PDA

View Full Version : Kinh Thi


Dala
02-09-2005, 02:44 AM
Có thể nói Kinh Thi là một tác phẩm Kinh Điển của Văn Hoá Trung Hoa ngày xưa, nó là một trong Ngũ Kinh, tập hợp thơ ca phú trong khắp dân gian ngày xưa.

Nội dung Kinh Thi

Kinh Thi gồm có ba trăm mười một thiên. Trong số đó, chỉ có ba trăm lẻ năm thiên là đầy đủ, còn sáu thiên kia có đề mục nhưng không có lời. Sáu thiên ấy là: Nam cai, Bạch hoa, Hoa thử, Do canh, Sùng khâu và Do nghi. Có thuyết cho rằng lời thơ của sáu thiên đó bị vong thất bởi ngọn lửa nhà Tần. Nhưng theo Trịnh Tiều, trong Thi biện vọng, sáu thiên ấy vốn không có lời, chỉ có nhạc.

Về đời Hán, có bốn bản Kinh Thi xuất hiện (1) nhưng còn truyền đến nay là bản của Mao công (tức Mao Hanh và Mao Trương). Mao Thi (2) gồm có ba phần như sau:

A- Quốc Phong: Quốc phong là những bài ca dao của dân các nước chư hầu, đã được nhạc quan sưu tập. Quốc phong có 160 thiên, chia làm 15 quyển, mỗi quyển một nước, gồm có:

1. Chính phong: Chu nam và Thiệu nam
2. Biến phong: Bội phong, Dung phong, Vệ phong, Vương phong, Trịnh phong, Tề phong, Ngụy phong, Đường phong, Tần phong, Cối phong, Tào phong, Bân phong.

B- Nhã: Nhã nghĩa là chính đính, gồm những bìa hát ở nơi triều đình. Nhã chia ra làm hai phần:

1. Tiểu nhã: những bài dùng trong những trường hợp không quan trọng lắm như các buổi yến tiệc (74 thiên)
2. Đại nhã: những bài dùng trong những trường hợp quan trọng như khi Thiên tử họp các vua chư hầu hoắc tế ở miếu đường (31 thiên)

C- Tụng: Tụng nghĩa là ngợi khen, gồm những bài ca tụng các vua đời trước và dùng để hát ở chốn miếu đường. Tụng có tất cả 40 thiên, chia làm:

1. Chu tụng, 31 thiên
2. Lỗ tụng, 4 thiên.
3. Thương tụng, 5 thiên.

Trong Kinh Thi có lục nghĩa là: Phong, Nhã, Tụng, phú, tỷ, hứng. Thien Xuân quan trong Chu lễ chép: “Thái sư giáo lục thi: viết Phong, viết phú, viết tỷ, viết hứng, viết Nhã, viết Tụng” (nghĩa là: Quan Thái sư dạy sáu thi là: Phong, phú, tỷ, hứng, Nhã, Tụng). Phong, Nhã, Tung là trỏ bộ phận của âm nhạc, còn phú, tỷ, hứng tức là thể của Phong, Nhã, Tụng.

Chu Hy cho rằng đại để Phong là thi ca trong dân gian, Nhã là thi ca của triều đình, Tụng là thi ca dùng nơi tông miếu (3). Theo sự nhận xét của Trịnh Khang-thành thì: Phong là nói về di hóa của thánh hiền; Nhã nghĩa là chính, tức là những lời chính đính khả dĩ làm khuôn phép cho đời sau; Tụng nghĩa là tụng đọc hoặc bao dung để khen ngợi cái đức rộng lớn của tiên vương (4). Lương Khải Siêu đã bàn về vấn đề ấy với một quan niệm mới mẻ: Phong chỉ có thể đem ra ngâm đọc chứ không hát được, Nhã là những bài hát rất phổ thông về đời Chu, Tụng vốn nghĩa là dung (dung mạo) cho nên có thể đem ra hát và múa theo âm điệu ấy; nếu xét theo văn thể đời nay thì Phong là dân ca, Nhã là ca từ trong Nhạc phủ, Tụng là kịch bản (5). Nhưng Trình Đại Xương và Cố Viêm Vũ đã ngờ rằng ngày xưa không có danh từ quốc phong, hai chữ này do người sau hiểu sự đặt ra (6) .

Ba thể phú, tỷ, hứng là nói về kỹ thuật làm thơ. Chỉ rõ tên nói rõ việc, ấy là thể phú. Thấy việc hư hỏng đương thời mà không dám nói rõ, phải dùng phép so sánh kín đáo để phúng thích, ấy là thể tỷ. Mượn vật để nói nên lời là thể hứng. Sự bất đồng giữa tỷ và hứng do ở điểm này: thể tỷ chỉ lấy vật để làm tỷ dụ, chứ không nói rõ ý chính, thể hứng thì trước hết dùng phép tỷ dụ rồi tiếp theo đó lại nói rõ ý chính ra.

