PDA

View Full Version : Sao Kình Dương:


hoahoanglan
28-09-2005, 11:48 PM
SAO KÌNH DƯƠNG

- Kình Đà là 2 sát tinh thường mang đến "tổn thất". Khi gặp đủ bộ tứ Sát thì lại phải đoán khác, và gặp Không Kiếp cũng lại phải đoán khác đi.

- Kình Dương hoá khí là "Hình" - biểu hiện phá hoại lực, có thể gây ra thất bại, có thể gây ra thị phi sau khi đã thành công.

Kình dương phá hãm ví như một chân tiểu nhân! (là tiểu nhân nhưng có lòng quân tử) >< đối nghịch với chân tiểu nhân là nguỵ quân tử đó (danh quân tử nhưng bụng dạ tiểu nhân). Bở vậy, khi Kình Dương hội Hoả tinh gây sức mạnh phản kháng không kém gì cách "Mã đầu đới kiếm" nơi cung Ngọ - vượt qua những khó khăn, gian khổ tột cùng để mà đến với thành công.

Từ xưa tới nay, ko hiểu do tam sao thất bản hay do thời cuộc ngày xưa khác ngày nay - những bậc nho gia uyên bác lý số đều cho rằng cách "Mã đầu đới kiếm" - tượng kiếm treo cổ ngựa (trảm) là cực độc, cực xấu - nói như vậy là chẳng hiểu gì: võ đoán, phiến diện và cực kỳ hồ đồ! Có người lại nói cách đó cực hung cho tuổi Bính - dễ xảy ra yểu tử, thảm tử, bất đắc thiện chung - lại thật càng ngông cuồng và ngu dốt trong cách truyền đạt tính CHÂN, THIỆN, MỸ của môn Khoa học Nhân Mệnh Tử vi! Có lý giải cho rằng tuổi can Bính hoá Tù - phạm phải sát khí nặng, khó tránh, khó giải, khó gỡ - nên tượng "Mã đầu đới kiếm" trở thành "bản án dựng sẵn" làm bao người lo sợ không yên - mà thực ra, lỗi chính ko phải do bản thân họ!

Thử hỏi có bao người tuổi Bính??? Bao người có cách "Kình Dương cư Ngọ"??? Họ yểu tử hết sao? Hình thương hết sao? Bất đắc thiện chung hết sao? Thất bại, đau đớn, gục ngã... hết sao? Vô lý!!!

Xin tạm dừng đoạn tâm cảm trên để đi tiếp vào phần luận giải ý nghĩa Kình Dương và cách Kình Dương cư Ngọ.

Kình dương là một tình trạng phát triển thái quá. Còn mang tên gọi khác là Dương nhẫn - đầu mũi gươm xung kích, tiên phong. Kình dương vào Mệnh thì làm việc xông xáo không do dự, đã quyết tâm thì làm bằng được! Chỉ có điều, Kình dương có một sở đoản là khó tiếp thu ý kiến người khác, đôi khi trở thành hiếu thắng và thậm chí, ở một vị thế nào đó sẽ trở thành cao ngạo nên dễ sinh ra ăn nói sắc nhọn, thẳng mạnh đến mức dễ gây thù oán với người! Khi đã vào guồng luôn nhất tâm nhất trí đến mức có khuynh hướng cực đoan, tình cảm yêu với hận rõ ràng, ân với oán phân minh - như thế không hẳn lúc nào cũng tốt! Cổ nhân có câu: Tính hung ắt chiêu hung! Cái độc của Kình Dương bước đầu bắt nguồn từ đây!

Đến đây, ta hãy cùng bàn về vị trí của sao Kình dương. Kình dương bao giờ cũng đứng trước Lộc tồn, gọi bằng tiền Kình hậu Đà. Một số người đổi vị trí của Kình Đà theo tuổi Âm Dương Nam Nữ khi an lá số nhưng vẫn không thể đổi cách gọi "tiền Kình hậu Đà" - đó là xét theo hướng chuyển vận của vòng sao Bác sĩ (Lộc tồn) - xin tham khảo thêm về vòng Bác sĩ (Lộc tồn). Trong số Tử bình không có sao Đà la nhưng có Dương nhẫn - rất quan trọng. Tử vi căn cứ vào lý luận trên, không cách gì mà đổi ra tiền Đà hậu Kình, đổi như vậy lý Ngũ hành không còn đất đứng!

Lấy trường hợp tuổi Bình Mậu có Đồng Âm toạ thủ tại Mệnh, Đồng Âm ấy được Kình dương mới hay, nếu như lại là sao Đà la nằm chềnh ềnh ở đây thì thật khôi hài (tham khảo ý nghĩa Đà la). Câu phú: "Thiên Đồng Thái Âm cư Ngọ vị, Bính Mậu trấn ngự biên cương". Phải tiền Kình hậu Đà thì tuổi Bính Mậu mới có Dương Nhẫn tại Ngọ được. (Đây chính là cách "Mã đầu đới kiếm trấn giữ biên cương" - vậy ai bảo Kình dương cư Ngọ là xấu?).

Như trên đã nói, Dương nhẫn là một tình trạng phát triển cao độ. Giáp Mộc - Lộc đóng Dần thì sự phát triển cao độ của Giáp Mộc phải vào mộc cung là Mão. Bính Hoả - Lộc đóng tại Tị thì tình trạng phát triển mạnh cũng phải ở nơi cung Hoả, như vậy Dương Nhẫn tất phải đóng Ngọ (đây chính là cách "Mã đầu đới kiếm" như đang đề cập đến).

Tương tự như vậy, Ất Mộc - Lộc tại Mão thì Dương nhẫn Thìn là Thuỷ Mộc khố, Đinh Kỷ - Lộc ở Ngọ thì Dương Nhẫn đóng Mùi hoả khố. Tân Kim - Lộc tại Dậu thì Dương nhẫn đóng Tuất Kim khố...

Sách Tinh Binh Hội Hải viết: "Giáp Lộc đáo Dần, Mão vi Dương Nhẫn, Ất Lộc đáo Mão, Thìn vi Dương nhẫn... Quý Lộc đáo Tí, Sửu vi Dương nhẫn..." ; "Lộc tiền nhất vị vi 'Nhẫn' nhân vi vạn vật chi lý giai ố cực thịnh, Lộc quá 'Nhẫn' sinh công thành đương thoái, bật thoái tắc quá việt kỳ nhân". (Nghĩa là trước Lộc tồn một cung là Dương nhẫn bởi cái lý của vạn vật không thuận được với tình trạng thái quá, Lộc lên đến cực điểm thành hoại, công thành rồi hãy từ tốn lại, nếu cứ tiếp tục quá khích sẽ thất bại!) - Nhưng thử hỏi, trên đời này, có mấy ai hiểu được cái lý này? Hoặc hiểu được mà không thể làm theo triệt để - như thế là lẽ đương nhiên thôi. Với người Mệnh tốt, Thân tốt, Phúc tốt, sống tốt thì qua khỏi Hạn xấu; còn những người không được như thế, thử hỏi vào cái thế Kình Dương cư Ngọ có kiềm chế nổi mình không? Bản thân mình không còn phải là mình thì chuyện gì cũng có thể xảy ra được hết, dĩ nhiên, trong một Hạn xấu thì chuyện xấu là chủ đạo rồi!

Kình dương đắc địa thủ Mệnh Thân Tài Quan thì chắc chắn xương lớn nhưng không lộ cốt. (trường hợp bị Tuần Triệt có thể khác) Kình dương hãm thì gầy guộc xương lộ da như cam sành. Kình dương hợp với các cung tứ Mộ (Thìn Tuất Sửu Mùi) vì mộ cung có khả năng thuần hoá được tính phát triển quá mức của sao này. Kình dương ở tứ Mộ tuy đắc địa nhưng vẫn phải có cuộc đời phiêu lưu, bôn ba, trắc trở, xa cách người thân.

Kình dương đóng vào tứ Bại địa (Tí Ngọ Mão Dậu) nếu không kết hợp thành một cách riêng biệt như hội hợp với Đồng Âm, tính chất hình khắc nặng hơn, đáng ngại Nhất là Dậu, rồi đến Mão.

Riêng với nữ Mệnh có Kình Dương dù miếu địa cũng phải xem là "mỹ trung bất túc" vì nữ Mệnh đều an định êm đềm trong đời là điều chính yếu. Kình dương gặp Nhật Nguyệt, trai khắc vợ, gái khắc chồng. Kình Dương gặp Liêm trinh Hoả tinh ắt có ám tật hoặc tứ chi bị hình thương.

Sách vở Trung quốc có mấy câu đáng để ta suy ngẫm:

"Thiên tướng hãm phùng Dương mẫn, nữ nhân thi luỵ" nghĩa là Nam mạng Thiên tướng hãm địa gặp sao Kình dương thường bị đàn bà làm khổ (khổ vì tình).

"Hồng Loan Dương Nhẫn vị tình đoạn trường" nghĩa là số gái Hồng Loan gặp Kình dương dễ đi vào cảnh huống đoạn trường vì tình.

Có thuyết cho rằng Kình dương tượng trưng cho bộ sinh thực khí của đàn ông. Cổ nhân không nhắc đến Kình Dương gặp sao nào thì sức mạnh tình dục đi đến cực vượng nhưng có thuyết Thái Âm Đà la (Đà la tượng trưng cho bộ sinh thực khí của đàn bà) là cách loạn dâm, ý chỉ sức mạnh tình dục đi đến đỉnh điểm!

Qua kinh nghiệm cho thấy Kình Đà vào Mệnh cung thường là con người thông minh. Kình đà đi cùng Xương Khúc khiến cho cái chất Văn của Xương Khúc tăng lên gấp bội. Như vậy Kình Đà liên quan tới sức mạnh tình dục là đúng rồi!
Kình Đà còn một cách cục khác mà sách Tử vi đẩu số không nói riêng ra là: Kình Dương độc thủ và Đà la độc thủ. (Mệnh VCD có hung tinh đắc địa độc thủ). Với cách này, Kình Dương có thể độc thủ ở tứ Mộ hoặc tứ Bại cung tuy nhiên chỉ tốt khi độc thủ ở tứ Mộ cung trong đó Sửu Mùi là đẹp hơn cả. Đứng ở Tí Ngọ Mão Dậu chủ về gây hung hoạ.

Kình Dương độc thủ vào số Nam hợp hơn số Nữ. Đà la thì ngược lại. Tuy nhiên, theo quan niệm ngày xưa thì số Nữ mà có Đà la đắc địa độc thủ vẫn ko đẹp đẽ gì. Ngày nay mọi sự đã đổi khác, có thể coi đó là cách cục hay nhưng chưa hẳn tốt!

Tại sao hay mà lại không tốt? Hay ám chỉ khả năng giỏi giang, toan tính mưu sự thành công nhưng không Tốt vì cuộc sống bôn ba, thăng trầm, gay go quyết liệt, thiếu an định, êm đềm. Kình Dương đắc địa độc thủ với Nam mạng hễ đã thành công thì thành công lớn vượt bậc thiên hạ, nhưng lúc chưa đạt thì vất vả, gian lao cũng dữ dội vô cùng. Kình Dương đắc địa độc thủ vào binh nghiệp, kinh doanh lớn, chính trị dễ sáng tạo nên sự nghiệp.

hoahoanglan
28-09-2005, 11:50 PM
Những câu phú về Kình Dương



- Kình dương cư Tí Ngọ Mão Dậu hãm địa, tác hoạ hưng ương hình khắc thậm. (Kình Dương đóng Tí Ngọ Mão Dậu thường gây ra tai hoạ hình khắc).

- Kình Dương nhập miếu gia cát, phú quý thanh dương. (Kình Dương miếu địa gặp cát tinh, giầu sang dương danh).

- Kình Dương Hỏa Tinh hãm vị hạ cách. (Kình Dương đứng cùng Hỏa Tinh ở hãm địa là hạ cách).

- Kình Dương thủ Mệnh, Thất Sát Phá Quân xung chiếu chủ hình khắc.

- Dương Đà Hoả Linh phùng cát phát, hung tắc kị. (Dương Đà Hoả Linh đi cùng với cát tinh tất phát tài, tuy nhiên thêm hung tinh vào thì rất xấu).

- Kình Dương đối thủ tại Dậu cung, Tuế điệt Dương Đà Canh mệnh hung. (Kình Dương đóng Dậu ở cung Thiên di, gặp hạn lưu Kình Đà - người tuổi Canh nguy hiểm).

- Dương Đà hiệp Kỵ vi bại cục. (Kình Dương Đà La đi cùng Hoá Kỵ là cách thất bại).

- Kình Dương trùng phùng lưu niên, Tây Thi vẫn Mệnh. (Kình Dương Mệnh gặp lưu niên hạn Kình Dương Tây Thi uổng mạng).

- Dương cư Đồi Chấn, lục Mậu lục Giáp phúc nan tồn. (Kình Dương xung chiếu Mệnh cư Dậu hoặc Mão, người tuổi Mậu Giáp cuộc đời lắm tai ương).

- Kình Dương gặp Âm Đồng (Tí hay Ngọ) thêm Phượng Các Giải Thần uy danh lừng lẫy.

- Dương Đà Quan Phủ ư hãm địa loạn thuyết chi nhân (Mệnh có Kình Đà hãm địa đi cùng Quan Phủ ưa nói bậy, nói quá sự thực, nói lung tung).

- Dương Linh toạ mệnh, lưu niên Bạch Hổ tai thương. (Mệnh có Kình Dương Linh Tinh đ.c, vận lưu niên gặp Bạch Hổ dễ gặp tai hoạ).

- Tật ách kiêu Đà Nhẫn phản mục tật sầu. (Cung Tật ách bị Kình Đà đóng dễ đau mắt).

- Mệnh Dương Đà gia Kiếp thọ giảm. (Mệnh Kình Đà thêm Địa Kiếp làm giảm thọ).

- Kình Hư Tuế Khách gia lâm, mãn thế đa phùng tang sự. (Mệnh Kình Dương, Thái Tuế, Điếu Khách, Thiên Hư hội tụ cuộc đời lắm tang tóc buồn rầu. Vào hạn có cách trên dễ gặp tang sự nếu ko có cách hoá giải).

- Dương Nhẫn bất nghi Nhật Nguyệt tật bệnh triền miên. (Kình Dương gặp Nhật Nguyệt lâm bệnh trong người hoặc có bệnh lưu ko khỏi - bệnh mãn tính).

- Luận mệnh tất suy tính thiện ác Cự Phá Kình Dương tính tất cương. (Cự Môn Kình Dương hoặc Phá Quân Kình Dương tính tình cứng rắn).

- Dương Đà Nhẫn thủ ư Phu vị Hại chồng con chước quỷ ghê thay.

- Dương Hình Riêu Sát Phu cung Lại gia Linh Hoả vợ lo KILL chồng.

- Dương Đà bệnh ấy phòng mòn Tuế Đà vạ miệng xuất ngôn chiêu hiềm.

- Đà ngộ Kỵ chẳng lành con mắt Kỵ phùng Dương mắt hẳn thong manh.

