳ diệu của Kinh Dịch. Chúng ta hãy cùng nhau đi đến kết luận này. Phương pháp suy luận phải tuyệt đối tuân thủ theo các nguyên tắc:
1. Nguyên tắc 1: Đặt mình vào vị trí của tổ tiên ta từ thời tiền sử.
2. Nguyên tắc 2: Theo trật tự logic. Logic suy luận đó là các mắc xích hình thành Kinh Dịch hay Diệc. Duới đây là một trật tự khả dĩ:
a. Con người cảm nhận các vật thể chung quanh: núi, sông, lá, hoa, cây cỏ.... Đặc biệt là cóc kêu kèn kẹt khi trời mưa. Sinh vật sống như: cá sấu, rùa, cò, trĩ...
b. Cảm nhận và biết đếm theo hệ thập phân.
c. Bắt đầu cảm nhận ra hệ nhị phân.
d. Biết ký hiệu hai thể của hệ nhị phân qua hình tượng sản sinh được của linh vật nào mình yêu thích.
e. Lập ra các tổ hợp của hai thể này bằng cách gộp hai hay ba lần (mỗi lần là một thể bất kỳ) của hai thể.
f. Trật tự hóa các tổ hợp này trên những hình đối xứng đơn giàn như hình tròn chẳng hạn.
g. Đến đây, ký hiệu trật tự trên bằng hình đơn giản.
h. Sau đó, thiết lập một hệ thống triết học thống nhất có ứng với các chiêm nghiệm về thiên nhiên, thời tiết, mùa màng,...
i. Bước cuối cùng là mã hóa chúng bằng số học có lồng những tư tưởng sơ khai vào đó.
Từ trật tự này, tôi xin dẫn hai ví dụ đối kháng:
1. Trên các tranh vẽ hay điêu khắc còn lại của Việt Nam(những thứ tôi có thể tìm được) không có chứa Tiên Thiên Bát Quái. Thế nhưng, Tiên Thiên Bát quái chứa gì? Chứa các quái và đường đi của nó. Ta tìm được các quái riêng lẻ được tìm thấy trong một đồ hình khác (tôi đã tìm ra) suy ra tổ tien chúng ta biết cách vẽ các quái này hay phát minh ra các quái. Còn đường đi của Tiên Thiên Bát Quái lại chứa trong tranh Đông Hồ qua hình Thái Cực Đồ(mà lại Thái Cực Đồ đúng). Và cả Tứ Tượng và Tiên Thiên lại có đồ hình số học mã hóa nó. Như vậy ta có thể suy ra, ông cha ta biết dựng Tien Thiên. Mô tả logic như sau:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/TienthienbatquaiAL.jpg
Từ đây cho chúng ta thấy tuy Tiên Thiên Bát Quái không tìm thấy, nhưng các tiền đề và hệ quả của nó được tìm thấy suy ra tổ tiên ta biết xây dựng Tiên Thiên Bát Quái từ cội rễ.
2. Ta lại xét trường hợp của Tiên Thiên Bát Quái Trung Hoa:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/TienthienbatquaiTH.jpg
Tại vì sao Thái Cực Đồ không diễn tả đúng lượng chúng tôi đã giải thích, còn vì sao nó không ứng với chất liệu thì chúng tôi giải thích trình tự trong các phần kế tiếp. Tuy hiện tại có những sách vở Trung Hoa (lâu đời) viết về Tiên Thiên, nhưng như trên đã vẽ ra cho ta thấy: cả hai phần hệ quả và nguyên nhân xây dựng nên Tiên Thiên Bát Quái rất khập khiễng nên chúng ta có thể suy luận Bát Quái Tiên Thiên trong cổ sử Trung Hoa được xây dựng không phải từ cội rễ. Các Thánh nhân Trung Hoa không có một logic nhất định để xây Tiên Thiên. Suy ra, Tiên Thiên tìm thấy được từ họ chẳng qua là quá trình họ thấy được ở đâu đó đồ hình này và vì không biết cội rễ cộng thêm ý muốn chiếm đoạt tư tưởng nên họ đã cải biên nó. Khi không hiểu cội rễ việc cải biên chắc chắn sẽ dẫn đến sai lầm tất yếu. Sai lầm quan trọng nhất ở đây là đồ hình Thái Cực. Còn bằng chứng không hiểu cội rễ sâu sắc nhất là họ không có mã số học của Tiên Thiên.
Đó là ví dụ để tìm ra câu trả lời của các nghi án. Để giải hoàn toàn các nghi án, chúng tôi đưa ra thuyết “có một Kinh Dịch khác” dựa trên các logic luận sau:
a. Hai tiên đề đầu tiên là Có và Không. Được biểu diễn qua hai thể Nọc http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/Noc.jpgvà Nòng http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/Nong.jpg. Hay biểu diễn qua hệ nhị phân là 1 và 0. Quí vị sẽ thấy làm lạ tại sao Không lại biễu diễn qua http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/Nong.jpg? Không có gì lạ ở đây cả! Vì rằng Nòng cần có dạng thể giống nọc, nhưng khi vẽ thì người ta làm sao vẽ số Không? Không thể vẽ số Không được vì rằng nếu vẽ Không có nghĩa là không vẽ gì cả. Vậy thì làm sao biết một chỗ không vẽ gì cả là số Không hay thật sự không có nhu cầu vẽ chỗ đó?. Vì thế, người ta lấy số chẵn đầu tiên biểu thị cho Nòng.
b. Các quái nhận được từ đây phải tuyệt đối tuân theo quy luật số hệ thập phân. Có nghĩa Càn gồm ba lớp Nọc thì Càn = 4+2+1=7.
c. Vũ trụ hình thành phải mang màu sắc của mẹ của nó là Thái Cực. Tức có một quy luật của Thái Cực chung cho Hậu Thiên và Tiên Thiên. Đó là quy luật F1,8 hay quy luật tổng các số (quái) đối diện bằng 7. Điều này cũng dễ hiểu, người xưa hay thờ Mặt trời và Mặt trời đại diện cho mẹ vũ trụ ở thời kỳ Hậu Thiên. Vì thế, tổng các số cần phải bằng 7 ứng với Càn. Và như chương 3 chúng tôi đã chứng minh tất cả các ưu điểm của các bát quái thuộc F1.8.
d. Hà đồ chính là mã số của Hậu Thiên. Tức Hậu Thiên Bát Quái được suy ra từ các điều kiện khác (chứ không phải từ Hà Đồ). Và sau đó, người ta số hoá Hậu Thiên bằng Hà Đồ.
Chúng tôi đã tìm được hầu hết các chứng cớ vật thể để chứng minh logic luận này đúng. Suy ra Kinh Dịch là sản phẩm trí tuệ của văn hiến Âu-Lạc
Đến đây, xin cho phép chúng tôi được phân tích từng mảng trong hệ thống Kinh Diệc của tổ tiên ta.
khonglaai
30-10-2005, 09:38 PM
1. Con cóc-linh vật, khởi điểm của Kinh Dịch.
Ta hay nghe câu trong dân gian Việt Nam: “Con cóc là cậu ông Trời” hoặc câu chuyện cóc dẫn quân lên hỏi tội Trời vì để hạn hán. Những câu chuyện này mang đậm dấu ấn triết lý sâu xa. Tại sao cóc lại là cậu chớ không phải là cha? Là mẹ? Điều này chứng tỏ Trời còn có mẹ. Mẹ Trời là ai? Thật ra, theo chúng tôi khi xây dựng nên triết thuyết vũ trụ của mình, người xưa đã hàm ý có một Mẹ vĩ đại làm nên vạn vật. Người xưa có thể gọi mẹ đó là gì không biết, có thể là Đạo, có thể là Chúa, có thể là monada hay theo ngôn ngữ Dịch đó là Thái Cực. Trời với hình tượng ta thấy hàng ngày chung quy cũng là một thể đối kháng với Đất và nó được sinh ra bởi Thái Cực. Vậy cóc là anh em với Thái Cực nên con nó mang hình tượng của Thái Cực. Thật ra, người xưa không đến mức ngờ nghệch cho rằng chính cóc là Thái Cực hay có bà con với Thái Cực (Thái Cực chỉ có một làm sao mà có anh em), nhưng họ nghĩ nó chính là bản sao của Thái Cực. Hay họ không biết Thái Cực là cái gì nhưng phiên bản của nó trên Trái đất này chính là con Cóc. Chính vì thế khi qua quan sát tự nhiên tổ tiên ta xây dựng nên hai bản thể vũ trụ là nọc và nòng.
Tại sao là Cóc? Theo tôi có ba nguyên nhân chính:
a. Quan sát tự nhiên: Khi trời chuẩn bị sắp mưa, những con cóc nhảy ra và nghiến răng kèn kẹt. Điều này cũng có thể quan sát ngay bây giờ chớ không phải chỉ lúc đó mới có. Người nhà nông, lại ở miền nhiệt đới khi hạn hán chỉ chờ đợi những cơn mưa. Cứ thấy ông Khiết nghiến răng là ông Trời phải đổ mưa. Và theo nguyên tắc thông thường “kẻ thù của kẻ thù là bạn”, thấy cóc giận dữ bảo trời đổ mưa trong lúc mình cũng đang than Trời trách Đất, người Việt cổ cảm thấy cóc như là vị cứu tinh vĩ đại để dần dần họ suy tôn nó lên thành linh vật.
b. Quan sát hình tượng: Con cóc với những vân vằn vện của nó làm người ta cảm thấy có muôn hình tinh tú in lên đó hay người ta ngỡ có những chòm sao, ví dụ như Bắc Đẩu được mang trên mình nó. Và thật đúng lý khi họ cho Cóc chính là một linh vật. Tuy nhiên, họ cũng không cần phủ lên Cóc một bức màn huyền bí như kiểu: “Một hôm, vua Thần Nông nhìn thấy Thần Cóc có những đốm và vạch nên...”. Họ không cần vì Cóc là sinh vật có thật, còn cái tiền đề khởi thủy nên Kinh Dịch (hay Diệc) cũng chính là sự phát hiện hình tượng rất giản đơn từ Cóc. Tiền đề nòng và nọc chính là con của Cóc. Cóc có thật và nòng nọc cũng có thật, không việc gì phải huyền bí nó.
c. Quan sát sinh lý: Đã có rất nhiều vật dụng đồ đồng cổ của tổ tiên ta có đúc cảnh giao hoan giữa đôi nam nữ. Bạn đọc có thể tham khảo bài viết “TÍN NGƯỠNG PHỒN THỰC NHÌN TỪ GÓC ĐỘ VĂN HÓA - LỊCH SỬ.” của Đỗ Lai Thúy để biết thêm về các tập tục thờ sinh thực của tổ tiên. Người xưa đã cho việc này là sự hài hòa của Trời đất, hợp với lẽ Trời nên người xưa hoàn toàn có khả năng hay quan sát cảnh này ở các sinh vật khác. Cóc là giống vật có khả năng giao hợp khá mạnh và lâu. Dưới đây là hình trên thạp đồng chỉ việc giao hoan nam nữ:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong6-3-ThapDaoThinh.jpg
Những chứng cứ cho ta thấy cóc là linh vật của tổ tiên ta rất nhiều:
Trống đồng Phú Phường:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong6-4-TrongPhuPhuong.jpg
Trống đồng Thôn Bùi:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong6-5-TrongThonBui.jpg
Trống đồng Thôn Mộng:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong6-6-TrongThonMong.jpg
Hình tượng ông Khiết trong tranh vẽ dân gian:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong6-7-OngKhiet.jpg
khonglaai
30-10-2005, 09:56 PM
2. Nọc và nòng. Hai nguyên tử sơ khởi xây nên vũ trụ.
Ở đây xin lưu ý nọc và nòng chỉ là hình tượng trừu tượng. Tổ tiên ta lấy hình tượng thực tế để quy ước cho hình tượng trừu tượng. Chớ hoàn toàn không phải hai con nòng và nọc làm nên toàn vũ trụ.
Như phần hai đã viết, khi đưa Cóc lên làm linh vật và cho chúng là anh em với mẹ vũ trụ, bởi vậy, con của Cóc là nòng và nọc phải là phiên bản của hai cái gì đó trừu tượng đối nghịch nhau nhưng không đối kháng, ngược lại là hai thành phần không tách rời để tạo ra Thái Cực-mẹ vũ trụ và vạn vật. Như vậy đây cũng là suy luận logic và trên cơ sở quan sát chớ hoàn toàn không có một màn huyền bí nào cả. Người xưa đã đặt luôn hai cực mâu thuẫn nhau này là nọc và nòng (chúng tôi xin tránh hai từ Âm Dương).
Sách Cương mục Tiền biên của Kim Lý Tường chép rằng: Năm Mậu Thân thứ năm đời Đường Nghiêu, Việt Thường thị sang chầu, dâng con rùa thần. Theo Thông chí của Trịnh Tiều, về đời Đào Đường, phương Nam có Việt Thường thị qua hai lần sứ dịch sang chầu, dâng con rùa thần; có lẽ nó được đến nghìn năm, mình nó hơn ba thước , trên lưng có văn khoa đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở mang trở về sau. Vua Nghiêu sai chép lấy, gọi là Quy lịch (lịch Rùa). Sách Giao Châu ngoại vực ký cho rằng, các Lạc Tướng thời Hùng Vương đã có ấn tua xanh. Có nghĩa là chắc chắn có chữ trên ấn đồng. Trong quyển “Nghiên cứu về lịch sử văn hóa dân tộc Việt Nam”, nhà nghiên cứu Trung Quốc Trần Tu Hòa có viết: “Chính sự thời Lạc Vương còn theo lối thắt nút (khoa đẩu, hay nòng nọc), như vậy vẫn còn chưa có văn tự. Nhưng đã có ấn đồng tua xanh thí ắt phải có văn tự.”. Tuy nhiên, ông Trần Tu Hòa cũng quên lý luận thêm: chính lối thắt nút là ngữ văn của người Việt xưa. Chữ thắt nút chính là chữ nòng nọc kết hợp với những chiêm nghiệm các chùm sao quan trong, sau đấy, theo tôi có hai quá trình ngược nhau: đó là quá trình tách từ cụm sao ra các cụm riêng lẻ và biểu thị cho những chữ tiếp theo, quá trình ngược lại là tổ hợp các cụm sao sẽ được biểu diễn cho tính chất trung dung (hay tính chất tổng) của các thành tố lập nên tổ hợp. Từ lý luận này, chúng ta có thể suy diễn người Việt chúng ta đã sáng tạo ra ngay từ đầu chữ cái. Chứ không phải là từng cụm chữ tượng hình. Trên mình ông Khiết có 7 u nhô lên (sao Bắc Đẩu) và chữ đó theo tôi được ký hiệu cho Càn hay là Trời. Vậy khoa đẩu văn chính là tổ hợp các cụm chẵn lẻ của các nút và đặc biệt hai ký tự đầu tiên nhất là nọc và nòng.
Chúng ta có thể tìm thấy vô vàn những chứng cứ nòng và nọc được thể hiện trong các di vật cổ:
Bồ nông cái và bồ nông đực:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong6-8-BoNong.jpg
Chim Trĩ hay Phượng Hoàng(có thể là Diệc) trong trống Ngọc Lũ:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong6-9-ChimTri.jpg
Người thể nọc và thể nòng trong trống Miếu Môn:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong6-10-Nguoi.jpg
Qua phần 1 và phần 2, ta thấy logic hình thành nên hai bản thể của vũ trụ hoàn toàn không mang bức màn huyền bí: Quan sát thấy cóc nghiến răng kèn kẹt là Trời đổ mưa, nên cóc là đại diện của Mẹ vũ trụ (Thái Cực) dưới trái đất và con của Cóc-nòng và nọc là hai bản thể mâu thuẫn nhưng không đối kháng, có thể nói hai bản thể ngược chiều nhau nhưng cùng tạo nên Thái Cực.
khonglaai
30-10-2005, 10:20 PM
3. Lẻ là nọc và chẵn là nòng. Và số Không.
Thật ra cũng không có gì khó hiểu cả. Người xưa đã cho rằng bản thể của những gì tồn tại trên Trái Đất này phải có tính hoặc nọc hay nòng. Những con số cũng không ngoại lệ. Có logic nào phân các số ra thành nọc và nòng không. Logic rất đơn giản: cắt chúng ra thành các phần nhỏ theo từng hai vòng tròn một (nòng), đến lúc không thể chia được nữa thì hình cuối cùng nhận được sẽ là bản thể của số. Nếu nhận được một vòng tròn thì số đó thuộc nọc. Nếu hai số đó thuộc nòng. Đây chính là phương pháp đơn giản nhất hay nói đúng hơn đó là phương pháp tiếp cận bậc 1 chưa qua bắc cầu nào. Còn trong truyền thuyết long mã thì sao? Tại sao từ các vòng tròn mà ra thành vạch rời vạch đứt? Muốn đạt được suy luận đến đây thì phải qua tiếp cận bậc hai: có nghĩa biến vòng tròn thành đọan thẳng và biến cụm hai vòng tròn bằng hai đoạn thẳng còn vạch nối ở giữa bỏ đi. Vậy tiếp cận nào gần Hà đồ hơn?
Số trong di vật cổ chúng ta cũng rất nhiều:
5 và 7:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong6-10-So1.jpg
4, 6, 7, 8:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong6-10-So2.jpg
8, 9 trong trống đồng Làng Vạc:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong6-10-So3.jpg
15, 18:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong6-10-So4.jpg
Nói chung tất cả các con số đều được rải rác biểu thị trên mặt trống đồng. Chúng tôi không có điều kiện nghiên cứu từng ý nghĩa của các con số nên xin không đề cập. Mặc dù biết rằng tất cả các hình vẽ đó có những ý nghĩa nhất định, nhưng nếu không biết vị trí phân bố của chúng như thế nào thì không thể biết người ta vẽ nên chúng để diễn tả cái gì.
Có thể nói, trên trống đồng đã khắc họa số không. Số không cũng rất đơn giản. Tức là ngay tại một vùng nào đó cũng cùng hình tượng như thế mà lúc nó được vẽ hai, ba hoặc một vòng tròn, có lúc không vẽ gì cả. Vậy, ít ra ta suy luận vùng đó có thể biểu tượng một thành phần nào đó của Dịch và không vẽ nhưng nó cũng có tính nòng nọc. Vậy không là nòng hay nọc?. Là nòng! Vì sao? Vì rằng bằng logic chia như vậy, ta sẽ thấy khi chẵn thì phần cuối cùng là con nòng nhưng lại gạt tiếp con nòng đó qua một bên, ta lại tiếp tục nhận Không (Không còn gì để chia 2 vòng tròn một). Như vậy, thể không thuộc chẵn hay thuộc nòng. Có thể nói, cha ông ta đã phát minh ra số không qua việc nghiên cứu Kinh Dịch(hay Diệc). Chứng tích của không rất nhiều:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong6-10-Sokhong1.jpg
Trong hình Miếu Môn trên ta thấy trong mỗi cụm người có ba thành phần chứa số rõ ràng: Phần 1 ở trên là phần chim. Phần hai là phần người cộng hoa văn, phần ba là phần vũ khí. Ta thấy, có một sự phân bố khác biệt rõ ràng giữa các cụm người. Như vậy, cụm người không có chim cũng phải diễn tả một thể nào đó để toát lên tính cân bằng ba phần trong một cụm. Cụm người cũng vậy. Chứng tỏ, ở những chỗ đó người xưa ký hiệu số không thuộc nòng.
Hoặc như những hình vẽ người dưới đây:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong6-10-Sokhong2.jpg
Hình vẽ trên trống đồng Ngọc Lũ phần tang trống cũng chỉ cho ta thấy số Không:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong6-10-Sokhong3.jpg
Hoặc như hai hình dưới đây được khắc trong trống Hoàng Hạ:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong6-10-Sokhong5.jpg
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong6-10-Sokhong4.jpg
Như vậy, ta có thể thấy các số xuất hiện trong các trống đồng một cách thường xuyên và lại luôn luôn có sự hiện diện của nòng và nọc trong đó. Điều này, ít ra cũng chứng minh một điều tất cả các con số phải có dính dáng đến nòng với nọc. Khi rút ra được điều đó việc chúng ta phải giải mã chẵn thuộc gì, lẻ thuộc gì? Theo logic chia số ra từng cặp một, để phân biệt nòng nọc ta có thể giải mã chẵn thuộc nòng và lẻ thuộc nọc.
khonglaai
30-10-2005, 10:31 PM
4. Sự kết hợp hai hay ba lần của các thể tạo nên tổ hợp Tứ Tượng, Bát Quái.
Khi gọi tên được hai bản thể của vũ trụ là nọc và nòng, đồng thời cũng đã phân tính nòng nọc của các con số, người xưa đơn giản thử kết hợp chúng với nhau tạo thành các thành tố có hai bản thể. Do tính nòng nọc không chỉ dừng lại ở nọc http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/Noc.jpgvà nòng http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/Nong.jpg nguyên thủy mà còn vô số các con số chẵn lẻ khác nhau, nên sự tạo ra các tổ hợp cũng vô cùng phong phú và tùy vào sở thích của các nghệ nhân làm ra chúng. Có hai đồ hình khác nhau khá thú vị chứng tỏ sự kết hợp các thể hai lần và ba lần. Tuy nhiên chúng tôi xin khẳng định có rất nhiều kiểu kết hợp, nhưng hai đồ hình kết hợp này lại giống nhau đến không ngờ:
Trong trống đồng Ngọc Lũ có những họa đồ sau (đây chỉ là số hình chúng tôi có thể sưu tầm được):
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong6-11-Xepcaclop1.jpg
Ta có thể ghi nhận vài điểm như sau:
a. Các số có từ 0 cho đến 4.
b. Mỗi người có hai cụm: cụm bản thân người và lông chim trang trí và cụm vũ khí.
c. Mặt người quay từ trái sang phải.
Xây dựng lại Tứ Tượng từ các điểm này: Mặt người tiến từ trái sang phải nên thể nằm dưới là cụm người, thể trên là cụm vũ khí. Chẵn thay bằng nòng và lẻ thay bằng nọc. Từ cách này chúng ta nhận được tất cả tổ hợp chồng hai lần có thể nhận được.
Nếu như, chúng ta dựa vào lý luận sau:
a. Chia các người thành ba cụm: cụm 1: người, cụm 2: lông chim trang trí cho người, cụm 3: vũ khí.
b. Sắp xếp theo thứ tự vạch thể của lông chim trước, sau đó đến người, và tiếp đến là vũ khí từ dưới lên.
, ta sẽ nhận được hầu hết các quái trong bát quái (trừ quái Càn).
Thế nhưng, lý luận sau đây có vẻ hấp dẫn nhất và gọn gàng nhất. Mỗi người là một số. Như vậy ta có thể thấy, bốn cặp người đầu tiên thể hiện đúng chính xác Tứ Tượng. Theo thứ tự từ trên xuống dưới, từ trái qua phải ta có các cặp số sau: 1-6, 1-1, 4-1, 4-2. Ghi lại bằng ngôn ngữ nòng nọc, ta được: nọc-nòng, nọc-nọc, nòng-nọc, nòng-nòng.
So sánh giữa hai cách này chúng tôi thiên về cách lý luận thứ ba. Nhưng lý luận hai cũng không phải không đẹp. Lý luận hai cho ta những trùng quái, các quẻ để dự đoán tương lai. Thật ra, khi chúng ta chưa biết các họa đồ trên được phân bố thế nào trên tang trống chúng ta không thể nào luận được nó biễu diễn cho cái gì. Đôi khi, tổ tiên ta cũng cùng một họa đồ đó, nhưng lại lồng cả ba logic tính để diễn tả một thông điệp nào đó tùy vào cách sắp xếp của từng họa đồ. Chúng tôi cũng đã chứng kiến và giải mã những họa đồ chứa đựng một lúc nhiều tư tưởng Dịch khác nhau của người xưa. Nếu như bốn họa đồ trên được vẽ đối xứng nhau và theo thứ tự của Tứ Tượng như sau: nọc-nọc, nọc-nòng, nòng nòng, nòng-nọc ngược chiều kim đồng hồ thì chúng ta có cơ sở để cho đó chính để biểu diễn cho Tứ Tượng. Ngoài ra, tang trống được vẽ bằng các họa đồ giống nhau về chi tiết vẽ, nhưng khác nhau về tầng vẽ và hoa văn bên ngoài cũng cho ta cơ sở lý luận theo từng logic tính miễn làm sao hợp (hoàn toàn) với tổng quan triết lý. Theo ông Kim Định trong quyển “Gốc rễ triết Việt”:
Người có cánh đại diện cho Mẹ Tiên biểu diễn trên mặt trống. Còn số vòng ngoài đại diện cho Rồng Cha thì vận hành ở tang trống. Cả hai hợp nhau để nói lên nền Minh Triết uyên nguyên vì hội nhập được cả đất trời. Trời nét dọc là tang trống, nét ngang là mặt trống: cả hai làm nên một thực thể quen thuộc được gọi là nhạc khí vũ trụ, hay vũ trụ hòa âm để tấu lên bài ca du dương diễm phúc. Vũ trụ nói lên kích thước bao la là trời với đất, cả hai hòa hợp để diễn tả cuộc hòa âm của mình cùng với con người. Cuộc hòa âm này chiếu giải lên toàn thân trống tả lại một xã hội hạnh phúc tưng bừng đang ca vũ múa nhảy như động trời khói đất trong một party lớn lao bao gồm cả trời (mặt trời) cả đất (thuyền rồng và các con vật) cả Người ở giữa mà linh lực được giồn vào 14 cây sào cương cứng làm toàn bằng linh lực tinh tuyền, không còn gì là tay, chân, mình mẩy nữa. Ðó là cực độ hạnh phúc gọi là diễm phúc.
Như vậy, chúng ta còn dựa trên quy luật của hính vẽ tang trống và mặt trống nữa. Theo chúng tôi, lý luận tang trống thuộc trời hay thuộc về Tiên Thiên và mặt trống thuộc về Đất hay thuộc về Hậu Thiên cũng đáng chú ý. Tuy nhiên, cần lưu ý một điều, mặt trống là linh hồn của trống nên nó cũng có thể chuyển tải thông tin của cả Tiên Thiên và Hậu Thiên.
Với vẻ đẹp huyền bí của các họa đồ trên, trong trống Miếu Môn lại bước thêm bước mới: đó là thêm một lớp biễu diễn nữa-các con chim. Điều này, với suy luận logic tổng quát có thể dẫn chúng ta đến kết luận: ở trống đống Ngọc Lũ mỗi người có hai lớp và trống đồng Miếu Môn có ba lớp. Thế nhưng, cũng đừng quên chúng ta đã có các trống đồng vào các niên đại khác nhau và do các nghệ nhân khác nhau vẽ đồng thời mã hóa một thông điệp nào đó. Vậy khung cảnh, hoa văn có thể giống nhau nhưng tư tưởng mã hóa lại khác nhau. Điều đó còn chứng tỏ, người Việt cổ đã hiểu Kinh Dịch(Diệc) đến tường tận, có thể nói đến chân răng kẽ tóc nên các nghệ nhân tha hồ phóng tác để mã hóa và với bất kỳ đồ hình nào họ cũng có thể liếc qua là hiểu được đồ hình đó chuyển tải thông điệp gì.
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong6-11-Xepcaclop2.jpgTrong đồ hình, chúng tôi xây dựng các quái theo quy luật người-dưới, vũ khí-giữa và chim-trên, các trùng quái là lấy quái sau chồng lên quái trước. Tuy nhiên, quy luật dựng quái có thể ngược lại cho ra các quái xoay ngược 180 độ so với kết quả trên. Ví dụ nòngnọcnọc thành nọcnọcnòng.
Ở đây vì chúng tôi không có điều kiện soi xét kỹ từng trống một, nên cũng không có ý rút ra một kết quả triết học nào đó. Chúng tôi chỉ muốn chứng minh hai điều sau đây:
a. Các con số đã được nòng nọc hóa và chúng được dùng tùy hứng (ở nghĩa số lượng chứ không có nghĩa có thể đổi ngôi chẵn lẻ) để biểu thị nòng hay nọc trong các tượng hình hai lớp và ba lớp.
b. Dù luận theo góc độ nào, chúng ta cũng thấy người Việt cổ đã biết thử kết hợp các thể nòng nọc để đưa ra các tượng hai, ba lớp khác nhau. Điều đó tất yếu dẫn đến họ đã biết Tứ Tượng, Bát Quái và Trùng quái.
khonglaai
30-10-2005, 10:58 PM
5. Chiều chuẩn của sự vận động.
Vạn vật đều chuyển động. Thật ra cũng không cần phải thông thái lắm mới hiểu điều đó. Các triết gia Hy lạp thời cổ đại đã có nhiều ghi nhận và chiêm nghiệm về sự vận động của Mặt Trời, Mặt Trăng và các vì tinh tú khác. Thiên Chúa giáo một thời vin vào thuyết của Aristotle cho rằng Trái Đất là trung tâm của vũ trũ nên đã bắt các thần dân của mình tin là Trái Đất đứng yên. Quả là oan khiên cho triết gia vĩ đại Aristotle. Ông gọi Trái đất là trung tâm u tối của vũ trụ. Còn một trung tâm hoàn hảo nữa của vũ trụ. Nó hoàn toàn tinh khiết chuyển động mạnh. Sự hình thành thuyết hai trung tâm vũ trụ đã chứng tỏ Aristotle đã vô hình chung cho rằng vạn vật đều chuyển động tương đối với nhau.
Người Việt Nam xưa cũng có những chiêm nghiệm chiêm tinh quý báu. Đầu tiên, họ quan sát sự chuyển động Mặt Trời, Mặt trăng và cuối cùng là sự vận động các vì sao. Do Mặt trời chuyển động tương đối với Trái đất từ Đông sang Tây và do nhận thấy Bắc Đẩu (Sao Bắc Đẩu là chòm sao được người Việt cổ vẽ trên hình ông Khiết cũng như vẽ trên trống đồng) luôn luôn nằm phương Bắc nên người ta cảm nhận Mặt Trời chuyển đồng theo chiều được mô tả như chiều bay các con chim Phượng Hoàng(có thể đấy là một dạng chim Diệc) trong trống đồng.
Trống đồng Hoàng Hạ cũng như các trống đồng khác chỉ chiều vận động:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong6-12-chieuchuan.jpg
Vậy chiều quay được chiêm nghiệm từ thực tế chứ không phải là truyền thuyết gì cả. Hay nói đúng hơn một phần nhỏ của Kinh Dịch là chiều quay chuẩn được suy luận một cách logic và hợp tự nhiên.
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong6-12-chiemnghiemthienvan.jpg
khonglaai
31-10-2005, 04:46 PM
6. Tứ Tượng. Đồ hình 3-3----4-4. Mã hóa Tiên Thiên.
Phần 4 chúng tôi đã giới thiệu những cách mà người xưa dùng để diễn tả Tứ Tượng. Tuy nhiên, vì thiếu các vị trí đối xứng của các họa đồ nên chúng tôi không thể cho người xưa vẽ đúng vòng quay của Tứ Tượng như bây giờ không. Chúng ta ít nhất qua đó nhận được một hệ luận “người Việt cổ có sáng tạo nên Tứ Tượng bằng nhiều cách khác nhau.”. Vậy chúng ta còn phải chứng minh, người Việt cổ đã biết sắp xếp Tứ Tượng như bây giờ. Không những thế trên các trống đồng người ta còn biết diễn tả Tứ Tượng một cách chính xác, đồng thời cũng dùng nó để mã hóa Tiên Thiên Bát Quái. Đó là đồ hình 3-3----4-4. Chúng tôi muốn viết về đồ hình mã hóa này sau cùng cùng với Hà Đồ, nhưng xét thấy mức độ phức tạp của nó chỉ bằng mức độ dựng nên Tứ Tượng, Tiên Thiên nên chúng tôi trình bày ở đây để theo đúng mạch phức tạp của Kinh Dịch. Chúng tôi muốn theo đúng quy trình mà người xưa xây dựng nên Kinh Dịch (hay Diệc).
Có các trống đồng biểu diễn sự đối nhau của 6 và 7 như sau:
Ngọc Lũ:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong6-13-TutuongNgocLu.jpg
Sông Đà:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong6-13-TutuongSongDa.jpg
Tuy nhiên ở nhiều nơi khác lại có sư đối nhau 6-8 hay 3-3----4-4. Cũng trong Ngọc Lũ, vòng khác phía 6 người có 8 con chim giống nhau và phía 7 lại có 6 chim giống như thế. Liệu có phải vô tình mà những cư dân đã biết khắc những hình đẹp có tính đối xứng cao như Trống Phú Phường và Phương Từ dưới đây, lại ngờ nghệch làm mất cân xứng đến thế.
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong6-13-TutuongPhuongTu.jpg
Hay ngay trong trống đồng Khai Hóa thì quả không thể chịu nỗi tính vô nguyên tắc của các cư dân Việt cổ này. Lạ thật, mỗi bên cũng có 8 anh chàng cầm cung. Nhưng chỉ có một bên , mỗi phần có một anh chàng trang phục hoa văn khác lạ so với các anh chàng khác. Ngẫu nhiên chăng? Hay người xưa muốn đưa một thông điệp gì vào đó.
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong6-13-TutuongKhaiHoa.jpg
Cũng trong Sông Đà ta cũng nhận được hiện tượng chia 3-3---4-4. Hai bên hai cái đình là nhóm người hoàn toàn giống nhau và chia ra theo cách 3-3---4-4.
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong6-13-TutuongSongDa2.jpg
Rồi Lũng Cú cũng vậy:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong6-13-TutuongLungCu.jpg
Đặc biệt trống đồng Đặc Giáo tuy đơn giản nhưng hàm chứa những ý nghĩa Dịch lớn lao:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong6-13-TutuongDacGiao1.jpg
Trống Khai Hóa và trống Đặc Giáo mang tính đối xứng khá cao cho nhóm người và nhóm vòng tròn. Tuy nhiên, tại sao người xưa có thể sai lầm đến mức khoác một trang sức khác lạ cho hai anh chàng kia (trống Khai Hoá)?. Mà tại sao nếu như người nghệ nhân thấy cần có tiết tấu mới lạ, ông ta không khoác cho một lúc hai anh cùng một bên, chứ việc gì phải hai anh hai bên mới hài lòng?. Còn như trống Đặc Giáo lẽ nào, người nghệ nhân lại quên không vẽ thêm một vòng tròn vào hai cụm (11 vòng tròn)?. Mà quên thì tại sao có thể quên một lúc hai chỗ liền? Liệu có ai, có ai cho như vậy? Nếu không ai cho chuyện đó ngẫu nhiên thì chứng tỏ đồ hình 3-3---4-4 chính là để dùng mã hóa cái gì đó. Không những là chuyện mã hóa tầm thường mà tôi cảm thấy, nó hình như mang tính quy luật. Cái quy luật mà nghệ nhân Việt từ đời này qua đời khác phải nắm lấy. Người xưa có thể phóng tác nên Nòng và Nọc hay tứ tượng bằng các kiểu vẽ khác nhau nhưng đồ hình 3-3---4-4 được lặp đi lặp lại một cách thường xuyên, làm ta có cảm giác như nó đã khắc sâu vào tâm khảm cư dân Việt. Nếu như thế, thì nó được dùng để mã hóa một đồ hình tối quan trọng. Đồ hình gì? Xin mời quí vị cùng chúng tôi đi từng bước một.
Đơn giản và rõ ràng nhất ta lấy trống đồng Đặc Giáo để giải mã. Tại sao chúng tôi lấy trống đồng Đặc Giáo ra để giải thích vì còn một vài lý do nữa. Đây chính là đồ hình số hoá tuyệt đối Kinh Dịch. Tất cả những vòng tròn khác nhau của nó, chúng tôi xin được phép đề cập sau. Xin nói là nghệ nhân đã làm chính xác đến nỗi không thể có một chi tiết hay một vòng tròn nào thừa cả. Thế nhưng, trước tiên ta hãy xét những cái không đối xứng trước đã. Đập vào mắt chúng ta trước tiên các nhóm nào khác nhất. Dĩ nhiên, nhóm 3-3---4-4. Còn các nhóm còn lại như chim, cụm 11, và vòng tròn trước mỏ chim có tính đối xứng, không lập dị. Ta tách chúng ra chỉ để lại những vòng tròn khác biệt. Theo nguyên tắc chẵn-nòng và lẻ-nọc ta vẽ gần các cụm vòng tròn các nọc và nòng. Ta thấy có 2 nọc và hai nòng chia vòng tròn làm bốn phần và cũng rất logic khi cho rằng ở giữa là Tứ Tượng mang tính chất của hai đầu. Dựa theo chiều chuẩn, đầu nào trước sẽ được ghi dưới đầu nào sau được ghi trên. Ta được:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong6-13-TutuongDacGiao.jpg
Vậy đồ hình nhận được là gì? Chính là đồ hình Tứ Tượng ta thường thấy:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong6-13-TutuongCodien.jpg
Một câu hỏi vô cùng lý thú là: tại sao không phải là 1-1---2-2? Thiết nghĩ có ba lý do vô cùng chính đáng. Thứ nhất: Quan trọng nhất và chứng tỏ người xưa luôn luôn chú trọng đến sự đối xứng qua tâm. Tổng lượng của các quái đối xứng qua tâm phải bằng 7=3+4. Tức nguyên tắc F1,8 phải luôn hiện diện. Số 3 và 4 nhắc cho người xem trống lại cách lấy đối xứng. Chính vì cặp số này mà chúng tôi cho rằng công thức 3-3---4-4 là công thức tuyệt vời để biểu thị cho Tứ Tượng và Tiên Thiên. Thứ 2: 1 và 2 trong hệ thống Kinh Dịch đã được chỉ thị cho cặp đối xứng khác rất quan trọng. Ngoài ra 3 và 4 cũng là cặp đối xứng quan trọng trong các đồ hình Dịch. Thứ ba, dùng 3 và 4 đã ngụ ý cho người khác thấy tính chất lượng số của nó. Người xưa xây dựng nền tảng Kinh Dịch hoàn toàn dựa trên các phép số học đơn giản, chính vì thế theo chúng tôi họ đã biết Cặp Nọc có lượng số bằng 3 còn Cặp Nòng có lượng số=0=4(mod 4, vì chỉ có bốn tượng mà thôi). Họ không thể dùng 0 để vẽ lên trên trống đồng được vì như thế số không không có ký hiệu, họ biểu thị số không bằng cách không vẽ vòng tròn vào đồ hình. Như vậy, nếu không vẽ vòng tròn thì chỉ có mỗi cặp 3-3 và lúc đó đồ hình không có ý nghĩa. Bởi thế, họ đếm từ Nòng-Nọc=1 đến Nọc-Nọc=3, sau đó tiếp đến 4 là Nòng-Nòng. Có nghĩa đồ hình này dùng 3-3---4-4 đã toát lên ý nghĩa Tứ Tượng. Có thể gọi nó là đồ hình Cặp NọcCặpNòng.
Từ đây chúng ta có thể kết luận, công thức 3-3----4-4 dùng để biểu thị Tứ Tượng. Và phần dưới chúng tôi có thể cho thấy công thức này còn để biểu thị Tiên Thiên Bát Quái. Thế nhưng ta lại thấy, trên trống đồng công thức này lại được vẽ xen kẽ vào các chi tiết của Hậu Thiên Bát Quái. Vì sao? Vì rằng, người xưa muốn nói quy luật Tiên Thiên vẫn chi phối Hậu Thiên. Và quy luật đó còn biểu thị qua con số của Trời-đại diện của Thái Cực trong vũ trụ này (chú ý Cóc đại diện Thái cực ở trên Trái Đất) 3+4=7. Chưa chắc vẽ Tiên Thiên Bát quái lẫn với Hậu Thiên Bát quái có thể làm tỏ rõ quy luật của 7-Càn này. Bởi vì lúc đó người ta nhận ra hai đồ hình khác nhau, chớ có thể không liên tưởng đến số của các quái. Vẽ công thức 3-3----4-4 lẫn với các chi tiết Hậu Thiên là phương pháp hữu hiệu nhất để ám chỉ có một quy luật Thái Cực chung cho cả Tiên Thiên lẫn Hậu Thiên. Đó là quy luật của F1,8 hay quy luật 7-Càn.
Ngoài ra nếu công thức 3-3---4-4 được viết liền nhau theo cách 6-8 (8 tượng trưng cho 8 quái Tiên Thiên, 6 tượng trưng cho 6 trùng quái Hậu thiên) thì công thức này còn chỉ ra sự chuyển động theo chiều phản phục của vũ trụ. Tiên Thiên thành Hậu Thiên và Hậu Thiên chắc chắn sẽ quay về lại Tiên Thiên. Cách 6-8 này cũng ghi một dấu ấn sâu sắc trong văn hoá Việt Nam. Không có một quốc gia trên thế giới này có thể thơ lục bát. Chỉ ở Việt Nam.
Công thức 3-3---4-4 đã chứng minh triệt để logic luận a và c chúng tôi vừa n êu ra.
khonglaai
31-10-2005, 07:18 PM
7. Tiên Thiên Bát Quái.
Thật ra, từ đồ hình Tứ Tượng, người ta dễ dàng xây dựng nên Tiên Thiên Bát Quái. Những chứng cớ người xưa biết được cách xây dựng này là:
a. Người xưa đã biết xây dựng các quái gồm ba lớp.
b. Người xưa qua việc xây dựng Tứ Tượng đã biết số của Tứ Tượng (số thật theo nghĩa nọc=1, nòng=0. Chứ không phải số do người Trung Hoa đánh trong Tiên Thiên Bát Quái.)
c. Người xưa biết số của các Quái qua việc họ để lại trong tranh dân gian hình ông Khiết có sao Bắc Đẩu 7 vòng tròn. Càn=nọcnọcnọc=7.
Vì thế việc xây dựng Tiên Thiên chẳng qua là thêm bốn số có Nọc ở dưới cùng vào phần Nọc(Đã được phân định ra bởi Tứ Tượng) theo thứ tự và cũng như thế cho phần Nòng. Đó chính là cách tốt nhất. Nhưng việc xây dựng Bát Quái Tiên Thiên qua đồ hình 3-3---4-4 cũng dễ dàng. Vì Bát Quái có 8 quái nên trong đồ hình tứ tượng được xây dựng từ công thức 3-3---4-4, có hai nhóm quái riêng biệt. Nhóm nhất là nhóm đã có Tứ Tượng làm cốt lõi. Nhóm hai chưa có cốt lõi và nó phải được xây dựng từ nghi và tượng hai bên nó.
Bước 1: Xây các quái đã có Tượng. Vì đã có Tứ Tượng đó là hai lớp. Biến chúng bằng 3 lớp bằng cách: lấy thể một lớp cạnh nó (sau chiều bay của chim. Hiển nhiên, sau thì mới bay tới được. Chớ trước thì đã bay mất rồi) chồng lên nó.
Bước 2: Xây các quái chưa có Tượng làm cốt lõi. Cũng theo nguyên tắc xây Tứ Tượng, để xây mới bát quái thì lấy Tượng hoặc Nghi phía trước chồng lên Nghi hoặc Tượng ở sau. Có nghĩa các quái được xây dựng có tính nòng nọc của bản thể tượng hoặc nghi ở hai đầu. Thật ra đây chỉ là cách lý giải theo chiều chuẩn, nhưng nếu ta tách bạch từng nghi ra thì, cách lý giải này phải đúng triệt để với tính số của quái. Và nhìn vào đồ hình giải thích dưới, chúng ta có thể thấy, cách giải thích này đúng hoàn toàn với logic số: Càn=7, Đoài=6, Ly=5….đúng cách nhau một khoảng bằng nhau và quy luật kết hợp Nghi và Tượng mang tính thống nhất.
Qua hai bước trên, ta nhận được đồ hình Tiên Thiên như sau:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong6-14-3-4TienThien.jpg
Như vậy, chúng ta đã hoàn thành giải mã công thức 3-3---4-4 thành Tứ Tượng và Tiên Thiên. Như chúng tôi đã xét về logic suy luận, chúng ta thấy người Việt cổ biết dựng Tứ Tượng, Bát Quái còn thứ tự Tứ Tượng và Tiên Thiên thì họ đã mã hóa qua công thức 3-3---4-4. Vậy, tuy chúng ta không có đồ hình Tiên Thiên hoàn chỉnh(chỉ trên những mẫu trống đồng mà chúng tôi có), nhưng chúng ta có tiền đề và hệ quả của nó, suy ra người Việt cổ đã biết và diễn tả được hoàn chỉnh Tiên Thiên.
Thật ra Tứ Tượng và Bát Quái được ông cha ta khắc họa trên các đồ hình khác nhau. Vì không có nguyên mẫu của trống đồng Ngọc Lũ nên chúng tôi không dám chắc, nhưng như đã phân tích ở phần 4, chúng tôi nghĩ trên tang trống Ngọc Lũ có vẽ những đồ hình Tứ Tượng theo đúng thứ tự của nó. Dưới đây là một số đồ hình đối xứng cho phép ta nghĩ đến Tiên Thiên và Tứ Tượng. Vì sao người Việt cổ khắc họa Tiên Thiên sơ sài thế bởi vì nó dễ, hầu như 2+2=4 nên ai ai cũng biết. Chính vì thế mà người ta chỉ khắc họa những hoa văn đẹp đối xứng để ám chỉ nó mà thôi.
Trống đồng Sông Đà 2:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong6-14-TrongSongDa2.jpg
Trống đồng Yên Tập:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong6-14-TrongYentap.jpg
Trống Pac Tà:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong6-14-TrongPacTa.jpg
Ngoài ra còn nhiều trống khác như Đông Sơn 4, Định công....
khonglaai
31-10-2005, 07:41 PM
1. Chữ S và chiều quay hai Nghi Nòng-Nọc.
Chuyện xây dựng chữ S cũng hoàn toàn tự nhiên. Khi vẽ được Tiên Thiên rồi thì người xưa đơn giản theo số mà tính. Nối các quái có số từ lớn xuống nhỏ xem sao. Nối xong, ta nhận ngay chữ S. Đâu việc gì phải chua thêm số 1,2,3,4,5,6,7,8 như Kinh Dịch Trung Hoa bây giờ. Về nguyên tắc không sai, nhưng điều này lại là một chứng cớ người Trung Hoa không quan tâm đến số của quái mà quan tâm đến độ số và vì thế họ có những sai lầm chết người khi xây dựng Hậu Thiên Bát Quái. Điều này là chứng cớ copy, repair and past but not clearly understand của người Trung Hoa.
Đó là chữ S ta suy luận theo logic. Liệu người xưa có vẽ chúng bao giờ chưa? Khi phân Tiên Thiên bằng chữ S, người xưa thấy Mẹ của vũ trụ là hai nghi đối đầu nhau, ôm xoắn vào nhau tạo ra thế cân bằng, hài hòa và uyển chuyển vô cùng. Mà nói đến chuyện hai cực xoắn vào nhau thì họ nghĩ đến gì trước. Đến những cái cần phải nghĩ đầu tiên chứ sao! Chẳng phải câu "Gần thì lấy thân minh.." của ngài Khổng, các Dịch gia đã coi như khẩu quyết thánh thần sao? Người Việt (Diệc) cộ̉ cũng không ít lần khắc họa lên nó.
Nắp thạp Đào Thịnh:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong6-15-NapthapDaoThinh.jpg
Hay rõ ràng hơn là ở các cổ vật này:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong6-15-CaBaiThuong1.jpg
Hay hình cá trên bình đồng Bái Thượng:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong6-15-CaBaiThuong2.jpg
Có thể quý độc giả cho rằng quá gượng ép khi lấy các hình các cặp người, cặp cá ra để vẽ nên hình S của Kinh Dịch. Các cặp đó thì có gì hay ho. Bất cứ dân tộc nào trên thế giới đều để lại những cổ vật như thế. Thì có gì mà dính dáng đến Dịch?!. Vâng, đúng thế! Chúng tôi đưa ra chúng với dụng ý chứng tỏ, dân tộc Việt đã rất chú trọng đến tính hài hòa, tính giao hưởng và cân bằng của thiên nhiên. Đó là quy luật của Trời Đất, của vũ trụ hay của Đạo, Thái Cực.
Dưới đây là chữ S dính dáng đến Kinh Dịch(Diệc). Đây là chữ S của Hậu Thiên. Nhưng vì Hậu Thiên tuy có khác Tiên Thiên nhưng vận hành chúng phải tuân theo quy luật của Mẹ vũ trụ, của Tiên Thiên. Nên chữ S của Hậu Thiên cũng là của Tiên Thiên.
Trống đồng Đông Sơn 1:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong6-15-SDongSon.jpg
Tại sao lại chỉ có 3 người dắt tay đi? Có một lý do: triết lý đó là sự đối xứng của các đỉnh điểm đối đầu. Ví dụ, Tiên Thiên bát quái Càn bắt đầu cho nghi Nọc thì, Tốn gần Càn bắt đầu cho nghi Nòng. Hay trong trường hợp cá thì Đuôi bắt đầu ở cá tả thì đuôi cũng phải bắt đầu ở cá hữu. Chính vì thế, hai người quay vào nhau tạo thế cân bằng. Có thể vẽ theo chiều này hay chiều khác nhưng cũng nhận được chữ S như nhau. Ngoài ra còn có ý đồ mã hóa Hậu Thiên nữa, chúng tôi sẽ trình bày sau.
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong6-15-SPhuXuyen.jpg
Chữ S còn được biểu diễn trên trống đồng Phú Xuyên. Một lần nữa cũng diễn tả về Hậu Thiên (nhưng chữ S thì giống nhau). Ở đây, chỉ phân tích vấn đề Tiên Thiên, nên chúng tôi xin mới các bạn qua chương 7 phần Hậu Thiên để giải thích thêm vì sao nghệ nhân lại khắc hoạ một cách ngộ nghĩnh như vậy (lưu ý, đúc trống đồng không phải là đơn giản). Tất cả những ngộ nghĩnh như ta nhìn thấy ở trống đồng Phú Xuyên đều mang một ý nghĩa quan trọng.
Từ đây, ta thấy khi dựng nên Tiên Thiên người Việt ta ngộ ra chữ S-chính là sự hài hòa, sự giao thoa. Đó chính là sự rung cảm, quyến luyến, không thể tách rời nhau của hai nghi Nọc, nòng và tuy là hai nghi đối lập nhau, một chuyển động theo chiều chuẩn, một ngược chiều chuẩn nhưng lại là hai bộ phận không thể chia cắt của bộ máy vận động vũ trụ. Và họ nhờ đó hình dung ra cách vẽ Thái Cực đồ.
Xin lưu ý quý vị, các chữ S về nguyên tắc hai đường ở ngoài phải như trên chúng tôi đã vẽ, nhưng đường cắt trong, chúng tôi vẽ hơi tuỳ tiện. Bởi vì chữ S đúng nhất chính là chữ S của Thái Cực Đồ trong tranh Đông Hồ.
khonglaai
31-10-2005, 08:00 PM
9. Thái Cực Đồ-Mẹ vũ trụ.
Trong các sách Dịch Trung Hoa hoàn toàn không có đề cập đến vấn đề S, và cũng như các nghi án khác của Kinh Dịch, Thái Cực Đồ cứ như từ trên trời rơi xuống. Nó không được rút ra từ tiền đề nào cả và cũng không hợp với những tiền đề đó.
Chúng tôi từ ban đầu đã cố theo một quy trình nhất định nhằm phục hồi lại quá trình sáng tạo của người xưa. Và bây giờ cũng vậy, chúng ta hãy đặt mình vào vị trí các cụ xem sao. Với một điều kiện các cụ rất rành hệ nhị phân và số học sơ khởi (tức là biết đếm, biết lấy mod). Ta thử đặt điều kiện để xây dựng Thái Cực Đồ:
a. Thái Cực là mẹ vũ trụ và hai tiền đề đầu tiên Nòng và Nọc là con của Thái Cực.
b. Hai nghi của Thái Cực được chia bằng một đường chữ S.
c. Đường chia làm sao đó để ít nhiều thỏa mãn tỷ lệ của các quái. Không có quái nào Toàn Nọc (Dương) hay Toàn Nòng (Âm) để thỏa quy luật trong Nòng có Nọc và trong Nọc có Nòng.
Người Việt cổ từ những điều kiện này đã xây dựng nên Thái Cực Đồ như sau:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong6-16-ThaiCucDongHo.jpg
Điều kiện a và b thỏa mãn hoàn hảo. Thái Cực mang hình dáng của hai con Nòng Nọc xoắn vào nhau. Còn về lượng thì sao? Ta lại vẽ bốn đường như đã phân tích ở phần nghi án Thái Cực Đồ:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong6-16-ThaiCucDongHopt.jpg
Ở đây có chút lệch lạc: Tốn có vẻ phần Nọc lớn hơn của Chấn. Tuy nhiên, chúng tôi nghĩ nếu vẽ cẩn thận thì cũng nhận được như ý. Nhưng như vậy cũng đã là bước tiến rất lớn so với Thái Cực Đồ Trung Hoa. Đồng thời, chúng tôi cũng khẳng định muốn vẽ được đồ hình có tính cân xứng lượng của các quái thì chúng ta luôn nhận được hình tương tự như trên (như hai con nòng nọc xoắn vào nhau).
Như vậy, người Việt cổ đã cố gắng xây dựng nên đồ hình mang dáng dấp của nòng nọc và thỏa lượng số của các quái.
Đến đây, chúng tôi xin kết thúc phần Tiên Thiên. Nhưng có lẽ quý độc giả nghĩ rằng những lý luận trên làm sao khẳng định Kinh Dịch là của người Âu Lạc được. Vâng đúng thế. Chúng tôi đồng ý là như vậy. Từ các đồ hình trên thì chưa thể bảo Kinh Dịch là của người Âu Lạc. Nhưng khi đặt ra thuyết gì đó, thì người ta kiểm nghiệm chúng (theo logic đặt ra sẵn) và bắt buộc phải tìm bằng chứng để chứng minh cho từng khoảng nhất định. Ở trên chúng tôi đưa ra logic và tìm bằng chứng cho đến thời Tiên Thiên. Và chương 7 sẽ cùng với phần Tiên Thiên này tạo ra một chuỗi bằng chứng rất xác đáng để khẳng định logic luận trên của chúng tôi đúng. Ngoài ra, dưới đây chúng tôi còn dẫn ra cách nào theo toán học để làm được Hậu Thiên Bát Quái (người xưa làm như thế và chúng ta cũng phục hồi nó đúng như thế vì rằng toán học nói 2+2=4 cho tất cả các thời đại, niên đại khác nhau của nhân loại.). Và lạ kỳ thay, tất cả những bằng chứng chúng tôi sẽ dẫn dưới đây lại trùng khớp với những suy luận toán học….
Mời quý vị sang chương 7.
khonglaai
31-10-2005, 08:46 PM
Chương 7.
Trống đồng-Những kinh văn trác tuyệt về Kinh Dịch. Hậu Thiên.
1. Khảm bắt đầu.
Trong Kinh Dịch Trung Hoa có giải thích đầu tiên có Thủy, sau đó phải có Hỏa để cân bằng. Đọc xong, chúng ta cảm thấy ngơ ngẩn ngẩn ngơ. Sao lại thế? Sao lại độp ngay một câu ỡm ờ như vậy?. Không đến từ đâu cả. Vậy ít ra dân tộc Hoa yêu Nước lắm chăng? Nếu yêu Nước thì phải có những họa đồ, tranh vẽ (dĩ nhiên cổ xưa) cho thấy người Hoa tôn vinh Nước.
Chúng tôi không phải là nhà sử học, không phải là nhà khảo cổ, cũng không có điều kiện nghiên cứu DNA nên không dám bàn luận về việc dân tộc ta đã từng sống trong những vùng lãnh thổ nào. Nhưng chúng tôi cũng nhận thấy, Đất Nước ta từ xưa đến nay đều nằm trong những vùng châu thổ của hệ thống sông ngòi chằng chịt. Chính trong truyền thuyết đã nói chúng ta là con Rồng cháu Tiên mà. Bố chúng ta là thủy thần sống dưới Nước. Trong trống đồng và các cổ vật, người Việt cổ đã không ít lần khắc họa linh vật của mình. Con giao long được khắc họa khắp nơi trên nhiều dụng cụ.
Link: http://chimviet.free.fr/tacpham2/hvdn/anhtrong/trongdong07.htm#trongdongdongson03
Trên thạp Đào Thịnh:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-1-CasauThapDT.jpg
(http://chimviet.free.fr/tacpham2/hvdn/anhtrong/ds1008dongvata.htm)
Ở Ninh Bình:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-1-CasauNinhBinh.jpg
Trên giáo Đông Sơn:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-1-CasauDongSon.jpg
Trên rìu núi Voi:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-1-CasauRiunuiVoi.jpg
(http://chimviet.free.fr/tacpham2/hvdn/anhtrong/ds1012dongvata.htm)
Trên trống đồng Hòa Bình:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-1-CasauTrongDongHoaBinh.jpg
Trên trống đồng Phú Xuyên:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-1-CasauTrongDongPhuXuyen.jpg
Có hai truyền thuyết có vẻ nghịch nhau: đó là chuyện Sơn Tinh Thủy Tinh và chuyện Cóc kiện Trời. Nhưng nghĩ ra, cư dân vùng lúa nước đúng là vừa sợ nước và vừa cần nước. Nước như một thần linh vừa cần thiết, đáng yêu; vừa có tính đỏng đảnh, giận dữ bất thường làm con người hoảng sợ. Vì thế nên họ coi trọng Nước cũng không khác như coi trọng Trời vậy.
Chúng ta hay gọi Tổ Quốc là Đất Nước. Xem ra Đất quan trọng hơn Nước. Nhưng mà không, chúng ta còn gọi Tổ Quốc mà không cần Đất. Từ cổ đến kim đã không ít trang anh hùng hào kiệt ngẩng cao đầu nói: Nước Nam ta. Rồi như câu cửa miệng : “truyền thống đấu tranh dựng nước giữ nước”. Hóa ra, nước có một ý nghĩa sinh tồn đối với dân tộc ta. Hay nói cách khác, dựng được nước(thủy lợi) thì Nước phát triển và giữ được nước(bảo vệ các công trình thủy lợi. Bị chiếm nguồn nước thì coi như đất nước bị tuyệt diệt. Khác với truyền thống quan niệm Trung Hoa, cứ đốt Thái Miếu là coi như Nước (quỏ jia) mất.) chính là giữ cho Nước được trường tồn vậy. Điều này cho thấy, người Việt ta đã xem nước như một “bản thể” thiêng liêng nhất của vũ trụ (hồi sau, hồi khi đã hình thành vũ trụ, hành tinh, tinh tú), bản thể số một.
Nhưng điều đó cũng chưa chắc làm cho người xưa đặt Khảm lên đầu. Vì có bao nhiêu linh vật, người Việt yêu thương và kính bái mà họ không đặt lên làm ngôi chủ trong Hậu Thiên của Kinh Dịch? Khảm trong Kinh Dịch phải được đặt vào ngôi chủ tọa vì Khảm chính là cái nôi đã nuôi nấng nòng và nọc-con của Thái Cực (cũng bằng sự quan sát tự nhiên chứ không phải suy đoán hồ đồ). Chính vì thế, ngôi vị chủ tọa của Bát Quái Hậu Thiên (mô tả việc sinh thành hủy của vạn vật khi vũ trụ đã hoàn thành) phải là Khảm. Đối xứng với Khảm tự nhiên chính là Ly do hệ quả F1,8-hệ quả sự vận động vũ trụ phải giống sự vận hành Thái Cực Đồ. Bởi thế, Khảm-Ly được đặt ở trục Bắc-Nam là do triết lý trọng nước của dân tộc Việt.
Ở bất cứ tang trống nào, cư dân Việt cổ cũng có khắc hình thuyền chứng minh cho cuộc sống sông nước:
Trống đồng Ngọc Lũ:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-1-SongnuocTrongDongNgocLu.jpg
Trống đồng Hoàng Hà:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-1-SongnuocTrongDongHoangHa.jpg
Hay như trong trống đồng Sông Đà, nghệ nhân xưa đã tôn vinh Nước-Khảm một cách đặc biệt. Ông đã đưa nó và trung tâm vũ trụ (trung tâm trống song song với Mặt Trời).
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-1-KhamTrongDongSongDa.jpg
Số 26 tượng trưng cho Nòng, ở giữa bao giờ cũng là Mặt Trời (vòng tròn có cánh) là Nọc lớn nhất. Dưới là 18 tượng trưng cho Nòng. Vậy quái nhận được là nòng-nọc-nòng==Khảm. Ở đây rõ ràng đã lồng tư tưởng triết học thật sâu xa. Tượng Mặt Trời ở giữa làm chủ tế điều hòa cho vận động, mà vận động của muôn vật phải tuân theo vận động của Thái Cực. Nói đúng hơn Tượng Mặt Trời(Càn) là chủ tế của Tiên Thiên. Còn Khảm là chủ tế của Hậu Thiên, nó lan tỏa, bao trùm toàn bộ vũ trụ đã thành hình. (Phần dưới chúng tôi sẽ chứng minh trống sông Đà là đồ hình của Hậu Thiên). Quả là một ngẫu nhiên lý thú khi khoa học bây giờ đã đưa ra kết luận Nước chính là nguyên nhân của sự sống.
khonglaai
31-10-2005, 09:16 PM
2. Số 18 kỳ lạ.
Ngoài 18 ngàn năm Bàn Cổ, 18 đời Hùng Vương, 18 thước cao của ngựa ông Gióng, chúng ta còn có thể thấy sự sùng bái số 18 của ông cha ta qua đoạn trích dưới đây trong sách của nhà nghiên cứu Lê Văn Hảo:
http://chimviet.free.fr/tacpham2/hvdn/hvdn06.htm (http://chimviet.free.fr/tacpham2/hvdn/hvdn06.htm)
Truyền thuyết "Trăm Trứng" của người Mường (kể lại trong sử thi "Đẻ Đất Đẻ Nước" ) nói: 50 người con về miền đồng bằng trở thành tổ tiên người Việt; 47 người đi lên miền núi, họ là tổ tiên của các dân tộc miền núi, còn lại 3 người sinh ra từ những trứng đầu tiên: Tá Cài, Tá Cần, và Dạ Kịt. Sau khi anh cả là Tá Cài bị rắn cắn chết, các mường mời Tá Cần lên ngôi vua. Tá Cần lấy bà Chu Bà Chương sinh được 18 con: 9 con trai và 9 con gái. Họ trở thành lang (thủ lĩnh) và chia nhau đi coi giữ các bản Mường.
Qua hai truyền thuyết trên, chúng ta lưu ý đến con số 18. Các sách sử cổ của ta như Việt Nam thế chí, Đại Việt Sử lược, Đại Việt Sử ký Toàn thư...và ngọc phả Hùng Vương hiện lưu trử tại đền Hùng đều nói đến con số 18 đời vua Hùng. Truyền thuyết và phong tục cổ truyền của dân gian ta nhiều lần nhắc tới con số 18: Truyện Bánh chưng bánh giầy kể rằng vào cuối đời vua Hùng thứ 6, vua đã truyền ngôi, khônng phải cho con cả mà là cho con trai thứ 18, tên là Lang Chiêu, người đã làm được và đem dâng vua hai thứ bánh ngon lành và ngụ nhiều ý nghĩa.
Truyện Ông Dóng ghi lại chi tiết: người anh hùng làng Dóng bảo sứ giả của vua Hùng đúc cho ngựa sắt cao 18 thước, với ngựa này Dóng sẽ đi dẹp giặc.
Truyền thuyết về vua Thục An Dương và thành Cổ Loa cho biết vòng trong cùng của thành có 18 u hoả hồi.
Trong tục rước nõn nường phổ biến ở khá nhiều địa phương vùng trung du và miền đồng bằng Bắc Bộ, dân gian xưa mang đi trong đám rước 18 cái nõn và 18 nường (là những vật tượng trưng có ý nghĩa phồn thực).
Con số 18 được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong nhiều trường hợp khác nhau chắc có một vị trí quan trọng trong thế giới quan của người Việt cổ.
Tìm hiểu các trống đồng Đông Sơn, lại thấy thêm một điểm đặc sắc. Đếm kỹ số lượng chim trong các vành chim bay - loại chim được nhiều nhà nghiên cứu xem là vật tổ của người Việt cổ - thì mỗi vành có đúng 18 chim! Một điều rất lý thú nữa là: ở vành chim trên mặt trống sông Đà tìm được trong một bản Mường thuộc tỉnh Hoà Bình, lúc đầu nghệ nhân sơ ý nên chỉ chia vành ra 17 cung bằng nhau, khi khắc trên khuôn đúc đến hình chim thứ 16 thì chỉ còn lại có một đoạn, vì vậy bắt buộc nghệ nhân phải khắc hai hình chim vào đoạn cuối cùng này cho đủ số 18 chim (nếu không làm như vậy thì vành chỉ đủ chỗ cho 17 chim thôi).
Thật ra, không có gì kỳ dị cả! Số 18 được sinh ra là do triết lý trọng Nước, triết lý hài hòa, giao hưởng giữa Đất và Nước của dân tộc ta. Không phải vô cớ các cư dân chuyên trồng trọt lại hay nhắc nhở nhau câu Nhất nước, nhì phân (hay nói cách khác là làm cho Đất màu mỡ hoặc Đất tốt), tam cần, tứ giống. Một lần nữa chúng tôi xin nhắc quý vị, ông cha ta đã hiểu tường tận nhị phân. Các con số được vẽ lại qua nhị nguyên Nòng Nọc có thể cho ta sáng tỏ vấn đề này. Dưới đây là hai con số 16 và 18 qua hệ nhị phân.
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-2-18-16.jpg
Trong rất nhiều trống đồng ví dụ như Ngọc Lũ và Sông Đà (những trống đồng mà trình độ mã hoá đã đạt được đến độ tuyệt mỹ) có khắc họa hai số 18-16 với nhau. Nhìn cách phân tích nhị phân của hai số này ta cũng có thể thấy người xưa yêu Nước đến thế nào. Và hai số 18, 16 đó một lần nữa chứng minh cho logic luận số chúng tôi đã đưa ra. Tức là người xưa đã biết trùng quái Thuần Khảm có số 18 (logic luận b). Và cũng như đối với số 16, dân tộc ta gọi nơi mình sinh sống là đất nước cũng hữu lý vì chính Đất và Nước mà quan trọng là Nước (vì nếu viết lại nó theo các vạch Âm Dương bây giờ Nước nằm ở dưới và khi đọc thì lại đọc từ trên xuống : Đất Nước) chính là đại diện cho Hậu Thiên của hai nghi Trời và Đất. Phần dưới sẽ dẫn chứng minh điều này từ Hà Đồ. Như vậy, sự kiện người Việt cổ nói Đất Nước là một bằng chứng xác minh họ biết Kinh Dịch. Và sự kiện họ tạo ra vòng 18-16 là bằng chứng xác đáng thứ hai chứng tỏ họ am hiểu kinh Dịch.
Trở lại Trống Đồng Sông Đà, chúng tôi không cho rằng, những cư dân đã khắc họa rất tinh xảo và rất đối xứng lại có thể làm một sai lầm đến như ông Lê Văn Hảo nhận xét. Trong khi sự đúc trống là cả một vấn đề khó khăn (trong bài viết của tác giả Lê Văn Hảo cũng nói lên điều này), và có lẽ sự đúc trống là một sự kiện trọng đại lúc bấy giờ. Nó cần có sự hiện diện của lãnh chúa và các thầy cúng. Bởi vậy người nghệ nhân không thể khinh suất như vậy. Toàn bộ sự bất cân xứng của đồ họa trên trống Sông Đà là để mã hóa cho sự việc khác. Không ngoại lệ với cả hai con chim trên. Số 18 tràn đầy cả vòng trống, còn số 16 được chứa trong nó. Vòng tròn uyên nguyên 18-16 đã hiện diện trên nhiều trống đồng Việt Nam; chúng tôi sẽ chứng minh ở các phần sau. Đó là một sự nhấn mạnh thêm triết lý: Nước là chủ tế của Hậu Thiên và sự vận động của vũ trụ là bản giao hưởng hài hòa (chữ S) giữa hai chiều vận động Đất và Nước. Vì lẽ này mà người xưa gọi lãnh thổ nơi mình sống là Đất Nước và cũng có thể gọi đơn giản là Nước. Việc vẽ bất cân xứng trên nhằm ám chỉ cho người chiêm ngưỡng nó một điều: Trống này được khắc họa đồ hình Hậu Thiên-diễn tả sự thành hủy của vũ trụ.
Tuy nhiên, có nhiều họa đồ trên trống đồng lại vẽ cả 18 con chim. Cũng hoàn toàn không sai logic Nước chủ tế và Đất Nước chỉ thị vận hành. Số 18 nhiều nơi trên trống đồng được viết như sau để đối với số 15=Càn:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-2-18-15.jpg
Càn được viết thành 3 lớp mỗi lớp có 5 là Nọc. Còn Khôn được viết thành 3 lớp, mỗi lớp có 6 là Nòng. Như vậy ẩn chứa trong số 18 là Khôn-Đất, nhưng phải qua suy luận cấp 2. Nên sự hài hòa Đất và Nước vẫn được tôn trọng. Vậy vẽ 18 hay vẽ 18-16 chẳng qua là nguyên tắc mã hoá của từng nghệ nhân, nhưng tư tưởng "Khảm chủ tế và vận động vũ trụ chính là bản giao hưởng hài hoà của Đất và Nước" luôn luôn hiện diên.
khonglaai
31-10-2005, 10:03 PM
3. Trùng Quái.
Phần 4 và phần 11, chúng tôi đã chứng minh cho quí vị độc giả rằng, người Việt cổ chúng ta đã biết lấy các tổ hợp hai, ba và sáu lớp những con nòng nọc. Thật ra khó có thể nói và cũng chưa có những chứng cứ cụ thể cho việc lấy tổ hợp 4, 5 hay lớn hơn 6 lớp của hai Nghi. Cũng như không có chứng minh ngược lại. Tuy nhiên chúng tôi cho rằng, người xưa đã biết lấy tổ hợp bao nhiêu lớp cũng được. Quan trọng khi khắc lên các cổ vật tối cần thiết nhất là họ cần những tổ hợp nào. Nói đến Kinh Dịch (hay Diệc) thì nhu cầu cần thiết chỉ là 2, 3 và 6 lớp mà thôi.
Tại sao không đặt các quái là do trùng tượng? Nếu trùng tượng thì ta được 16 quái. Nhưng có lẽ người xưa có một quan niệm bất di bất dịch về bốn phương tám hướng. Như vậy, mỗi phương mỗi hướng phải có một ký hiệu riêng biệt. Từ quan niệm về vũ trụ đã thành như vậy thì họ cũng nghĩ Mẹ của vũ trụ cũng có những tính chất đó. Và họ đã dựng nên Tiên Thiên Bát Quái có tám quái riêng biệt ở tám hướng. Hay nói cách khác Tiên Thiên đã được hình thần từ 8 phần tử có khả năng họat động riêng biệt.
Từ cơ sở lý luận đó, người ta cho rằng vũ trụ được hình thành do sự cọ sát của các quái này. Hay nói cách khác Hậu Thiên hình thành và mang tính chất của hai lớp quái chồng lên nhau. Tuy nhiên, vì Mẹ vũ trụ là Bát Quái nên con của nó cũng là bát quái nhưng phải có ẩn chứa tư tưởng trùng quái trong đó. Đây có lẽ là lời giải thích hợp lý vì sao Hậu Thiên Bát Quái có liên hệ mật thiết đến Trùng Quái.
Có một trống đồng ám chỉ đến việc trùng quái. Đó là trống đồng Phú Xuyên:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong6-15-SPhuXuyen.jpg
Nhìn tranh vẽ này thật ra chúng tôi thấy sự bất cân xứng một cách quá đáng. Nhưng vẫn với câu hỏi: “những nghệ nhân làm nên những trống đồng đẹp lại có thể vẽ sai đến thô thiển vậy chăng?”. Ngoài ra, cũng nên nhớ việc đúc trống đồng rất khó nên việc lên khuôn cần phải có sự cẩn trọng cần thiết. Họ không thể sai lầm thô thiển đến vậy được: Hai chiều chim đã bay ngược nhau, còn một chiều lại có hai chim đối đầu nhau. Vậy thì tất cả những chi tiết này được diễn tả cho ý đồ đó. Trước tiên, một vòng có ba chim bay cùng hướng và một chiều có hai chim bay cùng hướng gần nhau. Điều này người ta muốn diễn tả chữ S. Ba chim+ba chim=6 tượng trưng cho 6 trùng quái thời Hậu Thiên. Ngoài ra, ý người nghệ nhân còn muốn cho chúng ta thấy việc thành lập Hậu Thiên Bát Quái nhờ có sự chồng lên nhau của hai quái điên đảo dịch với quái trước (theo chiều chuẩn bay đến chồng lên quái sau). Như vậy hai con chim quay vào nhau chỉ đúng ví trí các quái chồng lên nhau. Phần sau, chúng tôi sẽ trình bày điều này. Các quái điên đảo dịch đều nằm một đầu cạnh chỗ cắt chữ S. Tuy nhiên, để biểu diễn trùng quái của cặp quái điên đảo có thể vẽ con chim giữa vòng bên trái xoay về hướng ngược lại. Điều này cũng không thể được, lúc đó con chim giữa đã cắt luôn mạch bay của ba con, khác với trường hợp của trống đồng, con chim xoay lại không cắt mạch bay của nhóm chim bởi vì có 2 chim/3chim cạnh nhau bay cùng hướng. Đó là phương pháp khá thông minh của nghệ nhân để diễn tả tư tưởng Hậu Thiên Bát Quái.
khonglaai
02-11-2005, 05:31 PM
4. Lý luận sự phân bố của Hà Đồ.
Đồ hình Hà Đồ có dạng sau:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong4-1-Hado.jpg
Vậy làm sao từ nó có thể sắp xếp thành hình sau (vì phải sắp xếp như thế này, thì việc chứng minh Hà Đồ là mã số của Hậu Thiên Bát Quái trọn vẹn được. Tuy nhiên không phải vì không chứng minh được bằng chứng cứ vật thể mà có thể nói Hậu Thiên Bát Quái không phải người Âu Lạc làm ra. Vì rằng, để đến Hậu Thiên Bát Quái người Việt cổ đã tiếp cận bằng lối khác. Hà đồ có thể là mã số của Hậu Thiên Bát Quái hay không không quan trọng. Chúng ta còn thấy ngay cả chuyện Hà Đồ nếu được sắp xếp lại theo nguyên tắc Nọc ở lại Nòng ra đi cùng hướng với chiều chuẩn hoàn toàn ứng với Hậu Thiên Bát Quái cũng là thành công lớn rồi):
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong4-3-Hadovuong.jpg
Thực ra ta có thể lý luận vấn đề này được qua chiều chuẩn của vận động (tức bằng logic). Vận động vũ trụ được chi phối bởi Thái Cực (số 1 lớn nhất) thuộc Nọc, và đại diện của nó là Trời-Càn cũng thuộc Nọc, nên trong chiều vận động thành tố Nọc đóng vai trò chỉ đạo. Như vậy, ở tại chính cung nào đó của Hà Đồ số Lẻ là số chỉ đạo nên nó đứng yên và số chẵn là số phụ nên phải ra đi theo hướng của chiều chuẩn. Lý luận dĩ nhiên có giá trị khi và chỉ khi chúng ta chứng minh được Hà Đồ đã được người Việt cổ xây dựng nên. Phần sau quý vị sẽ có chứng minh này.
Vậy có bằng chứng vật thể hoặc phi vật thể nào nói lên điều này. Xin mời quý vị cùng chúng tôi đọc lại đoạn trích dưới đây trong bài Y phục thời Hùng Vương của tác giả Thiên Sứ:
Links: http://www.vietlyso.com/forums/showthread.php?t=1384&page=1 (http://www.vietlyso.com/forums/showthread.php?t=1384&page=1)
Hình ảnh mà người viết trình bày với quí vị ở dưới đây được chép lại từ tạp chí Heritagf số tháng 9/ 10 năm 1996 của Cục Hàng không Việt Nam . Hoàn toàn không có sử dụng kỹ thuật vi tính để lật ngược lại bức tranh. Quí vị có thể kiểm chứng điều này qua tay phải của một số nhân vật cùng đứng trong tranh.
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-4-Hinhconroi1.jpg
Chắc chắn quí vị nhận ra ngay: đây chính là hình nhân vật trong các trò múa rối nước, một nghệ thuật dân gian độc đáo của người Lạc Việt. Quí vị cũng thấy vạt áo của nhân vật rối nước này ở phía bên “tả”(trái). Đến đây, vấn đề được đặt ra tiếp tục là:
Căn cứ vào đâu để những nghệ nhân rối nước truyền thống tạc hình nhân vật có vạt áo bên “tả” này? Hiện tượng các con rối nước có vạt áo bên trái là một sự ngẫu nhiên hay xuất phát từ một thực tế đă tồn tại từ cội nguồn văn hóa đă sản sinh ra nó?
Khi đă hàng ngàn năm trôi qua, chúng ta quen nhìn vạt áo cài bên “hữu”, thì vạt áo bên “tả” của hình rối nước liên hệ gì với câu của Khổng tử trong sách Luận ngữ:
“Nếu không có Quản Trọng thì chúng ta phải cài vạt áo bên tả và búi tóc như người Man di”.
Những nhân vật rối nước lưu truyền trong dân gian, phải chăng đă phản ánh thực tế y phục sinh hoạt của thời kỳ Hùng Vương. Rất tiếc! Những con rối nước cài vạt áo bên trái ngày nay rất hiếm gặp. Người ta đă hiện đại hoá nó bằng cách tạo cho nó một cái vạt áo bên phải. Nhưng cũng may mắn thay! Đây không phải bằng chứng duy nhất cho y phục dân tộc thời Hùng Vương. Xin quí vị tiếp tục xem hình dưới đây:
Y phục dân tộc Dao ở Phú Thọ
Trích từ bài “Cạy cửa tìm nhau” - Ngọc Vinh & Lương Ngọc An
(Báo Tuổi Trẻ ra thứ 7 ngày 08/06/2002 ).
Tất nhiên tác giả bài báo này không có nhã ý nhằm giới thiệu y phục dân tộc Dao và giúp minh chứng cho luận điểm của người viết. Dân tộc Dao là một dân tộc có nền văn hóa lâu đời tồn tại trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam . Bởi vậy; y phục dân tộc này cũng còn giữ được những nét văn hoá cổ truyền của nước Văn Lang xưa:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-4-NamnunguoiDao.jpg
Trên y phục của cặp vợ chồng ở hình trên, quí vị cũng nhận thấy người đàn ông áo vạt đưa sang bên trái, người phụ nữ vạt đưa sang bên phải.
Dân tộc Dao sống trong vùng rừng núi hẻo lánh; cho nên ít chịu ảnh hưởng của văn hoá Hán. Do đó; hiện tượng cài vạt áo bên trái của người đàn ông thuộc dân tộc này còn lại đến nay; cùng với các tư liệu đă trình bày ở trên cho thấy : Đó là những chứng cứ khoa học thật sự - với những tiêu chí khoa học rõ ràng là:
"Một giả thuyết khoa học chỉ được coi là đúng; nếu nó lý giải một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó; có tính khách quan; tính hệ thống tính quy luật và có khả năng tiên tri.”
Tóm tắt đoạn trích có thể thấy một tư tưởng triết lý đã đi sâu vào trong văn hoá dân tộc. Tư tưởng này đã phổ biến ăn sâu vào nếp suy nghĩ của nhân dân. Đó là câu Nam tả Nữ hữu. Phải có một tác động, một nền móng triết lý sâu sắc thì trong dân gian mới hình thành một khẩu ngữ đặc biệt vậy. Chúng ta xét Hà Đồ dựa trên ba luận đoán sau: 1. Hà Đồ do người Việt làm ra. 2. Hà Đồ dùng để số hoá Hậu Thiên. 3. Trống đồng là những kinh văn Dịch. Lúc này chúng chỉ mới là luận đoán (luận đoán thứ ba chỉ được chứng minh đến thời Tiên Thiên), ở các phần sau cả ba luận đoán này được chứng minh hoàn toàn. Vậy, ta cứ tạm thời cho các luận đoán này đúng. Nếu vậy, chúng ta hằng thấy trên trống đồng ở giữa bao giờ cũng có vẽ mặt trời-đại diện của Thái Cực ở thời vũ trụ thành hình. Như thế Hà Đồ cũng vậy. Bên trong Hà Đồ cũng ngầm chứa Trời (tuy không vẽ ra nhưng có ngầm chứa). Ngoài ra bên trong Hà Đồ có vật thể có Nòng có Nọc và tổng số bằng 15. 15=3x5 hay=Càn. 15=1(mod 14) là Nọc lớn nhất (chú ý 14 là số chỉ Hậu Thiên Bát Quái, sẽ dẫn sau) và cuối cùng 15=7 (mod 8)=Càn. Dẫn giải thế nào thì trung ương Hà Đồ vẫn là Nọc lớn nhất. Vậy, hoàn toàn logic khi cho rằng tất cả các vật tồn tại trong vũ trụ đều có khuynh hướng quay về Trời, vế Thái Cực (Đây cũng chính là triết lý phản phục của Kinh Dịch). Như thế quý vị xem tiếp hình vẽ dưới đây:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-4-GiaithichNamtanuhuu.jpg
Xét chuyện tả hữu cũng phụ thuộc vào chiều quán chiếu. Người đứng từ trong ra thì thấy trong một cụm số (ví dụ cụm 1-6) thì Nọc đứng bên phải và Nòng bên trái. Nhưng người đứng ngoài lại thấy Nọc đứng bên trái, Nòng đứng bên phải. Thật ra đây chính là cách quán chiếu chủ quan tương đối. Có cách quán chiếu khác khách quan và tuyệt đối, không phụ thuộc vào chủ quan của người quán chiếu đó là cách quán chiếu ngay trong hệ quy chiếu của đối tượng được xét. Tức là quán theo cách phân bố của hai người này trong hệ quán chiếu qua lại nhau của họ. Như trên ta thấy, vạn vật đều quay mặt về trời. Vậy Nọc đứng bên trái của Nòng và Nòng đứng bên phải của Nọc.Như thế quan điểm Nòng phải Nọc trái đã được luận dẫn từ cách phân bố Hà Đồ (Các phần dưới chúng tôi cũng chứng minh được muốn biểu diễn Hậu Thiên chỉ có thể có một đồ hình như Hà Đồ mà thôi). Và bằng chứng văn hoá “Nam tả nữ hữu” này ngược lại đóng vai trò chứng lý cho suy luận “Nọc chủ đạo, đứng lại và Nòng phải di chuyển theo chiều chuẩn”. Chúng ta hãy xem xét tính chuẩn xác của lý luận trên qua sơ đồ mô tả sau:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-4-SodomotaNTNH.jpg
Từ trên lại xuất hiện thêm một nghi án Kinh Dịch vô cùng quan trọng:
-Theo logic của chúng tôi, thì người xưa làm ra Hậu Thiên Bát Quái sau đó nghĩ cách làm sao đó để mã hoá Hậu Thiên. Họ sẽ tìm một đồ hình thứ nhất mang ý nghĩa trùng quái, thứ hai có thể từ đó bằng logic số học đơn giản để suy ra Hậu Thiên, thứ ba có mang hình chữ S thiêng liêng. Với ba điều kiện này thì bắt buộc họ phải tìm ra đồ hình duy nhất(chúng tôi sẽ chứng minh ở phần sau). Bởi vì các cụm số trừ 1-6 bất di bất dịch vì lý do sùng bái Nước, còn ba cụm số còn lại có thể hoán chuyển. Ví dụ theo logic số học thì bốn cụm số sau cũng suy luận ra Hậu Thiên: Bắc: 1-6, Tây: 2-7, Nam: 4-9 và Đông: 3-8. Thế nhưng, vẫn tìm ra đồ hình mã hoá duy nhất. Ngoài ra nếu nói Nam tả Nữ hữu ta phải liên tưởng đến ngay một cặp quyến luyến không tách rời nhau. Và cũng ngụ ý sự sắp xếp tương xứng giữa hai vật thể trong cặp đó. Chính vì thế ngay câu Nam tả Nữ Hữu chỉ có thể ngụ ý Hà Đồ, tức là ngụ ý có sự sắp xếp tương xứng giữa hai số ngay trong cặp số đó. Nếu các số đã được đi như Lạc Thư thì câu Nam Tả Nữ Hữu hiển nhiên không có mang một ý nghĩa nào. Vì các con số chẵn và lẻ của Lạc Thư được xếp xen kẻ nhau thì chuyện tả hữu làm sao có thể suy xét được.
-Theo logic của Kinh Dịch Trung Hoa thì từ Lạc Thư mà dẫn ra Hậu Thiên.