Thế là nội dung Kinh Thi gồm có ba phần lớn (Phong, Nhã, Tụng) và ba thể (phú, tỷ, hứng) mà cổ nhân đã gọi là sáu nghĩa của Kinh Thi. Riêng về Phong, Nhã, Tụng tuy có những định nghĩa khác nhau, tùy theo quan điểm của mỗi học giả, nhưng ta phải thừa nhận cách phân loại trong Mao Thi là tương đối hợp lý.

----------------------------------------------

(1) Đời Hán sơ, ngoài Mao-công, còn có ba nhà chú giải Kinh Thi là Thần Bồi, người nước Lỗ; Viên Cố Sinh, người nước Tề; Hàn Anh, người nước Yên. Bản của Thân Bồi gọi là Lỗ Thi, bản của Viên Cố Sinh gọi là Tề Thi, bản của Hàn Anh gọi là Hàn Thi. Ba bản này là kim văn, còn bản của Mao-công là cổ văn. Sau, Tề Thi mất về đời Ngụy, Lỗ Thi mất về đời Tấn, Hàn Thi mất về đời Ngũ đại, chỉ có Mao Thi còn truyền đến ngày nay.

(2) Truyện Nho lâm trong Sử ký chỉ nói đến ba nhà truyền Kinh Thi đời Hán sơ là Thân Bồi, Viên Cố Sinh và Hàn Anh, chứ không đề cập Mao công. Thiên Nghệ văn chí trong Hán thư mới kể đến Mao Thi và Mao Thi cổ huấn truyện (Mao Thi do Lưu Hâm phát kiến, Hán chí phần nhiều căn cứ vào thiên Thất lược của Lưu Hâm), nhưng không chép rõ tên thật của Mao-công và cũng không phân biệt Tiểu Mao-công và Đại Mao-công. Những tên Đại Mao công (Mao Hanh) và Tiểu Mao công (Mao Trường) thấy chép trong Thi phổ của Trịnh Huyền. Bản Mao Thi còn truyền đến nay, do Trịnh Huyền tien và Khổng Dĩnh Đạt sơ, nguyên là sách Mao Thi cổ huấn truyện đã kể trong Hán thư. Trong Thi kinh thông luận, Bì Tích Thụy lại ngờ rằng họ Mao chưa từng chú giải Kinh Thi, vì nếu việc ấy có thật thì cớ sao tác giả bộ Sử ký không nói tới. Đời Thanh, Trần Hoán có soạn bộ Thi Mao thị truyện sớ 30 quyển, đã xiển phát được vi ngôn đại nghĩa của cổ nhân và chú thích khá đầy đủ.

(3), (4), (5), (6) Xem Tưởng Tổ Di, Thi ca văn học toàn yếu, Đài bắc, Chính trung thư cục ấn hành, 1953, trang 30.

-------------------

Tôi đã đọc qua Kinh Thi, lời văn rất trong sáng giản dị, rất hay. Nay xin được lần lượt Post lên đây để các bạn chúng ta cùng thưởng thức, mở đầu là chương Quan Thư, một chương mà chắc các bạn ai cũng có lần biết đến nó.

Dala
02-09-2005, 02:45 AM
Quan thư - chương I

Quan quan thư cưu
Tại hà chi châu
Yểu điệu thục nữ
Quân tử hảo cầu.

Chu Nam

Dịch Nghĩa
Đôi chim thư cưu hót họa nghe quan quan,
Ở trên cồn bên sông.
Người thục nữ u nhàn,
Phải là lứa tốt của bực quân tử (vua).

--------------------------------------

Chú giải của Chu Hy:

Chương này thuộc thể hứng.

Quan quan, tiếng chim trống chim mái ứng họa nhau.
Thư cưu, loài chim nước, lại có một tên nữa là vương thư, hình dạng giống như chim phù y, ngay trong khoảng Trường giang và sông Hoài thì có chim ấy. Chim này sống có đôi nhất định mà không hề lẫn lộn. Hai con thường lọi chung mà không lả lơi, cho nên sách của Mao công có nói rằng: Đôi chim thư cưu tình ý chí thiết khăn vó đậm đà, nhưng lúc nào cũng giữ gìn cách biệt.

Sách Liệt nữ truyện cho là người ta chưa từng thấy chim thư cưu sống dư cặp hay sống lẻ loi, là vì tính của nó như thế. Hà, tên thông dụng của những dòng nước chảy ở phương bắc.

