PDA

View Full Version : THẤT CHÂN NHÂN QUẢ ( tập truyện)


DaoKy
03-08-2004, 10:17 PM
THẤT-CHƠN NHƠN-QUẢ




HỒI THỨ NHỨT



Liên bần khốn, ngẫu thi trắc ẩn,

Nhập mộng mị, minh chỉ tiền trình.

Nghĩa là:

Thương người khó nghèo, liền ra lòng trắc ẩn,

Ðem vào chiêm bao, chỉ tỏ việc đường trước.

Có bài kệ rằng:

Làm lành phải giữ thiệt lòng cam,

Ðừng muốn lời khen giả chí ham,

Hư dối tiếng chê nào khá đặng,

Trở thành bị nói việc gian tham.

Mấy câu thi trên đây, ý nói việc làm lành phải giữ chắc thiệt, bằng làm chi muốn cho người biết mà khen, muốn đặng việc tốt cho mình, đó là hư dối; ham tiếng khen chẳng có lòng chơn thiệt, còn người nghèo khó cậy nhờ chẳng đặng, tuy có tiền bao nhiêu cũng khó nên việc lành thiệt. Ðã chẳng làm nên việc lành, trước mặt có chỗ lầm sai, sao lại đặng hưởng phước mà than thở?

Thuở đời Tống gần hết, tỉnh Xiểm-Tây, huyện Hàm Dương có một "Ðại-Ngụy-Thôn", trong thôn ở hơn mấy trăm nhà, hết nữa phần mang họ Vương là một tộc lớn.

Trong tộc họ Vương có một người đàn bà góa, hơn 40 tuổi sanh đặng một trai, một gái đều gã cưới rồi, bà ở tâm tánh từ hòa, lòng hay háo thiện, hễ thấy con ai cũng như con mình thường hay kêu con con, vì vậy trẻ nhỏ biết chừng, hễ khóc thì kêu Má Má, bà nghe liền ứng nói: Má đây con! Má đây con!

Người người kêu bà là "Vương Má Má". Trong nhà giàu có, bình sanh hay làm việc lành, thương người tu hành, thường hay trai tăng bố thí, bái Phật tụng Kinh, nên ai cũng biết bà là người lành.

Thường ngày thầy chùa hay tới quyên tiền, kẻ nghèo khổ hằng bữa xin ăn. Khi đó nhằm tiết mùa Ðông, trời mưa rất lớn, Vương Má Má ra đứng trước cửa, thấy hai người ăn mày đi đến xin bà trợ giúp, bà trách rằng: "Sao không đi làm mà ăn? Ðể đi xin cực khổ. Chắc làm biếng lắm, ham nhàn du hí, ai có cơm tiền dư mà cho bây?". Bà nói dứt lời có mấy thầy chùa đến quyên tiền, bà lật đật lấy tiền gạo đem cho.

Hai người ăn mày thấy vậy hỏi rằng: "Bà sao ham thí cho thầy chùa mà không giúp kẻ nghèo khó? Cớ sao vậy?".

Vương Má Má nói: "Chẳng phải ta ham thí cho thầy chùa, vì thầy biết tụng kinh, biết tu hành, ta bố thí tiền gạo cho người, người tụng kinh tiêu tai cầu thọ cho ta. Còn giúp đỡ cho bọn bây chẳng qua là ở trước nhà ta nói giỡn cho vui, nào có ích chi đâu?".

Hai người ăn mày nói: "Trong kinh có nói: làm ơn chẳng cầu trả, còn cầu trả chẳng phải làm ơn. Nay bà cho một chén gạo ít đồng tiền mà mong cầu cho tiêu tai thêm tuổi, như vậy sợ bà lầm chăng?". Nói rồi bỏ đi.

Có bài kệ rằng:

Bố thí chay tăng thiết việc lành,

Ðói nghèo khổ cực phải thương đành,

Chỉ cho tăng đạo, không thương khó,

Mất chỗ công lành trước tỏ rành.

Hai người ăn mày thấy bà chẳng chịu cho, nói rồi bỏ đi. Tới xóm trước thấy một cái cửa lầu sơn đỏ, liền kêu một tiếng lớn: "Gia gia cầu giúp!". Nhà ấy là nhà ông họ Vương tên là Hỷ, hiệu là Thanh-Ðức, mặt đỏ râu dài thần sắc hẳn hòi có chí lượng lớn, ước chừng 40 tuổi ngoài. Lúc nhỏ có học thi thơ, công danh chẳng đậu, bỏ văn tập võ, thi đậu Võ-Khôi, làm quan Hiếu Liêm.

Bữa nọ trời mưa lớn, Hiếu-Liêm cùng người vợ là Châu-Thị với con tên Thu-Lan, đang ngồi vây bếp lửa đốt hơ, vẳng nghe bên ngoài cửa: Gia gia cầu giúp! Ông nghe liền ra coi, thấy hai người ăn mày, ông hỏi rằng: "Việc cầu gia gia tế giúp, hay là gia gia cầu tế giúp?"

Hai người đáp rằng: Việc chẳng khá tỏ, nói rõ ắt sinh nghi.

Ông nghe nói chẳng nhằm lẽ rồi cũng chẳng hỏi nữa, lại thầm tưởng đương khi mưa lớn dãy đầy trời đất, núi khuất chim bay không thấy, đường không người đi, sao lại thấy hai người mặc áo mỏng chịu lạnh? Ông liền động lòng trắc ẩn, bèn nói: "Mưa lớn lạnh lắm hai người đi sao đặng? Thôi ở lại đây, bên cửa tôi có cái nhà trống, trong nhà có ván nhỏ nằm nghỉ cũng đặng, thỉnh hai anh vô nghỉ chơn, để hết mưa sẽ đi".

Hai người đáp rằng: "Như vậy tốt lắm!". Ông liền mở cửa cho hai người vô nghỉ, rồi trở vào nhà biểu tôi tớ dọn cơm cho hai người ăn.

Có bài kệ rằng:

Ít người trọng nghĩa đặng khinh tài,

Chịu rước khổ nghèo thỉnh đáo lai,

Chỉ có khi xưa Vương-Võ-Cử,

Bình sanh khẳng khái biết dồi mài.

Hai người ăn mày ở tại nhà Võ-Cử (Hiếu-Liêm) hai bữa mới hết mưa, ý muốn dời, liền thấy Võ-Cử đi đến, có đứa tớ gái tên Ngọc-Khuê bưng một mâm rượu. Ông nói rằng: "Mấy ngày rày tôi không rảnh cùng hai anh chuyện vãn, vậy xin mời hai anh uống chén rượu luận đàm việc ấm lạnh, chưa biết hai anh chịu không?"

Hai người đáp rằng: " Rất hay!"

Rồi ông kêu Ngọc-Khuê dọn tiệc mời ăn, hai người cũng không từ nhượng lễ, liền ngồi dùng hết hai bầu rượu. Tiệc đã vừa say, ông hỏi rằng: "Tôi chưa biết hai anh tên họ chi? Bình sanh làm nghề gì? Xin hai anh tỏ bày."

Ðáp rằng: "Anh em tôi từ bé đến nay chưa biết buôn bán nghề chi, cũng không muốn tạo việc bó buộc. Tôi tên là Vô Tâm-Xương, anh đây tên Kim-Trọng."

Võ-Cử hỏi: "Ý tôi muốn giúp chút tiền vốn cho hai anh làm sanh lợi qua ngày thì khá hơn đi xin ăn khó nhọc, không biết ý hai anh tính sao?"

Kim-Trọng nói: "Không đặng! Tôi bình sanh hay quen đạm bạc du nhàn, chẳng muốn việc ràng buộc tay chơn."

Ông nghe Kim-Trọng nói biết không chịu, lại hỏi Vô-Tâm Xương rằng: Anh Kim-Trọng không chịu sanh lợi, còn anh chịu chăng?

Vô-Tâm-Xương đáp: Tôi còn hơn anh đó nữa! Có nghe trong sách nói: "Gia kê hữu thực than qua cận. Giả hạc vô lương thiên địa khoan". Nghĩa là: Gà nhà tuy có lúa ăn mà chảo nước gần một bên, chẳng biết bữa nào vô đó. Con hạc tuy ở rừng không lương thực mà trời đất rộng rãi bay cao bay thấp tự lòng, khỏi ai ngăn đón. Như tôi thọ của này là cái mối ràng buộc mà nhục cầu lợi nhỏ, ắt thân này phải lao lực, sao đặng chỗ tiêu diêu?

Vương-Võ-Cử than rằng: Tỉnh thay! Nghe hai anh nói thật thanh nhàn, chí đủ cao xa. Tôi xem hết cuộc đời trong thiên hạ, nhiều người trọng việc quan tước, lấy chỗ tiền bạn ân ái mà làm vui. Như hai anh nay theo việc thanh nhàn, vui riêng đạo đức, nào ai biết đặng.

Vô-Tâm-Xương nói: Bạn tôi thật chẳng cầu ai biết, nguyện Trời Ðất hay mà thôi; như muốn cầu người biết thì chẳng vào chỗ xin ăn này.

Vương-Võ-Cử nghe nói lời siêu quần trên bực, chẳng dám khuyên nữa, rồi biểu Ngọc-Khuê dọn dẹp bàn tiệc, mời vào nhà trong.

Bữa sau hai người thưa đi, Vương-Võ-Cử đưa ra ngoài xóm cách một dặm đường, trong lòng còn mến chẳng đành trở lại, đưa thêm một đổi, liền thấy cái cầu giữa đường, ông thầm tưởng: xóm này chẳng có cầu, giống như cảnh lạ. Trong ý sanh nghi, ngó lại liền thấy Ðại-Ngụy-Thôn mù mù xa lắm, ông đương suy nghiệm, kế vẳng nghe Vô-Tâm-Xương kêu: Ông Hiếu-Liêm! mau lại đây nói chuyện. Hiếu-Liêm ngó lại thấy hai người ngồi tại đầu cầu, nghe Kim-Trọng vỗ tay ca, ấy là muốn mở rộng cái ý của Hiếu-Liêm.

Ca rằng:

Của tiền tụ tán hề; áo mão lâu cũng hoại!

Có ai như ta hề; gởi thân cho thế ngoại!

Chẳng thiếu tiền lương hề; khỏi mắc nợ oan trái!

Chẳng nói hơn thua hề; chẳng luận hưng cùng bại!

Chẳng giao việc tục hề; khỏi bị người chê dại!

Một áo bá nạp hề; năm năm thường mặc hoài!

Rách lại vá lành hề; dơ giặt phơi tự toại!

Ban ngày mặc lên hề; tối thay làm mền cái!

Chẳng sợ trộm tham hề; cũng không người quấy dại!

Thường giữ tiêu diêu hề; một lòng chơi thượng giới!

Ai biết ý ta hề; thời phải cúi đầu lại!

Phép ta vô cùng hề; khiến người ngàn năm toại!

Tiếc người chẳng biết hề; đem ơn trở làm hại!

