PDA

View Full Version : Giới thiệu các sách viết về tướng học ( ndk833 )


Chính Ấn
29-09-2005, 11:17 AM
Trong quá trình phát triển của môn khoa học nhận xét tướng mạo, đã sản sinh ra hàng loạt các nhà tướng thuật nổi tiếng và nhiều công trình về tướng thuật, đặc biệt là Trung Hoa.

A. SÁCH TƯỚNG Ở TRUNG HOA.

Thời đại Xuân Thu - Chiến Quốc (722 đến 221 tr. CN), thuật xem tướng dần dần hình thành, ngày càng tinh thạo, có một số sách được tung ra xã hội nhưng chưa có quyển nào có hệ thống, có nội dung nghiêm chỉnh. Từ thời Chiến Quốc đến đầu nhà Tần, đặc biệt bắt đầu từ thời Hán, thuật xem tướng đã trở thành bộ môn có hệ thống lý luận, một số sách tướng có giá trị bước đầu được đến tay bạn đọc.

Có nhiều sách tướng từ thời cổ, có giá trị. Căn cứ vào "Đề cương tứ khố toàn thư", thời kỳ Đôn Hoàng đã có 3 quyển và hiện đã mục nát.

Quyển A: Giới thiệu tướng thân thể từ đầu đến chân.

Quyển B: Nói về tướng đầu và trán (quyển 18); nói về dáng đi, tướng chân (quyển 30)

Quyển C: Nói về 5 giác quan (quyển 3)

Có quyển 35 chuyên nói về tướng mặt và sắc khí. Vì thế bộ sách trên là loại sách tướng được đánh giá là một bộ sách phân tích tường tận tướng mạo các bộ phận trên cơ thể con người, một bộ sách được lưu hành rộng rãi lúc bấy giờ; nói về chuyện xưa nhưng câu văn khác thường. Do đó người đời đã cho là đỉnh cao của các trước tác tướng thuật trong lịch sử.

Sách của Hứa Phụ có:

- 16 thiên tướng pháp

- Đức, Khí ca

- Bàn về sự phức tạp của 5 giác quan

- Xem tướng bằng cách nghe thanh âm.

Đặc biệt có "Tướng thư" (Sách xem tướng) hiện vẫn còn lưu giữ được.

Vì vậy, có thể nói Hứa Phụ không những là một nhà thực tiễn về tướng thuật mà còn là một nhà viết sách tướng thuật có giá trị.

Trrong "Nghệ văn chí", Hán thư ghi chép: Hứa Phụ thu thập được 32 quyển sách tướng, trong đó có 24 quyển nói về tướng người. Điều này cho thấy vào đời Hán, tướng thuật đã được chỉnh lý có quy mô, có hệ thống. Từ đó về sau, sách viết về tướng thuật ngày càng nhiều và đổi mới, phát triển liên tục.

Thời Đường - Tống, tướng thuật rơi vào con đường mê tín, các loại truyền thuyết về tướng thuật tung ra xã hội khá nhiều, sách nói về tướng thuật đạt đỉnh cao, không đếm xuể, hiện nay chưa thể thống kê đầy đủ, đại loại có 73 bộ có thể chia nhỏ như sau:

- Tướng thư: 46 quyển

- Tướng kinh yếu lược: 3 quyển

- Tướng kinh: 30 quyển

- Bản đồ tướng: 7 quyển

- Sách tướng của Viên Thiên Cương: 7 quyển

- Nhân luân quy giám: 1 quyển

- Nhân luân quy giám phú: 1 quyển

- Phép xem tướng của Cô Bố Tử Khanh: 3 quyển

- Kinh Ma Tử: 3 quyển

- Nhục nhãn thông thần luận: 3 quyển

- Nguyệt ba động trung ký: 1 quyển

- Phép xem tướng của Hiển Linh Sư: 1 quyển

- Sách tướng sưu tập của 17 nhà xem tướng: 1 quyển

- Bản đồ (của Chiêm Khí Sắc): 1 quyển

- Bí quyết quan trọng (của Viên Thiên Cương): 1 quyển

- Phép xem tướng xương (của Đường Cử): 1 quyển

- Phép đoán sống chết (của Tạ Công Luận): 1 quyển

- Sách tướng (của Hứa Phụ): 3 quyển

- Sách tướng (của Vũ Hầu - Gia Cát Lượng): 1 quyển

- Khí, thần, kinh (của Viên Thiên Cương): 5 quyển

- Trương Thiệp nhân luân chân quyết: 10 quyển

- Và rất nhiều sách khác nữa...

