View Full Version : Triết lý về NGHIỆP
Tịnh Ngọc
29-08-2005, 11:08 PM
TRIẾT LÝ VỀ NGHIỆP
Hòa Thượng Hộ Tông Vansarakkhita Maha Thera
In Lần Thứ Nhất Tại Sài Gòn 1974, Tái Bản Tại Hoa Kỳ 1998
Tái Bản Tại Việt Nam 2001
LỜI NÓI ÐẦU
Triết lý về nghiệp là nền tảng kiên cố làm cho các tôn giáo có những quan điểm dị đồng.(1)
Các tôn giáo khác cho rằng: việc làm ăn của người mà có quả báo, như thế nào đó, là tùy ở "Một cái" có thế lực tối cao cho thực tiễn. Họ gọi "một cái" đó là đấng Tạo hóa hay là đức Phạm thiên.
Nhưng Phật giáo thuyết trái ngược với các tôn giáo khác rằng: người là kẻ tạo nghiệp. Nghiệp là điều qui định tự nhiên của đời. Nó cho quả phải thực thi như thế nầy như thế kia. Nó là điều chỉnh lý bất biến (2). Sự xoay vần của nó, ví như bánh xe có phận sự xoay tròn vậy.
Chúng ta là người tạo nghiệp, theo ý nghĩa tương phản, nghiệp không làm gì được người. Quả của nó phân hạng chúng sinh khác nhau ấy cũng do chúng sinh tạo nghiệp riêng biệt. "Tạo lành quả cũng lành, tạo dữ quả cũng dữ".
Những nhà khoa học hiện đại, thừa nhận căn bản "Nghiệp" trong Phật giáo vì họ thấy rằng: sự động tác và sức phản ứng hằng có quả ngang nhau và tương phản nhau. Thí dụ: như sự ném quả bóng, ta thấy rằng: ném mạnh thì quả bóng dội lại mạnh, ném nhẹ thì quả bóng dội lại nhẹ. Đây là nghiệp vậy.
Vấn đề "Nghiệp" trong quyển sách nầy dẫn chứng cớ ra để giải thích, làm bằng cho thấy hiển nhiên cho chư quý độc giả dùng để điều tra, ngẫm nghĩ không nên vội bỏ. Ví bằng không để ý đến căn bản "nghiệp" thì Phật giáo không có ý nghĩa và thú vị gì nhiều đến ta và toàn thể nhân loại.
Có kẻ cho rằng: "nghiệp" là một lợi khí của hàng trí tuệ viên dẫn ra để đàn áp và trấn tỉnh lòng người thiển kiến. Như thế là sự hiểu biết sai suyểnvô căn cứ(3). Vì Phật giáo chẳng phải là lợi khí của ai và và cũng chẳng dạy kẻ nào phải co tay rút chân cả.
Mong rằng sự học vấn về "nghiệp" theo căn bản Phật ngôn dạy dầu sao cũng có lợi không nhiều thì ít đến chư quý độc giả và xin nhớ rằng "nghiệp" không làm gì được người, chính người riêng biệt tạo nghiệp. Như nước mát, lửa nóng. Nếu mó vào thì nước cho mát theo phận sự của nó; lửa cũng cho nóng theo phận sự của lửa, chỉ tuỳ người tự mó vào mà thôi.
Chúng tôi xin hồi hướng quả phúc sự phiên dịch quyển kinh nầy đến tất cả Chư Thiên trong sa bà thế giới cùng cha mẹ thầy tổ các bậc ân nhân và hàng Phật tử.
Cầu Chư Thiên hoan hỉ hộ trì tất cả chúng sinh nhất là toàn thể Phật giáo đồ hằng mau đoạt được mục đích cứu cánh giải thoát.
Mong thay!
Vansarakkhita Maha Thera
(Hòa Thượng Hộ Tông)
[1] Quan điểm: căn cứ của kiến thức để nghiên cứu mọi vấn đề.
[2] Chỉnh lý: chỉnh đốn.
[3] Sai suyển: không đúng.
Tịnh Ngọc
29-08-2005, 11:11 PM
THIÊN 1
GIẢI VỀ NGHIỆP
Từ khoảng sinh đến tử và từ tử đến sinh, có một cái xoay tròn, tự nó duy trì xáo trộn thái quá. Sinh rồi tử, tử rồi sinh tái diễn mãi, như thế không kể xiết. Cái đó càng xoay tròn thì càng không thấy thủy chung và sự vãng lai của nó.
Nếu thiếu ánh sáng trong tâm, thì chúng ta cho rằng cái đó nó chuyển xoay, vô nhân quả, bất quy định, không có chế độ. Khi đã hiểu lầm như thế thì là cái mối hại vô cùng nguy hiểm, khiến sinh mệnh chúng ta phải hư hỏng càng chịu trầm luân khổ hải trong vô lượng kiếp.
Cái đó tức là cái "NGHIỆP".
Cái "nghiệp" tạo ra Trời, Người và Thú bị giam hãm trong vòng luân hồi sinh tử, tử sinh mãi mãi, đắm chìm trong bể khổ.
"NGHIỆP" là cái pháp quy định, là luật thiên nhiên, chỉ cho thấy rõ rằng tất cả những cái chi trong đời đều có nhân quả. Người tạo nghiệp tức là nhân, sẽ phải thụ quả tức là sự thành tựu bởi nhân, liên tiếp nhau không ngừng nghỉ.
Đây là luật quy định của thụ quả theo Nghiệp.
Hàng Phật tử cho rằng: Nghiệp hằng đàn áp sinh mệnh tất cả mọi người cho đến kiếp cuối cùng.
Vì căn cứ vào sự hành vi trong quá khứ, tạo ra sinh mệnh trong hiện tại, sinh mệnh trong hiện tại gây nên mệnh sống trong tương lai. Trong nền tảng Phật ngôn có nói rằng:
"Vì cái này có, cái kia mới sinh, từ cái đã sinh mới có cái khác nữa. Bởi không có cái kia, cái này mới không có, cái này diệt, cái kia mới diệt".
Thuyết minh rằng: c ái quả hằng sinh từ cái nhân, tiếp liền nhau như thế. Ngoài ra, họ còn lưu tâm rằng: n gười là cái quả của năm nguyên nhân là:
- Sự không thấu rõ kiếp quá khứ.
- Sự chìm đắm của tâm liên lạc với lẽ sinh tồn trong đời.
- Sự giữ gìn trông nom sinh mệnh và của cải.
- Nghiệp tức là sự hành vi, ám chỉ đến cái quả của tâm suy nghĩ, tác dụng trong quá khứ.
- Thực phẩm dùng trong kiếp này.
Về khí chất, họ cũng cho rằng: n ó nảy sinh do bốn nguyên nhân là:
- Cái thiên nhiên của thân thể.
- Cùng một huyết thống của nghiệp.
- Các vật chung quanh.
- Nhân và quả của việc làm trong quá khứ.
Sự thật, mỗi nghiệp hằng có quả liên tiếp, quan hệ với nhau trước rồi trở thành nhân của quả nữa, tiếp tục liền nhau.
Thí dụ: n gười cha sinh con, người con đó sẽ thành người cha kế thế mãi mãi như vậy.
Đức Phật hằng quan sát điều quy định ấy trong thời kỳ Ngài vừa giác ngộ. Ngài hiểu biết phân minh rằng đó là điều chế định cưỡng bách đời phải thực hành theo. Ngài tuyên bố rằng: "Khi nào các pháp rõ rệt đến Bà la môn, là người cố tâm nhìn chăm chăm, khi đó tất cả hoài nghi của Bà la môn ấy hằng trừ diệt, do được hiểu rõ pháp của nhân. Nhờ sự thấu triệt cách trừ diệt các duyên, Bà la môn ấy mới được trừ khử Ma vương cùng quân ma và hằng rực rỡ, tươi sáng, ví như vầng trăng chói lọi giữa không trung vậy" .
Điều quy định đã giải như trên, chúng ta gọi là Paticcasamupaada, "thuyết Thập nhị duyên khởi" hoặc gọi theo cách đàm thoại là "dây xích của nhân quả".
Cái khởi nguyên của điều quy định này, là nguồn gốc của cái có tất cả sinh mệnh, cái chung qui của nó tức là sự khổ vậy.
Luật nhân quả này, chẳng phải chỉ có trong Phật giáo, dù trong Thiên Chúa giáo cũng có đại ý để trong kinh rằng: "Người gieo giống nào họ sẽ được quả ấy".
Trong khoa học cũng có vấn đề căn bản như vầy: "Nhân và quả phải ngang nhau".
Theo ý nghĩa này, phần đông đều nhìn nhận luật nhân quả, hoặc nói một cách khác, họ cho rằng, khi đã gây nhân tất phải chịu quả, giống nhau (có vay ắt có trả). Nhưng đa số người có quan niệm khác nhau, do chỗ hiểu biết rộng hoặc hẹp hơn kém nhau mà thôi.
Các nhà triết học có nói: "Phật giáo không giống như Thiên chúa giáo và Hồi giáo..." Phật giáo dạy rằng: Sự khổ trong đời là do người tạo nghiệp (là quả của nghiệp) hằng xảy ra tự việc làm của người, mà diệt được cũng do sự hành vi của họ, không tùy thuộc một hành động của một vị nào cả.
Trong nền tảng Phật giáo có chép rằng: t ất cả quả đều có nhân và cái đặc tính của người tức là cái quả thu hoạch được của sự suy nghĩ và hành động trong thời quá khứ của ta. Nghiệp tức là sự động tác và quả của sự động tác ấy, hằng duy trì những sở đắc của nó và sức phản ứng chống lại với các việc xảy đến. Họ có thể trở nên trong sạch bằng cách tự mình hiểu rõ và có khả năng đạt đến sự giải thoát trong một ngày nào.
Trong kinh có ghi mọi việc làm của người, không nói tốt hay xấu, hằng có quả báo ứng, chẳng có một nhân vật nào đàn áp, thủ tiêu được cái quả của nghiệp. Nghiệp nào đã tạo thì quả của nó có thể tung ra, rải rác khắp nơi cho đến kiệt lực, rồi trở lại cho quả nữa.
Nghiệp là phương pháp để phân biệt sự hành vi tốt hay xấu. Theo chân lý, thì người phải hành thiện, nên trú vững trong đạo đức nghĩa là chỉ phải làm lành, vì nghiệp dữ hằng cho quả khổ, không cần nói khổ ấy sanh chóng hay chậm.
Nghiệp chẳng phải là số mệnh rủi may đâu. Nghiệp nào đã làm thì nên hiểu rằng đã qua rồi, quả của nghiệp sẽ phát sinh sau, cùng với hiện tại nghiệp tức là sự hành vi trong đời này. Theo như đã giải đây, thấy rằng: nghiệp là một vấn đề cần phải tu tập, học hỏi, nhân đó triết học về nghiệp mới góp nhặt tài liệu để biến thành một quyển sách như đây.
Tịnh Ngọc
29-08-2005, 11:21 PM
THIÊN II
CHỨNG CỚ HIỂN NHIÊN CỦA NGHIỆP
1. Kamma.m satte vibhajati yadida.m hinappa.nittaaya
Nghiệp hằng phân hạng chúng sinh tức là chia ra nhiều loại thấp hèn và cao sang (khác nhau).
2. Yaidsa.m vapate biijam
Tadisa.m labhante phala.m
Kalyaanakaarii kalyaana.m paapakaarii
Ca paapaka.m
Người gieo giống nào, hằng thụ quả ấy, người tạo nghiệp lành được quả vui, kẻ hành nghiệp dữ hằng chịu quả khổ.
3. Sace pubbe katahetu
sukhadukkha.m nigacchati
poraanakamkata.m paapa.m
tameso mu~ncate ina.m
Người thụ vui hay khổ, do phúc hoặc tội đã làm từ trước là nhân, người ấy được gọi là mãn tội cũ như trả nợ vậy.
4. Abhittharehta kalyaane
paapaa cittam nivaaraye
dandha.m hi karato pu~n~na.m
paapasmin ramati mano
Người phải gấp tận tụy với việc lành, nên phòng ngừa tâm khỏi nghiệp ác, vì người lâu làm lành, thì tâm sẽ ưa thích trong việc dữ.
5. Paapa~nce puriso kayiraa
Na ta.m kayiraa punappuna.m
Na ta.mhi chandam kayiratha
Dukkho paapassa uccayo
Nếu người làm tội thì không nên làm nhiều lượt, không nên ưa thích trong tội ấy, vì sự chứa tội là nhân cho quả khổ.
6. Pu~n~nance puriso Kayiraa
Kayiraaathenam punappunam
Tamhi chandam kayiratha
sukho Pu~n~nassa uccayo
Nếu người tạo phước thì nên tạo phước ấy thường thường, nên có tâm ưa thích trong phước ấy, vì sự vui thích phước là nhân cho quả vui.
7. Paapopi Passati bhadram
Yavaa apa.m na Paccati
Yadaa ca paccati paapa.m atha
(papo) paapaami passati
Người làm quấy thường thấy quấy là phải, cho đến khi cái quấy chưa có đâm mộng, nhưng khi cái quấy sanh quả thì họ mới thấy quấy là xấu xa.
8. Bhadropi passati paapam
yaava bhadram na paccati
yadaa ca paccati bhadram atha
(bhadro) bhadraani passati
Người làm lành, hay thấy nghiệp lành là xấu, cho đến khi nghiệp lành chưa có nảy quả, nhưng tới lúc nghiệp lành cho quả, họ sẽ thấy nghiệp lành là tốt đẹp.
9. Maavama~n~netha paapassa
na mattam aaga.missati
udabindunipaatena
udakumbhopi puurati
puurati baalo paapassa
thoka.m thorampi aacina.m
Người không nên khinh suất rằng: tội chút ít sẽ không đến, cái nồi chứa đầy nước mưa nhỏ xuống từng giọt thế nào, kẻ si mê khi tích tội, dù từng tí, hằng đầy nước tội được như thế.
10.- Maavama~n~netha pu~n~nassa
na matta.m aagamissati
udabindunipaatena
udakumbhopi pu~n~nassa
thoka.m thokampi aacinam
Người không nên khinh thường rằng: phước chút ít sẽ không đến, cái nồi trữ đầy nước mưa nhỏ xuống từng giọt thế nào, bậc có trí tuệ chứa phước mỗi khi một ít, cũng hằng phước được như vậy.
11.- Vaanijova bhayam maggam
appasattho mahaddhano
visam jivitukaamova
paapaami parivajjaye
Người nên tránh khỏi nghiệp ác như thương nhân có nhiều của, nhưng ít đoàn người, lánh đường đáng sợ và như kẻ mong sống ngừa độc dược vậy.
12. Paanimhi ce vano naassa
hareyya paaninaa visa.m
naàbbanam visamanveti
natthi paapa.m akubbato
Nếu bàn tay không có vết thương thì người cầm độc dược bằng tay được, vì độc dược không thấm vào tay, thế nào tội hằng không có đến người không làm như vậy.
13. Yo appadutthassa narassa dussati
suddhassa posassa a.nanganassa
gaameva bala.m pacceti paapa.m
sukhumo rajo pativaatamvakhitto
Kẻ nào hại người không trả nủa (= làm nhục người ta để trừ lại điều người làm nhục mình) là người trong sạch, như gò đất, thì tội hằng trở hại kẻ ấy, là người si mê, như bụi bặm mà họ đổ trên gió vậy.
14.- Gabbhameke upapajjanti niraya.m
paapakammino
sagga.m sugatino yanti
parinibbanti anaasavaa
Có người sinh trong thai bào: kẻ có nghiệp xấu hằng sa địa ngục, người có nghiệp lành là nhân đến nhàn cảnh, hằng lên cõi trời; bậc vô lậu phiền não thường nhập Niết bàn.
15.- Ma antalikkhe na samuddamajjhe
na pabbataanam vivara.m parissa
na vijjate so jagatippadeso
yatartthito mucceyya paapakammaa
Người tạo nghiệp dữ, trốn trong hư không cũng chẳng khỏi nghiệp dữ, lánh trong giữa biển cũng chẳng khỏi, ẩn mình trong kẹt núi cũng chẳng thoát nghiệp ác đâu. Người nương ngụ trên địa cầu không bao giờ thoát ly được nghiệp dữ.
16.- Ma antalikkhe na samuddamajjhe
na pabbataanam vivira.m parissa
na vijjate so jagatippadeso
yatra.t.thita.m nappasaheyyamaccu
Người ngồi giữa trời, vào đến giữa bể, ẩn mình trong kẹt núi cũng chẳng khỏi. Sự chết không đàn áp người trú ngụ trên địa cầu chẳng có đâu .
17.- Sukhakaamaani bhaataani
yo dandena vihinsati
attaano sukhamesaano
pecca so na labhati sukha.m
Chúng sanh đã sinh ra là những người cầu được vui; kẻ nào mong tìm hạnh phúc cho mình, nhưng làm hại kẻ khác bằng khúc cây v.v.; kẻ ấy chết rồi hằng chẳng được vui.
18.- Sukhakaamaani bhuataani
yo dan.dena vihi'nsati attano sukhamesa
pecca so labhate sukha.m
Chúng sanh đã sinh ra là người mong được vui, kẻ nào tìm hạnh phúc cho mình, không làm hại người bằng khúc cây, kẻ ấy tạ thế rồi thường được vui.
19.- Atha paapaani kammaani
kara.m baalo na bujjhati
sehi kamehi dummedho
aggi daddhova tappati
Kẻ si mê tạo những nghiệp ác, thường không biết mình, người kém trí tuệ, hằng nóng nảy như bị lửa thiêu vì nghiệp của chính mình đã làm.
20.- Yo da.ndena adandesu
appadutthesu dussati
dasannama~n~natram thaanam
khippameva nigacchati
vedanam pharusa.m jaanin
sariiassa va bhedanam
garukam vaapi aabaadham
cittakkhepam va paappune
raajato vaa upasaggam
abbhakkhaanam va daaruna.m
parikkhayam va ~naatinam
bhogaanam va pabhangunna.m
atthavaassam agaarani
aggi dahati paavako
kaayassa bhedaa duppa~n~no
nirayam so upapajjati
Kẻ nào làm hại những người không trả nủa bằng thế lực, thì hằng bị một trong mười biến cố lớn là:
1.- Bị cực kỳ khổ sở
2.- Hết tiền bạc,
3.- Hư thân,
4.- Bịnh nặng,
5.- Loạn trí,
6.- Bị vua hình phạt,
7.- Bị người sát hại nặng nề,
8.- Chia lìa thân quyến,
9.- Tiêu diệt gia tài,
10.- Cháy nhà.
Người kém trí tuệ sau khi chết hằng sa địa ngục.
21.- Manopubba'ngamaa dhamma
manosetthaa manomayaa
manasaa ce padutthena
bhaasati vaa kaaroti vaa
tato nam dukkhamaanevati
cakkamva vahato pada.m
Các pháp có tâm là hướng đạo; có tâm là chủ, thành tựu do tâm. Nếu người có tâm ác, dù nói hoặc làm, sự khổ hằng theo họ như bánh xe xoay tròn theo dấu chân bò mang ách đi vậy
22.- Manopuba'ngamaa dhammaa
manosetthaa manomayaa
manasaa ce pasannena
bhaasati vaa karoti vaa
tato nam sukhamanevati
chaayaava anupaayinii
Các pháp có tâm là hướng đạo; có tâm là chủ, thành tựu do tâm, nếu người có tâm trong sáng, dù nói hay làm, sự vui hằng theo họ, như bóng tùy hình.
23.- Idha socati pecca socati
paapakaarii ubhayattha socati
so socati so viha~n~nati
disvaa kammakilittha mattano
Người hay làm tội hằng đau khổ trong đời này; thác rồi càng đau khổ trong hai cõi, vì họ thấy nghiệp xấu của chính mình rồi đau khổ rên rỉ .
24.- Idha modati pecca modati
katapu~n~no ubhayattha modati
so modati so pamodati
disvaa kammavisuddhi mattano
Người đã làm phước, hoan hỉ trong cõi này, chết rồi cũng hằng vui thích, vui thích trong cả hai cõi; vì họ thấy tâm trong sạch của chính mình, rồi hằøng hân hoan khoái lạc.
25.- Sukaraani asaadhuuni
atta.no ahitaani ca
yam vehita~nca saadhu~nca
ta.m ve paramadukara.m
Nghiệp không tốt và không hữu ích đến mình thì dễ làm được, nghiệp lành và có lợi ích thì rất khó làm.
26.- Sukaram saadhunaa saadhu
saadhu paapena dukkara.m
paapam papena sukaram
paapamariyehi dukkaram
Nghiệp lành, người lành dễ làm; nghiệp lành kẻ ác khó làm; kẻ dữ dễ làm nghiệp ác; các bậc thánh nhân chẳng làm nghiệp dữ đâu.
27. Idha tappati pecca tappati
paapakaarii ubhayattha tappati
paam me katanti tappati
bhiyyo tappati duggatin gato
Người hay làm tội, hằng than van trong đời này, thác rồi phải chịu rên rĩ; họ thường phiền muộn trong cả hai cõi, hằng than van rằng: ta đã tạo nghiệp ác nên phải đến cảnh khổ, rồi càng ưu phiền than thở.
28.- Idha nandati pecca nandati
katapu~n~noubhayattha nandati
pu~n~nam me katanti nandati
bhiyyo nandati sugatingato
Người được phước hằng vui vẻ trong cõi này, chết rồi cũng thường vui vẻ. Họ sung sướng trong cả hai cõi, họ hằng sung sướng rằng: ta đã tạo phước để dành nên đi đến nhàn cảnh, rồi càng thêm thỏa mãn.
29.- Yathaapi puppharaasimhaa
kayiraa maalaagu.ne bahu
evam jaatena maccena
kattabbam kusalam bahuu
Người thợ làm tràng bông, trang hoàng vòng hoa bằng nhiều thứ hoa, thế nào người đã sinh ra trong đời nên làm lành cho nhiều như vậy.
30.- Eva~nce sattaa jaaneyyun
dukkhaayam jaatisambhavo
na paano paaninam ha~n~ne
paanaghati hi socati
Chúng sanh phải hiểu rằng: "sự tồn tại" là khổ, như thế họ không nên sát sinh, vì người sát sinh hằng rên siết.
31.- Caranti baalaadummedhaa
amitteneva attanaa
karontaa paapakam kamman
yam hoti katukapphalam
Những kẻ si mê có trí thức thấp hèn, có ác tâm làm nghiệp dữ, sẽ chịu quả chua cay.
32.- Na tam kammam katam saadhun
yam katvaa anutappati
yassa assamukho rodam
vipaakam patisevati
Người làm nghiệp nào rồi, sau hằng rên siết là kẻ có mặt ẩm ướt bằng nước mắt, khóc la, chịu quả của nghiệp nào, nghiệp ấy họ đã tạo rồi là nghiệp không tốt đâu.
33.- Ta~nca kammam kaatam sadhu
yam katvaa naanutappati
yassapatito sumano
vipaakam patisevati
Kẻ đã tạo nghiệp nào mà sau rồi không than van, là người có thiện tâm hằng thụ quả của nghiệp mà họ đã làm, là nghiệp lành.
34.- Madhuvaa ma~n~ntai baalo
yaavaa paapam na paccati
yadaa ca paccati papam
atha (baalo) dukhamnigacchati
Kẻ si mê thường nhận tội như mật ong cho đến khi tội chưa cho quả, đến lúc thụ quả kẻ si mê hằng chịu khổ.
35.- Na hi papa'm katam kammam
sajjukhiiramva muccati
duhantam baalaamanveti
bhasmaacchannova paavako
Nghiệp dữ mà người đã làm chưa cho quả, như sữa trong khi đang vắt chưa biến chất, thế nào, nghiệp ác hằng theo thiêu đốt kẻ si mê như lửa bị tro che lấp.
36.- Kammunaa vattati loke
kammunaa vattaatiipajaa
kammani bandhavaa sattaa
ratthassaaniva yaayato
tapena brahmacariyena
samyamena damena ca
etena brahmano hoti
etam brahmanamuttamam
Chúng sinh hằng thực tiễn theo nghiệp là huyết thống như trục bánh xe đang xoay vậy
Người sẽ là bậc cao quí do bốn nghiệp là:
1. Tapa: Chuyên cần diệt điều ác.
2. Brahmacariya: Thực hành phạm hạnh.
3. Sa~n~nama: Chế ngự thân khẩu ý.
4. Tama: Tự hóa.
Đây là bốn nghiệp lành cao quý của các bậc quý nhân.
37.- Natthi loke rahonaama
paapakammam pakubbat
passanti vanabhuutaani
tam balo ma~n~nate raho
Nơi kín đáo của người làm tội chẳng có trong đời. Những kẻ si mê thấy nơi có rừng rậm đoán chừng rừng đó là chỗ kín đáo.
PHẬT NGÔN VỀ VẤN ÐỀ NGHIỆP
Natthi vijjaasaamm mittam
na ca byaadhisamo ripu
na ca attasamam pemam
na ca kammamsamam balam
Chẳng có bạn nào có giá trị bằng sự học thức, chẳng có thù địch nào bằng thế lực của bịnh hoạn, chẳng thương ai bằng yêu mình, chẳng có sức mạnh nào bằng nghiệp.
Duggata'm gaccha helaabha
aapo labbena purati
thale vassatha pajjunna
aapo aapena puurati
natthidam kammapatthaanam
Lợi ơi! Ngươi nên tìm kẻ nghèo, người giàu có tiền bạc chan chứa rồi .
Mưa ơi! Hãy rơi xuống trong nơi khô héo đi, biển cả có đầy nước rồi, dầu như thế, sự mong mỏi cũng chẳng được như nguyện. Vì thế lực của nghiệp đàn áp trên tất cả.
Hiinana'm gacchate vittam
viraanam vasantakattam
vadanti ca hiinaa jana
pubbakammapatthaanaati
Tài sản của kẻ ít bền chí, biến chuyển thành của người có nhiều sự kiên nhẫn hơn. Kẻ thấp hèn đáp rằng: bất cứ cái chi đều do nhân trước cả.
Na vadanti cevam dhiiraa
vaayamiísu sabbakamme
na ce sijjhati tam kamma
aphalam ettha ki~ndoso
Bậc trí tuệ không thốt như (kẻ lười biếng) đâu, họ hằng tinh tấn làm tất cả công việc. Nếu công việc bất thành thì là thất bại, như thế phàn nàn cái chi?
Tịnh Ngọc
30-08-2005, 12:29 AM
THIÊN III
VẤN ĐỀ NGHIỆP (tiếp theo)
2.1 Nghiệp Phân Hạng Người
Thuở kia, Ðức Thế Tôn ngự trong Kỳ Viên tịnh xá của ông Trưởng giả Cấp Cô Độc, gần thành x á V ệ.