Châu, cồn đất ở giữa sông có thể ở được.
Yểu điệu, là ý u nhàn, u tích yên lặng và nhàn nhã.
Thục, hiền lành.
Nữ, con gái chưa gả chồng, nói nàng Thái Tự, vợ vua Văn vương, lúc còn ở nhà với cha mẹ.
Quân tử, chỉ vua Văn vương.
Hảo, đẹp lành.
Cầu, đôi lứa.

Sách của Mao công nói chí là rất, tình ý rất tha thiết đậm đà.

hứng, là trước nói một vật gì để sau dẫn đến lời ca vịnh.

Vua Văn vương nhà Chu sinh có thánh đức, lại được bậc thánh nữ họ Tự để kết hôn. Nhưng người trong cung, lúc nàng Thái Tự mới đến, thấy nàng có đức hạnh u tịch, nhàn nhã và trinh chuyên, bèn làm bài thơ này rằng: Kìa đôi chim thư cưu nghe hót quan quan, đang ứng họa nhau ở trên cồn bên sông. Người thục nữ yểu điệu này há không phải là bạn lứa tốt của bậc quân tử Văn vương hay sao? Có ý nói nàng Thái Tự và vua Văn vương cùng hòa vui mà cung kính lẫn nhau, cũng như tình chí thiết đậm đà mà lúc nào cũng giữ gìn cách biệt của đôi chim thư cưu vậy.

Về sau hễ nói hứng thì ý văn cũng phỏng theo chương này.

Ông Khuông Hành nhà Hán nói rằng: Yểu điệu thục nữ, Quân tử hảo cầu, là nói rằng nàng Thái Tự rất mực trinh thục không thay tiết tháo. Những rung cảm về tình dục không hề lẫn vào nghi dung, những ý vui riêng không hề lộ ra cử chỉ, có được như thế rồi mới có thể phối hợp với bậc chí tôn và làm chủ tế tông miếu. Vì đó là đầu mối của cương thường và của nền vương hóa. Giảng Kinh Thi như thế đáng gọi là người khéo nói vậy.


Dịch Thơ
Quan thư chương I

Quan quan kìa tiếng thư cưu
Bên cồn hót họa cùng nhau vang dầy
U nhàn thục nữ thế này
Xứng cùng quân tử sánh vầy lứa duyên.

Bản dịch: Tạ Quang Phát

Dala
09-09-2005, 01:50 AM
Quan thư - chương II

Sâm si hạnh thái
Tả hữu lưu chi
Yểu điệu thục nữ
Ngộ mỵ cầu chi
Cầu chi bất đắc
Ngộ mỵ tư bặc
Du tai! Du tai!
Triển chuyển phản trắc.


Chu Nam

Dịch Nghĩa
Rau hạnh cọng dài cọng ngắn không đều nhau
Phải thuận theo dòng nước sang bên tả bên hữu mà hái
Người thục nữ u nhàn ấy
Khi thức khi ngủ đều lo cầu cho được nàng.
Nếu mà không được
Thì khi thức khi ngủ đều tưởng nhớ
Tưởng nhớ xa xôi thay! Tưởng nhớ xa xôi thay!
Vua cứ lăn qua trở lại mãi nằm không yên giấc.

--------------------------------------------
Chú giải của Chu Hy:

Chương này thuộc thể hứng.
Sâm si 參差, dáng dài ngắn không đồng đều nhau
Hạnh 荇 , rau tiếp dư, rễ mọc ở đáy nước, lá màu đỏ tía hình tròn, đường kính hơn một tấc, nổi trên mặt nước. hoặc tả hoặc hữu, vô định không thường, khi bên trái khi bên mặt lưu, thuận theo dòng nước mà hái lấy. hoặc ngộ hoặc mỵ, không lúc nào là không, khi thức khi ngủ đều nhớ đến nàng.
bặc, nhớ.
Du, dài, xa xôi. Triển, lăn nửa vòng. chuyển, lăn trọn vòng. phản, lăn qua lăn lại. trắc, lăn nghiêng. Đều là nói nằm không yên giấc.

Chương này nói vào lúc chưa cầu được nàng Thái Tự: rau hạnh cọng ngắn cọng dài không đều kia, phải thuận theo dòng nước sang bên tả sang bên hữu mà hái. Người thục nữ yểu điệu ấy, khi thức khi ngủ vua không quên lo cầu cho được nàng, vì nàng ấy với đức hạnh ấy trên đời không thường có vậy. Nếu cầu nàng mà không được thì không có ai phối hợp với vua để thành việc nội trị hoàn mỹ. Cho nên vua lo nghĩ sâu xa không xiết đến thế ấy.