Vương-Hiếu-Liêm nghe ca dứt rồi Vô-Tâm-Xương nói: Hiếu-Liêm có lòng đưa xa đáng đãi một chén rượu. Dứt lời, trong tay áo lấy ra bầu rượu rót một chén mời Hiếu-Liêm uống. Ông uống luôn ba chén, liền quì lạy tạ ơn dường như uống đặng linh đơn, cười luôn ba tiếng khí tượng hân hoan rồi nằm trên cầu mê man như ngủ. Xảy đâu Vô-Tâm-Xương chạy lại kêu: Ðừng ngủ! Ðừng ngủ! Ði chơi cùng ta xem coi cảnh lạ. Vương Hiếu-Liêm lúc đó say rồi, chiêm bao mơ màng đi theo Vô-Tâm Xương một đỗi, thấy có tòa núi cao cản lại giữa đường, Hiếu Liêm nói: Núi cao làm sao lên đặng? Trong lòng còn sợ khó. Kim-Trọng nói: Theo đường của ta tự nhiên lên đặng. Hiếu Liêm liền theo Kim-Trọng một khắc tới đảnh, rất xinh bằng phẳng, có một cái ao lớn, trong ao có bảy bông sen vàng, sinh tốt lạ thường.

Hiếu-Liêm thấy trong lòng ham muốn, khen rằng: Bông sen tốt quá! làm sao hái cho tôi một bông. Ông nói vừa rồi Vô-Tâm Xương nhảy xuống ao, bảy bông sen đều hái hết, đưa cho Vương-Hiếu-Liêm mà rằng: Giao hết cho ngươi, phải gìn giữ cẩn thận, bảy bông sen này có bảy vị chơn-nhơn là: Khưu, Lưu, Ðàm, Mã, Xích, Vương, Tôn. Bảy người cùng Hiếu-Liêm có duyên thầy trò, ắt có ngày gặp nhau đặng mở dạy đường Ðạo. Vậy phải nhớ hoài mới chẳng phụ lòng ta cho ngươi bảy bông sen này.

Hiếu-Liêm muốn trở về nhà bèn hỏi rằng: Chừng nào gặp hai anh nữa?

Vô-Tâm-Xương đáp: "Hội kỳ nguyên bất viễn, chỉ tại lưỡng cá tam. Nhưng tùng ly xứ ngộ, kiều biên liễu vạn viên."

Hiếu-Liêm nghe dứt liền bước chơn xuống núi, xảy bị bên đường cản sợi dây vấp té xuống núi.

Ðừng nói lên cao mà chẳng dễ,

Phải biết xuống thấp mới gian nan.

DaoKy
03-08-2004, 10:30 PM
HỒI THỨ HAI


Vạn-Viên kiều, Lữ-Tổ thân truyền Ðạo,

Ðại-Ngụy thôn, Hiếu-Liêm giả trúng phong.

Nghĩa là:

Chỗ cầu Vạn-Viên, Lữ-Tổ truyền Ðạo cho Hiếu-Liêm,

Thôn Ðại-Ngụy, Hiếu-Liêm giả trúng phong (mà tu hành).

Có bài kệ rằng:

Rồi tỉnh cũng như đặng báu trân,

Không thông nhà kín sẽ sáng lần,

Thân này chẳng tính kiếp nay độ,

Còn đợi kiếp nào độ lấy thân?

Khi đó Vương-Hiếu-Liêm đem bảy bông sen ôm trong lòng dời chơn xuống núi bị dây vấp, giựt mình tỉnh sợ muôn việc đều không; thiệt là một giấc chiêm bao, mở mắt thấy ở tại nhà mình lại thấy con Thu-Lan đứng một bên. Ông ho một tiếng Thu-Lan nghe mừng kêu: Cha tỉnh rồi! Kinh động bà Châu-Thị lật đật hỏi thăm: Tướng công tỉnh say rồi chăng?

Hiếu-Liêm gật đầu nói rằng: Việc rất kỳ quái!

Bà nói: Việc này tại mình làm mê nào có chi kỳ quái?

Ông rằng: Tôi rõ ràng đưa khách ra đi, sao mà còn nằm trong nhà đây?

Châu-Thị đáp rằng: Tướng công thiệt quá! Bữa trước ông đưa hai người ăn mày hơn nữa ngày không về, tôi sai người đi kiếm mấy lần không thấy trong lòng không yên, mượn chú Vương-Mậu cùng con Ngọc-Khuê chạy kiếm nữa mới thấy ông nằm trên cầu, cách hơn hai chục dặm, mê man bất tỉnh, lấy xe chở ông về ngủ đến bữa nay gần hai ngày rồi. Xin ông từ đây đến sau phải giữ gìn bổn phận, rượu phải ít uống. Những người chẳng quen, ông chớ khá chơi bời, vì mình thọ tước triều đình xóm làng đều kỉnh. Nếu say sưa nằm bờ bụi còn gì thể diện? Thất chỗ oai nghi, bị thiên hạ chê cười mà hổ với người đồng bạn. Xin ông tự hối.

Hiếu-Liêm nghe bà nói lật đật ngồi dậy tạ ơn rằng: Nay tôi nghe lời bà khuyên cũng như thuốc hay mà cứu đặng người hết bịnh, tôi nào chẳng dám ghi lòng. Thiệt bữa trước tôi nghĩ hai người bạn khó chắc là hai vị Thần Tiên.

Bà nói: Thế ông chưa tỉnh! Hai người ăn mày rõ ràng sao ông lại nói Thần Tiên?

Ông đáp: Bởi nghe lời nói của người, hoặc việc làm, xét hạnh nết, nên biết chắc là Thần Tiên.

Bà hỏi: Y nói điều chi? Làm những việc gì mà chắc phải Thần Tiên?

Ông liền nhắc việc giúp tiền buôn bán sanh lợi, khỏi chỗ đi xin đặng làm ăn thong thả, hai người cũng không chịu, mà lại thuật chuyện con gà và con hạc. Qua bữa sau đưa có ít bước mà coi lại hơn mấy mươi dặm, ngâm mấy bài ca, cùng cho uống rượu, lên hái bông sen, chừng trở lại vấp dây té xuống. Thuật hết đầu đuôi cho bà nghe v.v... Uống có ba chén rượu mà say hết mấy ngày như vầy chẳng phải Thần Tiên có việc lạ hay sao?

Bà rằng: Tôi thường nghe người nói trong thế gian có nhiều người chẳng tốt, hoặc làm tà thuật thâu đường, mới khởi hơn mấy bước, mà xa cách mấy mươi dặm! Lại bỏ thuốc mê trong rượu, thấy người có tiền làm bộ đãi mời mình uống mê man đặng lấy tiền bạc quần áo của người. Như mình không giữ trước thì sau ắt phải bị họa.

Bà nói rồi, ông xét nghĩ rằng: Tánh ý đàn bà không có rộng, nếu biện nói hoài sợ gây ra nhiều chuyện, thà thuận ý đặng rãnh việc mình. Liền tùy theo lời bà, đáp rằng: Mấy lời của bà thiệt đáng vàng ngọc, tôi nào dám chẳng tuân. Châu-Thị nghe nói liền trở ra, rồi ông một mình ngồi trong thơ phòng tư tưởng lời nói của ông Kim-Trọng cùng Vô-Tâm-Xương chỉ dạy, suy nghĩ việc đó mấy ngày.

Có một lúc nọ đương ngủ, nữa đêm thinh không ngồi tỉnh ngộ rằng: Kim-Trọng hai chữ hiệp lại là chữ "Chung", còn Vô Tâm-Xương không có hai chấm ở trong thành chữ "Lữ", rõ ràng "Chung, Lữ" hai ông Tiên (trong Bát Tiên) tới mà độ mình!

Tôi nay thiệt không duyên phận, báu để trước mặt mà bỏ qua, tưởng đi xét lại thật chẳng sai, rõ ràng ông Hớn-Chung-Ly với ông Lữ-Ðộng-Tân. Thấy mình lầm rồi, than rằng: Tiếc thay! Tiếc thay! Lại nhớ khi từ biệt ông có nói mấy lời: "Hội kỳ nguyên bất viễn, chỉ tại lưỡng cá tam. Nhưng tùng ly xứ ngộ, kiều biên liễu vạn viên".

Nghĩa chữ "bất viễn" là chẳng xa, việc chỉ về gần. Chữ "lưỡng cá tam" nghĩa là 2 cái 3, chắc là mồng 3 tháng 3. Chữ "ly xứ ngộ" nghĩa là chỗ lìa mà đặng gặp, chắc là phải tầm chỗ khi mình ly biệt thì đặng gặp. Chữ "liễu vạn viên" nghĩa là rồi hết muôn việc chắc ý vậy.

Hiếu-Liêm xét nghĩ đặng rồi trong lòng vui mừng. Ngày tháng như thoi đưa, máy quang-âm như tên bắn, chẳng bao lâu hết mùa Ðông, rồi Xuân đến.

Có bài kệ rằng:

Một năm khí tượng một năm dài,

Muôn việc tranh đua thiệt rất sai,

Trẻ nhỏ nhi đồng mau lẹ lớn,

Coi rồi lại thấy bạc đầu hoài.

Ông Hiếu-Liêm đợi qua hết năm rồi đến ngày mùng 3 tháng 3, lén một mình ra khỏi nhà, y theo đường cũ, đi tới chỗ cầu, đợi hồi lâu chẳng thấy hai ông đến, đứng lại cầu ngó mong, xảy nghe sau lưng có người kêu rằng: Hiếu-Liêm đến sớm vậy? Ông nghe ngó lại thiệt thấy hai người khi trước rõ ràng, lật đật chạy lại nắm tay áo nói rằng: Từ khi hai vị Ðại-Tiên đi rồi đệ tử tưởng nhớ trông đợi không quên. Vô-Tâm-Xương cùng Kim Trọng nghe nói đi lại đầu cầu ngồi. Hiếu-Liêm quì trước thưa rằng: Ðệ tử thiệt mắt thịt thân phàm, chẳng biết được Tiên Chơn hạ giáng, tôi thiệt lầm lỗi, xin cầu xá tội. Ngày nay đặng thấy hai vị Ðại-Tiên, thiệt là tam sanh hữu hạnh; cầu nguyện chỉ dạy chỗ đường mê, đặng lên bờ giác ngộ, đệ tử cám ơn không cùng, xin thầy đừng bỏ. Nói rồi lạy hoài không thôi.

Hai ông thấy vậy cười lớn, trong miệng thấy hơi Kim-quang chiếu sáng cải đổi hình dung. Ông bên tả bới hai đầu tóc, bận áo dài, mặc như táo đỏ, mắt sáng tợ sao, râu dài tới bụng, tay cầm quạt lông. Bên hữu một ông bịt khăn cửu lương, bận áo bào vàng, mặt tròn như trăng, mắt sáng tợ đèn, râu năm chòm tới gối, tay cầm song kiếm. Quả thiệt là Hớn-Chung-Ly cùng Thuần-Dương Lữ-Tổ. Hiếu-Liêm lạy hoài chẳng dám ngó lên.

Lữ-Tổ nói rằng: Ðời thượng cổ lòng người chơn thiệt, phong tục thuần lương, trong việc học Ðạo trước dạy phép thuật đặng giữ mình, sau mới truyền huyền công tu dưỡng.

Còn đời nay thế tục suy đồi, lòng người chẳng giống như xưa, bằng trước truyền phép thuật, ắt phải trở hại mình. Nên trước truyền huyền công tu dưỡng, chẳng tranh phép thuật thân mới đặng an, không dùng biến hóa thì chỗ Ðạo thành; hễ Ðạo thành thì muôn việc đều thông, tuy chẳng cầu pháp thuật, mà pháp thuật đặng hiển. Thiệt là Ðạo toàn chơn.

Ông giảng dạy việc toàn chơn diệu lý nói rằng: Ðây gọi toàn chơn là trước sau trọn việc chơn, không có ý giả. Người đời ai mà không có lòng chơn? Như đặng chỗ chơn mà không giữ để nó đổi ý giả nhận làm việc chơn thì đó chẳng phải là chơn rồi. Còn ai mà chẳng có ý chơn? Nếu như chẳng giữ để xen tạp việc dối thì mất chỗ chơn. Ai lại không có tình chơn? Nếu chẳng giữ để nó tư niệm, các việc nhiễm lậu thì sai mất chỗ chơn. Bởi cái Tâm, Ý, Tánh, khi ban đầu thiệt chơn, vì tại chẳng tập sửa chế, để tán kế biến đổi việc huyễn mị thì thành ra chỗ giả, phải mất chỗ chơn. Ba việc ấy do tại chỗ: Thiên-Tánh, Lý-Tánh và Bổn-Tánh, ba cái tánh ấy thường hay bền tốt; hễ có phát ra thì tại chỗ Thiên-Lương (1) làm việc chi thường thấy tự nhiên như nguyện.

Vì cái lòng là chủ cái ý; tình là khách của ý. Hễ lòng có ý chơn, tình chơn, thì trong tình ý thấy đặng lòng chơn do lòng phát ra ý thiệt, do ý thiệt mới có tình ngay thì máy thiên cơ hiện đủ! Như vậy mà người chẳng chơn sao đặng? Vì tại người không có Tâm Chơn thì chẳng có ý thiệt, ý chẳng thiệt, tình chẳng ngay, làm chi cũng khó nên đặng.

Thường thấy người học Ðạo, khi vọng niệm tự dấy động, hay tưởng nhớ các việc: hễ có ý riêng thì lòng chẳng đặng chơn. Còn lúc Tình thì dục tưởng theo hoài, hễ có cái niệm thì lòng chẳng đặng thiệt, chỗ động tịnh cũng đều vọng, thì tư dục chẳng dứt. Như vậy làm sao đặng thành? Vì tại lòng chẳng chơn sanh mối nghi hoặc, hoặc trọn không chơn ý, nửa chơn nửa giả; đương khi việc chơn giả là trời người tương tiếp, người thú hai đường, nên hư tại đó, ý tình chẳng cho qua đặng, như mười mắt xem, mười tay chỉ. Cho nên người học Ðạo phải có 3 việc sợ, 4 việc biết (2) vì vậy mà nhà tối chẳng khá khinh.

Còn như mình muốn nghiệm xét chỗ Ðạo chơn, trước phải hỏi cái Tình, như Tình chơn thì khá biết Tâm Ý cũng đồng chơn; bằng như chưa đặng chơn, thì các việc đều còn giả. Nên việc tu chơn phải lấy Ý làm trước. Bởi cái Ý nó hay thông hiểu các việc, tưởng đâu thì nhiễm đó, hễ Ý thành, Lòng thành, Tình thiệt, thì tự nhiên chắc đặng chơn thiệt.

Còn như muốn biết việc chơn cùng chẳng chơn, thì trước xem lời nói, bằng lời nói không chắc thì chẳng phải lòng chơn. Xét việc làm, như việc làm chẳng tuân lãnh các lời trên dạy, cực khổ không cam, thì biết ý chẳng phải thiệt.

Bởi vậy việc tu là tu trừ cái Tâm ngoài Tâm; cái Ý ngoài Ý; Tình ngoài Tình; chẳng tham chẳng nhiễm, đều bỏ ra ngoài, quyết phải sửa bề trong làm nhứt. Ðương khi khởi muốn điều chi, nói quấy việc chi, không nhằm lẽ Ðạo thì phải thâu cái chí Thiên-Lương, bỏ dứt Tâm-Phàm, đừng cho nghi tưởng, hai lòng xen tạp tình ý chẳng cho rối loạn (Thí như mình muốn làm ruộng, thì phải cày bừa cho kỹ, cỏ đào cho sạch gốc thì tự nhiên không sanh lại). Như vậy mới gọi là thiệt, trong ngoài một mảy không giả, gọi là Toàn Chơn.

Lữ-Tổ đem lẽ Toàn Chơn dạy cho Hiếu-Liêm rồi biểu Hiếu Liêm quì day mặt hướng Nam. Lữ-Tổ lấy tay xỉ trong mặt lần thứ nhứt cũng không có sắc buồn. Lần thứ nhì xỉ một cái mạnh cũng để ý tự nhiên. Qua lần thứ ba, ông xỉ thiệt mạnh khiến Hiếu-Liêm trật chơn té ngửa mà Hiếu-Liêm cũng cười, liền đứng dậy lạy, thưa rằng: Thân khó đặng sanh mà may sanh; Ðạo khó đặng gặp mà may gặp. Nay nhờ Trời mở hội, đường Huỳnh Ðạo đặng nghe, nhờ phụ mẫu hiệp thành thân, ơn trọng thầy cứu mạng. Lữ-Tổ nghe nói dứt lời, biết Hiếu-Liêm thấu đặng huyền cơ, bèn chỉ qua việc tu: Luyện kỹ, trúc cơ, an lư, lập đảnh, thể dược hườn đơn, hỏa hầu, sưu thêm, các việc công phu dạy đủ. Vương-Hiếu-Liêm thọ giáo tu hành. Lữ-Tổ nói rằng: Như trò Ðạo thành rồi phải mau qua Sơn-Ðông độ bảy vị Thất Chơn. Bảy vị đó khi trước là 7 cái bông sen vàng đưa cho trò đó! Lữ-Tổ dặn dò xong rồi cùng Chung-Tổ sửa mình: Một ông cầm song kiếm, một ông cầm quạt lông, vụt một cái hóa ra hai con hạc, hai vị liền cỡi đi mất.

Vương-Hiếu-Liêm ngó theo trên không trung, quì lạy rồi trong lòng còn tư tưởng hai Tiên, lại thấy Vương-Mậu với Ngọc Khuê chạy tới nói rằng: Tôi vâng lệnh bà đến kiếm ông, định chắc ở đây, may quá đặng gặp, mau thỉnh ông về, sợ bà trông đợi. Hiếu-Liêm theo về, trong lòng thầm nhớ lời Lữ-Tổ dạy Ðạo, thâu thúc không rời. Về đến nhà vào phòng nằm nghỉ.

Bà Châu-Thị nghe nói ông về, vô hỏi thăm, hỏi đôi ba lần không thấy trả lời, dường như có ý tưởng nhớ việc chi, bà thấy vậy khuyên ông rằng: Mấy lần rồi không tiếc thân thể, cứ buông khơi ra ngoài, khiến cho tôi lo sợ, e có ngày thất hư phẩm hạnh. Hiếu-Liêm đương tư tưởng việc huyền công chẳng hề nghe tới. Bà lại khuyên nói một hồi lâu chừng đến câu thất hư phẩm hạnh, ông liền đáp theo: Thất hư phẩm hạnh? Thất hư phẩm hạnh? Bà nghe ông nói lời trái lý không nhằm, chắc trong mình có bịnh nên chẳng hỏi nữa, liền trở ra. Ông lại trong lòng tưởng rằng: Nghĩ việc khiên triền còn khuấy rối như vậy, tu sao đặng thành công? Khó đặng liễu Ðạo! Nếu chẳng lập phép đoạn dứt trần duyên này e trọn đời khó đặng giải thoát. Thầm tưởng hồi lâu, tính ra một kế: Hễ thấy ai tới thì trong miệng làm như nói không ra tiếng, việc nhà đều không ngó ngàng tới nữa, nằm tại thơ phòng làm như người mất trí.

Ăn mặc không cần, ngơ ngơ như người thất vọng. Bà thấy vậy lo rầu chẳng xiết, mỗi ngày hỏi thăm mấy lần, thấy ông bua lua ba-la nói nghe chẳng rõ, cứ ngẩn ngơ lắc đầu; bà không biết làm sao, liền sai Ngọc-Khuê đi thỉnh bạn hữu của ông đặng hỏi coi cớ sao vậy. Mấy người bạn cùng ông thường hay thương mến tin cậy, có việc thỉnh thì đến liền. Khi đó thấy người đến thơ phòng hỏi thăm rằng: Hiếu-Liêm nay khá bớt chăng? Hiếu Liêm nghe hỏi lắc đầu lấy tay khoác, nói nghe không đặng. Mấy người thấy vậy biết là có bệnh, mà chẳng hiểu bệnh chi. Có một người nói: Tôi coi bệnh của ông giống bệnh trúng phong bất-ngữ, chẳng biết phải không? Xóm bên đông có ông Trương-Hải-Thanh làm thuốc có tiếng, vậy thỉnh đến coi mạch thì biết căn bệnh. Châu-Thị nghe nói, sai Ngọc-Khuê đi thỉnh, hồi lâu thầy đến. Bạn hữu đứng dậy mời thầy uống nước rồi thuật lại chứng bệnh cho thầy nghe, thỉnh thầy coi mạch. Lúc thầy coi mạch rồi, biết mạch không bệnh, mà cũng y lời mấy ông nói rằng: Thiệt quả bệnh trúng phong bất-ngữ, để tôi hốt ít thang chắc mạnh. Nói rồi liền biên toa.

Vì ông Võ-Cử thiệt không bịnh,

Chẳng phải tiên-sanh trị chẳng minh.



Chú thích hồi thứ hai:

(1) Người có đạo mới biết chỗ Thiên-Lương, muốn biết phải tìm thầy học Ðạo.

(2) Ba việc sợ là: sợ mạng Trời, sợ người có đức, sợ lời Thánh nhơn.

Còn bốn việc biết là: Trời biết, Ðất biết, Người biết, Quỉ Thần biết.

Trên núi có Sơn Thần, dưới sông có Thủy Thần, ngoài đường có Lam-Lộ Thần Kỳ, trong nhà có Thần ốc lận ở tại chái nhà. Bởi vậy người tu phải hằng sợ một mình tuy chỗ không ai, nhưng chẳng dám làm điều quấy vì tuy không người biết nhưng Trời Ðất Quỉ Thần biết. Làm được vậy thì tự nhiên thể đồng Trời Ðất. Người không tu cũng vậy.

DaoKy
07-08-2004, 10:48 PM
HỒI THỨ BA

Thọ Thiên triệu Sơn-Ðông độ thế,

Nhập địa đạo Chung-Nam tàng thân.

Nghĩa là:

Vưng lịnh Trời qua Sơn-Ðông độ đời,

Vào hang động ở núi Chung-Nam ẩn mình.

Có bài kệ rằng:

Ý đời nóng nguội thiệt thêm cười,

Ðoạt lợi tranh danh biết mấy mươi,

Dễ độ súc sanh người khó độ,

Nguyện độ súc sanh khó độ người.

Bởi ông Hiếu-Liêm nguyên thiệt không bệnh, chẳng qua là giả bịnh, muốn dứt việc khiên triền đặng học Ðạo. Trương-Hải Thanh nào biết được ẩn ý ông, nên xem mạch rồi khó hiểu đặng bệnh, cũng tùy ý mà nói là bịnh trúng phong bất-ngữ, cũng biên toa đưa cho chủ rồi lấy tiền lễ ra về, làm lấy có mà thôi.

Lúc nọ bạn hữu từ tạ ông ra về nói rằng: Xin ông rán bảo trọng, chúng tôi ít bữa đến thăm. Ông gật đầu, thảy đều về hết.

Châu-Thị thấy khách về rồi biểu Thu-Lan và Ngọc-Khuê đi hốt thuốc về sắc, rồi Thu-Lan bưng vào phòng mời cha uống, lại thấy ông trợn trắng, vùng té một cái, Thu-Lan hoảng liền để chén thuốc, lật đật chạy ra. Bà thấy vậy sai vô nữa, nó không dám vô, ông bưng chén thuốc đổ trong vách.

Từ đó đến sau, một mình Ngọc-Khuê ra vô, chẳng ai dám vào phòng ông hết. Hễ ông thấy mặt vợ con thì đấm họng dậm chơn. Qua bữa sau Châu-Thị niệm tình vợ chồng vào hỏi thăm lần nữa, ông cũng làm như vậy.

Còn từ khi ông giả trúng phong đến sau, trong ngoài đều giao cho bà toan liệu; bà con thân thích cũng không đến đặng; duy có bạn hữu thăm một hai lần, thấy ông làm như vậy không dám tới nữa, người người đều than tiếc. Bị đau bịnh nặng mà ở chỗ nhà vắng một mình, nào ai thấu đặng ý đó! Ấy là ông muốn thanh tịnh ở trong thơ phòng ngộ Ðạo mà giả chước như vậy; đặng bó buộc công phu, quên dứt việc trần, không không một niệm.

Ở đặng 12 năm, đại đơn đặng thành!

Có bài kệ rằng: (ca giọng trầm)

Vợ làm bằng hề, con làm bạn

Khát uống trà, rồi đói ngật phạn (ăn cơm)

Coi lại cùng người cũng không không

Nào hiểu y học Ðạo tình trạng

12 năm công thành viên mãn

Xuất dương thần trên đảnh hiện quang

Trên đời những mấy kẻ tu hành

Ai mà hiểu đặng làm bản dạng.

Ông tu xuất đặng dương thần biến hóa, đặt pháp danh là Trùng-Dương Tổ-Sư. Ðêm nọ ông nằm tại thơ phòng, đương công phu, một niệm chẳng sanh, vạn duyên đều tuyệt. Vẳng nghe trên hư không kêu rằng: Vương-Trùng-Dương mau lên đây tiếp triệu! Trùng-Dương lật đật bước lên hư không, thấy Thái-Bạch Kim-Tinh đứng trên mây nói: Ngọc-Chỉ đến! Trùng-Dương lại gần nghe đọc triệu rằng:

"Ta niệm người Trùng-Dương có công khổ chỉ tu 12 năm không sai thất lòng, lo độ người tu chơn. Nay đạo quả đủ đầy phong làm Khai-Hóa Chơn-Nhơn, mau qua tỉnh Sơn-Ðông mở đạo, như sớm độ đặng Thất-Chơn thành công sau gia tăng thêm nữa, ắt phải vưng lời."

Thái-Bạch đọc triệu vừa dứt, Trùng-Dương quì lạy tạ ơn, rồi Thái-Bạch biểu rằng: Chơn-Nhơn mau qua Sơn-Ðông, đừng sợ khó nhọc mà phụ lòng Thượng-Ðế, để ngày sau lên hội Bàn Ðào đặng gặp. Kim-Tinh nói dứt, đằng vân trở về Thiên-Cung, còn Trùng-Dương cũng trở về tịnh phòng công phu.

Bữa sớm mai nọ, Ngọc-Khuê đem nước rửa mặt, xô cửa không mở, lật đật thưa cho Châu-Thị hay, bà cùng hai đứa tớ kêu hoài không đặng, thầm chắc ông chết rồi, cạy cửa vô coi không thấy ai hết, lấy làm lo sợ liền sai đi bốn phía tìm kiếm, không nghe tin tức bèn khóc lớn kinh động trong xóm người người đều chạy đến hỏi thăm. Ngọc-Khuê thuật việc cho mọi người nghe.

Mấy người nói: Việc thiệt cũng lạ! Cửa còn đóng chặt mà người đi mất, hay là trổ trên nhà hoặc cạy vách mà ra chăng? Mấy người vô coi không có dấu gỡ cạy chỗ nào.

Có một người nói rằng: Thôi mấy người đừng kiếm nữa, tôi coi ông Hiếu-Liêm thể dạng chắc thành Thần Tiên rồi.

Hỏi rằng: Sao anh biết đặng?

Ðáp: Lúc ở phòng ngồi tịnh 12 năm, không động một bước, bỏ hết việc trần, lại giả làm bịnh trúng phong, tôi coi thiệt ông muốn tuyệt dứt cuộc thế. Hình dung tươi tốt mắt có thần quang, như vậy chẳng phải Thần Tiên sao?

Nghe nói ai nấy bán tín bán nghi nói rằng: Như vậy chắc ông thành Tiên đằng vân đi rồi.

Bà nghe mấy người bàn luận mới bớt lòng sầu, rồi mấy người về hết.

Lại nói về Trùng-Dương bữa đó ở trong tịnh phòng độn thổ ra khỏi Ðại-Ngụy-Thôn đi Sơn-Ðông hết mấy ngàn dặm mới tới, không thấy bảy vị thất chơn, chỉ thấy có hai hạng người: một vì danh, hai vì lợi mà thôi, chớ không có ai mộ Ðạo!

Trùng-Dương thấy vậy chắc không có người độ đặng bèn trở về Xiểm-Tây, đi đến núi Chung-Nam, thấy một núi đất dài hơn trăm dặm vắng vẻ thanh tịnh, trong lòng tưởng rằng: Thôi ở lại đây vô trong núi này tìm chỗ hang sâu mà tịnh dưỡng, đợi chừng nào trong thế gian có người tu, sẽ ra đi độ. Liền niệm chú "Tá-Thổ-Ðộn" ước chừng một khắc thấu tột hang sâu, gặp cái hang động lớn ông vô ẩn mình phục khí điều dưỡng mà tu tánh mạng.

Có bài kệ rằng:

Rộng lớn kiền khôn có dị nhơn,

Một danh một lợi tính thua hơn,

Thất-Chơn chưa biết về đâu độ?

Vào đất ẩn mình đợi Thất-Chơn.

Khi đó Trùng-Dương độn trong núi ẩn mình chẳng biết tháng ngày. Cách hơn nửa năm vẳng nghe một tiếng vang cũng như lở trời sụp đất, thấu đến trong hang, nứt ra một đường hào quang chiếu xuống. Trùng-Dương biết có thầy đến, trong lòng kinh sợ, lật đật nhảy ra, liền thấy thiệt Chung, Lữ, hai ông ngồi trên, Trùng-Dương đến trước quì lạy chẳng dám ngó lên. Lữ-Tổ cười trách rằng: Người ta tu hành lên Thiên-Ðường, còn ngươi tu hành vào địa ngục. Coi công của ngươi khác hơn người ta, trên trái lòng Trời, dưới bỏ ý Thầy, nào có phải Tiên bao giờ?

Trùng-Dương nghe thầy quở cúi đầu xin tội rằng: Chẳng phải đệ tử dám trái mạng Trời, nghịch ý Thầy, vâng lịnh Thầy qua Sơn-Ðông độ Thất-Chơn, mà kiếm cùng cũng không gặp, duy có hai hạng người lo việc danh lợi mà thôi. Nên đệ tử tạm vào đây ẩn mình đợi chừng nào có người tu hành sẽ ra đi độ.

Lữ-Tổ nói: Người tu xứ nào không có, tại ngươi chẳng chịu khó nhọc nên độ không đặng.

Thí như ngươi hồi ban đầu nào có lòng học Ðạo, ta cùng Tổ Sư mấy lần đi đến điều độ mới đặng. Nếu không thì ngươi trọn đời chỉ một chức Hiếu-Liêm mà thôi, nào có thành bực Ðại-La Kim-Tiên?

Nay ngươi ham thong thả chẳng chịu tinh tấn độ người, lại nói trong thiên hạ không có người tu, thiệt là sai lầm. Ngươi lấy cái lòng như hồi ta đi độ ngươi, mưa gió không nài cũng đến, nằm sương ngủ cỏ nào than, đặng mà ra độ người, thì trong thiên hạ chỗ nào mà độ không đặng?

Khi xưa ta có ba lần giả say ở núi Nhạc-Dương người chẳng biết, rồi ta kinh thân bay qua Ðộng-Ðình-Hồ, trong ý cũng gọi là đời không người độ, rồi trở về bên Bắc, qua tới Liêu-Dương thấy Kim-Quốc Thừa-Tướng bỏ chức về núi tu thành, thấu đặng huyền cơ, hiệu là Hải-Thiềm, rồi bắt chước ta đi Nam du độ đặng Trương-Tử-Lương. Trương-Tử-Lương độ Thạch-Hạnh-Lâm. Thạch-Hạnh-Lâm độ Tịch-Ðạo-Quang. Tịch-Ðạo-Quang độ Trần-Chí-Hư. Trần-Chí-Hư độ Bạch-Tử-Thanh. Bạch-Tử-Thanh độ Lưu-Vĩnh-Niên và Bành-Hạt-Linh.

Bảy người ấy sau đặng chứng quả, đó là "Nam-Thất-Chơn". Khi đó ta cũng tưởng không người độ đặng, ai dè y độ đặng mấy người. Trong thiên hạ bốn biển rộng lớn, diệu lý khôn cùng người chí chơn chẳng ít, lẽ nào không người ra tu?

Nay có "Bắc-Thất-Chơn" là Khưu, Lưu, Ðàm, Mã, Xích, Vương, Tôn, bảy người trước có căn, nên mấy lần dặn dò biểu ngươi, ngươi chẳng chịu đi. Sức ngươi chẳng bằng Lưu-Hải Thiềm sao? Vì ngươi sợ khó nên chẳng bằng người ta đó thôi!

Lữ-Tổ nói rồi Trùng-Dương mở thông huệ tánh, giựt mình sợ sai hồng-thệ, mồ hôi ướt mình, cúi đầu xin tội. Chung-Tổ thấy vậy kêu Trùng-Dương lại một bên dạy rằng: Chẳng phải thầy trách ngươi, nhơn vì hội Bàn-Ðào gần đến, kiếp nạn lâm đầu, rán điều độ trong thiên hạ, người tu hành Chơn-Tiên, đều đặng phó hội Bàn-Ðào, thế Thiên hành hóa, đại Phật Tiên ngôn trọn ổ thâu duyên, đặng về nơi thanh tịnh. (Vì đào tiên sanh tại núi Côn-Lôn, 1000 năm mới nở bông, 1000 năm kết trái, 1000 năm mới chín. Cộng là 3000 năm mới hội một kỳ.)

Bởi 96 ức Phật tử xuống trần đã lâu mà về chưa hết. Thượng Ngươn độ 2 ức, Trung-Ngươn độ 2 ức. Cộng là 4 ức. Nay còn lại 92 ức mê trần! Vì hội gần đến, đào chín rồi, Phật-Mẫu trông con về ăn cho đủ. Nếu đến kỳ hội mà về không hết thì Phật-Mẫu rất buồn! Nên mình phải rán lo điều độ đặng đến kỳ hội thâu duyên, Phật-Mẫu thưởng đào, ăn một trái sống đặng ngàn năm.

Vì Tây-Vương-Mẫu chẳng lòng hưởng một mình, muốn cùng các chơn linh đồng hưởng, nên thiết lập hội tên là "Huỳnh Tiên đại-hội". Mỗi lần hội phải có thêm Thần Tiên mới thì trên hội mới vui, bằng chỉ có mấy vị Tiên cũ chắc là trong thiên hạ không có người tu hành, thì bà Vương-Mẫu ắt buồn.

Thuở thượng-cổ mỗi kỳ hội, người tu thành Tiên về dư ngàn. Qua đời trung-cổ mỗi kỳ hội người Tiên mới hơn mấy trăm. Ðến đời hạ-ngươn chắc có ít. Nên thầy ngươi dặn dò phải sớm độ Thất-Chơn đặng lập hội kỳ, ấy là giúp thêm oai nghi, vậy phải vui mừng. Vì bàn đào gần chín, nếu để trể ngày giờ qua hết một viên hội, phải đợi 3000 năm nữa mới đặng phó hội, há chẳng tiếc sao?

Chung-Tổ giảng nói thấu lẽ, Trùng-Dương nghe đặng quì thưa rằng: Nay đệ tử nghe lời Tổ dạy thiệt như chiêm bao mới tỉnh, tôi nguyện đến Sơn-Ðông khai hóa. Xin cầu Tổ-Sư chỉ dạy cách điều độ trước sau.

Chung-Tổ nói rằng: Ngươi đến chỗ đất Tịnh. Người hiền nhiều, mà hỗn tục theo đời, hiện thân giảng Ðạo qui củ tinh nghiêm, hoặc tài lợi phân minh trước sau như một thì có người đến tìm ngươi. Việc trong đó mở dạy chắc đại công khá thành, hễ đi gặp Hải thì ở, gặp Mã thì hưng, gặp Khưu thì dứt. Chung Tổ nói rồi quạt một cái lên mây đi mất.

Trùng-Dương quì lạy Thầy, rồi trở qua Sơn-Ðông. Một bửa ông đi đến huyện Ninh-Hải, tại tỉnh Sơn-Ðông, phủ Ðăng-Châu ông nhớ lời Chung-Tổ dặn rằng gặp Hải thì ở, hay là tại đây chăng? Thôi, ở đây giả người đi xin, như khi trước hai ông độ mình, nay mình dụng cùng phương tiện độ người.

Hỗn tục theo đời để đợi thời,

Gặp duyên đạo quả đặng nên thành.

HỒI THỨ TƯ



Ðàm chơn không, Tôn-Thị hối phu chủ,

Cầu Ðại-Ðạo, Mã-Dương tầm minh sư.

Nghĩa là:

Nói việc chơn không, bà Tôn-Thị khuyên chồng,

Cầu học Ðại-Ðạo, Mã-Ngọc tầm minh sư.

Có bài kệ rằng:

Trời cũng không, Ðất lại cũng không,

Người đời phái phái ở nơi không.

Nhựt cũng không, rồi Nguyệt cũng không,

Ðông lên Tây lặn chẳng cần công.

Ruộng cũng không, hề đất cũng không,

Ðổi dời nhiều ít người chủ ông.

Vàng cũng không, rồi bạc cũng không,

Thác rồi nào đặng ở tay trong.

Vợ cũng không, con lại cũng không,

Huỳnh-Tuyền đường nọ chẳng tương phùng.

Sớm qua Tây rồi tối qua Ðông,

Người đời tỷ thí tợ con ong.

Thể đặng trăm bông nên mật đó,

Ðến đầu cực khổ cũng buông không.

Khi đó Trùng-Dương đi đến tỉnh Sơn-Ðông, huyện Ninh-Hải, giả người xin ăn, trong ý muốn tìm người tu hành. Huyện Ninh-Hải phía Tây có nhà họ Mã, làm chức viên ngoại, tên là Mã-Ngọc. Cha mẹ qua đời, lại không anh em, cưới người vợ họ Tôn tên là Huyên-Trinh, dung mạo đoan trang, tâm tánh thông thái. Bà là người có học thường coi Kinh sách thấu việc xưa nay, chẳng ham thêu dệt vá may. Tuy là nữ lưu mà khí chất trượng phu khó sánh. Hễ viên ngoại có việc chi tính chẳng đặng hỏi bà thì rõ thấu. Cho nên ông bà kỉnh nhau như thầy bạn, ngặt tuổi già mà lại không con nên có làm bài kệ rằng:

Quang âm mau lẹ chẳng đợi chờ,

Người người chỉnh thấy việc bơ thờ,

Chẳng tin soi thử trên mái tóc,

Khi trước mày xanh bạc trắng dờ.

Mấy câu kệ này ý nói: "Máy quang-âm lẹ như tên bắn, đưa người rất mau già, ngày tháng thắm thoát như thoi đưa, thúc trẻ nhỏ trở nên già rất lẹ". Khi đó vợ chồng Mã viên ngoại tuổi đã gần 40 mà không con. Một hôm viên ngoại nói cùng vợ rằng: Bạn mình mới nhỏ mà nay gần bốn chục rồi, chắc là vô hậu, vạn quán gia tài này chẳng biết về tay ai? Tôn-Huyên-Trinh rằng:

Xưa Tam-Hoàng trị thế, sau Ngũ-Ðế lập đại công.

Vua Nghiêu, Thuấn sau tiếp nối, Võ-Vương mở chín sông.

Thành-Thang rước Y-Doãn, Văn-Vương thỉnh Thái Công.

Ngũ-Bá bày mưu chước, Thất-Hùng khiến bụng lòng.

Vinh, Tần tranh sáu nước, Hớn, Sở lại tranh hùng.

Ngô, Ngụy giành nhà Hớn, Lưu-Bị thỉnh Ngọa-Long.

Ðông Tấn cùng Tây Tấn, sự nghiệp cũng không tông.

Nam Ngụy với Bắc Ngụy, giang san cũng long đong.

Ðường Tống lại đến đây, bao nhiêu phú quí ông.

Hỏi thử người còn mất, đều thiệt cũng tay không!!!

Xin coi từ xưa đến nay biết mấy muôn năm, Ðế Vương, quan, tướng, thành bại thạnh suy biết mấy ngàn người, vì danh lợi mà bỏ mình, việc đến đâu cũng tay không, nháy mắt đều tan hết. Nay bạn mình đem việc trước sau phú cho nơi không, như trong thiên hạ không gia sản này, cũng như cha mẹ chưa sanh bạn ta, thì có chi là vinh diệu.

Viên ngoại nghe nói cười rằng: Người ta tuy không còn có nhánh nhóc; bạn mình cái không này gốc rễ cũng dứt tuyệt.

Tôn-Huyên-Trinh nghe rồi nói rằng: Không nhánh không căn thiệt đại không.

Có bài kệ rằng:

Không đến tột rồi thiệt đại không,

Không kim không cổ tợ hồng mông,

Bằng người biết đặng hư không lý,

Thẳng đến Linh-Sơn thấy đại hùng.

Tôn-Huyên-Trinh nói: Xét có con cũng như không con, ngẫm lại có con cũng không, mà không con cũng không. Như vua Văn-Vương có 100 người con, đến nay coi lại có mấy người? Họ Cơ con cháu muôn đời của ông, có người nào cúng tế mộ phần ông bao giờ? Còn ông Trương-Công-Nghệ sanh chín trai hai gái, Quách-Tử-Nghi bảy trai tám rễ, Ðậu-Yên-Sơn năm trai đều đặng khoa, Lưu-Ngươn-Phổ sanh hai người con đều đậu cử-nhơn. Mấy người đó nhiều điều sang trọng, con cháu hiển vinh, mà nay có thấy ai con cháu nào đâu? Coi lại cũng mưa lạnh gió sầu, nhà hoang mồ lở, cỏ mọc dẫy đầy. Há chẳng phải "có" rồi cũng qui về nơi "không" chăng? Cô phòng lạnh lẽo nào phải những người không con? Còn ruộng nhà đồ sộ thì người có con mới đặng, người không con không đặng hay sao? Tôi tưởng người sanh ở đời trong mấy mươi năm mau như nháy mắt dường như đá lửa chớp nhoáng, thấy đó rồi mất đó, tợ chiêm bao bọt nước, nào thiệt nào chơn. Nhà lớn ngàn căn, chẳng qua đêm nằm tám thước. Ruộng nhiều muôn sở cũng ngày ăn ba bữa mà thôi. Bao nhiêu mùi ngon vật báu, uổng cho cuộc giàu sang như nháy mắt, quỉ vô thường theo đến thì muôn việc đều không. Dẫu bạc vàng đầy rương cũng khó chuộc đường sống thác. Hỡi ôi! Thiệt làm người ở đời mà chẳng tỉnh, thì cũng như một giấc chiêm bao!

Kệ rằng:

Kinh dinh thuở mấy uổng mang mang,

Lầm nhận đường mê gỗi xóm làng,

Nay lại xưa qua nào có ở,

Dường như mượn chỗ tựu rồi tan.

Tôn-Huyên-Trinh nói cùng viên ngoại rằng: Bạn ta ở chỗ "không", tầm cái Thiệt mà chắc Thiệt, đặng luyện chỗ bất sanh bất diệt, học phép trường sanh chẳng chết rất hay vậy.

Mã viên ngoại nói: Bà nói vọng rồi. Từ xưa đến nay, hễ có sống thì có thác, lẽ nào đặng trường sanh hoài? Việc làm có trước thì có sau, nào có việc hoài chẳng dứt?

Huyên-Trinh nói: Tôi thấy sách Ðạo thơ nói: Luyện tinh hóa khí, luyện khí hóa thần, luyện thần huờn hư, khiến cái chơn tánh còn hoài, linh-quang chẳng dứt, gọi là đạo trường sanh chẳng chết. Bằng như mình học đặng đạo ấy thì hơn người có con trăm phần.

Mã viên ngoại nói: Nói vậy chớ có lẽ nào tinh mà luyện đặng hóa khí, khí hóa đặng thần, còn thần hóa đặng huờn hư mà chơn tánh còn hoài, linh-quang chẳng dứt?

Huyên-Trinh nói: Ông muốn biết phải cầu minh-sư mới học đặng diệu pháp.

Viên ngoại nói: Thôi tôi cầu bà làm thầy truyền cái công phu cho tôi học.

Huyên-Trinh nói: Tôi là nữ-lưu, chẳng qua biết ít chữ, coi thấy đạo thơ đôi câu nào giải thấu chỗ diệu lý. Nếu ông có lòng chơn tâm học Ðạo, phải cầu tầm người cao hiền chắc thấu đặng.

Viên ngoại rằng: Việc tầm thầy kiếm bạn, thật bình sanh chí tôi ham lắm, hễ người tu hành học phải có căn cơ, như không có căn thành Tiên chẳng đặng, làm Phật chẳng dễ. Nên tôi nghĩ phận căn cơ siển bạc, chẳng nói đến việc tu hành.

Huyên-Trinh nói: Nói như ông thì sai rồi. Hễ sanh đặng làm người đều có căn cơ phước đức sẵn trước, như nói không có căn sao đặng làm người? Có câu: Cỏ nào không gốc, người nào không phước? Chẳng qua là sâu cạn không đồng. Như người căn cạn là sáu căn chẳng trọn: hoặc mắt không sáng, hoặc tai không nghe, hoặc tay gãy chơn cùi, điếc ngây mờ tối, góa bụa không con, nghèo thấp hèn. Ðó là người cái căn siển cạn.

Còn người căn sâu: Sang như Thiên-Tử, giàu có bốn biển, cai quản muôn dân, hoặc làm quan có quyền danh tiếng vui hưởng ruộng vườn, sáu căn đều đủ, tai mắt thông minh, tánh tâm từ thiện, ý khí bình hòa, toàn thân đủ trọn. Ðó là người căn sâu phước lớn.

Trong đời trọng việc giàu sang: người giàu sang thì căn sâu hơn người thường. Như mà biết ăn ở hiền lành, thêm việc giúp người lợi vật: đó là đem cái căn dựng bồi thêm, trường trai giới sát tìm phép vô hình (tức là học Ðạo) thì sau đặng thành Phật thành Tiên, chứng đặng Thánh Hiền đều do nơi đó. Nên nói việc căn phận tại mình, thường ngày bồi bổ, đừng nói kiếp sau mang theo, hiện tại kiếp này cũng hưởng đặng. Như muốn hưởng bền, thường cần bồi bổ, dưỡng từ lời nói, tập từ đức hạnh, lo làm phương tiện, là những việc chi thuận lòng người thì làm, đừng chê việc lành nhỏ mà không làm, không vì việc dữ nhỏ mà làm, thì lo chi kiếp sau không nhờ. Tỷ như cái núi, lâu ngày càng cao lớn lên thêm. Ðừng nói bạn mình không căn mà thối chí. Như nói không căn thì làm sao hưởng gia nghiệp này? Lại đặng sai tớ khiến bạn, nhứt hô bá ứng. Thiệt không dám khoe mình, chớ xét ra cũng là người có căn lớn!

Bởi viên ngoại vốn người mộ Ðạo, chẳng qua là qua một hồi mê muội, nghe bà mở vạch rõ ràng, nghĩa lý đặng thấu như chiêm bao mới tỉnh, đứng dậy tạ ơn rằng: Nay tôi nghe lời bà chỉ dạy, khiến tôi mở thông đường Ðạo; chưa biết minh-sư đâu mà tìm, xin bà chỉ rõ.

Huyên-Trinh nói: Việc đó cũng không khó. Tôi thường thấy một ông già tay cầm gậy tre, vai mang bầu thiếc, tinh thần mạnh mẽ, mắt tỏ chiếu ngời, trên mặt đỏ như son, thường xin ăn tại xóm mình hơn mấy năm, chẳng thấy suy già, chắc là người có Ðạo. Vậy đợi ông đến, mời về nhà nuôi dưỡng, lần lần cầu học diệu lý chắc đặng.

Viên-ngoại rằng: Nay mình nhà cửa rộng lớn, cũng nên làm phương tiện kỉnh già thương khó, chẳng luận là có đạo hay không đạo, một mình ông ăn mặc là bao nhiêu. Ðể mai tôi hỏi ông chịu hay không.

Huyên-Trinh nói: Tu một ngày giải thoát đặng một ngày, việc chẳng khá trễ...


Lại nói qua Trùng-Dương, từ khi tới huyện Ninh-Hải ở mấy năm, luyện đặng tinh thục, biết đặng quá khứ vị lai, phép quỉ thần thấu hiểu, thần thông đều đủ, trí huệ thông minh, biết đặng việc độ Thất-Chơn thì phải tùng nơi vợ chồng Mã viên-ngoại khởi đầu mới hiệp theo lời của Chung-Tổ nói: Hễ gặp Mã thì hưng. Nên ông thường qua lại trong xóm đó xin ăn mấy năm. Nay gặp Mã viên-ngoại biết người đức lớn, và thấy Tôn-Huyên Trinh mấy lần biết người thông minh trí huệ, muốn chỉ dạy việc tu, nhưng lại nghĩ rằng: Thuốc chẳng kêu cho, Ðạo chẳng khinh truyền, phải đợi y cầu học mới chỉ. Vì ông ở đó xin ăn mấy năm người người đều gọi ông là Côi-lão xứ xa, nghèo khó đến xin ăn, nào hiểu ông là Thần Tiên! Có một mình Tôn-Huyên-Trinh khác người, tâm hiền mắt thánh, nhận đặng người nghèo khó là Thần Tiên đó thôi! Mới nói cùng chồng tiếp ông về nuôi dưỡng đặng cầu học Ðạo; khiến cho bảy vị chơn nhơn nối theo. Luận công bảy vị chơn nhơn tu hành, có bà Huyên-Trinh thứ nhứt!

Có bài kệ rằng:

Sanh thành trí-huệ thiệt phi thường,

Ðặng biết Thần Tiên biết thử phương,

Chẳng có Huyên-Trinh thần lực giỏi,

Thất-Chơn tông phái khó ra đường.

Khi đó Mã viên-ngoại nghe bà nói liền ra ngoài dặn người coi cửa như thấy ông già xách bầu thiếc tới, mau vô báo cho ông hay. Bữa đó, viên-ngoại ngồi trong nhà thấy người giữ cửa vô báo: Có ông già xách bầu thiếc đến! Viên-ngoại liền ra tiếp rước. (Ðó là Vương-Trùng-Dương đạo vận đến rồi, đúng theo lời của Chung-Tổ nói: Có người đến tầm ngươi!)

Thần Tiên còn phải đợi thời kỳ,

Thời vận chưa gần, đạo khó hành.




HỒI THỨ NĂM

Mã viên-ngoại cầu phụng dưỡng sư lễ,

Vương-Trùng-Dương kinh dinh hộ đạo tài.

Nghĩa là:

Mã viên ngoại cầu dưng lễ nuôi thầy,

Vương-Trùng-Dương sửa sang tiền hộ đạo.

Có bài kệ rằng:

Tiên Phật Thánh Hiền bởi tại tâm,

Nào tua đất lấp lại thành câm (kim vàng).

Người đời nhang khói cầu xin vái,

Cười chết từ bi Quan-Thế-Âm.

Bốn câu nói việc thành Tiên Phật Thánh Hiền cũng tại lòng người làm ra. Như lòng ngay thì mình cũng ngay, làm việc gì cũng thảy đều ngay. Còn lòng tà thì mình cũng tà, làm việc gì cũng thảy đều tà vậy. Nên người tu hành trước phải sửa lòng, sau thành cái ý: hễ lòng không chánh thì ý không thành, ý chẳng thành thì vọng niệm khởi ra trăm việc, phải mất chỗ đạo chơn. Cổ nhơn có bài kệ rằng:

Vọng niệm nhứt sanh thần tức thuyên,

Thần thuyên lục tặc loạn tâm điền.

Tâm điền nhứt loạn thân vô chủ,

Lục đạo luân hồi tại nhãn tiền.

Nghĩa là:

Hễ vọng niệm sanh ra thì thần dời ra ngoài rồi,

Thần ý dời thì sáu giặc rối loạn khiến tâm điền không tịnh.

Nếu tâm điền rối loạn thì thân này không có người làm chủ,

Vì vậy, sáu đường luân hồi ở tại trước mắt chẳng xa.

Có bài kệ rằng:

Lục đạo luân hồi, thuyết bất khoan,

Súc sanh, ngạ quỷ, khổ thiên ban.

Khuyên quân vật khởi vọng tham niệm,

Nhứt thất nhơn thân vạn kiếp nan.

Nghĩa là: Sáu đường luân hồi nói không hết như người chẳng tỉnh xét, có ngày bị đọa vào trong chỗ súc sanh quỉ đói phải khổ sở ngàn việc, nên khuyên người đừng khởi việc tham tưởng lầm sai. Hễ làm mất cái thân này muôn kiếp khó trở lại đặng. Muốn ra khỏi chỗ luân hồi thì kiếp này phải tu mới hết việc khổ.

Vì Tiên Phật Thánh Hiền cũng tại cái tâm, tâm phải chánh ý phải thành. Như tâm ý chánh thành để làm cốt Phật, nhang đèn cúng lạy, son vàng tô phết đó là vọng cầu. Nên nói: "Cười chết từ bi Quan-Thế-Âm" là cười người không có lòng chánh thành, lo sửa mình để vọng cầu việc giả. Lại nói ra tu lấy chỗ nhang đèn cúng vái mà cầu cho thành Tiên thành Phật, tánh Phật chỗ nào? Nên nực cười cho người lầm sai mà không cải sửa.

Có câu: "Bất vị tế hưởng nhi giáng phước; bất vị thất lễ nhi giáng họa". Nghĩa là: "Chẳng vì cúng tế mà cho phước; chẳng vì thất lễ mà giáng họa". Trời Phật Thánh Thần trọng là trọng người chí thành cung kỉnh, tự hối ăn năn biết sợ nhà tối có Thần không dám làm quấy thì Ngài thương lắm, kỉnh lắm. Người ấy dẫu không cầu Ngài cũng cho phước lộc. Còn Ngài ghét kẻ bất trung, bất hiếu, bất nghĩa, bất lương, ý độc hại người, lòng lang ở bạc. Những người như vậy dầu cho nhang đèn cúng lạy thế nào, Ngài không dung đặng.

Bởi Ngài dặn làm phước chớ đừng cầu phước, tự nhiên họa dứt phước thêm, chớ Ngài có tư vị, hay là thương ghét ai bao giờ? Có câu "Hoạch tội ư Thiên vô sở đảo giả". Nghĩa là: "Mắc tội nơi trời thì không còn chỗ cầu vậy", như thế thì có ai biết mà tránh chăng?

Ðây việc khuyên tỉnh đã nói rồi, lại nói qua Mã-Ðơn-Dương nghe người xách bầu thiếc đến, lật đật ra tiếp rước, thỉnh vào nói chuyện. Ông già đi theo viên-ngoại vào ngồi tại ghế giữa lấy lời khẳng khái mà hỏi: Vậy kêu ta cầu hỏi việc chi?

Viên-ngoại đáp: Tôi thấy ông già cả tuổi tác hằng ngày xin ăn lao khổ, muốn cầm lại đây nuôi ông, chẳng biết ông chịu hay không?

Nói chưa dứt lời, ông già giận nói: Ta thiệt xin ăn quen rồi, chẳng chịu ăn những không công cực lộc của ai.

Viên-ngoại thấy ông giận chẳng dám nói nữa, liền vô nói với bà rằng: Ông xách bầu thiếc tôi thỉnh vô nhà nói việc nuôi dưỡng, ông nói chẳng chịu ăn những vô công thi thực, nên tôi hỏi bà tính làm sao?

Bà cười rằng: Ông nói chẳng nhằm việc, nên người không chịu. Chẳng nghe sách có nói: "Quân tử mưu đạo bất mưu thực, tiểu nhơn mưu thực bất mưu đạo". Nghĩa là: "Người quân tử ham đạo chẳng lo ăn, còn tiểu nhơn ham ăn chẳng lo đạo". Ông mới thấy mặt lại kể việc nuôi dưỡng, lấy chỗ ăn uống mà dụ, quân tử nào kể việc ăn uống, cầu chỗ Ðạo thì hơn. Tại ông nói thất lời, để tôi ra phân giải chắc ông an lòng chịu ở.

Có bài kệ rằng:

Không phải tiên-sanh chẳng chịu cầu,

Vì lời nói biện chẳng nhằm câu,

Huyên-Trinh ra giảng thông quyền biến,

Chắc định ông già phải gật đầu.

Rồi đó Huyên-Trinh đến nhà trước, thấy ông già chắp tay xá nói rằng: Ông đặng muôn phước?

Ông già cười rằng: Ta là người tu hành nào có đặng phước!

Huyên-Trinh rằng: Ông chẳng lo việc quấy, muôn sự đều không, tiêu diêu thong thả, chẳng tính chẳng sầu, đặng chỗ cao thấp tự lòng, chẳng phải là phước sao? Tôi coi trong trần này biết bao nhiêu nhà giàu sang danh lợi mà trọn ngày nhọc lòng lo tưởng, thương vợ mến con không dứt. Tuy nói có phước mà xét lại chưa đặng thong thả, duy có cam cái danh lợi giả dối mà thôi nào phải như ông chẳng nhiễm việc trần, đặng hưởng chỗ không tâm, như vậy thật là Thần Tiên tại thế.

Ông già nghe nói cười lớn rằng: Cô đã biết sự tiêu diêu tự toại là phước, thanh tịnh vô vi là vui, mà sao chẳng học tiêu diêu tự toại? Chẳng tìm thanh tịnh không không?

Huyên-Trinh rằng: Tôi chẳng phải không học, vì chưa đặng chỗ pháp, tuy muốn tiêu diêu mà chẳng đặng tiêu diêu, muốn thanh tịnh mà chưa đặng thanh tịnh đó thôi.

Ông già rằng: Như cô chịu học thì tôi chẳng tiếc công.

Huyên-Trinh nói: Như ông vui lòng từ bi dạy tôi, nhà tôi ở huê viên có cái "Kiểu-Nguyệt-Ðình" thiệt là thanh tịnh, thỉnh ông đến ở đó, bạn tôi mới đặng cầu học hỏi. Ông già liền gật đầu thuận ý.

Có bài kệ rằng:

Làm biện nhằm câu biết cổ kim,

Tiên-sanh nay đặng hội tri-âm,

Tri-âm nói biện tri-âm tỏ,

Ðây đó nguyên là một giống tâm.

Ông già nghe bà Huyên-Trinh nói nhằm đạo lý, trong lòng vui mừng liền chịu ở dạy. Mã viên-ngoại nghe nói lại kêu gia tướng dọn dẹp sau huê viên chỗ "Kiểu-Nguyệt-Ðình" sạch sẽ thỉnh ông vào đó an nghỉ, lại trí một người gia đồng là Trần Khuê hằng ngày đem trà dưng nước. Viên-ngoại nói cùng bà rằng: Bạn mình nói chuyện với ông hơn nữa ngày mà chưa biết ông tên họ chi, để tôi hỏi coi. Huyên-Trinh rằng: Sách có câu "Ðại ân bất tạ, đại đức bất danh", nghĩa là ơn lớn chẳng tạ, người đức lớn chẳng tên làm chi; thôi kêu lão Tiên-sanh cũng đặng. Viên-ngoại chẳng nghe cứ muốn hỏi, bà can không đặng phải để ông đi.

Viên-ngoại đến "Kiểu-Nguyệt-Ðình" thấy ông ngồi tịnh trên ghế. Viên-ngoại tới trước hỏi rằng: Xin hỏi ông cao tánh đại danh, nhà ở chỗ nào? Vì sao mà đến đây? Hỏi luôn mấy lần thấy ông ngó lên nói rằng: Ta là Vương-Trùng-Dương nhà ở tại Xiểm-Tây, ngàn dặm chẳng từ khó nhọc vì ngươi mà đến đây.

Mã viên-ngoại nghe nói giựt mình nói rằng: Tiên-sanh vì tôi mà đến đây? Ông vổ tay cười rằng: Thiệt, vì ngươi mới đến đây.

Viên-ngoại lại hỏi: Như Tiên-sanh vì tôi mà đến, ắt cũng có duyên cớ chi!

Trùng-Dương rằng: Ta đến đây vì cái vạn quán gia tài của ngươi mà đến.

Viên-ngoại nghe nói nửa cười nửa lo hỏi rằng: Ông vì vạn quán gia tài của tôi mà ông muốn lấy hay sao?

Trùng-Dương nói: Nếu tôi không muốn thì tới làm chi!

Viên-ngoại nghe nói mặt tái xanh, trở ra đi liền.

Có bài kệ rằng:

Tiên-sanh lời nói chọc người kỉnh,

Trên thế chưa nghe những sự tình,

Muốn lấy gia tài không chỗ cớ,

Lẽ trong đạo lý thiệt chưa minh.

Khi đó viên-ngoại ra khỏi Kiểu-Nguyệt-Ðình tính thầm trong bụng rằng: Ông này thiệt chưa hiểu mối việc, khi không mà muốn lấy gia tài của ta! Dám mở miệng như vậy! Con nít cũng chẳng dám nói lời đó, đường ấy mà làm sao có đạo đức kìa!

Chừng về phòng ngồi nghĩ, trong lòng buồn bực chẳng vui. Huyên-Trinh thấy viên-ngoại biến sắc, biết là bị ông già nói việc chi chẳng vui, liền cười nói rằng: Tôi đã nói trước, biểu đừng đi hỏi cũng không nghe, chắc ông bị điều chi chẳng vừa ý chăng? Hễ người quân tử phải có lượng lớn, dung người chế người, việc chi chẳng hiệp ý, xin đừng trách phiền, chớ học theo chí mọn chấp nhứt.

Viên-ngoại nghe bà nói mấy câu trong lòng mở giải, nói rằng: Tôi tưởng đâu ông già là người có đạo đức, ai dè ông thiệt người tham tài!

Bà hỏi: Sao mà biết tham tài?

Viên ngoại đem việc của ông thuật cho bà nghe: Nói muốn lấy gia tài của ta mới đến đây!

Bà nói: Tiên-sanh nói muốn lấy gia tài của mình, chắc có duyên cớ chi, sao ông không hỏi cho minh bạch. Tôi thấy trong sách có câu: "Thiên niên điền địa bát bá chủ", nghĩa là "Ruộng đất ngàn năm thay đổi chủ có hơn tám trăm người". Trong đời tài sản thiệt là đồ chí công của Trời Ðất, chẳng qua là cho người mượn mà xài chung. Như người biết xài thì hưởng đặng ít chục năm, hoặc mấy đời. Sao gọi là biết xài? Như người có của mà biết xài là biết thi ân bố đức, giúp kẻ nghèo nàn, mua vật phóng sanh, tu kiều bồi lộ, chôn thây trôi nổi, làm các điều lành, chớ đừng cam một mình, gọi là xài chung một vốn.

Còn người không biết xài thì cũng như mưa dập bông tàn, gió thổi mây tan, hễ đến tay người này, thì liền trao cho người khác, hoặc không cần kiệm, xài phí, cờ bạc, rượu chè, cam để cho nhiều, làm điều trái lẽ. Hoặc cho vay ăn lời nặng mà tổn đức bình sanh. Như vậy làm sao mà hưởng đặng bền? Nên của ấy phải đổi dời. Ðó là chỗ chí công của Trời Ðất, luân phiên xoay trở không ngừng, nghèo đó rồi giàu, thạnh đó lại suy, nào có đặng làm chủ ngàn năm bao giờ? Vậy xin ông thức tỉnh.

Có bài kệ rằng:

Vạn quán gia tài chớ đủ khoe,

Ai mà giữ đặng trọn không dè,

Tài ba thiên hạ đồ công vật,

Há được ngàn năm được chở che.

Khi đó bà Huyên-Trinh khuyên chồng rằng: Tiên-sanh như muốn lấy cái gia tài của mình, ắt có duyên cớ. Như hỏi ông nói đặng hiệp lý, mình nên dưng cho ông, huống là bạn mình không con cháu, gia tài này ngày sau chưa biết về tay ai. Nói chưa dứt lời viên-ngoại cười rằng: Bà nói đâu việc dễ lắm! Ông bà tôi từ Xiểm-Tây dời qua đến đây, chịu hết thiên tân vạn khổ mới đặng sự nghiệp này. Dẫu ta chẳng muốn nữa cũng chẳng dám đem sự khó nhọc của ông bà mà đưa cho người khác. Huống nay bạn mình tuổi mới nửa đời, như đem gia tài cho người rồi, mình còn nửa đời sau lấy chi cho qua ngày tháng, há chẳng lầm việc lớn đó sao?

Bà Huyên-Trinh nói: Uổng cho ông là người chí trượng phu mà việc không tỏ thấy. Bạn mình đem gia tài giao cho tiên-sanh là muốn cầu cái đạo trường sanh, cứu đặng cửu-huyền thất-tổ. Bằng như đặng thông việc đạo thì ta thành Thần Tiên, còn giữ cái gia tài này làm gì? Sách có nói: Một người con tu thành Tiên Phật thì cửu huyền đặng bạt tộc siêu thăng. Như vậy đâu có lỗi với ông bà. Coi lại cái đạo siêu hết tông môn mà sánh chẳng bằng vạn quán gia tài này sao?

Có bài kệ rằng:

Của tiền vàng bạc có hằng hà,

Nào gặp đạo huyền đáng giá đa,

Của báu tuy nhiều sau cũng hết,

Ðạo công muôn thuở chẳng tiêu ma.

Viên-ngoại nghe bà giảng rồi nói rằng: Lời của bà chẳng phải không tốt, bằng như chẳng thành Thần Tiên, lời tục có nói: "Vẽ cọp chẳng thành trở lại giống chó" rồi làm sao?

Bà nói: Làm người phải có hằng tâm, như không có hằng tâm thì cũng chẳng khá làm đặng thầy bói, thầy thuốc, huống là học Thần Tiên. Như người có chí thì việc ắt thành, không chí thì ngày sau chẳng nên. Tại mình bền cùng chẳng bền. Sách có nói: Thần Tiên vốn thiệt người phàm tâm, chỉ sợ người lòng chẳng chuyên. Bởi tại người chuyên lòng chuyên chí phàm làm tới, có cầu chắc đặng. Có câu: Trồng dưa đặng dưa, trồng đậu đặng đậu, là lẽ thường. Xưa nay Thần Tiên ông nào cũng nhờ thân phàm mà tu thành, nào có sanh ra tự nhiên không học mà đặng biết bao giờ?

Viên-ngoại nghe bà nói, gật đầu trả lời: Phải lắm! Phải lắm!

Ðến bữa sau, viên-ngoại tới Kiểu-Nguyệt-Ðình hỏi Vương Trùng-Dương rằng: Bữa trước tiên-sanh nói muốn lấy gia tài của tôi, chẳng biết tiên-sanh muốn lấy đặng làm việc chi?

Trùng-Dương tiên-sanh lấy lời ngay nói rằng: Ý tôi muốn tiền đặng chiêu trong thiên hạ, những người tu hành học đạo ở tại đây đặng lập một cái đạo trường, cho kẻ tu hành biện đạo, tu tâm dưỡng tánh, có chỗ hộ đạo, trong ngoài không chỗ lụy; dứt đường ràng buộc thảy đặng vui mừng hoan hỉ, thoát nẻo luân hồi, và làm công đức giùm cho ông.

Tiên-sanh đem việc chơn thành tỏ cho Mã viên-ngoại nghe, chừng ấy viên-ngoại mới đem lòng vui phục.

Làm đặng việc xá mình theo người mới là siêu phàm nhập Thánh.



HỒI THỨ SÁU



Tôn-Huyên-Trinh khuyến phu xá tài,

Mã-Văn-Khôi thọ lộ thông quyền biến.

Nghĩa là:

Bà Tôn-Huyên-Trinh khuyên chồng xá gia tài,

Mã-Văn-Khôi ăn tiền thông quyền biến.

Có bài kệ rằng:

Muôn phép đều không chớ muốn cầu,

Mượn tài hộ đạo dưỡng công phu.

Lần đem việc đó thông quyền biến,

Ngày khác y nhiên cũng hết sầu.

Khi đó, Trùng-Dương tiên-sanh đem việc mượn tiền hộ đạo chiêu tập người tu hành nói cho Mã viên-ngoại nghe, viên-ngoại mới vui phục nói rằng: Như ông nói vậy thật người có đạo đức lớn, tôi cùng Tôn-Thị đều nguyện lạy ông làm thầy, chưa hiểu trong ý ông làm sao?

Trùng-Dương nói: Hai ông bà như có lòng chơn tâm học đạo tôi nào chẳng chịu! Nhưng mà trước phải xá gia tài rồi sau mới truyền cho chí đạo, một lòng một ý đặng khỏi chỗ lo nhớ.

Viên-ngoại nói: Thầy muốn dùng bao nhiêu tự ý, tôi không tham tiếc, hà tất phải xá?

Trùng-Dương nói: Như ngươi không xá, thì cũng còn của ngươi, tôi không đặng tự do xuất phát.

Viên-ngoại nói: Ruộng đất, tiền bạc cùng tờ giấy giao ước dưng hết cho ông cũng như tôi xá rồi.

Tiên-sanh rằng: Tờ giấy còn tên của ngươi, như muốn giao cho tôi phải thỉnh người trong tộc làm tờ xá ước mới có bằng cớ

Viên-ngoại nghe nói trở vui làm buồn, từ biệt tiên-sanh về nhà đem những lời Trùng-Dương thuật cho bà nghe, nói rằng: Theo ý tôi việc nầy chắc không thành.

Huyên-Trinh hỏi: Sao vậy?

Viên-ngoại nói: Bà chẳng hiểu trong tộc của tôi sao?

Bà nói: Người đều riêng lòng làm sao hiểu đặng!

Viên-ngoại nói: Người trong tộc tôi thấy vợ chồng mình không con, ai ai cũng thầm tính chia rồi, đợi vợ chồng mình chết thì gia tài nầy về họ, nào có chịu đem giao cho người khác, nên tôi biết chắc không thành.

Bà Huyên-Trinh nói: Việc đó cũng khó, ngày mai ông thỉnh tộc-trưởng có quyền thế đặng nghị luận. Như họ y lời thì thôi, bằng chẳng chịu thì ông làm như vầy...... chắc là họ bao ông đặng nên.

Viên-ngoại nghe liền nói: Thiệt bà có trí cao, làm như vậy chắc đặng thành. Liền kêu Mã-Hưng đi thỉnh bổn tộc định ngày mai giờ ngọ tới cho đủ.

Mã-Hưng y lời đi thỉnh. Qua ngày sau, anh em đồng bạn và trong tộc lớn nhỏ đều vào nhà giữa phân thứ tự mà ngồi.

Có một người trưởng-tộc tên là Mã-Long làm chức Cống-Sĩ hỏi viên-ngoại rằng: Cháu thỉnh trong tộc có việc chi?

Viên-ngoại thưa: Cháu mấy năm rồi thường hay bịnh hoạn, trong mình chẳng khỏe hay chóng mặt. Nay có một người ở bên Xiểm-Tây tên là Vương-Lão Tiên-Sanh, thiệt người trung hậu, cháu biểu người ấy ở tại nhà cháu đem hết gia tài ruộng đất giao cho ông lo liệu đặng vợ chồng cháu an rảnh mà dưỡng bịnh. Ông biểu cháu thỉnh người tộc-trưởng làm tờ giao ước ông mới chịu lãnh. Nên nay cháu thỉnh tộc-trưởng đến thương lượng đặng làm tờ giao lại cho ông.

Viên-ngoại nói vừa dứt lời, có người anh tên là Mã-Miên nghe nói giận dữ chỉ viên-ngoại nói rằng: Chú ngây rồi, hồ ngôn nói loạn, cơ nghiệp của ông bà không bảo giữ, có đâu nói xá cho người ta. Chú nghe lời dỗ gạt mà nói như vậy. Mã viên ngoại biết việc không hợp lý, chẳng dám nói nữa.

Lại có một người chú họ tên là Mã-Văn-Khôi, làm chức học sanh và một người anh họ là Mã-Chiêu, làm quan Tử-Giám đại học-sanh. Hai người có tước trong tộc họ Mã, tài giỏi hơn hết. Hễ có việc chi lớn nhỏ đều nhờ hai người tính toán thì xong việc.

Mã-Văn-Khôi thiệt người có quyền biến, thấy Mã-Miên nặng lời cùng viên-ngoại, lên tiếng nói: Thôi đừng trách oán, cũng việc anh em, bởi viên-ngoại là người thật thà, phải mời Vương-Lão Tiên-Sanh ra đây đặng tôi hỏi coi cớ sao mà dám nói như vậy? Liền sai Mã-Hưng đi thỉnh Vương-lão. Trùng Dương ra đến cũng không làm lễ, mấy người đều không hỏi tới ông. Mã-Miên thấy ông cười lớn rằng: Tôi tưởng lão tiên-sanh nào, ai dè người đi xin ở đây!

Mã-Văn-Khôi hỏi Trùng-Dương: Ông người cô-lão, thường hay ở xóm nầy xin ăn mấy năm, chưa nghe ông có tài chi, nay viên-ngoại của tôi coi trọng ông là một bực, tiếp về nuôi dưỡng đủ lễ thì thôi, phải an phận giữ mình, sao lại xúi cháu tôi biểu làm tờ xá gia tài cho ông? Ông là người năm sáu mươi tuổi, sao không biết lẽ? Trong thiên hạ nào có phép như vậy, mà dám nói ra không sợ chê cười?

Trùng-Dương đáp: Bình sanh tôi chẳng biết làm việc chi hết, vì nghèo sợ rồi, nên biểu y đem gia tài nhượng cho tôi đặng hưởng ít năm, nào sợ gì ai cười. Nói vừa dứt lời có Mã-Phú, Mã Quới nhảy lại chỉ trên mặt Trùng-Dương nạt một tiếng: Tao cho mấy thằng chẳng biết thể diện, con chim cú, con cú dại mà muốn đội mão phụng, chuột lang mà muốn ăn thịt khổng-tước, uổng cho mày sống mấy mươi tuổi, nói lời chẳng sợ xấu hổ, thiệt là đáng ghét!

Mã-Phú kêu Mã-Quới nói rằng: Bạn ta đuổi nó ra ngoài xóm, đừng cho ở đây. Nói rồi liền áp lại kéo Trùng-Dương.

Mã-Chiêu can rằng: Thôi đừng đuổi xô, thương người cô lão. Nay viên-ngoại rước ông tới, thôi để ông đi, đừng cho viên ngoại xá gia tài thì thôi.

Mã-Phú, Mã-Quới mới ngừng tay. Kế Mã-viên-ngoại kề miệng gần tai Mã-Long nói nhỏ việc chi chẳng biết, rồi Mã Long nói với mấy người: Thôi anh em bây đừng ngầy-ngà, thảy đều về hết, để tao ở lại định việc, tao không cho nó nào dám xá. Mấy người nghe lời Mã-Long thảy đều ra về. Viên-ngoại thỉnh Mã-Long và Mã-Văn-Khôi ở lại mời vào phòng đãi rượu. Mã Long với Mã-Văn-Khôi ngồi bên tả, viên-ngoại ngồi bên hữu.

Làm lễ đãi tiệc vừa xong, Mã-viên-ngoại thưa rằng: Thưa trước ông cùng chú còn ở lại đây, nay cháu muốn một việc, thưa ông cùng chú toan liệu.

Mã-Văn-Khôi hỏi: Vậy viên-ngoại có việc chi nói ra mới hiểu mà tính toán.

Viên-ngoại nói: Tôi chẳng phải đem gia tài mà xá cho Vương-Trùng-Dương, chẳng qua là tạm ông coi dùm ít năm, đặng cháu thong thả an dưỡng chứng bịnh.

Mã-Văn-Khôi hỏi: Biểu ông coi giữ không thì phải, sao lại biểu lập tờ xá ước chi vậy?

Viên-ngoại thưa: Không, đó là nhứt thời quyền biến, thấy ông chơn tâm thiệt ý, cậy ông giữ giùm tôi cũng đặng rảnh tâm an dưỡng một lúc, chớ không có điều chi.

Mã-Văn-Khôi nói: Lẽ của cháu, ta chưa minh đặng, chẫm rải nói lại ta nghe.

Viên-ngoại thưa rằng: Chú nghe cháu tỏ, vì cháu nhiều bịnh, còn cháu dâu hay chóng mặt khó coi sóc các việc. Bấy lâu cháu tầm người trung-hậu thật-thà thế tay săn sóc, may nhờ trời tùng người như nguyện nên gặp lão tiên-sanh, tôi muốn đem gia tài giao cho ông lo liệu thì gia tài nầy cũng như của tôi. Bởi ông nghe chẳng kịp biểu tôi phải giao dứt cho ông, tôi thấy nói lời quê mùa, tôi cũng liền đáp theo như lời ông nói xá dứt. Ấy rõ ràng là lời nói chơi, ông tin là thiệt, lại biểu thỉnh trong tộc làm tờ xá ước cho ông. Tôi nghĩ ông là người cô-lão ở xứ xa đến đây, không bà con thân thích, dẫu giao hết cho ông cũng không lẽ sang dời đâu đặng. Huống ông tuổi già sống có mấy năm nên lập tờ cho ông gìn giữ thế cho tôi đặng dưỡng bịnh một lúc, chừng ông mãn phần cũng qui về tôi, nào có tổn hại chi. Xin ông cùng chú vui lòng an việc nầy, cháu rất đội ơn.

Mã-Long nói: Trong tộc đông người, để hỏi lại coi.

Mã-Văn-Khôi lại hỏi Mã-Long, thấy Mã-Long gật đầu rồi nói: Chuyện nầy một mình tôi ắt cũng chưa đặng.

Viên-ngoại nghe nói mời hai người vào phòng kín, lấy một món báu lạ đem để trước mặt hai người, thấy chớp sáng lòa, coi ý ông nào cũng chịu.

Có bài kệ rằng:

Chiếu chớp hình ra thấy nhãn tiền,

Sáng ngời một đốm lại tròn viên,

Có y muôn việc đều an chuyện,

Chẳng đặng dầu sanh cũng lụy liền.

Khi đó viên-ngoại đem ra thảy đều ngó cười, miệng chẳng hở môi, rồi Mã-Long nói với Mã-Văn-Khôi rằng: Viên-ngoại hồi sớm nói việc ấy rõ ràng, thế không có điều chi hại, chẳng qua là mượn việc xá ước mà buộc lòng ông già lo lắng công việc, như vậy cũng không sao.

Mã-Văn-Khôi rằng: Phải ấy là quyền biến một hồi cho có người giúp sức, như chú chịu lãnh thì mấy người kia tự nhiên phải an.

Mã-Long nháy nháy kề miệng vào tai Mã-Văn-Khôi nói ít câu, coi bộ vui mừng rồi nói rằng: Viên-ngoại hãy an lòng, chắc việc nầy xong đặng. Thôi để tôi đi nói với mấy người kia, thì thế nào cũng xong.

Có đặng bạc tiền việc lớn xong,

Nào lo xá ước lập không thành.

DaoKy
24-08-2004, 08:45 PM

DaoKy
24-08-2004, 08:48 PM

DaoKy
28-08-2004, 12:58 PM

DaoKy
28-08-2004, 01:20 PM

DaoKy
28-08-2004, 01:26 PM

minhthuan
06-09-2004, 11:00 AM
mong anh daoky viết tiếp truyện vì MT đang ngắm nghía trôm bí kíp mỏi cổ quá rồi

DaoKy
07-09-2004, 09:09 AM