Điểm qua nội dung của hơn 200 quyển sách nói về tướng thuật, tất cả đề cập đến nhiều mặt về tướng thuật ở Trung Hoa, từ đời Hán đến đời Đường - Tống, có giá trị cao.

Đời Minh - Thanh, tướng thuật tiếp tục phồn vinh. Đời Minh, cha con Viên Củng và Viên trung Triệt có "Phép xem tướng ở Liễu Trang", một truyền thuyết lưu truyền trong dân gian.

Từ xưa đến nay tướng thuật chỉ có thịnh hành, không có suy thoái, sách viết về tướng thuật vẫn tiếp tục ra đời. Được xem như một tập đại thành của sách tướng đó là bộ "Tướng lý hoành chấn" đời Thanh.

Muốn nghiên cứu khoa học nhân dạng, đi sâu vào tướng thuật, người Trung Hoa thường tập trung vào 3 bộ sách:

- Thái Thanh thần giám

- Nhân luân đại thống phú

- Thần tướng toàn biên

Ba bộ sách là công trình tập thể, có quá trình biên soạn nhiều năm, hết sức công phu của các tác giả.

Dưới triều Minh, niên hiệu Vĩnh Lạc (1403), hoàng đế Minh Thành Tổ đã hạ lệnh biên tập bộ "Vĩnh Lạc đại điển" (Từ điển Vĩnh Lạc) đưa thư tịch tướng thuật vào trong từ điển, ở đó các sách viết về tướng thuật trong xã hội được tập hợp lại. Đối với việc nghiên cứu tướng thuật, các nhà viết "Từ điển Vĩnh Lạc" đã có công rất lớn. Ngày nay nhiều nhà nghiên cứu tướng thuật không những ở Trung Hoa mà ở cả các nước phương Đông khác cũng phải sử dụng Từ điển Vĩnh Lạc.

Đời Thanh, niên hiệu Khang Hy (1662) đã biên soạn bộ sách "Cổ kim đồ thư tập thành", tác giả Trần Mông Lôi. Đây là một bộ sách đã sưu tập các tư liệu từ đời Khang Hy trở về trước, nội dung phong phú.

Toàn bộ "Cổ kim đồ thư tập thành" có một vạn quyển, chia thành 6 thiên, 32 điển, 6109 bộ, cộng lại tất cả là hơn 160 triệu chữ. Trong đó có thiên thứ tư nói về tướng thuật:

- Bộ tinh mệnh (nhìn sao đoán số mệnh)

- Bộ thuật xem tướng

- Bộ đạo thư

- Bộ phương sĩ (xem dáng điệu)

- Bộ tĩnh động

- Bộ phục thực (xem dáng ăn, mặc)

Nội dung phân tích tướng thuật tương đối cao.

Cũng ở đời này còn có bộ sách tướng "Thần tướng toàn biên", nội dung thiên về lý luận tướng thuật. Người Trung Hoa cho rằng đây là một bộ sách thành công nhất trong việc nghiên cứu tướng thuật.

Một số sách viết về tướng thuật thời cổ đã được đời sau phát triển, chỉnh lý, sửa chữa như:

- Tuân Tử, phi tướng thiên (không nói về tướng không được)

- Luận hoành, cốt tướng thiên (bàn về cân đối tướng xương)

- Tiềm phu luận - Tướng liệt (Bàn về người ẩn tướng, các loại tướng)

Các tư liệu trong bộ sách "Cổ kim đồ thư tập thành" được chỉnh lý rất thuận lợi cho người nghiên cứu.

Giữa thời vua Càn Long, nhà Thanh (1766) có bộ sách "Tứ khố toàn thư" ra đời. Bộ sách sưu tập các trước tác cổ đại trước thời Càn Long trong đó có rất nhiều trước tác tướng thuật.

"Tứ khố toàn thư" có quan hệ mật thiết với "Vĩnh Lạc đại điển". So sánh hai bộ với nhau thì "Tứ khố toàn thư" tinh tế hơn "Vĩnh Lạc đại điển".

ĐIỂM QUA TỪNG TÁC PHẨM

Sách viết về tướng thuật ở Trung Hoa khá nhiều, nhưng nội dung các quyển sách đó "Đại đồng tiểu dị" (Phần lớn giống nhau, khác nhau ít). Có một số sách là tinh hoa của các sách tướng thuật hay nói cao hơn là khoa học tướng thuật. Xin giới thiệu những quyển có giá trị:

1. "Tướng thư" của Hứa Phụ đời Hán.

