View Full Version : Tuyển Tập Thơ Tình Trung Hoa (nhiều tác giả)
Chân Trân
18-08-2005, 05:00 AM
Tuyển tập những bài thơ tình của Trung Hoa
Lời giới thiệu
Điều được coi là "xưa như trái đất" có lẽ cũng luôn luôn mới như trái đất: Tình yêu là đề tài muôn thuở của thơ ca.
Vì thành tựu thơ ca trác việt, Trung Quốc được gọi là "Thi Quốc" và thơ của Thi Quốc cũng không khước từ đề tài muôn thuở ấy.
Nói đến Trung Quốc, người ta nghĩ ngay đến đất nước của Nho gia, mà trong sách kinh điển của Nho gia hầu như không có chỗ cho hai chữ "ái tình". Đã thế, trong thời phong kiến, tư tưởng nho gia lại dung hợp với tư tưởng đạo gia (về sau một bộ phận trở thành Đạo giáo) và Phật giáo. Mà, Nho giáo "tiết dục", Đạo giáo "quá dục", Phật giáo "diệt dục" nên cả ba giáo kết hợp lại chẳng thể thành miếng đất của đề tài tình yêu. Ấy vậy mà trong thơ Trung Quốc (chủ yếu được phát triển dưới thời phong kiến) đề tài tình yêu lại rất phong phú, đa dạng, thể hiện đầy đủ mọi trạng thái, sắc độ của tình yêu, như bạn đọc sẽ thấy trong tuyển tập nhỏ này.
Nguyên nhân nào đã dẫn đến hiện tượng có vẻ như nghịch lý ấy? Điều đó ta sẽ lý giải sau khi khảo sát sự thể hiện đề tài tình yêu trong thơ Trung Hoa.
"Kinh Thi", tập thơ cổ nhất của Trung Quốc, ra đời cách đây hơn 2500 năm, được mở đầu bằng một bài tình ca - "Quan Thư". Và từ đó, đề tài tình yêu luôn là một đề tài quan trọng của thơ cũng như của kich và tiểu thuyết Trung Quốc.
Thơ tình trong "Kinh Thi" là tiếng nói hồn nhiên chân chất của con người Trung Hoa cổ đại, khi chưa có sự ràng buộc của lễ giáo phong kiến. Ta nghe ở đây nỗi rung cảm bồi hồi của buổi ban đầu; lời tỏ bày chân thành; bộc trực; nỗi nhớ nhung sầu muộn, cuộc hẹn hò và lời yêu say đắm, cho đến những lời giận hờn trách móc; nỗi tuyệt vọng và nỗi oán hận... Tất cả đều chân phác.
Thời Hán - Ngụy - Lục Triều (khoảng thế kỷ III TCN đến thế kỷ thứ VI SCN), lễ giáo phong kiến đã ràng buộc con người một cách gắt gao, ấy vậy mà người ta vẫn say mê và mạnh dạn nói rằng:
Thà chẳng biết đến thành xiêu nước đổ,
Bởi nhân gian thật khó trùng phùng.
Hoặc:
Gió xuân thật đa tình
Thổi mở cả xiêm y của ta.
Người ta sống vì tình yêu và dám chết vì tình yêu.
Dưới chân núi Hoa Sơn,
Chàng đã vì em mà chết.
Em một mình biết sống vì ai?
Chàng có thương em hãy mở nắp quan tài.
Không phải chỉ thơ ca dân gian mới mạnh dạn như thế, mà ngay cả trí thức, nho sĩ... cũng nói đến tình yêu một cách hết mình. Đào Uyên Minh được coi là nhà thơ bình đạm, thanh khiết bậc nhất trong lịch sử Trung Quốc cũng:
Ước tình biến thành đôi giầy nhỏ,
Ôm ấp hoài đôi chân của giai nhân.
Các bậc vua chúa cũng "thi đua" ca ngợi giai nhân với hoa sen bằng vàng trên nền nhà để cho "mỗi bước của Phan Phi đi nở ra một đóa hoa sen". Còn hậu chủ Trần Thúc Bảo chẳng có thành tích gì của đế vương, chỉ sống trong ký ức của người Trung Quốc bằng mấy câu thơ tán dương sắc đẹp cung nữ trong bài "Ngọc thụ hậu đình hoa" một bài thơ diễm tình hoa lệ, được coi như "điềm mất nước" của ông ta.
Chẳng riêng người Trung Quốc mà cả thế giới này đều công nhận Thơ Đường là đỉnh cao của thi ca nhân loại.
Mọi mặt của đời sống đều được thơ Đường đề cập đến. Và người Trung Hoa - khắc khổ và đa tình, đạo mạo và phóng túng - đã không bỏ trống vườn tình. Công bằng mà nói, trong Thơ Đường, bên cạnh đề tài tình bạn cực kỳ phong phú (chiếm khoảng một phần tư số lượng thơ) thì đề tài tình yêu chiếm một tỷ lệ khiêm tốn. Nhưng thơ tình yêu đời Đường cũng thật là phong phú và độc đáo.
Lý Bạch, một nhà thơ hiệp khách, một "tín đồ" Đạo gia say với "rượu, trăng, tiêu, kiếm", vẫn làm cho người ta kinh ngạc bởi nỗi nhớ tình nhân xa cách:
Người đi đi mãi bao đành,
Ba năm biền biệt hương tình chưa vơi...
Những ai trở lại tìm người yêu mà chẳng gặp có thể nghe vang lên trong tâm hồn câu thơ da diết của Thôi Hộ ngàn năm xưa còn vọng lại:
Nhân diện bất tri hà xứ khứ
Đào hoa y cựu tiếu Đông phong.
mà Nguyễn Du đã dịch thật khéo sang thể lục bát:
Trước sau nào thấy bóng người,
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.
Còn những ai đã trót vương mang lưới tình hẳn cảm thấy mình như "con tằm" Lý Thương Ẩn:
Xuân tàm đáo tử ti phương tận
Lạp cự thành khôi lệ thủy can.
Nghĩa là:
Con tằm đến thác tơ còn vướng,
Chiếc nến chưa tàn lệ vẫn sa.
Người Trung Hoa đa tình đã tổ chức "đám cưới vũ trụ" cho chàng chăn trâu và cô thợ dệt của họ tận giải Ngân Hà, luôn cảm thấy tình yêu của mình được cả vũ trụ thông cảm:
Đa tình chỉ hữu xuân đình nguyệt
Do vị ly nhân chiếu lạc hoa.
Nghĩa là:
Chỉ trăng xuân vẫn đa tình
Vì người ly biệt rọi cành hoa rơi.
Đến đời Tống, các nhà "Đạo học" đã qui định khá rạch ròi "Văn tải đạo, thỉ ngôn chí, từ vịnh tình", thơ dời Tống trở nên đầy tính chất triết lý, "khô" và "lạnh". Đề tài tình yêu rủ nhau "di cư" sang Từ.
Nhưng thực ra "Từ" cũng là thơ và như thế lại càng thuận lợi. Vì thơ Trung Quốc, mà đỉnh cao là thơ Đường với "Luật thi" là tiêu biểu, tuy hoàn mã nhưng lại quá quy phạm và gò bó; còn "Từ" tuy không dễ làm vì muốn "điền từ" phải sành âm nhạc nhưng "Từ" lại có đến hàng trăm điệu, mà kể cả biến thể thì đến vài ngàn điệu. "Từ" chấp nhận cả vần trắc, vần bằng, vần cách, vần liền, vần điệp; câu ngắn thì một vài chữ, câu dài thì đến mươi chữ...
Thật là một miếng "đất dụng... tình" của thơ tình yêu, một đề tài vốn thích tự do, phóng túng. Lại nữa, hoàn cảnh xã hội đời Tống cũng đặc biệt. Một mặt thì Nho giáo đã trở thành "Tống Nho" (Đạo học) rất khắc nghiệt nhưng mặt khác thì các đô thị lại phát triển, tầng lớp thị dân đông đảo, tư tưởng của họ phần nào được "cởi trói".
Qua một thời Nguyên vốn là sự thống trị một dị tộc coi thường lễ giáo, "Từ" cũng được sử dụng nhiều với tư cách các ca khúc trong kịch hát đời Nguyễn, đến Tống "Từ" trở thành thể loại chiếm đỉnh cao trên văn đàn với chức năng mới là trữ tình. Thành thử đề tài tình yêu được phát triển một cách phong phú và rực rỡ trong "Từ" ("thi dư") đời Tống.
Vì người Việt Nam ít tiếp xúc với "Từ" Trung Quốc nên trong tuyển tập này chúng tôi chọn dịch một số bài "Từ" (thời Đường, Ngũ Đại và Tống) để bạn đọc làm quen với thể thơ độc đáo này của Trung Quốc.
Như vậy là ở đời Tống, đề tài tình yêu chủ yếu được thể hiện trong "Từ" nhưng không có nghĩa là thơ Tống tuyệt nhiên không nói đến tình yêu. Chẳng hạn như Lục Du, nhà thơ yêu nước vĩ đại, tác giả của ba vạn bài thơ (hiện còn gần một vạn bài), tác giả của rất nhiều bài "Từ" hào hùng, cũng làm những bài thơ tình rất cảm động. Đến hơn 70 tuổi vẫn còn "nhỏ dòng châu khóc dấu xưa" thương nhớ người vợ sớm qua đời sau sự tan vỡ của một cuộc tình thiết tha mà oan trái.
Sang đến thời Minh - Thanh, giai đọan cuối cùng của chế độ phong kiến Trung Quốc, xã hội nhiều biến động dữ dội, tiểu thuyết, trước đây vốn là một thể loại bị coi thường, đã trở thành thể loại chính trên văn đàn. Thơ nói chung không còn được hâm mộ như trước và thành tựu cũng hạn chế (mặc dù số lượng vẫn nhiều). Trong tiểu thuyết thì đề tài tình yêu vẫn chiếm địa vị khá quan trọng, có rất nhiều tiểu thuyết đề cập đến đề tài tình yêu (như "Kim Bình Mai", "Hồng Lâu Mộng" hay "Kim Vân Kiều truyện" mà Nguyễn Du đã chọn làm lam bản để viết nên truyện Kiều... chẳng hạn). Nhưng những tác phẩm ấy ở ngòai phạm vi của tuyển tập và bài giới thiệu này.
Nhà thơ lớn đồng thời là nhà lý luận văn học đời Đường Bạch Cư Dị, trong "Thư gửi Nguyên Cửu" đã nói rằng: "Thơ, tình là gốc, lời là ngọn, âm thanh là hoa, ý nghĩa là quả" (Thi giả, căn tình, miêu ngôn, hoa thanh, thực nghĩa). Người Trung Quốc quan niệm thơ là để trữ tình, dù có "tự sự" đi nữa thì tự sự cũng chỉ là phương tiện để tỏ bày tình cảm. Mà trong các thứ "tình" thì tình yêu là thứ tình cảm mãnh liệt và sâu sắc nhất.
Mặt khác, xưa nay "trái cấm" vẫn là trái ngọt. Lễ giáo phong kiến do Nho gia qui định đã ràng buộc con người quá chặt, tình yêu bị cấm đoán trong đời thì nó phải lên tiếng trong thơ.
Để thuận lợi cho việc tiếp nhận của bạn đọc, phần chú thích tương đối kỹ nhằm cung cấp tư liệu để bạn đọc tìm hiểu bài thơ. Tôn trọng quá trình thưởng thức của bạn đọc, chúng tôi không đưa lời bình luận, đánh giá của cá nhân vào (trừ một vài trường hợp cần giải thích rõ - chẳng hạn như bài "Mã Ngôi" của Viên Mai).
Ở Việt Nam ta đã từng có một số tuyển tập thơ Trung Quốc, thường là tuyển tập theo thời đại và tác giả (như "Kinh Thi", "Thơ Đường", "Thơ Tống", "Thơ Đỗ Phủ", "Thơ Lục Du"...) Đã là tuyển tập thì những tác phẩm được chọn là tiêu biểu. Vì thế có một số bài được đưa vào tuyển tập "Thơ tình Trung Hoa" này, đã từng có trong tuyển tập trước đây và tất nhiên là đã có những bản dịch của các vị tiền bối. Ở những trường hợp ấy, chúng tôi giữ lại bản dịch cũ, vì đó là những bản dịch tốt và đã quen thuộc với một số bạn đọc. Chẳng hạn như bản dịch của Tản Đà, Ngô Tất Tố, Nguyễn Hữu Bổng, Nam Trân, Khương Hữu Dụng, Tương Như... Những bài chưa được tuyển, chưa có bản dịch thì chúng tôi tự dịch (gồm 72 bài).
Mặc dù đã có nhiều cố gắng và thận trọng, chắc chắn tuyển tập này vẫn còn chỗ khiếm khuyết. Chúng tôi chân thành mong đợi sự chỉ chính của những bậc cao minh.
Chân Trân
18-08-2005, 05:04 AM
A Kiều Oán
Vọng kiến uy nhuy cử thúy hoa,
Thí khai kim ốc tảo đình hoa.
Tu du cung nữ truyền lai tín,
Ngôn hạnh Bình Dương công chủ gia.
Dịch Nghĩa:
Nỗi Oán Hận Của Nàng A Kiều (1)
Xa trông thấy cờ thúy hoa bay phấp phới,
Thử mở cửa nhà vàng quét hoa rụng trước sân.
Chốc lát cung nữ vào báo,
Rằng (nhà vua) đi đến nhà của công chúa Bình Dương.
Dịch Thơ:
Xa trông cờ thúy đến rợp trời,
Nhà vàng thử mở, quét hoa rơi.
Chốc sau cung nữ đưa tin đến,
Ân sủng dành cho kẻ khác rồi.
Bản dịch của Nguyễn Thị Bích Hải
Chú thích:
A Kiều: Tức Trần A Kiều, con gái của cô ruột Hán Vũ đế. Khi Vũ đế còn nhỏ, một hôm người cô hỏi có thích A Kiều không, cậu bé trả lời: nếu được lấy A Kiều thì sẽ xây nhà vàng cho nàng ở. Về sau, Vũ đế lên ngôi, cưới A Kiều làm hoàng hậu và xây nhà vàng cho nàng ở như lời đã hứa. Nhưng Trần Hoàng hậu hơn 10 năm không có con. Bình Dương công chúa, chị của Vũ đế, tiến người con gái nhà họ Vệ, sinh hoàng tử. Trần Hoàng hậu bị thất sủng, rất oán hờn đem 100 cân vàng nhờ Tư Mã Tương Như làm bài "Trường Môn phú" dâng Vũ đế. Vũ đế đọc bài phú cảm động lại đưa nàng về ngôi vị Hoàng hậu.
Nguyên tác: Lưu Vũ Tích
Chân Trân
18-08-2005, 05:07 AM
Ẩm tửu khán mẫu đơn
Kim nhật hoa tiền ẩm
Cam tâm túy sổ bôi
Đản sầu hoa hữu ngữ :
Bất vị lão nhân khai
Dịch Nghĩa:
Hôm nay uống rượu bên hoa
Vui lòng say sưa mấy chén
Chỉ e hoa sẽ nói :
Không phải nở cho người già
Dịch Thơ:
Uống rượu ngắm hoa mẫu đơn
Hôm nay uống rượu ngắm hoa
Cạn đôi ba chén gọi là mua vui
Chỉ e hoa nói lên lời :
Em không phải nở cho người già nua
Bản dịch của Tương Như
Hôm nay uống rượu trước hoa
Đành say mấy chén gọi là mà thôi
Buồn thay hoa biết nói cười :
Có đâu muốn nở vì ai ông già !
Bản dịch của Trần Trọng San
Nguyên tác: Lưu Vũ Tích
Chân Trân
18-08-2005, 05:10 AM
Bài Từ Theo Điệu
Bất thị ái phong trần,
Tự bị tiền duyên ngộ.
Hoa lạc hoa khai tự hữu thì,
Tổng lại đông quân chủ.
Khứ dã chung tu khứ,
Trú dã như hà trú?
Nhược đắc sơn hoa sáp mãn đầu,
Mạc vấn nô quy xứ!
Dịch Nghĩa:
Bài Từ Theo Điệu "Bốc Toán Tử" (1)
Chẳng phải thích cuộc sống phong trần, (2)
Tựa như bị lỗi lầm tiền kiếp.
Hoa rơi, hoa nở tự có thời,
Đều do chúa xuân làm chủ. (3)
Bỏ đi, đã đành là nên bỏ đi,
Ở lại, biết ở lại như thế nào?
Giá mà được hái hoa núi cài đầy đầu, (4)
(Thì) chẳng cần phải hỏi tôi về đâu!
Dịch Thơ: (THEO NGUYÊN ĐIỆU)
Chẳng phải muốn phong trần,
Tựa bị lầm tiền kiếp.
Hoa nở hoa rơi tự có thì,
Bởi chúa xuân sắp xếp.
Bỏ, đành là nên bỏ,
Ở, biết làm sao ở?
Giá được hái hoa dắt mái đầu,
Dẫu về đâu cũng bỏ!
Bản dịch của Nguyễn Thị Bích Hải
Dịch Thơ: (THEO THỂ LỤC BÁT)
Phải đâu thích kiếp phong trần,
Tựa hồ túc trái tiền oan lỡ lầm.
Hoa rơi hoa nở âm thầm,
Toàn do một vị chúa xuân xếp bày.
Nên đi cho khỏi chốn này
Ở thì biết ở sao đây, hỡi trời?
Ước bông hoa núi hái cài,
Cần chi phải hỏi thân này về đâu?
Bản dịch của Nguyễn Thị Bích Hải
Chú thích:
(1) Bài thơ theo điệu "Bốc toán tử" này được sáng tác trong một hoàn cảnh đặc biệt.
Bấy giờ Nghiêm Nhụy đang làm doanh kỹ ở Thai Châu, viên quan tri châu ở đó là Đường Dữ Chính ra lệnh cho Nghiêm Nhụy làm một bài từ vịnh hoa bạch đào. Nghiêm Nhụy đâu dám chống lệnh.
Nàng lập tức viết xong và ca một bài từ theo điệu "Như mộng lệnh". Đường Dữ Chính rất tán thưởng, ban tặng cho nàng rất nhiều. Đến đêm Thất tịch (07-07) Đường Dữ Chính mở tiệc trong phủ chiêu đãi bạn bè tân khách.