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong4-2-Lacthu.jpg
Tại sao có cách phân bố như vậy? Và sao nó lại được phân bố đúng theo cách của Hà Đồ khi cần phải phân ra để suy luận Hậu Thiên. Quý vị có thể nói thì chỉ có một đồ hình như vậy thôi. Xin thưa rằng, trong các sách Dịch của Trung Hoa, hay chính xác hơn trong các cổ vật Trung Hoa chưa hề có nói đến chiều chuẩn. Vậy, chiều chuẩn không đặt ra và với điều kiện cố định 1 vào phương Bắc cộng thêm tổng các số của các hàng phải bằng 15 thì có đến hai đồ hình. Ngoài đồ hình trên còn có đồ hình nữa:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-4-DohinhGiongLacThu.jpg
Vậy, khi chọn lấy một đồ hình để tìm ra Hậu Thiên Bát Quái (mà Hậu Thiên Bát Quái lại là trọng tâm của Kinh Dịch) thì cũng phải có cách giải thích hữu lý nào đó. Nếu không có cách giải thích đó mà Lạc Thư lại hao hao giống Hà Đồ (cả về hình dáng lẫn cái nguyên lý hình thành là Nam tả Nữ Hữu; nguyên lý mà người Trung Hoa, trong Luận ngữ có viết, không hề thích thú) thì ta có thể suy ra điều gì? Vâng, chỉ có thể suy ra là Thấy-Cải biên và Chép lại nguyên văn.
khonglaai
02-11-2005, 11:39 PM
5. Xây dựng lại Hậu Thiên Bát Quái.
Trong chương 3 và chương 4, chúng tôi đã giới hạn trong nhóm F1,8, Khảm-Bắc và Hà Đồ, tìm ra được hai đồ hình trong 40320 bát quái thỏa mãn. Đó là:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong4-6-HTBQAL.jpg
Và:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-5-HTBQALanhem.jpg
Nhưng đây là hai đồ hình ta suy luận khi đã biết các dữ kiện. Điều quan trọng là chúng ta thử đặt mình vào điều kiện của các cụ và thử xem các cụ đã đặt điều kiện gì để tìm ra Hâu Thiên. Là những người nghiên cứu khoa học, chúng ta không thể nào cho rằng các cụ có thể làm ra được ngay một đồ hình có thể thỏa các điều kiện cơ bản. Có thể có những chắt lọc và loại bỏ nào đó. Và qua thời gian thử nghiệm người xưa đã tìm ra đồ hình thỏa mãn tất cả các điều kiện. Chúng ta không nên tính từ Hà Đồ vì giả sử Hà Đồ là đồ hình mã hóa Hậu Thiên (logic d) thì nó được suy từ Hậu Thiên. Vậy ta thử đặt điều kiện để tìm ra Hậu Thiên Bát Quái xem sao:
a. Nguyên tắc F1,8-nguyên tắc tổng các lượng số của các quái bằng 7 (số của Càn-tượng trưng cho Thái Cực). Dù là đồ hình gì đi chăng nữa nhưng các nguyên tắc vận hành của nó phải giống Tiên Thiên. Điều này thực tế đã ghi trong rất nhiều hệ thống triết học và tôn giáo cổ xưa. Trong Sáng Thế Ký có viết: “Và Chúa nói: ta sáng tạo con người theo dạng của ta và hình của ta”. Phật Như Lai cũng thường nói: “Ta với chúng sanh không gì khác biệt. Ta là Phật đã thành còn các ngươi là Phật sẽ thành.”. Lão Tử trong Đạo Đức Kinh có viết: “Vạn vật có nguồn gốc; nguồn gốc đó là mẹ của vạn vật (Đạo)” (chương 52), “Người bắt chước đất, đất bắt chước trời, trời bắt chước Đạo, đạo bắt chước tự nhiên.” (chương 25). Vì thế hai cực đối đầu nhau qua tâm, mà tâm chính là Thái Cực, là Trời, của đồ hình phải có tính phủ định nhau triệt để giống như con của Thái Cực là Hai nghi Nòng Nọc mâu thuẫn nhau vậy. Ta có 384 đồ hình. Chắc với người rành nhị phân và số học đơn giản cũng tính được điều này.
b. Thêm Khảm-Ly là Bắc-Nam: Triết học trọng Nước của người Việt xưa. Điều kiện (a) và (b) có 48 đồ hình thỏa mãn.
c. Nguyên tắc S: tức là nguyên tắc S giống Tiên Thiên hay giống Thái Cực đồ. Cũng giải thích như trên
d. Trùng quái: Như trên chúng tôi đã phân tích, tuy lưỡng nghi là những nguyên tử đầu tiên xây nên Tiên Thiên Bát Quái, nhưng đến lượt Hậu Thiên thì các quái của Tiên Thiên là nguyên tử để hình thành vũ trụ Hậu Thiên. Nhưng về nguyên tắc bát quái (quan niệm người xưa về tám hướng) nên Hậu Thiên cũng phải có dạng Bát Quái. Nếu ta cứ trùng quái Tiên Thiên và sắp xếp chúng theo nguyên lý lượng giảm dần thì ta nhận được đồ hình 64 quái. Nhưng đồ hình này chẳng qua là Tiên Thiên Bát Quái với quy mô lớn hơn mà thôi. Vậy, làm thế nào để được bát quái Hậu Thiên mang ý nghĩa trùng quái? Vẫn có cách, nếu như chúng ta chú ý điều sau: 64 trùng quái chỉ có 8 trùng quái bất dịch. Có nghĩa quay trùng quái đó một góc 180 độ vẫn nhận được chính nó.
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-5-Tamtrungquaidx.jpg
Ta thấy có bốn trùng quái Thuần Càn, Thuần Khôn, Thuần Khảm và Thuần Ly là gồm hai quái giống nhau chồng lên. Còn các quái khác được chồng lên nhau qua hai cặp: Đoài Tốn, Chấn-Cấn. Trùng quái thứ 2 do Tốn chồng lên Đoài, thứ tư do Cấn chồng lên Chấn, thứ 5 do Đoài chồng lên Tốn và thứ 7 do Chấn chồng lên Cấn. Vậy để có chữ S đi từ Nọc nhất đến Nòng nhất, chúng ta đặt ra phương pháp dựng Trùng Quái từ Bát đơn quái: 1-Nếu trong bát quái, đường S đi đến gặp quái bất dịch thì chồng thêm một quái giống nó lên trên, 2-Nếu đi đến gặp quái không đối xứng thì chồng nó với quái tiếp theo vào nhau, từ 2- ta phải có thêm nguyên tắc 3 nữa hai quái không đối xứng gần nhau phải có thể đổi cho nhau qua phép đối xứng tâm. Phương pháp này tuyệt đối đúng theo luận giải Toán Học bởi vì nếu từ Bát đơn quái mà để biểu thị Trùng quái thì chỉ có cách đó mà thôi. Lý luận này đúng đắn còn được chứng minh bởi việc các Dịch gia ngày nay hay gọi Thuần Khảm (trùng quái) bằng Khảm (đơn quái). Cách gọi này có từ xa xưa và rõ ràng người ta ngụ ý gọi Khảm thời Hậu Thiên tức đã có nghĩa Thuần Khảm. Và Khảm ở trong Hậu Thiên Bát Quái có dáng dấp của Thuần Khảm trùng quái. Ngược lại nếu từ phương pháp này, ta có thể suy ra được một bát quái duy nhất (trong 40320 bát quái) thì điều này lại là bằng chứng cho tính đúng đắn của các phương pháp đặt ra (Các nhà khoa học thực nghiệm cũng hay thực hiện theo cách này).
Từ bốn nguyên tắc này, để dựng bát quái thỏa mãn nguyên tắc trùng quái và chữ S, ta nhận được bốn bát quái sau:
Chữ S Trùng quái đi từ Thuần Càn-Trung Phu-Thuần Ly---Thuần Khảm-Tiểu Quá-Thuần Khôn.
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-5-dungHTBQ1.jpg
Chữ S Trùng quái đi từ Thuần Càn-Thuần Ly-Di---Đại Quá-Thuần Khảm Thuần Khôn:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-5-dungHTBQ2.jpg
Hai đồ hình sau bị loại ngay lập tức cũng theo nguyên tắc số học. Ta thấy Thuần Càn=63 qua Thuần Ly=45 lệch đến 18, thế nhưng từ Thuần Ly=45 qua Di=33 chỉ lệch 12. Đặt Di theo Đông Nam hay Chính Đông đều không thể được.
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-5-Lygiaiduonghaikoduoc.jpg
Như vậy còn hai hình trước. Cả hai hình dạng chữ S Thuần Càn-Trung Phu-Thuần Ly----Thuần Khảm-Tiểu Quá-Thuần Khôn đều có thể giải thích theo những nguyên tắc khá hợp lý. Trong trường hợp 1, ta giải thích vì trùng quái nằm giữa hai quái nên quái đến trước nằm dưới quái đến sau nằm trên theo chiều chuẩn của vận động. Trong trường hợp 2, vì quái đã thành hình nên kết hợp chỉ có thể lấy quái trước chồng lên quái sau mới đúng quy luật đi của chiều chuẩn. Quái trước bay đến quái sau, chứ không hề ngược lại. Quý vị nên nhớ, khác với Tứ Tượng hợp từ Nghi và Tượng nên ta mới có những luật lệ khác nhau. Còn vì đây đã là quái rồi thì cách giải thích nào cũng có vẻ hợp lý. Thế nhưng, thật ra cả khi phân tích Tứ Tượng lẫn khi phân tích Trùng Quái(như khi phân tích để loại hai hình trên), nguyên tắc quán triệt nhất vẫn là nguyên tắc lượng số. Hai cách giải thích trên chỉ là cảm tính và cách giải thích bằng lượng số là chính xác nhất. Và cha ông ta ngay từ đầu cũng quán triệt nguyên tắc lượng số (ví dụ ký hiệu Tiên Thiên bắt buộc phải 3-3---4-4). Ta phân tích đồ hình trùng quái từ hai bát quái trên, Trùng quái chính xác về lượng phải đi như thế này:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-5-HTBQALvalygiai.jpg
Có nghĩa: 63-51=12=2x(51-45) và 18-12=6=1/2(12-0). Như vậy để làm đúng việc dựng chữ S trùng quái thì trùng quái Trung Phu và Tiểu quá phải có nền móng ở quái sau. Vậy quái sau trong bát quái Hậu Thiên sẽ là Đoài và Cấn, chứ không phải ngược lại:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-5-HTBQALvalygiai2.jpg
Vậy đi từ 4 nguyên tắc trên, chúng ta có thể đi ngược thời gian, đặt mình vào vị trí người xưa và chúng ta rút ra, dù cho là ta hay ngày xưa, cũng dễ dàng qua lý luận số học đơn giản tìm ra một đồ hình thỏa mãn duy nhất.
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong4-6-HTBQAL.jpg
hay chính xác là đồ hình này với ngụ ý trùng quái sau:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-5-HTBQALvaTQ.jpg
Đồ hình này đã cho ta thấy ngay hệ quả của nó là Trời Đất tách đôi. Câu Trời Đất tách đôi được quán triệt cả về triết lý, hình dáng lẫn số lượng. Triết lý: Các quái làm nên các Trùng quái ở dưới đối đầu trực tiếp với các quái làm nên trùng quái bên trên. Hình dáng: nhìn hình trên ta thấy quá rõ ràng. Còn lượng số: Mỗi bên đều có tổng số của các quái bằng 14.
Nếu chúng ta có bằng chứng người Việt cổ đã làm ra đồ hình trên thì chúng ta có thể khẳng định: "tổ tiên chúng ta đã dùng số học hệ nhị phân để làm ra Kinh Dich. Và vì toán học là toán học, nên họ đã tìm ra đồ hình Hậu Thiên Bát Quái duy nhất.".
Nhưng dù đồ hình nào đi chăng nữa, thì việc quan trọng khi chúng ta muốn nói nó do người Việt làm ra, chúng ta phải chứng minh được chính người Việt đã để lại đâu đó đồ hình này. Trong phần xây dựng Hậu Thiên từ logic này, chúng ta thấy có vài vấn đề cần chứng minh là:
a. Chứng minh Trọng Nước: Tôi đã nói ở các phần trên. Nhưng có đồ hình trên trống đồng còn chỉ rõ hẳn trục Khảm-Ly. Chúng tôi dẫn ra sau.
b. Chứng minh người xưa có chia trục Trời-Đất.
c. Chứng minh có Trùng Quái. Cái này tôi đã chứng minh ở chương trên.
d. Chứng minh từ bát quái (8 quái) mà trên đồ hình Hậu Thiên phải có ám chỉ 6 Trùng Quái.
e. Và chung quy phải chứng minh được đồ hình chúng ta vừa suy luận ra là của người Việt Nam xưa.
f. Một chứng minh nhỏ nữa là chứng minh việc hai quái trong Hậu Thiên được chồng lên nhau.
khonglaai
03-11-2005, 12:57 AM
1. Hà Đồ và Lạc Thư. Mã hóa Hậu Thiên.
Theo chúng tôi, có thể có quá trình song song: ông cha ta đã làm ra Hậu Thiên, sau đó mã hóa nó bằng Hà Đồ; hoặc đã nghĩ ra Hà Đồ trước sau đó đặt các quái vào cho đúng với Hà Đồ bằng logic nào đó và đúng với các điều kiện khác; hoặc họ vừa nghĩ đồ hình Hậu Thiên vừa nghĩ ra Hà Đồ và sau bao nhiêu lần thử đi thử lại họ đã nhận kết quả là Hậu Thiên+Hà Đồ liên hệ hỗ tương với nhau và thỏa các điều kiện khác. Dù là đi từ hướng nào, nếu ta tìm ra được các chứng cứ thì ta có thể kết luận Hạ Đồ và Hậu Thiên là công trình sáng tạo của cư dân Việt cổ. Nhưng dù thế nào chăng thì người xưa thấy được Hà Đồ thoả mãn mọi điều kiện để mã hoá Hậu Thiên Bát Quái. Nên họ dùng Hàđồđể số hoá Hậu Thiên.
Chúng ta biết rằng, dân Việt ta đếm theo hệ thập phân, số 10 không ít lần được thể hiện trên trống đồng Việt Nam:
10 con nai trong trống đồng Ngọc Lũ:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-6-10NGocLu.jpg
Ông sao 10 cánh trong trống đồng Đặc Giáo:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-6-10DacGiao.jpg
Trong trống đồng Đông Sơn 3:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-6-10DongSon3.jpg
10 chim bay xung quanh trong trống đồng Hữu Chung:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-6-10HuuChung.jpg
Vậy số 10 có ý nghĩa to lớn đối với người Việt cổ. Và hiển nhiên 10 số đầu tiên được coi như là những linh số. Đến đây, ta đặt điều kiện và giải từng phần:
a. Bát quái có 8 cạnh. Vậy làm sao biễu diễn nó bằng 10 số. Hai số 5 và 10 cũng tương đối dễ giải quyết vì chúng tượng trưng cho Trời hay Thái cực. Vì hai lẽ: 15 là số dương, 15 mod 8=7 là Càn, 15 có thể biểu diễn thành quái 3 lớp mỗi lớp có 5 cũng cho ra Càn. Vậy số 5 và số 10 nằm trong để biễu diễn cho mặt trời. Còn lại 8 số.
b. Biểu diễn trùng quái. Cách tốt nhất là biễu diễn thành 4 cụm, mỗi cụm có hai số.
c. Theo nguyên tắc trong Nòng có Nọc, trong Nọc có Nòng. Đồng thời phải giống Thái Cực: 10-5=5. Vậy các cặp số sẽ là: 1-6, 2-7, 3-8, 4-9. Ngoài ra, bốn cụm số đầu được biểu diễn để giải Bát Quái, mà bát quái lại có cân bằng Nòng Nọc nên các cụm ngoài phải có 4 Nòng v 4 Nọc. Đồng thời tổng các Nòng và Nọc phải bằng nhau. Và các cụm số 1-6, 2-7, 3-8, 4-9 thoả mãn: 1+3+7+9=20=2+4+6+8.
d. Khảm đầu tiên và ở phía Bắc: Như vậy cụm 1-6 nằm ở phía Bắc.
e. Điều kiện chữ S (giống Tiên Thiên nhưng lại là S của Trùng Quái)
Đến đây sẽ có hai cách giải quyết:
Hướng 1: Cho là người ta chưa phát hiện ra Hậu Thiên. Thuần túy toán học và đúng chữ S linh thiêng: Theo lượng số thì rõ ràng trong Tiên Thiên chữ S đi từ lớn đến nhỏ. Nhưng trên ngôn ngữ Nòng nọc thì nó đi từ Nọc lớn nhất (Càn) sang Nọc nhỏ nhất (Chấn), chuyển tiếp qua Nòng nhỏ nhất (Tốn) và đi về Nòng lớn nhất (Khôn). Vậy để chữ S có tính đối xứng tuyệt đối thì Nòng nhỏ nhất phải đối xứng với Nọc nhỏ nhất. Từ đó có thể thấy chỉ có thể vẽ như sau:
Như vậy, ta chỉ có thể vẽ bốn cụm số đó theo đồ hình Hà Đồ truyền thống. Tiếp đó, theo nguyên tắc Nọc ở lại Nòng đi theo chiều chuẩn (chú ý chiều chuẩn người Việt cổ đã biết rồi qua những chiêm nghiện thiên văn). Vậy được đồ hình sau:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-6-chuSHaDo.jpg
Sau đó (tức là khi người ta phát hiện ra Hậu Thiên rồi. Ở đây, ý của tôi là có thể người ta phát hiện ra Hà Đồ trước Hậu Thiên), người ta thử lại Cụm 1-6: pv1=Khảm suy ra lượng của pv 6 sẽ là: 2+5=7=Càn. Cụm 3-8: pv3=Chấn, vậy lượng ở pv 8 là=4+5=9 mod 8=1=Cấn. Cụm 9-4: pv9=Tốn=3=11 mod 8, suy ra pv 4=11-5=6=Đoài. Cụm 7-2: pv 7=Ly=5, suy ra pv 2=5-5=0=Khôn. Như vậy, Hà Đồ vẽ trên thỏa mãn chính xác các điều kiện.
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong4-3-Hadovuong.jpg
Hướng thứ 2: Đã phát hiện ra Hậu Thiên. Đất Nước chủ tế vận động. Vậy thì 1 là phương vị của Khảm và 2 la phương vị của Khôn. Nên nhớ trong Hà Đồ chưa biến thể thì 2 vẫn nằm đối với 1. Như vậy, ta có cụm 7-2 ở Nam. Tiếp tục ta xét như trên thấy Cấn-Chấn có tương quan 8-3. Vậy phía Đông sẽ là cụm 8-3. Phía Tây hiển nhiên cụm còn lại đồng thời thỏa mãn tính lượng.
Cho phép chúng tôi không khẳng định là người Việt cổ phát hiện ra cái gì trước. Điều quan trọng là chúng ta phải chứng minh, người Việt cổ sáng tạo ra cả Hà Đồ lẫn Hậu Thiên. Và dù đồ hình nào có trước đi chăng nữa, hai đồ hình này hợp với nhau hoàn toàn.
Chứng minh tính tương đương giữa Hà Đồ và Lạc Thư cũng với các điều kiện trên:
Từ HàĐồ suy ra Hậu Thiên:
Với nguyên tắc Khảmđầu tiên và F1,8 thì từ HàĐồ ta có thể có hai Bát Quái: LyKhônChấnCấnKhảmCànTốnĐoài và LyKhônĐoàiTốnKhảmCànCấnChấn. Tuy nhiên, vìđồ hình sau không thoả mãn chữ S thiêng liêng nên chỉ còn một Hậu Thiên Bát QuáiÂu Lạc.
Từ Hậu Thiên suy ra HàĐồ:
Khảm chủ tế, ký hiệu 1 vậy Càn phía bên hữu của 1 bằng 7, như vậy Cànđược ký hiệu bằng 6. Vậy bên Chấn Cấn chỉ còn cách ký hiệu là 3 và 8. Như vậy, có hai nghiệm theo ngược chiều kim đồng hồ sau: (1-6)(9-4)(7-2)(3-8) (HàĐồ) và (1-6)(7-2)(9-4)(3-8) (Lạc Thư). Tuy nhiên nếu xét chiềuđi của Nòng Nọc thì Lạc Thư không có hình chữ S thiêng liêng. Suy ra chỉ có HàĐồ thoả mãnđiều kiện.
Như trên, chúng tôi đã khẳng định để mã hóa bằng logic số học thì Lạc Thư đóng vai trò tương đương với Hà Đồ. Thế nhưng, cần phải nhận rõ thấy ưu điểm của Hà Đồ đối với Lạc Thư:
a. Hà đồ chứa 4 cặp số Nòng-Nọc chỉ rõ triết lý trong Nòng có Nọc trong Nọc có Nòng.
b. Hà đồ chứa 4 cặp số có Nòng và Nọc chồng lên nhau chỉ rõ sự liên quan đến trùng quái.
c. Hà đồ có chiều đi trùng khớp với chữ S thiêng liêng. (Khi vẽ đường S của Hà Đồ, chúng tôi chợt nghĩ: có lẽ các cặp số này đã gợi ý cho người xưa vẽ nên Thái Cực Đồ một cách tuyệt vời thế.).
Cũng có thể, người xưa biểu thị Hậu Thiên bằng Lạc Thư theo ý nghĩa lượng số mà thôi. Đồng thời họ nghĩ tính chất ma phương của Lạc Thư mang một màu sắc thần linh. Vậy, gắn Lạc Thư vào Hậu Thiên chỉ có ý nghĩa thần thánh hóa Hậu Thiên chứ không có nghĩa logic toán học. Vì thế mà khi người Trung Hoa nghĩ nát óc không ra đồ hình chuẩn, họ đành phải gượng ép giải mã bằng cách Lão Âm với Lão Dương.
Tuy nhiên, muốn gì thì muốn, anh phải chìa con át chủ bài ra. Phải chứng minh các điều sau:
a. Trong các cổ vật của Việt Nam có ghi Hà Đồ.
b. Có cho ta thấy Hà Đồ liên hệ đến Hậu Thiên.
c. Có câu mẹ tròn con vuông (dĩ nhiên là của người Việt Nam ta, không hiểu vì sao người Trung Hoa lại lấy đó để gọi Hà Đồ là tròn mà Lạc Thư là vuông rồi họ lý luận loanh quanh để ra cái đồ hình quái dị). Tôi cho rằng Hà đồ có 4 cặp số, có ý sắp xếp lại theo hình vuông 8 ô. Và mẹ là ai? Chúng tôi luôn luôn dẫn chứng từ logic đến các triết lý tôn giáo chứng tỏ Mẹ là Thái Cực. Dạng của nó là Thái Cực đồ hình tròn, nên nói Hà Đồ có dạng hình vuông cũng vô cùng hợp lý. Từ đây, hãy chứng minh có tròn có vuông trong các cổ vật của Việt Nam ta.
d. Có chứng cứ của số to ôm lấy số nhỏ.
Vâng, chúng tôi sẽ chứng minh tất cả các điều kiện trên một cách trọn vẹn. Xin cho phép chúng tôi đề cập đến Hà Đồ trước.
khonglaai
03-11-2005, 02:55 AM
7. Hà Đồ-Mã hóa Hậu Thiên. Chứng cứ vật thể.
Hà đồ có rất nhiều trong các cổ vật Việt Nam!!! Nhưng trước khi nhận ra Hà Đồ thì chúng ta đặt các giả sử như sau: Chúng tôi và các quý vị độc giả đều biết Kinh Diệc không giỏi thì cũng thuộc lòng những tiên đề (hay định lý của nó) của nó. Vậy, khi một ai trong chúng ta muốn vẽ cái tiên đề nào đó cho Hậu Thế thì chúng ta vẽ như thế nào? Ví dụ, có Hà Đồ gồm 4 cặp số 1-6, 2-7, 3-8, 4-9 thì ta sẽ vẽ ra sao? Chúng tôi cho rằng thật logic khi nói, các phương pháp vẽ Hà Đồ nằm trong các cách sau:
a. Vẽ sao đó cho toát lên 4 số 1, 2, 3, 4 nằm đúng phương vị tương đối của nó là được.
b. Vẽ sao đó cho toát lên 4 số 1, 2, 8, 9 là được
c. Vẽ sao đó cho toát lên 4 số 6, 7, 3, 4 là được.
d. Vẽ sao cho toát lên 4 số 6, ,7, 8, 9 là được.
e. Nói tóm tắt là vẽ làm sao đó cho toát lên mỗi cặp một hoặc cả hai số là được. Với điều kiện trong trường hợp hai số thì phải chứng minh rõ ràng số nhỏ nằm trong số lớn.
f. Cuối cùng tinh xảo nhất là làm toát lên cả 8 số.
g. Hoặc có hướng giải quyết số, làm thế nào đó cho toát lên sự phân biệt hai cặp Nọc lớn hơn Nòng với hai cặp Nòng lớn hơn Nọc.
Ta lại thử đặt các giả thuyết hoàn cảnh để xem lại lịch sử xem sao. Tức phải đặt mình vào vị trí của người xưa để xem cái logic nào họ khắc hoạ một bức tranh trên trống đồng:
a. Nếu người xưa chả hiểu gì về Dịch thì họ khắc lên trống đồng những hoa văn họ cho là đẹp hay những hoa văn có ý nghĩa khác nào đó mà ta chưa biết (khác với Dịch). Như vậy, những phát hiện về mã 3-3---4-4, mã Hà Đồ, hay Hậu Thiên Bát Quái chúng tôi dẫn dưới đây chỉ là những ngẫu nhiên. Nhưng những ngẫu nhiên này quá lớn-lớn quá đến nỗi khó tin ví dụ như việc vẽ em bé trong trống đồng Ngọc Lũ, việc vẽ hai nhóm người đi ngược chiều nhau như trong trống đồng Đông Sơn, hay việc vẽ bất cân xứng đến vô lý như một anh chàng đứng lên đánh trống trong trống đồng Ngọc Lũ (chúng tôi sẽ dẫn sau); quá nhiều-ở một trống như trống đồng Ngọc Lũ có chứa tất cả các yếu tố của Dịch, Trống Đông Sơn, Đặc Giáo, Sông Đà cũng vậy; quá trùng lặp-có rất nhiều trống đồng cùng một ý thức mã hoá như nhau và theo phân tích lại hợp với cách giải thích Dịch bằng số học. Đến đây, các vị sẽ thấy cái ngẫu nhiên này khó có cơ sở để tồn tại. Hơn nữa, như sách Trung Hoa có viết người Việt Thường Thị biết đoán tương lai qua mu rùa chứng tỏ một sự chiêm nghiệm Thiên Văn từ xa xưa. Và chúng ta hoàn toàn khẳng định điều ngược lại với giả sử trên.
b. Người Diệc làm ra kinh Dịch, nhưng họ chưa tường tận lắm nên vẽ qua loa theo mức độ hiểu biết của họ mà thôi. Hiển nhiên như thế, làm sao có thể đùng một cái, người ta có thể phát minh ngay ra triết thuyết vĩ đại được. Nhìn các trống đồng theo niên đại ta cũng có thể thấy mức độ ám chỉ Dịch khác nhau. Ngoài ra, còn dễ dàng thấy sự phát triển của Dịch từng vùng địa lý, từng vùng văn hoá nữa. Nhưng đến thời người ta đã biết rõ quá Dịch, tường tận Hậu Thiên và cụm bốn số thì họ phải mã hoá thế nào chứ. Những bức tranh như của Đặc Giáo, Sông Đà, Đông Sơn, Ngọc Lũ đã chứng tỏ đến lúc đó, người Diệc đã quá tường tận Dịch.
c. Người Diệc tường tận Dịch, họ sẽ mã hoá theo cách của từng nghệ nhân có thể nghĩ ra. Vì biết nguyên tắc số của Hà Đồ là con số ngoài=con số trong + 5 nên sẽ có rất nhiều người theo con đường hiển thị một số của cặp số đó mà thôi. Có nghĩa khi hiển thị 1 thì số ngoài phải là 6, còn nếu hiển thị 7 vì lý do 7+5=12 lớn hơn linh số 10 nên 7 là số ngoài và số trong phải là 2. Phương pháp lý luận này hoàn toàn có cơ sở vững chắc. Bởi vì việc đặt nền móng của Dịch trên cơ sở nhị nguyên và hiểu hoàn toàn về Dịch sẽ dễ hơn rất nhiều khi phải hiển thị chúng trên một mặt phẳng chật hẹp với những đòi hỏi tâm linh, sinh hoạt xã hội khác nhau (như chúng tôi đã viết, đúc trống đồng là việc làm khó khăn và nó phải dính dáng đến một sự kiện xã hội nào đó. Nên các quy chế của xã hội lúc bấy giờ yêu cầu người nghệ nhân khắc hoạ với những điều kiện khắt khe. Bởi thế, mặc dù Dịch là phát minh vĩ đại nhưng khi khắc trống đồng không thể tự ý khắc mỗi tư tưởng Dịch mà lồng vào những điều kiện sinh hoạt xã hội lúc bấy giờ). Những đòi hỏi khắt khe đặt ra cho người nghệ nhân một bài toán hóc búa. Mà con người là con người. Không thể có chuyện hầu hết các Dịch gia lúc bấy giờ đều biết cách giải bài toán khắc tranh này. Bởi thế, sẽ có rất nhiều người chọn lựa các phương pháp a-e và g. Ngược lại, nếu ta chứng minh được các cách hiển thị a-e và g được dùng nhiều đến thì ta cũng chứng minh là người xưa đã biết tường tận Dịch.
d. Người Diệc biết tường tận Dịch và họ phải khắc lên trống đồng đầy đủ các yếu tố của nó. Khi phân tích đến đây thì quý vị đã thấy ngay điều này không ổn. Tại vì sự bắt buộc là không cần thiết. Nếu lúc đó, từ ông trưởng bản, ông tế sự, ông nghệ nhân đến người Dịch gia bình thường đều biết tường tận Dịch thì hà tất gì phải ép buộc một công việc khó khăn như vậy. Hơn nữa, việc đúc trống cũng phải có thời gian giới hạn để nghiệm thu nên nếu bắt buộc người nghệ nhân những điều kiện khó quá thì có lẽ không ai trong những nghệ nhân của địa phương đó, trong thời điểm nào đó có thể hoàn thành. Trong khi ai ai cũng biết cách số học đơn giản để từ một suy thành hai thì việc gì ép buộc quá đáng thế. Trống đồng có thể để dùng ngay lúc đó (nhu cầu tất yếu là dùng ngay sau khi trống hoàn thành), nếu nghĩ xa hơn là để lại cho Hậu Thế thì chúng ta (theo chủ quan của mình) cũng đâu có ngờ bây giờ ta biết 2+2=4 mà con chúng ta lại không biết, đúng không? Chính vì thế, họ cho rằng lớp sau cũng như lớp trước cũng hiểu rất rõ ràng nên cần gì khắc hoạ kinh khủng đâu. Chúng tôi cảm tưởng trống đồng không phải là bản mã hoá Dịch cho Hậu thế mà là những phóng tác của từng nghệ nhân về tư tưởng Dịch đồng thời lồng các yếu tố sinh hoạt tâm linh, xã hội của cư dân (lúc đúc trống) vào đó (chẳng qua bây giờ chúng ta chả hiểu gì về nó nên chúng ta gọi đó là mã hoá). Sự phong phú về cách vẽ, khắc đã chứng minh cho luận điểm này. (Có ai ngờ rằng, sự tàn bạo của kẻ xâm lược đã làm tiêu hao đi bao nhiêu tài năng xuất chúng sau đó. Để rồi, người hiểu được trống đồng còn lại như sao buổi sớm và thậm chí mất đi trên cõi thế này.). Như vậy, khó có thể khi làm trống người nghệ nhân hoặc theo chủ quan, hoặc theo điều kiện khách quan bị bắt buộc phải vẽ hết các tư tưởng Dịch. Đúng hơn, họ vẽ theo khả năng của mình với những điều kiện tri thức và xã hội lúc bấy giờ. Còn chuyện phóng tác cho đúng hầu hết tư tưởng dịch chỉ do phương pháp làm khá thông minh của một nghệ nhân thiên tài nào đó. Trống đồng Ngọc Lũ là một bằng chứng hiếm hoi cho cách thể hiện Dịch trên trống đồng này.
Từ các phân tích trên, ta thấy cách hiển thị Dịch a-e và g phải (tôi xin nhắc lại “phải” vì như thế mới hợp logic) là phổ biến nhất (thật ra chỉ e và g thôi). Và các phát hiện dưới đây đã chứng minh cho điều đó.
Nói chung, có nhiều phương pháp ký hiệu Hà đồ. Và phải công nhận sự phóng tác trong việc ký hiệu Hà Đồ của người Việt khá đa dạng, phong phú. Sự phong phú này ngược lại chứng minh cho sự rành rẽ Kinh Dịch (Diệc) của người Việt cổ xưa.
Phương pháp dùng 4x11 + 1:
Có hai trống đồng có khắc kiểu này:
Trống đồng Đặc Giáo:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong6-13-TutuongDacGiao1.jpg
Trống đồng Thôn Mộng:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong6-6-TrongThonMong.jpg
Hai đồ hình này có thể vẽ thành số như sau:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-7-44va1.jpg
Chúng ta hãy nhìn nhận số 11 trừ đi 1 trung tâm theo nguyên tắc đồng dạng phải triều về tâm và theo nguyên tắc chỉ có một cặp số chồng lên nhau thôi, sẽ cho ra số 10; vì ai cũng biết phía bên trong phải có Nọc 5 mà nó chỉ có một Nọc vậy ở đây phải tính đến bốn Nọc nữa giống nó. Người xưa lại có ký hiệu thêm vào bốn cụm 11 này những số 3 và 4 tượng trưng cho cụm lẻ, cụm chẵn. Mà 10 là số chẵn sao lại có cụm chẵn, cụm lẻ? Logic nhất giải vấn đề này chính là cách sắp xếp cụm. Cụm có hai lớp, vậy số 10 chỉ thị cho lẻ chính là tổng hai số lẻ. Cụm có chỉ thị chẵn là tổng hai số chẵn. Số 10 chỉ có thể=1+9=3+7=2+8=4+6=5+5. Kết quả sau không thể chấp nhận được vì như thế sẽ cho ra hai số giống nhau ở hai vị trí.
Kết hợp với chiều chụẩn(chiều chim bay) của lượng số từ to đến nhỏ và luận từ Thái Cực Đồ, ta có thể lý luận số 10 bên trái được chia thành 9+1, số 9 ở lại, số 10 bên dưới là 7+3 số 7 ở lại, số 10 bên phải thuộc Nòng và bằng 8+2, số 8 ở lại số 2 ra đi, số 10 bên trên thuộc Nòng bằng 6+4, số 6 ở lại. Cuối cùng theo tính đối xứng vá quán chiếu theo số trung tâm, ta được Hà Đồ như sau:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-7-44va11.jpg
Hai trống đồng này chứng minh được:
a. Nếu trừ một vòng tròn triều về tâm thì ta sẽ có mỗi cụm 10 gồm hai lớp chứng tỏ biểu thị hai số. Cạnh mỗi cụm có chim bay ra chỉ thị cho một số của cụm phải đi ra để được 8 số ở 8 cạnh.
b. Trống đồng thôn Mộng có hai hình vẽ vòng tròn ngoài, hình vuông giữa chứng minh cho điều “c” của Hà đồ. Quan niệm Mẹ tròn con vuông được khắc trên trống đồng Thôn Mộng.
c. Cũng trong trống đồng thôn Mộng có đường chia nằm trên hai hình Mẹ tròn con vuông chỉ thị cho Trời đất tách đôi. Chứng minh cho điều “c” của Hậu Thiên.
Phương pháp dùng 26+18+1:
Có 1 trống đồng khắc theo phương pháp này.
Trống đồng Sông Đà:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-1-KhamTrongDongSongDa.jpg
Có thể nói đồ hình này đã mang cho chúng tôi hết từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Chiêm ngưỡng nó, chúng tôi không thể nào giấu được thán phục sự thông minh của nghệ nhân sáng tạo nó. Đồ hình này đã số hóa triệt để Kinh Dịch. Tuy nó kém hơn Ngọc Lũ về cách hiển thị nhưng bằng phương pháp số học nó đã đơn giản hóa triệt để cách biểu thị Kinh Dịch. Ờ đây chỉ nói về Hà đồ nên chúng tôi chỉ giới hạn phân tích vấn đề này.
Đầu tiên chúng tôi xin lưu ý các bạn hai cái nhà đối xứng qua tâm khác với các nhóm đối xứng khác, chúng giống nhau ít nhất về số sinh vật động=3 (tuy có khác nhau về cách vẽ chim). Vậy ta có thể lấy trục đối xứng là trục sát cạnh nó theo hướng mỏ chim (Lưu ý vì vẽ cho đẹp nên người xưa không thể nào vẽ đường cắt qua tâm thô thiển như chúng tôi dùng để phân tích đươc. Họ ngụ ý có đường chia bằng cách vẽ hai hình giống nhau đối xứng. Có rất nhiều trống đồng chứng tỏ khẳng định này):
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-7-DuongchiTroiDatSongDa.jpg
Hai hình dưới chúng ta có thể vẽ lại như sau:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-7-1doi2va3doi4SongDa.jpg
khonglaai
03-11-2005, 02:56 AM
Theo hình vẽ trên đây chúng ta cũng không phải cố gắng gì cho lắm để nhận thấy tư tưởng Hà Đồ: 1 đối với 2, 3 đối với 4 và 6 đối với 7. Thế nhưng đã hết chưa? Ta lại thấy hình bên trái có 3 số 6 nối với nhau và dễ dàng nhận ra chúng thuộc Nòng. Còn 26 vòng tròn bên trái rời rạc thuộc Nọc. Theo nguyên tắc triều tâm (phải có 4 Nọc triều về tâm), lần này là đồng Nọc tương ứng, có bốn hàng ngang mỗi hàng triều một vòng tròn cũng lập nên trung tâm có 4+1=5. Số còn lại bằng 22. Quý độc giả chắc đã nhận thấy điều gì rồi. Theo Hà Đồ thì số của hai cụm Nọc trội sẽ là 9+4+7+2=22, còn số của hai cụm Nòng trội là 8+3+6+1=18. Vì đường chia bắt đầu từ hai nhà, theo chiều bay của các chim và quán triệt số 5 trung tâm ta có sự phân bố Hà Đồ như sau:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-7-PhanboNocvaNongSongDa.jpg
Vậy ta thấy chỉ cần hai bảng số trên hai cái đình mà nghệ nhân đã diễn tả hầu hết ý tưởng Hà Đồ. Tư tưởng số hóa cũng còn được nhận thấy khi phân tích chứng tích Hậu Thiên. Chúng tôi sẽ viết sau. Với đồ hình này, tôi cho rằng người Việt cổ đã khắc họa Hà Đồ đồng thời chỉ ra nơi Trời đất tách đôi (c HT).
Phương pháp 6, 7, 3, 4:
Phương pháp này rõ ràng là mức hiển thị cao hơn mức của hai phương pháp trên. Có một đồ hình dùng phương pháp này:
Trống Đồng Đông Sơn 1:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-7-TrongDongSon.jpg
Hãy chú ý vào đồ hình: phần trên có ba người dắt nhau đi qua bên trái và phần dưới cũng có ba người dắt nhau qua trái. Trước đây, tôi đã chứng minh đó là hiển thị chiều quay của chữ S thiêng liêng. Và phần 1 chương này, tôi đã chứng minh có cách thiết lập từ 8 bát quái để thành đồ hình tạo nên chữ S theo trùng quái-mỗi bên chỉ dựa trên ba trùng quái. Và chính xác chữ S đó đổi chiều xung quanh trục 4-3. Phía trên, mỗi người đều có mang một số hình dáng dạng lông chim. Nếu độc giả cho rằng những người đã chạm khắc những đồ hình vô cùng đẹp với tính đối xứng cao có thể mắc phải sai lầm thì chúng tôi xin miễn bàn. Còn nếu quý vị cho rằng : “Không thể họ sai lầm ngờ nghệch vậy. Vì chuyện đúc trống là chuyện trọng đại nên có thể khung chạm người ta nghĩ ra những đồ hình bất cân xứng để biểu thị cái gì đó.”. Thì chúng tôi xin được đồng ý với quý vị và thêm rằng: Người nghệ nhân tồi có thể làm sai một lần chứ khó làm sai hai lần. Dưới đây là một lần sai: Các hình lông chim đối diện phía trên là 6 mà phía dưới lại là 7. Sai lầm thứ hai mà khó thể tha thứ được đó là cái đế của đỉnh bên phải người ta chia làm 3 còn bên trái lại chia làm 4. Mà mỗi bên các phần được chia lại bằng nhau mới thấy ông nghệ nhân này ngờ nghệch thật. Quỷ quái thật, đã thế ông ta lại cho chúng bằng nhau nữa chứ!
Quý vị dễ đồng ý với chúng tôi rằng, đó không phải là sai lầm mà là cố ý. Còn cố ý làm việc gì thì ai trong chúng ta cũng rõ rồi. Đồ hình 6, 7, 3, 4 do sự tương xứng (nghiệm duy nhất) nên chỉ có thể là một cách diễn tả Hà Đồ: 1-6, 2-7, 3-8 và 4-9 theo đúng thứ tự của nó.
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-7-HaDoTrongDongSon.jpg
Như vậy, ta có thể kết luận đó chính là Hà Đồ. Bây giờ ta lại chứng minh tiếp nó có liên quan đến Hậu Thiên Bát Quái. Rất tiếc, chúng tôi chịu không thể luận ra nỗi Hậu thiên bát quái nằm ở đâu trong đồ hình này. Thế nhưng những biểu hiện của nó theo các nguyên tắc khung thì có:
a. Có 6 con chim: Trong trống đồng vòng chim hầu hết chỉ việc Hậu Thiên. Tôi sẽ nói rõ hơn ở phần sau. Người xưa cho là mình có nguồn gốc chim và dĩ nhiên chỉ có thời Hậu Thiên mới sinh ra vạn vật. Để rồi con người giống như chim bay đi khắp bốn phương trời. Nhiều hình trên trống đồng có khắc mỗi 6 con chim mới lạ. Khi nghiên cứu trống đồng và cho nó là biểu tượng của Dịch văn, tôi thấy không giải thích nỗi: Tại sao là 6? Thế nhưng, đến lúc phát hiện ra Hậu Thiên phải do trùng quái sinh ra tôi mới hiểu. Đồ hình Hậu Thiên được xây dựng từ trùng quái và vì tính chất của các quái nên Bát Quái chỉ sinh ra 6 (mỗi bên 3) trùng quái đối xứng tâm. Có thể tổ hợp nên 8, nhưng đã dùng tổ hợp một cái này thì phải mất cái kia. Do đó chỉ có 6. Rất nhiều đồ hình trên trống đồng vẽ 6 chim lại có sao 8 cạnh hoặc cái gì đó có 8 cái. Vậy nếu diễn tả chuyện Bát quái đã có 8 cái này rồi thì cần gì đến 6 chim. 6 chim vừa diễn tả chiều chuẩn vừa để diễn tả việc Hậu Thiên-Hậu Thiên Bát Quái được xây từ 6 trùng quái.
b. Đường chữ S được biểu thị bởi ba người mỗi bên đi về bên trái. Ba người biểu tượng cho 3 trùng quái.
c. Giữa 6 con chim mỗi đầu có chừa chỗ rộng hơn một chút chỉ thị cho đường chữ S sẽ đi qua đó. Rất nhiều trống đồng vẽ 6 chim có chừa hai chỗ trống lớn hơn các chỗ trống khác.
d. Phần trên ta thấy đáng lý theo hình chữ S thì người đầu tiên cũng phải quay đầu theo chiều chuẩn. Thế nhưng, anh ta lại quay ngược lại. Điều này chứng tỏ có một quái theo cách phân Hậu Thiên bị tách rời ra và nằm ở phần khác. Chúng tôi sẽ viết thêm về vấn đề này ở chương 10. Ở đây chỉ nói ngắn gọn, Đường chữ S của Hậu Thiên vẫn giống Tiên Thiên. Tức là quy luật vận hành thuộc (mang tính) Trời của Hậu Thiên vẫn giống như Tiên Thiên. Nhưng vì là Hậu Thiên, nên nó còn có một quy luật vận hành thuộc tính Đất nữa song song với quy luật có tính Trời. Đó là quy luật vận hành của Đất và Nước-một triết lý độc đáo của người Việt cổ. Và có hai quái nằm giữa hai quy luật này đó là Càn và Khôn. Nhưng tại sao, ông người phía bên này không quay lại? Tôi cho rằng vì vẽ sao cho toát lên nhiều yếu tố Dịch vì thế muốn tỏ rõ chữ S thì khó mà làm sáng tỏ đường phân Trời Đất. Nên người ta chọn cách biểu hiện tốt nhất mà thôi.
e. Đếm từ đường chia đôi trời và đất, ta có: 4người+7hình lông chim+3(cái đỉnh)=4người+6hình lông chim+4(cái đỉnh)=14.
Như vậy chúng tôi đã chứng minh Trống Đông Sơn 1 có chứa Hà Đồ và có ám chỉ sự liên hệ giữa Hà Đồ và Hậu Thiên Bát Quái. Cuối cùng chúng tôi sẽ cho quý vị thấy một đồ hình mà Hà Đồ đồng thới Hậu Thiên Bát Quái được ẩn chứa trong nó một cách tài tình. Đó là trống đồng Ngọc Lũ.
Phương pháp hiển thị hết 4 cụm số:
Trống đồng Ngọc Lũ:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-7-TrongNgocLu.jpg
Mặt trống:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-7-MatTrongNgocLu.jpg
Mặt trống được vẽ lại chi tiết (đây là hình vẽ anh Thiên Sứ gởi cho tôi trong quyển sách nào đó, đồng thời cũng có thể tìm được trong sách của nhà nghiên cứu Lê Văn Hảo):
Trước khi bắt đầu vào phân tích trống, chúng tôi xin lưu ý quý vị vì người nghệ nhận trên một mặt trống muốn ghi lại nhiều tiền đề chính của Kinh Dịch(Diệc) nên họ phải dùng nhiều phương pháp: phương pháp đếm, phương pháp khác biệt, phương pháp hình tượng có ý nghĩa rõ ràng, phương pháp số học đơn giản (tính mod)…Quan trọng là chúng ta tìm ra một quy luật, một nguyên tắc nhất quán.
Ta bắt đầu xét lại người xưa giấu gì trong đồ hình này:
Bước 1: Hãy nhận thấy rõ ràng có 10 nhóm hình.
Bước 2: Nhóm hai cái đình có người ở trong đình, nhưng không có người động đậy ngoài đình.
Bước 3: Có hai cụm người giống nhau gồm có số người cần vũ khí tương ứng trên là 6 dưới là 7. Như vậy, ta hoàn toàn có thể cho chúng là hai trong bốn cặp số. Vậy hai cặp số còn lại phải là hai cụm người vật còn lại trừ đình vì không có người động ở ngoài.
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-7-MatTrongNgocLu1.jpg
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-7-HaDoMatTrongNgocLu.jpg
Bước 4: Vì các cụm này trải dài cả mặt trống nên ta có thể cho nếu nó biểu hiện Hà Đồ thì chúng chính là những số to. Nguyên tắc tính số rất đơn giản: Đếm tất cả các sinh vật sống động của từng vùng (tức là những sinh vật không bị nhốt trong nhà). Đúng hơn, phải gọi là cụm sinh vật vì nếu như có cụm sinh vật nhưng nó nằm trên một đường thẳng chiếu vào tâm mặt trời thì cũng được tính là 1. Ví dụ cụm chim người ở cạnh hai cái đình tuy hai sinh vật nhưng chỉ được đếm là 1. Như vậy từ hình vẽ lại trên ta có 4 số vòng ngoài: Bắc: 6, Nam: 7, Tây: 9, Đông: 8. Hoàn toàn trùng khớp với Hà Đồ.
Bước 5: Vì các số nhỏ của Hà Đồ nằm trong nên cách tính của nó cũng mang tính nằm trong. Vậy, số nằm trong của hình vẽ trên thuộc nhóm 6, 7 (vì không thể đếm người được nữa) phải là những người nào đó có tính chất đặc biệt-những người không có vòng tròn trên người. Và số nằm trong của nhóm Tây, Đông rất hữu lý nếu được tính ở trong hai cái nhà. Bởi vì hai cái nhà đều được nhóm đánh trống và nhóm giã gạo ở hai bên. Vậy số người của các nhóm đối diện là 1, 3 và 5, 3. Có dính gì đến Hà Đồ nhỉ? Chúng ta lại xét tiếp.
Bước 6: Khi nhìn vào các hình vẽ của trống đồng Ngọc lũ, phải nói chúng tôi “ngán ngẩm” thay cho người nghệ nhân. Ông ta vẽ làm sao quá đỗi lạ lùng. Đập vào mắt chúng ta là sự bất tương xứng ngay trong một nhóm. Trong nhóm bảy người cầm vũ khí, có người đầu tiên nhỏ quá so với các người khác (cả hai nhóm 6 và 7.) Người này lại không được trang trí trên đầu:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-7-Cum6trongNgocLu.jpg
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-7-Cum7trongNgocLu.jpg
Vậy người này được vẽ khác với những người kia để làm gì? Sau đó, ta xét hai cái nhà xem sao:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-7-HainhaNgocLu.jpg
Ba hình trên đây làm tôi nhớ đến những câu hỏi IQ thông dụng: Các người của hai hình trên có ai khác biệt? Các người ngồi trong nhà có ai khác biệt? Câu trả lời đơn giản: Trường hợp hai hình trên, người khác biệt nhất là người đầu tiên trong nhóm bảy người, Trường hợp hai cái nhà, mỗi nhà luôn có hai người quay mặt vào nhau, nên 4 người này không khác biệt. Còn nhà bên trái có em bé ngồi tách ra, xoay hướng khác với hai người kia, vậy em bé là hình người khác biệt. Nhưng như thế đã độc đáo chưa? Thứ nhất, cả hai cụm người, ta đều thấy tính trùng nhau của người vô cùng đặc biệt-đó là người trẻ em. Chính vì thế, đây là một trùng hợp bất thường cần phải chú ý. Chú ý để loại bỏ ra. Thứ hai, khi vẽ hình trẻ em lại không có vòng tròn người ta muốn khẳng định thêm chính người khác cả hai nội dung lẫn hình dáng phải là người khác biệt (là trẻ em) trong nhóm đặc biệt (là nhóm người không có vòng tròn) cần tính, ta không tính vào. Đồng thời, khi lý luận như vậy ta lại có kết quả là người trẻ em phải bỏ đi. Điều này, một lần nữa khẳng định chéo qua hình hai nhà: đích thị trẻ em không tính. Như vậy điều thứ hai và thứ nhất là hai chứng lý khẳng định điểm khác biệt chéo nhau làm cho khẳng định đó càng chính xác hơn. Thứ ba, ta biết rằng số ngoài phải ôm số trong, nên khi vẽ trẻ em không có vòng tròn ở ngoài làm cho chúng ta có thêm một bằng chứng loại trừ trẻ em ra không tính-vì rằng số trong phải nằm trọn vẹn trong số ngoài, trường hợp 6 người cũng vậy và trường hợp 7 người tất yếu cũng vậy. Thứ tư, người nghệ nhân vẽ trẻ em của nhà bên trái lại gần trẻ em của cụm bảy người càng làm đập vào mắt người khác ngay điểm khác biệt để dễ bề suy luận (Tuy nhiên, dành cho những người ít ra cũng biết đồ hình này có liên quan đến Dịch).
Từ đây, ta có thể tìm ra các số nhỏ:
Trường hợp hai nhà: Tìm các sinh vật động trong nhà và trên nóc trừ sinh vật khác biệt. Nhà bên trái: hai chim, hai người=4. Nhà bên phải: một chim, hai người=3.
Trường hợp hai cụm người: Tìm những người không có vòng tròn trừ người khác biệt. Cụm người trên: 1. Cụm người dưới: 2.
Như vậy, đã rõ: ta có bốn cụm số sau đây: Bắc-Trên: 6-1, Nam-Dưới: 7-2, Tây-Trái: 9-4. Đông-Phải: 8-3. Đây chính là Hà Đồ.
Lưu ý, phần chứng minh Hậu Thiên, chúng tôi có bằng chứng xác đáng cho việc người nghệ nhân phải khắc ở trong nhà bên trái chính xác 3 người. Ông ta có thể khắc 1 người hay 5 người, nhưng như thế trường hợp đầu sẽ được tổng là ba, còn trường hợp sau tổng là 7. Không thỏa đáng. Nên ông ta phải khắc 3 và muốn bỏ một đành phải vẽ trẻ em. Đó là phương pháp vô cùng thông minh của người nghệ nhân. Về phần chứng minh Hà Đồ liên quan đến Hậu Thiên trong trống đồng Ngọc Lũ, chúng tôi sẽ đề cập sau.
Đến đây, chúng tôi xin kết thúc phần chứng minh Hà Đồ trong các cổ vật của Việt Nam ta. Người Việt cổ đã bằng cách này hay cách khác để mã hóa Hà Đồ. Sự phong phú của các phương pháp làm chúng ta liên tưởng, người xưa đã thi nhau sáng tác ra những đồ hình khác nhau để mã hóa toàn bộ những tiền đề Kinh Dịch (Diệc).
khonglaai
03-11-2005, 03:53 AM
8. Hậu Thiên Bát Quái-một sản phẩm trí tuệ của người Việt.
Có bốn trống đồng theo chúng tôi có mã hóa Hậu Thiên: Đông Sơn, Sông Đà, Ngọc Lũ và Hoàng Hạ. Tuy nhiên vì trống đồng Đông Sơn chúng tôi không thể nào giải mã được, trống Hoàng Hạ thì nhiều chi tiết không rõ ràng nên chỉ phân tích hai trống đồng Sông Đà và Ngọc Lũ mà thôi.
Phương pháp số hóa vài (ít nhất là 4) quái liền nhau+dùng đối xứng tâm:
Trống đồng Sông Đà:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-8-HTBQALSongDa.jpg
Chú ý một điều, hình chứa 26 vòng tròn nếu đọc từ tâm ra (luôn luôn có nguyên tắc viết từ gần Mặt trời ra ngoài. Vậy, hình 26 vòng tròn viết qua ngôn ngữ bát quái (chỉ lấy 3 lớp gần tâm) là 6-7-6, hay là nòngnọcnòng=Khảm.
Phía bên trái có 3 người đi và 4 người đánh trống=7=Càn.
Hình nhà bên trái có 3 vật động là chim và hai người=Tốn.
Tiếp đến cụm 6 người. Có nhiều trống đồng khắc hình người giã gạo tuy nhiên lại có hai cụm người đối xứng nhau như: trống đồng Ngọc Lũ, trống đồng Hoàng Hạ, Cổ Loa. Thế nhưng ở đây lại thêm vào hình hai người giã gạo chỉ một bên. Điều này chỉ giải thích logic là nghệ nhân muốn thêm vào để tính số người. Quý vị có thể hỏi: Thế tại sao không thêm vào 2 người giống như cụm 4 người? Rất đơn giản, nếu như thế thì không toát lên được ý đồ Tứ Tượng và Tiên Thiên qua công thức 3-3----4-4. Người nghệ nhân muốn ghi trên trống đồng hết những tinh hoa của Kinh Dịch (Diệc). Vậy, cụm tiếp theo cần tính là 6=Đoài.
Lại hỏi: Vì sao không tính từ Khảm về phía bên phải: Thứ nhất, tính về phía bên trái ta nhận được hoàn toàn 4 quái khác nhau còn về bên phải thì cụm ba người với cụm 3 sinh vật động sẽ dẫn đến hai quái giống nhau. Hay ít ra muốn tìm quái khác nhau phải giải thích rườm rà. Thứ hai, tính từ Khảm về bên trái phù hợp với chiều chim bay. Chắc đây cũng chính là ý đồ của nghệ nhân. Bởi vì thời Hậu Thiên có Khảm chủ tế, nên Khảm được vẽ lại đúng đắn chính xác theo các lớp (từ gần trời nhất ra), sau đó cứ theo chiều chim bay mà vẽ ám chỉ các quái khác (trong trường hợp này là dùng số của quái). Làm như thế người nhìn vào cũng có thể theo lý luận Khảm chủ tế, chiều bay chuẩn mà suy lại các quái dễ dàng.
Như vậy ta có bốn quái liền nhau: Khảm-Càn-Tốn-Đoài. Lấy nguyên tắc tổng bằng 7 (hay cặp ngược nhau phải đối xứng qua tâm ta dễ dàng xây dựng nên bát quái sau (cho phép tôi không viết qua ngôn ngữ nòng nọc vì như thế độc giả không quen nhìn):
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-8-HTBQAL1.jpg
Đồ hình này cũng chỉ rõ đường phân Đất và Nước là đường đi qua hai hình đối xứng nhất-đó là hai cái nhà. Ý tưởng Khảm chủ tế và quy luật vận hành Hậu Thiên Đất-Nước (chú ý có hai quy luật của Hậu Thiên: một thuộc Trời và một thuộc Đất) của Sông Đà chúng tôi đã có viết đến ở các chương trên. Vậy trống đồng Sông Đà miêu tả Hậu Thiên Bát Quái Âu-Lạc. Tuy nhiên, do phương pháp tính lượng số nên khó có thể diễn tả hết các quái. Bởi vì nếu làm hết các quái như vậy thì chúng ta sẽ khó nhận ra công thức 3-3---4-4 của Tiên Thiên. Nhưng theo chúng tôi, chỉ cần như vậy có thể nhận được bát quái bởi vì định luật đối xứng F1,8 là triết lý khá quen thuộc. Đồng thời, các trí thức xưa đều giỏi Kinh Dịch nên nghệ nhân chỉ cần như vậy là người khác có thể hiểu được (có ai ngờ chỉ ngàn năm với sự nô dịch văn hóa của người phương Bắc đã làm bao nhiêu tri thức của dân tộc ta rơi rớt hêt. Và trơ lại những trống đồng mãi đến bây giờ ít người hiểu ra và nghiên cứu nó. Thật đáng tiếc.). Ngoài ra, ta thấy cụm người đối xứng với Càn bằng 8=0(mod 8)=Khôn. Đây chính là một ám chỉ sự đối đầu nhau của các quái nghịch nhau.
Nhưng, nghệ nhân làm trống đồng Ngọc Lũ đã bước một bước tiến dài.
khonglaai
03-11-2005, 04:09 AM
Phương pháp viết quái theo ba lớp qua suy luận chẵn lẻ:
Để giải quyết việc lồng hai đồ hình Tiên Thiên và Hậu Thiên, người nghệ nhân đã tìm ra phương pháp: làm thêm vòng tròn khác chứa tư tưởng Tiên Thiên và chứa tư tưởng Khảm chủ tế và quy luật vận hành Đất-Nước:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-8-HTBQALNgocLu.jpg
Đó là vòng tròn chứa 10 nai-8 chim-10 nai-6 chim. Ý tứ thêm 10 nai vào đây khá rõ: nghệ nhân muốn phân biệt hai nhóm đối xứng là Nai-ChimóNai-Chim hay là 18-16 Nếu tính Nai-chim thì ta có hai nhóm 18 động vật và 16 động vật. Lại lần nữa thấy cặp số 18 và 16 chỉ việc Khảm chủ tế và vận đông uyên nguyên Đất-Nước. Còn đường đối xứng qua vòng tròn này chính là đường chia 6 chim và 8 chim ra làm đôi. Ta nhận được công thức mã hóa quen thuộc 3-3---4-4. Người xưa không thể vẽ khác được vì chỉ như vậy mới hiển lộ các nhóm 18-16 và 3-3---4-4.
Khi tính số Hà Đồ ta phải phân tích theo 4 cụm nên những gì của bốn cụm giống nhau ta phải lấy để tính. Còn bây giờ ta lại tính bát quái, mà ở đây có 10 cụm theo từng cặp sau:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-8-HaicaidinhNgocLu.jpg
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-8-HaigiagaogocLu.jpg
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-8-HaicumdanhtrongNgocLu.jpg
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-8-HaicumnguoiNgocLu.jpg
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-8-HainhaNgocLu.jpg
Mà chúng ta chỉ có 8 quái thôi, phải loại cặp nào không tính? Lại một câu hỏi IQ quen thuộc: trong 5 cặp trên, cặp nào khác nhất? Quý vị dễ dàng nhận thấy đó là cặp cụm ba người giã gạo. Vậy ta đã có 4 cặp của 8 đồ hình đối xứng nhau. Ta xét từng cặp một:
khonglaai
03-11-2005, 04:52 AM
Cặp thứ nhất: Hai cái Đình.
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-8-HaicaidinhNgocLu.jpg
Tôi cho rằng đó là hai cái đình. Và bất kỳ một làng xã nào của Việt Nam xưa đều có hai cái Đình: một để cúng Trời, hai để cầu mùa màng, hội hè. Hình bên phải có số 15. Ta đã quên chuyện người nghệ nhân làm sai rồi, vậy 15 chính là Trời vì các lý do chúng tôi cũng đã nói đến chương trước: thứ nhất-15 có thể chia thành 3 lớp mỗi lớp 5 thành Càn, thứ hai- 15 mod (8)=7=Càn. Thứ ba- chúng ta thấy số cánh sao là 14, 15=1(mod 14). Đây là số 1 lớn nhất của trời đất chỉ Trời. Tức là số hiện hữu, tồn tại. Chỉ có Thái Cực là tồn tại vĩnh viễn. Còn một điều nữa khẳng định đấy là Trời: ta thấy người trong đình giơ hai tay lên Trời. Vậy đồ hình bên phải chính là Càn.
Đồ hình bên Trái có số 14. Số 14 biểu thị cho Hậu Thiên (trời đất phân đôi và tổng các lượng số hai phần bằng 28/2=14), đối xứng với Tiên Thiên. Tiên Thiên chỉ Trời vậy Hậu Thiên chỉ việc Đất. Chính thế 14 chỉ thị Khôn. Thứ hai 14=0(mod 14). Số không lớn nhất đối với số hiện hữu, tồn tại nghịch với Thái Cực. Vậy 14 cũng chỉ thị Khôn theo lẽ này. Thứ ba, hình người ờ trong đánh trống cho việc hội hè (phần thuộc Hậu Thiên) nên cũng chỉ thị Khôn (chú ý có thể đánh trống ở các chỗ khác thì không suy ra Khôn, nhưng đây là đánh trống trong Đình). Thứ tư, ở bên phải của khung Đình (hữu Nòng) có một vòng tròn biểu thị đây chính là phần Nòng lớn nhất. Có nghĩa là Khôn.
Ta có cặp Càn-Khôn.
Cặp thứ hai: Hai cái nhà. Mã hóa quái bằng 3 lớp: nóc nhà, trong nhà và đế nhà.
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-8-HainhaNgocLu1.jpg
Nguyên tắc viết cũng theo từ gần tâm ra: gần tâm viết trước, xa tâm viết sau. Như vậy, ta có hai quái sau: 2-3-3, 1-2-4 hay chuyển qua ngôn ngữ Nòng Nọc ta được NòngNọcNọc, NọcNòngNòng hay là Tốn và Chấn. Như thấy, nghệ nhân không thể nào vẽ hình trái-trong nhà số khác ngoài 3 được. Ngoài ra, để khẳng định lớp 3 của hình bên phải phải là Nòng còn một lý nữa: đó là có người bên hữu. Nên lớp dưới là Nòng vậy lớp dưới của hình đối nó là Nọc. Như vậy ta nhận được cặp Tốn-Chấn. Đến đây, quý vị có thể thấy vì sao nghệ nhân bắt buộc phải vẽ trẻ em. Vì ông không thể vẽ cái nhà thứ nhất, lớp 2 bằng số chẵn được hay chính xác hơn là số 2. Chính vì thế, ông phải nhờ đến trẻ em và nhờ cụm 7 người cũng vẽ trẻ em để tạo ra một quy luât. Thật vô cùng thông minh.
Cặp thứ ba: Hai cụm 4 người đánh trống.
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-8-HaicumdanhtrongNgocLu1.jpg
Ta lại ra một quy luật tính cho hai đồ hình này: Trước theo chiều chuẩn, sau theo tính gần xa tâm. Có một câu hỏi: Sao lạ? Tại sao lúc xét đồ hình hai nhà cũng chia làm ba lớp như vậy, tác giả không đặt ra vấn đề chiều chuẩn mà đến đây lại đặt ra quy luật đó? Không có gì vô lý cả. Nếu quý vị cũng đặt ra tiêu chuẩn đó cũng không thể lật ngược lại kết quả bởi vì người nghệ nhân đã tính toán một cách tài tình. Nếu ta vẽ một đường từ tâm ra như dưới đây ta sẽ thấy sự khác biệt chỉ có trong hai đồ hình sau còn hai hình nhà thì các vật để tính số thì hầu như đến cùng một lúc:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-8-diengiainguyentacNgocLu1.jpg
Vì thế, khi xét hai nhà vấn đề chiều chuẩn không cần đặt ra. Hơn nữa, mỗi cặp đối xứng khác nhau ta có thể đưa ra những quy luật khác nhau để tính làm sao cho hợp logic. Thật ra, việc đặt ra chiều chuẩn là do vật lạ cách chiều chuẩn khá xa và tại sao không đặt bên trái mà đặt bên phải nếu cho là từ tâm ra thì 1 nào không 1, việc gì phải để bên phải xa thế. Hoàn toàn hợp lý khi cho người xưa đã lồng tư tưởng chiều chuẩn vào.
Vậy ta có cặp quái sau: 1-3-4, 4-4-1. Theo ngôn ngữ Nòng Nọc sẽ là NọcNọcNòng và NòngNòngNọc hay Đoài-Cấn. Chúng tôi cho rằng chính xác cặp này người nghệ nhân muốn mã hóa. Bởi vì, tại sao không để vật lạ ở dưới cùng? Để đâu nữa, không còn chỗ để đặt nó vào. Nếu để vào phần trống đồng thì ta lại nhận một Nọc thay vì Nòng. Nếu muốn diễn tả quái 1-4-4 thì sao ông không đơn giản vẽ hình tượng lạ ở phía bên trái cho khỏi có những hiểu lầm không đáng có. Vậy ông vẽ bên phải chính nhằm mục đích khác, mục đích làm cho người xem thấy quy chiếu của chiều chuẩn. Ngoài ra, ông để bên phải vì có tác dụng đập vào mắt người khác tính khác biệt rất xa của một người đứng lên và một vật lạ treo lửng lơ. Rồi tại sao không vẽ người bên phải cũng đứng lên? Cũng không được bởi vì lúc đó lớp giữa của cụm bên phải sẽ là Nọc thay vì Nòng. Như vậy, khi vẽ một cách ngược đời: một người đứng lên bên trái của hình trái và vật lạ treo lơ lửng bên phải của hình phải nghệ nhân đã có ý mã hóa Đoài-Cấn.Sự lệch lạc bất tương xứng của hai cụm người đánh trống thì ai ai cũng dễ chấp nhận với chúng tôi là dùng để mã hoá cái gì đó. Còn mã hoá gì thì chúng tôi đã luận ra như trên.
Cặp thứ tư: Hai cụm người 6, 7.
Thật ra cần gì phải tính với toán. Bởi vì, ta đã vẽ xong 6 quái, còn hai quái Khảm-Ly dựa trên Hà Đồ thì suy ra Khảm phải nằm ở khu vực 6, Ly khu vực 7 người. Nhưng, tôi cho rằng người xưa cần phải hiển thị một lần nữa đế có tác dụng khẳng định lần thứ hai. Hai lần khẳng định vẫn tốt hơn một lần. Tức là, khi đã ta có một chút gì đó nghi ngờ cách biểu diễn quái nào đó, thì sự tin chắc vào các cách biểu diễn các quái còn lại làm chúng ta khẳng định ngược lại, quái vừa nhận chính xác được biểu diễn như vậy.
Vậy còn lại hai cụm người. Hai cụm này làm sao chia làm ba lớp. Dĩ nhiên là phải chia theo phép đối xứng cộng thêm chiều chuẩn. Ta thấy chỉ có một cách chia hợp lý nhất như sau:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-8-HaicumnguoiNgocLu1.jpg
Đặt một quy tắc: người cuối cùng của từng nhóm mang tính Nòng Nọc của lớp đó. Theo quy tắc chiều chuẩn ta nhận được hai quái tương ứng: NòngNọcNòng và NọcNòngNọc hay là Khảm và Ly. Chúng tôi cho rằng, người nghệ nhân đã dùng chính quy tắc này để mã hóa. Bởi vì, với triết lý trọng nước lúc bấy giờ, ông phải chú trọng vào việc mã hóa Khảm hơn Ly (cũng vì Ly tự động được suy ra từ Khảm). Và thực tế đã chứng minh điều này. Ta thấy với nguyên tắc trên thì nếu tính từ trái qua phải hay từ phải qua trái, ta đều nhận được Khảm. Chứng tỏ một điều người nghệ nhân muốn nhấn mạnh đây là một quái không có các lớp giống nhau nhưng quay ngược xuôi đều được. Việc nhấn mạnh cho quái Khảm này không thể lặp lại cho Ly được vì rằng cụm bảy người dưới cũng phải dùng để luận cho Hà Đồ. Nghệ nhận bắt buộc phải làm người đầu tiên bằng không vì muốn nhấn mạnh trẻ em cùng một nội dung phải bị loại ra. Khi nhận thấy điều này, nghệ nhân không thể làm toát lên tính xoay ngược xuôi của Ly, ông chuyển sang mã hóa một cách tuyệt đẹp cho Khảm. Và phải nói ông tính rất cẩn thận: ông sợ có người nghĩ ra cần tính số của Hà Đồ là phải theo nguyên tắc trẻ em không tính vào, cũng nghĩ trong trường hợp giải mã Hậu Thiên cũng bỏ trẻ em đi. Vì thế, nên trong cụm 7 người ông phải làm cho người đầu tiên của nhóm 2 là Nọc. Bằng cách này, nếu có ai bỏ trẻ em đi và phân theo từng nhóm 2-2-2 vẫn nhận được quái 1-0-1=Ly.
Chúng ta dễ thấy là người nghệ nhân tài hoa đã làm hết tất cả các quái theo ba lớp. Và rất khó, vô cùng khó khi chúng ta có thể hiểu lầm, giải lầm một quái nào đó. Bởi vì, khi mã hoá tất cả các quái thì sự đúng đắn của quái này ràng buộc vào với quái kia. Rồi vì sao phải viết các lớp từ trong ra thật đơn giản và nếu nhìn vào trống đồng ta mới thấy đơn gian. Đó là vì giữa trống đồng bao giờ cũng có mặt trời chủ đao. Nên việc viết các lớp phải từ mặt trời ra, tức lớp càng gần trời thì càng đóng vai trò chủ đạo để tạo nên số của quái. Còn nếu vẽ như người Trung Hoa không có mặt trời chủ đạo thì khó giải thích. Vậy rõ ràng, nguyên tắc viết từ trong ra đã được người nghệ nhân trống Ngọc Lũ đã làm ra. Hay chính đó là quy tắc viết chung lúc bấy giờ. Điều này cộng với việc khó giải thích cách vẽ bát quái của người Trung Hoa lại một lần nữa chứng minh sơ đồ: Thấy->Không hiểu-> và Past.
Như vậy, chúng ta đã kết thúc xong phần giải mã các quái của Hậu Thiên. Một lần nữa ta lại nhận được Bát quái giống như trường hợp Sông Đà:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-8-HTBQAL1.jpg
Phải nói trống đồng Ngọc Lũ là một kiệt tác về Kinh Dịch. Chúng tôi chưa thấy một kinh văn ngắn gọn nào giới thiệu Kinh Dịch tổng quát như thế:
a. Phần thân trống như trong chương 6, chúng tôi đã phân tích có thể khắc Tứ Tượng và cũng có thể có cả Tiên Thiên Bát Quái. Tuy nhiên, chúng tôi không có các hình vẽ của tang trống nên không dám chắc. Ta chú ý tỷ lệ giữa chiều cao tang trống và đường kính mặt trống 86/63= 1,365≈18/15. Tỷ lệ này của trống Hoàng Hạ khá chính xác: 1,265≈18/15=1,2.
b. Phần mặt trống vòng ngoài có 18 con chim phượng hoàng (hay trĩ, hay Diệc?) bay ngược chiều kim đồng hồ chỉ thị cho Thuần Khảm-Tính trọng Nước của dân tộc ta. Ngoài ra, còn có 18 con chim khác nhỏ hơn bay theo từng cặp với chim phượng hoàng. 18+18=36 là gì? Là Thuần Chấn, tư tưởng trọng phương Đông, phía biển với nhiều Nước. Hay là tư tưởng Đế xuất hồ Chấn cũng vậy.
c. Vòng tiếp theo là 10 nai - 6 chim – 10 nai – 8 chim. Vừa chỉ thị cặp số 16-18 nói lên nguyên tắc Khảm chủ tế, còn quy luật vận hành là vòng giao hưởng hài hòa giữa Đất và Nước. 10-tư tưởng hệ thập phân. 6-8 qua đường đối xứng được chia thành công thức 3-3---4-4 để chỉ thị Tứ Tượng và Tiên Thiên Bát Quái. Ở đây, nếu chỉ thuần tuý biểu diễn công thức 3-3---4-4 thì người nghệ nhân chỉ cần vẽ 6-8 chim là đủ. Thế nhưng ông đã vẽ thêm mỗi bên 10 con nai (vật khác với con chim) nhằm khẳng định quy luật 18-16 của thời Hậu Thiên.
d. Vòng có vẽ người trong cùng là một mật mã phức tạp vừa chứa Hà Đồ vừa chứa Hậu Thiên, chúng tôi đã kể ở trên. Ngoài ra tôi xin kể thêm vài chi tiết thú vị nữa. Thứ nhất, hai chốn linh thiêng nhất chính là hai cái đình. Nói về người thì chúng chỉ khác tư thế của hai tay-điều này để luận chuyện khác, nhưng so với các nhóm khác không thấy sự khác nhau về số người và tư thế thân người (cả hai người đều đứng. Chứ nếu một người ngồi một người đứng thì chúng tôi cũng khó khẳng định). Như vậy cũng có thể cho đây là chỉ thị cho đường nào đó. Mà đường đó phải linh thiêng? Đường nào linh thiêng ngoài đường chữ S. Theo phân tích của bát quái Hậu Thiên Âu-Lạc thì chính nơi đây đường S đi qua. Thứ hai, 3 người giã gạo cũng có đối xứng tuyệt đối. Và chuyện giã gạo là chuyện của trần gian nên đây lại chỉ thị cho Trời-Đất tách đôi. Lại một lần nữa đúng đến chính xác. Đường cắt Trời-Đất cắt chính giữa Càn và Tốn. Thứ ba, nếu ra quy tắc tính tất cả số người và vật động ở ngoài không kể cả đình lẫn nhà (hai kiến trúc có vòm) và trừ người có tư thế khác nhất, ta được gì? Người có tư thế khác nhất là ai? Là anh chàng đứng mà đánh trống, còn người trẻ em tuy trẻ em nhưng cũng có tư thế đứng đàng hoàng. Vậy ta có phần từ Càn đến Chấn: 6+4+3+1chim=14, phần từ Khôn đến hết Tốn: 7+3+3+1chim=14. Chính vì thế mà nghệ nhân đã vẽ thêm chim trên đầu (vẽ để mà tính vào việc khác, còn trên đầu thì để tính Hà Đồ) một người.
e. Trong cùng là hình sao 14 cánh. 14-tương trưng cho Hậu Thiên, tượng trưng cho vũ trụ đã thành hình. Nó chính là lượng số của hai phần bị tách đôi.
f. Ngoài ra khác với trống đồng Sông Đà, trống đồng Ngọc Lũ còn chỉ rõ sự trùng nhau về hướng của cả Tiên Thiên và Hậu Thiên. Cặp 3-3 nằm đúng vào cụm 7 người. Tuy nhiên, chúng tôi không cho đây là quan trọng. Bởi vì khi vẽ Càn nằm phương Nam, người xưa ngụ ý tính dương, nóng của nó. Nhưng thời Tiên Thiên thì không thể có phương hay hướng gì. Bởi vậy, có ngụ ý tính Nọc cao hay không ngụ ý cũng không phải là điều quan trọng lắm.
khonglaai
03-11-2005, 06:36 AM
9. Chứng minh các hệ luận còn lại.
Xin nhắc lại các hệ luận cần chứng minh trong phần Hậu Thiên:
a. Chứng minh người xưa có đặt điều kiện F1,8: Đây hầu như là điều kiện quá tự nhiên vì lẽ đó là triết lý khá phổ biến lúc bấy giờ trên toàn thế giới. Ngoài ra, khi tưởng tượng ra Cóc có bà con thân thích với Thái Cực và chia Thái Cực ra lưỡng nghi Nòng và Nọc đã thấy sự hình thành triết lý một thống nhất chứa hai đối cực mâu thuẫn nhau.
b. Chứng minh Trọng Nước: Tôi đã nói ở các phần trên. Nhưng có đồ hình trên trống đồng còn chỉ rõ hẳn trục Khảm-Ly. Chúng tôi dẫn ra sau.
c. Chứng minh người xưa có chia trục Trời-Đất.
d. Chứng minh có Trùng Quái. Cái này tôi đã chứng minh ở chương trên.
e. Chứng minh từ bát quái (8 quái) mà trên đồ hình Hậu Thiên phải có ám chỉ 6 Trùng Quái.
f. Và chung quy phải chứng minh được đồ hình chúng ta vừa suy luận ra là của người Việt Nam xưa.
g. Một chứng minh nhỏ nữa là chứng minh việc hai quái trong Hậu Thiên được chồng lên nhau.
Và phần Hà Đồ:
a. Trong các cổ vật của Việt Nam có ghi Hà Đồ.
b. Có cho ta thấy Hà Đồ liên hệ đến Hậu Thiên.
c. Có câu mẹ tròn con vuông (dĩ nhiên là của người Việt Nam ta, không hiểu vì sao người Trung Hoa lại lấy đó để gọi Hà Đồ là tròn mà Lạc Thư là vuông rồi họ lý luận loanh quanh để ra cái đồ hình quái dị). Tôi cho rằng Hà đồ có 4 cặp số, có ý sắp xếp lại theo hình vuông 8 ô. Và mẹ là ai? Chúng tôi luôn luôn dẫn chứng từ logic đến các triết lý tôn giáo chứng tỏ Mẹ là Thái Cực. Dạng của nó là Thái Cực đồ hình tròn, nên nói Hà Đồ có dạng hình vuông cũng vô cùng hợp lý. Từ đây, hãy chứng minh có tròn có vuông trong các cổ vật của Việt Nam ta.
d. Có chứng cứ của số to ôm lấy số nhỏ.
Tất cả các hệ luận này đều đã được chứng minh rải rác ở các phần trên, chỉ còn phần Hậu Thiên g.
Chúng tôi muốn nhấn mạnh thêm về hệ luận e. Hệ luận e được chứng minh hoàn hảo bởi trống đồng Đông Sơn đã dẫn trên. Trống đồng Đông Sơn có sao 8 cạnh mà lại chỉ có 6 chim. Mà 6 chim lại có hai khoảng trống to hơn các khoảng trống khác chứng tỏ đó là điểm chia chữ S. Trong kho tàng trống đồng Việt Nam còn có nhiều trống đồng hiển thị điều này như: trống đồng Đội Rỗ, Hà Nội, Hòa Bình, Nông Cống (rất rõ ràng), Thiết Cường, Vĩnh Ninh, Yên Tập, Đa Bút, Định Công 1, Phú Xuyên….Trống Đồng Phú Xuyên có nhiều điểm khá lý thú:
a. Có ngôi sao 14 cánh: Tượng trưng Hậu Thiên.
b. Có 6 chim cũng ám chỉ 8 chuyển qua 6.
c. Có 4 con long mã gần Trời tượng trưng Tứ Tượng.
d. Có đường chia rõ ràng giữa hai nhóm 3 chim.
e. Có hai chim đối đầu nhau: chim đối đầu lại là chim sau theo chiều chuẩn ám chỉ việc chồng lên nhau của hai quái để thành trùng quái. Chứng minh cho hệ luận g.
f. Hai nhóm chim ngược chiều nhau tượng trưng cho chữ S thiêng liêng.
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-1-CasauTrongDongPhuXuyen.jpg
Trống đồng Đặc Giáo cũng là một trong những trống đồng số hoá toàn diện và rất khôn khéo. Có lẽ đây là trống đồng duy nhất số hoá toàn bộ Kinh Dịch. Hiển nhiên, muốn dịch được nó phải hiểu những nguyên tắc đơn giản: F1,8, Hậu Thiên tính từ Hà Đồ theo phương pháp số học đơn giản nhất. Cặp 5-10 cũng thể hiện ngay trong tâm. Nếu theo nguyên tắc tâm triều tâm và nghĩ Mặt Trời 10 cạnh thật ra là một vòng tròn + 10 cạnh hình tam giác. Cùng với 4 vòng tròn triều tâm chúng ta được cặp 5-10. Người nghệ nhân còn chu đáo nghĩ cách mã hoá ngôi chủ toạ Hậu Thiên là Khảm-Ly. Thật ra việc dùng các con sồ để diễn tả hết tất cả các đồ hình Dịch rất khó khăn. Anh có thể mã hoá tốt công thức 3-3---4-4, công thức Hà Đồ thì cũng khó làm thêm được Hậu Thiên. Nên mỗi nghệ nhân tìm cho mình một phương án tốt ưu để chuyển tải nhiều nhất nội dung Dịch. Trong trường hợp trống Đặc Giáo người nghệ nhân muốn thêm vào ngôi chủ toạ của trục Khảm-Ly. Lúc chúng tôi giải mã đồ hình này, chúng tôi ngạc nhiên nhất là 4 vòng tròn trước mỏ chim. Hầu hết, các vòng tròn đều được dùng để làm gì đó. Ví dụ các cụm 3, 3, 4, 4 chỉ Tiên Thiên. Còn các cụm 11 thì ghi thông điệp Hà Đồ, nhờ lý luận cụm lẻ, cụm chẵn thông qua số 3 và số 4 ngồi trên nó. Thế nhưng bốn vòng tròn trước mỏ các con chim để làm gì? Nó quá đối xứng làm chúng ta khó nghĩ ra mỗi vòng tròn biểu thị cho cái gì. Thế nhưng, nghệ nhân vẫn vẽ nó. Chỉ còn với một ý đồ là người ta đếm nó. Vậy các số ở ngoài bằng bao nhiêu: 3+3+4+4+4=18. Còn các số Nọc là các số 11 và 1 vòng tròn Mặt Trời. Vậy phần Nọc là 4x11+1=45. Viết bằng ngôn ngữ nhị phân ta được: 18=Thuần Khảm và 45=Thuần Ly. Như vậy, trống đồng Đặc Giáo đã mô tả ngôi chủ toạ của trục Khảm-Ly. Không những Khảm-Ly bình thường mà là Thuần Khảm-Thuần Ly. Có nghĩa lý Hậu Thiên có dính dáng đến trùng quái. Và Hậu Thiên Bát Quái được xây dựng nên từ việc trùng quái.
Như vậy, chúng tôi đã kết thúc việc chứng minh: “Các tiền đề của Kinh Dịch là của người Việt Nam. Mà là các tiền đề đúng. Hoàn toàn không cần phủ lên đó bức màn huyền bí hay thần thoại.”.
khonglaai
03-11-2005, 10:59 PM
Chương 8.
So sánh hai Kinh Dịch.
Đến đây, chúng ta hoàn toàn tìm thấy hầu hết các lời giải logic cho những nghi án Kinh Dịch. Kinh Dịch là của người Việt Nam và người Trung Hoa biết điều đó. Chính vì thế, đây là vụ đạo triết học lớn nhất trong lịch sử mà bên nguyên đơn lại không có sử liệu hay sách vở gì để chứng minh (bởi vì người Trung Hoa đã cướp, đốt hết). Đồng thời vì âm mưu triệt diệt văn hoá Việt nên người Trung Hoa đã bắt, giết hầu hết các trí sỹ Việt. Và cuối cùng, dân tộc làm ra Kinh Dịch không còn người hiểu được những nguyên lý Dịch truyền thống. Nhưng Trời bất dung gian. Với các huyền thoại họ thêu dệt vào Kinh Dịch của họ cộng thêm cái Hậu Thiên Bát Quái luộm thuộm, họ đã tự làm lộ tẩy mình. Vì họ không có cội rễ nên họ không hiểu các đồ hình đó nói cái gì, làm từ đâu, tính toán thế nào nên họ bịa ra những nguyên tắc lố bịch, lủng củng, không nhất quán. Công việc của họ là copy, cải biên và past cái của người khác. (Giống như trò giỏi đi thi, viết 2+2=4, còn anh dốt không biết điều đó nhìn trộm qua bài bạn thấy số 4 tưởng là số 9 nên lại viết 2+2=9. ). Để cuối cùng luận ra một cái Hậu Thiên sai bét!!! Chúng ta hãy cùng nhau so sánh logic của hai Kinh Dịch.
1. Khởi thuỷ của Dịch:
Dịch Trung Hoa: Long mã chứa Hà Đồ. Không có con Long Mã như thế. Sự quyết đoán của người Trung Hoa về con Long Mã tưởng tượng này theo logic có thể suy ra, người Trung Hoa bằng cách nào đó đã có một tấm đồ hình được vẽ trên da một con gì dưới nước có những vảy đặc biệt. Hay nói cách khác, họ đã có được một tấm đồ hình Hà Đồ được vẽ trên da cá sấu. Còn cách nào họ có ta phải xét xem hệ quả nào người Trung Hoa rút ra từ đó. Có hai suy luận logic sau:
a. Chính người Trung Hoa vẽ ra nó. Vậy người Trung Hoa phải vẽ ra đầu tiên và họ phải tường tận hiểu nó dùng để làm gì.
b. Người khác vẽ ra nó và người Trung Hoa chiếm đoạt được. Nếu như vậy, đó là sắc dân nào, bằng chứng nào chỉ ra dân tộc này có trong tay Hà Đồ. Và bằng chứng nào chỉ ra họ hiểu nó tường tận?
Dịch Việt (Diệc): Con cóc. Qua các quan sát tự nhiên lúc trời mưa. Hay tưởng tượng bằng trí tuệ thấy mình cóc có chứa sao Bắc Đẩu-7 sao. Không cần huyền bí hoá, bởi vì đây chỉ là bước khởi đầu. Quan trọng các bước sau phải hợp logic với bước đầu.
Vậy, về khởi thuỷ của Dịch của người Trung Hoa và người Việt Nam đã có nhiều khác biệt. Nhu cầu huyền bí hoá Kinh Dịch của người Trung Hoa đã vô tình cho chúng ta thấy có gì đó không ổn. Và nếu ta chứng minh, cái Hà đồ chẳng ăn nhập gì với hệ quả người Trung Hoa rút ra thì rõ ràng câu chuyện long mã là chuyện bịa để che giấu việc đạo tư tưởng của người khác.
2. Hai nghi hay hai bản thể của mẹ vũ trụ:
Dịch Trung Hoa: Ông Phục Hy, khi nhìn thấy Hà đồ, đã sáng tác ra hai nghi: Âm Dương. Và chính ông vạch ra hai biểu tượng của chúng. Vô lý! Về logic Hà đồ phức tạp hơn hai nghi. Có hai chiều ngược nhau: Từ Hà Đồ xây dựng nên hai nghi và từ hai nghi dẫn dắt đến Hà Đồ bằng suy luận logic. Chứng minh sự vô lý của cách suy luận từ Hà Đồ sang hai nghi không có gì bằng cách chứng minh cả một con đường logic đi từ hai nghi đến Hà Đồ. Hơn nữa, hành trình logic từ Hà Đồ sang Âm, Dương bị khuyết một mắc xích. Ít ra trong Dịch Trung Hoa, người ta đã có lúc nào đó dùng một vòng tròn chỉ nghi Dương và hai vòng tròn chỉ nghi Âm. Sau đó, họ giản lược lại thành các vạch như bây giờ. Ngoài ra, khi đặt Âm Dương làm hai nghi của Thái Cực, họ không hề đặt vấn đề lượng số ra. Họ chỉ cho ra ý nghĩa triết học của nó là hai thể thể đối kháng nhau trong một tổng thể thống nhất. Điều này dẫn đến họ không tính toán theo logic số học nhị phân. Không hiểu nguyên tắc nhị phân số học này của hai bản thể nên họ vô cùng lúng túng không hiểu giải thích vì sao chẵn lại thuộc Âm mà lẻ lại thuộc. Và cũng chính vì thế, khi luận Hậu Thiên Bát Quái họ đã làm hết sai lầm này đến sai lầm khác.
Dịch Việt: Hai con nòng nọc là con của cóc mà cóc là bản thể của mẹ vũ trụ ở trái đất nên nòng và nọc là hai nghi của mẹ vũ trụ. Hình thành hệ nhị nguyên và tính bằng số học thuần tuý. Với Nòng=0 và Nọc=1. Số tồn tại đầu tiên và số trống rỗng đầu tiên.
3. Chẵn-Âm, Lẻ-Dương:
Người Trung Hoa rất mập mờ khi nói về vấn đề này. Trong khi bằng số học thuần tuý, với nguyên tắc “chia số theo hai vòng tròn một, cái cuối cùng là nọc thì số đó là nọc và nếu không còn gì để chia (hay cái cuối cùng còn lại là nòng) thì số đó là nòng”, người Việt rút ra số lẻ-nọc, chẵn nòng. Dĩ nhiên, lúc chứng minh điều này thì cần phải có cả hệ thống bằng chứng. Ví dụ, như các đồ hình 3-3---4-4 và các Hà Đồ, các Hậu Thiên Bát Quái trên trống đồng nhận được đúng với logic chặt chẽ của ta đặt ra.