Gồm 12 tập nói về tướng người. "Tướng thư" chưa hoàn chỉnh còn phải biên tập lại, nội dung sách lấy tư liệu từ sách tướng thời Đôn Hoàng, nhất là tướng mặt, sau đó là tướng toàn thân (quyển 30), tướng trán tướng đầu (quyển 18), tướng 5 giác quan (bộ thứ 3 của thiên thứ 3). Hứa Phụ cho rằng: Tướng mày, tướng mặ, tướng mũi, tướng tai, tướng mồm, tướng trán, tướng chần tay, đều rất quan trọng. "Tướng thư" nói khá nhiều đến tướng thuật nên được người đương thời đua nhau đọc và đánh giá là "Ưu vi tường tận" (hết sức rành mạch tỉ mỉ).

2. "Ngọc Quản Chiếu thần cục".

Bộ sách của họ Tề thời Nam Đường, gồm 10 quyển, chủ yếu là nhận xét về hình dáng con người, chữ "Cục" trong "Ngọc Quản Chiếu thần cục" có nghĩa là hình dạng, trạng thái. Trong bộ sách có câu: hình dáng thể hiện rõ có thể nhận xét trực tiếp gọi là "Dương cục"; còn lộc và mệnh của người thì "xuất hình chi ngoại, vô tượng khả quan" (hình lộ ra ngoài, không hiện rõ cũng có thể quan sát được), như thế gọi là "Âm cục".

Trong "Từ điển Vĩnh Lạc" cũng có nói đến "Ngọc Quản Chiếu thần cục".

3. Thái Thanh thần giám.

Bộ sách được đề tác giả là Vô Danh. Nhưng qua điều tra thì các nhà nghiên cứu khoa học nhân dạng xác định là của Vương Phác viết. Âu Dương Tu đời Tống đã có lời khen: "Vương Phác là người minh mẫn có nhiều tài, đã đem sức mình phục vụ cho đời"...

Trong "Tứ khố toàn thư" cho biết bộ sách này lúc đầu có 6 quyển chuyên nói về phép xem tướng, có thể xếp hàng sau các loại sách tướng của Viên Thiên Cương, Hứa Phụ và Đào Ẩn Cư. Bộ sách này đã kết hợp giữa tư liệu "cổ" và kinh nghiệm "kim". Xin trích một vài ý về tướng thuật trong nội dung bộ sách:

"Gan hiện ra mắt, cũng xuất ra gân, mạch, móng và bộ giáp; Tim xuất ra lưỡi, cũng xuất ra khí huyết, tóc lông; Phổi xuất ra mũi, chỉ ra được da, hơi thở thế nào? Tỳ xuất ra môi, cũng là cơ sở để nhận xét về thịt; Thận xuất ra tai, cũng có thể chỉ rõ tình trạng của xương và răng"

Đoạn văn trên cũng là lý luận của y học phương Đông lấy tướng lý làm cơ sở, là chứng luận tướng thuật 5 giác quan: mắt, mũi, lưỡi, môi và tai. Trong "Giáp Ất Kinh" có viết:

"Mũi là giác quan của phổi; Mắt là giác quan của gan; Miệng là giác quan của tỳ; Lưỡi là giác quan của tim; Tai là giác quan của thận. Cái xuất ra của ngũ tạng là tương ứng với nhau!".

Quyển thứ 2 của "Thái Thanh thần giám" có tên là "Ngũ hành tương sinh ca" có vận dụng nguyên lý tương sinh ngũ hành để giải thích nguyên do lành và phúc của 5 tướng giác quan, tướng lý. Sách nói:

"Tai rủ xuống mũi là tốt, tưóng Kim sinh Thuỷ hết sức quý". Mắt sáng tai tốt thì thần khí hưng, giàu có, miệng vuông mũi thẳng thì quý, tướng sinh Kim Thổ là người được làm quan. Môi vuông, mắt đen là Mộc sinh Hoả, ngưòi như thế có chí, nhiều tài. Lưỡi dài môi dày là Hoả sinh Thổ, người như thế có phúc, trung vận hưng thịnh. Mắt dài mày đẹp thì phong lưu, khi ngồi bệ vệ chính giữa là tướng quý.".

Quyển 3 của bộ sách có 2 thiên "Tâm thuật luận" và "Luận đức" nội dung: "bàn chữ "Tâm" là nói đến "Phúc"; bàn chữ "Đức" là nói đến "Hình". Phúc và Đức tạo nên tướng tâm và tướng hình, hai loại này bổ sung cho nhau.

Tóm lại, "Thái Thanh thần giám" là một bộ sách quý có nhiều tư liệu, luận thuyết có căn cứ, một bộ sách tướng học có giá trị.

4. "Nguyệt Ba động trung ký". (Ghi chép trong động Nguyệt Ba)

Tác giả Vô Danh. Ở núi Thái Bạch có động Nguyệt Ba, chinhtác giả nói rằng bộ sách đã viết ở đây. Nội dung sách là tổng kết kinh nghiệm và lý luận về tướng thuật của bao nhiêu đời trước.

