PDA

View Full Version : những bài thơ tình hay nhất


Chân Trân
09-10-2005, 05:12 AM
những bài thơ tình hay nhất


Tình yêu là đề tài muôn thuở, không chỉ riêng cho thơ ca mà của tất cả các lĩnh vực nghệ thuật. Mật ngọt, cay đắng, ngang trái... trong tình yêu từ lâu đã được các nghệ sĩ khai thác. Ấy vậy mà mảnh đất màu mỡ dù nhiều lần được cày xới vẫn hãy còn dào dạt phù sa.

Có lẽ, khi nào loài người còn tồn tại thì cái xã hội ấy vẫn còn sự hiện diện của tình yêu, nghĩa là có những lúc thăng hoa đến rạo rực nhưng cũng có những khi buồn đến xé lòng... Tình yêu đẹp là vì thế. Nó không chỉ cho người ta cảm giác thụ hưởng, toại nguyện mà để có được tình yêu vĩnh hằng, người ta phải lao động cật lực, chứng tỏ mình trong mắt nhau...

Mà thôi, tôi không lan man nữa mà xin mời các bạn đọc những vần thơ tình thay cho lời tình yêu. Cũng xin nói thêm, những bài tôi post lên là chủ kiến cảm thụ một cách chủ quan của cá nhân. Bạn có thể thấy bài này không hay (như tôi cảm nhận) và bạn hoàn toàn có quyền post những bài thơ tình mà bạn tâm đắc. Được vậy thì tôi hoan nghênh nhiều lắm lắm!

Thứ nữa, việc post thơ ai trước, ai sau không liên quan đếm chất lượng, sự ưu tiên mà đấy chỉ là thứ tự một cách ngẫu nhiên mà thôi.

* Vài nét về tác giả: Huyền Kiêu tên thật là Bùi Lão Kiêu, sinh năm 1918 tại Hà Sơn Bình. Ông là nhà thơ tình nổi tiếng với những tác phẩm đã xuất bản như Sang Xuân, Mùa Cày, Bầu Trời...


TƯƠNG BIỆT DẠ


Hiu hắt trăng khuya lạnh bốn bề
Ly sầu lên vút tới sao Khuê
Quý thay giây phút gần tương kiệt
Vương vấn người đi với kẻ về

Ngồi suốt đêm trường không nói năng
Ngậm ngùi chén rượu ánh vầng trăng
Người xưa lưu luyến ra sao nhỉ?
Có giống như mình lưu luyến chăng?

Đã tắt lò hương, lạnh phím đàn
Thư phòng sắp sẵn để cô đơn
Trời cao, mây nhạt ngàn sao rụng
Một dải sương theo vạn dặm buồn

Sớm biệt ly nhau không nhớ nhau
Nửa đêm chợt tỉnh bỗng dưng sầu
Trăng mùa xuân đó ai tâm sự?
Anh đã xa rồi, anh biết đâu?


Huyền Kiêu
1939

Chân Trân
09-10-2005, 05:15 AM
Ngày 19 tháng 2 năm 2005 vừa qua, chúng ta đã chia tay vĩnh viễn nhà thơ Huy Cận. Hoà lẫn với niềm tiếc thương vô bờ bến, chúng tôi, những người yêu thơ xin tiễn đưa linh hồn người bằng những nỗi đau.

Nhà thơ Huy Cận tên thật là Cù Huy Cận, sinh ngày 3 tháng 5 năm 1919 trong một gia đình nhà nho ở làng Ân Phú, huyện Hương Sơn, Tỉnh Hà Tĩnh. Huy Cận làm thơ từ năm 1934. Chịu nhiều ảnh hưởng của văn học lãng mạn Pháp nhưng cũng thích thơ Đường và trân trọng vốn thơ ca dân tộc. Năm 1936, gặp gỡ Xuân Diệu ở Huế và trở thành một đơi bạn văn chương tri kỷ.

Tập thơ đầu, “Lửa Thiêng” là “một bản ngậm ngùi dài” (Xuân Diệu) đem đến cho thơ mới những vần thơ ảo não vào bậc nhất.

Với sức sống mãnh liệt, tình yêu con người vô bờ bến và chất thiên tài thơ trong con người ông mà Huy Cận đã cho ra đời hàng ngàn bài thơ đặc sắc, trong đó có rất nhiều thơ tình. Các tác phẩm đã xuất bản có: Lửa Thiêng, Kinh Cầu Tự, Trời Mỗi Ngày Lại Sáng (1958), Đất Nở Hoa (1960), Kinh Cầu Tự, Bài Thơ Cuộc Đời (1963), Ngôi Nhà Giữa Nắng (1978)...

Trong trang thơ về Huy Cận hôm nay, chúng tôi xin gởi đến các bạn yêu thơ những vần thơ tuyệt đẹp trong hai bài thơ “Buồn đêm mưa” và “Áo trắng”



BUỒN ĐÊM MƯA


Đêm mưa là nhớ không gian
Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la...