Dịch Thơ
Quan thư chương II

So le rau hạnh lơ thơ
Hái theo dòng nước ven bờ đôi bên
U nhàn thục nữ chính chuyên
Nhớ khi thức ngủ triền miên chẳng rời
Nếu cầu mà chẳng được người
Khi mơ khi tỉnh bồi hồi nhớ thương
Xa xôi trông nhớ đêm trường
Chiếc thân trằn trọc trên giường nào yên.

Bản dịch: Tạ Quang Phát

Dala
09-09-2005, 01:51 AM
Quan thư - chương III

Sâm si hạnh thái
Tả hữu thể chi
Yểu điệu thục nữ
Cầm sắt vĩ chi
Sâm si hạnh thái
Tả hữu mạo chi
Yểu điệu thục nữ
Chung cổ lạc chi.

Chu Nam

Dịch Nghĩa
Rau hạnh so le không đều nhau
Phải thuận theo dòng nước sang bên tả bên hữu chọn hái lấy.
Người thục nữ u nhàn ấy,
Phải đánh đàn cầm đàn sắt mà thân ái nàng
Rau hạnh cọng dài cọng ngắn không đều nhau
Phải nấu chín mà dâng lên ở hai bên
Người thục nữ u nhàn ấy
Phải khua chuông đánh trống để mang nàng mừng vui.

----------------------------------------

Chú giải của Chu Hy

Chương này thuộc hứng,

thể (thái), chọn mà hái lấy
mạo, nấu chín mà dâng lên
cầm, cây đàn 5 hoặc 7 dây. sắt, đàn 25 dây, đều là loại đàn dây tơ, loại nhạc khí nhỏ
vĩ (hữu), ý thân ái.
Chung, cái chuông, lại nhạc khí bằng đồng.
cổ, cái trống, loại nhạc khí to bằng da.
lạc, ý rất thuận hòa vui vẻ.

Chương này nói vào lúc tìm được nàng: rau hạnh cọng ngắn cọng dài không đều kia, phải chọn hái rồi nấu luộc mà dâng lên. Người thục nữ yểu điệu ấy đã cầu được rồi, phải thân ái để làm cho nàng vui, vì rằng người ấy với đức hạnh ấy trên đời không thường có vậy. Hôm nay mà cầu được nàng, thì đã được người để phối hợp với vua thành việc nội trị. Cho nên tỏ ý vui mừng tôn kính không xiết như thế vậy.

Thiên Quan thư có 3 chương, 1 chương 4 câu và 2 chương 8 câu.

Khổng tử nói rằng: “Thiên Quan thư vui mà không dâm, buồn mà không thương tâm”. Tôi cho rằng: “Lời ấy đối với thơ Quan thư này đúng với sự đoan chính của tính tình và sự điều hòa của thanh khí. Vì rằng đức hạnh như chim thư cưu, tình chí thiết đậm đà mà vẫn giữ gìn cách biệt, thì sự đoan chính về tính tình của bà Hậu phi Thái Tự hẳn đã có thể nhận thấy được một phần rồi. Đến việc thức ngủ lăn qua trở lại, đánh đàn cầm đàn sắt, khua chuông đánh trống, niềm vui buồn đã tột bực và đều không quá khuôn khổ phép tắc, thì sự đoan chính về tính tình của người làm thơ ấy lại có thể nhận thấy được cả toàn thể rồi vậy. Riêng sự điều hòa về thanh khí thì không thể nghe được. Tuy là đáng hận, nhưng học giả hãy thưởng thức nghĩa lý ở trong lời thơ ấy để bồi dưỡng tâm tính, thì cũng có thể nắm được căn bản của việc học Kinh Thi vậy."

Khuông Hành nói rằng: “Phối hợp thành vợ chồng là mối đầu của việc phồn sinh của dân chúng, là nguồn cội của vạn phúc. Nghi lễ của hôn nhân được chính đáng thì về sau phẩm vật thỏa thuận và thiên mệnh mới hoàn toàn.

Mạnh tử đã khảo luận Kinh Thi, lấy thiên Quan thư làm đầu, ý nói rằng trên hơn hết là bực cha mẹ dân, đức hạnh của bà Hậu phi phu nhân nếu chẳng ngang bằng với trời đất, thì không lấy gì mà thờ phụng thần linh để điều hòa sự thích nghi của vạn vật. Từ đời trước trở lại, việc hưng phế của ba đời Hạ, Thương, Chu chưa có bao giờ không do ở đấy vậy.



Dịch Thơ
Quan thư chương III

Vắn dài rau hạnh bên sông,
Kiếm tìm mà hái theo dòng đôi bên.
Được người thục nữ chính chuyên,
Mến nàng, cầm sắt đánh lên vang dầy.
Bên sông rau hạnh vắn dài,
Đem về nấu chín mà bầy hai bên.
Được người thục nữ chính chuyên,
Để nàng vui thích, vang rền trống chuông.

Bản dịch: Tạ Quang Phát