- Dương nhẫn phùng Tuyệt Linh chốn hãm Công cù lao bú mớm như không. (Cung Tử tức có Tuyệt Linh Kình hãm địa thì khó nuôi con, hoặc có con cái cũng bằng ko)

- Kình Riêu Hoa Cái Thai Đà Vận phùng năm ấy đậu hoa phải phòng.

- Tứ hung ngộ quý nơi Thân Dậu Đến Phật đài cầu đảo mới xong. (Hạn đến cung Thân, Dậu có Kình Đà Hoả Linh gặp Tử Vi, Thiên Phủ phải làm nhiều việc thiện để phòng tránh tai hoạ).

- Đào Hồng mặt mũi xinh tươi Kỵ Hình Đà Nhẫn là người tật thương.

- Thái Dương đóng chốn thuỷ cung Gặp Kình hay Kỵ yểu vong hay mù. (Thái Dương ở Hợi, Tý gặp Kình Kỵ theo kinh nghiệm thì chỉ bị tật ở mắt thôi chứ ko đến nỗi yểu vong hay mù).

- Hoả Dương Tham Tướng Tị cung Hoặc là tứ Mộ nổi danh tướng tài.

- Sát Phá Liêm Tham lâm vào Kình Đà Kỵ ấy trách nào bạo hung.

- Ngọ cung tam Hố hợp Kình Người sinh Bính Mậu biên đình nổi danh.

- Dương Linh thủ Mệnh mấy ai Lại cùng Bạch Hổ hoạ tai đao hình.

- Kiếp Không Hình Kỵ Đà Dương Gian nan bệnh tật mọi đường khảm kha.

- Hình Kình cư Ngọ đồng gia Sát Kiếp lại chiếu ắt là ngục trung.

- Dương Đà Thất Sát phải hay Chiếu thủ Thân Mệnh tháng ngày khổ đau.

- Mấy người Đông tẩu Tây trì Phá Quân Thiên Việt hợp về Kình Dương.

- Thát Sát hãm thật đáng kinh Vận lưu niên gặp phải Kình sợ thay.

- Kỵ Liêm Phá Vũ xấu xa Giáp cùng Không Kiếp Kình Đà sao nên.

- Hoá Kỵ thi rớt lắm khi Dương phùng Kiếp Sát học gì cho xong.

- Dương Đà Kị Nhật Nguyệt xung Chim cưu thói ấy vợ chồng oánh nhau. (Dương Đà Kị vào cung Phu thê vợ chồng khó ăn ở trọn vẹn với nhau).

- Kình Dương mà gặp Thiên Hư hữu sinh vô dưỡng âu lo một đời. (Kình Dương Thiên Hư đ.c ở cung Tử tức)

- Kình Đà Không Kiếp Khốc Hư Sinh con điếc lác ngẩn ngơ thêm buồn (Cung Tử tức)

- Hoả Linh hình khắc cô đơn Kình Đà cha mẹ cùng con bất đồng. (phải là Kình Đà hãm địa đóng cung Phụ mẫu)

- Kình Dương Tham Lang đ.c tại Ngọ thủ Mệnh uy chấn biên cương. (Kình Tham đ.c ở Ngọ đóng Mệnh là nguời có quyền thế).

- Kình Dương Nhật Nguyệt đồng cung nam khắc thê nhi nữ khắc phu. (Kình Dương đứng cùng Thái Âm Thái Dương ở Mệnh thì trai khắc vợ, gái khắc chồng).

- Kình Dương Mão Dậu thủ Mệnh yểu triết hình thương. (Mệnh đóng Mão Dậu có Kình Dương thủ hay bị gặp tai nạn)

- Kình Dương thủ Mệnh Hố Kỵ Không Kiếp xung phá, ly tổ khắc thân. (Kình Dương hãm địa thủ Mệnh gặp Kỵ Không Kiếp hoặc Kỵ Hoả Linh xung phá tất lưu lạc cô đơn).

- Kình Dương trùng phùng lưu niên hung. (Kình Dương ở đại hạn, lưu niên gặp Kình Dương là hung).

- Tử, Phủ, Kình Dương tại cự thương (buôn bán làm giàu).

- Thiên Tướng, Liêm Trinh, Kình Dương giáp đa chiêu binh trượng nan đào (tù tội).

- Vũ Khúc, Kiếp sát hội Kình Dương, nhân trì đạo (bị giết).

- Vũ, Khúc, Dương, Đà khiêm Hỏa tú, táng Mệnh nhân tài (bị cướp).

- Thất Sát thủ chiếu, Tuế hạn Kình Dương Ngọ sinh nhân, Mệnh an Mão, Dậu Cung chủ hưng vong. - Phá, Hao, Dương, Linh. Quan Lộc vị đáo xứ khất cầu.

- Kình Dương nhập miếu, phú quý thanh danh.

- Dương, Hỏa đồng Cung oai quyền yểm chúng

- Dương, Đà, Linh, Hỏa, thủ thân, Mệnh yêu đà bối khúc chi nhân. (Gù lưng)

- Kình, Dương, Tý, Ngọ, Mão, Dậu, phi yểu triết, nhi hình thương.

- Kình Dương phùng Lực Sĩ, Lý Quảng nan phong.

- Dương, Đà, Hỏa, Linh phùng cát phát tài, hung tắc kỵ.

- Dương, Linh tọa Mệnh, lưu niên Bạch Hổ tai thương.

- Kình Dương đối thủ tại Dậu Cung, Tuế tấu Dương, Đà canh Mệnh hung.

- Dương, Đà giáp Kỵ vi bại cục.

- Dương Đà lưu niên Linh, phá; diện tự bạn lãng nhất Kình Dương Hỏa linh vi hạ cách (sa sút nghèo nàn)

- Kình Dương trùng phùng lưu Dương, Tây Thi hạn quyền thân.

- Kình Dương, Hỏa Linh vi hạ cách (tối kỵ nữ nhân)

- Tuổi Giáp Mệnh ở Mão, tuổi Bính Mệnh ở Ngọ, tuổi Canh Mệnh ở Dậu, tuổi Nhâm Mệnh ở Tý gặp nhiều Sao tốt bình thường, nếu gặp Sao xấu thì Kình Dương ở đó tối hung.

- Mệnh có Sao Kình, Linh, hạn lưu niên gặp Bạch Hổ tối hung.

- Tuổi canh Mệnh Dậu có Kình Dương lưu niên, gặp Kình Dương tối hung.

- Mệnh tại Cung Thân có Kỵ giáp Dương, Đà, không có cát tinh phù la tối hung … Vì Lộc Tồn phùng Kỵ cô bần yểu triết.

- Tuế hạn trùng phùng, ngộ Dương, Đà, …

- Khôi, Việt gặp Dương, Linh, Không, Kiếp rất xấu.

- Tối kỵ gặp Kình Dương, Kiếp sát và Triệt Lộ, Linh, Hỏa hãm gặp Đà La thật hay. Mà ngộ Đà khôn ngoan, sảo trá.

- Liêm Trinh, Tị, Hợi hiệu nhàn cung,

Bần phá Kình Dương, Hỏa cánh trung.

- Tham lang thủ Mệnh Đồng Dương (Kình Dương) cung,

Đà, Sát giao gia tất khốn cùng,

- Cự môn thủ Mệnh ngộ Kình Dương,

Linh, Hỏa phùng chi sự bất tường,

Vi nhân tính cấp đa điên đảo,

Bách sự mang mang loạn chủ trương.

- Hạn lâm Thiên Tướng ngộ Kình Dương

Tác họa dư ương bất khả đương,

- Phá quân nữ Mệnh bất nghi phùng,

Kình Dương gia hãm cánh vi hung,

Khắc hại lương nhân (sát chồng) phi nhất thứ,

Tu giao bi khốc, độ triền hôn.

- Văn Xương nữ Mệnh ngộ Liêm Quân,

Hãm Địa, Kình Dương, Hỏa, Kỵ tinh,

Nhược bất vi xương (góa) chung thọ yểu

Biên phòng (vợ lẽ) do đắc chủ nhân khinh

- KÌNH DƯƠNG NAM MỆNH

Lộc tiền nhất vị an Kình Dương

Thượng tướng phùng chi Phúc,

Lộc gia Cánh đắc quí nhân tương thủ chiếu,

Binh quyền vạn lý tráng hoàng gia

Kình Dương thủ Mệnh tính cương cường

Tứ mộ sinh nhân Phúc, Thọ trường (1)

Nhược đắc Tử, Phủ lai hội hợp

Tu tri tài cốc phú xương xương,

Kình Dương nhất diệu lạc nhàn Cung (Tý, Ngọ, Mão, Dậu)

Đà, Hỏa sung hề tiện thị hung,

Cánh nhược Thân, Mệnh đồng Kiếp sát.

Định nhiên yểu tuyệt tại đồ chung (chết đường)

Chú giải: (1). Tuổi Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, Mệnh lại an 4 Cung này thì rất tốt.


- KÌNH DƯƠNG NỮ MỆNH

Kình Dương thủ hạn tế suy tường,

Tứ mộ sinh nhân miễn họa ương

Nhược ngộ Tử Vi, Xương, Phủ hội

Tài Cung hiển đạt phúc du trường

Thiên La, Địa Võng ngộ Kình Dương

Nhị hạn xung hề họa hoạn nhung (ý nói tai họa như giặc)

Nhược thị Mệnh chung chủ tinh nhược,

Định giao nhất tật mộng Hoàng Lương (phú quí không bền)

Kình Dương gia sát tối vi hung,

Nhị hạn lưu giao lạc hãm cùng,

Khắc tử, hình phu, mãi điền ốc,

Đồ lưu (tù tội) phiếm phối khứ tòng nhung (bỏ chồng)


- Kinh thương Tử, Phủ ngộ Kình Dương

Vũ Khúc, Thiên Di lợi thị trường,

Sát, Phá, Liêm Trinh đồng Tả, Hữu

Dương, Linh, Hỏa tú viễn truyền dương (buôn bán to)

- Tật ách, Kình Dương phùng Hao sứ

Triết thương chi cốt (gãy, què) bất hòa bình

- Mão thượng Thái Âm, Kình Dương phùng

Thìn Cung Cự Hỉ, Tử Vi, Đồng

Tuy nhiên hóa cát, phi hoàn mỹ

Nhược phi gia Sát, đáo đầu hung

- Ngọ Cung Tham, cự, Nguyệt, Xương tòng

Dương nhân (Kình Dương) tam hợp tối hiềm sâm,

Tuy nhiên hóa cát cự vi lo,

Hoạnh phát, hoạnh thành, đáo lao cùng.

- Xét cho tường, chốn thủy cung

Kỵ tinh lạc hãm, Khoa, Đồng,

Kình dương Đà đắc địa, Hỏa chiếu phương

Linh tinh hạn gặp tai ương chẳng lành

- Kình Dương mà ngộ Thiên Đồng

Gặp Linh thủa ấy phải cầu hôn nhau.

- Kình tại Ngọ, mã đầu đới kiếm, tương giao sát diệu ư Bính, Mậu nhân, Mệnh vị nan toàn.

Hình, Hổ cư Dần, Hổ đới kiếm hùng, tương phùng Đế cách, ư giáp Kỷ nhân, vụ uy chấn động.

- Giáp, Kỷ nhân, Đế cách hoan phùng, kiêm Hữu Hồng, Xương, Thư, Nhân Kình Dương hạn phùng, tài tăng phúc tiến.

Ất, Tân tuế Văn Đàn hỷ ngộ, gia hữu Hư, Kình, Tuế, Khách hạn lâm hoạnh đạt võ công.

- THẤT SÁT HOẢ DƯƠNG BẦN THẢ TIỆN ĐỒ TỂ CHI NHÂN

Cung Mệnh có Sát hãm địa toạ thủ gặp Hỏa, Tinh, Kình Dương hội hợp là người nghèo hèn làm đồ tể hay hàng thịt.

- THẤT SÁT DƯƠNG LINH, LƯU NIÊN BẠCH HỔ HÌNH NGỤC TAI TRUÂN

Cung Mệnh có Thất Sát toạ thủ Kình Dương, Linh Tinh đồng cung hạn gặp Bạch Hổ tất phải gian nan về hình ngục.

- THẤT SÁT LƯU DƯƠNG NHỊ QUAN PHÙ LY HƯƠNG TẢO PHỐI

Cung Mệnh có Thất Sát toạ thủ có Lưu Hà, Kình Dương đồng cung cung, nhị hợp có Quan Phù tất phải xa quê hương mà thành hôn phối.

- THẤT SÁT THỦ CHIẾU, TUẾ HẠN KÌNH DƯƠNG, NGỌ SINH NHÂN MỆNH AN MÃO DẬU CUNG CHỦ HƯNG VONG

Cung Mệnh an tại Dậu, Mão có Thất Sát toạ thủ hay xung chiều người tuổi Ngọ hạn gặp Thái Tuế, Kình Dương chủ sự thành bại bất thường.

- SÁT KÌNH TẠI NGỌ MÃ ĐẦU ĐỚI KIẾM TƯƠNG GIAO SÁT DIỆU Ư BÍNH, MẬU MỆNH VỊ NAN TOÀN

Cung Mệnh an tại Ngọ có Thất Sát toạ thủ Kình Dương đồng cung, tuổi Bính, Mâu tất chết không thấy thường bị tai nạn về dao súng người có cách này ví như thanh kiếm kề cổ rất độc, nhưng gặp Phượng Các, Giải Thần thì không đáng lo ngại.

- THAM LANG, LIÊM TRINH, PHÁ QUÂN ÁC, THẤT SÁT, KÌNH DƯƠNG, ĐÀ LA HUNG

Cung Mệnh có Tham, Liêm, Phá toạ thủ tất có tình ác, có Thất Sát, Kình, Đà thời hung dữ, các sao kể trên phải cần gặp Khoa, Quyền, Lộc mới hay.

- YẾU ANH PHÙNG NGỌC NỮ GIAI DO CƠ NGỘ KÌNH DƯƠNG

Cung Mệnh có Thiên Cơ tọa thủ gặp Kinh Dương đồng cung như Yến Anh gặp Ngọc Nữ.

- CỰ HOẢ KÌNH DƯƠNG CHUNG THÂN ẢI TỬ

Cung Mệnh có Cự toạ thủ gặp Hỏa, Tinh, Kình Dương hội hợp hạn gặp sao xấu phải thắt cổ mà chết.

- XÉT XEM ĐẾN CHỐN THỦY CUNG KỴ TÍNH YỂM NHẬT ÚY ĐỒNG KÌNH DƯƠNG

Cung Mệnh, Thân an tại Tỵ, Hợi có Thái Dương tọa thủ gặp Hoa Kỳ, Kình Dương tất yểu tử không thì phải mù lòa hạn gặp cáchnày rất nguy hiểm một là cha chết hay đau mắt nặng đến mù.

- ÂM DƯƠNG LẠC HÃM GIA KÌNH KỴ PHU THÊ LY BIỆT

Cung Phu Thê có Thái âm, Thái Dương, Hãm Địa gặp Kình Dương, Hoa Kỵ tất vợ chồng phải chia sẻ.

- LƯU BANG CAM NHẬP BAO TRUNG DO HỮU ÂM DƯƠNG GIAO HUY LA VÕNG KIẾP KHÔNG DƯƠNG NHẬN HẠN ĐÁO.

Hán Cao Tổ Lưu Bang bị ép vào đất Cao Trung vì hạn đến cung Thìn, Tuất gặp Âm, Dương, Kiếp, Không, Kình Dương hội hợp.

- DƯƠNG NHẬN HÃM TU BỊ THIẾT MIẾU VƯỢNG CƯ NHI HÀO KIỆT DƯƠNG DANH

Cung Mệnh có Kình, Hãm Địa tọa thủ là kẻ trộm cắp. Miếu, Vượng, Đắc Địa là kẻ anh hùng danh tiếng.

- MÃ ĐẦU ĐỚI KIẾM PHI YỂU CHIẾT TẮC HÌNH THƯƠNG

Cung Mệnh an tại Ngọ có Kình tọa thủ ví như kiếm kề cỏ ngựa gắp Tuất Sát, Thiên Hình hội hợp nếu không chết non thì cũng bị tù tội hoặc phải tan tát khổ sở.

- KÌNH NGỘ ĐỒNG ÂM, NHI PHÙNG PHƯƠNG GIẢI NHẤT THẾ UY DANH

Cung Mệnh an tại Ngọ có thiên Đồng, Thái âm, Kình Dương tọa thủ đồng cung, gặp Phượng Các, Giải Thần hội hợp là người tài giỏi thao lược uy quyền hiền hách danh tiếng lừng lẫy khác nào Quan Văn Trường đời Tam Quốc.

- MÃ ĐẦU ĐỚI KIẾM TRẤN NGỰ BIÊN CƯƠNG

Cung Mệnh an tại Ngọ, có Kình tọa thủ nếu không bị Sát, Hình xâm phạm và được nhiều sao sáng sủa tốt đẹp như Khoa, Quyền, Lộc, Mã hội hợp lại là người tài ba thao lược, uy quyền hiển hách tiêng tăm lừng lẫy và thường trọng nhằm nơi biên thùy người tuổi Bính Tuất có cách này là kỳ cách các tuổi khác cũng được vinh hiển nhưng sự nghiệp không bền và lại hay mắc tai họa.

- LÝ QUẢNG SỨC ĐỊCH VẠN CHỨNG THỊ HỮU KÌNH DƯƠNG LỰC SĨ.

Lý Quảng cung Mệnh có Kình, Lực tọa thủ đồng cung nên sức khỏe muôn người khôn địch, lập được nhiều công trận hiện hách nhưng không được phong Hầu vì có cách trên.

- KÌNH DƯƠNG NGỘ LỰC SĨ LÝ QUẢNG BẤT HẦU

Cung Mệnh có Kình Dương gặp Lực Sĩ đồng cung như Lý Quảng có công đánh Phiên nhưng không được phong Hầu.

- HÌNH XŨ DƯƠNG ĐÀ HƯỞNG PHÚC Ư NGŨ TUẦN CHI HẬU

Cung Mệnh có Kình, Đà, Miếu, Vượng thì ngoài 50 mới gọi là được hưởng phúc.

- DƯƠNG ĐÀ QUAN PHÙ Ư HÃM ĐỊA LOẠN THUYẾT CHI NHÂN

Cung Mệnh an tại Tý có Kình, Đà gặp Quan Phủ là người ăn nói lung tung không đâu vào đâu.

- LỖ TAI ĐIẾC LÁC ÂU SẦU, DƯƠNG ĐÀ KHÔNG KIẾP MỘT MIỀN MỆNH CUNG

Cung Mệnh có Kình, Đà, Không, Kiếp hội hợp là người điếc lác, ngễnh ngang.

- DƯƠNG ĐÀ PHÙNG MÃ TRỰC XUNG, NHỮNG LÀ ĐÁNH ĐẮC ĐẸP ĐÔNG CHẲNG RỒI

Cung Mệnh áo Kình Dương, Đà La gặp Thiên Mã xung chiếu tất là số nhà binh phải đánh Đông đẹp Bắc mãi không thôi.

- DƯƠNG ĐÀ KỴ NGỘ ÂM DƯƠNG, ẮT SINH ĐỚI TẬT HÌNH THƯƠNG NAN PHÒNG

Cung Mệnh, Thân có Thái âm, Thái Dương lạc hãm tọa thủ gặp Kình Dương, Đà La, Hỏa Kỵ hồi hợp là người mang ác tật.

- DƯƠNG HỎA ĐỒNG CUNG OAI QUYỀN YỂM CHÚNG

Cung Mệnh an tại Tứ, Mộ có Kình Dương, Hỏa, Linh tọa thủ đồng cung là người có uy quyền khiến muôn người phải khiếp sợ người tuổi Thìn, Tuất là thượng cách tuổi Sửu, Mùi là thứ cách.

- DƯƠNG ĐÀ LINH HỎA THỦ THẦN MỆNH YẾU ĐÀ BỐI KHÚC CHI NHÂN

Cung Mệnh, Thân có Kình, Đà, Hỏa, Linh hội hợp là người có tật ở lưng hay bị gù lưng.

- DƯƠNG ĐÀ HỎA LINH PHÙNG CÁT PHÁT TÀI HUNG TẮC KỴ

Cung Mệnh có Kình, Đà, Hỏa, Linh hội hợp nếu được nhiều Cát Tinh quần tụ tất luôn bán có tài lộc nếu bị nhiều sao mờ ám xâm phạm tất suốt đời khổ sở và thường mắc tại đến vong mạng.

- DƯƠNG LINH TỌA MỆNH LƯU NIÊNBẠCH HỔ TAI THƯƠNG

Cung Mệnh có Kình, Linh tọa thủ gặp Bạch Hổ lưu tất niên có tai nạn tang thương rất xấu.

- KÌNH DƯƠNG ĐỐI THỦ TẠI DẬU CUNG, TUẾ, TẤU, DƯƠNG ĐÀ CANH MỆNH HUNG

Cung Mệnh an tại Dậu có Kinh tọa thủ lưu Kình Dương, Đà LA lại gặp Kình, Đà cố định tối hung.

- DƯƠNG ĐÀ LƯU NIÊN LINH PHÁ: ĐIỆN TƯ BẢN LẢNG NHẤT KÌNH HỎA VI VẠ CÁCH

Cung Mệnh có Kình, Hỏa tọa thủ đồng cung hạn gặp Linh, Phá, Kình lưu niên tất phải sa sút nghèo hèn hoặc bị cắt chức hay giáng chức.

- KÌNH DƯƠNG TRÙNG PHÙNG LƯU DƯƠNG, TÂY THI HẠN QUYỀN THÂN

Lưu Kình Dương gặp Kình Dương cố định, như Tây Thi phải tự vẫn mà chết.

- KÌNH DƯƠNG HỎA LINH VI HẠ CÁCH

Cung Mệnh xấu xa mờ ám có Kình tọa thủ gặp Hỏa Linh đồng cung tất đời phải khổ sở không thể quý hiển đàn bà tối kỵ cách này.

- DƯƠNG NHẬN PHÙNG NHẬT NGUYỆT BỊNH TẬT TRIỀN MIÊN Cung Mệnh hay Tật Ách có Kình tọa thủ gặp Nhật, Nguyệt là người có bịnh tật liên miên.

- THỐN KIM KHUYẾT KÌNH DƯƠNG PHẢN HIỀM TAO KHỐN

Cung Thiên đi an tại Dậu có Kình Dương tọa thủ ra ngoài hay gặp nguy khốn.

- TẬT ÁCH KIÊM ĐÀ NHẬN PHẢN MỤC TẬT SẦU

Cung Tật Ách có Kình, Đà tọa thủ là người mù lòa.

- ĐÀ KỴ NHẬN THỦ Ư PHU VỊ, HẠI CHỒNG CON CHƯỚC QUỶ GHÊ THAY

Cung Phu có Đà La, Hỏa Kỵ, Kình Dương là người quỷ quyệt hại chồng hại con.

- DƯƠNG HÌNH RIÊU SÁT CUNG PHU, LẠI GIA LINH HỎA VỢ LO GIẾT CHỒNG

Cung Phụ có Kình Dương, Hãm Địa tọa thủ gặp Thiên Hình, Thiên Riêu, Thất Sát lại thêm Linh, Hỏa hội hợp đàn bà là người hung dữ, ghen tuông có thể giết chồng.

- DƯƠNG ĐÀ BỆNH ẤY PHÒNG MÒN, TUẾ ĐÀ VẠ MIỆNG UẤT NGÔN CHIÊU NÀN

Cung Tật Ách có Kình Dương, Đà La tất bị bịnh sát mòn gầy yếu có thái Tuế, Đà La thì bị tai họa về miệng tiếng, thị phi.

- ĐÀ NGỘ KỴ CHẲNG LÀNH CON MẮT KỴ PHÙNG DƯƠNG MỤC TẤT THONG MANH

Cung Tật Ách gặp Kình Dương, Đà La, Hỏa Kỵ, tất bị đau mắt có khi mù lòa.

- KÌNH DƯƠNG HỎA LINH OAI QUYỀN XUẤT CHÚNG; ĐỒNG HÀNH THAM VŨ ÁP BIÊN DI

Cung Mệnh an tại thìn, Tuất, Sửu, Mùi có Kình, Hỏa tọa thủ nên có uy quyền hiển hách nếu lại gặp Tham, Vũ đồng cung là người tài giỏi trấn nhậm biên giới khiến quân dịch phải khiếp sợ.

- MỆNH DƯƠNG ĐÀ GIA KIẾP THỌ GIẢM

Cung Mệnh có Kình hay đà tọa thủ nếu gặp Địa kiếp hoặc Kiếp Sát đồng cung tất tuổi thọ bị triết giảm.

- KÌNH HƯ TUẾ KHÁCH GIA LÂM MÃN TUẾ ĐA PHÙNG TANG SỰ

Cung Mệnh có Kình tọa thủ gặp Hư, Tuế, Khách hội hợp nên suốt đời gặp những chuyện phiền lòng ngang trái đàn ông phải khóc vợ, đàn bà phải khóc chồng hoặc phải xa cách cha mẹ, anh em.

- PHÚC TỌA THIÊN LA ƯU KIẾN SÁT, ĐÀ, KÌNH PHÁ HỎA, TANG, TỬ KIẾP THỊ NHƯỢC SUY CỐT TÁN TÀI HAO; XUẤT NGOẠI VÔ ÂM TỬ LÔ HẠNH LAI NHẬT NGUYỆT CƠ LƯƠNG XƯƠNG TUẾ: HỒNG BẬT DANH BA ĐINH TỬ QUÝ QUYỀN ; BẤT ĐẮC CHUYỂN ĐI

Cung Phúc đức an tại Thìn có Kình, Đà, Kiếp, Sát, Địa, Kiếp, Phá, Hỏa, Tang, Tử hội hợp tất hài cốt tiền nhân bị thất lạc tiền, tài hao hụt trong họ lại có kẻ lưu lạc chết nơi xứ người nhưng nếu được Nhật tọa thủ Nguyệt chiếu hoặc Cơ, Lương tọa thủ đồng cung Xương, Tuế hội hợp tất con cháu làm nên phát đạt danh tiếng lừng lẫy đời đời vinh hiển.

- KÌNH ĐÀ TƯƠNG GIÁP MỆNH PHÁ ĐIỀN TRẠCH Ư PHU QUÂN

Nữ số cung Mệnh xấu xa mờ ám lại giáp Kinh giáp đà tất phá tan cơ nghiệp nhà chồng.

- KIẾP KHÔNG PHỤC BINH PHÙNG DƯƠNG NHẬN LỘ THƯỢNG KIẾP ĐỒ

Cung Mệnh xấu xa mờ ám có Kiếp, Không tọa thủ gặp Phục Binh, Kình Dương hội hợp là phường côn đồ, kẻ cướp.

- MỆNH KIẾP THÂN KHÔNG NHI GIAO ĐỒNG NHÂN Ư TUẾ MỆNH LẠC CHÍNH TÌNH, TIỀN ĐỒ ĐA KHỔ NHI HỮU ÂM DƯƠNG, ĐẾ DIỆU MỆNH THÂN, CHUNG NIÊN PHÚC HỌANH SINH TÀI

Cung Mệnh có Chính Tinh lạc hãm tọa thủ gặp Kiếp đồng cung Thân có Không tọa thủ gặp Hồng Loan,Kình Dương hội hợp nên tiền vận phải vất và, nhưng nếu được Nhật, Nguyệt sáng sủa và Tử, Phủ hội hợp, Mệnh, Thân tất suốt đời được hưởng phúc, giàu sang hơn người.

- NGÁN THAY LỘC MÃ CÙNG LƯU, DƯƠNG ĐÀ KỴ NHIỆT MẤT ĐAU PHẢI PHÒNG

Lưu, Lộc Tồn, Thiên Mã gặp Kình Dương, Đà La, Hóa Kỳ, Thái Dương tất phải đề phònng bệnh đau mắt.

- LUẬN MỆNH TẮC SUY TINH THIỆN ÁC, CỰ PHÁ KÌNH DƯƠNG TÍNH TẤT CƯƠNG

Phàm xem Mệnh phải xem Sao thiện Sao ác như thế nào nếu có Cự Môn, Phá Quân hay Kình Dương tọa thủ là người hiên ngang can trường và anh hùng.

- Kình dương, Hỏa tinh oai quyền xuất chúng, đồng hành Tham, Vũ uy yếm ưu di. (Kình Dương ngộ Hỏa ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi hoặc Tham, Vũ, anh hùng xuất chúng, nhưng vẫn có người ghét)

- Văn Xương, Văn Khúc ở Nô bộc mà ngộ Kình, Đà, Thất Sát thì yểu tử.

- Cự, Hỏa, Kình Dương chung thân ải tử

- Phàm xem Mệnh người ta, phải xem sao thiện, sao ác thế nào nếu mà có các sao Kình Dương, Phá Quân và Cự Môn đắc địa thì tính nết người ấy tất hiên ngang, can trường và anh hùng.

- Mệnh Hàn Tín cư Ngọ Tướng Liêm Kình Dương ; hạn đến cung Thìn gặp Tham, Linh, Đà La bị Lã Hậu giết.

hoahoanglan
28-09-2005, 11:52 PM
Tìm hiểu thêm về Cách: MÃ ĐẦU ĐỚI KIẾM


1) ...Phi yểu chiết tắc hình thương.

Trước tiên ta cần phân biệt điểm dễ nhầm lẫn của cách này (dĩ nhiên với người mới học Tử vi như tớ thui á!).

Kình dương cư Ngọ - hãm địa. Hoá khí là Hình. Về tượng thì có nhiều nghĩa nhưng ở nghĩa xấu nhất là tượng thanh đao kề cổ ngựa (Ngọ cung). Có thể hiểu nôm na là cách này mang đậm chất nguy hiểm vì luôn rình rập khả năng xảy ra tai nạn, hình thương cho đương số!

Ở thế cư Ngọ, có hai chính tinh mạnh mẽ nhất về độ cứu giải là Tử vi và Thiên Lương (đều miếu địa khi đóng chỗ này) còn phải e dè, kiêng sợ tính chất hãm của Kình Dương. Trên diễn đàn đã có ít nhất 1 lần chủ đề này được đề cập đến, tớ không nhắc lại nữa. Chỉ cần hiểu một cách đơn giản là ở thế này, Kình Dương tiềm tàng tính hung và dễ dàng gây hoạ - gây hoạ thậm chí khi người mang nó đang trên đỉnh cao nhất của thành công! Nhưng ở đây, Kình Dương vẫn chỉ dừng ở mức là tín hiệu. Như đã đề cập đến ở trên, bản chất của Kình Dương là biểu hiện của tình trạng phát triển cao độ, là sự thái quá... nhưng nó mang tính tích cực trước đã! Ở Mão, Dậu mới thật sự là xấu theo đúng nghĩa "hãm" - nghĩa là thất bại, là xấu xa, là bất đắc chí... còn ở Ngọ, nó ko mang tính "bại" mà lại mang tính "hung" - từ "hung" mà gây ra "hoạ" vậy!

Tại sao Kình Dương lại mang tính tích cực trước đã? Vì cũng giống như 5 sao còn lại trong bộ Lục sát - Kình Dương có cường độ càn lướt quá cao. Cái cường độ đó có hai mặt lợi và hại. Một sự thành công thật sự không thể có được dựa trên cơ sở của một sự êm đềm, bằng phẳng, hay nói cách khác một sự thành công luôn phải đi cùng với một sự trả giá tương ứng (chất xám, mồ hôi, nước mắt, sự nhẫn nhục... thậm chí còn nhiều hơn thế!). Trong đó, sự cứng rắn và quyết đoán của Kình Dương, sự lầm lì ngang ngạnh của Đà La, sự táo bạo và thần tốc của Không Kiếp, sự linh hoạt và thăng hoa của Hoả Linh là tối cần thiết! (Có nhiều câu phú nói về những cách cục hoạnh phát hoạnh... phá, bạo phát bạo tàn của bộ Lục sát tinh này - trong sách TVĐSTT của cụ Vũ Tài Lục chẳng hạn)... đó là mặt lợi.

Mặt hại được thể hiện chủ yếu sau khi đạt được thành công mặc dù trong quá trình xảy ra trước đó (trên con đường dẫn đến thành công) - nó cũng đã tiềm ẩn mặt hại rồi! Trong các sách Tử vi, có thể đọc thấy những tính chất về các tác hại, sự hung hoạ, sự tàn phá... ghê gớm như thế nào của bộ Lục sát tinh. Tớ không cần phải nhắc lại nữa. (Lan man quá, đi lạc đề rồi!)

Tóm lại là Mệnh ở Ngọ có Kình Dương - có thể gọi là cách "Mã đầu đới kiếm". Nhưng:

Chỉ khi nào ở đó, chính tinh thủ Mệnh là Thất Sát và gặp cả Thiên Hình hội hợp nữa mới xét đến nửa vế sau: "phi yểu chiết tắc hình thương".

Và ý này cũng chỉ đúng khi Phúc cung quá xấu và đồng thời, đương số lại cũng là người quá tệ trong việc tạo Phúc!

Xin bổ sung một chút: Có ý cho rằng tuổi Bính - Kình Dương cư Ngọ độc hơn các tuổi khác! Không phải!

E rằng đó là do nhầm lẫn trong việc luận giải câu phú. Bởi vì, theo nguyên lý an sao Kình Đà, tuổi Bính Mậu bao giờ Lộc Tồn chả ở Tỵ - theo nguyên tắc tiền Kình hậu Đà - Kình Dương bao giờ chả cư Ngọ! Tuổi khác lấy đâu ra?

Vì vậy, tuổi Bính - Kình Dương cư Ngọ là lẽ đương nhiên. Thành thử ý này thành ra là... thừa! Hihihi, còn ba cái vụ can Bính hoá Tù nên càng xấu thì không dám chắc đâu à! Can nào cũng hoá Tù được hết á!

Vậy là đến đây có thể tạm kết luận, cách "Mã đầu đới kiếm" thật ra chả có gì quá đáng sợ như mọi người vẫn nghĩ (xin nhắc lại, những người hồ đồ mới học TV như tớ thui á). Để tập hợp đầy đủ các nhân tố để tạo nên cái thế "phi yểu chiết hình thương" cũng còn... mệt! Không phải cứ thích là được đâu! Hihihi

Vấn đề là, mỗi người cần phải biết cái ngưỡng của chính mình. Nên dừng lại đúng chỗ đúng lúc thì chẳng lo hoạ hại! Nói như thế, lại nảy sinh vấn đề làm thế nào để dừng được đúng chỗ đúng lúc? Nó chính là cái TÂM THIỆN cần phải TU, cái PHÚC ĐỨC cần phải TẠO. Cái đó tuỳ thuộc vào mỗi người. Nói nôm na, luật Nhân Quả không trừ một ai. Vậy thôi, hihihi...

Ghi chú: Tại sao có thêm Thất sát, Thiên Hình hội hợp lại tạo nên cách xấu? Tớ xin phép không lạm bàn đến bởi nó quá dài dòng. Vả lại, tính chất của Thất sát, Thiên hình khi nó đóng Mệnh khi nó đắc, hãm và sự kết hợp của chúng với nhau... như thế nào - có thể tham khảo ở rất rất nhiều sách TV, nói đi nói lại cũng bằng thừa!

2) ... Trấn ngự biên cương.

hoahoanglan
28-09-2005, 11:53 PM
LUẬN VỀ SAO THÁI DƯƠNG (trích Tử vi tinh điển - Vũ Tài Lục)


Thái Dương ý tượng là mặt trời. Cổ ca trong ĐSTT viết: “Từ ái khoan đại. Phúc thọ hường hà linh.” (Lòng từ thiện, quảng đại, tuổi thọ lâu dài). Thái Dương ví như mặt trời chiếu sáng cho cạn vật. Cây cỏ đất đai - người và vật không thể sống nếu thiếu ánh nắng mặt trời. Nhưng vạn vật lại không hề mảy may phải đền đáp cái ân tình đó, Thái Dương chỉ cho đi thôi mà không nhận lại bao giờ.


Thái Dương mặt hóp thân gầy
Thông minh tươm tất thảo ngay hiền hoà


Câu phú nôm trên - dĩ nhiên - không thể nào mà nói hết được tấm lòng bao dung của Thái Dương. Khi đã hiểu rõ bản chất của Thái Dương, lại ngẫm đến Thái Âm thì thấy rằng “những hành động của Thái Dương thường là với tinh thần và mục đích là để phục vụ, để trợ giúp, trong khi đó, Thái âm thì lại thường hành động vì tư lợi bản thân” . Vì vậy cố nhân mới nói rằmg Thái Dương “Quý nhi bất Phú” còn Thái Âm thì bản chất đặc sệt mang tính chất của một tài tinh - cái TÂM của Thái Âm thường là ưa hưởng thụ, ưa vơ vét.


Thái Dương thủ mệnh thì làm những công việc, nghề nghiệp như hành chính, y khoa hoặc công tác xã hội thì hợp và thường có thể đạt địa vị khá cao. Nhưng buôn bán kinh doanh hoặc làm những việc gì cần mưu lợi, thủ đoạn lại thường rất dở. Trong khi đó, Thái Âm dễ dàng làm kinh doanh, đoạt lợim thủ lợi không hẳn vì Thái Âm quá xảo quyệt mà là vì bản chất của Thái Âm là tham lam hơn mà thôi!


Thái Dương chủ về chữ QUÝ cho nên khi đoán Thái Dương thủ mệnh cần phải căn cứ trước tiên là yếu tố chức vị, danh vọng. Không phải lúc nào bất PHÚ cũng là nghèo. Có thể thấy một điều kiện tiên quyết là một khi có chức quyển, địa vị càng cao thì khả năng xiền vào như nước, tiền bạc xông xênh cũng trở nên dễ dàng hơn rất nhiều. Bất phú ở đây - có thể hiểu một cách đơn giản là - không phải tự mình làm nên giàu, có vậy thôi. Tuy nhiên, với trường hợp Thái Dương đắc địa đóng cung Tài thì ý nghĩa lại khác. (Xét sau).


Thái Dương rất cần đắc địa trở lên thì ánh sáng mới quang minh, mạnh mẽ và có sức sống. Thái Dương đóng Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ là mặt trời rực rỡ buổi trưa, còn Thái dương đóng Dậu, Tuất Hợi ví như mặt trời buổi đêm đã mất quang huy, mất sức sáng đi rất nhiều rồi.


Ngoài đứng đúng chỗ, Thái Dương còn đòi hỏi người mang số Thái Dương phải sinh ban ngày mới là hợp cách. Sinh ban đêm thì độ đẹp bị giảm đi. Cụ thể là nếu sinh ban ngày thì dù Thái Dương có hãm địa cũng còn được bán cát bán hung, còn sinh ban đêm mà Thái Dương lại hãm thì tuyệt đối là hung luôn!


Thái Dương được cổ nhân gọi bằng “trung thiên chi chủ” (chủ tinh giữa trời), giống sao Tử Vi cần bách quan tề tựu. Tất nhiên không bao giờ có Thiên Phủ Thiên Tướng triều củng.


Cách đẹp là Thái Dương đóng ở Thìn hội chiếu Thái Âm đóng ở Tuất, gọi là Nhật Nguyệt song huy hay Nhật Nguyệt tịnh minh. Thái Dương thuộc Hoả, quang minh chính đại, thông minh uyên bác, tài hoa.


Trong ngũ hành trí tuệ Thuỷ có sự khác biệt nhau.


Trong hàng ngũ các sao, sự đa tài của Thái Dương cũng vậy, khác với sự đa tài của Thiên Cơ.


- Trí tuệ của âm Mộc thâm trầm.

- Trí tuệ của dương Hoả quang minh, phát lộ.


Thái Dương đa tài về mặt biểu hiện làm chính trị, ra đám đông hoặc vào biểu diễn như ca nhạc, kịch nghệ là hợp cách. Còn như đối với Thiên Cơ, sự đa tài lại thể hiện với những kế hoạch trong bóng tối, làm chính trị ở địa vị nghiên cứu, phân tích hoặc vào thuật số âm dương viết văn là hợp cách.


Thái Dương thuộc Bính Hoả mãnh liệt, hoá khí là “QUÝ” chứa chất phản kháng tính. Phá Quân cũng phản kháng nhưng thường có khuynh hướng phản nghịch! Sự khác nhau đó có thể lý giải như sau: Thái dương vốn dĩ có bản chất là quang minh, đường đường chính chính - khi thấy những điều nghịch lý, chướng tai gai mắt thì sẽ phản ứng liền - đó chính là bật lại trung tâm - tuy nhiên - với bản chất đường hoàng, tuân thủ nguyên tắc rõ ràng của Thái Dương - ko bao giờ có chuyện Thái Dương quá đà đến mức sa vào phản đồ, nghịch chúa! Trong khi đó, Phá Quân bản chất là cương mãnh, phá tán - nhiều khi chỉ làm theo ý mình mà ko thèm để ý đến ý người, hành xử baọ tháo, bất chấp nguyên tắc, luật lệ - đó chính là nguyên do tại sao khi mà Phá Quân trượt vào tình trạng quá khích sẽ trở thành phản nghịch!


Thái Dương đóng cung Quan lộc đắc địa ý niệm khai sáng mở lối cao và vững. Một ngành nào đang trên đà xuống dốc mà được vào tay người Thái Dương đóng Quan lộc thì khả dĩ sẽ hưng thịnh trở lại. Thái dương đóng Tài bạch thì dễ có tiền nhưng đồng thời cũng thích thể hiện, phô trương tiền bạc qua cách ăn mặc, tiêu xài, trưng diện …


Mệnh Thái Dương có một cách đặc biệt - ấy là Thái Dương thủ Mệnh tại Hợi. Tại Hợi cung - dĩ nhiên - Thái Dương là phản bối rồi! Lúc này Thái Dương không còn vẻ rực rỡ, huy hoàng - tương ý là mặt trời đêm. Thái Dương tại Hợi sẽ đi vào một trong hai tình trạng (có thể nó là cực đoan) : hoặc hay vô cùng, hoặc dở vô cùng; rất thuận lợi hoặc rất khốn khó.


Thái Dương đóng Hợi nếu có sự trợ giúp của Xương Khúc, Tả Hữu, Khôi Việt thì tuy rằng là thát huy nhưng vẫn còn được cải thiện hơn rất nhiều, còn có thể có được một đời sống khá dễ dãi. Thái Dương cư Hợi lại hay vô cùng nếu như nó gặp Thiên Mã Hoá Lộc, Lộc Tồn tức là cách Lộc Mã giao trì. Người có cách này nếu bỏ xứ quê mà đi nơi phương xa làm ăn, dựng nghiệp thì tất sẽ phấn đấu để mà đạt được thành công, phú quý.


Thái Dương tại Hợi theo Phú được gọi là cách Nhật trầm thuỷ để (mặt trời đáy nước) - nếu có Lộc Mã giao trì lại đắc thêm cả bộ Binh Hình Tướng Ấn thì ăn to vào thời loạn. Chư tinh vấn đáp viết: “Thái Dương được các cát tinh khác thủ hay chiếu, rồi lại có Thái Âm đồng chiếu thì giàu sang đủ cả… Nếu Thân cung Thái Dương đắc địa mà gặp nhiều cát tinh khả dĩ đi làm môn hạ khách chốn công hầu, hoặc làm dân chạy cờ cho bậc công khanh ”.


Thái Dương đóng Mệnh với Thái Dương đóng Thân rõ ràng tạo ra những nét ảnh hưởng khác biệt một cách rõ rệt! Một đằng tự mình gây dựng phú quý, còn một đằng chỉ làm môn hạ khách ở nơi cửa quyền. Trừ phi ở Mệnh cung tự nó đã có một cách tốt riêng. Trường hợp Thân cư Phối thì số gái lấy chồng sang, số trai được vợ giàu sang hoặc gia đình nhà vợ thế lực nâng đỡ, nhờ vả nhà vợ mà lên to.


Thái Dương ưa Xương Khúc và sợ Hoá Kỵ. Có lý luận cho rằng Thái Dương đắc địa gặp Hoá Kỵ càng tốt - Hoá Kỵ như đám mây ngũ sắc khiến Thái Dương càng thêm rực rỡ. Không phải vậy, Thái Âm đắc địa gặp Hoá Kỵ thì Hoá Kỵ khả dĩ biến thành đám mây ngũ sắc chứ còn đối với Thái Dương thì không. Hoá Kỵ là đám mây đen, là ám tinh trong khi tính chất căn bản của Thái Dương là quang minh, quang với ám chẳng thể hợp cùng. Nhất là mệnh nữ Thái Dương mà có Hoá Kỵ tất nhiên hôn nhân gãy vỡ, lúc nhỏ mồ côi cha mẹ hoặc sớm cách, hoặc thiếu thốn tình cảm phụ tử… vì Thái Dương Hoá Kỵ như thế hoàn toàn bất lợi với những người thân thuộc nam tính. Ngoài ra, đương số còn có thể bị xảy thai, truỵ thai.


Thái Dương hãm hội Riêu Kỵ Hình hoặc Kình Đà khó tránh khỏi bệnh tật ở đôi mắt.


Kình Đà Riêu Kỵ phá xung

Lại là đôi mắt chẳng mong được cùng

Kình Đà Riêu Kỵ khá kinh

Ắt là mắt chịu tật hình không ngoa

(Gặp Riêu Kỵ hoặc Kình Đà hay Hoả Linh thì cũng thế) .


Thái Dương thủ mệnh còn 1 cách cục trọng yếu khác là: Nhật chiếu lôi môn - tức Thái Dương đóng tại Mão. Mão thuộc cung Chấn. Chấn vi lôi (sấm sét). Khi đóng Mão tất nhiên Thái Dương đứng cùng Thiên Lương. Cách Nhật chiếu lôi môn tuyệt đối tốt nếu như hội cùng với Thái Âm ở Hợi cùng với Hoá Lộc, thêm Văn Xương Văn Khúc càng đẹp lắm, nhất là đối với chuyện thi cử khoa bảng. Như phú viết: “Dương Lương Xương Lộc, lô truyền đệ nhất danh” . (Dương Lương Xương Lộc loa gọi tên người đỗ đầu).


Ở thời hiện đại, cách Dương Lương Xương Lộc có thể là nhà phát minh, người làm những cuộc nghiên cứu nổi danh, hoặc một vđv thể thao danh tiếng… Cách Dương Lương Xương Lộc phải là Thái Âm đi với Hoá Lộc chiếu qua mới là hợp cách. Nếu Hoá Lộc đứng ngay bên cạnh Thiên Lương thì lại kém hẳn! Tại sao? Vì quan hệ Thiên Lương với Hoá Lộc không ổn thoả (sẽ bàn sau khi luận về Thiên Lương).

hoahoanglan
28-09-2005, 11:54 PM
Về cách Thái Dương gặp Cự Môn tức cách “Cự Nhật đồng lâm Dần Thân”, sẽ xét sau khi tìm hiểu đến sao Cự Môn. Ngồi ra còn các cách: Nhật Nguyệt đồng lâm Sửu Mùi, Nhật Nguyệt chiếu bích, Nhật Nguyệt tịnh minh…


Cách Nhật Nguyệt tịnh minh gồm có Thái Dương tại Thìn, Thái Âm tại Tuất hoặc Thái Dương tại Ty. - Thái Âm tại Dậu. Cách Nhật Nguyệt tịnh minh , cũng giống như các cách khác cần Tả Hữu, Xương Khúc, Khoa Quyền Lộc. Học hành thi cử đỗ đạt bậc cao, địa vị xã hội vững vàng, quyền lực chắc chắn. Nếu bớt đi những phụ tinh hoặc có mà không đủ bộ thì sẽ kém hơn chút. (Tuy nhiên, không tính những cách đặc biệt - Biệt cách).


Về Nhật Nguyệt đồng cung Sửu Mùi, nếu Mệnh VCD thì rõ ràng Nhật Nguyệt ở Sửu chiếu Mệnh ở Mùi hoặc ngược lại. Có thể căn cứ điều đó dựa vào câu Phú sau: “Nhật Nguyệt thủ bất như chiếu” . Ngoài ra, ta còn có thể tham khảo thêm 1 số câu phú khác về Nhật Nguyệt đồng cung:


Nhật Nguyệt đồng Mùi, Mệnh an Sửu hầu bá chi tài

Nhật Nguyệt Mệnh Thân cư Sửu Mùi, tam phương vô cát phản vi hung.

Trong 2 câu Phú trên, cách ở trên là cách Nhật Nguyệt chiếu, còn cách dưới là Nhật Nguyệt đồng cung thủ Mệnh, Thân.

Rồi lại có câu:

Mấy người bất hiển công danh
Bởi chưng Nhật Nguyệt đồng tranh Sửu Mùi.



Nhật Mão Nguyệt Hợi Mệnh Mùi cung, đa triết quế.

Nghĩa là Mệnh an tại Mùi VCD được Nhật ở Mão chiếu qua, Nguyệt ở Hợi chiếu lên thì học hành đỗ đạt cao, lấy vợ giàu sang phú quý.


Thế còn trường hợp Thái Dương đắc địa mà gặp Hố Kỵ thì thế nào?? Ví dụ Thái Dương tại Tỵ thì Cự Môn đương nhiên tại Hợi rồi, nếu có Hố Kỵ hợp với Cự Môn ắt hẳn xấu, tranh đấu cho sự thành công sẽ trở nên khó khăn, vất vả hơn gấp bội. Thái Dương đắc địa mà gặp Hố Kỵ thì dễ bị chiêu ốn, cho nên, nếu đi vào ngành Luật, Tồ án, Kiểm sát hoặc Cảnh sát thì dễ dàng phù hợp và có nhiều đất sống hơn so với những ngành khác.


Về sao Thái Dương còn có những câu Phú khác đáng để suy ngẫm như:

Nhật Nguyệt Dương Đà khắc thân (Nhật Nguyệt đ.c gặp Kình Dương/ Đà La thì phần lớn xung khắc với người thân).

Nhật Nguyệt Tật ách, Mệnh cung Không, yêu đà mục cổ (Nghĩa là Mệnh hoặc Tật ách có Nhật Nguyệt đồng cung bị Tuần Triệt Không vong thường dễ bị tật ở mắt hoặc ở sống lưng.).

Cổ ca còn có câu: Thái dương đắc địa được sao Thiên hình đắc địa dễ phát về võ nghiệp.



SƯU TẦM MỘT SỐ CÂU PHÚ VỀ SAO THÁI DƯƠNG:

- Nhật Nguyệt phản bối hà vọng thanh quang, tối hỉ ngoại triều Khơi Việt (Thái Dương Thái Âm hãm tất tối ám, nhưng nếu được Khơi Việt tụ vào Mệnh thì lại là người có khả năng thông tuệ đặc sắc).

- Nhật, Nguyệt lạc Mùi cung, vi nhân tiền cần hậu lãn. (Thái Dương hoặc Thái Âm đóng tại Mùi, làm việc lúc đầu chăm chỉ lúc sau vì lười mà bỏ dở).

- Dương Âm Thìn Tuất, Nhật Nguyệt bích cung. Nhược vô minh không diệu tu cần. Song đắc giao huy nhi phùng Xương Tuế Lộc Quyền Thai Cáo Tả Hữu nhất cử thành danh chúng nhân tơn phục. (Thái Dương ở Thìn, Thái Âm ở Tuất là cách Nhật Nguyệt đắc địa ở bích cung, bích là bức vách chỉ ý chí, Thìn Tuất là Thổ, ngược lại nếu Thái Dương tại Tuất, Thái Âm tại Thìn thì cần gặp Tuần Triệt Thiên Không Địa Không để đảo lộn thế hãm. Đã song huy rồi mà gặp cả Xương Tuế Lộc Quyền Tả Hữu Thai Cáo thì danh phận phấn phát sớm chiều).

- Nhật Nguyệt Sửu Mùi, âm dương hỗn hợp, tự giảm quang huy, kỵ phùng Kiếp Triệt (Nhật Nguyệt đóng Sửu hay Mùi nơi Mệnh cung, cả hai đều giảm đi vẻ rực rỡ và rất sợ gặp 2 thằng Địa Kiếp và Triệt không).

- Nhật Nguyệt Khoa Lộc Sửu cung, định thị phương bá công. (Nhật Nguyệt đồng cung tại Sửu cùng đóng với Khoa Lộc thì có thể sẽ được vinh hiển).

- Nhật Nguyệt Mệnh Thân cư Sửu Mùi, tam phương vô cát phản vi hung. (Mệnh Thân Sửu Mùi có Nhật Nguyệt đồng cung toạ thủ mà các cung tam hợp chiếu ko gặp sao nào tốt thì là Mệnh “ô mai sấu” - cả đời sẽ chẳng nên cơm cháo gì!).

- Nhật Nguyệt chiếu hư không, học nhất tri thập. (Mệnh VCD được Nhật Nguyệt miếu vượng hợp chiếu thì học một biết mười)!

- Giáp Nhật giáp Nguyệt cận đắc quý nhân (Mệnh giáp Nhật Nguyệt đắc địa thường được gần cận bậc quý nhân) .

- Nhật lạc nhà cung, sắc thiều xuân dụng (Mệnh có Thái Dương hãm thì vẻ mặt thường buồn bã, nhăn nhĩ).

- Nhật tại Tỵ cung, quang mỹ huy thiên, kiêm lai Lộc Mã Tràng Tồn Phụ Bật, thế sự thanh bình vi phú cách, nhược kiêm Tướng Ấn Binh Hình vô lại Tuần Triệt loạn thế công thành (Mệnh ở Tỵ có Thái Dương toạ thủ. Ánh sáng rực rỡ, đứng cùng Lộc Mã Tràng Sinh hoặc Lộc Tồn, Tả Hữu thì thời bình sẽ là người giàu có ; nếu đi cùng Tướng Quân, Quốc Ấn mà ko gặp Tuần Triệt thì thời loạn ắt gặp thành công lớn!)

- Nhật cư Hợi địa, Nhật trầm ải nội, ngoại củng tam kỳ, Tả Hữu Hồng Khơi kỳ công quốc loạn dị viên thành, hoan ngộ Long Phượng Hổ Cái bất kiến sát tinhthế thịnh phát danh tài (Thái Dương thủ Mệnh ở Hợi, ví như mặt trời lặn xuống biển, nếu được Khoa Quyền Lộc và Tả Hữu Hồng Loan Thiên Khơi ở đời loạn hay lập công lạ. Nếu được bộ Tứ Linh LPHC mà ko gặp sát tinh thì vào thời binh đao ắt nổi danh là người tài cao).

- Thái Dương tại Thuỷ, Nhật trầm thuỷ để loạn thế phùng quân, mạc ngơộsát tinh tu phịng đao nghiệp (Thái Dương đóng Hợi thủ Mệnh tức là cách Nhật trầm thuỷ để, thời lạo phị giúp quân vương lập chiến công, nhưng nếu bị sát tinh thì khĩ tránh khỏi hoạ binh đao).

- Nhật lệ trung thiên, ái ngộ Hình Tang Hổ Khốcvận lâm (Thái Dương đóng Ngọ thủ Mệnh, cần gặp vận Thiên Hình, Tang Mơn, Bạch Hổ, Thiên Khốc công thành danh toại nguyện).

- Nhật Nguyệt vô minh thi phùng Riêu Kỵ Kiếp Kình ư Mệnh Giải, tật nguyên lưỡng mục (Nhật Nguyệt hãm địa mà gặp Thiên Riêu, Hố Kỵ, Kình Dương, Địa Kiếp ở Mệnh, Tật cần đề phịng có ngày gặp hoạ mà hư mắt ).

- Nhật Nguyệt nhi phùng Hình Hoả, thân thiểu bạc hình (Mệnh có Nhật Nguyệt mà gặp Thiên Hình, Hỏa Tinh thì dáng gày gị, mình hạc xương mai).

- Xét xem đến chốn thuỷ cung
Kỵ tinh yểm Nhật uý đồng Kình Dương (Thái Dương hãm ở Hợi Tí mà lại gặp Kình Dương là rất xấu!).

- Nhật Nguyệt gặp Đà Linh chốn hãm
Hố Kỵ gia mục ám thong manh (Nhật Nguyệt hãm ở Hợi Tí mà gặp Đà La, Linh Tinh lại thêm Hố Kỵ thì mắt hỏng, mắt thong manh).

- Tính ưa lếu láo những khinh Phật Trời (Thái Dương hãm thủ Mệnh mà lại gặp sao Thiên Tài thì tính tình lếu láo, ưa nhạo báng).

- Mấy người phú quý nan tồn
Bởi dịng ô thỏ đóng miền sát tinh. (Giàu sang phú quý ko bền, lúc lên voi xuống chĩ đấy là do Nhật Nguyệt đi cùng với hung sát tinh).

- Con em xa khứ xa hồn
Bởi vì Nhật Nguyệt chiều miền Ô cung. (???)

- Nhật chiếu lôi môn, Tý, Thìn, Mão địa hoạch sinh phú quý thanh Dương.

- Thái Dương cư Ngọ, Canh, Tân, Đinh, Kỷ nhân phú quý song toàn.

- Thái Dương, Văn xương tại Quan lộc, Hoàng diện triều ban.

- Thái Dương, Hóa kỵ thị phi nhật hữu mục hoàn thương (cũng có ngày đau mắt).

- Nhật lạc Mùi, Thân tại Mệnh vị, vi nhân tiên cần hậu lãn (hay chóng chán).

- Nữ Mệnh đoan chính Thái Dương, tính hảo phố hiền, phu tín khả phùng.

- Thái Âm cư Tý, Bính Đinh phú quý trung lương.

- Thái Dương đồng Văn Khúc ư thê Cung, thiềm Cung triết quế.

- Thái Dương, Thái Âm cũng chiếu cách.

- Nhật, Tỵ, Nguyệt Dậu, Sửu Cung Mệnh, Bộ thiềm Cung.


- Nhật Mão, Nguyệt Hợi, an Mệnh Mùi Cung, đa triết quế.

- Nhật, Nguyệt, đồng Mùi, Mệnh an Sửu, hầu bá chi tài.

- Nhật, Nguyệt Mệnh, Thân cư Sửu, Mùi, tam phương vô cát phản vi hung.

- Nhật, Nguyệt thủ Mệnh, Bất như chiếu hợp tịnh minh.

- Nhật, Thìn, Nguyệt, Tuất, tịnh tranh quang quyền lộc phi tàn.

- Nhật, Nguyệt giáp Mệnh, giáp Tài gia cát diệu, bất quyền tắc phú.

- Nhật, Nguyệt tối hiềm phản bối.

- Âm, Dương, Tả, Hữu hợp vi giai.

- Nhật, Nguyệt, Dương, Đà đa khắc thân (phụ mẫu).

- Nhật, Nguyệt hãm xung, phùng ác sát, lao lực, bôn ba.

- Nhật, Nguyệt cánh tu Tham, Sát hội, nam đa gian đạo, nữ đa dâm.

- Nhật, Nguyệt tật ách, Mệnh Cung không yêu đà mục cổ (quáng gà).

- Thái Dương thủ Mệnh hãm bình thường, ư Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ không gặp Sao sát, thời vượng phu ích tử.

- Nhật trầm Thủy để (Thái Dương cư Hợi) thị văn chương

- Cơ, Nguyệt, Thiên Lương hợp Thái Dương
Thường nhân phú túc chi điền trang
Quan viên đắc ngộ Khoa, Quyền, Lộc
Chức vị cao thiên diện Đế Vương


- THÁI DƯƠNG NAM MỆNH

Mệnh lý Dương phùng Phúc, Thọ năng (nhiều phúc)
Cánh kiêm Quyền, Lộc lưỡng tương phùng
Khôi, Xương tả, Hữu lai tương tấu
Phú quý song toàn tỉ Thạch Sùng
Nhật, Nguyệt Sửu, Mùi Mệnh trùng phùng,
Tam phương vô hóa phúc tuy phong;
Cánh hữu cát tinh vô bất Mỹ
Nhược phùng sát tấu nhất sinh cùng
Thất hãm Thái Dương cư phản bối
Hóa kỵ phùng chi đa tắc muội (mờ ám)
Hựu tào hoành sự phá gia tài
Mệnh cường Hóa Lộc dã vô hại


- THÁI DƯƠNG NỮ MỆNH

Thái Dương chính chiếu phụ nhân Thân
Bà mạo thù thường tính cách trinh;
Cánh đắc cát tinh đồng thủ chiếu,
Kim quan phong tặng tác phu nhân.
Thái Dương an Mệnh hữu kỳ năng,
Hãm địa tu phòng yếu sát lăng
Tác sự trầm ngâm đa tiến thoái
Tân cần độ nhật miễn gia khuynh
Thái Dương phản chiếu chủ tâm mang (rối trí)
Y lộc bình thường thọ bất trường
Khắc quá lương nhân (chồng) hoàn khắc tử (khắc con)
Chỉ nghi ấm hạ tác biên phòng (làm lẽ)
Nhị hạn biên nghi kiết, Thái Dương,
Thiên tài, tiến nghiệp, Phúc phi thường;
Hôn nhân hòa hợp, thiêm tư tục
(lấy vợ lấy chồng, sinh con cái)
Sĩ giả (quan chức) cao thiên tọa miếu đường
Thái Dương thủ hạn hữu đa bạn,
Hãm địa tu phòng ác sát sâm;
Gia kỵ phùng hung đa cách trệ.
Hoành cự, phá tài, gia lênh đênh.

- Vợ về của có muôn trùng.
ẤN, QUAN, NGUYỆT-ĐỨC, MÃ, ĐỒNG, THÁI DƯƠNG.

- Hãm tinh gia lại hãm Dương (Thái Dương)
Chẳng sinh kiện sự, thời thương thung đường (bố chết)
Sứ, Thương, Cơ, Hỏa, Cự, Dương
Suy người, hại của, nhiều phương ưu phiền

- NHỊ DIỆU QUANG HUY CÔNG DANH TẢO ĐẠT
Cung Mệnh, Thân có Thái Dương, Thái Âm, Miếu Vượng hay Đắc Địa tọa thủ thì tuổi nhỏ đã có công danh.

- NHẬT NGUYỆT BẤT KHẢ CHIẾU NHÂN CUNG
Sao Thái Dương, Thái Âm không nên cư Hãm Địa rất xấu.

- NHẬT NGUYỆT PHẢN BỐI HÀ VỌNG THANH QUANG TỐI HỶ NGOẠI TRIỀU KHÔI VIỆT
Cung Mệnh an tại Thìn có Nguyệt tọa thủ Nhật tại Tuất xung chiếu hay an tại Tuất có Nhật tọa thủ, Nguyệt tại Thìn xung chiếu gọi là phản bối không sáng được nếu gặp Khôi, Việt hội hợp rất tốt.

- NHẬT LẠC MÙI CUNG, VI NHÂN TIỀN CẦN HẬU LÃNG

Cung Mệnh an tại Mùi có Nhật tọa thủ là người không bền chí làm việc gì cũng siêng lúc đầu sau biếng nhác và bỏ dở.

- NHẬT TÀN DẦN VỊ, TÁC SỰ HỮU THỦY VÔ CHUNG
Cung Mệnh an tại Dần có Nguyệt tọa thủ là người làm việc gì cũng chỉ có đầu mà không có đuôi.

- NHẬT NGUYỆT THỦ BẤT NHƯ CHIẾU MỆNH
Cung Mệnh có Nhật, Nguyệt tọa thủ không được tốt đẹp bằng chiếu Mệnh.

- NAM NỮ TỐI HIỀM NHẬT HÃM
Số đàn ông kỵ nhất cung Mệnh có Thái Dương, Hãm Địa tọa thủ.

- NHẬT XUẤT LÔI MÔN, TỴ, THÌN, MÃO ĐỊA HOẠCH SINH PHÚ QUÝ THANH DƯƠNG
Cung Mệnh an tại Mão (Lôi Môn) hay Thìn, Tỵ có Nhật tọa thủ nên rất tốt đẹp tất được vinh hiển giàu sang hơn người.

- NHẬT MÃO NGUYỆN HỢI, MÙI CUNG MỆNH, ĐA TRIẾT QUẾ
Cung Mệnh an tại Mùi vô chính diệu cung Mão có Nhật, cung Hợi có Nguyệt hợp chiếu nên đi thi tất đỗ cao ví như bẻ cành quế.

- NHẬT XUẤT LÔI MÔN PHÚ QUÝ VINH HOA
Cung Mệnh an tại Mão có Nhật tọa thủ thuộc quẻ Chấn biểu tượng của sấm sét nên gọi là Lôi Môn, người tuổi Giáp, Aát, Canh, Tân là thượng cách các tuổi khác cũng được phú quý vinh hoa.

- BẦN TIỆN MẠC NGÔN THÌN, TUẤT TRA DƯƠNG THU ẢNH CẠNH PHÚ VINH
Cung Mệnh an tại Thìn, Tuất thì không thể nói là bần tiện được nếu Thái Dương cư Thìn, Thái Âm cư Tuất.

- NHẬT THÌN NGUYỆT TUẤT TỊNH TRANH QUẢNG QUYỀN LỘC PHI TÀN
Cung Mệnh an tại Thìn có Nhật tọa thủ được Nguyệt tại Tuất xung chiếu hay an tại Tuất có Nguyệt tọa thủ được Nhật tại Thìn xung chiếu ví như mặt trời mặt trăng thi nhau chiếu sáng. Người có cách này cả đời đuợc hưởng giàu sang, tiền tài địa vị bền vững không gì chuyển được

- NHẬT NGUYỆT TỐI HIỀM PHẢN BỐI
Cung Mệnh an tại Thìn có Nguyệt tọa thủ gặp Nhật tại Tuất xung chiếu hay an tại Tuất có Nhật tọa thủ gặp Nguyệt tại Thìn xung chiếu ví như mặt trời mặt trăng quay lưng vào nhau (phản bối) nên rất xấu xa mờ ám vì cả hai đều cư Hãm Địa, người có cách này không thể quý hiển được.

- NHẬT NGUYỆT TỐI HIỀM NGHI BỐI VI THẤT HUY
Cung Mệnh rất kỵ an tại Tuất có Thái Dương tọa thủ gặp Thái Âm ở Thìn xung chiếu hay an tại Thìn có Thái Âm tọa thủ gặp Thái Dương ở Tuất xung chiếu nên mất ánh sáng vì cả hai đều cư Hãm Địa xoay lưng vào nhau trường hợp này nếu gặp Tuần, Triệt án ngữ lại thành sáng sủa tốt đẹp.


- DƯƠNG ÂM THÌN TUẤT NHẬT NGUYỆT BÍCH CUNG NHƯỢC VÔ MINH KHÔNG DIỆU TU CẦN, SONG ĐẮC GIAO HUY, NHI PHÙNG CƯƠNG, TUẾ, LỘC, QUYỀN, THÁI, CÁO, TẢ, HỮU, NHẤT CỬ THÀNH DANH, CHÚNG NHÂN TÔN PHỤC
Cung Mệnh an tại Tuất có nhật tọa thủ gặp Nguyệt tại Thìn cung chiếu hay an tại Thìn có Nguyệt tọa thủ, Nhật tại Tuất xung chiếu nên rất mờ ám. Trường hợp này cần có thiên, Địa Không hay Tuần Triệt án ngữ để trở thành sáng sủa tốt đẹp. Trái lại nếu cung Mệnh an tại Tuất có Nguyệt tọa thủ gặp Nhật tại Thìn cung chiến hay an tại Thìn có Nhật tọa thủ, Nguyệt tại Tuất xung chiếu ví như mặt trời mặt trăng giao hội, đưa nhau chiếu sang nên rực rỡ tốt đẹp nếu thêm Xương, Tuế, Lôc,Quyền, Thái, Cáo,Tả, Hữu hội hợp tất chỉ một bước công thành danh loại và được mọi người tôn kính phục tòng.

- MẤY NGƯỜI BẤT HIỂN CÔNG DANH BỞI VÌ NHẬT NGUYỆT ĐỒNG TRANH SỬU MÙI
Cung Mệnh, Thân, hay Quan Lộc an tại Sửu Mùi có Nhật, Nguyệt tọa thủ đồng cung nếu không được Tuần Aùn ngữ và Khoa, Quyền, Lộc hội hợp tất công danh khó hiển đạt.

- NHẬT NGUYỆT SỬU MÙI ÁI NGỘ TUẦN KHÔNG QUÍ ÂN XƯƠNG KHÚC NGOẠI TRIỀU: VĂN TẤT THƯỢNG CÁCH ĐƯỜNG QUAN XUẤT CHÍNH
Cung Mệnh an tại Sửu, Mùi có Nhật, Nguyệt tọa thủ đồng cung rất cần Tuần án ngữ để Nhật, Nguyệt được đều hòa nếu thêm Quang, Quý, Xương, Khúc hội chiếu tất có văn tài xuất chúng quyền cao chức trọng.

- NHẬT NGUYỆT SỬU MÙI ÂM DƯƠNG HỖN HỢP TỰ GIẢM QUANG HUY KỴ PHÙNG KIẾP TRIỆT NHƯỢC LAI VĂN DIỆU DIỆC KIẾN QUÝ ÂN, KHÔNG LINH THAI TỌA KHÔI HỒNG VĂN TÀI NGỤY LÝ XUẤT XỬ ĐẠT CÔNG
Cung Mệnh an tại Sửu, Mùi có Nhật, Nguyệt tọa thủ đồng cung nên giảm mất ánh sáng vị Âm, Dương hỗn hợp trường hợp này rất kỵ Kiếp, Triệt án ngữ nhưng nếu được Xương, Khúc, Quang, Quý, Thai, tọa, Khôi, Hồng hội hợp là người có văn tài lỗi lạc suy luận sắc bén biết xử sự đúng lúc dĩ nhiên làm nên vinh hiển công danh toại mãn.

- NHẬT NGUYỆT ĐỒNG LÂM QUAN CƯ HẦU BÁ
Cung Mệnh an tại Sửu có nhật, Nguyệt tọa thủ đồng cung tại Mùi xung chiếu hoặc an tại Mùi có Nhật, Nguyệt tọa thủ đồng cung tại Sửu xung chiếu người tuổi Bính, Tân là thượng cách các tuổi cũng quyền cao chức trọng.

- NHẬT NGUYỆT KHOA LỘC SỬU CUNG TRUNG ĐỊNH THỊ PHƯỢNG BÁ CÔNG
Cung Mệnh an tại Sửu có nhật, Nguyệt tọa thủ đồng cung rất cần gặp Khoa, Lộc hoặc Xương, Khúc, Tả, Hữu mới làm nên vinh hiển và có quyền cao chức trọng.

- NHẬT NGUYỆT ĐỒNG MÙI MỆNH AN SỬU HẦU BÁ CHI TÀI

Cung Mệnh an tại Sửu vô chính diệu có Nhật, Nguyệt tọa thủ đồng cung tại Mùi xung chiếu là người tài giỏi có quan chức trong chính quyền.

- NHẬT NGUYỆT MỆNH THÂN CƯ SỬU MÙI TAM PHƯƠNG VÔ CÁT PHẢN VI HUNG
Cung Mệnh hay Thân an tại Sửu, Mùi có Nhật, Nguyệt tọa thủ đồng cung Tài, Quan, Di không hội được Cát Tinh chiếu Mệnh thời không thể hiểu đạt, tuy cũng được no cơm ấm áo.

- NHẬT NGUYỄT KHOA LỘC SỬU CUNG ĐINH THỊ CÔNG DANH
Cung Mệnh an tại Sửu có Nhật, Nguyệt tọa thủ đồng cung gặp Khoa, Lộc hội hợp là người có quan chức trong chính quyền.

- XUẤT THẾ VINH HOA, NHẬT, NGUYỆT CHIẾU HƯ KHÔNG CHI ĐỊA
Cung Mệnh vô chính diệu có Tuần, Triệt án ngữ hay Thiên, Địa Không hội hợp có Nhật, Nguyệt Đắc Địa chiếu tất vinh hiển giàu sang.

- NHẬT NGUYỆT TỊNH MINH TÁ CỬU TRÙNG Ư KIM ĐIỆN
Cung Mệnh an tại Sửu có Thiên Lương tọa thủ có Nhật tại Tỵ Nguyệt tại Dậu hợp chiếu hay an tại Mùi vô chính diệu có Nhật Lương tại Mão, Nguyệt tại Hợi hợp chiếu là người phó là vị nguyên thủ hay cận thần của vua và có tài kinh bang tế thế dĩ nhiên được giàu sang vinh hiển hơn người tuổi Tân, Aát là thượng cách tuổi đinh phú cách tuổi Bính quý cách.

- NHẬT NGUYỆT NHI CHIẾU HƯ KHÔNG HỌC NHẤT NHỊ THẬP
Cung Mệnh vô chính diện có Nhật, Nguyệt sáng sử hội chiếu là người rất thông minh vào hàng vĩ nhân. Số Khổng Minh cung Mệnh an tại Mùi vô chính hiệu có Nhật tại Mùi Nguyệt tại Hợi hợp chiếu.

- NHẬT NGUYỆT TỊNH MINH TỐI KỴ TAM KHÔNG TU CẦN KHOA LỘC
Cung Mệnh an tại Sửu, Mùi có Nhật, Nguyệt hợp chiếu rất kỵ gặp Địa Không, Tuần, Triệt xâm phạm và rất cần Khoa, Lộc hội hợp mới được hòan tòanh tốt đẹp.

- NHẬT NGUYỆT CƯ MỘ CUNG MỤC THỐNG TRIỀN MIÊN
cung Mệnh an tại Thìn, Tuất, Sửu, Mùi có Nhật hay Nguyệt tọa thủ gặp Sát Tinh hội hợp hay bị đau mắt.

- TAM HỢP MINH CHÂU SINH VƯỢNG ĐỊA, ẨN BỘ THIỀM CUNG
Cung Mệnh có Nhật, Nguyệt, Miếu, Vượng, Địa hợp chiếu ví như hòn ngọc sáng, Người có cách này công danh nhẹ bước như đi dạo trên mặt trăng.

- NHẬT NGUYỆT GIÁP TÀI BẤT PHÚ TẮC QUÝ
Cung Mệnh giáp Nhật giáp Nguyệtkhông giàu cũng sang.

- GIÁP NHẬT NGUYỆT CẬN ĐẮC QUÝ NHÂN
Cung Mệnh giáp Nhậ giáp Nguyệt, Miến Vượng là người được gần quý nhân sang trọng.

- NHẬT NGUYỆT GIÁP MỆNH BẤT QUYỀN TẮC PHÚ
Cung Mệnh giáp Nhật giáp Nguyệt sáng sủa chỉ sự quý hiển.


- NHẬT NGUYỆT GIÁP MỆNH BẤT QUYỀN TẮC PHÚ
Cung Mệnh an tại Sửu có Nhật tại Dần, Nguyệt tại Tý hoặc an tại Mùi có Nhật tại Ngọ, Nguyệt tại Thân tọa thủ tất được cách “Giáp Nhật, Nguyệt” nếu không quyền khuynh thiên hạ cũng là hàng phú gia định quốc.

- NHẬT NGUYỆT CHIẾU TRONG NGOÀI ĐỒNG VỊ CÔNG DANH MỸ HỶ CAO QUAN
Cung Mệnh hay Quan Lộc có Thái Âm, Thái Dương Đắc Địa Thủ hay chiếu thì được quyền cao chức trọng.

- NHẬT LẠC NHÂN CUNG SẮC TRIỀU XUÂN DUNG
Cung Mệnh an tại Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tý có Thái Dương tọa thủ nên nét mặt buồn tẻ âu sầu.

- NỮ MỆNH ĐOAN CHÍNH THÁI DƯƠNG TINH, TẢO PHỐI HIỀN PHU TÍNH KHẢ PHÙNG
Cung Mệnh an tại Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ có Thái Dương tọa thủ nếu không gặp Aùc Sát Tinh hội hợp. Đàn bà là người đoan chính tất lấy được chồng hiền tài giỏi.

- NHẬT NGUYỆT TẢ HỮU HỢP VI GIAI
Cung Mệnh có Nhật hay Nguyệt, Miếu Vượng tọa thủ rất cần có Tả, Hữu hội hợp hoặc giáp biên người được cách Nhật, Nguyệt, Tả, Hữu rất quý hiển công danh sớm đạt lại thêm danh tiếng lừng lẫy.

- NHÂäT ÂM SINH Ư TÝ, NHẤT DƯƠNG SINH Ư NGỌ NHẬT NGUYỆT TRÙNG CHIẾU LƯỢNG TƯƠNG NGHI
Cung Mệnh an tại Tý có Nguyệt tọa thủ hay an tại Ngọ có Nhật tọa thủ nên rất tốt đẹp.

- NHẬT TẠI TỴ CUNG NHẬT MỸ HUY THIÊN, KIÊM LAI LỘC MÃ TRÀNG TỒN PHỤ BẤT THẾ SỰ THANH BÌNH VI ĐẠI PHÚ NHƯỢC KIÊM TƯỚNG ẤN BINH HÌNH VÔ LAI TUẦN TRIỆT: LỌAN THẾ CÔNG THÀNH
Cung Mệnh an tại Tý, có Nhật tọa thủ ví như mặt trời ở trên cao tỏa ánh sáng xuống nên rất tốt đẹp nếu gặp Song, Lộc, Mã, Tràng, Phu, Bật thời bình tất làm nên giàu có vào hàng phú gia địch quốc nếu gặp Bình, Hình Tướng, ấn và không bị Tuần, Triệt án ngữ thời lập được chiếu công hiển hách trong thời loạn.

- NHẬT CƯ HỢI ĐỊA NHẬT TRẦM HẢI NỘI, NGỌAI CỦNG TAM KỲ TẢ HỮU HỒNG KHÔI KỲ CÔNG QUỐC LOẠN DỊ VIÊN THÀNH HOAN NGÔ PHƯỢNG LONG CÁT HỔ BẤT KIẾN SÁT TINH THẾ THỊNH PHÁT DANH TÀI
Cung Mệnh an tại Hợi có Nhật tọa thủ ví như mặt trời chìm dưới đáy bể không tỏa được ánh sáng nên rất mờ ám nhưng có Khoa, Quyền, Lộc hội hợp lập được kỳ công trong thời lọan nếu được Phưo75ng, Long, Cát, Hổ và không bị Sát Tinh xâm phạm thì công danh hoanh phát tài lộc dồi dào trong thời bình.

- DƯƠNG TẠI THỦY NHẬT TRẦM THỦY ĐỂ LOẠN THẾ PHÙNG QUÂN MẠC NGÔ SÁT TINH TỬ PHÒNG ĐAO NGHIỆP

cung Mệnh an tại Hợi có Nhật tọa thủ ví như mặt trời chìm dưới đáy nước người có cách này lọan thế gặp thời nếu bị Sát Tinh hội hợp tất phải đề phòng người ám sát.

- THÁI DƯƠNG CƯ NGỌ CANH TÂN ĐINH KỶ NHÂN, PHÚ QUÝ SONG TOÀN.
Cung Mệnh an tại Ngọ có Thái Dương tọa thủ người tuổi Canh, Tân, Đinh,m Kỷ được hưởng giàu sang vinh hiển hơn người.

- THÁI DƯƠNG CƯ NGỌ NHẬT LỆ TRUNG THIÊN, HỮU CHUYÊN QUYỀN CHI VỊ ĐỊCH QUỐC CHI PHÚ
Cung Mệnh an tại Ngọ có Thái Dương tọa thủ ví như mặt trời ở trên cao chiếu xuống nên rực rỡ tốt đẹp người tuổi Canh, Tân, đinh, Kỷ có khuynh hướng lần lượt người, độc tài và chuyên quyền tuy nhiên rất giàu sang vào hàng phu gia địch quốc. Các tuổi khác có cách này cũng được vinh hiển.

- NHẬT CƯ LY NHẬT LỆ TRUNG THIÊN, ÁI NGỘ HÌNH TANGHỔ KHỐC VẬN LÂM
Cung Mệnh an tại Ngọ có Nhật tọa thủ nên rất tốt đẹp nếu hạn gặp Hình, Tang, Hổ, Khốc hội hợp công thành danh toại.

- NHẬT TỴ NGUYỆT DẬU, SỬU CUNG MỆNH BỘ THIỂM CUNG
Cung Mệnh an tại Dần, có Thiên Lương tọa thủ cung Tỵ có Nhật, cung Dậu có Nguyệt hợp chiếu nên công danh nhẹ bước thang mây ví như đi bộ trên mặt trăng (Thiểm Cung).

- THÁI DƯƠNG CƯ TÝ BÍNH ĐINH PHÚ QUÝ TRUNG LƯƠNG
Cung Mệnh an tại Tý có Nhật tọa thủ nên kém tốt đẹp người có cách này tuy tài giỏi nhưng không gặp thói riêng với tuổi Bính, Đinh lại hợp cách là người trung tín lương thiện và được hưởng phú quý song toàn.

- CÁT DIỆU ĐỒNG TẠI HỢI DẦN VÃN NHẬT TUYẾT HOA ĐẢ TRÁC LẠC
Cung Mệnh an tại Hợi, Dần có Thái Dương tọa thủ gặp Cát Tinh hội hợp thì về già lại được “Phong Hoa Tuyết Nguyệt Chi Thời”.

- XÉT XEM ĐẾN CHỐN THỦY CUNG KỴ TÍNH YỂM NHẬT ÚY ĐỒNG KÌNH DƯƠNG
Cung Mệnh, Thân an tại Tỵ, Hợi có Thái Dương tọa thủ gặp Hoa Kỳ, Kình Dương tất yểu tử không thì phải mù lòa hạn gặp cáchnày rất nguy hiểm một là cha chết hay đau mắt nặng đến mù.

- NHẬT NGUYỆT NGỘ ĐÀ LINH CHỐN HÂM HÓA KỴ GIA MỤC ÁM THONG MANH
Cung Mệnh, Thân có Nhật, Nguyệt Hãm Địa tọa thủ gặp Đà, Kỵ thì mù.

- THIÊN TÀI NGỘ NHẬT BẤT MINH NẾT NA LẾU LÁO NHỰNG KHINH PHÂT TRỜI, TÝ, SỬU, MỆNH, NGỌ MÙI NHÂN KIỀU CƯ BIỆT XỨ CHẲNG GẦN BẢN TÔN

Cung Mệnh có Thái Dương, Hãm Địa tọa thủ gặp Thiên Tài là người không tin dị đoan khinh mạn cả phật trời người tuổi Ngọ, Mùi cung Mệnh an tại Tý, Sửu có cách trên phải ly tổ bôn ba làm kiều dân xứ người.

- THÁI DƯƠNG HÓA KỴ THỊ PHI NHẬT HỮU MỤC HOÀN THƯƠNG
Cung Mệnh có Thái Dương tọa thủ gặp Hóa Kỵ đồng cung hay xung chiếu cũng có ngày phải đau mắt.

- THÁI DƯƠNG VĂN XƯƠNG CƯ QUAN HOÀNG ĐIỆN TRIỀU BAN
Cung Quan Lộc có Thái Dương tọa thủ gặp Văn Xương đồng cung tất được ở nơi định phủ hay công ốc do chính quyền cấp phát.

- NHẬT NGUYỆT DƯƠNG ĐÀ KHẮC THÂN
Cung Mệnh có Nhật hay Nguyệt tọa thủ gặp Kình, Đà nên khắc cha mẹ vì Dương là cha, Âm là mẹ tuy nhiên cũng cần xem cung Phu Mẫu để gia giảm.

- NHẬT NGUYỆT HÃM XUNG PHÒNG ÁC SÁT LAO LỰC BÔN BA
cung Mệnh có Nhật hay Nguyệt, Hãm Địa tọa thủ hoặc xung chiếu gặp Kình, Đà, Hỏa, Linh hội hợp tất phải vất vả bôn ba đầu tắt mặt tối mới đủ miếng ăn.

- NHẬT NGUYỆT VÔ MINH NHI PHÙNG RIÊU, KỴ, KIẾP, KÌNH Ư MỆNH GIẢI: TẬT NGUYỀN LƯỠNG MỤC
cung Mệnh hay Tật Aùch có Nhật, Nguyệt, Hãm, Địa tọa thủ gặp Riêu, Kỵ, Kình hội hợp tất hai mắt cận thị hay có tật hoặc bị đui mù.

- ĐẠO TRÍCH THỌ TĂNG DO Ư NHẬT NGUYỆT CƠ LƯƠNG MIẾU NHẤP
MỆNH THÂN
Số Đạo Trích tay ăn trộm đời Thất Quốc sống lâu là nhờ cung Mệnh, Thân có Nhật, Nguyệt, Cơ Lương Miếu, Địa hội hợp.

- NHẬT NGUYỆT CÁNH TU SÁT HỘI NAM ĐA GIAN ĐẠO NỮ ĐA DÂM
cung Mệnh có Nhật hay Nguyệt, Hãm Địa tọa thủ gặp Kình, Đà, Hỏa, Linh, Không, Kiếp hội hợp đàn ông là hạng trộm cắt bất lương, đàn bà là người dâm đãng bần tiện.

- NHẬT HÃM XUNG PHÙNG ÁC SÁT, LAO LỤC BÔN BA
Cung Mệnh có Nhật, Hãm, Địa tọa thủ hay xung chiếu gặp Aùc, Sát Tính hội hợp tất suốt đời phải bôn ba lận đận để kiếm miếng ăn.

- CỰ TẠI HỢI CUNG NHẬT MỆNH TỴ THỰC LỘC TRỊ DANH
Cung Mệnh an tại Tỵ có nhật tọa thủ gặp Cư tại Hợi xung chiếu là người giàu có công danh bền vững tài lộc dồi dào dư ăn dư để.

- CỰ TẠI TỴ CUNG NHẬT MỆNH HỢI PHẢN VI BẤT GIAI
Cung Mệnh an tại Hợi có Nhật tọa thủ gặp Cự tại Tỵ xung chiếu nên rất xấu xa mờ ám, người có cách này công danh trắc trở tiền tài tứ tán thất thường.

- NHẬT NGUYỆT CƯ QUAN LỘC PHÚ QUÝ NAN DANH

Cung Quan Lộc an tại Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ có Nhật tọa thủ, cung Dậu, Tuất, Hợi, Tý có Nguyệt tọa thủ thì giàu sang vô kể.

- PHÌ MÃN KIM Ô TUY GIA SÁT NHI GHI PHÚ
cung Tài Bạch có Thái Dương, Đắc Địa tọa thủ tuy gặp Sát Tinh cũng vẫn được hưởng giàu sang.

- ĐAN QUẾ, ĐAN TRÌ CHIẾU Ư ĐIỀN TRẠCH PHÚ TỶ THẠCH SÙNG
Cung Điền Trạch có Thái Dương tọa thủ từ cung Mão đến Ngọ, có Thái Âm từ cung Dậu đến Tý hội chiếu thì giàu như Thạch Sùng.

- SỞ HỶ GIẢ THIÊN HỶ NHỊ MINH PHÙ TỬ TỨC CHI CUNG
Cung Tử Tức có Nhật, Nguyệt chiếu lại gặp thiên hỷ tọa thủ tắt sinh quý tử.

- NỮ MỆNH NHẬT NGUYỆT TỬ CUNG NHẬT BÀO SONG SẢN
Nữ số cung Tử Tức có Nhật, Nguyệt tọa thủ tất đẻ sinh đôi.

- MẤY NGƯỜI PHÚ QUÝ NAN TOÀN: BỞI VẦNG Ô THỎ ĐÓNG MIỀN SÁT TINH
Cung Mệnh, Thân hay Điền, Tài có nhật, Nguyệt (ô thỏ) tọa thủ gặp tứ Sát Tinh, Đà, Không, Kiếp thì phú quý khó lòng toàn vẹn.

- CON EM XA KHỨ XA HÒAN BỞI VÌ NHẬT DIỆU CHIẾU MIỀN NÔ CUNG
Cung Nô Bộc có Thái Dương chiếu thì kẻ ăn người ở khi bỏ đi khi trở về.

- PHÚC CƯ QUÝ HƯỞNG NHƯỢC LAI NHẬT NGUYỆT TU KIẾN KHÔNG TINH LONG KIẾP KÌNH SÂM, NAM NHÂN SÁT BẠI: NHƯỢC VIỆT KHOA HỔ KHỐC, NỮ NHÂN TOẠI HƯỞNG PHÚC TƯỜNG VINH PHÚ
Cung Phúc Đức an tại Sửu (quý hướng) có Nhật, Nguyệt tọa thủ đồng cung gặp Thiên, Địa Không, Long, Kiếp, Kinh hội hợp tật trong họ đàn ông bị yêu vong càng ngày lun bại nếu gặp Việt Khoa, Hổ, Khốc thời đàn bà lại được hưởng phúc sống lâu và giàu sang vinh hiển.

- NHẬT NGUYỆT TẬT ÁCH MỆNH CUNG KHÔNG, YÊU ĐÀ MỤC CỔ
Cung Tật Aùch có Tuần, Triệt án ngữ hay Thiên, Địa Không tọa thủ nên mắt bị quáng gà hoặc bị đau mắt.

- NHẬT NGỘ KIẾP HỒNG BINH KHỐC THÂN PHỤ TẬN NIÊN THỌ HƯỞNG AI THƯƠNG
Hạn có Nhật gặp Kiếp, Hồng, Binh, Khốc tất cha già đau bịnh mà chết.

- NHẬT NGUYỆT NHI PHÙNG HÌNH HỎA, THÂN THIỂU HẠC HÌNH
Cung Mệnh có Nhật hay Nguyệt tọa thủ gặp Hình Hỏa hội hợp tất dáng người gầy gò, ốm yếu, mình hạc sương mai.

- ĐƠN TRÌ QUẾ TRÌ TẠO TOẠI THANH ÂM CHI CHÍ
Cung Mệnh an tại Mão, Thìn, Tỵ, có Thái Dương (Đơn Trì) tọa thủ hoặc an tại Dậu, Tuất, Hợi có Thái âm (quế tri) tọa thủ gặp Xương, Khúc, Khôi, Việt tất công danh sớm đạt.

- ÂM DƯƠNG LẠC HÃM TU CẦN KHÔNG DIỆU TỐI KỴ SÁT TINH
cung Mệnh có Thái Âm hay Thái Dương, Hãm Địa tọa thủ rất cần tuần, Triệt án ngữ hay Thiên, Địa Không hội hợp để trở nên sáng sửa tốt đẹp nếu bị Sát Tinh xâm phạm lại càng xấu hơn.

- ÂM DƯƠNG TẢ HỮU HỢP VÌ GIAI
Cung Mệnh có Thái Âm hay Thái Dương tọa thủ rất cầu Tả, hữu hội hợp để thành sáng sủa tốt đẹp, như thế suốt đời mới được xứng ý tọai lòng công danh bền vững, tài lộc dồi dào.

- ÂM DƯƠNG TUẦN TRIỆT TẠI TIỀN, MÊ CHA ĐỊNH ĐÃ CHƠI TIÊN THUỞ NÀO
Cung Phụ Mẫu có Thái Âm, Thái Dương tọa thủ gặp Tuần Triệt án ngữ tất cha mẹ mất sớm.

- ÂM DƯƠNG LẠC HÃM GIA KÌNH KỴ PHU THÊ LY BIỆT
Cung Phu Thê có Thái Âm, Thái Dương, Hãm Địa gặp Kình Dương, Hoa Kỵ tất vợ chồng phải chia sẻ.

- ÂM DƯƠNG HỘI CHIẾU MỆNH QUAN, QUYỀN CAO CHỨC TRỌNG MỌI ĐÀNG HANH THÔNG
Cung Mệnh hay Quan Lộc có Thái Âm, Thái Dương, Miếu Vượng hội chiếu là người xuất chinh được danh giá lại thêm tiếng tăm lừng lẫy.

- ÂM DƯƠNG SÁNH HỶ TINH ÂM CÙNG VỚI PHÚC CŨNG SINH DỊ BÀO
Cung Phúc Đức an tại cung Âm: Sữu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi có Thái Âm, Thái Dương gặp Thiên Hỷ tất có anh em cùng cha khác mẹ, hoặc cùng mẹ khác cha.

- PHÚC TỌA HỢI CUNG, TỐI HỶ ÂM DƯƠNG, TỬ PHÙ ĐỒNG LƯƠNG CƠ VỰ KIÊM HỮU KHÚC XƯƠNG LONG PHƯỢNG BẬT QUYỀN, TỨ ĐẠI HIỂN VINH, VĂN KHOA DỊ ĐẠT NHƯỢC CƯ SÁT PHÁ LIÊM THAM TU ĐẮC KHOA HÌNHKHÔNG KIẾP TRÀNG TỒN: BẠCH THỦ THÀNH DANH VÔ CÁCH DUY HIỀM CHIÊU PHÁT MỘ SUY
Cung Phúc Đức an tại hợi có Nguyệt tọa thủ Dương chiếu hay một trong số sao Tử, Phả, Đồng, Lương, Cơ, Cự tọa thủ gặp Phượng, Bật, Quyền tọa thủ tất trong họ bốn đời được vinh hiển có người đỗ đạt cao nếu gặp Sát, Phá, Liêm, Tham hội hợp thêm Khoa, Hình, Không, Kiếp, Tràng Sinh, Lộc Tồn tất phát vềdằng võ hay không mà làm nên sự nghiệp nhưng hoạnh phát lại hoạnh phá, không bền.

- PHÚC CƯ MÙI ĐỊA ÂM DƯƠNG HỖN HỢP KHÔNG TINH NHƯỢC NHÂN SINH TỰ THƯ THỜI KIÊM HỘI VĂN TINH QUYỀN LỘC ĐA PHÁT BẢNG KHOA, NHƯỢC HỘI KÌNH, ĐÀ, HÌNH, ẤN, HIỂN ĐẠT VÕ CÔNG; HỒNG KIẾP LAI SÂM TUẾ THỌ NAN TRƯỜNG.
Cung Phúc Đức an tại Mùi có Thái Âm, Thái Dương tọa thủ đồng cung gặp Tuần, Triệt án ngữ hay Thiên, Đại, Không hội hợp người sinh ban ngày gặp Xương, Khúc, Khôi, Việt, Khoa, Quyền, Lộc hội chiếu tất đỗ cao gặp Kinh, Đà, Hình, Ấn hội hợp thời có vũ chức nếu bị Hồng, Kiếp xâm phạm tất không thọ, phải bỏ mạng ngoài sa trường.

hoahoanglan
28-09-2005, 11:55 PM
Luận về sao Thái âm:


Tử vi đẩu số Toàn thư khi luận về sao Thái âm bao giờ cũng dựa trên 3 cơ sở:
1 - Đứng chỗ miếu hay hãm địa?
2 - Đương số sinh ban ngày hay ban đêm?
3 - Đương số sinh vào thượng tuần, trung tuần hay hạ tuần trong tháng?

1 - Đứng chỗ miếu hay hãm địa?

Thái âm đóng Hợi Tí Sửu tốt nhất; Thân Dậu Tuất thứ nhì; ở Dần Mão Thìn thì gọi là thất huy (mất vẻ sáng); ở Tỵ Ngọ Mùi là lạc hãm. Trong đó, Nguyệt cư Hợi được coi là tốt hơn cả, Nguyệt ở đó tạo thành cách “Nguyệt lãng thiên môn”.

2 - Đương số sinh ban ngày hay ban đêm?

Sinh ban ngày hay ban đêm được căn cứ vào cách chia 2 nhóm giờ như sau:
+ Nhóm giờ 1 (gọi là sinh ban ngày): Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi.
+ Nhóm giờ 2 (gọi là sinh ban đêm): Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tí, Sửu.

3 - Đương số sinh vào thượng tuần, trung tuần hay hạ tuần trong tháng?

Về thượng, trung hay hạ tuần thì người sinh vào 10 ngày đầu tháng là thượng tuần, 10 ngày giữa tháng là trung tuần và 10 ngày cuối tháng là hạ tuần. Theo nguyên tắc trăng càng tròn, sáng thì càng tốt – trăng càng khuyết, càng tối thì xấu. Như vậy thượng tuần trăng non, ánh sáng yếu cũng giống như hạ tuần trăng già, khuyết ko đẹp. Trung tuần thì có ngày 15, 16 trăng treo - tròn nhất, sáng nhất - nhưng theo quan niệm các cụ thì lại ko đẹp bằng trăng náu 13, 14 !?? Ko biết tại sao, cái vụ này thì đúng là pó tay.com! [d6]

Khi tìm hiểu về Thái âm có rất nhiều câu phú đoán, trong đó đáng chú ý là câu: “Thái âm tại Mệnh Thân cung tuỳ nương cải giá” – nghĩa là bỏ chồng về nhà mẹ đẻ? Dĩ nhiên, điều này ko phải cứ thấy Thái âm đóng Mệnh, Thân là phán đoán như thế liền, chắc chắc là nhiều khi sai bét! Còn phải tuỳ! Nếu Thái âm ở Tỵ, lại sinh vào hạ tuần (hạ tuần xấu hơn thượng tuần) lại sinh vào ban ngày nữa thì lời luận đoán trên rất đúng về cái vụ “tuỳ nương cải giá”, nếu có thêm sát tinh phụ hoạ thì lại càng đúng hơn - nhất là gặp Hoả tinh đồng cung.

Cổ nhân còn viết: “Thái âm thủ mệnh bất lợi cho những người thân thuộc về phái nữ, vào số trai mẹ mất sớm, về cuối đời goá vợ, xa chị em gái; vào số gái cũng thế, nhưng thêm vào đó còn ảnh hưởng đến cả bản thân nữa”. Điều này – cũng chỉ có thể áp dụng đối với các trường hợp Thái âm lạc hãm, sinh thượng tuần ; hạ tuần và sinh ban ngày thì mới có tỷ lệ đúng cao được. Bạ đâu cũng táng câu luận đoán đó vô --> có ngày bị người ta táng lại cho vỡ mẹt, hí hí...
Thái âm vào cung Thân, ảnh hưởng còn nghiêm trọng hơn so với Thái âm đóng Mệnh với trường hợp Thái âm tại Tỵ mà gặp Thái dương Thiên lương ở Dậu rồi lại còn dung dăng dung dẻ với cùng một lũ một lĩ hung sát tinh nữa --> ảnh hưởng nặng nề lắm đấy!

Với thời buổi hiện đại, ô tô tên lửa ... như ngày nay, ba cái chuyện “tuỳ nương cải giá” đôi khi là... chuyện nhỏ như con thỏ - không nặng nề chính kiến như ngày xưa nên khi nói về hậu quả của sự việc ấy – cũng cần phải mở rộng ra nhiều hướng và nhiều ý nghĩa khác nữa. Nguyên tắc của Tử vi thường là sao hay có đôi – có cặp (kiểu như quen mồm hay nói Tả Hữu, Long Phượng...) --> cho nên, thấy Thái âm thì trước tiên hãy xem thế đứng của Thái dương cái đã – vì 2 đứa ấy là bồ ruột của nhau mà lị !!

Trong bản đồ kho báu - í quên – lá số tử vi chứ, thì chỉ có 2 cung Sửu và Mùi là Thái Dương Thái âm ở cùng một chỗ (gọi là đồng cung toạ thủ [d12]). Hiểu nôm na theo ý là: nếu tốt thì cả anh cả ả - đôi bên cùng được tốt, đã xấu thì ắt là anh chả đẹp mà ả cũng chả giòn được nữa! Nói cách khác, cứ các sao đi cặp, hễ sao xung chiếu bị ảnh hưởng tốt xấu thế nào thì đều phản xạ qua sao bên kia tuốt luốt!

Nhật Nguyệt Sửu Mùi thì Nhật Nguyệt ở Sửu ko tốt bằng Nhật Nguyệt ở Mùi! Tại sao lại thế nhỉ? Tại vì Thái Dương ảnh hưởng mạnh hơn Thái âm (trong phần “luận về sao Thái Dương” đã nói bản chất ánh sáng của Nhật, Nguyệt là như thế nào...). Như vậy, nếu Nhật Nguyệt ở Mùi thì Thái dương ko bị “thất huy” như khi nó đóng ở Sửu - nhờ vậy mới có sức trợ giúp Thái âm. Nếu làm phép so sánh (chủ quan theo ý tác giả, chắc thế! hihi) thì những người Nhật Nguyệt ở Sửu, cuộc đời khó hiển đạt và lên xuống thất thường, còn Nhật Nguyệt ở Mùi thì... bình an hơn? Hehehe :P

Riêng với ý này, tớ ko đồng quan điểm lắm (hơi hơi thôi chứ ko fải là hoàn toàn!). Vấn đề là Nhật ở Sửu hay ở Mùi - dù có “thất huy” hay ko “thất huy” thì cũng đã là rơi vào thế hãm rùi! Nếu xét về âm dương thì Nhật đóng Mùi lại là “nghịch vị”, hay ho gì? Thêm nữa, một cuộc đời bình an là cái ý tưởng phù phiếm, là điều không bao giờ có đối với 1 người Nhật Nguyệt Sửu Mùi nói chung - vậy thì mong làm cái quái rì cho nó mệt! Vả lại, họ (những người Nhật Nguyệt Sửu Mùi “chẳng may” rơi vào cái cảnh “nhàn cư vi bất thiện”, bình an và phẳng lặng như mặt nước hồ thu - chắc họ chả chịu đựng nổi ba bảy hai mươi mốt ngày - lại quậy tưng lên ngay ấy mà, hihihi...). Nhưng cũng từ cái tính chất này mà có thể suy ngẫm để mà thấu được cái lẽ rằng tại sao những người Nhật Nguyệt Sửu Mùi – trong đời họ ít nhất phải có vài đôi lần nổi đình nổi đám, hoành tráng thật sự là hoành tráng!! Điều này - ối người khác có nằm mơ cũng chả được bao giờ!

Vậy, với người Nhật nguyệt Sửu Mùi - cái ý “lên xuống thất thường” thì ... okie, còn “khó hiển đạt” thì chưa chắc! Chẳng qua là “khó” là “khó“ như thế nào mà thui á! hihihi....

Nhật Nguyệt đồng cung dĩ nhiên sẽ mang lại nhiều khuyết điểm, theo như cổ ca viết: Nhật Nguyệt thủ bất như chiếu hội, tịnh mionh – nghĩa là, Nhật Nguyệt đóng Mệnh ko bằng chiếu Mệnh hoặc đứng hai chỗ miếu địa – sáng trưng như đèn pha ô tô là Nhật Mão, Nguyệt Hợi hoặc Nhật Thìn, Nguyệt Tuất.

Thêm 1 câu phú nữa nói rằng:

Nhật Nguyệt Mệnh Thân cư Sửu Mùi
Tam phương vô cát phản vi hung.
Vậy, có thể thấy rằng cách Nhật Nguyệt Sửu Mùi cần có những sao tốt, các bộ trung tinh phối hợp trợ lực thì mới đáng kể - lúc ấy mới liệt thành cách cục được đó!

Thái âm gặp Cự Môn Hoá Kị bị nhiều phiền luỵ. Như trường hợp Mệnh VCD gặp Nhật đóng ở cung Thân, Nguyệt đóng ở cung Ngọ thì lúc ấy bên cạnh Nhật có Cự mà lại thêm Kị thì phá mất toi cái tốt của việc hợp chiếu. Vả lại, Nguyệt cũng ko ưa Thiên Lương trong trường hợp đóng ở Tỵ . Mệnh VCD mà gặp Dương Lương từ Dậu chiếu sang thì lại thường đưa đến tình trạng vợ chồng ly tán. Trường hợp Mệnh Cự Nhật mà cung Phu thê có Đồng âm gặp Hoá Kị thì ắt cũng mà gặp được duyên chẳng lành!