4. Số không:
Không thấy bóng dáng số không trong nền tảng Kinh Dịch Trung Hoa. Chính vì thế họ không thấy rõ logic số học thuần tuý của hệ nhị phân. Trong Kinh Diệc Việt Nam, số không quan trọng vì nó là số của Khôn qua hệ nhị phân. Trong nhiều trường hợp, người ta hay dùng số không để biểu thị tính nòng. Đó là cách dùng khôn khéo để cho mọi người biết có số không tồn tại và số 8 cũng chính là 0 qua mod 8.
5. Mod:
Trong kinh Dịch Trung Hoa có một ít ám chỉ đến mod 9. Tuy nhiên, ở đây cũng chỉ dừng lại ở ám chỉ. Không có cách giải thích nào rõ ràng cả. Dịch VN hầu hết đề cập đến mod 8. Điều đó khá dễ hiểu vì chỉ có 8 bát quái còn các số thì nhiều. Lượng số của các quái chỉ từ 0..7, chính vì thế nhiều khi họ phải biểu thị 0=Khôn=8 mod 8. Bởi vì nếu không biểu thị gì cả thì không ai hiểu đó là số không hay đơn giản người ta tính tiếp các chi tiết khác. Nhiều khi, có tính mod 14, với ý nghĩa ký hiệu tổng quát cho Hậu Thiên và Tiên Thiên. Hậu Thiên lấy số 14 làm trọng vì nó có tổng các số của mỗi phần Trời Đất là 14. Mà Hậu Thiên thuộc chuyện vũ trụ sau khi hình thành nên nó có tính Âm, còn Tiên Thiên có tính Dương. Ở đây, cần thấy rõ tư tưởng của các triết gia Việt Nam xưa. Tiên Thiên chỉ giới hạn ở bát quái có hình Thái Cực Đồ-đó là 1 số lẻ chưa tách rời. Còn Hậu Thiên là vũ trụ đã thành hình nên các quái của nó đã phân và chung cuộc chúng có đến 64 trùng quái thuộc Nòng. Vì thế, khi lấy số 14 ký hiệu Hậu Thiên thuộc Nòng lớn nhất, mà Nòng lớn nhất giống như trường hợp bát quái bằng 0. Vậy Hậu Thiên =14=0(mod 14). Còn Tiên Thiên là Nọc lớn nhất, chỉ có hai Bát quái nên Tiên Thiên=15=1(mod 14). Và người Việt cổ cũng có dùng mod 4, nhưng cũng như trên chỉ dùng cho Tứ Tượng, bằng chứng là đồ hình 3-3---4-4. Như vậy, ta thấy khi dùng mod, người Việt cổ đã tính toán cẩn thận: mod nào dùng ở đâu mới hữu lý. Và luôn luôn chiếu theo logic toán học thống nhất.
6. Chiều chuẩn:
Kinh Dịch Trung Hoa không chỉ ra tại sao có chiều ngược kim đồng hồ. Trong khi, nếu dựa trên trống đồng Việt Nam thì ta thấy tất cả các hướng bay của chim Diệc (chim phượng hoàng) đều chỉ hướng ngược kim đồng hồ. Có các ám chỉ cóc mang tượng sao Bắc Đẩu=7 sao=Càn. Và nếu ta tưởng tượng một người đứng nhìn lên trời về hướng Bắc (hướng sao Bắc Đẩu) và thấy mặt trời chuyển từ Đông sang Tây thì cũng dễ hiểu vì sao có chiều vận động như vậy. Điều này, chứng tỏ người Việt cổ có những chiêm nghiệm thiên văn khá thành thục.
7. Tứ tượng:
Thật là logic khi nói, nếu đã biết được hai bản thể của vũ trụ (gồm cả định nghĩa và ký hiệu) thì người xưa, dù người Hoa Hạ hay người Diệc, đều có ý muốn sắp xếp chúng thành hai hay ba lớp. Người Trung Hoa có sắp xếp nó nhưng lại ít hiểu đến lượng số của nó, còn người Diệc có sắp xếp nó nhưng với một logic số học chặt chẽ. Điều đó được chứng minh bởi mã 3-3---4-4. Bởi rằng 3 là số của hai Nọc còn 4=0(mod 4) là số của hai Nòng. Đến đây, chúng ta có thể thấy họ không dùng mod tuỳ tiện mà dùng cơ số của mod có tính toán theo lớp (ví dụ Tứ Tượng chỉ có 4 nên dùng mod 4, còn nói đến bát quái có 8 quái thì dùng mod 8, còn nói đến Hậu Thiên có linh số là 14 thì dùng mod 14.). Ngoài ra, có rất nhiều trống đồng Việt Nam ám chỉ Tứ Tượng bằng hình thể (4 cóc) và cả bằng hình thể lẫn số ẩn, lẫn tượng ẩn. Ví dụ như trống Ngọc Lũ có hai số mã của Tứ Tượng là 6-8, tang trống có tượng là các hình người chẵn lẻ mang tính Nòng Nọc.
8. Tiên Thiên Bát Quái:
Cũng như Tứ Tượng khi sắp xếp được Tứ Tượng thì người xưa lại tìm cách sắp xếp bát quai-kết quả sự chồng lên nhau của ba lớp nhị thể (23=8). Tuy nhiên, tính số học của Tiên Thiên không bao giờ được nhắc đến ở trong Kinh Dịch Trung Hoa. Đầu tiên chúng ta hãy sắp xếp theo thứ tự từ Càn cho đến Chấn. Còn vòng bên kia thì sao? Vì chúng ta có thể sắp xếp theo số từ 7-0 theo chiều chuẩn hay sắp xếp như Tiên Thiên bây giờ. Quan trọng nếu đã xếp theo cách bây giờ thì phải có cách giải thích vì sao. Sách Trung Hoa chỉ nêu lên là tổng các độ số của hai quái đối diện phải bằng 9?!! Cứ như trên trời rơi xuống số 9 này. Nếu Tiên Thiên bắt nguồn từ Hà Đồ vậy số 9 ở cụm 9-4 tại sao không biểu thị cho Càn? Đó là bằng chứng xác đáng nhất chứng minh họ chẳng hiểu từ cội rễ. Còn nguyên tắc lập nên Tiên Thiên của Dịch Việt Nam hoàn toàn theo quy trình logic chặt chẽ. Với Tiên Thiên là biểu tượng Thái Cực Đồ; mà Càn=7 mang tính Nọc nhất, trùng với sao Bắc Đẩu, tượng trưng cho Trời, còn Trời thì ám chỉ Thái Cực vì thế tống các số đối xứng qua tâm phải bằng 7. Chính vì thế, trong bất cứ trống đồng nào cũng đều chứa Mặt trời ở giữa. Từ đó khi lập được chiều Nọc là Càn-Đoài-Ly-Chấn thì người ta cũng lập ra được hình bát quái sau: Càn-Đoài-Ly-Chấn-Khôn-Cấn-Khảm-Tốn. Ta thấy sự khác hẳn nhau của phương pháp lập Tiên Thiên của người Trung Hoa. Từ Hà Đồ làm ra Tiên Thiên, nhưng chả thấy một logic nào chỉ ra cái quan hệ giữa chúng với nhau. Cách sắp xếp cũng không giải thích từ đâu. Sau đó đặt độ số cho các quái (tức độ số được làm sau Tiên Thiên). Cuối cùng lấy chính cái độ số làm sau này lại giải nghĩa ngược lại cho Tiên Thiên (là cái làm ra trước). Vậy có người làm ra bát quái CànLy ChấnTốnĐoàiKhảmCấnKhôn, sau đó đánh số Càn-1, Ly-2, Chấn-3, Tốn-4, Đoài-5, Khảm-6, Cấn-7, Khôn-8. Rồi anh ta cũng bảo đó tổng các độ số đều bằng 9 thì ngài Phục Hy làm sao cãi nhau với anh ta. Cái thứ tự của Tiên Thiên phải có bản chất từ các quái. Mà đóng vai trò tính chất của các quái không có gì tốt hơn bản chất số của nó (tính qua nhị phân. Vẽ NòngNọcNòng thì chắc chắn quái đó bằng 2.).
Số 9 từ trên trời rơi xuống của Dịch Trung Hoa chỉ chứng minh là họ đã nhìn đâu đó đồ hình Tiên Thiên và Nòng Nọc, họ chữa đổi thành Âm Dương sau đó cải biên và cố giải thích cho nó đúng theo một logic nào đó. Tuy nhiên, logic 9 không có một ý nghĩa gì cả; còn logic 7 lại hợp hoàn toàn với quan niệm thờ Mặt Trời của các cư dân cổ đại. Đây cũng cho thấy câu chuyện Long Mã-Hà-Đồ-Âm Dương-Tiên Thiên của người Trung Hoa chả ăn nhập gì với nhau và là sản phẩm của Thấy-Cải biên-Bịa truyền thuyết-Và Past nguyên bản chính có chút xíu cải biên.
9. Số và độ số:
Người Trung Hoa khi nhận được Tiên Thiên họ đã đánh số nó như thế này: Càn-1, Đoài-2, Ly-3, Chấn-4, Tốn-5, Khảm-6, Cấn-7, Khôn-8. Không có gì sai trái trong việc đánh dấu này cả. Đánh dấu kiểu gì cũng được, điều quan trọng là dùng nó trong mục đích nào. Vì không hề đặt ra vấn đề số của Âm Dương nên họ không có một logic chung cho cả Tiên Thiên và Hậu Thiên. Logic này bắt buộc phải có bởi vì không thể nào mẹ lại khác xa con. Hay con hơi giống mẹ có những đặc tố của mẹ nhưng lại phải có các nét của con riêng. Còn người Diệc, trong các trống đồng Ngọc Lũ và Sông Đà đã cho ta thấy rõ tính số của các quái. Đó là Càn=7 (Trời, sao Bắc Đẩu), Đoài=6, Ly=5, Chấn=4, Tốn=3, Khảm=2, Cấn=1, Khôn=0=8(mod 8). Các cách tính số này xuyên suốt trong các trống đồng: ví dụ trường hợp Tứ Tượng, trường hợp cặp số 18-16 chỉ Khảm chủ tế và vòng vận động uyên nguyên Đất-Nước của Hậu Thiên. Khi không có gốc từ Nòng Nọc (gốc số 0,1) thì người Trung Hoa bắt đầu vào vòng lẩn quẩn. Muốn hiển thị sao cho Hậu Thiên có đặc tố của Tiên Thiên thì cứ phang bừa các độ số. Sau đó, từ các độ số này để tìm ra Hậu Thiên với những điều kiện lủng ca lủng củng. Bởi vì đi từ độ số sai thì có gò ép cũng không gò ép nỗi. Có giỏi như ngài Văn Vương cũng phải bó tay đành viện Lão Âm với Lão Dương. Còn như chúng tôi đã phân tích ở chương trên, nếu dùng số của quái thì không có gì vô lý khi vẽ ra Hậu Thiên đúng đắn, hợp logic. Đến đây, chúng tôi có cảm giác các thánh nhân Trung Hoa đã thấy trong vài đồ hình nào đó(của người khác) có ký hiệu của Khôn là. Thực ra, người này muốn biểu thị số 0 nhưng qua 8=0(mod 8)(ví dụ trong trống đồng Sông Đà), nhưng vì họ không thể vẽ số 0, bởi vì hiển thị số “không” nhiều khi là không vẽ nhóm nào đó. Nhưng nếu không vẽ nhóm đó thì bị khập khiễng bởi vì lúc đó bát quái chỉ có 7 quái hay 9 quái (+2 cụm đối xứng nữa). Rồi lại nghĩ Càn gần với Thái Cực nhất nên người Trung Hoa nghĩ bắt đầu phải từ Càn đến Khôn là từ 1 cho đến 8 và đã làm nên bảng độ số buồn cười trên.
10. Chữ S và chiều của hai Nghi:
Dịch Trung Hoa chưa hề đặt vấn đề chữ S và chiều của hai nghi. Trong khi chữ S được hiển thị ít ra trên hai trống đồng: trống đồng Đông Sơn và Phú Xuyên. Chữ S cũng rất quan trọng cho việc chứng minh nền tảng Âm Dương và nền tảng Nọc Nòng khác hẳn nhau. Nền tảng Nọc Nòng thì khi vẽ một đường nối các số (tức quái) với nhau từ 7 đến 0 thì ta được chữ S. Và các số cách nhau là 1. Còn nền tảng Âm Dương không thể như vậy, vì dụ lý luận dương lớn nhất = 4 thì âm lớn nhất bằng -4. Vậy bên phần Dương lẫn phần Âm các quái có số lệch bằng 1 nhưng từ Dương qua Âm lại lệch 2!!! Mất tương xứng và cân đối.
11. Thái Cực đồ:
Thái cực đồ Trung Hoa không diễn tả được hết tính lượng số hay % Âm Dương của các quái trong Thái Cực. Chúng được vẽ ra để có vẽ không mang hình dáng của hai thể của nó. Lại chua thêm hai vòng tròn ở giữa không để làm gì cả càng làm cho ta cảm thấy nghi ngờ. Nghi ngờ nó đẹp quá so với cái bản thật ban đầu. Sự trau chuốt trong Thái Cực đồ bỏ qua tính lượng số của nó chỉ có thể do người sau làm ra và người này cũng không hiểu tính chất số của Thái Cực Đồ. Nếu nói trong Âm có Dương cần phải chua thêm hai vòng tròn chúng tôi cho rằng khá khiên cưỡng. Bởi vì khi nhận thấy Thái Cực Đồ là tổng thể của hai bản thể đối kháng nhau, thì hai bản thể này là hai nguyên tử xây nên Thái Cực. Nó phải rạch ròi, thuần chủng mới toát lên triết lý tuy hai mà một tuy một mà hai. Còn vì sao trong Âm có Dương thì lại khác. Hai lưỡng nghi là hai bản thể của Thái Cực, chúng xoắn lấy nhau trong một vòng ôm uyển chuyển không tách rời. Nhưng các sản phẩm của chúng như Tứ Tượng, Bát Quái lại mang tính trong Âm có Dương, trong Dương có Âm. Không có Tứ Tượng và Bát Quái nào tuyệt đối Âm hay tuyệt đối Dương. Thái cực đồ Việt Nam trong tranh Đông Hồ đã thể hiện tính số rất tuyệt vời đồng thời cũng mang hình dáng của các con của nó. Đúng như logic khởi thuỷ là Cóc-Nòng Nọc. Vừa mang tính thuần nghi, lại có tính không có gì tuyệt đối của các sản phẩm.
12. Trùng quái:
Việc trùng quái rất có thể xảy ra ngay từ lúc có Tiên Thiên Bát Quái. Vì việc chồng các lớp lên nhau là việc làm khá dễ hiểu và rất tự nhiên. Thậm chí, rất tự nhiên đối với việc sắp xếp số bởi 4 hay 5 lớp nhị thể. Người Trung Hoa có thể nghĩ như vậy, người Việt Nam cũng có thể làm như vậy. Hoàn toàn không có gì phức tạp và uyên bác ở đây cả. Nhưng chính ở đây cho thấy người Trung Hoa không có ý tưởng số học của quái. Trong khi người Diệc đã không ít lần ghi số 18, 16, 45, 36. Có những số mang 4 lớp, 5 lớp nhưng vẫn ngụ ý thành 6 lớp để cho ra Thuần Khảm, KhảmKhôn, Thuần Chấn….Người Trung Hoa không biết điều đó chỉ biết chồng đè chúng lên nhau. Trùng quái nếu được xây dựng từ Tiên Thiên sẽ ra cái gì? Không ra cái gì cả ngoài cái Tiên Thiên Bát Quái có quy mô to hơn. Vậy ý nghĩa trùng quái có được khi diễn tả các vấn đề Hậu Thiên. Ý nghĩa vật lý ở đây khá rõ: nguyên tử xây dựng nên Tiên Thiên hay Thái Cực Đồ là hai Nghi. Chúng hình thành nên các quái là các phân tử gắn liền nhau không tách rời của Thái Cực Đồ. Tuy nhiên đến khi vũ trụ hình thành thì các phần tử này chính là những nguyên tử tạo nên vũ trụ. Hay nói cách khác các quái chính là nguyên tử tạo nên mọi vật của vũ trụ đã thành hình. Dịch Trung Hoa rất mơ hồ khi giải thích sự liên quan mật thiết giữa trùng quái và Hậu Thiên. Còn nếu giải thích bằng nguyên tắc số học thêm các điều kiện nhất định thì chúng ta nhận được một Bát Quái duy nhất. Như trong trường hợp Dịch Việt Nam. Hậu Thiên có được do các quái của Tiên Thiên chồng lên nhau (hay tương tác nhau) nên nó mang ý nghĩa của trùng quái. Nhưng vì đồ hình chỉ có 8 quái nên người xưa làm nên đồ hình Hậu Thiên sao cho mang ý nghĩa trùng quái theo trật tự Tiên Thiên cao nhất. Giống như chúng tôi đã phân tích ở chương trên.
13. Khảm bắt đầu:
Kinh Dịch Trung Hoa chỉ đưa ra câu: đầu tiên có nước. Lại như trên trời rơi xuống. Đành rằng có thể đó là triết lý của họ. Nhưng ít ra trong rất nhiều cổ vật họ hay trong nhiều truyền thuyết của họ cho thấy người Trung Hoa cổ yêu nước. Còn như trong hệ thống truyền thuyết lẫn các cổ vật của các cư dân Việt cổ đều chỉ ra cho ta thấy việc sùng bái nước của người Việt Nam. Đặc biệt nhất là số 18 chỉ cho thấy tính sùng Nước lẫn tính trùng quái trong vấn đề Hậu Thiên.
14. Hà Đồ và Lạc Thư:
Câu chuyện về Hà Đồ và Lạc Thư quả là bi kịch cho Kinh Dịch Trung Hoa. Về mặt toán học thuần tuý, hai đồ hình này đều có thể dùng để luận Hậu Thiên. Thế nhưng, người Trung Hoa hoàn toàn sai lầm khi họ cho rằng từ Hà Đồ có thể suy ra Tiên Thiên. Họ không hề chỉ ra logic nào để từ Hà Đồ mà suy luận ra Tiên Thiên. Còn câu chuyện Lạc Thư với tổng các giá trị hàng ngang, hàng dọc, hàng chéo đều bằng 15 cùng với độ số nhầm lẫn đã làm người Trung Hoa đưa ra logic lủng củng để dựng nên Hậu Thiên với những lý giải luộm thuộm như ở chương “Nghi án Kinh Dịch” mà chúng tôi đã phân tích. Còn nếu theo Dịch Việt Nam thì thật rõ ràng. Tiên Thiên được xây dựng không phải từ Hà Đồ. Nó được xây dựng nên bởi lý luận logic đơn giản: một nghi Nọc được vẽ theo chiều chuẩn Càn-Đoài-Ly-Chấn, còn nghi còn lại được xây dựng sao cho tổng các số đều bằng 7-tượng trưng cho Bắc Đẩu, cho Càn, cho Trời. Còn Hậu Thiên cũng không cần xây dựng từ Hà Đồ. Nó được xây dựng trên cơ sở Trùng Quái với sự vận hành giống Tiên Thiên của các trùng quái đối xứng. Dĩ nhiên với các điều kiện nhất định, các điều kiện này cũng được thể hiện qua triết lý sống của người Việt như Khảm bắt đầu. Thật ra, với nguyên tắc trùng quái-tức nguyên tắc Hậu Thiên hình thành phải từ sự giao lưu giữa các quái-các phân tử của Tiên Thiên là trọng tâm để xây nên Hậu Thiên. Vì rằng, như đã chứng minh trên, nếu không kể Khảm bắt đầu thì ta có thể xây dựng được một Bát Quái giống hệt Hậu Thiên Lạc Việt. Còn Khảm bắt đầu chỉ cho ta định vị địa điểm của Khảm ở cung Bắc mà thôi. Người Trung Hoa hay làm rất lạ là cứ lấy cái phức tạp để suy ra cái đơn giản. Muốn biết 23 bằng bao nhiêu đầu tiên phải biết định nghĩa của luỹ thừa đã chứ. Mà muốn có định nghĩa luỹ thừa thì phải biết phép nhân đã chứ. Rồi muốn biết phép nhân phải biết phép cộng đã chứ…Hà Đồ được xây dựng bằng các số thập phân để số hoá Hậu Thiên. Những ưu điểm của nó đối với Lạc Thư chúng tôi đã phân tích ở trên. Ngoài ra, chúng tôi đã phân tích có thể từ Hậu Thiên mà suy ra Hà Đồ cũng có thể từ Hà Đồ suy ra Hậu Thiên. Bởi vì Hà Đồ nó hợp với Hậu Thiên quá, hay chúng hợp với nhau như hai vế khẳng định tương đương vậy. Việc số hoá cũng được chứng minh qua sở thích suy luận logic bằng số học của cư dân Việt cổ. Như việc lấy số của các quái làm chuẩn, việc mã hoá Tứ Tượng-Tiên Thiên bằng cặp 3-3---4-4. Đó đã chứng minh một quy trình số luận xuyên suốt từ đầu chí cuối của Kinh Dịch Việt. Những suy luận sai lầm của người Trung Hoa đã vô hình chung chỉ ra việc họ đã thấy đâu đấy các đồ hình, không hiểu chúng từ cội rễ họ bịa ra những truyền thuyết và nguyên lý tính toán lủng củng và cuối cùng là past lại. Trường hợp Hậu Thiên quả là bi kịch cho họ, vì rằng khi có (bằng cách nào đó) đồ hình mã hoá Hậu Thiên-Hà Đồ) và khi được giải thích qua loa các nguyên tắc tính toán (của một trí sỹ bị bắt nào đó hay của một ông sứ nào đó. Mà vì là sứ và trí sỹ của nước khác nên các vị này đã giải thích qua loa, không cặn kẽ. Họ không dại gì giải thích cặn kẽ bởi vì Hậu Thiên Bát Quái là cái tiền đề quan trọng để chiêm nghiệm thiên văn và vũ trụ.) đã cố công xây dựng lại Hậu Thiên Bát Quái. Nhưng họ đã không thành công vì đã không chú ý đến ý tưởng trùng quái trong đồ hình Hà Đồ.
15. Nam tả nữ hữu:
Với trống đồng có vẽ Mặt Trời ở trong thì Hà Đồ tuy mang sắc thái từng cặp số nhưng có ngụ ý phân bố vị trí tương đối của hai số Chẵn và Lẻ. Từ đó cho ra đồ hình Hà Đồ vuông có thể luận ra Hậu Thiên. Chính vì thế mà triết lý Nam tả Nữ hữu đã in sâu đậm vào văn hoá Việt. Còn đối với dân tộc Trung hoa rất ghét “lề thói Man Di” thì thật tình không hiểu nỗi vì sao Lạc Thư lại có phong cách giống Hà Đồ vuông? Mặc dù, nếu chọn trục 1-7 là trục Bắc Nam thì có hai đồ hình mang tính chất của Lạc Thư.
16. Hậu Thiên Bát Quái:
Dịch Trung Hoa cho rằng Hậu Thiên Bát Quái được xây dựng từ Lạc Thư. Còn Dịch Việt: Hậu Thiên Bát Quái được mã hoá bằng Hà Đồ. Tất cả ưu khuyết điểm của hai cách luận này chúng tôi đã viết trên. Logic lý luận tổng các độ số=6 qua mod 9 và chỉ chừa mỗi trục Khảm-Ly=9 không thoả đáng. Lủng củng, luộm thuộm, không nhất quán. Trong khi logic làm sao bằng 8 quái có thể ghi lại sự vận động như Tiên Thiên Trùng Quái (giống Tiên Thiên vì nó cũng đi từ Trùng quái to nhất đến trùng quái nhỏ nhất theo chữ S thiêng liêng. Và tổng số (không phải độ số) của hai quái đối diện cũng phải bằng 7 (nguyên tắc con giống mẹ. Ở trên tôi đã chứng minh bằng đối xứng chỉ có các bát quái thuộc nhóm F1,8 là có tính đối xứng cao và giống nhau các loại đối xứng lẫn các chi tiết đối xứng).) đã chứng minh ưu điểm tuyệt đối của nó trong lý luận logic. Khi đặt ra bài toán trên, ngài Văn Vương đã nhắm mắt nhắm mũi chọn bừa một bát quái (chắc ông ta thích nó lắm). Trong khi đáp án có đến 24 bát quái như thế. Còn trong Dịch Việt với lý luận logic toán học chặt chẽ-chứ không phải những giải thích rắm rối-không hiểu từ đâu ra, ta có thể tìm ngay ra một bát quái thoả mãn theo quy luật số. Trong cả một quy trình xây dựng lý thuyết nào đó, điều quan trọng người ta phải bám theo các tiên đề khởi thuỷ của nó. Dịch Trung Hoa đùng một cái từ cái phức tạp như Hà Đồ họ suy ra cái quá đơn giản như Tiên Thiên. Sau đó, không cần đếm xỉa gì đến những phát minh trước, hay tiên đề ban đầu, họ đùng một cái bê ngay Lạc Thư vào để tính Hậu Thiên. Thế có một ngài khác cũng lấy một đồ hình số quan trọng khác rồi cũng đưa tư tưởng quái với các độ số quái dị vào để tính Bát Quái Hậu Thiên thì ngài Văn Vương sẽ tranh luận ra sao với ông ta. Chả nhẽ cứ cãi xoay cuồng là đồ hình của tôi đẹp hơn của ông. Để hiểu tính khập khiễng không nhất quán của lý thuyết xây dựng Hậu Thiên Văn Vương chúng ta xem lại bảng so sánh sau:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/chuong8-SSHTBQAL.jpg
Hậu Thiên Bát Quái Văn Vương sau bao hồi trầm luân, qua bao nhiêu chông gai hiểm trở nhờ vào tài các thánh nhân Trung Hoa cuối cùng vẫn thành hình-dĩ nhiên không hiểu là hình gì. Kể cả thêm luôn điều kiện trời đất chia đôi vào cũng vô cùng khó mà suy ra một nghiệm duy nhất. Trong khi điều kiện đó phải là một hệ quả của sự hình thành Bát Quái Hậu Thiên. Còn Hậu Thiên Bát Quái Âu Lạc được hình thành qua một chuỗi suy luận logic toán học, đặt nền móng trên hệ nhị phân.
17. Viết quái từ trong ra:
Nếu vẽ như trống đồng, có đại diện của Thái Cực là Mặt trời ở giữa trống thì ta hoàn toàn hiểu được vì sao có cách viết từ trong ra. Vì rằng, lớp gần mặt trời phải là lớp chỉ đạo, có ý nghĩa tạo nên số của quái. Người Trung Hoa cũng có thể bảo, trong đồ hình Bát Quái của họ có ngụ ý Thái Cực ở trong. Nhưng nếu như thế thì có vẻ cái Bát Quái với mấy vạch cùng Thái Cực đồ trông giản đơn và đẹp quá. Giống như là sản phẩm của người sau. Nó hoàn toàn không phù hợp với trình độ nghệ thuật của người tiền cổ. Ít ra, nếu người Trung Hoa bảo họ vẽ đơn giản Bát Quái trên một vòng tròn có ngụ ý chứa trời bên trong thì họ cần phải trưng ra bằng chứng là trước đó (phù hợp với trình độ khắc hoạ của người xưa) họ đã có những đồ hình vừa mang tính cách khắc hoạ văn hoá vừa mang ý nghĩa Dịch như các trống đồng Việt Nam. Điều chúng tôi muốn nói đó là từ triết lý Dịch xa xưa đến Kinh Dịch hiện nay, người Trung Hoa đã thiếu một mắc xích quan trọng.
18. Trời Đất tách đôi và Mẹ tròn con vuông:
Trong Kinh Dịch Trung Hoa, “Trời đất tách đôi” đóng vai trò như một điều kiện để làm ra Hậu Thiên. Điều này thật vô lý, bởi vì khi ta vẽ được đồ hình vận động khi vũ trụ thành hình rồi thì chuyện Trời Đất tách đôi phải được suy ra từ đồ hình này. Trong khi Kinh Diệc Việt Nam, bằng số học thuần tuý để suy ra Hậu Thiên cũng chỉ ra ngay nơi nào Trời Đất tách đôi. Nhìn hình dưới, ta thấy ngay đồ hình Bát quái nếu muốn chuyển qua Đồ hình của Trùng quái ta thấy chỉ có thể có 6 trùng quái có thể thành hình. Và 2 trùng quái ở Đông và Tây không có tạo cho ta cảm tưởng các trùng quái đã di chuyển về hai phần khác nhau của vũ trụ. Phần phía Bắc ứng sao Bắc Đẩu, tượng Trời và phần ngược lại hiển nhiên mang tượng Đất. Trong nhiều trống đồng Việt Nam có vẽ 6 con chim chia thành hai cụm giống như hình dưới đây. Và cũng không cần phải đếm có bao nhiêu Nòng bao nhiêu Nọc trong từng phần Trời Đất, người ta có thể thấy ngay trong Bát Quái bộ Trùng Quái thuộc Trời gồm 4 quái hợp thành là: Càn-Khảm-Cấn-Chấn; còn bộ Trùng Quái thuộc Đất gồm 4 quái Khôn-Ly-Đoài-Tốn hợp thành. Lấy tổng của các số hai bộ Tứ Quái ta có mỗi tổng bằng 14.
Trong Kinh Dịch Trung Hoa viện dẫn Hà Đồ có hình tròn còn Lạc Thư có hình vuông nên chính vì thế Hà Đồ sinh ra Tiên Thiên còn Lạc Thư sinh ra Hậu Thiên. Quả là may mắn cho cư dân Trung Hoa xưa vì hồi đó họ chỉ có biết đến một đồ hình như Lạc Thư!!! Nếu có thêm vài đồ hình kiểu khác nữa thì họ chắc phải đau đầu mới tìm ra Hậu Thiên. May lắm thay!!! Thế nhưng, chỉ với đồ hình Lạc Thư mà họ đã lẩn quẩn mãi giữa 24 nghiệm khác nhau, cuối cùng phải chọn bừa cái Hậu Thiên Bát Quái Văn Vương. Hiển nhiên, nhờ có ngài Văn Vương dũng cảm đối đầu với thực tế và chịu trách nhiệm trước lịch sử: “Vậy đó, ta thích chọn đồ hình bởi vì ta là Thiên Tử. Thế thôi. Chấm hết. Cấm bàn.”. Giá như họ chịu khó suy nghĩ kỹ thì với 8 số Hà đồ với nguyên tắc Dương ở lại còn Âm qua hữu (dĩ nhiên theo chiều ngược kim đồng hồ) thì cũng có một cái đồ hình vuông như Lạc Thư. Vấn đề Mẹ tròn Con vuông nằm ở chỗ khác sâu sắc hơn. Đó là Thái Cực mà đại diện của nó là Tiên Thiên và con của Thái Cực là Vũ trụ với đại diện là Hậu Thiên. Trong Kinh Diệc Việt Nam ta thấy Tiên Thiên Bát Quái tạo thành bởi 8 quái nằm trên mỗi đỉnh bát giác đều. Điều này tạo cho ta cảm giác đó là hình tròn và chính vì thế người ta đã vẽ Thái Cực Đồ là hình tròn. Còn Hậu Thiên có 6 Trùng Quái tách rời ra bởi trục Đông Tây khó có thể vẽ nên hình tròn mà cách vẽ đúng hơn cả là hình vuông (hay hình chữ nhật hoặc hình ellips). Chúng tôi cho rằng, suy luận Tiên Thiên tròn-Hậu Thiên vuông có cơ sở đứng vững hơn Hà Đồ tròn-Lạc Thư vuông.
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/chuong8-MTCV.jpg
19. 18-16 hay Khảm chủ tế, vòng vận động uyên nguyên Đất Nước:
Kinh Dịch Trung Hoa không hề chỉ ra nguyên do nào họ chọn Khảm làm phương vị chủ tế. Trong khi như đã phân tích trên Nước là một thành phần không thể thiếu được trong đời sống của người Diệc. Sự sùng bái số 18=Thuần Khảm của cư dân Diệc đã chứng minh điều đó. Lại có câu hỏi: “Nếu như trong triết thuyết Dịch, đồ hình Hậu Thiên là đồ hình trên, vậy có quốc gia nào đặt vòng vận động uyên nguyên bằng tên của một số quái nào đó không?”. Câu hỏi khá quan trọng, bởi vì nếu quốc gia đó không có cổ vật gì dính dáng đến Dịch thì cũng đặt các nhà khoa học một bài toán liên tưởng về một triết thuyết chung cho mọi dân tộc. Còn nếu như quốc gia đó có nhiều cổ vật dính dáng đến Dịch thì phải đặt lại câu hỏi: Có phải chăng Dịch xuất phát từ quốc gia này? Hỏi tức là trả lời: Có, có một dân tộc như thế. Đó là dân tộc Việt Nam. Người Việt Nam gọi quốc gia là Đất Nước, và vì cũng có thể gọi là Nước nên trong cụm từ trên Nước đóng vai trò chính còn Đất đóng vai trò thứ. Vâng, dân tộc ta đã lấy hai quái của Hậu Thiên để gọi vùng lãnh thổ sinh sống của mình-vùng mà mọi việc Hậu Thiên sẽ xảy ra. Đáng lý vòng uyên nguyên đó phải bắt đầu từ Trời (Càn) và Đất (Khôn). Thế nhưng theo chúng tôi, nếu lấy Trời làm cái bắt đầu của một Nghi Hậu Thiên sẽ dẫn đến hiểu lầm và trái nghịch với nghĩa Hậu Thiên thuần tuý. Hơn nữa, Trời-Càn thì ở xa khó nắm bắt, khó cảm nhận. Vì thế, người Việt cổ đã lấy Khảm-Nước làm đại diện cho phần Trời của Hậu Thiên và Khôn-Đất làm đại diện cho phần Đất của Hậu Thiên. Và điều này không phải lý luận suông: Khi ký hiệu Hậu Thiên bằng Hà Đồ chúng ta thấy ở phương vị 1 là Khảm thì đối nó phương vị 7 phải là Ly, còn số 2 phải bằng 5-5=0=Khôn. Rõ ràng quan niệm Đất Nước trùng khớp hoàn toàn với Hà Đồ: Khảm nằm ở phương vị số lẻ đầu tiên còn Khôn nằm ở phương vị số chẵn đầu tiên. Theo chúng tôi, chính vì sự am hiểu kinh Dịch của cư dân Việt mà họ đã gọi nơi mình sinh sống, đánh bắt, tế thần, nhảy múa, xem sao ngắm trăng là Đất Nước. Đưa Đất Nước vào trong quá trình nghiên cứu Kinh Dịch, chúng tôi muốn khẳng định rằng, tuy đây là bằng chứng nhỏ nhoi nhưng lại là bằng chứng vô cùng quý giá để chứng minh Kinh Dịch là phát minh của người Việt Nam.
khonglaai
04-11-2005, 10:59 PM
Chương 9.
Lạm bàn về ngôn ngữ và truyền thuyết.
Có rất nhiều học giả rất uyên bác khi giải thích các chữ Việt, Lạc, Hùng, Trưng Trắc Trưng Nhị… dẫn ra những chữ tiếng Hán từ cổ chí kim để thuyết minh, trình bày. Rồi lại nào là bộ này bộ khác!!! Thật ra, theo chúng tôi tất cả các giải thích này có mục đích làm tôn sự thông thái của học giả hơn là đi đến sự thật. Bởi vì, chúng không có logic và vô cùng gượng ép. Ví dụ như sau: Có hai ông từ nước Ou đi đến nước Phi, vì không hiểu tiếng nhau, nên họ nói chuyện với cư dân nước Phi vừa bằng tiếng nói, vừa bằng ánh mắt, nét mặt và lẫn bằng các điệu vung tay vuốt tóc. Người nước Phi hỏi họ: “Các ông từ đâu đến?”. Hai ông này hiển nhiên không hiểu câu này, nhưng cũng như việc Robinson Cruso dạy chữ cho Thứ Sáu, nhìn cách vung tay của người đối diện, họ cũng đoán ra người kia muốn hỏi họ từ đâu đến. Họ trả lời: “Chúng tôi từ nước Ou đến.”. Cũng như vậy, người kia hiểu là hai ông nọ đến từ nước Ou nhưng khổ nỗi họ không hiểu từ Ou đó là gì và họ đành bê ngay một chữ của nước họ là từ Âu để hiểu ra: “Hai ông này đến từ nước Âu.”. Vậy, có ai trong số các học giả dám khẳng định từ Ou có nghĩa là Âu (cái nghĩa mà cư dân nước Phi hiểu). Hẳn nhiên không! Và chính vì thế, tất cả các chữ Âu có sẵn của nước Phi cũng không thể nào diễn tả nghĩa thật của chữ Ou (nghĩa mà dân Ou hiểu). Vậy thì lấy gì làm bằng chứng cho tính chính xác, đúng đắn của bộ này bộ kia??? Dĩ nhiên cũng không thiếu những trường hợp ngẫu nhiên từ Ou (theo cách hiểu của người Ou) có ý nghĩa tương đương hoặc gần đúng với từ Âu (theo cách hiểu của người Phi). Nhưng đó chỉ một vài chữ chứ không có tính quy luật. Có nghĩa nguyên tắc lấy bộ này bộ khác của nước Phi ra để giải thích từ của nước Ou là việc làm vô bổ. Muốn hiểu các từ của nước Ou phải đi từ hướng tìm hiểu các phương ngữ và thổ ngữ của dân nước Ou.
Thật ra ngôn ngữ Việt Nam khá bi đát hơn ví dụ trên. Vì lúc người Trung Hoa hiểu một số từ tiếng Việt qua cách của họ thì cũng là lúc họ bắt đầu bành trướng xuống phía nam. Kết quả là đất nước ta bị xâm lược, bị lệ thuộc đến gần nghìn năm. Người Hoa bắt đầu nô dịch văn hoá dân tộc ta, họ bắt đầu dạy cho chúng ta quên đi nghĩa một số từ chúng ta đi mà lấy nghĩa từ hệ thống ngôn ngữ của họ. Cuối cùng các trí sỹ Việt Nam theo mốt đó đã sử dụng hầu hết các nghĩa của Trung Quốc ban tặng mà giải thích từ nước mình. Ví dụ như từ Việt: theo cách hiểu Trung Hoa đó là các dân tộc ở ngoài (tức là vượt qua) những tập tục văn hoá của Trung Nguyên. Vô lý! Chẳng nhẽ khi đặt tên cho đất nước mình, dân tộc mình, người Việt xưa lại lấy một từ đầy tự ti như thế, đầy tính thiên kiến tôn vinh nước Trung Hoa như thế. Người Việt cổ giới thiệu họ từ “nước Việt tới” thì từ Việt bản thân nó đối với người Việt đã có nghĩa gì đó rồi chứ?!
Dĩ nhiên, chúng tôi tin rằng có sự giao lưu văn hoá hai chiều. Người dân thật ra không kể người Hoa hay người Việt, họ dung dị hơn nhiều, họ không mang nặng tính dân tộc cực đoan như các nhà chính trị. Cái gì hay thì họ dùng, không kể nó có nguồn gốc ở đâu. Chính vì thế mới có hai chiều xâm nhập văn hoá song song nhau. Chắc chắn, có những từ tiếng Việt cổ người Hoa đem về dùng và cũng như người Việt có dùng những từ, hay những tập tục văn hoá của người Hoa. Điều này không có gì lạ lùng cả. Khổ nỗi, vì bị nô dịch văn hoá nên dân ta về lâu dài lại tưởng những từ họ dùng được mượn của tiếng Hán cả. Tuy nhiên, có những từ mang tính tự tôn, tự hào khá lớn, ví dụ như tên gọi của dân tộc mình, tên gọi của Đất Nước mình thì hẳn trước khi được khoác lên cái nghĩa của người khác ban tặng, chúng phải có một nghĩa gì đó chứ. Thật vô lý, khi một người Việt giới thiệu “tôi là người Việt.” lại lấy ý nghĩa của từ Việt của ngôn ngữ nước khác. Rồi có nhiều học giả lại cho hệ thống ngôn ngữ nước ta có đến 60-80% tiếng Hán-Việt. Chả ai chứng minh được điều này cả. Trong giao lưu văn hoá có sự vay mượn nhau là quá thường tình. Chả nhẽ, nếu chúng ta mượn một mức độ từ, tiếng lớn như vậy thì trước đó dân tộc ta không biết nói à??? Tiếng Bạch Nga và tiếng Nga rất giống nhau, nhưng chúng tôi chưa hề nghe một học giả nào người Bạch Nga lại cho rằng ngôn ngữ của họ có đến 60-80% tiếng Nga-Bạch Nga cả!!!
Từ “Việt”: truyền thuyết nước ta có nói chúng ta là con rồng cháu tiên hay chính là con của con giao long-Lạc Long Quân (cá sấu) và chim Âu. Vậy, có thể có lý khi cho rằng từ Việt có dính dáng đến truyền thuyết này. Chúng tôi có đọc một số bài nói về vấn đề này. Và các tác giả đều (có anh Nguyễn Thiếu Dũng) cho rằng từ Việt chính là từ Diệc (chúng ta đọc trại ra Việt bởi vì ảnh hưởng nghìn năm văn hoá của kẻ thống trị. Mà những thứ của kẻ mạnh hơn ta là thứ mốt nhất). Chúng tôi cho rằng đây là lý luận rất xác đáng. Khi nguyên cứu trống đồng, chúng ta đều thấy các cư dân cổ hay dùng những lông chim để trang sức lên người. Có phải chăng họ muốn là một giống chim nào đó. Và chính họ cũng nghĩ mình là chim đó. Nhìn những con chim phượng bay trên trống đồng ta thấy chúng có cái mỏ dài, có đuôi mạnh mẽ như cá sấu, nhưng có cánh sải rộng mềm mại như cánh chim Âu. Có lẽ khi quan sát con chim Âu bay lượn trên những con sông thỉnh thoảng đáp nhẹ xuống nước đã làm cho người Việt xưa nhận ra mối giao duyên của con giao long và chim Âu chăng? Vậy, có thể nói các con chim đó là hoá thân của người Việt. Các con chim đó cũng rất quan trọng. Hầu hết, chúng diễn tả chuyện Hậu Thiên. Tức là chuyện sinh sống của chúng ta trong vũ trụ này. Có thể ngày xưa, người ta dùng từ Diệc để gọi giống chim này. Nhưng qua thời gian, do đánh bắt để lấy lông trang trí, do phải cống nạp, nên giống chim này hầu như tuyệt vong. Cuối cùng họ gọi một loại cò giống nó là Diệc.
Lạc Long: Huyền sử có viết, vua đầu tiên của chúng ta là Kinh Dương Vương. Con của ông là Lạc Long Quân. Thế nhưng trong huyền sử xem ra, dân tộc Việt lại tôn vinh Lạc Long Quân là ông thuỷ tổ của mình. Đến bây giờ, dân Việt ta vẫn còn truyền lại cho nhau nghe chuyện Trăm trứng trăm con. Câu hỏi “Lạc Long” có nghĩa là gì vẫn còn mang tình thời sự. Nếu bảo Long là Rồng thì quá ư dễ hiểu cho chúng ta bậy giờ. Bởi vì ngày nay ta thấy Rồng được vẽ khắp nơi. Nhưng tiếc thay, con Rồng không tồn tại, chưa hề tồn tại. Ta biết một con Rồng giả tưởng mà thôi. Vậy thật logic khi cho rằng, phải có con gì trước đó làm người ta nghĩ đó là con Rồng. Tức là người xưa gọi con gì đó là con Rồng, thậm chí không phải Rồng đơn giản mà là Lạc Rồng. Nhìn những con giao long được vẽ trên trống đồng, chúng ta đặc biệt liên tưởng đến con vật mạnh mẽ của vùng sông nước- con cá sấu. Đặc biệt, trên trống đồng Hoà Bình thì sự giống nhau đến kỳ lạ:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-1-CasauTrongDongHoaBinh.jpg
Người Việt xưa sống ở vùng sông nước, đánh cá, giăng câu chắc vô cùng sợ và kính con vật này. Vì thế, cá sấu được họ tôn vinh lên thành vật tổ. Nó cùng với chim Âu kẻ trên trời, người dưới nước tạo nên cái duyên trời đất mà sinh ra dân tộc Việt. Đó chắc cũng là một quan niệm khá phổ biến và thông dụng. Chúng tôi nghĩ có thể, khi tìm ra Kinh Dịch, người Việt cổ đã liên tưởng đến một đấng chúa tể của muôn loài-một đại sứ của Thái cực được cử đến để cai trị muôn loài; theo họ đó là con cá sấu-một linh vật. Linh vật-Đấng chúa tể mà người ta ngưỡng mộ đó phải được đặt một tên hay phù hợp với triết lý của họ (tức là Diệc thư). Và vì Thái cực có hình thể của Nòng Nọc nên đại sứ, đấng chúa tể đấy được gọi là: Nọc Nòng Quân. Quý vị chắc lại cho vô lý khi đã bảo Cóc là đại diện của Thái Cực mà sao lại bảo cá sấu cũng là đại diện?! Không gì vô lý cả. Con cóc sinh ra Nòng và Nọc tượng trưng cho Thái Cực và nó cũng là kẻ thù của kẻ thù người Việt-nạn hạn hán, nên người Việt gọi nó là cậu ông trời. Và nghĩ nó là phiên bản của Thái Cực (anh em với Thái Cực). Nhưng Cóc không phải con của Thái cực. Còn Thái cực cử con của mình xuống làm chủ tế muôn loài dưới trần gian. Như thế, cũng hợp lý khi nói đấng chủ tế của muôn loài ở dưới trần gian phải là vật mạnh mẽ, đẹp đẽ và họ phải gọi nó bằng tên của cả hai nghi Thái Cực (không thể nào gọi thống nhất làm một được. Vì thống nhất hai nghi chỉ là Thái cực. Hơn nữa thời Hậu Thiên thì không thể có chuyện thống nhất hai nghi. Nên người ta phải dùng cả Nọc lẫn Nòng để biểu thị vừa cho thấy Nọc Nòng Quân là con Thái cực vừa cho thấy bản chất Hậu Thiên của Nọc Nòng.).
Vậy: Lạc Long Quân=Nọc Nòng Quân (bây giờ có nhiều thổ âm, phương âm của Triết Giang và Mân Việt gọi Long là Nùng). Chúng tôi tin chữ Long của Trung Quốc bây giờ chính là du nhập được chữ Rồng của ta. Thật là vô lý khi chúng ta có thể đọc được cả ba chữ Rồng Long Nùng, còn người Trung Quốc chỉ đọc được mỗi Lủng mà tiếng Long chúng ta lại được du nhập từ tiếng Hán. Có thể như sau: Nọc Nòng Quân đọc trệt thật Lạc Rồng Quân đến khi Hán hoá tiếng Việt trở thành Lạc Long Quân (vì không đọc được chữ R). Sau đó, người ta dùng tiếng Trung Hoa rồi nghĩ đó là Tiếng Hán Việt. Bằng chứng xác đáng cho vụ này là mười năm, mười lăm và mười rằm.
Nọc Nòng Quân giống như Đất Nước có Nòng làm trọng dùng để gọi linh vật cá sấu. Sau đó đọc trại đi thành Rồng cũng chỉ con vật dưới nước có đuôi hùng dũng. Và cuối cùng khi cống qua Trung Hoa thì người Trung Hoa gọi là Long (Lủng không đọc được R). Vì trong đồ hình người ta cố vẽ đẹp con cá sấu lên, đến lúc qua Trung Hoa thì người Trung Hoa cũng thần thánh hoá nó lên để vẽ đẹp như bây giờ. Và cuối cùng chúng ta gọi Lạc Long Quân một ông tổ của chúng ta bằng từ Hán ơi là Hán! Không thể có chuyện người Việt đi gọi ông tổ của mình bằng tiếng Hán được. Bởi vì, thật ra không phải là Hán mà đó chính là Nọc Nòng Quân gọi theo cách của người Hán.
“Kinh Dịch”: Từ Kinh có thể là cách người Trung Hoa gọi cái hệ thống văn thư triết học nào đó. Khi được hỏi: “đây là cái gì”, người Việt cổ đã gọi đó bằng từ na ná như “Diệc thư”. Tức là bản văn của dân tộc Diệc.
Để giới thiệu mình và giới thiệu bản văn thư cống của mình, người Việt nói: “Tôi là người Diệc. Đây là Diệc thư.”. Phía bên Trung Hoa không hiểu là cái gì cả, vì không đọc được chữ “c” cuối nên họ nghe như “yue”-vì thế dân ta được họ phong cho chữ “yue”-Việt; rất hợp với tư tưởng bá quyền, dân tộc cực đoan của vua chúa Trung Hoa. Còn Diệc thư càng khó, họ đành phải yêu cầu giải thích thêm, người Việt giải thích “đây là bản văn viết về vận động của vũ trụ.”. (Dĩ nhiên phải kèm theo các điệu tay chân, mắt nữa). Nghe đến vận động của vũ trụ và chữ Diệc, người Trung Hoa lại liên tưởng đến từ họ có là “yi”. Cuối cùng, họ gọi Diệc thư là “yi jing”-Kinh Dịch.
Còn các quái trong tiếng Hán hoàn toàn không có. Tất cả các từ dịch từ quái ra, họ đều có từ khác đọc khác nhau mà viết cũng khác. Ví dụ như Càn-Thiên. Không ăn nhập vào đâu cả. Trừ ngẫu nhiên là từ Chấn-cũng có nghĩa sấm động (tuy nhiên, chúng tôi không cho rằng từ Chấn trong Diệc thư có nghĩa là sấm. Đây chỉ đặt ra sự trùng nhau của nghĩa Hán mà thôi). Từ các chương trên chúng tôi đã chứng minh Kinh Dịch là sản phẩm trí tuệ của người Việt Nam. Vậy khi họ làm ra một sản phẩm họ phải đặt tên cho sản phẩm chứ. Điều vô cùng chắc chắn là họ đã đặt tên cho các quái. Trong trống đồng Lũng Cú có khắc 8 từ như sau:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong9-TamchukhactrenLungCu.jpg
Điều lý thú là người ta đã khắc đúng 8 chữ trên trống đồng này. Từ các phân tích trên, chúng tôi đã chứng minh trống đồng có chứa những bản văn Kinh Dịch thì trống đồng Lũng Cú cũng không ngoại lệ. 8 từ ở trên chính để biểu thị cho 8 quái. Và người xưa đã đặt tên gọi cho tám quái của bát quái. Tuy nhiên, vẫn có hai chiều suy luận như sau: thứ nhất, tên gọi Càn Khôn, Đoài Cấn, Chấn Tốn, Ly Khảm là do người Trung Hoa tự đặt ra khi họ đã được thừa hưởng Kinh Dịch; còn các tên của người Việt đặt đã bị mất đi, thứ hai là các tên gọi đó đã do những người Việt đặt ra khi họ sáng tác ra kinh Diệc và người Trung Hoa thừa hưởng nó đồng thời với tư tưởng Dịch.
Để chứng minh thuyết thứ hai, chúng ta cần lý giải ít nhất hai vấn đề: thứ nhất, tại sao khi thừa hưởng Kinh Dịch và hiểu được ý nghĩa của nó người Trung Hoa không đổi luôn tên các quái. Ví dụ, đổi Càn thành Thiên…; thứ hai, trong ngôn ngữ dân tộc Việt Nam có các từ đó không, và sâu hơn nữa là các từ đó trong ngôn ngữ Việt Nam có mang ý nghĩa của số học không? (Bởi vì, nguyên tắc làm nên các Bát Quái, người Việt đều dựa trên số học hệ nhị phân).
Câu hỏi thứ nhất hầu như đã có câu trả lời: Các con long mã và con rùa là linh vật của nước ta. Sử Trung Hoa đã viết có sứ thần nước ta đem rùa thần có khắc lịch qua cống thới Đào Đường (Nghiêu). Người Trung Hoa gọi lịch này là Quy Lịch. Còn Long Mã thì khắc nhiều trên trống đồng. Có nghĩa, người xưa đã tặng cho các vua chúa Trung Hoa các đồ hình của Diệc thư trên đó có hình con giao long hoặc đồ thư được khắc trên da cá sấu và mai rùa. Người Trung Hoa cứ để nguyên vậy, không thay đổi mà chỉ huyền thoại hoá lên mà thôi: như câu chuyện Long Mã với các đốm xoáy xuất hiện trên sông Hà, Rùa thần xuất hiện trên sông Lạc. Nói chung, đó là tính cách bê nguyên và cải biên một chút. Trường hợp các quái cũng vậy, lúc ban đầu theo logic họ chỉ ghi lại những âm ngữ của các tên. Vì chưa biết chúng nghĩa là gì, bắt buộc họ đành phải dùng tên đó đã. Sau này, đã biết ý nghĩa của nó thì các tên kia đã có tính phổ cập trong dân chúng không tiện sửa đổi nữa. Ngoài ra, quà được tặng là của vua chúa. Với ý muốn tôn vinh tính siêu đẳng của dòng giống thiên tử, các ông vua được thừa hưởng Kinh Dịch bao giờ cũng muốn huyền bí nó. Mà huyền bí nó không gì hơn là dùng thứ tiếng khác để đọc các thành tố của nó.
Để giải quyết câu hỏi thứ hai rốt ráo, chúng ta cần phải lưu ý đến một vấn đề mà học giả Nguyễn Hiến Lê đã đặt ra. Nếu nói Tiên Thiên Bát Quái là chỉ vũ trụ khi chưa thành hình (hay là Thái Cực), còn Hậu Thiên là vũ trụ đã thành hình vậy tại sao có thể lúc vũ trụ chưa thành hình mà đã có Đất, Núi, Trời, Gió được? Một câu hỏi vô cùng lý thú và xác đáng. Trên tất cả những chứng minh của chúng tôi ở trên, chúng tôi cũng khẳng định (bằng logic toán học) là Tiên Thiên chỉ vũ trụ chưa thành hình còn Hậu Thiên là vũ trụ đã thành. Vậy, phải chăng có hai khung cấu tạo ý nghĩa của các quái. Khung thứ nhất chỉ ý nghĩa các quái khi người Việt cổ làm ra Tiên Thiên, đến khi làm ra Hậu Thiên (sau này) họ lại áp dụng tên các quái của Tiên Thiên vào Hậu Thiên nhưng có những ý nghĩa khác hợp với Hậu Thiên hơn. Thật ra, chúng tôi không có một ý tưởng nào để dịch giải tất cả các quái ở trong khung Tiên Thiên. Chỉ có một ý tưởng rồ dại sau: vì người Việt cổ làm ra kinh Dịch lúc nào cũng chiếu theo hệ nhị phân và số học thuần tuý. Vậy, tên của các quái lúc ban đầu có thể có những ý nghĩa số học.
Khung Tiên Thiên:
Ở khung Tiên Thiên, có số nào vô cùng đặc biệt?. Các nghệ nhân trống đồng đã chứng tỏ họ biết diễn tả số 0, có nghĩa họ đã biết và cảm nhận được số 0. Và logic làm ra Diệc thư của họ cũng bằng số học thuần tuý. Vì thế, một điều chắc chắn họ biết Khôn=Không. Tuy họ hay diễn tả Khôn bằng 8 vật nào đó(ví dụ như 8 hình người trong trống đồng Sông Đà chẳng hạn, bởi vì khi diễn giải tới một quái nào đó, người ta không thể nào không vẽ gì cả). Nhưng nếu tính 8=0(mod 8) thì số 8 cũng chính là số 0 mà thôi. Trống Đồng Sông Đà đã chứng minh được logic số học của việc xây dựng Bát Quái Hậu Thiên. Vậy,
Khôn: xuất phát từ Không.
Càn: xuất phát từ Cóè Cònè Càn.
Hai từ Càn Khôn đối nhau. Và từ những phân tích trên, lúc nào người Việt cổ cũng dùng số của quái. Số của Khôn=0 hay =8(mod 8). Vậy Khôn xuất phát từ Không là hợp lý. Đổi lại, Càn là số hiện hữu tượng trưng cho sự tồn tại nghịch với trống rỗng. Vậy có thể, Càn đầu tiên mang ý nghĩa có hay còn, và dần về sau đọc trệch ra Càn. Không ít dân tộc trên thế giới đọc chữ o thành chữ a (dân tộc Nga chẳng hạn). Khác với Âm Dương của sách Dịch Trung Hoa, sự tính toán số của các quái chứng tỏ dân tộc Việt hiểu hai bản thể vũ trụ là Có và Không. Sự đối nhau giữa sự hiện hữu và trống rỗng đã làm cho người Việt xưa gọi tên hai quái này như vậy: Có Không, Không Có, Còn Không, Không Còn với từ Còn Không hoàn toàn trùng âm với Càn Khôn!
Tiếp theo, ta nhận thấy hiện hữu có rất nhiều cung độ biểu diễn, còn trống rỗng chỉ có một mà thôi. Số Không chỉ có một, nhưng số khác không thì nhiều: 1, 2, 3,…Vậy để đối lại Không người Việt cổ có khả năng lấy số 1. Cuối cùng, họ đánh số bát quái với mục đích giải nghĩa (hơn là mục đích sử dụng để phát triển lý thuyết tiếp sau. Khác với độ số của Dịch Trung Hoa, người Trung Hoa dùng độ số để phát triển tiếp lý thuyết). Bởi vì khi giải nghĩa các quái, số Không không thể đối với một số tuỳ tiện được, mà có lý nhất nó phải đối với số 1. Từ lý luận này người Việt cổ có thể dùng các số đánh dấu sau: Càn=1, Khôn=0, Đoài=2, Ly=3, Chấn=4, Tốn=5, Khảm=6 và Cấn=7. Rất giống độ số. Khác ở chỗ Khôn người ta dứt điểm hiểu là 0, vì nếu lấy Khôn bằng 8-0=8, nhưng qua mod 8 quen thuộc ta lại nhận được 0. Còn tổng các số đối diện không phải bằng 9 mà bằng 1. Tức 9 mod 8=1. Số một chỉ rõ tổng của hai quái đối diện bằng với tổng của trục thiêng liêng là Càn-Khôn. Từ quan điểm số học, có thể người xưa nhận thức như sau:
Đoài=Hai (đồng âm, số kế theo 1)
Ly=Lẻ (số lẻ đầu tiên.)
Chấn=Chẵn (số chẵn đầu tiên.).
Chúng tôi cho rằng lý luận lẻ đầu tiên=3 và chẵn đầu tiên bằng 4 là chính xác tuyệt đối. Bởi vì lấy quán chiếu qua số của Trời, số của Thái Dương ở giữa, số của Bắc Đẩu bằng 7, thì số bảy cũng bằng hai số đối nghịch đầu tiên: 7=3+4. Ở đây, khi đánh số từ Càn=1 với mục đích làm cho đối với 0 nên lại có Ly, Chấn thành 3, 4. Chỉ với ý đồ đơn giản là đặt tên cho các quái theo ý nghĩa số học.
Còn các quái tiếp theo thú thực chúng tôi không diễn giải nỗi. Chúng tôi chỉ muốn đưa một giả thuyết dính dáng đến số học mà thôi.
Khung Hậu Thiên:
Càn=Trời: Đến bây giờ dân Việt ta hay nói làm càn-tức làm trời, nói càn-tức nói trời (ơi), càn quấy (trời nó quấy). Vậy Càn chính là tiếng người Việt ám chỉ Trời. Ngoài ra, đồng bào các dân tộc cũng hay nói Giàng=Trời là phương ngữ có âm biến của Càn.
Khôn=Đất: Như trên đã nói, người Việt xưa dùng chữ Khôn để nói đến chữ Không. Nhưng lúc ký hiệu Hậu Thiên họ phải dùng nó chỉ một hành thể (element) nào đó thuộc thời Hậu Thiên. Và đây cũng lý giải họ không thể nào dùng Đất để thế vào chỗ Khôn được (bởi vì tên của nó đã được đặt từ lúc có Tiên Thiên Bát Quái). Ta hay nói: “sống Khôn chết Thiêng”. Liệu từ xa xưa nó có ý nghĩa “sống Khôn chết Thiên” (việc dùng chữ Thiên của chữ Hán cũng không ảnh hưởng gì đến suy luận. Người ta có thể vay mượn từ ngữ để nói cho có vần điệu và hợp với ngữ cảnh. Điều quan trọng là người Trung Hoa cũng có những thành ngữ như thế. Nếu không có thì đây chỉ là một vay mượn mà thôi. Vả lại, từ Thiên cũng chưa chắc là tiếng Thuần Hán.). “Sống Khôn chết Thiên” có nghĩa là sống dưới Đất mà chết thì lên Trời, tức hợp với quy luật của vũ trụ, hợp với mối quan hệ giữa Người và Trời Đất. Sau này, dần dần từ Khôn Thiên biến thành Khôn Thiêng- tĩnh từ kết hợp giữa hai tĩnh từ khác. Sống Khôn-có nghĩa sống phải hiểu quy luật giao tế (giữa người với người, người với tự nhiên…) trong vùng mình sống (tức thuộc các vấn đề dưới trần, dưới đất), còn chết Thiên dần dần thành chết Thiêng-tức chết lại quay về Trời, đúng quy luật là phải được thiêng liêng như Trời.
Đoài-Đầm: Có âm vị hơi giống nhau. Còn hơn Trạch. Tuy nhiên, không có những thành ngữ, thổ ngữ và phương ngữ thông dụng nào để chứng minh.
Cấn=Núi: Chúng ta hãy hiểu Cấn một cách bình dị dân dã hơn (bởi vì nếu chữ Cấn có từ ngày xa xưa và là tiếng Việt, thì nó phải ăn sâu vào tâm khảm nhân dân. Vì vậy, nó phải rất dung dị, đơn giản). Cấn là có cái gì đó đội lên làm vướng cái gì úp xuống mặt phẳng cho trước. Giống như khi hôn nhau thì hơi cấn hai cái mũi vậy. Quá dung dị và dân dã. Nhưng nếu nói đến Kinh Diệc thì Càn Khôn luôn luôn thiêng liêng. Chỉ có Núi mọc trên Đất là Cấn với sự giao duyên của Trời và Đất. Như vậy, từ Cấn diễn giải qua Hậu Thiên bằng ngôn ngữ Việt Nam hoàn toàn có nghĩa Núi. Ngoài ra chúng tôi dẫn lại một đoạn của Sử Thi Đẻ Đất Đẻ Nước của dân tộc Mường: “50 người con về miền đồng bằng trở thành tổ tiên người Việt; 47 người đi lên miền núi, họ là tổ tiên của các dân tộc miền núi, còn lại 3 người sinh ra từ những trứng đầu tiên: Tá Cài, Tá Cần, và Dạ Kịt. Sau khi anh cả là Tá Cài bị rắn cắn chết, các mường mời Tá Cần lên ngôi vua. Tá Cần lấy bà Chu Bà Chương sinh được 18 con: 9 con trai và 9 con gái. Họ trở thành lang (thủ lĩnh) và chia nhau đi coi giữ các bản Mường.”
Tốn, Chấn: không có một ý tưởng nào cả.
Ly=Lửa: Trùng nhau đến ngạc nhiên. Anh Nguyễn Thiếu Dũng đã viết điều này.
Khảm=Khẳm=Nước: Khi nghĩ về Khảm, chúng tôi liên tưởng ngay đến thơ của cụ Đồ Chiểu:
Chở bao nhiêu đạo thuyền không Khẳm
Đâm mấy thằng gian, dạ chẳng sờn.
Thuyền không khẳm là thuyền không bị chìm bởi Nước. Dân ta cũng hay nói câu: đầy khẳm, nhiều khẳm. Cái gì có thể đầy đến vậy? Rõ ràng ý tứ ở đây chỉ Nước. Dùng Khảm chỉ Nước lâu quá, sau đó những từ như đầy nước, nhiều như nước trở thành đầy khẳm, nhiều khẳm. Đến độ, giờ đây từ khẳm lại mang ý nghĩa của tĩnh từ (trạng từ).
Tổng kết lại ta có bảng sau. Phần trăm xác thực là cách đánh giá chủ quan của người viết:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong9-BanggiainghiaBatQuai.jpg
khonglaai
04-11-2005, 11:01 PM
Trong hệ thống truyền thuyết, cổ tích, phương ngữ, thành ngữ của dân tộc ta có hẳn một chuỗi riêng chứa đựng những tư tưởng Dịch.
Lạc Long Quân và Âu Cơ: tổ tiên của chúng ta. Con giao long được khắc nhiều trên trống đồng Việt Nam và trên nhiều cổ vật khác. Người Việt cổ được khắc trên trống đồng có trang điểm bằng những lông chim. Điều này chứng tỏ, người xưa đã quan niệm họ có nguồn gốc từ chim. Hay chính xác hơn là con chim Diệc mang cánh mềm mại của mẹ Âu Cơ và đuôi hùng dũng, mỏ dài của cha Lạc Long. Câu chuyện Long Mã xuất hiện ở sông Hà mang Hà Đồ có thể ghi nhận có một bản Hà Đồ được vẽ trên tấm da cá sấu-giao long hay có tấm gì đó vừa vẽ Hà Đồ và cũng có trang trí hình những con giao long. Mà Giao long là linh vật của người Việt.
Con cóc cậu ông trời: Cậu tức là anh trai hay em trai mẹ Trời. Mà mẹ trời chính là Thái Cực. Cóc chính là bản thể Thái Cực dưới đất.
Rùa thần: Sử Trung Hoa cũng có thừa nhận sứ Việt Thường Thị cống rùa thần và quy lịch. Ngoài ra, trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của chúng ta đã bao nhiêu lần Thần Kim Quy hiện lên giúp đỡ (câu chuyện Rùa thần cho móng thời An Dương Vương, câu chuyện Hoàn Kiếm,…). Vậy, không thể nào chối cãi Kim Quy chính là thần vật của nước ta. Câu chuyện Lạc Thư cũng có thể hiểu, có một đồ hình được khắc trên mai rùa và người Việt đã mang cống cho vua Trung Hoa.
Mẹ tròn con vuông là thành ngữ khá phổ biến. Quan niệm Trời tròn Đất vuông cũng khẳng định qua câu chuyện hoàng tử Lang Liêu làm bánh chưng bánh dày tặng vua cha.
Trời Đất tách làm đôi hay bà Nữ Oa vá Trời: Vào thời Hiên Viên; thần nước Cộng Công đánh nhau với thần lửa Chúc Dong. Cộng Công thua trận; húc đầu vào núi Bất Chu; khiến cột trời đổ gẫy. Trời nghiêng về phía Tây Bắc; đất lệch về phía Đông Nam. Nước từ trên trời đổ xuống gây ngập lụt ở khắp nơi. Bà Nữ Oa đốt cỏ Lư thành tro ngăn nước lụt; lấy đá ngũ sắc dưới biển vá trời. Sau đó bắt con rùa lớn đứng đội trời lên. Từ đó; cuộc sống trở lại yên bình. Trời nghiêng về hướng Tây Bắc, Đất hướng Đông Nam chính là nơi Trời Đất tách đôi. Các phương vị của Càn và Khôn đều đúng chính xác như Hậu Thiên Bát Quái Âu Lạc, chúng tôi đã viết trên.
Số 18: Số 18 hiện diện rất nhiều trong truyền thuyết của dân tộc ta. Thật ra, đấy chính là tư tưởng trọng Nước của người Việt xưa. Vì rằng, 18 chính là Thuần Khảm
Sơn Tinh Thuỷ Tinh: Tuy Nước đối với cư dân Việt rất thiêng liêng. Nhưng cũng giống như ông thần vừa uy linh, vừa dữ tợn, Nước đã làm cho những người dân lúa nước khiếp đảm. Đất nơi họ sống nằm về phía Đông Nam (trên thực tế là Đông Nam-đây là quan niệm rất đúng đắn của người Việt xưa và họ phải có những chiêm nghiệm thiên văn địa lý khá thuần thục) còn nước nằm phía Bắc. Và đã có thần núi Tản-Sơn Tinh án ngữ phía Đông Bắc giúp cho dân chúng chống lại lũ lội, thiên tai từ Nước gây ra.
Sống Khôn chết Thiêng: đã viết trên.
Có trò chơi dân gian sau đây có thể gọi là bản Dịch ca được. Bài này đã được anh Thiên Sứ dẫn ra. Theo tôi, những chứng cứ nó dính dáng đến Dịch học rất lớn. Vì không hiểu nhiều về Dịch học (điều chúng tôi biết cũng chỉ gói trọn đến Hậu Thiên Bát Quái là cùng), nên xin không bàn luận. Có câu hát sau:
Chi chi chành chành
Cái đanh thổi lửa.
Con ngựa chết trương.
Tam vương ngũ đế,
Chấp khế đi tìm.
Con chim làm tổ
Ù à ù ập.
Lại sập xuống đây.
Thế nhưng, chúng tôi có hỏi một số người khác từ Thái Bình, Nam Định, Quảng Nam,…thì biết được một khảo dị sau:
Chi chi chành chành
Cái đanh thổi lửa.
Con ngựa chết trương.
Ba dương Thượng đế,
Bắt dế đi tìm.
Con chim làm tổ.
Ù à ù ập.
Lại sập xuống đây.
Có các liên hệ sau: chi chi chành chành=chi chi can can. Đanh thổi lửa=Đinh Tốn Ly. Ngựa=một con vật trong 12 cung Tử Vi. Dế là lệch âm của Dê (nhằm mục đích hợp vần của bài ca). Dê là vật sau Ngựa. Nếu tính về Mệnh thì Ngựa và Dê sẽ cùng mệnh. Ba dương=Càn (có vay chữ Dương. Có thể bài ca làm sau khi những khái niệm cơ bản của Dịch học Trung Hoa đã vào Việt Nam. Tuy nhiên, vì nội dung Dịch học đã ăn chặt vào quần chúng nhân dân nên nội dung của Dịch có thể khác nhau. Ta không thể nói vì chữ Dương mà Dịch Việt đang dùng chính là Dịch Trung Hoa) mà Càn chính là Trời=Thượng Đế. Các câu thơ đều dùng nhiều tiếng thuần Việt, ngoài ra không câu nào ăn nhập câu nào. Và ý nghĩa bài thơ tổng quát nói gì cũng không rõ. Chúng tôi thừa nhận nếu không đưa những ý niệm Dịch vào bài thơ này thì chúng tôi hoàn toàn không hiểu bài thơ nói gì. Thế nhưng bài ca này rất phổ biến trong dân gian, bắt buộc nó có ý nghĩa nào đó sâu nặng đối với dân tộc ta. Và có lẽ không có cái gì sâu nặng bằng tư tưởng Dịch. Ngược lại, chỉ có thể dùng ngôn ngữ Dịch mới hiểu được bài ca đầy trúc trắc trục trặc này. Chúng tôi rất mong các nhà Dịch học cất công giải mã bài ca này.
Cuối cùng chúng tôi với mục đích phục hồi lại sự thật xin giới thiệu với quý vị hai câu chuyện truyền thuyết được cải biên:
Một ngày nọ, đang chầu triều văn võ được báo lên có sứ nước ngoài đến tặng phẩm vật, vua Nghiêu cho vời vào. Sau một hồi thi lễ, vua hỏi ông sứ:
-Nhà ngươi từ đâu đến?
Ông nọ không hiểu, các quan bèn dịch lời vàng của vua bằng tay múa chân quàng. Cuối cùng ông sứ hiểu ra là họ muốn hỏi mình từ đâu đến. Ông trả lời:
-Dạ bẩm, thần đến từ nước Diệc.
Vua quan hẳn nhiên cũng chả hiểu gì cả. Ông nọ bèn nhắc đi nhắc lại:
-Diệc, Diệc, Diệc,…
-Á à, đây là sứ nước yue (duê. Người Trung Hoa không đọc được từ có phụ âm c sau cùng).
Ngươi mang cái gì đến làm phẩm vật đó? Vua Nghiêu nói xong và thừa hiểu anh chàng kia chắc không hiểu mình nói gì. Bèn chỉ ngay vào phẩm vật mà nói:
-Đây là cái gì?
Ông sứ hiểu ngay ra và bẩm:
-Đây là Diệc thư.
Bức Diệc thư được vẽ trên tấm da cá sấu. Vua Nghiêu lẩm bẩm:
-Rắc rối quá đi mất. Lại Diệc với Diệc. Đau đầu quá đi thôi.
Nhưng vua với bản tính rất là vua của mình, ông hỏi lại:
-Thế chung quy cái đó nói về việc gì?
Bá quan văn võ lại một hồi múa tay chân. Ông kia hiểu ra và trả lời:
-Đây là kinh văn nói về sự vận động của vũ trụ. (kèm theo hoa tay múa chân)
-Á à. Vậy hoá ra đây là yi jing (Kinh Dịch)
-Thế tấm da này từ đâu mà có, ta thấy lạ lắm.
-Dạ bẩm, từ con Rồng ạ.
-Á à, Long, Long…(không đọc được chữ R mà đọc trại ra thành L.)
Thôi ngươi lui ra.
Vua quan thương nghị, truyền viết vào sử: Năm đó tháng đó, có sứ thần nước yuê đến cống phẩm vật. Vua cũng không quên dặn các quan: các ngươi hãy ghi vào sử: Thời vua Phục Hy có con Long Mã hiện lên có các đốm xoáy trằng đen và ngài đã vạch nên…(như ta đã biết).
Câu chuyện thứ hai:
Ông sứ nước Diệc được ông già xứ mình cử qua Trung Nguyên để cống phẩm vật đồng thời điều tra xem trí giả nhà Chu có biết được những thông điệp gì ghi trên các phẩm vật trước không. Vâng mạng, ông lên đường.
Ngày xx tháng x năm x, vua quan nhà Chu đang bàn chuyện quốc gia đại sự. Nghe tin có sứ nước Việt Thường sang cống phẩm vật, vua bèn truyền sứ vào:
-Bẩm, thần là sứ nước Việt Thường ạ.(Lần này ông biết có giới thiệu là Diệc thì họ cũng không hiểu là gì. Đành phải giới thiệu Việt-từ của Trung Nguyên để họ dễ hiểu.)
-Ừ, ừ. Ta có nghe qua. Chu Thành Vương lại ghé tai sử quan hỏi: “Việt Thường Thị là nước nào?”. Sử quan bẩm nhỏ “Là cái nước suốt ngày đem chim trĩ với mấy đồ hình rắc rối khắc trên mai rùa và da Long Mã sang cống đó.”. “Ờ ờ, ta có nghe qua”. Rồi vua đằng hắng rõ to:
-Thế cống vật đâu?
-Dạ bẩm, cống vật là hai con chim Diệc và một mai rùa ạ.
Lần này không múa tay hoa chân nữa vì ông sứ đã biết nói chút ít tiếng Trung Nguyên.
-Lại Diệc à? Chim trĩ chớ nhỉ! Vua lại lẩm bẩm.
-Truyền đem hai chim vào vườn thượng uyển. Còn mai rùa đâu cho ta xem.
Vua quan chụm đầu vào đồ hình rắc rối. Lại thấy 4 cụm số gì đó, vua hỏi:
-Thế các cụm số này nói về việc gì?
-Dạ có thế nói chuyện quá khứ vị lai ạ. Có thể đoán chuyện Trời chuyện Đất ạ.
Vua bèn truyền cho đem đồ hình ma phương 3x3 với cái tên mỹ miều là Lạc Thư ra hỏi:
-Vậy đồ hình kia ý nghĩa giống đồ hình này không?
Ông sứ nhìn đồ hình ma phương suýt phá lên cười. Hoá ra bao nhiêu năm mà họ cũng chưa hiểu được tý gì về ý nghĩa của các đồ hình nước mình. Nhưng ông bình tĩnh trả lời:
-Vâng giống lắm ạ(?)! Có thể từ đồ hình của nhà vua mà suy ra nhiều điều lắm ạ. Hai đồ hình trên nguyên tắc là giống nhau.
-Thế mấy cụm hình này ký hiệu gì?
Đến đây, ông sứ bí không biết giải thích sao nữa. Vốn liếng tiếng Trung ông đã xài hết rồi. Ông lại hoa tay múa chân:
-Đây là Càn, đây là Đoài….
-Nhưng chúng nói cái gì?
Lại hoa tay múa chân và vì khó quá (tư tưởng triết học khó giải thích bằng tay chân) nên chả ai hiểu ai nữa. Vua đành truyền viết tạm: Càn Đoài Ly Chấn…vào sổ để ghi nhớ.
Ông sứ ra, vua quan lại thương nghị. Lại truyền viết, năm đó tháng đó có sứ nước Việt sang cống hai chim trĩ và rùa thần. Dĩ nhiên không quên huyền bí hoá lên: Năm đó, vua Đại Vũ bắt được con rùa có ghi Lạc Thư. Và ông tổ nhà Chu, khi bị giam ở Diễu lý đã …(như ta đã biết).
khonglaai
04-11-2005, 11:20 PM
Chương 10.
Hậu Thiên Bát Quái Âu-Lạc. Một di sản sáng tạo vĩ đại của người Việt.
Như vậy, ít ra có hai trống đồng Sông Đà và Ngọc Lũ (chúng tôi nghĩ có thể cả trống đồng Hoàng Hạ và Đông Sơn) khắc hoạ một Hậu Thiên Bát Quái Âu Lạc đúng với logic toán học. Các phân tích từ đầu chí đuôi của Kinh Dịch Việt Nam nói trên đã cho ta thấy, không còn nghi ngờ gì về nguồn gốc Kinh Dịch. Kinh Dịch là sản phẩm trí tuệ của người Việt cổ.
Nếu, công trình của chúng tôi chỉ dừng lại ở xét đối xứng thì cũng giúp cho anh Thiên Sứ khẳng định thêm phương pháp đổi Tốn Khôn.
Nếu công trình của chúng tôi không có bằng chứng giá trị nào mà bằng logic toán học phát hiện ra Hậu Thiên (hay là Tiên Thiên Trùng Quái) thì cũng cho tất cả thấy một đồ hình khác trên lý thuyết hợp lý hơn Hậu Thiên. Và nghi ngờ về sự đúng đắn của Văn Vương Bát Quái càng có cơ sở.
Nhưng mà, cuối cùng chúng tôi đã tìm ra Hà Đồ nhan nhản trong trống đồng còn Hậu Thiên Bát Quái Âu Lạc thì có đến hai trống đồng hiển thị rõ ràng. Vậy, làm sao còn có một mảy may nghi ngờ nào?!
Sẽ rất hợp lý khi có nhiều người đặt câu hỏi: “Vì sao, người Việt lại quên hết gia sản Kinh Dịch của mình mà lại sử dụng hầu hết các công trình Dịch Trung Hoa?”. Câu trả lời là một quá trình suy luận logic đầy bi thương.
-Đầu tiên, người Việt cổ đã sáng tạo ra Kinh Dịch. Họ đã bền bỉ làm ra Diệc thư trong vòng mấy nghìn năm. Cứ mỗi lần có sự kiện trọng đại họ lại đúc trống đồng. Trên các trống đồng phải khắc những thành tựu của Diệc thư.
-Họ bắt đầu đem cống sản vật của mình cho nước mạnh ở phương Bắc nhằm mục đích giao hảo. Tuy nhiên, thành tựu văn hoá của mấy nghìn năm khó có thể giải thích trong vài lần đi sứ được. Đồng thời, với ý đồ úp úp mở mở, họ cũng không muốn giải thích cặn kẽ cho ngoại bang biết được.
-Người Trung Hoa có các đồ hình được cống họ bắt đầu hiểu ra một số ý nghĩa của nó. Với ý đồ chiếm lấy hệ thống tư tưởng là của mình, họ huyền bí hoá các đồ hình lên. Tạo những câu chuyện truyền thuyết để tôn lên địa vị Thiên Tử (vì chỉ có Thiên tử mới hiểu được ý Trời thôi) của vua chúa lúc bấy giờ. Đồng thời huyễn hoặc luôn quần chúng về nguồn gốc của Kinh Dịch.
-Người Trung Hoa bắt đầu bành trướng xuống phương Nam. Tất cả những gì liên quan đến văn hoá nước Việt họ đều chiếm đoạt hết. Đồng thời bắt luôn những trí sỹ, những nhà thông thái của nước Việt. Tuy nhiên, không thể diệt hết được những nét văn hoá trong dân gian, làng xã (bằng chứng xác đáng nhất là Thái Cực Đồ trong tranh Đông Hồ). Cũng có vài thứ như trống đồng đã được một số con dân Việt đem cất giấu đi.
-Người Trung Hoa nghiên cứu Dịch trên những nền tảng của các vật - vì lý do nào đó họ có được. Nhưng không ai nói cho họ cặn kẽ vấn đề. Đồng thời họ không đi từ cội rễ vì họ tin họ đã bắt được những đồ hình quan trọng rồi. Nghiên cứu từ các đồ hình này nhanh hơn. Thế là, công cuộc nghiên cứu của người Trung Hoa về Dịch là quá trình đi từ phức tạp để suy ra cái đơn giản. Nên hiển nhiên mắc phải sai lầm. Tuy nhiên, họ cũng phát triển được một hệ thống tư tưởng từ những suy luận sai lầm.
-Người Trung Hoa nô dịch văn hoá dân tộc Việt. Dạy chữ Hán, phá trống đồng, truyền bá tư tưởng Dịch Trung Hoa. Các trí sỹ Việt Nam biết Dịch thật sự thì đã chết hoặc ly tán. Còn các trí sỹ chưa biết thì được học cái có sẵn của người Trung Hoa.
Từ suy luận sau đây, ta thấy hoàn toàn logic khi chính tổ tiên Việt phát minh ra Diệc thư đúng mà con cháu họ lại học cái Kinh Dịch sai.
Thế nhưng, những cái giá trị lâu đời, những dấu ấn của thời gian hay những tư tưởng Diệc thư vì đã được nghiên cứu kỹ càng quá nên nó đã đi vào một cách nhuần nhuyễn trong dân gian. Cuối cùng, những khảo sát các cổ vật dân gian Việt Nam đã mở ra bức màn bí mật của phát minh vĩ đại xã hội loài người. Đó là Diệc Thư đúng đắn mà linh hồn của nó là Hậu Thiên Bát Quái Âu-Lạc:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong10-HTBQAL.jpg
a. Các kết quả đối xứng:
-Đối xứng qua biến đổi:
1 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
2 4(2) T2-4TR2 01122334
3 4(2) T2-2TR2 1234
4 4(2) T2-2TR2 1234
5 4(2) T2-4TR2 01122334
6 4(2) T2-1TR1-1TR2 1234
7 4(2) T1-8TR2 0415263701122334
8 4(1)2(2) T2-2TR2 1537
9 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
10 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
11 4(2) T2-2TR2 0426
12 4(1)2(2) T2-2TR2 0426
13 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
14 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
15 4(2) T2-2TR2 1537
16 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
17 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
18 4(2) T2-2TR2 0123
19 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
20 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
21 4(1)2(2) T2-2TR2 0123
22 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
23 4(2) T2-2TR2 0123
24 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
25 4(2) T2-2TR2 1234
26 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
27 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
28 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
29 2(4) T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4) 1234
30 4(1)2(2) T2-2TR2 1234
31 4(2) T2-2TR2 1234
32 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
33 1(2)1(6) T1(6)
34 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
35 1(2)1(6) T1(6)
36 2(1)2(3) T2
37 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
38 2(1)2(3) T2
39 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
40 2(1)2(3) T2-2TR2 1537
41 1(2)1(6) T1(6)
42 1(2)1(6) T1(6)
43 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 0426
44 2(1)2(3) T2-2TR2 0426
45 2(1)2(3) T2
46 2(1)2(3) T2
47 1(2)1(6) T1(6)-1TR1(6)-1TR2(6) 3715
88 7 7 7 7 7 23 7 23
47 1 2 0 8 0 0
Truc 42: 2 2 2 2 5 9 5 9
Truc 24: 0 0 0 0 0 12 0 12
Truc 4122: 1 1 1 1 2 2 2 2
Truc 2123: 2 2 2 2 0 0 0 0
Truc 1216: 2 2 2 2 0 0 0 0
Tất cả dạng đối xứng đều giống Tiên Thiên Bát Quái. Các thông số đối xứng trục đều trùng khớp với Tiên Thiên Bát Quái.
-Đối xứng qua biến dịch từ Tiên Thiên:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong10-DXHTBQALtuTTQuaHT.jpg
Càn của Tiên Thiên từ Nam lên chiếm chỗ của Cấn (Tiên Thiên), còn Cấn chiếm chỗ của Chấn, Chấn qua Ly và Ly thi chiếm chỗ của Càn. Phần từ Khôn cũng có suy luận tương đương. Dạng đối xứng của hình vẽ được là: T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4).
Chiều biến dịch từ Tiên Thiên sang Hậu Thiên ngược với từ Hậu Thiên sang Tiên Thiên. Ở đây, cần chia ra hai khái niệm rõ ràng: Trời đất chia đôi từ thuở sơ khai-tức là từ Tiên Thiên sang Hậu Thiên; và vòng chuyển động phản phục để trở về Thái Cực, trở về Tiên Thiên-tức sự vận động theo chiều chuẩn từ Hậu Thiên sang Tiên Thiên.
Điều đáng chú ý ở đây là quy luật biến đổi các quái theo công thức 2-3-2-1. Có hai số 3 và 1 là số lẻ (Nọc) còn hai số 2 là chẵn (Nòng). Ngoài ra cân bằng Nòng và Nọc 3+1=2+2=4. Nếu chúng ta cho rằng quá trình Huỷ rất nhanh và quá trình Thành thì lâu hơn, ta sẽ có chu trình sau: Từ phía Đông-Ly sang Nam-Càn là quá trình Sinh, từ Nam Càn sang Tây Bắc-Cấn là quá trình Thành, Tây Bắc-Cấn sang Đông Bắc-Chấn là quá trình Hoại, và từ Đông Bắc-Chấn sang Đông Ly là quá trình Huỷ. Như vậy, ta được khi sinh ra Chấn của Hậu Thiên thế chỗ đúng nơi bắt đầu sinh từ Tiên Thiên sang Hậu Thiên. Và quan điểm Đế xuất hồ Chấn rất hợp với vòng Sinh Thành Hoại Huỷ của quy trình 2-3-2-1. (Ở đây chúng tôi chỉ xét vòng Nọc: Càn-Ly-Cấn-Chấn vì từ thời Tiên Thiên vòng Nọc quan trọng hơn.). Còn các biến dịch khác, chúng tôi xin được trình bày ở công trình khác. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý có sự cân bằng Nòng Nọc trong cả vòng Nọc lẫn vòng Nòng.
-Đối xứng của vòng Nòng và Nọc:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong10-DXHTBQALvongNongNoc.jpg
Cả Tiên Thiên lẫn Hậu Thiên, dạng đối xứng đều là: T2(4)-1TR1(4)-1TR2(4). Thế nhưng đối lại với Tiên Thiên, các đường đi các quái có dạng 3-1-1-1 (cho cả vòng Nòng và Nọc)-Thuần Nọc thì ở Hậu Thiên có sự cân bằng Nòng Nọc với công thức 2-3-2-1. Lại một lần nữa, chúng ta chứng kiến đường đi 2-3-2-1. Lưu ý trong nhóm F1,8 không thể có đồ hình nào khác có dạng đối xứng hai vòng Nòng Nọc hơn các dạng trên.
-Đối xứng của hai phần Trời và Đất chỉ dành cho Hậu Thiên:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong10-DXHTBQALtrongTroiDat.jpg
Dạng đối xứng: T2-1TR1(4)-1TR2(4).
Dạng đối xứng này có vẻ giống dạng đối xứng của Bát Quái do anh Thiên Sứ đưa ra. Tuy nhiên, nếu tính chiều đi của các đường thẳng như sau: vòng Nọc: CànèChấnèKhảmèCấn, vòng Nòng KhônèTốnèLyèĐoài có tính đối xứng T2 tuyệt đối cho cả chiều nữa. Còn Bát Quái Thiên Sứ có vòng Nòng không có đối xứng T2 chính xác theo chiều.
b. Hậu Thiên Bát quái Âu Lạc nằm trong nhóm F1,8. Và cũng cho ra đường chữ S thiêng liêng, nhưng là của trùng quái. Điều này đúng với những triết lý kế thừa của vũ trụ quan nhân loại kể cả thời tiền cổ lẫn thời hiện đại.
a. Hậu Thiên Bát Quái Âu Lạc phù hợp một cách tuyệt diệu với Hà Đồ bằng cách giải mã số học đơn giản nhất. Với 1=Khảm=2 thì 6=7=Càn. Đối lại với Khảm thì 7=Ly=5, vậy 2=5-5=0=Khôn. Và các cặp khác cũng có logic tương tự. 9=Tốn=3=11 (mod 8), 4=Đoài=11-5=6. 3=Chấn=4, vậy 8=Cấn=4+5=9=1(mod 8).
b. Hậu Thiên Bát Quái Âu Lạc giải thích đúng sự hình thành vũ trụ với các quan niệm “Trời Đất tách đôi” lẫn “Mẹ tròn Con vuông”.
c. Hậu Thiên Bát Quái Âu Lạc thể hiện đúng tinh thần trọng Nước của dân Việt với Khảm làm chủ tế.
d. Hậu Thiên Bát Quái Âu Lạc thể hiện đúng những gì trong các truyền thuyết: Đông Bắc-Cấn-Sơn Tinh đã ngăn cản không cho Bắc-Khảm-Thuỷ Tinh tàn phá Khôn-Đất-hướng Đông Nam.
e. Hậu Thiên Bát Quái chỉ rõ có hai quy luật vận động thời vũ trụ đã thành hình. Quy luật trời theo thể hiện qua chữ S và F1,8, quy luật của Đất qua đường phân chia Trời Đất hay vòng chuyển động của hai nhóm Trời Đất giao duyên nhau-đó chính là Khảm chủ tế và vòng vẫn động uyên nguyên Đất Nước. Giữa hai quy luật đó ta nhận thấy trục linh thiêng Càn Khôn (cả Càn và Khôn đều nằm trong vận hành của hai quy luật này). (Càn chính là người tách ra đi về hướng khác của trống đồng Đông Sơn.).
Rất tiếc kiến thức Dịch của chúng tôi chỉ đến đấy thôi, nên không thể phân tích những điều hay điều đẹp thêm của đồ hình này. Nhưng có một nhà Dịch học là anh Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh đã có công trình phân tích về đồ hình này. Tuy đồ hình của anh đưa có khác vị trí của Tốn Đoài, nhưng vì Tốn Đoài cùng một hành nên chúng tôi nghĩ, rất có thể những phân tích của anh cũng có giá trị thời sự cho cả đồ hình này. Ngoài ra, còn một số ưu điểm nữa mà do việc nghiên cứu tiếp theo của chúng tôi còn dở dang nên chúng tôi không dám đưa ra ở đây để bận lòng các bậc trí giả.
Chúng tôi cũng lưu ý quý vị, chữ S đi từ 7 đến 0 cũng như chữ S đi từ 0 đến 7 nên chúng tôi không vẽ chiều của nó. Có một số nghiên cứu tiếp theo nên chúng tôi chưa tiện đưa ra chiều của chữ S. Chúng tôi sẽ tiếp tục trong một công trình khác.
Bây giờ khi thấy được trọn vẹn vẻ đẹp của đồ hình mà cha ông chúng ta làm nên, chúng tôi không khỏi đặt nghi vấn: “Tại sao trong số 24 đồ hình anh em của Bát Quái Văn Vương, người Trung Hoa lại chọn đúng Bát quái như bây giờ? Logic nào để họ chọn lựa như vậy?”. Người Trung Hoa hoàn toàn không đưa ra logic nào khả dĩ để chứng minh cho cách chọn lựa của mình. Thế nhưng, trong 24 đồ hình đó họ chọn đúng Bát Quái Hậu Thiên bây giờ có đến 5 quái trùng nhau với Bát Quái Âu Lạc (chỉ 1/24 mà thôi). Vậy giải thích vấn đề này như thế nào? Chỉ còn một cách duy nhất. Đã có một số bậc trí giả Trung Hoa thời cổ đại được xem cái đồ hình Hậu Thiên Bát Quái Âu Lạc, nhưng vì chưa hiểu ý nghĩa nó họ đành xếp xó bản đồ hình này đi (đúng ra phải trả lại vào kho cho vua). Đến lúc, có người hiểu ra được đồ hình này dùng để làm gì thì bản chính đã bị thất lạc hay bị hư hỏng. Cuối cùng, họ mới cố xây dựng lại đồ hình theo trí nhớ (có thể được cha ông mình kể lại, có thể do tổ tiên họ đã vẽ lại theo trí nhớ khi trả lại bản chính cho chủ của nó (chủ của đồ hình này là các ông vua.)…Chính vì thế, họ đã chọn đúng đồ hình có đến 5 quái trùng với đồ hình Hậu Thiên thật. Còn các quái khác được suy ra từ quan niệm sai lầm về vai trò Lạc Thư.
Cũng có một câu hỏi rất hay: “Nếu như đồ hình Hậu Thiên của Trung Hoa sai thế tại sao người Trung Hoa đã có những tiên đoán chính xác?”. Thật ra, không có gì vô lý cả vì họ có trong tay bảng Trùng Quái đúng hay nói chính xác hơn họ có trong tay bảng Trùng Quái gần đúng và các giải thích của chúng cũng đôi khi na ná nhau, nên khi tiên đoán lại dựa nhiều vào kinh nghiệm của nhà Dịch học. Vì thế, những tiên đoán nhiều khi vượt khỏi giới hạn của đồ hình mà phụ thuộc phần lớn những kinh nghiệm (có thể là gia truyền) của nhà tiên tri.
Thế thì chúng ta cần đến Trung Thiên Bát Quái không? Nhu cầu của Trung Thiên Bát Quái có vẻ có lý khi lý luận: thứ nhất, có đồ hình Tiên, Hậu thì phải có Trung chứ; thứ hai, có đồ hình dành cho Thiên cho Địa thì phải có đồ hình dành cho Nhân chứ? Thật ra, khi phân tích ở trên bằng logic Toán học, chúng tôi đã thấy Hậu và Tiên ở đây chỉ thời vũ trụ đã hình thành và vũ trụ chưa hình thành. Thời Trung chuyển tiếp làm gì có thể đặt cơ sở ở đây? Còn Hậu Thiên và Tiên Thiên hoàn toàn không phải là đồ hình cho Thiên và Địa. Vậy lấy cơ sở nào đặt Nhân ra ở đây? Còn để biểu diễn các tính chất của Nhân thì đã có đến 64 trùng quái được thiết lập từ Hậu Thiên Bát Quái. Tất cả những nhu cầu làm Trung Thiên Bát Quái chẳng qua là người ta thấy đồ hình Hậu Thiên Văn Vương sai quá, khiếm khuyết quá. Nó khó lý giải thấu đáo tất cả những vấn đề của Dịch. Dịch gia Trung Hoa thấy thế và Dịch gia Việt Nam cũng thấy thế. Nhưng Dịch gia Trung Hoa ai lại đi mắng ông tổ của mình làm ra cái đồ hình luộm thuộm bao giờ. Nên họ đành nghĩ ra cái tên khác đi, với ý đồ “Ừ cái Hậu Thiên của Thánh Văn Vương không sai, nhưng chúng tôi phát triển thêm Trung Thiên nữa để bổ sung vào.”. Thật ra trong lòng họ nghĩ là sai bét bè be ra rồi. Còn Dịch gia Việt Nam thì cứ nghĩ Kinh Dịch của người Trung Hoa mà chả thấy người Trung Hoa đả động gì đến Hậu Thiên. Thế thì kệ thây cái Hậu Thiên Bát Quái đi, ta thử tìm ra cái khác hay hơn chăng. Rồi thiết lập một mảng dự đoán bằng Dịch cho hợp lý hơn. Còn tên của Bát Quái này tạm gọi là Trung Thiên Bát Quái, Trung Thiên Đồ hay là cái chi chi hay hay nào khác. Đã đến lúc các Dịch gia khi phân tích Dịch Học khẳng khái phát biểu Hậu Thiên của Văn Vương làm ra sai rồi và đưa ra đồ hình Hậu Thiên mới của mình-với điều kiện đúng logic. Chớ không cần lẩn tránh bằng những chữ Trung Thiên nữa.
Lại có câu hỏi: “Vậy liệu những tư tưởng Diệc học của người Việt xưa bắt đầu từ khi nào?”. Đó cũng là câu hỏi khá hay. Chúng ta thường biết, đồng được phát hiện sau đá khá lâu. Các cổ vật cho thấy, người xưa đã khắc nhiều hình tượng Nòng Nọc trên rìu đá. Có phải chăng, đó là điểm bắt đầu của Diệc thư chăng? Rồi các truyền thuyết cũng đã có từ thời xa xưa, như chuyện chàng Lang Liêu, bà Nữ Oa, Cóc kiện trời và dĩ nhiên là con số 18 kỳ dị nữa. Tất cả điều đó cũng nói lên điều gì chứ. Còn một giải pháp nữa mà ngày này môn Tin học và Toán có thể giúp chúng ta phục hồi lại lịch sử. Dĩ nhiên, ở mức độ mô phỏng thôi. Chúng ta đưa hết các thông số của các phát minh xã hội loài người vào, rồi mô phỏng con đường thời gian chúng được hoàn thiện. Ví dụ từ Kính lúp lên đến kính hiển vi cần mất bao nhiêu năm. Đại khái thế. Sau đó đưa thông số các trống đồng vào và truy nguyên lại triết lý Dịch có thể bắt đầu từ lúc nào. Chương trình này khó nhưng không phải không làm được.
khonglaai
04-11-2005, 11:23 PM
Thay lời kết.
Đến đây đã là lúc kết thúc công trình này. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn anh Nguyễn Vũ Tuấn Anh đã cung cấp cho tôi những thông tin vô giá. Thật ra, trong các công trình của anh Nguyễn có hai giả thuyết (mà nay đã được chứng minh) vô cùng quý báu. Thứ nhất, Hà Đồ liên quan đến Hậu Thiên Bát Quái. Thứ hai, dựng Hậu Thiên Bát Quái trên cơ sở kết hợp hai quái điên đảo (hai quái khi chồng lên nhau được một trùng quái bất dịch). Tuy những phát kiến này chỉ dựa trên kinh nghiệm phần lớn, nhưng cũng đã đem đến cho chúng tôi những ý tưởng logic và thuần tuý số học hệ nhị phân. Cũng xin cảm ơn người vợ hiền đã cảm thông và khích lệ chúng tôi hoàn thành công trình này.
Thưa quý vị, trước khi vào rừng Dịch học mênh mông, chúng tôi luôn nghĩ đó là triết học vĩ đại của người Trung Hoa. Đôi khi, nhìn thấy trống đồng trên ti vi, chúng tôi cũng nghĩ như mọi người khác: trống đồng chỉ ghi lại những cảnh sinh hoạt của người Việt xưa mà thôi. Của đáng tội, khi hỏi chúng tôi “Văn hoá Việt Nam có gì để anh tự tôn hay là anh tự ti rằng các anh không có một dấu ấn văn hoá đặc biệt?”, thì xin lỗi chúng tôi sẽ trả lời ngay “Vâng chúng tôi không có dấu ấn văn hoá gì đặc biệt. Ngoài lòng bao dung và bản tính hiền hoà của dân tộc chúng tôi.”. Đó thật sự là nỗi niềm của chúng tôi đối với văn hoá nước nhà trước khi biết trống đồng.
Quả là, những ý kiến của anh Nguyễn Vũ Tuấn Anh và Nguyễn Thiếu Dũng đã làm chúng tôi đặt nghi vấn cho những định kiến của mình trước đây. Và chính tấm lòng của các anh cũng như nỗi niềm sầu hận của triết gia linh mục Kim Định “phải làm gì để dân tộc Việt Nam ngóc đầu lên chứ.” đã thúc giục chúng tôi lao thân vào cái xay gió.
Đầu tiên chúng tôi kiểm tra lại Hà đồ có ăn nhập gì đến Tiên Thiên không? Câu trả lời là không! Vậy nó có liên quan đến Hậu Thiên không? Câu trả lời chúng tôi đã dẫn trên. Ngoài ra nếu cho rằng Hà Đồ vì tính phức tạp (đơn giản và đẹp về cách trình bày, chính thế mà phức tạp trong giải mã) của nó là đồ hình mã hoá Hậu Thiên thì trước tiên trên cơ sở nào mà người xưa xây dựng nên Hậu Thiên Bát Quái? Có một nghi án “Ông Chu Văn Vương đã trùng quái tại nhà lao Diễu lý” đã làm chúng tôi đặt mối liên hệ giữa Trùng quái với Hậu Thiên. Bây giờ nghĩ lại thấy logic hoàn toàn sáng tỏ. Bởi vì, Tiên Thiên đã dính dáng đến các quái, vậy Hậu Thiên phải dính dáng đến trùng quái. Chớ chã nhẽ cứ trùng quái rồi sắp xếp giống như của Tiên Thiên thì được một đồ hình to hơn 64 cạnh mà ý nghĩa cũng không khác Tiên Thiên là bao. Điều này cũng đưa đến một ý nghĩa vật lý lớn lao. Các nguyên tử xây dựng nên Thái Cực là lưỡng thể Nòng Nọc. Qua ba lần động thì trong Thái Cực hình thành nên 8 quái. Tuy nhiên 8 quái này trong Thái cực cũng chỉ nằm trong một bản thể hoàn thành thống nhất mà thôi. Để đến khi, Thái Cực hay mẹ vũ trụ động thêm lần nữa (Big Bang chăng?) thì các quái đó lại bung ra trở thành những nguyên tử đầu tiên để xây dựng nên vũ trụ này. Và tất cả quy luật của vũ trụ đều trong một quy luật thống nhất. Quy luật chữ S và F1,8 của trùng quái. Đó là quá trình nghiên cứu về Hậu Thiên bằng logic toán học của chúng tôi. Song song đó, vì thấy tranh luận của anh Thiên Sứ với một số học giả khác chúng tôi đã nghiên cứu tính đối xứng các đồ hình và tiến đến nghiên cứu luôn đối xứng các nhóm Bát quái. Cuối cùng chúng tôi phát hiện ra tính huyền ảo của nhóm F1,8.
Quá trình nghiên cứu của chúng tôi theo đúng trình tự đó và quý vị có thể kiểm chứng qua thứ tự các bài viết chúng tôi đăng trên tuvilyso.com. Topic cuối cùng của chúng tôi là yêu cầu mọi người cung cấp chúng tôi các đồ hoạ, tranh vẽ cổ xưa. Anh Thiên Sứ đã đáp ứng yêu cầu đó. Rất cảm ơn anh.
Và nghiên cứu trống đồng đã làm chúng tôi vô cùng hứng thú. Chúng tôi đã ngạc nhiên đến thẫn thờ trước trí thông minh của những nghệ nhân Việt Nam xưa. Những nghệ nhân đã mang đến cho chúng ta những tài sản quý giá như trống đồng Đặc Giáo, Phú Xuyên, Sông Đà, Đông Sơn…Đặc biệt người nghệ sỹ triết gia tài hoa làm nên trống đồng Ngọc Lũ. Tất cả họ đã lồng những đồ hình cả Tiên Thiên lẫn Hậu Thiên, cả công thức 3-3---4-4 lẫn Hà Đồ vào một mặt trống đồng nhỏ xíu. Càng ngạc nhiên khi thấy kết quả mình tìm được chính là đồ hình đã suy ra được từ lý luận logic toán học thuần tuý. Và cả vòng uyên nguyên 18-16 ghi ấn tên người ta gọi nơi mình sinh sống…Đất Nước. Vâng, chính là Đất Nước.
Đúng người Việt xưa đã làm nên Diệc thư hay Kinh Dịch. Chúng ta được quyền tự hào về những thành tựu đạt được của tổ tiên của chúng ta. Những người thà chết không cho ngoại bang biết cội rễ của Dịch, những người vượt bao gian hiểm để cất giấu những di sản vô cùng quý báu. Tuy nhiên chúng ta cũng không thể phủ nhận, các thành tựu đó về chi tiết đã mất đi rất nhiều. Cũng phải thừa nhận, người Trung Hoa đã kế thừa và phát triển nền Dịch học khá cao và phong phú. Trong thâm tâm, chúng tôi rất tin đã có một bộ trống đồng 64 cái khác nhau nói về trùng quái. Nhưng rất tiếc, chỉ với lòng tin thôi chưa đủ .
Đến đây, quý vị hẳn đã đồng ý với chúng tôi, chúng ta không thể nào vì lòng tự tôn, tự hào mà tự ru ngủ mình. Bí mật trống đồng còn nhiều! Bí mật Dịch còn nhiều. Nó nằm trong dân gian, trong các cổ thư của dân tộc Mường, dân tộc Tày,…Liệu đã đến lúc, các bậc trí giả nước nhà cùng nhau nắm chặt tay, đoàn kết mà cùng nhau nghiên cứu toàn bộ lẽ huyền diệu của Diệc thư dựa trên đồ hình Hậu Thiên Bát Quái Âu Lạc đúng chăng?! Liệu chúng ta có thể cùng nhau xây dựng lại, hoàn thiện thêm nền triết Việt chăng?!
Mong, mong lắm thay! Hỡi những người con của Đất Nước.
Trần Quang Bình.
khonglaai
04-11-2005, 11:31 PM
Chúng tôi đã post xong toàn bộ công trình. Bây giờ, tác giả sẵn sàng tiếp nhận ý kiến của bạn bốn phương. Có vài phát hiện nữa, nhưng mô hình logic chung cũng như bằng chứng còn đang dở dang, nên chúng tôi không tiện xét hết. Thật ra có một số trống đồng quá mờ nên cũng khó khăn trong việc giải đáp một số câu hỏi. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng số trống đồng đang lưu lạc ở trên thế giới này và đang giữ ở bảo tàng VN nếu được vẽ lại và phân tích lại bằng kỹ thuật mới nhất có thể cho chúng ta nhiều câu giải đáp thú vị. Điều đó cần kinh phí cộng với nhiệt huyết của những người tham gia. Còn chúng tôi luôn luôn sẵn sàng với bất kỳ sáng kiến hợp tác nào.
khonglaai
khonglaai
23-11-2005, 11:43 PM
Bổ sung vào bảng nghĩa các quái.
Quý vị độc giả thân mến!
Khi phát hiện ra người Việt cổ đã làm ra kinh Dịch, chúng tôi đã có đưa ra giả thiết phù hợp với tư tưởng của Dịch. Đó là có hai khung cấu tạo nghĩa của các quái: khung Tiên Thiên ý nghĩa của các quái phải mang nội hàm số học; khung Hậu Thiên các quái vẫn dùng như của Tiên Thiên, nhưng mang thêm một ý nghĩa mới có dính dáng đến những quan niệm về vũ trụ của con người thời cổ đại. Khung Hậu Thiên có vẻ đã được giải thích gần như hoàn chỉnh chỉ thiếu Tốn và Chấn. Chấn không giải nghĩa vì sao? Trước đây, tôi nghĩ đó là từ Hán. Thế thì những từ nào của người Việt có ý nghĩa tương tự: Chấn, Sấm? Nếu tất cả các từ đó là từ Hán Việt hoá ra người Việt cổ có từ Càn chỉ Trời, có từ Khảm chỉ nước mà lại không có từ để gọi hiện tượng Chấn Động chăng? Vì thế, chúng tôi nghĩ từ Chấn hoàn toàn có thể là từ thuần Việt và giao lưu văn hoá nên nó thành ngôn ngữ chung của hai nước Việt Hoa. Nên chúng tôi mạnh dạn cho từ Chấn này vào khung Hậu Thiên với nghĩa của nó.
Còn Tốn thì sao? Tốn bằng Toán với nghĩa thời Tiên Thiên (chúng tôi sẽ dẫn sau). Sau đó, lúc làm ra Hậu Thiên người xưa lấy thêm nghĩa khác nữa cho Tốn là Gió. Và thậm chí có một cách lý giải logic sau, từ Gió trước đây không đọc như vậy mà đọc gần giống Tốn. Và để cách phát âm sao cho có ý nghĩa Tiên Thiên lẫn ý nghĩa Hậu Thiên, người Việt cổ đã chọn từ Tốn trung dung (dĩ nhiên phải qua một quá trình đọc biến âm dài). Nhận thấy sự biến cách từ t sang đ rất thông dụng trong cách đọc: ví dụ toán hầu như có ý nghĩa tương đương với đoán, hay chữ tương đương, hay chữ tồn đọng (nói chung quý vị sẽ tìm thấy vô vàn ví dụ như thế). Cách biến âm này khá thông dụng nên chúng tôi không phân tích sâu. Vậy, con đường từ Toán sang Gió có thể đi như sau:
ToánàTốnàTố (bão tố)àDốàGió. % xác thực nếu tính các mắt xích biến âm có từ bão tố (một đêm gió bão hay một đêm bão tố, giông tố cũng đuợc mà giông gió cũng dùng được) với Tố=Gió chúng tôi cho rằng rất cao.
Vậy, phần Hậu Thiên nếu giải nghĩa qua tiếng Việt đã thấy thuận lợi vô cùng.
Còn đối với khung Tiên Thiên, chúng tôi đưa ra giả thuyết số học và gọi nó là rồ dại. Tuy nhiên, cũng chưa chắc rồ dại đến mức đó. Tại vì, có trục thiêng liêng chính là Càn Khôn có thể giải thích gần như 100% xác thực. Tôi lưỡng lự phân vân vì đúng là tôi không giải nghĩa được chữ Đoài-một số rất quan trọng (vì Đoài đối với 1 là Càn. Hay con tượng của Nọc là một mà tượng của Nòng là hai (không phải số-số của Nọc là 1 còn số của Nòng là không)). Làm sao mà Đoài thành Hai được? Hai từ đó có gì liên quan? Tại sao từ đ mà có biến âm nào có thể ra h được. Và vì vô tình mà chúng tôi đã phát hiện ra giả thuyết số học là đúng.
1. Đầu tiên xin nói đến chữ Đoài vì sao ra là Hai.
Cái tôi chợt liên tưởng đến là câu: “Đêm hôm khuya khoắt, anh đi đâu một mình?”. Câu đó vô tình tôi nhận thấy sự đồng âm và nghĩa từ giống nhau giữa “Đêm và Hôm”. Nên nhớ rằng “Hôm” được dùng để đối với “Mai” trong các danh từ sau: “Sao hôm” và “sao Mai”. Vậy tiếng Việt ta có cách biến đặc biệt như vậy chăng? Xin thưa, rất nhiều:
a) Hai tĩnh từ giống nhau tạo thành tĩnh từ cũng đồng nghĩa: đìu hiu, đỏ hỏn, đành hanh…
b) Hai động từ giống nhau tạo thành động từ đồng nghĩa: đòi hỏi, đằng hắng (đằng biến thành dằn. Ta thấy dằn giọng và hắng giọng gần giống nhau.), đôi hồi, đoái hoài (với nghĩa đoái trông và hoài trông).
c) Hai danh từ giống nhau tạo nên danh từ (dùng như trạng từ) có cùng nghĩa: đêm hôm, đội hội (đội người và hội người).
Vậy chữ đ hoàn toàn có cơ sở được biến âm thành chữ h. Như vậy, Đoài biến âm thành Hai có cơ sở đứng vững. Chữ đ biến thành chữ h trong thời Tiên Thiên cũng được lặp lại trong thời Hậu Thiên. Chính vì cùng nguyên tắc đổi âm này mà lập luận của tôi càng có cơ sở đứng vững. Thời Hậu Thiên thì Đoài biến thành Hồ, cũng cùng nguyên tắc biến Đ thành H. Điều này không có gì khó hiểu cả. Có thể nguyên thuỷ, người xưa gọi số hai là Đoài nhưng dần biến âm thành Hai. Họ cũng đọc trệch Đoài thành ra Hồ chỉ một vùng nước được bao bọc xung quanh.
2. Trong khung Tiên Thiên, thưa các vị độc giả, chúng tôi có viết chưa lập luận nỗi các quái sau: Tốn, Khảm, Cấn qua nghĩa số học. Vâng, đó chính là do sự thiếu hiểu biết của tôi. Và lại tình cờ, tôi lại được đọc một cuốn sách về Kinh Dịch có tên: “Kinh Dịch-Cấu hình tư tưởng Trung Quốc”. của hai tác giả Lê Anh Minh và Dương Ngọc Dũng. Trong đó có viết về phát hiện khảo cổ ở Mã Vương Đôi và tìm ra bảng Trùng Quái khác. Trong bảng Trùng Quái này, Tốn có nghĩa và được đọc là Toán (tức tính toán), Khảm được đọc là gòng (công) hay có thể biến thành Cám, Cấn đọc thành Căn. Khi phát hiện ra điều này, trong tôi đã nảy sinh ra hai cách giải thích khác nhau. Một trong hai cách đó, tôi đã đăng lên chính diễn đàn này.
Cách giải thích 1: Toán=Cộng (tức có nghĩa cộng vào), Khảm có nghĩa là (jiãn-trừ ra) và giống nhưng jing qua tiếng Việt thành Khảm. Cấn=Căn có nghĩa là căn nguyên của tồn tại trong sự trống rỗng đã quá lớn. Cách này sau một thời gian đăng trên diễn đàn không thấy ai phản hồi cả. Rất tiếc là vậy. Cách này có vài ba điểm rất không phù hợp. Thứ nhất, jiãn của tiếng Trung Hoa khi đọc qua tiếng Việt có thể đọc là Kám chứ khó có thể là Khảm. Thứ hai, tất cả chữ các quái mà người Trung Hoa hiểu không có bóng dáng của số học (trừ chữ Toán), vì thế nếu đó là từ “cõng” thì bất luận thế nào cũng khó đọc ra “jiãn”, cũng như khó hiểu ra được để sau đó biến thành chữ Khảm của Việt Nam. Như vậy, cần một tiếp cận khác đúng đắn hơn. Thứ ba, nếu nói 0 và 1 đại diện cho trống rỗng và hiện hữu thì cũng có hàm chứa nghĩa số họ. Nhưng giải thích Cấn=Căn là căn nguyên của tồn tại thì hoàn toàn không thể có nghĩa số học. Nó hàm chứa nghĩa triết học hơn. Nhưng khi làm ra bát quái Tiên Thiên, người xưa chắc phải dựa trên những nguyên tắc đơn giản, tức là đặt nghĩa cho các quái cũng rất đơn giản. Vậy cũng phải có lối tiếp cận đơn giản hơn.
Cách giải thích 2: Thực ra, khi viết bảng nghĩa của các quái trong khung Tiên Thiên, chúng tôi đã gần như tin rằng Cấn có nghĩa là Trừ ra. Vì sao? Vì người Việt ta hay nói từ “cấn ra” có nghĩa là trừ ra. Ví dụ, như ta nợ người nào đó 10 đồng, nhưng trước đó anh ta lấy của ta mười cái áo là 9 đồng. Thì ta có thể nói: “Nợ 10 đồng nhưng cấn qua số tiền áo 9 đồng. Vị chi còn 1 đồng.”. Từ này, ngày nay chúng ta còn nghe nói nhiều chứ không phải không. Có thể những người Việt Nam ở xa Tổ quốc lâu rồi thì ít nghe, nhưng những người ở quê nhà chắc chắn nghe nhiều từ này. Nhất là trong các trường hợp cấn nợ qua lại nhau. Thế nhưng, Khảm thì chúng tôi không tài nào biến hoá nó ra thành Cộng được. Bây giờ, thấy cách đọc của các quái trong bản Bạch Thư Chu Dịch Mã Vương Đôi, tôi càng tin tưởng vào logic nghĩa số học của mình. Và từ đó, cũng tin chính xác các quái này được người Việt đặt ra. Cũng chính trong Bạch thư chu dịch từ gõng (công) có thể đọc thành Cám à Khảm. Nhưng có điều trong tiếng Hán cả chữ Cám và Khảm (Hai từ này có cùng vận bộ và là giá tả cận âm) đều có nghĩa là hố sâu, chứ không hẳn là nước. Mà nếu nó có nghĩa chính là Nước thì phải vận dụng nghĩa của hệ ngôn ngữ khác. Người Việt xưa đặt tên cho các quái thời Tiên Thiên bằng các từ có nghĩa số học. Sau đó biến âm các quái này để đọc cho giống các hành thể thời Hậu Thiên-ứng với quan niệm vũ trụ của họ. Và dần dần họ dùng song song hai chữ dùng chỉ một sự vật, một hiện tượng. Ví dụ, khảm và nước. Quan trọng là xây được một logic hoàn chỉnh để giải thích tất cả những vấn đề nêu ra.
3. Toán là gì? Hán Việt hay Thuần Việt? Chúng tôi cho rằng từ toán là thuần việt. Bởi vì, bên Trung Hoa không có cách biến âm từ t sang đ. Họ chỉ đọc được mỗi phụ âm t. Thế nhưng, trong tiếng Việt lại có kiểu biến âm này. Ngay trong chữ Toán cũng có anh em song hao với nó là Đoán. Chắc quý vị cho từ Đoán khác từ Toán, phải không? Khác có khác, nhưng không đến mức quá xa đâu. Đoán là quá trình tính Toán logic để nhận định kết quả một sự việc, một hiện tượng sẽ xảy ra. Không Toán (tức tính toán logic) thì làm sao mà Đoán được. Vậy cặp Toán-Đoán đã chỉ ra nguồn gốc Thuần Việt của Toán. Khi xây dựng được thuyết số học giải nghĩa các quái hoàn chỉnh thì điều này cũng chỉ ngược lại nguồn gốc của chữ. Và tất cả tên các quái nguyên thuỷ mang ý nghĩa số học hoàn chỉnh. Vậy Toán cũng chính là từ của người Việt. Ngoài ra, khi đang viết những dòng này, chúng tôi lại nhận được PM của một người bạn nhắc nhở chúng tôi từ tốn là từ thuần Việt: tốn tiền hao của, tốn công tốn của…Từ này, chắc chắn 100% người Việt đều hay dùng hay nghe. Xem ra chữ tốn này không dính dáng gì đến gió cả. Chính xác là thế nhưng nó lại dính dáng đến số học và chữ Toán. Bạn hãy phân biệt thử hai câu hoàn toàn Việt sau: Ôi dào, đám cưới tốn tiền tốn của quá. Chỗ này tốn tiền, chỗ kia tốn tiền. Và: Ôi dào, đám cưới tốn tiền tốn của quá. Chỗ này tính(chi ra) tiền, chỗ kia tính(chi ra) tiền. Từ tính lại là đồng âm cũng có nghĩa tương đương với với toán (trong tính toán). Vậy câu trên, ngày xưa có thể được đọc như sau: Chỗ này toán tiền, chỗ kia toán tiền. Chữ Toán thời tiền sử đã được vận dụng vào những hoàn cảnh khác nhau vì hồi đó ngôn ngữ chắc chắn chưa phong phú như bây giờ. Cuối cùng, qua biến Âm mà đến bây giờ người Việt chúng ta có những từ khác hợp với triết lý mà họ đã làm ra:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Toan-Ton.jpg
Vậy, ta có nghĩa nguyên thuỷ các quái thời Tiên Thiên là Tốn=Toán=Tính toán, Khảm=Cộng, Cấn=Cấn ra (Trừ ra). Từ đây, chúng ta cũng có thể thấy nguyên lý đặt tên các quái bằng nghĩa số học cũng rất hay: Có cặp (Không,Có) tượng trưng cho trống rỗng và tồn tại, có cặp (1, 2) tượng trưng cho Nọc đầu tiên và Nòng đầu tiên, có cặp (lẻ, chẵn) tượng trưng cho tính chất số. Khi có các cặp này rồi thì phải tính toán. Tính toán thì dùng phương pháp phổ biến là cộng và cấn. Ngoài ra, cũng dễ thấy thành ngữ sau đây rất đồng âm và láy nhau từng từ trong thành ngữ: “Cộng vào cấn ra”. Nếu kể cả các cách biến âm của người Việt với d thành v, r thành dz thì dễ dàng nhận thấy sự láy nhau thú vị sau: “Cộng dào Cấn dza”.
Cuối cùng, chúng tôi xin bổ sung vào bảng đánh giá các nghĩa các quái. Đặc biệt, ý nghĩa số học của các quái trước đây chúng tôi gọi là rồ dại thì bây giờ phải nói đã chứng minh được 100%. Điều này hoàn toàn phù hợp với nguyên lý làm ra Dịch của người Việt cổ. Họ đã dùng số học đơn giản để làm ra Kinh Dịch. Những phân tích của chúng tôi trong công trình “KINH DỊCH-SẢN PHẨM SÁNG TẠO CỦA NỀN VĂN HIẾN ÂU-LẠC” đã cho thấy lúc nào người Việt cổ cũng chúng ý đến SỐ CỦA QUÁI.
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/bangdanhgiacacquai.jpg
Ở trên, chúng tôi lại tăng thêm phần trăm xác thực cho ly-lẻ và chấn-chẵn vì lý do trước đây thấy rồ dại quá nên không dám đánh giá cao. Còn bây giờ thì đã chắc chắn và sự đồng âm chuẩn xác của các chữ đã làm chúng tôi đánh giá lại.
khonglaai
khonglaai
02-12-2005, 10:33 AM
Một thuyết khoa học phải có khả năng tiên đoán
Quí vị độc giả thân mến!
Ở đây, chúng tôi hoàn toàn chưa muốn đề cập đến thuyết kinh Dịch đúng do người Việt cổ làm với nền tảng là Hậu Thiên Bát Quái Âu Lạc có khả năng tiên tri không. Vấn đề này, chúng tôi nghĩ không thuộc lĩnh vực nghiên cứu của chúng tôi và vượt tầm hiểu biết của chúng tôi. (Nhưng biết đâu hứng lên có thể làm được cái gì đó. Tuy nhiên lúc đó, cái Kinh Dịch mới này lại là do chúng tôi phát triển chứ chưa chắc do người Việt cổ làm ra. Bởi vì muốn chứng minh thì phải có bằng chứng khảo cổ).
Chúng tôi chỉ đề cập đến thuyết của chúng tôi để giải mã các di sản văn hoá đặc biệt là trống đồng: Trống đồng là những bản văn Kinh Dịch-dựa trên nền tảng lưỡng thể Nòng và Nọc. (*) Ngay trong diễn đàn này đây, chúng tôi có viết với ý đồ gợi ý cho những bạn trẻ ham khoa học và Văn Hiến Lạc Việt trong topic này:
http://www.vietlyso.com/forums/showthread.php?t=2213&page=2 (http://www.vietlyso.com/forums/showthread.php?t=2213&page=2)
Trích đoạn:
“Cái nghĩa của Trùng Quái có ngay trong tượng của nó. Mà nếu nói là ông cha ta làm nên Bát Quái từ Nòng Nọc thì phải nguyên cứu từ tượng Nòng Nọc chứ không phải tượng Âm và Dương. Tức là nguyên cứu thế nào thì chỉ có một nghĩa duy nhất của Bát Quái.”
Thế nhưng, cũng rất tiếc không ai hưởng ứng cả. Hà hà, chắc chúng tôi là Không Là Ai nên hưởng ứng làm chi cho mệt.
Các bạn ạ, trong khoa học từ một phát kiến, một ý tưởng bé xíu cũng có thể làm ra cả một thuyết đồ sộ và đầy thuyết phục. Hơn nữa, trong vấn đề Văn Hiến Lạc Việt là con dân nước Việt, chúng ta cần dấn thân một chút.
Ở bài này, chúng tôi triển khai thêm một ít về những khả năng tiên đoán của thuyết (*). Và cũng nhằm đưa mọi người đến một mảng nghiên cứu khác của Dịch đó là tiên đoán nghĩa của các trùng quái qua tượng Nòng Nọc. Thật ra, chúng tôi muốn dùng nó để viết cho công trình sau. Nhưng thiết nghĩ, có sự hợp tác thì công trình sau của chúng tôi sẽ có giá trị hơn.
Tiên đoán một: Nếu như nói Kinh Dịch được dựng nên trên nền tảng Nòng Nọc thì kết hợp với trình độ nhận thức của người thái cổ phần lớn qua hình tượng thì ta có thể tiên đoán: Các nghĩa của các quái dễ dàng diễn giải qua tượng Nòng Nọc.
Vâng, rất dễ dàng nhận ra điều đó. Chúng tôi đưa ra nghĩa phần Hậu Thiên. Vì phần Tiên Thiên thì có gì đế nói đâu. Vì rằng, nếu nói Nọc=1 và Nòng=0 thì chồng các lớp Nòng Nọc lên nhau có thể bằng tính toán tính ngay ra số của Quái.
Càn:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Cn.jpg
Một luồng chuyển động mạnh mẽ bay thẳng lên trời. Thuần động chỉ có thể là Trời. Vậy Càn=Trời qua hình tượng trên rất hợp lẽ.
Đoài:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/272oi.jpg
Tượng gì đây: Hố sâu và có sự hung hiểm bên dưới và ở giữa. Và quan niệm về các hành thể vũ trụ làm người ta có thể nghĩ ngay đến hồ nước. Chính vì người Việt nghĩ ra Kinh Dịch qua lưỡng thể Nòng Nọc nên có những hình dung khá khác biệt đối với các triết thuyết khác trên thế giới. Ví dụ, triết học Hy lạp có đề cập đến Tứ Thể: Đất, Nước, Khí, Lửa rất hay, rất logic khi đề cập chúng như những elements hình thành vũ trụ. Tức ngay trong tên của chúng đã có nội hàm triết học chứ không có nội hàm hình tượng. Còn trong Kinh Dịch lại có nội hàm hình tượng. Mà nội hàm hình tượng thì không gì bằng hình dung nó qua Nòng Nọc. Quý vị cũng có thể chú ý một điều nữa là người ta có thể vẽ vòng tròn nhỏ hơn để tượng trưng cho Nọc và hai vòng tròn có bán kính lớn hơn cho Nòng. Vì bao giờ Nọc cũng tinh, chuyển động nhanh hơn Nòng. Nếu vẽ như thế thì hình dung càng đúng hơn.
Ly:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Ly.jpg
Đây là hình thoi. Một mũi của nó đứng dưới đất, mũi khác chuyển lên trời. Nếu hình dung Nọc ở dưới bị Nòng đè lên thì do tính chuyển động lên trên nên nó gần về Nòng đó. Còn Nọc trên không bị đè tự do chuyển động lên trên, vậy nó cách xa Nòng giữa hơn. Vậy cạnh của Nọc dưới đến Nòng giữa nhỏ hơn cạnh của Nọc trên đến Nòng giữa. Và điều đó làm chúng ta liên tưởng đến cái gì? Đó chính là lửa với nghĩa hình tượng thuần tuý.
Chấn:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Ch7845n.jpg
Nếu ta nghĩ logic, đến thời Hậu Thiên thì Nọc-tượng trưng cho tính Trời và Nòng tượng trưng cho Đất thì hình trên rất dễ hiểu. Đó là có cái gì đó chuyển động, hung hiểm trong lòng đất. Vậy đây là cái gì? Đó là Chấn. Nếu vẽ vòng tròn của Nọc nhỏ hơn thì chúng ta sẽ thấy đó là mũi nhọn muốn đâm bật ra khỏi đất.
Cấn:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/C7845n.jpg
Trên đây quả là không có chi ngoài núi. Có cái gì đó mọc thẳng lên từ Đất. Và hình tượng trên chỉ đúng cái đó chính là Núi.
Tốn:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/T7889n.jpg
Có cái gì đó chuyển động cao hơn cả núi. Và quan sát thấy có cái gì đó làm lung lay các cành cây mọc trên núi. Đó là cái gì? Vâng chỉ có thể là gió. Vậy gió trong kinh Dịch trở thành một quái (một elements tạo nên vũ trụ hình thành) cũng mang nội hàm hình tượng.
Khảm:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kh7843m.jpg
Có cái gì chuyển động giữa hai làn đất. Giữa hai làn đất cái gì to lớn chuyển động có thể hình dung cho một element hình thành vũ trụ nhỉ? Vâng đó là dòng sông. Hay đó chính là Nước. Cũng có thể tưởng tưởng là có gì chuyển động trong lòng đất cũng được. Nó chuyển động giữa hai làn đất, khác với Chấn là sự hung hiểm ở sâu trong lòng đất. Cả hai cách giải thích đều dẫn đến đáp án Nước.
Khôn:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Khn.jpg
Hình này chắc cũng không cần giải thích nhiều. Đây là khối đất vuông. Cũng rất hợp với câu mẹ tròn con vuông hay Trời tròn đất vuông vậy.
Từ tất cả diễn giải trên đây, quý vị độc giả có thể thấy sự hình thành của Kinh Dịch qua Nòng Nọc đã diễn giải được vấn đề tại sao người ta lại lấy hai cái Chấn và Núi làm hành thể cho vũ trụ thời đã hình thành một cách lạ lùng và khác biệt với các triết học hay được biết đến như thế. Thực ra, tất cả các quái của Kinh Dịch mang nội hàm hình tượng hơn nội hàm triết học.
Và một lần nữa, chính bản thân nghĩa của các quái đã quay ngược lại chứng minh cho thuyết: Kinh Dịch do người Việt cổ làm nên trên nền tảng Nòng Nọc.
khonglaai
(Còn tiếp)
khonglaai
19-12-2005, 10:52 PM
yarehjryksutdyif;oig'podbsfdbg\sfrjk,iuft
khonglaai
19-12-2005, 10:54 PM
Viết xong phát mệt. Cuối cùng không gởi được. Liệu trang web có vấn đề gì không? Bây giờ phải viết lại.
khonglaai
19-12-2005, 11:21 PM
Quý vị độc giả thân mến!
Trước khi đăng công trình trên Việt Lý Số, chúng tôi đã có cuộc trao đổi hay là cuộc thử biện-phản biện với người bạn thân. Nói chung, anh ấy nói cũng giống như anh Thiên Sứ: “Một thuyết được đề ra nó phải thoả mãn các điều kiện có sẵn và có khả năng tiên đoán. Giống như ngày xưa thấy nhiều hình vẽ trên các Kim Tự Tháp Ai cập, người ta đã đưa ra thuyết giải hết các ý nghĩa của hình tượng đó.Và sau đó còn dùng nó để giải mã hầu hết ý nghĩa của các hình tượng khác nếu như gặp chúng. Trong thuyết của anh, có nói đến Kinh Dịch xây dựng trên lưỡng thể Nọc (1) và Nòng(0) với hình tượng một vòng tròn và hai vòng tròn. Về Toán học và cả về giải mã các hình tượng để ra Hà Đồ và Hậu Thiên Bát Quái Âu Lạc, anh đã làm OK rồi. Nhưng chung quy, vẫn còn một khoảng trống: Các quái của anh được vẽ bằng các hình khác nhau lúc chỉ thị lớp chẵn lẻ, lúc chỉ thị số; cái khuyết ở đây chính là mối liên quan giữa các quái với hai hình tượng Nòng Nọc. Trong Kinh Dịch TH, có thể thấy ngay việc dựng các quái từ hai vạch Âm Dương.”.
Chúng tôi đã nói: “Tôi đã có các bằng chứng về việc này. Nhưng tôi muốn viết vào công trình sau. Thế nhưng, thiết nghĩ thắc mắc của anh rất chính đáng và các người khác cũng nghĩ như anh nên tôi sẽ đưa luôn vào công trình này.”.
Vì thế, chúng tôi đã có cơ hội trình bày với quý vị tiên đoán 1. Chúng ta qua tiên đoán hai.
Tiên đoán 2: Theo trình độ viết của thời thái cổ (chữ hình tượng) thì sẽ có những chữ viết hay ký hiệu của các quái theo nguyên tắc Nòng Nọc của thuyết trên.
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong9-TamchukhactrenLungCu.jpg
Để giải các hình vẽ này, xin quý vị để ý đến nguyên tắc đơn giản sau: hệ thống ký tự để dùng cho việc viết phải đơn giản và có khả năng viết liền một hơi. Nó mang yếu tố hình tượng na na hiện tượng, sự vật hay một quan niệm là được. Chứ không nhất thiết vẽ theo đúng hình tượng hay sự vật đó. Tức chữ viết hình tượng khá chuẩn phải thoả mãn hai điều kiện: na na giống sự vật, hiện tượng và phải dễ vẽ (vẽ bằng một đường liền)
Càn:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/CnL361ngC.jpg
Với hình này, chắc chúng ta thấy có liên quan mật thiết. Và cần nhớ đến nguyên tắc Nam tả nữ hữu. Vạch thẳng bên phải nghiêng qua phải tức chân đặt ở trái. Đó là quái Nọc. Và vạch thẳng giống hệt hình ba vòng tròn trên. Nếu vẽ vòng tròn nhỏ như các hoa văn trên trống đồng thì quả đó là đường thẳng. Từ đây, suy ra thêm một ngụ ý của đường thẳng là tính thông, hay tính thuần. Hình vẽ trên chỉ quái Thuần Nọc hay Càn.
Đoài:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/272oiL361ngC.jpg
Quý vị, cần nhớ những hình tròn của Nọc vì tính linh động nên đúng nguyên tắc chúng nhỏ hơn vòng tròn chỉ Nòng. Vì thế vòng tròn dưới tan biến vào vạch vẽ. Hơn nữa người ta chỉ cần vẽ cho hợp cái nghĩa người ta đặt ra mà thôi. Đây chính là cái lòng chảo giống Hồ, Ao hay Đầm.
khonglaai
19-12-2005, 11:24 PM
Ly:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/LyL361ngC.jpg
Với 4 vòng tròn như trên thì nếu vẽ một vạch thì chúng tôi nghĩ chỉ có thể vẽ như trên. Để viết chữ Ly mang hình dáng của quái Ly Nòng Nọc đúng ra phải vẽ như hình bên phải. Thế nhưng, người xưa lại sáng tạo ra chữ như bên trái. Vì sao? Cũng vì Nam tả Nữ hữu. Nếu viết từ trên xuống dưới một nét thì hình phải sẽ có gốc bên phải hay ở giữa không mang tính Nọc. Còn vẽ như hình bên trái thì đế của nó nằm bên trái mang tính Nọc. Ngoài ra, đường thẳng chéo giữa cũng liên tưởng đến tính Nọc của Càn.
Khảm:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kh7843mL361ngC.jpg
Khi muốn vẽ một dòng sông hay thác nước đổ, bạn sẽ vẽ như thế nào? Phải chăng phương pháp hai vạch là hữu hiệu nhất. Dĩ nhiên cần phải nghiêng một góc nhất định. Khi ta nhớ đến sự linh động của vòng tròn trong và nặng nề của hai vòng tròn ngoài, thì mỗi cặp vòng tròn sẽ trở thành một vạch thô và vòng tròn nhỏ chìm lấp giữa hai đường thô này. Và người xưa cũng rất chú ý đến tư thế nghiêng. Hai vạch thẳng này nghiêng một góc đối nghịch với đường chỉ quái Càn. Điều đó, nói lên hai đường thẳng đó là hai lớp Nòng (theo nguyên tắc Nam tả nữ hữu, chân của hai đường thẳng nằm bên phải. Vậy chữ trên chính là Khảm.
Cấn:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/C7845nL361ngC.jpg
Hai hình tượng trên hoàn toàn trùng khớp nhau. Vì là quái Nòng nên kể cả đầu nhọn lẫn chân người ta cũng vẽ nghiêng về phải. Quý vị có thể chú ý vạch đá qua phải. Điều này, chứng tỏ nguyên tắc Nam tả Nữ Hữu ngay trong chữ viết của người xưa.
Khôn:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/KhnL361ngC.jpg
Như trên phần Càn, chúng tôi đã viết vì dùng một đường thẳng chân đặt ở trái và đầu đặt ở phải để chỉ Càn. Vì thế, đường thẳng đó còn có nghĩa Thuần hay Thông. Còn các tiết tấu (phải đơn giản để thể hiện sự tách bạch rõ ràng) thêm vào nó cần phải dịch ra là Thuần x (x biểu thị cho tiết tấu mới). Trong bát quái, chỉ có hai quái Thuần nên người ta chỉ dùng đường thẳng này hai lần (trong trường hợp Ly cũng có thế nhưng đường đó không phải là Thuần vì còn có nối với một vạch ngang ở dưới. Và giải thích chính xác phải như chúng tôi đã viết trên. Hiển nhiên, việc sáng tạo ra chữ viết cần có linh hoạt nhất định. Miễn mang được ý nghĩa của sự vật, sự việc qua hình tượng là được). Một lần cho Càn và một lần cho Khôn.
Đúng ra, tới đây chúng tôi có thể kết thúc phần giải nghĩa cho Khôn (tức đưa một thuyết ra chỉ cần giải thich các việc liên quan đến nó hợp lý là đủ). Nhưng cũng biết có người sẽ có vài thắc mắc. Ví dụ:
-Tại sao không vẽ (dùng chữ “viết” đúng hơn vì đây đã là chữ viết) một vạch nghiêng qua trái http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/KhnL361ngC1.jpg đối với vạch chỉ thị Càn http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/CnL361ngC1.jpg ? Không được, vì vạch nghiêng qua trái đó chỉ chỉ thị một lớp Nòng (điều đó được thể hiện trong trường hợp của Khảm). Chứ nó không chỉ thị cả quái Khôn. Vả lại, đường nghiêng qua trái vô nghĩa (trong trường hợp bát quái. Có thể nó có nghĩa khác nào đó), vì chỉ có ba Nọc (bằng ba vòng tròn nhỏ) mới có dáng dấp của đường thẳng. Còn ba lớp Nòng không thể nào vẽ bằng một vạch được.
-Tại sao không vẽ như sau http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/KhnL361ngC2.jpg để chỉ Khôn? Cũng không xong, vì khi sáng tạo ra chữ Càn thì đồng thời người ta nhận được thêm nghĩa của đường thẳng nghiêng qua phải là Thuần hoặc Thông. Vậy đường thẳng nghiêng qua trái không có nghĩa là thông. Vậy, lúc đó nghĩa của chữ trên phải được giải nghĩa thuần tuý bằng hình tượng của nó. Hiển nhiên, chúng ta chả thấy một liên hệ gì giữa hình này với Khôn cả (tức là đất). Thậm chí, khi dùng ngôn ngữ Nòng Nọc để thể hiện thì hình trên sẽ mang dáng dấp sau http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/KhnL361ngC3.jpg , cũng hoàn toàn không tương xứng với hình tượng ba lớp Nòng.
khonglaai
19-12-2005, 11:25 PM
Đến đây, chúng tôi chuyển qua phần giải mã hai chữ ở giữa. Vì sao phải như thế? Vì rằng, hai chữ này người xưa vừa kết hợp cả hình tượng lẫn phương pháp số (tức tỷ lệ Nọc và Nòng). Mà tại sao chính tại hai quái Chấn và Tốn mới làm việc đưa lượng số vào? Điều đó mới hay, mới tuyệt quý vị ạ! Bởi vì, rõ ràng người xưa đã nhận ra nơi đây là nơi chuyển đổi từ thể Nọc qua thể Nòng. Và trong mỗi quái về hình tượng có lẽ tính này át tính kia, nhưng về số thì ngược lại. Ngay như với hình này http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Ch7845nT7889nL361ngC.jpg , quý vị cũng nhận ra sự giống nhau về hình tượng và nghịch nhau về phương vị của chúng. Chính vì thế, nếu liên tưởng đến bát quái chắc chúng ta có thể đoán ra một quái là Tốn và một quái là Chấn.
Chấn:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Ch7845nL361ngC.jpg
Trên đây rõ ràng về hình dáng vẽ qua Nòng Nọc vô cùng giống với hình dáng của chữ viết. Tuy nhiên khi hiển thị một vòng tròn chỉ Đất (hay thể Nòng nói chung) và một đường từ đó đến lớp Nọc dưới người xưa chắc phát hiện ra cái mâu thuẫn giữa số và hình. Nên họ đã có tình làm cho phần Đất (Nòng) nhỏ lại và phần chỉ Nọc dài ra. Điều này cũng ngược lại chứng minh cho tính lượng số của Kinh Dịch Âu Lạc. Quái Chấn có hai lớp Nòng và một lớp Nọc, thế nhưng về số thì nó lại là số 4 nên tính Nọc lớn hơn tính Nòng.
Quý vị độc giả có thể hỏi: thế có vô lý chăng khi dùng một vòng tròn chỉ Nọc mà cũng dùng một vòng tròn chỉ 1, 2, hay 3 Nòng nói chung? Chả có gì vô lý cả. Vì Kinh Dịch được xây dựng nên từ Nòng Nọc nên vòng tròn trong Kinh Dịch (phải tròn trịa) có ý nghĩa khác. Còn khi người ta xây dựng nên chữ viết họ lại nhìn vào sự việc sự vật một cách tổng thể. Vòng tròn trong chữ viết chỉ sự nối lại các vòng tròn của các lớp Nòng. Nó cũng mang tính nặng nề đối lại với đường thẳng đi đến Nọc. Hay nói cách khác khi viết thì Nọc chỉ là một chấm để người ta vẽ đến đó, còn Nòng nặng nề hơn được diễn tả bởi vòng tròn.
Trong trường hợp Chấn, nếu nhìn như hình trên chữ Chấn đáng lý ra phải như sau:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Ch7845nL361ngC1.jpg
Thế nhưng có ai trong chúng ta cho rằng hình vuông đó là dễ viết. Nguyên tắc của viết phải uyển chuyển, nhanh nhẹn và dùng ít nét. Vậy khi viết để chỉ thị hình trên, người ta dùng chữ như trong Trống Đồng Lũng Cú là chính xác nhất. Đơn cử thêm một ví dụ nữa giống hình trên để quý vị sáng tỏ thêm nguyên tắc hình thành chữ viết: Số 9 bây giờ là số do người Ả Rập sáng tạo ra trên nguyên tắc số góc hình thành (số chín có chín góc).
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/S78899.jpg
Thế mà chữ viết số 9 bây giờ có dạng 9. Như vậy, nguyên tắc viết phải có những chữ vừa mang ý nghĩa (có thể tượng hình hay là ý nghĩa khác) vừa thoả mãn tính đơn giản, dễ dàng để vẽ.
Và cũng trong Chấn, có thể có quý vị độc giả lại hỏi thế tại sao không vẽ (sáng tạo ra chữ Chấn) như sau mà phải vẽ chính xác như trên chúng tôi đã dẫn:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Ch7845nL361ngC2.jpg
Vô hình chung, hình vẽ này thoả mãn tính Nam Tả Nữ Hữu và nó mang ưu điểm vượt bậc hơn hình trên Lũng Cú. Cố nhiên điều này chỉ giải thích được bằng phương pháp viết của người Việt cổ. Vậy người Việt cổ sẽ viết như thế nào? Trong trường hợp Chấn để vẽ một nét thì người xưa vẽ như thế nào? Vì phía trên tượng trưng cho Trời nên khởi điểm chắc chắn ở phía trên là điều dễ hiểu. Và tiếp quý vị hãy nhớ đến việc người Việt cổ đã có những chiêm nhiệm thiên văn thuần thục qua việc vẽ chiều vận động của vũ trụ trên Trống Đồng. Nguyên tắc chuyển động ngược chiều kim đồng hồ là nguyên tắc tối thượng của vũ trụ. Nó phải vĩ đại hơn tất cả các nguyên tắc khác, kể cả nguyên tắc Nam Tả Nữ Hữu. Hay nói đúng hơn khi sáng tạo chữ viết, người ta đã vận dụng nhiều quan niệm của triết lý chủ đạo lúc bấy giờ; đặt ra nhiều quy tắc. Trong đó, quy tắc vận động chiều chuẩn phải đóng vai trò chủ đạo. Vậy, quý vị nhìn bốn hình sau đây xem hình nào hữu lý hơn.
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Ch7845nL361ngC3.jpg
Như vậy, kết hợp các điều kiện khởi điểm phía trên, vòng tròn viết phải theo chiều chuẩn của vận động và Nam Tả-Chủ đạo (trước), Nữ Hữu-Thứ yếu (sau) thì chính hình bên trái là hợp nhất và chúng ta đã thấy nó trên trống đồng Lũng Cú.
Tốn:
Cũng giống như lý luận của trường hợp Chấn, người xưa nhận ra về hình tượng thì tính Nọc có vẻ át tính Nòng. Nhưng về số thì ngược lại. Nên họ đã vẽ vòng tròn (trong chữ viết chỉ thị Nong lớn hơn phần đường thẳng nối hai Nọc.
Chttp://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/T7889nL361ngC.jpgũng với lý luận chiều chuẩn và trên trước thì chúng ta thấy chữ viết giống tượng Tốn (qua Nòng Nọc) chỉ có thể là hình trên.
Ở phần Tốn cần rốt ráo một thắc mắc nhỏ: Thế tại sao người ta không dùng hình này chỉ tượng Cấn?
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/C7845nT7889nL361ngC.jpg
Không dùng vì hai lẽ: nhìn tượng của Cấn và Tốn của hình vẽ trên, chúng ta có thể thấy phần Nòng của Cấn to rộng hơn của Tốn. Hoàn toàn dễ nhận thấy Nòng trong chữ Cấn lớn hơn Nòng trong Tốn. Thứ hai, dùng hình như số 6 chỉ Tốn trên trống đồng Lũng Cú hoàn toàn phù hợp với tính đối đầu nhau giữa Tốn và Chấn. Đó là sự đối đầu nhau giữa hai số 3 và 4 mà chúng ta thường thấy trên trống đồng.
Như vậy, chúng tôi đã hoàn thành giải mã 8 chữ cái trên trống đồng Lũng Cú. 8 chữ cái đó là Càn Đoài Ly Chấn Tốn Khảm Cấn Khôn. Một hàng chữ khá quen thuộc với người biết Kinh Dịch. Đây chính là thứ tự của Tiên Thiên Bát Quái. Điều này càng khẳng định thêm người xưa đã biết đến Tiên Thiên Bát Quái.
Cả một chuỗi lý luận xuyên suốt và đan chéo vào nhau làm chúng ta khó nghi ngờ bản chất đúng đắn của giải mã nói riêng và Kinh Dịch là của người Lạc Việt nói chung. Nếu như hàng chữ trên trống đồng Ngọc Lũ được đặt theo thứ tự khác thì không có ít nghi vấn cho việc giải mã. Thế nhưng khi giải mã xong lại chỉ đúng thứ tự Tiên Thiên Bát Quái thì điều này (tức Tiên Thiên Bát Quái) ngược lại là bằng chứng cho tính đúng đắn của giải mã. Ngoài ra, hình tượng Cấn Tốn (giống nhau về tượng khác nhau phương vị) và sự thông dụng của mã 3—3----4—4 cũng đóng vai trò lớn cho việc chứng minh giải mã đúng và Kinh Dịch do người Lạc Việt làm ra dựa trên hai lưỡng thể Nòng Nọc.
Và từ các nguyên tắc một nét (hay ít nét), tròn trịa, chúng ta có thể suy ra các chữ trên trống đồng Lũng Cú chính là chữ viết chứ không phải là ký hiệu. Mức độ đơn giản của chữ viết trên trống đồng Lũng Cú cũng cho thấy trình độ phát triển của chữ viết đã khá cao. Đó là vào những năm 1000-500 trước Công Nguyên.
Các chữ trên trống Lũng Cú hoàn toàn không phải do chúng tôi vẽ ra. Quý vị có thể tìm thấy nó trong Google nếu đánh từ khoá là “chữ Việt cổ”, “chữ Nòng Nọc”, “chữ khoa đẩu”. Hoặc đọc “Sự hình thành và phát triển chữ Việt cổ” của Lê Trọng Khánh do Viện Văn Hoá xuất bản 1986.
Khonglaai-Trần Quang Bình
19 - 12 -2005
(vẫn còn tiếp)
khonglaai
20-12-2005, 06:38 AM
Kiểm tra đi, kiểm tra lại thế mà còn sai. Mong quý vị thay hộ chữ Ngọc Lũ bằng Lũng Cú. Ở đoạn ba của last post từ dưới lên: "Cả một chuỗi lý luận xuyên suốt và đan chéo vào nhau làm chúng ta khó nghi ngờ bản chất đúng đắn của giải mã nói riêng và Kinh Dịch là của người Lạc Việt nói chung. Nếu như hàng chữ trên trống đồng Ngọc Lũ...".
khonglaai
khonglaai
20-12-2005, 10:09 PM
Nhờ Ban Quản Trị thay hai chữ Ngọc Lũ tô đậm đó bằng Lũng Cú.
Thanks
khonglaai
khonglaai
21-12-2005, 10:49 AM
Cũng mong Ban Quản Trị thêm 19-12-2005 vào dưới chữ khonglaai-Trần Quang Bình. Xin cảm ơn.
khonglaai
khonglaai
08-01-2006, 02:44 AM
Quý vị độc giả thân mến!
Trong công trình trên, khi liệt kê các trống đồng có chứa thông điệp Hà Đồ và Hậu Thiên, chúng tôi không đưa trống đồng Lũng Cú vào. Bởi vì, trống đồng Lũng Cú trong tay chúng tôi quá mờ ngoài công thức 3-3---4-4, Mặt trời 14 cánh chỉ thời Hậu Thiên và 16 chim chỉ vòng vận động Đất Nước.
Thế nhưng, chỉ trên trống đồng Lũng Cú có khắc 8 chữ Càn-Đoài-Ly-Chấn-Tốn-Khảm-Cấn-Khôn chỉ thứ tự Tiên Thiên theo nguyên tắc vẽ Nòng Nọc. Điều này càng khẳng định chắc chắn trống đồng Lũng Cú có những thông điệp quan trọng của Kinh Diệc Âu Lạc. Thiết nghĩ, hình vẽ nhỏ, mờ, không sáng tỏ không phải là chứng cứ quan trọng để khẳng định TĐ Lũng Cú không chứa Hậu Thiên. Và thật là bất công cho trống đồng Lũng Cú nếu như nói nó ít giá trị vì ta có hình chụp của nó quá mờ!?
Trống đồng Lũng Cú:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong6-13-TutuongLungCu.jpg
Và liệu có quá mờ không hay chúng ta không chú ý? Quý vị độc giả hãy nhìn vào so sánh hai hình trống đồng Lũng Cú và Sông Đà dưới đây xem sao:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Songdalungcu.jpg
Chúng ta sẽ thấy logic làm trống đồng Sông Đà và Lũng Cú hoàn toàn giống nhau. Phía bên trái gần nhà có hai người giã gạo, còn bên phải không có. Vậy nếu bỏ hai cái đình quá mờ (mà có lẽ có vẽ các vòng tròn như Sông Đà, ta cũng luận ra trống Lũng Cú có cặp 7-8 (0) đối nhau. Và thứ tự là x-7-3-6-y-0(8). Như vậy, thông điệp Hậu Thiên Bát Quái Âu Lạc quá rõ ràng.
Nhìn hai hình trên, chú ý tất cả các chi tiết của nó cũng thấy hai trống đồng này khác nhau về cách vẽ: như người và chim, như vòng ngoài…Vậy hai trống này có lẽ do hai nghệ nhân làm ra. Hai nghệ nhân khác nhau cùng một ý tưởng khắc hoạ thể hiện triết lý Dịch giống nhau!!! Fantastic!!!
Điều này nói lên điều gì?
Có một thời, cách thể hiện Dịch này khá phổ biến. Nó như là một quy ước, như một khuôn mẫu chuẩn cho tất cả nghệ nhân lúc bấy giờ. Mà khi đã nói đến quy ước và khuôn mẫu thì chúng ta rút ra điều gì, thưa quý độc giả. Đó là triết lý Dịch đã vô cùng phổ biến và đã trở thành trào lưu trong xã hội Việt cổ bấy giờ.
Thống kê các chi tiết Dịch trên trống đồng Lũng Cú:
Công thức 3-3---4-4 chỉ Tứ Tượng và Tiên Thiên.
Mặt Trời 14 cánh chỉ Hậu Thiên. Con số của trời đất tách đôi.
16 chim = Khảm Khôn (số thứ nhất và số thứ nhì trong Hà Đồ). Vòng vận động Nước và Đất.
Hậu Thiên Bát Quái Âu Lạc thể hiện đơn giản bằng phương pháp số.
8 chữ chỉ 8 quái và được sắp xếp theo thứ tự Tiên Thiên. Vì sao là Tiên Thiên? Cũng quá rõ, đơn giản đó là chiều vận động chữ S của vũ trụ. Cho cả Tiên Thiên lẫn Hậu Thiên. Hậu Thiên chẳng qua là cách thể hiện trên Bát Quái của Tiên Thiên Trùng Quái.
khonglaai
07-01-2006
(không hiểu có nên “còn tiếp” không? Vì rằng, có một số “còn tiếp” có thể dẫn đến có hại cho việc nghiên cứu chung. Chúng tôi phải cân nhắc.).
Chúc quý vị độc giả một xuân mới vui tươi, hạnh phúc. http://www.vietlyso.com/forums/images/smilies/friday.gif http://www.vietlyso.com/forums/images/smilies/friday.gif http://www.vietlyso.com/forums/images/smilies/friday.gif
Say đi, say nữa đi.
khonglaai
07-02-2006, 06:30 PM
Thưa quý vị độc giả!
Tất cả những bằng chứng vật thể của chúng tôi nêu trong công trình của mình có thể nói là những hiện vật sờ được, nắn được để đem ra trình làng. Tuy nhiên, công bằng mà nói nếu để chứng minh Kinh Dịch được người Việt làm ra thì có những bằng chứng phi vật thể sáng giá không kém (chúng tôi cũng cho là giá trị các bằng chứng vật thể hay phi vật thể đều như nhau. Chúng chỉ được định giá trên cơ sở xét xem chúng đứng ở đâu trong toàn bộ chuỗi suy luận logic phục hồi lại lịch sử). Một trong số các bằng chứng phi vật thể mà tôi cho vô cùng quan trọng là hai từ thân thương Đất Nước của người Kinh và Sử Thi “Đẻ Đất Đẻ Nước” của người Mường (nhiều nhà khoa học cho rằng người Kinh và người Mường thật ra là một). Từ Đất Nước ăn sâu vào tâm khảm người dân ta để chỉ nơi họ sinh sống, làm việc, sinh con đẻ cái, vui chơi ca hát, nói chung là nơi xảy ra các việc thời Hậu Thiên. Bằng chứng này được tăng thêm phần giá trị nhờ có sử thi “Đẻ Đất Đẻ Nước” của người Mường. Thêm hai từ đẻ vào Đất và Nước càng làm sáng tỏ thêm hoàn cảnh lịch sử sáng tạo Kinh Diệc. Đẻ tức là có cái gì đó Sinh và có cái gì đó được Sinh ra. Nếu Đất Nước là hai quái - thành tố đặc trưng biểu thị hai cực Trời và Đất của thời Hậu Thiên thì như vậy có thể hiểu vũ trụ này còn có mẹ. Và người mẹ đó là Thái cực, biểu diễn bằng bát quái thì đó là đồ hình Tiên Thiên Bát Quái. Từ Nước quan trọng hơn Đất nên có thể gọi là Đất Nước và cũng có thể duy nhất một từ Nước. Vì sao ư? Như trong công trình chúng tôi đã dẫn chỉ vì người dân ta đã thấm nhuần Hà Đồ, đã sáng tạo ra Hà Đồ từ ngày xưa lắm là xưa. Nước nằm vị trí số 1 còn Đất nằm vị trí số 2 của Hà Đồ-một đồ hình rất giản đơn nhưng đầy minh triết.
Vì sao chúng tôi lại đặt vấn đề Đất Nước ra ở đây, khi mà ngay trên, quý vị đã từng đọc về nó. Vâng chúng tôi đặt ra để nói với quý vị rằng: trong việc chứng minh Kinh Dịch của người Việt cần phải chú ý đến từng chi tiết nhỏ, phải nghiên cứu vấn đề từ nhiều góc cạnh khác nhau, biện-tự phản biện như trong ngành khoa học hình sự (chính vì thế chúng tôi đã đặt những mâu thuẫn trong kinh Dịch Trung Hoa là những nghi án). Bất cứ một chi tiết nào kể cả vật thể lẫn phi vật thể đều được nghiên cứu một cách kỹ lưởng, không thể bỏ qua một chi tiết nào. Ví dụ, lúc đọc câu chuyện Ngài Phục Hy thấy con Long Mã, trên lưng các đốm xoáy, chúng tôi đã lờ mờ thấy có gì không ổn. Nhiều khi muốn gạt nó đi vì nghĩ đó cũng chỉ là câu chuyện thần thoại. Nhưng nếu là câu chuyện thần thoại thì tại sao lại có cái Hà Đồ vô cùng minh bạch thế? Và tôi đã chứng minh câu chuyện thật ra không đến nỗi thần thoại bí hiểm lắm nếu đặt vấn đề từ hướng đi khác. Thế nhưng vẫn còn một nghi án cứ lởn vởn trong đầu. Mà nó là cái gì, tôi cũng không định hình rõ rệt. Cuối cùng nhờ đọc quyển sách “Tranh dân gian Việt Nam” của anh Thiên Sứ-Nguyễn Vũ Tuấn Anh có bức tranh Đông Hồ tuyệt diệu sau, tôi mới giải đáp được nghi án đó:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/224nl7907n.jpg (http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/224nl7907n.jpg)
Vâng, nghi án đó chính là các đốm xoáy quý vị ạ. Mà vì sao lại là nghi án? Vì sao khi đọc câu chuyện Phục Hy-Long Mã chúng ta hầu như không thể nhận ra chính các đốm xoáy này là nghi án quan trọng? Đơn giản thôi, chúng ta không nhận ra vì ai học kinh Dịch cũng cho chi tiết đó quá nhỏ. Vâng, chi tiết đó quá nhỏ đối với người học kinh Dịch. Thậm chí chi tiết đó có vẻ không có một tý gì kiến thức Dịch cả. Nó giống như hoa văn trang điểm cho câu chuyện thần thoại mà thôi. Thế nhưng, chính nó là vật chứng quan trọng để giải quyết vụ án Dịch học. Ngoài Đất Nước, thì đốm xoáy, theo chúng tôi, cũng là bằng chứng phi vật thể tối quan trọng. Người Trung Hoa không biết vì sao phải vẽ xoáy (mà vẽ trái khoáy đến mức vẽ trên da con vật dưới nước), tư tưởng nào chi phối để người ta thấy cần phải vẽ xoáy cho những đồ hình Dịch. Và nếu có bằng chứng khác chỉ rõ nguyên nhân này thì chúng ta có thể suy ra Kinh Dịch phát sinh từ đâu đầu tiên chăng?
Con Long Mã là con gì thì chưa ai thấy phải không quý vị? Kể cả ngài Phục Hy. Nhưng đốm xoáy lại có thật. Trên đầu mỗi người đầu có không 1 thì 2. Trên lưng các con thú cũng có. Nhưng đốm xoáy gợi cho ta là cái vòng xoắn do một đám lông làm nên trên một mặt da của con vật nào đó. Chưa ai thấy đốm xoáy nào trên các con vật dưới nước cả (có thể có con vật nào đó sống dưới nước có lông, như con Gấu trắng Bắc Cực chẳng hạn, tuy nhiên đốm xoáy của con vật dưới nước cũng rất hạn hữu). Vậy đó đã là nghi án chưa quý vị?
Ta thấy các con vật sau: cóc, rùa, cá sấu…đều được người xưa cho là linh vật. Theo nhiều nhà khảo cổ và học giả, con rồng được tưởng tượng ra từ cá sấu (người ta đã thi vị hóa, mỹ hóa con cá sấu lên để nó thành con Rồng. Người phương Tây cũng hay gọi một giống tắc kè lớn là dragon. Tắc kè cũng cùng bộ bò sát và có hình vóc giống cá sấu. Người phương Đông thì cho rằng Rồng ở dưới nước vì thế chúng ta có thể suy ra người Á Châu xưa tưởng tượng ra Rồng từ con cá sấu). Trong các động vật này, ta thấy chúng có điểm chung là da vằn vện, các hình trên da của chúng có thể gợi cho người xưa thấy những chòm sao, những vì tinh tú. Nhưng chúng không có lông!!! Vậy, khi giải mã câu chuyện Phục Hy-Long Mã chính là chuyện có người tặng cho vua chúa Trung Hoa bức đồ hình được vẽ trên da cá sấu, chúng ta còn thiếu một mắc xích- đó là xoáy. Vì sao vẽ xoáy trên da cá sấu? Người Trung Hoa hoàn toàn không thể lý giải được điều này và thậm chí họ không thấy mặt mũi những cái xoáy đó hình thù thế nào. Họ chỉ biết “xoáy” là “xoáy” qua chuyện kể chứ chưa hề mục kích nó.
Xin quý vị nhìn qua hình trên một lần nữa. Quý vị đã thấy gì lạ lùng chăng? Có liên tưởng đến cái gì chăng?
Thứ nhất, chúng ta liên tưởng ngay đến một câu chuyện của Kinh Dịch: ngài Phục Hy nhìn những đốm xoáy trên mình con Long Mã được xếp như Hà Đồ mà vạch nên hai vạch Âm Dương. Trên mình các con heo con đều có như thế. Lạ lùng nhất đây cũng xoáy, kia cũng xoáy. Lại lấy so sánh một cách khập khiễng con heo đời thường đối với con Long mã linh thiêng thì chúng ta sẽ nhận được suy luận logic nào? Tư tưởng Dịch đã ăn sâu và đi vào tận hang cùng ngõ hẻm của cuộc sống dân Việt (về sau vì thời gian lệ thuộc lâu dài, nên người ta hầu hết quên cái triết lý chứa đựng trong nó. Nhưng cách vẽ thì vì cha truyền con nối nên người sau vẫn tiếp bước người trước vẽ như thế) và Dịch học không có gì huyền bí cả. Còn liên quan đến Dịch trong sách Trung Hoa từ cổ chí kim cũng chỉ có mấy cái xoáy trên lưng con Long mã mà thôi. Vậy nếu như có một logic luận thông suốt từ đầu đến cuối để chứng minh được người Việt đã làm ra Kinh Dịch qua hai lưỡng thể Nòng Nọc thì mấy đốm xoáy trên lưng mấy con heo nhỏ nhoi này cũng là bằng chứng lớn lao cho việc người Trung Hoa không làm ra Dịch từ nguyên thuỷ. Chúng ta có thể hình dung theo mô hình logic sau:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/7889mxoy.jpg (http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/7889mxoy.jpg)
Thứ hai, dĩ nhiên chúng tôi không cho rằng người ta không vẽ được các đốm xoáy trên lưng con Long Mã, hay đúng hơn là trên tấm da cá sấu. Họ vẽ được và hệ quả là có một tấm như thế được tặng cho ông Phục Hy. Thế nhưng, vẽ trái khoáy các đốm xoáy trên lưng một con ở dưới nước thì phải có lý do của nó. Mà lý do đó nằm trong chính nội dung của đốm xoáy (có nghĩa đốm xoáy phải chứa thông điệp dịch, hay ít ra có dính dáng đến dịch). Mà như trên đã viết thì người Trung Hoa chỉ viết lại đốm xoáy đó như là một chi tiết của câu chuyện hơn là hiểu chúng có liên quan thật sự đến Dịch. Còn nhìn hình đàn heo trên quý vị có thể nhận ra (tuy không chi tiết về số như Hà Đồ) rõ ràng các đốm xoáy có dính dáng đến Dịch. Và không phải dính dáng bình thường mà nó còn cụ thể chỉ rõ mắc xích độc đáo (mắc xích này trong câu chuyện Long Mã cũng có cho thấy. Tuy nhiên, người Trung Hoa lại hiểu sai đồ hình Hà Đồ dính dáng đến Tiên Thiên-khi vũ trụ chưa thành. Và chúng tôi đã chứng minh Hà đồ dính dáng đến Hậu Thiên-vũ trụ đã thành hình). Đó là mắc xích: Tiên Thiên sinh ra Hậu Thiên với Ngũ hành và biểu diễn (hay mã hóa) bằng Hà Đồ. Từ hình trên, quý vị có thể dễ dàng nhận được một suy luận như sau: người xưa làm ra Tiên Thiên Bát Quái ngộ ra chữ S-đường chia Thái Cực ra hai nghi nằm giống như hai con Nòng Nọc xoắn vào nhau. Hai nghi này tuy đối kháng nhau nhưng là hai phần xây dựng nên một thể thống nhất-Thái cực. Và ở đây người ta đã vẽ Thái cực một cách rõ ràng trên hình heo mẹ. Tức Thái cực mà hiện thân bằng đồ hình số của nó là Tiên Thiên Bát Quái là Mẹ của vũ trụ. Có năm heo con-chúng ta thấy ngay là có năm loại hình thể của thời Hậu Thiên-đó là tư tưởng ngũ hành. Ở trong mình mỗi con heo con đều có hai xoáy, vâng chính ở đây ta nhận được giải thích vì sao xoáy có liên quan đến dịch. Mà có cần uyên thâm gì đâu (không cần uyên thâm, nhưng người làm Dịch từ đầu đến cuối mới thấy không uyên thâm thật sự), người xưa đã nghĩ ra một triết lý giản đơn: các hành thể của Thái Cực được sinh ra từ Thái cực nó phải mang hình dáng giống Thái Cực đồng thời cũng có những điểm đặc biệt chỉ thế hệ Hậu Thiên. Và người ta nhận thấy trên lưng heo, đầu người hay nhiều chỗ có lông khác của thú vật có những đốm xoáy na ná giống Thái Cực (khác nhau là không chia nghi rõ ràng), nên họ nghĩ chính xác xoáy tức là hình đại diện của Thái Cực của thời Hậu Thiên, quan sát thấy nó được ghi dấu trên nhiều cơ thể thú vật; đặc biệt đối với người(loài vật linh thiêng-có tư duy duy nhất) thì xoáy nằm trên đầu (chỗ thiêng liêng nhất) và hầu như chỉ có 1 cho tất cả mọi người. Chính vì thế mà hình đàn lợn trên đã cho chúng ta thấy vì sao xoáy có dính dáng đến Dịch. Tuy nhiên, quý vị cần phải phân biệt rõ ràng để thấy thêm tranh đàn lợn này cũng chỉ ra nguồn gốc kinh Dịch là của người Việt. Vấn đề ở chỗ có thể có người nói từ những lý luận trên đây thì nếu người Trung Hoa cũng lý luận như vậy và họ cũng nhận được mối liên quan giữa xoáy và Dịch!!! Xin thưa, không thể nào. Không, không và không thể. Cũng đơn giản thôi, vì các xoáy đó chỉ giống cái Thái Cực của người Việt Nam chứ không là sản phẩm của Thái cực có chua hai vòng tròn của người Trung Hoa. Dù có tưởng tượng phong phú đến đâu. Vậy họ có giải thích bằng cách gì cũng không được. Đó là điểm thứ nhất. Điểm thứ hai, câu chuyện Long Mã chưa hề cho thấy tương quan khăng khít bằng hình tượng giữa xoáy và Thái Cực. Trong hình đàn lợn tương quan nhận ra rõ ràng: nếu heo mẹ có hai hình Thái Cực thì mỗi heo con cũng có hai hình xoáy. Đấy là chúng tôi chưa kể đến việc quan niệm vô cùng sai lầm của người Trung Hoa về vai trò của Hà Đồ. Chúng tôi sẽ làm rõ hơn cho quý vị ở điểm thứ ba.
Thứ ba, chúng tôi có cảm giác các đốm xoáy của các con heo con không vẽ để cho có vẽ. Họ hoàn toàn không vẽ chỉ vì thuần túy cho nó giống Thái Cực. Tuy các xoáy được vẽ không thể hiện rõ ràng về số như Hà Đồ, nhưng các triết lý Dịch thì lại cao hơn. Mỗi con heo được vẽ (bên một phía của thân-vì là tranh để nhìn nên chúng tôi nghĩ tất cả các chi tiết cần vẽ phải được vẽ trên phía có thể nhìn thấy được) hai xoáy. Hai xoáy có chiều đi ngược nhau. Như vậy, có thể đây chỉ thị một xoáy mang tính Nọc một xoáy mang tính Nòng. Xoáy ở gần ngực (tức phía đầu) có chiều như của Thái Cực, còn xoáy gần đuôi có chiều ngược lại.Rõ ràng đây không phải ngẫu nhiên. Xoáy có chiều như Thái Cực là Nọc được đặt về phía thiêng liêng của con vật, đó là đầu. Còn xoáy Nòng-ngược chiều Thái Cực đặt về phía ngược lại. Lại thấy heo mẹ mang hai hình Thái Cực rõ ràng còn các con của nó các hình vòng tròn gần giống Thái Cực, nhưng không phải Thái Cực. Điều này, rõ ràng cho thấy sự liên hệ mẫu tử giữa Thái Cực và vũ trụ đã hình thành. Vũ trụ có những vận hành giống Thái Cực nhưng cũng có những đặc điểm riêng của nó. Một trong những đặc điểm đó chính là trong thời Hậu Thiên sẽ có quá trình phân cực và quá trình phân hành. Con heo mẹ cả hai hình giống nhau chỉ ra chỉ có một loại Thái Cực và hai nghi của nó không riêng rẽ tách rời mà tạo thành thể thống nhất. Còn các con con đều có hai vòng xoáy ngược chiều nhau chỉ rõ triết lý: người xưa cho rằng đến thời vũ trụ thành hình thì sự phân nghi đã đến mức sâu xa hơn. Các con heo được vẽ (hay pha màu) không giống nhau cho ta thấy ý tưởng: Các vật được sinh ra đời Hậu Thiên từ hai khí nguyên là Nòng và Nọc nhưng chung quy nằm vào năm thể chất mà ngày nay người ta gọi là Ngũ Hành. Như vậy, đây là triết lý phân cực và phân hành khá rõ ràng. Và hình đàn lợn có xoáy ứng với những xoáy của câu chuyện Phục Hy cũng chứng tỏ cho chúng ta thấy thuyết Âm Dương Ngũ Hành đã được dựng nên đã lâu. Ý của tôi muốn nói: tranh đàn heo có các đốm xoáy và câu chuyện Phục Hy đã tạo nên bức tranh hoàn chỉnh về lịch sử của Ân Dương Ngũ Hành. Lịch sử đó nói lên một điều: Thuyết Âm Dương Ngũ Hành được dựng nên ngay đúng thời người ta làm nên Hà Đồ. Hay nói cách khác, phát hiện ra Hà Đồ ứng với Hậu Thiên người ta cũng phát hiện ra tính Ngũ Hành tương tác của thời vũ trụ đã thành hình. Đây là bằng chứng khoa học (tuy chỉ dựa trên mỗi các di sản phi vật thể) quan trọng để đập đổ những lý luận cho rằng chỉ có thuyết Âm Dương riêng hay Ngũ Hành riêng. Chúng tôi cho rằng tất cả những vấn đề của Dịch liên quan đến Ngũ Hành có thể được phát hiện ra sau Âm Dương, Bát Quái và Trùng Quái nhưng tiên đề đầu tiên: vũ trụ có 5 thể chất đã được phát hiện ngay từ thời người ta phát minh ra Hậu Thiên Bát Quái. Người ta đã nhầm lẫn khi cho rằng các chi tiết của các môn dính dáng đến Ngũ Hành được đưa vào sau nên Thuyết Ngũ hành có sau và riêng rẽ với thuyết Âm Dương. Thực ra triết lý hai nguyên khí và ngũ chất thể đã có ngay trong những ngày đầu tiên làm ra Dịch-bằng chứng sâu sắc nhất là các xoáy và Hà Đồ (5 cặp số). Quan trọng hơn triết lý này không hề xa vời, không hề khó hiểu, nó đã dính chặt vào con người mỗi chúng ta. Đó cũng chính là khẳng định mà chúng tôi đã có lần đề cập đến trong công trình. Nếu như xem mắt là cửa sổ của tư duy thì bộ phận nào được mắt quan sát rõ ràng nhất, kỹ lưởng nhất. Đó là đôi bàn tay của con người. Của người Việt cổ, của tôi và của bạn. Hai bàn tay tuy giống nhau về hình nhưng lại trái ngược nhau. Chúng không đồng nhất được. Và mỗi bàn tay lại có 5 ngón. Đánh số 1-5 từ ngón út đến ngón cái một bàn tay, và 6-10 cũng từ ngón út đến ngón cái của bàn tay còn lại. Chắp hai tay vào nhau ta nhận được 5 cặp số chẵn-lẻ như Hà Đồ. Vậy triết lý hai nguyên khí và ngũ chất thể hoàn toàn hợp với quan sát-theo cách nói của Ngài Khổng là “gần thì lấy thân mình”. Chân lý bao giờ cũng đơn giản.
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/b224ntay.gif
Thứ tư, thật ra phân tích ba điểm trên của bức tranh cũng đã đủ rồi và cũng rút ra khá nhiều điều quan trọng rồi. Thế nhưng chúng tôi vẫn lưu ý quý vị độc giả, chúng ta cũng không cần phải tưởng tượng thâm sâu nào(chỉ cần tưởng tượng trong các đốm xoáy có chứa các vòng tròn) cũng thấy hình Đàn Lợn đã chỉ rõ mối quan hệ giữa Hà Đồ với Hậu Thiên và Hà Đồ với Ngũ Hành. Tất cả đều liên quan đến thời vũ trụ đã hình thành. Có 5 con như thế và nếu dùng số 1 đến 10 để biểu diễn 10 xoáy này thì chắc chúng ta không nhận gì khác ngoài Hà Đồ. Mà cũng dùng đúng luật chẵn-Nòng và lẻ Nọc. Mỗi con heo con đều chứa một cặp xoáy Nòng-Nọc. Chúng tôi sẽ có những phân tích sâu hơn về màu của các con heo này trong các bài khác. Ở đây chỉ lưu ý quý vị một điểm rất nhỏ (tuy nhỏ nhưng cũng rất quan trọng) là trong bốn heo con chỉ có một con duy nhất mang hai xoáy màu đỏ. Một con duy nhất quý vị ạ. Mà chúng tôi cho đó là quan trọng vì điều này hợp với logic trống đồng. Nếu ta coi màu đỏ tượng trưng cho tính động, tính nóng của khí Nọc thì ta thấy lúc Thái Cực sinh ra Vũ trụ: phía ngoài của vũ trụ đã mang nhiều tính Hậu Thiên (tức là tính Nòng càng ra xa tâm thì phần Đất hay Nòng nhiều hơn Trời-Nọc) nhưng bên trong tâm Vũ trụ vẫn chứa nguyên lõi Nọc đại diện cho Thái Cực. Cái lõi đó trong trống đồng được vẽ hình mặt trời (tôi đã phân tích vẽ mặt trời là đúng lý vì logic Càn =7), còn trong tranh đàn heo thì được vẽ hai xoáy màu đỏ trên lưng một con heo duy nhất. Vậy logic cách vẽ đàn heo giống logic của trống đồng thì chúng ta tự suy ra kết quả gì.
Chúng tôi xin nói với quý vị độc giả là còn rất nhiều quan sát đơn giản mà lý thú nữa. Tất cả những phát hiện đó sẽ được công bố nay mai.
Thân ái.
khonglaai
khonglaai
11-06-2006, 05:56 AM
Một anh bạn khi đọc quyển Kinh Dịch-sản phẩm sáng tạo của văn hiến Âu-Lạc của chúng tôi đã đặt một câu hỏi rất hay:
-Tôi không nghi ngờ gì giải mã trống đồng của anh vì chúng khá rõ ràng và ứng với những lý luận toán học khá đơn giản (có thể nói là rất sơ cấp). Tuy nhiên, chúng ta hãy cùng nhau suy xét cho thấu đáo. Anh có lần nói: “dân Việt ta bị đánh liên tục và phải chạy từ Nam Dương Tử về đồng bằng châu thổ sông Hồng ngày nay.”. Vậy chúng ta có ba kịch bản như sau:
1. Trước đây, có hai sắc dân khác hẳn nhau: một sống ngay phía Nam Dương Tử kéo đến tận Quảng Tây Trung Hoa, một sống ở vùng châu thổ sông Hồng. Người phía trên phát minh ra Kinh Dịch và in ấn nó trên trống đồng. Sau đó họ bị tấn công nên đã mang trống đồng xuống vùng châu thổ sông Hồng. Đến đây, họ dạy dân ở vùng này biết làm ra trống đồng (tức là dạy thủ công không hiểu ý nghĩa). Và vì số trí thức của họ mất đi nhiều nên ít ai còn hiểu nghĩa trên trống đồng. Số sống sót của dân tộc đó hòa mình vào cuộc sống của dân tộc châu thổ sông Hồng. Và dân Việt ngày nay chính là sự trộn lẫn giữa hai sắc dân đó. Tuy làm ra trống đồng nhưng không ai hiểu chúng dùng để làm gì.
2. Có một dân tộc (hay nhiều dân tộc nhưng cùng huyết thống) nằm từ phía Nam Dương Tử xuống tận Thanh Hoá Việt Nam. Tuy nhiên, số người sống gần sông Dương Tử vì gần văn minh Trung Hoa nên họ khá phát triển về mặt văn hoá nên họ làm ra kinh dịch và khắc nó lên trống đồng. Khi bị người Hoa (gốc là Mông cổ) tấn công, họ đem các di sản văn hoá về sâu trong đất nước họ (tức là nước Việt). Tuy vậy, số người biết ý nghĩa sâu xa của cội nguồn văn hoá này không còn bao nhiêu và người bên trong nước Việt (tức là người của vùng châu thổ sông Hồng) cũng hoàn toàn không biết. Vì thế phát hiện ra trên đất Việt Nam có trống đồng nhưng cũng chả ai hiểu chúng nói gì.
3. Có một dân tộc Việt (trước đây là duy nhất) trải dài từ Trung Bộ Việt Nam bây giờ đến Nam Dương Tử với trung tâm văn hoá và chính trị là vùng trung du Vĩnh Phú. Họ đã phát minh ra kinh dịch, khắc trên trống đồng và ngay tại trung tâm mô hình văn hoá đó càng rõ nét. Dân tộc Việt bắt đầu bành trướng lên phía bắc. Trung ương cử các thủ lãnh (tài giỏi, dĩ nhiên là có mang trong mình những kiến thức Dịch văn và kiến thức thủ công) đi chinh phục và chiếm lĩnh các nơi (tôi nghĩ không phải xâm lược mà chỉ là quá trình chinh phục thiên nhiên hoang dã). Người Việt đã bị đánh đuổi từ Nam Dương Tử xuống nhưng đó chỉ là quá trình quay về (di cư thuần tuý) của người Việt phía trên (số còn lại đầu hàng và trở thành người Hoa Hán) còn gốc văn hoá vẫn còn nguyên. Tức cái gốc văn hoá Dịch trong lòng dân tộc Việt vẫn con in ấn rất đậm, đặc biệt là nơi trung tâm chính trị văn hoá. Và vì thấy rõ hiểm hoạ phía Bắc nên người xưa đã đưa nét văn hoá này vào sâu về phía Nam (nhằm bảo tồn văn hoá). Còn vì sao họ quên đi ý nghĩa thật sự thì do cả 1000 năm bị nô dịch văn hoá. Tuy nhiên, sự nô dịch và lai căng văn hoá cũng không thể làm lu mờ được những giá trị văn hoá Dịch vẫn còn lưu truyền trong dân gian (do sự bảo tồn truyền thống từ đời này sang đời khác. Có khi sự bảo tồn này chẳng qua là máy móc nhưng các nét văn hoá Dịch vẫn còn đến bây giờ thì chúng lại là bằng chứng thuyết phục cho thấy Kinh Dịch một thời được thịnh hành rất phổ biến trong dân tộc Việt).
Vậy để chứng minh Kinh Dịch là của người Việt ngoài những phân tích giải mã (hầu hết trống đồng), chúng ta còn phải chứng minh sự ra đời của Kinh Dịch nó gắn liền với kịch bản 3 (kịch bản 2 cũng được nhưng không rốt ráo lắm)
Chúng tôi đã trả lời:
-Quyển sách của tôi cũng nhằm chứng minh điều đó qua việc chứng minh thuyết: “Kinh Dịch được người Việt xây dựng qua lưỡng thể Nòng Nọc với linh vật là Cóc”. Chúng tôi đã tìm ra không biết bao nhiêu là dẫn chứng chỉ ra nghĩa các quái là có nguồn gốc từ ngôn ngữ tiếng Việt. Thế nhưng, chắc anh vẫn cho là còn ít, chưa thể gọi đó là dấu ấn văn hoá sâu đậm được phải không?
Và sau nhiều ngày đêm suy ngẫm, nghiên cứu chúng tôi phát hiện ra rõ ràng Dịch đã in ấn rất sâu đậm trong văn hoá truyền thống của dân tộc Việt Nam. Hiển nhiên, ở đây chúng tôi muốn nói đến Dịch nguyên thuỷ từ Nòng Nọc của dân tộc ta kia. Ngay như hai chữ quen thuộc để chỉ giới tính cũng mang mầm mống Dịch :“thằng”, “con”. Chúng tôi sẽ dần dần đưa lên đây để quý vị độc giả cùng suy ngẫm.
Một lần mới đây, một anh bạn khác đến chơi cũng phàn nàn:
-Tôi đọc bài “Tín ngưỡng phồn thực…” của Đỗ Lai Thuý mà thấy buồn quá.
-Thế ông buồn là buồn làm sao?
-Ngày xưa, bên Hy lạp người ta đã có mấy ông Platon, Aristotle triết học đầy mình, bên Trung Hoa thì có ông Khổng, ông Lão cũng là thầy thiên hạ. Còn dân tộc mình chỉ lặn lội mãi trong vòng dục vọng. Đến bây giờ, trong dân gian vẫn còn tôn vinh tứ khoái “ăn, ngủ, đ., ỉa”. Thì làm sao khá lên được.
-À hả. Thế ông cho cái tín ngưỡng phồn thực đó là dung tục sao? Và tự bao giờ, người ta đưa ra những quan điểm đạo đức để đem cái “phồn thực” kia ra phán xét là dung tục và những triết lý của ông Khổng, ông Platon là triết học hàn lâm??? Nước mình du nhập đạo Nho của ngài Khổng vào với tam tòng tứ đức và Nam nữ thụ thụ bất thân có lẽ từ xưa ơi là xưa. Vậy cái phồn thực đó nó cũng có từ lâu phải không? Và nếu nó chỉ là triết lý đơn sơ, thô tục gắn liền với thân thể con người thì cũng hoàn toàn hợp logic phát triển nhận thức của loài người. Huống hồ…
-Huống hồ gì?
-Huống hồ là: thứ nhất, nếu ông gạt bỏ hết những thành kiến về tính dục đi thì có phải chăng việc giao hoan giữa đôi Nam nữ là một sự hài hoà, đồng nhất, quyện vào nhau (cách duy nhất) mà nếu thiếu nó thì chắc ông cũng đoán được bao nhiêu chuyện rắc rối sẽ xảy ra. Sự hài hoà này còn được nhận thấy ở bất kỳ sinh vật nào cũng chứng tỏ một cái nguyên lý chung bí ẩn nào đó. Có một quy ước, nguyên tắc vĩ đại nào đó. Và một tín ngưỡng xây dựng nên để một phần giải mã quy ước này thì nó đáng được ngưỡng mộ hay không? Thứ hai, nếu ông tưởng tượng sâu thêm từ việc nghĩ về phồn thực của người, giao hoan của người đến một cái bao trùm hơn đó là giao hoan giữa trời và đất thì ông thấy tín ngưỡng phồn thực cũng đã góp phần bước đầu xây nên một vũ trụ quan đáng kể cho nhân loại. Và hành động đó (xây nên vũ trụ quan đó) của tín ngưỡng phồn thực nó có dung tục hơn thuyết tương đối của Einstein không? Với tôi, các bước thử nghiệm hiểu vũ trụ của người Việt cổ lẫn của Einstein đều đáng được khâm phục như nhau. Thứ ba, ngoài ra tôi đã chứng minh được sự liên quan khắng khít giữa tín ngưỡng phồn thực với một triết lý vĩ đại loài người là Kinh Dịch.
-Oh, vậy sao? Ông đưa cho tôi xem với.
Và chúng tôi chỉ còn biết đưa trang này cho anh bạn đọc.
Dưới đây, chúng tôi sẽ dần dần đăng các phát hiện mới nhất trong các di sản văn hoá phi vật thể của chúng ta. Theo lời khuyên của một số người bạn, có thể chúng tôi edit lại quyển sách thành hai tập: tập 1 nói về Toán và di sản văn hoá vật thể, tập 2-di sản văn hoá phi vật thể.
Thân.
Khonglaai
P/S: thời gian này tôi rất bận nên việc đưa lên trang web sẽ hơi chậm mong quý vị độc giả thứ lỗi. Cũng nói thêm, một số phát hiện đã được anh Đạo Kỳ cung cấp.
khonglaai
09-07-2006, 05:53 AM
Thưa quý vị độc giả.
Dạo này bận tối mày tối măt. Mong quý vị thông cảm. Hôm nay viết tiếp.
KINH DỊCH-SẢN PHẨM SÁNG TẠO CỦA NỀN VĂN HIẾN ÂU LẠC
DI SẢN PHI VẬT THỂ.
Chương 1. Kinh Dịch trong những quan niệm phổ biến.
1. Tre, trúc-người quân tử.
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/cay-tre.jpg
Chúng tôi có đọc một truyện (có lẽ là truyện Trạng) nói về trúc-người quân tử như sau:
-Ông Trạng đi sứ, vào phòng tiếp tân nhìn thấy bức tranh vẽ con chim sẻ đậu cành trúc rất đẹp và con chim sẻ trông như thật. Trạng vội chạy đến vồ chim. Quan lễ tân thấy được chọc quê: “Chim đấy không biết bay. Ông từ từ mà chộp.”. Trạng biết mình hố, nhưng nhanh tay xé rách chỗ vẽ chim đi. Nghe bẩm báo, vua Trung hoa cho vời sứ Việt vào quát lớn: “Này tên kia vì sao cả gan xé bức tranh đẹp của ta?”. Trạng mặt không biến sắc, ung dung bẩm: “Thưa Hoàng thượng, cây trúc tượng trưng cho khí phách người quân tử, còn chim sẻ là tiểu nhân. Bức tranh vẽ để cho lũ tiểu nhân đè đầu cỡi cổ người quân tử mà treo ngay chỗ bàn dân thiên hạ trông vào thì quả là phạm thượng. Thần phải xé bỏ đi để đề cao thánh đức của Hoàng thượng vậy.”. Vua Trung Hoa khoái chí ban thưởng, các quan thì tẽn tò chịu thua mưu trí sứ Việt.
Ở đây chúng tôi không muốn bàn sâu đến nội dung câu chuyện và mưu trí của ông Trạng(?)! Chúng tôi chỉ khẳng định một quan niệm có từ xa xưa, không biết tự bao giờ đã đi vào văn hoá Việt và Trung (dĩ nhiên, chúng tôi cho quan điểm cái gì của Trung Hoa thì dân tộc ta cũng bê vào là sai lầm. Một quan điểm theo tôi đúng đắn và hợp lý là có sự giao lưu văn hoá. Một số quan niệm văn hoá thật ra của người Việt đã đi vào nếp sống dân chúng của hai nước từ xa xưa. Sau một thời nô lệ dài dằng dặc, người ta (kể cả người Việt) đã quên nguồn gốc văn hoá Việt của chúng và cứ (tự kỷ ám thị) lầm tưởng là xuất phát từ Trung Hoa. Một trong hiện tượng văn hoá Việt mà người đời cứ nghĩ là của người Hoa kể cả về ngôn ngữ lẫn thực tế là chữ Nông và nghề Nông. Chúng tôi sẽ bàn sau.). Quan niệm đó là Tre, Trúc - tượng trưng người quân tử.
Hầu hết các giải thích tôi tìm được đều nói đại khái là vì tre, trúc gồm các đoạn như vạch Dương nên tre trúc giống như một quẻ thuần Dương (như Càn). Vì thế, tre trúc chính là chỉ người quân tử. Từ khi đọc lời giải thích này, chúng tôi đã thấy có nhiều điều bất ổn. Quý vị có thể xem hình vẽ sau:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Tre-ThaiAm.jpg
Vậy quý vị có thể tưởng tượng nếu theo nguyên tắc vạch Dương và Âm của Trung Hoa thì tre có thể mang vạch Dương (do một đốt tre mang lại) hoặc mang vạch Âm (do hai đốt tre mang lại). Vì thế tính thuần Dương (tượng hình) của tre không phải xuất phát từ Kinh Dịch Trung Hoa.
Mời quý vị xem hình sau:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/10td1-Can.png
Rõ ràng đó là cây tre. Số đốt bao nhiêu cũng được, vì cây tre theo hình vẽ trên Thuần Dương với bất kỳ số đốt nào.
Có một câu hỏi nhỏ: “Tại sao lại có đường nối ba nọc?”. Nếu vẽ ba nọc đó gần nhau thì với mắt thường ta cũng có thể hình dung ra đường thẳng nối. Và theo chúng tôi, hầu hết các nét văn hóa cổ xưa của dân tộc Việt (thậm chí cho cả mọi dân tộc) đều dựa trên những quan sát tượng hình và tượng thanh. Vì thế khi xây dựng ra các quái bằng Nòng và Nọc thì người xưa cũng phải xét xem hình tượng tổng thể của quái đó là cái gì. Mà muốn có hình tượng tổng thể thì đơn giản hơn tất cả người ta ghép (hay hình dung) các mảng rời rạc bằng một đường nối chúng với nhau.
(Còn nữa. 2. Thằng và con.)
Thiên Sứ
09-07-2006, 08:19 AM
Hay quá! Cảm ơn anh Không Là Ai!
Thiên Sứ
khonglaai
13-07-2006, 07:18 PM
Cảm ơn bạn thailangtu đã cho là có lý về vấn đề tre, trúc. Hiện tại tôi chỉ cần vậy. Một lần nữa cảm ơn.
Bài viết còn dài. Đi đâu mà vội. Cứ mỗi đoạn lại có người kêu là có lý thì đến hết chúng ta sẽ có bức tranh chung cuộc chân thực. Và ánh sáng sẽ dần hiện ra.
Thân.
khonglaai
P/S: nhưng chung quy mong ban quản trị chuyển mấy bài không thuộc bài viết của tôi sang topic thảo luận đã có ở dưới. Cũng vì cho liên tục mạch viết mà thôi.
khonglaai
19-07-2006, 05:29 AM
Xin lỗi quý vị cho chúng tôi trình bày phần hai là Nòng và Nọc trước:
2. Nọc và Nòng hay Âm và Dương:
Chúng ta hãy cùng nhau lướt qua tất cả những khái niệm về Âm Dương. Trong Dịch Học khái quát tác giả Trừ Mê Tín có viết:
Âm Dương tượng trưng cho hai khí thiên nhiên của vũ trụ. Nguyên lý của vũ trụ là vô hình, không thể mô tả cụ thể được, mà dù có mô tả được đi chăng nữa thì cũng không bao giờ mô tả hết được. Muốn mô tả nguyên lý của vũ trụ đó ta phải mượn hữu hình để mô tả cho chân lý vô hình đó, gọi là mượn Tượng để mô tả Hình.
Khí Dương tượng trưng bởi nóng, cứng, dài, nhanh, khỏe, nam (nam nữ), ban ngày, trời, số lẻ, phát triển, trẻ, Mặt Trời, Mùa xuân, hướng Đông, hướng Nam, phía trên, phía ngoài, lửa, sáng, năng động, tích cực, hữu hình...
Khí Âm tượng trưng bởi lạnh, mềm, ngắn, chậm, yếu, nữ (nam nữ), ban đêm đất, số chẵn, suy thoái, già, Mùa Thu, Đông, hướng Tây, hướng Bắc, phía dưới, phía trong, nước, tối, thụ động, vô hình...
Trong con người Dương là mé ngoài, sau lưng, phần trên, lục phủ, khí...Âm là mé trong, trước ngực và bụng, phần dưới, ngũ tạng, huyết...
Trong bài Cây thuốc vị thuốc Việt Nam (http://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/sach/phongtuc/cau_106.html) của Đỗ Tất Lợi (lấy link từ Trăm điều nên biết về phong tục Việt Nam) có viết:
Nói chung, phàm cái gì có tính chất hoạt động, hưng phấn, tỏ rõ, ở ngoài, hướng lên, vô hình, nóng rực, sáng chói, rắn chắc, tích cực đều thuộc dương.
Tất cả những cái gì trầm tĩnh, ức chế, mờ tối, ở trong, hướng xuống, lùi lại, hữu hình, lạnh lẽo, đen tối, nhu nhược, tiêu cực đều thuộc âm.
Từ cái lớn như trời, đất, mặt trời, mặt trăng, đến cái nhỏ như con sâu, con bọ, cây cỏ, đều được qui vào âm dương.
Ví dụ về thiên nhiên thuộc dương ta có thể kể: Mặt trời, ban ngày, mùa xuân, hè, đông, nam, phía trên, phía ngoài, nóng, lửa, sáng. Thuộc âm ta có: Mặt trăng, ban đêm, thu, đông, tây, bắc, phía dưới, phía trong, lạnh nước, tối.
Trong con người, dương là mé ngoài, sau lưng, phần trên, lục phủ, khí, vệ; Âm là mé trong, trước ngực và bụng, phần dưới ngũ tạng, huyết, vinh.
Âm dương tuy bao hàm ý nghĩa đối lập mâu thuẫn nhưng còn bao hàm cả ý nghĩa nguồn gốc ở nhau mà ra, hỗ trợ, chế ước nhau mà tồn tại. Trong âm có mầm mống của dương, trong dương lại có mầm mống của âm.
Trong Chu Dịch dự đoán học (http://www.vietlyso.com/index.php?ind=downloads&op=section_view&idev=48) của Thiệu Vỹ Hoa:
Bát quái do hai hào Âm và Dương mà hợp thành, dùng hai hào Âm Dương để biểu thị vạn vật trong Trời Đất. Âm Dương là hai mặt mâu thuẫn của vạn vật, vừa đối lập vừa thống. Vật gì, việc gì cũng có mâu thuẫn Âm Dương và có tính đồng nhất. Ví dụ: trời là dương, đất là âm; nam là dương, nữ là âm; trong điện có cực dương, cực âm; tóm lại vạn vật đâu đâu cũng có âm dương.
Tổng kết các bài đó ta có thể tóm tắt khái niệm của Âm Dương như sau:
Dương: Trời, tính đực, cứng hay thẳng, nam (nam nữ), phương Nam, Đông, tính lồi lên cho ra, sinh thực nam, hình gậy (từ sinh thực nam), nước(Hà đồ)...Chúng tôi đưa nước vào phần tính dương theo nghĩa nước như một quái trong Bát Quái. Nó nằm trong nghi Dương của Hậu Thiên Bát quái. Và tính khoa học của Kinh Diệc là suy từ toán học thuần túy, như phần sách trên chúng tôi đã diễn tả Nước ngôi vị chủ tế Hà đồ, số 1 (lẻ) đối với Đất-số 2 (chẵn).
Âm: Đất, tính cái, mềm mại hay cong, phương Bắc, Tây, tính lõm thu nhận, sinh thực nữ và hình tròn (từ sinh thực nữ), Đất(hà đồ)...
(Thiết nghĩ, Âm Dương là hai nguyên khí đầu tiên nên khi xây dựng các khái niệm của nó phần lớn người ta dùng những nghĩa của Tiên Thiên trước, ví dụ: lửa là Dương và nước là Âm. Nhưng khi chuyển qua Hậu Thiên thì Nước lại đối với Đất nên khái niệm nước thuộc dương là chỉ quái Nước-Khảm và chỉ tính động của nước, còn tính lỏng, mềm nhũn, lạnh của nước lại là âm.).
Với nhiều khái niệm như thế của Âm và Dương, thì chúng ta xem thử từ yin và yang là nguyên nhân hình thành nhiều chữ mang tính yin yang hay là nòng nọc là nguyên nhân hình thành nhiều chữ mang thuộc tính nòng nọc tương ứng. Nếu nhiều khái niệm về ngữ âm được hình thành từ ngữ âm của hai lưỡng thể thì chúng ta có thể khẳng định thuở xa xưa (xưa lắm lắm) đã có một triết lý chủ soái chi phối toàn bộ sự hình thành một mảng hay toàn phần ngôn ngữ. Mà ngôn lại có trước ngữ nhiều ngàn năm....
Có không biết bao nhiêu dấu ấn của ngôn ngữ Việt về Nọc và Nòng. Và tất cả đều chỉ rõ quan niệm người xưa là Nọc chỉ Nam, Trời, chỉ cây gậy (tượng Càn), sinh thể đàn ông…và Nòng chỉ Nữ, Đất, chỉ tròn, sinh thể đàn bà.
Tác giả Đạo Kỳ viết trong bài “Ngôn ngữ đời Viêm Việt cổ” có viết:
CÀN = NỌC = CỘC : -Là Trời, là Vua, là Cha, là con Trai.
CÀN=CẦN, CHÀN, CHANG, có nghĩa : Lửa Mặt Trời, Nóng, Nắng, Nọc, phái Nam. Thí dụ :
“-Trời nắng chàn-chang “( trời nắng nóng ) hay “ Tính nết Cộc cằn “ ( Nóng nảy mẩn cảm )
KHÔN= NÒNG = NÔNG : Là Đá + Khí Vũ Trụ, Hoàng Hậu, là Mẹ là con gái. ( Khôn = Đất, Đá rộng bao la, chứa đựng mọi vật trong cỏi tạo sinh, thời mẩu hệ xem người Mẹ là kho tri thức hiểu biết trong cách thức ăn, ở sự hoà nhập sinh hoạt vào thế giới xã hội con người. Khôn là Túi chứa đựng vật chất, hay kho tri thức cuộc sống, thế nên đến nay chúng ta vẩn còn sử dụng từ ngữ thí dụ : “ Túi Khôn Con Người “ hay từ “ Nòng cốt ” ( là cái cơ bản chủ yếu)
KHÔN= HƯ KHÔNG (mang âm tính), NÒNG, NANG, NƯỜNG, NÙNG, Có nghĩa : Khôn là Không, Khôn là Nòng, là Lạnh, là Nàng, là cô Ả, phái nử . là : “Bầu,Túi” chứa đựng sự sinh hoá.
Dưới đây, quý vị sẽ thấy tất cả những quan niệm về Âm và Dương sẽ hoàn toàn được thống nhất nếu ta quán chiếu qua Nòng và Nọc:
Nọc:
-Trời: Càn là thuần nọc, tính nọc cao nhất thời hậu thiên. Phần II-tính thuần Việt của các quái chúng tôi sẽ phân tích kỹ.
-Nước: tượng trưng cho nghi Nọc Hậu Thiên. Nọcè Nácè Nước.
-Tính đực: heo nọc.
-Làm thẳng: chữ nọc còn có nghĩa cột người nào đó vào cây làm thẳng họ ra. Ví dụ: nọc nó ra đánh cho mấy hèo.
-Tính khí: đối chọi với nhu mì là nanh nọc.
-Dáng gậy: cái nọc (gậy), Nọcè cọc, hay Cànè cằnè cộcè cọc, cột.
-Sinh thực nam: Nọc è Nõn trong lễ rước Nõn rước Nường (hai từ có vẻ giống nhau, tuy nhiên Nường hầu như đã giống Nương đi từ Nòng vì thế hoàn toàn hợp lý khi cho nõn đối với nường là biến âm của Nọc), Nọc(càn:cũng tượng trưng cho nọc thời hậu thiên)è Cọcè C. (sinh thực đàn ông)
-Đàn ông: nọcè nõnè nãnè nam.
-Phương nam: nọcè nõnè nãnè nam.
-Tính lồi, cho ra: nọcè rọc (biến âm quen thuộc n r l) trong ròng rọc (từ rọc liên quan đến từ dọc. Vì thế rọc trong ròng rọc là cái dây dọc; còn ròng là cái để ròng cái dây xuống. Vậy ròng là cái có lõm vào để cái thân dây nằm vào đó. Còn rọc là cái dây lấp đầy lỗ của ròng). Hay nọcè nóc(mái nhà nhọn lên trời). Nọc è Nón (nón để đội). Càn è chan [chứa, hòa] . Chan ở đây có nghĩa nghịch với chứa là cho ra. Tiếng Việt ta có từ chan là rót ra như chan canh: múc canh cho vào cái gì đó.
-Cứng: cànècứng~cương, cửng (động từ cương lên).
-nọcè nõnèNón è nắng, nóng, nứng (quá trình cương cứng), nướng.
-Đàn ông: Càn èChang chang èchàng.
-Sáng: Càn èChang chang, chan èsáng
-Quá trình nổi lên, hướng lên trời: Càn èChang chang, chan èchương ètrương lên, trương phình ègiương lên
-Quá trình nổi lên, hướng lên trời: nọcènõnèNón è rón, nhón(rón rén thực tế đi từ chữ nhón: nhón gót) è rướn (biến âm n l r).
-Cứng: nọcènõnèNón è rónè rắn (rắn rỏi, rắn chắc. Từ rắn còn được khẳng định bởi trong tiếng Việt chúng ta có từ rón rén. Người Quảng Nam nói chữ ă thành chữ e như ăn thành en, cắn thành kén)
-Quá trình làm thẳng ra: càn ècăng
-Số lẻ, lửa: bắt nguồn từ Ly hay tương đương với Ly (chúng tôi dẫn sau).
Nòng:
-Đất: nòngè nương (nương rẫy); nòngè nươngè nuộngè ruộng(biến âm quen thuộc n r l); nòngè nông (nghề làm đất hay nghề làm ruộng).
-Đất: nòngè nang, nương è lang (lang thang [đi từ vùng đất này đến vùng đất khác], lang chạ [sống bừa bãi: không phân biệt nơi đâu của mình, nơi nào của người khác], khoai lang [có lẽ là nhiều giống khoai nên khoai này gọi là khoai đất: có thể trồng trên đất cằn, khô không cần nước nhiều (như lúa nước) vẫn có thể cho củ được)
-Tính tròn: nòngè cái nong. Nòngè lòngè l. (sinh thực nữ)è trôn(trôn ốc)è tròn.
-Tính lỏng: nòng èlong èlỏng.
-Lạnh: Nòngè lòng, l., long, lỏng è lạnh
-Chẵn, cặp: nòngè nươngè lưỡng.
-Đàn bà: nòngè nương (trong cô nương, chỉ phụ nữ), nàng hay nòngè nương, nườngè nữ.
-Tính Hậu Thiên: nòngè long (con rồng biểu thị cho Hậu Thiên)
-Tính lõm vào, thu nhận: nòngè lòng (chỉ nơi chứa, chỗ trũng như lòng chảo), ròng trong ròng rọc (từ rọc liên quan đến từ dọc. Vì thế rọc trong ròng rọc là cái dây dọc; còn ròng là cái để ròng cái dây xuống. Vậy ròng là cái có lõm vào để cái thân dây nằm vào đó. Còn rọc là cái dây lấp đầy lỗ của ròng).
-Sinh thực nữ: nòngè nang (nang mực có dáng sinh thể đàn bà), nòngè nường trong tục rước Nõn rước Nường (chỉ sinh thể đàn bà), nòngè lòngè l. (sinh thể đàn bà).
-Quá trình đi xuống, chui vào: Nòngè lòng, l.è lòn vào, lộn xuống.
-Tối: từ Âu là từ chỉ đất (chúng tôi dẫn sau). Âuèu (u tối)
-Tính nhu mì, mềm mỏng: Âu èuènhu, nhu mì.
-Tính nhu mì, mềm mỏng: Nòngè lòngè lành (hiền lành, lành tính, lòng lành).
-Làm cong đi: nòngè nong(nong ra, nống ra).
-Không tính (nếu tính số thì không là số Nòng lớn nhất và xét không tính cuả quái chỉ có trong kinh Diệc Việt): Nòngè lòng, l., long, lỏng è linh, lỉnh (linh theo kiểu đọc tiếng phổ thông, miễn nãn, quan thoại), lỉnh (nghĩa từ chuồn mất, biến đi).
(Ngoài ra từ dọc ngang cũng có lẽ xuất phát từ nòng nọc: nọcè rọc(biến âm n r l)è dọc(biến âm r d gi); nòngè nangè ngang).
Hiển nhiên sẽ còn rất nhiều dẫn chứng nữa. Quý độc giả có thể nêu một nghi vấn: rõ ràng có nhiều mũi tên chỉ sự phát sinh của chữ này từ chữ kia. Vậy liệu có đúng là như thế chăng? Câu hỏi rất có lý và chúng tôi hoàn toàn không thể nào có chứng cứ cho việc chữ nào có trước, chữ nào có sau. Tuy có một số giả định, nhưng đó cũng chỉ là giả định. Ngoài ra, chúng tôi tin với kỹ thuật công nghệ thông tin hiện nay, nếu các nhà ngôn ngữ học ngồi lại cùng với các chuyên viên IT thì sẽ dễ tìm ra cây di truyền ngôn ngữ từng dân tộc tính từng chữ một thậm chí cả cây di truyền ngôn ngữ của toàn thế giới (không ngẫu nhiên mà từ mama được dùng như từ mẹ cho hầu hết các ngôn ngữ nổi tiếng trên thế giới). Thế nhưng câu hỏi trên hoàn toàn không làm suy suyễn bản chất của những kết luận của chúng tôi. Vì sao? Vì nếu chúng ta không biết quan hệ mẫu tử của cặp chữ thì chúng ta thay dấu mũi tên bằng nghĩa tương đương hay là có liên quan. Và lúc đó không cần biết quan hệ mẫu tử thế nào, chúng ta cũng thấy mối liên quan khắng khít giữa chữ này với một số cụm chữ khác. Ví dụ như: Nòngè lòngè l. (sinh thực nữ)è trôn(trôn ốc)è tròn, ta không biết lòng sinh ra l., trôn đi từ l. hay ngược lại, chúng ta chỉ cần biết rõ ràng lòng, l., trôn, tròn có mối quan hệ khắng khít và lại có ngữ âm được biến thể từ nòng.
Lại thêm một câu hỏi nữa mà chắc chắn quý vị độc giả tinh tường sẽ đặt ra: tại sao những từ nắng, nóng, nướng, nứng dễ dàng đi từ Nòng mà sao ta lại khiên cưỡng cho nó đi từ Nọc? Vâng, đúng thế. Tuy nhiên, chúng ta nên thấy một quan điểm chủ đạo chính của triết lý Diệc: đó là hai lưỡng thể tuy khác nhau nhưng lại mang tính đồng nhất. Chúng như đôi bàn tay hình dáng giống nhau nhưng không chồng lên nhau được. Từ tư tưởng này nên người ta gọi hai lưỡng thể cũng bằng hai chữ luyến láy nhau là Nòng và Nọc hay Nường và Nõn. Ngay từ nguyên thể hai chữ này cũng đã gần giống nhau rồi thì các chữ đi từ chúng đôi khi cũng có vẻ (tôi nhấn mạnh từ có vẻ) có thể suy đi từ chữ này hoặc chữ khác. Trên thực tế, cha ông chúng ta đã không cho biến âm các từ đi vào chỗ lộn xộn. Nhìn các mối quan hệ từ ngữ trên chúng ta thấy phần lớn các từ mang Nọc tính đều giữ nguyên phụ âm đầu n(nọc) và c (càn). Còn các từ mang Nòng tính thì có nhiều phần đã chuyển qua phụ âm đầu là l và r. Những từ Nọc tính có phụ âm đầu là n đọc lên có vẻ dễ đi từ Nòng hơn như Nón, Nắng, Nứng, Nướng, Nóng thì tất cả đều có thanh sắc. Và quý vị thừa biết sự đối chọi của sắc và huyền trong ngôn ngữ Việt Nam ta. Thậm chí chúng tôi còn cho rằng: qua tín ngưỡng phồn thực, người Việt cổ phát minh ra kinh Diệc và điều căn bản của hệ thống triết lý này được xây từ hai lưỡng thể đối kháng nhau nhưng lại đồng nhất, vì thế người ta đã nghĩ ra những từ luyến láy nhau để diễn tả hai lưỡng thể đó: một trắc một bằng. Cuối cùng, triết lý chủ đạo đó đã tạo ra ngôn ngữ với những thanh âm khác nhau độc đáo khó có thể có dân tộc nào có được: ngôn ngữ Việt.
Nọc tính: Nón, Nõn, Nam, Nắng, Nóng, Nứng, Nướng, Nước, rướn, rắn (có r nhưng lại là dấu sắc).
Nòng tính: long, lòng, l., lành, lạnh, lưỡng, lang, lỏng, ruộng (biến từ luộng), lòn, lộn, linh, lỉnh.
Rồi sẽ có người hỏi rằng: tại sao tác giả lại đưa rất nhiều từ Hán Việt như long, lưỡng, nhu, nam vào để chứng minh. Chứng minh cho thuyết kinh Diệc của người Việt lại dùng đến từ Hán Việt không khiên cưỡng lắm sao? Hoàn toàn không khiên cưỡng! Nghiên cứu dây di truyền ngôn ngữ từ Nòng Nọc phục hồi cho chúng ta thấy rõ ràng bản quyền một vài từ của dân tộc ta mà trước đây người Hán lẫn chúng ta đều lầm tưởng là từ Hán ngữ, thưa qúy vị độc giả! Quý vị hãy tạm gạt bỏ quan điểm là ta sử dụng rất nhiều từ Hán đi mà hãy tạm chấp nhận quan điểm là có mối giao lưu văn hóa nói chung và giao lưu ngôn ngữ nói riêng. Qua bài này, chúng tôi đã chứng minh (quá trình chứng minh đã có nhiều bằng chứng khác nhau chứ không riêng bài về ngữ âm Nòng Nọc này) các từ mang âm dương tính theo các quan niệm truyền thống về ngữ âm có quan hệ khắng khít với Nòng và Nọc hơn là yin và yang. Như thế, cùng với các bằng chứng khác, bằng chứng ngữ âm chỉ ra rằng triết lý Diệc được dân tộc Việt phát minh ra. Điều này ngược lại làm tỏ rõ bản quyền của các chữ (có quan hệ khắng khít với Nòng và Nọc là hai chữ thuần Việt) liên quan. Vì thế, chúng tôi cho rằng các chữ Long (hay Rồng), lạnh, lưỡng, lang, nương, Nam, Nữ, lòng, nông, u, nhu đều là tiếng thuần Việt, của người Việt.
Tất cả bằng chứng trên, chúng tôi cho là đã đóng vai trò rất quan trọng cho việc chứng minh kinh Diệc Nòng Nọc đã tồn tại và tồn tại từ thời xa xưa nhất (ngôn có trước ngữ hàng mấy nghìn năm). Và chứng tỏ tín ngưỡng phồn thực và triết lý Diệc (được hình thành từ tín ngưỡng đó) mang tính chủ đạo cho các hình thể văn hóa khác của dân tộc Việt sau này. Từ lúc bắt đầu nghiên cứu Dịch, chúng tôi đã thấy một hoài nghi(ở trên chúng tôi đã tô đậm hai chữ đó): tại sao chữ nam (trong nam nữ) và chữ nam (trong phương Nam) đọc theo kiểu Hán lẫn Việt đều giống nhau và về ý nghĩa âm dương chúng đều mang tính dương. Chúng tôi đã hầu như tin chắc là nếu như thế chỉ có thể hai chữ này được sinh ra bởi cùng một chữ. Thưa quý vị, bây giờ nếu chiếu theo ngôn ngữ Nòng Nọc thì chúng ta đã hoàn toàn sáng tỏ. Chữ nam cả nghĩa nam nữ lẫn nghĩa phương nam đều được hình thành từ biến âm của từ Nọc hay Nõn. Theo chúng tôi, điều này đã trở thành chứng cứ không thể chối cãi được của nguồn gốc Việt của Kinh Dịch (Diệc).
Những dẫn chứng về ngôn ngữ trên đây đã thấy có rất nhiều biến âm từ nọc nòng ra những chữ nghĩa khác nhau nhưng đều thống nhất một quan điểm: Nọc chỉ Nam, Trời, chỉ cây gậy (tượng Càn) hay từ thẳng, sinh thể đàn ông…và Nòng chỉ Nữ, Đất, chỉ tròn hay từ cong, sinh thể đàn bà. Trong khi đó, Kinh Dịch Trung Hoa cũng có những định nghĩa như trên về Âm(yin) và Dương(yang) nhưng lại ít thấy sự biến âm hợp lý từ các chữ Âm Dương qua những chữ liên quan đến nó (theo định nghĩa). Và những chứng cứ ngôn ngữ này cho chúng ta thấy Kinh Dịch được xây dựng trên lưỡng thể Nòng Nọc của người Việt Nam là đúng đắn.
khonglaai
01-08-2006, 04:42 AM
Bổ sung:
Có vài từ nữa:
Ví dụ:
1. Lớn=nhớn~nón~nõn~nọc; Nhỏ giống nhỡ~nữ~ nường~ nòng.
2. Cụm từ: rán, rang, ráng(cố lên, cố vươn lên, cố sức hơn một tý) đều tương đương với rướn. Cũng dính dáng đến nóng, thêm sức.
3. Lang: từ này rất quan trọng vì nó còn giải nghĩa một số logic hình thành những đặc điểm văn hóa quan trọng của dân tộc ta. Ở trên, chúng tôi đưa ra là nó có nghĩa đất . Dưới đây thêm ví dụ là nó đúng có nghĩa là vùng (hay vùng đất): người Việt chúng ta hay nói "có lớp có lang". Vậy lang ở đây có nghĩa gì? Quý vị xem hình vẽ dưới đây:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/loplang.jpg
Nhưng vậy lớp và lang được giải thích hợp lý.
lang ở đây còn khẳng định qua từ luống: lang~luống.
Chúng tôi sẽ giải thích thêm sau vào một mục khác.
Thân.
khonglaai
Thiên Sứ
01-08-2006, 07:46 AM
Anh Không Là Ai hay quá!
Anh nghiên cứu sâu vấn đề nay xem thế nào:
* Ngôn ngữ Việt giàu thanh âm nhất thế giới.
* Những từ cùng chỉ một tính chất có cách phát âm giống nhau hoặc tập hợp giống nhau :
Thí dụ:
- Tả về cái mặt: Mắt, mũi, miệng, môi, má , mi, mày đều vần "M".
- Tả về động tác: Bưới, bai, bới, bơi . bái....vần "B".
Ngôn ngữ dân tộc khác ít thấy hiện tượng này.
* Âm Dương là từ thuần Việt:
DƯƠNG = Giương (Giương cao), rướng (Ngóc lên, cong lên..), gương(tính trong sáng).
ÂM = chìm xuống, ẩn dấu, làm cho sâu xuống (hiện ở một số nơi, khi làm sâu xuống còn dùng cách nói "làm âm xuống". Có thể còn nhiều từ cổ khác trước đây dùng trong văn hoá và ngôn ngữ Việt đã thất truyền...
Tến của Bát quái hoàn toàn là từ thuần Việt , trên diễn đàn đã viết nhiều bài phân tích, anh tập hợp lại, bổ sung thành một luận đề nhất quán và hoàn chỉnh rồi công bố . Tôi và anh em sẽ cung cấp tài liệu anh cần .
Theo tôi nên tách hẳn vấn đề ngôn ngữ thành một đề tài riêng , so với công trình toán học của anh.
Thiên Sứ.
khonglaai
02-08-2006, 06:18 AM
Anh Thiên Sứ thân mến!
1. Ngôn ngữ Việt thuộc class A, class đầu: có nhiều nguyên âm, phụ âm vừa phải. Và có đến gần 20000 âm tiết. Tuy nhiên chưa là kinh khủng đâu. Tiếng Khơme có nhiều hơn: 30000-40000âm tiết. Dân tộc giàu âm lượng nhất là Miến Điện: gần 70000 âm tiết. Tuy nhiên, với 6 thanh dấu thì tiếng Việt thuộc diện biến âm bậc nhất thế giới.
2. Tiếng Hán chỉ có từ 500 đến 700 âm tiết mà thôi. Nếu xét quá trình biến âm thì tiếng các dân tộc Nam Dương Tử khá gần nhau về cách đọc, nguyên âm, phụ âm và lượng âm tiết cũng tăng dần đến dân Việt chúng ta bây giờ. Thỉnh thoảng tôi có đàm đạo với mấy học giả ngôn ngữ của Nga, họ cũng tỏ ra rất nghi ngờ, họ cho rằng nền móng của những văn hóa truyền thống Trung Hoa không thể đi đôi với sự nghèo nàn ngôn ngữ được. Phài có lý do khác giải thích cho sự phong phú của văn hóa Hán Hoa. Có một anh biết trò Civilizations hỏi tôi có biết chơi hkông? (Tôi cao thủ trò này) Tôi trả lời: Biết chứ. Anh ta giải thích: Cậu chỉ cần phát triển quân sự rồi đánh rồi cướp hết giá trị văn hóa của dân tộc khác. Lâu dần, ai biết đó là đâu nữa?! Hẳn nhiên, ai cũng bảo chính cậu là người làm ra. Tuy nhiên, phân tích mấy nghi án phần trên, tôi đã cho thấy người Trung Hoa chỉ kế thừa và thậm chí kế thừa từng mảng riêng biệt vì thế mà không hiểu cội rễ của nó là gì .
3. Dân tộc Việt vì sao lại ra nông nỗi này? Cái nông nỗi mà của chính mình làm ra lại nghĩ là của người khác! Cái nông nỗi chả ai còn hiểu ông cha mình vẽ gì lên trống đồng, tuy vẫn biết là Hai Bà Trưng có dùng trống đồng để đánh trận; nhưng nó có thuần túy để gõ không thì chả ai biết! Ra nông nỗi này thật ra chả có gì khó hiểu (hãy chơi civilizations). Đầu tiên, văn hóa Nam Dương Tử phát triển mạnh. Nhưng sau bị xâm chiếm, các giá trị văn hóa mất đi dần, bị cướp và chiếm đoat. Hiển nhiên, cướp văn hóa thì cướp luôn chất xám. Số còn lại chạy xuống phía Nam nhưng vẫn bị truy kích. Và hơn nghìn năm đô hộ thì chỉ biết ngửa mặt lên trời mà than: "Đến nông nỗi này vẫn còn may.". Dĩ nhiên, điều khó hiểu là rất nhiều học giả Việt không lo tìm nguyên cớ Việt trong các dấu ấn văn hóa Việt mà cứ lăm lăm đi tìm nguyên cớ Hán. Thói quen nô lệ chăng?!!
4. Trống đồng có thể phá đi, đun chảy thành đồng làm ngựa. Bãi đá cổ có thể đập nát và vì ngu dốt mà hủy họai. Nhưng văn hóa phi vật thể thì không thể nào. Chính vì thế mà tôi thấy một lần nữa anh Thiên Sứ đi đúng trọng tâm. Di sản phi vật thể là bằng chứng khó chối cãi được. Nhan nhản đây này: Đất Nước, chữ Nam cả trong Nam nữ và phương Nam(bắt nguồn từ Nõn~Nãn), chữ Nương trong nương rẫy và cô nương,...Nhiều lắm.
5. Cây di truyền ngôn ngữ như tôi đã phân tích trên đi từ vài chữ đầu tiên: Còn Không, Nòng Nọc được chi phối thậm chí là chỉ đạo bời tín ngưỡng phồn thực và kinh Diệc. Nhiều người muốn so sánh các ngôn ngữ của các dân tộc khác nhau. Phương pháp ấy đúng đắn, nhưng đó là việc làm của nhà ngôn ngữ. Còn với người làm về khoa học tự nhiên như chúng tôi thì cách xây dựng một cây di truyền ngôn ngữ là cách hay nhất trả lời cho câu hỏi: "Có hay không có sự chi phối một triết lý chủ đạo đến ngôn ngữ nói riêng hay văn hóa nói chung".
6. Và bài trên của tôi đã một phần cho quý vị thấy câu trả lời. Điều độc đáo ở đây đó là sự nhất quán cả ngôn lẫn ngữ. Tức ngôn được chỉ đạo chi phối bởi kinh Diệc qua hai từ Nòng Nọc thì ngữ cũng được hình thành theo lối khoa đẩu, thắt nút hay là chữ nòng nọc. Điều này chỉ chứng tỏ là tư tưởng đã được hình thành và ăn sâu vào nếp sống Việt. Khi chúng tôi làm xong công trình này, chúng tôi thấy vô cùng tự hào cho tổ tiên chúng tạ Tự hào rằng, có lẽ các đặc điểm văn hóa Việt Nam được xây dựng, được hình thành từ một triết lý nhất quán. Mà điều này thì chưa chắc dân tộc nào đã có.
7. Qua bài viết trên, quý vị còn thấy sự chu đáo và rạch ròi của người làm ra Kinh Diệc: họ không những phân biệt Nòng Nọc tính trong các danh từ như nam, nữ, lòng, nóc, trong tĩnh từ: nhu mì, cương, lỏng rắn, lạnh nóng mà còn trong động từ: nướng, rán, rướn, nhón và lòn, lộn, nong, lỉnh...
8. Anh Thiên Sứ quả tinh ý: thật ra tôi định viết là âm dương cũng đi từ ngôn ngữ Việt mà ra. Nhưng tôi định viết cuối cùng để cho mọi người nhận thấy giá trị thật sự của lý luận "cây di truyền". Thôi được tôi giải thích luôn; lấy các ví dụ của anh:
Từ Yang giống Giàng và giống giương của tiếng Việt. Từ âm~ ấn, nhấn(từ nhấn một số nơi đọc là yấn) hay yin~chìm. Tuy nhiên, nếu xét hệ thống theo dây di truyền thì các từ Nòng Nọc tình xoay quanh Nòng Nọc nhiều hơn. Và dĩ nhiên trong đó có cháu chắt nội ngoại xa của chúng là Âm và Dương(Ấn và Giương). Từ đây chúng ta có kết luận gì? Âm Dương thật sự là kế thừa, không phải kế thừa gần mà là xa. Vì thế, có một lý luận logic là khi một dân tộc sử dụng Âm Dương làm nền móng thì cái cội rễ tất nhiên không được hiểu thấu đáo. Và vì thế trong Kinh Dịch Trung Hoa có nhiều chỗ không logic, thiếu nhất quán.
Đôi điều thêm vào cho quý vị độc giả và anh Thiên Sứ biết ý đồ xây dựng quyển sách này của tôi.
Thân.
khonglaai
Thiên Sứ
02-08-2006, 06:32 AM
Hoàn toàn ủng hộ anh Khonglaai viết một cuốn sách - có thể tạm đặt tên là:
"Ngôn Ngữ Việt và nguồn gốc của thuyết Âm Dương Ngũ hành".
Theo tôi, vì chúng ta không phải là các chuyên viên ngôn ngữ học, cần có sự tham khảo của các nhà ngôn ngữ. Nếu cần thiết nữa , anh có thể đứng tên chung với một nhà ngôn ngữ nào đó mà kiến thức của họ đã được công luận xác định.
Nếu anh thấy chúng tôi có khả năng giúp gì được anh , tôi sẽ hết sức cố gắng.
Chân thành chúc anh thành công.
Thiên Sứ
khonglaai
23-08-2006, 06:58 AM
3. Nòng Nọc và Tính Nòng, tính Nọc:
Thật quan trọng là chúng ta cần phân biệt rõ Nòng Nọc và tính Nòng Nọc. Quan niệm tính nọc-gậy và tính nòng-tròn dùng để diễn tả những vật nhất định của chính thời Hậu Thiên có tính Nọc hay Nòng, thuộc Nọc hay Nòng. Nó hoàn toàn phù hợp với tín ngưỡng phồn thực thời thái cổ mà hình tượng điển hình là sinh thực Nam(gậy: nọcècọc(cây)è c.) và sinh thực Nữ (nòngèlòngè l. è trônè tròn). Điều này hoàn toàn không đối nghịch với hình của Nọc http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/Noc.jpg và Nòng http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/Nong.jpg bởi vì đây là hình của chính hai nguyên khí Nòng Nọc trong một Thái cực thống nhất. Còn “tính Nọc” hay “tính Nòng” bản thân chúng đã mang nội hàm Hậu Thiên, nên chúng mang dáng dấp của vật thể mang “tính nọc” và “tính nòng” cao nhất của thời vũ trụ đã thành. Đó là hình gậy ứng với Càn với hình tròn ứng với Khôn(đúng ra là hình vuông nhưng hình vuông khó vẽ vì thế người ta dùng hình tròn tiện hơn), hai sản phẩm thuần tính Nọc, thuần tính Nòng của hai nguyên khí Nọc Nòng. Hơn nữa, cũng chiếu theo tín ngưỡng phồn thực khi lấy nòng nọc làm hình tượng cho lưỡng nghi Nòng và Nọc thì người xưa tưởng tượng ra thân thể người đàn ông và người đàn bà với người đàn ông có một lỗ còn người đàn bà lại là hai; đến khi cần phân biệt tính nòng nọc của vật thể thì họ phân biệt trực tiếp vào sinh thực-đó là gậy và lỗ tròn.
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Phi%20Vat%20The/10td2-tnn.png
Và khi dùng Nòng Nọc như trên, người ta dễ hình dung và cũng để nhấn mạnh tính số học của bất kỳ sản phẩm nào của thời vũ trụ đã thành như các quái chẳng hạn. Ngược lại, dùng như thế cũng để diễn tả tính Nòng Nọc của tất cả hiện tượng, sự việc, sự vật kể cả các con số trong vũ trụ đã thành này. (Từ lý luận này, chúng tôi cảm thấy, có vẻ người xưa đã nhận ra như Platon một điều quan trọng: các con số gần với Thái cực nhất…Lúc còn hỗn mang chỉ tồn tại các số…Nhưng xin quý vị độc giả coi đây là cảm giác chứ không phải là khẳng định.)
4. Thằng và con:
Ai cũng biết người Việt chúng ta hay dùng hai từ này để gọi người nam và người nữ ở dạng suồng sã hay miệt thị. Hay đó chính là cách gọi dân dã không kiểu cách. Nếu chúng ta nói văn hóa Việt Nam được ảnh hưởng bởi tín ngưỡng phồn thực và triết lý Dịch thì theo chúng tôi không có gì trực tiếp chịu chi phối bằng hai hệ thống quan điểm này (thực ra triết lý Diệc được xây dựng nên từ tín ngưỡng phồn thực) như hai khái niệm này. Vậy điều đó có đúng không?
+ Triết lý Dịch: Cànè Chàng èThàng, ThangèThằng. Biến âm từ Càn đến thằng có một chuỗi mắt xích liên tục: Chàng (chỉ con trai) đến Thang chỉ cái dùng để đi lên trên hay cái cầu để cho con người gần Trời hơn có nghĩa là mang tính Càn hơn, Nọc hơn.
KhônèCon. Quá trình này còn được lặp lại bởi các âm cổ gọi vua Hùng: KhunèCunèHùng.
+ Tín ngưỡng phồn thực:
Thằng ~ thẳng, Con ~ cong. Thẳng và cong hiển nhiên về ý nghĩa dịch mang nghĩa tương đương với Nọc và Nòng (hay dương và âm). Tính tình: thẳng: thẳng thắn, cương nghị, thẳng ruột ngựa; cong: nhu mì, mềm mỏng, lươn lẹo, uốn éo. Hình dáng: thẳng là gậy; cong có dạng uốn như tròn. Phồn thực: thẳng là c. còn cong là l.
Xin mời quý vị xem hình sau:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Phi%20Vat%20The/thangcon.jpg
Hình dưới được lấy từ bãi đá cổ Sa Pa. Di sản vật thể. Quý vị có thể tìm thấy nó ở link này:
http://www.vietlyso.com/forums/showthread.php?t=4711
Những đánh dấu bằng số của người khác không phải của chúng tôi. Và người đánh dấu đã quên không đánh dấu sinh thực nữ. Chúng tôi dùng bức ảnh này để minh họa cho Diệc tính của hai chữ Thằng và Con mà thôi. Chứ chưa hề có ý định giải mã nó. Bài giải mã xin được trình bày ở một công trình khác.
Cần lưu ý thêm vài điểm nhỏ:
-Thằng và con là biến âm trực tiếp của Càn và Khôn. Điều này chứng tỏ, người xưa đã quan niệm con người là linh vật thiêng liêng: trên trời dưới đất ở giữa là người. Thằng và con đã được dùng để thay thế cho Nọc và Nòng-hai nguyên khí của vũ trụ. Tuy nhiên, người xưa không hề để cho các sự vật, hiện tượng đi vào chỗ xáo trộn. Cách sắp xếp của họ logic hơn nhiều. Nọc và Nòng và hai nguyên khí chung cho vũ trụ (kể cả thời chưa thành lẫn đã thành). Còn Thằng và Con lại là đại diện của Nọc và Nòng ở chính thời vũ trụ đã thành. Và Càn-Thằng, Khôn-Con tuy là thuần nọc và thuần nòng nhưng đều là sản phẩm của Nọc và Nòng.
-Sự biến âm mang tính Nọc Nòng không dừng ở đó. Người xưa đã dùng những biến âm triệt để hơn nhiều. Có thể qua nhiều thế hệ mới được kết quả như ngày nay. Nhưng điều đó cũng đủ để chứng tỏ một âm hưởng, một sự chi phối của một triết lý chung cho hầu hết các thế hệ người Việt cổ. Ngay từ thằng, tiếng Việt có 6 thanh dấu thì chúng ta có kết quả tính Nọc Nòng như sau:
+ Thằng: Chàng, Càn. Nọc tính
+ Thắng: Giành phần trội hơn ai đó. Nọc tính.
+ Thẳng: Nọc tính.
+ Thăng: Bay lên Trời. Nọc tính.
+ Thặng: thặng dư. Ý nghĩa cũng là trội hơn, lớn hơn. Nọc tính.
+ Thẵng: không có.
Còn chữ Con thì các từ của cụm ít có ý nghĩa. Nhưng nếu xét chữ cong thì cụm đó hầu hết mang tính Nòng:
+ Cong, Con: Khôn. Nòng tính.
+ Còng: dáng người có lưng cong xuống. Nòng tính.
+ Cõng: khom người xuống để đưa người hay vật nào đó lên lưng rồi di chuyển. Nòng tính.
+ Cỏng (không có).
+ Cóng: cảm giác lạnh giá. Nòng tính.
+ Cọng: cọng cỏ chỉ sự yếu ớt, lơ thơ, liễu yếu mày tơ. Nòng tính.
Từ đây, chúng ta cũng thấy cha ông chúng ta (và ngay cả chúng ta) từ trong tầm thức rất hay dùng những từ có biến âm gần giống nhau để chỉ sự vật, sự việc, hiện tượng, hành động mang ý nghĩa na ná giống nhau. Chúng ta hầu như không phân biệt đó có phải là Nòng tính hay Nọc tính , nhưng do khung ngôn ngữ (vài nghìn từ khởi điểm) trước đó đã được mang ý nghĩa Diệc dưới sự chi phối của tín ngưỡng phồn thực; nên thường về sau theo cảm giác mà thêm vào các từ mới có ý nghĩa na ná.
(Còn nữa).
5. Can chi hay chi chi chành chành.
Thân.
khonglaai
khonglaai
05-09-2006, 06:27 PM
Tôi quên biến mất là cần phải trình bày vấn đề này trước. Xin độc giả thứ lỗi.
5. Con và cái:
John và Hằng là cặp vợ chồng tài sắc. John thông thạo tiếng Việt còn Hằng cũng tiếng Anh như gió. Có lần Hằng về nhà thấy chồng mình đang vò đầu bứt tai ra chiều thiểu não. Nàng bèn hỏi:
-Anh có làm sao không vậy?
-Anh không làm sao cả. Nhưng tiếng Việt thật là phức tạp, anh chả làm sao phân biệt được khi nào dùng con và khi nào dùng cái cả.
Nàng ôn tồn bảo chồng:
-Rất dễ. Phàm cái gì mà động đậy thì gọi là con. Còn cái gì đứng yên, ít động đậy thì gọi là cái. Ví dụ: người Việt nói con sông, con suối nhưng lại gọi cái hồ, cái đầm.
-Oh, thật tuyệt. Hèn gì mà người Việt gọi cái của anh là con, còn của em là cái.
-!!!!!
Đấy, tiếng Việt chúng ta tuyệt như thế đấy. Và có lẽ là tiếng duy nhất phân biệt các vật thể qua tính động. Thế thì cũng nên truy nguyên lại vì sao ngôn ngữ chúng ta lại có điều đặc biệt thế. Với những định nghĩa Âm Dương ở trên thì vô hình chung con cái có mang nội hàm Âm Dương. Trong tiếng Việt của chúng ta có không ít những ví dụ về con cái.
Có khi chúng đi cùng: con cái chỉ là nhóm con của gia đình nào đó.
Có khi tách ra với cặp từ nào đó: con dại cái mang chỉ con mà hư đốn thì cha mẹ phải chịu lụy.
Rồi ngón cái, Bố Cái Đại Vương chỉ cái to lớn. Cái ở đây mang nội hàm to nhất, lớn cả và xét đồng âm giữa cái và cả ta thấy chúng có liên hệ mật thiết. Quý vị có thể tham khảo thêm ở trang này: http://e-cadao.com/Coinguon/timhieusuvietco-bocaidaivuong.htm (http://e-cadao.com/Coinguon/timhieusuvietco-bocaidaivuong.htm) (ở đây có nhiều điểm (*) chúng tôi không thể nào đồng quan điểm với ông Nguyên Nguyên được nhưng dùng tham khảo về từ cái rất bổ ích).
Vậy các nghĩa con cái phải quán chiếu qua logic nào mới có cũng chung một ý tứ. Vâng đó chính là Kinh Diệc của chúng ta. Con chung quy là bề dưới, nhỏ (nên chuyển động mạnh hơn), còn cái là bề trên, lớn, to, cả (nên chuyển động chậm hơn). Ở đây, chúng ta đã thấy một tiêu chí được đề ra cho tính động đó là sự vật chất hóa. Và một lần nữa tư tưởng Diệc của cha ông chúng ta lại trùng với triết lý của các nhà triết học Hy Lạp (điển hình là Aristotle). Càng đi về quá trình hình thành vũ trụ thì vật chất càng ngưng tụ lại, kết dính lại. Hay nói cách khác càng gần thể Nọc hay Dương hay càng gần thời điểm ban đầu của sự khởi điểm thì vật chất chuyển động mạnh hơn còn càng đi về sâu trong thời Hậu Thiên vật chất càng ngưng tụ chuyển động chậm đi. Con và Cái hai bản thể mang thuần túy tính vật chất và qua tính động thì Con gần Nọc hơn và Cái mang tính Nòng hơn. Còn quán chiếu qua Bát quái thì chúng ta thấy một hiện tượng rất hay. Con là Khôn hay là đất, đất bằng nói chung còn Cái là gì? Người Việt chúng ta hay nói từ “cấn cái” để chỉ bị lấn cấn, mắc phải một vật cản gì đó để khó lòng giải quyết việc gì đó. Cái~Cấn đã hình thành cho chúng ta một liên tưởng hình tượng: Con~Khôn~Đất bằng nhỏ nhoi còn Cái~Cấn~Non là hình tượng Núi to lớn, vững chắc khó lay chuyển. Đất có thể bị trôi, trùi, chảy đi nhưng Núi non thì khó lòng. Chắc quý vị có thể nhận ngay ra điều bất hợp lý? Tại sao Khôn là Nòng cao nhất mà Cái lại còn là Nòng cao hơn? Không có gì bất hợp lý và khó hiểu cả. Sự so sánh Cái và Con ở đây chỉ thuần túy là tính động của chúng, thuần túy mang tính quy tụ của vật chất. Mang ý nghĩa tương phản giữa đất bằng và núi non của ngay một vùng nào đó. Còn triết lý Dịch thì ý nghĩa Bát Quái thì Khôn=thuần Nòng là chỉ Đất nói chung (thậm chí là nguyên liệu chất) mà từ nó có thể tạo ra vạn vật hậu thiên kết tinh cùng với khí Trời. Ngay cả Núi cũng được tạo ra từ Đất-nguyên liệu tức Thuần Khôn.
Rồi sẽ có không ít người trong quý vị độc giả thắc mắc: tại sao khi thằng và con thì con mang tính Âm nhất còn ở đây con so với cái lại mang tính dương, tính động hơn?. Đây là câu hỏi mấu chốt mà chúng tôi thấy cần phải thuyết minh rõ ràng để chúng ta thấy được logic hình thành chữ nghĩa tuyệt vời của người Việt cổ (cũng như logic M của mắt, mũi, môi, má, miệng….). Thứ nhất, chúng ta biết sự phân cấp Dịch theo quy trình biến chuyển về vật chất hóa: Hư vôèThái Cực (đã có lưỡng nghi)èThời Tiên Thiên (phân ra bát quái)èThời Hậu Thiên (tính ngưng tụ cao hơn mà đại diện là các trùng quái bất dịch nói riêng cũng như 64 trùng quái nói chung)èBiến hóa vô cùng hay là Vạn vật. Vậy sự chuyển Dịch tới thuần khôn là một trùng quái là cấp gần như khởi điểm ban đầu. Thuần Khôn tuy so với với các trùng quái khác nó Âm nhất như so với thời “biến hóa vô cùng” thì nó cũng đã mang tính Nọc hay tính động hơn. Trong thời vũ trụ hình thành, Khôn là vật chất chủ soái, nguyên liệu chính hình thành vạn vật. Và tất cả vạn vật trong vũ trụ đều mang tính chất của Khôn~Con trong đó (tức có mầm của mẹ Đất), tuy nhiên khi phân chia tiếp theo hiển nhiên những vật gần con~khôn nhất phải được mang chữ con có tính động như trùng quái Thuần Khôn còn cái ở đây mang ý nghĩa tương phản về tính động theo chiều ngưng tụ vật chất hơn mà đại diện cho nó về hình tượng là Cấn=Núi to lớn. Thứ hai, quý vị quan sát hình giải nghĩa sau để thấy sự phân biệt của Tam Tài trong vũ trụ qua hình tượng ngôn ngữ tiếng Việt:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Phi%20Vat%20The/hinhminhhoacaicon.jpg
Ở hình trên, chúng ta thấy rõ tính Nọc Nòng bao trùm hay tính động hệ quả của nó có tính tương đối. Quan trọng là hệ quy chiếu. Đối với hệ quy chiếu này thì từ này mang hàm ý Nọc hay Nòng còn hệ quy chiếu khác lại mang tính ngược lại. Bản thân sự tương đối cũng được nội hàm trong câu “Trong Nọc có Nòng, trong Nòng có Nọc” hay “Trong Âm có Dương, trong Dương có Âm”. Tính uyển chuyển của Kinh Diệc lại được thể hiện lần nữa qua ngôn ngữ Việt. Chúng ta có thể nhận ra từ minh họa này một logic hoàn toàn hợp lý và đơn giản sau:
1. Trời, chỉ biết là thiêng liêng, là cái gì đó mang nội hàm đối nghịch với Đất nhưng không ai biết là gì và cũng chả biết nó phân ra thế nào nên Trời chỉ đơn giản có một. Cũng có lúc người ta nói bẩy hay chín từng trời nhưng hoàn toàn không phân biệt một cách vật lý được giữa chúng với nhau.
2. Người là bản thể thiêng liêng duy nhất mang trong mình sự hài hòa giữa trời đất. Chỉ có người mới mang hết tính của mẹ vạn vật (thái cực) và vả chăng trong Kinh Dịch cũng thường cho người là một tiểu vũ trụ. Mà người lại biết suy nghĩ, có tư duy lại sờ được nắn được và trên thực tế có hai tính. Vì thế, hai lưỡng cực của người được coi như đại diện của Nòng Nọc thời vũ trụ đã thành. Và thật logic khi cho thằng và con được biến âm đơn giản từ Càn và Khôn - hai thuần Nọc và thuần Nòng.
3. Đất chính là nghĩa của Khôn. Tất cả vạn vật được sinh ra trong vũ trụ được nặn ra, được hình thành từ đất trong đó có người. Tuy nhiên, vạn vật còn có vật vô tri, vô giác không chuyển động cũng có vật có tri có giác và chuyển động. Có hữu cơ và vô cơ. Để phân biệt chúng có thể dùng từ A chỉ cho vật có thể tự mình chuyển động và từ cái chỉ vật không thể chuyển động. Lại thấy người cũng là vật chuyển động (con người-cũng được sinh ra từ sự kết hợp giữa đất và trời và đang sinh sống trên mặt đất) nhưng sự chia của người có “con” thiên về Nòng tính hơn nên chi lấy luôn con làm chữ A đó. Lấy con làm chữ A còn sáng tỏ thêm tính lưỡng tính của nó; đối với hệ quy chiếu người thì âm tính còn hệ quy chiếu đất thì có dương tính. Nhìn qua hình vẽ ta cũng có thể thấy con nằm giữa cái và thằng.
4. Từ con tuy có tính động nhưng như trên đã phân tích nó mang nội hàm lưỡng tính. Và trên thực tế đối với động vật (trong đó có người) thì con có hai cực. Đến đây, quý vị độc giả sẽ thấy gì xảy ra trong logic luận của người xưa. Người ta lại lấy hai từ nọc hay biến âm gần của nọc là đực tính một từ mang tính Nọc cao nhất và từ Cái-từ mang tính Nòng cao nhất để chỉ thị cho hai tính này. [thật ra đối với người thì người ta lại lấy từ trai một biến âm gần của trời chỉ cho người tính Nọc và gái biến âm gần của cái chỉ cho người tính Nòng]. Sự quán chiếu Nọc Cái này chỉ rõ sự bấp bênh thiên về phần Đất-Khôn nhiều hơn của Con mà thôi (chung quy đối với Nọc là Nòng chứ không phải cái).
5. Như vậy, chúng tôi qua đồ hình minh họa đã chỉ rõ sự liên quan khắng khít giữa kinh Diệc và tín ngưỡng phồn thực. Và những từ đầu tiên chỉ giới tính và tính động trong ngôn ngữ Việt đã thấm đẫm tư tưởng của kinh diệc và TNPT. Tuy nhiên, phải chăng người xưa đã ngẫu nhiên dùng từ cái (với dấu ấn Diệc là cấn cái)??? Họ hoàn toàn có thể dùng từ khác như khổn, khồn, khon chẳng hạn với nội hàm cái gì đó đứng vững chãi (như đá chẳng hạn, rõ ràng trong ngôn ngữ Việt có từ kép là đất đá). Tại sao là Cái? Không thưa quý vị, người Việt cổ đã không chọn ngẫu nhiên mà họ đã được chi phối bởi tư tưởng Dịch ở mức sâu xa hơn. Trong “Kinh Dịch-sản phẩm….Quyển 1.”, chúng tôi đã giới thiệu với quý vị đồ hình HTBQÂL với chứng minh bằng toán học lẫn di sản vật thể là thời vũ trụ đã thành nghi Nọc được đại diện bởi các trùng quái bất dịch là thuần Càn, thuần Khảm, Tiểu Quá (ngay như từ Quá này ta cũng thấy nguồn gốc Việt của nó Quá~Quái~Kuái~Cái) còn nghi Nòng được đại diện bởi thuần Khôn, thuần Ly và Trung Phu vũ trụ khởi thủy đi từ Nọc cao nhất là thuần càn chuyển qua Nòng thấp nhất (Trung Phu; các trùng quái được phân đôi ra thành hai nghi Trời và Đất của thời Hậu Thiên) đi đến thuần Khôn và tiếp tục như thế ngược chiều kim đồng hồ như dòng người thú được vẽ trên trống đồng đi đến một vật tưởng như chừng Nòng cao hơn (không động và vì chiều đi vẫn tiếp tục thế) nhưng đã có chứa mầm mống của Nọc tính-đó là trùng quái bất dịch Tiếu Quá (nọc thấp nhất cũng là nọc bắt đầu của nghi Nọc thời Hậu Thiên). Thưa quý vị, đó là tư tưởng gì? Vâng, không còn gì khác chính là Nòng thái quá thì sẽ biến hay mang mầm mống của Nọc và Nọc thái quá lại mang mầm mống của Nòng. Hay là tư tưởng phổ biến của hầu hết các triết lý trên thế giới: hồi hướng, quay về, phản phục-càng đi ra tưởng là xa mãi nhưng hóa ra là trở về. Vậy, chỉ đơn giản với từ con cái nhỏ nhoi thôi mà đã chứng thực lại khẳng định trước đây của chúng tôi là linh hồn của Hậu Thiên Bát Quái chính là 6 trùng quái bất dịch. HTBQ được vẽ từ 8 bát quái nhưng có hai quái Tốn và Chấn được vay mượn để tạo với Đoài và Cấn hai trùng quái bất dịch. Và Khôn của thời Hậu Thiên luân chuyển theo chiều chuyển động vũ trụ không phải qua Chấn mà qua Tiểu Quá đặt ở địa điểm quái Cấn.
Nhân đây, xin hỏi: nếu quý vị nào chia sẻ quan điểm này của chúng tôi, thì xin quý vị cho biết (theo logic này) người Việt thái cổ đã gọi Thái Cực là gì? Và quái là gì? Tiếng Việt 100%.
* Ông Nguyên Nguyên nghiên cứu rất công phu về từ Bố Cái Đại Vương (trước đây có nhiều người đã đề cập vấn đề này, ví dụ, GS Trần Quốc Vượng cho rằng Bố cũng là Vua ~ Bua ~ Bố còn Cái là to lớn, Hán Việt là Đại. Và người Việt đọc vậy là kết hợp cả kiểu Hán lẫn kiểu Việt để nói đến vị thủ lĩnh Phùng Hưng nhằm tôn vinh một cách đặc biệt ông. Dựa vào lý luận này mà ông Trần đã quy nạp lên Hùng Vương cũng là cách nhấn mạnh kiểu “thủ lĩnh thủ lĩnh”), rồi suy ra Bố Cái Đại Vương nếu là tiếng Nôm thì cũng do người Hán sáng tạo hay đặt cho. Suy tiếp là chữ Nôm do các quan Hán sáng chế ra để dễ bề giao tiếp với người dân bản xứ. Quả là lý luận kỳ khôi! Chúng tôi chưa có thời gian nên không đề cập hết các điểm bất đồng trong lý luận của ông này, nhưng có một điểm có thể ai ai cũng thấy được: người dân ta lúc đó không ít thì nhiều cũng biết nói và biết đọc, biết viết tiếng Hán. Vậy phải sáng tạo ra tiếng nữa làm gì cho người ta dùng riêng rồi bản thân con cháu mình cũng phải học. Vả lại,khi các quan giao tiếp thì hay giao tiếp với tầng lớp quý tộc Việt thông thạo tiếng Hán (như gió) thì nhu cầu làm ra tiếng Nôm có phải bức thiết lắm không? Đó mới nói về nguyên nhân nhu cầu bức thiết. Còn về chính trị thì sao? Chúng ta thấy, người Trung Quốc chiếm đến đâu là cố công xóa bỏ văn hóa nước đó đến đó để dễ bề đồng hóa. Ngay như chúng ta cũng vậy thôi, việc gì phải bảo vệ thứ tiếng của chúng để chúng phát huy vai trò tự chủ rồi dần dần ta mất hết quyền lực. Tốt hết cứ xóa cái chúng đi và đưa cái của ta vào cho chúng học để dần dần chúng quên mất gốc mà một điều “chúng tôi là người Hán” hai điều “chúng tôi là người Hán”. Hiện tượng này đã thấy xảy ra nhiều nơi ngay đất Trung Hoa: người Mân Việt, người Nam Việt đã quên hẳn gốc của họ và luôn miệng bảo họ là Hán zhu. Mặc dù về sắc thái văn hóa và ngôn ngữ họ dùng có vô vàn thứ khác rõ ràng với văn hóa Hán tộc. Mới gần đây thì người Trung Hoa cũng thực hiện chính sách đó với người Tây Tạng, người Mãn Châu. Còn nếu bảo để dễ giao tiếp thì người Hán đã chiếm Mân Việt lâu lắm rồi mà dân ở đây đến bây giờ nói tiếng Miễn Nãn thì tại sao các quan Hán không làm cho họ thứ chữ mà xài!!! Chúng tôi luôn luôn cho nhiều học giả chúng ta đã quá thiên Trung, thiên Hán (tức là nghĩ người Hán cái gì cũng giỏi và họ mang văn minh đến cho các dân tộc phương Nam chứ không có nghĩa là thân Hán, thân Trung) nên nhiều ý kiến của họ đã mang một thành kiến chủ quan. Đối với tôi từ Bố Cái Đại Vương dung dị và đơn giản hơn rất nhiều: từ thời Phùng Hưng, dân ta vì tôn sùng ông đã gọi ông là bố Cả (hay bố Cái) với nghĩa Bố lớn, hay thủ lĩnh to nhất hay vua Cả. Phong cách dùng bố này cũng đã được khẳng định nhiều lần xưa hơn nữa. Người Việt cổ hay gọi vua Hùng là Pó Khun, gọi vua Lạc Long “Bố ơi về cứu chúng con”. Gọi mãi đến nỗi từ bố cái trở thành danh từ riêng Bố Cái. Đến về sau này, khi viết sử các quan sính chữ (cũng là các quan yêu chữ nho thấy chữ Việt nhà quê quá. Đơn giản họ thấy chữ Việt nó dân dã còn chữ Hán đọc qua Hán Việt nghe hay hơn chứ không hẳn họ mất gốc hay là thế nào khác. Không phải chỉ mỗi các sỹ phu Việt mới sính như thế mà tôi cho rằng sỹ phu nước nào cũng sính: đọc và dùng từ nước nghe có vẻ thanh nhã hay oách hơn. Mà thời đại nào cũng có hàng đống vị sính chữ như thế. Chuyện này tôi cũng có nói qua: các vua Trung Hoa khi đọc các từ Càn, Đoài biết là tiếng Hán có thể phiên qua thành Thiên, Trạch nhưng dùng thế không ép phê nên để nguyên tiếng Việt đọc cho thiên hạ hoảng. Có lẽ mấy từ này là từ Việt Hán đầu tiên) khi viết sử không biết làm sao tôn vinh ông Phùng Hưng; chẳng lẽ lại gọi Bố Cái trống không, nghe nó thô kệch thế nào ấy. Thế là họ lấy từ danh từ riêng (mà đúng là nó đã thành danh từ riêng, các quan ấy không muốn gọi là Bố Cái là Vua Bố Cái vì nghe nó cũng chưa hay lắm) Bố Cái đế thêm mấy từ Hán vào như Hán Cao Tổ, Khổng Tiên Sinh…cho thêm phần trọng vọng. Rốt cuộc ngài Bố Cái của chúng ta được các sử gia sính chữ Hán viết thành Bố Cái Đại Vương. Chỉ vậy thôi mà nhiều học giả phải tốn giấy, tốn công tìm ra nguyên nhân này, nguyên nhân khác…Còn ông Nguyên Nguyên nhờ chữ Bố Cái Đại Vương mà chứng minh được là tiếng Nôm do người Hán làm cho dân Việt xài!!!
khonglaai
15-09-2006, 02:26 AM
6. Can chi hay chi chi chành chành:
Tất cả chúng ta khi đọc đến Kinh Dịch thì ai ai cũng nằm lòng câu Thiên Can và Địa Chi. Thiên địa thì tất chúng ta phải biết là gì. Còn can chi tiếng Hán là cái gì? Và chúng ta lại nghe câu thiên cơ địa ngẫu. Ý nói thiên thì cơ định, đã định còn địa thì ngẫu nhiên. Luật trời đất là vậy. Ở đây thiên can và địa chi được dùng như nghĩa của mười can: Giáp, Ất, Bính, Định, Mậu, Kỷ, Canh , Tân, Nhâm, Quý và mười hai chi: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Chúng ta thử tìm xem thật ra ngoài nghĩa này từ can còn nghĩa gì khác. Vì có nhiều từ đồng âm nên chúng tôi xin lược dẫn hoàn toàn tất cả các từ có âm Hán Việt là can và chi cho tiện bề phân tích. Dĩ nhiên, với hy vọng với âm Hán Việt như thế thì người Trung Hoa cũng đọc giống như nhau. Chúng tôi xin dẫn từ trang: http://perso.orange.fr/dang.tk/langues/amhv.htm (http://perso.orange.fr/dang.tk/langues/amhv.htm) vần C và Ch tương ứng.
Can:
can (3n)
1 : Phạm. Như can phạm.
2 : Cầu. Như can lộc - cầu lộc.
3 : Cái mộc, một thứ đồ binh làm bằng da để chống đỡ các mũi nhọn và tên đạn.
4 : Giữ. Như can thành - người bầy tôi giữ gìn xã tắc.
5 : Bến nước. Như hà can-bến sông.
6 : Can. Như giáp , ất , bính, đinh, mậu , kỉ , canh , tân , nhâm, quý là mười can.
7 : Can thiệp. Như tương can - cùng quan thiệp.
8 : Cái. Như nhược can - ngần ấy cái.can (7n)
1 : Gan, một cơ quan sinh ra nước mật, ở mé tay phải bên bụng, sắc đỏ lờ lờ, có bốn lá.
2 : Can đảm, gan góc.can (7n)
1 : Cái gậy gỗ, cái côn, cái mộc.
2 : Tục gọi hàng chấn song ngăn ở trên cửa là lan can.can (7n)
1 : Lang can - ngọc lang can.can, cán (9n)
1 : Cây tre, cần tre, một cành tre gọi là nhất can. Ngày xưa viết bằng thẻ tre nên gọi phong thư là can độc, lại dùng làm số đo lường (con sào). Như nhật cao tam can mặt trời cao đã ba ngọn tre, thủy thâm kỷ can nước sâu mấy con sào, v.v.
2 : Một âm là cán. Cái giá mắc áo.kiền, can (11n)
1 : Một quẻ đầu tám quẻ (quẻ kiền) là cái tượng lớn nhất như trời. Như vua, nên gọi tượng trời là kiền tượng, quyền vua là kiền cương.
2 : Quẻ kiền ba hào dương cả, cho nên về bên nam ví như quẻ kiền. Như nói ngày tháng sinh con trai thì gọi kiền tạo, nhà con trai ở thì gọi là kiền trạch, v.v.
3 : Một âm là can. Khô. Như can sài củi khô.
4 : Khô kiệt. Như ngoại cường trung can ngoài có thừa mà trong thiếu.
5 : Tiếng hão (hờ), không có sự thực mà được tiếng hão gọi là can. Như can gia cha hờ, can nương mẹ hờ.Chi:
chi (3n)
1 : Chưng, dùng về lời nói liền nối nhau. Như đại học chi đạo chưng đạo đại học.
2 : Ði. Như Ðằng Văn-Công tương chi Sở Ðằng Văn-Công sắp đi sang nước Sở.
3 : Ðến. Như chi tử mỹ tha đến chết chẳng tới ai.
4 : Ðấy, là tiếng dùng thay một danh từ nào. Như Thang sử nhân vấn chi vua Thang khiến người hỏi đấy (hỏi ai ? tức là hỏi Cát Bá, chữ chi đây là thay hai chữ Cát Bá).
5 : Ấy. Như chi tử vu quy - người ấy về nhà chồng.chi (4n)
1 : Chi, thứ. Như trưởng chi - chi trưởng, chi tử - con thứ, v.v.
2 : Tránh, nhánh. Như chi lưu - dòng tránh. Phàm có một dòng mà chia ra nhiều dòng ngang đều gọi là chi cả.
3 : Giữ, cầm, cố sức ứng phó gọi là chi trì.
4 : Tính, nhà Thanh có bộ đạc chi - giữ việc tính toán, cũng như bộ tài chính bây giờ.
5 : Khoản chi ra.
6 : Chia rẽ. Như chi ly - vụn vặt.
7 : Ðịa chi, tí, sửu, dần, mão, thìn, tị, ngọ, vị (mùi), thân, dậu, tuất, hợi gọi là mười hai chi, cũng gọi là mười hai địa chi.
8 : Chân tay, cũng như chữ chi .
9 : Cành, cũng như chữ chi .chi (5n)
1 : Cái chén. Một chén rượu gọi là nhất chi, nguồn lợi giàn ra ngoài gọi là lậu chi.chi (7n)
1 : Chi chi - tiếng kêu.
2 : Tất chi - đồ dệt bằng lông.chi (7n)
1 : Tục dùng như chữ chi.chi (8n)
1 : Chân tay người, chân giống thú, chân cánh giống chim đều gọi là chi.
2 : Sống lưng.chi (8n)
1 : Một loài cỏ như nấm, mọc ở các cây đã chết, hình như cái nấm, cứng nhẵn nhụi, có sáu sắc xanh, đỏ, vàng, trắng, đen, tía. Người xưa cho đó là cỏ báo điềm tốt lành, nên gọi là linh chi.chi (10n)
1 : Kính, cung kính.
2 : Chỉ. Như thế thôi. Nhân sinh đại đại vô cùng dĩ, Giang nguyệt niên niên chi tương tự (Trương Nhược Hư) đời người ta đời này sang đời khác không cùng tận, (nhưng) mặt trăng năm này sang năm khác cũng vẫn như nhau.chi (10n)
1 : Mỡ tảng, mỡ dót lại từng mảng.
2 : Yên chi - phấn, đàn bà dùng để làm dáng.chi (11n)
1 : Cây dành dành, hột nó là chi tử dùng để nhuộm và làm thuốc, có khi gọi là sơn chi.chi (13n)
1 : Chống chỏi.chi, đê (9n)
1 : Biền chi - da dày, chai. Như thủ túc biền chi - chân tay chai cộp, nghĩa là làm ăn vất vả da chân da tay thành chai ra. Ta quen đọc là chữ đê.kì, chi (9n)
1 : Thần đất.
2 : Yên.
3 : Cả, lớn.
4 : Bệnh.
5 : Một âm là chi. Chỉ, vừa, những. Như chi giảo ngã tâm (Thi Kinh) - những làm rối loạn lòng ta.thị, chi (4n)
1 : Họ, ngành họ.
2 : Tên đời trước đều đệm chữ thị ở sau. Như vô hoài thị, cát thiên thị, v.v. đều là tên các triều đại ngày xưa cả.
3 : Tên quan, ngày xưa ai chuyên học về môn nào thì lại lấy môn ấy làm họ. Như chức phương thị, thái sử thị, v.v.
4 : Ðàn bà tự xưng mình cũng gọi là thị.
5 : Một âm là chi. Vợ vua nước Hung nô gọi là Yên Chi, ở cõi tây có nước đại nguyệt chi, tiểu nguyệt chi, v.v.Đọc hết chừng đó nghĩa của can chi thì chúng ta càng dễ thấy chúng không hề có liên quan gì đến cơ định và ngẫu nhiên cả. Duy có những ám chỉ: Can còn có nghĩa là Càn còn Chi có nghĩa là thần đất. Nhưng nếu dùng thêm nghĩa dẫn dắt của Càn và Đất để hình dung ra nghĩa rõ ràng và ngẫu hứng thì hóa ra như một người chết đuối tự nắm đầu lôi lên. Vì rằng cả Thiên Can lẫn Địa Chi và Càn Khôn ở đây đều được dùng trong Kinh Dịch.
Để tìm lại nghĩa thật, nghĩa đời thường của chi và can chúng ta phải quay ngược lại chốn thôn dã Việt Nam – nơi sinh ra những trò chơi trẻ nít tưởng chừng quá đổi tầm thường:
Chi chi chành chành
Cái đanh thổi lửa.
Con ngựa chết trương.
Tam vương ngũ đế,
Chấp khế đi tìm.
Con chim làm tổ
Ù à ù ập.
Lại sập xuống đây.
Có thể thêm một khảo dị sau:
Chi chi chành chành
Cái đanh thổi lửa.
Con ngựa chết trương.
Ba dương Thượng đế,
Bắt dế đi tìm.
Con chim làm tổ.
Ù à ù ập.
Lại (ngồi) sập xuống đây.
Và chúng ta ai cũng biết bài dịch của bản tuyên ngôn độc lập của Lý Thường Kiệt:
Sông núi nước Nam vua Nam ở.
Rành rành đã định ở sách trời.
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm.
Chúng bây sẽ bị đánh tơi bời.
Được dịch từ nguyên bản:
Nam quốc sơn hà nam đế cư.
Tuyệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm.
Ngữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Chành chành ở đây với nghĩa là rành rành: rõ ràng, đã sáng tỏ.
Còn chi thì sao? Người dân miền Trung Bộ bây giờ hay hỏi: Nói cái chi rứa? (nói cái gì vậy? Gì thật ra cũng là biến âm của chi). Hay có câu: Cậu này nói chi chi không nà. Nói chi chi là nói tầm phào tầm phớ, vô thưởng vô phạt, nói lăng nhăng…Như vậy chi ở đây là chỉ sự chưa tỏ tường, là nghi vấn cần được tìm hiểu để biết thêm.
Chúng ta lại xét những biến âm đơn giản: Can~Càn~chàng~chành. Như vậy, chỉ qua tiếng Việt của chúng ta thì từ Thiên Can Địa Chi mới toát lên nghĩa thiên cơ và địa ngẫu được. Sự liên quan giữa chi chi chành chành với can chi một lần nữa được khẳng định bởi ý tứ của bài đồng dao trên.
Đanh = Đinh, Lửa= Ly. Ngựa=một con vật trong 12 cung Tử Vi. Dế là lệch âm của Dê (nhằm mục đích hợp vần của bài ca). Dê là vật sau Ngựa. Nếu tính về Mệnh thì Ngựa và Dê sẽ cùng mệnh. Ba dương=Càn (có vay chữ Dương. Có thể bài ca làm sau khi những khái niệm cơ bản của Dịch học Trung Hoa đã vào Việt Nam. Tuy nhiên, vì nội dung Dịch học đã ăn chặt vào quần chúng nhân dân nên nội dung của Dịch có thể khác nhau. Ta không thể nói vì chữ Dương mà Dịch Việt đang dùng chính là Dịch Trung Hoa. Thật ra chưa chắc từ Dương này là tiếng Hán. Vì như phần nòng nọc chúng tôi đã viết: càn~chàng, chang~chương~trương~giương~dương. Còn nguồn gốc Việt của Càn chúng tôi đã đề cập đến và chắc có lẽ sẽ đưa vào quyển hai này.) mà Càn chính là Trời=Thượng Đế. Ngoài ra, nếu hiểu nghĩa ba vương và ngũ đế theo nét độc đáo là câu duy nhất có sự lặp lại của hai con số có thì có thể tác giả bài đồng dao muốn người ta chú ý đến tính số học. Và vì là một câu nên có thể họ ẩn ý ở đây nói về con số 8: 3+5=8=0(mod 8)=Khôn. Sự vay mượn chữ vương cũng cho thấy tượng Khôn (anh phapvan diễn giải). Chúng tôi sẽ nhắc lại vấn đề này sau. Các câu thơ đều dùng nhiều tiếng thuần Việt, ngoài ra không câu nào ăn nhập câu nào. Và ý nghĩa bài thơ tổng quát nói gì cũng không rõ. Chúng tôi thừa nhận nếu không đưa những ý niệm Dịch vào bài thơ này thì chúng tôi hoàn toàn không hiểu bài thơ nói gì. Thế nhưng bài ca này rất phổ biến trong dân gian, bắt buộc nó có ý nghĩa nào đó sâu nặng đối với dân tộc ta. Và có lẽ không có cái gì sâu nặng bằng tư tưởng Dịch. Ngược lại, chỉ có thể dùng ngôn ngữ Dịch mới hiểu được bài ca đầy trúc trắc trục trặc này. Dù tác phẩm gì đi chăng nữa thì khi sáng tác, người ta luôn luôn làm cho các tiểu tiết đi vào một thể thống nhất. Dù chưa hiểu (xin xem phần giải mã của Nguyễn Vũ Tuấn Anh và anh phapvan) ý bài đồng dao này nói gì nhưng sự liên quan dày đặc của nó đến kinh Diệc cũng cho ta kết luận chữ chi chi chành chành cũng có liên quan với Dịch và sự liên quan này đến lượt mình khẳng định lại một lần nữa nguồn gốc Việt của can chi.
khonglaai
(còn nữa)
khonglaai
29-09-2006, 05:02 AM
7. Hành trình huyền bí về Trời của các chữ Tr:
Đường em đi là đường bên phải. Đường ngược lại là đường bên trái...
Quý vị có thể nói tác giả có nhầm chăng? Quy ước, luật lệ giao thông giỏi lắm chỉ được xuất hiện thế kỷ 20 là cùng. Mà cũng chả phải của người Việt Nam ta...Vâng, đúng thế. Ý chúng tôi ở đây là nói đến một sự trùng lặp khá đặc biệt. Sự trùng lặp này chỉ xuất hiện trong ngôn ngữ Việt Nam và đến nay cũng chưa ai giải thích. Nhưng trước tiên, chúng tôi xin đề cập đến một số vấn đề khác.
Người Kinh chúng ta hay gọi trời là Trời. Còn người dân tộc miền Bắc gọi là Giàng. Như đã nói về nguồn gốc chữ Càn chúng tôi sẽ dẫn sau (thực sự trong topic này đã dẫn rồi. Nhưng vì viết lại sách cho hợp lý hơn nên sẽ đưa phần đó vào chương sau của quyển này). Những biến âm gi và tr gặp không ít trong ngôn ngữ Việt Nam:
Giương-trương
Giun-trun (trùn)
Giết (diệt)-triệt
Giời-trời
Giành-tranh
Giang (giang rộng)-trang (trang trải)
Vì thế, biến âm từ: giàng sang trời không hề khó hiểu. Có chăng là nguyên âm. Nhưng chúng ta thử nghĩ đã bao đời nay, người dân thống khổ có gì mà không kêu trời, một vị thượng đế tối cao mà người người đều tin là có thể giải mọi nỗi khổ trên thế gian này. Có lẽ trời được hình thành từ kiểu kêu của người xưa:
Giàng ơi è giời è trời.
Vậy chúng ta có thể thấy qua bao nhiêu biến âm, người dân ta đã chuyển hóa dần dần từ Cànè GiàngèGiờièTrời. Nói như vậy không có nghĩa người Việt thôi dùng những từ đó song song. Tuy vô thức, nhưng người Việt ta cũng hay nói: làm càn, nói càn, càn quấy. Biến âm từ Cè Tr cũng thỉnh thoảng được gặp số nơi. Theo các nhà ngôn ngữ là khá hiếm (nếu như xét quá trình biến từ cèchètr thì cũng không đến nỗi quá hiếm), nhưng vẫn có:
Con, congètròn
Cươngètrương
Cồn (cồn cỏ)ètrảng (trảng cỏ).
Kuân (Quân trong quân bình)ètrung (trung bình)
Đến đây, chúng ta bắt đầu xét những biến âm từ Trời. Và chúng ta sẽ thấy tính thiên Trời trong ngôn ngữ Việt nam:
1. Đầu: Tiếng Việt: Đầu, Hán Việt: Thẩu, Thủ. Thực sự đầu mà chúng ta thường gọi bây giờ là tiếng Hán Việt bắt nguồn từ biến âm thèđ. Nhưng tiếng Việt cổ mà cư dân miền Trung Bộ còn giữ là Trốt. Vâng logic đơn giản đầu gần trời nên nếu xét tiêu chuẩn “gần thì lấy thân mình” thì TrờièTrốt.
2. Bánh trôi: là dạng bánh dày với câu cửa miệng: bánh trôi, bánh dày. Bánh trôi và bánh dày được sử dụng để đối với bành chưng theo nghĩa bánh trời và bánh đất. Ta lại thấy biến âm quá đơn giản: TrờièTrôi.
3. Trai, Nam. TrờièTrai. Còn Gái là biến âm gần của Cái.
4. Trai (ngọc trai, con trai). Thuở xa xưa khi người ta chưa có phương tiện tìm ra nhiều đồ trang sức quý giá thì chắc có lẽ ngọc trai được ngậm trong người con trai là thứ tương đối dễ kiếm và chắc được tìm ra đầu tiên. Hiển nhiên, nếu như vậy thì có gì trắng ngần, ngọc ngà, tinh khiết bằng ngọc trai??? Vì thế, ngọc trai đã được gọi một cái tên mang tính dương nhất, gần trời nhất để chỉ tính trong sạch của nó. TrờièTrai.
5. Trưa: Nói về khoảng thời gian gần kề cận với chính Ngọ (12-00h). Khi mặt trời lên cao nhất và trái đất được chiếu sáng tỏ nhất. Lại là TrờièTrưa. Ở đây, xin đề cập đến chữ sáng, ban sáng, sáng sủa. Xét biến âm cũng dễ dàng cho thấy Sáng đi từ càn. Tuy nhiên, sự phân biệt giữ sáng-càn với trưa-trời khá rõ ràng: sáng là nói sự sáng lên, sự tỏ rõ đối ngay với u tối, đêm đen vì thế nó được biến âm từ từ Càn-Trời (đây là khái niệm Trời triết học) nói chung. Còn trưa nói chính xác đến mặt trời, vì thế trưa biến âm trực tiếp đến Trời.
6. Trước: phía trước là phía nhìn thấy được, rõ ràng, minh định. Phía sau không rõ ràng. Tính Nọc. Trờiètrước.
7. Trán: Trán trên cao đồng thời lại hướng về trước. Trên khuôn mặt, trán là khoảng rộng nhất, rõ ràng nhất. Như vậy, trán mang tính dương. Và biến âm cũng cho thấy thế: trờiètrán.
8. Trên: Trên đội trời dưới đạp đất. Vậy trên cũng mang tính trời. Trờiètrên.
9. Trắng: màu rõ ràng minh bạch sáng sủa. Cũng mang tính Trời hay tính Nọc.
10. Trái. Tay trái, bên trái. Lại là một chi phối của Kinh Diệc với quy tắc Nam tả Nữ hữu. Ở đây, rõ ràng đã có tính ưu tiên cho trời trước. Phải khó có thể là biến âm gần của đất hay khôn. Người xưa coi trời là thiêng liêng nên những gì dính dáng đến trời cần phải đề cập trước: Với Nam tả nữ hữu thì trái tượng trưng cho trời: trờiètrái. Còn phải thì người ta dùng từ luyến láy với trái.
Nhưng có một trùng hợp lạ lùng nhất, không phải trùng hợp lạ lùng về quy tắc đi lại của người Việt cổ với người hiện đại bây giờ đâu (tuy quả là có trùng hợp ngẫu nhiên thật); ở đây chúng tôi muốn nói đến sự trùng hợp khác lý thú hơn nhiều. Đó chính là sự trùng hợp của cả hai từ trái phải trong bên trái, tay trái; bên phải, tay phải và trái phải với nghĩa sai đúng (sai đúng là từ nhập từ Hán sai~suô, đúng~tui). Người phương tây có sự trùng lặp nhưng chỉ giữa từ right (tiếng Anh có nghĩa là bên phải và đúng) hay правый (tiếng Nga: правый bên phải và вы правы có nghĩa là anh đúng). Và sự trùng lặp này có từ tư tưởng mang sắc thái chính trị hơn là cái nhìn về vũ trụ quan. Phải có một lý do xác đáng nào đó để người ta quyết định dùng hai từ (nếu một từ như right thì xác suất còn lớn. Ở đây là cả hai từ) để nêu lên nghĩa cho hai phạm trù ngữ học hoàn toàn cách biệt. Một bên hình tượng, một bên trừu tượng. Vâng, thưa quý vị. Để giải thích sự trùng hợp đó thì không có gì đơn giản hơn bằng vũ trụ quan của người Việt cổ. Mà nó được in ấn rất nhiều lên trống đồng:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-7-MatTrongNgocLu1.jpg
Nhìn các vòng chuyển động của người thú đều đi theo ngược chiều kim đồng hồ. Vậy, ta dễ dàng nhận thấy bất cứ người nào trong vòng tròn đó cứ đi qua phải thì đi đúng với chiều chuyển động của vũ trụ tức đúng còn đi qua trái là ngược chiều tức là sai. Sự trùng lặp có một không hai trong lịch sử ngôn ngữ nhân loại này chỉ có thể giải thích bằng chiều vận động của vũ trụ đã được khắc hầu hết trên các trống đồng Việt Nam. Và chúng tôi cho rằng, dấu ấn “trái phải” kết hợp với trái là biến âm từ trời để chỉ thị Nam tả nữ hữu này là bằng chứng ngôn ngữ không thể chối cãi được là người Việt đã có những kinh nghiệm thiên văn sâu sắc và góp phần chứng minh cho nguồn gốc Việt của Kinh Dịch. (Người Trung Hoa có trời là tian-đọc giống thien, (bên) trái là zuỗ, (bên) phải yõu, đúng là tui, sai là suô.).
Mười ví dụ (hẳn nhiên trong bộ sưu tầm Tr-Trời này có thể còn các từ khác) ở trên mong quý vị độc giả phân biệt rõ: đó là những ví dụ thuần Việt và mang tính trường tại. Vì kể cả ngày xưa từ khi loài người biết nói đến khi làm ra kinh Dịch lẫn tận đến bây giờ các ý nghĩa hình tượng của nó vẫn thế và đơn giản. Nói tóm lại, các khái niệm đó đập vào mắt mọi người hàng ngày và mãi mãi. Chính thế mà nguyên tắc trời hay những nguyên tắc Dịch mới được triển khai ở đây. Còn giả như có độc giả nào bảo chỉ ra tính trời của chữ trường thì làm sao chúng tôi làm được. Bởi vì, trường được nhập từ Hán ngữ thì nguyên tắc Trời của các chữ Tr làm sao triển khai ở đây và chữ thuần Việt của trường chính là Dài. Hay như đối với nghĩa trường là trường học cũng vậy: khái niệm này mới xuất hiện cùng lắm khoảng 2000 năm cách đây mà kiến thức dịch đã chi phối cho các từ thông dụng lại có trước đó. Hoặc như chữ trơ (trơ trẽn, khí trơ) cũng vậy, nó là từ mà độ hình tượng đã đến mức phức tạp, vậy thuở xa xưa kia (lúc bắt đầu có Dịch) người xưa đã làm gì hình dung đến nó. Vì thế nguyên tắc dịch cũng khó ảnh hưởng đến từ trơ này. Mặc dù, theo nguyên tắc biến âm qua các cấp khác nhau từ trơ (hoặc các từ khác) có thể được dẫn tới nhờ từ những chữ có trước đó và đôi khi những chữ đó lại có mang âm hưởng dịch. Nhưng để xét tính Nòng Nọc của từng chữ phải quay lại từ nguyên thủy và thiết lập lại cây di truyền ngôn ngữ qua mọi thời đại. Đến lúc đó, quý vị sẽ nhận ra có vài từ bắt đầu từ Tr nhưng vẫn mang tính Nòng hay Đất. Chính mối liên hệ Trời-Tr (s-số nhiều) đơn giản cho những từ hình tượng đơn giản này càng tỏ rõ nguồn gốc Việt của kinh Dịch đồng thời chỉ ra thời điểm cổ xưa của mốc mở đầu Dịch lý.
Quý vị cũng thấy ngôn ngữ Việt Nam độc đáo ở chỗ có nhiều cụm đồng phụ âm mà đặc sắc nhất là hiện tượng M. Hiện tượng này chúng tôi xin hẹn quý vị một phần khác. Ngoài Tr, còn nhiều hiện tượng đồng âm khác:
-Đ dính dáng đến chân: đi, đứng, đạp, đá, giẫm/dẫm, …
-B: bầu, bồn, bình, bể, biển, bồ, bô, bụng,…
-M: miệng, môi, má, mi, mí,mắt, mặt, miệng, mép, mày, mũi…
Tuy nhiên, chắc quý vị cũng ngạc nhiên vì sao Đất? Tại sao là Đ? Nếu giải nghĩa theo Dịch thì Đất chính là Khôn. Có biến âm gì thì cũng lắm là khôn, chôn, khất, chất…chứ tại sao là Đ? Sự lệch nhau hoàn toàn giữa Đất và Khôn gây nhiều thắc mắc. Điều này cần phải có giải thích rõ ràng. Theo chúng tôi, có thể có một giải thích hợp lý sau:
-Thứ nhất, trong phần giải nghĩa tính số học của các quái (và nghĩa số học của các quái chính là nghĩa đầu tiên), chúng tôi đã có dẫn: người xưa đã tạo ra những cặp 1-Càn và 0-Khôn (không) để chỉ thị sự có và sự không. Tạo ra cặp 1-Càn và 2-Đoài để chỉ cái tồn tại tính Dương và cái tồn tại tính Âm. Tạo ra 3-Ly và 4-Chấn để chỉ số Lẻ và chẵn đầu tiên, tạo ra 5 tượng trưng cho tính toán và tạo ra cặp 6-Khảm (nguyên thủy là Công-gõng) và 7-Cấn để chỉ phép tính cộng và phép tính trừ. Chính vì thế, ngay từ thuở ban đầu đã thấy sự phân cặp rõ ràng của Càn-Đoài. Mà ý nghĩa cũng rõ ràng, đó là những cái tồn tại (có thể hình dung) mang thuộc tính Nọc hay thuộc tính Nòng.
-Thứ hai, Càn-Khôn chỉ trời và đất nói chung mang tính triết học. Tức hai bản nguyên của vũ trụ hay còn có nghĩa hai tinh chất của Thái Cực mà từ đó có thể tạo ra vạn vật. Đôi khi, chúng đồng nghĩa với Nọc và Nòng. Bởi thế mà chúng tôi có nhắc lại rõ ràng về hình tượng của hai nghi và hình tượng mang tính hai nghi. Còn Càn-Đoài ở đây mang tính hình tượng rõ ràng: Càn ở trên cao và Đoài thì trũng xuống, còn Khôn thì tuy là đất thật nhưng không có hình tượng trũng xuống như đoài. Mà đều này cũng phù hợp với nguyên tắc đối kháng của Cái tồn tại tính Nọc và Cái tồn tại tính Nòng như trên đã nói.
-Thứ ba, ngay như trong hình tượng được chúng tôi phục hồi lại cũng cho thấy (trống đồng Lũng cú) Càn có dạng hình gậy còn Càn có hình cái bát lõm xuống.
-Thứ tư, nếu xét đến Hậu Thiên Bát Quái tức là nơi vũ trụ đã hình thành được xây dựng bằng 6 trùng quái bất dịch thì rõ ràng Càn đối với Đoài qua chính mặt phẳng nằm ngang.
Qua 4 lý do trên chúng tôi cho rằng người ta đã lấy âm Đoài để đặt cho đất hay ngược lại. Tóm lại Đất ở đây nó mang tính hình tượng nhiều hơn là Khôn (mang tính triết học). Tuy nhiên, cũng không phải hoàn toàn không có dấu ấn của Đất hình tượng trong Khôn. Nói đúng ra, có sự kết hợp của cả âm của Đoài (trùng quái Trung Phu đặt tại Đoài, bắt đầu phần Đất của thời Hậu Thiên) và Khôn.
Đoài çè Đất çèChất (chất chứa)çèChôn (~đào xuống)çèKhôn
Ở đây chúng tôi không dùng các dấu tương đương cho việc chứng minh các chữ đó cùng gốc, mà chỉ muốn nêu ra rất nhiều từ hậu sinh có thế mang tính Đất đi từ cả hai phụ âm đ và kh/ch.
Như vậy, nếu xét đất mang dư âm của Đoài hay ngược lại thì ta cũng giải thích được hàng loạt chữ mang tính đất sau:
-Cơ thể động vật: đuôi, đít.
-Động từ thuộc chân: đi, đứng, đạp, đá, giẫm/dẫm, …
-Động từ khoét sâu: đào, đục, đẽo,…
-Danh từ: đầm, đìa, đêm (thuộc bóng tối-tính đất) (còn chiều thì lại mang ch như chôn, chất…đi từ Khôn).
Giang Minh Sài
29-09-2006, 11:54 AM
Bác Không Là Ai kính mến,
bác xem lại hộ bài viết trên, hình như font chữ có vấn đề, không hiển thị đúng một số chữ cai...
Nếu tại font, thì bác có sửa được không?
Thên mến,
Giang Minh Sài
khonglaai
01-10-2006, 02:06 AM
Bạn GiangMS thân mến,
Dạo này vào vietlyso có phần trục trặc và chậm nên tôi ngại vào. Không hiểu vì sao máy của bạn lại hiển thị không rõ vài chữ, chứ máy của tôi thì không bị lỗi ở chữ nào cả. Tôi dùng loại font unicode-cách đánh của UNIKey363.
Bạn thử kiểm tra lại máy của mình hoặc hỏi lại Ban QT thử xem sao.
Thân.
KLA
lưu hoàng Văn
15-10-2006, 07:11 PM
Ông trạng đó là Mạc đỉnh Chi đời nhà Trần sự tài giỏi của ông làm vua Tàu phải nể phục phong cho ông làm Lưỡng Quốc Trạng Nguyên
khonglaai
20-10-2006, 01:07 AM
8. Tay chân:
Chúng tôi cho rằng tín ngưỡng phồn thực là tín ngưỡng thực dụng nhất. Ở đó, con người được mô tả đầy vẻ hoang sơ và gần gũi với thiên nhiên. Con người và thiên nhiên giao hòa nhau, tuy hai là một tuy một là hai vậy. Quan sát thấy sự giao hoan của con đực và con cái, người nam và người nữ, người thái cổ (bất cứ sắc dân nào trên hành tinh xanh này) đã nhận rõ hai bản thể của trời đất. Một Nòng một Nọc. Một Âm một Dương. Và thiên nhiên vĩ đại cũng vậy. Quy luật đó là thống nhất. Thiên nhiên cũng có sự giao hoan giữa trời và đất để sinh ra toàn thể vũ trụ. Bởi thế khi sáng tạo ra triết lý Dịch mà người Việt thái cổ lại không để ý đến các bộ phận ngay trên cơ thể mình thì thật là vô lý.
Lẽ tất nhiên, người Việt cổ không thể nào mắc phải cái vô lý đó. Chúng ta nhận thấy ngoài thân mình ra thì các bộ phận thòi ra đó là đầu và tứ chi. Điều hầu như chắc chắn là tín ngưỡng phồn thực và triết lý Diệc sẽ chi phối và ảnh hưởng đến cách gọi của đầu và tứ chi ngay từ những ngày chúng xuất hiện đầu tiên nhất. Bằng những ngôn từ gần gũi nhất với Diệc lý.
Vâng, tại sao không?! Đầu hay đúng hơn là trốt là biến thể gần của trời. Còn tay chân, lẽ nào lại không? Bàn tay để hái lượm, để bám víu, để phóng lao diệt thú, để vuốt ve, bàn chân để chạy nhảy, để tránh né sự tấn công của thú dữ, để đạp lúa...Bao nhiêu đó cũng đủ thấy chúng hữu dụng như thế nào dù thuở xa xưa mọi chuyện sinh hoạt khá đơn giản.
Và cả chúng ta, tôi, bạn hay người thái cổ đều dễ dàng nhận thấy: tay ở trên, chân ở dưới (điểm này chúng ta còn phải thấy cấu tạo đặc biệt của con người: khác với thú chúng ta đứng được bằng hai chân). Tay với trời, chân giẫm đất. Như vậy, chúng ta có thể tiên đoán tay có nghĩa gần trời và chân có nghĩa gần đất. Chúng ta hãy cùng nhau xét xem:
CànèChàngèChươngègiươngègiàngègiơ ièdày (bánh chưng bành dày)ètay.
Tay có liên quan đến trời được khẳng định trong câu chuyện chàng Lang Liêu làm ra bánh chưng bánh dày với bánh chưng hình vuông tượng đất và dày hình tròn tượng trời. Thế nhưng, chúng ta thử phân tích biến âm từ gi, dèt có phải là phổ biến không. Chúng tôi cho rằng biến âm này rất phổ biến và có thể chỉ đứng sau biến âm n~l và l~r mà thôi:
Tố-gió (dó) : bão tố hay giông gió
Tiệt (tiêu)-diệt : làm tiệt nòng đi, diệt không còn một mống
Tâng-dâng: tâng bốc, tâng lên (làm cao lên), dâng lên, dâng trào.
Tiêu-diêu: Tiêu diêu miền cực lạc.
Tép (tệp)-dẹp: Dẹp lép như con tép. Một tệp (rau, giấy): chỉ cái gì đó được bó mỏng lại, hình dẹp.
Vậy tay qua các biến âm hiện tại vẫn còn được dùng như giàng (trời), dày (trời) đã được dùng như nghĩa của trời-càn.
Khônèconèchôn (động tác đưa cái gì đó xuống sau trong lòng đất)èchưng (bánh chưng), chưn(đồng bào Trung bộ ngày này vẫn còn gọi chân là chưn), chân. Các biến âm khèch cũng hay gặp trong ngôn ngữ Việt nam.
Khúc (khúc cây)– chạc (chạc cây). Có thể gọi khúc sông hay chạc sông, nhưng vì lâu đời nên bây giờ biến âm thành vạt sông.
Khứng (khứng cho) –chứng (chứng cho). Ông bà khứng/chứng cho.
Khựng-chựng
Khánh –chuông.
Khắc – Chạm.
Vậy chân, chưn qua các biến âm hiện tại vẫn còn được dùng như chưng (bánh đất), chôn(đưa cái gì đó xuống đất) đã được dùng như nghĩa của chân-đất.
Dấu ấn Dịch của tay chân (qua mối liên hệ Càn-Tay và Khôn-Chưn, chân) lại được khẳng định một lần nữa nhờ câu chuyện chàng Lang Liêu làm ra bánh chưng bánh dày và ngược lại. Nói tóm lại, khó có thể cho là ngẫu nhiên khi bánh trời (dày), bánh đất (chưng) và chi với trời (tay), chi đạp đất (chân) lại có ngữ âm giống nhau đến vậy. Phải có một logic chung chi phối sự hình thành của chúng. Và như đã phân tích trên, chỉ bằng logic Dịch mới giải thích hiện tượng (trùng hợp) này một cách đơn giản được.
Sự chi phối của Dịch hoàn toàn không dừng ở đó. Ngay trong âm “Chưn, chưng” thôi chúng ta có thể tìm thấy một ví dụ (chứng thực) nữa. Đó là biến âm đơn giản sau: chưngètrưngètrứng. Trứng là gì nếu không phải là cái nôi nuôi muôn loài. Mọi loài vật từ đó mà ra. Và suy luận đơn giản cho thấy Trứng chính là tượng trưng cho mẹ (giống cái). Một lần nữa mẹ Khôn qua biến âm đơn giản (mà biến âm này đã được sử dụng nhiều lần) để cho ra từ Trứng cũng tượng trưng một thứ thuộc về mẹ hay giống mẹ.
Đọc đến đây, bất kỳ trong ai cũng dễ dàng nảy ra câu hỏi: “thế còn Hai Bà Trưng?”. Vâng, Trưng ~ Trứng, chưng và là họ thời cổ (ít ra đó là họ mà nhân dân đã phong cho những thủ lĩnh vĩ đại nào đó), lẽ tất nhiên không thoát khỏi ảnh hưởng của Diệc lý. Và chúng tôi sẽ bàn thêm về từ Trưng và Trứng ở phần sau. Quý vị sẽ thấy ảnh hưởng không những nằm trong phần biến âm (ngữ âm) mà còn sâu xa vào các nguyên lý Diệc.
(còn nữa)
khonglaai
khonglaai
20-10-2006, 01:14 AM
Các bạn thân mến!
Nhân đây, chúng tôi cũng xin được đổi đầu đề là: Kinh Dịch-di sản sáng tạo của nên văn hiến Văn Lang.
Còn Hậu Thiên Bát Quái Âu Lạc là Hậu Thiên Bát Quái Văn Lang.
Như thế mới đúng hơn đối với niên đại hình thành Kinh Dịch và triều đại làm ra nó.
Xin lỗi vì đã làm phiền các bạn.
Thân.
khonglaai
Thiên Sứ
20-10-2006, 01:47 AM
Nhờ anh em trong ban quản trị thay dùm tựa topic này thành:
Kinh Dịch-di sản sáng tạo của nên văn hiến Văn Lang.
Theo yêu cầu của anh Không Là Ai.
Chân thành cảm ơn sự quan tâm của anh chị em.
Thiên Sứ
khonglaai
10-11-2006, 01:47 AM
9. Mẹ tròn con vuông hay trời tròn đất vuông:
Chúng tôi cũng xin đề cập đến bài nghiên cứu của Giáo sư Trần Quốc Vượng “TRIẾT LÝ BÁNH CHƯNG - BÁNH DÀY” (http://www.danangpt.vnn.vn/vanhoa/detail.php?id=42&a=76) với đoạn viết giải nghĩa hình tượng bánh chưng bánh dày như sau:
Tôi xin đưa ra một minh giải văn chương: Bà con cô bác miền nam gọi bánh chưng là bánh tét, chữ bánh tét này là tiếng đọc chạnh kiểu miền nam của bánh tết. Và nhân đây xin thanh toán một "ngộ nhận văn hóa". Thoạt kỳ thủy, bánh chưng không được gói vuông như bây giờ mà gói tròn như bánh Nam Bộ, gọi là đòn bánh tét là hoàn toàn chính xác. Ngay giờ đây, xin các bạn chỉ quá bộ sang Cổ Loa, Đông Anh ngoại thành Hà Nội thôi, vẫn thấy bà con cố đô Cổ Loa gói bánh chưng như đòn bánh tét và vẫn gọi nó là bánh chưng, thảng hoặc mới gói thêm bánh chưng vuông. Thế cho nên, cái triết lý gán bánh chưng vuông tượng Đất, bánh dầy tròn tượng Trời là một "ngộ sự văn hóa". Trời tròn đất vuông là một triết lý Trung Hoa muộn màng được hội nhập vào triết lý Việt Nam. Đó không phải là triết lý dân gian Việt Nam. Nó không phải là Folklore (nguyên nghĩa: trí tuệ dân gian) mà là Fakelore (trí tuệ giả dân gian).
Bánh chưng tròn dài tượng Dương vật, như cái chày, cái nõ. Bánh dầy tròn dẹt tựa Âm vật, như cái cối, cái nường.
Quả tình, lời giải thích có vẻ thỏa đáng, hợp lý và cũng hợp với tín ngưỡng phồn thực. Và bài viết trên có lẽ càng hợp hơn nếu xét câu: Trời cao đất dày hay hơi cách biên một chút là Trời trên đất dày. Như vậy chữ dày (bánh dày)~dày (đất dày) và chưng~chên~trên. Tuy nhiên, nếu xét sâu xa đến logic hình thành ngôn ngữ Việt dưới sự ảnh hưởng và chi phối của tín ngưỡng phồn thực và kinh Diệc thì cách giải thích này hoàn toàn không hợp lý và không nằm trong một thể thống nhất của logic luận:
-Nếu nói bánh chưng từ thời cổ có dạng như đòn bánh tét tức giống cái chày và bánh dày hình tròn dạng cái cối hay cái nường thì cũng hợp với tín ngưỡng phồn thực. Thế nhưng, nếu vậy thì bánh chưng mang tính Nõn, Nọc còn bánh dày mang tính Nường, Nòng; và suy ra bánh chưng phải tinh khiết, trắng trong còn bánh dầy tượng trưng cho sự hỗn độn, không thuần khiết. Trên thực tế chúng ta chứng kiến sự ngược lại. Bánh chưng như mô tả của anh Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh trong tiểu luận “Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt” được hình thành (được gói) với các thành phần mang màu của Ngũ Hành (dù là bánh hình cây tròn hay hình vuông): Nước tượng thủy, Thịt màu đỏ tượng Hỏa, Lá chuối màu xanh lá cây tượng Mộc, Nếp màu trắng tượng Kim, đậu xanh màu vàng tượng Thổ. Vậy bánh chưng đã mang tính mô tả Ngũ Hành-một biểu tượng của Hà đồ và thời Hậu Thiên. Ở đây, chúng tôi hoàn toàn đồng ý đến cách giải thích của ông Thiên Sứ, tuy nhiên chúng tôi thấy cần cải chính một chút. Vì trong bánh không có nước (dù nó được luộc bằng nước) nên khó có thể hình dung hành Thủy qua hình tượng Nước. Người xưa đã dùng hạt tiêu để làm màu đen tượng trưng cho Thủy. Quý vị độc giả thử xem lại có bánh chưng nào không có tiêu. Và khi bất kỳ ai trong chúng ta cầm mẫu bánh chưng lên (dù đã bóc lớp vỏ đi rồi), cũng nhận thấy năm màu của nó một cách đơn giản. Còn bánh dày ai cũng biết nó chỉ được làm bằng nếp màu trắng tượng trưng sự tinh khiết thì chính nó được dùng diễn tả chính Thái Cực-tức mẹ của vũ trụ. Có khi người ta làm bánh trôi có một miếng đường đen nằm trong tượng trưng cho Thái Cực-Lưỡng Nghi. Như vậy, bánh chưng (dù hình dạng gì đi chăng nữa) đều mang tính Hậu Thiên ôm trong người tư tưởng phân hành (ngũ hành). Còn bánh dày mang tính Tiên Thiên tức là Thái Cực khi đã chia ra thành 8 quái nhưng vẫn nằm trong thể thống nhất. Và logic hầu như tất yếu là: vì Tiên Thiên dùng để biểu thị Thái Cực nên nó mang tính Trời hơn còn Hậu Thiên-Ngũ hành đã đi sâu về hình thành vũ trụ hỗn độn nên nó mang tính Đất hơn.
-Triết lý Mẹ tròn con vuông, như chúng tôi đã phân tích ở quyển 1, thật ra không phải triết lý của người Trung Hoa. Người Trung Hoa chưa đưa ra một giải thích khả dĩ về vấn đề này. Trong dân gian đến bây giờ vẫn còn ghi ấn 3 khái niệm hình tượng về tính Dương, tính Âm và tính Trời, tính Đất: Nõn Nường hay Chày cối (dạng gậy và dạng tròn), Nọc Nòng (một hình tròn và hai hình tròn) và Mẹ tròn con vuông hay Trời tròn đất vuông. Như chúng tôi đã viết ở phần 3, chương 1, quyển 2 Nọc Nòng có hình một vòng và hai vòng tròn tương ứng. Đó chính là hình tượng của chính Nọc và Nòng khi người ta muốn số hóa các khái niệm để dễ dàng suy luận ra những kết quả sau này. Và một trong các kết quả đạt được là Càn Khôn có hình tượng cây gậy và một vòng tròn rất phù hợp với nguyên tắc phồn thực. Vì thế, Càn Khôn (được xây dựng trên tượng Nọc Nòng) là cây gậy và hình tròn được dùng thể hiện như tính Nọc và tính Nòng (chứ không phải bản thân Nọc Nòng). Thế còn mẹ tròn con vuông? Người ta hay đồng hóa câu này với Trời tròn Đất vuông. Tuy ý nghĩa có thể na ná như vậy. Nhưng hoàn toàn không có nghĩa là Trời đồng nghĩa với mẹ còn Đất đồng nghĩa với con. Theo quan niệm phồn thực thì không có thể nào có chỗ đứng của quan hệ mẹ con ở đây, chỉ có quan hệ đực cái, linga-yoni, nõn-nường. Và trời đất cũng nằm ở thể giao hoan nên tạo nên một vũ trụ thống nhất; có nghĩa trời-đất là hai thành phần hoàn toàn bình đẳng trong quan hệ với nhau. Ngay như về hình tượng mà nói thì con người khi sinh ra thì làm gì có hiện tượng mẹ tròn con vuông (hình tượng). Còn con cũng có thể là Trai cũng có thể là Gái, vậy quan hệ đối xứng theo kiểu nõn nường-trời đất trong câu này không có chỗ đứng vững. Thế nhưng, câu này vẫn lưu truyền nhiều trong dân gian? Việc giải thích lại rất đơn giản nếu xét trên cơ sở Dịch lý, mà phải là Dịch lý Việt Nam. Thái Cực khi động được phân khai thành 8 quái nằm trong một bát quái đều và có thể vẽ một vòng tròn qua tâm các quái. Và các quái này trở thành nguyên tử để xây dựng vũ trụ sau này. Vì thế vũ trụ chính là Thái cực với biểu tượng tròn. Còn vũ trụ thời Hậu Thiên được xây dựng từ 8 quái trên và các phân tử đầu tiên của nó chính là các trùng quái. Hậu Thiên được mô tả bằng đồ hình Hậu Thiên dưới đây:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-5-HTBQALvaTQ.jpg
Ở đồ hình này ta thấy Trời, Đất được tách ra rõ ràng và vì Hậu Thiên được mô tả bằng 6 Trùng quái nên chúng ta có thể hình dung đó là hình vuông (hình chữ nhật). Như vậy, vũ trụ được hình thành là con của Thái cực có dạng hình vuông. Như vậy, quan niệm mẹ tròn con vuông được giải thích hoàn toàn. Còn vì sao người ta hay đồng hóa quan niệm Mẹ tròn Con vuông với Trời tròn đất vuông? Đồ hình Tiên thiên là đồ hình của Thái cực nên nó mang tính Nọc tính Trời, còn đồ hình Hậu Thiên được dùng để mô tả vũ trụ sau này (khi quá trình phân cực và phân hành diễn ra) vì thế nó mang tính Nòng, tính Đất. Bởi vậy, nói Trời tròn đất vuông cũng có cơ sở của nó. Trống đồng Thôn Mộng là trống đồng có 4 cái tượng 11 ô tròn, như chúng tôi phân tích ở quyển một, biểu tượng cho Hà Đồ-mã hóa Hậu Thiên. Và ở đó rõ ràng cũng có 2 hình có dạng vòng tròn ngoài ôm lấy hình vuông nội tiếp trong nó. Vậy ở đây người ta rõ ràng muốn đề cập mẹ tròn đất vuông theo nghĩa Mẹ-Thái cực-Tiên thiên và Con-Vũ trụ hình thành-Hậu thiên.
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/chuong8-MTCV.jpg
Chính vì lẽ này, nên về Dịch lý mà nói chúng ta thấy Thái cực-Tiên thiên-Trời-hình tròn-bánh dày (tinh khiết, đồng nhất hoặc có miếng đường để biểu thị Thái cực-Lưỡng nghi). Và Vũ trụ đã thành-Hậu thiên-Đất-hình vuông-bánh chưng (với ngũ sắc tượng trưng ngũ hành-Hà đồ. Vả lại nó được gói bằng lạt thành đúng 9 phần bằng nhau-cũng là Hà đồ). Nó có lý hơn giải thích bánh chưng có ngũ sắc mà lại tượng nõn, bánh dày tinh khiết mà tượng Nường.
-Cách giải thích Mẹ-Tiên Thiên-Tròn và Con-Hậu Thiên-Vuông chúng ta thấy càng hợp lý hơn, nếu như kết hợp với các bài viết của tôi chứng minh tổ tiên chúng ta đã sáng tạo nên Kinh Dịch. Đây là phép mà trong Toán học gọi là quy nạp. Tức các bằng chứng dù không liên quan cụ thể đến nhau nhưng nếu các bằng chứng đều đúng theo một trình tự logic thống nhất thì bằng chứng này bổ trợ cho bằng chứng khác hay ngược lại.
-Cách giải thích Nõn nường (tạm gọi như thế) của bánh chưng bánh dày không phù hợp với câu chuyện truyền khẩu Lang Liêu dâng bánh.
-Và bánh chưng-vuông-Đất, bánh dày-tròn-Trời càng thêm đúng đắn nếu chúng ta xét đến các đồng biến âm đơn giản của chúng với tay chân trong tay với trời chân đạp đất: chưng~chưn, chân, dày~tay. Ngay cả chày cối tuy về hình tượng rõ ràng là từ tín ngưỡng phồn thực thế nhưng nếu về biến âm thì lại mang dấu ấn của Dịch lý: chày~trày~trôi, dày, cối~cội~chỗ~chưng~chôn~khôn. Cách giải thích chưng-chày, nõn và dày-cối, nường không thể nào có sự đối xứng hài hòa giữa chưng-tay và dày-chưn, chân.
Thế nhưng, vì sao lại có hiện tượng người ta làm bánh chưng dạng đòn như bánh tét. Chúng tôi cho rằng, tín ngưỡng phồn thực đã tồn tại trong nhiều dân tộc khác nhau và có từ hàng nhiều vạn năm trước thâm chí kéo dài đến ngày nay (*). Còn kinh Diệc được hình thành và phát triển rất mạnh vùng đồng bằng và trung du trung tâm châu thổ sông Hồng trên nền tảng tín ngưỡng phồn thực có thể vài ngàn năm (theo chúng tôi nền móng đầu tiên của Dịch có thể có từ 10000 năm trước nếu xét các chi phối của nó trên các từ đơn giản như tay chân, trắng đen, trái phải…) sau và vẫn song song với TNPT. Tuy nhiên, tín ngưỡng phồn thực là cái hiển hiện rõ ràng dễ hình dung, liên tưởng còn kinh Diệc thì không ai có thể nắm bắt được. Vì thế, trong quá trình di cư vào rừng sâu và vào Nam, lại qua một thời kỳ nô dịch văn hóa dài người thái cổ đã đánh mất dần đi kiến thức Dịch cổ nhưng tín ngưỡng phồn thực vẫn chi phối. Còn chủng người Việt ở lại trung tâm thì bị ảnh hưởng văn hóa Hán trầm trọng. Những kiến thức Dịch, người Trung Hoa tiếp thu nhưng lại không hiểu cội rễ của nó. Tuy nhiên, rất nhiều hệ thống quan niệm, kiến thức (như Mẹ tròn con vuông) vẫn được giữ đến tận hôm nay mặc dù người Trung Hoa và người Việt bây giờ không hiểu vì sao. Vậy câu giải đáp ở đây khá đơn giản: người di cư vào rừng sâu và vào Nam đánh mất tư tưởng Dịch nhưng vẫn còn bị chi phối bởi tín ngưỡng phồn thực nên họ thấy bánh dày đã là hình tròn thì đối của nó (theo tín ngưỡng phồn thực) là cái bánh chưng phải có hình dạng cái đòn (nõn). Cũng vì ít bị ảnh hưởng văn hóa Hán nên ngôn ngữ của họ vẫn còn giữ nhiều từ Việt cổ mang ý nghĩa Dịch. Còn ngược lại ở vùng trung tâm (nơi kiến thức Dịch đã được phát triển rất mạnh), người Hán tiếp thu kiến thức Dịch và phát triển nhiều quan niệm Dịch nguyên thủy (theo ý họ) và người Việt lại bị nô dịch văn hóa lâu dài. Chính thế, ở đây người Việt vẫn giữ lại hình dạng bánh chưng bánh dày nguyên thủy, nhưng cả người Hán lẫn Việt đều không thể hiểu vì sao lại là thế và vì bị ảnh hưởng văn hóa Hán nhiều hơn nên trong ngôn ngữ và văn hóa cũng mất đi nhiều từ mang ý nghĩa Dịch hơn các sắc dân di cư vào rừng và vào Nam(**).
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Gi7843ithchbnhtt.jpg
(*): tín ngưỡng phồn thực tồn tại nhiều nơi trên thế giới: Ấn Độ, Thái Lan, Campuchia, Chàm, Việt Nam… Còn tục thờ thần Mặt trời trước đây chúng tôi có đọc công trình của học giả Nga; ông ta chứng minh tôn giáo đầu tiên nhất của loài người (tất cả các dân tộc) là thờ Mặt trời. Và ông ta dẫn chứng hàng loạt các quốc gia trên các châu lục đến ngày hôm nay vẫn còn thờ thần Mặt trời. Tiếc rằng lâu quá nên chúng tôi đã quên đó là công trình gì, của ai. Nhưng vấn đề này chúng tôi sẽ quay lại sau khi điều kiện cho phép.
(**): Mô hình Nõn nường của bánh chưng bánh dày còn được khẳng định theo GS Trần Quốc Vượng (dữ liệu đã dẫn): Ngay giờ đây, xin các bạn chỉ quá bộ sang Cổ Loa, Đông Anh ngoại thành Hà Nội thôi, vẫn thấy bà con cố đô Cổ Loa gói bánh chưng như đòn bánh tét và vẫn gọi nó là bánh chưng, thảng hoặc mới gói thêm bánh chưng vuông. Chúng tôi cho rằng, bánh đầu tiên được làm ra như trong chuyện Lang Liêu dâng bánh. Sau đó, một số nơi xa trung tâm Dịch Lý (Cổ Loa bây giờ mới gần thủ đô chứ ngày xưa thủ đô chúng ta xa vùng đó) biết làm bánh đó nhưng lại làm dưới chi phối của TNPT. Rồi sự giao lưu văn hóa vùng này sang vùng nọ đưa đến có những nơi biết làm thứ bánh đó cả hai dạng khác nhau. Thậm chí, ngay tại vùng Phú thọ, Vĩnh phú bây giờ người ta làm bánh chưng dạng đòn, chúng tôi cũng cho đấy là điều tự nhiên. Sự giao lưu văn hóa là con đường hai chiều ngược xuôi và miên trường. Không phải chỉ một chiều và cũng không phải chỉ một thời khắc nhất định của dòng chảy thời gian.
khonglaai
14-11-2006, 02:39 AM
Dưới đây là một trong những bài mà tác giả rất tâm đắc.
10. Chồng vợ:
Thật là sai lầm khi xét hết tất cả các khái niệm thuộc tính Nòng và Nọc như trai gái, nữ nam, đực cái mà bỏ qua chồng vợ - hai khái niệm đối nhau mang tính Nọc Nòng rõ rệt. Bởi vì, chồng vợ tượng trưng cho gia đình, tượng trưng cho đời sống của con người-thoát thai khỏi tập tính bầy đàn. Gia đình luôn luôn là nền móng của xã hội.
Xét “chồng vợ” trong ngôn ngữ Việt Nam càng thấy rõ được sự chi phối mạnh mẽ của Dịch lý cũng như vũ trụ quan của người Việt cổ. “Chồng vợ” còn giải thích được vì sao chính xác bát quái Hậu thiên phải phân ra hai nghi như thế-sự giải thích mà chưa có tài liệu Trung Hoa nào viết cho rõ ràng và đơn giản cả. Tuy nhiên, trước tiên chúng tôi xin đề cập đến hai từ khác khá đặc biệt (*), đó là từ ba má, bố mẹ, cha mẹ.
Ngày nay quý vị có thể tìm nhiều tài liệu của các học giả khắp nơi trên thế giới nói đến việc tồn tại một ngôn ngữ chung cho toàn thế giới. Có những bằng chứng và chứng minh nhiều khi đi vào chỗ đối kháng nhau, nhưng hầu hết đều thống nhất với nhau từ ba má là từ đặc sắc nhất, tiêu biểu nhất mang dấu ấn của ngôn ngữ chung của nhân loại: papa - mama, father – mother, ba – má… Vậy từ ba má là từ có lẽ rất xưa, nếu nói kinh Dịch được làm ra sau này thì Kinh Dịch có thể sử dụng từ ba má (sau này tôi sẽ dẫn ra sử dụng như thế nào) cho vài kiến giải của mình chứ không thể nào chi phối lên nó. Và các từ như bố mẹ, cha mẹ (trừ những từ như mụ là được đi ra từ chữ khác) là các biến âm gần của nó. Thế nhưng, quý vị đừng nghĩ kinh Dịch không chi phối lên cách gọi hai vị song thân. Người Việt ta phía Bắc Bộ hay gọi ba má bằng hai chữ thầy u (bu). Hai chữ này thì rõ ràng mang âm hưởng Dịch:
Thầy ~ thẳng, thằng, chày, tay
U~Âu, Oa (chúng tôi viết sau), u tối, vú, mụ, mu,…
Có thể tham khảo thêm ở cụm bài viết của Trương Thái Du “Thử tìm lại cổ sử Việt Nam”:
http://www.khoahoc.net/baivo/truongthaidu/thuvietlaicosuvietnam.htm
Còn từ bu thì càng chính xác hơn. Vì sao? Vì rằng cách diễn đạt Hậu Thiên bằng đối xứng qua mặt phẳng như Càn-Đoài hay nói cách khác là cây gậy và cái bát (hệ luận của nó là Càn-Trời và Đoài-Đất) thì chỉ có Kinh Dịch Việt Nam mới thể hiện được như thế.
Bu, bầm~bát, bợ, bồn, bể, biển, bô, bồ, bụng…
Hầu hết các chữ đó đều mang ý nghĩa hình lõm xuống vòng vòng để đựng hay chứa. Mà sao lại dính đến Đoài? Vì Đoài cũng có nghĩa là ao hồ và trong giải nghĩa Nòng Nọc nó mang hình cái bát. Và B là biến âm sau này của đoài. Các ví dụ không phải ít: đọi-bát; đợ (đỡ)-bợ (có một từ ghép là bợ đỡ); bể, biển-đầm, hồ; địu-bồng, bế; bỡn cợt~đú đởn, giỡn, giễu cợt…Chính vì thế, chúng tôi cho rằng bu, bầm mang dấu ấn của Dịch Lý Việt rõ ràng. (**)
Chúng ta lại quay về với vấn đề “chồng vợ”. Có nhiều học giả đã nói đến vấn đề này. Qua bài viết Tiếng Việt dễ mà khó (http://www.phattuvietnam.org/modules.php?name=News&file=article&sid=353) của Nguyễn Hưng Quốc, chúng ta có thể thấy luôn cả hai cách giải thích “chồng vợ” của Nguyễn Văn Trung (trong Ngôn ngữ và thân xác) và Nguyễn Hưng Quốc:
Một ví dụ khác: về hai chữ "vợ chồng".
Trước đây, đã lâu lắm, đọc cuốn Ngôn Ngữ và Thân Xác của Nguyễn Văn Trung, tôi thấy tác giả giải thích hai chữ "vợ chồng" đại khái như sau: "Chồng" là chồng lên nhau, nằm lên nhau. Còn chữ "vợ"? Nguyễn Văn Trung chỉ viết bâng quơ, trong câu chú thích in cuối trang: "chữ vợ phải chăng là vơ, vớ, đọc trại đi, theo giọng nặng; nếu thế, chữ vợ chỉ thị việc quơ lấy quàng lên, vơ vào, phù hợp với việc chồng lên trong hành động luyến ái?" (tr. 40)
Đọc đoạn ấy, tôi hơi ngờ ngờ, nhưng rồi cũng bỏ qua, không chú ý mấy. Gần đây, tôi sực nhớ lại vấn đề ấy khi đọc cuốn Phương Ngữ Bình Trị Thiên của Võ Xuân Trang. Tôi được biết là ở Bình Trị Thiên, thay vì nói cái "vai", người ta lại nói cái "bai"; thay vì nói đôi "vú", người ta lại nói đôi "bụ"; thay vì nói "vải", người ta lại nói "bải"; thay vì nói "vá" áo, người ta nói "bá" áo; thay vì nói "vả" (vào miệng) , người ta lại nói "bả" (vào miệng), v.v... Qua những sự hoán chuyển giữa hai phụ âm V và B như thế, tự dưng tôi nảy ra ý nghĩ: phải chăng nguyên uỷ của chữ "vợ" là... bợ? "Vợ chồng" thực ra là "bợ chồng"?
Thực ra, chúng tôi cho rằng cả hai cách giải thích đó đều đúng. Vì nếu xét cả nghĩa lẫn phương cách chuyển âm từ bèv của người Việt thì chữ vơ lẫn chữ bợ đều có ngữ nghĩa, ngữ âm và hình tượng giống nhau: vơ hạy bợ đều có hình dáng vòng hai tay để đỡ hay lùa vật gì lên (vào). Nhưng nếu nói chính xác về quy trình thời gian thì chúng tôi cho rằng đó là bợèvợ (vẫn có thể là bợèvơèvợ, tuy nhiên nếu nói được bợ (ơ và dấu nặng) thì làm sao phải đi từ bợ sang vơ (không có dấu nặng) rồi mới đến vợ (có ơ + dấu nặng)) hay nói đúng hơn từ bợ là nguồn gốc của vợ và vơ. Hai chữ này được sinh ra song song với nhau từ chữ bợ.
Tuy nhiên, xét sâu xa hơn thì chúng ta có chu trình sau:
đợèbợèvợ (với đợ cũng chính xác là bợ).
Về vấn đề biến âm bèv chúng ta có thể tìm ngay trong bài viết đã dẫn.
Nhưng điều quan trọng ở đây mà chúng tôi muốn nói là liệu “chồng” có đúng là chồng lên?. Cũng như trên chúng tôi đã xét là liệu nó có thể được đi từ động từ chồng. Cây di truyền ngôn ngữ ở đây được mô tả như thế nào? Chồng (chồng lên)èChồng (người chồng) hay ngược lại. Muốn xét thứ tự này chúng ta tự đặt câu hỏi thế thì nếu chồng (chồng lên) có trước thì nó phát sinh từ chữ nào, còn ngược lại thì sao? Có hai hướng xét chữ chồng:
Cànèchàngèchồng
Nếu bảo chồng lên từ đây thì một điều khó hiểu là sao không lại là chồng (người chồng) từ trước hơn. Vì chàng rõ ràng là danh từ chỉ giống đực thì nó rõ ràng xứng đáng để nói đến người chồng. Vậy nói chồng lên đi từ Chàng khó có cơ sở đứng vững. Nếu chồng (người chồng) đi từ Chàng có vẻ hợp lý, thế nhưng nó lại mất đi tính đối xứng cần thiết (tính đối xứng ngôn ngữ ở đây là cần thiết vì chồng vợ là hai từ xuất hiện đã rất lâu lại dùng để chỉ hai khái niệm đối nghịch hoàn toàn). Ít ra, cũng có từ gì đó như nương, nường, nang, nàng để biến âm thành vợ.
Càn~Trời (đã xét trên)ètrồng (động tác trồng)ètrồng (người trồng)è sau này đọc lệch thành (người) chồng. Và nhận thấy người trồng muốn trồng gì thì cũng phải chồng lên người vợ nên lại tạo ra chữ chồng lên (có thể nguyên thuỷ là trồng lên). Vậy theo chúng tôi chữ chồng lên và người chồng đều xuất phát từ chữ Trồng-với nghĩa nguyên thuỷ là cắm cái gì đó thẳng vào đất.
Cách giải thích này được hỗ trợ thêm bằng những lý luận sau:
-Trong phần 7, chúng tôi đã viết về sự ưu tiên các khái niệm dính dáng đến Trời trong ngôn ngữ Việt Nam. Ngay ở đây, chúng tôi có thể dẫn thêm các từ như tre, trúc, trong (trong veo). Từ trong trong bài thơ “Tống Biệt Hành” của Thâm Tâm:
Tống Biệt Hành
(Thâm Tâm)
Đưa người ta không đưa qua sông
Sao nghe có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong.
Và từ trồng bắt đầu từ tr cũng mang tính Nọc. Trong Hậu Thiên Bát Quái Văn Lang chúng ta mới có thể nhận thấy được vì sao chữ trồng lại cũng đi về hướng trời như vậy. Động từ trồng có nghĩa cắm một cái gì đó thẳng vào đất. Nhìn lại HTBQVL ta thấy Càn tượng cây thẳng còn Đoài lại đúng là cái bát mở ra để đón nhận cây đó. Vậy trồng chính mang tính Nọc. Và cấu trúc Tr của nó có thể cho ta thấy nó được làm ra đầu tiên. Ngoài ra điều này cũng phù hợp với truyền thống nông nghiệp của dân tộc Việt ta.
-Có một câu nói làm chúng tôi đứng sững như trời trồng để rồi nêu lên cách giải thích (trồngèchồng) này là: đứng sững như trời trồng. Mặc dù, nếu có chồng là chồng lên cũng không ảnh hưởng lắm đến kiến giải của tôi về mối liên quan chồng vợ đến kinh Diệc. Câu này là một sản phẩm độc đáo của Diệc lý và chắc rằng nó đã tồn tại hàng mấy nghìn năm nay. Đứng: động từ thuộc chân mang tính Đất (bắt nguồn từ Đoài); sững: thẳng-tính nọc (cũng đi từ Diệc lý như đã phân tích); như chỉ là một giới từ, trời (nọc tính đã phân tích) còn trồng là gì? Hiển nhiên ở đây đã có trời trồng thì trồng phải thuộc về tính nọc mà lại đúng là một động từ của ông thiêng liêng nhất là trời. Câu giải thích đơn giản nhất ở đây chính là vũ trụ quan của người Việt cổ hay là Kinh Diệc. Càn dáng dấp Nòng Nọc như cây tre. Đã thế, đối xứng ở dưới cây đó là cái đọi (Đoài) đỡ cho cái cây trời đứng vững. Chúng tôi cho rằng Đứng sững như trời trồng là bằng chứng vô cùng xác đáng của Kinh Dịch Nòng Nọc vì nhiều lẽ nhưng căn bản nhất vẫn là tượng Trời và Đoài qua tượng Nòng Nọc. Khó thể nào tưởng tượng được trời tròn vành vạnh như thế kia lại đứng. Mà cho dù khiên cưỡng bảo trời ở trên chiếu thẳng đứng xuống đất thì cũng khó mà giải thích được làm sao trời lại trồng. Đây là bằng chứng sáng giá để giải thích vì sao người ta dùng Đ trong Đoài để làm ra chữ Đất hay ngược lại. Và từ trồng ở đây lại liên kết với nhiều chữ gần nó cũng mang tính Nọc như gieo (biến âm gi~tr), cày, cấy (đi từ Càn).
-Trời-trồng đối xứng với Đất-Đợ, đỡ không những về vần Tr-Đ mà còn về ý nghĩa trời thì trồng, gieo giống lên đất còn đất thì đỡ nó, nuôi nấng nó trở thành hình hài hoàn chỉnh. Trời cho tinh khí còn đất dung dưỡng bằng vật chất mang đến cho nó hình hài.
Vậy thì Trời trồng cái gì và ông chồng trồng cái gì?
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/batquaiVVvachongvo.jpg
Trên đây là bát quái Văn Vương của người Trung Hoa. Các nghi Âm Dương chia bởi đường màu đỏ. Ở đây, đúng là Càn đối xứng với Đoài qua đường màu đỏ thế nhưng quan niệm Càn-Đoài của người Trung Hoa hoàn toàn không phải cái cây và cái bát (***). Đó là thứ nhất. Thứ hai, không thấy sự phân chia trời đất rõ ràng. Thứ ba, không thể nào tồn tại chữ trồng ở đây được. Xét theo đối xứng thì trung tâm của sự trồng là đường màu xanh. Chúng ta thấy nó không đi qua quái nào cả không biết Trời trồng gì vào đất và đất dung dưỡng bằng gì. Chúng ta lại xem bát quái Văn Lang.
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/batquaiALvachongvo.jpg
Logic hình thành bát quái Văn Lang hoàn toàn khác hẳn của Trung Hoa. Tuy là vẽ bát quái nhưng Bát quái Văn Lang có linh hồn của sáu trùng quái bất dịch. Và các trùng quái này được tách hẳn ra, phân chia thành đôi theo 3 trùng quái. Ở đây chúng đã đã thấy ngay hiện tượng trời đất phân đôi. Và nhìn hình trên chúng ta đã thấy ngay Càn-trời bên trái còn Khôn-đất (tuy là đất nhưng mang nghĩa triết học)bên phải. Và về hình tượng, thì nhóm bên trái (bên trái vì là bên của Trời nên lúc nào cũng có ý nghĩa hơn) đập ngay vào mắt chúng ta là Trời gậy đâm thẳng vào Đất-đọi(bát). Vì thế có từ trời trồng. Thế nhưng, mối giao cảm của trời đất không thể nào xét chỉ mỗi hai quái riêng lẻ Càn-Đoài (hai quái này chỉ cho ý nghĩa tượng hình thôi). Cuộc giao hoan vĩ đại này phải nằm đúng trung tâm vũ trụ và đường giao hoan nằm ngay trên đường màu vàng. Trời (tức phần trời) đã cho cái quý giá nhất của mình là nguyên khí lửa làm cho đất u ám được nóng lên. Còn ngược lại, đất lại dung dưỡng nó bằng nước để vũ trụ được hình thành. Thực tế, từ Tiên thiên chúng ta cũng thấy lửa nằm ở nghi Dương hay Nọc, Trời và quái Ly mang tượng mặt trời, còn nước nằm nghi Âm hay Nòng, Đất. Bản giao hoan trời đất này chính là cuộc tình quyến luyến của nước lửa. Hay nói đúng hơn, triết lý hơn vũ trụ được sinh thành bởi trời trồng, gieo hạt tinh khí-lửa vào đất và đất dùng nguyên chất-nước để dung dưỡng, bợ đỡ nó thành hình.
Về hình tượng, chúng ta có thể nhận ra ba trùng quái phần Đất tạo thành cái bát ngửa vĩ đại-thu nhận, còn ba trùng quái phần Trời như cái bát úp-cho ra (****). Đó chỉ là tư thế tương đối của Trời và Đất với nhau mà thôi. Nhưng hình tượng của chính bản giao hưởng trời đất có thể vẽ như sau:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/batquaiALvatroidat.jpg
Giống như hình cờ Israel như anh Nguyễn Vũ Tuấn Anh đã từng viết đến. Liệu có chăng một triết lý vũ trụ chung hay chỉ là sự trùng hợp tình cờ?
Cuộc tình trời đất là vậy. Còn con người? Cũng tương tự như Trời Đất, chồng nằm trên và vợ nằm dưới với tư thế như đang ôm nhau và ba trùng quái của mỗi người diễn tả một cách cân bằng cho Thân và hai tay. Nhưng họ nằm vậy để cho vui thôi hay sao?! Thực ra, những động tác đó chưa thể nào diễn tả được bản chất tư thế đó của vợ chồng. Họ nằm với tư thế đó thực ra là để làm tình, để giao phối-công việc mà bất kỳ ai trên thế gian này từ thời con người vừa mới sinh ra đều biết. Và trong cuộc giao hoan đó, người chồng có nhiệm vụ trồng vào người vợ và người vợ phải đỡ cho cây gậy của người chồng thực hiện nhiệm vụ của mình. Để rồi người chồng cấy vào người vợ nguyên khí của mình và vợ đến lượt mình nuôi dưỡng nó thành hình theo quy luật muôn đời của vũ trụ. Những quan điểm của tín ngưỡng phồn thực ở đây được mô tả một cách thiêng liêng và không kém phần lãng mạn. Còn những động tác (động tác chứ không phải bản chất công việc) của sự giao hoan đó tự xa xưa, người ta cũng cho là dung tục nên các từ mô tả chúng lại mang tính Đất (tính Hậu Thiên): đ. (miền Bắc), đ. (miền Nam) và đ. (đá bèo-Trạng Quỳnh).
Nói tóm lại chúng ta nhận thấy bản chất giao hoan (cả về ý nghĩa lẫn hình tượng) của trời - đất và chồng – vợ là thống nhất. Chính vì thế, chữ chồng vợ ở đây lại là bằng chứng sáng giá cho hệ thống vũ trụ quan của người Việt cổ-kinh Diệc (*****).
Kết luận: Trờiètrồngèchồng (người chồng), chồng lên. Đấtèđợèbợèvợ. (******), (*******)
Trần Quang Bình
* Nếu không có ý kiến thì làm cho người khác nghi ngờ tác giả lờ tịt đi chỉ dẫn những tư liệu hợp với chứng minh của mình mà thôi. Tuy rằng, cách làm đó cũng không phải là không có lý.
** Kinh Dịch Trung Hoa Càn đứng cạnh Đoài và không hề có đối xứng qua mặt ở giữa.
*** Chúng tôi cho rằng người Trung Hoa đã sai lầm chính ở đây. Được giải thích hay được nhìn hình vẽ, sau đó hình vẽ mất đi họ mới cố phục hồi lại bằng trí nhớ. Và họ vẽ ra Càn đối xứng với Đoài qua trục chi hai nghi trời đất của 8 quái (không phải 6 quái). Còn Càn và Khôn thì vẽ đối xứng qua trục Đoài Chấn tức là nhìn vào hình thấy Đoài ở trên còn Khôn ở ngay dưới.
**** Lạ lùng là tư tưởng bát úp (thực ra là cây kiếm) và bát ngửa cũng có trong Do Thái Giáo và Thiên Chúa Giáo. Tuy nhiên hai hình này đan vào nhau để tạo ra hình giống hình trên cờ của nước Israel.
***** Chúng tôi cho rằng người Việt đã phát hiện ra quy luật thống nhất vũ trụ, đó là Kinh Diệc. Tuy nhiên bản chất của nó như thế nào là điều còn phải làm sáng tỏ.
****** Có một câu vừa mang tính Nọc vừa mang tính Nòng mà bản chất giống nhau: sinh con đẻ cái. Sinh rõ ràng là từ sáng, sống (trống) và đẻ lại có từ âm Đoài, Đất. Nếu chú ý kỹ chúng ta lại thấy có thể đẻ cái, đẻ con nhưng không hề có sinh cái. Vậy ý tứ ở đây hoàn toàn logic. Việc sinh việc đẻ là việc làm thiêng liêng, không thể nào phân biệt giới tính, có thể dùng cả hai từ thuộc tính khác nhau. Nhưng nó cũng là việc làm của vũ trụ đã thành hình nên phổ biến vẫn là dùng từ thuộc Đất: đẻ. Tuy nhiên, khi nói chung với nhau phải theo đúng luật Nọc nòng: sinh thì sinh con, đẻ thì đẻ cái (con cái đã phân tích ở phần 4).
******* Còn nhiều tiểu tiết rất quan trọng nữa trong phần 10. Nhưng chúng tôi xin được phép đề cập vào một phần khác, quyển khác.
khonglaai
21-11-2006, 04:01 AM
11. Và câu lục bát làm say lòng người.
Tha hương nỗi nhớ quặn đau.
Nhớ câu lục bát à âu sớm chiều.
Nhớ sao tiếng sáo phiêu diêu,
Nắng vàng đậu khẽ cánh diều ngày thơ.
Có những lúc trên bước đường phiêu lãng, đôi khi ta chợt dừng lại, lặng nghe…Dường như đâu đó vang lên câu hò lục bát. Nhẹ nhàng, êm ái nhưng không kém phần kiêu hãnh như cánh diều lướt gió cao ngạo trên không. Bến nước, con đò, cánh diều và câu thơ lục bát phải nói đã ghi ấn trong lòng mỗi người Việt chúng ta (rất tiếc, trẻ em ngày nay không còn nhớ được những câu ru, câu hò đó). Để rồi dù đi bất cứ phương nào, chúng ta cũng đau đáu nhớ về thời tuổi thơ, nhớ về đất nước. Và nhận ra trong mình đã có tự bao giờ một nền văn hóa đặc biệt không hề có ở những nơi ta từng đặt chân qua.
Khác với những thể thơ quý tộc thất ngôn tứ tuyệt, thất ngôn bát cú, nơi để người ta thi thố văn chương chữ nghĩa, nơi người ta phải khổ sở chọn chữ thật đắt như cách làm của Đỗ Phủ, Lý Bạch, Bạch Cư Dị…, thơ lục bát dung dị, mềm mại và đi sâu vào nếp sống của người dân Việt Nam. Từ câu ru của mẹ:
Con ơi con ngủ cho lành
Để mẹ gánh nước rửa bành ông voi
Muốn coi lên núi mà coi
Coi bà quản tượng cỡi voi bành vàng
Từ câu ca khuyên bảo:
Nhiễu điều phủ lấy giá gương,
Người trong một nước phải thương nhau cùng.
Đến bài thơ tỏ tình vô song:
Hôm qua tát nước đầu đình,
Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen.
Em được thì cho anh xin,
Hay là em để làm tin trong nhà.
Áo anh sứt chỉ đường tà,
Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu.
Áo anh sứt chỉ đã lâu,
Mai mượn cô ấy sang khâu cho giùm.
Khâu rồi anh sẽ trả công,
Mai mốt lấy chồng anh sẽ giúp cho.
Giúp em một thúng xôi vò,
Một con lợn béo, một vò rượu tăm.
Giúp em đôi chiếu em nằm,
Đôi chăn em đắp, đôi tằm em đeo.
Giúp em quan tám tiền treo,
Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau !
Với tôi, đây là bài thơ tỏ tình có duyên đến tuyệt vời. Nhưng ở đây, chúng tôi xin phép không phân tích mà quay lại chủ đề chính. Vậy thì làm sao lại là lục bát? Và quan trọng vì sao thơ lục bát lại đi sâu vào đời sống dân Việt ta như thế?
Có nhà nghiên cứu cho rằng thơ lục bát không thể nào xuất hiện trước thế kỷ 16 được. Viện dẫn những bài thơ của các nhà thơ của chúng ta từ thời Đinh, Lý, Trần, Lê không có bài nào thể lục bát cả. Xin cho phép tôi nghi ngờ cách suy luận võ đoán này. Tất cả nhà thơ được ghi dấu trong lịch sử nước Việt Nam ta đều là những quan chức quý tộc. Và họ (với sự tự ti cố hữu) đã viết những bài thơ hợp với giai cấp họ (cứ y như rằng viết thơ lục bát là mình trở nên ti tiện, hạ cấp, không còn thanh cao nữa). Cũng nhờ tầng lớp quý tộc đó mà chúng ta đã thừa hưởng câu nói “bất hủ”: nôm na là cha mách qué. (Dĩ nhiên, như một lần chúng tôi đã khẳng định, không phải họ không yêu nước mà chẳng qua thời kỳ đó hay cho tận đến ngày nay quan niệm xã hội của chúng ta như thế hay mốt thời thượng là vậy. Vả chăng, đến bây giờ thế kỷ 20 rồi mà ai trong chúng ta cũng thấy nói tiếng Hán Việt nghe hay hơn, thanh tao hơn.). Chúng tôi cho rằng, song song với dòng văn thơ quý tộc đó trong dân gian chúng ta đã có một dòng văn thơ khác bình dân hơn, mộc mạc hơn và đi sâu vào lòng người hơn. Chính dòng thơ này qua lời ru của mẹ đã dung dưỡng trong lòng mỗi người Việt lòng nhân ái, chân, thiện, mỹ.
Theo chúng tôi, sở dĩ dòng thơ lục bát đi sâu vào dân chúng vì nó đã được chi phối bởi một triết lý bao trùm. Tức thứ triết lý đã ăn sâu vào đời sống tinh thần lẫn vật chất trên mọi lĩnh vực. Vì thế, ngay từ khi nó xuất hiện, nó đã được đón nhận tự nhiên. 6è8è6è8….Vâng, ý đồ đã rõ. Chúng ta đang ở thời vũ trụ đã hình thành tức Hậu Thiên tượng trưng bằng 6 trùng quái, và quá trình vận động của vũ trụ bây giờ là phản phục, quay trở về mẹ vũ trụ là Thái Cực tức Tiên Thiên tượng trưng bởi 8 quái. Sau đó, vòng chuyển động vũ trụ lại lặp lại đến vô cùng. Nét độc đáo của thơ lục bát là có thể tạo bài thơ mà cách gieo vần tạo thành vòng khép kín để có thể đọc đến vô cùng:
Chưa đi chưa biết Đồ Sơn.
Đi rồi mới biết không hơn đồ nhà.
Chưa đi chưa biết Bà Nà.
Đi rồi mới biết ở nhà vẫn hơn.
Chưa đi chưa biết Đồ Sơn.
……
Một điểm hay của dòng thơ dân gian là chúng có nét chung: gieo vần theo đôi một. Không cần tinh tường lắm, chúng ta cũng nhận thấy cách gieo vần của thơ lục bát giống hệt thể thơ này:
Chi chi chành chành
Cái đanh thổi lửa.
….
Bài “Chi chi chành chành”, chúng tôi đã phân tích (mặc dù chưa nói cụ thể nội dung ra sao) có mang đầy dấu ấn Diệc lý. Có phải chăng qua cách gieo vần của bài này, người sáng tác nó cũng muốn chúng ta thấy sự liên kết giữa cặp chữ:
Chi (1) chi (1) chành-chành (1 kép)
Cái-đanh (1 kép) thổi (1) lửa (1).
Cặp trên dưới này làm chúng ta liên tưởng đến bát quái Hậu Thiên gồm tám quái nhưng thực tế linh hồn là sáu trùng quái.
Và cách gieo vần đó cũng không dừng lại ở 4 chữ, chúng ta có thể thấy một dạng khác của lục bát qua bài thơ sau:
Kỳ nhông là ông kỳ đà.
Kỳ đà là cha cắc ké
Cắc ké là mẹ kỳ nhông.
Qua ba thể thơ mà cách gieo vần giống nhau, với hiện tượng 6-8, tổng số chữ là 14 và bài thơ trò chơi bất hủ “Chi chi chành chành”, chúng tôi muốn gởi gắm đến độc giả rằng, phải có một triết lý bao trùm đã ảnh hưởng đến văn hóa Việt nói chung và cách gieo vần thơ nói riêng. Đó chính là Kinh Diệc.
(Còn nữa)
Trần Quang Bình
khonglaai
25-11-2006, 06:15 AM
Tổng kết.
Thế là chúng tôi đã viết xong chương 1, quyển 2 này. Có rất nhiều bằng chứng ngôn ngữ học khác rất thú vị nhưng vì lý do này hay lý do khác, chúng tôi đành tạm hoãn công bố ở đây. Sau này, chúng tôi sẽ tập hợp tất cả các bằng chứng này vào một cuốn sách khác. Qua 11 phần của chương một, chúng ta rút ra điều gì?
Trước đây, khi làm sáng tỏ mối liên hệ giữa Hà Đồ và Hậu Thiên Bát Quái, chúng tôi đã phát hiện ra Nước nằm ngôi 1-Hà Đồ còn Đất ngôi 2-Hà Đồ. Và đối với tôi mà nói chỉ cần một từ Đất Nước (trong đó cũng có thể dùng mỗi một từ Nước) thôi cũng đủ thuyết phục chúng tôi tin là Kinh Dịch do người Việt cổ làm ra. Thế mà, khi nghiên cứu sâu xa hơn thì tôi nhận thấy quả là tư tưởng Dịch chi phối rất sâu vào đời sống văn hóa người Việt nói chung cũng như ngôn ngữ (ngôn có trước ngữ rất lâu) Việt nói riêng. Và các bằng chứng với sức thuyết phục mạnh như đất nước (tức 100%) cũng vô cùng nhiều. Theo tôi, các bằng chứng tiêu biểu là:
-Sự đồng âm dị nghĩa của chữ nương: cô nương, nương rẫy, nương tựa. Giải thích hoàn toàn qua Kinh Dịch. Vì thế mà nương chính là chữ Việt 100%.
-Sự đồng âm dị nghĩa của trái phải (nói về hướng) và trái phải (sai đúng). Với từ trái chính xác mang âm tr-trời. Và trời trên Hậu Thiên bát quái cũng nằm bên trái.
-Hiện tượng Tr đặc biệt.
-Sự đồng âm kỳ lạ giữa: chưng~chân, chưn với dày~tay.
-Và nghĩa nguyên thủy của chồng vợ kết hợp với câu cực cổ: đứng sững như trời trồng.
….
Chúng tôi xin kết thúc chương 1, để qua chương 2: Những danh từ riêng tiếng Việt mang sắc thái Dịch lý.
Trần Quang Bình.
khonglaai
02-12-2006, 04:12 AM
Xóa. Và xin ban QT xóa hộ. Cảm ơn. KLA
khonglaai
02-12-2006, 04:43 AM
Chương 2: Những danh từ riêng tiếng Việt mang sắc thái Dịch lý.
1. Việt.
Có rất nhiều diễn giải về chữ Việt này nhưng tỉ mỉ hơn tất cả là bài viết “Việt” (http://e-cadao.com/tieuluan/VietLevanan.htm) của ông Lê Văn Ẩn. Chúng tôi xin khẳng định với quý vị là chúng tôi ít biết tiếng Hán và tự lý giải điều gì có liên quan đến chữ Hán là điều chúng tôi không thể làm được. Bằng những lý lẽ sắc bén, ông Ẩn đã chứng minh các quan điểm của các học giả khác không có cơ sở đứng vững và đưa ra hai nghĩa theo chúng tôi đánh giá là khá phù hợp với trình độ xã hội của các cư dân Việt cổ. Chúng tôi đánh giá như thế vì chúng còn phù hợp với một số luận giải sẽ được dẫn sau:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/9I1V-chuVietTauto-1.jpg
Nhưng trước khi vào luận giải thêm (chúng tôi cho rằng các luận giải về chữ của ông Ẩn đã quá đầy đủ), chúng ta cần rốt ráo: thế chung quy từ Việt của dân Việt lại dùng tiếng Hán để giải thích là sao? Vâng, chúng ta có thể dùng tiếng Hán để giải thích vì rằng có thể thuở xưa người Việt đã có một số từ (hay thậm chí chỉ là biểu tượng) để chỉ sắc dân Việt và khi người Trung Hoa được giới thiệu họ đã dùng luôn một số gốc của biểu tượng đó và thêm thắt các bộ khác vào để thành tiếng Hán ngày nay. Sự giao lưu văn hóa giữa người Việt với người Hoa là có và hoàn toàn hợp lý khi chúng ta nói có một số biểu tượng hay từ trong hệ ngôn ngữ Việt được người Hoa dùng để chỉ (gọi tên) sự kiện, sự vật mà bản thân ngôn ngữ của họ cũng khó có thể diễn tả. Nhất là đối với những danh từ riêng chỉ có dân tộc khác dân tộc Hoa có, ví dụ như từ “Việt”. Điều quan trọng là chúng ta giải thích được đúng nghĩa từ Việt do dân Việt tự đặt ra và được dân tộc Việt hiểu đúng nguyên căn của nghĩa đó. Nếu có bằng chứng liên quan đến chữ nào, một số chi tiết nào của từ Việt (bằng tiếng Hán) được hiển thị trên các cổ vật Việt Nam càng tốt.
Trong bài viết của ông Ẩn có nói đến chữ Việt http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/9I1V-VietTaunho.jpggồm hai chữ Tẩu http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/9I1V-Tau.jpg và http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/9I1V-Vietqua.jpgchỉ người ra đi xung trận (cầm vũ khí) để bảo vệ đất nước. Chữ sau cũng chính là chữ Việt. Chữ Việt này liệu có nghĩa (nguyên thủy) gì?
Truyền thuyết nước ta có nói chúng ta là con rồng cháu tiên hay chính là con của con giao long-Lạc Long Quân (cá sấu) và chim Âu. Vậy, có thể có lý khi cho rằng từ Việt có dính dáng đến truyền thuyết này. Chúng tôi có đọc một số bài nói về vấn đề này. Và các tác giả đều (có anh Nguyễn Thiếu Dũng) cho rằng từ Việt chính là từ Diệc (chúng ta đọc trại ra Việt bởi vì ảnh hưởng nghìn năm văn hoá của kẻ thống trị. Mà những thứ của kẻ mạnh hơn ta là thứ mốt nhất). Chúng tôi cho rằng đây là lý luận rất xác đáng. Khi nghiên cứu trống đồng, chúng ta đều thấy các cư dân cổ hay dùng những lông chim để trang sức lên người. Có phải chăng họ muốn là một giống chim nào đó. Và chính họ cũng nghĩ mình là chim đó. Nhìn những con chim phượng bay trên trống đồng ta thấy chúng có cái mỏ dài, có đuôi mạnh mẽ như cá sấu, nhưng có cánh sải rộng mềm mại như cánh chim Âu. Có lẽ khi quan sát con chim Âu bay lượn trên những con sông thỉnh thoảng đáp nhẹ xuống nước đã làm cho người Việt xưa nhận ra mối giao duyên của con giao long và chim Âu chăng? Vậy, có thể nói các con chim đó là hoá thân của người Việt. Các con chim đó cũng rất quan trọng vì chúng được vẽ vào trống đồng để diễn tả chuyện Hậu Thiên-chuyện sinh sống của chúng ta trong vũ trụ này. Có thể ngày xưa, người ta dùng từ Diệc để gọi giống chim này. Nhưng qua thời gian, do đánh bắt để lấy lông trang trí, do phải cống nạp, nên giống chim này hầu như tuyệt vong. Cuối cùng họ gọi một loại cò giống nó là Diệc.
Ta lại xét xem chữ Việt http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/9I1V-Vietqua.jpgnày có thể dính dáng gì đến chim Diệc không hay nói cách khác dính dáng đến những người tự cho và tự làm giống chim Diệc không?
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/9I1V-Vietquapt.jpg
Hình người cầm vũ khí trên tang trống Ngọc Lũ:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/9I1V-nguoichim.jpg
Ở hình này, quý vị có thể thấy hằng hà các vũ khí có dáng dấp thẳng như cái qua trong chữ viết. Còn quý vị muốn thấy cái qua được chúc xuống đất thì cũng có nhiều. Các hình trong trống đồng Hoàng Hà này nhìn kỹ rất giống tượng chữ Việt chúng tôi viết ở trên, tuy nhiên vì tính phổ thông của sự đối chiếu chúng tôi chỉ lấy hình trên trống đồng Ngọc Lũ:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/9I1V-nguoichimNL.jpg
Ngay trong trống đồng này, chúng ta cũng có thể thấy là tay trái mỗi người có cầm bản văn gì đó để đọc. Có thể họ đang đọc văn cầu trời đất hay đang xem điều lành dữ cho chuyến đi săn hay xung trận. Hay như trong trống đồng Sông Đà thì chúng ta chứng kiến được rõ ràng hơn vũ khí chúc xuống có hai cánh và tai trái cầm gì đấy đọc (và chúng tôi cho lúc đó dân Việt ta đã có ngữ văn. Ngữ văn đó đi từ triết lý Dịch. Nhưng đó là chuyện khác, chúng tôi sẽ đề cập đến bài viết khác):
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/9I1V-nguoichimSD.jpg
Từ đây, chúng tôi cho rằng từ Việt chỉ người Việt, dân tộc Việt là những người coi mình và cũng hóa trang mình như chim Diệc tay phải cầm vũ khí để chiến đấu và tay trái cầm bản văn để cầu trước khi đi săn bắn hay xung trận. Còn có chữ Tẩu hay không cũng không thay đổi nghĩa đó lắm.
Còn chữ Việt bộ Mễ thì lại hoàn toàn hợp với chủ đề bài viết này: chữ Việt bộ Mễ có những yếu tố của Dịch văn Việt Nam:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/9I1V-VietMept.png
Ở hình trên phần nghĩa của các chữ trên trống Lũng Cú chúng tôi đã trình bày ở quyển 1. Như vậy theo chúng tôi chữ Việt có nghĩa những người đã làm ra Kinh Diệc. Ở đây, chỉ là ý kiến chủ quan của chúng tôi chứ chúng tôi không dám phản bác bằng chứng rành rành của ông Lê Văn Ẩn(*). Ông Lê Văn Ẩn giải thích nhiều điểm rất có lý, tuy nhiên nếu chỉ cần biểu thị sự làm nông thì chỉ cần bộ Mễ thêm cái cày là đủ, việc gì phải thêm cái khung vuông với dấu phết lên trời ấy làm gì? Cũng có thể cả giải thích này lẫn giải thích nọ đều đúng nếu xét sự lệch nghĩa qua từng giai đoạn lịch sử. Và cũng có thể hiểu đó theo nghĩa tổng quát hơn: đấy là những người nghiên cứu Diệc Thư và chuyên làm nông.(**)
* Chúng tôi cho rằng hoàn toàn không mâu thuẫn giữa chữ Việt là chim Diệc với Việt-làm Nông và Việt-làm ra Kinh Dịch. Rất dễ hiểu. Người Việt ta từ thuở xa xưa đã cho mình có nguồn gốc từ giống chim Diệc. Sau đó, người Hán (đúng hơn là người Hoa) khi tiếp xúc với người Việt (mà họ giới thiệu họ là người Việt (tức âm Việt)) thấy người Việt biết làm nông và hay đọc kinh cầu nguyện trước khi lên đường làm việc gì đó, nên họ đã dùng chữ hình tượng của họ mô tả đúng bản chất của người Việt. Nói cách khác, ngày xưa người Hoa đã mô tả người Việt một cách khách quan hơn nhiều.
** Chữ Việt có chữ Tuất phía trước chưa hẳn là vô lý. Cũng chưa hẳn là do kỳ thị. Nếu hiểu chữ Tuất là chó má thì có kỳ thị thật. Nhưng nếu hiểu chữ Tuất là năm xuất hiện của triều đại Việt đầu tiên là Nhâm Tuất thì cách diễn tả này lại rất khách quan. Phải chăng người Hoa cũng đã nghiên cứu lịch sử dân tộc Việt từ ngày xưa?
(còn nữa)
Trần Quang Bình
khonglaai
15-01-2007, 04:00 PM
2. Thần Nông.
Thần Nông một ông vua vô cùng huyền bí của thời thái cổ. Dân tộc ta lẫn dân tộc Trung Hoa đều lấy Thần Nông làm ông tổ của mình. Hay chính xác hơn, người Trung Hoa khẳng định Thần Nông là một trong Tam Hoàng của họ, nhưng các nhà viết sử Trung Hoa thường lấy thời Hoàng Đế làm năm khởi nguyên. Quyển 1 của Sử Ký Tư Mã Thiên là Ngũ đế bản kỷ coi Hoàng Đế là quốc tổ của người Trung Hoa [1]. Còn sách sử chúng ta từ huyền sử đến chính sử đều viết đại khái như trong Đại Việt Sử ký toàn thư (http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n1ntn4ntn31n343tq83a3q3 m3237nvn) của Ngô Sĩ Liên:
Kỷ Hồng Bàng Thị
Kinh Dương Vương
Tên húy là Lộc Tục, con cháu họ Thần Nông.
Nhâm Tuất, năm thứ 1. Xưa cháu ba đời của Viêm Đế họ Thần Nông là Đế Minh sinh ra Đế Nghi, sau Đế Minh nhân đi tuần phương Nam, đến Ngũ Lĩnh lấy con gái Vụ Tiên, sinh ra vua [Kinh Dương Vương]. Vua là bậc thánh trí thông minh, Đế Minh rất yêu quý, muốn cho nối ngôi. Vua cố nhường cho anh, không dám vâng mệnh. Đế Minh mới lập Đế Nghi là con nối ngôi, cai quản phương Bắc, phong cho vua làm Kinh Dương Vương, cai quản phương Nam, gọi là nước Xích Quỷ.
Sử sách Trung Hoa lại có nhiều chi tiết cụ thể hơn. Tuy nhiên, cũng như tất cả tư liệu cổ sử khác viết về một vấn đề cổ hơn nữa thì sách Trung Hoa viết nhiều chỗ lộn xộn, mâu thuẫn nhau. Để thấy được tất cả những thư tịch cổ dính dáng đến Thần Nông và Viêm đế, chúng ta có thể dùng quyển “Lục độ tập kinh-lịch sử khởi nguyên của dân tộc ta” của Lê Mạnh Thát (trang 139-185 bản Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên của dân tộc ta, Nhà XB tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, PL2549-2005):
-Thế bản chấp bổ do Tần Gia Mô viết xong 1817 khi nói về dòng họ Câu Tiễn: Việt họ My, con tước, với Sở cùng tổ, là hậu duệ của Chúc Dung, con của Duẩn Thường, tức vua Việt Câu Tiễn (Việt My tánh, tử tước, dự Sở đồng tổ, Chúc Dung chi hậu. Duẩn Thường chi tử, Thị vi Việt vương Câu Tiễn).
-Thế bản quyển Hạ tờ 23 do Tôn Phùng Dực tập lục và Trần Kỳ Vinh tăng đính xong năm 1876 thì: Viêm đế tức họ Thần Nông-Viêm đế tức Thần Nông.
-Thiên Hải nội kinh trong Sơn hải kinh: Vợ Viêm đế là Thính Yểu, con của Xích Thủy sinh Viêm Cư; Viêm Cư sinh Tiết Tinh; Tiết Tinh sinh Hí Khí, Hí Khí sinh Chúc Dung; Chúc Dung xuống ở Giang Thủy sinh Cọng Công…[2]
-Sơ học ký 24 tờ 35b3-4: Xét Chu Dịch hệ từ nói rằng: họ Thần Nông ban ngày làm ra chợ, cho người trong thiên hạ nhóm lại đồ vật trong thiên hạ mà đổi chác, rồi về, mỗi người đều được lới, nên lấy các quẻ phệ hiệp, một thuyết nói: Chúc Dung làm ra chợ-Án Chu Dịch Hệ Từ vân: Thần Nông thị nhật trung vi thị, tri thiên hạ chi nhân, tu thiên hạ hóa, giao dịch nhi thối, các đắc kỳ sở, cái thủ chủ phệ hiệp, nhất viết Chúc Dung tác thị.
-Cũng Sơn Hải Kinh nhưng thiên Đại hoang tây kinh 16 tờ 2b3-4: Chuyên Húc sinh Lão Đồng, Lão Đồng sinh Chúc Dung.
-Hoài Nam Tử 9 tờ 1b10-2a8: Xưa khi Thần Nông trị thiên hạ, tinh thần không xuôi ngược trong lòng, trí óc không giong ruỗi ra ngoài bốn cõi…..Nuôi dân lấy công bằng, dân chất phác, trọng thẳng thắn. Không giận tranh mà của đủ, không nhọc thân mà việc xong, nhờ trời giúp, để cùng hòa đồng. Do thế, có uy mà không giết, ra hình mà không dùng, pháp luật bớt đi, không phiền ai cả. Vì vậy, sự cải hóa của ngài như thần, đất ngài nam tới Giao Chỉ, bắc đến U đô, đông giáp Thang Cốc, tây men Tam Ngụy.-Tích giả Thần Nông chi trị thiên hạ giả, thần bất trì ư hung trung, trí bất xuất ư tứ vực….Dưỡng dân dĩ công, kỳ dân phác trọng đoan khoản, bất phẫn tranh nhi tài túc, bất lạo hình nhi công thành, nhân thiên địa chi tư, nhi dữ chi hòa đồng, thị cố uy lệ nhi bất sát, hình thô nhi bất dụng, pháp tĩnh nhi bất phiền, cố kỳ hóa như thần, kỳ địa nam chí Giao Chỉ, bắc chí U đô, đông chí Thang cốc, tây chí Tam ngụy.
-Trích lại theo “Lịch sử cổ đại Việt Nam” của Đào Duy Anh trang 208 (Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 2005): ‘Sách Hoài Nam tử, thiên Nguyên đạo chép rằng: Thần Nông cho vài trăm giống cốc, thấy có giống lúa (miêu) mọc được bén nhân đó mà dạy cho dân trồng. Truyền thuyết lại cho rằng Thần Nông sinh ở sông Khương, phía Nam Hoàng Hà. Tư Mã Trinh, trong Bổ Sử ký, Tam hoàng bản kỷ, lại chép rằng Thần Nông cũng gọi là Viêm đế, tức là vua phương Nam, và Thần Nông chết chôn ở Trường Sa là đất trong nước Tam Miêu xưa.”.
Nói về số đời truyền của họ Thần Nông thì mỗi sách một phách:
-Trong Đế vương thế kỷ của Hoàng Phủ Mật (215-282) và có thể trong cuốn Cổ sử khảo của Tiều Chu (199-270) cho rằng họ Thần Nông truyền 8 đời. Đế vương thế kỷ tờ 3b6-4b3: Viêm đế họ Thần Nông, họ Khương, mẹ gọi Nhiệm Tợ, tức con gái họ Hữu Kiều tên Nữ Đang, làm chính phi của Thiếu Diễm, đi chơi phía nam Hoa sơn, có lĩnh thần long, cảm Nữ Đang ở Thương dương, mà sinh Viêm Đế, thân người đầu trâu, lớn lên ở sông Khương, nhân thế mà lấy làm họ. Viêm đế có thánh đức, nối họ Vô hoài, sau lấy lửa nối cây, ngôi ở phương Nam, làm chủ mùa hè, nên nói Viêm đế, đóng đô ở Trần, tạo ra đàn năm dây, bắt đầu dạy thiên hạ trồng lúa, nên người ta gọi là Thần Nông. Lại nói là vốn nổi lên từ Liệt sơn, nên có kẻ gọi là họ Liệt sơn, một hiệu là đẩu khôi, ấy là Nông hoàng. Có kẻ nói, vào thời Viêm đế, chư hầu họ Túc sa làm phản, không chịu vâng lời. Cơ Văn can gián, bèn giết đi. Viêm đế rút về tu đức. Dân Túc sa tự đánh vua mình mà theo về Viêm đế. Viêm đế từ Trần dời đô về Khúc phụ ở Lỗ, lặp lại số 8 quẻ, tức 8 lần 8 làm 64 quẻ, ở ngôi 120 năm, bèn băng, táng ở Trường Sa. Viêm đế nạp con gái họ Bôn thủy tên Thính Yếu, sinh Đế Lâm Khôi, rồi Đế Thừa, rồi Đế Minh, rồi Đế Trực, rồi Đế Ly, rồi Đế Du Võng, phàm 8 đời cộng 530 năm-Viêm đế Thần Nông thị, Khương tánh giả, mẫu viết Nhiệm Tợ, Hữu Kiều thị chi nữ, danh Nữ Đang vi Thiếu Diễm chính phi, du ư Hoa sơn chi dương, hữu Thần Long thủ, cảm Nữ Đang ư Thương dương, sinh Viêm đế, nhân thân ngưu thủ, trường ư Khương thủy, nhân dĩ thị yên, hữu thánh đức, kế Vô hoài thị, hậu dĩ hỏa thừa mộc, vị tại nam phương, chủ hạ, cố vị chi Viêm đế, đô ư Trần, tác ngũ huyền chi cầm, thỉ giáo thiên hạ chủng cốc, cõ nhân hiệu viết Thần Nông thị, hựu viết, bản khỉ Liệt sơn, hoặc xưng Liệt sơn thị, nhất hiệu Đẩu khôi thị, thị vi Nông hoàng, hoặc viết, Viêm đế thời, chư hầu Túc sa thị, phản bất dụng mạng, Cơ Văn gián nhi sát chi, Viêm đế thối nhi tu đức, Túc sa chi dân, tự công kỳ quân, nhi quy Viêm đế, Viêm đế tự Trần doanh đô vu Lỗ Khúc phụ, trùng bát quái chi sồ, cửu bát bát chi thể, vị lục thập tứ quải, tại vị nhất bạch nhị thập niên, nhi băng, táng Trường sa, nạp Bôn thủy thị nữ viết Thính Yểu, sinh Đế Lâm Khôi, thứ Đế Thừa, thứ Đế Minh, thứ Đế Trực, thứ Đế Ly, thứ Đế Du Võng, phàm bát thế, hiệp ngũ bách tam thập niên.
-Còn quyển Xuân thu vỹ mạng lịch tư mà Lưu Thứ (1032-1078) cho dẫn trong Thông giám ngoại kỷ 1 tờ 6b4 và La Tất dẫn trong Lộ sử hậu kỷ 4 tờ 1b7-8 lại viết: Viêm đế truyền tám đời, năm trăm hai mươi năm.-Viêm đế truyền bát thế, ngũ bách nhị thập tuế.
-Lã thị xuân thu viết: Thần Nông mười bẩy đời có thiên hạ, cùng thiên hạ hòa đồng.
-Lộ sử hậu kỷ 4 tờ 1b6-7 viết thuyết của La Tất: Thần Nông có thiên hạ, truyền 70 đời, mà sách truyện chỉ còn được 8 đời, ấy là vì năm tháng xa xuôi, ghi chép thất lạc, cho nên không đáng lầm. Nhưng các sách Vận lịch v.v… lại dàn giải nói bậy là đúng ngày tháng, rồi người đời theo nhau dẫn nó cho là đúng-Thần Nông hữu thiên hạ. truyền thất thập thế, như thư truyện chỉ tồn bát diệp, niên miễu, ký lạc, cổ vô túc hoặc, nhiên Vận lịch chư thư, phục đan trương tranh nguy, kỳ vi chính chi nhất, nhi thế giao dẫn, dĩ vi thị. Thuyết này thì La Tất nói dẫn từ Thi tử là Lữ Lãm.
Tóm tắt hai giả thuyết 8 và 17-70 (hai chữ này có thể đổi lộn cho nhau) theo Lê Mạnh Thát:
Thần Nông, Đế Lâm Khôi, Đế Thừa, Đế Minh, Đế Trực, Đế Lai (Khác), Đế Ai, Đế Du Võng.
Viêm đế Thần Nông, Viêm đế Trụ, Viêm đế Khánh Giáp, Viêm đế Lâm, Viêm đế Thừa, Viêm đế Khôi, Viêm đế Minh, Viêm đế Trực, Viêm đế Ly, Viêm đế Lai, Viêm đế Tiết Cảnh, Viêm đế Khác, Viêm đế Hý, Viêm đế Khí, Viêm đế Tham Lô tức Du Cương.[3]Công lao và việc làm của họ Thần Nông:
-Sơ học ký 24 tờ 35b3-4: Xét Chu Dịch hệ từ nói rằng: họ Thần Nông ban ngày làm ra chợ, cho người trong thiên hạ nhómlại đồ vật trong thiên hạ mà đổi chác, rồi về, mỗi người đều được lới, nên lấy các quẻ phệ hiệp, một thuyết nói: Chúc Dung làm ra chợ
- Trong Đế vương thế kỷ của Hoàng Phủ Mật (215-282): tạo ra đàn năm dây, bắt đầu dạy thiên hạ trồng lúa, nên người ta gọi là Thần Nông. Lại nói là vốn nổi lên từ Liệt sơn, nên có kẻ gọi là họ Liệt sơn, một hiệu là đẩu khôi, ấy là Nông hoàng.-tác ngũ huyền chi cầm, thỉ giáo thiên hạ chủng cốc, cõ nhân hiệu viết Thần Nông thị, hựu viết, bản khỉ Liệt sơn, hoặc xưng Liệt sơn thị, nhất hiệu Đẩu khôi thị, thị vi Nông hoàng.
-Lỗ ngữ 4 tờ 6a7-8: “Xưa họ Liệt Sơn có thiên hạ, con nó gọi là Trụ hay trồng được trăm thứ lúa và trăm thứ rau”; Lỗ sử hậu kỷ 4 tờ 1a6 trích lại và thêm nguồn khác: Lỗ ngữ nói con của Liệt Sơn thị là trụ. Nội truyện cũng giống thế. Tế pháp nói: con của Liệt Sơn thị là Nông, tức là nông quan vậy, lang là Trụ”
-Lễ ký 14 tờ 4b2-3 viết: “Cho nên họ Lệ[4] Sơn có thiên hạ, con nó là Nông, hay trồng được trăm thứ rau.”
-Theo Thế bản do Hy Lân dẫn trong Tỳ nại da dược sự âm nghĩa, mà Trần Kỳ Vinh cho dẫn lại trong Tăng đính thể bản tờ 3: “Thần Nông làm ra cày”-Thần Nông tác lỗi. Biện chính luận âm nghĩa của Huệ Lâm lại viết: “Xưa Thùy là ra cày và lưỡi cày, tức người tôi của Thần Nông vậy”-cổ giả Thùy tác lỗi tỷ Thần Nông chi thần giả.
-Và chính nhờ công lao mà trong Tế tự chí của Hậu Hán thư 19 tờ 6b11-13 của Lưu Chiêu, thế kỷ VI viết: “Lễ ký và Quốc ngữ đều bảo con họ Cộng Công tên Cú Long là Hậu Thổ quan có thể bình định được chín châu, nên thờ lấy làm xã, con họ Liệt Sơn tên Trụ có thể trồng trăm lúa rau từ Hạ[5] về trước, thờ lấy làm tắc”.
Sự kết thúc của họ Thần Nông:
-Theo Lĩnh Nam chích quái (http://www.dunglac.net/kimdinh/KinhHung2-01.htm) thì: 3. Đế Nghi truyền ngôi cho Đế Lai cai trị phương Bắc; nhân khi thiên hạ vô sự, sực nhớ đến chuyện ông nội là Đế Minh nam tuần gặp được tiên nữ Đế Lai bèn khiến Xi Vưu tác chủ quốc sự mà nam tuần qua nước Xích Quỷ, thấy Long Quân đã về Thủy Phủ, trong nước không vua, mới lưu ái thê là Âu Cơ cùng với bộ chúng thị thiếp ở lại hành tại. Đế Lai chu lưu khắp thiên hạ, trải xem tất cả hình thể, trông thấy kỳ hoa, dị thảo, trân cầm dị thú, tê tượng, đồi mồi, kim ngân, châu ngọc, hồ tiêu, nhũ hương, trầm đàn, các lọai sơn hào hải vị không thứ nào là không có; khí hậu bốn mùa lại không nóng không lạnh, Đế Lai ái mộ quá, quên cả ngày về.
4. Nhân dân nước Nam khổ về sự phiền nhiễu, không yên ổn như xưa, đêm ngày mong đợi Long Quân về nên mới đem nhau kêu rằng:
- Bố ở phương nào, nên mau về cứu nhân dân.
Lạc Long Quân bỗng nhiên lại về, thấy nàng Âu Cơ ở một mình, dung mạo đẹp lạ lùng, yêu quá, mới hóa ra một chàng nhi lang phong tú mỹ lệ, tả hữu thị tùng đông đảo, tiếng đàn ca vang đến hành tại. Au Cơ trông thấy mà lòng cũng ưng theo; Long Quân bèn rước nàng về núi Long Trang. Đế Lai về không thấy Âu Cơ bèn sai quần thần tìm khắp thiên hạ. Long Quân có thần thuật, biến hiện trăm cách, nào là yêu tinh quỷ mị, nào là long xà hổ tượng, kẻ đi tìm úy cụ, không dám lục đảo tận cùng. Đế Lai trở về bắc truyền ngôi cho Đế Du Võng. Du Võng truyền lại cho Xi Vưu cùng với Hòang Đế đánh nhau ở Bản Tuyền và Trác Lộc không hơn nên tử trận. Họ Thần Nông bèn mất.
-Theo cổ sử Trung Hoa thì người cuối cùng của giòng họ Thần Nông là Đế Du Võng hay Du Cương, trích từ nguồn ở Wiki: Viêm Đế (Thần Nông) là thủ lĩnh một bộ lạc khác đồng thời với Hoàng Đế, cư trú tại vùng Khương Thuỷ ở tây bắc Trung Quốc. Theo truyền thuyết Trung Hoa thì Viêm Đế có họ hàng thân tộc với Hoàng Đế.
Còn Xi Vưu là thủ lĩnh bộ tộc Cửu Lê. Họ chế tạo ra các loại vũ khí như đao, kích, cung, nỏ, thường dẫn bộ lạc đi xâm chiếm, cướp phá các bộ lạc khác.
Có lần, Xi Vưu xâm chiếm vùng đất của Viêm Đế. Viêm Đế đem quân chống lại nhưng thất bại. Viêm Đế đành chạy đến Trác Lộc, xin Hoàng Đế giúp đỡ. Hoàng Đế liên kết các bộ lạc, chuẩn bị lương thực, vũ khí, triển khai một trận quyết chiến với Xi Vưu trên cánh đồng Trác Lộc.
Về trận đại chiến này, đã có nhiều truyền thuyết hoang đường, khi quân của Hoàng Đế thừa thắng đuổi theo quân của Xi Vưu, trời bỗng nổi cuồng phong, là do Xi Vưu đã được sự giúp đỡ của thần gió, thần mưa. Hoàng Đế cũng nhờ Thiên Nữ giúp đỡ. Cuối cùng, Xi Vưu bị đánh bại. Những truyền thuyết trên chỉ có tính chất phản ánh sự khốc liệt của cuộc chiến.
Từ đó, Hoàng Đế được nhiều bộ lạc ủng hộ. Nhưng sau đó 2 bộ lạc của Hoàng Đế và Viêm Đế lại nảy ra xung đột, hai bên đánh nhau một trận ở Bản Tuyền, Viêm Đế thất bại. Từ đó Hoàng Đế trở thành thủ lĩnh của liên minh bộ lạc các vùng Trung Nguyên.
-Ông Kim Định lại cho rằng S(X)i Vưu chính là cách không lấy gì làm đẹp đẽ của người Trung Hoa gọi Đế Lai. Ý ông là Si Vưu (Đế Lai) bại trận ở Trác Lộc (Tích nhật Hoàng đế chiến Si Vưu, Trác Lộc kinh kim vị nhược hưu.-Ngày xưa Hoàng đế đánh Si Vưu, cuộc chiến ở Trác Lộc đến nay còn chưa dứt.), sau đó quân và dân Viêm Việt chạy xuống dưới và cuối cùng bại tiếp trận Bản (Bàn) Tuyền, họ Thần Nông chấm dứt.
Các truyền thuyết dính dáng đến Thần Nông và họ Thần Nông:
-Nữ Oa vá trời: Vào thời Hiên Viên; thần nước Cộng Công đánh nhau với thần lửa Chúc Dong. Cộng Công thua trận; húc đầu vào núi Bất Chu; khiến cột trời đổ gẫy. Trời nghiêng về phía Tây Bắc; đất lệch về phía Đông Nam. Nước từ trên trời đổ xuống gây ngập lụt ở khắp nơi. Bà Nữ Oa đốt cỏ Lư thành tro ngăn nước lụt; lấy đá ngũ sắc dưới biển vá trời. Sau đó bắt con rùa lớn đứng đội trời lên. Từ đó; cuộc sống trở lại yên bình. Chúng tôi bắt buộc đưa truyền thuyết này vào vì ngay mấy hàng ngắn ngủi này cũng chứa đựng cả hai tên mà theo Hải nội kinh trong Sơn hải kinh có dính dáng đến họ Thần Nông: Cộng Công và Chúc Dong.
-Truyền thuyết Trung Hoa có kể: “Vua Thần Nông đi kinh lý về vùng Lĩnh Nam. Khi ngồi nghỉ ngơi sai quân đun nước uống. Lúc đó có vài chiếc lá rơi vào nồi nước, Ngài uống thử, thấy có mùi thơm là lạ, trong người sảng khoái. Bèn truyền lấy giống, dạy cho dân chúng trồng thứ cây đó dùng để đun nước uống.”.
-Truyện thần thoại dân tộc Tày “Công việc bỏ dở của Thần Nông” [6] đại khái: Thần Nông khai hoang làm ruộng, chia đất cho hai con trai lấy sông Bắc Khê làm ranh giới. Người con cả bên đông và người con thứ bên Tây. Rồi Thần cùng vợ tiếp tục khai khẩn đến mức trâu của Thần chết và làm Trời bắt tội thần. Nhưng Thần cũng đã tạo được cánh đồng Thất Khê xung quanh là những dãy núi nhấp nhô do những tảng đất cày lên mà chưa kịp bừa. Hằng năm cứ đến ngày 12 tháng tư âm lịch tất cả các xã nằm trong cánh đồng Thất Khê đều góp gạo, thịt làm tế lễ Thần Nông.”.
Sự đối chọi với chính sử khi ta thấy Cộng Công và Chúc Dong là hai cha con, còn ở truyền thuyết Nữ Oa vá trời là hai kẻ thù không đội trời chung. Hiển nhiên, trong lịch sử không thiếu những trường hợp cha con, mẹ con, vợ chồng, anh em thành kẻ thù. Nhưng ở đây vai trò của Cộng Công và Chúc Dong được đóng như một sai lầm của người viết sử. Hầu hết các nhà viết sử thiên về hai cách diễn phổ hệ của họ Thần Nông như trên đã viết. Còn Chúc Dong (mà tôi sẽ giải mã ý nghĩa sau) đã được ông Lê Mạnh Thát đưa ra cách lý giải khá thấu đáo là cách đọc đảo ngược của từ Viêm Đế[7]. Thế nhưng vì sao có sự nhầm lẫn ở đây? Đơn giản và logic nhất theo chúng tôi là vì: quả thật hai người này có dính dáng đến họ Thần Nông hay nói đúng hơn họ dính dáng đến một vũ trụ quan được khởi nguồn từ thời Thần Nông.
Đọc tất cả những dòng viết ở bên trên, chiếu theo niên đại của Thần Nông (có thể vào 4000-3000BC) và hành trình sáng tạo chữ viết với viết sử, ta có thể kết luận: Có những bài tuy được gọi là chính sử, nhưng viết sau thời đại của Viêm đế rất nhiều, cách hàng ngàn năm (ít ra 2000 năm). Như vậy cái chính sử đó cũng chỉ được viết dựa từ những truyền khẩu trong dân gian. Vì thế độ xác thực của chúng cũng không thể gọi là tin cậy hơn huyền sử hoặc truyền thuyết. Ví dụ như có sách nói là có ông Hí Khí, nhưng có sách lại tách ông này ra làm đôi: Viêm đế Khí và Viêm đế Hí. Một bức tranh sử ảm đạm và mây mù.
Tuy nhiên, những thông tin truyền khẩu không phải hoàn toàn không có cơ sở. Nói nôm na là có lửa mới có khói: những câu chuyện truyền khẩu cũng có mang những thông tin bổ ích nào đó. Vì thế mà chúng ta có thể gạn lọc trong bức tranh huyền sử và chính pha huyền sử đó những thông tin bằng suy luận logic đơn giản:
-Đối với người Trung Hoa lúc bấy giờ, Thần Nông là ông vua của xứ phương Nam (Đế vương thế kỷ và đa số các nguồn khác). Tên Viêm đế là một bằng chứng đúp vì Viêm đế chỉ là cách gọi ông vua xứ nóng. Mà xứ nóng theo quan niệm Trung Hoa là xứ Nam.
-Xứ Việt của Việt vương Câu tiễn và xứ Sở đều là lãnh thổ xưa của Thần Nông.
-Thần Nông hay con cháu ông ta hay ít ra là người của ông ta dạy dân cày, làm ra trăm thứ rau, làm ra cày và phát minh ra chợ đầu tiên. Và vì công lao này mà dân chúng đã thờ phượng.
-Thần Nông là người trùng quái đầu tiên, đến bây giờ không biết bảng trùng quái của ông ta như thế nào, nhưng như thế chứng tỏ ông ta biết 8 quái và 64 trùng quái. (Biết điều này có nghĩa đã biết ý nghĩa gì đó của nó và chắc chắn cũng đã dùng ký hiệu gì đó để biểu diễn nó. Cũng nên nhắc là con đường từ ký hiệu đến chữ là con đường dài hàng mấy nghìn năm).
-Thần Nông chắc chắn phải có trước Hiên Viên Hoàng Đế nhiều đời. Họ Thần Nông bị Hiên Viên Hoàng Đế tiêu diệt chứng tỏ Thần Nông không thể cùng thời với Hiên Viên. Hay ít ra, ông vua mở đầu triều nhà Viêm đế có trước Hoàng đế nhiều năm.
-Quan niệm của người Trung Hoa thời cổ đại: phía Nam là vùng đất Nam sông Hoàng Hà xuống dưới nữa. Tức thời cổ đại người Trung Hoa chủ yếu tập trung vào vùng đất Bắc Hoàng Hà.
Đến đây, chúng tôi lại dùng logic “có một nền tảng triết lý chi phối lên các hiện tượng văn hóa”, mà ở đây là Kinh Dịch Nòng Nọc để suy luận ra những kết quả quan trọng khác.
-Nông như đã phân tích nhiều lần là nó nằm trong sự biến âm (không phải riêng từ Nông mà là một cụm gồm nhiều chữ khác nhau với nghĩa khác nhau) của Nòng để diễn tả hết tất cả từ mang tính Nòng (tôi tránh không dùng Âm) trong đó có đất, lòng, long, l., lộn, nang, nương, nường, nữ, nong, nia….Điều này, trước đây ông Nguyễn Xuân Quang cũng đã phát hiện ra trong công trình Nhận diện chân tướng vua Thần Nông (http://mevietnam.org/HuyenSu/nxq-thannong.html). Tuy nhiên, chúng tôi không đồng ý với kết luận của ông: Thần Nông chính là mẹ trứng vĩ đại. Thứ nhất, Thần Nông có mang trong mình một từ đại diện cho tính Nòng, nhưng dù là huyền sử thì người ta đã truyền khẩu nhau qua bao nhiêu đời Thần Nông là nhân vật Nam chứ không phải Nữ. Kết luận này ta có thể quay ngược lại với chữ Thần. Chữ Thìn - biểu thị con Rồng người ta cũng hay đọc là Thần và Thần ở đây mang tính Nọc, tính Dương, thần có lẽ đầu tiên được gọi cho con Rồng. Còn trong ngôn ngữ Việt Nam chúng ta cũng có thể triển khai một loạt từ (dĩ nhiên phải là những từ cổ hoặc tương đối cổ, từ Thần có nguồn gốc xa xưa nên nó cũng có chung một triết lý hình thành với các từ th khác) bắt đầu từ th mang tính Nọc: thần, thông, thắng, thằng, thầy, thẳng, thang, thích, thêm, thơm, thọc, …[8]. Ngoài ra, ngay trong Bổ sử ký có chép Thần Nông có họ Thần Long thị, vì mẹ Thần Nông cảm Thần Long mà sinh con. Thứ hai, theo cây di truyền ngôn ngữ thì chúng ta phải diễn giải dứt khoát từ nào ra từ nào. Ví dụ, theo lý giải bằng triết lý Kinh Diệc Nòng Nọc của chúng tôi, vì mang trong mình tính Nòng(Âm) bao trùm nên từ Nòng người ta sáng tác ra nhiều biến âm để chỉ thị những sự vật, sự kiện mang nghĩa Nòng qua lăng kính Diệc lý. Khi từ nào đó được làm ra xong thì chúng ta không thể nào cho từ đó lại mang nghĩa của từ mẹ ban đầu (có lẽ có ngoại lệ nào đó. Nhưng đấy chỉ là những cá biệt chứ không phổ biến). Vì vậy, chúng tôi không cho rằng từ Thần Nông mang nghĩa mẹ trứng vũ trụ; Nông chỉ đơn giản là biến âm của Nòng (trứng vũ trụ) nhưng đã mang nghĩa làm nông, nông dân chứ không mang nghĩa trứng như Nòng. Vậy phải có nguyên cớ gì đó người ta mới dùng chữ Thần trước một chữ hoàn toàn mang tính Nòng? Và lý luận Thần Nông là vị thần (Nam) dạy cho người dân làm công việc canh tác trên đất đai (mang tính Nòng) hoàn toàn hợp lý để trả lời câu hỏi trên.
-Về góc độ ngôn ngữ thì cấu trúc Thần Nông với nghĩa ông thần dạy người ta trồng lúa, ngũ cốc và đúc cày là cấu trúc ngữ pháp tiếng Việt. Câu khẳng định này lại có một bằng chứng đúp là các hậu duệ của Thần Nông đều được đọc bằng cấu trúc ngữ pháp tiếng Việt: Đế Minh, Đế Ly, Đế Lai,… Tuy nhiên, ở đây cần phải phân tích kỹ ngọn ngành để chứng minh sự mâu thuẫn của thuyết cho rằng Thần Nông vẫn có thể hiểu theo tiếng Hán với nghĩa: người nông thần linh.[9]. Người nông thần linh có nghĩa là vẫn còn có những nhà nông khác và họ biết làm nông nhưng không đến nỗi thần linh như Thần Nông mà thôi. Vậy thì khi ta đọc lại tất cả những bằng chứng công lao của Thần Nông ở trên ta thấy quan niệm người Trung Hoa và người Việt Nam ta về Thần Nông là gì? Rõ ràng thiên về nghĩa người dạy dân làm nông, người sáng tạo ra chợ, người làm ra cày. Ở đây nghĩa ông Thần dạy người ta làm nông áp đảo hoàn toàn nghĩa ông nhà nông thần linh. Chính tên ông đặt nền móng cho một nghề mới lúc bấy giờ: nghề nông. Điều này cũng đã được khẳng định trong “Đế vương thế kỷ” của Hoàng Phủ Mật với cấu trúc rõ ràng chưa từng có-Thần Nông là Nông Hoàng: “Lại nói là vốn nổi lên từ Liệt sơn, nên có kẻ gọi là họ Liệt sơn, một hiệu là đẩu khôi, ấy là Nông hoàng.”- hựu viết, bản khỉ Liệt sơn, hoặc xưng Liệt sơn thị, nhất hiệu Đẩu khôi thị, thị vi Nông hoàng. Quan trọng hơn, với những quan niệm như vậy thì người Hoa hoàn toàn vẫn có quyền lựa chọn tên là Nông Shen. Không ai bắt ép họ chọn tên khác cả. Tại sao họ lại chọn một tên Shen Nông-người nông dân thần linh không hợp đến như vậy? (giữa hai cách lựa chọn Shennong và Nongshen họ hoàn toàn có quyền chọn Nongshen để hợp với nghĩa Nông hoàng hơn cơ mà!!!). Điều này chỉ có thể được giải nghĩa bằng một cách duy nhất, tên Thần Nông đã có sẵn, đã được ai đó, dân tộc nào đó đặt ra sẵn trước khi người Hán biết đến nó. Cuối cùng, trong quá trình xâm nhập, di cư hay giao lưu văn hóa, người Hán biết có nhân vật tên như vậy, nghĩa như vậy. Và họ cứ để như thế không sửa chữa lại vì tên đó đã trở thành danh từ riêng lưu truyền quá rộng rãi trong dân gian mất rồi.[10]
-Vậy ngay tên Thần Nông với hình thức diễn tả qua ngữ pháp Tiếng Việt lẫn nội dung mang tính Việt hai lần (Việt tính trong nội dung ở đây thể hiện qua Kinh Dịch-Kinh Diệc Việt chứ không phải Kinh Dịch Trung Hoa): Thần và Nông với Thần mang tính Nọc và Nông mang tính Nòng kết hợp với nhau để được một nghĩa thống nhất vô cùng hợp lý-một vị thần Nam giáo dục dân chúng làm công việc trên đất đai. Điều này, cho thấy nguồn gốc Việt quá rõ ràng của Thần Nông. Và tên tuổi Thần Nông gắn chặt với triết lý chủ đạo trong văn hóa của người Việt cổ.
-Sự liên quan giữa Thần Nông với trùng quái (Đế vương thế kỷ, Hoàng Phủ Mật) và quẻ Phệ hạp là một trùng quái (Chu Dịch hệ từ) cho thấy Thần Nông có biết hoặc chính ông triển khai Dịch lý. Và sự liên quan này càng khép kín hơn khi ta thấy trong họ Thần Nông lại xuất hiện hai nhân vật khá lạ là Cộng Công và Chúc Dong. Hai nhân vật này khá mờ ảo và chuyện họ là dòng dõi của Viêm Đế Thần Nông cũng bị đặt dưới dấu hỏi. Thế nhưng họ vẫn ở đó, vẫn hiện ra dù mờ ảo, dù có bị nhận định sai lầm. Các danh từ riêng có nhiều liên quan đến nhau mà do yêu cầu của cách trình bày, chúng tôi tách chúng ra từng mục khác nhau cho dễ theo dõi nhưng vì thế lại khó tạo ra khung cảnh nhất quán. Sự thống nhất sẽ dần dần hiện ra nếu chúng tôi phân tích dần cho kỳ hết những danh từ riêng. Ở đây, chỉ giới hạn ở việc Thần Nông dính dáng đến Dịch qua trình bày của chính sử Trung Hoa và qua phân tích tên thì thấy rõ hơn là Thần Nông dính dáng đến Dịch Nòng Nọc của dân tộc Việt. Chúc Dong, Cộng Công dính dáng đến Thần Nông, và Chúc Dong Cộng Công dính dáng đến Nữ Oa, đến truyện Nữ Oa vá Trời; sau này chúng tôi sẽ phân tích kỹ lưỡng truyện này dính dáng đến Kinh Dịch thế nào. Các mối dây quan hệ dẫn chúng ta đến kết luận logic: Thời Thần Nông hay thời các Viêm Đế người ta đã có những phát hiện sơ khai về Kinh Dịch Nòng Nọc, có thể đã đến giai đoạn trùng quái (tôi sẽ chứng minh có sự trùng quái trong truyện Nữ Oa vá Trời-sự trùng quái này với câu chuyện trùng quái của Thần Nông lại là một bằng chứng kép). Về sau người ta đặt ra truyền thuyết trên tinh thần chủ đạo của triết lý có trước với những danh từ riêng có trước. Trong truyền thuyết Nữ Oa vá trời những phát hiện đã đến mức cao hơn (đến mức đồ hình và mã hóa) nhưng các danh từ riêng Chúc Dong và Cộng Công vẫn được dùng vì đơn giản chúng nằm trong một hệ thống logic, lý luận chung. Ví như, Toán học có phát triển đến đâu thì các định lý mang tên các nhà Toán học trước đó cũng được người ta nêu ra mãi mãi chứ chẳng nhẽ lại đặt tên khác cho các định lý đó?! Để xét sâu hơn về hai nhân vật Chúc Dong và Cộng Công chúng tôi xin độc giả đọc thêm phần “Thánh Gióng” và “Nữ Oa vá trời”. Ở đây chỉ xin lưu ý, nhân vật Chúc Dong (hay Dung) được nhắc đến khá nhiều vào nhiều nội dung khác nhau, còn Cộng Công được nhắc như con của Chúc Dong ở thiên Hải nội kinh trong Sơn Hải Kinh: Hí Khí sinh Chúc Dung; Chúc Dung xuống ở Giang Thủy sinh Cọng Công. Mà Sơn Hải Kinh là một quyển sách có mức độ khả tín khá nghi ngờ như lời phân tích của ông Lê Mạnh Thát: “Thí dụ, cứ vào lời dẫn từ Sơn Hải Kinh ở trên, ta thấy Chúc Dung thực sự là cháu ba đời của Viêm đế, chứ không phải là kẻ đồng nhất với Viêm Đế. Tuy nhiên, nếu đọc ngược lên ở Đại hoang tây kinh của Sơn Hải Kinh 16 tờ 2b3-4, ta được bảo: “Chuyên Húc sinh Lảo Đồng, Lảo Đồng sinh Chúc Dung”, chứ không phải “Tiết Tinh sinh Hí Khí, Hí Khí sinh Chúc Dung”, như đã thấy. Những tráo trở này của Sơn hải kinh, đương nhiên không có gì làm ta bỡ ngỡ, bởi vì nó rất có thể là tác phẩm hình thành qua nhiều thời đại và do thế qua nhiều nguồn tài liệu cũng như ý kiến.”. Mặt khác, trong Tế tự chí của Hậu Hán thư 19 tờ 6b11-13 của Lưu Chiêu, thế kỷ VI lại viết: “Lễ ký và Quốc ngữ đều bảo con họ Cộng Công tên Cú Long là Hậu Thổ quan có thể bình định được chín châu, nên thờ lấy làm xã, con họ Liệt Sơn tên Trụ có thể trồng trăm lúa rau từ Hạ về trước, thờ lấy làm tắc”. Câu cú ở đây đối chọi nhau chan chát: họ Cộng Công-bình định (đánh nhau)-thờ làm xã çè họ Liệt Sơn-trồng trăm lúa rau(làm nông)-thờ làm tắc. Từ đây suy ra, Chúc Dung có thể là một người trong họ Thần Nông còn Cộng Công có dính dáng đến thời đại các Viêm đế nhưng không phải là cùng họ. Và chuyện “Nữ Oa vá trời” cho chúng ta biết Cộng Công hay họ Cộng Công chính là kẻ thù của họ Thần Nông-Chúc Dong. Không nhất thiết là người trần mắt thịt mà có thể là kẻ thù hay kẻ đối nghịch theo một quan niệm triết lý nào đó.
[1]. Ngũ đế: Hoàng Đế (hiệu Hiên Viên), Thiếu Hạo, Xuyên Húc, Nghiêu, Thuấn. Có nhiều cách phân bố Tam Hoàng và Ngũ Đế. Xem thêm Wikipedia (http://vi.wikipedia.org/wiki/Tam_Ho%C3%A0ng_Ng%C5%A9_%C4%90%E1%BA%BF).
[2]. Ở đây cần đặc biết chú ý đến đoạn sau: Chữ “chúc”, cứ theo chú thích của Vỹ Chiếu trong Quốc Ngữ 6 tờ 2a12 mục Trịnh ngữ thì có nghĩ như chữ “thỉ”: “Chúc, thỉ giả”. Một đồng đại lớn tuổi của Chiếu là Lưu Hy cũng phát biểu ý kiến tương tự trong Thích danh 3 tờ 7b6-7 mục Thích thân thuộc, theo đấy “người Kinh và Dự gọi vợ lớn là thúc, thúc tức là chúc vậy, chúc tức thỉ vậy”-Kinh Dự nhân vị trưởng phụ viết thúc, thúc chúc giả, chúc thỉ giả.
[3]. Ngoài ra còn kể đến phả hệ Viêm Đế theo Hải nội kinh của Sơn Hải kinh: Thần Nông, Viêm Cư, Tiết Tinh, Hí Khí, Chúc Dung, Cộng Công, Hậu Thổ và Thuật Khí, Hậu Thổ sinh Ế Minh, Ế Minh sinh 12 người con…
[4]. Ông Lê Mạnh Thát đã chứng minh hai họ Lệ và Liệt chẳng qua là cách đọc khác nhau của một họ trong quyển sách đã dẫn; và chúng tôi cho rằng rất thỏa đáng.
[5] Nhà Hạ: triều đại đầu tiên của Trung Hoa có thể kéo dài từ 2205-1767 BC. Tuy nhiên cũng không có bằng chứng khảo cổ nào chứng tỏ sự hiện diện của nó.
[6] Kho tàng thần thoại Việt Nam, Vũ Trọng Khánh, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, Hà nội, 2006, tr. 661.
[7]. Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên của dân tộc ta, Lê Mạnh Thát, Nhà xuất bản tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, PL 2549-2005, tr.140-141.
[8]. Nhất định chúng tôi sẽ làm công trình khác để phân tích sâu hơn về tính Nòng Nọc của ngôn ngữ Việt Nam. Mong quý độc giả chờ đợi một thời gian.
[9] Wikipedia tiếng Việt. Mục Thần Nông. (http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%A7n_N%C3%B4ng_(l%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD))
[10]. Chúng ta cũng nên nhớ lại, sự cố gắng của người Trung Hoa khẳng định Hoàng Đế là người khởi thủy của lịch sử Trung Hoa. Hiển nhiên, nhờ có phần chiến công hiển hách của ông trước dân tộc của họ Khương. Cả Si Vưu và Thần Nông đều mang họ Khương. Tuy nhiên, nếu chiếu như trên đây mà nói thì Hiên Viên Hoàng Đế chính là danh hiệu Hán ngữ đầu tiên. Trước ông ta, chúng ta có thể chứng kiến hàng loạt danh từ riêng Việt: Thần Nông, Nữ Oa, Đế Nghiêu, Đế Thuấn, Đế Minh, ….Từ đây, bằng chứng ngôn ngữ học này cũng khách quan cho thấy sự đẩy dần, đánh lùi người Việt (hay giống dân nào đó có ngữ pháp khác hẳn người Hoa Hạ) từ miền Nam Hoàng Hà xuống phía Nam.
khonglaai
26-01-2007, 12:25 AM
3. Kinh Dương Vương, họ Hồng Bàng và nước Xích Quỷ.
Đọc lại câu chuyện họ Hồng Bàng trong Đại Việt sử ký toàn thư (http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n1ntn4ntn31n343tq83a3q3 m3237ntn&cochu=), có lẽ ai cũng từng ngạc nhiên khi các danh từ riêng tiếng Hán (Hán Việt) lại chiếm phần lớn. Tuy nhiên, liệu điều đó có gì vô lý không? Thưa không. Bởi vì, người chép lại truyền thuyết đó đã viết lịch sử Việt Nam bằng Hán Văn còn các tên có nguồn gốc Việt ở trong bài đó như Thần Nông, Đế Minh, Đế Lai thật ra từ xa xưa người ta cũng cho là có nguồn gốc từ Trung Hoa. Người Hoa đọc sao người ta lại chép y hệt vậy. Và cũng hoàn toàn dễ hiểu vì sao những danh từ riêng của dân tộc Việt cũng được Hán hóa đi. Vì bị xâm chiếm, bị nô dịch văn hóa nên người Việt biết dùng cả tiếng Việt lẫn tiếng Hán cùng với các quy tắc ngữ pháp của chúng. Còn người Hán chỉ biết mỗi ngôn ngữ Hán. Như vậy, có thể dễ dàng suy ra, nếu có hiện tượng ngôn ngữ nào mang tính Việt ở trong văn hóa Hán thì hiện tượng này được làm ra bởi người Việt. Còn có hiện tượng ngôn ngữ mang tính Hán nào trong văn hóa Việt thì cũng chưa hẳn nó được làm ra bởi người Hán. Ví dụ, Thần Nông và Nữ Oa là của người Việt, nhưng Kinh Dương Vương (Hán ngữ) và Lạc Long Quân thì chưa chắc là của người Hán.
Truyền thuyết về Kinh Dương Vương xoay quanh những danh từ riêng sau: Hồng Bàng, Viêm đế, Thần Nông, Đế Minh, Đế Nghi, Kinh Dương Vương (với tên là Lộc Tục), Vụ Tiên, Ngũ Lĩnh và Xích Quỷ. Ở đây chúng tôi xin bàn đến những từ vô cùng quan trọng Kinh Dương Vương, Hồng Bàng và Xích Quỷ. Nội dung truyền thuyết thật ra xoay quanh bốn danh từ riêng chính: Thần Nông, Kinh Dương Vương, Hồng Bàng và Xích Quỷ.[1]
Hồng Bàng là gì? Chúng ta có thể lướt qua các lý giải của các nhà nghiên cứu:
Theo ông Kim Định trong “Hưng Việt” (chương 4) (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/kimdinh3/hung04.htm):
Tiên = chim. Mở đầu huyền sử nước nhà ta thấy họ khai sáng nước là Hồng Bàng thì cả ba chữ đều mang đậm ý nghĩa. Trước hết là chữ Hồng cũng thường gọi là Hồng Hộc. Hồng là ngỗng trời, còn Hộc là ngan trời, nên cả hai cũng có tên là thiên nga (swan) hàm ý là nó bay cao đến tận trời xanh, nên ở miền Dương Tử giang người ta hay gọi chim Hồng là Đế giang có nghĩa là vua sông Dương Tử. Còn Bàng có nghĩa là nhà lớn, nói theo triết là lối ở đời phải ở nơi nhà lớn, tức là phải để tâm tư vào những việc ích quốc lợi dân, trong lễ gia quan cha bảo con phải ở nơi lớn “cư thiên hạ chi quảng cư” con hãy ở nơi quảng khoát trong thiên hạ. Hỏi nơi nào rộng lớn hơn hết. Thưa ở nơi nào mà kiếm được cả trời lẫn đất. Do đó mới có truyện ông “Hữu Sào” chính nghĩa là “có tổ” nghĩa rộng là ở theo lối chi, chữ Nho gọi là “điểu tục”.
Còn Nguyễn Xuân Quang trong tác phẩm “Khai quật kho tàng cổ sử Hừng Việt” (Nhà xuất bản Y học thường thức, Anaheim-California, 1999, tr.351):
họ Hồng Bàng theo nghĩa tổng quát hàm nghĩa tộc họ theo Vũ trụ giáo, đạo Mặt trời của người Việt Mặt trời thái dương thì họ Hồng Bàng là họ Ðỏ, họ Hùng, họ Mặt trời, họ Việt, họ Mặt trời rạng ngời, họ Người Mặt trời, là Ðế Quốc Mặt trời, Liên bang Mặt trời, Liên hiệp quốc Mặt trời...[2]
Giải thích của ông Kim Định có vẻ như có lý nếu như ta xét đến Mẹ Tiên và Cha Rồng. Trong nhiều sách của mình, ông cũng đã chứng minh Tiên là chim. Nếu xét dòng giống Việt hay người Văn Lang quan trọng nhất là nhánh theo mẹ và người anh cả lên ngôi gọi là vua Hùng thì gọi tên họ là Hồng Bàng (tức tổ chim Hồng hộc) cũng không sai. Tuy nhiên, cách gọi còn nhiều khiên cưỡng bởi vì nếu gọi lãnh thổ của Kinh Dương Vương là Hồng Bàng thì còn có lý, bởi vì theo ông Hồng Bàng là tổ lớn của chim hồng hộc. Nhưng ở đây, Hồng Bàng được dùng để gọi một họ, một vương triều. Ông Nguyễn Xuân Quang giải thích họ Hồng Bàng chính là họ Mặt Trời rất đúng, tuy chưa đưa ra bằng chứng ngôn ngữ học. Dưới đây, chúng tôi bổ sung như sau:
Hồng~hỏn (liệu hồng có phải tiếng Việt không)~đỏ (biến âm đ~h, chúng tôi đã phân tích).
Hồng~hừng, hửng (hừng sáng, hửng sáng: nói lúc mặt trời lên. Mà khi mặt trời vừa lên nó có màu đỏ).
Hồng~hườm (tiếng Việt chỉ trái đã gần chín hơi hơi đỏ.)
Người miền Trung thường nói một từ cổ đó là hon thịt: hon thịt thực ra là hầm thịt làm cho thịt có màu đỏ hồng lên.
Như vậy cả một chuỗi các từ liên quan với nhau hồng, hỏn, hon, hừng, hửng, hườm chỉ ra nghĩa màu đỏ, đặc biệt có nghĩa màu đỏ của mặt trời mọc.
Còn Bàng? Tra cứu bằng quyển “Đại từ điển Tiếng Việt” (do Nguyễn Như Ý chủ biên, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1998) có tham khảo “Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam” của GS Nguyễn Lân (Nhà xuất bản tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 1998) và “Hán Việt từ điển (giản yếu)” của Đào Duy Anh (Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 2005), chúng tôi thấy nếu dùng cả hai từ bàng và bằng thì các chữ Hán Việt khó tạo ra nghĩa đẹp, ngoại trừ bàng=bằng=chim bằng (đại bàng). Hồng Bàng sẽ là con chim đại bàng đỏ. Liệu có thể không khi người Việt ta vẫn thường đem chim trĩ (chắc là quý giá lắm theo họ) tặng vua Trung Hoa, hay thường hóa trang mình bằng những lông dài của chim trĩ. Vậy liệu còn có thể có giải thích khác không? Ta lại xét tiếng Việt:
Bàng=cây bàng. Theo định nghĩa trong Đại từ điển Tiếng Việt: Cây trồng lấy bóng mát, cành nằm ngang gần như mọc vòng quanh thân làm thành nhiều tán, lá to hình trái xoan dài, tròn đầu, dùng nhuộm đen hay nhuộm màu cứt ngựa, quả ăn được, vỏ và quả dùng thuộc da, hạt và dầu bôi trơn.
Với định nghĩa trên, chúng ta không khó hình dung, cây bàng là một cây có nhiều tán và mỗi tán của nó có những cành mọc vòng quanh thân như những cánh sao được vẽ trên mặt trống đồng. Bàng ở đây cũng như một cái mặt vòng tròn nào đó.
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-7-MatTrongNgocLu1.jpg
Bàng~bàn: cái bàn, bàn chân, bàn tay, bàn là đều chỉ đến một mặt phẳng.
Bàng~bảng (bảng đen): cũng chỉ đến một mặt phẳng.
Bàng~ban: san ra cho bằng phẳng.
Bàng~ban: sốt ban: sốt nổi lên những đốm tròn đỏ hay tím.[3]
Biến âm mçèb khá phổ biến: mồ hôi=bồ hôi, moi~bới, bươi, mày~bây, múc~bốc,…Như vậy, bàng ở đây là tiếng hoàn toàn thuần Việt có nghĩa như mặt hình tròn. Hồng Bàng hay tiếng Việt là Bàng Hồng có nghĩa là Mặt tròn đỏ, ngụ ý là Mặt Trời. Vậy họ Hồng Bàng chính là họ Mặt Trời, dòng giống Mặt Trời.[4]
Còn Xích Quỷ thật ra là tên gọi Hán Việt của Quái Xích=quẻ Ly. Quẻ Ly cũng tượng trưng cho Mặt Trời. Tuy nhiên, đừng nhầm tưởng đó là nước Mặt Trời. Cách phân bố các danh từ riêng của người Việt cổ không đến nỗi đi vào chỗ khuôn sáo, lặp lại. Vì sao người ta dùng Hồng Bàng chỉ họ Mặt Trời và dùng quái Ly để chỉ vùng đất mặc dù quái Ly vẫn tượng trưng cho Mặt Trời? Thật ra, không phải vậy: người ta dùng Hồng Bàng để chỉ dòng giống tối thượng là con cháu của Mặt Trời, nhưng vùng đất của họ lại là vùng nằm chính ngôi vị quái Ly trong Hậu Thiên Bát Quái. Khi nói đến quái là người ta nói đến Tiên Thiên hay Hậu Thiên Bát Quái. Vì thế dùng một quái để chỉ thị hầu như đã ngụ ý ngầm phương vị của quái đó trong vũ trụ. Trong trường hợp này là phương vị quái Ly chính là để ngụ ý vùng đất phương Nam. Nước Xích Quỷ chính là nước Nam. Và dòng giống Mặt Trời ngụ ở phương Nam (trùng khớp với quái Ly tượng trưng cho Mặt Trời hay đúng hơn có lẽ quan niệm người xưa là Mặt Trời ngụ ở quái Ly-Tức phương Nam.).
Huyền sử của chúng ta thường nhắc, Kinh Dương Vương là người đầu tiên mở ra kỷ Hồng Bàng. Ông là cha của Lạc Long Quân. Thế nhưng, hầu hết người Việt chúng ta đều xem Lạc Long Quân và Âu Cơ là hai quốc tổ. Thật ra, người Việt chúng ta không hề coi nhẹ vai trò của Kinh Dương Vương: những câu chuyện truyền khẩu trong dân gian đều cho chính ông là người sáng lập ra họ Hồng Bàng và là ông tổ của dân tộc Kinh; năm lên ngôi đầu tiên của ông cũng được nhắc đi nhắc lại trong sử sách và gây nghi ngờ không ít trong giới sử học. Trong khuôn khổ của mục ý nghĩa Dịch của các danh từ riêng này, chúng tôi xin không đề cập đến các vấn đề này. Chúng tôi chỉ có thể nhấn mạnh, nếu xét qua lăng kính Dịch lý thì các truyền thuyết Việt mới kết dính vào với nhau theo một hệ thống logic chặt chẽ.
Đầu tiên, tưởng cần nhắc lại, Đại Việt sử ký, Ngoại kỷ (http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n1ntn4ntn31n343tq83a3q3 m3237ntn&cochu=) khi viết đến Kinh Dương Vương có chú thêm: Xét: Đường kỷ chép: thời Kinh Dương có người đàn bà chăn dê, tự xưng là con gái út của Động Đình Quân, lấy con thứ của Kinh Xuyên, bị bỏ, viết thư nhờ Liễu Nghị tâu với Động Đình Quân. Thế thì Kinh Xuyên và Động Đình đời đời làm thông gia với nhau đã từ lâu rồi.
Đào Duy Anh trong “Lịch sử cổ đại Việt Nam” [5] viết: “Chúng tôi thấy đó chỉ là vì người ta thấy có chỗ giống nhau giữa danh hiệu Kinh Dương Vương với tên đất Kinh Dương và thấy mối quan hệ giữa Động Đình Hồ và đất Kinh Dương ghi lại trong chuyện Đường Kỷ mà suy đoán ra rằng truyền thuyết của ta là bắt chước truyền thuyết của người Trung Quốc mà thôi. Chúng tôi nhận thấy rằng câu chuyện chép trong Đường kỷ đó có nhiều màu sắc mới, mà truyện truyền thuyết của ta thì có màu sắc nguyên thủy rõ ràng. Ý kiến của người chú giải Đại Việt sử ký đó chỉ là khiên cưỡng phụ hội.
Chúng tôi thì lại thấy rằng mặc dầu danh hiệu Kinh Dương Vươnghttp://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Phi%20Vat%20The/KinhDuongVuong.jpg với tên đất Kinh http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Phi%20Vat%20The/DatKinh.jpg và Dương http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Phi%20Vat%20The/DatDuong.jpg viết khác nhau, hai tên ấy chính là đồng âm. Đối với truyền thuyết là chuyện lưu truyền bằng miệng thì cái quan hệ đồng âm rất có ý nghĩa. Truyền thuyết cho Lạc Long Quân là cháu vua hồ Động Đình, chính là ở trong miền chúng ta đã đặt đất Giao Chỉ, tương đương với châu Kinh và châu Dương như chúng ta đã thấy. Cái quan hệ đồng âm giữa tên đất Kinh Dương (châu Kinh và châu Dương) và cái danh hiệu Kinh Dương Vương mà truyền thuyết đặt cho cha của Lạc Long Quân, có lẽ không phải hoàn toàn ngẫu nhiên. Kinh Dương Vương của truyền thuyết rất có thể là cái tên mà người đời sau dùng để tượng trưng tổ tiên xa xôi của chủng tộc từ khi họ còn sinh tụ bằng nghề chài cá ở miền châu Kinh và châu Dương và thờ Giao long làm vật tổ.
Nhưng tại sao khi truyền thuyết được chép thành văn thì người ta lại chép là http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Phi%20Vat%20The/KinhDuongVuong.jpg mà không chép là http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Phi%20Vat%20The/KinhDuongVuongdatKdatD.jpg ? Truyền thuyết thì có từ lâu mà đến đời Trần (tương truyền rằng Lĩnh Nam trích quái là do Trần Thế Pháp đời Trần chép) người ta mới chép vào sách. Khi ấy người ta không còn nhận thấy mối liên hệ giữa tổ tiên xa ở miền lưu vực sông Dương Tử nữa, cho nên người chéphttp://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Phi%20Vat%20The/KinhDuongVuong.jpg. Sở dĩ người ta dùng chữ ấy là bởi ở Trung Quốc chữ http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Phi%20Vat%20The/KinhDuong.jpg là chỉ họ xưa, đồng thời lại là tên đất ở miền Thiểm Tây, mà thời xưa những nhà quý tộc nước Tần được ở đó thì được phong hiệu là Kinh Dương quận hay Kinh Dương vương.”.
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Phi%20Vat%20The/BandomienNamTQvaVNthoiTan.jpg
Lý luận “Kinh Dương Vương chính chỉ vua của đất Kinh và đất Dương” được nhiều sử gia và nhà nghiên cứu tán đồng. Ít có người thử đặt câu hỏi: “Tại sao tên vua phải nhất nhất được đặt ra bởi tên đất? Tại sao không phải là ngược lại? Bản thân từ Kinh và từ Dương có nghĩa gì?”. Đành rằng đất Sở thì có vua là Sở Trang Vương, đất Tần thì có Tần Mục Công, còn Hán Cao Tổ thì khởi quân từ miền Hán Thủy, thế nhưng vì sao gọi đất này là Sở, đất kia là Tần, đặc biệt cho những vùng đất to lớn như châu Kinh và châu Dương thì phải có nguyên do của nó. Ngoài ra những Sở Trang Vương, Tần Mục Công hay Hán Cao Tổ đó chỉ trước công nguyên khoảng 1000 năm. Còn Kinh Dương Vương là danh hiệu nếu tin theo truyền thuyết thì rất cổ (trước cả Hoàng Đế). [Chúng tôi sẽ đề cập về niên đại của Kinh Dương Vương hay triều Kinh một bài riêng. Theo tôi, niên đại như trong truyền thuyết hoàn toàn có thể chấp nhận được.]. Thiết nghĩ, thời thái cổ người ta đặt tên đất dung dị và đơn giản. Người Việt ta càng đơn giản: mãi đến bây giờ mà vẫn còn có những tên: chùa bà Đanh, cây đa nhà bò, dốc ông Kinh(có nhà ông Kinh gần đó), cầu Tám què (có nhà ông Tám què gần đó). Còn thời xưa, có thể tên đất được đặt bởi một hiện tượng nào đó xảy ra. Đại khái cái rừng một hôm có sét đánh mạnh vào đó sẽ được gọi là rừng Sét đánh, cái hồ thường có con cá sấu nào đó hay tấn công người sẽ được đặt là hồ Long Mã….Vậy, dù khó có thể khẳng định tên đất được đặt cho tên người hay là ngược lại thì chúng ta có thể kết luận: tên đất và cả tên người có thể được đặt ra do một sự phát hiện nào đó hay dưới sự chi phối của một triết lý, một nhân sinh quan, vũ trụ quan nào đó.
Ở đây, chúng ta nhận thấy:
Kinh~chấn: kinh động=chấn động hay kinh thiên động địa: long trời lở đất. Đó là nói về nghĩa làm rung chuyển. Còn với nghĩa sợ (từ sợ thật ra cũng là rúng động nhưng ở trong tâm) thì dựa theo Từ điển Hán Việt (giản yếu) của Đào Duy Anh ta có hàng loạt cụm từ chứng tỏ các chấn lẫn kinh đều là sợ hãi:
Kinh:
-http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Phi%20Vat%20The/Kinh.jpg-kinh: ngựa sợ hãi, sợ hãi, rối loạn.
-http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Phi%20Vat%20The/Kinhcungchidieu.jpg-kinh cung chi điểu: chim sợ cung
-http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Phi%20Vat%20The/Kinhdi.jpg-kinh dị: kinh hãi, lấy làm lạ lùng
-http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Phi%20Vat%20The/Kinhhai.jpg-kinh hãi: sợ hãi (effrayé)
-http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Phi%20Vat%20The/Kinhhon.jpg-kinh hồn: sợ hãi đến mất hồn
-http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Phi%20Vat%20The/Kinhtamdongphach.jpg-kinh tâm động phách: sợ đến lòng, động đến phách
-http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Phi%20Vat%20The/Kinhphuc.jpg-kinh phục: kinh sợ và cảm phục
khonglaai
26-01-2007, 12:34 AM
Chấn:
-http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Phi%20Vat%20The/Chan.jpg-chấn: sét đánh, rung động, sợ hãi, một quẻ trong bát quái.
-http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Phi%20Vat%20The/chanap.jpg-chấn áp: đè ép làm cho sợ phải phục.
-http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Phi%20Vat%20The/Chancu.jpg-chấn cụ: sợ hãi lắm.
-http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Phi%20Vat%20The/Chanhai.jpg-chấn hãi: sợ hãi lắm (effrayé)
-http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Phi%20Vat%20The/Chankinh.jpg-chấn kinh: sợ hãi
-http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Phi%20Vat%20The/Chanlat.jpg-chấn lật: sợ run
-http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Phi%20Vat%20The/Chanphuc.jpg-chấn phục: sợ mà phải phục
Nhìn bảng trên đây thì chúng ta có thể cho rằng hai từ kinh và chấn ở trên hoàn toàn đồng nghĩa nhau. Vậy, với lý luận ngôn đi trước ngữ hàng mấy ngàn năm thì sự đồng âm vô cùng có ý nghĩa (đôi khi chúng có nghĩa này nhưng người sau này khi phát minh ra chữ viết thì lại phân ra các chữ khác nhau vì nhiều khi có ai ngờ cái họ hay danh từ riêng đó lại đồng nghĩa với hiện tượng nào đó) và Kinh trong Kinh Dương hoàn toàn đồng nghĩa với từ Kinh trên với hàm ý Chấn (cũng ở trên). Còn Dương thì dễ hiểu: Dương~Giàng (Việt)~Giời(Việt)~Trời. Như vậy, Kinh Dương Vương chính là bua Chấn Trời-sự xuất hiện của ông làm chấn thiên động địa. Và vùng đất mà ông làm chủ được người ta gọi là đất Kinh và đất Dương(đặt ngay lúc đó hay về sau mới đặt cũng không có quan hệ gì nhiều đến lý luận)
Tại sao chúng ta có thể cho rằng giải thích này hợp lý hơn tất cả các giải thích khác? Thứ nhất, vì nó tạo ra một khối thống nhất của logic luận. Khi cho rằng các hiện tượng văn hóa phải được sáng tạo ra dưới ảnh hưởng của một triết lý bao trùm nào đó thì các danh từ riêng (hiển nhiên không phải là tất cả mà chỉ những từ đặc biệt, có giá trị sâu sắc đến đời sống tinh thần của dân tộc đó) cũng có xác suất rất lớn mang nghĩa gần gần với những khái niệm của triết lý đó. Ở trường hợp này là chúng tôi xét đến các hiện tượng văn hóa Việt Nam và Kinh Diệc (triết lý mà người Trung Hoa sở hữu được một phần nhỏ lại sai lầm) thì thấy Kinh Dương với nghĩa chấn trời là hoàn toàn trùng khớp. Mà trùng khớp là do trong Kinh Dịch có câu đầu tiên hết là “Đế xuất hồ Chấn.”.[6] Ví như, chúng ta có tất cả chi tiết (các hiện tượng văn hóa) xếp hình Lego của một con khủng long, nếu theo mô hình (triết lý) đúng thì ta có thể sắp xếp hết các chi tiết đó vào khối thống nhất để tạo ra con khủng long không thừa không thiếu; các chi tiết phải trùng khớp như đã định theo mô hình đó. Còn nếu làm theo mô hình khác sẽ tạo ra hoặc là không phải khủng long hoặc nếu có khiên cưỡng chấp nhận đó là khủng long thì cũng sẽ đầu thừa đuôi thiếu. Thứ hai, Kinh Dương Vương được coi là ông tổ của chúng ta và điều này hoàn toàn dễ hiểu nếu chúng ta để ý chúng ta thuộc dân tộc nào? Chúng ta thuộc dân tộc Kinh hay nói đúng hơn người Việt dân Kinh. Đây là bằng chứng khá quan trọng vì nếu người Hán được gọi là Hán tộc chỉ từ khi Hán Cao Tổ lên ngôi, còn người Kinh đã được gọi cho dân chúng cả một vùng lãnh thổ lớn trước đó rất lâu. Phải có một vương quyền rất mạnh và thống nhất không về chính trị thì cũng về tôn giáo, tín ngưỡng hoặc triết lý mới làm cho dân cả một vùng đất to lớn tự gọi mình bằng một tên. Trong trường hợp “Hán” thì có vương quyền thống nhất đặt nền móng trên Nho giáo (sự thống nhất phần lớn do chính trị, phần ít do văn hóa), còn trường hợp “Kinh” thì có lẽ vương quyền chưa chắc đã mạnh (nhưng điều này không quan trọng đối với thời thái cổ) nhưng dân vẫn thống nhất dưới một tín ngưỡng hay triết lý chung-đó là Diệc lý(sự thống nhất phần lớn do văn hóa, phần nhỏ do chính trị). Mãi từ thời Thần Nông đến Đế Minh, Đế Nghi chỉ có ông Lộc Tục này mới được tổ tiên ta gọi là Vua. Dù ông là người trần mắt thịt hay là người do truyền thuyết đặt ra thì nội dung của bản thân ông không hề khác đối với người Việt dân Kinh: ông là ông vua đầu tiên. Vậy nếu xét ngày xưa người ta gọi Đất Nước là lãnh thổ của họ thì ông vua thủy tổ của họ càng có cơ sở mang nghĩa từ bát quái. Xét quan niệm từ trạng thái Thái Cực-Tiên Thiên Bát Quái chuyển sang Vũ trụ-Hậu Thiên bát quái phải có sự rúng động [thì các quái mới đổi phương vị được], ta thấy vua (thời Hậu Thiên hay thời Đất Nước) xuất hiện đi kèm với rúng động. Vì thế Kinh Dương Vương chính là bua (vua) Chấn Trời và câu “Đế xuất hồ Chấn” là một bằng chứng sáng giá. Thứ ba, câu chuyện trong Đường Kỷ liệu có gì để chúng ta chắt lọc không? Chúng tôi đồng ý với Đào Duy Anh là các chi tiết của nó không còn nguyên sơ nữa, tuy nhiên gạt bỏ các chi tiết đó thì chúng ta có thể thấy còn hai từ có thể không vì mục đích gì, nguyên cớ gì mà sửa đổi được. Đó là tên hai vùng đất: Động Đình và Kinh Xuyên. Trong câu: Thế thì Kinh Xuyên và Động Đình đời đời làm thông gia với nhau đã từ lâu rồi.
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-5-HTBQALvaTQ.jpg
Chúng ta xét Hậu Thiên Bát Quái Văn Lang: phần nghi Đất (Nòng, Âm) là bốn như thật ra linh hồn là 3 trùng quái đặt lên ba vị trí của quái Đoài, Ly và Khôn. Nếu thêm lý luận vua ở ngôi Chấn(tuy thuộc nghi Nọc hay Dương) được sinh ra để cai quản loài người dưới đất thì ta có các quái Đoài Ly Khôn Chấn (hay Kinh).
Đoài bắt đầu từ Đ, còn Độnghttp://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Phi%20Vat%20The/Dong.jpgtrong Động Đình http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Phi%20Vat%20The/Dongdinh.jpgcó nghĩa là: cái hang núi, lỗ hổng, rõ ràng. Như vậy, Động cũng nằm trong cụm nghĩa Đọi, Đồng (với nghĩa bãi đất chứa nước để trồng lúa nước. Ta có thể cho Động~Đoài.
Đình~Đinh (một can nằm ở quái ly). Trong tiếng Hán thì chữ Đình http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Phi%20Vat%20The/Dinh.jpgcủa hồ Động Đình có khá nhiều nghĩa:
-http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Phi%20Vat%20The/Dinh.jpg-đình: cái sân chỗ tòa án. (chốn công minh)
-http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Phi%20Vat%20The/Dinhhuan.jpg-đình huấn: lời dạy bảo của cha mẹ. (lời dạy bậc bề trên)
-http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Phi%20Vat%20The/Dinhlieu.jpg-đình liệu: lệ nhà Chu, khi đầu canh năm, vua sắp ra thị triều, thì trước điện đình, bày hai hàng đèn hay sáp, hoặc đuốc để soi đường cho bách quan vào triều. (sáng sủa, uy nghi)
-Đặc biệt có một nghĩa rất lạ: -đình ngọ http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Phi%20Vat%20The/Dinhngo.jpgcó nghĩa mặt trời đứng giữa trưa.
Xét tất cả các nghĩa của Đình qua lăng kính Dịch lý, chúng ta hoàn toàn có cơ sở kết luận Đình tượng trưng cho Mặt Trời. Từ đó, có thể kết luận hồ (hoặc vùng đất) Động Đình hay tên Động Đình được tạo ra từ quan sát Hậu Thiên Bát Quái với cái Hồ là Đoài đứng cạnh quẻ Ly-tượng trưng cho mặt trời. Nhưng phải là Dịch lý của dân tộc Việt và Hậu Thiên Bát quái Văn Lang mới có những phương vị như vậy.
Còn Kinh như trên đã viết là Chấn. Xuyên http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Phi%20Vat%20The/Xuyen.jpgtheo Bạch thư Chu Dịch Mã Vương Đôi [7] chính là Khôn. Như vậy Kinh Xuyên lại là hai quái Chấn và Khôn. Hai vùng Động Đình (do quái Đoài và quái Ly tạo nên) và Kinh Xuyên (do quái Chấn và quái Khôn tạo nên) do các quái thuộc nghi đất (thực ra có ba quái vì đây là Hậu Thiên Bát Quái + 1 quái Chấn chỉ người đế vương xuất hiện làm chủ tế trần gian) trong Hậu Thiên Bát Quái Văn Lang tạo thành (và chỉ có Hậu Thiên Bát Quái Văn Lang trong số các bát quái được biết đến mới có những phương vị như thế).
Vì thế, chúng tôi cho rằng câu chuyện người đàn bà chăn dê chưa hẳn là vô ích vì có một chi tiết có thể khả tín đó là vùng Động Đình và vùng Kinh Xuyên gần nhau và hai họ đã có mối thông gia từ lâu đời.
Như vậy, trong một đoạn văn ngắn nói về Kinh Dương Vương, được viết lại từ một câu chuyện truyền khẩu nào đó, hầu hết các danh từ riêng đều được sáng tác ra dưới sự ảnh hưởng của Dịch Lý:
Viêm đế Thần Nông: vua nước Nam-danh hiệu người dạy dân làm Nông hay làm nghề canh tác trên đất đai. Ông này được nêu ra đầu tiên và mang dấu ấn Dịch lý (Thần và Nông) vì ông ta là tổ tiên của người Việt sống hàng ngàn năm cách đây từ phía Nam sông Hoàng Hà xuống dưới.
Đế Minh, Đế Nghi: Hai người không quan trọng lắm vì không phải là những ông tổ của dân tộc Kinh.[8]
Kinh Dương Vương: ông tổ của dân tộc Kinh, hay ông tổ của tất cả người Việt dân Kinh. Và vì văn hóa Việt bị chi phối bởi Dịch lý nên ông được coi như một ông vua, chúa tể xuống trần làm chấn động trời đất. Ông là dõng dõi của Mặt Trời. Vì thế, Kinh Dương Vương là bua Chấn Trời, mở ra họ Hồng bàng-Mặt Trời, làm chúa tể ở đất Nam (phương vị của quái Ly). Ở đất Nam này, hai vùng Động Đình và Kinh Xuyên lại là hai cái tên được đặt ra bởi quan sát Hậu Thiên Bát Quái Văn Lang.[9]
[1]. Ngũ Lĩnh dù có theo bất cứ nguồn tài liệu nào đi chăng nữa thì cũng nằm phía Nam Dương Tử. Nơi từ xa xưa đó, người Hán chưa đặt chân đến.
[2]. Thật ra, trong các bài viết của ông Nguyễn Xuân Quang nhiều danh từ riêng được giải nghĩa ra là Mặt trời. Tuy nhiên, Hồng Bàng là Mặt trời thì chưa thấy nghiên cứu về ngôn ngữ học. Cũng có đưa ra liên hệ mçèb. Các bài viết của Nguyễn Xuân Quang theo chúng tôi rất có giá trị vì ít ra ông ta đã đưa đến một logic chung để giải mã các hiện tượng văn hóa Việt. Tuy lan man, chưa cụ thể nhưng logic của ông khá nhất quán: Tín ngưỡng phồn thựcèKinh DịchèThờ Mặt Trời (linh thiêng nhất) và vật tổèvăn hóa Việt. Về điều này, chúng tôi đồng ý hoàn toàn với ông và cố gắng đưa thêm nhiều bằng chứng cụ thể hơn, thuyết phục hơn. Trích dẫn ở trên không phải là do tôi đọc được ở quyển sách gốc, mà do tôi đọc từ một bài khác: Cảm tưởng về sách của BS Nguyễn Xuân Quang “Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt” (http://www.honque.com/HQ016/bKhao_lmNguyen016b.htm) (Nhà Xuất Bản Y Học Thường Thức, Anaheim-California,1999, 617 trang)của Lê Mộng Nguyên.
[3]. Như đã nói, chúng tôi sẽ trình bày thêm trong công trình về tính Nòng Nọc của ngôn ngữ Việt.
[4]. Hình như đã có nhà nghiên cứu viết Hồng Bàng = Mặt Trời (cũng dựa theo nghĩa Bàng là Mặt tròn). Vì bị nô dịch văn hóa nên một số tên Tiếng Việt được các nhà sính Hán viết lộn lại tuy bản chất là chữ thuần Việt và có rất nhiều từ Việt cổ bị mất hẳn đi như trong trường hợp chữ Bàng: Mặt tròn.
[5]. Đào Duy Anh. Lịch sử cổ đại Việt Nam. Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, 2005, tr.207-208.
[6]. Chúng tôi không đơn giản cho rằng “Đế xuất hồ Chấn” là do việc mặt trời bắt đầu mọc về hướng đông. Phải có một lý do quan trọng hơn thế.
[7]. Dương Ngọc Dũng, Lê Anh Minh. Kinh Dịch. Cấu hình tư tưởng Trung Quốc. Nhà xuất bản khoa học xã hội. 1999. tr.764.
[8]. Nhiều người lầm tưởng Đế Minh và Đế Nghi là nhánh phía Bắc-tổ tiên người Trung Hoa. Thật ra, truyền thuyết và huyền sử không đến mức mâu thuẫn như vậy (Đế Minh và Đế Nghi hai danh từ riêng tiếng Việt), người ta làm ra chúng cũng theo một trình tự logic nhất định. Đọc lại các tài liệu đã trích ở phần Thần Nông, chúng ta có thể suy luận ra dễ dàng: Thần Nông cai quản tộc Việt trải dài từ Nam Hoàng Hà xuống dưới. Sau đó, đến thời Đế Nghi thì Đế Nghi cai quản tộc Việt từ Nam Hoàng Hà xuống Bắc Dương Tử còn Kinh Dương Vương được dân Kinh tôn lên làm vua, cai quản số người Việt dân Kinh từ Nam Dương Tử xuống.
[9]. Trong giới hạn nghĩa các danh từ riêng qua lăng kính Diệc lý dân tộc Việt, chúng tôi không đề cập hết các kiến giải khác. Chúng tôi sẽ trình bày ở các chương sau, mục sau.
khonglaai
26-01-2007, 12:37 AM
Một yêu cầu nhỏ:
Nếu quý vị nào có ảnh chụp cây bàng rõ một tán nhiều cành vòng quanh cây xin gởi cho khonglaai để làm minh họa bài viết.
Thank a lot.
KLA
Thiên Sứ
26-01-2007, 03:02 AM
Bài viết dẫn chứng nhiều tư liệu quý .
Tôi xin phép chép lại những tư liệu này để bổ sung cho cuốn sách in lại. Hoặc đưa lên mạng.
Cảm ơn anh Không Là Ai.
Thiên Sứ
khonglaai
05-02-2007, 06:36 AM
Lạ lùng. Định post tiếp nhưng lúc coi lại bài thì thấy phông chữ nhảy lộn xộn, rồi cỡ chữ cũng lung tung phèng. Có những đoạn các chữ dính vào nhau thành chuỗi. Liệu ban Quản trị xem có vấn đề gì không?
Thân.
KLA
P/S: như cái dòng nhắn chút xíu này mình đánh trên phông Times New Roman mà khi hiện ra lại là Arial.
Thiên Sứ
05-02-2007, 08:39 AM
Oh. Đúng rồi , còn tôi thì Times New Roman lại hiện ra Venada .
Anh em quản trị xem lại . Bởi vì thấy nó cũng hiện chữ nên tôi không để ý lắm và cho qua, miễn là nó hiện chữ là được rùi .
Thiên Sứ
khonglaai
06-02-2007, 06:18 AM
4. Lạc Long Quân.
Huyền sử có viết, vua đầu tiên của chúng ta là Kinh Dương Vương. Con của ông là Lạc Long Quân. Thế nhưng trong huyền sử xem ra, dân tộc Việt lại tôn vinh Lạc Long Quân là ông thuỷ tổ của mình. Đến bây giờ, dân Việt ta vẫn còn truyền lại cho nhau nghe chuyện Trăm trứng trăm con. (http://www.public.asu.edu/~ickpl/reading/tienrong.htm) Câu hỏi “Lạc Long” có nghĩa là gì vẫn còn mang tính thời sự. Nếu bảo Long là Rồng thì quá ư dễ hiểu cho chúng ta bây giờ. Bởi vì ngày nay ta thấy Rồng được vẽ khắp nơi. Nhưng tiếc thay, con Rồng không tồn tại, chưa hề tồn tại. Ta biết một con Rồng giả tưởng mà thôi. Vậy thật logic khi cho rằng, phải có con gì trước đó làm người ta nghĩ đó là con Rồng. Tức là người xưa gọi con gì đó là con Rồng, thậm chí không phải Rồng đơn giản mà là Lạc Rồng. Nhìn những con giao long được vẽ trên trống đồng, chúng ta đặc biệt liên tưởng đến con vật mạnh mẽ của vùng sông nước- con cá sấu. Đặc biệt, trên trống đồng Hoà Bình thì sự giống nhau đến kỳ lạ:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-1-CasauTrongDongHoaBinh.jpg
Người Việt xưa sống ở vùng sông nước, đánh cá, giăng câu chắc vô cùng sợ và kính con vật này. Vì thế, cá sấu được họ tôn vinh lên thành vật tổ. Có thể người xưa cho rằng, cá sấu cùng với chim Âu kẻ trên trời, người dưới nước tạo nên cái duyên trời đất mà sinh ra dân tộc Việt. Đó chắc cũng là một quan niệm khá phổ biến và thông dụng. Chúng tôi nghĩ có thể, khi tìm ra Kinh Dịch, người Việt cổ đã liên tưởng đến một đấng chúa tể của muôn loài-một đại sứ của Thái cực được cử đến để cai trị muôn loài; theo họ đó là con cá sấu-một linh vật. Linh vật-Đấng chúa tể mà người ta ngưỡng mộ đó phải được đặt một tên hay phù hợp với triết lý của họ (tức là Diệc thư). Và vì Thái cực có hình thể của Nòng Nọc nên đại sứ, đấng chúa tể đấy được gọi là: Nọc Nòng Quân (xin hãy chú ý sự giống nhau giữa mõm các con cá sấu với mỏ các chim, kể cả mắt). Quý vị chắc lại cho vô lý khi đã bảo Cóc là đại diện của Thái Cực mà sao lại bảo cá sấu cũng là đại diện?! Không gì vô lý cả. Con cóc sinh ra Nòng và Nọc tượng trưng cho Thái Cực và nó cũng là kẻ thù của kẻ thù người Việt-nạn hạn hán, nên người Việt gọi nó là cậu ông trời. Cóc trong triết Dịch Nòng Nọc chỉ là một hình tượng để người ta tưởng tượng ra Thái Cực. Và người xưa nghĩ nó như là một phiên bản của Thái Cực (anh em vớiThái Cực). Nhưng Cóc không phải đồng nhất với Thái Cực, cũng không phải là con của Thái cực. CònThái cực cử con của mình xuống làm chủ tế muôn loài dưới trần gian. Như thế, cũng hợp lý khi nói đấng chủ tế của muôn loài ở dưới trần gian phải là vật mạnh mẽ, đẹp đẽ và họ phải gọi nó bằng tên của cả hai nghi Thái Cực: Nọc Nòng Quân. Không thể nào gọi thống nhất làm một được. Vì thống nhất hai nghi chỉ là Thái cực. Hơn nữa thời Hậu Thiên thì có tồn tại sự giao duyên giữa hai nghi, chứ không thể có chuyện thống nhất hai nghi. Nên người ta phải dùng cả Nọc lẫn Nòng để biểu thị vừa cho thấy Nọc Nòng Quân là con Thái cực vừa cho thấy bản chất Hậu Thiên của Nọc Nòng.
Vậy: Lạc Long Quân=Nọc Nòng Quân. Biến âm ở đây quá phổ biến. Nọc Nòng Quân có thể biến âm thẳng theo dạng nèl để thành Lọc hay Lạc Long Quân hoặc biến âm theo nèlèr thành Rạc Rồng Quân (ta có từ ròng rọc hay nước rạc, nước ròng với rạc là khô mà ròng là chảy mạnh, nhiều) đều không ảnh hưởng đến quá trình lý luận Nọc NòngèLạc LongèRạc hay Lạc Rồng đã được người Việt cổ dùng qua tất cả các giai đoạn biến âm (Nọc, Nòng, Lạc, Long, rạc, rồng, rọc, ròng) còn người Trung Hoa chỉ có thể đọc được chữ Lạc Long không thể phát âm đến giai đoạn R (vì bản thân họ không đọc được chữ R).
Nọc Nòng Quân hay cách đọc sau này là Lạc Long Quân tức quan Nọc Nòng hay quan Lạc Long càng dễ hiểu khi ta đối chiếu qua Hậu Thiên Bát Quái Văn Lang (thực ra bát quái Hậu Thiên nào cũng được): Nọc đi đầu nhấn mạnh vào tính Dương, thuộc nghi Dương nhưng NNQ hay LLQ lại chỉ nhân vật có dòng dõi con gì dưới nước. Con gì đó biểu thị tính Hậu Thiên tức là tính mà so với Tiên Thiên lại mang thuộc tính Âm hay Nòng. Điều này cũng nói lên mối giao duyên trời đất như phần “chồng vợ” chúng tôi đã viết trên-sự trao đổi nhau giữa Hỏa (Ly) và Thủy (Khảm) ở thời HậuThiên. Như vậy, convật đó ở trong nôi Nước-Nọc nhưng lại có thuộc tính Nòng. Suy ra hoàn toàn hợp lý khi người ta lấy chữ Nòng trong Nọc Nòng Quân để diễn tả con vật huyền thoại. Về hình tượng thì họ lấy khuôn mẫu của cá sấu như đã phân tích trên, còn tên đọc dùng chữ Nòng. Sau đó đọc trại đi thành Long hay Rồng chỉ con vật dưới nước có đuôi hùng dũng. Vì trong đồ hình người ta cố vẽ đẹp con cá sấu lên, đến lúc qua Trung Hoa thì người Trung Hoa cũng thần thánh hoá nó lên để vẽ đẹp như bây giờ. Và cuối cùng chúng ta gọi Lạc Long Quân một ông tổ của chúng ta bằng từ Hán ơi là Hán! Không thể có chuyện người Việt đi gọi ông tổ của mình bằng tiếng Hán được. Bởi vì, thật ra không phải là Hán mà đó chính là Quan Nọc Nòng theo cách của người Hán là Lạc Long Quân.
Chữ Quân tréo nghéo ở đây (tại sao không gọi là Vương) sẽ được lý giải rõ ràng nếu chiếu qua lăng kính Dịch học. Theo chúng tôi, chữ quân ở đây hoàn toàn đồng nghĩa với từ quan trong quan lang có nghĩ là quý ông, sir, господин… Trong kho tàng truyện truyền thuyết chúng ta có "Thần Nam Thần Nữ", trong đó Thần Nam là ông Tứ Tượng (dẫn sau). Như vậy, hoàn toàn logic khi cho rằng người xưa đã gọi thủy tổ của mình là ông (từ ông trong trường hợp này thường chỉ thần linh, những vị đại tôn quý như ông Trời, ông Thánh, ông Thần. Ông ở đây còn quý hơn cả Vương-vua) và càng tôn quý hơn là quan như: quan Nọc Nòng hay ông Hai Nghi. Cấu trúc hình thành ông Tứ Tượng (mặc dù tứ tượng là chỉ 4 tượng nằm ở những phương vị khác nhau) lại là một bằng chứng tuyệt hảo cho việc tồn tại cả Nòng và Nọc trong một danh hiệu: đã có ông Tứ Tượng thì hoàn toàn có ông Hai Nghi hay cách viết khác của ông này là quan Nọc Nòng. Sau này, người ta dùng tiếng Trung Hoa đổi thành Lạc Long Quân và quên luôn gốc gác tiếng Việt của nó, quay lại nghĩ đó là Tiếng Hán Việt. Chữ quan cũng nằm trong hệ thống danh từ địa vị dành cho nam như bố, bua, vua: hoàn toàn có khả năng là biến âm của quan: quan è kwuan è wua è vua.
Cách giải thích này lại hoàn toàn hợp lý nếu như chúng ta xét Đất Nước là đại diện cho nơi những việc Hậu thiên xảy ra thì Lạc Long Quân là đại diện của Thái cực để trông coi các việc Hậu Thiên thì Lạc Long cũng chính là vua của Đất Nước. Trong bài “Ý Nghĩa Quốc Hiệu Lạc Việt”, G.S. Vũ Thế Ngọc có viết :
Một hai học giả đã thấy được sự bất ổn khi truy nghĩa tự Lạc theo Hán văn. Người đi xa nhất là Nguyễn Kim Thản và Vương Lộc trong bài "Thử Tìm Nguồn Gốc Ngữ Nghĩa của Từ Tố "Lạc"(10).
Như đã dẫn, sách Thủy Kinh Chú dẫn lại sách Giao Châu Ngoại Vực Ký là sách cổ nhất viết về sử nước ta viết như sau:
"Thời xưa khi Giao Chỉ chưa có quận huyện, thì đất đai có Lạc Điền, ruộng ấy là ruộng (cầycấy) theo con nước thủy triều. Dân khai khẩn ruộng ấy mà ăn nên gọi là Lạc Dân. Có Lạc Vương, Lạc Hầu làm chủ các quận huyện. Ở huyện phần đông có Lạc Tướng. Lạc Tướng có ấn bằng đồng, (đeo) giải (vải mầu) xanh. Về sau con vua Thục đem ba vạn lính đánh Lạc Vương Lạc Hầu, thu phục cácLạc Tướng. Con vua Thục nhân đó xưng là An Dương Vương" (11)
Khi thấy tất cả nghĩa Hán Việt của từ Lạc đều không thỏa mãn ý của chữ Lạc trong đoạn văn trên, thì người ta đồng ý ngay là từ "Lạc" phải là từ tố tiếng Việt. Vậy tiếng cổ "Lạc" có nghĩa là gì?
Và ông đã chứng minh rất cặn kẽ Lạc chính là Nước (NọcèNácè LạcèNước [nước số 1 Hà Đồ đại diện cho phần Nọc của Hậu Thiên Bát Quái]). Còn Nòng thì sao? Chúng ta dễ thấy các biến âm đơn giản sau:
Với Nòng thì chúng tôi đã viết trên: qua biến âm gần của Nòng chúng ta có hàng loạt những từ mang thuộc tính Âm, Nòng hay Đất. Nòng~Nông, Nương, Ruộng (nèlèr), nong, nong nia, nàng, lòng, l., … Vậy Nòng đối với Nọc ở đây lại có nghĩa là Đất.
Lạc Long =Nọc Nòng=Nước Đất và Lạc Long quân chính là vua (hay) chủ tế của Đất Nước, nơi những công việc của Hậu Thiên xảy ra. Và nếu kết hợp với việc người Việt gọi lãnh thổ họ sinh sống, sinh hoạt là Đất Nước thì chúng ta càng quá dễ hiểu khi họ gọi người tổ của họ là quan Nọc Nòng, quan Nước Nương hay Nước Đất. Quý vị cũng nên chú ý một điều khá hay là khi đề cập đến sự kiện, sự vật thiêng liêng mang tính Trời thì người Việt cổ ưu tiên dùng thành tố Nọc trước như: Lạc Long hay Nước (không có Đất), còn khi nói chuyện về những sự kiện, sự vật mang tính Đất (được sản sinh từ Đất) thì họ lại ưu tiên dùng thành tố Nòng trước ví dụ như con nòng nọc, đất nước.
Trong Sử Thi Đẻ Đất Đẻ Nước của dân tộc Mường có điểm rất cần chú ý: vua thứ nhì của người Mường là Gịt Giàng, Dịt Dàng, Rịt Ràng [1] hay Yịt Yàng. Ông Trần Quốc Vượng cho rằng đó là chỉ Việt Vương: Yịt Yàng=Việt Vương. Nhìn qua, chúng ta có thể thấy ngay sự trùng âm khá chuẩn và sự giải thích của Gs Trần chắc chắn có lý. Tuy nhiên, khác với văn hóa người Kinh bị lai căng khá nhiều do nghìn năm BắcThuộc nên mới có những từ như Kinh Dương Vương với Lạc Long Quân (những từ mà ta có thể thấy sự đối chọi lạl ùng với Thần Nông) thì văn hóa người Mường hầu như còn nguyên vẹn. Và trong sử thi đó có viết là bua Yịt Yàng. Nếu dịch như ông Trần thì sẽ ra là vua Việt Vương thừa một từ vua. Chúng ta xét biến âm sau:
Nọc Nòngè Lạc Long (biến âm người Kinh)
Nọc NòngèRọc ròngè Rịt Ràng~ Gịt Giàng (biến âm người Mường)
Càng thú vị hơn, cha của ông Dịt Dàng (tiếng Mường đầy đủ là Lang bua Dịt Dàng) là Lang cun Tả (Tá, Đả, Đá) Cần có ông anh đầu là Lang cun Tả Cài bị rắn (con yêu Hoa [2] Tinh) cắn chết. Trong quyển Mo kể chuyện để đất để nước (Nhà xuất bản văn hóa dân tộc, tr.256-257)[3] viết:
Lang cun Tả Cần chia:
Chàng Rạch coi Mương Cun U Lang Theng.
Chàng Rèng coi Mường Pi Mường Thàng
Cho Dịt Dàng
Giữ đền đài vua lang quốc Chợ
Phát rồng ràng
Khang rồng rộ
Sinh rồng bố rồng con.
Ta thấy cả một chuỗi từ kết dính vào nhau giữa ngôn ngữ Mường và Kinh một cách kỳ lạ: Cần (Cấn), Cài (Cái), Cấn-Chấn hoặc Cấn-Kinh lại là một trùng quái bất dịch, một trong sáu trùng quái biểu tượng cho thời Hậu Thiên-Vũ trụ đã thành. Sự chọn lựa âm từ cũng mang tính luyến láy nhau, thậm chí có vẻ đồng âm: Cấn-Chấn và Cấn-Kinh. Và hoàn toàn hợp lý khi với cặp Cấn (Cần)-Chấn (hoặc Kinh)(thực ra là một trùng quái) đó thì việc tách ra từng quái riêng biệt để dùng làm danh từ riêng của người Việt đồng bằng khác với người Việt miền núi: người Việt miền núi trong đó có người Mường chọn quái Cấn để đặt ra Lang cun Tả Cần[4], còn người Việt đồng bằng hay người Kinh lại chọn quái Chấn để đặt ra Kinh Dương Vương.
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/DitDangvaLacLong.jpg
Chúng ta có thể rút ra, từ thuở xa xưa người Việt cổ đã có quan niệm về một vì vua-đấng chúa tể của Đất Nước qua Kinh Dịch (là triết thuyết họ làm ra trên lưỡng thể Nọc Nòng). Họgọi đó là vua Nọc Nòng (nghĩa cũng là vua Nước Nương-Nước Đất). Khi bị Bắc thuộc thì những người Việt ở phía Bắc đã bị hấp thụ văn hóa Trung Hoa nên gọi vua đó (tuy giữ lạitên nhưng cách gọi đã bị Hán hóa) là Lạc Long Quân. Còn người Mường (ở Thanh Hóa là các cư dân còn giữ lại nhiều nét văn hóa của người Việt cổ xưa) ở sâu trong Nam do ít bị ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa nên vẫn còn giữ nguyên tên gọi đúng của ông tổ người Việt: bua(vua) Dịt Dàng.
Vì sao người Việt cổ lại có vẻ tôn quý Lạc Long Quân hơn là Kinh Dương Vương? Chúng tôi xin nhắc lại để xóa đi cái lầm tưởng đó: đến bây giờ chúng ta vẫn gọi dân tộc mình là dân tộc Kinh thì bản thân điều này cũng nói lên sự quan trọng của Kinh Dương Vương. Kinh Dương Vương có vẻ đi sâu vào đời sống nhân dân thiên về chính trị (lãnh thổ, dân tộc, triều đại) còn Lạc Long Quân lại thiên về tư tưởng, tôn giáo (triết lý, vũ trụ quan, tâm linh). Nhưng tại sao lại có chu trình: Kinh Dương VươngèLạc Long QuânèHùng Vương?
-Kinh Dương Vương: Từ thời Tiên Thiên qua Hậu Thiên phải có một nhân vật nào đó xuất hiện (không thể vô cớ) làm rúng động trời đất. Đất và thần dân của ông ta mang tên ông ta hay là cái tên người ta đặt cho ông ta theo ý nghĩa của việc ông ta xuất hiện. (Như trên đã nói, sự thống nhất đặt nền móng trên một tín ngưỡng chung)
-Lạc Long Quân: Thời Hậu thiên đã định - đối lập với giai đoạn của Kinh Dương Vương vẫn là thời hỗn mang. Qua Diệc lý, ta mới thấy rõ ràng hai nghi đã phân bày. Vậy ai làm chủ tế? Ai là cha, ai là mẹ? Của chính thời Hậu Thiên này, tức thời vũ trụ đã hình thành. Người xưa phải đặt ra các tên cho phù hợp triết thuyết: trọng Nọc, suy ra chủ tế chính là cha. Nhưng vì ông là chủ tế nên gọi ông bằng cả hai tên Nọc và Nòng với danh hiệu Nọc đi trước ứng với ngữ pháp Việt. Suy ra, người chủ tế có tên là quan Lạc Long hay đọc theo người Mường là Lang bua Dịt Dàng. Điều này cho thấy sự phân khai của hai nghi và Lạc Long là ông chủ của Hậu Thiên hay chủ của cả hai nghi thời Hậu Thiên. Tại sao Quân hay quan lại có tầm quan trọng đối với người Việt đến vậy (hơn cả Vương)? Vì thứ nhất, ở đây từ quân (hay quan) cũng chỉ lãnh tụ nhưng theo nghĩa chủ tế vũ trụ Hậu Thiên; thứ hai, chính thời Hậu Thiên này hai nghi đã định và lúc đó đối với quần chúng nhân dân đã rõ ràng ra cha và mẹ. Vì thế, người Việt mới dùng từ Quân (không dùng Vương) cho ông Lạc Long và xem Lạc Long và Âu cơ là hai đấng thủy tổ của mình.
-Hùng Vương bắt đầu danh hiệu cụ thể hơn, đã thêm phần đời hơn. Bắt đầu một triều đại cụ thể nên danh hiệu không còn mơ hồ nữa, và chắc phải ít mang tính tín ngưỡng, thần phục hơn. Vì thế người ta không thể tiếp tục dùng Quân mà chuyển qua dùng Vương hay Vua. Mặc dù, tên riêng (họ riêng) sau chữ vua có thể dùng một khái niệm của triết thuyết mà họ đã làm ra. Trong trường hợp này chính là Hùng~Khun~Khôn.
[1]. Doãn Quốc Sỹ. Tuyển tập văn chương nhi đồng. Thần Thoại Mường. (http://e-cadao.com/tieuluan/tuyentapvanchuongnhidong-4c.htm)
[2]. Hoa Tinh. Cũng là một điều kỳ lạ. Hoa-Hoa Hạ-Trung Hoa.
[3]. Có hai sử thi “Đẻ Đất Đẻ Nước” của người Mường Hòa Bình và người Mường Thanh Hóa. Quyển này là quyển trích lược của người Mường Hòa Bình.
[4]. Chính trong truyền thuyết Mường cũng nói việc xuống đồng bằng của người Kinh. Truyện trăm trứng của họ cũng khác người Kinh ta một chút.
khonglaai
11-02-2007, 06:12 PM
5. Âu Cơ:
Trương Thái Du trong bài "Một cách tiếp cận những vấn đề cổ sử Việt Nam" (http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=5175&rb=0302)viết:
Âm Âu là âm thuần Việt. Dùng Hán tự ký âm ta có hai chữ chính: Âu bộ ngõa và Âu bộ nữ. Nguyễn Duy Hinh (sách đã dẫn) nhận định: “Trong thuyết văn có chữ Âu. ‘Âu tiểu bồn dã tòng Ngõa Khu thanh Ân Lâu phản’. Nghĩa là: Âu là chiếc chậu nhỏ, bộ Ngõa, âm như chữ Khu, đọc Ân Lâu phản (tức Âu). Chú ý chữ mà ngày nay đọc Khu lại đồng âm với Âu, điều đó chứng tỏ ngữ âm đã thay đổi. Chữ Âu viết bộ Ngõa chỉ đồ gốm, không hề chỉ ý người”.
Chữ Âu 甌 ghép bởi chữ Khu 區 (Khang Hi: vực dã) là vùng đất và chữ Ngõa 瓦 là ngói. Ý Đất trong chữ Âu có thể xuất phát từ âm Khu. Ta có mối tương quan giữa các âm như sau:
U = nhô lên = đồi, núi ~ vú (nguồn sống nhô lên từ ngực phụ nữ)
Vú em = dưỡng mẫu
U = mẹ
Bu = mẹ già
Khu (đất) ~ u = mẹ.
Cho nên có thể âm Âu = Khu = U = Mẹ = Đất = Núi.
Như vậy nghĩa của Âu Cơ chính là “Bà mẹ cao quý”, “Hoàng mẫu”. Người Việt Nam hay nói “Mẹ Âu Cơ” là thừa chữ mẹ vì Âu đã là mẹ. Chữ Cơ hoàn toàn là chữ Hán đã được thêm vào, ý chỉ người phụ nữ bề trên hoặc trong hoàng gia như các tên gọi nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc: Ngu cơ, Hạ cơ, Triệu cơ (mẹ Tần Thủy Hoàng)…
Trong thơ ca và văn học từ cổ chí kim, chúng ta hay thấy sự xuất hiện của chữ Âu với nghĩa đất:
Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã.
Sơn hà thiên cổ điện kim âu.
Trần Thánh Tông
Hay:
Âu vàng khỏe đặt vững chân.
Càng bền thế nước vạn xuân lâu daì
Nguyễn Bình Khiêm
Nếu quán chiếu qua Dịch thì thấy những lập luận của ông Trương hoàn toàn chính xác. Khôn=Mẹ và Khôn cũng là Đất. Từ Âu với nghĩa Đất cùng với từ Lạc với nghĩa Nước hoàn toàn cho phép ta giải mã được giá trị nhân văn của câu chuyện Lạc Long Quân và Âu Cơ. Thời Hậu Thiên, Lạc Long tương trưng cho thái cực mang danh hiệu của hai nghi Thái Cực để làm chủ tế muôn loài (hay là cai trị cả nghi Nòng lẫn nghi Nọc), còn mẹ Âu là người mẹ vĩ đại sinh ra vạn vật. Từ cơ và từ quân cũng giống như trong trường hợp mỵ và quan, từ quân ~ quan chúng tôi đã đề cập còn từ Cơ có thể là Cô, bà (với nghĩa quý phái, sùng tín y như Thánh Cô vậy) và Âu Cơ thật ra chính là từ Cô Âu, Bà Âu, Mẹ Âu mà ra. Về sau này, người viết sử (của dân tộc Việt hay bị ảnh hưởng văn hóa Trung hoa rất mạnh) đã chép lại Hán hóa thành Lạc Long Quân và Âu cơ. Triết lý ở đây cũng khá dễ hiểu: vì thời Hậu Thiên thuộc Nòng nên người mẹ sinh ra vạn vật mang tính Nòng cao nhất. Ở đây chúng ta cũng phát hiện ra điều lý thú: chữ Âu còn có nghĩa là cái chậu; như vậy, Âu nếu quán chiếu qua lăng kính Hậu Thiên-Tiên Thiên có nghĩa là mẹ và đất (có đồi chỗ cao lên hay u, vú), nhưng hình dáng của nó quán chiếu qua hai nghi Nòng Nọc thì mang thuộc tính Nòng: tính chứa đựng, tròn, thu vào.
Ngoài ra, chúng tôi cho rằng từ Âu Cơ (Hán hóa), Cô Âu, Bà Âu (Bà Đất) hoàn toàn đồng nghĩa với Nữ Oa. Thứ nhất, chúng ta thấy sự biến âm khá đơn giản: Âu ~ Oa. Thứ hai, Âu, Oa cùng có nghĩa là đất nói chung hay là người thuộc nghi Đất nguyên thủy sinh ra vũ trụ tức là tinh đất. Thứ ba, Chậu çè Âu ~ Oa çè Nồi: có sự đồng nghĩa trong từ Âu và từ Oa. Thứ tư, khi quán chiếu từ góc độ Dịch thì có người đàn ông là ông Nọc Nòng hay ông Hai Nghi (truyền thuyết Lạc Long quân và Âu cơ) đối với ông Tứ Tượng (trong Thần Nam Thần Nữ) thì cũng có Bà Âu (Mẹ Đất) đối với Nữ Oa. Chúng tôi sẽ làm rõ hơn trong các phần truyền thuyết chương 3.
Thế nhưng, vì sao người ta lại đặt từ Âu~Oa cho các nghĩa khác nhau vậy? Vấn đề đặt ra là phải trả lời hai câu hỏi: Thứ nhất, về mặt ngôn thì tại sao họ dùng âm (hay hai âm) đó? Thứ hai, về mặt ngữ thì thống nhất các nghĩa của từ Âu bằng những mắc xích nào, hay nói cách khác bằng những quan điểm của nền tư tưởng nào?
Câu hỏi thứ nhất cần trả lời thấu đáo vì rằng ngoài Nòng Nọc là hai từ gốc ra và từ chúng người ta tạo nên tên của ông tổ chúng ta là Lạc Long thì chúng ta lại có từ Âu tương phản với một từ nặng ký (trên bậc thang của cây di truyền ngôn ngữ) như Nọc Nòng. Âu, Oa cũng phải là từ gốc khá xưa không kém gì Nòng Nọc. Trong bài Hát ru (http://www.hopham.net/TanMan/Nam2004/HatRu.php) của Lê Giang có mấy bài ru con sau đây:
Ầu ơi... chim khôn chưa bắt đã bay.
Người khôn chưa nói giang tay đỡ lời.
Ầu ơi... Trời còn khi nắng khi mưa.
Người ta cũng có sớm trưa thất thường.
Ầu ơi... thương nhau bụi cỏ cũng ngồi
Đám tranh cũng lội, rừng chồi cũng băng.
Người mẹ Việt hay hát, hay hò bắt đầu từ cụm chữ “Ầu ơi” hay “à âu” cho con mình nghe. Từ Âu ở đây (trong Ầu ơi) hoàn toàn có lý khi cho đồng nghĩa với mẹ; Ầu ơi=Mẹ ơi. Tuy nhiên vì sao là Ầu ơi mà không gọi là Mẹ ơi? Phải có nguyên do của nó. Chúng ta chú ý là các từ âu này hay dùng trong câu hò ru con êm ái và dịu dàng (đây cũng là nguyên cớ mà một trong các nghĩa của từ Âu có nghĩa: hát đều tiếng nhau. Âu ca trong sách Hán-Việt từ điển nghĩa là tán tụng bằng vè hát. Nhưng cũng có thể nguyên thủy của nó có nghĩa lời ca của mẹ). Và người mẹ hát ru con khi nào hay thường là khi nào? Người mẹ hát ru thường khi con nhỏ khó ngủ và hay khóc. Trẻ con ngay từ lúc chào đời hay khóc: “Oa, oa, oa”. Để gọi mẹ (dĩ nhiên không thể để gọi bố vì bản thân nó khóc đầu tiên là đòi bú). Từ nguyên cớ này, người xưa nghĩ ngay ra âm “Oa, Oa” chính là dùng để gọi Mẹ. Còn khi hát ru, khi dỗ con trẻ, người mẹ lại bắt chước tiếng của con để nựng lại (điều này hoàn toàn dễ hiểu vì như thế mới có mối giao cảm giữa hai mẹ con). Và người mẹ Việt Nam từ âm Oa của đứa bé đã dùng âm Âu, Ầu gần gần giống Oa để ru con. Ngay cả khi con người chưa biết nói thì đứa trẻ cũng đã khóc Oa oa, từ đây chúng ta có thể suy ra nguồn gốc vô cùng cổ xưa của hai từ Âu, Oa.
Theo Hán-Việt từ điển (giản lược):
Âu: hát đều nhau, chim ở nước (âu lộ vong cơ: ở ẩn làm bạn với con âu con cò mà quên việc đời), cái chậu.
Oa: cái nồi, cóc, người con gái đẹp, ốc sò, nước, hang lỗ.
Thêm một số nghĩa tiếng Việt lấy từ Đại từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý:
Âu: ang nhỏ, chậu nhỏ (âu sành), ụ; âu đất: nơi xây dựng trên bờ để đưa tàu thuyền lên sửa chữa, âu nổi: nơi xây dựng trên mặt nước để đưa tàu thuyền lên sửa chữa,…
Một số nghĩa từ Oa chúng tôi phân tích ở phần “Ông Oa, bà Oa”. Chung quy, các nghĩa của từ Âu hay cả chùm liên quan: âu, oa, ụ, u, vú, bu, bầm, bậu (Ví dầu tình bậu muốn thôi. (Ca dao)), ổ, tổ, chỗ…có thể phân ra thành các nhóm:
-Mẹ (âu ca: cũng là lời ru của mẹ. Đều đều, êm ái).
-Hang lỗ hay thứ vật dụng lõm xuống giống sinh thực nữ.
-Đất, nơi, chốn, cái nôi (ổ)
-Nơi nổi lên trên một bãi đất bằng phẳng: u, ụ chỉ hình dáng cái vú người phụ nữ. (Dĩ nhiên không phải cái gì nổi lên cũng mang tính Âm, tính Nữ. Ở đây chỉ những thứ hình dáng như vú người phụ nữ đặt biệt mọc lên từ đất mới mang nghĩa tính Âm).
-Chim.
Vậy xét trên nền tảng Kinh Dịch thì các nghĩa từ của từ Âu (và các từ liên quan đến nó hoặc được sinh ra từ nó) đều mang Âm tính, Nòng tính. Còn với nghĩa chim thì chúng ta xét tiếp ở phần dưới. Chính vì có nghĩa chim này mà theo chúng tôi từ Âu hoàn toàn mang đậm nét kinh Dịch Nòng Nọc của người Việt[1]. Từ Âu có liên quan đến Kinh Dịch như trên đã viết, còn nguồn gốc Việt của nó lại được khẳng định qua truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu cơ cũng như những từ tiếng thuần Việt liên quan đến nó như u, ụ, vú… đặc biệt từ ầu ơi hoàn toàn giải thích được từ âu ca với nghĩa lời ru êm đềm của mẹ; và danh từ riêng Nữ Oa (với cấu trúc ngữ pháp Việt; âm và nghĩa lại gần như nhau.). Tuy nhiên, nguồn gốc Việt này cũng chưa khẳng định được chắc chắn là người Việt sáng tạo ra từ này qua lăng kính Kinh Dịch Nòng Nọc vì rằng hoàn toàn có thể người Việt cổ sáng tạo ra chữ Âu nhưng qua lăng kính Kinh Dịch Trung Hoa. Qua phần phân tích các truyền thuyết thì quý vị sẽ thấy từ Âu, Oa đã được sáng tạo ra từ lăng kính Kinh Dịch Nòng Nọc.
Có một suy luận logic mang tính tất yếu sau: Nếu nói Dịch do người Việt cổ làm nên thì khó có thể tưởng tượng ra câu chuyện truyền thuyết nói về thủy tổ của người Việt lại không dính dáng gì đến Dịch. Qua phần Lạc Long và Âu Cơ, chúng tôi đã phân tích hai thủy tổ của người Việt (có thể là thủy tổ của cả loài người vì quan niệm của người xưa như vậy) không những dính dáng đến Dịch mà còn cho thấy trên ngôn ngữ Dịch họ chính là cha là mẹ của vũ trụ.
[1]. Có một vài khó khăn nên chúng tôi chưa công bố hết. Chúng tôi sẽ phân tích tiếp ở quyển ba của chùm sách nghiên cứu này.
khonglaai
18-02-2007, 05:41 PM
6. So sánh Thần Nông-Nữ Oa[1] và Lạc Long-Âu Cơ.
Trong truyền thuyết Trung Quốc người ta hay nói đến cặp vợ chồng Phục Hy và Nữ Oa. Thế nhưng sự đối kháng nhau lạ lùng giữa hai danh từ riêng Thần Nông và Nữ Oa không khỏi làm chúng ta liên tưởng đến một cặp thần tiên. Chúng ta cùng nhau phân tích tính hợp lý của cặp Thần Nông-Nữ Oa:
1. Thần Nông và Nữ Oa đều mang một cấu trúc ngữ pháp Việt.
2. Thần Nông: với Thần mang Nọc tính. Nghiên cứu tính Nọc của nhiều từ th chúng ta thấy rõ ràng hơn: thần, thìn, thánh, thằng, thắng, thăng, thích, thơm, thanh (xanh: trời xanh ở trên cao), thúc, thọc, thiêu, thầy, thang, thẳng, ….Còn Nữ Oa thì cả Nữ lẫn Oa đều mang Nòng tính. Cặp Phục Hy-Nữ Oa khó có tương phản thế này.[2]
3. Có thần thoại Trung Hoa kể bà Nữ Oa khắc chế được Ngưu Tinh bằng cách lấy dây buộc vào mũi. Gốc gác Trâu của Thần Nông chúng ta lại thấy trong nhiều cổ huyền sử Trung Hoa. Ví dụ, trong Đế vương thế kỷ của Hoàng Phủ Mật (215-282) tờ 3b6-4b3: Viêm đế họ Thần Nông, họ Khương, mẹ gọi Nhiệm Tợ, tức con gái họ Hữu Kiều tên Nữ Đang (lại ngữ pháp Việt), làm chính phi của Thiếu Diễm, đi chơi phía nam Hoa sơn, có lĩnh thần long, cảm Nữ Đang ở Thương dương, mà sinh Viêm Đế, thân người đầu trâu…..
4. Thần Nông và Nữ Oa vì đều mang cấu trúc ngữ pháp Việt nên những phân tích so sánh sự tương đồng giữa hai cặp Thần Nông-Nữ Oa và Lạc Long-Âu Cơ cũng là bằng chứng tương hỗ với tính hợp lý của cặp Thần Nông-Nữ Oa và ngược lại.
Cặp Lạc Long-Âu Cơ và Tứ Tượng-Nữ Oa chúng tôi sẽ phân tích sau, còn ở đây xin đề cập đến những nét trùng nhau khá kỳ dị của hai cặp như trên đã nêu.
Đầu tiên, xin nhắc lại nguồn gốc.
Trong Đế vương thế kỷ của Hoàng Phủ Mật (215-282) tờ 3b6-4b3: Viêm đế họ Thần Nông, họ Khương, mẹ gọi Nhiệm Tợ, tức con gái họ Hữu Kiều tên Nữ Đang, làm chính phi của Thiếu Diễm, đi chơi phía nam Hoa sơn, có lĩnh thần long, cảm Nữ Đang ở Thương dương, mà sinh Viêm Đế, thân người đầu trâu, lớn lên ở sông Khương, nhân thế mà lấy làm họ.
Trong Đại Việt Sử ký toàn thư (http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n1ntn4ntn31n343tq83a3q3 m3237nvn) của Ngô Sĩ Liên:
Kỷ Hồng Bàng Thị
Kinh Dương Vương
Tên húy là Lộc Tục, con cháu họ Thần Nông.
Nhâm Tuất, năm thứ 1. Xưa cháu ba đời của Viêm Đế họ Thần Nông là Đế Minh sinh ra Đế Nghi, sau Đế Minh nhân đi tuần phương Nam, đến Ngũ Lĩnh lấy con gái Vụ Tiên, sinh ra vua [Kinh Dương Vương]. Vua là bậc thánh trí thông minh, Đế Minh rất yêu quý, muốn cho nối ngôi. Vua cố nhường cho anh, không dám vâng mệnh. Đế Minh mới lập Đế Nghi là con nối ngôi, cai quản phương Bắc, phong cho vua làm Kinh Dương Vương, cai quản phương Nam, gọi là nước Xích Quỷ.
Vua lấy con gái Động Đình Quân tên là Thần Long sinh ra Lạc Long Quân.
Vậy cả Thần Nông lẫn Lạc Long theo truyền thuyết hay dưới nhân sinh quan của người xưa đều là con của Thần Long (lúc là cha, lúc là mẹ). Vì thế, trong bản thân danh hiệu của hai người đều có Rồng. Thần Nông có chữ Rồng ở chữ Thần=Thìn còn Lạc Long có chữ Rồng ở chữ Long. Dù thế nào thì Long chính là con vật tượng trưng cho thời Hậu Thiên và Long chính là con vật nằm ở nghi Dương, tượng trưng cho Trời, Cha. Ngay trong tử vi thì cung Thần=Thìn là cung nằm trên nghi Dương của bát quái Hậu Thiên. Nữ Oa và Âu cơ chúng tôi đã phân tích sự tương đương ở trên.
Chúng ta có thể đúc kết lại một khẳng định sau:
ThầnçèRồngçèTrờiçèCha
TiênçèChimçèĐấtçèMẹ.
Thần trùng âm với Thìn và một trong vài nghĩa của Thần là Thìn. Tuy nhiên, để chứng minh Thần, Thìn có nguồn gốc Việt cần có những chứng minh sâu hơn. Nhà nghiên cứu Nguyễn Cung Thông đã có những bài viết rất xuất sắc để chứng minh tên các con giáp có nguồn gốc Việt. Trong bài Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp (phần 3) (http://www.khoahoc.net/baivo/nguyencungthong/240806-muoihaicongiap-3.htm) ông viết về cung Thìn/Thần như sau:
3.1 Thìn/Thần HV, giọng BK bây giờ là chén[3] – âm này có thể tương ứng với các âm trần, trầm, thần HV. Ngoài ra, âm chén BK đã từng có âm họng sau (velar) kh- theo Thuyết Văn Giải Tự - hay thần đọc như là *khân, điều này được Jerry Norman ghi nhận trong bài “ A note on the origin of the Chinese duodenary cycle’ (trong cuốn “Linguistics of the Sino-Tibetan area” 1985). Phụ âm đầu kh- tương ứng với các dạng chỉ con trăn như tiếng Việt, tiếng Môn (klan, klon), Chrâu, Kơho (klăn) … Thêm vào đó là cách viết rất hiếm của chữ giao bằng bộ trùng hợp với chữ thìn bên phải có nghĩa là ‘.. hình dáng như con rắn nhưng lớn hơn và có sừng như rồng..” (Khang Hi Tự Điển, theo Norman). Các dữ kiện này có thể giải thích phần nào con vật tượng trưng cho chi này là rồng. Tuy nhiên, theo người viết nếu phục hồi âm cổ của Thìn/Thần là *tsri(a)n thì ta có thể hiểu được các dạng sau này như Thìn/Thần, tlan (âm r chuyển thành l) và trăn, lươn (âm ts- mất đi), rắn, trình (loài cá giống con lươn), rồng/long (nguyên âm o thay cho a như nôm/nam, vốn/bản…) và khuynh hướng đơn âm hoá để cho ra các dạng từ ghép như tlăn > thằn lằn, *tlian > thuồng luồng … Các loài vật này đều có hìng cong vòng như con rồng5. Tiếng Thái gọi năm Thìn là bpee ma rohng cho thấy vết tích của dạng rồng trong các ngôn ngữ phương Nam.
Chúng tôi xin lưu ý với độc giả là âm cổ *tsri(a)n càng được khẳng định hơn nếu chúng ta quan sát tính Nọc của các chữ có phụ âm th. Và những từ có tính Nọc cũng nhiều không kém là các chữ có phụ âm đầu là tr hay dạng cổ của nó là tl. Ngoài ra khuynh hướng đọc tách tl_ ra cụm kép th_ l_ là khá phổ biến trong đó có từ theo cách dùng tiếng Việt cũng thấy ngay Thần=Thìn: bất thần=bất thình lình (từ Thần~*tsrìn~tlình~thình lình. Bằng chứng đáng kể cho lý luận của ông Nguyễn Cung Thông), thòng lọng, thia lia, tham lam, thòi lòi, thò lò, thù lù…
Như vậy từ nghiên cứu tính Nọc phổ biến ở các chữ bắt đầu từ phụ âm Tr và Th chúng ta có thể kết luận hầu hết các chữ đó thời thái cổ người ta đọc bằng một cách chung là *tsr và về sau là đọc thành tl. Cuối cùng, sự kết nối đó có những bằng chứng sáng giá là cơ cấu tạo từ ghép từ hai từ đơn láy nhau th_ l_ như trên đã viết. Vế Thần=Rồng=Trời (dĩ nhiên đã là Trời thì cũng là Cha luôn) đã được chứng minh.
Sự tích Lạc Long Quân và Âu Cơ (http://www.quehuong.org.vn/nr050307131435/nr050314102832/nr050314102919/ns050316143959) có đoạn:
Lạc Long Quân nói:
- Ta là loài rồng, nàng là giống tiên, khó ở với nhau lâu dài. Nay ta đem năm mươi con về miền biển, còn nàng đem năm mươi con về miền núi, chia nhau trị vì các nơi, kẻ lên núi, người xuống biển, nếu gặp sự nguy hiểm thì báo cho nhau biết, cứu giúp lẫn nhau, đừng có quên.
Đến tận bây giờ, ai trong chúng ta đều cho rằng mình mang trong mình giòng máu Rồng Tiên: con Rồng cháu Tiên. Nhưng nghĩ theo nghĩa bây giờ thì Tiên đi cặp với Thần: thần çè tiên. Thế nhưng, người dân ta vẫn dùng con Rồng cháu Tiên từ xưa đến tận bây giờ. Vậy theo logic đối xứng thì đối với một con vật như Rồng thì Tiên từ thời xa xưa có nghĩa là con vật. Mà trong truyền thuyết cũng cho ta thấy mẹ chúng ta là Âu Cơ: chim Âu. Từ đây, chúng ta có thể khẳng định Tiên nguyên thủy có nghĩa là chim.
Về ngữ âm thì liên quan tiên~chim rất gần. Tiên~tinh-âm Hán là jing=ching. Và con chim Tinh Vệ là bằng chứng. Tinh Vệ đọc theo kiểu Hán là Jing Wei~âm phát ra như ching oây (đọc kiểu Việt)~chim oa, âu (nguyên cớ vì sao chúng tôi cho Tinh Vệ chính là chim Vệ sẽ dẫn ở dưới). Như vậy trong hệ thống ngôn ngữ cổ Tiếng Việt lúc đầu người ta làm ra hai từ Rồng (hay Long), Chim với ý nghĩa là con Rồng, con chim lẫn ý nghĩa tôn giáo là hai con vật thiêng liêng. Sau đó người ta mới tách ra thành các từ riêng biệt Rồng-Thần và Chim-Tiên.
Tín ngưỡng chọn chim làm vật tổ cũng không phải chỉ nằm trong truyền thuyết. Nó in đậm trong các di sản vật thể của chúng ta đặc biệt là trên Trống đồng:
http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Kinh%20Dich%20Au%20Lac/chuong7-7-MatTrongNgocLu1.jpg
Ông Kim Định đã phân tích Tiên=Chim trong tác phẩm Sứ điệp trống đồng (http://www.dunglac.net/kimdinh/sudiep1-02.htm):
Đó chính là tinh thần nước Việt đã hiện hình trong vật biểu chim, sau này đã được tiếp nối bằng tiên rồi chim vẫn đi với tiên. Ta quen nói tổ tiên, lâu ngày quên đi rằng tổ là nhà của chim, nói tổ tiên cũng như nói tiên chim vậy, tức từ vật tổ chim bước sang giai đoạn nhân chủ, vẫn còn lưu lại chỗ ở của chim là cải tổ. Nói tổ tiên là do tâm trạng không tuyệt giao với dĩ vãng. Cái bước từ chim đến tiên xem ra đã xuất hiện ngay từ những trang đầu của huyền sử nước ta với họ khai quốc Hồng Bàng. Hồng là chim hồng hộc, một thứ ngỗng trời cũng gọi là thiên nga, hay là một thứ hạc bay thực cao. Còn Bàng là nhà chim tức là tổ. Chữ tổ trên chắc phải xuất hiện từ đó. Sau Hồng Bàng tiếp tới vụ anh em Lộ Bàn, Lộ Bộc (một tên khác của Lạc Việt) làm nhà chữ đinh: lộ là một thứ cò trắng (bạch lộ tử); Lạc Địch một tên khác của Lạc Việt thì chữ Địch phải viết với bộ chuy để chỉ một thứ chim trĩ dài mỏ dài đuôi, đại biểu cho chim thuần hóa – tức chim mặt trời cũng có tên là Dương Địch hay Xích Ô (Xích Ô là chim quạ lông đỏ, cũng quen nói bóng ô để chỉ mặt trời). Lạc cũng là một giống chim quen gắn liện với Địch thành ra Lạc Địch. Huyền sử nước ta quả thật tràn ngập những chim là chim.
Chính trong viễn tượng đó mà các nghi mẫu nước ta đều mang tên chim
Au Cơ là Hải Au (cò biển)
Vụ Tiên thì vụ là vịt trời.
Mỵ Châu luôn mang lông chim trong mình (cũng là một lối vẽ mình). Các bà Lạc Việt có thói quen mang lông chim ngỗng trong người: sau mặc áo thêu hình chim trĩ.
Thú vị nhất là Au Cơ Nghi Mẫu sanh con theo lối chim tức là đẻ trứng, các con phải sống như chim kêu là “điểu tục” trong trống đã chỉ trỏ bằng cách hóa trang chim. Nhiều hình người có ngón chân được làm xoè ra như kiểu chân chim là lấy do điển này để nói lên sự giống với chim từ đầu tới chân.
Nên ghi nhận trong huyền sử nước ta có hai loại chi vì thuộc hai giai đoạn khác nhau. Giai đoạn trước thuộc thời còn thờ mặt trời nên các chim gọi được là thuần dương chơi vai trò vật tổ gồm các chim mặt trời như dương dịch, xích ô, chu tước, nổi nhất là trĩ có tiếng bay theo hướng mặt trời và là của Việt cách riệng như còn ghi lại trong câu sách Việt nho “tuỳ dương Việt trĩ” (Vân Đài 519), con trĩ nước Việt bay theo hướng mặt trời, vì thế cũng gọi là “thiên địch”. Nhiều nhà khoa học cho là vòng tròn nhận thấy trên nhiều hình chim chỉ mặt trời (Cradle 172).
Còn Nữ Oa thì có bằng chứng gì để biết bà ta là giống chim? Trong Hùng Việt Sử Ca (http://www.dunglac.net/kimdinh/hungvietsuca-10.htm), giáo sư Kim Định cho rằng Nữ Oa chính là chim Tinh Vệ. Sau đó, ông Nguyễn Xuân Quang lại dẫn lại trong bài viết Nhận diện chân tướng Nữ Oa (http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n3n2n1nnn31n343tq83a3q3 m3237nvn). Thế nhưng, cả hai ông đều không dẫn ra được bằng chứng nào chỉ ra Nữ Oa chính là chim Tinh Vệ.
Về mặt âm mà nói chúng ta có Vệ phiên âm Hán là wei~wa~oa. Biến âm khá gần. Còn theo chúng tôi chữ Tinh chính là chữ Tiên mà ra. Ngày xưa người ta gọi chim Tinh Vệ (Jing Wei: đọc giống ching oêi-đây cũng là bằng chứng ngữ âm cho tiên, tinh=chim) đơn giản chỉ là chim Vệ hay chim Oa, chim Âu. Sau này từ chim mang tính thiêng liêng (không phải chim thường) thì được đọc trệch ra thành tiên~tinh. Và Tinh Vệ trở thành tên riêng như Thần Nông: Tinh Vệ, Thần Nông. Cuối cùng, người ta lại thêm một từ chim trước tên Tinh Vệ thành ra chim Tinh Vệ精衞 (JING WEI).
Có bằng chứng quan trọng hơn. Hãy cùng nhau đọc lại hai truyền thuyết:
-Nữ Oa vá trời: Nữ Oa lấy đá từ biển Đông để vá trời. Mà trời thì đã nghiêng về hướng Tây Bắc.
-Chim Tinh Vệ gắp đá lấp biển: Trong Sơn Hải Kinh, thiên Bắc Sơn Kinh (http://e-cadao.com/tieuluan/tuyentapvanchuongnhidong-4d.htm) [4] có dẫn chuyện chim Tinh Vệ như sau: Ở núi Phát Cư có giống chim lớn đầu vằn, mỏ trắng, chân đỏ, gọi là chim Tinh Vệ, tiếng kêu vang lớn. Tương truyền kiếp trước chim là con gái nhỏ vua Viêm Đế, tên là Nữ Khuê. Một lần Nữ Khuê dong chơi ở Đông Hải, không may bị chết đuối. Từ ấy u hồn hoá thành chim Tinh Vệ, thường tha đá, gỗ ở núi Sơn Tây về mà lấp biển Đông Hải.[5]
Qua câu chuyện chim Tinh Vệ trên, chúng ta cũng đã có một số kết nối:
a. Viêm đế: vua nước Nam.
b. Nữ Khuê: lại là ngữ pháp Việt. Nữ Khuê gần như là biến âm của Nữ Oa.
Cả Nữ Oa lẫn Nữ Khuê đều làm công việc di chuyển đá. Người thì lấp, kẻ thì vá. Vị trí lấy đá và lấp (hoặc vá) lại đổi lộn ngược nhau. Thế nhưng chúng ta xem thử Vệ có nghĩa gì. Từ Vệ衞 trong Tinh Vệ 精衞 có nghĩa là bảo vệ. Vậy chim Tinh Vệ bảo vệ ai? Hay chim Tinh Vệ chỉ biểu diễn sự oán hờn của mình vì chết đuối. Rõ ràng nội dung truyền thuyết chim Tinh Vệ đã được thêu dệt, cải biên làm mất ý nghĩa ban đầu. Còn bà Nữ Oa thì sao? Đọc chuyện bà Nữ Oa vá trời chúng ta thấy rõ tính mẹ, tính vệ của bà. Hai ông Thần đánh nhau chí chóe đến nổi Trời vỡ ra và mẹ Nữ Oa đã cần mẫn tha đá về vá trời. Vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng Nữ Oa chính là chim Tinh Vệ với nghĩa là con chim cần mẫn lấy đá ở Đông Hải để vá trời ở Tây Bắc. Còn con chuyện chim Tinh Vệ được dẫn trên chẳng qua được người sau này thêu dệt nên hoặc các học giả xưa đã viết lầm vào sách (mất đi tính chất Vệ của chim).
Thế nhưng điều đó chưa phải là ly kỳ nhất. Điều làm chúng tôi ngạc nhiên khi tra cứu lại từ Hán của chữ Khuê và chữ Oa bằng Hán Việt từ điển (giản yếu):
Khuê:
圭 (GUI) khuê: Hòn ngọc trên tròn dưới vuông hoặc trên nhọn dưới vuông.
圭璋 (GUI ZHANG) khuê chương: hai hòn ngọc quý.
閨 (GUI) khuê: Cửa nhỏ, chỗ con gái ở.
閨儀 (GUI YI) khuê nghi: nghi dung của người đàn bà.
閨女 (GUI NU) Khuê nữ: Con gái chưa xuất giá, còn ở trong nhà.
Oa:
漥 (WA): Chỗ sâu hẳm, lõm xuống, trũng xuống
蛙 (WA): Con chẫu chuộc
娃 (WA): Con gái đẹp
哇 (WA): Mửa-Tiếng nhạc dịu dàng.
Vậy, ở đây không còn nghi ngờ gì về mối liên quan mật thiết giữa Khuê và Oa. Về âm thì các biến âm từ Vệ=Wei, Khuê=Gui(đọc như quêi hay quây), Oa=Wa cũng rất gần gũi:
Vệ=Wei~Wa=Oa
Khuê=Gui~quei~wei (một số nơi ở miền Nam bây giờ đọc qu giống như w)~wa=Oa.
Suy ra cả hai danh từ riêng Âu và Oa đều chỉ người mẹ, đất và giống chim tổ[6]. Bà Âu cơ là giống chim tổ (đẻ ra bọc trứng) là điều khỏi phải bàn. Còn bà Nữ Oa qua bao nhiêu truyền thuyết còn sót lại cũng thấy bà là tổ tiên của con người (có truyền thuyết kể bà cùng Phục Hy là hai anh em lấy nhau để sinh ra loài người [7]. Có truyền thuyết bà nặn ra loài người từ đất sét.). Và khẳng định Tiên=Chim=Đất=Mẹ đúng với cả hai trường hợp này.
Như vậy, so sánh hai cặp Thần Nông-Nữ Oa và Lạc Long-Âu Cơ ta thấy:
+ Đều cùng cho kết quả:
ThầnçèRồngçèTrờiçèCha
TiênçèChimçèĐấtçèMẹ.
+ Oa và Âu trên thực tế có biến âm gần và có cùng một số nghĩa chính. Còn Lạc Long và Thần Nông lại kết nối với nhau qua từ Thần=Thìn một cung Tử vi tượng trưng cho Rồng.
Từ đây, mặc dù chúng ta không có cơ sở nào để đồng nhất (và cũng không nên) hai cặp thần tiên này, nhưng chúng ta có thể kết luận thời xa xưa, người Việt cổ đã sáng tác ra một số truyền thuyết có cùng một motip. Ở đây, motip là hai vị thủy tổ của loài người với người mẹ là Tiên-Chim, người cha là Thần-Rồng là hai người đứng đầu mỗi nghi Trời và Đất của Hậu Thiên Bát Quái. Hay nói cách khác họ là những người tượng trưng cho nghi Nọc và Nòng của thời Hậu Thiên. [8]
[1]. Truyền thuyết Trung Hoa lúc thì cho bà Nữ Oa là vợ của Phục Hycó lúcthì cholà vợcủaThầnNông.
[2]. PhụcHy伏羲có thểlà cáchngườiTrungHoagọiVô cực. Đấychỉlà phỏng địnhcủachúngtôibởivì biến âmphèvkhá phổbiếnPhụctiếngTrungHoa đọcnhư Phú~vu~vô cònHy羲 (đọc là Xi) có âm đọcgiốngCực極(đọc là Ji3).
[3]. Đọc giống như là tsẩn.
[4]. Có dẫn trong quyển Tuyển Tập văn chương nhi đồng (http://e-cadao.com/tieuluan/tuyentapvanchuongnhidong-4d.htm) của Doãn Quốc Sỹ.
[5]. Có nơi người ta viết truyện Nữ Oa vá trời (http://thienvanvietnam.com/kienthuc/ThienvanhocPD/TVHPD_NhungTruyenThuyet.htm) lại như sau: Khi Cung Công và Chúc Dung (thần nước và lửa) đánh nhau, Cung Công thua đã đập đầu vào núi Bất Chu là cột chống trời làm núi đổ, trời rách góc đông bắc, đất sụt góc tây nam, thế gian nguy khốn. Nữ Oa đã luyện đá vá trời liền lại, không cần dùng đến cột chống nữa mà trời vẫn yên, đất vẫn lành. Sự lệch nhau trong các truyền thuyết là chuyện quá thường tình. Không những thế, mà chúng tôi cho phải có sự lệch nhau mới hợp lý bởi vì ngày xưa người ta sử dụng phương pháp truyền khẩu: một câu chuyện phát tích từ một vùng được dân vùng đó mang đi khắp nơi và hiển nhiên (bất kỳ ai đều có những lúc sinh lão bệnh tử; trí nhớ không thể nào viên mãn mãi được) chúng ta không thể nào tin tưởng là câu chuyện qua bao nhiêu năm, qua bao nhiêu nơi chốn vẫn giữ mãi một nội dung được. Nhưng những ý chính thì vẫn được giữ nguyên trong các khảo dị khác nhau của truyền thuyết. Sự lệch nhau ngay trong một truyền thuyết này làm cho khẳng định truyện Chim Tinh Vệ được xây dựng, thêm thắt từ chuyện Nữ Oa vá trời càng thêm có cơ sở. Nữ Oa vá trời (trời Tây Bắc-đất Đông Nam)è Nữ Oa vá trời (trời Đông Nam -đất Tây Bắc/lấy đá bên Tây mà vá trời bên Đông)è Chim Tinh Vệ (tha đá bên Tây lấp biển Đông).
[6]. Trong sử thi Đẻ Đất Đẻ Nước có viết loài người được sinh ra bởi hai con chim: chim Ây và chim Ứa (Ưa, Ua). Rất đồng âm với Oa và Âu.
[7]. Trùng nhau đến lạ lùng chuyện Lang Tả Cần với nàng Tưới Pịp trong Sử Thi Đẻ đất đẻ nước của dân tộc Mường.
[8]. Chúng tôi sẽ phân tích thêm ở các phần sau để cho thấy cái Hậu Thiên Bát Quái đó là Bát quái gì. Đồng thời, ở Quyển 3 chúng tôi sẽ làm rõ hơn một số chi tiết quan trọng.
Tôi đọc các bài của các anh khonglaai và thiensu tuyệt vời quá. Cám ơn các anh có những bài viết và nghiên cứu rất hay cung cấp cho bạn đọc.
khonglaai
28-02-2007, 07:56 PM
Phần trên chúng tôi có đưa ra lý luận cho rằng chim Tinh Vệ thực ra là Tinh Vệ-ngữ pháp Việt với nghĩa chim Vệ~chim Oa~chim Ứa(người Mường)~chim Âu. Và không ngờ tôi vô tình thấy bằng chứng về thiên văn của lý luận này:
Trong cuốn Lịch vạn niên thực dụng 1898-2018, Nguyễn Hoàng Điệp và Nguyễn Mạnh Linh, Nhà XB Văn hóa-Thông Tin, 2005, trang 506 có viết: "Sao Điểu (còn gọi là sao Tinh) theo Thiên Văn hiện nay là sao Alphard hay alpha Hydra-Trường Xà, ở Xích kinh độ: 141, 577độ."
khonglaai
04-03-2007, 05:55 AM
7. Hùng Vương.
Trong Đại Việt Sử ký (http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n1ntn4ntn31n343tq83a3q3 m3237ntn&cochu=) có đoạn:
[3a] Con Lạc Long Quân (không rõ tên húy)14 , đóng đô ở Phong Châu (nay là huyện Bạch Hạc)15 .
Hùng Vương lên ngôi, đặt quốc hiệu là Văn Lang (nước này đông giáp biển Nam Hải, tây đến Ba Thục, bắc đến hồ Động Đình, nam giáp nước Hồ Tôn, tức nước Chiêm Thành, nay là Quảng Nam), chia nước làm 15 bộ là: Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Lục Hải, Vũ Định, Hoài Hoan, Cửu Chân, Bình Văn, Tân Hưng, Cửu Đức; đều là đất thần thuộc của Hùng Vương; còn bộ gọi là Văn Lang là nơi vua đóng đô16 . Đặt tướng văn gọi là Lạc Hầu, tướng võ gọi là Lạc Tướng (chữ Lạc Tướng, sau chép sai là Hùng Tướng17 ). Con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mị Nương. Quan coi việc gọi là Bồ Chính, đời đời cha truyền con nối, gọi là phụ đạo. Vua các đời đều gọi là Hùng Vương.
Còn ở Lĩnh Nam chích quái (http://www.dunglac.net/kimdinh/KinhHung2-01.htm) thì viết cụ thể hơn:
5. Au Cơ ở với Lạc Long Quân giáp một năm, sinh ra một bọc trứng, cho là điềm không hay nên đem bỏ ra ngòai đồng nội; hơn bảy ngày, trong bọc nở ra một trăm trứng, mỗi trứng là một con trai, bà đem về nuôi nấng, không cho ăn, cho bú mà tự nhiên trường đại, trí dũng song tòan, ai cũng úy phục, bảo nhau đó là những anh em phi thường.
Long Quân ở lâu dưới Thủy Phủ; mẹ con ở một mình, nhớ về Bắc quốc liền đi lên biên cảnh; Hoàng Đế nghe tin lấy làm sợ mới phân binh trấn ngự quan tái; mẹ con không về Bắc được, đêm ngày gọi Long Quân:
- Bố ở phương nào làm cho mẹ con ta thương nhớ!
Long Quân hốt nhiên lại đến, gặp mẹ con ở Tương Dã. Au Cơ nói:
- Thiếp vốn người Bắc, cùng ở một nơi với quân, sinh được một trăm trai mà không có gì cúc dưỡng, xin cùng theo nhau chớ nên xa bỏ, khiến cho ta là người không chồng không vợ, một mình vò võ.
Long Quân bảo:
- Ta là loài rồng, sinh trưởng ở thủy tộc; nàng là giống tiên, người ở trên đất, vốn chẳng như nhau, tuy rằng khí âm dương hợp lại mà có con, nhưng phương viên bất đồng, thủy hỏa tương khắc, khó mà ở cùng nhau trường cửu. Bây giờ phải ly biệt, ta đem năm mươi trai về Thủy Phủ phân trị các xứ, năm mươi trai theo nàng ở trên đất, chia nước mà cai trị, dù lên núi xuống nước nhưng có việc thì cùng nghe, không được bỏ nhau.
6. Trăm trai đều nghe mệnh, rồi mới từ giã ra đi. Au Cơ cùng với năm mươi người con trai ở tại Phong Châu (bây giờ là huyện Bạch Hạc), tự suy tôn người hùng trưởng lên làm vua, hiệu là Hùng Vương, quốc hiệu là Văn Lang; về bờ cõi của nước thì Đông giáp Nam Hải, Tây đến Ba Thục, Bắc đến Động Đình Hồ, Nam đến nước Hồ Tôn Tinh (bây giờ là nước Chiêm Thành), chia trong nước làm mười lăm bộ là: Giao Chỉ, Chu Diên, Ninh Sơn, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Quế Dương, Vũ Ninh, Hòai Hoan, Cửu Chân, Nhật Nam, Quế Lâm, Tượng Quận, sai các em phân trị, đặt em thứ làm tướng võ, tướng văn; tường văn gọi là Lạc Hầu, tướng võ gọi là Lạc Tướng; con trai vua gọi là Quan Lang, con gái gọi là Mỵ Nương, quan Hữu ty gọi là Bố Chính, thần bộc nô lệ gọi là nô tỳ, xưng thần là khôi, đời đời cha truyền con nối gọi là phụ đạo, thay đời truyền cho nhau đều hiệu là Hùng Vương không đổi.
Sở dĩ chúng tôi muốn đưa cả hai nguồn na ná giống nhau ra là vì chúng tôi cho rằng tuy nội dung giống nhau nhưng cách diễn đạt khác nhau: Sử ký diễn đạt theo thể sử thiên về “ngữ”. Còn “Lĩnh Nam chích quái” lại chép nguyên câu chuyện truyền miệng thiên về “ngôn”. Chúng tôi cho rằng Lĩnh Nam chích quái xác thực với câu chuyện truyền khẩu này trong dân gian hơn (vả lại Đại Việt sử ký chẳng qua cũng chép lại từ Lĩnh Nam chích quái qua phong cách sử mà thôi).
Có nhiều học giả cất công giải thích chữ Hùng. Nhiều người cho là đó từ hùng 雄 nghĩa mạnh, hùng tráng (có người dẫn chữ tráng có đồng âm với hùng, có người cho rằng chữ Tráng đó còn cho thấy ở ngay trong danh hiệu của một dân tộc phía Nam Trung Hoa khá gần với dân tộc Kinh: dân tộc Tráng). Nguyên thủy từ Hùng Vương theo Hán Việt từ điểu (giản yếu) được viết bằng Hán tự như sau: 雄王.Một nhóm khác thì cho là hùng~hừng, hưng, hửng với ý nghĩa Mặt Trời. Lý luận Hùng đi từ hay cùng nhóm với hừng, hửng chỉ Mặt Trời còn được củng cố bởi các từ như Hồng Bàng, Gióng và qua cách thờ Mặt Trời của người Việt cổ, vẫn còn ghi ấn trên trống đồng.
Học giả Đào Duy Anh trong quyển Lịch sử cổ đại Việt Nam, Nhà xuất bản VHTT, 2005, trang 381 có viết:
Chúng tôi xin dẫn thêm luận cứ để tỏ rằng sự lẫn lộn chữ 雒 (lạc bộ chuy-người viết) với chữ 雄 (hùng bộ chuy nghĩa là hùng mạnh, hùng tráng-người viết. Tại sao trong sách đã dẫn lại viết một chữ mà tôi không tìm thấy trong từ điển Thiều Chửu lẫn Hán Việt Từ Điển Đào Duy Anh- http://i2.photobucket.com/albums/y39/khonglaai/Hung-DaoDuyAnhLSCDVN.jpg) là có thực. Sự lẫn lộn vạch ra đó không phải là trường hợp duy nhất. So sánh các thư tịch Trung Quốc có chỗ chép tên người tướng nước Ngô do Phù Sai khi xin hàng với Câu Tiễn, chúng ta thấy sách Quốc Ngữ chép là Vương tôn Hùng雄 (Sử ký thì chép là Công tôn Hùng雄) mà các sách Ngô Việt Xuân Thu và Việt tuyệt thư ở thời sau lại chép là Vương tôn Lạc 駱 (http://perso.orange.fr/dang.tk/langues/&h187.htm#39409) (lạc bộ mã-người viết). Ở đây thấy chữ 雄 đã chuyển thành chữ 駱 (http://perso.orange.fr/dang.tk/langues/&h187.htm#39409). Song hai chữ ấy khó lòng lộn với nhau, cho nên chúng tôi tưởng rằng một sách nào khác hay một bản sao nào của sách Quốc Ngữ đã chép chữ 雄 thành chữ雒, rồi hai sách Ngô Việt Xuân Thu và Việt tuyệt thư lại chép chữ 雒 thành chữ 駱 (http://perso.orange.fr/dang.tk/langues/&h187.htm#39409) , vì hai chữ ấy vốn thông dụng (Chúng ta thấy Giao Châu ngoại vực kỷ chép雒 mà Quảng Châu ký lại chép 駱 (http://perso.orange.fr/dang.tk/langues/&h187.htm#39409)). Xem thế thì thấy rằng 雒 và chữ 駱 (http://perso.orange.fr/dang.tk/langues/&h187.htm#39409) quả là rất dễ lộn nhau.
Chính ở nước ta, một nhà chú giải sách Đại Việt Sử ký toàn thư (q.1, tờ 3a) cũng đã nhận thấy sự sai lầm ấy mà nói rằng: “Danh hiệu Lạc tướng sau bị người ta lầm là Hùng tướng”, nhưng nhà ấy vẫn không dám nói rằng danh hiệu Hùng Vương là do Lạc vương lầm thành, vì cái danh hiệu Hùng Vương đã in vào tâm não của nhân dân ta sâu xa lắm.
Đến như số 18 đời Hùng Vương=Lạc Vương và tên hiệu của mỗi đời (đời cuối cùng là Hùng Duệ Vương) chép trong thần tích thì chắc chắn là do các nhà nho viết thần tích theo lệ đặt tên hiệu của vua các triều đại phong kiến mà bịa đặt ra.[1]
Đoạn trên thấy ông Đào Duy Anh thầm trách người cải chính Lạc tướng chứ không phải Hùng tướng như người ta nghĩ đã không chịu cải chính luôn Lạc Vương chứ không phải Hùng vương. Chúng tôi cho rằng, ông kia chỉnh đốn từ Hùng tướng là đúng nhưng không dám quả quyết là Lạc vương vì trên thực tế thì Hùng Vương và Lạc Tướng mới đúng. Mà điều này ta cũng thấy ngay trong đoạn “…vì cái danh hiệu Hùng Vương đã in vào tâm não của nhân dân ta sâu xa lắm rồi.”. Và cái sâu xa đó trong tâm não nhân dân ta nó có sâu hơn, xa hơn (hay ngược lại) lúc người ta viết Giao Châu ngoại vực kỷ, Sử ký,…không là vấn đề khó có ai dám xác quyết.
Tiếp theo ông Đào Duy Anh cho rằng chữ Hùng Vương chẳng qua là Lạc Vương với nghĩa lạc bộ mã có nghĩa là lạc đà chứ không phải lạc bộ trĩ với nghĩa một con giống con Ly(lân). Xin đọc tiếp đoạn trích của ghi chú (1) của sách đã dẫn, trang đã dẫn của ông Đào Duy Anh dưới đây:
Tác giả Quảng Châu ký sửa lại là 駱 (http://perso.orange.fr/dang.tk/langues/&h187.htm#39409) cho đúng với Sử ký là tài liệu có uy tín. Sự chuyển từ chữ 雒 của sách Quốc ngữ sang chữ 駱 (http://perso.orange.fr/dang.tk/langues/&h187.htm#39409) của sách Ngô Việt xuân thu lại soi sáng thêm nhận định trên. Sau khi chữ đã thành chữ 駱 (http://perso.orange.fr/dang.tk/langues/&h187.htm#39409) rồi, các sử sách Việt Nam lại lộn[2] chữ 駱 (http://perso.orange.fr/dang.tk/langues/&h187.htm#39409) thành chữ 貉 chỉ vì tự hình giống nhau, mà chép Lạc Long Quân(貉龍君, Hán Việt từ điển, trang 386-Lạ lùng một điều là từ 貉-bộ trĩ, trãi này hoàn toàn không đọc bằng lạc mà là hạc (cả Thiều Chửu lẫn Hán Việt từ điển Đào Duy Anh đều cho như thế). Có lẽ âm cổ đọc là Lạc. Người viết), Lạc hầu, Lạc tướng.
Quả tình nếu thế thì quá khó hiểu. Người Việt gọi cha ông mình là Lạc hay Hùng gì đi chăng nữa thì chứng tỏ hai từ ấy có nghĩa nào đó qua ngôn ngữ Việt hay qua tâm thức nhân dân Việt. Chứ cớ vì sao mà phải tìm trong chữ Hán. Tìm lại trong cổ thư Hán chẳng qua là để tham khảo, để tìm thấy một sự đồng nhất nào đó, một giải nghĩa thấu đáo nào đó kết hợp cả nghĩa Việt lẫn nghĩa Hán vì rằng dù muốn hay không, người Hán cũng phải công nhận có một sắc dân được gọi là Việt, Kinh đã sinh sống ở vùng Nam Dương Tử xuống phía Nam. Hay dù muốn hay không, chúng ta cũng không thể từ chối khoảng thời gian 1000 năm Bắc thuộc. Và cớ làm sao mà một sắc dân ở vùng sông nước lại lấy chữ “Lạc (lạc đà)”[3] chỉ có ở vùng sa mạc ra làm danh hiệu ông thủy tổ của mình. Liệu thời cổ đại đó, các cư dân Việt cổ đã biết đi du lịch qua bên Trung Đông để tận mắt nhìn thấy con lạc đà đẹp quá mà đem về đặt tên cho ông tổ của mình không?!. Dĩ nhiên, nếu các cư dân đó làm được điều đấy thì họ phải đặt tên ông tổ bằng tiếng phát âm ra giống người Trung Đông phát âm con lạc đà kia; chứ làm sao lại lấy tiếng Hán để phát âm. Cũng có thể, qua mấy nghìn năm Bắc thuộc thì truyền thuyết của người Việt bị lai căng bởi những yếu tố Trung Hoa hoặc du nhập từ Trung Hoa. Nhưng ở đây, truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ hoàn toàn là truyền thuyết Việt thuần gốc. Ở Trung Hoa không hề có truyền thuyết nào như thế cả. Và truyền thuyết này lại được khẳng định qua truyền thuyết sinh bọc trăm trứng của dân tộc Mường-một chi gắn bó chặt chẽ với dân tộc Kinh.
Ngoài ra, ông Đào Duy Anh còn không nhận thấy rằng ông chỉ nghiên cứu và khẳng định từ nghiên cứu này qua mặt “ngữ” thôi, chứ chưa hề nói đến mặt “ngôn”. Mà “ngôn” có nguồn gốc từ xa xưa hơn “ngữ”. Nhân vật lịch sử khác với nhân vật truyền thuyết [4] là nhân vật lịch sử được truyền lại bằng ngôn một thời gian ngắn, sau đó được ghi vào sách sử và không còn truyền khẩu nữa; còn nhân vật truyền thuyết thì ngược lại được truyền đời bằng “ngôn” thời gian dài (có thể) cho đến tận thời hiện đại, có thể được ghi vào sách-là thứ sách mà ai ai từ khi nhỏ đều ít nhiều (phải) đọc qua. Như ví dụ trên về ông Vương tôn Hùng thì rõ ràng có sách viết lúc là Lạc, lúc là Hùng vì nhầm lẫn mặt chữ, thế nhưng tên tuổi của ông ta có được truyền khẩu đến bấy giờ hay không? Hiển nhiên, hoàn toàn không có. Bây giờ, có tranh luận với nhau chính xác ông ta đọc như thế nào thì cũng chỉ biết qua mặt “ngữ” chứ ai dám khẳng định qua mặt “ngôn”. Hơn nữa, xét tâm thức của người dân thì mức độ khắc sâu vào tâm khảm của họ giữa một vị vua với một vị quan cũng chênh lệch đáng kể. Xác suất để người dân quên cách đọc của một ông quan (trừ khi ông được ghi không phải vào sử mà là truyền thuyết) rất lớn so với một ông vua.
Vua Hùng chúng ta và Lạc Long quân lại được truyền khẩu trong dân gian đến tận bây giờ. Và quan trọng hơn chữ Hùng và chữ Lạc được nằm chính ngay trong một truyền thuyết. Vậy nhầm như thế tại sao người ta không nhầm luôn thành Hùng Long Quân. Dùng lý luận cho trường hợp nhân vật lịch sử áp dụng vào nhân vật truyền thuyết theo chúng tôi là khập khiễng. Về mặt “ngôn” thì chúng ta thấy sự khác biệt quá xa giữa từ Hùng với từ Lạc. Và trong truyền thuyết, người ta đã cố ý phân bố các danh từ riêng theo từng nét riêng biệt rõ rệt:
Lạc: Lạc Long quân, Lạc Hầu, Lạc tướng, Lạc dân, Lạc điền…
Hùng: Hùng Vương
Nương, Lang: Mỵ nương, quan lang.
Bồ: Bồ chính.
Rõ ràng khẳng định chữ Hùng nhầm với chữ Lạc là sai lầm. Còn muốn hiểu vì sao người ta lại phân chia các danh từ riêng ra như vậy thì phải xét đến cái nôi tư tưởng nào tác động lên người Việt cổ để họ làm ra những danh hiệu như thế.
Đối với lý luận Hùng~hừng, hồng, hửng thì chúng tôi cho rằng người xưa đã sáng tác, cố ý cho các danh từ riêng khác nhau thì họ đã muốn dùng chúng cho các nghĩa khác nhau. Chứ khó có thể có quá nhiều chữ với nghĩa lặp đi, lặp lại như vậy. Còn lý luận hùng tráng thì bản thân mang yếu tố Hán. Từ Hùng vì là của ông tổ chúng ta và nó có nguồn từ xa xưa qua truyền khẩu, xưa hơn cả thời chúng ta bị Bắc thuộc nhiều trăm, ngàn năm nên phải có nghĩa Việt thuần túy.
Trong quyển “Trong cõi”, Giáo sư Trần Quốc Vượng có viết: “Bằng con đường tiếp cận ngôn ngữ-lịch sử dân tộc-lịch sử, chúng ta đã phục nguyên được danh hiệu vua Hùng:
Vua-Bua-Bô-Pô(Bố)
Hùng-Khun=Cun(Thủ lĩnh)
Vua Hùng=Bố của các thủ lĩnh=Thủ lĩnh tối cao
Cái danh hiệu muộn màng Hùng Vương chỉ là sự lắp ghép một từ Việt cổ và một từ Hán cổ có nghĩa giống nhau (hay tương tự), y như sự lắp ghép danh hiệu Bố Cái đại vương(Bố Cái-Vua lớn=Đại vương)”.
Trong đoạn trích trên, chúng ta cũng rút ra nhiều điều thú vị. Các dân tộc phía Bắc gọi vua ta thời thái cổ là Pó Khun, với Pó có nghĩa là thủ lĩnh. Ở đây chúng ta có thể nhận thấy một biến âm khá đơn giản sau: Vua(Kinh)=Bua(Mường)=Pó(Tày)=Bố(Kinh). Vậy từ Pó là thủ lĩnh, là vua hay là Bố Cả cũng đều hợp lý và thậm chí tôi cho rằng, nghĩa cổ xưa của nó chính là Bố. Điều này hoàn toàn hợp với những gì ghi trong truyền thuyết. Lạc Long Quân là vua của chúng ta thế nhưng khi nào cần ông về giúp đỡ thì các cư dân Việt cổ lại gọi “Bố ơi về cứu chúng con.”. Đây chính là nét văn hóa nhân chủ (triết gia Kim Định dùng từ này trong sách) đặc trưng của dân tộc Việt chúng ta. Còn Khun~Khôn = Đất. Biến âm rất gần thậm chí chúng tôi cho chúng là đồng nhất vì đến bây giờ người dân ta vùng miền Trung (đặc trưng nhất là người vùng Thừa Thiên-Huế)vẫn còn hay nói: “thằng bé này khun lắm” với nghĩa "thằng bé này khôn lắm”. Như vậy, chúng ta có thể khẳng định Hùng Vương chính là Hán hóa của vua Hùng~bua Hùng~Pó Khun=Bố Đất, hay là người lãnh đạo mọi việc trên Đất nơi người Việt cổ sinh sống. Lại một lần nữa có sự trùng hợp một cách kỳ dị với truyền thuyết: sau khi chia tay, Lạc Long quân dẫn 50 con xuống biển còn mẹ Âu Cơ lại dẫn 50 lên núi suy tôn người con cả lên làm vua-gọi là vua Hùng. Vâng, có Đất và Nước; vua LạcLong đưa các con về Nước còn người con cả làm chủ rừng núi-Đất; chính vì thế các vua đầu tiên của chúng ta được gọi là Vua Hùng=Pó Khun=Bố Đất. Sự trùng khớp nhau lạ lùng giữa truyền thuyết với tên vua Hùng=Bố đất và với Kinh Diệc-sản phẩm sáng tạo của người Việt cổ làm cho giả thuyết Vua Hùng=Pó Khun=Bố Đất càng có cơ sở đứng vững.
Không những thế, giải thích Khun đi từ Khôn cũng lý giải luôn vì sao từ Khun có nghĩa là thủ lĩnh. Trong truyền thuyết thì vua Hùng chính là ông vua đi theo nhánh mẹ. Mà nhánh Nòng trong Hậu Thiên Bát Quái dẫn đầu bằng quái Khôn. Như vậy, Khôn cũng chính là thủ lĩnh của nhánh này. Ở đây, các ý của truyền thuyết cũng triệt để đi theo một cách hợp lý với mạch của triết lý Dịch. Mẹ=Âu=Đất, con đứa làm vua theo mẹ đi đầu=Khôn=cũng Đất. Những khái niệm Đất này(Âu~Oa, Khôn~Khun~Hùng) khác nhau như chúng tôi sẽ giải thích ở phần sau. Rồi các từ xung quanh từ Khôn, Hùng, Pó cũng mang những ý nghĩa na ná nhau: Khôn~Khun, Hùng, Pó=bua, bố, rồi Khôn-vua thì phải có khôn hơn người chứ, túi khôn=bó khôn=Pó khun.
Đặc biệt, trong Sử thi Đẻ đất đẻ nước có thành ngữ này theo chúng tôi là chứng lý khá quan trọng cho lập luận Hùng=Cun, Khun=Khôn. Trang 336 (sách đã dẫn) có cụm từ: lang cun kẻ khó (tr.336). Ta thấy sự đối xứng cho thấy cun~khun~khôn là tĩnh từ đối với khó.
Lang nghĩa là ông quý tộc như quan lang, chúng tôi giải thích phần sau đối với kẻ (với nghĩa chỉ người bất kỳ nào đó) cũng chỉ người.
Lang=Đất đối với kẻ cũng chỉ vùng đất như kẻ Chợ, kẻ Chẩy, kẻ Dâu [5]
Lang cun=vua khôn ngoan, giàu[6] có đối với kẻ khó=dân đen nghèo khó.
Lang vùng đất tượng Diệc lý là Nòng đối với kẻ~kẽ (kẽ hở, kẽ nứt) cũng là cái lỗ, tượng Dịch lý cũng là Nòng~l.=sinh thực nữ. Trong Bát quái thì cả hai từ Lang và Kẻ được đại diện bởi quái Khôn. Tại sao lại có sự đối nhau về tính chất như vậy (khôn-khó, giàu-nghèo, khổ)? Theo chúng tôi, cả Lang và Kẻ đều do một mẹ sinh ra (chim Âu, chim Oa, chim Ứa) nhưng Lang chỉ một vùng đất bằng phẳng trù phú, còn Kẻ~kẽ thì chỉ kẽ nứt-lỗ u ám, tối tăm, chật hẹp. Cả hai khái niệm này đều đi từ nghĩa của Nòng, Khôn qua lăng kính Diệc lý cả[7]. Và cũng chỉ qua lăng kính kinh Dịch Nòng Nọc, chúng ta mới có khả năng giải thích vì sao người Việt cổ (trong đó có người Kinh, Mường…) lại dùng từ kẻ với các nghĩa khác nhau như vậy: kẻ: người; kẻ~kẽ: kẽ nứt; kẻ: làng như kẻ Chợ, kẻ Dâu.
Qua các phân tích nói trên, chúng tôi cho rằng Hùng Vương chính là bố (bua, vua) Khôn = vua Đất với Khôn có đầy đủ ý nghĩa mà nó phải có theo Diệc lý: quái Khôn- vừa có nghĩa là Đất, vừa có nghĩa thủ lĩnh của đoàn người ở nghi Nòng Hậu Thiên Bát Quái Văn Lang, khôn ngoan.[8]
[1]. Chúng tôi đồng ý với ý kiến này của ông Đào Duy Anh. Về sau người ta còn bịa đặt những tên tuổi các vua trong từng đời nữa. Chúng tôi cho rằng vì tự hào dân tộc mà cải biên, bịa đặt vào lịch sử là không nghiêm túc.
[2]. Chúng tôi cho rằng không phải lộn. Mà là một sự cố ý sửa sai. Vì các sử gia ngày xưa không thấy một liên quan gì giữa con lạc đà với ông tổ người Việt-tượng con Rồng cả.
[3]. Tra cứu cả Thiều Chửu lẫn Hán Việt từ điển đều cho ra một nghĩa duy nhất đó. Thiều Chửu: 駱 lạc (16n)
1 : Lạc đà 駱駝 một giống thú ở châu Phi, trên lưng có bướu, rất tiện xếp đồ, trong bụng có túi chứa nước, dùng để đi qua các bể cát (sa mạc). Cổ nhân cho là một món ăn quý trong tám món ăn quý, bát trân 八珍.
[4]. Vua Hùng thật ra là nhân vật lịch sử. Tuy nhiên, vua Hùng và triều đại Hồng Bàng chỉ còn ghi ấn lại qua truyền thuyết.
[5]. Xem Tiếp tục tìm hiểu về xuất xứ và ý nghĩa địa danh Cổ Loa (http://ngonnguhoc.org/home/content/view/38/38/1/0/), Trần Trí Đối.
[6]. Xin được giải thích sau.
[7]. Còn cặp kẻ và người (kẻ ở người đi) xin được giải thích ở công trình nghiên cứu sâu về tính Nòng Nọc.
[8]. Cũng chính vì vậy mà chúng tôi cho rằng thời Hùng Vương là thời chế độ phụ hệ nhưng trọng nữ, trọng mẹ-lại là triết lý nhân chủ mà ông Kim Định có nhắc đến. Cả trong truyền thuyết lẫn lý giải Dịch lý Nòng Nọc đều trùng khớp như vậy.
Thiên Sứ
04-03-2007, 06:45 AM
Hay quá! Càng viết càng hay! Điều này càng chứng tỏ một chân lý không thể phủ nhận:
Lịch sử văn hiến Việt trải gần 5000 năm, chính là nguồn cội đích thực của nến văn minh Đông phương.
Sự minh chứng này của chúng ta, không chỉ dừng lại ở một số mặt hạn chế của trí thức, mà chứng tỏ tính khoa học của nó trong tất cả mọi phương diện liên quan trong tri thức nhân loại: từ những tri thức khoa học xã hội đến các tri thức khoa học hiện đại tiên tiến nhất.
Xin chân thành chúc mừng Tiến Sĩ Trần Quang Bình.
Thiên Sứ
Thiên Sứ
04-03-2007, 07:05 AM
Tuy nhiên tôi cũng xin chân thành lưu ý anh Không Là Ai hãy thân trọng khi lấy tư liệu trong các luận điểm của:
1) Trần Quốc Vượng:
Trích dẫn trên cho thấy ông ta phát hiện một thực tại qua ngôn ngữ "Pò Khun", nhưng ông ta lại suy luận theo một chiều hướng khác (Tôi đã xem bài viết này của ông ta).
2) Của ngay những người mà có thể có quan điểm giống với chúng ta về nền văn hiến Việt. Nhưng đôi khi chính sự sai lầm về phương pháp nghiên cứu của họ làm sự trích dẫn của chúng ta bị hoài nghi (Ngay cả Lương Kim Định - người tiên phong trong việc này, cũng có chỗ chưa thấu đáo).
Thực ra trong quá trình nghiên cứu một đề tài có tầm rộng như vậy, không tránh khỏi những sai lầm , đối khi thuộc lỗi chính tả. Nhưng tính chân lý là không thể thay đổi . Chúng ta cũng chẳng ngại gì khi chúng ta chắc chắn về tính hợp lý của điều chúng ta khẳng định là chân lý từ bên trong chúng ta - nếu vấn đề này thuần tuý là khoa học. Nhưng thận trọng vẫn hơn, để đỡ mất thời giờ vì những chuyện ngớ ngẩn của những cuốn tự vị biết đi.
Thân mến .
Thiên Sứ
khonglaai
08-03-2007, 07:34 AM
Thưa anh tubinh_giagia,
Thứ nhất, mong anh cảm phiền tìm lại topic Hành lang Kinh Dịch để post ý kiến vào đó. Vì nói chung đây la topic mà tôi đã xin ban quản trị là để tôi post từ đầu chí đuôi cho theo đúng mạch. Có những bài post khác của người khác là do họ không cố ý với lại cũng sẽ không gây một tranh luận đáng kể nào, nên tôi không yêu cầu dời. Còn cái ý kiến của anh tôi thấy có mầm mống tranh luận hăng đây -^_^- nên vì thế yêu cầu ban quản trị dời qua topic khác.
Thứ hai, anh biết nguyên lý mà để dành riêng chi vậy? Khi viết công trình trên tôi cũng đã tham khảo nhiều nguyên lý rồi anh à. Mỗi tội không biết nguyên lý vĩ đại tiềm ẩn đã được anh phát hiện hay nắm bắt. Tôi sẽ rất thành tâm nghe, đọc ý kiến của anh. Vậy, anh có vui lòng bật mí cho anh em được không?
Nói chung, tôi rất vui vì anh quay lại diễn đàn và càng vui hơn khi anh để mắt đến công trình của tôi. Hiển nhiên, cũng rất sẵn sàng tranh luận.
Trân trọng.
KLA
khonglaai
08-03-2007, 08:45 AM
b) Vì có sự THỪA NHẬN này thì mình mới tỏ bày cái NGUYÊN LÝ trên và cũng như, có bao giờ - khi nào mà cái "Kinh Dịch-sản Phẩm Sáng Tạo Của Văn Hiến âu-lạc (http://www.vietlyso.com/forums/showthread.php?p=84534#post84534)" được Thế Giới để ý hoặc có phần nào công nhận; thì hẳn sẽ được mình tỏ bày cái NGUYÊN LÝ kia chứ lị!
Tubinh_giagia
Qua câu viết trên, tôi cho rằng anh tubinh_giagia không có ý thảo luận. Và cũng kết luận, những lời viết trên là để viết cho vui. Vậy mong ban quản trị chuyển các bài liên đới vào mục "Tiếu lâm" hay mục "Bạn đọc cười" cũng được.
Thân.
KLA
Thiên Sứ
08-03-2007, 09:14 AM
Anh Khonglaai thân mến .
Tôi đã xóa bài của Tử Bình Gia gia.
Nếu anh Tử Bình giagia có ý kiến gì hãy mở hẳn một topic riêng lên tiếng, không nên xen vào chủ để của người khác. Đây là tinh thần dân chủ và tự do mà Việt Lý số dành cho anh. Còn nếu anh tiếp tục chê bai không có cơ sở thì dù rất cảm ơn anh đã coi giùm một quẻ, tôi cũng đành phải để nghị một hình thức kỷ luật thích hợp.
Thiên Sứ
khonglaai
16-03-2007, 02:12 PM
Các bạn thân mến!
Thế là đã hai năm ròng tôi đăng các bài viết. Và càng ngày càng hiểu ra sự cô đơn. Một sự độc hành triền miên cũng làm con người dù ý chí sắt đá đến đâu cũng bị stress.
Vì thế, đến giờ phải "say good bye" rồi. Chắc tôi sẽ không viết bài và đăng ở đây nữa (dĩ nhiên chờ đối thoại với anh tubinh_giagia với điều kiện không chờ quá lâu). Chương 2 sắp kết thúc và còn hai chương nữa. Có thể các bạn đọc được chúng ở nơi khác. Bạn nào muốn lấy những tài liệu bài viết của tôi đăng nơi khác xin cảm phiền trích nguồn và tên tác giả dù là khonglaai.
Thôi, tạm biệt. Lần này là cuộc ra đi chưa biết ngày quay lại.
Thân chúc các bạn ở lại mạnh giỏi cùng với lòng tin vào văn hiến Việt.
KLA.
P/S: Nếu được, các anh tubinh_giagia, long nguyen quang, killbill, votri, agape và nhiều người khác cho E-mail để tiện liên lạc về học thuật. Mọi thư trao đổi xin gởi đến tuvilyso@mail.ru . Xin cảm ơn.
Thiên Sứ
16-03-2007, 03:41 PM
Anh Khonglaai thân mến .
Anh bỏ đi vội vã quá! Khi mà ở đây mọi người đều quí mến và trân trọng anh. Mới có hai năm anh đã thấy cô đơn . Còn tôi đã gần 10 năm rồi, cho ngày nay vẫn chưa phải là yên ổn. Chân thành khuyên anh hãy ở lại đây với chúng tôi, cho đến khi nào nền văn hiện Việt trải gần 5000 năm được chính thức tôn vinh.
Thân mến.
Thiên Sứ
Giang Minh Sài
16-03-2007, 06:17 PM
Kể mà "Nhất hô bá ứng" thì quá tuyệt rồi, việc lẻ loi đơn thương độc mã bôn tẩu giang hồ dựng nên ngọn cờ riêng có, thì cũng là đáng mặt anh hùng hảo hán. Cho nên anh Khonglaai cũng chẳng nên vì "độc hành triền miên" và "xì-trét" mà dọn nhà đi chỗ khác. Ở đâu rồi anh cũng thấy như vậy cả thôi.
Ít ra, trên diễn đàn này, GMS vẫn luôn theo dõi và ngưỡng mộ công trình của anh, cũng như ngưỡng mộ công trình của bác TS.
Độc hành trong nghiên cứu khoa học, cũng là niềm kiêu hãnh của những người đam mê, anh ạ.
Thân mến,
LinhNhi
16-03-2007, 08:20 PM
Anh KhongLaai mến,
Anh đi mô rứa !!! Bé LinhNhi còn chưa có dịp xí xọn với anh mà, hihihi . Mục đích cuộc giải mã cho hậu thiên bát quái là bé muốn có thêm một chứng minh cho Kinh Dịch là sản phẩm sáng tạo của văn hiến âu lạc.
Bé chưa có dịp chứng minh mà anh định bỏ lại bé LinhNhi một mình hay sao. Vậy em giải mã bát quái làm chi .--kloc----kloc----kloc--
Anh mà bỏ rơi em lại một mình lẻ loi trên đây, thì chẳng lẽ em để Hậu Thiên Bát Quái Văn Vương là đúng hay sao ??? Bé làm vậy thì chắc chú tubinh_giagia sẽ thích lắm đó, hihihi
Ấy dà ... Bé buồn quá ... định viết thêm vài bài trong đề tài hậu thiên bát quái văn vương thì anh lại làm bé mất hứng , hihihi ... bé bắt anh đền đó ...
Anh hứa bé LinhNhi là anh sẽ tiếp tục ở lại, thì bé sẽ cùng anh hiểu biết thêm về lục khí của thiên can. Một chià khoá sẽ giúp anh giải đáp những thắc mắc mà anh đang suy nghĩ mấy ngày nay (ngoài vụ hậu thiên bát quái văn vương) ... hihihi ...
Bé LinhNhi
khonglaai
08-01-2008, 02:25 PM
Kính gởi ban quản trị trang vietlyso.com,
Khi đăng các bài nguyên cứu lên đây, tôi nghĩ là mình đã bỏ công sức ra để phục vụ diễn đàn. Nhưng một thành viên trong ban quản trị đã công khai tỏ rõ ý là tôi được đăng lên nhờ sự ưu tiên của diễn đàn. Tôi thấy phát biểu này là sai trái với nguyên tắc của tôi lẫn những nguyên tắc tác quyền của một sản phẩm văn hóa, khoa học và nghệ thuật. Vì thế, tôi yêu cầu:
Ban quản trị trang web này hãy gỡ toàn bộ topic "Kinh Dịch là sản phẩm sáng tạo của nền văn hiến Âu Lạc" này xuống. Tôi không muốn dùng quyền ưu tiên này của diễn đàn dành cho tôi.
Còn hai đề nghị:
Nếu được, quý vị xóa vĩnh viễn hai nickname khonglaai và khonglaai01 của tôi. Thật ra để cũng không sao, nhưng tôi sợ với điều kiện bảo mật không thuộc phạm vi điều khiển của tôi thì có kẻ khác dùng hai nickname này tấn công hay đả kích người khác. Gây hiểu lầm không cần thiết.
Tôi tự rút bỏ khỏi hội viên Trung Tâm Lý số Đông Phương, vì thế mong quý vị đổi chứ danh kèm theo là từ Hội viên Trung tâm thành Hội viên. Nếu được, thì có cách nào đó làm cho các bài viết có nick khonglaai biến khỏi diễn đàn này là tôi vui mừng nhất.
**********
Lời yêu cầu thứ nhất là yêu cầu chính đáng của tôi. Và nếu ban quản trị không thực hiện nó thì không còn cách gì khác, tôi sẽ tuyên bố ban quản trị trang web vietlyso.com đã vi phạm tác quyền của tôi vẫn tiếp tục sử dụng bài viết không được sự cho phép của tác giả.
Nay trân kính.
KLA
Phong Linh
08-01-2008, 02:59 PM
Anh Khonglaai thân mến,
Tôi chỉ xin có một ý nhỏ thế này anh ạ, những bài anh viết trong topic này của diễn đàn còn bao gồm cả nhiều bài trao đổi qua lại với những hội viên khác nữa, nếu xóa hết bài của anh đi thì sẽ ra sao nhỉ?
Hơn nữa, các bài viết, ý tưởng của anh thì vẫn là của anh nếu có ai trích dẫn thì cũng sẽ tôn trọng tác quyền của anh, vậy thì có thể gọi là vi phạm tác quyền được không hả anh?
Tôi cũng lấy làm tiếc vì sự việc diễn ra như vậy.
Chúc anh vạn sự như ý.
khonglaai
08-01-2008, 03:11 PM
Vậy thì ban quản trị cần phải biết xóa cái gì trước khi xóa bài người khác. Ban quản trị có người quản trị hay chức danh gì khác đã xóa bài của tôi mà không cần biết bài đó có nội dung gì. Vì thế, chắc ban quản trị cũng đâu cần lấy lý do này để thuyết phục tôi.
Tôi viết thư này là trao đổi thân mật cuối cùng với những người ở ban quản trị. Sau đó, tôi sẽ nhắc lại yêu cầu này hai lần nữa. Đồng thời sẽ viết thư yêu cầu ba lần đến E-mail của ban quản trị.
Nếu thật tình có ai đó vẫn muốn đọc bài của tôi, tôi tin chắc qua google họ sẽ tìm thấy bài đó ở đâu.
Trân kính.
KLA
dungkq
08-01-2008, 03:39 PM
Kính gởi ban quản trị trang vietlyso.com,
Khi đăng các bài nguyên cứu lên đây, tôi nghĩ là mình đã bỏ công sức ra để phục vụ diễn đàn. Nhưng một thành viên trong ban quản trị đã công khai tỏ rõ ý là tôi được đăng lên nhờ sự ưu tiên của diễn đàn. Tôi thấy phát biểu này là sai trái với nguyên tắc của tôi lẫn những nguyên tắc tác quyền của một sản phẩm văn hóa, khoa học và nghệ thuật.
1 - Thay mặt Ban Điều Hành và độc giả, rất cảm ơn những đóng góp của anh khonglaai cho các độc giả của diễn đàn Việt Lý Số. Tuy nhiên anh hiểu nhầm hai chữ "ưu tiên", "ưu tiên" ở đây tức là hỗ trợ về kỹ thuật, bài vở chứ không phải là "quyền ưu tiên cá nhân" do cá nhân cấp cho anh nếu như nó đi ngược chủ trương chung của diễn đàn. Nên việc anh đăng tải những bài viết phù hợp với chủ trương và nội quy của diễn đàn là hoàn toàn tự do và độc lập.
Vì thế, tôi yêu cầu:
Ban quản trị trang web này hãy gỡ toàn bộ topic "Kinh Dịch là sản phẩm sáng tạo của nền văn hiến Âu Lạc" này xuống. Tôi không muốn dùng quyền ưu tiên này của diễn đàn dành cho tôi.
- Khi anh đăng ký trở thành hội viên trên diễn đàn Việt Lý Số thì anh cũng đã chấp nhận những quy định sau đây của diễn đàn : http://www.vietlyso.com/forums/showthread.php?t=2947
Trong đó có 2 quy định:
+ Những thành viên quản lý diễn đàn có quyền: Lưu giữ; sửa chữa; xoá; dời bài, khoá những bài viết, những chủ đề vi phạm nội qui hoặc có chiều hướng gây mất hoà khí của diễn đàn.
+ Diễn đàn Vietlyso.com hoan nghênh sự đóng góp bài vở của hội viên và có quyền sử dụng những bài viết, tài liệu giữ nguyên bản quyền của hội viên trên diễn đàn hoặc cung cấp gửi tặng. Tuy nhiên, Diễn đàn không hoàn toàn chịu trách nhiệm, trực tiếp hoặc gián tiếp, về nội dung cũng như hình thức của những tin tức, bài vở, hình ảnh, tranh vẽ, lời giới thiệu, links...do hội viên đăng trên diễn đàn. Quan điểm, ý kiến, tác phẩm của hội viên hoàn toàn có tính cách cá nhân, đọc giả tự thẩm định phẩm chất, sự chính xác của những bài viết, những tài liệu hoặc những ý kiến này. Quan điểm, ý kiến, tác phẩm của hội viên đăng trên không phản ảnh quan điểm của Ban Điều Hành diễn đàn.
- Và trong topic của anh không chỉ có những bài cá nhân mà bao gồm cả những ý kiến của hội viên khác vì vậy không thể muốn xóa là xóa vì đó là tài sản chung, nếu xóa bài của anh thì người đọc khi đọc lại topic sẽ tưởng những người khác đang nói chuyện vô duyên hoặc thần kinh có vấn đề. Diễn đàn có nội quy vì vậy không có chuyện hội viên thích thì viết còn không thích thì đòi xóa. Diễn đàn không phải của riêng cá nhân ai. Diễn đàn cũng là một sân khấu để anh biểu diễn những kỹ năng trí tuệ của mình nhằm thể hiện bản thân, thể hiện trình độ, đạt được mục đích cá nhân...nhưng không phải là nơi mà nếu khi mục đích cá nhân thất bại người ta lại yêu cầu phá bỏ. Vì vậy yêu cầu này của anh không được chấp nhận vì có ảnh hưởng đến lợi ích của nhiều người khác.
Còn hai đề nghị:
Nếu được, quý vị xóa vĩnh viễn hai nickname khonglaai và khonglaai01 của tôi. Thật ra để cũng không sao, nhưng tôi sợ với điều kiện bảo mật không thuộc phạm vi điều khiển của tôi thì có kẻ khác dùng hai nickname này tấn công hay đả kích người khác. Gây hiểu lầm không cần thiết.
Tôi tự rút bỏ khỏi hội viên Trung Tâm Lý số Đông Phương, vì thế mong quý vị đổi chứ danh kèm theo là từ Hội viên Trung tâm thành Hội viên.
- Những yêu cầu này mang tính chất cá nhân nên sẽ được thực hiện ngay sau bài viết này của tôi được đăng tải.
Nếu được, thì có cách nào đó làm cho các bài viết có nick khonglaai biến khỏi diễn đàn này là tôi vui mừng nhất.
**********
Lời yêu cầu thứ nhất là yêu cầu chính đáng của tôi. Và nếu ban quản trị không thực hiện nó thì không còn cách gì khác, tôi sẽ tuyên bố ban quản trị trang web vietlyso.com đã vi phạm tác quyền của tôi vẫn tiếp tục sử dụng bài viết không được sự cho phép của tác giả.
Nay trân kính.
KLA
- Không được. Lý do, tôi đã nêu ở trên.
ngocduc1960
08-01-2008, 03:42 PM
Cô đơn không sợ bằng sợ mất niềm tin!
Kính gửi anh Khonglaai, còn có những người đủ khả năng để trao đổi và chia sẻ học thuật với anh nhưng vì hoàn cảnh và điều kiện chưa cho phép nên chỉ có thể ngầm đồng cảm. Anh khonglaai kính mến! đã không đặt mình trong đó thì đâu còn cái tôi trong một bài viết nào, hãy để cái "không vi diệu" giải thoát đi tất cả cho tâm thanh thản
Vài lời chia sẻ cùng anh, nếu có điều gì ... mong anh thông cảm!
Thân chào anh
vBulletin® v3.6.11, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.