Tai nương nước giọt mái nhà
Nghe trời nặng nặng, nghe ta buồn buồn

Nghe đi rời rạc trong hồn
Những chân xa vắng dặm mòn lẻ loi...

Rơi rơi... dìu dịu rơi rơi...
Trăm muôn giọt nhẹ nói lời vu vơ...

Tương tư hướng lạc phương mờ...
Trở nghiêng gối mộng hững hờ nằm nghe.

Gió về lòng rộng không che,
Hơi may hiu hắt bốn bề tâm tư...

(Lửa Thiêng)


Áo Trắng


Áo trắng đơn sơ, mộng trắng trong,
Hôm xưa em đến, mắt như lòng
Nở bừng ánh sáng. Em đi đến,
Gót ngọc dồn hương, bước tỏ hồng

Em đẹp bàn tay ngón ngón thon,
Em duyên đôi má nắng hoe tròn.
Em lùa gió biếc vào trong tóc
Thổi lại phòng anh cả núi non.

Em nói anh nghe tiếng lẫn lời,
Hồn em anh thở ở trong hơi.
Nắng thơ dệt sáng trên tà áo,
Lá nhỏ mừng vui phất cửa ngoài

Đôi lứa thần tiên suốt một ngày?
Em ban hạnh phúc chứa đầy tay
Dịu dàng áo trắng trong như suối
Toả phát đôi hồn cánh mộng bay

Chân Trân
09-10-2005, 05:19 AM
Năm 1940, khi Nguyễn Bính xuất bản hai tập thơ đầu Lỡ bước sang ngang và Tâm hồn tôi thì phong trào Thơ Mới đã có tới tám năm phát triển với một đội ngũ thi sĩ được công chúng mến mộ. Các thi sĩ này đều chịu ảnh hưởng đậm, nhạt của thơ Tây Âu, chủ yếu là thơ Pháp. Nguyễn Bính khác hẳn, giọng thơ ông, hồn thơ ông thuần chất Việt Nam. Đề tài thơ ông gắn với những gì cố hữu của làng mạc ruộng đồng. Nếu độc giả của Thơ Mới chủ yếu ở thành thị thì độc giả của Nguyễn Bính lại có cả ở thành thị lẫn nông thôn. Ngay cả những người không biết chữ cũng thuộc thơ Nguyễn Bính như thuộc ca dao. Ma lực gì tạo nên sức phổ cập đó của thơ Nguyễn Bính?

Nguyễn Bính đã gợi đúng phẩm chất chung nhất của tâm hồn người Việt Nam mình. Đó là lòng yêu thương làng mạc quê hương, là nỗi niềm hoài cảm với tình xưa nếp cũ của truyền thống trong cái duyên riêng e lệ của những mối tình quê thầm lặng, trong mối đồng cảm sâu sắc với những cảnh ngộ tinh thần xót xa, oan nghiệt... Sau hết, là chính cái giọng thơ Nguyễn Bính. Chỉ nội cái giọng thôi, cái cách nói thôi, Nguyễn Bính cũng đã gợi được tâm tình, hồn vía của ruộng đồng, của người "nhà quê" cày cấy:

Viết cho chị lá thư này
Giữa đêm hăm bốn rạng ngày hăm nhăm

Cảnh quê trong thơ Nguyễn Bính không phải là cảnh của hiện thực thứ thiệt như trong thơ Nguyễn Khuyến, Đoàn Văn Cừ, Anh Thơ... mà là cảnh của một hiện thực mơ mộng, đầy gợi nhớ. Nó là cảnh của hoài niệm. Người ta không thấy nông thôn bùn lầy nước đọng, nghèo khổ lam lũ mà chỉ thấy những nét đẹp, gợi cảm và đầy mơ mộng, vốn kết tụ từ hoài niệm, ký ức. Sáng giăng chia nửa vườn chè/ Một gian nhà nhỏ đi về có nhau.

Nguyễn Bính có cái nhìn của tâm tưởng. Cảnh trong thơ ông là cảnh thấy qua hồn. Điều ông muốn nói là phần hồn trong cảnh. Ông đem mơ mộng của hồn ông phổ vào cảnh thật. Cảnh trong thơ ông mộng nhiều hơn thực, gợi nhiều hơn tả. Gợi nên hay nói tới những đổi thay, dâu bể. Trường huyện xưa giờ mới xây lại, lẽ ra thì vui, nhưng ông lại buồn vì phần hồn của ngôi trường ấy là một kỷ niệm tình yêu tuổi học trò.