Thuở ấy, có gã thanh niên con ông t odeyya ( Bà-la-môn) đến lễ Phật rồi bạch hỏi rằng:
- Bạch Đức gotama, cái chi là nhân là duyên làm cho nhân loại thấp hèn và cao sang khác nhau, nghĩa là cớ sao, có người:
1.- Yểu thọ --
2- Trường thọ
3.- Nhiều bệnh --
4- Ít bệnh
5.- Có nhan sắc đáng ghét -
6- Có dung mạo đáng yêu
7.- Có quyền thế thấp
8- Có quyền thế cao
9.- Nghèo khổ --
10- Giàu có
11.- Thấp hèn --
12- Cao sang
13.- Ngu dốt --
14- Khôn ngoan
Ðức Thế Tôn đáp:
- Này người thanh niên! Chúng sinh đều có nghiệp là của họ, là người thụ quả, có nghiệp tạo ra, có nghiệp là dòng dõi, có nghiệp là nơi nương tựa. Nghiệp hằng phân hạng người hèn, kẻ sang như vậy.
Người thanh niên (s ubhamaanaba) không thể hiểu pháp mà Ngài giảng đại khái được, bèn bạch, cầu Ngài thuyết rọâng thêm. Ðức Thế Tôn liền giảng rằng:
1) Này thanh niên! Có hạng người trong thế gian này, không lòng trắc ẩn, hay sát sinh hại vật, sau khi thác hằng sa trong ác đạo, bằng không, tái sinh làm người yểu tử. Đấy là pháp hành làm cho người chết non .
2) Người có tâm từ bi, tránh sát sinh hại mệnh, chết rồi được sinh lên trời, nếu không, trở lại làm người trường thọ. Đấy là pháp hành làm cho người được sống lâu.
3) Người hành hạ đánh đập chúng sinh, thác rồi phải sa trong ác đạo, nếu không, trở lại làm người, thì nhiều bệnh hoạn. Đấy là pháp hành làm cho người nhiều bệnh tật.
4) Người không hành hạ chúng sinh, thác rồi hằng đến nhàn cảnh, bằng không, tái sinh làm người thì ít bệnh hoạn. Đấy là pháp hành làm cho người ít bệnh.
5) Người hay giận, bất bình, chết rồi sinh trong ác đạo, bằng không tái sinh làm người có dung mạo đáng ghét. Đấy là pháp hành làm cho người xấu xí.
6) Người ít nóng giận, thác rồi được sinh trong nhàn cảnh, nếu không, tái sinh làm người có sắc xinh đẹp.
7) Người ganh tị, thác rồi sinh trong ác đạo, nếu không, trở lại làm người thấp hèn. Đấy là pháp hành làm cho người ít quyền thế.
8) Người không ganh ghét, chết rồi được sinh trong nhàn cảnh, bằng không, trở lại làm người có quyền to thế lớn.
9) Người không bố thí, nhất là cơm nước.. . đến các bậc tu hành.. . thác rồi đọa trong ác đạo, nếu không, sinh lại làm người ít của cải. Đấy là pháp hành làm cho người ít của.
10) Người hay bố thí, như cho thực phẩm.. . đến nhà tu hành.. . thác rồi được sinh trong nhàn cảnh, bằng không, trở lại làm người giàu có. Đấy là pháp hành làm cho người trở nên phú túc.
11) Người hay ngoan cố, kiêu căng, không lễ bái, tiếp rước, không mời ngồi, không nhường đường, không cúng dường, không kính trọng bậc xứng đáng như cha mẹ, thầy tu.. . chết rồi phải sa trong ác đạo, nếu không trở lại làm người đê hèn thấp kém. Đấy là pháp hành cho sanh trong dòng dõi đê hạ.
12) Người không hay ngoan cố, không kiêu căng, thường lễ bái, đón tiếp, mời ngồi, nhường đường, cúng dường đến bậc xứng đáng, thác rồi được sinh trong nhàn cảnh, nếu không, tái sinh làm người có gia thế cao sang. Đấy là pháp hành làm cho người sinh trong quý tộc.
13) Người nào không tìm bậc chân tu, bạch hỏi rằng: thế nào là lành là dữ.. . chết rồi phải sa trong ác đạo, bằng không, sinh lại làm người ngu ngốc. Đấy là pháp hành làm cho người dốt nát.
14) Người nào hay tìm bậc sa môn, Bà-la-môn để bạch hỏi rằng: cái chi là phước là tội.. . thác rồi được sinh trong nhàn cảnh, bằng không, trở lại làm người có trí tuệ.
2.2 Nghiệp Ðen, Nghiệp Trắng
Thuở kia, Ðức Thế Tôn ngự trong xứ Koliya, đến châu quận Haliddavasana.
Thuở ấy có người Pu.n.nakoliyaputta hành đạo như loài bò và Seniyaacelaka tu như loài chó, cùng nhau đến hầu Ðức Thế Tôn, rồi Pu.n.nakoliyaputta bạch hỏi rằng:
- Bạch Ngài, Seniyaacelakađây hành như loài chó, dùng thực phẩm mà người để trên đất, tu đã lâu không khuyết điểm như thế, vận mệnh của hắn sẽ ra sao? Cõi mà hắn sẽ thụ sinh trong kiếp sau sẽ thế nào?
Ðức Thế Tôn ngăn không cho Pu.n.nakoliya hỏi đến ba lần, sau rốt Ngài đoán trước rằng:
- Này Pu.n.na! Có người trong đời này, tu hạnh như chó lâu ngày, không khuyết điểm, hành như chó và tâm quyết định như thế, có bộ tịch như chó, hành đạo không thiếu sót, sau khi chết sẽ sinh trong loài chó, nếu người ấy có ý kiến độc đoán rằng: ta sẽ làm một vị trời có nhiều quyền thế hoặc một vị trời nào, do thái độ mà mình đã thọ trì. Như thế sự hiểu biết của họ là sai lầm, thì số mệnh của họ chỉ có hai, là: địa ngục hay là cầm thú.
Khi Ðức Thế Tôn đã dự đoán như vậy, s eniyaacelaka liền khóc ròng và đồng thời bạch rằng:
- Tôi không phải khóc vì lời dự đoán ấy, nhưng bởi thấy rằng tu hạnh như loài chó mà tôi đã thực hành từ lâu, không khuyết điểm, là rỗng không, chẳng có lợi ích chi cả.
Tiếp theo Seniyaacelaka bạch hỏi đến số mệnh tương lai của Pu.n.nakoliyaputta tu hạnh như loài bò, Ðức Thế Tôn ngăn, không cho hỏi đến ba lần, sau rồi Ngài tiên đoán như đã giải, khác nhau là người tu hạnh loài bò, sẽ phải sinh trong loài bò.
Pu.n.nakoliyaputta được nghe xong cũng khóc than như Seniyaacelaka, rồi cầu Ðức Thế Tôn giảng đạo cho hai người dứt bỏ tu hạnh loài chó và loài bò.
Ðức Thế Tôn bèn thuyết rằng:
- Này Pu.n.na! Bốn thứ nghiệp Như Lai giảng đây, người nên thấy rõ bằng trí tuệ cho thấu chân lý là:
1.- Nghiệp đen có kết quả đen
2.- Nghiệp trắng có kết quả trắng
3.- Nghiệp đen lẫn trắng có kết quả đen lẫn trắng
4.- Nghiệp không đen không trắng có kết quả không đen không trắng.
Khi đã thuyết đầu đề như thế rồi, Ngài giảng tiếp rằng:
- Này Pu.n.na! nghiệp đen có kết quả đen là thế nào? Này Pu.n.na! Trong đời có hạng người làm hại kẻ khác bằng thân, khẩu, ý sau khi thác họ sẽ sa trong khổ cảnh, chịu nhiều nỗi đớn đau rên siết, chỉ phải thọ khổ trăm bề, như chúng sinh trong địa ngục. Đấy là vì nghiệp ác đã tạo. Họ tạo nghiệp nào thì chịu khổ vì nghiệp ấy, như thế. Sự kết quả của nghiệp hằng hình phạt họ.
- Này Pu.n.na! Như lai gọi rằng: chúng sanh là người kế thừa của nghiệp tức là thụ quả của nghiệp. Cách thụ quả của nghiệp đến như vậy.
- Này Pu.n.na! Nghiệp trắng có kết quả trắng như thế nào?
- Này Pu.n.na! Trong đời không có hạng người không làm hại chúng sinh bằng thân, khẩu, ý, họ sẽ đến cõi ít khó khăn, như vậy, họ sẽ có sự tiếp xúc tình cảnh không nông nổi, rồi sẽ được an vui như Chư thiên vậy.
- Này Pu.n.na! Sự động tác của thân, khẩu, ý, không làm khổ kẻ khác, Như Lai gọi là nghiệp trắng có kết quả trắng.
- Này Pu.n.na! Nghiệp đen lẫn trắng có kết quả đen lẫn trắng là thế nào?
- Này Pu.n.na! Trong đời có chúng sinh dùng thân, khẩu, ý, hãm hại chúng sinh cũng có, không hãm hại cũng có, như vậy họ sẽ đến cõi khó khăn cũng có, không gặp cảnh khốn khổ cũng có, họ sẽ chịu khổ cũng có, không mang tai cũng có, nghĩa là có khổ lẫn vui.
- Này Pu.n.na! Khi có thân, khẩu, ý, ác lẫn thiện như vậy. Như Lai gọi là nghiệp đen lẫn trắng, có kết quả đen lẫn trắng.
- Này Pu.n.na! Nghiệp không đen không trắng ra sao?
- Này Pu.n.na! Trong tất cả ba loại nghiệp: nghiệp đen có kết quả đen, nghiệp trắng có kết quả trắng và nghiệp đen lẫn trắng có kết quả trắng, và nghiệp đen lẫn trắng có kết quả đen lẫn trắng, tác ý suy nghĩ ngoài ba nghiệp ấy. Như Lai gọi là nghiệp không đen không trắng, có kết quả không đen không trắng, tức là không tạo nghiệp nữa.
- Này Pu.n.na! Bốn loại nghiệp ấy, Như Lai đã tự mình thực hành phân minh bằng trí tuệ cao siêu, rồi phổ độ chúng sinh cùng được thấy rõ .
Khi đã thuyết xong Pu.n.nakoliyaputta hoan hỉ tán dương thời pháp và xin thọ quy giới làm cận sự nam.
Phần Seniyaacelaka cũng thọ quy giới và xin xuất gia theo Phật giáo. Ðức Thế Tôn thuyết tiếp đến Tạng Luật rằng: những người đã quen tu theo ngoại đạo, trước phải chịu phạt cấm phòng bốn tháng, rồi mới có thể xuất gia được, nhưng Seniyaacelaka bạch xin chịu phạt cấm phòng đến bốn năm. Do nhân này, Seniya mới được xuất gia tại chỗ ngụ của Ðức Thế Tôn, không phải bị phạt cấm phòng.
Không lâu, Seniya cố thực hành Chánh pháp đạt A-la-hán quả, thoát ly sinh tử luân hồi.
2.3 Năm Pháp Mà Chúng Sinh Khó Được
Thuở kia, Ðức Thế Tôn ngự trong Kỳ Viên tịnh xá của trưởng giả Cấp Cô Độc gần thành Xá Vệ.
Khi ấy ông trưởng giả Cấp Cô Độc vào tịnh xá hầu Phật, Ðức Thế Tôn giảng rằng:
- Này ông trưởng giả! Các pháp mà chúng sinh mong mỏi, hài lòng, nhưng họ rất khó được trong đời là:
1.- Tuổi thọ
2.- Sắc đẹp
3.- An vui
4.- Quyền thế
5.- Cõi trời
- Này ông trưởng giả! Như Lai không gọi chúng sinh được năm pháp ấy bằng sự khẩn cầu, van lơn. Nếu được theo sự nài xin nguyện vọng, thì ai trong đời này, có sự thất vọng, thốn thiếu vật chi?
- Này ông trưởng giả! Các hàng thánh thinh văn mong được sống lâu, sắc đẹp, an vui, quyền thế và cõi trời, họ không cầu khẩn, vui thích với tuổi thọ, sắc đẹp.. . ấy dù họ có thực tiễn pháp hành cho sinh sự trường thọ, sắc đẹp an vui, sức mạnh và cõi Trời.
Ðức Thế Tôn giảng tiếp rằng:
- Những bậc minh triết hằng tán dương người mong được trường thọ, sắc đẹp, quyền cao, danh vọng, cõi trời, được sinh trong nhà quý tộc, nhưng họ không cẩu thả, trong sự bỏ dữ về lành. Các hàng minh triết, hằng cẩn thận rồi được hai lợi ích là:
1.- Lợi ích trong kiếp này.
2.- Lợi ích trong đời tương lai.
Vì được hai lợi ích ấy, nên bậc trí thức thường thốt rằng: người có trí tuệ là bậc minh triết.
Chú thích: Trong kinh này, Ngài thuyết về năm pháp:
1.- Sống lâu
2.- Sắc đẹp
3.- An vui
4.- Quyền thế
5.- Cõi Trời
Tất cả phàm nhân đều mong năm nguyện ước ấy, nhưng họ nan đắc và sự được ấy cũng không phải được bằng cách van xin rằng: cho tôi được sống lâu, sắc đẹp.. .vì nếu cầu mà đắc thì có ai là người thiếu thốn vật gì?
Người được năm pháp ấy, cần phải có tạo nhân lành, hợp với sự mong muốn. Pháp hành cho phát sinh tuổi thọ... có thuyết để trong các kinh, như có tích:
1)- Có nàng công chúa s umanaa bạch hỏi Ðức Thế Tôn rằng:
- Hai Thinh văn của Ngài có đức tin ngang nhau, song một vị được vật dụng theo lẽ đã rồi đem dâng đến Tỳ khưu khác, còn vị kia không cho chi cả, hai vị này thác rồi sinh lên cõi Trời hoặc làm Người được hạnh phúc khác nhau hay giống nhau?
Ðức Thế Tôn đáp:
- Hai Thinh văn ấy sẽ khác nhau, nghĩa là vị bố thí vật dụng, khi sinh làm Trời hay Người hằng cao sang hơn vị kia, do năm quả báo là sống lâu, sắc đẹp, an vui, quyền thế trên cõi Trời hay trong thế gian.
2)- Trong kệ ngôn a numodana có dạy: A ayudo balado dhiio.. .
Sự cho cơm nước là nhân sinh sống lâu, sắc đẹp, an vui, sức mạnh.
Tóm tắt rằng: sự bố thí, trì giới là pháp hành cho quả sống lâu.. . Trong kinh Ngài dạy chớ nên lãnh đạm trong việc lành, vì sẽ được thụ quả theo sở nguyện, tức là được các lợi ích: sống lâu, sắc đẹp, an vui, sức mạnh.
1.- Bố thí không sát sinh sẽ được giàu có, sống lâu. . .
2.- Ít sân, không bất bình sẽ có sắc đẹp.
3.- Phụng dưỡng cha mẹ, cúng dường các bậc tu hành cho đến làm những việc vô tội sẽ được an vui.
4.- Không thiên vị sẽ được quyền thế.
5.- Hành chánh pháp (thân, khẩu, ý) liêm khiết sẽ được lên trời.
2.4 Dhammasamadana - Pháp Tạo Bốn Nghiệp
Trong m ajjhimanakaaya Mulaapa.n.nasaka, Ðức Thế Tôn có giảng thuyết về sự thực hành bốn nghiệp là:
1.- Có thứ nghiệp cho quả khổ trong hiện tại và trong nghiệp kế tiếp
2.- Có thứ nghiệp cho quả khổ trong hiện tại, những quả vui trong tương lai.
3.- Có loại nghiệp cho vui trong hiên tại, quả khổ trong tương lai.
4.- Có loại nghiệp cho vui trong hiện tại và vui trong tương lai.
Loại nghiệp MỘT: là tạo nghiệp ác bằng tâm không thừa nhận (bị động). Khi tạo nghiệp như thế sẽ chịu quả khổ, như người tạo nghiệp ác bị bắt buộc.
Loại nghiệp HAI: là tạo nghiệp bằng tâm tình nguyện phải chịu cực nhọc trong lúc làm, nhưng sau sẽ được quả vui, như người ưa thích hành thiện pháp, cho đến khi được thụ quả, chịu khổ lúc khởi đầu rồi sẽ hưởng hạnh phúc về sau.
Loại nghiệp BA: là tình nguyện làm nghiệp dữ mà được thỏa thích trong thuở đầu, sau nghiệp ác cho quả, thì phải chịu khổ, như người tự ý làm dữ, bắt đầu vui rồi phải chịu khổ về sau.
Loại nghiệp BỐN: là ưng thuận làm nghiệp lành, thì hằng được vui theo sở nguyện, như người tự ý làm lành được thụ quả vui về sau...
Tịnh Ngọc
30-08-2005, 12:39 AM
THIÊN IV
MƯỜI HAI NGHIỆP Trong Thanh Tịnh Kinh (visuddhimagga) quyển III có giải (12) mười hai thứ nghiệp chia ra làm ba loại là:
Loại I- Nghiệp cho quả theo thời có bốn:
1.- Ditthadhammavedaniiyakamma: Nghiệp cho quả hiện tại.
2.- Upapajjavedaniiyakamma: Nghiệp cho quả trong kiếp kế tiếp (sau khi thác).
3.- Aparaaparavedaniiyakamma: Nghiệp cho quả trong các kiếp sau sau.
4.- Ahosikamma: Nghiệp thôi cho quả.
Loại II- Nghiệp cho quả theo công việc là theo phận sự của nghiệp có bốn:
1.- Janakakamma: Nghiệp sinh sản.
2.- Upatthambhakakamma: Nghiệp vào cấp dưỡng.
3.- Upapilikakamma: Nghiệp vào áp chế.
4.- Upaghàtakakamma: Nghiệp vào sát hại.
Loại III- Nghiệp cho quả theo thứ tự là tùy nặng nhẹ của nghiệp cho quả trước hay sau, có bốn:
1.- Garukamma: Nghiệp nặng.
2.- Bahulakamma: Nghiệp thường có.
3.- Asannakamma: Nghiệp cận thời. (Nghĩa là nghiệp làm hoặc nhớ được trong khi hấp hối)
4.- Katattakamma: Nghiệp vô ý (không cố ý làm).
4.1 Loại I nghiệp cho quả theo thời
1.- Ditthadhammavedaniiyakamma:
Tiếng Ditthadhammavedaniiyakamma: dịch là nghiệp cho quả trong hiện tại.
Chú thích: Nghiệp có sức mạnh cho quả nhãn tiền, người tạo thụ quả trong đời này.
Nghiệp này chia ra làm hai:
A- Cho quả trong bảy ngày gọi là p arisattadit thadhammavedaniyakamma.
B- Cho quả lâu hơn trước song quả quyết, sau khi thác phải thụ quả cũng gọi là: ditthadhammavedaniyakamma: như trên.
Nghiệp cho quả nhãn tiền có hai:
A- Vui
B- Khổ.
A- Nghiệp Lành Cho Quả Nhãn Tiền
Chú thích: Trong kinh đô raajagaha có chàng nhà nghèo tên Pu.n.na phải làm tôi mọi cho một triệu phú gia (làm ruộng mỗi ngày) vợ y thường bữa đem cơm cho dùng.
Ngày kia Đức Xá Lợi Phất xuất diệt thọ tưởng định (Nirodhasamaapatti) rồi quan sát thấy rằng: vợ của Pu.n.na có thể cúng dường được và khi Ngài đã thọ rồi, chàng Pu.n.na sẽ thành địa vị triệu phú gia. Thấy như thế Ngài mặc y mang bát đi theo đường mà vợ chàng Pu.n.na đang đem cơm cho chồng. Gặp Đức Xá Lợi Phất, nàng rất hoan hỉ đem thực phẩm dành cho chồng, dâng hết đến Ngài, rồi trở về nhà lấy thực phẩm mới cho chồng. Khi chồng nàng dùng xong, nàng mới thuật lại, việc cúng cơm đến Đại Đức và cầu chàng hoan hỉ phước thí thực ấy.
Chồng nàng cũng đồng vui thích như vợ, xong rồi chàng Pu.n.na trở ra cày ruộng nữa. Những lằn đất cày đều biến thành vàng tức tốc. Chàng Pu.n.na mới đem câu chuyện tâu cho đức vua rõ. Vua sai người đến chở vàng ấy đi, nhưng khi chở lên xe thì vàng trở thành đất. Nhà vua biết rằng phước dành riêng cho Pu.n.na, nên vua bèn phong chàng làm đại phú gia m ahaadhanase.t.thi.
B- Ditthadhammavedaniiyakamma - Ác:
Nghiệp ác của mandagoghaataka (người hàng bò)
Như có tích rằng: Có người hàng thịt giết bò bán để nuôi sống. Y làm nghề này hơn năm mươi năm. Vì đã thường dùng thịt, trong mỗi bữa ăn nên phải có thịt bò y mới ăn cơm được. Ngày kia vợ hắn bán hết, không có đủ thịt để làm món ăn, nên hắn giận không dùng cơm, liền cầm dao ra cắt lưỡi bò sống, bảo vợ đem nướng rồi ngồi chờ ăn. Khi vợ hắn nướng xong đem cho hắn dùng ngay, nhưng miếng thịt lưỡi bò chưa xuống đến dạ dày quả của nghiệp ác phát sinh tức khắc, nghĩa là lưỡi của n anda rớt liền xuống mâm cơm. N anda la khóc như tiếng bò, chịu vô cùng khổ sở, chết rồi thụ sinh trong vô gián địa ngục (a viciinakara).
Ác Nghiệp Của Nàng Cincamaanavikaa
Trong sơ giác thời Phật giáo (p athamabodhikaala) lợi danh phát sinh rất nhiều đến Chư Tỳ khưu trong Phật giáo.
Bọn ngoại đạo thì suy vi, kém sút, nên các thầy sinh lòng ghen tỵ, mong được lợi danh về mình, bèn hội họp nhau để trù tính mưu mô, làm cho hư danh mất lợi đến Phật giáo. Rốt cuộc các thầy đồng ý nhau rằng: kế hoạch sẽ được kết quả do nàng Ci~ncamaanavikaa . Như thế, khi nàng Ci~ncamaanavikaa vào chùa các sư ngoại đạo giả bộ bất bình không thốt lời chi cả. Nàng hỏi:
- Bạch các Ngài giận tôi về vấn đề gì, nên không tỏ lời chi cùng tôi?
Các thầy đáp:
- Chúng tôi không giận chi nàng đâu, nhưng hiện nay nàng không hiểu sao; chúng ta đâu còn được an vui gì, bởi Đức g otama (Cồ Đàm) làm cho chúng ta phải khổ sở.
- Vậy, tôi phải làm thế nào cho các Ngài được vui?
- Nàng có sắc đẹp, chúng ta thấy nàng có thể làm tội đến Đức cồ đàm được.
Nghe các thầy ngoại đạo nói như thế, nàng Ci~ncamaanavikaa hiểu ngay nên nhận lời rồi từ giã trở về nhà.
Từ đấy, trong mỗi buổi chiều mát, hàng Phật tử đã thính pháp xong từ Ðức Thế Tôn trở về nhà. Nàng Ci~ncamaanavikaa đi theo con đường vào k ỳ v iên tịnh xá, khi có người hỏi nàng đi đâu? Nàng đáp: "Đi vào kỳ viên tịnh xá".
Đến buổi sáng khi tín đồ dẫn nhau đến chùa thì nàng lại trở về.
Thiện tín hỏi thì nàng đáp: "Tôi từ k ỳ viên tự trở về".
Như thế, trải qua nhiều ngày quần chúng đem lòng ngờ vực. Sau rồi nàng có cho họ biết rằng: nàng vào ngụ chung cùng Đức cồ đàm . Dần dần nàng độn bụng dường như phụ nữ mang thai, cho đến khi độn bụng to như gần đến kỳ lâm bồn. Xong, nàng đến trước mặt Phật, giữa tứ chúng (Chư Sư và Thiện tín đang nghe pháp), nàng khiển trách Đức Phật rằng:
- Này Đức Cồ đàm ! Ngài hãy quan sát coi có xứng đáng không? Tôi nay đã thai nghén gần ngày; Ngài lầm tưởng như không hay biết hử? Vì sao không tội nghiệp tế độ Ci~ncamaanavikaa chút nào vậy. Ngài chỉ có biết khoái lạc, nhưng không biết sắp sửa cho tôi khai hoa nở nhụy được an toàn sao? Dù Ngài không biết cách lo liệu thế nào, thì cũng nên bảo kẻ hộ Ngài như đức vua p asenadikosala, ông cấp cô độcv.v. trông nom sự sinh đẽ thế sao? Ngài chỉ biết thỏa mãn tình dục, đến lúc tôi mang thai lại chẳng có một lời thăm hỏi đến Ci~ncamaanavikaa chút nào cả.
Có phương ngôn rằng:"Khi nàng Ci~ncamaanavikaa thốt lời nhiếc mắng Đức Phật vậy, ví như người làm hại vầng trăng trên không trung xa vong làm hại được vầng trăng không hay biết bị ai làm hại thế nào, hằng lóng lánh sáng ngời như thường; và ví như người dùng cục phẩn nhét vào mồm của chính mình, thật vậy".
Khi nàng Ci~ncamaanavikaa thốt lời nhục mạ giữa tứ chúng như vậy, Đức Phật đáp rằng:
- Nàng Ci~ncamaanavikaa ! Những lời nàng thốt đây, không rõ rệt đến kẻ khác mà họ cũng không hay không thấy, chỉ có như lai và nàng rõ câu chuyện ấy, có phải vậy chăng? Trong lúc ấy, chỗ ngụ của Đức Trời Đế Thích chuyển động (Pháp cú kinh có nói: chỗ ngụ của Đức Đế Thích là một tảng đá màu vàng, dài lối sáu mươi do tuần, rộng sáu mươi do tuần, dầy mười lăm do tuần, khi Đức Đế Thích ngự lên thì nó hạ mình xuống, Ngài xuống rồi nó phồng lên). Khi bảo tọa của Ngài có dáng điệu như thế, Đức Đế Thích dùng thiên nhãn quan sát hiểu ngay rằng nàng Ci~ncamaanavikaa đang vu cáo Ðức Thế Tôn bằng lời thô lỗ giữa Tứ Chúng làm cho họ ngờ vực. Ngài liền xuống k ỳ v iên tịnh xá, rồi biến làm con chuột vào cắn dây và vải mà nàng đã độn cho đứt lìa rơi xuống giữa hàng Tứ Chúng.
Thấy như thế, đại chúng biết rõ rằng nàng Ci~ncamaanavikaa vu cáo Ðức Thế Tôn, họ bèn bu chung quanh giết nàng, đất liền nứt ra rút nàng vào trong vô gián địa ngục.
Nghiệp Ác Của Hoàng Tử Duttha Rajakumara
Hoàng tử đi đến vườn ngự uyển thấy chúng dân đang cúng dường Đức Độc Giác Phật, không tỏ lòng tôn kính Ngài, Hoàng tử phát sân xúi voi đuổi Đức Độc Giác Phật cho đến cùng, rồi giật bát của Ngài đổ bỏ thực phẩm xuống đất rồi nói tiếp rằng: "Đức Thầy giận ta, làm gì đến ta được" .
Khi đó nghiệp dữ cho quả nhãn tiền, khắp thân thể Hoàng tử nóng nảy rất mong được uống nước, nước đem đến từ các nơi cho Hoàng tử uống nhưng, các đồ đựng nước đều cạn khô. Không có nước uống nên Hoàng tử thác, rồi đọa vào vô gián địa ngục trong khi ấy.
2. Upapajjavedaniyakamma:
Upapajjavedaniyaakamma: là nghiệp cho quả khi đã sinh ra rồi trong kiếp kế tiếp là nghiệp nhẹ hơn trước, và sẽ cho quả khi đã sinh ra trong kiếp kế bên.
Nghiệp này có hai:
a/. Thiện
b/. Ác .
T rong kinh có ghi rằng: Nghiệp này chỉ về tác ý thứ bảy cho kết quả đến người tạo lành hay dữ theo tác ý tốc lực tâm thứ bảy, cho thành tựu quả, trong cõi kế tiếp đời hiện tại này, tức là trong kiếp thứ nhì tiếp theo .
a/. Upapajjavedaniyakamma lành có tâm là:
1) p athamajhaana: Sơ thiền
2) d utiyajhaana: Nhị thiền
3) t atiyajhaana: Tam thiền
4) c atutthajhaana: Tứ thiền
(Bốn thiền hữu sắc).
5) a kaasaa~na~ncaayatanajhaana: Hư không vô biên thiền.
6) v i~n~naa~nancaayatana: Thức vô biên thiền.
7) a ki~nca~n~naayatana: Vô hữu sở thiền.
8) n evasa~n~naanaasa~n~naayatana: Phi phi tưởng thiền.
(Bốn thiền vô sắc)
Sơ thiền có năm chi: suy, sát, phỉ, an và định.
Nhị thiền có bốn chi: sát, phỉ, an và định.
Tam thiền có ba chi: phỉ, an và định.
Tứ thiền có một chi: là định, nhưng sự thật thì có xả nữa, như thế thì có hai chi định và xả.
Người đắc thiền không dứt, khi chết sinh trong cõi Phạm thiên. Đắc thiền hữu sắc được lên cõi Phạm thiên hữu sắc. Đắc thiền vô sắc đến cõi Phạm thiên vô sắc.
Vấn: Có lời hỏi rằng: "Người không đắc thiền, nhưng phát tâm làm lành (bố thí, trì giới v.v. ) được sinh trong cõi trời, như thế được gọi là
upapajjavedaniiyakamma lành không, tại sao?"
Đáp: Cũng gọi là upapajjaniiyakamma lành như nhau, vì cho quả trong kiếp kế tiếp, nhưng khác nhau là các nghiệp lành như bố thí, trì giới v.v... không nhứt quyết rằng sau khi chết sẽ được sinh trong cõi trời, bởi có người cũng sa trong ác đạo trước, khỏi rồi mới được lên trời. Nhưng về thiền định, như đã giải trên thì quả quyết rằng, nếu đắc thiền mà không dứt thì phải sinh trong cõi Phạm thiên, sau khi thác.
b/. Upapajjavedaniyakamma ác là:
1/- Giết mẹ.
2/- Giết cha.
3/- Giết Đức A-la-hán (Thinh văn giác).
4/- Chích máu Phật tổ.
5/- Chia rẽ Tăng.
Người phạm trong ngũ nghịch đại tội ấy ( a nantaraayakamma) dù có tạo được các phước (như tạo tháp xá lỵ bằng vàng, chùa hoặc trai Tăng trong sa bà thế giới) cũng không thể ngăn ngũ nghịch đại tội ấy được, khi thác chắc chắn phải đọa trong vô gián địa ngục.
Giải rằng: Hành giả quyết tâm hành thiền được thuần thục, từ tứ thiền hữu sắc đến tứ thiền vô sắc, thác rồi được sinh trong cõi Phạm thiên do năng lực một thiền nào. Khi thiền cao nhất cho quả, rồi các thiền thấp thì a hosikamma là không cho quả. Ngũ nghịch đại tội cũng vậy, nếu người nào phạm cả năm tội, một tội nào cho đầu thai, thì các tội kia cũng ngưng cho quả.
Quả quyết rằng: u papajjavedaniyakamma cho quả ngay trong cõi thứ nhì, tiếp theo kiếp Này.
upapajjavedaniyakamma ví như thợ săn bắn nhằm thịt rừng như tích devadatta ( đề bà đạt đ a) và vua A Xà Thế.
3. Aparaaparavedaniyakamma:
Tiếng a paraaparavedaniyakamma: là nghiệp cho quả trong các kiếp sau (tức là trong các cõi sau sau), từ cõi thứ ba nối tiếp cõi thứ hai (u papajjavedaniyakamma) khi có dịp là cho quả ngay, ví như loài chó đuổi theo thú rừng, rượt theo kịp trong nơi nào, nó cắn xé trong nơi ấy.
Chú thích: Người tạo nghiệp nào rồi, sẽ thụ quả trong các kiếp sau không có thể nhất định thời kỳ cho quả. Đây chỉ về tác ý tạo nghiệp, tốc lực tâm nhảy đến năm bực gọi là: a paraaparavedaniyakamma. Nghiệp này không có ahosikamma nghĩa là chưa đắc A-la-hán đạo, chưa đoạn tuyệt được phiền não luân hồi , thì nghiệp này dính theo mãi, bất cứ là kiếp nào khi được cơ hội là cho quả ngay; ví như chó đuổi theo kịp thú, nó hằng nhảy đến cắn xé không chịu buông tha. Sớm hay muộn không nhứt định, chó chỉ rượt theo mãi mãi. a paraaparavedaniyakamma hằng dính theo chúng sinh mỗi kiếp, chẳng có một ai thoát khỏi được.
Nghiệp này có hai:
a/- Thiện
b/- Ác.
a/- Apraapavedaniyakamma ác:
Nếu có nghiệp lành mạnh hơn thì ác chưa cho quả, khi thiện giảm sức ác mới có chủ quyền.
Chú thích: j atilasetthii (triệu phú gia j atila) trong kiếp chót triệu phú gia này sinh làm con một kỷ nữ, nàng dạy tỳ nữ để trong nồi rồi đem bỏ giữa đại lộ, đấy là a paraaparavedaniyakamma ác.
Tích Đức Bồ Tát:
Thuở Ngài sinh ra làm m ahaajanakabị chìm thuyền giữa bể phải lội đến bảy ngày. Kiếp làm suva.n.nasaama đạo sĩ bị tên của vua k apilaya đều là quả của a paraaparavedaniyakamma ác.
Tích bảy vị Tỳ khưu:
Trong thời kỳ Đức Phật chúng ta có bảy vị Tỳ khưu đi đến hầu Phật, giữa khoảng đường vào nghỉ trong một cảnh chùa. Vị Sư cả bèn cho ngụ trong một hang núi, nhưng nửa đêm có một tảng đá rớt xuống che lấp miệng hang, dù là ai đến tiếp mở thế nào cũng không được.
Cả bảy thầy Tỳ khưu ấy chịu đói khát trong hang đá đến bảy ngày. Đến ngày thứ tám tảng đá ấy tự nhiên ngã ra.
Các thầy bạch cho Phật rõ và hỏi về nghiệp cũ của mình. Ðức Thế Tôn giảng rằng: ấy là quả của nghiệp cũ của các thầy đã đuổi con kỳ đà vào trong gò mối đến bảy ngày.
b/- Aparaaparavedaniiyakammalành:
Nếu nghiệp dữ có sức mạnh hơn đang cho quả thì a paraaparakamma lành không cho quả được.
Khi nghiệp dữ yếu sức, nghiệp lành Này mới là chủ động.
Chú thích: Nàng m allikaa Hoàng hậu của vua p asenàdikosala lúc còn sinh tiền, bà có nhiều đức tin đề xướng cuộc tài thí vô song (a sadisadaana) nhưng khi thác phải sinh trong địa ngục bảy ngày rồi mới lên cõi Trời. Đây là a paraaparaniiyakamma lành.
4.- Ahosikamma:
Ahosikamma: là nghiệp đã cho quả rồi nghĩa là nghiệp đã qua thời kỳ cho quả, ví như hạt giống hết phát nha vậy.
4.2 Loại II nghiệp cho quả theo phận sự
1.-Janakakamma:
janakakamma: là sinh sản. Nghĩa là có thể dẫn người tạo nghiệp từ kiếp này đi sinh ra trong kiếp khác. Ví như cha sinh con gọi là k ammayonii (nghiệp sinh sản).
G iải rằng: Lành và dữ dẫn đi thụ sinh, không cho quả trước khi thụ sinh, chỉ cho quả trong thời kỳ thụ sinh. Nghiệp cho quả như vậy gọi là: Janakakamma. Nghiệp lành và dữ cho quả trước khi thụ sinh về phần các nghiệp khác. Janakakamma, ví như mẹ sinh con, chỉ là người sinh mà thôi, phần vú nuôi săn sóc, trông nom hài nhi.
2.- Upatthambhakakammam:
upatthambhakakamma: là nghiệp vào cấp dưỡng, nghĩa là sau khi đã sinh, nghiệp này mới vào cung cấp, cũng gọi là k ammabandhu (nghiệp là thân quyến) nếu là j anakakamma lành thì nuôi nấng hài nhi được an vui, ví bằng là y anakamma dữ thì cung cấp thêm sự khổ.
C hú thích: u pa.t.thambhakakammam lành ủng hộ cho sự tăng gia sự thịnh lợi và sự thạnh thế.
Tích đức vua adadhamaasakaraaja:
Có ghi trong kinh chú giải rằng: Đức vua a dadhamaaraaja trước là một người nghèo gánh nước mướn, dành để được năm cắc. Ngày kia Đức vua Baaraanasii báo cáo cho biết sẽ làm đại lễ hài kịch ai không dự vào thì bị phạt vạ. Vợ chồng anh nhà nghèo ấy bèn tính góp tiền lại được một đồng.
Chia một phần để mua hoa thơm, một phần mua thực phẩm. Đồng ý cùng nhau rồi, chồng định đi lấy tiền đã giấu phía bắc thành phố, xa nhà lối mười hai do tuần.
Đi đường lúc trời nắng gắt, nóng nực như hơi lửa, dù như thế y vẫn vui thích, mặt mày hớn hở đi và hát, dường như đi trên đường mát mẻ. Khi qua trước hoàng cung, Đức vua u dayaraaja nghe thấy bèn ra lịnh cho quan hầu ra gọi y vào yết kiến và Ngài phán rằng:
- Vì sao người vui thích ca hát giữa đường, lúc trời nắng chang chang?
Hắn tâu rằng:
- Tâu lịnh Hoàng thượng mặt trời dù nắng gắt đến đâu cũng không sao bằng ánh nóng của tình dục, tâu lịnh hoàng thượng, tôi đi lấy tiền về chung góp với của vợ tôi.
Nghe như vậy, Đức vua rất hoan hỉ chia nửa giang sang cho và phong cho vợ hắn làm hoàng hậu, rồi bố cáo cho nhân dân rằng: nay có hai vua cùng nhau thống trị trong nước. Đức vua mới ban hiệu cho là a dadhamaasakaraaja. Đây là thí dụ nghiệp u pa.t.thambhakakamma lành và cung cấp.
Nghiệp này vào cấp dưỡng có hai:
1.- Phá tiêu tai nạn.
2.- Bổ khuyết của cải.
Như tích: Có một gia đình kia, từ ngày kết hôn đến ba năm không có con, rồi trì trai để cầu con, không lâu người vợ thai nghén, song gia đình nghèo khổ. Sau khi sinh được con trai thì trở nên khá dần dần. Con trai ấy nên bốn năm tuổi thì ngày càng phú túc, đây là: u pa.t.thambhakakamma lành vào ủng hộ đứa trẻ đó.
Về upatthambhakakamma dữ cũng vào cung cấp cho sa sút khốn cùng.
Nghiệp này cũng có hai phận sự:
1.- Làm cho sinh tai nạn.
2.- Khiến của cải tiêu tan.
Lời chú giải có nói, nghiệp vào ủng hộ về phần dữ, vì thiếu pháp từ ái, có tâm keo kiết và làm hại kẻ khác.
Như tích: Anandasetthii và quỷ Dạ xoa dưới đây:
Anandasetthii (triệu phú gia Ananda) keo kiệt, không bố thí và trì giới, từ ngày sinh ra, nhưng được làm triệu phú do tiền kiếp có trai tăng đến chư Tỳ khưu.
Bởi nghiệp bủn xỉn ấy, sau khi thác phải thụ sinh vào nhà bần khổ. Từ ngày đầu thai vào lòng mẹ, bọn ăn xin trong nhóm quen hành khất đủ nuôi sống, thì trở nên thiếu thốn. Sau rốt, bọn ăn mày không cho người mẹ mang mển ấy đi chung cùng bọn. Khi sinh được hài nhi, người mẹ rời bỏ con, vì nếu đem theo thì hành khất không được.
Lớn lên nhớ được tiền kiếp, trẻ ấy đi ngay đến nhà mình trong đời trước là triệu phú, song bị các con không cho vào nhà, còn thêm bị đánh đập khổ sở nữa. Đây là nghiệp cấp dưỡng về phần ác.
Trong kinh chú giải có ghi rằng, quả của nghiệp ác này phát sinh đến người bội ân hại kẻ khác rằng:
Người tính làm dữ kẻ không làm hại lại, phải chịu khổ muôn phần là bị hành phạt nặng nề, tiêu tan của cải, loạn trí, bị vu cáo, lửa cháy nhàv.v.
3.- Upapiilikakamma:
u papiilikakamma: là nghiệp vào áp chế. Nghiệp này trái với j anakakamma khi j anakakamma sinh sản rồi u papilikakamma vào ngăn quả của j anakakamma không cho nẩy mầm đầy đủ. Nếu j anakakamma lành sinh ra cho đẹp thì nghiệp kia vào ngăn cho giảm sức như câu"j otitamaparaayano: sáng tới rồi, có tối đi phía trước". Nếu j anakakamma dữ sanh ra thấp hèn nghiệp kia cũng vào ngăn như câu:"t amojotiparaayano: tối đến rồi có sáng đi phía trước" gọi là nghiệp ngăn cho giảm.
u papiilikakamma là nghiệp vào áp chế quả của nghiệp khác, trong khi nghiệp này cho quả; nghiệp kia theo kịp áp chế sự vui hay khổ, không cho vui và khổ trú vững lâu dài.
Chú giải: Nghiệp nào vào áp chế sự vui và sự khổ của các nghiệp, rồi tự mình cho quả, nghiệp ấy gọi là u papiilikakamma. u papiilikakamma chỉ chờ làm cho giảm bớt quả của các nghiệp khác, chia ra có hai:
1.- Lành.
2.- Dữ.
Chú thích: Tích Hoàng tử s unakkhattalicchavii, ban đầu phát tâm vui thích trong Phật giáo, vào xuất gia theo luật pháp rồi hành thiền đắc nhãn thông, nhưng không được chứng quả cao thêm nữa. Đến ba năm Ngài chán nản, hiểu lầm rằng: "Đức Phật chỉ đắc nhãn thông, nên không dạy ta đạt đến nhĩ thông. Nếu đã đắc nhĩ thông thì Ngài đã dạy ta rồi". Khi đã nghĩ quấy như vậy: s unakkhattalicchavii xin hoàn tục rồi tu theo ngoại đạo sau khi thác đọa trong a tỳ địa ngục.
Về upapiilikakamma lành đến ngăn, áp chế quả của ác nghiệp, xin xem tích dưới đây:
Chàng Vaatakaalaka được vua phong làm đao phủ thủ trong thành r aajagaha, có phận sự hạ sát kẻ cướp. Tựu chức ấy hơn năm mươi năm rồi về hưu. Thường lệ y không mặc y phục mới, đẹp, trong thuở còn tại chức. Nên chi khi được về hưu y mong trang sức cho đẹp, bèn bảo vợ nấu cơm sữa. Y đi tắm rửa xong, mặc y phục mới trở về nhà, giữa đường gặp Đức Xá lợi phất đi trì bình, y nảy tâm vui thích, thỉnh Ngài về nhà dâng cơm sữa. Đức x á l ợi p hất ngọ thực xong chú nguyện rồi Ngài về chùa. Chàng đao phủ thủ ấy theo đưa, rồi trở về bị bò báng chết giữa đường. Do sự thí thực ấy, y được sinh lên cõi Trời.
Theo tích này, cho thấy rằng, thiện nghiệp áp chế ác nghiệp (vì y tạo ác nghiệp không ít) phải sa trong khổ cảnh, nhưng nhờ được làm lành áp chế ác nghiệp, được sinh lên cõi Trời.
4.- Upacchedakakamma:
u pacchedakakamma: là nghiệp vào sát hại , nhưng trong Thanh Tịnh Kinh ( v isuddhimagga ) gọi là Upaghaatakakamma .
Trong Kinh chú giải có ghi:
upapii.likakamma như đã giải Upaghàtakakamma hay upacchedakakamma nói đại khái thì giống nhau, sự cho quả cũng như nhau, chỉ khác nhau về tiếng Pàli là: u papii.likakamma dịch là vào áp chế .
upacchedakakamma dịch là: vào sát hại. upacchedakakamma này chia ra có hai:
1.- Lành.
2.- Dữ.
Chú giải: Dẫn tích Long vương e raakapattanaagaraaja đây cho thấy rằng, nghiệp dữ cắt đứt nghiệp lành như: Long vương e raakapattanaagaraaja này trong kiếp trước là một vị Tỳ khưu trong thời kỳ Phật k assapa. Có đức tin tu p hạm hạnh được hai muôn năm. Ngày kia, đi thuyền, Ngài nắm lá gừa tại một mé sông, khi ghe đi thì lá gừa ấy đứt, rồi Ngài quên sám hối. Trong giờ sắp chết, Ngài nhớ đến, mong sám hối theo luật định, nhưng tìm không có Tỳ khưu, Ngài phát tâm bôn chôn lo ngại, chết rồi sanh làm Long vương danh là e raakapatta.
về nghiệp lành bị nghiệp ác cắt đứt, có tích như vầy:
Cha của một vị Tỳ khưu là người thợ săn giết thú đem bán để nuôi mệnh, đến tuổi già mới vào xuất gia làm Tỳ khưu nơi vị Tỳ khưu con trai của y. Vị này cho học thiền nhưng chưa có kết quả chi. Tâm của thầy vẫn nhớ tưởng đến thú đã giết. Thầy bèn bạch cho ông con nghe, ông con khuyên tĩnh cho tham thiền mãi, khi gần chết, ông con nghĩ rằng, cha ta không nên sinh trong khổ cảnh, nên ông liền tìm lễ vật cúng dường Tháp bảo. Vị Tỳ khưu cha nhìn xem các lễ vật cúng dường để trên giường ngay trước mắt, ông vui thích rồi dùng lễ vật ấy đem cúng tháp nên được sinh lên cõi Trời.
4.3 Loại III - Nghiệp cho quả theo thứ tự
Garukamma: dịch là "nghiệp nặng", có hai:
1.- Nghiệp ác nặng thuộc về ngũ nghịch đại tội (p a~ncàntaràyakamma).
2- Nghiệp thiện cao (thuộc về thiền định).
Trong khi thụ quả, nghiệp nặng cho quả trước (ví như các đồ vật) sắt, đáv.v. từ trên cao rơi xuống, đồ vật nào nặng tất nhiên đến mặt đất trước. Nghiệp dữ nặng hằng cho sinh trong khổ cảnh. Nghiệp lành cao cho lên nhàn cảnh. Dù người đã tạo các nghiệp (nghiệp nặng lẫn nhẹ) nghiệp nặng vẫn cho quả trước.
Về nghiệp lành cao như tích đức bồ tát (tiền kiếp Đức Phật chúng ta). Một kiếp kia, Ngài xuất gia là đạo sĩ tu trong núi tuyết sơn, đắc bát thiền. Ngày nọ muốn được nếm vị ngọt, mặn trong thế gian, nên Ngài đến kinh đô b aaraanaasi đi khất thực trước hoàng cung. Đức vua baaraanaasi xem thấy bèn phát tâm hoan hỉ trong oai nghi của Ngài. Đức vua bèn sai quan đến thỉnh vào đền, dâng cúng các món cao lương mỹ vị. Xong đức vua yêu cầu Bồ tát ngự trong vườn thượng uyển và vào hoàng cung ngọ thực mỗi ngày.
Có một lúc, đức vua cần phải thân chinh dẹp giặc ngoài biên thùy, nên dạy bà hoàng hậu phải phụng sự đạo sĩ Bồ tát. Buổi kia đức Bồ tát bay vào hoàng cung được thấy nhan sắc kiều diễm của hoàng hậu vì bà quên bổn phận. Vị đạo sĩ bèn đứt giới với hoàng hậu, thiền định cũng không còn. Các quan đại thần biết rõ nhân ấy nên gởi sớ tâu vua. Đức vua Baaraanaasi khi đã dẹp an phiến động liền khải ca hồi trào, ghé vào vườn ngự uyển hỏi đạo sĩ. Đạo sĩ thú tội. Đức vua xá lỗi và nhắc nhở Bồ tát hành đạo như xưa. Vị đạo sĩ đắc thiền như trước, rồi bay lên không trung xin từ biệt, dù đức vua thỉnh cầu lại nữa, đức Bồ tát cũng không nhận lời, Ngài bay trở về tu trong tuyết sơn như trước.
Hành thiền không dứt, thác rồi đức Bồ tát được sinh trong cõi Phạm thiên.
Về g arukamma ác , có tích nàng s unadrii như vầy: Trong thời kỳ Phật giáo, phái xuất gia theo đạo lõa thể thấy rằng lợi danh mỗi ngày càng giảm nhưng bên Phật giáo thì càng tăng, nên chúng tìm dịp để vu cáo Ðức Thế Tôn.
Họ hội họp nhau để mưu hại Phật. Họ đồng ý rằng, phải cần nàng s unadrii giả bộ làm phụ nữ mang mển, rồi cho kẻ cướp giết nàng đem bỏ gần hương thất của Phật, cho quần chúng tin rằng Ðức Thế Tôn ám sát nàng để giấu nhẹm nghiệp xấu. Dầu thế, đại chúng vẫn hiểu được sự thật. Nàng s unadrii thi hành theo kế hoạch ấy. Mỗi buổi chiều mát tứ chúng nghe pháp xong trở về, nàng s unadrii đi ngay theo con đường ấy vào Kỳ Viên tịnh xá. Nàng giả bộ như mình đã ngụ trong chùa.
Phái lõa thể đi tuyên cáo rằng, nàng s unadriingụ chung cùng Đức Cồ Đàm. Nhiều người nhẹ tai thiếu sự suy xét, không tìm theo nhân quả nên tin theo, không lâu, nàng s unadrì bị ám sát, thụ sinh trong địa ngục .
Phe lõa thể, khi đã dạy kẻ cướp giết trộm nàng s unadrii rồi, vào yết kiến Đức vua. Nhà vua bèn cho người trinh thám cho đến khi thấy rõ sự thật, rồi Ngài ra lệnh bắt bọn tu lõa thể hành phạt và bố cáo cho nhân gian rõ lẽ phải.
2.- Bahulakamma:
bahulakamma: là nghiệp thường có. Có khi gọi là Acinnakamma (nghiệp quen làm).
Nghiệp Này có hai:
1.- Dữ.
2.- Lành.
Về nghiệp dữ, có tích rằng: Tên c unda giết heo để nuôi mệnh đã lâu năm, đến khi nghiệp theo cho quả thì hắn la nghe tiếng như heo bò, trườn vô ra trong nhà. Chư Tỳ khưu đi khất thực, nghe tiếng như vậy, tưởng rằng họ giết heo để cúng tế. Các Ngài bạch hỏi Ðức Thế Tôn, mới hiểu rõ sự thật. Đức Phật giảng thêm rằng: "người làm nhiều việc dữ, trong đời này hằng than van rên rỉ, chết rồi càng đau khổ trong kiếp sau" .
Về nghiệp lành có giải tích như vầy:
Khi gia thế của ông trưởng giả c ấp c ô đ ộc, dần dần sa sút, chỉ còn có một cô gái cũng nghèo, dù thế, nàng cũng dâng bát mỗi ngày đến một vị sư, cho đến lúc không còn vật gì cúng nữa. Nàng tìm đi làm công mỗi ngày, lấy tiền mua vật thực để cúng dâng. Nhà vua hay câu chuyện này, cho người tìm nàng vào hoàng cung rồi phong cho làm hoàng hậu. Từ đó nàng có dịp, mỗi ngày dâng cúng đến chư Tăng càng đông. Cúng dường đến các pháp sư, giáo sư, khi thác, nàng được sinh lên cõi Trời.
nghiệp lành của hoàng hậu này gọi là b ahulakamma. Vì được làm thường thường không ngừng nghỉ. Không cần biết giàu hay nghèo, khi đã năng tạo nghiệp lành thì phước báu càng tăng theo thứ tự, gọi là b ahulakamma. Nếu không có nghiệp nặng thì b ahulakamma cho quả như thế.
3.- Aasannakamma:
a asannakamma: là nghiệp cận thời nghĩa là nghiệp tạo hay nhớ được khi gần chết.
Giải rằng: khi không có b ahulakamma, là không có tạo nghiệp thường thường, dù là ít thì A asannakamma cũng cho quả. Ví như bò trong chuồng, khi kẻ chăn vừa mở cửa, bò nào đứng gần cửa dù là bò già, yếu, cũng được ra trước các bò khác (có sức lực hơn).
x in giải cho dễ hiểu rằng: tâm của người, trước khi chết, hằng quyến luyến vợ con, của cải nhiều hơn. Nên chi, nếu không thường niệm tưởng nghiệp lành của mình đã tạo thì ắt lầm lạc, phải sa trong ác đạo .
A asannakamma là nghiệp cận thời trong việc lành và dữ, nghĩa là người nào nhớ được nghiệp lành nào trong giờ hấp hối, nghiệp ấy sẽ cho quả ngay, như bò đứng gần cửa chuồng vậy.
Theo như hai lẽ đã giải đây, nếu có trí óc thiển bạc thì hiểu rằng là tương phản nhau, nhưng sự thật không phải thế, vì tâm tưởng đến việc lành đã làm trong khi gần chết hoặc đã tạo trước, mà nhớ kịp trong giờ hấp hối gọi là Aasannakamma cho quả đi thụ sinh trong nhàn cảnh được .
Có kẻ nghi ngờ rằng: nếu như thế, ta chỉ làm lành chút ít để dành rồi ta không thiết đến sự lành ta (sát sanh, trộm cắpv.v. ) đến lúc hấp hối ta sẽ tưởng đến nghiệp lành trước, như vậy cũng được lên nhàn cảnh, cần gì phải cố tâm làm phước cho vất vả.
Giải: t a không nên lầm rằng, nghiệp luật là điều quy định của nhân quả, nó hằng thực thi theo chế độ bất biến của nó, nếu người đã tạo phước chan chứa để dành rồi bỏ qua, không lưu tâm nghĩ đến mỗi ngày, khi hấp hối khó tưởng đến được, bởi tâm của phàm nhơn quen quyến luyến vợ con, của cải, thế sự, từ vô thủy dĩ lai, nên khó rứt để nhớ niệm đến đạo đức trong giờ sắp chết? Rồi phải sa trong ác đạo .
4.- Katattaakamma:
Kattaakamma: là nghiệp vô ý, nghĩa là thiện và ác không thuộc về Garukamma, Bahulakamma và cũng không phải là Aasannakamma cả và người tạo cũng không rõ là phước hay tội. Vì là nghiệp không biết, chỉ làm thôi.
Nghiệp này không nhất định thời kỳ cho quả. Thí dụ: như tên mà người bắn, nhưng không định bắn đâu. Nếu không có Garukamma, Bahulakamma và Aasannakamma thì nghiệp này cho quả theo thế lực của mình.
Tịnh Ngọc
30-08-2005, 04:48 AM
THIÊN V
NGHIỆP TRONG PHẬT GIÁODo nhân nào, mới có giáo lý về vấn đề nghiệp?
Vì trong thời kỳ ấy vô minh đàn áp toàn thể quốc dân Ấn Độ, dân chúng chỉ tìm ở số mệnh rủi may, không quan sát đến đạo đức. Ðức Thế Tôn mong cởi mở vô minh ấy, Ngài mới nổi đèn có muôn trùng ánh sáng tức là nhân quả để tỉnh thức chúng dân Ấn Độ.
Lý tưởng về nghiệp trong Phật giáo là sự tiến triển trong đường đạo đức khiến cho khoa học cũng phải bái phục, nhìn nhận bằng sự đứng yên không phản đối.
Phật giáo không mâu thuẩn với khoa học, nói như thế, vì khoa học cũng như Phật giáo không thừa nhận học giả mê tín.
Với bất cứ cái gì cần quan sát tỉ mỉ, tinh tế trước, rồi mới nên tin. Vì thế, Phật giáo và khoa học mới không mâu thuẩn nhau. Nói bằng cách vi tế rằng, khoa học có hai môn là: 1- Vật thể; 2- Vô thể.
Khoa học, về vật thể phải cần thí nghiệm để xác nhận, nghĩa là khi muốn biết rằng, "đá" gồm có chất gì, thì phải dùng cách phân tích và thí nghiệm. Nhà khoa học lấy đá chia tách ra xem (gọi là phân tích) cho biết rằng đá ấy có những gì, rồi thí nghiệm lại là lấy những chất đã phân giải ấy hoà lại, để xem cho thấy quả quyết rằng, nó là đá in nhau như trước chăng. Cách sau này gọi là thí nghiệm.
Phật giáo thuộc về khoa học vô thể có cách thức chú ý tin như khoa học. Như thế, mới gọi Phật giáo là khoa học, người hành theo Phật giáo hằng được thụ quả xứng đáng theo sự thực hành của chính mình, chẳng có ai thay thế được?
Pháp bảo có sáu ân huệ:
1.- Phật đã thuyết để lại chân chánh (1) (http://www.lotusmedia.net/unicode/TrietLyVeNghiep/thien05.htm#_edn1)rồi.
2.- Tự mình thấy xác thực.
3.- Không chờ thời (khi đắc đạo thì đắc quả không chậm trễ)(2).
4.- Chứng minh được (3).
5.- Xứng đáng đem vào mình hoặc đáng tìm tòi (4).
6.- Tự mình được thấy rõ bằng sự thí nghiệm và thực hành theo.
Toàn là cơ sở củng cố là khoa học của nền tảng Phật giáo chân chính. Nếu đã nhận thức như thế, ta nên học hỏi về vấn đề nghiệp trong thiên này.
Tiếng "nghiệp" có nghĩa là làm, hành vi, hành động, động tác, thực hành, thực tiễn, cho đến sự phản ứng hoặc quả dội lại của hành vi nữa .
Trong phật giáo tiếng "nghiệp "mong lấy tác ý là chủ như câu:" c etanaaham bhikkhave kammam vadaami - Này các Tỳ khưu, n hư l ai gọi tác ý là nghiệp" . Có ý nghĩa rằng: "Phật giáo giữ theo trung đạo". Dầu, trong luật học Ngài cũng có chế định những điều luật cho Tỳ khưu vô tác ý vi phạm các điều cấm chế, nhưng Ngài cũng không bỏ phép trung đạo. Ngài ngự chế, như thế để phòng ngừa các Tỳ khưu có khí chất bất nhã, biết hướng thiện sám hối.
Nghiệp là tiếng trung dung(5) (dữ và lành) nếu lành gọi làk usalakamma (thiện nghiệp); dữ là a kusalakamma (bất thiện nghiệp).
Phật giáo lưu tâm rằng nghiệp gồm có ba chi, là:
1.- Có người làm.
2.- Làm bằng tác ý.
3.- Cho quả đến người làm.
Nếu nói theo khoa học, người tức là thân thể; những biến hình là quả do sự đè ép, sự cưỡng lại lẫn nhau. Sự hành động và sức phản ứng có thể xảy ra được, dù là hai thân thể không hút nhau như đá nam châm .
Quan sát theo khoa học, ta được thấy rằng sự tạo tác và sức phản ứng hằng cho quả, khiến chúng sanh lay chuyển và có tạo nghiệp thì có phản ứng, hay nói một lẽ khác rằng, khi có nhân tất có quả, mãi mãi.
Trong khoa học, sự hành động và sức phản ứng hằng phức tạp khó kiểm soát, thế nào, trong Phật giáo, nghiệp và quả của nghiệp cũng phiền phức như vậy. Vì thế, mới có người không tin nhân quả, phản đối vấn đề nghiệp trong Phật giáo rằng, là không chính xác (6).Như thế, cũng vì người thiếu sự khảo sát, tìm tòi nhân quả, chỉ không thừa nhận bằng cách hiểu rằng: Phật giáo là vấn đề hủ lậu(7)đem ra viện dẫn nhưng, thật sự người ấy, là hủ lậu hơn giáo lý. Đấy là sợi tóc che núi. Nhưng hàng học thức hiện đại không nên quan tâm đến.
Phật giáo tin rằng, nghiệp là của riêng mình. Kẻ nào tạo nghiệp gì phải chịu quả của nghiệp ấy, đúng với căn bản khoa học cho "hành động và phản ứng" hằng có giá trị ngang nhau, theo phương hướng tương phản nhau. Mọi người sinh ra đồng tạo nghiệp như vậy. Lẽ cố nhiên, mỗi người phải làm công việc bằng thân nghiệp, phải nói năng bằng khẩu nghiệp, phải suy nghĩ bằng ý nghiệp. Khi đã làm nói và nghĩ rồi, quả của nó tức là sức phản ứng phải có như thế. Khi ta tạo nghiệp lành, quả của nó là sự vui vẻ có đến ta, ta làm ác, quả dữ cũng sẽ trả lại cho ta.
Theo Phật ngôn đây, người gieo giống gì hằng hái quả ấy. Làm lành được vui, gây dữ gặp khổ. Như thế chỉ cho thấy rằng, nghiệp có đặc tính in như sự gieo giống lúa, tất nhiên được lúa.
Nếu hỏi trở lại rằng, cớ sao, có người trồng xoài, có kẻ gieo lúa hoặc người làm lành, kẻ làm ác?
Đấy là quả của sự suy nghĩ của chúng ta. Như tiếng nói rằng, tất cả sự tồn tại của ta được đều do quả của nghiệp mà ta đã làm từ sự trù tính phương pháp cứu chữa điều khổ.
Trong kinh m ajjhimanikaayamajjhimapa.n.nasaka, có thuyết về ba loại nghiệp:
1.- k aayakamma: Thân nghiệp.
2.- v aciikamma: Khẩu nghiệp.
3.- m anokamma: Ý nghiệp.
Thân nghiệp chia ra có:
1.- Ba chánh.
2.- Ba bất chánh.
Gọi là k aayasucaritaa và k aayaducaritaa
Ba thân nghiệp chánh là:
1.- Không sát sanh.
2.- Không trộm đạo.
3.- Không tà dâm.
Ba thân nghiệp bất chánh là:
1.- Sát sanh
2.- Trộm đạo.
3.- Tà dâm
Bốn khẩu nghiệp chánh là:
1.- Không nói dối.
2.- Không chửi rủa.
3.- Không nói lời xúi giục (cho người chia rẽ nhau).
4.- Không nói lời hoang đàng vô ích.
Bốn khẩu nghiệp bất chánh là:
1.- Nói dối.
2.- Chửi mắng.
3.- Nói lời xúi giục (cho người chia rẽ nhau).
4.- Nói lời hoang đàng vô ích.
Ba ý nghiệp chánh là:
1.- Không tham.
2.- Không sân.
3.- Không tà kiến.
Ba ý nghiệp bất chánh là:
1.- Tham.
2.- Sân.
3.- Tà kiến.
Trong cả ba nghiệp (thân, khẩu và ý), ý nghiệp là quan trọng nhứt, vì thân và khẩu hằng ở trong quyền lực của tâm.
Trong tạng Luật có thuyết về cửa, hoặc lỗ hở (qua lại Dvaara) của nghiệp lành và nghiệp dữ có ba là:
1.- k aayadvaara: cửa Thân.
2.- v aciidvaara: cửa Khẩu.
3.- m anodvaara: cửa Ý.
Giải rằng: Những cái qua lại, cửa thân là thân chánh và thân bất chánh; cái qua lại cửa khẩu là khẩu chánh và khẩu bất chánh; cái qua lại cửa ý là ý chánh và bất chánhv.v.
Ngoài ba cửa thuộc về phận sự chính như đã giải, còn có thứ nghiệp làm xáo trộn mất thứ tự cũng có. Như sự sát sanh và trộm đạo thuộc về nghiệp chính cửa thân nhưng nếu bảo kẻ khác làm thì thuộc về cửa khẩu. Nói dối thuộc về cửa khẩu, là cái qua lại đường khẩu, bằng không nói, chỉ ra bộ tịch gặc đầu (để tỏ ý chịu hoặc không) thì thuộc về cửa thân. Nếu người muốn được một đồ vật mà họ mong mỏi, nhưng không cố ý tính trộm, thì thưộc về cửa thân, ví bằng, xì xào rằng làm thế nào mới được của ấy thì thuộc về cửa khẩu; nếu chỉ tính trong tâm thì về cửa ý. Những lời giải trên toàn là nghiệp bất chánh. Về nghiệp chánh cũng nên hiểu theo sự tương phản nhau. Nhưng vì sự hành vi khác nhau, mới có người được quyền cao giàu có, kẻ lại thấp hèn nghèo khó. Đấy toàn là do nghiệp gây nên cả, nghiệp hằng phân hạng người cao sang hoặc thấp hèn không đồng. Theo lẽ thường, nhân loại hằng tạo nghiệp bất chánh do tính ngu dốt, vô học thức như câu:
" p aapaani kammaani karonti mohaa -n gười đời phần nhiều tạo nghiệp bất chánh do óc si mê" (trong mahaaparinibbaana-sutra)".
Moha là ngu si hay đần độn tức là không biết lẽ thật, như người lạc đường trong rừng, không biết được phương hướng để thoát khỏi, cho đến không hiểu tội phước, tà chánh là gì.
Những người hiền hằng tạo nghiệp chánh nhiều hơn nghiệp bất chánh kẻ dữ thường làm nghiệp bất chánh nhiều hơn nghiệp chánh. Hơn nữa, khi đã tạo nghiệp, dù chánh hay bất chánh thì khó sửa chữa lại được như có Phạn ngữ rằng:
" k atassanatthipatikaaram - v iệc đã làm rồi, sẽ làm trở lại chẳng được ".
Đức Phật hằng lập lại cho hàng p hật tử, cố tự tỉnh rằng:
1.- Ta có nghiệp là của ta .
2.- Ta là người thụ quả của nghiệp .
3.- Ta là người sinh ra từ cái nghiệp hoặc có nghiệp là kẻ sinh sản .
4.- Ta có nghiệp là huyết thống .
5.- Ta là người nương tựa vào nghiệp .
6.- Ta phải chịu quả của nghiệp mà ta đã tạo.
Đức Phật dạy bảo như thế, cho chư Phật tử tin chắc rằng, vui, khổ mà ta đã được đều là quả dính theo từ nghiệp chánh và nghiệp bất chánh</FONT>.
Nếu không nhớ nghĩ như vậy, thì sẽ cẩu thả rằng, nghiệp mà mình đã gây không cho quả.
Những kẻ ngu độn không hiểu nghiệp và quả của nghiệp, không có sự khảo sát rằng quả này sinh từ nghiệp nào và từ đâu mà có. Nếu không nhận thấy, lầm tưởng là kẻ khác làm cho. Sự nghĩ xét thường đến nghiệp như đã giải hằng ban cho ta nhiều lợi ích. Khi gặp quả tốt hay xấu nên hiểu rằng là "quả của nghiệp xảy đến tự mình sáng tác" (a ttasanbhavam). Như thế ta không quên mình, khiển trách kẻ khác và thừa nhận rằng quả vui hoặc khổ hằng phát sanh từ nghiệp của mình. Đấy là nguyên nhân cho mình vui hay khổ. Vả lại sự hiểu biết bất chánh là thấy quả quyết rằng điều vui hay khổ sinh từ kẻ khác hay vật khác, đó là nguyên nhân làm cho bức rức khó chịu, trở lại gây nghiệp như cũ, rồi phải thụ quả khổ mãi mãi.
Chú thích:
[/url][1] Chân chánh: khi được nghe rồi có thể đè nén được năm pháp cái, được vui, sinh từ thiền định, và thông tuệ bằng sự thực hành được giải thoát.
(http://www.lotusmedia.net/unicode/TrietLyVeNghiep/thien05.htm#_ednref1)[2] Ví như ngọn lửa và ánh sáng ngọn lửa (có ngọn lửa tất có ánh sáng).
[3] Vì có nhận đích xác, là pháp trong sạch.
(http://www.lotusmedia.net/unicode/TrietLyVeNghiep/thien05.htm#_ednref3)[4] Vì đã thực hành theo sẽ đắc đạo quả.
[5] Trung dung: ở giữa, không thiên lệch.
(http://www.lotusmedia.net/unicode/TrietLyVeNghiep/thien05.htm#_ednref5)[6] Chính xác: xác thực.
[url="http://www.lotusmedia.net/unicode/TrietLyVeNghiep/thien05.htm#_ednref7"][7] Hủ lậu: quê mùa, không hợp thời.
Tịnh Ngọc
30-08-2005, 04:51 AM
THIÊN VI
SỰ TẠO NGHIỆP
Quả của nghiệp xảy ra từ sự hành vi của chính mình. Khi mình tạo lành, quả lành sẽ trả lại, làm dữ, quả khổ cũng sẽ đến, như nhau. Vì thế không nên sưu tầm cái chi tốt hoặc xấu từ nơi nào khác, hay người nào khác, ngoài mình.
Những hàng trí tuệ nói rằng, các việc lành mà người ao ước cần dùng nhất là đức tin hướng thiện từ bi, hoặc chánh pháp thì phải tìm xét cẩn thận trong chính mình, nếu có cũng có trong chính mình, nếu kiếm trong nơi nào hay trong kẻ khác là nan đắc. Vì các pháp ấy hằng sinh từ nơi mình. Nó đến do lòng từ bi, bằng chánh pháp và tâm chân thật v.v. chẳng có ai cho (vui khổ được).
Chỉ tự mình phải gây dựng theo đức từ bi hay chánh pháp mà thôi .
Hơn nữa, lành hay dữ không định chỗ và không kỳ ngày, người có thể làm lành hay gây dữ được trong mỗi nơi, trong mỗi thời. Việc lành mà người mong được, không cần phải chia nhau cùng làm, vì nó là vô lượng không có mức cùng tột. Trong đời, ai làm phải đượchưởng quả vui, nếu mọi người đều giúp đỡ lẫn nhau trong việc lành thì ai ai cũng đều được vui. Ngoài ra, xã hội, quốc độ cũng thịnh đạt, thế giới đều an cư lạc nghiệp.
Trong Kinh Tikanipaata Anguttara-nikaaya có thuyết ba pháp chủ trong việc làm là:
1.- a ttaadhipateyya: lấy mình là chủ
2.- Lokaadhipateyya: lấy đời là chủ.
3.- Dhammaadhipateyya: lấy pháp là chủ.
1.- Lấy mình là chủ như: người làm lành hằng đề cập đến mình là chủ đứng đầu, hay chỉ mong được quả vui đến mình rồi mới làm, theo sự hiểu biết của mình, mong được kẻ khác tôn trọng kính vì v.v.
2.- Lấy đời là chủ: là lúc muốn làm phước, trước khi khởi công, thường noi theo thế lực của đời, mong đuợc kẻ khác ca tụng, nếu không thì sợ họ chê trách, hay hành theo thói quen của quần chúng.
Lokaadharateyya cao hơn Attaadhipateyya, vì còn tùy phần đông, căn cứ vào sự hiểu biết của họ. Đặc tính của sự hành thiện lấy đời là chủ, có ba
a/- Làm vì ao ước được người khen.
b/- Nếu không e sợ người chê.
c/- Làm theo thói quen của đại chúng.
3.- Lấy pháp là chủ như: người làm phước, không đề cập đến mình và đến đời là chủ, hành theo thế lực của chánh pháp. Thấy là đúng, là đáng rồi khởi sự, hoặc làm bằng tâm từ bi v.v. như bố thí, trì giới v.v. Kẻ tạo phước lấy pháp là chủ hằng không sai lầm, hối hận.
Dhammaadhipateyya có hai chi, là:
a/- Làm vì sự thích hợp hoặc chân chính.
b/- Vì thế lực tâm từ bi.
Phương pháp làm lành gồm có hai đặc tính quan trọng là: sự tự tỉnh hay tự quan sát tức là tự vấn rằng:
a/- Nay ta là hạng người nào?
b/- Ta có phận sự gì?
c/- Ta đã làm tròn phận sự chưa?
d/- Phận sự ấy có làm cho người phiền muộn chăng?
Xin dẫn tích căn bản và cách thực hành hoặc tạo nghiệp dưới đây cho độc giả khảo sát.
Trong Kinh Baahitiya-sutra Majjhima-nikaya-pa~n~naasaka có tích rằng:
Trong Phật giáo chúng ta, có đức vua Pasenaadikosala được trò chuyện cùng đức Aananda tại mé sông Aciiravadi, như vầy:
Đức vua pasenàdikosala hỏi rằng:
- Bạch Đức Aananda! Phạm hạnh nào mà các Sa môn và Bà-la-môn người hiểu biết cao siêu đáng dung thứ được, Ðức Thế Tôn có hành thân hạnh như thế chăng?
- Tâu Đại Vương! Thân hạnh ấy các Sa môn và Bà-la-môn hạng hiểu biết cao siêu tha thứ được, Ðức Thế Tôn không hành thân hạnh ấy.
- Bạch Đức Aananda! Khẩu hạnh nào mà chư Sa môn và Bà-la-môn hạng hiểu biết cao siêu nên tha thứ được, Ðức Thế Tôn có hành khẩu hạnh ấy chăng?
- Tâu Đại Vương! Khẩu hạnh nào mà chư Sa môn và Bà-la-môn hạng hiểu biết cao siêu xá tội được, Ðức Thế Tôn không hành khẩu hạnh ấy .
- Bạch Đức Aananda! Ý hạnh nào mà các Sa môn và Bà-la-môn hạng hiểu biết cao siêu xá lỗi được, Ðức Thế Tôn có hành ý hạnh như thế chăng?
- Tâu Đại Vương! Ý hạnh nào mà các Sa môn và Bà-la-môn hạng hiểu biết cao siêu nên dung tha được, Ðức Thế Tôn không hành ý hạnh ấy .
- Thật là phi thường, cái chưa từng có mà xảy ra được, tôi quẩn bách trong điều nào, Ngài đã giảng giải cho nghe bằng cách đầy đủ.
- Bạch Ngài những kẻ si mê, không sáng trí, chưa được quan sát hằng thốt lời ca tụng hay khiển trách kẻ khác. Tôi không ngoan cố những lời ấy là có giá trị v.v.
Phần các bậc minh triết là hạng sáng suốt có trí tuệ đã khảo sát rồi mới nói đến đạo đức và tội lỗi của những kẻ khác, tôi thường tôn trọng lời nói ấy là có giá trị.
- Bạch Đức Aananda! Thân hạnh nào mà các Sa môn và Bà-la-môn hạng hiểu biết cao siêu nên khiển trách?
- Tâu Đại Vương! Thân hạnh nào ác thì hạng Sa môn và Bà-la-môn hạng hiểu cao siêu khiển trách được.
- Bạch Đức Aananda! Thân hạnh nào là ác?
- Tâu Đại Vương! Thân hạnh nào hành có tội thân hạnh ấy là ác.
- Bạch Đức Aananda! Thân hạnh nào hành có tội?
- Tâu Đại Vương! Thân hạnh nào hành để hãm hại, thân hạnh ấy là có tội.
- Bạch Đức Aananda! Thân hạnh nào hành để hãm hại?
- Tâu Đại Vương! Thân hạnh nào có khổ là quả, thân hạnh ấy gọi là hành để hãm hại.
- Bạch Đức Aananda! Thân hạnh nào có khổ là quả?
- Tâu Đại Vương! Thân hạnh nào hành để hại mình hoặc hại kẻ khác hay hại cả mình và kẻ khác và các pháp ác của kẻ có thân hạnh hành cho sự hãm hại tăng gia, cho các pháp lành tiêu diệt, thân hạnh như vậy các bậc Sa môn và Bà-la-môn hạng hiểu biết cao siêu nên khiển trách được.
- Bạch Đức Aananda! Khẩu hạnh nào mà các Sa môn và Bà-la-môn nên khiển trách?
- Tâu Đại Vương! Khẩu hạnh nào ác, khẩu hạnh ấy các Sa môn và Bà-la-môn hạng hiểu biết cao siêu nên khiển trách được.
- Bạch Đức Aananda! Ý hạnh nào mà các bậc Sa môn và Bà-la-môn hạng hiểu biết cao siêu nên khiển trách?
- Tâu Đại Vuơng! Ý hạnh nào ác, ý hạnh ấy các bậc Sa môn và Bà-la-môn nên khiển trách được.
- Bạch Đức Aananda! Ðức Thế Tôn chỉ ca tụng sự trừ tuyệt các pháp ác phải chăng?
- Tâu Đại Vương! Ðức Thế Tôn đã trừ tuyệt tất cả ác pháp rồi, Ngài gồm có đủ thiện pháp.
- Bạch Đức Aananda! Thân hạnh nào mà các bậc Sa môn và Bà-la-môn hạng hiểu biết cao siêu không nên khiển trách?
- Tâu Đại Vương! Thân hạnh nào lành thân hạnh ấy các bậc Sa môn và Bà-la-môn, hạng hiểu biết cao siêu không khiển trách.
- Bạch Đức Aananda! Thân hạnh nào là lành?
- Tâu Đại Vuơng! Thân hạnh nào vô tội, thân hạnh ấy là lành.
- Bạch Đức Aananda! Thân hạnh nào là vô tội?
- Tâu Đại Vương! Thân hạnh nào vô hại, thân hạnh ấy là vô tội.
- Bạch Đức Ànanda! Thân hạnh nào là vô hại?
- Tâu Đại Vương! Thân hạnh nào có vui là quả, thân hạnh ấy là vô hại.
- Bạch Đức Aananda! Thân hạnh nào có vui là quả?
- Tâu Đại Vương! Thân hạnh nào hành không hại mình, không hại kẻ khác hay không hại cả mình và kẻ khác; các pháp ác có hại đến mình v.v. hằng tiêu diệt, các pháp lành thường tăng gia, thân hạnh ấy các hạng Sa môn và Bà-la-môn, hạng hiểu biết cao siêu không khiển trách được .
- Bạch Đức Aananda! Khẩu hạnh nào mà các bậc Sa môn và Bà-la-môn hạng hiểu biết cao siêu không khiển trách được?
- Tâu Đại Vương! Khẩu hạnh nào lành khẩu hạnh ấy các Sa môn và Bà-la-môn hạng hiểu biết cao siêu không khiển trách được.
- Bạch Đức Aananda! Ý hạnh nào mà các Sa môn và Bà-la-môn hạng hiểu biết cao siêu không nên khiển trách được?
- Tâu Đại Vương! Ý hạnh nào lành ý hạnh ấy các Sa môn và Bà-la-môn hạng hiểu biết cao siêu không khiển trách được.
- Bạch Đức Aananda! Ðức Thế Tôn tán dương sự gồm có đủ các pháp lành phải chăng?
- Tâu Đại Vương! Ðức Thế Tôn Ngài đã diệt tuyệt tất cả ác pháp rồi và Ngài có đầy đủ thiện pháp.
Ngoài ra, ta có một căn bản là sự tạo nghiệp do cửa thân, cửa khẩu và cửa ý, nếu nghiệp ấy không hiệp theo ba nhân, thì nên tạo ba nhân ấy là:
1/- Hại mình.
2/- Hại kẻ khác.
3/- Hại cả mình lẫn kẻ khác.
Tóm tắt trong thiên này là sự tạo nghiệp đúng đắn theo nền tảng rằng:
1/- Nghiệp không hại mình.
2/- Nghiệp không hại kẻ khác.
3/- Nghiệp không hại mình lẫn kẻ khác.
Như thế thì nên làm và phải hành theo dhammaadhipateyya (lấy pháp là chủ) không nên hướng theo attaadhipateyya (lấy mình là chủ) và lokaadhipateyya (lấy đời là chủ).
Tịnh Ngọc
01-09-2005, 11:36 PM
THIÊN VII
QUAN NIỆM VỀ NGHIỆP TRONG KINH SANDAKA
Trong kinh Sandaka-suutta Majjhima-nikaaya Majjhimapanaraasaka, Đức Aananda có thuyết những quan niệm nghiệp trong các tôn giáo khác đối với Phật giáo, cho Sandaka-paribbaajaka rằng ta có thấy sự chế định của các giáo chủ khác trăm muôn ngàn lần xa Phật giáo, vì lòng cố chấp và buông thả theo sự rủi may, số mệnh cũng có như:
1.- Giáo chủ Para.nakassapa thuyết rằng: không có nghiệp, không có phước không có tội gọi là Akiriyaadi.t.thi nghĩa là làm thế nào cũng như không làm, vì không có phước, tội.
2.- Giáo chủ Makkhaligosala cho rằng: sự trong sạch hay nhơ bợn vô nhân quả tức là sự hành vi cho trở nên liêm khiết không có, người với sự luân hồi như cuộn dây nhỏ, họ nắm mối đầu rồi liệng đi. Khi cuộn dây ấy tháo ra hết thì, tự nó ngừng. Quan niệm này gọi là a ketukadi.t.thi. Nghĩa là ý kiến độc đoán vô nhân.
3.- Giáo chủ Ajitakesakambala dạy rằng, (tiếng gọi) là phước, tội, cha, mẹ, người, thú ấy chẳng có chi cả, họ lầm gọi nhau như vậy. Cả tứ đại: đất, nước, lửa, gió hòa nhau, khi tan rã thì tiêu mất.
Đây là Ucchedadi.t.thi và Natthikadi.t.thi: ý kiến độc đoán tiêu diệt và ý kiến độc đoán hư vô nghĩa là hiểu rằng trống không, không có chi.
4.- Giáo chủ Pakuddhakaccaayana giảng rằng: trong thân thể chúng ta có hai khối:
Khối tức là đất
Khối tức là nước
Khối tức là gió
Khối tức là lửa
Khối tức là vui
Khối tức là khổ
Khối tức là sinh mệnh
Tất cả bảy khối ấy dù bị ai làm thế nào cũng như không làm, vì là khối với khối, gọi là n atthikadi.t.thi ý kiến độc đáo hư vô.
5.- Giáo chủ Sa~navavelatthaputra bảo rằng: thế này cũng chẳng có, thế kia cũng chẳng có, nghĩa là phủ nhận bất kỳ cái gì, gọi là Vikkhepaladdhi quan niệm lúc lắc, trở đi trở lại, hay ý niệm hòa lộn.
6.- Giáo chủ Nigandhanaataputra có căn bản gần với nền tảng Phật giáo, chỉ khác nhau chỗ hành vi sái nhau, nghĩa là phái này chế định rằng, người tu ngoài Phật giáo phải gồm có bốn phương pháp là:
1.- Cấm làm tội lẫn nhau.
2.- Gồm có "thiên" pháp.
3.- Tiêu diệt tội lỗi.
4.- Đặt quả cuối cùng của Phạm hạnh.
Người hạnh như vậy gọi là chứng Atma"m (cái ta).
Tịnh Ngọc
01-09-2005, 11:38 PM
Những quan niệm của giáo chủ ấy được xán lạn trước thời kỳ Đức Phật giác ngộ bằng sự không đem lợi ích đến các tín đồ vừa với sự tôn thờ, sùng bái của họ. Khi Đức Phật tuyên bố Chánh pháp, phổ cập trong khắp nơi rồi, Phật giáo có ánh sáng chói lọi, có sức chi phối các giáo phái ấy. V
ì Ngài giảng thuyết cho mọi người hiểu rằng: "nghiệp của tự mình, chỉ có bấy nhiêu, áp bức mình cho thấp hèn và nghiệp của chính mình, ngần Này, chống đỡ mình cho cao sang". Ai là kẻ tạo nghiệp? Cũng tức là tự mình vậy.
Khi Đức Aananda giải như thế rồi, Sandakaparibbajaka (bần tụ hội) rất ca tụng, rồi xin Ngài thuyết thêm rằng:
- Bạch Đức Aananda! Giáo chủ mà hành giả nương theo sẽ được như thế nào?
- Này sandaka! Trong đời Này, Ðức Thế Tôn giáng thế là đấng Chánh đẳng Chánh giác, gồm có Minh hạnh túc (pháp thực hành để đến sự giác ngộ) Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Thế tôn
Ngài làm cho thế gian này: Chư thiên, Ma vương và Phạm thiên, tất cả chúng sinh, Sa môn và Bà-la-môn thấy rõ bằng trí tuệ cao siêu. Ngài thuyết pháp nghe du dương chặn đầu, chặn giữa và nơi cuối cùng, đầy đủ ý nghĩa hòa nhịp, tuyên bố phạm hạnh trong sạch hoàn toàn.
Những gia chủ, con gia chủ, con nhà gia giáo được nghe pháp, khi đã nghe xong hằng phát tâm tín ngưỡng trong Đức Như Lai, rồi quan sát thấy rằng:
- Ðời cư sĩ là nơi chật hẹp hạn chế, là lối đến của bụi bặm. Xuất gia là một cơ hội trong sạch sáng sủa. Sự ở nhà lo giữ gìn gia thế, khó hành phạm hạnh được điều đủ, trong sạch được như vỏ ốc đã trao dồi, như thế, ta nên cạo tóc và râu, mặc y cà sa ra khỏi nhà, thọ giới đàn, không bận lòng đến sự trị gia nữa.
Sau rồi họ có dịp được ly gia cắt ái , không còn phải săn sóc gia đình, khi đã thành một vị xuất gia và tinh tấn nuôi mệnh chân chính theo luât định, là người chữa cải:
- Sự sát sinh, bỏ hẳn những võ khí, có sự hổ thẹn tội lỗi, có tâm từ bi, mong tìm lợi ích cho tất cả mọi loài.
- Không trộm cắp chỉ dùng những vật mà họ cho.
- Không hành dâm, không có đôi vợ chồng như người cư sĩ.
- Không nói dối chỉ thốt lời ngay thật, không chưởi mắng kẻ khác chỉ nói lời mát mẻ.
- Không xúi giục người cho bất hòa nhau, chỉ nói lời hòa thuận, không nói lời thô lỗ, chỉ thốt lời ngọt dịu; không nói chuyện hoang đàng vô ích, không ăn sái giờ.
- Không xem múa hát, không nghe đờn kèn, không dồi phấn đeo hoa, xoa nước thơm.
- Không nằm ngồi trên chỗ cao đẹp v.v.
- Không thọ lãnh cất giữ vàng bạc, châu báu, không thọ ngũ cốc.
- Không thọ thịt và cá sống.
- Không nhận phụ nữ và tôi trai tớ gái, ruông vườn, nhà trại các cầm thú, không làm kẻ đem tin tức v.v.
- Không bán buôn đổi chác v.v. (xem trong luật xuất gia về tà mệnh).
Tịnh Ngọc
01-09-2005, 11:39 PM
Các Ngài là bậc tri túc trong bốn món vật dụng (y, bát, thực phẩm, chỗ ngụ, thuốc men), đi đến trong nơi nào cũng được nhẹ nhàng như loài điểu thú chỉ có cặp cánh bay đến đâu như sở nguyện, thế nào, Tỳ khưu tri túc trong bốn vật dụng trải đi đến nơi nào hằng được như mong muốn.
Hằng gồm có giới hạnh tức là thánh đức, như thế, hằng hưởng quả vui, vô tội.
Mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân đụng chạm, Ngài không phạm luật, và không lưu tâm đến sắc, thinh, hương, vị, xúc (tốt xấu, hay dở, thơm, thối, ngon, dở, mềm, cứng v.v. ) tức là Ngài cố chế ngự lục căn, không cho tiếp xúc lục trần, như thế. Ngài gồm có lục căn thu thúc là thánh đức ấy rồi hằng thụ vui, vô phiền não.
Ngài thường ngụ trong nơi thanh vắng dưới bóng cây, hay nơi mộ địa, rừng cây, tịnh thất vắng. Sau khi đã ngọ thực, Ngài đi kinh hành xong, tọa thiền. Ngài dứt được sự tham lam bỏ ác pháp, không bất bình nóng giận, có tâm từ bi mong điều lợi ích đến tất cả chúng sinh. Trừ được năm pháp cái (tham sắc, nóng giận, phóng dật, hôn trầm, hoài nghi) là năm pháp ô nhiễm tâm, an tỉnh khỏi những dục vọng, yên lặng các ác pháp rồi Ngài đắc sơ thiền pathamojhamo có: Suy, Sát, Phỉ và An sinh từ sự ẩn tu, như thế.
Này Sandaka! Các hàng thinh văn đắc pháp cao quý nan đắc của Đức Giáo chủ nào rồi, là người hiểu biết cũng phải hành phạm hạnh trong đấng giáo chủ ấy. Hàng thinh văn ấy sẽ đắc pháp giải thoát chắc chắn.
Này Sandaka! Ngoài ra có lời giải thêm rằng, Tỳ khưu đắc nhị thiền (Dutiyajhaana) có tâm trong sáng chỉ có phỉ lạc sanh từ thiền định. Này sandaka! Bậc thinh văn hằng đạt đến pháp cao quý, như thế, trong đấng giáo chủ nào, người được hiểu biết phải hành phạm hạnh ấy. Như vậy họ sẽ được giải thoát.
Này Sankada! Ngoài ra Tỳ khưu vì chán ngán phỉ, thường có tâm yên lặng, trung lập có trí nhớ, và thận trọng thụ vui bằng loại danh pháp (Naamakaaya) đắc tam thiền (Tatiyajhaana) mà các thánh nhân gọi là bậc trầm tỉnh(Upekkhaa) có trí nhớ, ở yên như thế.
Này Sandaka! Hạng thinh văn đắc pháp cao siêu như vậy, trong đấng giáo chủ nào, người hiểu biết phải hành phạm hạnh, trong đấng giáo chủ ấy họ sẽ đến thiện pháp và được giải thoát hẳn như thế.
Này Sandaka! Có lời giải thêm rằng, Tỳ khưu đắc tứ thiền (Catutthjhaana) không vui, không khổ, vì dứt được vui và khổ, đã vượt qua nỗi vui và buồn, chỉ có trí nhớ điều tra pháp thanh tịnh bằng tâm xả.
Tịnh Ngọc
01-09-2005, 11:40 PM
Này Sankada! Bậc thinh văn hằng đạt đến pháp cao siêu trong đấng giáo chủ nào, người hiểu biết phải thực hành phạm hạnh trong đấng giáo chủ ấy, như thế họ sẽ đắc pháp giải thoát chắc chắn.
Hạng ấy khi có tâm định vững và thanh tịnh, trong sáng, vô phiền não, khỏi tùy phiền não, là tâm mềm dẻo, vừa hành sự. Họ có tâm bất động rồi phấn khởi tuệ trực giác dùng trí nhớ hồi tưởng đến các tiền kiếp như vậy:
Nhớ được một kiếp, hai kiếp, ba kiếp, bốn kiếp, năm kiếp v.v. mười kiếp, hai chục kiếp, ba chục kiếp, bốn chục kiếp, năm chục kiếp, một trăm kiếp, một ngàn kiếp, mười ngàn kiếp, nhiều muôn kiếp cho đến nhều kiếp hoại (Sanvattakappa) v.v. kiếp thành (Vivattakalapya) v.v.
Rằng ta đã sinh ra trong cõi kia, danh hiệu như kia, dòng dõi như kia, giai cấp như kia, dùng thực phẩm như kia, thụ vui, khổ như kia, sống đến bấy nhiêu tuổi, sau khi thác tái sanh trong cõi nọ v.v. Bậc ấy hồi tưởng đến những kiếp sống trong các cõi đã qua, được hoàn toàn đầy đủ.
Này Sandaka! Bậc thinh văn hằng đạt đến pháp cao siêu như vậy, trong đấng giáo chủ nào người hiểu biết phải hành phạm hạnh trong đấng giáo chủ ấy, khiến các thiện pháp được tăng gia cho đến kỳ giải thoát thực hiện.
Bậc thinh văn khi tâm đã trú vững, thanh tịnh trong sáng vô phiền não, khỏi tùy phiền não, có tâm mềm dẻo, vừa hành sự và bất động, như thế rồi phấn khởi, dùng tuệ trực giác điều tra sự luân hồi của tất cả chúng sinh.
Ngài đắc nhãn thông cao siêu, hơn phàm nhơn và thấy rõ nhiều loại sanh linh, sanh ra hạng thấp hèn cao sang, xấu xa xinh đẹp khổ vui. Ngài biết phân minh rằng, chúng sanh này có hạnh kiểm, thân bất chánh, khẩu bất chánh, ý bất chánh thốt lời khinh bỉ khiển trách bậc thánh nhơn, là hạng tà kiến, thác rồi phải đọa trong ác đạo (cầm thú, địa ngục v.v. )
Tịnh Ngọc
01-09-2005, 11:42 PM
Hạng chúng sanh khác, do hạnh kiểm tốt bằng thân thanh bạch khẩu thanh bạch, ý thanh bạch, không phỉ báng các bậc thánh nhân là hạng chánh kiến, chết rồi được sinh trong thiên giới, có thiên nhãn vượt khỏi phàm nhơn. Ngài thấy rõ chúng sinh, sinh ra thấp hèn, cao sang, xấu xa, xinh đẹp, vui khổ và nhận thức rằng, chúng sinh đều do nghiệp tạo ra như thế.
Này Sandaka! Bậc thinh văn hằng đạt pháp cao siêu hiểu thấu triệt như vậy, trong đấng giáo chủ nào, người hiểu biết phải hành phạm hạnh, như thế, thì hằng đắc thiện pháp cho đến thời kỳ giải thoát.
Bậc Thinh văn khi tâm đã trú vững, thanh tịnh trong sáng, vô phiền não, xa tùy phiền não, có tâm mềm dẻo vừa hành sự, và bất động rồi, phấn chấn dùng tuệ trực giác trong sự trừ tuyệt các lậu phiền não (Aasavakkhaaya).
Ngài được quán triệt chân lý rằng, đây là khổ, đây là nhân sinh khổ, đây là diệt khổ, đây là đạo diệt khổ. Được thông suốt rằng, đây là lậu phiền não, đây là nhân sinh lậu phiền não, đây là diệt lậu phiền não, đây là đạo diệt lậu phiền não. Khi Ngài biết như thế, thấy như thế, tâm giải thoát cao siêu khỏi Kamaasava (Dục lậu phiền não), Bhavaasava (hữu lậu phiền não; mong được như vậy, như kia), Avijjaasava (Vô minh lậu phiền não).
Khi tâm đã giải thoát cao siêu thì sinh trực giác thông suốt mọi lẽ rằng tâm giải thoát cao siêu rồi, kiếp này dứt rồi, phạm hạnh viên mãn rồi, chẳng còn phận sự nào khác phải tu hành nữa, như vậy .
Này Sandaka! Bậc thinh văn đắc pháp cao siêu trong đấng giáo chủ nào, người hiểu biết phải hành phạm hạnh trong đấng giáo chủ ấy thì thiện pháp sẽ đưa họ đến giải thoát hẳn như vậy.
- Bạch Đức Aananda! Tỳ khưu ấy là Đức A-la-hán diệt lậu phiền não rồi, hành tròn phạm hạnh rồi, phận sự nên hành đã thành tựu rồi, hạ vật nặng rồi, những lợi ích đã được theo thứ tự rồi, giải thoát cao siêu bằng trí tuệ quán triệt chân chánh rồi, Tỳ khưu ấy còn có nhục dục chăng?
Tịnh Ngọc
01-09-2005, 11:43 PM
- Này Sandaka! Tỳ khưu là bậc A-la-hán dứt hẳn lậu phiền não rồi, phạm hạnh viên mãn rồi, phận sự phải làm đã hành đầy đủ rồi, đã hạ vật nặng rồi, những pháp trói buộc trong luân hồi đã tuyệt rồi, được giải thoát cao siêu bằng trí tuệ chân chánh rồi, Tỳ khưu ấy không còn vi phạm năm điều là:
1.- Sát sanh.
2.- Trộm đạo.
3.- Hành dâm.
4.- Nói dối.
5.- Tìm nhục dục để dành thụ dụng như kẻ thế nữa.
- Này Sandaka! Đấy là vị Tỳ khưu bậc A-la-hán diệt lậu phiền não rồi, hành tròn phạm hạnh rồi, hạ vật nặng xuống rồi được giải thoát cho cao siêu bằng trí tuệ, hiểu biết đến nơi đến chốn rồi.
- Bạch Đức Aananda ! Tỳ khưu ấy là bậc A-la-hán, dứt lậu phiền não rồi, hành phạm hạnh viên mãn rồi. Giải thoát cao siêu bằng trí tuệ thấu triệt rồi, khi Tỳ khưu ấy đi đứng, ngồi, nằm ngủ hay thức có sự hiểu biết sáng suốt rồi, rằng các lậu phiền não của ta dứt rồi như vậy chăng?
- Này Sandaka! Ta thí dụ để ngươi hiểu. Có người trong đời Này sẽ biết đuợc lời tỷ dụ như vầy:
- Này Sandaka! Như tay và chân của người đã cụt, khi người ấy trải đi, ngừng, ngủ, hoặc thức, tay và chân cũng đều cụt (đứt hẳn). Khi họ quan sát cũng rõ rằng, tay và chân của ta cụt rồi, như vậy, thế nào, Này Sandaka! Tỳ khưu là bậc A-la-hán hết lậu phiền não rồi, khi Tỳ khưu ấy đi, đứng, ngủ hay thức, các lậu phiền não cũng dứt hẳn rồi. Và khi vị ấy quan sát, cũng được hiểu rằng "các lậu phiền não của ta cũng hết rồi như vậy".
Theo như đã giảng thuyết trong kinh Sandaka đây, chúng ta thấy sự chế định nghiệp của các đấng giáo chủ ngoại đạo đều khác với Phật giáo muôn ngàn lần xa. Có giáo chủ chấp hẳn ý kiến độc đoán, có phái lại buông thả theo vận mệnh, không giống như Phật giáo.
Tịnh Ngọc
06-09-2005, 08:30 PM
THIÊN VIII
NGƯỜI NHƯ THẾ NÀO CŨNG DO NGHIỆP
Có tích ghi chép trong Kinh Vaasetthasuutra Majjhima- niikayaa Majjhima-pa~nnaasaka rằng:
Có hai thanh niên Vaasetthamaanaba và Bhaaradvaajamaanaba trò chuyện và phản đối nhau như vầy: Vaasetthamaanaba cho rằng: người có giới đức và đầy đủ hạnh kiểm gọi là Bà-la-môn.
Bhaaradvaajamaanaba thấy rằng: người quý tộc cả hai bên (cha và mẹ) trong sạch đến bảy đời, không có ai phản đối, khiển trách được về dòng dõi, người ấy mới gọi là Bà-la-môn.
Nhưng cả hai không thể đồng ý thừa nhận về vấn đề ấy, bèn dẫn nhau vào hầu Phật nơi một cụm rừng, gần xóm Juhaanamgaha, rồiø Vaasetthamaanaba bạch hỏi Ðức Thế Tôn rằng:
- Bạch Phật, hai chúng tôi đây là người được giáo sư xác nhận là hạng học thức và tự mình cũng xét nhận là có học thức. Bạch Phật tôi là đệ tử của Pokakharasaati Bà-la-môn, thanh niên này ( Bhaaradvaajamaanaba) là môn đồ của Tarukakha Bà-la-môn, chúng tôi đã học đủ Tam Phệ Đà (Trayabheda)
và thấu triệt đạo lý Bà-la-môn. Nhưng hai chúng tôi không đồng ý thừa nhận nhau về vấn đề như sau:
- Bạch Ngài, Bhaaradvaajamaanabanói rằng người được gọi là Bà-la-môn do dòng dõi, còn tôi, bạch Ngài, cho rằng được bằng nghiệp. Bạch Ngài, chúng tôi chưa tìm được người giải nghi, nên chi, chúng tôi đến hầu Ngài để cầu hỏi Ðức Thế Tôn, là đấng Chánh biến tri rõ rệt, những kẻ được lễ bái Đức gotama, hằng sáng tỏ như vầng trăng trong đêm rằm .
Hai chúng tôi cầu hỏi Đức g otama là bậc có tuệ nhãn đã giáng thế chân chính trong đời. Bạch Đức g otama người được gọi là Bà-la-môn ấy, được bằng dòng dõi hay bằng nghiệp, xin Ngài giải cho hai chúng tôi là hạng chưa thông hiểu, cho chúng tôi quán triệt theo lẽ phải. Ðức Thế Tôn đáp:
- Này Vaasettha, Như Lai dự đoán những điều ấy, chia chủng tộc chúng sanh theo thứ tự cho thấy rõ rằng dòng giống có tình trạng khác nhau. Các người nên hiểu tất cả chủng loại nảy nở đều dính với đất, dù có lỏi bên ngoài, da bên trong là loại cỏ (Tinajaati) hoặc cây có lỏi bên trong da bên ngoài gọi là (Rukkhajaati).
Các loại ấy dù không có phận sự hiểu biết trả lời, thệ nguyện rằng chúng ta là loại cỏ, "chúng ta là loại cây" được. "Song tính" của loại cỏ và loại cây cũng kết quả theo giống là nhân cho biết rằng các loại có tình trạng khác nhau. Các ngươi hãy hiểu rằng loại không dính đất, vượt khỏi đất được, đấy là những loại có thức tính, có sinh mệnh, có hình thể vi tế như ong, muỗi, kiến đen, kiến vàng, tính của chúng cũng thành tựu theo loại, là nguyên nhân cho biết rằng tất cả các loại đều có trạng thái khác nhau.
Tịnh Ngọc
06-09-2005, 08:32 PM
Lại các ngươi nên hiểu những thú bốn chân nhỏ lẫn lớn, tính của chúng cũng thành tựu theo loại.
Có loại bò, trườn v.v. tính của loại ấy cũng thành tựu theo loại.
Các ngươi nên hiểu rằng thủy tộc là loại ở trong nước, tính của chúng cũng thành tựu theo loại.
Tính của các chủng loại ấy thành tựu theo loại, có rất nhiều như thế.
Tính trong loại người thành tựu theo loại, như thế, không có, là: không quan hệ đến như tóc không quan hệ đến đầu, không quan hệ đến cả hai tai, không quan hệ đến hai mắt, không quan hệ đến mặt, không quan hệ đến mũi, không quan hệ đến hai môi, không quan hệ đến hai lông mày, không quan hệ đến cổ, không quan hệ đến hai vai, không quan hệ đến bụng, không quan hệ đến xương sống, không quan hệ đến xương hông, không quan hệ đến ngực, không quan hệ đến chỗ hẹp, không quan hệ đến hai tay, không quan hệ đến hai chân, không quan hệ đến mười ngón, không quan hệ đến mười móng, không quan hệ đến hai phần trước của ống quyển, không quan hệ đến màu da, không quan hệ đến tiếng, là thành tựu theo dòng dõi, trong các kiếp nữa thế nào, phần trong thân thể của người như thế không được. Vì trong loại người họ gọi tư thể theo tên.
- Này Vaasettha! Trong loại người, kẻ nào làm việc chăn nuôi bò để dưỡng sinh, ngươi hãy hiểu rằng kẻ ấy là nông dân, không phải là Bà-la-môn.
- Này Vaasettha! Ngưòi nào nuôi mệnh bằng sự làm việc khó nhọc hầu hạ kẻ khác, ngươi hãy hiểu rằng ấy là người phục dịch, không phải là Bà-la-môn.
- Này Vaasettha! Kẻ nào trộm cắp của người, ngươi hãy hiểu rằng: đó là đạo tặc, không phải là Bà-la-môn.
- Này Vaasettha! Ngưòi nào nuôi mệnh bằng võ khí, ngươi hãy hiểu rằng đó là quân nhân, chiến sĩ, không phải là Bà-la-môn.
- Này Vaasettha! Người nào để hỏi ý kiến hoặc giùm góp ý kiến giúp cho một kẻ khác, ngươi hãy hiểu rằng, đó là cố vấn, không phải là Bà-la-môn.
- Này Vaasettha! Người nào thống trị một nước, ngươi hãy hiểu rằng, đó là Đức vua, không phải là Bà-la-môn.
Như Lai không gọi là Bà-la-môn những người sinh ra từ đâu hoặc từ người nào, mặc dù người ấy mong tìm sự tấn triển vì người ấy vẫn còn ô trọc, không tinh khiết là nguyên nhân khiến người phải lo âu phiền muộn. Như Lai tuyên bố rằng, người không ô nhiễm là không có mưu kế lo ngại, không có phiền não là lòng cố chấp, ấy là Bà-la-môn.
Tịnh Ngọc
06-09-2005, 08:33 PM
Như Lai phát biểu rằng, người ngay thật, đoạn tuyệt tất cả thúc phược phiền não (Samyojana) được rồi không bối rối băn khoăn lo lắng, đã vượt qua phiền não, đã lìa khỏi võ khí bó buộc rồi là Bà-la-môn.
Như Lai cho biết rằng, người đã cắt đứt ác tâm (Upanaana) cùng ái dục (Tanhaa) và mối nhân duyên , được giác ngộ rồi là Bà-la-môn.
Như Lai phát biểu rằng, người không làm thiệt hại, có tâm nhẫn nhục với lời chửi mắng do sự hành ác của kẻ dữ, rằng là Bà-la-môn.
Như Lai nói người không biết giận có giới trong sạch đã tự hóa rồi, rằng là Bà-la-môn.
Như Lai gọi người không quyến luyến trong dục cảnh như nước không đọng trên lá sen rằng là Bà-la-môn.
Như Lai gọi người hiểu pháp, diệt khổ của mình trong kiếp hiện tại, đã liệng bỏ vật nặng rồi rằng là Bà-la-môn.
Như Lai gọi người có trí tuệ thực hành theo trí nhớ, sáng suốt trong phương pháp lợi và hại và đã được lợi ích đến mức cùng tột rằng là Bà-la-môn.
Như Lai gọi người không chung chạ cùng các gia chủ không liệt vào hạng xuất gia có dính mắc trong ngũ dục có sự ham muốn ít, là Bà-la-môn.
Như Lai gọi người không sát sinh, không xúi kẻ khác sát sinh, không làm hại chúng sinh, có tâm kiên cố, rằng là Bà-la-môn.
Như Lai gọi người không giận bị kẻ đổ lỗi cho mà nhịn được, khi kẻ khác cố chấp thế này thế kia, mà chính mình là người không câu nệ rằng là Bà-la-môn.
Như Lai gọi người đã diệt tham, sân, si được như bụi cát không dính vào lưỡi gươm rằng là Bà-la-môn.
Như Lai gọi người thốt lời ngay thật và êm dịu cho kẻ khác hiểu lẽ phải là Bà-la-môn.
Như Lai gọi người không trộm của cải dù dài hay vắn, nhỏ hoặc lớn, tốt hay xấu rằng là Bà-la-môn.
Như Lai gọi người đã thoát ly sự thèm khát trong đời này và trong cõi sau rằng là Bà-la-môn.
Như Lai gọi người đã đắc pháp bất diệt theo thứ tự rồi, là người không thương tiếc vì người đã thấu triệt rồi, rằng là Bà-la-môn.
Như Lai gọi người không còn than van rên siết, dứt hẳn bụi trần rồi, đã vượt qua hai pháp thúc phọc tức là phước và tội, rằng là Bà-la-môn .
Như Lai gọi người đã dứt hẳn pháp nhơ nhuốc (Maladina) như vầng trăng ra khỏi đám mây, xán lạn là người trong sáng cao siêu, không dơ đục, không có sự khoái lạc trong cõi đời nữa, rằng là Bà-la-môn.
Tịnh Ngọc
06-09-2005, 08:35 PM
Như Lai gọi người đã vượt qua vô minh như kẻ bị mắc bùn lầy khó triệt thối được, là người qua khỏi rồi, đến bờ kia rồi, có sự trầm tư mặc tưởng, vô ái dục, không còn sự ngờ vực, không câu nệ, con người đã dập tắt rồi, rằng là Bà-la-môn.
Như Lai gọi người đã được diệt dục là bậc xuất gia, không nhà ở, không dục vọng và dứt luân hồi rồi, rằng là Bà-la-môn.
Như Lai gọi người đã vượt qua và diệt ái dục dứt sự thèm khát rồi là bậc xuất gia, không trị gia, không còn dục vọng và hết luân hồi rằng là Bà-la-môn.
Như Lai gọi người ấy đã bỏ ngũ dục, mối bận bịu của hàng gia chủ đã thoát ly phiền não rằng là Bà-la-môn.
Như Lai gọi người bỏ sự yêu thích, và sự giao hợp, người vô tư lự thản nhiên không còn quyến luyến ái mộ cảm tình rằng là Bà-la-môn.
Như Lai gọi người hiểu biết sự sanh tử của chúng sanh hoàn toàn vô ngại đã đến nơi an lạc rồi, giác ngộ rồi rằng là Bà-la-môn.
Như Lai gọi người mà chư Thiên, Càn Thát Bà và nhân loại không biết rõ được Gati . Người chẳng còn lậu phiền não là bậc A-la-hán, rằng là Bà-la-môn.
Như Lai gọi người không có phiền não làm bận lòng phía trước, phía sau và khoảng giữa là người thản nhiên bất câu rằng là Bà-la-môn.
Như Lai gọi bậc vô song đáng lựa chọn, có tinh tấn, người tầm đạo đức cao siêu, đã thắng tối thượng rồi, là người bất động, đã tắm rửa sạch rồi, giác ngộ rồi, rằng là Bà-la-môn.
Danh hiệu thông thường ấy chỉ là lời đàm thoại trong đời mà thôi, do nhân nào?
Chỉ vì danh và tộc, đầu tiên là biệt hiệu mà thân quyến của người có tên tuổi, dòng họ đã xác định, lúc người ấy sinh ra, rồi phỏng gọi nhau truyền khẩu thành ý hiểu độc đoán, không biết mình. Khi đã quên mình thì đem nhau kêu gọi là Bà-la-môn, là được theo dòng dõi như vậy.
Khi Ðức Thế Tôn thuyết rằng danh và tộc chỉ là phỏng đoán nhau theo câu chuyện thường, vừa để hiểu nhau trong tạm thời, như thế rồi Ngài giảng về sức thấy hiệu quả của nghiệp rằng: "ai là thế nào cũng do nghiệp" như dưới đây:
Người là hạng hèn chẳng phải do huyết thống. Người là Bà-la-môn chẳng phải do dòng dõi. Người là hạ tiện cũng vì nghiệp, hạng Bà-la-môn cũng vì nghiệp, nông phu cũng bởi nghiệp. Bậc có giới đức cũng tại nghiệp, thường nhân cũng do nghiệp, công nhân cũng tại nghiệp; đạo tặc cũng bởi nghiệp; quân nhân cũng vì nghiệp; cố vấn cũng bởi nghiệp; đế vương cũng tại nghiệp. Những bậc minh triết về thuyết Thập nhị duyên khởi, quán triệt trong nghiệp và sự kết quả của nghiệp thấy rõ được nghiệp ấy theo chân lý rằng: đời hằng thực hành theo nghiệp, chúng sinh thường thực hành theo nghiệp; chúng sinh bị điều buộc trói ràng rịt cũng vì nghiệp như cây nêm ngăn chận xe đang chạy. Song được là Bà-la-môn cũng do nghiệp xuất chúng là:
Tapa: tu hành nghiêm khắc .
Brahmacariya: phạm hạnh .
Sa~n~nama: tự chế tự hóa .
Dama: chinh phục tình dục .
Bốn nghiệp siêu nhân.Này mà người thực hành đầy đủ bằng trí tuệ để đàn áp được phiền não, hết sinh tử luân hồi. Này Vaasettha! Ngươi hãy hiểu rằng, người mà được gọi là Bà-la-môn theo các nhà học thức nhận thấy là được bằng nghiệp như thế.
Tịnh Ngọc
10-09-2005, 11:15 PM
THIÊN IX
ĐẠO PHÁP ĐỂ TẨY NGHIỆP
Nghiệp nếu nói đại khái thì có hai là:
1.- Thiện nghiệp.
2.- Ác nghiệp.
Chia theo cửa tức là lối tạo nghiệp thì có ba, là:
1.- Kaayakamma: Thân nghiệp.
2.- Vaciikamma: Khẩu nghiệp.
3.- Manokamma: Ý nghiệp.
Có lời hỏi rằng: phương pháp nào giúp ta cải hóa ác nghiệp và chỉ tạo được thiện nghiệp mãi mãi?
Ðức Thế Tôn tùy lời hỏi ấy, có giảng ghi trong Kinh Cuularuukulavadasuutra Majjhima-nikaaya Majjhimapa.n.nsaka bằng cách quan sát tẩy nghiệp. Phật ngôn đó là đạo pháp để rửa nghiệp mà chư Phật đã giáo huấn rồi, dù tiếp theo cũng sẽ dạy như thế.
Nhân đó, đạo pháp để rửa nghiệp, và cho chúng ta chỉ tạo nghiệp lành, vậy chúng ta nên dò xét theo tích sẽ phát biểu dưới đây:
Tại thành Raajagaha, Đức Raahula bổ túc, Sa môn pháp tại Balatthi Kaapraasaada (dinh thự) và Ðức Thế Tôn ngụ tại Trúc Lâm tịnh xá (Ve.luvana). Khi ấy Ðức Thế Tôn ngự đến chỗ ngụ của Đức Ràhula. Thấy Phật tới, Đức Ràhula bèn trải chỗ và nước rửa chân. Đức Phật khi tọa xong, Phật phán rằng:
- Này Ràhula ! Ngươi thấy chút ít nước trong đồ đựng này chăng?
- Bạch Phật, tôi thấy.
- Này Raahula! Rất hiếm có, vậy.
Rồi Ðức Thế Tôn đổ bỏ nước ấy, phán hỏi Đức Raahula nữa rằng:
- Này Raahula! Ngươi thấy nước còn dư đã đổ bỏ ấy chăng?
- Bạch Phật, tôi thấy.
Ðức Thế Tôn bèn úp đồ đựng nước ấy, rồi phán hỏi nữa rằng:
- Này Raahula! Ngươi thấy đồ đựng nước úp rồi ấy chăng?
- Bạch Phật, tôi thấy.
- Này Raahula! Sa môn pháp là sự không hổ thẹn trong lời nói dối của người là vật đã úp rồi, như vậy.
Thế Tôn bèn lật ngửa đồ đựng nước, xong phán hỏi nữa rằng:
- Này Raahula! Ngươi thấy đồ đựng nước trống rổng này chăng?
- Bạch Phật, tôi thấy.
- Này Raahula! Sa môn pháp là sự không hổ thẹn trong lời nói dối của người là vật trống rỗng như vậy.
Tịnh Ngọc
10-09-2005, 11:16 PM
- Này Raahula! Như Lai phát biểu rằng ác nghiệp chút ít mà người không hổ thẹn, cố tâm nói dối, không thể chừa được, (nghĩa là kẻ không hổ thẹn), cố ý nói dối rồi, họ không làm nghiệp ác ấy nữa không được .
- Này Raahula! Ví như tượng mà nài voi đã luyện tập thuần thục quen vào chiến địa. Voi ấy ra trận hằng quấy nhiễu quân địch, bằng hai chân trước, hai chân sau, bằng thân trước, thân sau, bằng đầu, bằng hai ngà, bằng hai tai, bằng đuôi chỉ giữ thân mà thôi, bằng thái độ như vậy. Nài voi thấy rằng voi chưa hy sinh tính mạng với Đức Vua đâu.
- Này Raahula! Trừ khi voi chiến vào trận bằng cách dùng tất cả tứ chi cho đến toàn thân thể, nài voi mới hài lòng rằng, voi chiến đã hy sinh với Đức Vua.
- Này Raahula! Đã gọi là tội rồi mà người có tính chất hay cố tâm nói dối thì không thể bỏ được. "Đó là nhân mãnh liệt của ngươi, ngươi nên tự hóa rằng" ta sẽ không nói dối, dù là nói giỡn. Này Raahula! Ngươi hãy tự chế như thế, cho kỳ được.
- Này Raahula! Ngươi nên hiểu yếu điểm của điều này, như thế nào "kính" có lợi ích gì?
- Bạch Phật, có lợi để soi, trông nom.
- Này Raahula! Nghiệp đáng cho người chú ý, điều tra rồi mới nên thực hành bằng thân, bằng khẩu, bằng ý, như thế.
Tịnh Ngọc
10-09-2005, 11:17 PM
1- Kaayakamma (thân nghiệp)
- Này Raahula! Thân nghiệp của ngươi nghĩa là ngươi mong sẽ tạo nghiệp nào bằng thân, ngươi hãy dò xét kỷ rằng bằng thân nghiệp của ta tức là ta muốn sẽ làm việc ấy bằng thân, nếu thực hành để hại mình, hoặc hại kẻ khác hay hại cả mình và người, thân nghiệp ấy là ác, có khổ là chung kết có khổ là quả, như vậy.
- Này Raahula! Nếu ngươi đã xem xét kỷ, được biết như vậy rằng:
- Này Raahula! nghiệp thấy được như vậy, tuyệt nhiên ngươi không nên hành bằng thân.
- Này Raahula! Nếu ngươi đã khảo sát được biết rằng, thân nghiệp của ta tức là ta mong mỏi tạo nghiệp nào bằng thân, sẽ thực hành để không hại mình hoặc hại người hay hại cả mình và người, thân nghiệp ấy là lành, có vui là chung kết, có vui là kết quả như vậy.
- Này Raahula! nghiệp như vậy, người nên hành bằng thân này! t hân nghiệp của ngươi , d ù ngươi đang làm bằng thân, ngươi hãy điều tra rằng, thân của ta tức là ta đang tạo nghiệp này bằng thân thực hành để hại mình hoặc hại người hay hại cả mình và người, thân nghiệp là dữ có khổ là chung kết, có khổ là kết quả.
- Này Raahula! Nếu ngươi khảo cứu và nhận rằng: Thân nghiệp của ta tức là tạo nghiệp ấy bằng thân, ta không thực hành theo để hại mình hoặc hại người hay cả mình lẫn người, thân nghiệp ấy là lành sẽ đem đến kết quả vui.
- Này Raahula! ngươi nên bổ sung thân nghiệp ấy.
Nếu ta thực hành để hại người, hoặc hại mình hay hại cả mình lẫn người, thân nghiệp ấy là dữ sẽ đưa đến quả khổ.
- Này Raahula! ngươi nên phổ cập giáo pháp trong phạm hạnh, bậc hiểu biết cao siêu. khi đã thuyết rộng để đánh thức quần chúng rồi ngươi nên thu thúc tự chế đi.
- Này Raahula! Nếu ngươi nhận rằng, thân nghiệp lành sẽ đưa đến quả vui là đúng; ngươi nên phát tâm phỉ lạc, an vui và hồi tưởng trong thiện pháp ấy cả ngày lẫn đêm.
Tịnh Ngọc
10-09-2005, 11:18 PM
2- Vaciikamma (khẩu nghiệp)
- Này Raahula! Khẩu nghiệp của ngươi nghĩa là ngươi tạo nghiệp bằng khẩu; ngươi phải tìm xét rằng: Ta tạo nghiệp thực hành để hại người, hoặc hại mình hay hại cả mình lẫn người; khẩu nghiệp ấy là dữ sẽ đưa đến quả khổ.
- Này Raahula! Nếu ngươi nhận thấy điều trên là đúng, tuyệt nhiên, ngươi chẳng nên hành khẩu nghiệp dữ ấy.
- Này Raahula! Nếu ngươi quan sát biết rằng: Ta không thực hành bằng khẩu để hại người, hoặc hại mình hay hại cả mình lẫn người, khẩu nghiệp ấy là lành sẽ đưa đến quả vui.
- Này Raahula ! ngươi nên hành khẩu nghiệp lành ấy đi. ngươi phải bổ sung khẩu nghiệp ấy như thế.
- Này Raahula ! ngươi nên thuyết rộng khẩu nghiệp lành để đánh thức các hàng phạm hạnh, bậc hiểu biết cao siêu. Khi đã phổ cập để đánh thức rồi, ngươi phải thu thúc, tự chế đi.
- Này Raahula ! toàn nhiên, ngươi phải phát tâm phỉ lạc, an vui và hồi tưởng trong các thiện pháp cả ngày lẫn đêm theo khẩu nghiệp ấy.
Tịnh Ngọc
10-09-2005, 11:18 PM
3- Manokamma (ý nghiệp)
Cũng như trên, chỉ đổi thân nghiệp hay khẩu nghiệp thành ý nghiệp.
- Này Raahula ! chư sa môn hay Bà-la-môn sinh ra lâu trong quá khứ đã tẩy thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp v.v. rồi, những Sa môn và Bà-la-môn ấy cũng được quan sát rồi mới tẩy thân nghiệp, khẩu nghiệp, và ý nghiệp như thế thật.
- Này Raahula! Dù chư Sa môn hay các Bà-la-môn nào sẽ sinh ra trong tương lai cũng sẽ tẩy thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp v.v. chư Sa môn và Bà-la-môn ấy cũng đã khảo sát rồi và sẽ tẩy thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp v.v. như vậy thật.
- Này Raahula! Dù những Sa môn và Bà-la-môn đã còn trong hiện tại cũng đang tẩy thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp v.v. chư Sa môn và Bà-la-môn vẫn tìm xét rồi đang tẩy thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp như vậy thật.
- Này Raahula! Vì thế ngươi phải tu học hồi tưởng rằng, ta đã dò xét rồi tẩy thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp như thế cho được.
Tịnh Ngọc
12-09-2005, 02:10 AM
THIÊN X
DO NHÂN NÀO CHÚNG SINH BỊ ĐỌA TRONG KHỔ ĐẠO VÀ DO NHÂN NÀO ĐƯỢC LÊN NHÀN CẢNH
- Bạch đức Gotama! do nhân nào, do duyên nào có những chúng sinh trong đời này, sau khi chết phải đọa trong khổ cảnh (cầm thú, A-tu-la, ngạ quỷ, địa ngục)?
- Bạch Đức Gotama! Do nhân nào, do duyên nào có hạng chúng sinh sau khi thác được lên nhàn cảnh?
Câu hỏi trên đây là lời của các Bà-la-môn và gia chủ ngụ tại làng Saala, bạch hỏi Ðức Thế Tôn, có ghi rõ trong kinh Saleyyakasutra Majjhimanikaaya Muulapa.naasaka: Ðức Thế Tôn bèn đáp đại khái rằng:
- Này các gia chủ! Có loại chúng sinh trong đời này, sau khi chết hằng sa trong khổ cảnh vì sự hành vi bất hợp pháp và hành nghiệp bất chánh.
- Này các gia chủ! Có loại chúng sinh trong đời này, sau khi tan rã ngũ uẩn được lên nhàn cảnh, do sự hành động hợp pháp và tạo nghiệp chân chánh.
Các gia chủ ấy nghe rồi, nhưng chưa đạt Phật lý, bèn bạch rằng:
- Chúng tôi chưa thông hiểu được lời giải tóm tắt của Đức g otama. Bạch cầu Ngài giải rộng thêm cho chúng tôi được lãnh hội.
Theo lời hỏi ấy, Ðức Thế Tôn bèn thuyết tiếp rằng:
- Này các gia chủ! Có hạng chúng sanh trong đời này, sau khi thác hằng đến khổ cảnh (Cầm thú, A-tu-la, ngạ quỷ, địa ngục) như vậy do sự bất hợp pháp và hành nghiệp bất chánh.
- Này các gia chủ! Có hạng chúng sanh trong đời này, sau khi chết thường được lên nhàn cảnh (Người, Trời) như thế vì sự hành vi hợp pháp và sự tạo nghiệp chân chánh.
Những dân làng ấy nghe Phật ngôn rồi, nhưng vẫn chưa lãnh hội nên bạch rằng:
- Thiện ngôn ấy Đức Phật gotama thuyết khái lược Ngài không giảng vi tế, chu đáo, chúng tôi chưa thông hiểu, cầu xin Đức g otama thuyết thêm cho chúng tôi nhận thức được và thấu rõ tỉ mỉ, theo lẽ ấy, Ðức Thế Tôn giảng tiếp rằng:
- Này các gia chủ! Sự thực tiễn không hợp pháp và tạo nghiệp bất chánh bằng thân có 3, bằng khẩu có 4, bằng ý có 3.
Tịnh Ngọc
12-09-2005, 02:10 AM
Này các gia chủ! Sự thực tiễn không hợp pháp và tạo nghiệp bất chánh bằng thân có 3 là:
1.- Này các gia chủ! Có hạng người trong đời này sát sanh không hổ thẹn tội lỗi, là người không từ bi đối với chúng sinh có thức tánh .
2.- Thường trộm đạo của kẻ khác, tại trong nhà hoặc trong rừng gọi là đạo tặc.
3.- Thường tà dâm với vợ con kẻ khác.
- Này các gia chủ! Sự thực tiễn không hợp pháp và tạo nghiệp bất chánh bằng thân có ba như vậy.
- Này các gia chủ! Sự thực tiễn không hợp pháp bằng khẩu có 4 là:
1.- Có hạng người trong đời này thường nói dối, đi trong nơi đô hội, vào giữa thân bằng, trong quân binh, trong giữa tòa án v.v. có người hỏi đến thì đáp bằng lời không thật; có nói không, không nói có, thấy nói không thấy, không thấy nói thấy.
2.- Dùng lời xúi giục cho bất hòa nhau, đuợc nghe bên này nói đến bên kia cho họ chia rẽ nhau, khiến người hòa thành bất hòa.
3.- Nói lời thô lỗ làm cho người phải phiền muộn, bực tức sanh nóng giận.
4.- Hay nói những lời vô ích, hoang đường, không hợp thời vô nhân quả, bất hợp pháp, vô căn cứ, không có lợi ích.
- Này các gia chủ! Sự thực tiễn không hợp pháp và sự hành nghiệp bất chánh bằng khẩu có 4 như vậy.
- Này các gia chủ! Sự thực tiễn không hợp pháp và sự hành nghiệp bất chánh bằng ý có ba là:
1.- Có hạng người trong đời này mong được tiền bạc và vật dụng không lựa chọn, nhìn chăm chăm của ấy với tấm lòng ước ao được làm sở hữu.
2.- Có lòng oán thù, có ác tâm hãm hại kẻ khác đến chết hay làm tán gia bại sản.
3.- Có ý kiến độc đoán, có sự hiểu biết lầm lạc rằng: Sự bố thí, sự cúng dường không cho quả lành, không có sự kết quả của các nghiệp. Đời này, đời sau không có, mẹ cha không có, chúng sinh sanh hoặc tử cũng chẳng có. Trong đời này chẳng có Sa môn hay Bà-la-môn nào tu hành chân chánh cả, cũng không thấu triệt tâm chúng sinh trong đời này .
Tịnh Ngọc
12-09-2005, 02:11 AM
- Này các gia chủ! Sự thực tiễn không hợp pháp và sự hành nghiệp bất chánh bằng ý có 3 như vậy.
- Này các gia chủ! Có hạng chúng sinh trong đời này, sau khi thác hằng vào đến khổ cảnh là do các nguyên nhân trên.
- Này các gia chủ! Sự thực tiễn hợp pháp và sự hành nghiệp chánh bằng thân có 3, bằng khẩu có 4, bằng ý có 3.
Sự thực tiễn hợp pháp và sự hành nghiệp chánh bằng thân có ba là:
1.- Có hạng người trong đời này, không sát sanh, đã bỏ khí giới, có tâm từ bi, mong điều lợi ích cho chúng sinh.
2.- Không trộm đạo, đoạt tài sản kẻ khác để trong nhà hoặc trong rừng. Gia chủ không cho thì không cầm lấy.
3.- Không tà dâm phụ nữ có mẹ, cha, anh, chị, em, thân quyến và chồng trông nom gìn giữ.
Sự thực tiễn hợp pháp và sự hành nghiệp chánh bằng khẩu có 4 là:
1.- Có hạng người trong đời này, không nói dối, bỏ sự nói dối rồi, bất cứ trong nơi nào, dù trong thân quyến, giữa tòa án v.v. Nếu không biết nói không biết, biết nói biết, không có nói không có, thấy nói thấy, không thấy nói không thấy v.v.
2.- Không xúi giục người cho bất hòa cùng nhau. Được nghe bên này, không đến nói bên kia, cho họ bất hòa cùng nhau, tránh sự gây chia rẽ, khuyến khích những người đã hòa nhau, vui thích khi đảng phái hòa nhau, luôn luôn thốt lời hòa giải nhau.
3.- Không chửi mắng, không thốt lời thô lỗ, không tỏ lời bất nhã đến kẻ khác.
4.- Không nói lời hoang đường vô ích, chỉ bàn về những chuyện hữu ích, ngay thật, có giá trị, nói theo chánh pháp, theo giới luật, có căn cứ và hợp thời.
Sự thực tiễn hợp pháp và sự hành nghiệp chánh bằng ý có 3 là:
1.- Có hạng người trong đời này, không tham, không mong được tiền bạc và vật dụng của kẻ khác, không nhìn chăm chăm của ấy với tấm lòng ao ước được làm sở hữu.
2.- Không oán ghét, không làm hại kẻ khác; hằng cầu cho chúng sinh vô oan trái, đừng hãm hại lẫn nhau, đừng có khổ, cho được vui và hãy giữ mình đi.
3.- Có chánh kiến: bố thí có phước, cúng dường có quả lành; kết quả của nghiệp dữ và lành có thật; tin có đời này, cõi sau, mẹ cha, chúng sinh tử rồi sinh. Trong đời này có Sa môn và Bà-la-môn, hạng tu hành chân chánh và thấu triệt chân lý.
Tịnh Ngọc
12-09-2005, 02:12 AM
- Này các gia chủ! Sự thực tiễn hợp pháp và sự hành nghiệp chánh bằng thân có 3, bằng khẩu có 4, bằng ý có 3 như vậy.
- Này các gia chủ! Có hạng chúng sinh trong đời này, sau khi thác hằng sanh vào nhàn cảnh do sự thực tiễn pháp và sự hành nghiệp chánh như thế.
- Này các gia chủ! Nếu người thực tiễn pháp hành nghiệp chánh nguyện rằng: Sau khi chết sẽ thành vua hay đại phú gia. Có thể nguyện như thế được, cớ sao? Vì người thực tiễn pháp, hành nghiệp chánh ấy sẽ được như mong muốn.
Nếu người thực tiễn pháp, hành nghiệp chánh nguyện rằng: Sau khi thác sẽ trở thành bậc Bà-la-môn, triệu phú gia,vị trời trong cõi Đạo lợi thiên cung, vị trời trong cõi Dạ ma, vị trời trong cõi Đâu suất đà, vị trời trong cõi Lạc hóa thiên, vị trời trong cõi Tha hóa tự tại thiên, vị trời trong cõi Phạm thiên hữu sắc, vị trời trong cõi Phạm thiên vô sắc.
Như thế cũng được, tại sao? Vì là sự thực tiễn pháp và sự hành nghiệp chánh. Hoặc nguyện rằng: Xin cho tôi sẽ đắc tâm giải thoát (Cetoviimutti), trí tuệ giải thoát (Pannaaviimutti ), vô lậu phiền não (Aasavakkhaya) , nguyện như vậy cũng được, cớ sao? –Vì người thực tiễn pháp, hành nghiệp chân chánh, nhứt quyết sẽ được như ý.
Tịnh Ngọc
27-09-2005, 04:27 AM
THIÊN XI
PHẦN TẠO BỐN NGHIỆP
- Này các Tỳ khưu! Chúng sinh có sự ao ước, có sự vừa lòng, có mọi hy vọng rằng, các pháp không mong mỏi, không ưa thích, không phấn chấn phải tiêu diệt đi. Các pháp nên nương tựa, hài lòng, phấn khởi hãy càng tiến triển.
- Này các Tỳ khưu! Khi chúng sinh ấy mong mỏi như vậy, vừa lòng như vậy, hy vọng như vậy; các pháp không vừa lòng, không ao ước, không phấn khởi càng phát triển; các pháp nên nương tựa, ưa thích, vừa lòng lại càng mòn mỏi tiêu diệt.
- Này các Tỳ khưu! Trong điều ấy, các ngươi nghĩ như thế nào?
Khi Ðức Thế Tôn thuyết như vậy rồi, các thầy xin Ngài giảng tiếp, Ngài bèn thuyết rằng:
-Phàm nhân trong đời này không được nghe, không được thấy các bậc thánh nhân, không sáng trí, không tụ tập trong thánh pháp; không được thấy các hàng tịnh giả, không thông minh trong pháp của hạng tịnh giả, vì thế không hiểu rõ các pháp nên nương. Các pháp không nên nương. Các pháp nên thân cận, các pháp nên gần gũi; chỉ nương vào các pháp không nên nương. Không nương vào các pháp nên nương thì các pháp không ao ước, không hy vọng, không vừa lòng, hằng tăng gia. Trong khi các pháp ao ước, hy vọng, vừa lòng càng tiêu tan.
- Này các Tỳ khưu! Điều thích hợp với người không thông hiểu như thế.
- Này các Tỳ khưu! Những hàng thinh văn đã nghe rồi và là người thấy các bậc thánh nhân là hạng sáng trí và được huấn luyện chánh đáng trong thánh pháp, là bậc thấy các bậc tịnh giả, là bậc đã thông hiểu, đã tập luyện chánh đáng pháp của bậc tịnh giả hằng hiểu rõ các pháp nên nương, các pháp không nên nương, các pháp nên thân cận, các pháp không nên thân cận v.v. chỉ thân thiết các pháp nên thân thiết. Như thế các pháp không ao ước, không hy vọng, không vừa lòng càng tiêu tan; các pháp ao ước, hy vọng, vừa lòng càng tiến triển.
- Này các Tỳ khưu! Điều thích hợp với bậc minh triết là hạng thấu triệt như thế.
- Này các Tỳ khưu! 4 pháp tạo nghiệp là thế nào?
- Này các Tỳ khưu! Có pháp chỉ tạo:
- Nghiệp khổ và có kết quả khổ tiếp theo.
- Nghiệp vui và có kết quả khổ tiếp theo.
- Nghiệp khổ và có kết quả vui tiếp theo.
- Nghiệp vui và có kết quả vui tiếp theo.
- Này các Tỳ khưu! Người đã đi trong vô minh, thì không hiểu 4 pháp tạo nghiệp kể trên cùng chân lý của mỗi pháp.
Khi đã bị vô minh che án không thông rõ mỗi pháp tạo nghiệp, nên nương vào và không chừa 4 pháp tạo nghiệp trên.
Do đó các pháp không ao ước, không hy vọng, không vừa lòng càng phát triển, đồng thời các pháp ao ước, hy vọng, vừa lòng càng tiêu tan. Cớ sao?
- Này các Tỳ khưu! Vì điều ấy thích hợp với người không hiểu biết.
- Này các Tỳ khưu! Pháp chỉ tạo nghiệp vui trong hiện tại có kết quả khổ liên tiếp. Người đã đi trong vô minh khi không hiểu pháp tạo nghiệp ấy, rồi cũng không hiểu rõ theo chân lý như thế rằng: "Pháp chỉ tạo nghiệp vui trong hiện tại, có kết quả khổ kế tiếp". Người đã đi trong vô minh khi không hiểu pháp tạo nghiệp ấy rồi, không hiểu rõ theo chân lý như thế, rồi nương vào pháp tạo nghiệp ấy. Như thế các pháp không ao ước, không hy vọng, không vừa lòng càng nảy nở, cớ sao?
- Này các Tỳ khưu! Vì điều ấy thích hợp với người không hiểu biết.
- Này các Tỳ khưu! Trong 4 pháp tạo nghiệp ấy, pháp chỉ tạo nghiệp khổ trong hiện tại, có kết quả vui kế tiếp.
- Người đã đi trong vô minh khi không thông hiểu pháp tạo nghiệp ấy rồi, không thông rõ chân lý, như thế rằng: "Pháp chỉ tạo nghiệp khổ trong hiện tại có kết quả vui liên tiếp" như vậy. Người đã đi trong vô minh, khi không hiểu pháp tạo nghiệp ấy rồi, không thông rõ theo chân lý, nương pháp tạo nghiệp ấy, không bỏ pháp tạo nghiệp ấy. Như vậy các pháp không ao ước, không hy vọng, không vừa lòng càng tiến triển, các pháp hy vọng vừa lòng càng tiêu tan, cớ sao?
- Này các Tỳ khưu! Vì điều ấy thích hợp với người không hiểu.
- Này các Tỳ khưu! Trong 4 pháp tạo nghiệp ấy, pháp chỉ tạo nghiệp vui trong hiện tại và có kết quả vui liên tiếp nữa; người đã đi trong vô minh, khi không biết pháp tạo nghiệp, cũng không thông rõ theo chân lý thế nào rằng: "Các pháp tạo nghiệp ấy chỉ là vui trong hiện tại và có kết quả vui kế tiếp nữa" Như vậy người đã đi trong vô minh khi đã không hiểu pháp tạo nghiệp, không thông rõ theo chân lý như thế rồi nương vào pháp tạo nghiệp ấy, không bỏ pháp tạo nghiệp ấy, Như vậy thì các pháp không ao ước, không hy vọng, không vừa lòng càng phát triển, các pháp ao ước hy vọng, vừa lòng càng tiêu tan, cớ sao?
- Này các Tỳ khưu! Vì các điều ấy thích hợp với phàm nhân không hiểu biết.
Ðức Thế Tôn khi đã thuyết về vô minh rồi mới giảng về tiếp theo nữa, có đại ý trái nhau (nên không cần phiên dịch để trong nơi đây). Xong rồi Ðức Thế Tôn thuyết pháp tạo nghiệp bằng cách vi tế như sau:
- Này các Tỳ khưu! thế nào là "pháp chỉ tạo nghiệp khổ trong hiện tại và có kết quả khổ nối tiếp?
- Này các Tỳ khưu! Trong đời này, có hạng người dù đương khổ sở buồn rầu, họ vẫn tự nhiên sát sanh, trộm đạo, tà dâm, nói dối, xúi giục cho người chia rẽ, nói lời hoang đường, tham lam, hãm hại, tà kiến. Do đó họ sẽ bị đau đớn, hối hận do sự sát sanh, trộm đạo, tà dâm, nói dối, xúi giục cho người chia rẽ, nói lời hoang đường do sự tham lam, hãm hại, tà kiến là duyên(Paccaaya). Sau khi thác, hạng người ấy bị sa vào khổ cảnh.
Tịnh Ngọc
27-09-2005, 04:29 AM
- Này các Tỳ khưu! Pháp tạo nghiệp ấy, Như Lai phát biểu rằng: "Có khổ trong hiện tại, có kết quả khổ liên tiếp nữa".
- Này các Tỳ khưu! Pháp chỉ tạo nghiệp vui trong hiện tại, có kết quả khổ nối tiếp là thế nào?
- Này các Tỳ khưu! Trong đời này có hạng người đang vui, đang hưởng lạc thú, cũng vẫn tự nhiên sát sanh, trộm đạo, tà dâm, nói dối, xúi giục cho người chia rẽ, nói lời hoang đường, tham lam, hãm hại, tà kiến, vì thế họ phải chịu quả khổ, đau đớn, hối hận do sự sát sanh, trộm đạo, tà dâm là duyên. Sau khi thác họ hằng đến khổ cảnh.
- Này các Tỳ khưu! Pháp tạo nghiệp ấy, Như Lai phát biểu rằng:"Chỉ có vui trong hiện tại, có kết quả khổ nối tiếp".
- Này các Tỳ khưu! Thế nào là pháp chỉ tạo nghiệp khổ trong hiện tại và có kết quả vui kế tiếp?
- Này các Tỳ khưu! Trong đời này có hạng người đang khổ sở, buồn rầu, họ vẫn chừa sự sát sanh, sự trộm đạo, sự tà dâm, sự nói dối, sự xúi giục, sự nói lời hoang đuờng, sự hãm hại và có chánh kiến. Vì vậy họ phải chịu đau khổ, buồn rầu do tác ý chừa bỏ sát sanh, trộm đạo, tà dâm là duyên.
- Này các Tỳ khưu! Pháp tạo nghiệp ấy, Như Lai phát biểu rằng:"Chỉ là khổ trong hiện tại, có kết quả vui liên tiếp".
- Này các Tỳ khưu! Thế nào là Pháp chỉ tạo nghiệp vui trong hiện tại và có kết quả vui kế tiếp?
- Này các Tỳ khưu! Trong đời này, có hạng người đang vui, đang hưởng lạc thú, họ hằng chừa hẳn sự sát sanh, trộm đạo, tà dâm, nói dối, xúi giục, nói lời hoang đường, tham lam, hãm hại và hằng có chánh kiến. Nhân đó họ hằng được vui, hạnh phúc do lòng không sát sanh, trộm đạo, tà dâm v.v. là duyên. Sau khi thác họ được sanh lên nhàn cảnh.
- Này các Tỳ khưu! Pháp tạo nghiệp ấy, Như Lai phát biểu rằng:"Vui trong hiện tại và có kết quả vui liên tiếp nữa".
- Này các Tỳ khưu! Thí dụ: Như bầu đựng nước hòa với độc dược để trong một nơi. Có người ham sống sợ chết, mong vui ghét khổ, đi đến nơi ấy. Nhiều người nói rằng: "Anh ơi! Đây là bầu nước đã hòa với độc dược, nếu anh muốn hãy uống thử xem, khi đang uống, anh được thấy rõ cả màu, mùi vị; uống vào rồi anh sẽ chết hoặc phải chịu khổ gần chết".
- Này các Tỳ khưu! Kẻ đó không tìm xem xét kỹ bầu nước ấy, khi đã uống vào sẽ chết, hoặc chịu khổ gần chết, như thế nào, thì pháp tạo nghiệp khổ trong hiện tại và có kết quả khổ liên tiếp như thế ấy.
- Này các Tỳ khưu! Như một bát bằng bạc đựng đầy nước nên uống cùng với màu, mùi, vị song bát ấy có lộn bùn trộn với độc dược. Có kẻ ham sống sợ chết, mong vui hết khổ, đi đến trong nơi ấy. Phần đông nói với kẻ ấy rằng: "Anh ơi! Bát ấy có đầy nước nên uống gồm có, mùi, vị, song bát ấy có hòa với độc dược. Nếu anh muốn, hãy uống thử xem". Lúc đang uống nước ấy không rõ rệt màu, mùi vị, nhưng khi đã uống vào, anh sẽ chết hoặc bị khổ như sắp chết. Kẻ ấy không xem xét trước liền uống vào, không mữa ra được.
- Này các Tỳ khưu! Kẻ đó đang khi uống không thấy rõ rệt màu, mùi vị, đến lúc uống vào rồi thì sẽ chết hoặc chịu khổ như sắp chết như thế nào, thì "pháp tạo nghiệp ấy là vui trong hiện tại, có kết quả khổ liên tiếp như thế ấy.
- Này các Tỳ khưu! Như nước tiểu thối hòa với các vị thuốc, có người lâm bệnh gầy ốm, da vàng, đến trong nơi ấy. Nhiều người nói rằng: "Anh ơi! Nước tiểu thối Này hòa với các vị thuốc, nếu muốn anh hãy dùng đi". Khi uống người ấy thấy rõ cả màu, mùi vị, uống rồi anh sẽ được vui. Bệnh nhân xem xét kỹ thuốc ấy rồi uống vào không mữa ra.
- Này các Tỳ khưu! Trong khi uống bệnh nhân thấy rõ cả màu, mùi vị thật, nhưng uống vào rồi sẽ được vui chắc chắn, như thế nào thì pháp tạo nghiệp khổ trong hiện tại có kết quả vui liên tiếp như thế ấy.
- Này các Tỳ khưu! Như sữa bò đặc, mật ong, sữa lỏng, nước mía hòa lẫn nhau rồi để trong một nơi; có người mang bệnh xuất huyết đến đó. Phần đông nói rằng: "Anh ơi! Đây là sữa bò đặc, mật ong, sữa bò lỏng, nước mía đã hòa lẫn nhau, nếu anh muốn thì dùng đi". Khi anh đang uống thuốc ấy lộ màu, mùi vị; khi anh uống vào rồi, anh sẽ được vui .
- Này các Tỳ khưu! Đây là pháp tạo nghiệp vui cả trong hiện tại và có kết quả vui liên tiếp.
- Này các Tỳ khưu! Thí dụ như trong mùa thu sau mùa mưa (đầu mùa lạnh) trời hết âm u, mặt nhựt chiếu giữa không trung, vẹt cả sự tối tăm trong bầu trời hằng soi sáng, chói lọi như thế nào thì Pháp tạo nghiệp vui trong hiện tại và có kết quả vui liên tiếp; pháp tạo nghiệp ấy đàn áp được nhiều kẻ địch của Sa môn và Bà-la-môn, rồi sáng chói, uy linh, quang đãng, rực rỡ như thế ấy.
Tịnh Ngọc
15-10-2005, 03:07 AM
THIÊN XII
NGHIỆP THEO BÁO ỨNG
Trong thiên này, giải về yếu điểm và xác định rằng có nghiệp thì phải có quả báo ứng mãi mãi đến người tạo.
Chúng ta khi đã gieo giống nào hằng hái quả ấy. Như gieo lúa, đậu thì gặt được lúa và đậu, không biến chất như thế nào, thì người tạo việc lành hằng thụ quả vui; kẻ làm nghiệp dữ thường chịu quả khổ như thế ấy. Nghiệp tức là hành vi tạo tác.
Theo nhân thì có hai loại:
1.- Lành gọi là thiện nghiệp.
2.- Dữ gọi là ác nghiệp.
Lành là lòng tốt, tính chất tốt, đức hạnh, tiết nghĩa, tỉnh tháo, liêm khiết, chánh trực, trong sạch hay làm việc phước.
Dữ là hèn hạ, đê tiện hoặc bất chánh, bất lương, giả dối, không ngay thật, tội hoặc bất thiện.
Quả cũng có hai là:
1.- Quả lành
2.- Quả dữ.
Về quả lành có hai là:
1.- Aanisamsa: Lợi đáng hưởng, đáng được, đáng có, có kết quả tốt.
2.- Nissandaphala: Quả ào vào nghĩa là nảy ra các vật như sinh ra người xinh đẹp giàu có.
Trong kinh Nidhikanda-suutra có giải về quả vui sinh ra làm:
1.- Người có nhan sắc trong sáng.
2.- Người có tiếng tốt.
3.- Người có hình dạng thích đáng.
4.- Người có hình ảnh đẹp.
5.- Người có thế lực.
6.- Người có nhiều bộ hạ.
7.- Được làm vua.
8.- Hoàng đế.
9.- Vị Chuyển Luân Vương.
10.- Trời Đế Thích.
11.- Người giàu có hạnh phúc.
12.- Người hưởng hạnh phúc trên cõi Trời.
13.- Người hưởng hạnh phúc Niết bàn.
14.- Người có nhiều bậu bạn.
15.- Người thuần thục trong sự minh triết và sự giải thoát.
16.- Bậc đắc 4 pháp phân tích.
17.- Người vô tư lự, được giải phóng.
18.- Bậc Thinh văn đáo bĩ ngạn.
19.- Đức Độc Giác.
20.- Đấng Chánh đẳng Chánh giác.
Về dữ cũng có 2 là:
1.- Vippa.tissaaraphala: Quả khích động, than van, buồn rầu, rên rĩ.
2.- Nissan.daphala: Quả ào vào phát sinh từ các vật không vừa lòng, như được của cải không tốt, hèn hạ dù không muốn vật ấy nó vẫn xảy ra. Như mình không mong được con cháu tàn tật, điên cuồng, mù điếc, ngu độn, phá hại gia sản mà vẫn phải chịu.
Như chúng ta quan sát thấy rõ rằng về thiện nghiệp, người có lòng trắc ẩn, chừa bỏ sự sát sinh, phần đông là người ít bệnh và được trường thọ.
Người chừa bỏ trộm đạo hằng có tâm bố thí, làm việc lành như cất dưỡng đường, dâng đất cất chùa, giúp đỡ kẻ nghèo khó, tật bệnh v.v. Phần nhiều là người giàu có, dễ tìm của cải và giữ được lâu dài đến con cháu, không có sự lo sợ hao hớt xảy ra đến của ấy.
Người chừa bỏ tà dâm, phần đông có con hiếu thảo, dễ dạy và trong gia đình của con cháu cũng hòa thuận, không có sự tranh chấp gia tài .
Người chừa bỏ sự nói dối, xúi giục, chửi mắng, khiển trách v.v. là kẻ chỉ tỏ lời ngay thật, êm dịu, hòa nhã, phần nhiều được vừa lòng, đuợc ca tụng cúng dường.
Người không uống rượu và các chất say hằng có trí nhớ, trí tuệ, không mê lầm đến trọn đời.
Về nghiệp ác, người ác tâm độc dữ hằng sát sanh hại vật, trộm đạo gian xảo, lường gạt, lấy của người tìm tài sản theo lối bất chánh, nói dối chửi mắng, xúi giục người chia rẽ, uống rượu và các chất say, hằng là người nhiều bệnh, hay gặp tai nạn, hao tài, tổn mệnh. Khi hấp hối hay có tâm mê loạn, lo lắng, băn khoăn, lăn lộn (động đậy, vật mình, khóc lóc, thở than như bị lửa thiêu). Dù có nhiều của cũng khó giữ được kiên cố, và bị con cháu tranh giành nhau rồi cũng tiêu tan, hoặc sẽ trở về phần người khác
Người tà dâm hằng bị hại trong hiện tại.
Quả của nghiệp như đã giải, nếu chưa đến thì sau khi thác sẽ chịu khổ trong kiếp sau, chắc chắn không sai vậy.
Có kẻ hỏi: nhiều người hoài nghi hay hiểu lầm rằng, cớ sao kẻ làm lành không gặp vui mà người dữ lại được hạnh phúc, thạnh vượng như thế, lời dạy của Đức Phật có sai chăng?
Tịnh Ngọc
15-10-2005, 03:08 AM
Theo lời hỏi đây, có giải rằng: Nói làm lành ấy họ làm ra sao? Vì có người lầm rằng, dù họ làm lành cũng có điều sơ sót, không để ý nhớ, cố gắng lưu tâm đến phận sự chân chánh ngay thật. Họ có ý kiến độc đoán, cang ngạnh, khoe mình thái quá, phỉ báng kẻ khác cho đến bậu bạn cùng làm việc chung và kẻ phục dịch, họ lại còn làm cho người ngờ vực nữa. Nhân đó điều nói là làm lành ấy là phải có đủ hành vi tốt đẹp biểu hiện cùng một lúc nghĩa là làm lành theo sự hiểu biết? Thực hành bằng sự sáng trí đồng thời với Thân, Khẩu, Ý chính đáng không khuyết điểm, không tỳ vết nào nghĩa là phải ngay thật, liêm khiết cả các cái lành và lòng ngay thật nữa, như vậy thì phúc phận không hư hỏng .
Về người làm dữ mà được vui, có thể nhờ nghiệp lành của họ trong kiếp Này hoặc kiếp trước theo báo ứng cho quả vui trong lúc ấy. Những nghiệp dữ của họ sẽ phải cho quả khổ, theo báo trả lại không sai .
Điều căn bản quan trọng không nên quên là:
Dù người làm dữ nhưng còn gặp quả vui vì quả dữ chưa tới, phước báo trong quá khứ còn cho quả trong hiện tại, nhưng khi quả khổ đến, người làm dữ hằng chịu khổ chẳng sai.
Dù người làm lành, nhưng còn chịu quả khổ vì nghiệp lành chưa cho quả, do tội ác trong quá khứ còn lại trong hiện tại. Song khi quả lành đến, họ hằng thấy vui, thật vậy.
Về phần cho quả của nghiệp, chúng ta có thể chia ra làm 3 căn bản là:
1.- Nghiệp mà người đã tạo trong quá khứ (cả nghiệp lành và nghiệp dữ) hằng cho quả trong quá khứ cũng cho quả trong hiện tại và trong tương lai.
2.- Nghiệp lành và nghiệp dữ mà người đã tạo trong hiện tại hằng cho quả trong lúc này hoặc trong tương lai cũng có.
3.- Nghiệp lành và nghiệp dữ mà người sẽ tạo trong tương lai, thường chỉ cho quả trong tương lai mà thôi, không đảo ngược.
Trong kinh Cuulakammavibha.ngasuutra có thuyết về quả của nghiệp, ghi rõ rệt theo ý kiến của Phật giáo rằng:
1.- Người yểu tử, vì tội dư sót của sự sát sinh đã làm trong quá khứ.
2.- Người có nhiều bệnh hay lo sợ bị hãm hại, là người làm hại, đánh đập làm khổ chúng sinh.
3.- Người có màu da xấu xí vì tội sân hận, bất bình, làm hại, thù oán kẻ khác.
4.- Người vô thế lực hằng là hạng thấp hèn vì tội ganh tỵ, vu oan đổ lỗi cho kẻ khác.
5.- Người sinh ra trong dòng hạ tiện, nghèo khó vì tội canh nạnh, khinh rẻ kẻ khác, không tôn trọng, kính nhường bậc đáng cúng dường .
6.- Kẻ ăn xin vô tài sản, dù kiếm được của rồi, gìn giữ cũng không lâu, bị nhiều tai hại, hao tốn tài sản, vì trộm đạo hay bủn xỉn, keo kiết, không chia sớt đến kẻ khác.
7.- Người ngu độn, vô trí tuệ vì tội cứng cỏi, không tìm học hỏi với hàng học thức hoặc chế giễu kẻ khác có trí tuệ không bằng nhau.
Về nghiệp lành ý nghĩa trái ngược với nghiệp dữ.
Tịnh Ngọc
15-10-2005, 03:11 AM
THIÊN XIII
NGHIỆP LÀ TÍN HIỆU CỦA SI NHÂN
Có câu Paali rằng:"Kammalakkha.nobhikkhavebalo" - Này các Tỳ khưu! Kẻ si có nghiệp là đặc tính chỉ định, chứng minh cho thấy rõ rằng nghiệp của kẻ si ấy là sự công bố dính theo họ trong mỗi nơi.
Kẻ si tương tự với người vi phạm tội, sái với pháp luật, phải gọi là tội nhân như vậy. Nghiệp ấy tức là phần việc làm như đã giải nhiều lượt, nếu làm lành gọi là thiện nghiệp, làm dữ gọi là ác nghiệp. Nghiệp sinh từ cái chi?
Sinh từ Xan tham, Sân hận, Si mê vì căn cứ vào Phật ngôn như vầy:
"Tinimaanibhikkave! Niidaani kammaana.m samudayaaya, katamaani tiini, lobho nidaanamkammaana.m samudayaaya, doso nidaana.mkammaana.m samudayaaya, moho nidaanamkammaana.m samudayaa"
- Này các Tỳ khưu! Nhân sinh của nghiệp ấy có 3 thứ, như thế nào? Ba thứ ấy là:
1.- Sobha, Xan tham là nhân sinh của các nghiệp.
2.- Dosa, Sân hận là nhân sinh của các nghiệp.
3.- Moha, Si mê là nhân sinh của các nghiệp.
Theo căn nghiệp đã giải trước cho rằng: được biết rõ si do ở nhân tham, sân, si và có đặc tính là do ác nghiệp. Làm dữ tức là làm bằng sự không sáng trí, bằng óc si, ngu độn, thiếu sự hiểu biết.
Trong tham, sân, si, tam độc ấy, si là quan trọng nhất, vì là nhân cho sinh tham và sân. Trong Pàli có thuyết để rằng: Cả 3 ác pháp ấy liệt vào gốc của bất thiện (Akusa.lamuu.la) nghĩa là rễ cái của ác nghiệp. Vì tham, sân, si có trong người nào thì làm cho người ấy không sáng trí trong pháp tiến triển , không chói lọi, không sáng trí trong pháp thoái bộ, không cho thấy rõ pháp phát đạt và không khéo léo trong pháp thịnh và pháp suy, có nhân quả khác nhau. Theo ý nghĩa này họ mới không sáng trí, trong sự lánh mình khỏi pháp thoái bộ và chú tâm trong pháp tấn triển.
Đấy cũng do thế lực của tham, sân, si là nhân sinh ra nghiệp, tức là phần việc phải làm theo thân, khẩu, ý. Không lòng trắc ẩn đối với ai, chỉ tìm hãm hại kẻ khác, cho đến tà kiến hiểu sai chánh pháp.
Tóm lại tham, sân, si làm cho người thành kẻ si năng tạo nghiệp ác .
Ðức Thế Tôn có giảng cho vua Pasenadikosala rằng: "T ayo kho mahaaraaya lokassa dhammaa upapajjanti ahitaayadukkhaaya aphaasuvihaaraaya"- Này Đại vương! Ba pháp là tham, sân, si khi đã phát sinh đến chúng sanh thì hằng có sự bất lợi, khổ sở và không hạnh phúc
Người si mê hằng có khí chất xấu xí cũng vì bị tâm hướng dẫn, trong nghiệp dữ, mới nhận lầm rằng, sự xấu ấy có vị ngọt như mật ong. Bởi điều ác mà người đã làm chưa cho quả trong lúc tạo nghiệp. Như kinh Paali rằng: Na hi paapa.m kaala.m kamma.m sajjukhiraniva muccati. -- Cũng có ác nghiệp mà người si mê đã tạo, chưa cho quả trong lúc ấy, như sữa tươi chưa biến chất vậy.
Sữa tươi mới vắt từ vú bò, họ để trong đồ đựng kỹ lưỡng không cho bụi rơi vào, thì chưa biến chất. Khi họ thêm các vị vào trong đồ đựng hoặc đổi đồ đựng mới, không sạch sẽ, sữa tươi ấy sẽ biến chất thế nào, thì tội của nghiệp cũng thế. Khi người đang làm chưa cho quả cũng có, lúc đã làm xong mới cho quả cũng có. Sự thực, quả của tội có thật, song kẻ si mê không biết rằng là có, nên vui thích làm tội.
Nghiệp lành hay dữ là người làm, chẳng nên ngờ vực có kinh Paali rằng:"u bho pa~n~na~nca papa~nca ya.m macco kurute idha tanhi tassa sakam hoti ta~nca aadaaya gacchati ta~ncassa anugam hoti chaayaava anupaayini" -- Người phải chết, làm phước và làm tội cả hai thứ để trong đời, phước và tội ấy vẫn là của người đó thật, họ hằng đem phước và tội ấy theo phước và tội ấy hằng dính theo họ như bóng với hình .
Chúng ta sinh ra trong đời rồi phải chết thực sự. Nhưng cái mà dính theo mình trong khi thác tức là phước và tội đấy. Phước và tội là tài sản dính theo mình; phước và tội của người nào là người ấy không thể chia cho nhau được. Dù là đi sinh trong cõi nào cũng phải thụ quả của nghiệp đã tạo để dành theo căn bản Paali rằng:"Yatthassu attabhaaro nibbattati tattha ta.m kamma.m vipaccati "
Cá tính của con người, có tham, sân, si là chủ, sinh trong nơi nào, nghiệp ấy hằng cho quả trong nơi đó. Nghiệp cho quả trong nơi nào thì thụ quả của nghiệp trong nơi ấy, nghĩa là sinh trong xác thân hiện hữu hoặc nối tiếp theo.
Lệ thường giống còn tốt chưa hư thối mà người gieo trong ruộâng phì nhiêu, có mưa xuống nhằm mùa tiết, giống đã gieo ấy hằng nở mộng, đâm chồi như thế nào, nghiệp mà người ta đã tạo cũng như thế ấy .
Khi chúng ta chưa diệt được nhân đến đâu quả của nghiệp cũng phải có đến đó.
Cớ ấy Ðức Thế Tôn mới công bố rằng:
"Sace bhaayatha dukkhassa sace vo dukkhapappiya.m maa katha paapaka.m kamma.m kariissatha karotha vaa navo dukkhaa samutyatthi upecceti palaayata.m"
"Nếu các ngươi sợ khổ, nếu khổ là nơi không vừa lòng các ngươi, các ngươi đừng tạo ác nghiệp cả trong nơi khuất lấp và trong nơi sáng tỏ. Nếu các ngươi đã làm hay đang làm ác nghiệp, ngươi sẽ không khỏi khổ được đâu, dù bay trốn cũng chẳng khỏi."
Tịnh Ngọc
15-10-2005, 03:14 AM
Trong kinh kosalasaưyuttaayyikaa-suutra, Ðức Thế Tôn có thuyết rằng:"Sabbe sattaa marissanti maranantamhi jivita.m yatthaakamma.m-gamisanti. Pu~n~napaapaphaluupagaa nirayam paapaakammantaa ca sugatin".
"Tất cả chúng sinh đều phải chết, vì cuối cùng của sinh mệnh là chết. Họ sẽ thụ quả phước, tội y theo nghiệp. Người làm tội phải đi xuống địa ngục, kẻ tạo phước được lên nhàn cảnh."
chú thích: khi chúng ta đã học hỏi phước và tội rồi, nên học hỏi về căn nguyên tự nhiên tiếp theo, vì phần đông chúng ta còn câu nệ các pháp rằng, ta, người, chúng ta, họ, tìm không thấy tiếng gọi chúng sinh, chúng sinh ấy là cái chi?
Ðức Thế Tôn có thuyết rằng: Yaathaa hi atgasambhaaraa hoti saddo ratho iti evam khandhesu santesu hoti sattoti sammati -- Vì tập họp nhiều phần vào cùng nhau nên mới được gọi tiếng "Xe" như thế nào, thì khi ngũ uẩn tồn tại gọi danh là chúng sinh cùng hiện có như thế ấy.
Lệ thường gọi là "xe" ấy, nếu phân tách mỗi loại ra rồi thì chỉ gọi riêng là thùng, bánh, gọng v.v.
Tiếng kêu xe, xe ấy cũng không có thế nào thì chúng sinh cũng vậy. Nếu chia: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức, rời ra thì tiếng gọi là Người, Thú, chúng ta, họ cũng chẳng có; nhưng nếu Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức hợp lại với nhau mới gọi là Ngũ uẩn. Vô minh, ái dục, thụ và nghiệp đều là nguyên nhân gây dựng sự sinh ra, như thợ mộc ráp các bộ phận: cột, kèo, đòn tay cho thành nhà vậy.
Theo ý nghĩa đây, mới chỉ danh ngũ uẩn là chúng sinh: xương là cột, ái dục là thợ mộc, là nguồn sinh sản. Cho thấy rõ rệt là thân hình có dây buộc tức là gân nhỏ lớn, có thịt, máu là vật làm cho lem luốt, có da như y, là vật bao thân, là nơi dựa vào của sự già và sự chết. Khi ngũ uẩn còn mạnh khỏe thì ta gọi là chúng sinh và chỉ danh là người ấy, thú ấy.
Sự rõ rệt của ngũ uẩn chỉ được tồn tại một thời gian rất ngắn ngủi, sống lâu lắm đến 100 năm là cùng. Ví như hạt giống đã gieo xuống ruộng, dựa vào vị của đất và nhựa trong hạt giống mà nảy nở; nếu tách nhựa trong hạt giống ra, không cho hợp vào với đất,hạt giống ấy cũng không sao đâm mầm được. Theo tiếng gọi chúng sinh, khi ngũ uẩn tách rời ra giờ nào, thì khi ấy sự hiểu biết là chúng sinh cũng tiêu tan, mà ta gọi là chết. Như kinh Paali rằng:
Yathaa hi annatara.m biijam khette vuttam viruuhati pathaviirasanca aagamma sinchanca taduubhayam evam khandhaa ca dhaatuyo cha ca aayatamaa ime hetu.m paticca sambhuutaa hetubhanga nirujjhare
- Một loại giống nào mà họ gieo nảy mộng rồi, hằng đâm chồi được do vị của đất và nhựa trong giống hỗn hợp với nhau như thế nào thì những ngũ uẩn, lục nhập, hai yếu tố ấy cậy nhờ vào nhân mới nở mộng được. Khi đã tách riêng ra rồi thì tiêu tan.
Cũng như chúng ta, khi còn sinh mệnh hằng khác nhau do dân tộc, tiếng nói, màu da, tư dung, hình thể bên ngoài và tâm trạng bên trong do hạnh kiểm, đạo đức và do nghiệp phân hạng người khác nhau nữa. Có kẻ sang người hèn, kẻ cao người thấp, giàu nghèo, thạnh suy, xinh đẹp, xấu xa, ngu dốt, thông minh, nhã nhặn, thô lỗ, người hèn, kẻ dữ v.v.
Đấy là định luật tự nhiên, chúng ta tạo lành sẽ được vui, làm dữ sẽ mang khổ. Như có châm ngôn: Người tạo tội hằng lo nghĩ, buồn rầu trong hai cõi, nghĩa là buồn rầu trong hiện tại, lo nghĩ buồn rầu sau khi chết. Trong hiện tại thì buồn rầu, lo nghĩ ta đã làm việc ác rồi sẽ đi đến khổ cảnh, nên càng buồn, lo nghĩ thêm.
Tịnh Ngọc
15-10-2005, 03:15 AM
Trái lại, kẻ làm lành sẽ đến nhàn cảnh, tức là kẻ gặp vui, hạnh phúc, dù trong lúc bổ túc thiện pháp cũng phát tâm ưa thích rằng, tự mình được bổ khuyết điều phải dù trong hiện tại cũng đã bổ sung rồi, vẫn có tâm hoan hỉ nhớ đến trong giờ nào thì vui tươi, sung sướng trong giờ ấy, càng nghĩ đến tâm càng thỏa mãn, thích thú. Như người bộ hành có đủ đồ cần dùng, khỏi bận lòng lo ngại vì sự thiếu thốn. Người chỉ làm lành, hằng được vui: "Người đã bổ sung phước dành sẳn rồi hằng vui thích trong cả hai cõi, tức là vui thích trong hiện tại, khi bỏ cõi này, nghĩ ta đã bổ sung phước để dành đi đến nhàn cảnh rồi nên càng vui thích bội phần".
Dẫn tích: Nandiya Upaasakaa
Trong Pháp Cú Kinh có ghi rằng: Thuở đấng Giáo chủ ngự nơi rừng Isipatananigadaayavana (vườn Lộc Giã) có một thanh niên ở trong kinh đô Baaraanaasii tên là Nandiya, phát tâm tín ngưỡng. Nandiya là con có hiếu, phú túc là người hộ Tăng. Đến tuổi thanh niên, mẹ cha chàng cưới nàng Revadii, con nhà chú cho chàng. Nhưng nàng Revadii không tín ngưỡng Phật giáo, không bố thí, không trì giới, nên chàng Nandiya không hài lòng. Mẹ chàng bèn khuyên bảo nàng Revadii rằng:
- Con ôi! Con nên xếp đặt chỗ ngồi cho chư Tăng trong nhà này, khi chư Tăng đến, con hãy lấy bát, hãy thỉnh các Ngài an vị, hãy dâng nước, các Ngài thọ thực xong, con hãy lấy bát đem rửa. Khi con đã làm được như vạäy, con sẽ là nơi vừa lòng của Nandiya.
Nàng Revadii tuân theo lời dạy. Cha mẹ chàng bèn sắm sanh lễ vạät cưới nàng Revadì về cho chàng. Chàng mới bảo nàng Revadii rằng:
- Nếu em biết phụng sựï Chư Tăng và phụng thờ song thân của anh, em sẽ ở được trong nhà này. Em hãy cẩn thận.
Nàng phụng mệnh rồi giả bộ làm như có đức tin thành kính Chư Tăng và cha me chồng cho đến khi sinh được hai trai. Không bao lâu cha mẹ Nandiya qua đời cả. Từ đấy tất cả công việc nhỏ lớn trong nhà đều về một tay nàng Revadì đảm nhiệm. Kề từ ngày mẹ cha tạ thế, chàng Nandiya trở thành chủ thí đến kẻ nghèo hèn, đói khó và các bộ hành v.v. Khi Nandiya được nghe pháp của đấng Giáo chủ, thấy quả báo cùng sự dâng chỗ ngụ nên tạo nhà phước thí, bốn phòng trong gian lam rừng vườn Lộäc Giã, có cả vậät dụng (bàn, ghế, giường). Trong lúc dâng chỗ ngụ, chàng trai tăng đến Chư Tăng có Đức Phật tọa chủ và có dâng nước biếu đến Đức Như Lai, đồng thời giọt nước biếu nhỏ xuống tay Đấng Giáo Chủ thì điện trời bằng bảy báu gồm có ngọc nữ hiện ra rõ rệt rộng 12 do tuần, cao 100 do tuần, trên Đạo lợi thiên cung .
Ngày nọ Đức Mục Kiền Liên lên Trời, được đến gần điện ngọc ấy. Ngài hỏi Chư Thiên nữ đến lễ bái Ngài rằng:
- Điện trời gồm có nàng ngọc nữ, phát sanh dành cho ai?
- Bạch Ngài, ông Nandiya, tạo phước xá dâng đến Đấng Giáo chủ tại rừng Lộc Giã. Điện này phát sinh dành cho ông Nandiya.
Các ngọc nữ bạch nữa rằng:
- Chúng tôi ngụ trong nơi đây đều nguyện sẽ là vợ ông Nandiya, nên chi khi không trông thấy mặt ông Nandiya thì rất bất mãn. Sự bỏ tài sản ở nhân gian rồi lên hưởng hạnh phúc trời ví như đập bỏ nồi đất, cầm lấy nồi vàng như vậy. Cầu Ngài thuật lại cho ông Nandiya về nơi đây với.
Khi Đức Mục Kiền Liên trở về cõi người rồi đến hầu Phật và bạch rằng:
- Hạnh phúc thiên thượng hiện ra đến người tạo việc lành còn sinh tồn trong nhân gian chăng, bạch Phật?
Phật đáp:
- Này Mục Kiền Liên! Hạnh phúc thiên thượng phát sanh đến Nandiya, người đã tự thấy rồi, phải chăng? Cớ sao còn hỏi Như Lai?
- Bạch Phật như vậy sao?
Ðức Thế Tôn thuyết tiếp rằng:
- Này Mục Kiền Liên! Sao ngươi nói thế. Kẻ nào đứng tại cửa nhà được thấy con hoặc thân quyến đã vắng mặt từ lâu, nay trở về liền tức tốc về nhà cho hay người tên ấy về rồi. Các thân bằng, quyến thuộc đều vui mừng thỏa mãn, vội vàng đến đón rước, hỏi han rằng: "Anh, chú v.v. về nhỉ? "thế nào thì Chư Thiên cũng cầm hoa và mười quà biếu của trời chờ nghinh tiếp người nữ hay người nam đã tạo việc lành để trong đời này vậy. Khi bỏ cõi này rồi đi đến thiên giới. Ngài bèn đọc kệ ngôn rằng:"Cirappavaasii purisa.m"dịch là: các thân quyến, bậu bạn hằng rất hoan hỉ với người đã vắng mặt lâu ngày, được trở về với vẻ đầy hạnh phúc thế nào thì các phước cũng đón tiếp có nghi lễ, người đã được tạo phước để dành, lìa cõi này đi đến cõi khác như vậy.
Tích cận sự nam Nandiya đây chỉ cho thấy rằng những phước thiện mà người đã tạo trong đời hằng cho quả xứng đáng phi thường.
Trong chú giải có nói rằng: Cận sự nam Nandiya được nghe chuyện ấy, càng làm phước thập phần.
Khi chàng cận sự nam Nandiya ra khỏi nhà vì việc thương mãi có dặn nàng Revadii rằng:
- Nàng không nên cẩu thả trong việc cúng dường đến Chư Tăng, bố thí vật dụng đến kẻ nghèo khó.
Nàng Revadii tuân theo. Chàng Nandiya đi đến nơi nào cũng dâng cúng đến Chư Sư và hàng ăn xin.
Những bậc hết lậu phiền não từ nơi xa đến cũng tới tụ thí của nam Nandiya.
Phần nàng Revadii , khi cận sự nam Nandiya đi rồi, nàng bố thí hai, ba ngày mà thôi ngưng bố thí đến kẻ ăn mày. Chỉ còn cúng dâng đến các Tỳ khưu, dù như vậy, nàng Revadii cũng biếu vật hèn không xứng đáng. Nàng Revadii bưng thực phẩm để bát mà nàng dùng rồi còn dư. Nàng đổ bỏ rải rác trong nơi Chư Tỳ khưu thọ thực, rồi nói với người khác rằng:
- Các ông, bà xem sự hành vi của các thầy Sa môn như vậy, các Ngài đổ bỏ những vật mà người cúng bằng đức tin.
Khi cận sự nam Nandiya trở về, được hiểu điều ấy, bèn đuổi nàng Revadii . Sáng sớm Y làm đại thí đến Chư Tăng, có Phật tọa chủ, và để bát mỗi ngày, cùng chia sớt vật dụng đến người đói khát. Chỉ cho nàng Revadii y phục và thực phẩm mà thôi. Sau rồi cận sự nam Nandiya thác được sanh trong điện của mình tại Đạo lợi thiên cung.
Phần nàng Revadii ngưng sự bố thí, trở lại khiển trách chư Tăng rằng: "Tôi bị thất lợi danh cũng do các thầy Sa môn".
Thấy vậy vị Đại Thiên Vương Vesava.na dạy hai quỷ Dạ xoa rằng:
- Hai ngươi hãy trải đi công bố cho chúng dân trong thành Baaranaasii được nghe rằng: "Trong ngày thứ 7 (kể từ đây) nàng Revadì sẽ bị bắt sống đem bỏ trong địa ngục". Chúng dân được nghe câu chuyện ấy phát tâm kinh sợ.
Phần nàng Revadii lên ở trên tầng lầu đóng cửa trốn. Vừa đến ngày thứ 7, Đức Vesava.na sai hai quỷ Dạ xoa mặt đỏ, râu đỏ, có hình dáng đáng ghê tởm, lòi nanh, ăn máu, nước da đỏ như ngọn lửa, thật đáng sợ hành phạt Revadii , bảo nói với nàng rằng:
- Revadì, người hạ tiện hãy đứng dậy, rồi áp phục , nắm hai tay nàng kéo lôi đi trên không trung cho đại chúng thấy đầy đủ. Quỷ Dạ xoa đem nàng lên Đạo lợi thiên cung cho nàng thấy cung điện và tài sản của cận sự nam Nandiya rồi dẫn trở lại gần địa ngục tùy thuộc đại địa ngục.
Trong khi nàng Revadii được thấy cung điện nguy nga, lộng lẫy của cận sự nam Nandiya mới hỏi rằng:
- Cung điện có hào quang như mặt chói lọi, đầy đủ Chư Thiên, là cung điện của ai?
Hai quỷ Dạ xoa đáp:
- Của ông Nandiya trước kia ngụ tại thành Baaraanaasii. Nói xong hai Dạ xoa biến mất.
Trong ngày ấy, nàng Revadii gặp bọn quỷ sứ đến bắt nàng liệng trong địa ngục. Nàng hỏi địa ngục này là gì?
Quỷ sứ đáp:
- Địa ngục này sâu 100 lần bề cao của người. Người phải chịu khổ trong địa ngục này đến sáu muôn năm".
Nàng Revadii bèn hỏi:
- Tôi phạm tội gì mà phải bị hình phạt trong địa ngục này?
Quỷ sứ đáp:
- Ngươi ngược đãi và phao vu các vị Sa môn và kẻ ăn xin, ngươi đã làm tội ấy, nay phải chịu khổ trong địa ngục đến sáu muôn năm.
Nàng Revadii nói:
- Khi nào tôi được trở về cõi người tôi sẽ bố thí, trì giới, trồng cây cho người nghỉ mát, đắp đường; thí nước trì bát quan trai giới.
Xong quỷ sứ bèn liệng nàng trong địa ngục phẩn. Nàng Revadii mới thốt lời rằng:
- Khi trước tôi là kẻ keo kiết, chửi mắng các vị Sa môn, Bà-la-môn và dối chồng nên bị đọa trong địa ngục này.
Tịnh Ngọc
15-10-2005, 03:15 AM
Về ý nghĩa mà Đức Phật thuyết về những thân bằng, quyến thuộc hằng vui thích khi gặp người đã lìa nhau từ lâu, nay được trở về được hạnh phúc thế nào thì các phước cũng đón rước người được làm phước để dành như vậy. Người đi từ cõi này đến cõi khác, ví như là bà con tiếp rước bà con về đến như vậy. Đây là điều nên tưởng nhớ rằng tội phước mà mình đã tạo, hằng chờ đón rước mình trong kiếp sau. Người tạo phước chẳng nên ngã lòng nghĩ phước mà mình đã làm sẽ tiêu tan. Vì phước ấy sẽ chờ rước ta trong kiếp sau. Tội cũng chờ đón ta giống như vậy. Kẻ làm tội, chẳng nên vui thích rằng làm tội rồi thì thôi, không phải chịu khổ. Vì tội không bao giờ tiêu tan, hằng chờ đón người tạo, giống như phước vậy. Chỉ khác nhau cách tiếp rước mà thôi. Nghĩa là cách đón người làm tội là điều buộc trói gông xiềng, đâm chém, thiêu đốt v.v. Phần người tạo phước được mười quà biếu là:
1.- Tuổi trời.
2.- Sắc trời.
3.- Hạnh phúc trời.
4.- Tước vị trời.
5.- Sự cao cả.
6.- Thân trời.
7.- Tiếng trời.
8.- Mùi trời.
9.- Vị trời.
10. -Xúc trời.
Nghĩa là người đã tạo phước để dành rồi hằng đượchưởng dụng tài sản trên cõi trời, có khi tài sản trời phát sanh trước (như có cung điện, ngọc nữ của Nandiya) nhưng phần nhiều tài sản ấy hiện ra trong lúc người tạo phước được lên trời.
Giải: Tuổi trời: lâu hơn tuổi người, 50 năm trong cõi người là một ngày một đêm trên cõi trời Tứ đại thiên vương. Ở cõi này tuổi thọ 500 năm bằng chín triệu năm ở cõi người (9.000.000 năm). Một trăm năm ở cõi người là một ngày một đêm trên Đạo lợi thiên; ở cõi này 100 tuổi thọ bằng ba mươi sáu triệu năm (36.000.000 năm) ở cõi người.
Sắc trời: màu sắc thân thể nghĩa là thân thể có màu sắc rất đẹp, có hào quang chiếu diệu.
Hạnh phúc trời: thân tâm rất vui sướng, không có khổ sở, buồn rầu, lo sợ, như trong nhân gian.
Tước vị trời: tước phong và ngôi vị nghĩa là có kẻ tùy thuộc 100, 1.000 người mãi mãi.
Sự cao cả: sự cao quí không giảm bớt, trú vững một mực cho đến hết tuổi trời.
Thân trời: thân mình, thân thể không biết già, không biết bịnh, không biết gầy ốm, không biết biến dịch, lúc mới sanh ra như thế nào vẫn như thế ấy cho đến ngày chết.
Tiếng trời: tiếng dịu dàng, du dương, êm tai.
Mùi trời: mùi thơm ngát, thơm nức.
Vị trời: các món ăn quí, cao lương, mỹ vị.
Xúc trời: các vật dụng chỗ ở êm dịu, mềm mại.
Tích hai vợ chồng Nandiya đây chỉ cho thấy rõ rằng: Cận sự nam Nandiya tạo phước nên hằng hân hoan trong cõi này, thác rồi cũng thường vui thích. Vui thích trong cả hai cõi, vì thấy tâm trong sạch của chính mình, rồi càng thỏa thích.
Trái lại, như vợ chàng là nàng Revadii hay làm tội nên hằng phải khổ sở trong đời này, chết rồi càng khổ sở, vì nàng thấy nghiệp xấu của chính nàng, rồi càng ưu sầu rên rĩ.
bivedo
21-12-2006, 10:43 PM
Câu chuyện về nghiệp và quả này đuợc truyền lại qua một mẫu dối thoại giữa Đức Phật và một chàng trai trẻ:
Thuở ấy, khi Đức Phật còn tại thế, có mot chàng thanh niên vì có những thắc mắc về số phận bất đồng giữa loài nguời, và vì muốn tìm hiểu chân lý nên đã tìm đến đức Phật mà thưa rằng:
- Bạch Đức Thê Tôn, vì lý do naò và loại nguyên nhân nào mà trong đời sống lại có những người với những số phận khác nhau: kẻ sống lâu, người chết yểu; kẻ hay đau yếu bênh hoạn, nguời khỏe mạnh; kẻ xấu xí, người đẹp dẽ; người làm gì ai cũng theo, nói gì ai cũng nghe, kẻ làm gì ai cũng không theo, nói gì ai cũng không nghe; kẻ nghèo khổ, nguời giàu có, kẻ sanh ra trong gia đình bần tiện, người sanh trong dòng dõi cao sang, và vì sao lại có kẻ ngu dốt người thông minh trí tuệ.
Đức Phật dã trả lời chàng thanh niên rằng:
- Tất cả chúng sanh dều mang theo cái nghiệp khác nhau và cái nghiệp này đeo duổi chúng sanh từ đời này sang đời kia như hình với bóng...
- Vì sao có kẻ chết yểu, người trường thọ?
Đức Phật đáp:
- Những người hay giết hại mạng vật, bàn tay dẫm máu chúng sanh, khi được sanh làm người; do nghiệp báo dộc ác ấy, kẻ đó phải bị chết yểụ Những người không đả động đến gươm dao, đối xử với chúng sanh với lòng nhu hòa từ ái; vì phước báo ấy, nên khi mang thân nguời sẽ được sống lâu
- Vì sao có có kẻ thường hay bệnh hoạn, nguời lại luôn dược khỏe mạnh?
Đức Phật đáp:
- Những người hay đối xử nghiệt ngã với chúng sanh,làm tổn hại về thể xác như đấm đá, đánh đập hay bằng gươm daọ Những kẻ ấy, nếu được tái sinh làm người, kẻ ấy sẽ thường hay ốm đau bệnh hoạn. Những nguời không làm tổn thương xác thân chúng sanh, đối xử với chúng sanh bằng lòng từ ái, nhu hòa; khi đuợc sinh làm người kẻ ấy thường luôn khỏe mạnh không bệnh tật ốm đau
- Vì sao có kẻ diện mạo xấu xí, người dung nhan xinh dẹp?
Đức Phật đáp:
- Những nguời nào thường hay đối xử với chúng sanh bằng sự giận dữ, thô lỗ, cộc cằn. Khi đuợc làm người, người ấy sẽ có hình sắc xấu xí. Ngược lại, những người đối xử với người khác, chúng sanh khác bằng thái dộ nhã nhặn, thanh tao, không oán hận, không tìm cách trả thù; do đức tính nho nhã thanh tao ấy khi dược làm người, người ấy sẽ có đuợc dung nhan xinh dẹp dễ nhìn.
- Vì sao có người làm gì cũng có nguời theo, nói gì cũng có người nghe Lại có kẻ làm gì cũng không ai theo, nói gì cũng không ai nghe
Đức Phật đáp:
- Những người hay có tật tánh đố ky, thèm thuồng, ham muốn lợi danh của người khác, không biết tôn kính bậc đáng kính, chất chứa lòng ghanh tị. Với tâm tính ghanh tị ấy, khi sanh trong cõi người ấy sẽ là người làm gì cũng không ai theo, nói gì cũng không ai nghe Những người không có tâm đố kỵ, không thèm thuồng danh lợi người khác, tôn kính bậc dáng kính; do dức tính không ghanh tị ấy, khi sanh làm người, họ là những người làm gì nguời khác cũng làm theo, nói gì người khác cũng nghe theo.
- Vì sao cùng là người mà có kẻ nghèo khó, lại có người phú quí giàu sang?
Đức Phật đáp:
-Những người chỉ biết bám víu bó cột tài sản của minh, không chia sẽ bố thí vật gì cho nguời khốn khổ lúc họ kêu xin; do dức tính bỏn xẻn thiếu từ ái ấy, khi sinh làm người họ là những người nghèo khổ, không đủ phương tiện chi dùng. Trái lái, những nguời hày dùng tài vật của mình bố thí cho những nguời khổ sở, thiếu thốn; do dức hạnh vị tha cao đẹp ấy, khi trở lại làm nguời, họ sẽ là những nguời giàu có, dư dả.
- Vì sao cùng là thân người mà có kẻ sinh trong gia đình đê tiện, nguời lại sinh trong dòng dõi cao sang, quyền quý?
Đức Phật đáp:
- Những nguời không biết phục thiện, tính ưa kiêu hãnh, không tôn trọng những bậc đáng kính, hay kinh miệt kẻ khác; do thái dộ ngạo mạn vô lễ ấy, khi sinh làm người, kẻ ấy sẽ sinh trong gia dình đê tiện, thấp hèn. Trái lại, những người biết phục thiện, không kiêu căng hãnh diện, tôn trọng nguời đáng kính, không khinh thuờng người thua kém mình; do đức hạnh khiêm nhường lễ dộ ấy, khi sinh làm ngừời, người ấy sẽ sinh trong dòng dõi cao sang quyền quý.
- Vì sao cùng là người mà có kẻ ngu dốt tối tăm, người thông minh trí tuệ?
Đức Phật đáp:
- Kẻ không chịu dến gần các bậc tài dức dể học hỏi điều hay lẽ phải, phân biệt chánh tà; kẻ ấy khi trở lại làm ngươì; do đức tính không chịu học hỏi ấy, sẽ trở nên ngu dốt tối tăm. Những người ưa tìm người có tài đức dể học hỏi diều hay lẽ phải, phân biệt chánh tà. Do hanh vi mong cầu học hỏi những diều diều tốt-thiện ấy, khi trở lại thân người, người ấy sẽ là nguời thông minh trí tuệ.
vBulletin® v3.6.11, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.