Trong tiệc có một vị hào sĩ tên là Tạ Nguyên Khanh hâm mộ danh tiếng Nghiêm Nhụy lập tức làm một bài từ theo điệu "Thước kiều tiên", rất hợp với đêm hoan hội của Ngưu Lang, Chức Nữ, thể hiện rõ thông minh tài trí của nàng.
Tạ Nguyên Khanh say mê nàng, liền giữ nàng ở nhà nửa năm, không tiếc tiền của tặng nàng. Nào ngờ sau đó nhà "đạo học" nổi tiếng của đời Tống là Chu Hy, làm quan khâm sai đến Thai Châu, muốn trai tìm tội lỗi của Đường Dữ Chính, chỉ trích họ Đường có quan hệ bất chính với doanh kỹ Nghiêm Nhụy và bắt Nghiêm Nhụy tống giam hai tháng.
Nàng bị tra khảo chết đi sống lại nhưng không hề nói một điều gì tổn hại đến Đường Dữ Chính. Ít lâu sau, Chu Hy được đổi đi làm q uan nơi khác, Nhạc Lâm kế nhiệm. Ông này thông cảm với cảnh ngộ của Nghiêm Nhụy, nhân một buổi lễ, Nhạc Lâm ra lệnh cho Nghiêm Nhụy làm một bài Từ bày tỏ nỗi oan khuất của mình. Nghiêm Nhụy ứng khẩu ca luôn bài từ "Bốc toán tử" này. Nhạc Lâm lập tức ra lệnh cho nàng hoàn lương.
(Có thể, khi viết "Kim Vân Kiều truyện", Thanh Tâm Tài Nhân đã có căn cứ vào câu chuyện này để hư cấu nên việc xử vụ án Thúc Sinh - Thúy Kiều).
(2) Phong trần (gió bụi): Người xưa gọi cuộc sống của kỹ nữ là kiếp phong trần.
(3) Hai câu này ý nói rằng mình bị phụ thuộc vào sự an bài của người khác, không được tự chủ, đồng thời cũng hàm ý mong vị quan mới phán quyết công bằng cho nỗi oan của nàng.
(4) Câu này tỏ ý muốn được hoàn lương, làm một người phụ nữ bình thương hái hoa núi cài đầu. Ở câu cuối, "nô" là đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất. Xưa ở Trung Quốc, nữ thường tự xưng là "nô", nam thường tự xưng là "bộc" với ý khiêm tốn.
Nguyên tác: Nghiêm Nhụy
Chân Trân
18-08-2005, 05:13 AM
Bá Hề
Bá hề khiết hề!
Bang chi kiệt hề!
Bá dĩ chấp thù,
Vị vương tiền khu.
Tự bá chi đông,
Thủ như phi bồng.
Khởi vô cao mộc,
Thùy chích vi dung.
Kỳ vũ, kỳ vũ,
Cảo cảo xuất nhật.
Nguyện ngôn tư bá,
Cam tâm thủ tật.
Yên đắc huyên thảo (1)
Ngôn thụ chi bội.
Nguyện ngôn tư bá,
Sử ngã tâm muội.
Dịch Nghĩa:
Chàng Ơi
Chàng ơi, chàng thật là tài giỏi,
Chàng là người tài năng nổi bật trong nước.
Chàng cầm cây côn,
Vì vua mà xung phong ở hàng đầu.
Từ khi chàng đi sang Đông,
Đầu tóc em rối như cỏ bồng.
Há vì em không có phấn sáp chải gội,
(Nhưng vắng chàng) em trang điểm cho ai?
Mong mỏi trời mưa,
Mà mặt trời lộ ra sáng tỏ.
Em nguyện cứ tưởng nhớ đến chàng,
Mà cam lòng cho đầu đau nhức.
Làm sao có được cỏ quên sầu,
Trồng vào mái nhà phía Bắc.
Em nguyện cứ tưởng nhớ đến chàng,
Dù (nỗi nhớ) khiến tim em phải đau đớn.
Dịch Thơ:
Chàng người uy vũ anh hùng,
Tài năng trội nhất ở trong nước này.
Cây thù cầm chắc trong tay,
Tiên phong đột trận ra tài giúp vua.
Sang Đông từ độ chàng đi,
Đầu tóc thiếp rối khác chi cỏ bồng.
Phấn son nào phải thiếp không,
Vắng chàng điểm phấn trang hồng với ai?
Mỏi lòng trông giọt mưa sa,
Mặt trời đâu đã hiện ra rực hồng.
Lòng em chỉ nguyện nhớ chồng,
Đầu tuy có nhức nhưng lòng cũng cam.
Ước gì được cỏ quên lo,
Đem về chái bắc để cho em giồng.
Hãy xin để thiếp nhớ chồng,
Dẫu cho đau đớn trong lòng quản bao.
Bản dịch của Tạ Quang Phát - có thay đổi một số chữ
Chú thích:
(1) Huyên thảo: cỏ huyên. Trong dân gian có quan niệm rằng trồng cỏ huyên ở bên nhà thì sẽ quên được những nỗi lo buồn.
Nguyên tác: Kinh Thi
Chân Trân
18-08-2005, 08:37 PM
Bạt Bồ
Triêu phát Quế Lan chử
Trú túc tang du hạ
Dữ quân đồng bạt bồ
Cánh nhật bất thành bả
Dịch Nghĩa:
Nhổ Cỏ Bồ (1)
Sáng ra đi từ bến Quế Lan,
Ngày nghỉ dưới bóng cây dâu cây du.
Cùng chàng nhổ cỏ bồ,
Suốt ngày chẳng đầy nắm.
Dịch Thơ:
Sáng đi từ bến Quế Lan,
Ngày thì ngơi nghỉ dưới làn bóng du.
Đôi ta cùng nhổ cỏ bồ,
Suốt ngày một nắm cũng chưa chịu đầy.
Bản dịch của Nguyễn Thị Bích Hải
Chú thích:
(1) Cỏ bồ: thứ cỏ dùng để dệt chiếu, đệm.
Nguyên tác: Vô Danh Thị
Chân Trân
18-08-2005, 08:39 PM
Bốc Toán Tử
Ngã trú Trường Giang đầu,
Quân trú TRường Giang vĩ.
Nhật nhật tư quân bất kiến quân,
Cộng ẩm Trường Giang thủy.
Thử thủy kỷ thời hưu?
Thử hận hà thời dĩ?
Chỉ nguyện quân tâm tự ngã tâm,
Định bất phụ tương tư ý.
Dịch Nghĩa:
Bài Từ Theo Điệu "Bốc Toán Tử"
Em ở đầu Trường Giang, (1)
Chàng ở cuối Trường Giang.
Ngày ngày nhớ chàng chẳng thấy chàng
Cùng uống nước Trường Giang.
Dòng sông này bao giờ ngừng trôi?
Nỗi hận này bao giờ mới hết?
Chỉ mong lòng chàng như lòng em,
Nhất định không phụ nỗi niềm nhớ nhau.
Dịch Thơ:
Em ở đầu Trường Giang,
Chàng ở cuối Trường Giang.
Ngày ngày nhớ chàng chẳng thấy chàng,
Cùng uống nước Trường Giang.
Sông bao giờ ngừng trôi?
Hận bao giờ mới nguôi?
Chỉ mong lòng chàng như lòng thiếp,
Nhớ nhau chung thủy trọn đời.
Chú thích:
(1) Trường Giang: Tên con sông lớn ở Nam Trung Quốc. Nhưng từ "Trường Giang" ở đây có tính chất phiếm chỉ sông dài nói chung. Từ của bài này có mô phỏng bài nhạc phủ dân gian:
"Quân tại Tương Giang đầu
Thiếp tại Tương Giang vĩ
Tương tư bất tương kiến
Đồng ẩm Tương Giang thủy".
Nguyên tác: Lý Chi Nghi
Chân Trân
18-08-2005, 08:42 PM
Cai Hạ Ca
Lực bạt sơn hề, khí cái thế,
Thời bất lợi hề, truy (1) bất thệ
Truy bất thệ hề khả nại hà,
Ngu (2) hề, Ngu hề nại nhược hà.
Dịch Nghĩa:
Cai Hạ Ca (3)
Sức nhổ núi hề, khí phách trùm đời,
Thời bất lợi hề, ngựa ô truy không chạy nữa.
Ngựa không chạy nữa hề, biết làm sao?
Ngu Cơ ơi, Ngu Cơ ơi, biết làm sao?
Dịch Thơ:
Sức nhổ núi, khí trùm đời,
Ngựa truy chùn lại bởi thời không may.
Ngựa chùn, biết tính sao đây?
Ngu Cơ ơi, tính sao đây hỡi nàng?
Bản dịch của Nhữ Thành (4)
Chú thích:
(1) Truy: Tên con ngựa chiến của Hạng Vũ.
(2) Ngu: Tức Ngu Cơ, vợ của Hạng Vũ. Lúc bị vây khốn ở Cai Hạ, Ngu Cơ cũng theo Hạng Vũ. Khi Hạng Vũ hát bài "Cai Hạ" ca, nàng múa, hát hòa theo rồi tự vẫn.
(3) Cai Hạ ca: Bài thơ duy nhất còn lại của Hạng Vũ, làm khi bị đại quân của Hàn Tín vây chặt ở Cai Hạ.
(4) Bản dịch của Nhữ Thành trong "Hạng Vũ bản kỷ" (sách "Sử Ký" của Tư Mã Thiên), có thay đổi vài chữ.
Nguyên tác: Hạng Tịch
Chân Trân
18-08-2005, 08:45 PM
Cổ biệt ly
Dục biệt khiên lang y,
"Lang kim đáo hà xứ?
Bất hận quy lai trì,
Mạc hướng Lâm Cùng khứ!"
Dịch Nghĩa:
Cổ Biệt Ly
Sắp chia tay, níu áo chàng,
"Chàng giờ đến phương nào?
Không giận chàng về muộn,
Xin chàng chớ đến Lâm Cùng (1) !"
Dịch Thơ:
Sắp xa, em níu áo,
Hỏi: "Chàng đến nơi nao?
Chẳng giận chàng về muộn
Lâm Cùng xin chớ theo!"
Bản dịch của Nguyễn Thị Bích Hải
Chú thích:
(1) Lâm Cùng: Địa danh, nay thuộc tỉnh Từ Xuyên, đời Hán, Tư Mã Tương Nhu thấy Trác Văn Quân trẻ đẹp mà ở góa liền gảy đàn tỏ tình. Trác Văn Quân bỏ nhà trốn theo Tư Mã Tương Như đến Lâm Cùng. Người thiếu phụ ở đây tỏ ý sợ chồng thay lòng đổi dạ.
Nguyên tác: Mạnh Giao
Chân Trân
15-10-2005, 02:58 AM
Cổ oán biệt
Sáp sáp thu phong sinh,
Sầu nhân oán ly biệt.
Hàm tình lưỡng tương hướng,
Dục ngữ khí tiên yết.
Bi lai khước nan thuyết.
Biệt hậu duy sở tư,
Thiên nhai cộng minh nguyệt.
Dịch Nghĩa:
Buồn Ly Biệt
Gió thu nổi gấp gấp
Người buồn oán hờn vì ly biệt.
Chan chứa tình khi đối diện nhau,
Muốn nói đã nghẹn lời.
Lòng cuộn ngàn muôn mối,
Buồn khổ mà khó nói thành lời.
Chia tay rồi chỉ còn nỗi nhớ,
Hai phương trời cùng chung một ánh trăng.
Dịch Thơ:
Gió thu nổi thê thiết,
Người buồn xót ly biệt.
Nhìn nhau tình chứa chan,
Muốn nói lời nghẹn nấc.
Lòng muôn mối tơ vò,
Làm sao nên lời được.
Xa nhau lòng nhớ nhung.
Chỉ chung vầng trăng khuyết.
Nguyên tác: Trương Tịch
Chân Trân
15-10-2005, 03:02 AM
Cổ Đảo Luyện Tử
I - Dạ đảo y
Thu cẩm tự,
Hạ uyên ky,
Tĩnh phất sàng châm dạ đảo y.
Mã thượng thiếu niên kim kiện phủ?
Quá qua thời kiến nhạn nam quy.
II - Chử thanh tề
Châm diện oánh,
Chử thanh tề,
Đảo tựu chinh y lệ mặc đề.
Ký đáo Ngọc Quan ưng vạn lý.
Thú nhân do tại Ngọc Quan tê (tây).
III - Dạ như niên
Tà nguyệt hạ,
Bắc phong tiền,
Vạn chử thiên châm đảo dục xuyên.
Bất vị đảo y cần bất thụy,
Phá trừ kim dạ, dạ như niên.
IV - Tiễn chinh bào
Phao luyện chử,
Bạng song sa,
Xảo tiễn chinh bào đấu xuất hoa.
Tưởng kiến Lũng Đầu trường thú khách,
Thụ y thời tiết dã tư gia.
V - Vọng thư quy
Biên hậu viễn,
Trí bưu hy,
Phụ dữ chinh y thấn thiết y.
Liên dạ bất phương tần mộng kiến,
Quá niên duy vọng đắc thư quy.
Dịch Nghĩa:
I - Đêm đập áo (1)
Cuộn tấm lụa chữ gấm, (2)
Rời khung cửi,
Quét sạch hòn đá đập áo.
Người trẻ tuổi trên yên ngựa nay có khỏe không?
Đã qua mùa dưa chín (3) chỉ thấy nhạn về nam.
II - Tiếng chày đều
Mặt đá đập áo sạch bong,
Tiếng chày đập áo đều đều
Đập mềm tấm chinh y, lệ hòa mực đề tên người nhận.
Gửi đến Ngọc Quan (4) xa vạn dặm,
Mà người chinh thú còn ở tận phía Tây ải Ngọc Quan.
III - Đêm dài như năm
Dưới ánh trăng tà,
Trước là gió bấc,
Muôn chày đập muốn thủng cả ngàn phiến đá.
Chẳng phải vì gắng sức đập áo mà không ngủ.
(Mà để) cho qua cái đêm dài dằng dặc như cả một năm này.
IV - Cắt may chiến bào
Vứt chiếc áo chày đập áo.
Ngồi bên tấm sa che cửa sổ,
Khéo cắt tấm chiến bào, còn đính vào những bông hoa
Tưởng như thấy người chinh phu ở Lũng Đầu (5)
Lúc nhận được áo cũng nhớ nhà.
V - Mong thư về
Vọng gác biên cương xa xôi,
Bưu trạm lại ít ỏi,
Gửi chiến bào này để mặc trong áo giáp sắt
Bao đêm liền, mộng thấy chàng
Chỉ mong sang năm nhận được thư chàng gửi về.
Dịch Thơ:
I - Đêm đập áo
Thu chữ gấm
Xuống khung này
Quét sạch hòn châm đập áo ngay
Người ở biên cương nay có khỏe
Qua mùa dưa chỉ thấy hồng bay
II - Tiếng chày đều
Hòn châm sạch,
Tiếng chày ran,
Viết tên người nhận nước mắt tràn.
Gửi tới Ngọc Quan xa vạn dặm,
Chinh phu xa nữa, quá Ngọc Quan.
III - Đêm dài như năm
Dưới trăng lặn,
Trước gió hàn,
Nghìn chày đập thủng vạn hòn châm.
Chẳng phải gắng công mà chẳng ngủ,
Muốn hết đêm dài, đêm tựa năm.
IV - Cắt may chiến bào
Quăng chày đó,
Tựa song sa,
Khéo may áo chiến, đính thêm hoa.
Tưởng thấy chinh phu khi nhận áo,
Lũng Đầu xa thẳm nhớ quê nhà.
V - Mong thư về
Biên xa cách,
Vắng quân bưu,
Gửi tới chinh phu tấm chiến y
Bao đêm gặp gỡ chàng trong mộng
Chỉ mong năm mới có thư về.
Bản dịch của Nguyễn Thị Bích Hải
Chú thích:
(1) "Cổ đảo luyện tử" là tên điệu từ, gồm 5 bài, mỗi bài có tựa đề riêng. Đập áo: vì vải lụa, dệt xong còn cứng phải đập cho mềm mới may, mặc được, nên các từ "đảo bạch", "đảo luyện", "đảo y" đều chung 1 nghĩa là đập vải cho mềm. Châm là tảng đá kê, chử là cái chày (đập vải).
(2) Chữ gấm (cẩm tự): Theo "Tấn thư", tướng của Tiền Tấn (Bắc triều) là Đậu Thao đi trấn thủ biên cương, vợ là Tô Huệ (tự Nhược Lan) thương nhớ, dệt lên bức gấm bài thơ hồi văn gửi cho Đậu Thao. Sau từ "chữ gấm" trở thành điển cố chỉ gấm, lụa hoặc thư gửi cho chồng.
(3) Mùa dưa (qua thì): Theo "Tả truyện" - Trang công năm thư 8 - Tề Tương công phái tướng quân Liên Xứng và Quản CHí Phủ ra trấn thủ biên cương, lúc ấy đang mùa dưa chín. Tướng công liền hứa đến mùa dưa chín sang năm sẽ phái người ra thay thế. Ai ngờ hết năm, đến mùa dưa. Tương công nuốt lời, không cho họ trở về. Đây dùng điển cố này để nói chinh phu đã mãn hạn quân dịch nhưng chưa được trở về.
(4) Ngọc Quan: tức Ngọc Môn Quan, tên một cửa ải của Trung Quốc thông sang Tây Vực. Từ Ngọc Quan ở đây dùng để phiếm chỉ cửa ải. Chồng của người chinh phụ còn trấn thủ xa hơn cửa ải Ngọc quan.
(5) Lũng Đầu, còn gọi là Lũng Sơn, nay ở khoảng giữa Thiểm Tây và Cam Túc.
Nguyên tác: Hạ Chú
Chân Trân
15-10-2005, 03:03 AM
Cung Từ
Tịch tịch hoa thì bế viện môn,
Mỹ nhân tương tịnh lập quỳnh hiên.
Hàm tình dục thuyết cung trung sự,
Anh vũ tiền đầu bất cảm ngôn.
Dịch Nghĩa:
Bài Thơ Về Cung Nữ
Hoa nở lặng lẽ, cửa viện đóng im ỉm
Người đẹp sánh vai nhau đứng bên hiên ngọc
Mối tình canh cánh bên lòng, muốn kể với nhau chuyện trong cung.
Thấy con vẹt trước mặt, không dám thốt ra lời.
Dịch Thơ:
Hoa lặng bóng, viện cài then,
Một hai người ngọc đứng bên hiên quỳnh.
Nỗi riêng muốn ngỏ sự tình,
Thấy con anh vũ bên mình lại thôi.
Nguyên tác: Chu Khánh Dư
Chân Trân
27-10-2005, 11:51 PM
Giai Nhân Ca
Bắc phương hữu giai nhân,
Tỵeêt thế nhi độc lập.
Nhất cố khuynh nhân thành,
Tái cố khuynh nhân quốc,
Ninh bất tri khuynh thành dữ khuynh quốc,
Giai nhân nan tái đắc.
Dịch Nghĩa:
Giai Nhân Ca (Bài ca người đẹp)
Ở phương Bắc có người con gái đẹp,
Một mình nàng đẹp nhất trần gian.
(Nàng) liếc mắt nhìn lần thứ nhất thì làm nghiêng thành của người ta,
(Nàng) liếc mắt nhìn lần nữa thì làm nghiêng nước của người ta.
Thà không biết đến nguy cơ nghiêng thành nghiêng nước,
(Bởi vì) giai nhân khó mà được gặp lại.
Dịch Thơ:
Phương Bắc có giai nhân,
Đẹp vô song vẫn ở một mình.
Lần thứ nhất liếc mắt đưa tình,
Kinh thành xiêu đổ,
Nếu sóng mắt lại đưa tình lần nữa,
Nước non đành nghiêng ngửa...
Thà chẳng biết đến thành nghiêng nước đổ
Bởi giai nhân thật khó trùng phùng.
Nguyên tác: Vô Danh Thị
Chân Trân
27-10-2005, 11:52 PM
Giang Biên Liễu
Niễu niễu cổ đê biên,
Thanh thanh bất thụ yên.
Nhược vi ti bất đoạn,
Lưu thủ hệ lang thuyền.
Dịch Nghĩa:
Liễu Bên Sông
Thước tha bên con đê cổ,
Xanh xanh một cây (liễu như) khói.
Giá mà tơ liễu không đứt,
Thì giữ lấy để buộc thuyền chàng.
Dịch Thơ:
Bên đê cổ tha thướt,
Liễu như vòm khói xanh.
Giá mà tơ chẳng đứt,
Giữ lấy buộc thuyền anh.
Nguyên tác: Ung Dụ Chi
Chân Trân
27-10-2005, 11:53 PM
Giang Lăng Sầu Vọng Hữu Ký
Phong diệp thiên chi phục vạn chi,
Giang kiều yểm ánh mộ phàm trì.
Ức quân tâm tự Tây giang thủy,
Nhật dạ đông lưu vô yết thì.
Dịch Nghĩa:
Từ Giang Lăng Buồn Trông, Gửi...
Lá phong nghìn cành lại vạn cành,
Trên cầu trông thấp thoáng cánh buồm chiều chầm chậm.
Nhớ chàng, lòng như dòng nước Tây Giang,
Ngày đêm chảy về đông không bao giờ cạn.
Dịch Thơ:
Nghìn cành phong lại vạn cành phong,
Cánh buồm thấp thoáng bóng chiều buông.
Nhớ chàng, lòng tựa Tây giang ấy,
Chảy mãi về đông chẳng cạn dòng.
Nguyên tác: Ngư Huyền Cơ
Chân Trân
27-10-2005, 11:55 PM
Giang Nam Khúc
Giá đắc Cù Đường cổ,
Triêu triêu ngộ thiếp kỳ.
Tảo tri triều hữu tín,
Giá dữ lộng triều nhi.
Dịch Nghĩa:
Giang Nam Khúc
Lấy phải người lái buôn ở Cù Đường,
Ngày lại ngày đều lỡ hẹn với thiếp.
(Nếu) sớm biết ngọn thủy triều đúng hẹn,
(Thì) lấy người chèo thuyền cho xong.
Dịch Thơ:
Lấy phải chàng buôn chuyến,
Lỗi hẹn với em nhiều.
Sớm biết triều đúng hẹn,
Lấy quách kẻ lộng triều.
Nguyên tác: Lý Ích
Chân Trân
27-10-2005, 11:56 PM
Giang Thành Tử
Cán Hoa khê thượng kiến khanh khanh,
Nhãn ba minh,
Đại mi khinh.
Lục vân cao quản,
Kim thốc tiểu thanh đình.
Hảo thị vấn tha:
"Lai đắc ma?"
Hòa tiếu đạo:
"Mạc đa tình"
Dịch Nghĩa:
Bài Từ Theo Điệu "Giang Thành Tử"
Trên bờ suối Cán Hoa gặp cô em,
Sóng mắt sáng long lanh,
Đôi mi vẽ nét nhẹ thanh thanh.
Tóc mây búi cao,
Kiểu vấn tóc như hình con chuồn chuồn nhỏ.
Hay là hỏi thử cô em: "Đến với anh, được không?"
(E rằng em) cười mà nói:
"Chớ đa tình!"
Dịch Thơ:
Cán Hoa khe ấy gặp cô mình,
Mắt long lanh,
Nét mi thanh.
Tóc mây cao búi
Vấn kiểu chú chuồn xinh
Hay là ướm thử: "Đến cùng anh?"
E lại bảo:
"Chớ đa tình!"
Nguyên tác: Trương Bí
Chân Trân
27-10-2005, 11:58 PM
Giang Thành Tử
Thập niên sinh tử lưỡng mang mang,
Bất tư lường,
Tự nan vong.
Thiên lý cô phần,
Vô xứ thoại thê lương.
Túng sử tương phùng ưng bất thức,
Trần mẫn diện,
Mấn như sương.
Dạ lai u mộng hốt hoàng hương,
Tiểu hiên song,
Chính sơ trang.
Tương cố vô ngôn,
Duy hữu lệ thiên hàng.
Liệu đắc niên niên trường đoạn xứ,
Minh nguyệt dạ,
Đoản tùng cương.
Dịch Nghĩa:
Bài Từ Theo Điệu "Giang Thành Tử"
Mười năm kẻ sống người thác cách xa mờ mịt (1),
Không nghĩ đến,
(Nhưng) tự mình khó quên.
Nấm mồ cô đơn cách xa ngàn dặm
Không có nơi nào để bày tỏ nỗi thê lương.
Nếu có gặp nhau chắc (nàng) cũng không nhận ra (ta)
(Vì ta đã) mặt nhuốm bụi,
Tóc như sương.
Đêm qua trong mộng bỗng trở về quê hương,
Nàng ngồi cạnh cửa sổ bên hiên,
Đang chải đầu trang điểm.
Nhìn nhau không nói.
Chỉ có lệ ngàn hàng.
Biết rằng năm lại năm ở nơi đứt ruột ấy
(Nàng yên nghĩ) dưới đêm trăng sáng
Trên ngọn đồi thông.
Dịch Thơ:
Mười năm sống thác đôi nơi
Nghĩ mà chi, vẫn khôn nguôi nhớ nàng.
Cô đơn phần mộ dặm ngàn,
Nói làm sao xiết muôn vàn thê lương.
Gặp nhau còn nhận ra chăng
Mặt bụi nhuốm, tóc pha sương ngỡ ngàng.
Đêm qua trong mộng về làng,
Nàng ngồi bên cửa chải làn tóc mây.
Nhìn nhau chẳng nói một lời
Nghẹn ngào, chỉ thấy lệ rơi muôn hàng.
Bao năm chốn ấy đoạn trường,
Nấm mồ côi quạnh trăng vàng đồi thông.
Bản dịch của Nguyễn Thị Bích Hải
Chú thích:
(1) Năm 1165, vợ của Tô Thức là Vương Phất từ trần mới 27 tuổi. Mười năm sau (Ất Mão 1775), Tô Thức đang làm "Tri Châu" ở Mật Châu (Sơn Đông), xa cách quê hương (Tứ Xuyên) mấy ngàn dặm. Đêm mơ thấy người vợ đã khuất, ông làm bài từ điệu vong này. Tô Thức là người đầu tiên làm từ điệu vong.
Nguyên tác: Tô Thức
Chân Trân
28-10-2005, 12:00 AM
Giá Cô Thiên
Thái tụ ân cần bổng ngọc chung,
Đương niên biền khước túy nhan hồng.
Vũ đê dương liễu lâu tâm nguyệt,
Ca tận đào hoa phiến để phong.
Tòng biệt hậu,
Ức tương phùng,
Kỷ hồi hồn mộng dữ quân đồng.
Kim tiêu thặng bả ngân giang chiếu,
Do khủng tương phùng thị mộng trung.
Dịch Nghĩa:
Bài Từ Theo Điệu "Giá Cô Thiên"
Tay áo màu ân cần nâng chiếc chén ngọc,
Năm ấy đánh liều say sắc hồng đôi má.
Điệu múa lả lơi như cành dương liễu dưới ánh trăng trong lầu,
Lời ca dứt như chiếc quạt đào hoa ngừng ngọn gió.
Từ khi xa cách,
Nhớ lúc gặp nhau.
Bao phen hồn mộng được cùng nàng.
Đêm nay lại cầm ngọn đèn bạc soi chiếu nhau,
Còn sợ rằng cuộc tương phùng này chỉ là trong giấc mộng.
Dịch Thơ:
Tay đẹp ân cần nâng chén ngọc,
Năm xưa say đắm má em hồng.
Dập dìu điệu múa như cành liễu
Ngừng hát gió xuân cũng chợt ngừng.
Xa từ ấy,
Nhớ khôn cùng.
Bao phen hồn mộng được tương phùng.
Đêm nay chung bóng, đèn soi tỏ,
Cứ ngỡ như đang giấc mơ mòng.
Bản dịch của Nguyễn Thị Bích Hải
Nguyên tác: Án Kỷ Đạo
Chân Trân
28-10-2005, 12:01 AM
Hữu Sở Tư
Đương thì ngã túy mỹ nhân gia,
Mỹ nhân nhan sắc kiều như hoa.
Kim nhật mỹ nhân khí ngã khứ,
Thanh lâu châu bạc thiên chi nha.
Quyên quyên Thường nga nguyệt,
Tam ngũ nhị bát doanh hựu khuyết.
Thúy my thiền phát sinh biệt ly,
Nhất vọng bất kiến tâm đoạn tuyệt.
Tâm đoạn tuyệt kỷ thiên lý,
Mộng trung túy ngọa Vu Sơn vân.
Giác lai lệ trích Tương Giang thủy.
Tương Giang lưỡng ngạn hoa mộc thâm,
Mỹ nhân bất kiến sầu nhân tâm.
Hàm sầu cánh tấu lục ỷ cầm,
Điệu cao huyền tuỵêt vô tri âm.
Mỹ nhân hề! Mỹ nhân!
Bất tri vi mộ vũ hề! Vi triêu vân?
Tương tư nhất dạ mai hoa phát,
Hốt đáo song tiền nghi thị quân.
Dịch Nghĩa:
Nỗi Nhớ
Khi ấy ta say ở nhà người đẹp,
Vẻ mặt người đẹp yêu kiều như hoa.
Ngày nay người đẹp bỏ ta đi,
Lầu xanh, rèm ngọc xa tít tận chân trời.
Rười rượi bóng chị Hằng,
Ba năm, đôi tám (1) tròn rồi lại khuyết.
Tóc huyền, mày biếc, sống xa cách nhau,
Mỗi lúc ngóng trông chẳng thấy, ruột đứt từng đoạn.
Ruột đứt từng đoạn (người xa) mấy ngàn dặm,
Khi say, mơ nằm trong mây núi Vu (2),
Khi tỉnh, lệ nhỏ tràn nước sông Tương (3).
Dòng Tương đôi bờ cỏ hoa thăm thẳm,
Người đẹp không thấy, lòng ta thêm buồn.
Ngậm buồn gắng gẩy cây đàn gấm biếc,
Điệu cao, dây đứt, không người tri âm.
Người đẹp ơi! Người đẹp!
Chẳng hay em làm mưa chiều hay mây sớm?
Một đêm nhớ nhau mai nở hoa,
Trước cửa sổ trông thấy lại ngỡ là nàng.
Dịch Thơ:
Khi ta say ở nhà ai,
Mặt ai xinh đẹp tươi cười như hoa.
Bây giờ ai vội lìa ta,
Lầu xanh rèm ngọc xa xa chân trời.
Bóng trăng xoay chuyển đầy vơi,
Tóc xanh mày biếc cho người phân ly!
Trông theo nào có thấy chi,
Riêng lòng đôi đoạn đứt chia nghìn tầm.
Non Vu nhớ lúc say nằm,
Đùng khi tỉnh dậy lệ dầm sông Tương.
Sông Tương hoa cỏ mơ màng,
Mỹ nhân chẳng thấy lòng càng xót xa.
Ôm cầm dạo khúc khuây khoa,
Điệu cao, dây đứt, ai là tri âm !
Mỹ nhân ơi hỡi mỹ nhân,
Biết là mộ vũ, triêu vân đâu giờ?
Một đêm trằn trọc tương tư,
Thấy hoa mai nở vội ngờ bóng ai.
Bản dịch của Á Nam
Chú thích:
(1) Ba năm, hai tám: chỉ hai đêm 15 và 16, độ trăng tròn.
(2) Xưa, Sở Tương Vương nằm mộng hoan hội với một người con gái. Lúc từ biệt nàng nói rằng: "Thiếp là thần nữ núi Vu Sơn, sáng làm mây chiều làm mưa". Về sau, người ta dùng "Vu Sơn" làm thành ngữ chỉ trai gái gặp gỡ.
(3) Đây chỉ việc Tương Phi (Nga Hoàng và Nữ Anh) khóc vua Thuấn.
(4) Lục ỷ cầm (đàn gấm xanh): tên cây đàn của Tư Mã Tương Như.
Nguyên tác: Lô Đồng
Chân Trân
28-10-2005, 12:02 AM
Hoa Phi Hoa
Hoa phi hoa, vụ phi vụ,
Dạ bán lai, thiên minh khứ.
Lai như xuân mộng kỷ đa thì,
Khứ tự triêu vân vô mịch xứ.
Dịch Nghĩa:
Hoa Chẳng Phải Hoa
Hoa chẳng phải hoa, sương chẳng phải sương,
Nửa đêm rồi, trời đã sáng.
Đến như giấc mộng xuân chẳng mấy hồi,
Đi như mây sớm chẳng biết đâu mà tìm.
Dịch Thơ:
Hoa chẳng phải hoa, sương cũng chẳng,
Đêm nửa đêm rồi, trời đã sáng.
Đến như xuân mộng chẳng bao lâu,
Đi như mây sớm không tăm dạng.
Nguyên tác: Bạch Cư Dị
Chân Trân
28-10-2005, 12:05 AM
Hoa Sơn Kỳ
Đề trước thư,
Lệ lạc chẩm tương phù,
Thân trầm bị lưu khứ.
Tương tống Lao Lao (1) chử,
Trường Giang bất ưng mãn,
Thị nùng (2) lệ thành hử.
Dịch Nghĩa:
Dưới Chân Núi Hoa Sơn (3)
Khóc đến rạng ngày,
Nước mắt rơi khiến nổi cả gối,
Thân chìm đắm, chăn trôi đi mất.
Tiễn nhau bên bến Lao Lao,
Trường Giang chẳng nên đầy,
Là nước mắt em tràn ngập.
Dịch Thơ:
Khóc suốt năm canh,
Chăn gối lênh đênh trên dòng nước mắt,
Thân em chìm ngập dưới lòng sâu.
Tiễn nhau bên bến Lao Lao,
Lệ em lặng lẽ chảy vào Trường Giang.
Dòng sông nước mắt mênh mang.
Chú thích:
(1) Lao Lao chử: Bến Lao Lao: Địa danh.
Gần Kiến Nghiệp, kinh đô nước Ngô thời Tam Quốc có núi Lao Lao. Trên núi, người ta dựng đình Lao Lao, là nơi tiễn biệt. Bến Lao Lao ở gần đó.
(Thơ Lý Bạch:
Thiên hạ thương tâm xứ
Lao Lao tống khách đình
- Nơi đau lòng dưới gầm trời này là đình Lao Lao, nơi tiễn khách)
(2) Nùng: Đại từ ngôi thứ nhất.
(3)"Hoa Sơn kỳ": chùm thơ "Hoa sơn kỳ" gồm 25 bài, thuộc "Ngô thanh ca khúc" trong "Nhạc phủ thi tập".
Về xuất xứ của chùm thơ này, sách "Cổ kim nhạc lục" có ghi một câu chuyện như sau:
Thời Tống Thiếu đế Lưu Nghĩa Phù, ở Nam Từ có một chàng thư sinh từ Hoa Sơn đi Vân Dương.
Trong quán trọ, chàng gặp một người con gái tuổi chừng 18. Chàng đem lòng yêu quí cô gái nhưng không có cách gì cầu thân được, vì vậy mà thành tâm bệnh. Người mẹ hỏi chàng duyên cớ, chàng liền kể hết với mẹ. Người mẹ vì chàng mà đến Hoa Sơn tìm gặp người con gái, kể hết sự tình. Cô gái nghe chuyện rất cảm động, bèn đôi tất của mình trao cho bà mẹ và dặn rằng cứ dấu đôi tất xuống dưới chiếu của chàng thì bệnh chàng sẽ đỡ hơn. Người mẹ làm theo lời nàng. Chẳng bao lâu, bệnh tình của chàng quả nhiên thuyên giảm. Một hôm chàng bỗng giở chiếu lên, trông thấy đôi tất liền ôm lấy rồi nuốt luôn đôi tất ấy mà chết. Lúc lâm chung, chàng xin mẹ hãy cho xe tang chàng đi qua Hoa Sơn. Người mẹ làm theo ý chàng. Lúc xe tang đi qua cửa nhà nàng, bò kéo xe không chịu đi, đánh đập cách mấy chúng cũng không nhúc nhíc. Người con gái trang điểm bước ra, ca rằng:
Dưới chân núi Hoa Sơn,
Chàng đã vì em mà chết.
Em một mình biết sống vì ai,
Chàng có thương em hãy mở nắp quan tài.
Đáp lời nàng, nắp quan tài bật mở. Nàng vào trong áo quan, nắp quan tài liền đóng lại. Người nhà không cách gì cậy được nắp quan tài. Họ đành hợp táng hai người, gọi là "Thần nữ trủng" (mộ nữ thần).
Núi Hoa Sơn thuộc tỉnh Giang Tô
Chân Trân
28-10-2005, 12:06 AM
Hoài Lương Nhân
Bồng mấn kinh thoa thế sở hy,
Bố quần do thị giá thời y.
Hồ ma hảo chủng vô nhân chủng,
Chính thị quy kỳ để bất quy.
Dịch Nghĩa:
Nhớ Chồng
Tóc rối, thoa gai ở đời hiếm có,
Áo quần vải vẫn là áo quần từ thuở mới lấy chồng.
Đã đến vụ trồng mè, không có người cùng trồng, (1)
Đã đến lúc (chàng) về mà chàng lại chẳng về.
Dịch Thơ:
Tóc rối, thoa gai đời hiếm thấy,
Vẫn là quần vải thuở vu quy.
Vụ mè đã đến cùng ai vãi,
Đến hẹn, chàng ơi, chẳng thấy về.
Chú thích:
(1) Hồ ma: cây mè (cây vừng), theo quân niệm của dân gian, cây mè phải được vợ chồng cùng gieo thì mới nhiều hạt.
Nguyên tác: Cát Nha Nhi
Chân Trân
28-10-2005, 12:07 AM
Ký Nhân
Biệt mộng y y đáo Tạ gia,
Tiểu lang hồi hợp khúc lan tà.
Đa tình chỉ hữu xuân đình nguyệt,
Do vị ly nhân chiếu lạc hoa.
Dịch Nghĩa:
Gửi Người... (1)
Mơ màng trong giấc mộng đến nhà họ Tạ, (2)
Hành lang uốn khúc, bao lơn quanh co.
Đa tình chỉ có vầng trăng trong sân mùa xuân,
Còn vì người biệt ly mà soi bông hoa rụng.
Dịch Thơ:
Mơ màng nhà Tạ đêm qua,
Bao lơn cong vắt, dãy nhà vòng quanh.
Sân xuân trăng vẫn đa tình,
Vì người ly biệt rọi cành hoa rơi.
Chú thích:
(1) Theo sách "Từ đàn kỷ sự", thời trẻ, Trương Bí và người con gái láng giềng yêu nhau; về sau không gặp nhau nữa, chỉ gặp trong mộng nên làm thơ này.
(2) Nhà họ Tạ: từ ước lệ, chỉ nhà người yêu.
Nguyên tác: Trương Bí
Chân Trân
28-10-2005, 12:09 AM
Ký Phu
Phu thú biên quan thiếp tại Ngô,
Tây phong xuy thiếp, thiếp ưu phu.
Nhất hàng thư tín thiên hàng lệ,
Hàn đáo quân biên y đáo vô.
Dịch Nghĩa:
Gửi Cho Chồng
Chồng đi thú nơi biên ải, thiếp ở đất Ngô (1)
Gió tây thổi thiếp (lạnh), thiếp lo cho chồng.
Mỗi một dòng thư là nghìn dòng nước mắt:
"Rét đến bên chàng, áo có đến không?"
Dịch Thơ:
Chồng trấn tây cương, thiếp ở đông,
Gió tây lạnh thiếp, thiếp thương chồng.
Một dòng thư gửi, nghìn dòng lệ:
"Rét đến bên chàng, áo đến không?"
Bản dịch của Tương Như
Chú thích:
(1) Ngô: Tên vùng đất thuộc nước Ngô thời Xuân Thu, nay là tỉnh Giang Tô, ở Đông Nam Trung Quốc.
Nguyên tác: Trần Ngọc Lan
Chân Trân
28-11-2005, 04:12 AM
Ký viễn
Mỹ nhân tại thời hoa mãn đường
Mỹ nhân khứ hậu dư không sàng
Sàng trung tú bị quyển bất tẩm
Chi kim tam tải văn dư hương
Hương diệc cánh bất diệc
Nhân diệc cánh bất lai
Tương tư hoàng diệp tận
Bạch lộ thấp thanh đài
Dịch Thơ:
Gửi Phương Xa
Người đẹp còn đây, hoa thắm tươi
Người đi, giường trống, lá hoa rơi
Trên giường chăn gấm y nguyên nếp
Xuân Hạ ba lần hương chửa phai
Hương thơm phảng phất còn đây mãi
Người đẹp đi xa chẳng trở về
Móc trắng, rêu canh cùng đẫm ướt
Lá vàng lác đác nhớ thương hoài...
(Bản dịch của Chi Điền)
Em còn ở đầy nhà hoa ngát
Em đi rồi ngơ ngác giường xưa
Chăn khâu nếp nếp hững hờ
Ba năm hương mãi bây giờ còn bay
Thơm nào nghe quyện đâu đây
Người đi bữa đấy mai này còn sang
Nhớ nhau cho rụng lá vàng
Cho sương lạnh trắng mấy làn rêu xanh
(Bản dịch của Nguyễn Bính)
Nguyên tác: Lý Bạch
Chân Trân
28-11-2005, 04:15 AM
Khiển Bi Hoài
I
Tạ Công tối tiểu thiên liên nữ,
Tự giá Kiềm Lâu bách sự quai.
Cố ngã vô y sưu tận khiếp,
Nệ tha cô tửu bạt kim thoa.
Dã sơ sung thiện cam trường hoắc,
Lạc diệp thiêm tân ngưỡng cổ hòe.
Kim nhật bổng tiền quá thập vạn,
Dữ quân doanh điện phục doanh trai.
II
Tích nhật hý ngôn thân hậu ý,
Kim triêu đô đáo nhãn tiền lai.
Y thường dĩ thí hành khan tận,
Châm tuyến do tồn vị nhẫn khai.
Thượng tưởng cựu tình liên tỳ bộc,
Dã tằng nhân mộng tống tiền tài.
Thành tri thử hận nhân nhân hữu,
Bần tiện phu thê bách sự ai.
III
Nhàn tọa bi quân diệc tự bi,
Bách niên đô thị kỷ đa thì.
Đặng Du vô tử tầm tri mệnh,
Phan Nhạc điệu vong do phí từ.
Đồng huyệt yểu minh hà sở vọng,
Tha sinh duyên hội cánh nan kỳ.
Duy tương chung dạ trường khai nhãn,
Báo đáp bình sinh vị triển mi.
Dịch Nghĩa:
Giải Nỗi Buồn Thương (1)
I
Cô con gái út được thương yêu nhất của Tạ Công (2),
Từ ngày lấy chàng hàn sĩ Kiềm Lâu (3) trăm sự đều khổ tâm.
Thấy ta không áo, nàng lục tìm trong rương trong tráp,
Ta năn nỉ nàng mua rượu, nàng rút cả chiếc thoa vàng.
Để đủ bữa nàng cam lòng ăn mãi rau dại,
Để có thêm củi đun nàng ngẩng trông cây hòe già rụng lá.
Nay bổng lộc của ta hơn mười vạn,
(Mà ta chỉ có thể) cúng giỗ và làm chay siêu độ cho nàng.
II
Ngày trước cứ nói đùa những chuyện về sau,
Bây giờ đều đén ngay trước mắt.
Áo quần của nàng đã dần dần đem bố thí hết,
Kim chỉ vẫn còn không nở lấy ra.
Nhớ ân tình xưa, (ta) thương cả những kẻ nô tỳ,
Nhân mộng thấy nàng, (ta) đốt giấy tiền, vàng mã.
Vẫn biết nổi đau khổ (tử biệt) này ai ai cũng gặp phải,
(Chỉ xót xa) vợ chồng nghèo nên trăm chuyện buồn thương.
III
Lúc rỗi ngồi thương nàng lại tự thương mình,
Trăm năm cũng chẳng là mấy chốc.
Đặng Du (4) không có con mới biết thiên mệnh,
Phan Nhạc (5) làm thơ địêu vong cũng chỉ lời suông.
Chung một nấm mồ trong cõi u minh thì có chi mà mong ước,
Kiếp sau đoàn tựu càng khó lòng hò hẹn.
Ta chỉ còn biết chong mắt mãi súôt đêm dài,
Để báo đáp ân tình của nàng suốt đời chưa hề được tươi nét mặt.
Dịch Thơ:
I
Tạ Công gái út quí nhất nàng,
Lấy chàng hàn sĩ gắng giúp chàng.
Thương ta không áo, tìm rương cũ,
Chiều ta mua rượu, rút thoa vàng.
Bữa bữa ăn toàn rau dại mãi,
Ngày ngày quét cả lá hòe đun.
Nay ta bổng lộc hơn mười vạn,
Chỉ biết làm chay, cúng giỗ nàng.
II
Những lời thuở trước hay đùa cợt,
Nay thành sự thực hết nàng ơi.
Áo xưa bố thí người nghèo hết,
Kim chỉ còn đây chẳng nở rời.
Nhớ nàng thương cả nô tỳ cũ,
Mộng nàng đành đốt giấy tiền thôi.
VẪn hay tử biệt ai không thế,
Nghèo khổ nên trăm nỗi ngậm ngùi.
III
Ngồi nghĩ thương nàng lại tự thương,
Trăm năm ta cũng sắp theo nàng.
Đặng Du cô độc đành tri mệnh,
Phan An thương điếu cũng lời suông.
Chung mồ tăm tối trông chi nữa,
Kiếp sau sum họp khó mà mong.
Chỉ còn chong mắt tròn đêm thức,
Báo đáp tình xưa những tủi lòng.
Bản dịch của Nguyễn Thị Bích Hải
Chú thích:
(1) "Khiển bi hoài" là một bài thơ đêệu vong (thương người đã khuất) nổi tiếng xưa nay.
Vợ Nguyên Chẩn là Vi Tùng, con cưng của nhà quan, lấy Nguyên Chẩn khi ông còn hàn vi. Vi Tùng mất khi Nguyên Chẩn mới 30 tuổi và chưa làm nên; mười mấy năm sau ông làm đến chức Tể tướng, nhớ người vợ tao khang mà làm bài thơ này, cùng với nhiều bài thơ điệu vong khác.
(2) Tạ Công: tức Tạ An đời Tấn. Ở đời Đường họ Tạ là một trong những họ quí phái, nhiều người muốn làm rể nhà họ Tạ nên thường dùng từ "Tạ công" để chỉ nhạc phụ, dùng từ Tạ gia để chỉ gia đình và nhà ở của ý trung nhân hoặc của vợ.
(3) Kiềm Lâu: Cao sĩ nước Tề thời Xuân Thu, nhà nghèo. Đây, Nguyên Chẩn tự ví.
(4) Đặng Du, người thời Lục triều. Trong khi chạy loạn bất đắc dĩ ông phải mất con để cứu cháu, về sau không có con, người đời cho là trời bất công.
(5) Phan Nhạc: nhà thơ đời Tấn, tự là An Nhân, nên cũng gọi là Phan An, nổi tiếng đẹp trai. Phan Nhạc có làm ba bài thơ "điệu vong" khóc vợ, rất nổi tiếng.
Nguyên tác: Nguyên Chẩn
Chân Trân
28-11-2005, 04:16 AM
Khiển Hoài
Lạc phách giang hồ tái tửu hành,
Sở yêu tiêm tế chưởng trung khinh.
Thập niên nhất giác Dương Châu mộng,
Doanh đắc thanh lâu bạc hãnh danh.
Dịch Nghĩa:
Khuây Khỏa Nỗi Lòng
Chở rượu đi khắp sông hồ như người mất vía,
Bao cô gái Sở lưng ong (1) xinh nhỏ múa nhẹ trên bàn tay (2).
Mười năm chợt tỉnh giấc mộng Dương Châu,
Còn được cái tiếng bạc tình ở chốn lầu xanh.
Dịch Thơ:
Chuếnh choáng giang hồ lệch bước say
Trong tay gái Sở múa như bay.
Mười năm tỉnh giấc Dương Châu mộng,
Tiếng để lầu xanh phụ bạc hoài.
Chú thích:
(1) Sở yêu tiêm tế: Lưng gái nước Sở thu nhỏ (đã chú thích ở bài "Đề Đào hoa phu nhân miếu").
(2) Chưởng trung khinh: múa nhẹ trên bàn tay - Nàng Triệu Phi Yến, cung phi của vua Hán Thành Đế, người nhỏ nhắn, có thể múa trên bàn tay.
Nguyên tác: Đỗ Mục
Chân Trân
28-11-2005, 04:18 AM
Khuê oán
Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu
Xuân nhật ngưng trang thướng thúy lâu
Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc
Hối giao phu tế mịch phong hầu
Dịch Nghĩa:
Người thiếu phụ nơi phòng khuê không biết buồn
Ngày xuân trang điểm xong, bước lên lầu biếc
Chợt thấy màu dương liễu ở đầu đường
(Liền) hối hận đã để chồng đi tòng quân để kiếm phong hầu.
Dịch Thơ:
Nỗi oán trong phòng khuê
Cô gái phòng the chửa biết sầu
Ngày xuân trang điểm dạo lên lầu
Đầu đường chợt thấy tơ xanh liễu
Hối để chồng đi kiếm tước hầu.
Bản dịch của Ngô Tất Tố
Trẻ trung nàng biết chi sầu,
Ngày xuân trang điểm lên lầu ngắm gương.
Nhác trông vẻ liễu bên đường,
Phong hầu nghĩ dại, xui chàng kiếm chi.
Bản dịch của Tản Đà
Nguyên tác: Vương Xương Linh
Chân Trân
28-11-2005, 04:19 AM
Kim Lũ Y
Khuyến quân mạc tích kim lũ y,
Khuyến quân tích thủ thiếu niên thì.
Hoa khai kham chiết trực tu chiết,
Mạc đãi vô hoa không chiết chi.
Dịch Nghĩa:
Áo Kim Tuyến
Khuyên anh đừng tiếc áo thêu vàng,
Khuyên anh hãy tiếc thời niên thiếu.
Hoa nở đáng bẻ thì bẻ ngay,
Đừng chờ hoa rụng bẻ cành không.
Dịch Thơ:
Khuyên anh đừng tiếc áo thêu bông,
Khuyên anh nên tiếc thời trẻ trung.
Hoa nở đến kỳ nên bẻ lấy,
Đừng chờ hoa hết bẻ cành không.
Bản dịch của Khương Hữu Dụng
Nguyên tác: Đỗ Thu Nương
Chân Trân
28-11-2005, 04:21 AM
Liễu chi từ
Thanh (1) giang nhất khúc liễu thiên điều,
Nhị thập niên tiền cựu bản kiều.
Tằng dữ mỹ nhân kiều thượng biệt,
Hận vô tiêu tức đáo kim triêu.
Dịch Nghĩa:
Liễu Chi Từ
Một khúc sông xanh ngày nhánh liễu,
Hai mươi năm trước ở chiếc cầu cũ này.
Từng cùng mỹ nhân chia tay trên cầu,
Hận vì từ bấy đến nay không tin tức.
Dịch Thơ:
Một dải sông xanh ngàn nhánh liễu,
Hai mươi năm trước cũng cầu này.
Từng với mỹ nhân buồn tiễn biệt,
Bặt vô âm tín đến hôm nay.
Chú thích:
1) "Thanh giang", có bản in là "Xuân giang".
Nguyên tác: Lưu Vũ Tích
Chân Trân
28-11-2005, 04:23 AM
Long Trì
Long Trì tứ tửu thưởng vân bình
Kiệt cổ thanh cao chúng nhạc đình
Dạ bán yến quy cung lậu vĩnh
Tiết vương trầm túy Thọ vương tinh.
Dịch Nghĩa:
Ở dinh Long Trì, nhà vua ban rượu, mở rộng bình phong vẽ mây
Tiếng trống Kiệt nổi lên, các thứ âm nhạc đều im bặt
Nửa đêm tan tiệc về, giọt đồng hồ trong cung nhỏ mãi
Tiết vương đã say vùi, chỉ có Thọ vương còn tỉnh.
Chú thích: Thọ vương Lý Mạo là con trai Đường Huyền Tông. Dương quý phi nguyên trước là vương phi của Thọ vương.
Dịch Thơ:
Dinh Long Trì
Long Trì ban rượu mở bình phong
Tiếng trống vang lên, tiếng nhạc ngừng
Đêm khuya khắc lậu triền miên nhỏ
Tiết đã say vùi, Thọ thức chong.
Bản dịch của Nguyễn Thị Bích Hải
Nguyên tác: Lý Thương Ẩn
Chân Trân
13-12-2005, 11:50 PM
Lưu Lang Phố Khẩu Hiệu
Ngô Thục thành hôn thử thủy tầm,
Minh châu bộ chướng, ác hoàng kim.
Thùy tượng nhất nữ khinh thiên hạ,
Dục hoán Lưu Lang đỉnh trĩ tâm?
Dịch Nghĩa:
Thơ Đọc (1) Ở Bến Lưu Lang (2)
Cuộc hôn nhân Ngô - Thục được tiến hành ở bến này,
Rèm xe giát minh châu, màn đính vàng kim.
Có ai vì một người con gái lại coi nhẹ thiên hạ,
Mà hòng thay đổi chí tam phân của Lưu Lang?
Dịch Thơ:
Ngô Thục thành hôn tại bến này,
Giát vàng, rắc ngọc khắp trong ngoài.
Ai vì nữ sắc khinh thiên hạ,
Hòng khiến Lưu Lang chí đổi thay?
Bản dịch của Nguyễn Thị Bích Hải
Chú thích:
(1) Khẩu hiệu: một kiểu làm thơ, buột miệng đọc ra, không dùng đến bút (cũng như thơ "khẩu chiếm" hay "ứng khẩu").
(2) Bên Lưu Lang (Lưu Lang phố): Thời Tam Quốc, Ngô chủ Tôn Quyền theo kế của Chu Du, gả em gái cho Lưu Bị và mời Lưu Bị ở rể tại Ngô, hòng khiến Lưu Bị từ bỏ chí hướng tam phân thiên hạ. Nơi tiến hành cuộc hôn nhân ấy về sau được gọi là "Bến Lưu Lang".
Nguyên tác: Lữ Ôn
Chân Trân
13-12-2005, 11:52 PM
Mã Ngôi
Mạc xướng đương niên Trường Hận ca,
Nhân gian diệc tự hữu Ngân Hà.
Thạch Hào thôn lý phu thê biệt,
Lệ tỉ Trường Sinh điện thượng đa.
Dịch Nghĩa:
Mã Ngôi (1)
Chớ hát bài "Trường hận ca" thuở ấy,
Cõi đời cũng tự nó đã có giải Ngân Hà.
Cuộc chia ly của đôi vợ chồng già ở thôn Thạch Hào
Còn nhiều nước mắt hơn ở Trường Sinh điện.
Dịch Thơ:
Hát mãi làm chi "Trường hận ca",
Nhân gian cũng vốn có Ngân Hà.
Ở xóm Thạch Hào chồng biệt vợ,
Hơn cả Trường Sinh điện lệ nhòa.
Bản dịch của Nguyễn Thị Bích Hải
Chú thích:
(1) Mã Ngôi: tức gò Mã Ngôi, nơi Dương Quý Phi bị buộc phải tự thắt cổ chết trước Đường Minh Hoàng. Kết cục bi thảm của mối tình Đường Minh Hoàng và Dương Quý Phi đã được Bạch Cư Dị "cảm thương" qua bài "Trường hận ca". Viên Mai sở trường về "dĩ thi luận thi" (dùng thơ để bình luận thơ). Thời Viên Mai người ta rất hâm mộ những bài như "Trường hận ca", "Viên Viên khúc"...
Viên Mai viết bài này bình luận hai bài thơ "Trường hận ca" của Bạch Cư Dị và "Thạch Hào lại" của Đỗ Phủ để nhắc nhở người đời rằng: nỗi đau thương của dân chúng, còn nặng nề sâu sắc hơn nhiều so với "bi hoan ly hợp" của bậc vương giả.
(Đành rằng "Trường Hận ca" có giá trị cao, không thể phủ nhận, nhưng trong thời Viên Mai và trong tương quan với "Thạch Hào lại", ý kiến của Viên Mai căn bản là đúng).
Nguyên tác: Viên Mai
Chân Trân
13-12-2005, 11:53 PM
Minh Tranh
Minh tranh kim túc trụ,
Tố thủ ngọc phòng tiền.
Dục đắc Chu Lang cố,
Thời thời ngộ phất huyền.
Dịch Nghĩa:
Gảy Đàn Tranh
Gảy chiếc đàn tranh trụ vàng,
Bàn tay nõn nà, ngồi trước phòng ngọc.
Muốn được Chu Lang ngoảnh lại nhìn (1)
(Nên) thỉnh thoảng lại gảy nhầm dây.
Dịch Thơ:
Gảy chiếc đàn tranh với phím vàng,
Nõn nà tay ngọc lướt dịu dàng.
Muốn được Chu Lang năng ngoảnh lại,
Mấy phen cố ý lỗi cung đàn.
Chú thích:
(1) Chu Lang nghoảnh lại (Chu Lang cố): Chu Lang tức Chu Du, năm 24 tuổi làm Đô Đốc thống lĩnh toàn quân đội nước Ngô (thời Tam Quốc). Chu Du rất sành âm nhạc, nghe đàn đến chỗ nào có nhầm lẫn dù đang ngà say cũng ngoảnh lại nhìn người biểu diễn. Ở nước Ngô có câu "Khúc hữu ngộ, Chu Lang cố". Ở đây dùng điển cố này để miêu tả tâm tình của ngơời nhạc kỹ - cố tình gảy sai để được người sai chú ý.
Nguyên tác: Lý Đoan
Chân Trân
13-12-2005, 11:55 PM
Ngọc Thụ Hậu Đình Hoa
Lệ vũ phương lâm đối cao các,
Tân trang diễm chất bản khuynh thành.
Ánh hộ ngưng kiều sạ bất tiến,
Xuất duy hàm thái tiếu tương nghênh.
Yêu cơ kiểm thị hoa hàm lộ,
Ngọc thụ lưu quang chiếu hậu đình.
Dịch Nghĩa:
Cây Ngọc Ở Hậu Đình
Nhà ngọc, rừng thơm đối diện với lầu cao,
Mới trang điểm, sắc đẹp vốn khuynh thành.
Cánh cửa lóe lên, dáng kiều ngập ngừng bỗng dừng lại,
Vén rèm bước ra, mặt đọng nét cười đón nhau.
Người cung nữ trẻ mặt tươi như hoa ngậm sương,
(Ấy là) cây ngọc phát sáng, chiếu rực rỡ cả hậu đình.
Dịch Thơ:
Rừng thơm, nhà ngọc, lầu quỳnh,
Điểm trang sắc đẹp khuynh thành là đây.
Ngại ngùng dừng bước phút giây,
Vén rèm, dáng đọng nét cười đón nhau.
Trẻ trung hoa thắm tươi màu,
Nàng như cây ngọc chiếu sau hậu đình.
Bản dịch của Nguyễn Thị Bích Hải
Chú thích:
Trần Thúc Bảo là một ông vua tài tử, vì phóng đãng mà mất nước. Bài "Ngọc thụ hậu đình hoa" chỉ là một bài thơ tán dương sắc đẹp của cung nữ nhưng vì tính chất diễm lệ của nó nên rất nổi tiếng, được lưu truyền rất rộng và có nhiều ảnh hưởng đối với đời sau.
Nguyên tác: Trần Thúc Bảo
Chân Trân
13-12-2005, 11:57 PM
Ngu Mỹ Nhân Thảo
Hồng Môn ngọc đẩu phân như tuyết
Thập vạn hàng binh tận lưu huyết.
Hàm Dương cung điện tam nguyệt hồng,
Bá nghiệp dĩ tùy yên tẫn diệt.
Cương cường tất tử nhân nghĩa vương,
Âm Lăng thất đạo phi thiên vong.
Anh hùng bản học vạn nhân địch,
Hà tất tiết tiết bi hồng trang.
Tam quân tán tận tinh kỳ đảo,
Ngọc trước giai nhân tọa trung lão.
Hương hồn dạ trục kiếm quang phi,
Thanh huyết hóa vi nguyên thượng thảo.
Phương tâm tịch mịch ký hàn chi,
Cựu khúc văn lai sự liễm mi.
Ai oán bồi hồi sầu bất ngữ,
Kháp như sơ thính Sở ca thì.
Thao thao thệ thủy lưu kim cổ,
Sở Hán hưng vong lưỡng khâu thổ.
Đương niên di sự cửu thành không,
Khảng khái tôn tiền vị thùy vũ!
Dịch Nghĩa:
Cỏ Ngu Mỹ Nhân (1)
Chén ngọc ở Hồng Môn (2) vỡ tan như tuyết,
Mười vạn hàng binh thảy đều đổ máu.
Cung Hàm Dương lửa đỏ rực ba tháng trời, (3)
Nghiệp bá đã tan theo tro khói.
Hung cường thì chết, nhân nghĩa thì dựng được vương nghiệp,
Âm Lăng (4) lạc lối không phải là trời làm mất.
Anh hùng vốn học cái địch được muôn người, (5)
Cần gì phải nhỏ nhặt thương bọn quần hồng!
Ba quân tan nát, ngọn cờ đổ rạp,
Người đẹp ngồi trong trướng ngọc mà già đi.
Hồn thơm bay theo ánh gươm lấp lánh ban đêm,
Máu xanh hóa thành cỏ trên đồng.
Tấm lòng trong sáng lặng lẽ gửi lại trên cành giá lạnh,
Khúc hát cũ nghe văng vẳng như nét mày chau.
Ai oán bồi hồi buồn rầu không nói,
Dường như khi mới nghe tiếng hát nước Sở. (6)
Dòng nước cuồn cuộn trôi hết chuyện xưa nay
Hán, Sở - bên hưng thịnh, bên diệt vong giờ cũng chỉ còn hai nấm đất.
Việc năm xưa truyền lại lâu ngày nào có còn gì nữa,
Vẫn khảng khái vì ai mà múa trước chén rượu. (7)
Dịch Thơ:
Trước cửa Hồng Môn chén ngọc tan,
Hàng binh mười vạn máu trôi tràn.
Hàm Dương ba tháng cung vua cháy,
Nghiệp bá liền theo lớp khói tàn.
Bạo cường tất chết, nhân nghĩa còn,
Âm Lăng lạc lối há trời chôn.
Anh hùng vốn học địch muôn kẻ
Ai bận lòng đâu xót phấn son!
Rạp đổ ngọn cờ tan nát quân,
Buồn xo trong trướng mặt giai nhân.
Giữa đêm gươm lóe hồn bay loáng,
Máu thấm gò hoang cỏ mọc dần.
Hương hồn quạnh quẽ vướng cành cây,
Khúc hát nghe như ủ nét mày.
Ai oán nỗi riêng khôn xiết tả,
Dường nghe giọng Sở hát quanh đây.
Kim cổ theo dòng nước chảy xuôi,
Sở thua, Hán được - mộ hai ngôi.
Chuyện xưa truyền lại nay thành hão,
Trước chén vì ai múa ngậm ngùi.
Bản dịch của Nam Trân
Chú thích:
(1) Ngu mỹ nhân: Tức Ngu Cơ, vợ Hạng Vũ.
(2) Hồng Môn: Cửa Hồng Môn, nơi diễn ra sự kiện "Hồng Môn yến". Phạm Tăng (mưu sĩ của Hạng Vũ, được Hạng Vũ gọi là Á Phụ), muốn giết Lưu Bang, Hạng Vũ không nỡ. Lưu Bang trốn về, để Trương Lương ở lại dâng đôi ngọc bích lên Hạng Vũ, đôi chén ngọc lên Phạm Tăng, Phạm Tăng nổi giận đập vỡ đôi chén ngọc. Đây chỉ ý: Hạng Vũ không nghe lời mưu sĩ.
(3) Hạng Vũ giết mười vạn hàng binh Tần, khi vào Hàm Dương, lại đốt cung điện của nhà TẦn, lửa cháy liền ba tháng. Đây muốn nói Hạng Vũ tàn bạo nên sẽ thất bại.
(4) Âm Lăng: khi Hạng Vũ thua trận, chạy đến Âm Lăng lạc lối hỏi một cụ già làm ruộng, cụ già cố ý chỉ sai đường, Hạng Vũ sa vào đầm lầy. Quân Hán đuổi tới, Hạng Vũ liệu không thoát được, nói rằng: "... đó là trời làm mất ta". Rồi tự vẫn.
(5) Lúc nhỏ Hạng Vũ học chữ không thành, học kiếm thuật cũng không thành. Chú là Hạng Lương nổi giận, Vũ nói: muốn học cái thuật đánh được muôn người! Lương liền dạy Vũ binh thư, Vũ thích lắm, nhưng cũng không chịu học hành cho thành tựu.
(6) + (7) Sở ca: Lúc Hạng Vũ bị vây ở Cai Hạ, nghe quân Hán bốn phía đều hát giọng Sở. Hạng Vũ sợ hỏi: "Hán đã lấy được Sở rồi sao? Sao mà người Sở (trong quân Hán) đông vậy?"
Ngu Cơ luôn đi theo Hạng Vũ, khi thắng lợi cũng như khi thất bại. Trong đêm cuối cùng ở Cai Hạ, Hạng Vũ hát bài "Cai Hạ ca", Ngu Cơ múa kiếm, hát hòa theo, lời ca rằng:
Hán binh dĩ lược địa,
Tứ diện Sở ca thanh.
Trượng phu ý khí tận,
Tiện thiếp hà liêu sinh.
Dịch:
Quân Hán lấy hết đất,
Khúc Sở vang bốn bề.
Trượng phu chí lớn cạn,
Tiện thiếp sống làm chi.
Rồi Ngu Cơ tự vẫn. Tương truyền nơi máu nàng đổ xuống mọc lên một thứ cỏ hễ có rót rượu gần bên thì cỏ múa lả lướt như Ngu Cơ trong tiệc rượu của Hạng Vũ. Người ta gọi cỏ ấy là "Ngu mỹ nhân thảo".
Nguyên tác: Tăng Củng
Chân Trân
13-12-2005, 11:58 PM
Nguyệt Dạ
Kim dạ Phu Châu nguyệt
Khuê trung chỉ độc khan
Giao liên tiểu nhi nữ
Vị giải ức Trường An
Hương vụ vân hoàn thấp
Thanh huy ngọc tí hàn
Hà thời ỷ hư hoảng
Song chiếu lệ ngân can.
Dịch Nghĩa:
Vầng trăng ở Phu Châu đêm nay
Trong phòng khuê chỉ một người đứng nhìn
Ở xa thương cho con gái bé bỏng
Chưa hiểu nỗi nhớ Trường An
Sương thơm làm ướt mái tóc mai
Ánh trăng trong sáng làm giá lạnh cánh tay ngọc
Bao giờ được tựa bên màn mỏng
Để trăng chiếu cả đôi ta cho ngấn lệ ráo khô?
Dịch Thơ:
Đêm trăng
Đêm nay Phu Châu sáng
Mình em ngắm trăng khuya
Nỗi nhớ Trường An ấy
Thương con chửa biết gì
Sương thơm làn tóc đẫm
Ánh lạnh cánh tay tê
Bao giờ cùng soi bóng
Đôi mình ngấn lệ se.
Bản dịch của Khương Hữu Dụng
Châu Phu này lúc trăng soi,
Buồng the đêm vắng riêng coi một mình.
Đoái thương thơ dại đầu xanh,
Tràng An chưa biết mang tình nhớ nhau.
Sương sa thơm ướt mái đầu,
Cánh tay ngọc trắng lạnh màu sáng trong.
Bao giờ tựa bức màn không,
Gương soi chung bóng lệ dòng dòng khô.
Bản dịch của Tản Đà
Nguyên tác: Đỗ Phủ
Chân Trân
13-12-2005, 11:59 PM
Nhất Tiễn Mai
Hồng ngầu hương tàn ngọc đạm thu,
Khinh giải la thường,
Độc thưởng lan châu,
Vân trung thùy ký cẩm thư lai?
Nhạn tự hồi thì,
Nguyệt mãn tây lâu.
Hoa tự phiêu linh thủy tự lưu,
Nhất chủng tương tư,
Lưỡng xứ nhàn sầu.
Thử tình vô kế khả tiêu trừ,
Tài há mi đầu,
Khước thướng tâm đầu.
Dịch Nghĩa:
Bài Từ Theo Điệu "Nhất Tiễn Mai"
Hương tàn trên ngó sen hồng, hơi thù đầy chiếu ngọc,
Nhẹ cởi tấm xiên lụa,
Một mình lên thuyền lan.
Trong mây, ai gửi lá thư gấm tới?
Khi nhạn bay về,
Trăng đầy lầu tây
Hoa tự rụng rơi, nước tự chảy xuôi,
Một mối tương tư,
Hai nơi đều buồn.
Tình này không cách gì tiêu trừ được.
Mới ở đầu mày,
Đã đến đáy tim.
Dịch Thơ:
Sen tàn chiếu đẫm hơi thu,
Vén xiêm, lên chiếc cô chu một mình.
Mong chờ thư tự mây xanh,
Nhạn về là lúa trăng thanh đầy lầu.
Hoa rơi rụng, nước chảy mau,
Tương tư một mối đeo sầu đôi nơi.
Tình này chẳng thể khuây nguôi,
Vừa nơi khóe mắt đã nơi đáy lòng.
Bản dịch của Nguyễn Thị Bích Hải
Chú thích:
(1) Bài từ này thể hiện nỗi tương tư đối với người còồng (Triệu Minh Minh) đang phải đi công cán nơi xa.
Nguyên tác: Lý Thanh Chiếu
Chân Trân
14-12-2005, 12:00 AM
Oán tình
Mỹ nhân quyển châu liêm,
Thâm tọa tần nga mi.
Đãn kiến lệ ngân thấp,
Bất tri tâm hận thùy.
Dịch Nghĩa:
Mối Tình Ai Oán
Người đẹp cuốn rèm châu,
Lặng ngồi chau mày ngài
Chỉ thấy ngấn lệ ướt,
Chẳng biết lòng giận ai.
Dịch Thơ:
Người xinh cuốn bức rèm châu,
Ngồi im thăm thẳm nhăn chau đôi mày.
Chỉ thay giọt lệ vơi đầy
Đố ai biết được lòng này giận ai?
Bản dịch của Tản Đà
Nguyên tác: Lý Bạch
Chân Trân
03-01-2006, 05:12 AM
Phiếu Hữu Mai
Phiếu hữu mai,
Kỳ thực thất hề,
Cầu ngã thứ sĩ,
Đãi kỳ cát hề.
Phiếu hữu mai,
Kỳ thực tam hề.
Cầu ngã thứ sĩ,
Đãi kỳ kim hề.
Phiếu hữu mai,
Khuynh khuông kí chi.
Cầu ngã thứ sĩ,
Đãi kỳ vị chi.
Dịch Nghĩa:
Quả Mai Rụng
Quả mai rụng,
Mười phần còn bảy.
Người muốn hỏi cưới em,
Hãy chọn ngày tốt này.
Quả mai rụng,
Mười phần còn ba.
Người muốn hỏi cưới em,
Hãy đến ngay hôm nay.
Quả mai đã rụng hết,
Nghiêng giỏ nhặt mai.
Người muốn hỏi cưới em,
Hãy nói với em một lời.
Dịch Thơ:
Quả mai rụng,
Mười phần còn bảy.
Ai cầu xin em xin hãy chọn ngày.
Quả mai rụng,
Mười phần còn ba.
Ai cầu em hãy đến hôm nay.
Mai rụng hết,
Em nghiêng giỏ nhặt.
Ai cầu em hãy ngỏ một lời.
Nguyên tác: Kinh Thi
Chân Trân
03-01-2006, 05:14 AM
Quan Thư
Quan quan thư cưu,
Tại hà chi châu.
Yểu điệu thục nữ,
Quân tử hảo cầu.
Sâm si hạnh thái,
Tả hữu lưu chi.
Yểu điệu thục nữ,
Ngụ mỵ cầu chi.
Cầu chi bất đắc,
Ngụ mỵ tư phục.
Du tai du tai,
Triển chuyển phản trắc.
Sâm si hạnh thái,
Tả hữu thái chi.
Yểu điệu thục nữ,
Cầm sắt hữu chi.
Sâm si hạnh thái,
Tả hữu mạo chi.
Yểu điệu thục nữ,
Chung cổ lạc chi.
Dịch Nghĩa:
Thư Cưu Kêu Quan Quan (1)
Đôi chim thư cưu (2) kêu quan quan,
Ở ngoài bãi sông.
Người con gái dịu dàng yểu điệu,
Thật xứng đôi với người quân tử.
Rau hạnh loi thoi,
Chảy xuôi theo dòng nước,
Người con gái dịu dàng yểu điệu,
(Ta) thức ngủ mong tìm gặp nàng.
Tìm chẳng được nàng,
(Ta) thức ngủ nhớ mong.
Buồn thay, buồn thay!
(Ta) trằn trọc trăn trở.
Rau hạnh loi thoi,
Hái bên phải lại hái bên trái.
Người con gái dịu dàng yểu điệu,
Gảy đàn cầm đàn sắt để làm thân với nàng.
Rau hạnh loi thoi,
Ngắt bên phải lại ngắt bên trái.
Người con gái dịu dàng yểu điệu,
Hãy gióng chuông trống để làm cho nàng vui.
Dịch Thơ:
Quan quan cái con thư cưu,
Con sống con mái cùng nhau bãi ngoài.
Dịu dàng thục nữ như ai,
Sánh cùng quân tử tốt đôi vợ chồng.
Muốn ăn rau hạnh theo dòng,
Muốn cô thục nữ mơ mòng được đâu.
Nhớ cô dằng dặc cơn sầu,
Cho ta dằn dọc dễ hầu ngủ yên.
Muốn ăn rau hạnh hái về,
Muốn cô thục nữ nay về cùng ta.
Tiếng chuông tiếng trống vui hòa,
Tiếng cầm tiếng sắt mặn mà yêu đương.
Bản dịch của Tản Đà
Chú thích:
(1) Quan thư: tên (đề) bài thơ. Trong Kinh Thi đề của bài thơ thường chỉ là một vài chữ đầu của bài. "Quan Thư" là bài thơ được đặt đầu quyển (gọi là "áp quyển").
(2) Thư cưu: tên một loài chim. Chu Hy chú rằng loài chim thư cưu thường sống ở vùng sông Giang, sông Hoài. Loài chim này bao giờ cũng sống thành đôi không lẫn lộn.
Nguyên tác: Kinh Thi
Chân Trân
03-01-2006, 05:16 AM
Quy tín ngâm
Lệ mặc sái vi thư,
Tương ký vạn lý thân.
Thư khứ hồn diệc khứ,
Ngột nhiên không nhất thân.
Dịch Nghĩa:
Khúc Ngâm Gửi Thư Về
Mực hòa nước mắt viết thành thư,
Gửi đến người thân xa vạn dặm.
Thư đi hồn cũng đi,
Bỗng chốc chỉ còn trơ lại hình hài.
Dịch Thơ:
Mực hòa nước mắt thành thư,
Gửi người yêu quý bây giờ muôn xa.
Thư đi hồn cũng đi mà.
Chỉ còn trơ lại thân ta sững sờ.
Nguyên tác: Trương Tịch
Chân Trân
03-01-2006, 05:17 AM
Sinh Tra Tử
Lang như mạch thượng trần,
Thiếp tự đê biên nhứ.
Tương kiến lưỡng du dương,
Tung tích vô tầm xứ.
Tửu diện phốc xuân phong,
Lệ nhãn linh thu vũ.
Quá liễu biệt ly thì.
Hoàn giải tương tư phủ.
Dịch Nghĩa:
Bài Từ Theo Điệu "Sinh Tra Tử"
Chàng như hạt bụi trên đường,
Thiếp như sợi xơ bông liễu ven đê.
Gặp nhau rồi hai đàng xa cách,
Tung tích (chàng) không biết đâu mà tìm.
Gió xuân thổi thốc vào khuôn mặt say,
Lệ rơi như mưa thu.
Trải qua một thời xa cách,
Mới biết là có nhớ nhau không.
Dịch Thơ: (THEO NGUYÊN ĐIỆU)
Chàng như hạt bụi đường,
Thiếp tựa xơ bông liễu.
Gặp nhau cùng vấn vương,
Tung tích tìm đâu nữa.
Gió xuân rát mặt say,
Nước mắt như mưa đổ.
Trải một thời biệt ly,
Mới rõ lòng thương nhớ.
Bản dịch của Nguyễn Thị Bích Hải
Dịch Thơ: (THEO THỂ LỤC BÁT)
Chàng như hạt bụi trên đường,
Thiếp như bông liễu mơ màng ven đê.
Gặp rồi xa cách, buồn tê,
Người ơi, tăm dạng biết về nơi nao.
Mặt say đón gió xuân sầu,
Lệ tuôn như thể mưa thu ướt dầm.
Qua thời ly biệt xa xăm,
Tấm lòng có nhớ nhau chăng mới tường.
Bản dịch của Nguyễn Thị Bích Hải
Nguyên tác: Diêu Khoan
Chân Trân
03-01-2006, 05:19 AM
Tây cung xuân oán
Tây cung dạ tĩnh bách hoa hương,
Dục quyền châu liêm xuân hận trường.
Tà bão vân hòa thâm kiến nguyệt,
Mông lung thụ sắc ẩn Chiêu Dương.
Dịch Nghĩa:
Hờn Xuân Trong Tây Cung (1)
Tây cung đêm lặng, trăm hoa tỏa hương,
Muốn cuốn rèm châu, mối hận thêm dằng dặc.
Ôm nghiêng cây đàn vân hòa (2), thăm thẳm nhìn ánh trăng.
Màu cây mờ mịt thấp thoáng bóng điện Chiêu Dương (3).
Dịch Thơ:
Đêm tây cung lặng, ngát trăm hương,
Toan cuốn rèm châu hận vấn vương.
Chênh chếch ôm đàn nhìn vẻ nguyệt,
Mịt mờ cây lá bóng Chiêu Dương.
Chú thích:
(1) Tây cung: Nơi ở của cung phi bị ruồng bỏ.
(2) Văn hòa: Tên một thứ đàn cổ.
(3) Chiêu Dương: Tên một cung, nơi ở của người cung phi đang được sủng ái.
Nguyên tác: Vương Xương Linh
Chân Trân
03-01-2006, 05:20 AM
Tây Thi
Gia quốc hưng vong tự hữu thì,
Ngô nhân hà khổ oán Tây Thi.
Tây Thi nhược giải khuynh Ngô quốc,
Việt quốc vong lai hựu thị thùy.
Dịch Nghĩa:
Tây Thi (1)
Việc hưng vong của quốc gia tự có thời vận,
Người nước Ngô sao cứ oán mãi Tây Thi?
Nếu bảo Tây Thi làm nghiêng đổ nước Ngô,
Thì nước Việt bị diệt vong là do ai?
Dịch Thơ:
Đất nước hưng vong ta có thời
Tây Thi sao cứ bị trách hoài?
Nếu Ngô mất nước vì Tây tử,
Việt kia mất nước bởi tay ai ?
Bản dịch của Nguyễn Thị Bích Hải
Chú thích:
1) Tây Thi: tên của người con gái nước Việt thời Xuân Thu. Nước Việt bị nước Ngô đánh bại. Theo kế của Văn Chủng, Việt Vương Câu Tiễn dâng Tây Thi cho Ngô vương Phù Sai. Phù Sai say mê Tây Thi mà Ngô bị diệt. Sử Trung Quốc thường qui trách nhiệm làm "nghiêng nước nghiêng thành" cho những người con gái đẹp (như Bao Tự, Tây Thi, Dương Quí Phi). Với bài thơ này, La Ẩn minh oan cho Tây Thi và các mỹ nhân trong lịch sử, qui trách nhiệm cho những người lãnh đạo đất nước.
Nguyên tác: La Ẩn
Chân Trân
03-01-2006, 05:21 AM
Tặng Biệt
Đa tình khước tự tổng vô tình,
Duy giác tôn tiền tiểu bất thành.
Lạp chúc hữu tâm hoàn tích biệt,
Thế nhân thùy lệ đáo thiên minh.
Dịch Nghĩa:
Bài Tặng Khi Chia Tay
Đa tình mà lại giống như vô tình,
Chỉ cảm thấy trước chén rượu muốn cười không được.
Ngọn nến có lòng còn thương tiếc lúc chia tay.
Thay người nhỏ lệ đến tận sáng.
Dịch Thơ:
Đa tình mà lại giống vô tình,
Đâu dễ khuây nguôi trước chén quỳnh.
Ngọn nến có lòng còn luyến tiếc,
Thay người nhỏ lệ suốt năm canh.
Nguyên tác: Đỗ Mục
Chân Trân
03-01-2006, 05:23 AM
Tặng Kỹ Vân Anh
Chung Lăng tùy biệt thập dư xuân,
Trùng kiến Vân Anh chưởng thượng thân.
Ngã vị thành danh, quân vị giá,
Khả năng câu thị bất như nhân.
Dịch Nghĩa:
Tặng Người Kỹ Nữ Vân Anh
Ở Chung Lăng say mà từ biệt đã hơn mười năm,
Gặp lại Vân Anh vẫn mảnh mai (như thuở ấy).
Ta chưa thành danh, nàng chưa lấy chồng,
Có lẽ đều vì chẳng giống mọi người.
Dịch Thơ:
Chung Lăng từ biệt mười năm lẻ,
Gặp lại Vân Anh vẫn tuyệt vời.
Ta chưa thành danh, nàng ở vậy,
Vì nỗi hai ta trót khác người.
Nguyên tác: La Ẩn
Chân Trân
03-01-2006, 05:24 AM
Tặng Nội Nhân
Cấm môn cung thụ nguyệt ngân qua,
Mỵ nhãn duy khan túc lộ oa,
Tà bạt ngọc thoa đăng ảnh bạn,
Dịch khai hồng diệm cứu phi nga.
Dịch Nghĩa:
Tặng Người Trong Cung
Ánh trăng chiếu, đọng lại trong vòm cây trong cung cấm,
Đôi mắt kiều mỵ chỉ nhìn mãi chiếc tổ cò.
Rút chiếc thoa ngọc, bên ánh đèn,
Gạt ngọn lửa hồng cứu con thiêu thân.
Dịch Thơ:
Vòm vây cung cấm ánh trăng xuyên
Chiếc tổ cò con mãi ngắm nhìn
Bên đèn vội rút cành thoa ngọc
Gạt ngay ngọn lửa cứu thiêu thân.
Chú thích:
(1) Nội nhân: tên gọi các ca kỹ được tuyển vào viện Tuyên Xuân trong hoàng cung đời Đường.
Nguyên tác: Trương Hựu
Chân Trân
03-01-2006, 05:25 AM
Tặng Tỳ
Công tử vương tôn trục hậu trần,
Lục Châu thùy lệ trích la cân.
Hầu môn nhất nhập thâm như hải,
Tòng thử Tiêu Lang thị lộ nhân.
Dịch Nghĩa:
Tặng Người Tỳ Nữ (1)
Công tử Vương tôn đeo đuổi theo dấu bụi,
Lục Châu (2) rơi lệ ướt khăn lụa.
Cửa vương hầu (3) một khi đã vào là sâu như biển,
Từ đó Tiêu Lang (4) là kẻ qua đường.
Dịch Thơ:
Công tử Vương tôn theo dấu bụi,
Lục Châu rơi lệ ướt khăn hường.
Vào cửa vương hầu sâu tựa bể,
Tiêu lang đành hóa khách qua đường.
Bản dịch của Nguyễn Thị Bích Hải
Chú thích:
(1) Sách "Văn khê hữu nghị" của Phạm Thư (cuối Đường) có ghi câu chuyện thời Nguyên Hòa (Đường Hiến Tông) có chàng tú tài tên là Thôi giao, cô của Thôi Giao có người tỳ nữ rất đẹp. Thôi Giao và người tỳ nữ yêu knhau; sau nàng bị bán cho một ông quan tên là Vu Địch. Thôi Giao nhớ nàng khôn nguôi. Một lần nhân tiết hàn thực, người tỳ nữ đi ra, tình cờ gặp Thôi Giao. Thôi Giao xúc cảm làm bài thơ "Tặng Tỳ" này. Sau, Vu Địch đọc được bài thơ, liền cho phép Thôi Giao lấy người tỳ nữ ấy. Câu chuyện của họ trở thành một giai thoại trên thi đàn đương thời.
(2) Lục Châu: tên người ái thiếp của Thạch Sùng thời TÂy Tấn. Nàng cực kỳ xinh đẹp lại có tài âm nhạc. Tôn Tú ỷ quyền thế muốn đoạt Lục Châu, Thạch Sùng cự tuyệt nên bị bắt giam, tịch biên tài sản; Lục Châu gieo mình từ trên lầu xuống... Đây dùng điển cố Lục Châu để nói người tỳ nữ rất đẹp và cũng có số phận bi thảm như Lục Châu.
(3) Cửa vương hầu (hầu môn): chỉ nhà quyền quý, ai đã bị đưa vào là không ra được. Vì tính chất khái quát rất cao của bài thơ được lưu truyền, "hầu môn tự hải" (cửa vương hầu sâu như biển) trở thành một thành ngữ.
(4) Tiêu Lang: chỉ người tình cũ. Tần Mục Công (thời Xuân Thu) có người con gái tên là Lộng Ngọc. Nàng có tài thổi ống tiêu. Mục Công cho nàng lên ở đài Phượng Hoàng. Có chàng tuổi trẻ tên là Tiêu Sử đến thổi ống tiêu họa theo tiếng tiêu của Lộng Ngọc. Phượng Hoàng bay đến, Lộng Ngọc cùng Tiêu Sử cưỡi Phượng Hoàng lên trời. Đây, Thôi Giao tự ví mình như Tiêu Lang nhưng giờ đã hóa thành kẻ qua đường.
Trong "Truyện Kiều", câu thơ "Khách qua đường để hững hờ chàng Tiêu", chính là dịch từ câu thơ "tòng thử Tiêu Lang thị lộ nhân" của Thôi Giao.
Nguyên tác: Thôi Giao
Chân Trân
09-01-2006, 01:02 AM
Tức phu nhân
Mạc dĩ kim thời sủng,
Nắng vong cựu nhật ân.
Khán hoa mãn nhãn lệ,
Bất cộng Sở Vương ngôn.
Dịch Nghĩa:
Phu Nhân Nước Tức (1)
Đâu phải vì sự sủng ái bây giờ,
Mà có thể quên được ân tình ngày xưa.
Ngắm hoa mắt đầy lệ,
Không nói một lời với vua nước Sở.
Dịch Thơ:
Dẫu cho sủng hạnh bây giờ,
Dễ mà quên ái ân xưa được nào?
Ngắm hoa nước mắt tuôn trào,
Trọn đời chẳng nói lời nào cùng vua.
Chú thích:
(1) Tức phu nhân vốn là vợ của vua nước Tức (một nước nhỏ thời Xuân Thu). Năm 680 TCN vua Sở diệt nước Tức, chiếm đoạt Tức phu nhân. Nàng tuy bị buộc phải lấy vua Sở sinh 2 con nhưng trọn đời không nói một lời nào với vua Sở.
Nguyên tác: Vương Duy
Chân Trân
09-01-2006, 01:04 AM
Tự Quân Chi Xuất Hỹ
Tự quân chi xuất hỹ (1),
Bất phục lý tàn ky.
Tư quân như nguyệt mãn (2)
Dạ dạ giảm quang huy (3).
Dịch Nghĩa:
Từ Thuở Chàng Ra Đi
Từ khi chàng ra đi,
(Thiếp) không còn mó đến khung cửi đã tàn.
Nhớ chàng như vầng trăng đầy,
Đêm đêm hao dần vành sáng.
Dịch Thơ:
Từ ngày chàng bước chân đi,
Cái khung dệt cửi chưa hề nhúng tay.
Nhớ chàng như mảnh trăng đầy,
Đêm đêm vầng sáng hao gầy đêm đêm.
Bản dịch của Ngô Tất Tố
Chú thích:
(1) "Tự quân chi xuất hỹ": tên đề mục cũ trong Nhạc phủ.
(2) Nguyệt mãn - có bản in là "mãn nguyệt".
(3) Quang huy - có bản in là "thanh huy".
Nguyên tác: Trương Cửu Linh
Chân Trân
09-01-2006, 01:05 AM
Tý Dạ Ca
Túc tích bất sơ đầu,
Ty phát bị lưỡng kiên.
Uyển thân lang tất thượng,
Hà xứ bất khả liên.
Thủy dục thức lang thì
Lưỡng tâm vọng như nhất.
Lý ty nhập tàn ky,
Hà ngộ bất thành thất? (1)
Dạ trường bất đắc miên,
Minh nguyệt hà chước chước.
Tưởng hoan (2) tán hoán thanh.
Hư ứng không trung nặc.
Dịch Nghĩa:
Khúc Ca Của Nàng Tý Dạ (3)
Đêm xưa chẳng chải đầu,
Tóc như tơ phủ kín đôi bờ vai.
Lả thân trên gối chàng,
Chẳng chỗ nào là không dễ thương.
Thuở mới quen biết chàng,
Chỉ mong đôi lòng như một.
Dệt tơ trên khung cửi nát,
Lỗi ở chỗ nào mà chẳng thành tấm lụa?
Đêm dài không ngủ được,
Vầng trăng sáng vằng vặc.
Tưởng như nghe thấy tiếng chàng gọi,
Cất tiếng "dạ" với khoảng hư không.
Dịch Thơ:
Đêm xưa quên chẳng búi đầu,
Đôi bờ vai phủ kín màu tóc xanh.
Thân mềm lả xuống gối anh,
Chỗ nào mà chẳng đượm tình đôi ta.
Thuở đầu mình mới biết ta,
Những mong hai trái tim là một thôi.
Tơ trên khung cửi rối bời,
Vì sao chẳng vẹn lứa đôi hỡi chàng?
Đêm dài giấc ngủ chẳng an
Trời trong vằng vặc ánh trăng sáng ngời.
Nghe như tiếng gọi của người
Em lên tiếng "dạ" đáp lời hư không.
Bản dịch của Nguyễn Thị Bích Hải
Chú thích:
(1) Ở bài 7 này có sự chơi chữ hài âm: chữ "ty" (tơ) đồng âm với chữ "tư" (nhớ), chữ "thất" vừa có nghĩa là tấm (vải, lụa), vừa có nghĩa là lứa đôi.
(2) Hoan: từ địa phương miền Nam Trung Quốc, dùng để chỉ người nam ở ngôi thứ 2 (tương đương với từ "lang" - chàng)
(3) Tý Dạ ca: Trong "Nhạc phủ thi tập" có 42 bài "Tý Dạ ca", thuộc "Ngô ca". Thiên "Nhạc chí" sách "Đường Thư" chép rằng: "Tý Dạ ca" thuộc Tấn Khúc. Đời Tấn có người con gái tên là Tý Dạ - sáng tác ra khúc này, lời ca rất đau khổ.
Chân Trân
09-01-2006, 01:06 AM
Tý Dạ Tứ Thời Ca - Xuân Ca
Xuân lâm hoa đa mỵ,
Xuân điểu ý đa ai.
Xuân phong phục đa tình,
Xuy ngã la thường khai.
Dịch Nghĩa:
Khúc Ca Bốn Mùa - Khúc Ca Mùa Xuân
Rừng xuân hoa đầy vẻ dễ thương,
Tiếng chim xuân kêu ý đầy bi thương.
Gió xuân lại thật đa tình,
Thổi mở cả tấm xiêm lụa của ta.
Dịch Thơ:
Rừng xuân hoa thật dễ thương,
Chim xuân kêu ý não nùng buồn tênh.
Gió xuân lại khéo đa tình,
Thổi tung cả áo xiêm mình, lạ chưa...
Nguyên tác: Vô Danh
Chân Trân
09-01-2006, 01:08 AM
Thanh bình điệu
I
Vân tưởng y thường hoa tưởng dung,
Xuân phong phất hạm lộ hoa nùng.
Nhược phi Quần-Ngọc sơn đầu kiến,
Hội hướng Dao-đài nguyệt hạ phùng.
II
Nhất chi hồng diễm lộ ngưng hương,
Vân vũ Vu sơn uổng đoạn trường.
Tá vấn Hán cung thùy đắc tự,
Khả lân Phi Yến ỷ tân trang.
III
Danh hoa khuynh quốc lưỡng tương hoan,
Trường đắc quân vương đới tiếu khan.
Giải thích xuân phong vô hạn hận,
Trầm-Hương đình bắc ỷ lan can.
Dịch Thơ:
Điệu hát Thanh Bình
I
Mặt tưởng là hoa, áo ngỡ mây ;
Hiên sương phơ phất gió xuân bay.
Nếu không gặp gỡ trên Quần Ngọc,
Dưới nguyệt Dao đài sẽ gặp ai.
II
Một nhánh hồng tươi, móc đọng sương ;
Mây mưa Vu giúp uổng sầu thương.
Hỏi nơi cung Hán ai người giống ?
Phi Yến còn nhờ mới điểm trang.
III
Hoa trời, sắc nước thảy đều vui,
Luôn được vua trông với nụ cười.
Mối hận gió xuân bay thoảng hết ;
Bên đình, thơ thẩn tựa hiên chơi.
Bản dịch của Trần Trọng San
I
Thoáng bóng mây hoa ngỡ bóng hồng,
Gió xuân dìu dặt hạt sương trong.
Ví chăng non Ngọc không nhìn thấy,
Dưới nguyệt đài Dao thử ngóng trông.
II
Hương đông móc đượm một cành hồng,
Vu Giáp mây mưa những cực lòng.
Ướm hỏi Hán cung ai mảng tượng?
Điểm tô, Phi Yến tốn bao công.
III
Sắc nươc, hương trời khéo sánh đôi,
Quân vương nhìn ngắm những tươi cười.
Sầu xuân man mác tan đầu gió,
Cửa bắc đình Trầm đứng lả lơi.
Bản dịch của Ngô Tất Tố
Nguyên tác: Lý Bạch
Chân Trân
09-01-2006, 01:10 AM
Thanh Thanh Thủy Trung Bồ
I
Thanh thanh thủy trung bồ,
Hạ hữu nhất song ngư.
Quân kim thượng Lũng khứ,
Ngã tại dữ thùy cư?
II
Thanh thanh thủy trung bồ,
Trường tại thủy trung cư.
Ký ngữ phù bình thảo,
Tương tùy ngã bất như.
III
Thanh thanh thủy trung bồ,
Diệp đoản bất xuất thủy.
Phụ nhân bất hạ đường,
Hành tử tại vạn lý.
Dịch Nghĩa:
Cỏ Bồ Xanh Trong Nước (1)
I
Cây cỏ bồ xanh xanh trong nước,
Phía dưới có đôi cá tung tăng.
Nay chàng đi đến đất Lũng, (2)
Thiếp ở lại biết sống cùng ai?
II
Cây cỏ bồ xanh trong nước,
Mãi mãi ở trong nước.
Nhắn với cánh bèo trôi,
Ta chẳng trôi theo nhau như ngươi được.
III
Cây cỏ bồ xanh xanh trong nước,
Lá ngắn không ra khỏi nước được.
Đàn bà không được ra khỏi nhà,
Người ra đi giờ xa muôn dặm.
Dịch Thơ:
I
Trong nước, cỏ bồ xanh,
Có đôi cá lượn quanh.
Chàng đi tận đất Lũng,
Thiếp ở lại một mình.
II
Trong nước, cỏ bồ xanh,
Ở hoài trong nước xanh.
Nhắn cùng cánh bèo nổi,
Tiếc chẳng được bồng bềnh.
III
Trong nước, cỏ bồ xanh,
Mãi trong nước ngâm mình.
Thiếp không ra khỏi cửa,
Chàng muôn dặm viễn hành.
Bản dịch Nguyễn Thị Bích Hải
Chú thích:
(1) Bài này Hàn Dũ viết gởi tặng vợ, tỏ niềm thông cảm với nỗi cô quạnh của nàng.
(2) ĐẤt Lũng, địa danh, nay thuộc tỉnh Cam Túc.
Nguyên tác: Hàn Dũ
Chân Trân
09-06-2006, 06:43 AM
<TABLE cellSpacing=0 cellPadding=1 width="100%" align=left border=0><TBODY><TR><TD align=left colSpan=2>Thái Cát
</TD></TR><TR><TD style="TEXT-ALIGN: justify" colSpan=2>Bỉ thái cát (1) hề
Nhất nhật bất kiến
Như tam nguyệt hề.
Bỉ thái tiêu (2) hề
Nhất nhật bất kiến
Như tam thu (3) hề.
Bỉ thái ngải (4) hề
Nhất nhật bất kiến
Như tam tuế hề.
Dịch Nghĩa:
Hái Dây Sắn
Người ấy đi hái dây sắn
Một ngày không gặp
Như ba tháng trời
Người ấy đi hái lá cỏ tiêu
Một ngày không gặp
Như ba mùa thu dài.
Người ấy đi hái lá ngải
Một ngày không gặp
Như ba năm trời.
Dịch Thơ:
Người đi hái sắn xa xa
Một ngày không gặp như ba tháng trời.
Cỏ tiêu người hái đâu xa,
Một ngày không gặp như ba thu dài.
Lá ngải người hái bao xa,
Một ngày không gặp như ba năm ròng.
Bản dịch của Nguyễn Thị Bích Hải
Chú thích:
(1) Cát: Dây sắn, 1 thứ như dây đan dùng để dệt.
(2) Tiêu: Một thứ cỏ, lá thơm.
(3) Thu: Ba tháng mùa thu. Ba thu tức 9 tháng
(4) Ngải: một thứ cỏ, dùng để châm cứu.
Nguyên tác: Kinh Thi
</TD></TR></TBODY></TABLE>
Chân Trân
09-06-2006, 06:44 AM
<TABLE cellSpacing=0 cellPadding=1 width="100%" align=left border=0><TBODY><TR><TD align=left colSpan=2>Thái liên khúc
</TD></TR><TR><TD style="TEXT-ALIGN: justify" colSpan=2>Hà diệp la quần nhất sắc tài,
Phù dung hướng kiểm lưỡng biên khai.
Loạn nhập trì trung khan bất kiến,
Văn ca thủy giác hữu nhân lai.
Dịch Nghĩa:
Khúc Hát Hái Sen
Lá sen, quần lụa cùng một màu,
Hoa sen nghiêng về gương mặt, hai bên cùng nở.
Trong ao lẫn lộn nhìn không thấy,
Nghe tiếng ca mới nhận ra là có người.
Dịch Thơ:
Quần lụa một màu với lá sen,
Má hồng sen thắm nở hai bên.
Trong ao lẫn lộn nhìn không rõ,
Biết có người khi tiếng hát lên.
Nguyên tác: Vương Xương Linh </TD></TR></TBODY></TABLE>
Chân Trân
09-06-2006, 06:46 AM
<TABLE cellSpacing=0 cellPadding=1 width="100%" align=left border=0><TBODY><TR><TD align=left colSpan=2>Thái Tang Tử
</TD></TR><TR><TD style="TEXT-ALIGN: justify" colSpan=2>Hận quân bất tự giang lâu nguyệt,
Nam Bắc Đông Tây,
Nam Bắc Đông Tây,
Chỉ hữu tương tùy vô biệt ly.
Hận quân khước tự giang lâu nguyệt,
Tạm mãn hoàn khuy,
Tạm mãn hoàn khuy,
Tạm mãn hoàn khuy,
Đãi đắc đoàn viên thị kỷ thì.
Dịch Nghĩa:
Bài Từ Theo Điệu "Thái Tang Tử"
Giận chàng chẳng giống vầng trăng trên lầu bên sông,
(Dẫu có đi bốn phương) Nam Bắc Đông Tây,
(Dẫu có đi bốn phương) Nam Bắc Đông Tây,
Chỉ có theo nhau không hề biệt ly.
Giận chàng lại giống vầng trăng trên lầu bên sông,
Tạm tròn lại khuyết,
Tạm tròn lại khuyết,
Đợi được đoàn viên là mấy lúc.
Dịch Thơ: (THEO NGUYÊN ĐIỆU)
Hận chàng chẳng giống vầng trăng ấy,
Nam Bắc Đông Tây,
Nam Bắc Đông Tây,
Chỉ mãi theo nhau chẳng nỡ rời.
Hận chàng lại giống vầng trăng ấy,
Tạm đầy lại vơi,
Tạm đầy lại vơi,
Nào có đoàn viên được mấy thời.
Bản dịch của Nguyễn Thị Bích Hải
Dịch Thơ: (THEO THỂ LỤC BÁT)
Hận chàng chẳng giống vầng trăng,
Dẫu đi Nam Bắc Tây Đông chẳng rời.
Hận chàng sao giống trăng này
Mới tròn đã khuyết, chưa đầy đã vơi.
Đoàn viên nào được mấy hồi.
Bản dịch của Nguyễn Thị Bích Hải
Nguyên tác: Lữ Bản Trung </TD></TR></TBODY></TABLE>
Chân Trân
09-06-2006, 06:48 AM
<TABLE cellSpacing=0 cellPadding=1 width="100%" align=left border=0><TBODY><TR><TD align=left colSpan=2>Thán Hoa
</TD></TR><TR><TD style="TEXT-ALIGN: justify" colSpan=2>Tự thị tầm xuân khứ hiệu trì,
Bất tu trù trướng oán phương thì.
Cuồng phong lạc tận thâm hồng sắc,
Lục diệp thành âm tử mãn chi.
Dịch Nghĩa:
Than Hoa (1)
Từ ấy tìm xuân lỡ muộn tình,
Trách gì hương sắc vội qua nhanh.
Gió cuồng rụng hết hoa hồng thắm,
Bóng lá rờn xanh quả trĩu cành.
Bản dịch của Nguyễn Thị Bích Hải
Chú thích:
(1) Về bài thơ này, sách "Thái bình quảng ký" có ghi một câu chuyện như sau:
Có một lần Đỗ Mục đi chơi ở Hồ Châu, gặp một cô bé rất xinh đẹp nhưng mới hơn mười tuổi. Đỗ bèn hẹn với mẹ cô bé rằng: "Đợi tôi mười năm, nếu tôi không về được thì hẵng gả cô bé". Mười bốn năm sau, Đỗ Mục mới về làm thứ sử Hồ Châu, cô bé đính ước ngày trước đã lấy chồng được ba năm, sinh hai con. Đỗ Mục than tiếc và làm bài thơ này.
Câu chuyện trên vị tất đã có thật, nhưng bài thơ qủa là mượn hoa để ví với người, là một giai tác thở than cho tình yêu không được toại nguyện.
Nguyên tác: Đỗ Mục
</TD></TR></TBODY></TABLE>
Chân Trân
09-06-2006, 06:51 AM
<TABLE cellSpacing=0 cellPadding=1 width="100%" align=left border=0><TBODY><TR><TD align=left colSpan=2>Thính Trương Lập Bản Nữ Ngâm
</TD></TR><TR><TD style="TEXT-ALIGN: justify" colSpan=2>Nguy quan quảng tụ Sở cung trang,
Độc bộ nhàn đình trục dạ lương.
Tự bả ngọc thoa xao thuế trúc,
Thanh ca nhất khúc nguyệt như sương.
Dịch Nghĩa:
Nghe Con Gái Của Trương Lập Bản Ngâm
Mũ cao, tay áo rộng theo kiểu trang phục trong cung Sở, (1)
Một mình dạo sân vắng trong đêm mát lành.
Tự rút chiếc thoa ngọc gõ vào cành tre,
Ca lên một khúc, ánhk trăng như sương.
Dịch Thơ:
Mũ cao, áo rộng, lưng ong,
Một mình dạo mát ở trong lan đình.
Rút thoa gõ phách tre xanh,
Ca lên một khúc, trăng lành như sương.
Chú thích:
(1) Trang phục trong cung vua Sở: chải tóc cao, tay áo rộng, lưng thắt nhỏ. Phụ nữ quí phái miền Nam Trung Quốc thường thích kiểu trang phục này.
Nguyên tác: Cao Thích
</TD></TR></TBODY></TABLE>
Chân Trân
09-06-2006, 06:53 AM
<TABLE cellSpacing=0 cellPadding=1 width="100%" align=left border=0><TBODY><TR><TD align=left colSpan=2>Thi
</TD></TR><TR><TD style="TEXT-ALIGN: justify" colSpan=2>Thanh điểu hàm bồ đào,
Phi thượng kim tỉnh lan.
Mỹ nhân khủng kinh khứ,
Bất cảm quyển liêm khan.
Dịch Nghĩa:
Thơ
Chú chim xanh ngậm chùm nho,
Bay lên đậu tận lan can giếng vàng.
Người đẹp ngại làm chim sợ bay đi mất,
(Nên) không dám vén rèm nhìn.
Dịch Thơ:
Chú chim xanh ngậm chùm nho,
Bay về đậu xuống bên bờ giếng đây.
Chỉ e chim giật mình bay,
Mỹ nhân chẳng dám đưa tay vén rèm.
Nguyên tác: Bổng Kiếm Bộc </TD></TR></TBODY></TABLE>
Chân Trân
09-06-2006, 06:54 AM
<TABLE cellSpacing=0 cellPadding=1 width="100%" align=left border=0><TBODY><TR><TD align=left colSpan=2>Thoa Đầu Phượng
</TD></TR><TR><TD style="TEXT-ALIGN: justify" colSpan=2>Hồng tô thủ,
Hoàng đằng tửu
Mãn thành xuân sắc cung tường liễu.
Đông phong ác,
Hoan tình bạc,
Nhất hoài sầu tự,
Kỷ niên ly tác.
Thác! Thác! Thác!
Xuân như cựu,
Nhân không sấu,
Lệ ngân hồng ấp giao tiêu thấu.
Đào hoa lạc,
Nhàn trì các.
......Sơn minh tuy tại,
Cẩm thư nan thác
Mạc! Mạc! Mạc!
Dịch Nghĩa:
Bài Từ Theo Điệu "Thoa Đầu Phượng" (1)
Tay hồng mềm yếu
(Tặng) rượu hoàng đằng
Đầy thành xuân sắc, liễu xanh bên tường.
Gió đông ác nghiệt,
Ân tình bạc bẽo,
Ôm mãi một mối sầu.
Bao năm xa cách cô đơn.
Sai! Sai! Sai!
Xuân như cũ,
Người gầy võ,
Ngấn lệ thấm hồng tấm lụa.
Hoa đào rụng,
Trên gác bến hồ vắng.
Lời thệ hải minh sơn tuy còn đó,
Mà bức thư gấm khó lòng gửi được cho nhau.
Chớ! Chớ! Chớ!
Dịch Thơ:
Tay xinh gửi rượu hoàng đằng,
Đầy thành xuân sắc, bền tường liễu xanh.
Gió đông ác nghiệt đã đành,
Ai hay bạc cả ân tình vì đâu.
Lòng riêng đeo nặng mối sầu,
Bao năm xa cách đơn cô một mình.
Sai! Sai! Sai! Xót xa tình.
Người ơi, gầy võ dáng hình vì xuân
Lụa hồng thấm ngấn lệ hoen,
Hoa đào rơi rụng lầu xuân vắng người.
Minh sơn thệ hải bao lời,
Mà phong thư gấm gởi người được đâu.
Thôi đừng phiền lụy chi nhau.
Bản dịch của Nguyễn Thị Bích Hải
Chú thích:
(1) Bài Từ "Thoa đầu phượng" được Lục Du sáng tác trong một hoàn cảnh đặc biệt: Ban đầu Lục Du lấy người em họ (con cậu) là Đường Uyển, hai người rất tâm đầu ý hợp, nhưng thân mẫu của Lục Du lại không ưa Đường Uyển, lại nghe thêm những lời gièm pha nên bà buộc hai người phải ly hôn. Về sau, Lục Du lấy Vương Thị, Đường Uyển cũng tái giá, lấy Triệu Sĩ Trình. Mấy năm sau, vào mùa xuân, hai người tình cờ cùng đi chơi vườn Thẩm, ngẫu nhiên gặp nhau. Đường Uyển lấy tình anh em họ, gửi rượu và dã vị mời Lục Du. Lục Du vô cùng thương cảm, vung bút đề lên bức tường trong vườn Thẩm bài "Thoa đầu phượng" này. Đường Uyển sau khi đọc được bài này trong lòng rất đau khổ, làm một bài từ cũng theo điệu "Thoa đầu phượng" họa lại. Sau đó nàng đau buồn, lâm trọng bệnh mà qua đời.
Nguyên tác: Lục Du
</TD></TR></TBODY></TABLE>
Chân Trân
09-06-2006, 06:56 AM
<TABLE cellSpacing=0 cellPadding=1 width="100%" align=left border=0><TBODY><TR><TD align=left colSpan=2>Thu Dạ Khúc
</TD></TR><TR><TD style="TEXT-ALIGN: justify" colSpan=2>Đinh đinh lậu thủy dạ hà trường,
Mạn mạn khinh vân lộ nguyệt quang.
Thu bức ám trùng thông tịch hưởng,
Chinh y vị ký mạc phi sương.
Dịch Nghĩa:
Khúc Hát Đêm Thu
Giọt đồng hồ nhỏ đinh đinh, (1) đêm sao mà dài,
Mây mỏng mảnh trôi nhẹ để lộ vầng trăng
Thu đến tiếng dế kêu suốt đêm,
Áo chiến chưa gửi (xin trời) chớ buông sương).
Dịch Thơ:
Long tong khắc lậu, đêm dài thế,
Làn mây trôi nhẹ sáng vầng trăng.
Thu đến thâu đêm ran tiếng dế,
Chinh y chưa gửi chớ buông sương.
Chú thích:
(1) Thời cổ, người ta làm những chiếc bình bằng đồng (đồng hồ) trong đổ đầy nước và dùi lỗ cho nước nhỏ ra. Người ta căn cứ vào mức nước trên những vết khắc trên đồng hồ để biết thời gian. "Đinh đinh" là từ tượng thanh mô phỏng tiếng nước nhỏ giọt.
Nguyên tác: Trương Trọng Tố
</TD></TR></TBODY></TABLE>
Chân Trân
09-06-2006, 06:57 AM
<TABLE cellSpacing=0 cellPadding=1 width="100%" align=left border=0><TBODY><TR><TD align=left colSpan=2>Thu Tứ
</TD></TR><TR><TD style="TEXT-ALIGN: justify" colSpan=2>Lạc Dương thành lý kiến thu phong,
Dục tác gia thư ý vạn trùng.
Phục khủng thông thông thuyết bất tận,
Hành nhân lâm phát hựu khai phong.
Dịch Nghĩa:
Tứ Thu
Trong thành Lạc Dương thấy nổi gió thu,
Muốn viết thư về nhà, lòng ngổn ngang muôn nỗi.
Lại sợ vội vàng nói chẳng hết lời,
Người đi sắp cất bước còn mở thư ra lần nữa.
Dịch Thơ:
Thành Lạc gió thu chợt thổi qua,
Ngổn ngang muôn nổi, viết thư nhà.
Những e vội vã lời chưa hết,
Sắp gởi người đi lại bóc ra.
Nguyên tác: Trương Tịch </TD></TR></TBODY></TABLE>
Chân Trân
09-06-2006, 06:59 AM
<TABLE cellSpacing=0 cellPadding=1 width="100%" align=left border=0><TBODY><TR><TD align=left colSpan=2>Tiêu tương thần nhị thủ
</TD></TR><TR><TD style="TEXT-ALIGN: justify" colSpan=2>I.
Tương thủy lưu,
Tương thủy lưu,
Cửu nghi vân vật chí kim sầu.
Nhược vấn nhị phi hà xứ sở?
Linh Lăng hương thảo lộ trung thu.
II.
Ban trúc chi,
Ban trúc chi,
Lệ ngân điểm điểm ký tương tư.
Sở khách dục thinh dao sắt oán,
Tiêu Tương thâm dạ nguyệt minh thì.
Dịch Nghĩa:
Hai Bài Từ Theo Điệu "Tiêu Tương Thần" (1)
I.
Sông Tương trôi,
Sông Tương trôi,
Cảnh sắc Cửu Nghi (2) đến nay còn buồn
Nếu hỏi hai bà phi (3) ở nơi nào?
(Thì hãy nhìn) vẻ thu đẫm sương trên cỏ thơm miền Linh Lăng.
II.
Cành trúc vân (4),
Cành trúc vân,
Ngấn lệ từng giọt từng giọt gửi niềm tương tư.
Khách nước Sở muốn nghe khúc đàn sắt ai oán.
(Thì hãy lắng nghe) trong đêm khuya bàng bạc ánh trăng trên sông Tương.
Dịch Thơ:
I.
Sông Tương trôi,
Sông Tương trôi,
Cửu Nghi phong cảnh khôn nguôi nỗi sầu
Nhị phi giờ biết tìm đâu?
Linh Lăng phương thảo đượm màu sương thu.
II.
Trúc Tương phi,
Trúc Tương phi,
Còn rưng ngấn lệ tương tư đến giờ.
Tiếng đàn ai oán muôn xưa,
Tương giang trong ánh trăng mờ còn nghe.
Bản dịch của Nguyễn Thị Bích Hải
Chú thích:
1) "Tiêu Tương thần" (Còn gọi là "Thanh Tương từ") là tên của điệu từ. Bài từ này được Lưu Vũ Tích sáng tác trong thời kỳ ông bị biếm trích ở Lãng Châu (nay thuộc huyện Thường Đức, tỉnh Hồ Nam).
Tiêu Tương thần tức là nữ thần sông Tiêu Tương.
Truyền thuyết kể rằng xưa đế Thuấn đi tuần du phương nam, mất ở Thương Ngô, táng ở Cửu Nghi. Hai người vợ của vua Thuấn đi tìm, đến bờ sông Tiêu Tương vọng về miền Thương Ngô mà khóc vua Thuấn. Nước mắt của hai người nhỏ lên những cây trúc bên sông Tiêu Tương, để lại những ngấn lốm đốm rất đẹp. Rồi hai người gieo mình xuống sông Tương, trở thành nữ thần sông Tương.
(2) Cửu Nghi: nơi chôn vua Thuấn.
(3) Nhị phi: tức hai người vợ của vua Thuấn.
Đế Nghiêu thấy Thuấn tài đức bèn gả hai người con gái là Nga Hoàng và Nữ Anh cho Thuấn. Sau, Nghiêu truyền ngôi cho Thuấn, hai nàng làm phi tử.
(4) Ban trúc: trúc có vân lốm đốm, tức những cây trúc còn lưu lại ngấn nước mắt của Nga Hoàng và Nữ Anh. Loại trúc này có tên là "Tương Phi Trúc".
(5) Sắt: tên một loại đàn cổ của Trung Quốc.
Nguyên tác: Lưu Vũ Tích
</TD></TR><TR><TD style="TEXT-ALIGN: justify" colSpan=2>
</TD></TR></TBODY></TABLE>
Chân Trân
09-06-2006, 07:01 AM
<TABLE cellSpacing=0 cellPadding=1 width="100%" align=left border=0><TBODY><TR><TD align=left colSpan=2>Tiết Phụ Ngâm
</TD></TR><TR><TD style="TEXT-ALIGN: justify" colSpan=2>Quân tri thiếp hữu phu,
Tặng thiếp song minh châu;
Cảm quân triền miên ý,
Hệ tại hồng la nhu.
Thiếp gia cao lâu liên uyển khởi,
Lương nhân chấp kích minh quang lý.
Tri quân dụng tâm như nhật nguyệt,
Sự phu thê nghĩ đồng sinh tử.
Hoàn quân minh châu song lệ thùy
Hận bất tương phùng vị giá thì.
Dịch Nghĩa:
Bài Ca Người Tiết Phụ
Anh biết em đã có chồng,
Tặng em đôi hạt châu sáng.
Cảm động trước tình đeo đẳng của anh,
Em buộc vào áo lót mình bằng lụa hồng.
Nhà em có lầu cao kề bên vườn hoa,
Chồng em cầm kích túc trực trong điện Minh Quang. (1)
Vẫn biết lòng anh trong sáng như mặt trời, mặt trăng,
(Nhưng) em đã thề cùng sống chết với chồng.
Trả lại anh đôi hạt châu sáng, hai hàng nước mắt nhỏ sa,
Ân hận không gặp nhau lúc chưa lấy chồng.
Dịch Thơ:
Chàng hay em có chồng rồi,
Yêu em chàng tặng một đôi ngọc lành.
Vấn vương những cảm mối tình,
Em đeo trong áo lót mình màu sen.
Nhà em vườn ngự kề bên,
Chồng em cầm kích trong đền Minh Quang.
Như gương quyết chẳng phụ chàng thề xưa.
Trả chàng ngọc, lệ như mưa,
Giận không gặp gỡ khi chưa có chồng.
Bản dịch của Ngô Tất Tố
Chú thích:
(1) Minh Quang: Tên một điện trong hoàng cung triều Hán.
Nguyên tác: Trương Tịch
</TD></TR></TBODY></TABLE>
Chân Trân
09-06-2006, 07:03 AM
<TABLE cellSpacing=0 cellPadding=1 width="100%" align=left border=0><TBODY><TR><TD align=left colSpan=2>Trúc chi từ
</TD></TR><TR><TD style="TEXT-ALIGN: justify" colSpan=2>Dương liễu thanh thanh giang thủy bình,
Văn lang giang thượng xướng ca thanh.
Đông biên nhật xuất tây biên vũ,
Đạo thị vô tình hoàn hữu tình.
Dịch Nghĩa:
Trúc Chi Từ (1)
Dương liễu xanh xanh, nước sông phẳng lặng,
Nghe tiếng ca của chàng trên sông.
Bên đông mặt trời mọc, bên tây mưa
Nói là vô "tình" mà lại có "tình" (tạnh) (2)
Dịch Thơ:
Dòng sông phẳng lặng, liễu xanh xanh,
Trên sông nghe vẳng tiếng ca anh.
Bên tây mưa xuống, bên đông nắng,
Tuy nói vô tình lại có tình.
Chú thích:
Bài "Trúc chi từ" này mô phỏng làn điệu dân ca "Trúc chi" vùng Hồ, Tương, khác với "Trúc chi từ" vùng Quỳ châu.
Câu này có sự chơi chữ "hài thanh song quan" hai chữ "tình" câu cuối có nghĩa là "trời tạnh", ứng với 3 câu "đông nắng tây mưa" nhưng ngầm biểu đạt chữ "tình" là tình yêu.
Nguyên tác: Lưu Vũ Tích
</TD></TR></TBODY></TABLE>
Chân Trân
09-06-2006, 07:04 AM
<TABLE cellSpacing=0 cellPadding=1 width="100%" align=left border=0><TBODY><TR><TD align=left colSpan=2>Trúc chi từ II
</TD></TR><TR><TD style="TEXT-ALIGN: justify" colSpan=2>Sơn đào hồng hoa mãn thượng đầu,
Thục giang xuân thủy phách sơn lưu.
Hoa hồng dị suy tự lang ý,
Thủy lưu vô hạn tự nùng (2) sầu.
Dịch Nghĩa:
Trúc Chi Từ (1)
Hoa đào đỏ rực khắp trên đầu núi,
Mùa xuân, nước sông Thục giang vỗ vào vách núi trôi đi.
Màu hồng của hoa dễ tàn phai như ý chàng.
Nước chảy vô hạn như nỗi buồn của thiếp.
Dịch Thơ:
Hoa đào đỏ rực trên đầu núi,
Dòng sông vỗ sóng nước mênh mang.
Nước trôi vô hạn như tình thiếp,
Hoa dễ tàn phai tựa ý chàng.
Chú thích:
1. Bài "Trúc chi từ" này là bài thứ 2 trong "Trúc chi từ cửu thủ" (9 bài Trúc chi từ), tác giả viết theo làn điệu dân ca "Trúc chi từ" vùng Quỳ Châu. Thời gian này (821-824) Lưu Vũ Tích đang làm Quỳ Châu Thứ Sử (ông là một nhà thơ yêu thích dân ca, đến địa phương nào cũng học tập dân ca vùng ấy).
2. Nùng: (thiếp). Đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất. Phụ nữ miền Nam Trung Quốc tự xưng là "nùng".
Nguyên tác: Lưu Vũ Tích
</TD></TR><TR><TD style="TEXT-ALIGN: justify" colSpan=2>
</TD></TR></TBODY></TABLE>
Chân Trân
09-06-2006, 07:06 AM
<TABLE cellSpacing=0 cellPadding=1 width="100%" align=left border=0><TBODY><TR><TD align=left colSpan=2>Trúc chi từ VII
</TD></TR><TR><TD style="TEXT-ALIGN: justify" colSpan=2>Cù Đường tào tào thập nhị than,
Nhân ngôn đạo lộ cổ lai nan.
Trường hận nhân tâm bất như thủy,
Đẳng nhàn bình địa khởi ba lan.
Dịch Nghĩa:
Trúc Chi Từ VII
Cù Đường hiểm trở mười hai ngọn thác,
Người ta bảo đường này xưa nay thật khó đi.
Đáng giận lòng người chẳng như nước,
Khi không đất bằng nổi sóng dữ.
Dịch Thơ:
Cù Đường hiểm trở mười hai thác,
Xưa nay đường ấy thật gian nan.
Đáng giận lòng người chẳng như nước,
Khi không dậy sóng giữa đất bằng.
Chú thích:
1) Đây là bài "Trúc chi từ" thứ 7, trong "Trúc chi từ cửu thủ", mô phỏng dân ca Quỳ Châu.
Nguyên tác: Lưu Vũ Tích
</TD></TR></TBODY></TABLE>
Chân Trân
09-06-2006, 07:10 AM
<TABLE cellSpacing=0 cellPadding=1 width="100%" align=left border=0><TBODY><TR><TD align=left colSpan=2>Trường Can hành
</TD></TR><TR><TD style="TEXT-ALIGN: justify" colSpan=2>Thiếp phát sơ phúc ngạch
Chiết hoa môn tiền kịch
Lang kỵ trúc mã lai
Nhiễu sàng lộng thanh mai
Đồng cư Tràng An lý
Lưỡng tiểu vô hiềm sai
Thập tứ vi quân phụ
Tu nhan vị thương khai
Đê đầu hướng ám bích
Thiên hoán bất nhất hồi
Thập ngũ thủy triển mi
Nguyện đồng trần dữ hôi
Trường tồn bão trụ tín
Khởi thượng vọng phu đài
Thập lục quân viễn hành
Cù Đường , Diệm Dự đôi
Ngũ nguyệt bất khả xúc
Viên thanh thiên thượng ai
Môn tiền cựu hành tích
Nhất nhất sinh dục đài
Đài thâm bất khả tảo
Lạc diệp thu phong tảo
Bát nguyệt hồ điệp hoàng
Song phi tây viên thảo
Cảm thử thương thiếp tâm
Tọa sầu hồng nhan lão
Tảo vãn há Tam Ba
Dự tương thư báo gia
Tương nghênh bất đạo viễn
Trực đáo Trường Phong Sa
Dịch Nghĩa:
Bài hành Trường Can I
Tóc em mới xoà ngang trán
Bẻ hoa trước cửa nhà chơi
Chàng cửa ngựa tre đến
Quanh giường nghịch ném quả mơ xanh
Cùng sống ở đất Trường Can
Hai đứa nhỏ chẳng hề giữ ý
Năm mười bốn làm vợ anh
Mặt thẹn thò không lúc nào tươi
Cúi đầu ngoảnh vào vách tối
Gọi nghìn câu chẳng một lời đáp lại
Năm mười lăm mới tươi tỉnh mặt mày
Nguyện sống chết chẳng rời nhau
Thường tin chàng như người ôm cột một lòng
Há tưởng thiếp phải lên đài cao ngóng chồng
Năm mười sáu chàng đi xa
Đến Cồ Đường , Diệm Dự
Tháng năm nơi ấy không thể qua
Tiếng vượn kêu vang trời thảm thiết
Trước cửa dấu chân bước dạo xưa
Chỗ nào cũng rêu xanh phủ mờ
Rêu dầy không quét được
Lá sớm rụng theo gió mùa thu
Tháng tám bướm bay vàng chới
Từng đôi dập dùi trên vườn cỏ phía tây
Cám cảnh ấy , lòng thiếp đau đớn
Ngồi buồn , tuổi con gái ngày một già
Sớm muộn chàng tới Tam Ba
Hãy gửi thư về nhà báo trước
Đón nhau ngại vì đường xa
Thiếp sẽ tời tận Trường Phong Sa
Dịch Thơ:
Khi tóc vừa buông trán
Hái hoa trước cổng chơi
Chàng cưỡi ngựa tre đến
Quanh giường tung trái mai
Trường Can cùng chung xóm
Cả hai đều thơ ngây
Mười bốn, về làm vợ
Thiếp còn e lệ hoài
Cúi đầu vào vách tối,
Gọi mãi, chẳng buồn quay
Mười lăm, mới hết thẹn
Thề cát bụi không rời
Bền vững lòng son sắt
Há lên Vọng phu đài
Mười sáu, chàng đi xa
Cù Đường, Diễm Dự đôi
Tháng năm không đến được
Vượn buồn kêu trên trời
Trước cổng vết chân cũ
Rêu xanh mọc um đầy
Rêu nhiều không quét hết
Gió thổi, lá vàng rơi
Tháng tám bươm bướm vàng
Trên cỏ vườn bay đôi
Cảnh ấy đau lòng thiếp
Má hồn buồn phôi pha
Khi chàng xuống Tam Ba
Nhớ gởi thư về nhà
Thiếp sẽ mau đi đón
Đến thẳng Trường Phong Sa
Bản dịch của Trần Trọng San
Tóc em mới kín trán
Trước cửa bẻ hoa đùa
Chàng cưỡi ngựa trúc lại
Quang ghế tung mơ chua
Cùng ở xóm Trường Can
Đôi trẻ vui tha hồ
Mười bốn làm vợ chàng
Thơ ngây em hổ thẹn
Bên vách cúi gầm đầu
Mặc dầu chàng gọi đến
Mười lăm mới bạo dạn
Quấn nhau không muốn rời
Ôm cột nguyền giữ ước
Vọng phu chẳng lên đài
Mười sáu chàng đi xa
Tháp Cồ, hòn Diệm Dự
Nước lớn đang tháng năm
Vượn kêu buồn lắm nữa
Vết giày in trước cửa
Xanh xanh rêu mọc đầy
Rêu nhiều không thể quét
Lá rụng gió thu bay
Tháng tám bươm bướm vàng
Bay đôi trên áng cỏ
Xúc cảm em đau lòng
Héo già thương má đỏ
Chàng sớm rời Tam Ba
Báo thư trước về nhà
Đón chàng em há quản
Đến tận Trường Phong Sa
Bản dịch của Trúc Khê
Nguyên tác: Lý Bạch
</TD></TR></TBODY></TABLE>
CaCanh
01-07-2008, 11:02 PM
Bài Thanh Hà tác này của Ngụy Văn đế Tào Phi em thấy cũng hay:
Phương chu hí trường thủy, đạm đạm tự phù trầm
Huyền ca phát trung lưu, bi hưởng hữu dư âm
Âm thanh nhập quân hoài, thê thương thương nhân tâm
Tâm thương an sở niệm? Đán nguyện ân tình thâm
Nguyện vị thần phong điểu, song phi tường Bắc lâm
Dịch nghĩa
Hai chiếc thuyền nhỏ cùng bơi trên dòng nước
theo dòng nước trong mà dập dờn trên sóng. [Bỗng] có tiếng đàn tiếng hát phát ra từ trên dòng nước. Âm thanh đó uyển chuyển du dương mãi. Rồi âm thanh ấy tràn vào nỗi hoài cảm của nàng. Nó buồn man mác khiến thương cảm lòng người. Lòng người thương cảm biết bầy tỏ làm sao? Chỉ mong ân tính chúng ta thêm sâu nặng. Nguyện xin làm đôi chim Thần phong kia, để cùng nhau bay tới rừng Bắc lâm.
vBulletin® v3.6.11, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.