5. "Nhân luân đại thống phú".

Do Kim Trương Hành biên tập. Ông làm Lễ bộ thượng thư, Hàn lâm học sĩ, Thái tử thái phó. Ông đã nghiên cứu nhiều năm về thiên văn, thuật số, nổi tiếng trong triều đình.

Nội dung cuốn sách được "Tứ khố toàn thư" giới thiệu: "Quyển sách này chuyên viết về phép xem tướng, lời văn bình dị, dễ hiểu. Trong sách nhiều đoạn nói về cái "thần" của con người, cũng từ luận thuyết này mà kết hợp với y học để xét đoán tướng mạo con người.".

6. "Thần tướng toàn biên".

Do Trần Chuyển, người có tiếng đời Tống viết, Viên Trung Việt đời Minh biên soạn lại. Bộ sách này có 13 quyển. Quyển 1 là sách tướng được lưu hành rộng rãi ở hai triều Minh và Thanh. Năm 51 đời vua Càn Long (1787), quyển sách đã được đưa lưu trữ tại "Bảo tàng quốc gia". Nội dung có tổng luận, có phân luận, sưu tầm kiến thức tướng thuật của các sách tướng thuật từ thời xưa, là một tập đại thành của phương pháp xem tướng người.

Giá trị của "Thần tướng toàn biên" là đã sưu tầm thu thập được nhiều tư liệu, biên soạn công phu. Bộ sách có 13 quyển:

- Quyển 1: Bàn về cơ sở của lý luận tướng thuật cùng với các vấn đề có liên quan. Ngũ hành, thần khí, lới nói, hành động có tính thông luân. Quyển này đặt cơ sở cho tướng pháp, chỉ dẫn cho những người có trình độ ban đầu còn thấp; giải thích tỉ mỉ các thuật ngữ tướng mạo như: "Tướng thuyết" dạy cách xem tướng theo trình tự. Chẳng hạn muốn nhận xét tướng mạo của một người, trước hết phải xem xương, rồi đến ngũ hành, đo thử Tam đình dài ngắn bao nhiêu, các bộ phận trên mặt có đầy đủ không? Phải quan sát mắt mày có thanh tú không, thần khí nhiều hay khô cằn, tay chân dày mỏng, râu tóc thưa ngắn thế nào; chiều dài của thân hình baonhiêu, 5 giác quan có đầy đủ không, lục phủ thiếu gì? ... Bộ sách nói đầy đủ chặt chẽ về vận mệnh con người như: phú quý, sang trọng, nghèo hèn, tươi héo, được mất. Tất cả đều đề cập không thiếu vấn đề nào. Ngoài ra còn bàn vấn đề "Thập quan" (mười cách quan sát), "Ngũ pháp" (5 phương pháp), nêu lên kinh nghiệm để nhận xét nhân dạng.

- Quyển 2: bàn về 5 giác quan; từ 5 giác quan đến Tam tài, Lục phủ, Tam đình; từ hình thể trạng thái mà phân tích hung cát.

- Quyển 3: bàn về hình tượng Ngũ hành: mặt, mày, mắt; nói rõ về các loại thuật ngữ như: "Vong thần", ""Lục xung, "Thập sát", "Diện thượng thập đại không vong".

- Quyển 4: tiếp tục bàn về tướng mặt: Ấn đường, sơn căn, mũi, tai, miệng, lưỡi; các bộ phận liên quan đến: ngực, lưng, sườn, hông và hạ bộ. Người ta chưa xác định được tại sao "Ma y tướng pháp" cũng có quyển này???

- Quyển 5: bàn về nói năng, hành động, cử chỉ và lý tướng Ngũ hành; các tiêu chuẩn: tướng giầu, tướng sang, tướng hèn. Không hiểu tại sao trong bộ sách "Quan nhân bát quái pháp" cũng có quyển này.

- Quyển 6: thiên "Thần Dị Phú" trong "Ma y tướng pháp"

- Quyển 7: Một số bài nói về Tướng học luận.

- Quyển 8: Một số bài nói về Tướng thư luận.

- Quyển 9: Một số bài viết về tướng thuật của các nhà tướng thuật có tên tuổi.

- Quyển 10: bàn về đường văn trên bàn tay trong đó có nội dung "bàn về chân"; "tướng Tam tài".

- Quyển 11: bàn về tướng hình sang hèn của đàn bà và con người có hình dáng giống cầm thú.

- Quyển 12: Bàn về trán, nốt ruồi và khí sắc.

- Quyển 13: thông luận khí sắc như "Sơn căn thanh sắc", "Bàn về màu đen".

"Thần tướng toàn biên" đã thu thập nhiều sách tướng trong dân gian. Trong đó đã ngầm bộc lộ những điều quý giá. Đến đời Minh, nhà tướng thuật Viên Trung Triệt thấy nội dung bộ sách chưa toàn diện, chưa sát, khó hiểu đã chú thích thêm cho phong phú, dễ hiểu.

"Thần tướng toàn biên" là tập đại thành của tướng thuật cổ đại Trung Hoa, là thành tựu cao nhất của tướng thuật cổ đại.

7. "Quý tiện định cách Ngũ Hành tướng thư".
(Sách tướng định sang, hèn theo Ngũ hành)

Sách do Viên Thiên Cương biên soạn.

Về thuật số, nội dung sách nói rõ: "Cái gọi là Xuân, Hạ, Thu, Đông, bốn thời thay đổi, mỗi thời là một mùa, mỗi mùa được sinh ra từ đầu Hoàng Đế (thời cổ), từ tay Hoàng đế, từ chân của Hoàng đế". Nếu sinh ra ở đầu thì quý, sinh ra ở chân là hèn.

Về sau vào thời cận đại "Ngũ Hành tướng thư" được vẽ thành hoạ đồ, lưu truyền rất rộng.

8. "Thần tướng thiết quan đao".

Do Trần Chuyển đời Tống biên soạn. Người đời sau nhận xét: Tác giả là một văn nhân, đi du lịch nhiều nơi, là một thầy xem tướng giỏi trong thiên hạ. Quyển sách đã nói đến thiên cơ, mọi người không thể xem nhẹ, có nhiều điều bí ẩn đã được giải thích.

Sách có 4 quyển, nói về tướng người, rõ ràng dễ hiểu, đề cập đến nhiều phương pháp xét đoán tướng mạo như: "Xem tay mà định phép"; "Bí quyết của tướng tay"; "Xem sắc tướng tay". Trong sách còn có các mục nói về "4 cái bí ẩn"; "5 cái cấm"; "3 cái kỳ lạ".

4 cái bí ẩn là:

- Không khắc thành bản để in

- Không lưu truyền mãi

- Bí ẩn về khẩu quyết

- Bí ẩn về thay đổi hình và thần.

5 cái cấm là:

- Cấm không được bất trung bất hiếu

- Cấm không được tàn ác tham lam

- Cấm không được làm việc mà không có lễ giáo

- Cấm không được vì có của quý mà quên thầy dạy.

- Cấm xem nhẹ điều nhỏ.

3 cái kỳ lạ là:

- Người ngu cũng có thể học được

- Không ghi chép mà linh thiêng

- Vừa học vừa tinh thông, biến hoá khôn lường.

Suốt đời Thanh, bộ sách được lưu hành rộng rãi.

9. "Liễu Trang tướng pháp"

Do Viên Củng, một thầy tướng giỏi biên soạn. (Liễu Trang là tên hiệu của Viên Củng). Tác giả nói: "Tôi đi du lịch từ Chiết Giang đến Giang Nam, qua nhiều nơi thấy nhiều tướng lạ. Về nhà ngồi viết sách hơn 3 quyển: 1 quyển nói về trời, 1 quyển nói về đất, 1 quyển nói về con người. Quyển thượng xem xong có thể biết được sang - hèn - cùng khổ - hanh thông. Quyển trung có thể biết năm nay có điều gì lành, hung, phúc, họa. Quyển hạ có thể biết tương lai xảy ra gì, thịnh suy của con cháu; có 42 bí quyết để xem tướng".

Viên Củng là một nhà tướng thuật nổi tiếng đời Minh, "Liễu Trang tướng pháp" của ông có ảnh hưởng lớn, đó cũng là một sách tướng được lưu hành rộng rãi.

10. "Tướng lý hoành chân".

Do Trần Chiêu biên soạn, có 10 quyển, hoàn thành vào năm thứ 13 đời vua Đạo Quang (1834). Bộ sách có ảnh hưởng lớn trong giới tướng thuật. Nội dung toàn diện, lời lẽ bình dị, là sách quen dùng của các thầy tướng lang thang.

11. "Ma y tướng pháp".

Tác giả và năm phát hành của bộ sách này chưa xác định. Theo "Thần tướng toàn biên": tác giả của bộ sách dấu tên, là một ẩn sĩ. "Ma Y" là một thứ đạo lấy tên như thế. Theo sách chép thì nhiều người có tên tuổi đã nhờ Ma Y xem tướng, từ đó có thể xác định Ma Y sinh vào khoảng thời gian cuối đời Ngũ Đại đầu đời Bắc Tống. Lục Huyên Tông cho rằng: người đời sau chỉ dựa vào tương truyền mà nói Ma Y, không nắm kỹ về Ma Y.

"Ma Y tướng pháp" có ảnh hưởng lớn với người đời sau, được lưu truyền rộng rã và đi vào lòng người. Nội dung sách phức tạp, được các nhà tướng thuật chỉnh lý, nhất là các thầy tướng giỏi đời Thanh đổ sức biên soạn.

Nội dung cuốn sách còn có giá trị phủ định màu sắc thần bí trong tướng thuật, xây dựng được một hệ thống cơ bản tướng thuạt sau đời Tống làm thực dụng.

Nội dung cơ bản của Ma Y tướng pháp:

1. Khái luận: Bàn về khái niệm cở bản của tướng thuật, gồm các tập nói về:

- 13 bộ phận

- Vận khí lưu niên

- 12 cung

- Ngũ tinh, lục diện

- Ngũ nhạc, tứ độc

- Lục phủ, tam tài, tam đình

- Cử chân, bát quái

- Tứ học đường, bát học đường

2. Toàn thể luận: gọi là Tổng hợp luận, là những cuộc tranh luận về tinh thần, khí sắc, xương thịt, thanh âm, tư thế, dung mạo (luận thần, luận hình, luận thầ hữu dư, luận hình hữu dư, luận xương (cốt), luận nhạc, luận khí, luận thanh).

3. Ý nghĩa lý luận:

Lấy ý nghĩa của tốt lành, hung ác, phúc hoạ và những điều đặc biệt để bàn: sinh tử, phúc hoạ, cát hung như: "Bàn về 12 cung"; "Lục phủ, tam tài, tam đình"; "Tứ học đường"; "Ngũ hành hình tướng"; "Tài bạch"; "Nam nữ"; "Quan lộc".

4. Phân biệt luận:

Từ các bộ phận: đầu, mặt, 5 giác quan, , tứ chi, cùng với nốt ruồi, đường văn thảo, luận về số mệnh, thời vận, quả báo của con người, cũng như về tốt lành, hung ác, cùng khổ, hanh thông.

Có những đề mục đặc biệt làm thành nội dung chủ yếu của Ma Y tướng pháp như "5 giác quan" . Thực tế lý luận cơ bản của Ma Y tướng pháp là nòng cốt cho lý luận cơ bản của tướng thuật Trung Hoa. Về điểm này, từng mục trong sách đều có bàn về những ý kiến khác nhau.

Đối với những điểm mâu thuẫn trong tướng hình, lý luận của Ma Y tướng pháp đều có biện pháp giải quyết phù hợp với tướng thuật. Do đó, khi nghiên cứu, các nhà khoa học nhân dạng thường xem xét kỹ các phần lý luận và phương pháp giải thích mâu thuẫn trong tướng hình con người.

Ma Y tướng pháp đưa ra những điều cần chú ý khi nhận xét tướng mạo:

1. Cân bằng và đối xứng.

2. Tướng xứng và tướng hợp.

3. Đầy đủ với thông suốt.

4. Trật tự với cơ cấu tư thế.

5. Bổ sung và bù đắp.

Tham khảo thêm về Ma Y tướng pháp:


1. Cân bằng và đối xứng.

Khi nói đến cân bằng và đối xứng của tướng mạo phải chú ý đến các bộ phận tướng mặt của con người, phải quan sát rồi rút ra được những mâu thuẫn giữa các bộ phận trên mặt để có cách xử lý.

+ Khi nói đến sự cân bằng là nói đến các bộ phận của 5 giác quan có thống nhất hài hoà hay không, có lớn quá hoặc nhỏ quá, cao quá hoặc thấp quá hay không? Mất độ tiêu chuẩn là mất đi sự cân bằng về kết cấu.

+ Khi nói đến đối xứng là nói đến sự hoàn chỉnh đồng nhất của 2 tai, 2 mắt, đôi mày, nhị phủ trên, nhị phủ giữa, nhị phủ dưới; các bộ phận này không thể to nhỏ, cao thấp, dày mỏng khác nhau được.

Các nhà tướng thuật cho rằng 5 giác quan nếu được sắp xếp cân đối: Ngũ nhạc, lục phủ, tam tài, tam đình cân đối thì hiệp lực cho nhau, tạo nên tướng phần trên.

Nếu không cân đối sẽ tạo nên mâu thuẫn về hình thể.

"Ma Y tướng pháp" rất xem trọng sự cân đối của các bộ phận trên mặt. Sách có viết: "Nói tướng mạo là nói về sự cân bằng của Tam đình, nếu Tam đình cân bằng được thì sinh tướng, bằng không sẽ tầm thường", "Tam đình cân đối, sinh ra đã có bổng lộc, áo mũ. Ngũ nhạc quy tụ, tiền tài giàu có nhất đời. Đây chính là tôn ti trật tự cần có của tướng thuật. Tam đình Bát quái phải tương xứng, Ngũ nhạc và Tứ độc quyết định việc cao sâu".

2. Tướng xứng và tướng hợp.

Tướng xứng với tướng hợp của tướng thuật chú ý đến xương thịt và các bộ phận khác của toàn thân thể con người. Bàn về tướng xứng và tướng hợp là bàn về mâu thuẫn cùng với sự điều chỉnh toàn bộ cơ cấu hình thể một con người.

Tướng xứng chủ yếu là nói về sự cân bằng, đối xứng giữa bộ mặt với tứ chi, thân thể, các bộ phận khác trong cơ thể con người.

Tướng xứng cũng nói về sự cân bằng giữa xương với thịt. Xương không thiếu, thịt không quá nhiều là đạt, nếu thịt không tương xứng với xương thì lộ xương, còn thịt nhiều quá thì khí huyết không lưu thông, như thế là không đạt.

Ma Y tướng pháp nói: "Người gầy, lộ xương, người nhiều thịt, phì nộn, béo trục béo tròn là tướng xấu". "Đầu nhỏ thân hình lớn, trên ngắn dưới dài thì hình dáng chưa đủ". Trong "Ngũ hành hình tướng" thì: "Kim không tị hiềm với vuông, Mộc không tị hiềm với gầy, Thuỷ không tị hiềm với béo".

3. Đầy đủ với thông suốt.

Đầy đủ và thông suốt của tướng hiển đạt tinh thần của động thái, bàn về tinh thần bên trong hình thể con người có đầy đủ sung thực hay không? Hệ thống tinh thần có điều hoà hay không?

Ma Y tướng pháp nhấn mạnh: quan hệ của tinh thần đối với hình thể con người là phải xem trọng sự đầy đủ và thông suốt.

Gọi là đầy đủ thì tinh thần phải sung thực, không khô cằn, thiếu hụt, thiếu thốn.

Ma Y tướng pháp nói: "Mặt mà đỏ vàng thì người đó phát tài, gia đình an khang", "Thần sắc không sáng sủa, thế nào cũng gặp sự ám muội, u trệ". Phải làm cho người khác thấy được tinh thần của mình sung mãn, đầy sức sống, khí sắc nhuần nhã, thanh tao, sáng sủa hoặc trấn áp tinh thần người khác, hoặc thần thái toả ánh sáng khắp người. Nếu được vậy, tuy hình dáng diện mạo không đẹp nhưng cũng làm cho kẻ khác cảm thấy mình cao quý khác thường, tướng như thế là tướng ngườỉtên. Nếu để kẻ khác cảm thấy tinh thần mình uỷ mị, bạc nhược, thiếu sức sống, sắc mặt hôn ám, hoặc u mê, hoặc ô trọc, hoặc nông cạn thì tuy hình dáng diện mạo đẹp nhưng vẫn bị coi là dung tục, ti tiện, loại tướng như thế là tướng của kẻ dưới.

Gọi là thông suốt khi tinh thần đầy đủ nhưng không lộ ra, không muốn phát ra, mà có phát cũng có mức độ; một khi phát thì thông suốt, linh hoạt, không để thần lộ, thần tán. Nếu cứ muốn phát đạt mà bị phát tán thì chẳng được gì hoặc bạc nhược, bất lực, thần sắc hôn ám, có phát nhưng không thông suốt.

Ma Y tướng pháp nói: "Đã định thì không được lộ, đã xuất phải có thần; thoát ra được, gặp biến không kinh sợ". Đạt được yêu cầu của loại "thần" này, trước hết phải có khả năng thông suốt.

4. Trật tự với cơ cấu tư thế.

Trật tự với cơ cấu tư thế của tướng mạo là nói về 5 giác quan tướng mặt với khí sắc tinh thần; là sự tổng hợp, phối hợp khí thế, sắc thái của bản thân con người với tổ chức chỉnh thể cơ cấu 5 giác quan của bộ mặt con người.

Gọi là trật tự khi có sự bố trí hợp lý giữa kết cấu bố cục chỉnh thể xương thịt của 5 giác quan với cơ cấu xương thịt của mỗi một giác quan, tất cả đều phải có một trật tự, không xâm phạm lẫn nhau, không nhô lên lõm xuống, không thiên thẹo, không tán loạn; phối hợp trên dưới hài hoà. Ma Y tướng pháp cho rằng5 giác quan của bộ mặt, nếu thiên thẹo là người có lòng tà; đứng đắn tề chỉnh là người biết ứng xử; tán loạn là làm việc gì cũng không đủ, chẳng chịu phục tùng ai; lồi lõm thì làm nhiều chuyện quái đản.

Gọi là cơ cấu tư thế là nói về xương thịt của 5 giác quan phải đầy đủ, hiện ra thực trạng có khí thế, phải phát huy đầy đủ chức năng. Phát huy đầy đủ chức năng là dựa vào sự cấu tạo hợp lý giữa vị trí với bố cục tổng thể xương thịt 5 giác quan, hài hoà đến từng bộ phận, lại phải có khí thế, lấy việc phát huy đầy đủ chức năng này làm tiêu chuẩn. Trong bố cục tổng thể của bộ mặt, nếu các khí quan kết cấu hợp lý, có trật tự, mặt đầy thần khí, sáng sủa, mũi cao, miệng ngay thẳng đỏ tươi, hai tai to, cao, tươi tắn, vành tai luân quách rõ ràng; Ngũ nhạc đều, đầy, kết hợp với nhau... thì đó là khí thế. Cơ cấu khí thế đẹp thì cuộc đời của người đó hanh thông hạnh vận, hưởng phú quý. Ngược lại, cơ cấu tư thế các bộ phận không đẹp thì nghèo và bất hạnh, gặp nhiều tai hoạ.

Ma y tướng pháp cho rằng trật tự và cơ cấu tư thế của tướng mạo có ý nghĩa vĩ mô và chủ đạo. Sách có viết: "Nửa cuộc đời rồi mà vẫn khổ, là vì Hạ đình dài".

Muốn nhận xét tướng mạo của một người, trước tiên phải quan sát Ngũ nhạc có đầy đủ không?

- Những người có Ngũ nhạc đầy đủ thì phú quý, vinh hoa.

- Những người Ấn đường hẹp thì có con muộn, lấy vợ chậm.

- Những người mũi thấp, mềm thì nghèo và chết yểu.

- Quan sát Hạ đình có thể biết được con người khó nhọc, vất vả, quý, phúc, phú, bần, thọ, yểu.

Vì thế, Ma Y tướng pháp đã nhấn mạnh vị trí quan trọng của trật tự và cơ cấu tư thế.

5. Bổ sung và bù đắp.

Tướng hình của một con người không thể nào thập toàn, tất cả đều đẹp đẽ. Vậy, khi gặp phải những điều khiếm khuyết, không đầy đủ, xấu xí thì thế nào? Các nàh tướng thuật cho rằng các bộ phận có thể bổ sung, bù đắp cho nhau.

Trong Ma Y tướng pháp, bổ sung và bù đắp đều nhằm vào 5 giác quan. Có mấy loại ngược nhau và bổ sung cho nhau:

- Thuận và nghịch của chính bản thân.

- Tương quan của thuận và nghịch.

- Tương xứng của thuận và nghịch.

- Thuận và nghịch giữa hình và thần.

- Thuận và nghịch giữa tâm và hình.

- Thuận lớn nghịch nhỏ.

- Nghịch lớn thuận nhỏ.

Các bộ phận, khí quan, tổ chức bên ngoài con người được điều tiết có trật tự. Khí sắc tinh thần bên trong đầy đủ, sáng sủa, nhuần nhị, toàn bộ cảm giác đều đẹp. Nếu miệng dài không đẹp hoặc miệng rộng, không mím, sắc không đỏ thì môi có thể bổ sung để cứu vãn tướng miệng xấu. Những người có tướng miệng như thế nếu môi đẹp thì giảm bớt ảnh hưởng bất lợi về phú, quý, phúc, thọ của người đó.

Mắt có vị trí quan trọng đối với tướng mặt, bổ sung cho chỉnh thể chưa đủ, cứu vãn cái xấu của toàn bộ mặt người.

Nói chung nếu kết cấu tư thế toàn bộ con người không đẹp, ca biệt có bộ phận rất xấu thì cần xét đến sự bổ sung cảu các bộ phận khác.

Tướng hình đẹp thì số mệnh thời vận tốt. Nhưng do trời sinh ra tướng hình không đẹp mà lại có lòng lương thiện, tu nhân tích đức thì số mệnh sẽ được chuyển từ hung sang cát, như thế là tướng hình và tướng tâm đã bổ sung cho nhau.

Bàn về mối quan hệ giữa tướng hình với tướng tâm là nói mối quan hệ của tâm và hình. Ma Y tướng pháp rất xem trọng mối quan hệ thuận nghịch này.