Trường xây kiểu khác làm hồn ấy không còn nơi nương tựa đi về. Thơ tình của Nguyễn Bính, đặc biệt ở giai đoạn đầu (1936 - 1940) khi ông chưa tiếp cận nhiều với thị thành, là tình yêu của trai làng gái làng. Tình yêu thấm đẫm hương vị làng xóm. Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông/Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào. Hồn ông thơ ông như một nhà bảo tàng lưu giữ cả cảnh lẫn tình của quê hương Việt Nam ta. Năm tháng qua đi, nông thôn Việt Nam càng đổi khác, người ta càng yêu thơ Nguyễn Bính vì ở đó người ta gặp lại và được sống lại phần nguyên sơ trong trẻo nhất của cội nguồn. Đọc thơ Nguyễn Bính còn như được nếm lại vị ngọt ngào thanh khiết của tiếng Việt, tiếng Việt của đồng nội giời cao, gió cả.

Nguyễn Bính là nhà thơ hiện đại mang phong vị dân gian sâu sắc nhất. Thơ ông đến với công chúng nhiều khi cũng bằng con đường của văn học dân gian: truyền miệng, và thơ ông dễ ở lại lòng người vì nó dễ nhập vào những gì vốn đã có sẵn trong hồn mỗi chúng ta.

VŨ QUẦN PHƯƠNG



Cô lái đò


Xuân đã đem mong ước trở về
Lòng cô lái ở bến sông kia
Cô hồi tưởng lại ba xuân trước
Trên bến cùng ai đã nặng thề
Nhưng rồi người khách tình xuân ấy
Đi biệt không về với bến sông
Đã mấy lần xuân trôi chảy mãi
Mấy lần cô lái mòn mỏi trông
Xuân này đến nữa, đã ba xuân
Đốm lửa tình duyên tắt nguội dần
Chẳng lẽ ôm lòng đành đợi mãi
Cô đành lỗi bước với tình quân
Bỏ thuyền bỏ lái bỏ dòng sông
Cô lái đò kia đi lấy chồng
Để buồn cho những khách sang sông.



Cô hàng xóm

Nhà nàng ở cạnh nhà tôi,
Cách nhau cái dậu mùng tơi xanh rờn
Hai người sống giữa cô đơn,
Nàng như cũng có nỗi buồn giống tôi
Giá đừng có dậu mùng tơi,
Thế nào tôi cũng sang chơi thăm nàng

Tôi chiêm bao rất nhẹ nhàng...
Có con bướm trắng thường sang bên này
Bướm ơi! Bướm hãy vào đây!
Cho tôi hỏi nhỏ câu này chút thôi...
Chẳng bao giờ thấy nàng cười,
Nàng hong tơ ướt ra ngoài mái hiên
Mắt nàng đăm đắm trông lên...

Con bươm bướm trắng về bên ấy rồi!
Bỗng dưng tôi thấy bồi hồi,
Tôi buồn tự hỏi: "Hay tôi yêu nàng?"
-- Không, từ ân ái lỡ làng,
Tình tôi than lạnh gio tàn làm sao?
Tơ hong nàng chả cất vào,
Con bươm bướm trắng hôm nào cũng sang

Mấy hôm nay chẳng thấy nàng,
Giá tôi cũng có tơ vàng mà hong
Cái gì như thể nhớ mong?
Nhớ nàng? Không! Quyết là không nhớ nàng!
Vâng, từ ân ái nhỡ nhàng,
Lòng tôi riêng nhớ bạn vàng ngày xưa

Tầm tầm giời cứ đổ mưa,
Hết hôm nay nữa là vừa bốn hôm
Cô đơn buồn lại thêm buồn,
Tạnh mưa bươm bướm biết còn sang chơi?

Hôm nay mưa đã tạnh rồi!
Tơ không hong nữa, bướm lười không sang.
Bên hiên vẫn vắng bóng nàng,
Rưng rưng... tôi gục xuống bàn rưng rưng...
Nhớ con bướm trắng lạ lùng!
Nhớ tơ vàng nữa, nhưng không nhớ nàng.

Hỡi ơi! Bướm trắng tơ vàng!
Mau về mà chịu tang nàng đi thôi!
Đêm qua nàng đã chết rồi,
Nghẹn ngào tôi khóc... Quả tôi yêu nàng.

Hồn trinh còn ở trần gian?
Nhập vào bướm trắng mà sang bên này!



TƯƠNG TƯ


Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,
Một người chín nhớ mười mong một người.
Gió mưa là bệnh của trời,
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.

Hai thôn chung lại một làng,
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này ?
Ngày qua ngày lại qua ngày,
Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.
Bảo rằng cách trở đò giang
Không sang là chẳng đường sang đã đành
Nhưng đây cách một đầu đình,
Có xa xôi mấy mà tình xa xôi...
Tương tư thức mấy đêm rồi,
Biết cho ai biết, ai người biết cho !
Bao giờ bến mới gặp đò ?
Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau ?

Nhà em có một giàn giầu
Nhà anh có một hàng cau liên phòng.
Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông
Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào ?